|
Ngày 19 tháng 01 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Sau nhiều lần nài nỉ, Thắng - một “thợ săn” có thâm niên ở xã Ninh Xuân (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) mới đồng ý cho chúng tôi cùng đi bẫy gà rừng. Đồ nghề mà anh mang theo cho chuyến đi rừng là một chú gà mồi, 40 chiếc bẫy giò, ít thức ăn và nước uống.
Thắng bảo: “Ở khắp các vùng núi Ninh Hòa nơi nào cũng có gà rừng, nhưng không đâu nhiều bằng dãy Hòn Hèo, nhất là khu vực xã Ninh Vân. Vì thế, những tay bẫy gà ở Nha Trang, Diên Khánh cũng mang gà mồi đến đây đặt bẫy”.
Chúng tôi đến Ninh Vân hơn 4 giờ 30 sáng. Sau khi gửi xe và chuẩn bị đồ nghề, Thắng chăm chú lắng nghe tiếng gà gáy để xác định điểm bẫy. Khi nghe tiếng gáy của một chú gà rừng ở phía đồi xa, anh bảo chúng tôi thẳng tiến về phía những quả đồi còn vùi mình trong màn sương sớm. Sau hơn 30 phút đi bộ, chúng tôi đến một rẫy điều ở thôn Tây nằm ở lưng chừng dãy Hòn Hèo.
Theo kinh nghiệm của Thắng, đây là vị trí “đắc địa” để bẫy gà rừng, bởi giáp với bìa rừng có rẫy của người dân, gần suối, lũ gà khi đi kiếm ăn vào buổi sáng nhất định sẽ qua đây. Đến nơi, anh chọn một khoảng đất trống bên con suối nhỏ làm điểm đặt bẫy giò. Những chiếc bẫy được làm bằng dây phanh xe đạp nối với sợi dây dù làm thòng lọng. Chỉ hơn 5 phút, 40 chiếc bẫy giò được anh cột với cành cây rừng, vít đinh cắm xuống đất, rồi ngụy trang bằng lá khô hoàn tất. Chuẩn bị xong, anh đưa chú gà mồi ra đặt ở giữa, cách giàn bẫy 3 - 4m.
Theo lời kể của Thắng, con gà mồi này anh mua của một tay bẫy có tiếng ở xã Ninh Phước, với giá 800.000 đồng. Nó không phải là gà rừng thuần chủng mà là gà rừng lai đời F1. “Con gà mồi này đã “chinh chiến” nhiều, khả năng dụ gà rừng hay nên bảng thành tích của nó cũng dày cộm”, Thắng không giấu được vẻ tự hào khi sở hữu được con gà mồi hay. Cũng theo lời anh, có mấy người quen ở Nha Trang đã nài nỉ anh nhượng lại chú gà chiến này với giá 3 triệu đồng nhưng anh không bán. Ở nhà anh vẫn còn đến 4 con gà mồi khác đang cho người thân mượn để đi bẫy gà bán dịp Tết.
Đặt xong bẫy, gà mồi vỗ cánh, cất tiếng gáy, ở đằng xa vọng lại tiếng gà rừng đáp trả, Thắng giục chúng tôi lùi ra xa, nép mình dưới những gốc điều lớn. Anh vừa quan sát động tĩnh xung quanh vừa thầm thì: “Loài này rất tinh khôn, chỉ cần một tiếng động nhẹ là chúng bay đi và không bén mảng đến nữa. Cho nên, khi đã đặt bẫy xong phải núp cho kỹ rồi chờ đợi...”.
Từ đằng xa, tiếng gà gáy đáp trả mỗi lúc một gần, nhưng vẫn chưa thấy chú gà nào xuất hiện. Hơn 1 giờ đồng hồ không động tĩnh, thấy chúng tôi tỏ ra chán nản, Thắng rỉ tai: “Bẫy gà rừng phải kiên trì”. Theo lý giải của Thắng, gà rừng sinh sống theo từng “lãnh địa” riêng và chúng tức nhau tiếng gáy. Chính vì đặc tính này mà gà rừng dù tinh khôn đến đâu cũng bị dụ. Khi con gà mồi cất tiếng gáy như thách thức, con gà bản địa chắc chắn sẽ tìm đến xua đuổi kẻ mới đến để giữ “lãnh địa” và đàn gà mái trong vùng đất “cai quản” của chúng.
Thắng nói chưa dứt lời thì trong lùm cây trước mặt có tiếng gà rừng gáy đáp lại. Sau tiếng gáy là một chú gà rừng trống đẹp mã, lông đỏ, chân chì, cựa dài nhọn, đôi tai trắng phau bay đến. Nó xù lông cổ nhìn chú gà mồi. Chú gà mồi cũng rướn cổ gáy khiêu khích.
Thấy đối thủ nghênh chiến, chú gà rừng lao vào, nhưng chưa kịp ra đòn thì chân nó đã dính vào bẫy, giãy phành phạch, kêu quang quác. Nhìn con gà bẫy được rất đẹp, Thắng gỡ bẫy một cách thận trọng để không làm chân gà bị tổn thương và giữ cho bộ lông còn nguyên vẹn. “Con gà này đẹp, nếu thuần dưỡng được cho bớt nhát, có thể bán cho dân chơi gà cảnh với giá hơn 1 triệu đồng” - anh bảo.
Bỏ chiến lợi phẩm vào một chiếc túi chuyên dụng, thu dọn bẫy giò, Thắng tiếp tục đi sang đồi khác. Trên đường đi, anh chia sẻ: “Trước đây, gà rừng nhiều, có ngày tôi bẫy được cả chục con, bây giờ nhiều người bẫy quá nên không còn nhiều. Ở Ninh Xuân có đến 7 - 8 người chuyên nghề bẫy gà rừng, hạng “nghiệp dư” có hơn chục người; còn tính cả thị xã thì nhiều lắm. Đôi khi, mình bẫy ở đồi này, người khác bẫy ở đồi kia, không thấy nhau, chỉ nghe tiếng gà mồi gáy cứ tưởng gà rừng, đợi hoài chẳng thấy đâu”.
Theo lời Thắng, cứ vào dịp Tết, nhiều người ở phố thị lại lùng mua gà rừng về nhậu, bởi thịt gà rừng là món “độc”. Cận Tết, mỗi con gà rừng có thể bán được với giá gấp đôi ngày thường, nên mấy tháng trước Tết, thợ săn đổ xô vào rừng bẫy gà về bán.
Theo dấu chân của thợ bẫy gà rừng, chúng tôi gặp ông Nguyễn Văn Hưng, người dân Ninh Vân đi chăn bò sớm và được ông cho biết: “Ở Ninh Vân trước đây gà rừng rất nhiều, cứ sáng sớm là gáy vang khắp núi đồi. Bây giờ người bẫy gà nhiều nơi đổ về nên lượng gà rừng ngày càng cạn kiệt, thưa dần tiếng gáy. Thậm chí vài người dân địa phương cũng tìm mua bẫy về bắt gà rừng ”.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh: Gà rừng là một loại động vật hoang dã thông thường nhưng cần được bảo vệ. Các hành vi săn bắt, tiêu thụ gà rừng đều vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; người vi phạm sẽ bị xử lý. Để tăng cường bảo vệ động vật hoang dã nói chung, gà rừng nói riêng, chi cục đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các địa phương tăng cường tuần tra, xử lý các đối tượng săn bắt, tiêu thụ loại động vật hoang dã này.
Ở Ninh Hòa và một số vùng cao ở Cam Lâm, Khánh Vĩnh, Diên Khánh... cũng có nhiều người đi bẫy gà rừng. Hỏi chuyện người dân ở các địa phương vùng núi, chúng tôi được biết, trước đây gà rừng rất nhiều. Thậm chí, chúng còn quanh quẩn, ăn với gà nhà, nhưng bây giờ do săn bắt quá mức nên thi thoảng mới nghe tiếng gáy của chúng. Ông Cao Phiên (xã Sơn Tân, Cam Lâm) cho rằng: “Với tốc độ tận diệt gà rừng như hiện nay, chẳng bao lâu nữa giống gà rừng quý này sẽ tuyệt chủng...”.
Gặp chúng tôi trên đường đi bẫy gà ở xã Sơn Tân trở về, người thanh niên tự xưng tên Hải (ở Cam Tân, Cam Lâm) cho biết: “Hiện nay, giá gà rừng cảnh đẹp hơn 1 triệu đồng/con; trong khi gà rừng thịt bán cho các nhà hàng, quán nhậu cũng được hơn 200.000 đồng/con nên nhiều người đổ xô vào rừng bẫy gà. Không chỉ dân đi bẫy chuyên nghiệp, nhiều người còn mang gà đi bẫy như một thú tiêu khiển”.
Cũng theo chia sẻ của Hải, những người đi bẫy gà rừng thường đi vào lúc sáng sớm hoặc chiều tà. Hiện nay, gà rừng không còn nhiều, nhưng mỗi ngày Hải có thể kiếm được 3 - 4 con, nếu may mắn bẫy được gà ngũ sắc có thể bán cho dân chơi ở TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... với giá 2 - 3 triệu đồng/con.
Rảo quanh một số quán nhậu chuyên “đặc sản” rừng ở Nha Trang, Cam Lâm, Ninh Hòa..., chúng tôi thấy có không ít quán đưa món gà rừng vào thực đơn. Chủ một quán nhậu ở ngoại thành Nha Trang cho biết: “Món gà rừng rất được thực khách ưa chuộng, nhưng khả năng đáp ứng hạn chế, bởi nguồn hàng ngày càng khan hiếm. Để duy trì món này, chúng tôi phải đặt hàng từ các đầu nậu chuyên thu mua thịt rừng ở các địa phương trong tỉnh”.
Hiện nay, thú chơi gà rừng làm cảnh đang trở thành phong trào ở nhiều nơi; trong khi đó, thịt gà rừng trở thành món nhậu đặc sản, nên dù số lượng ngày càng giảm sút nhưng cơn sốt săn gà rừng vẫn không giảm. Nếu tình trạng này không được xử lý, gà rừng sẽ đứng trước nguy cơ bị tận diệt. (Infonet 18/1) đầu trang(
Cách đây 20 năm, người dân thôn 4 (xã Ea Trui, huyên Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk) bị một con voi rừng quấy phá, đe dọa cuộc sống.
Chẳng thể giết hại cũng như xua đuổi con voi dữ tợn, người dân đành phải chấp nhận sống trong mối nguy hiểm rình rập. Tai họa cuối cùng đã ập xuống khi con voi rừng trở nên điên loạn và tấn công người. Con voi sau đó bị hạ gục, câu chuyện đã là quá khứ nhưng ký ức kinh hoàng vẫn ám ảnh.
Mùa đông năm 1996, người dân thôn 4 (xã Ea Trui, huyện Krông Bông) bât ngờ phát hiện một con voi lớn lảng vảng gần khu vực nương rẫy của người dân. Tây Nguyên vốn nổi tiếng nhiều voi, việc voi xuống thôn làng cũng không có gì là lạ. Chính vì thế, khi đó nhiều người chỉ nghĩ là con voi xuống tìm thức ăn rổi đi, không đe doạ gì đến tính mạng con người nên không ai xua đuổi, đe dọa đến nó.
Tuy nhiên, trái ngược với suy nghĩ của người dân, con voi rừng táo tợn dường như có ý định cư ở đây. Đói, nó lên nương rẫy người dân ăn mì, ăn bắp, ăn chuối. Khát nước, nó ngang nhiên băng qua xóm làng, xuống sông Krông Ana gần đó vùng vẫy. Điều đáng nói, khu vực nó chọn làm nơi cư trú lại chính là rẫy chuối của gia đình ông Trịnh Ngọc Hoàng (SN 1937), một người dân quê huyện Tây Sơn (tỉnh Bình Định) lên đây lập ngiệp.
Con voi ngang nhiên đi qua đi lại trên con đường mòn giữa vườn chuối nhà ông Hoàng và dòng sông Krônq Ana. Điều đáng sợ là con voi khá hung dữ, gặp ai trên đường là nó gầm rú, rượt chạy thục mạng. Chẳng những ăn phá hoa màu, nó mò đến điểm cột hai con voi nhà của người dân gần khu vực đó khiêu khích, phá phách. Hai chú voi nhà vốn nhỏ, yếu sức hơn, lại bị xích nên mặc lòng cho nó kéo xích lôi đi xềnh xệch.
Hai hộ dân có voi nhà không biết làm gì hơn đành cùng gia đình ông Hoàng và mọi người lại làm đơn gửi lên huyện nhờ xử lý. Hạt kiểm lâm Krông Bông sau đó đã cử nhân viên xuống giám sát và các cán bộ cũng phải đau đầu trước việc phải làm sao để vừa bảo vệ tính mạng, của cải của nhân dân, vừa phải bảo vệ loài thú hoang dã hiện còn ít cá thể tồn tại trong môi trường tự nhiên này.
Qua xác minh ban đầu, các cán bộ kiểm lâm đã đưa ra kết luận: Con voi hoang bỗng nhiên nổi điên có thể là do rừng bị tàn phá, môi trường sống bị tước đoạt, buộc voi phải "xuống núi" cư trú. Dù biết đây là loài voi hoang dã, rất hung dữ nhưng cán bộ vẫn dặn dò người dân: "Không ai được giết voi. Nếu voi chết, người giết voi sẽ bị tù 15 năm, phạt 50 triệu đồng".
Dù nơm nớp lo sợ bị voi tấn công nhưng người dân chỉ biết chịu cảnh sống chung với hung thần rừng núi. Khổ nhất là gia đình ông Hoàng và hai gia đình có voi nhà bị nó chọc phá đến kiệt sức Vì không thể chịu đựng được voi, mùng 7 Tết năm 1997, ông Hoàng và một số người đã vượt quãng đường gần năm chục cây số đến Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk nộp đơn "kiện voi". Thế nhưng, họ chờ mãi mà không thấy hồi âm, đành phải sống trong mối hiểm hoạ từng ngày.
Ngày 15/ 4/1997, tấm thảm kịch đã xảy ra mà nguyên nhân chính là do con voi rừng hung dữ. Ô Hoàng kể lại, hôm đó gia đình ông phải giao mấy chục buồng chuối già cho khách. Tuy nhiên mọi người đều bận nên vợ ông, bà Nguyễn Thị Nhật (SN 1937) đành phải bế theo cháu gái nhỏ lên đồi cân chuối cho khách. Công việc xong xuôi, bà Nhật lúi húi nhặt ít củi khô để mang về nhóm bếp. Người phụ nữ không thể ngờ rằng, mối nguy hiểm đang rình rập trên đầu.
Lúc bà Hoàng và hai cháu đang nhặt củi thì cũng là lúc con voi rừng đi tắm dưới sông Krông Ana trở về vườn chuối. Lúc này, tại quốc lộ 27, cạnh nhà ông Hoàng, có một toán công nhân đang thi công công trình. Thấy con voi rừng đi đến đây, những người công nhân hoảng sợ, vội lấy đá ném xua đuổi nên nó đành hậm hực bỏ đi. Đúng lúc nó đang đi lên vườn chuối thì gặp bà Nhật và cháu đang đi xuống...
Thấy vẻ mặt hung tợn của con voi, bà Nhật vội dùng gậy đập vào nhau và hò hét để xua đuổi như thói quen mọi người vẫn thường làm khi gặp voi. Nhưng cách xua đuổi ấy không những không khiến con voi bỏ đi mà càng làm cho nó giận dữ thêm. Con voi lồng lộn lao tới, dùng vòi cuốn bà Nhật cùng cô cháu gái nhỏ lên rồi quật mạnh xuống đất. Người phụ nữ bị con voi trên hai tấn quấn chặt, không thể nào vùng vẫy được. Cô cháu gái nhỏ thì may mắn lọt ra ngoài và văng ra xa khóc thét lên.
Nghe tiếng khóc thét của đứa cháu, linh tính có chuyện chẳng lành, ông Hoàng vội chạy lên đồi. Thấy 2 đứa cháu mỗi đứa nằm một chỗ, còn con voi đang ra sức quật người vợ của mình một cách tàn bạo, ông Hoàng tái mặt kinh hãi. Biết không thể cứu nổi vợ và mặc dù rất sợ hãi nhưng ông vẫn liều chết xông đến gần con voi để cứu đứa cháu nhỏ. Ông dùng hết sức bình sinh chạy xuống đồi, vừa chạy vừa kêu gào để mọi người cứu giúp.
Những người gần đó vội vã chạy tới nhưng tất cả đã quá muộn, họ đành bất lực nhìn con voi hung ác hết đập rồi lại dùng chân chà nát thân thể bà Nhật. Không ai dám liều mạng lại gần con voi điên ấy. Tất cả chỉ biết để những giọt nước mắt xót thương lặng lẽ rơi... Hơn hai tiếng đồng hồ sau, con voi mới chịu bỏ đi, người làng mới dám mò lên đem phần thi thể của bà Nhật mang vể an táng.
Gần 20 năm trôi qua, người dân thôn 4 vẫn còn ám ảnh về cái ngày xảy ra án mạng do con voi rừng gây ra. Chiều tối hôm đó thôn làng xôn xao, nháo nhác, sợ hãi tột độ. Nỗi lo sợ voi sẽ trở lại thôn làng tấn công khiến các hộ gia đình như mất ăn mất ngủ. Tối đến, nhà nào cũng cửa đóng then cài, trẻ con sợ khóc không thành tiếng. Một vài gia đình còn tụ lại với nhau, đốt lửa canh gác suốt đêm phòng trường hợp con voi quay lại.
Sang ngày hôm sau, trong khi gia đình ông Hoàng đang thất thần với nỗi đau mất người thân thì con voi ngang nhiên đi xuống dòng sông Krông Ana tắm táp như thường ngày. Việc voi xuất hiện lập tức được chính quyền địa phương trình báo lên cấp trên, nhằm đưa ra biện pháp xử lý, tránh việc voi tiếp tục quấy rầy người dân. Đến 12h trưa ngày 16/04, Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, Hạt kiểm lâm huyện Krông Bông, đại diện UBND huyện, UBND xã cùng,đông đảo người dân đã thống nhất "tử hình" con voi hung dữ.
Chờ con voi tắm táp xong xuôi, đang trên đường về "sào huyệt" trên đồi, một tay súng của Huyện đội Krông Bông nấp sau một gốc cây gần đó để chờ thời cơ ra tay. Phát đạn đầu tiên được bắn ngay vào chỗ hiểm tuy nhiên vẫn không thể hạ gục được con voi. Nó vẫn vùng vẫy, gầm rú rung chuyển núi đồi và chỉ bị khuất phục sau khi nhận thêm vài phát đạn.
Ông Hoàng tâm sự, vợ chồng ông trước đây rời bỏ quê hương để ngược dòng lên cao nguyên cũng là vì muốn thoát khỏi cảnh nghèo khó. Tuy nhiên, đến vùng đất mới với hai bàn tay trắng, hai vợ chồng gặp rất nhiều khó khăn. Không ngờ trong cảnh nghèo khó, tai họa lại ập đến với gia đình. Ngày vợ mất, ông Hoàng phải chạy vạy khắp nơi, góp từng đồng để lo hậu sự cho vợ. May mắn khi đó gia đình ông được mọi người trong thôn giúp đỡ, góp công góp sức xây cho vợ ông một ngôi mộ tử tế.
Sau cái chết đau thương của người vợ xấu số, kinh tế gia đình ông Hoàng đã khó khăn sau đó lại càng khó khăn thêm. Suốt thời gian dài ông Hoàng suy sụp tinh thần, trở thành người vô hồn, chẳng thể làm bất cứ điều gì. Cũng may, tình thương con cháu đã giúp ông dần gượng dậy, làm chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Bây giờ kinh tế gia đình ông đã khá hơn nhiều, ông cũng đã nghỉ ngơi tuổi già. Cô cháu gái thoát nạn ngày nào nay đã lấy chồng và ở với ông nội và chuẩn bị làm mẹ.
Cuộc sống sau bao nhiêu năm giờ đã đổi khác, tuy nhiên ông vẫn hay nhớ về những ký ức xưa cũ, trong đó có những hoài bão tuổi trẻ, bao gian khó cơ cực và cả nỗi đau đeo đuổi kiếp người. "Hai vợ chồng dắt nhau đến vùng đất mới, những mong tìm được cuộc sống đủ đầy và bình yên nhưng không ngờ sau đó lại xảy ra chuyện dữ. Tôi là đàn ông, là chồng mà chỉ bất lực nhìn vợ lúc gặp nạn...", ông Hoàng thở dài. (Câu Chuyện Pháp Luật 15/1) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, hiện cả nước có sáu tỉnh: Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum và Tây Ninh đang có nguy cơ cháy rừng cao (cấp cực kỳ nguy hiểm), đồng thời yêu cầu các địa phương thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Nhân Dân 18/1) đầu trang(
Với mục tiêu làm một chuyến về miền Tây để được phần nào hòa mình vào không khí hoang sơ thuở “cha ông đi mở cõi”, chúng tôi chọn Tràm Chim mà tới. Vùng đồng nước rộng hơn 7.300 ha, một phần của Đồng Tháp Mười, theo suy nghĩ của chúng tôi, nơi đây ít nhiều lưu giữ hình ảnh của thời khẩn hoang, chim trời, cá nước, trôi nổi lục bình.
Tuy nhiên, chuyến “thám hiểm” gặp khó khi Hai Tâm, chánh văn phòng vườn quốc gia cứ lần lữa, chẳng ra phản đối cũng chẳng ra đồng ý trước đề nghị của đám phóng viên trẻ máu phiêu lưu. Ông hẹn chúng tôi sáng mai trả lời rồi “ý nhị” mời chúng tôi tìm khách sạn xung quanh chờ đợi.
Sáng hôm sau, cuối cùng Hai Tâm cũng đồng ý cho chúng tôi một ngày tự do thám hiểm vườn chim, không theo lộ trình thông thường của khách du lịch. Trước khi chia tay, ông không quên dặn với theo là “nhớ trả tiền xăng dầu và công xá cho mấy anh em nhé”. Tức là trả tiền xăng xuồng máy chở vào rừng, trả tiền công lái xuồng cho mấy anh kiểm lâm viên.
Sau một hồi lái xe vòng vèo trên những đoạn đường hẹp, đất đá lổn nhổn, một bên đầy tre, một bên phơi toàn củ kiệu, chúng tôi tới trạm kiểm lâm T1.
Trước đó, ông chánh văn phòng nói tới T1 thì gặp Ba Khôi, trưởng trạm. Sau vài câu trao đổi, chúng tôi cùng lỉnh kỉnh đồ đạc được đưa lên một chiếc xuồng composite, chạy tành tạch hướng vào vườn chim.
Tôi quan sát xung quanh. Có cái gì là lạ. Rõ ràng đang giữa mùa lũ mà những cây tràm ven kênh lộ hết cả gốc. Vệt nước lũ những mùa cũ cách mặt nước cả nửa mét. Anh kiểm lâm viên có khuôn mặt hao hao giống diễn viên Lê Bình, vừa lái xuồng vừa bảo: “Năm nay nước cạn chưa từng thấy.
Mà tui cũng hổng biết tại sao. Nghe đâu trên đầu nguồn người ta đắp đập chắn”. Ý anh là mấy cái đập ở Trung Quốc? Bỗng roạt roạt, mấy con chim to như con vịt nhưng cổ dài như cổ cò bay vụt ra từ mấy bụi tre. “Chim điên điển đó”. Ngộ ha, có bông (hoa) điên điển giờ lại có cả chim.
Dạo nọ tôi nghe chim điên điển ở Đồng Tháp không biết có phải vì cá tôm tự nhiên ngày càng hiếm không mà giờ còn mò vào ăn cắp cá trong ao nuôi của người dân nữa. Mấy con chim này làm tổ rất to, treo toòng teng trên cây rất dễ nhận thấy.
Ông Năm Hồng, người hàng chục năm gắn bó với vườn Tràm Chim bảo, nếu anh điên điển đực nào làm tổ xoàng xĩnh thì nhiều khả năng “ế vợ”. Còn anh nào chịu khó làm “nhà” to, đẹp, chắc chắn thì kiểu gì cũng có người sớm khuya “đầu gối tay ấp”. Như người vậy!?
Đi khoảng vài cây số, chúng tôi “đổ bộ” xuống một thảm rừng. Chiếc xuồng quay đầu tành tạch rồi đi mất hút. Kể từ lúc này, chỉ có chúng tôi trong rừng tràm, mênh mông đồng nước. Chợt nhớ ra phải thêm tí “cay” (rượu).
Ôi thôi xong, bao nhiêu công chuẩn bị mà phút chót, được người ta đồng ý cho vào rừng, vui quá đâm ra quên mất. Trong lúc xuống xuồng, thấy ba anh người lạ mang cả máy quay phim, máy ảnh lại thêm bó cần câu, “diễn viên Lê Bình” có vẻ thắc mắc khiến tôi vội trấn an, rằng mấy anh em phóng viên vào rừng “làm phim” (chứ không phải đi câu cá trộm).
Không thấy anh hỏi gì nữa. Sau này tôi mới biết những lo lắng đó là vô ích bởi người ta vẫn mua vé vào câu cá cả ngày trong khu Tràm Chim và chính chúng tôi sau đó cũng đụng mấy “cần thủ” trong rừng.
Bây giờ, việc đầu tiên là tìm chỗ trú. Trời khá nắng, nhưng với thời tiết vùng này, ở thời điểm này, mưa lớn có thể ập đến bất cứ lúc nào. Chúng tôi chọn một điểm khá bằng phẳng, có tán cây tràm che nắng. Nếu mưa đã có bạt nylon, áo mưa cá nhân.
“Chỗ ở” coi như tạm ổn. Giờ đến việc kiếm thức ăn, nước uống sống “qua ngày”. Ngay giữa tràm chim (rừng tràm có nhiều loài chim cư trú) nhưng kiếm ra trứng chim để ăn với những kẻ tay mơ quả là nan giải.
Ngó ra xung quanh chỉ thấy sen, súng, cây mai dương, tràm, tre và những đồng nước mênh mông. Tôi quyết định sống nhờ vào lũ cá dưới kênh. Các nhà sinh học nói ở vùng này, cá duồng, cá mang rổ, cá ét mọi, duồng bay, ngựa nam, cá lóc, cá thác lác, trê trắng, trê vàng, rô đồng… là những loài phổ biến.
Nhưng chẳng biết dưới kênh kia nay còn cá gì bởi tình trạng đánh bắt quá mức đã diễn ra nhiều năm. Tôi bóp đủ loại mồi: cám ủ, ngô ngọt tẩm bơ, tôm, cá con… vào ba chiếc cần câu, hy vọng sẽ kiếm được bữa trưa.
Nhưng ngồi 15 phút vẫn chưa thấy cái cần nào động đậy. Rồi vang lên tiếng xuồng máy, tiếng người cười nói râm ran. Đó là những xuồng chở khách du lịch. Lúc này chúng tôi mới phát hiện có một nhà hàng ở giữa rừng, cách chỗ chúng tôi vài trăm mét.
Chiếc cần câu đầu tiên rung lên. Một chú cá ngựa nam, đuôi đỏ khoảng 3 lạng dính câu. Rồi một chú nữa. Trong vòng một giờ, chúng tôi lôi lên 6 chú cá. Coi như tạm bữa trưa. Nhưng điều lạ là câu đủ loại mồi, chúng tôi chỉ bắt được duy nhất cá ngựa nam.
Trưa. Chúng tôi chọn một chỗ an toàn để châm lửa nướng cá, bởi cũng biết quy định về phòng chống cháy rừng. Và rồi giữa rừng, từ phía nhà hàng, tiếng nhạc xập xình, tiếng hát hò phát ra từ loa công suất lớn. Ăn nhậu xong giờ đến màn “hát cho nhau nghe” đây.
Và cũng nhờ nhà hàng, chúng tôi có thêm món khô cá lóc nướng, rượu nếp đóng chai, nước suối để lai rai cùng mấy con cá nướng. Dù vui vì có “tiện nghi”, tôi tự hỏi giữa vườn quốc gia, với những loài nhạy cảm như chim chóc, như sếu đầu đỏ quý hiếm mà nhạc nhẽo ầm ĩ như vậy là sao nhỉ. Rồi tự trả lời: Khách có nhu cầu thì phải phục vụ thôi. Khách du lịch, chứ không phải chim, mới mang tiền tươi đến cho vườn quốc gia.
Đúng hẹn, khoảng 3h chiều, chiếc xuồng quay lại đón. Tạch tạch một lúc rồi cũng về đến bến. Ba Khôi, tôi đoán ngoài 50 tuổi, mặt đen thui, áo kiểm lâm quần đùi kéo chúng tôi vào mâm nhậu dở với ba người đàn ông, có cả kiểm lâm cả dân địa phương.
Trên mâm là mấy con chim nướng, chân khẳng khiu dài ngoằng. Két bia đã vơi một nửa. Cuộc nhậu tàn sau thùng bia Sài Gòn thứ ba.
Đêm xuống. Chúng tôi ngỏ ý muốn đi theo đám nào đánh cá đêm và rồi cả nhóm được đưa tới nhà Sơn, ở xã Phú Thành B nằm trong khu vực vườn Tràm Chim. Sơn bảo đi xuyệc điện (chích điện) cho nhanh chứ lưới má gì bây giờ. Thế là cả nhóm kéo nhau ra đồng. Sơn bảo năm nay lũ cạn quá, mọi năm sâu 2m nước mà nay chỉ trên đầu gối chút.
Tôi ngó ra cánh đồng ngập mênh mang, đen kịt. Một tiếng vịt càng cạc đằng xa. Sơn đuổi theo “vịt nhà ai lạc bầy”. Cậu trai ngoài hai mươi gí hai cây cần chích điện xuống nước. Con vịt xõa cánh, chới với và bị tóm gọn.
Trong vòng một giờ, nhóm đi lòng vòng theo chân Sơn, không có nghề gì ngoài trông chờ vào mấy cái dớn bắt cá bống dừa, bống trứng, lòng tong và mấy cây cần chích cá. Nhà Sơn cũng như mấy trăm nhà khác trong vùng này, trông chờ vào con cá, cây rau trong vườn chim. Cá rô hạt bưởi, cá linh non, cá lòng tong, cá lóc con, cá lăng con, cua, rắn, lươn, chạch… Không tha, không bỏ con gì.
Chỉ một loáng với mấy tay bợm cùng nhau xúm vào, một nồi cá thập cẩm đủ thứ được bưng lên. Rượu lại đổ ra. Sơn, người có nhiều năm sống ở Campuchia, thích nghe “nhạc Miên” hơn nhạc Việt, bảo, nếu sau này nước cứ cạn như năm nay, chắc cậu phải tìm về quê nội sinh sống quá. Con cá, con tôm cứ ngày một hiếm, lũ cứ ngày một cạn. Rồi dân ở đây biết sống thế nào?
Sáng hôm sau, chúng tôi ghé chợ thị trấn Tam Nông. Điều ngạc nhiên với tôi là những con cá lau kiếng (cá lau kính, cá dọn bể) to tướng được bán làm thức ăn. Dân địa phương bảo giờ đi đâu cũng thấy cá lau kiếng. Mà loài cá ngoại lai đó ở đâu nhiều thì cá bản địa sẽ dần biến mất.
Đúng là chợ Tràm Chim có khác. Đủ loại chim trời được bán làm thịt. Những con chim to, lạ mắt đối với chúng tôi, chúng nằm im hoặc giãy giụa trong lồng chờ ngày tận số.
Chim ít dần, cá ít dần, lũ cạn dần. Tràm Chim rồi sẽ ra sao? Người ta nói vườn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng của lũ đầu nguồn sông Mekong, nhận nước qua hệ thống kênh nội đồng. Khu đồng trũng ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp này thường bị ngập lũ từ tháng 8 đến tháng 12.
Chính vì muốn chứng kiến cảnh mùa lũ, bông điên điển, cá linh non mà chúng tôi chọn thời điểm trung tuần tháng 9 để lên đường tới Tràm Chim.
Đồ đạc mang theo ngoài vật dụng thông thường còn có dao, bật lửa, áo đi mưa, ba chiếc cần câu cùng mồi câu dã chiến. Nghĩ đến viễn cảnh trong rừng hoang vu, tự tìm lấy cái ăn, cái uống, tự sinh tồn khiến chúng tôi thấy chộn rộn, cứ như mình là chú bé An “đất rừng phương Nam” trong văn Đoàn Giỏi vậy. (Tiền Phong 19/1) đầu trang(
Tại cuộc họp liên tịch mới đây, các bên liên quan thống nhất sự hy sinh của anh Hải có cơ sở để công nhận là liệt sĩ.
Vào cuối tuần trước, tại tỉnh Lâm Đồng, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Huỳnh Văn Tí đã chủ trì một cuộc họp liên tịch giữa các đơn vị liên quan để xem xét việc công nhận liệt sĩ cho anh Vũ Xuân Hải, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 2 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng). Tham gia cuộc họp có đại diện Cục Người có công (Bộ LĐ-TB&XH), Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT) cùng UBND tỉnh Lâm Đồng và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng.
Theo nguồn tin của chúng tôi, tại cuộc họp này Bộ LĐ-TB&XH đã nghe các đơn vị liên quan trình bày ý kiến của mình xung quanh việc đề xuất công nhận liệt sĩ cho anh Hải. Theo đó, các thành viên cơ bản khẳng định cái chết của anh Hải có cơ sở để xem xét công nhận liệt sĩ. Hiện các bên đang hoàn tất thủ tục liên quan gửi cho Bộ LĐ-TB&XH để xét công nhận liệt sĩ cho anh Hải.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM chiều 18-1, ông Nguyễn Hữu Thiện, Cục phó Cục Kiểm lâm, Bộ NN&PTNT, cho biết về trường hợp của anh Vũ Xuân Hải là đủ căn cứ, cơ sở để công nhận liệt sĩ. Ông Thiện khẳng định: “Đối với anh Hải và đồng đội đã có quá trình truy đuổi đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép 5 km. Trong quá trình truy đuổi, anh Hải và đồng đội đã nhiều lần yêu cầu dừng xe nhưng tài xế không chấp hành nên anh truy đuổi đến cùng, ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, đồng thời bảo vệ rừng, như vậy trường hợp của anh Hải xứng đáng được công nhận liệt sĩ”.
Lý giải về quá trình xét duyệt công nhận liệt sĩ cho anh Hải chậm, ông Thiện cho rằng: “Hồ sơ trước đây về trường hợp của anh Hải chưa nêu bật được tinh thần dũng cảm của anh Hải. Sau cuộc họp, các cơ quan liên quan ủng hộ công nhận liệt sĩ đối với anh Hải, đồng thời thống nhất bổ sung thêm vào hồ sơ một số nội dung. Cụ thể, anh Hải là người có tinh thần, trách nhiệm trong công việc, cùng với vai trò là đội trưởng, bí thư chi bộ gương mẫu và dũng cảm. Sự hy sinh của anh Hải là tấm gương động viên tinh thần lực lượng kiểm lâm trong cuộc chiến bảo vệ rừng”.
Ông Thiện chia sẻ: “Sau khi các bên thống nhất đề nghị công nhận liệt sĩ cho anh Hải, tôi rất xúc động. Việc công nhận này sẽ giúp gần 12.000 cán bộ kiểm lâm yên tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ và càng quyết tâm giữ rừng hơn”.
Như chúng tôi đã phản ánh trước đó, cuối năm 2014, khi đang thực hiện nhiệm vụ truy đuổi, ngăn chặn một vụ vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn thì anh Vũ Xuân Hải bị người lái xe chở gỗ tông chết. Tuy nhiên, anh Hải không được công nhận là liệt sĩ vì quan điểm vận dụng pháp luật liên quan của Cục Người có công chưa phù hợp. Sau khi nhiều cơ quan chức năng, chuyên gia lên tiếng, các bên liên quan đã thống nhất có một cuộc họp liên tịch để xem xét lại trường hợp của anh. (Pháp Luật TP.HCM 19/1) đầu trang(
Chiều 18/1, Phòng CSĐT tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ Công an Nghệ An cho biết, đã khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Trọng Lễ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Diễn Châu để điều tra vụ án “vòi tiền chung chi”.
Trước đó, Cơ quan CSĐT Công an Nghệ An đã khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Hữu Dương, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Diễn Châu và ông Hồ Xuân Tục, cán bộ pháp chế Hạt để điều tra.
Ông Lễ là bị can thứ ba bị khởi tố trong vụ án công dân tố cáo cán bộ Hạt Kiểm lâm Diễn Châu ép người đưa tiền để “chung chi”.
Ngày 12/5/2015 bà Thắm (SN 1974), trú xã Đạ Kho, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng mua 500 kg quả mây tại tỉnh Kiên Giang để đưa ra Móng Cái (Quảng Ninh) tiêu thụ. Do lô hàng không bán được, ngày 19/5/2015, bà Thắm thuê xe của anh Nguyễn Văn Quân chở số quả mây này về TP Hồ Chí Minh. Khi anh Quân điều khiển xe qua địa bàn huyện Diễn Châu thì bị cán bộ Hạt Kiểm lâm Diễn Châu kiểm tra, tạm giữ.
Theo bà Thắm, khi số hàng nói trên bị tạm giữ thì bà Thắm không có mặt ở hiện trường nên sau đó bà này phải nhanh chóng từ Lâm Đồng ra Nghệ An, đến Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu làm việc. Tại đây, bà Thắm làm việc với ông Hồ Xuân Tục, cán bộ pháp chế Hạt Kiểm lâm Diễn Châu. Ông Tục cho biết, số quả mây của bà Thắm bị tạm giữ vì xuất trình hóa đơn không hợp lệ và thiếu thủ tục xác nhận của kiểm lâm địa bàn.
Tiếp đến ngày 22/5/2015, bà Thắm và tài xế Nguyễn Văn Quân đến Hạt Kiểm lâm Diễn Châu, tiếp tục làm việc. Ông Tục yêu cầu bà Thắm viết bản tường trình sự việc và hăm dọa rằng, số hàng hóa trên sẽ bị tịch thu toàn bộ và bản thân bà Thắm phải đóng phạt 120 triệu đồng. Đồng thời, ông Tục “gợi ý” nếu không muốn bị phạt như vậy thì chỉ còn cách là phải “chung chi” và bồi dưỡng số tiền 20 triệu đồng. Nếu bà Thắm đồng ý, ông Tục chỉ thu giữ 300 kg mây, còn lại chỉ phải đóng phạt 15 triệu đồng”.
Sau khi sự việc xảy ra, bà Nguyễn Thị Thắm đã làm đơn tố giác gửi đến các cơ quan chức năng Nghệ An, tố cáo hành vi “vòi tiền” của cán bộ Hạt Kiểm lâm Diễn Châu. Và, nội dung diễn biến của toàn bộ sự việc như đã nêu trên. (Thanh Tra 18/1) đầu trang(
TP. Đà Nẵng vừa ra văn bản yêu cầu các cán bộ, công chức, viên chức không được quảng cáo, tặng, cho hay nhận quà biếu là các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã, trái với quy định của pháp luật.
Đồng thời, TP. Đà Nẵng yêu cầu Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm soát hoạt động nhập khẩu, nuôi nhốt, kinh doanh sử dụng động vật hoang dã. Kiên quyết xử lý, tịch thu khi phát hiện sản phẩm hoặc tổ chức sơ cứu tại chỗ, sau đó chuyển giao cho các trung tâm cứu hộ để phục hồi và tái thả tự nhiên.
Ngành chức năng và UBND các quận, huyện kiên quyết thu hồi giấy phép kinh doanh đối với các trường hợp kinh doanh động vật hoang dã và các sản phẩm, dẫn xuất từ động vật hoang dã không có nguồn gốc hợp pháp.
Văn bản này nhằm quản lý, bảo vệ tính đa dạng sinh học các loài vật rừng tự nhiên, quý hiếm và chấm dứt tình trạng khai thác, buôn bán, sử dụng trái phép động vật hoang dã trên địa bàn thành phố. (Tuổi Trẻ 18/1) đầu trang(
2 giờ ngày 14-1, trên QL40B, đoạn qua TT Tiên Kỳ (H. Tiên Phước, Quảng Nam), lực lượng kiểm lâm bắt giữ xe tải BKS 92C-05277 vận chuyển trái phép hơn 3m3 gỗ thuộc nhóm VI.
Lợi dụng lúc lực lượng chức năng kiểm tra tang vật, lái xe đã bỏ trốn khỏi hiện trường. Trước đó, lực lượng kiểm lâm huyện cũng đã bắt giữ phương tiện do ông Nguyễn Tấn Phùng (1982, trú xã Tiên Lãnh, H. Tiên Phước) vận chuyển trái phép gần 0,5m3 gỗ chò tại thôn 4, xã Tiên Hiệp. Toàn bộ tang vật và phương tiện các vụ vi phạm đã được Hạt kiểm lâm huyện tạm giữ để điều tra, xử lý. (Công An TP.Đà Nẵng 18/1) đầu trang(
- Làm sao thực hiện được hả Tư Sơn Trà?
- Rứa mà họ vẫn làm đó thôi.
- Ai làm?
- Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
- Giao, khoán cái gì?
- Số là trước đây, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà ký Hợp đồng giao khoán đất trồng rừng số 137/HĐ-GK với bà Lê Thị Bích Ngọc và bà Phan Trâm Anh (cùng trú P. Thọ Quang, Q. Sơn Trà, Đà Nẵng) với diện tích 2ha. Trớ trêu thay, lúc ký hợp đồng bà Ngọc chỉ vừa đủ 13 tuổi và bà Anh đúng 14 tuổi.
- Luật không cho phép người chưa thành niên tham gia giao dịch dân sự?
- Không chỉ ký hợp đồng với người chưa đủ năng lực hành vi mà khi tiến hành giao đất lại càng sai... gấp bội. Tại hợp đồng giao khoán đất trồng rừng ghi bên nhận khoán là Lê Thị Bích Ngọc và Phan Trâm Anh song khi lập biên bản giao đất tại hiện trường lại giao cho ông Hoàng Anh Tuấn (1974) và bà Hoàng Thị Bích Hồng (1976, cùng trú Q. 9, TP Hồ Chí Minh).
- Có nghĩa người ký hợp đồng một đàng, kẻ nhận đất một nẻo?
- Đúng như thế. Sự việc tuy xảy ra cũng lâu nhưng qua kiểm tra, đến đầu tháng 12-2015, Chi cục Kiểm lâm TP mới có kết luận rõ ràng.
- nhận thấy, những người có trách nhiệm tại BQL khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thực thi nhiệm vụ để thực hiện hành vi trái pháp luật. Cụ thể, giao đất rừng cho người chưa đủ năng lực hành vi thực hiện các giao dịch dân sự có tính chất ràng buộc được ghi trong hợp đồng và giao đất cho người khác. (Công An TP.Đà Nẵng 18/1) đầu trang(
Thảo cầm viên Sài Gòn trải qua 150 năm thăng trầm vẫn tồn tại với nhiều dấu tích lịch sử và văn hóa đáng quý. Nơi đây đang sở hữu hơn 2.500 cây xanh thuộc 360 loài, nuôi dưỡng hơn 1.000 động vật và là một trong 10 vườn thú lâu đời của thế giới.
Tháng 3.1864, Đề đốc người Pháp De La Grandìere cho xây dựng Vườn Bách thảo Sài Gòn với quy mô ban đầu 12ha bên bờ rạch Lăng (nay là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè). Năm 1865, công trình hoàn thành, chính quyền Đông Dương mời ông J.B Louis Pierre, phụ trách Vườn Bách thảo Calcutta (Ấn Độ) về làm giám đốc. Cũng trong thời gian này, diện tích Vườn Bách thảo được mở rộng ra 20ha.
Vào dịp kỉ niệm Quốc khánh của Pháp ngày 14.7.1869, Vườn Bách thảo bắt đầu mở cửa thường trực cho công chúng vào tham quan. Vườn Bách thảo được xây dựng và quy hoạch phỏng theo hình ảnh của vườn thực vật Hoàng đế Louis XIII của Pháp. Nơi đây đã sưu tầm được các loài động, thực vật đặc hữu của Nam kỳ và 3 nước Đông Dương rồi chuyển về Viện Bảo tàng lịch sử thiên nhiên Pháp.
Năm 1877, họ chuyển về Paris 13.547 mẫu vật thuộc các loại cây ăn quả, cây cảnh và bóng mát. Năm 1880, Sở thú Paris nhận từ Vườn Bách thảo 3 con hổ, 3 con báo và 36 loài chim lạ của Đông Dương. Trong thời gian làm giám đốc, ông J.B Louis Pierre đã có công lớn trong việc tạo nên bộ sưu tập động, thực vật khổng lồ cho Thảo Cầm Viên.
Nhiều loài thực vật quý hiếm như: Sao, dầu, gõ đỏ, giáng hương… còn sót lại trong khu rừng nhiệt đới tự nhiên đã được ông nhân giống thành công. Ngoài ra, ông còn nhập về trồng thử nghiệm trong khu vườn nhiều loài cây có nguồn gốc từ Ấn Độ, châu Úc, Phi, Nhật Bản, Indonesia… thuộc giống cây công nghiệp, cây ăn quả, cây bóng mát…
Ông cũng để lại một di sản khá đồ sộ với hơn 100.000 mẫu vật làm tài liệu xuất bản bộ Thực vật chí rừng Nam kỳ gồm 25 tập với hơn 400 hình vẽ khổ lớn, được lưu giữ tại bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới TP.HCM...
Ông Pierre còn bố trí thêm các chuồng nuôi nhốt thú theo mô hình của vườn thú Paris với bộ sưu tập động vật có 63 loài chim, 29 loài thú và 13 loài bò sát. Chính sự hấp dẫn của các loài thú mà nơi đây ngày càng thu hút du khách đến tham quan. Bởi vậy, cái tên “Vườn Bách thú” hay “Sở thú” dần thay thế cho tên Vườn Bách thảo Sài Gòn.
Từ năm 1924-1927, Thảo Cầm Viên được chính quyền thuộc địa Pháp chủ trương tôn tạo quy mô cơ sở vật chất và bổ sung nhiều giống, loài động vật mới, lạ. Một số chuồng nuôi thú có kích thước lớn và kiên cố còn tồn tại cho tới ngày nay như chuồng mái vòm theo kiểu kiến trúc gothic nuôi khỉ, chuồng cọp, khu chuồng chim. Sở thú cũng được nới rộng qua bên kia sông Thị Nghè với diện tích 13ha.
Năm 1927, cầu Ông Nghè nối liền 2 khu của Sở thú được hình thành. Trong thời kì phát triển nhất, Thảo Cầm Viên đã có quan hệ hợp tác với 125 cơ sở khoa học trên thế giới để trao đổi hạt giống thực vật và động vật. Nơi đây cũng xây dựng một thư viện chuyên khảo với hơn 1.300 bộ sách quý, xuất bản hàng trăm quyển “Selectus semium”.
Bởi vậy, có người đã từng nhận xét: “Việc tạo dựng nên Vườn Bách thảo Sài Gòn là một món quà trang sức độc đáo nhất cho thành phố Sài Gòn - một trong những thành phố hoa lệ nhất của Viễn Đông”.
Từ năm 1942 - 1954, Sở thú lần lượt bị quân đội Nhật và quân đội Pháp chiếm đóng, biến nơi đây thành đồn trú và kho cất giấu vũ khí. Vì vậy, các hoạt động khoa học bị ngưng trệ, chuồng trại bị hư hỏng nhiều. Sở thú bị biến thành tụ điểm ăn chơi và có nhiều tệ nạn xã hội. Năm 1956, Vườn Bách thảo Sài Gòn được tu sửa, tái thiết và đổi tên thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
Sau ngày thống nhất đất nước, Thảo Cầm Viên được tiếp quản gần như nguyên vẹn, dưới sự quản lí của Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam. Sau đó, Thảo Cầm Viên được giao lại cho Công ty Công viên Cây xanh thuộc Sở Nhà đất và Công trình Công cộng thành phố. Trong 10 năm đầu, Thảo Cầm Viên có diện tích rộng tới 20 ha, tiếp nhận từ 2,5-3 triệu lượt khách du lịch hàng năm trong điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất cũ kĩ, bị xuống cấp nhanh chóng.
Trước tình trạng đó, tháng 6.1984, Chủ tịch UBND thành phố có quyết định tách Thảo Cầm Viên ra khỏi Công ty Công viên Cây xanh trở thành một đơn vị độc lập. Sau đó, từ dự án cải tạo, nâng cấp, Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã được “khoác chiếc áo mới”.
Nhiều chuồng nuôi thú được cải tạo và mở rộng theo xu thế hiện đại phù hợp với đời sống của từng loài, nâng tổng diện tích của chuồng từ 85.000m2 (năm 1975) lên 13.820m 2 (năm 2015). Tiêu biểu trong số đó phải kể tới chuồng voi, cá sấu, khu thú móng guốc, khu nuôi bò sát, chuồng hươu cao cổ… Nhờ mối quan hệ hợp tác, trao đổi, mua bán với quốc tế, bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn ngày thêm phong phú.
Nhiều động vật mới lạ xuất hiện tại Việt Nam như: hà mã, hà mã lùn, báo Nam Mĩ, cọp Amua, đười ươi… Bộ sưu tập động vật tăng nhanh chóng về mặt số lượng và chất lượng. Tới nay đã có 986 cá thể với 54 loài thú, 51 loài chim và 17 loài bò sát.
Cũng từ đây nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thành công đã tạo uy tín cho Thảo Cầm Viên Sài Gòn với các vườn thú khác. Đồng thời cũng góp phần bảo tồn động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Thành công đầu tiên phải kể tới việc nhân giống thành công đầu tiên loài trĩ Sao - một loài chim đặc hữu của nước ta.
Năm 1930, người Pháp đưa cho người Nhật một cặp nhưng sau đó mai một dần tới năm 1945 thì mất hẳn. Từ đó, không có vườn thú nào sở hữu loài trĩ Sao Đông Dương. Và cũng nhờ việc nhân giống thành công mà Thảo Cầm Viên đang sở hữu bộ sưu tập trĩ Sao lớn nhất thế giới.
Qua các đợt thực địa của đội ngũ cán bộ kĩ thuật và sưu tầm trao đổi cùng các nghệ nhân ở nhiều địa phương khác nhau thì bộ sưu tập hệ động thực vật ở Thảo Cầm Viên ngày càng phong phú. Tại đây có tới 2.500 cây thân gỗ (nhiều cây tuổi thọ trên 100 năm) cùng với bộ sưu tập kiểng cổ, bonsai, phong lan, xương rồng có giá trị với tổng số lượng hơn 500 loài khác nhau.
Năm 1996, Thảo Cầm Viên xây dựng chương trình “Học mà chơi, chơi mà học” với các chủ đề khác nhau thu hút hàng ngàn em thiếu nhi tham gia. Năm 1999, Phòng Giáo dục Bảo tồn chính thức được thành lập với đội ngũ cán bộ trẻ giàu nhiệt huyết. Nhiều chương trình và các chuyên đề phong phú được biên soạn, thu hút nhiều đối tượng khác nhau. Sau 10 năm hoạt động, phòng ban này đã trở thành một định hướng cho sự tồn tại và phát triển của Thảo Cầm Viên.
Từ con số chưa tới 10.000 em học sinh, sinh viên trong những năm đầu, giờ đây mỗi năm, Thảo Cầm Viên tiếp nhận 70.000 em. Năm 1990, Thảo Cầm Viên Sài Gòn chính thức là thành viên của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á (SEAZA) với nhiều đóng góp tích cực, đã đăng cai, tổ chức thành công hai lần hội nghị thường niên của Hiệp hội vào năm 2006 và năm 2013.
Bên cạnh đó,Thảo Cầm Viên còn có mối quan hệ hợp tác với nhiều vườn thú và tổ chức khoa học quốc tế như: Tổ chức nhân giống bảo tồn (CBSG), Hiệp hội vườn thú và hồ cá quốc tế (WAZA), Hiệp hội giáo dục vườn thú thế giới (IZE), Hội chim Trĩ thế giới (WPA)… Từ năm 1996 - 2000, thành phố mở rộng nhiều tuyến đường nên Thảo Cầm Viên bị thu hẹp, phải di dời hàng trăm cây gỗ cùng hàng chục chuồng nuôi thú.
Thảo Cầm Viên phải xây dựng lại dự án “Quy hoạch và bảo tồn Thảo Cầm Viên” trong giai đoạn mới. Dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia trong Tổ chức nhân giống bảo tồn thế giới (CBSG), đến nay Thảo Cầm Viên còn 17ha. (Một Thế Giới 18/1) đầu trang(
Nhà văn, nhà báo Phan Trung Nghĩa (Bạc Liêu) nói: “Bây giờ nơi nào có cảnh vật, tình người như trong Đất rừng phương Nam thì làm du lịch sẽ rất hút khách”.
Mà thực vậy, vài năm gần đây, những điểm du lịch sinh thái ở vùng đất phương Nam đã gây được ấn tượng đẹp trong lòng du khách. Người ta đến một lần rồi vẫn muốn quay lại thêm nhiều lần nữa, bởi cái tình với người phương Nam...
Đất rừng phương Nam có một chương nói về chợ chim ở ngã ba vàm sông có tên là kênh Mặt Trời. Trong chợ người ta bày bán đủ các loại chim (và dường như có cả “đám sếu đen, sếu xám mào đỏ”), từ trứng chim, thịt chim đến lông chim. Cách chợ chim không xa là sân chim.
Ở sân chim đó, chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ nữ bằng đồng đen đang vươn tay múa.
Chim già đẫy đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư rụt cổ nhìn xuống chân. Nhiều con chim rất lạ, to như con ngỗng đậu đến quằn nhánh cây... Chim ở đâu tập trung về nơi đây, nhiều không thể nói được.
Ở đây còn có nhiều chim lạ, chúng đậu thấp lắm, đứng ở gốc cây có thể thò tay lên tổ nhặt trứng một cách dễ dàng.
Trong các loài động vật được kể trong Đất rừng phương Namthì có lẽ chim là động vật bị săn bắt nhiều nhất, nhưng may mắn là đến giờ vẫn còn duy trì với số lượng lớn.
Hiện khắp các tỉnh Tây Nam bộ, hầu như nơi nào cũng có sân chim, vườn chim, nhưng có lẽ tập trung nhiều nhất ở địa bàn hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.
Nơi đây, ngoài các sân chim do cơ quan chuyên môn quản lý, nhiều hộ dân cũng tự nghĩ ra cách trồng cây, lập vườn “dẫn dụ” chim về trú ngụ.
Hơn chục vườn chim tư nhân đã ra đời từ cách làm này, trong đó vườn chim của lão nông Nguyễn Văn Thiệt (Sáu Thiệt) ở ấp Bình Hổ, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long (Bạc Liêu) thuộc hàng lớn nhất.
“Chừng 20 năm trước một số loài chim cò bắt đầu rủ nhau về đậu trên mảnh vườn hoang phía sau nhà. Thấy vậy, mấy cha con tui tiếp tục đào đất ruộng, lên liếp trồng thêm trúc, tràm, bình bát - là những loại cây chim hay làm tổ” - ông Sáu Thiệt kể.
Gần đây ông còn dành dụm tiền mua thêm mấy thửa đất liền kề để mở rộng vườn chim. Từ diện tích ban đầu chưa tới nửa hecta, bây giờ “mái nhà” cho chim do ông Sáu Thiệt tạo lập đã lên tới 15ha.
Nhiều loài chim lớn như bồ nông, điêng điểng, vạc, diệc, rồi cò đỏ, cò trắng, cò ngà, cò quắm... với tổng đàn ước tính lên tới hàng chục ngàn con đã về trú ngụ nơi đây và đang có dấu hiệu gia tăng qua từng mùa sinh sản trong năm.
Có mặt tại vườn chim của ông Sáu Thiệt vào buổi hoàng hôn, chúng tôi đã chứng kiến khung cảnh vùng quê thật yên bình.
Trên nền trời nhạt nắng, từng đàn chim cấp tập bay về từ mọi hướng. Có đàn xếp hình mũi tên, đàn lại bay theo hình cánh cung trông thật đẹp. Khi con lộ bêtông chạy ngang qua nhà làm xong, khách du lịch các nơi rủ nhau tìm về tham quan vườn chim của ông Sáu Thiệt ngày thêm đông.
Giữa trưa, đoàn khách đi trên hai chiếc canô ghé lại bến sông trước cửa nhà ông Nguyễn Ngọc Nhuần, ở ấp Cồn Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) - một hộ dân tham gia dự án phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng.
Nghe tiếng máy, ông Nhuần vội ra bến sông đón khách. Trên nhà, vợ và hai con ông Nhuần cũng mở rộng cửa chờ sẵn. Căn nhà gỗ cất trên mặt ao sạch sẽ, tinh tươm. Cạnh chái bếp, mớ tôm cá và mấy con lươn vàng ươm mà gia chủ vừa đặt lọp đêm qua rọng trong chiếc thùng thiếc.
Sau khi xem qua một lượt, mấy chị phụ nữ trong đoàn khách lựa chọn thực đơn, cân tại chỗ, rồi xắn tay áo lên cùng vào bếp với mẹ con chủ nhà. Vừa làm, khách và chủ vừa chuyện trò tíu tít như quen nhau thuở nào.
“Góp một tay cho nhanh, với lại tiện thể nhờ bà chủ đây chỉ dạy luôn cách chế biến món đặc sản cá thòi lòi tươi nướng muối ớt” - chị Hoàng Dung, một du khách đến từ TP Cần Thơ, khoe.
Gia đình chủ nhà có bốn người, tất cả đều là “tay ngang” tham gia làm du lịch.
Chưa ai học qua trường lớp các kỹ năng nghiệp vụ về nấu ăn, giao tiếp... nhưng bù lại họ đều sinh ra và lớn lên ở vùng đất này, nên có thể “thuyết minh” rõ ràng, tường tận những câu hỏi của khách, như:
Ở vùng rừng đước Cà Mau này có bao nhiêu loài cá, bao nhiêu loài chim, chúng sinh đẻ vào thời điểm nào trong năm; làm thế nào phân biệt giữa rắn hổ đất với hổ mây, nhận biết loài nào có độc, bị nó cắn phải làm sao...
Chuyện trò huyên thuyên, tới lúc dọn cơm ra mới thấy đói hung, đụng đũa vô món nào cũng xuýt xoa khen ngon. Xong bữa, khách trải chiếu ra sàn nhà gỗ cất trên mặt ao đánh giấc. Vài thanh niên xắn quần mượn cái nôm, cây chĩa của chủ nhà đi bắt cá thòi lòi, con ba khía.
Chiều muộn, khách bày tỏ ý muốn nghỉ lại qua đêm để được trải nghiệm không khí đất rừng phương Nam một cách trọn vẹn hơn. Rất nhanh chóng, những chiếc mùng mền tươm tất được mang ra.
Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở xã Đất Mũi được triển khai từ ba năm nay, với sự hỗ trợ của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau. Hai mươi hộ tham gia đều được cấp đất, kết hợp trồng, bảo vệ rừng với khai thác môi trường sinh thái phục vụ du lịch.
“Đến đây một lần rồi, tôi lại muốn tới thêm nhiều lần nữa vì cảm thấy yên tâm, không bị tính giá cao, thức ăn vừa miệng. Ấn tượng nhất là người dân quê ở đây rất hiền lành, tốt bụng và hiếu khách” - anh Nguyễn Tuấn Hiên, du khách đến từ Kiên Giang, cho biết.
Đất rừng phương Nam bây giờ đã đổi thay nhiều. Có những đổi thay tạo động lực phát triển, cũng có cái khiến người ta ngậm ngùi tiếc nuối.
Nhưng điều chắc chắn là bản tính bộc trực, thẳng thắn, hào phóng, hiếu khách, trọng nhân nghĩa... của phần đông người dân phương Nam mà nhà văn Đoàn Giỏi đã khắc họa qua tác phẩm để đời không dễ gì thay đổi.
Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp (An Giang), “vùng đất phương Nam trước khi có sự khai phá của những người dân đến từ miền Trung, miền Bắc chỉ là một vùng rừng rậm hoang vu, có thú dữ tràn đầy. Chính vì luôn lo sợ trước điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt này, người ta thấy rằng phải nương tựa vào nhau để sống, tất cả mọi người đều hết lòng vì việc nghĩa và đi liền với đó là tính hiếu khách và hào hiệp...”. (Tuổi Trẻ 18/1) đầu trang(
Cứ đến mùa khô, nạn phá rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại các vùng rừng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng và các khu vực trọng điểm của huyện Hàm Thuận Bắc lại xảy ra tràn lan, phức tạp.
Nhất là trước, trong và sau Tết Nguyên đán, các đối tượng phá rừng càng lén lút hoạt động mạnh hơn và sử dụng các thủ đoạn tinh vi xảo quyệt để đối phó với lực lượng bảo vệ rừng.
Trước thực trạng đó, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu UBND huyện Hàm Thuận Bắc chỉ đạo, hướng dẫn các xã, đơn vị chủ rừng xây dựng, triển khai kế hoạch, phương án bảo vệ rừng, chống phá rừng năm 2016 và xây dựng phương án kiểm tra, truy quét chống phá rừng trước, trong và sau Tết Bính Thân, từ đầu tháng 1 đến hết tháng 3/2016.
Cán bộ kiểm lâm địa bàn đã tích cực tham mưu cho UBND các xã triển khai thực hiện có hiệu quả phương án, kế hoạch bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng, đấu tranh tố giác tội phạm, quản lý chặt chẽ các đối tượng phá rừng chuyên nghiệp. Lực lượng kiểm lâm cơ động thường xuyên phối hợp với các đơn vị chủ rừng tuần tra, truy quét, xác minh các đối tượng phá rừng.
Tập trung lực lượng kiểm tra, truy quét, ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại các khu vực trọng điểm đã xác định là 4 xã vùng cao: Đông Giang, Đông Tiến, Đa Mi, La Dạ và vùng rừng giáp ranh với huyện Di Linh, Bảo Lâm (Lâm Đồng), huyện Tánh Linh, Bắc Bình.
Nhất là khu vực rừng giáp ranh giữa xã Đông Tiến với xã Sơn Điền, huyện Di Linh và vùng giáp ranh giữa xã Đa Mi với xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm; khu vực giáp ranh giữa xã Thuận Hòa với xã Gia Bắc, huyện Di Linh và xã La Dạ với xã La Ngâu, huyện Tánh Linh; khu vực nội huyện tại các tiểu khu 166 - 168 - 172 - 174 - 175 do Ban quản lý RPH Hàm Thuận - Đa Mi quản lý…
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện còn phối hợp với công an tăng cường tuần tra, kiểm soát, phát hiện các phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép trên các tuyến đường như quốc lộ 55 từ các xã Đông Giang, La Dạ, Đa Mi về Bảo Lộc, Tánh Linh; tuyến đường quốc lộ 28 từ khu vực giáp ranh huyện Di Linh về các xã Thuận Hòa, Ma Lâm, Hàm Thắng; tuyến đường liên xã từ vùng giáp ranh với huyện Bắc Bình về xã Hồng Liêm và xã Bình Tân (Bắc Bình).
Thường xuyên kiểm tra các cơ sở chế biến, kinh doanh hàng mộc dân dụng ở xã Hàm Thắng, Phú Long, Hàm Đức và các tụ điểm cất giữ, mua bán lâm sản tại 4 xã vùng cao của huyện. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nắm bắt thông tin về các băng nhóm, đối tượng phá rừng để phối hợp với lực lượng công an, quân sự, chủ rừng, chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra, truy quét, triệt phá kịp thời.
Cán bộ kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho Chủ tịch UBND các xã chỉ đạo lực lượng công an mời gọi 68 đối tượng để răn đe, giáo dục, làm bản cam kết chuyển, bỏ nghề phá rừng. Các đơn vị chủ rừng đã bố trí lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” và ứng trực 24/24 giờ để tiếp nhận, xử lý thông tin tình hình cháy rừng. (Báo Bình Thuận 18/1) đầu trang(
Hơn 3 năm trước, nói đến những khu rừng ở Quảng Trực, Đắk Ngo (Tuy Đức), nơi giáp ranh với huyện Bù Đăng (Bình Phước) thì nhiều người dân, cán bộ quản lý bảo vệ rừng không khỏi lo lắng bởi mức độ lộng hành của “lâm tặc”. Còn bây giờ, những chuyện như vậy chỉ là những ký ức đáng quên.
Kể từ năm 2012, sau vụ việc hàng chục “lâm tặc” đốt nhiều xe máy, phá trạm giữ rừng và đánh trọng thương các cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty TNHH Một thành viên Nam Tây Nguyên (Công ty lâm nghiệp Nam Tây Nguyên), đến nay chúng tôi mới có dịp quay lại khu vực rừng Quảng Trực, nơi giáp ranh huyện Bù Đăng.
Đường vào rừng chỉ có một lối đi duy nhất là qua con suối Đắk Zên, từ phía tỉnh Bình Phước. Đoạn đầu cửa rừng luôn tấp nập người qua lại làm rẫy. Trạm quản lý bảo vệ rừng của Công ty lâm nghiệp Nam Tây Nguyên ở ngay bên đường và giáp phần đất Công ty TNHH Kiến Trúc Mới.
Theo những người dân canh tác nơi đây, rừng của Công ty Kiến Trúc Mới được giao quản lý đã bị xâm chiếm gần hết. Đây là hệ quả của những vụ chặt phá rừng ào ạt mấy năm về trước… Tiếp tục đi vào sâu hơn, những cánh rừng bạt ngàn mới hiện ra. Nơi trước đây đã xảy ra vụ việc hàng chục “lâm tặc” đốt phá nhà, hành hung nhiều cán bộ quản lý bảo vệ rừng, bây giờ cây rừng đã phủ kín.
Giải thích về những thay đổi này, anh Phạm Quang Trung, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Nam Tây Nguyên cho biết: “Ngay sau khi các cơ quan chức năng bắt nhiều đối tượng “lâm tặc” cộm cán thì tình hình xâm hại rừng cũng giảm dần. Nhiều diện tích đất rừng, rừng bị xâm hại, công ty đã thu hồi và bảo vệ và tổ chức trồng rừng mới… Cứ vậy, cây rừng phủ đến đâu, trạm quản lý bảo vệ dời ra chỗ mới đến đó”.
Đi vào sâu hơn, những nơi đường mòn trước đây từng in đậm dấu chân “lâm tặc”, giờ cây rừng giăng kín lối đi. Bao trùm cả khu rừng, tiếng chim chóc vang lên trong khoảng không vắng lặng.
Là người bám trụ khu rừng này nhiều năm và là nạn nhân bị nhóm “lâm tặc” hành hung trọng thương, anh Trung nhớ như in không gian khu rừng này, trước đây. Theo anh Trung, từ năm 2010-2012, không chỉ ban ngày mà cả buổi tối, tiếng xe, tiếng máy cưa, máy cày tấp nập khu vực. Đối với lực lượng quản lý bảo vệ rừng, việc bị hành hung, đe dọa là chuyện thường…
Còn hiện nay, tình trạng phá, lấn chiếm đất rừng của đơn vị đã giảm hẳn. Vào buổi tối, tiếng cưa, tiếng xe máy ra vào rừng đã không còn nên anh em ngũ cũng bớt lo lắng, hồi hộp. Quả thực, khi chúng tôi trải qua một đêm gần như thức trắng bởi cái lạnh ở rừng, càng cảm nhận rõ hơn sự yên tĩnh, thanh bình đang hiện hữu ở nơi đây.
Ông Phạm Hòa Dũng, Phó Giám đốc Công ty Nam Tây Nguyên khẳng định có được sự bình yên này là do hiệu quả của sự phối hợp quản lý bảo vệ rừng, gắn với phát triển kinh tế của đơn vị và người dân địa phương. Trước đây, nhiều diện tích cao su đơn vị phối hợp giao khoán để người dân chăm sóc luôn bị nhiều đối tượng phá phách, cản trở. Còn hiện nay, không chỉ cao su được chăm sóc tốt, mà tình trạng xâm hại rừng đã không còn. Có được kết quả này phải kể đến sự vào cuộc quyết liệt của tỉnh, các cấp, ngành, lực lượng công an tỉnh trong việc giải tỏa “điểm nóng” phá, lấn chiếm đất rừng”, ông Dũng khẳng định.
Cũng theo ông Dũng, để giữ ổn định khu rừng này, hiện tại, công ty đã tăng cường thêm lực lượng, xây dựng trạm quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, về lâu dài, cán bộ quản lý bảo vệ rừng đơn vị không thể cứ đi mãi cả quãng đường hàng trăm cây số, rồi vòng qua tỉnh bạn để đến nơi giữ rừng được…
Để giải “bài toán” này, đơn vị đã mạnh dạn làm dự án “cắt” rừng để giữ rừng. Con đường mới hoàn thành sẽ rút ngắn quãng đường từ trụ sở chính Công ty (trung tâm xã Quảng Trực) đến khu vực suối Đắk Zên, giáp huyện Bù Đăng còn chưa đầy 30 km. Trong năm nay, khi con đường mới hoàn thành, các cán bộ quản lý bảo vệ rừng công ty chỉ mất khoảng hơn một giờ đồng hồ là có thể đi từ trụ sở đến điểm cuối khu rừng Nam Tây Nguyên, một cách thuận tiện. Việc tuần tra bảo vệ rừng thuận tiện sẽ giúp đơn vị giữ khu rừng này ngày càng ổn định hơn.
Có thể nói, đối với nhiều người, việc đến được với khu rừng này không khó, nhưng để bám trụ, giữ rừng lâu dài ở đây thì không dễ dàng gì. Dẫu rằng ai cũng biết, nếu có con đường băng rừng từ nhiều năm trước, chắc rằng những tổn thất do “lâm tặc” xâm hại rừng doanh nghiệp quản lý sẽ giảm. Tuy vậy, theo lãnh đạo Công ty Nam Tây Nguyên, trong giai đoạn hiện nay, các công ty lâm nghiệp trong tỉnh đang rất khó khăn. Những khó khăn về nguồn lực tài chính cũng là sợi dây đang “trói” nhiều đơn vị lâm nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng.
Điểm “nóng” phá rừng trước đây, tập trung ở diện tích rừng của Công ty TNHH Kiến Trúc Mới và một phần trong tổng số hơn 23.000 ha rừng của Công ty lâm nghiệp Nam Tây Nguyên quản lý. Để bảo vệ được diện tích rừng này, các cán bộ của đơn vị phải đi hơn cả trăm cây số xuống huyện Bù Đăng, rồi vòng ngược lên xã Quảng Trực.
Đối với các đơn vị tư nhân được tỉnh giao quản lý rừng ở khu vực này cũng không phải dễ dàng… Thực tế trong một thời gian ngắn, hàng trăm ha rừng của Công ty TNHH Kiến Trúc Mới đã bị “lâm tặc” phá sạch. Không chỉ phá rừng, “lâm tặc” còn hành hung cán bộ quản lý bảo vệ rừng, bảo kê vận chuyển gỗ, mua bán đất rừng… (Báo Đắk Nông 18/1) đầu trang(
Bao đời nay, người Mạ sống dưới chân núi Tà Đùng (xã Đắk Som, huyện Đắk G’long, Đắk Nông) đã xem việc bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống mình. Không chỉ tích cực phối hợp với kiểm lâm tuần tra bảo vệ rừng, các hộ dân nơi đây còn tham gia nhận khoán trồng rừng để phát triển kinh tế.
Cách trung tâm xã Đắk Som hơn 20km theo hướng về huyện Di Linh (Lâm Đồng), hơn 100 hộ dân người Mạ sống tập trung thành các cụm dân cư ở chân núi Tà Đùng (thuộc xã Đắk Lao cũ, nay là xã Đắk Som).
Có cuộc sống và tập quán sinh hoạt gắn liền với rừng, người Mạ ở đây luôn xem rừng là nơi thiêng liêng, có thần rừng canh giữ. Ông K’Cha (SN1931, ở xã Đắk Som), kể: “Nhiều năm trước, kẻ gian lợi dụng vào rừng cưa trộm cây, thần rừng nổi giận không che chở nên buôn làng liên tục xảy ra ốm đau, mất mùa. Bon làng đã làm lễ vật, thành tâm xin lỗi thần rừng sau đó mới được sống yên ổn. Cũng từ đó, chúng tôi luôn dặn dò hậu bối phải sống hòa thuận với rừng, bảo vệ rừng khỏi kẻ gian”.
Tiếp nối truyền thống của các thế hệ trước, con cháu người Mạ thế hệ luôn tích cực phối hợp với cơ quan chức năng bảo vệ rừng. Gia đình anh K’Phương (SN1980, ở xã Đắk Som) nhận khoán bảo vệ hơn 30ha rừng của Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Tà Đùng (xã Đắk Som) nên anh thường xuyên tham gia đi tuần với các cán bộ kiểm lâm của đơn vị.
Mỗi lần vào tuần tra trong rừng là “ăn dầm ở dề” 3 - 4 ngày, vất vả, thiếu thốn và đối mặt với nhiều nguy hiểm. Thế nhưng, K’Phương luôn phấn khởi: “Chuyện bảo vệ rừng đã được già làng căn dặn, mình là con cháu phải nghe theo. Dù thu nhập còn ít, đời sống còn khó khăn nhưng bon làng chúng mình luôn đồng lòng giữ rừng”.
Theo ông Lê Thanh Long - Phó Giám đốc Khu BTTN Tà Đùng, Khu bảo tồn có diện tích hơn 20.000ha nhưng chỉ có hơn 22 cán bộ kiểm lâm (thiếu gần một nửa so với quy định). Trong khi đó, lâm phần quản lý của đơn vị còn nhiều gỗ quý nên thường xuyên bị lâm tặc dòm ngó.
Nắm bắt được tình hình đó, đơn vị đã thực hiện giao khoán gần 8.000ha rừng cho 177 hộ dân (chia thành 17 tổ) quản lý, bảo vệ. Mặc dù tiền công còn thấp (trung bình 200.000đồng/ha/năm) nhưng người dân địa phương rất quan tâm tới tuần tra, bảo vệ rừng.
“Không chỉ tích cực phối hợp với kiểm lâm, chính đồng bào DTTS ở đây còn phát hiện, ngăn chặn kịp thời hàng chục vụ lâm tặc vào xâm hại rừng. Trong 5 năm qua, tổng diện tích người dân quản lý, bảo vệ bị lấn chiếm chưa tới 10ha. Bên cạnh đó, người Mạ ở đây còn tích cực tham gia trồng rừng, góp phần không nhỏ vào tổng diện tích hơn 90ha mà Khu BTTN Tà Đùng đã trồng được trong năm 2015” - ông Long phấn khởi cho biết. (Tài Nguyên Và Môi Trường 18/1) đầu trang(
Chiều 18-1, Công an huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) cho biết, đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện để điều tra, xử lý vụ vận chuyển, tàng trữ gỗ lậu lớn vừa được phát hiện trên địa bàn.
Theo ông Lê Thanh Hóa, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh, ngày 6-1, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm vùng IV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tiến hành kiểm tra cơ sở chế biến gỗ Huynh Tin ở thôn Suối Sâu, xã Khánh Đông, do ông Nguyễn Công Huynh (sinh năm 1965) làm chủ, đã phát hiện cơ sở này đang cất giữ 68 lóng gỗ tròn các loại, tổng khối lượng lên đến hơn 60,2m3 và 64 khúc gỗ xẻ hộp các loại, tổng khối lượng hơn 16,3m3. Tại thời điểm kiểm tra, ông Huynh đã không xuất trình được giấy tờ hợp pháp về nguồn gốc số gỗ nêu trên.
Trước đó, cũng tại xã Khánh Đông, Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục kiểm lâm vùng IV đã bắt giữ 2 xe ô tô tải chở 11 lóng gỗ tròn lậu, tổng khối lượng hơn 12,1m3.
Theo ông Lê Thanh Hóa, toàn bộ số gỗ lậu được phát hiện nêu trên đều không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm, tuy nhiên tính chất vụ việc là nghiêm trọng, do vậy, cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ được phát hiện và phương tiện để xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Khánh Hòa 19/1) đầu trang(
Theo kết quả điều tra ban đầu, chủ rừng và địa phương có dấu hiệu buông lỏng quản lý trong thời gian dài dẫn đến việc sử dụng đất rừng sai mục đích và bị xâm hại.
Năm 2007, dự án 135 được triển khai tại vùng rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Chư Sê quản lý, đã cấp 95 ha rừng cho 14 hộ để trồng cao su. Trong đó, 8 hộ là cán bộ, viên chức hoặc có người nhà làm việc tại Ban này, còn lại là các hộ sống trên địa bàn huyện. Theo kế hoạch, các hộ này được thuê đất trong 30 năm. Sau một thời gian triển khai, nhiều hộ nhận khoán đã sang nhượng cho các hộ khác hoặc chuyển đổi sang các loại cây trồng khác như hồ tiêu, cà phê.
Trên thực tế, từ 14 hộ nhận khoán trồng cao su trên diện tích 95 ha ban đầu, qua một thời gian mua bán, chuyển nhượng, hiện diện tích này do 21 hộ quản lý. Tuy là dự án trồng rừng, tạo việc làm cho người dân địa phương nhưng không một ai trong số các hộ nhận khoán là người tại chỗ. Cũng trong suốt nhiều năm qua, rừng trồng tại khu vực này cũng đã liên tục bị lấn chiếm nhưng không được chủ rừng và địa phương xử lý kịp thời.
Việc chặt phá rừng trồng của hàng trăm người dân xã Bar Maih là hành vi vi phạm pháp luật và không loại trừ người dân bị kích động, lôi kéo. Đây là vụ chặt phá rừng có quy mô và diện tích thiệt hại lớn nhất tại Gia Lai từ trước đến nay. Chính sự thiếu minh bạch trong giao khoán đất rừng cộng với việc buông lỏng quản lý đã gây nên vụ việc đáng tiếc vừa qua. (Đài Truyền Hình Việt Nam 19/1) đầu trang(
Ngày 18.1, UBND tỉnh Gia Lai cho biết, đã có văn bản chỉ đạo sở NNPTNT điều chuyển công tác Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Krông Pa - Bùi Đức Việt và Giám đốc Ban QLRPH Ia Rsai - Nguyễn Đình Sơn, do để xảy ra nạn phá rừng trong lâm phần quản lí được giao.
Văn bản của tỉnh Gia Lai nêu rõ: Điều động ông Việt, Sơn về công tác tại Sở NNPTNT Gia Lai, giao lại nhiệm vụ cho người khác đảm nhận. Sau khi có kết quả kiểm tra sẽ xem xét xử lí kỷ luật tiếp.
Ngày 11 và 12.1, Báo Lao Động đăng tải hai bài viết "Sở "đùa" với tỉnh", "Tỉnh cũng không biết". Một ngày sau (ngày 13.1), Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai - Võ Ngọc Thành cùng Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Kpă Thuyên đã chủ trì cuộc họp về "tăng cường công tác quản lí bảo vệ rừng tại huyện Krông Pa, cùng các vụ việc phá rừng khác trên địa bàn toàn tỉnh".
Tham dự cuộc họp có lãnh đạo các sở, ngành: NNPTNT tỉnh, CA tỉnh, Thanh Tra tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Krông Pa...
Sau khi Chủ tịch UBND huyện Krông Pa - Tô Văn Chánh báo cáo tình hình và phản ánh của Báo Lao Động ngày 11-12.1 về tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Krông Pa. UBND tỉnh Gia Lai kết luận: Tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản xảy ra thời gian qua trên địa bàn của huyện Krông Pa là có thật và diễn biến phức tạp.
"Sau khi các phương tiện thông tin phản ánh, UBND tỉnh đã chỉ đạo sở NNPTNT, UBND huyện Krông Pa triển khai, kiểm tra báo cáo UBND tỉnh. Tuy nhiên, việc kiểm tra chưa toàn diện và triệt để, báo cáo chưa đánh giá đúng tình hình, chưa sát với thực tế", trích dẫn thông báo 03 của tỉnh Gia Lai.
Theo đó, UBND tỉnh chỉ đạo sở NNPTNT Gia Lai trước mắt điều chuyển công tác Hạt trưởng Hạt KL huyện Krông Pa và GĐ Ban QLRPH Ia Rsai. Đồng thời nghiêm túc xử lí kỉ luật các cán bộ khác theo chỉ đạo tại văn bản số 5965/UBND-NL trước đó, ngày 30.12.2015.
Tại các tiểu khu 1307, 1325 và 1321 tại lâm phần Ban QLRPH Ia Rsai (trực thuộc sở NNPTNT, đóng tại huyện Krông Pa), lâm tặc ngang nhiên dựng lán trại xẻ gỗ trái phép, gỗ bị đốn hạ xẻ hộp nằm la liệt. Sau khi báo Lao Động phản ánh, Sở NNPTNT Gia Lai đã có báo cáo UBND Gia Lai sai sự thật khi cho rằng "việc phá rừng nhỏ lẻ, không nghiêm trọng", đồng thời đổ lỗi cho người dân tộc thiểu số nghèo "khai thác gỗ về làm nhà, trụ hàng rào, mồ mả không nhằm mục đích mua bán". (Lao Động 18/1) đầu trang(
Những năm qua, lực lượng bảo vệ rừng ở huyện Bến Cầu luôn tích cực, chủ động trong công tác bảo vệ gần 800 ha rừng Nhum (xã Long Phước,huyện Bến Cầu). Nhờ thế, dù trong điều kiện nắng nóng, khô hạn kéo dài nhưng rừng Nhum vẫn xanh tốt.
Theo ông Hồ Thanh Hải - Phó Chủ tịch UBND xã Long Phước, trên địa bàn xã hiện có 770 ha rừng tự nhiên và 27 ha rừng trồng. Diện tích rừng trồng được hợp đồng khoán bảo vệ và chăm sóc cho 11 hộ dân quản lý, cây rừng chủ yếu là keo lá tràm.
Ông Hải cho hay, trong công tác bảo vệ rừng, Ban Chỉ huy quân sự huyện và lực lượng dân quân xã Long Phước bố trí lực lượng bảo vệ rừng thường trực tại chỗ gồm 10 người, tăng cường canh phòng, bảo vệ rừng. Thường xuyên tuyên truyền nhắc nhỡ các hộ dân sống chung quanh chung sức bảo vệ và phòng chống cháy rừng, đặc biệt, người dân sống gần các khu vực trọng điểm giáp ranh huyện Châu Thành, các khu dân cư, các xưởng cưa, lò sấy thuốc lá vàng không nên khai thác gỗ, củi trái phép từ rừng.
Anh Tạ Trung Pha – Chốt trưởng bảo vệ rừng xã Long Phước chia sẻ, để bảo vệ rừng được hiệu quả, anh em trong chốt thường xuyên tuần tra canh gác và thực hành các biện pháp phòng chống cháy. Trong năm 2015, lực lượng bảo vệ rừng đã tiến hành 153 cuộc kiểm tra để ngăn chặn việc phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép.
Để đảm bảo công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô, lực lượng bảo vệ rừng Long Phước đã tăng cường công tác kiểm tra theo dõi tình hình phòng chống cháy rừng, đồng thời kết hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra các nơi trọng yếu có thể xảy ra cháy rừng như trảng cỏ, trảng tranh và khu vực rừng trồng, tổ chức phát dọn khu vực dễ cháy.
Ông Nguyễn Chí Cường – Hạt phó Hạt kiểm lâm liên huyện Châu Thành – Bến Cầu đánh giá, từ năm 2014 đến nay đã không xảy ra tình trạng dân vào rừng lấy trộm lâm sản, chặt phá cây rừng và lấn chiếm đất ở rừng Nhum, Long Phước. Có được kết quả đó là sự nỗ lực rất lớn của các lực lượng bảo vệ rừng ở đây trong công tác tuyên truyền vận động bà con cũng như quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Tây Ninh 19/1) đầu trang(
Mải trầm trồ, thích thú trước những màn nhảy qua lửa, nhào lộn, đi xe đạp hay đu quay,... của những "diễn viên" xiếc là những con thú mà chúng ta ít biết đến nỗi thống khổ của chúng phía sau sân khấu. Để mang lại tiếng cười cho khán giả, những con thú phải trải qua quá trình “đào tạo” vô cùng khắc nghiệt.
Vài năm trở lại đây, khu vực Mỹ Latinh xuất hiện làn sóng bảo vệ quyền của các loài động vật. Nhìn chung, duy trì hay xóa sổ bộ môn xiếc thú vẫn đang là vấn đề tranh cãi nóng bỏng giữa các tổ chức bảo vệ động vật và phe đối lập.
Những nhà hoạt động vì quyền của động vật cho rằng các gánh xiếc thường ngược đãi, bóc lột động vật. Ngược lại, những nghệ sĩ biểu diễn xiếc khẳng định, động vật được nuôi dưỡng trong các gánh xiếc đã quá quen với những gì chúng đang thực hiện mỗi ngày.
Nếu bắt chúng trở về sống trong tự nhiên vì gánh xiếc không còn được phép sở hữu chúng nữa, những con vật này sẽ chết vì không thích nghi nổi với cuộc sống thiên nhiên hoang dã. Giới làm xiếc khẳng định họ chăm sóc cẩn thận cho những con vật cùng biểu diễn với mình. Những con vật này cũng thường được sinh ra và nuôi lớn trong gánh xiếc, vì vậy, họ cũng có tình cảm gắn bó với chúng.
Tuy nhiên, tất cả đều thừa nhận, khi đã trở thành công cụ mua vui trong gánh xiếc thì những con vật hoang dã không còn được sống cuộc sống tự nhiên vốn có nữa. Nhằm vạch rõ nỗi thống khổ của những con vật bị ép làm diễn viên xiếc, tổ chức Bảo vệ Động vật Quốc tế (ADI) tại Anh từng đột nhập vào một trường “đào tạo khỉ” và ghi lại cảnh huấn luyện ở đây. Nội dung đoạn phim cho thấy chúng phải sống trong những chiếc lồng chật hẹp, tồi tàn. Mỗi khi thấy người, tay của những con khỉ này chìa ra như van xin. Một số con liên tục phá lồng và tìm cách mở ổ khóa. Nhiều con khỉ nằm bất động trong lồng. Chúng kiệt sức vì bị hành hạ quá mức.
Chưa dừng ở đó, thời gian qua, các tổ chức bảo vệ động vật trên thế giới đã công khai thêm nhiều đoạn phim ghi lại cuộc sống khắc nghiệt đến cùng cực của các chú khỉ tại trường xiếc. Cũng bởi quy trình huấn luyện phi nhân văn nên môn nghệ thuật xiếc khỉ nói riêng, xiếc thú nói chung hiện đã bị cấm ở nhiều quốc gia Nam Mỹ.
Tại Việt Nam, có lẽ số đông công chúng và cả người làm nghề chưa hề nghĩ đến những tranh cãi về việc duy trì hay xóa sổ xiếc thú, cũng bởi lẽ nghề xiếc nói chung ở Việt Nam còn chưa thoát ra khỏi tình trạng khó khăn, xiếc người còn chật vật, nói chi xiếc thú.
Bạo hành hay huấn luyện thú để trở thành diễn viên xiếc là sự việc rất đáng bàn. Tuy nhiên, khi nhắc đến góc khuất của xiếc thú ở Việt Nam, hầu như người ta đề cập đến một vấn đề khác. Ai cũng phải thừa nhận, biểu diễn xiếc là một trong những nghề nguy hiểm. Trong đó, xiếc thú càng đặc biệt nguy hiểm bởi người nghệ sĩ nhiều khi không thể kiểm soát được bạn diễn của mình.
Gần đây, xiếc thú ở Việt Nam chỉ còn những tiết mục biểu diễn với các loài thú như khỉ, gấu, ngựa, voi, trăn... chứ không còn xiếc sư tử, hổ, báo... Khi tìm hiểu về khó khăn của xiếc thú tại Việt Nam, hầu như chúng ta chỉ thấy được một góc cạnh: nhiều diễn viên bị trăn cắn, gấu tát, khỉ cào... vẫn tận tụy bên con vật, không ít người dấn thân, ăn, ngủ cùng sư tử, hổ ,voi ,báo, gấu...
Chúng ta ít khi đề cập đến khó khăn của những con thú, có những tiết mục không hoàn thành bởi động vật mắc lỗi do sức khỏe không đảm bảo, chúng không thích nghi với ánh sáng lạ...
Một nghệ sĩ chia sẻ: "Một thời xiếc thú dữ thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của khán giả nhưng những năm gần đây, xiếc thú dữ đã không còn xuất hiện. Có nhiều lý do mà xiếc thú dữ vắng bóng tại các rạp xiếc Việt Nam, trong đó lý do quan trọng là bởi nhiều người sợ nguy hiểm đến tính mạng, bên cạnh đó các con thú quý hiếm ngày càng già cỗi... Xiếc thú sẽ dần biến mất ở Việt Nam nếu không có sự đầu tư toàn diện". (Sức Khỏe Và Đời Sống 18/1) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngược Quốc lộ 6 đi các tỉnh vùng Tây Bắc, qua địa bàn tỉnh Hòa Bình, nhiều du khách ấm lòng khi nhìn thấy những cánh rừng ngát xanh; không còn cảnh đồi núi bị cạo trọc nham nhở để trồng cây lương thực, hoặc do nạn cháy rừng gây ra như nhiều nơi khác.
Mật độ che phủ rừng của tỉnh giữ ổn định gần 49%. Cũng nhờ lũy chắn rừng xanh mà mấy năm gần đây, tỉnh miền núi Hòa Bình ít chịu những trận lũ quét gây thiệt hại lớn về người và của.
Ông Bùi Văn Long, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình cho biết: 5 năm qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh được tăng cường và đạt được nhiều kết quả tích cực. Trung bình hằng năm toàn tỉnh trồng mới được 8.600 ha rừng, nâng độ che phủ rừng từ 46% năm 2011 lên 48,96% năm 2015 (vượt 2,96% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đề ra).
Có được kết quả trên là do tỉnh Hòa Bình quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ và phát triển rừng. Từ việc cụ thể hóa Quyết định số 57 ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 bằng các chương trình, kế hoạch; thành lập Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011 - 2020.
Tại 11 huyện, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp huyện. Đồng thời cụ thể hóa văn bản của Trung ương để chỉ đạo công tác bảo vệ phát triển rừng đảm bảo kế hoạch đã đề ra.
Thực hiện Chương trình bảo vệ và phát triển rừng, tỉnh quan tâm hỗ trợ, đầu tư kịp thời về vốn cho các dự án. Năm 2015, toàn tỉnh trồng 8.420/8.000 ha, đạt 105% kế hoạch. Trong đó, các dự án bảo vệ, phát triển rừng cơ sở trồng 2.445,9 ha, gồm 572,4 ha rừng phòng hộ, 1.873,5 ha rừng sản xuất; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hòa Bình trồng 700/350 ha; Ban Quản lý xây dựng cơ bản huyện Đà Bắc trồng 335 ha; các dự án khác trồng 4.939 ha. Tỉnh tổ chức tốt công tác bảo vệ rừng với 89.000 ha, trong đó vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ đầu tư bảo vệ rừng tự nhiên 19.935 ha; vốn tự có của chủ rừng và các chương trình, dự án bảo vệ 69.000 ha. Các chủ rừng tự khoanh nuôi rừng tự nhiên 2.500 ha.
Hiện trên địa bàn tỉnh, trồng rừng đang dần chuyển theo hướng thâm canh. Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, không có hiện tượng sâu bệnh hại. Ông Bùi Văn Dùm, Chủ tịch UBND huyện Kim Bôi chia sẻ: Trồng rừng đã trở thành hướng phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo ở nhiều địa phương; bình quân mỗi hecta rừng keo lai đến chu kỳ khai thác cho thu nhập từ 50 - 70 triệu đồng. Do vậy, người dân và các chủ rừng có ý thức giữ rừng. Các khu rừng được bảo vệ tốt, không có hiện tượng chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy.
Thực hiện phát triển rừng bền vững, Chi cục Phát triển Lâm nghiệp tỉnh đã hoàn thiện phương án trồng rừng thay thế diện tích chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để triển khai trong năm 2016 - 2017. Ngành đang rà soát rừng phòng hộ ít xung yếu xây dựng phương án chuyển đổi sang rừng sản xuất góp phần khai thác tiềm năng đất rừng trong xóa đói, giảm nghèo. Tổ chức lập các đề án, dự án thực hiện chính sách chi trả dịch vụ trồng rừng; triển khai thực hiện các hạng mục dự án giống cây lâm nghiệp trên địa bàn.
Chi cục đang tham mưu triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao năm 2016 trồng 8.290 ha; khoanh nuôi bảo vệ 35.000 ha; khoanh nuôi tái sinh 1.320 ha; chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng 222 ha, chăm sóc rừng sản xuất 8.860 ra, trồng 70 vạn cây phân tán, thực hiện phát triển rừng bền vững.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được tổ chức tốt từ quản lý, vận hành hệ thống chi trả từ tỉnh tới huyện, xã; nguồn kinh phí đã được giải ngân theo kế hoạch hàng năm tới các chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương gắn bó với rừng.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tác động mạnh mẽ, tích cực tới đời sống nhân dân, đặc biệt là công tác bảo vệ và phát triển rừng. Số vụ phá rừng, cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại giảm rõ rệt, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm đáng kể. (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 18/1) đầu trang(
Với diện tích rừng trồng khoảng 100 ngàn ha, lâm nghiệp Bình Phước có nhiều tiềm năng để phát triển mô hình liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm gỗ rừng trồng, tạo động lực cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.
Kết quả theo dõi diễn biến rừng của Chi cục Kiểm lâm cho thấy, năm 2014 toàn tỉnh Bình Phước có 101.649 ha rừng trồng, trong đó gồm cây keo, sao, dầu 5.539 ha, cây công nghiệp như cao su, điều 96.110 ha. Theo kết quả điều tra phục vụ báo cáo rà soát quy hoạch ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích cây cao su trên đất lâm nghiệp năm 2014 là 42.950 ha.
Với diện tích 5.539 ha rừng trồng cây lâm nghiệp, trong đó có khoảng 4.000 ha rừng keo lai, với chu kỳ kinh doanh 5 năm có thể cung cấp 96.000m3 gỗ/năm. Đối với cao su chu kỳ kinh doanh 27 năm và với diện tích 42.950 ha có thể cung cấp hơn 159.000m3 gỗ/năm. Như vậy, tổng sản lượng gỗ nguyên liệu hằng năm xấp xỉ 255.000m3 gỗ/năm. Đây là nguồn nguyên liệu đáng kể cung cấp cho các nhà máy chế biến gỗ trong và ngoài tỉnh. Đó là chưa kể đến 200 ngàn ha cao su trồng trên đất sản xuất nông nghiệp, hàng triệu cây lâm nghiệp trồng phân tán.
Thời gian qua, một số mặt hàng nông sản luôn trong tình trạng được mùa thì mất giá... Điển hình là thời điểm những năm 2007-2011, cao su được coi là vàng trắng, mỗi héc ta cho thu nhập bình quân 20-30 triệu đồng/tháng. Đến nay, mỗi héc ta cao su chỉ cho thu nhập bình quân 7 triệu đồng/tháng chưa trừ chi phí.
Một số doanh nghiệp đã ngưng cạo mủ, người dân cắt giảm chi phí đầu tư để lấy công làm lời. Một số trường hợp đã chặt cao su chuyển sang cây trồng khác như điều, tiêu, cà phê... Cứ thế, sản xuất nông nghiệp rơi vào vòng luẩn quẩn, người dân sản xuất thiếu định hướng.
Với ngành sản xuất - kinh doanh sản phẩm gỗ rừng trồng mặc dù đã có những khởi sắc nhưng cũng còn nhiều tồn tại và bất cập. Người dân rơi vào tình trạng “trồng - chặt”; doanh nghiệp chế biến gỗ không tiếp cận trực tiếp với nông dân mà phải thu mua qua tư thương, đầu mối dẫn đến nguyên liệu bị đội giá nên không cắt giảm được chi phí... Việc hình thành các mối liên kết sản xuất trong lâm nghiệp nói chung và liên kết trong sản xuất, chế biến gỗ rừng trồng nói riêng vẫn còn hạn chế.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 29 hợp tác xã nông nghiệp được nhà nước giao đất, giao rừng để sản xuất - kinh doanh và bảo vệ rừng trong tỉnh với 1.972,35 ha. Trong đó, trồng cao su 1.248,79 ha; điều 211,6 ha; trồng lúa 161,78 ha; khoanh nuôi bảo vệ rừng 337,88 ha và cây trồng khác 12,3 ha. Tuy nhiên, số hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Hiện nay, liên kết theo chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa trong sản xuất lâm nghiệp nói chung và sản xuất, chế biến gỗ rừng trồng nói riêng vẫn còn bỏ ngỏ. Trên địa bàn tỉnh chỉ có mô hình liên kết giữa Công ty cổ phần sản xuất xây dựng thương mại và nông nghiệp Hải Vương với Công ty cổ phần Nguyên Vũ theo hình thức Công ty Hải Vương cung ứng nguyên liệu cho Nhà máy chế biến gỗ của Công ty cổ phần Nguyên Vũ.
Các nhà máy có công suất chế biến lớn trên địa bàn tỉnh như Dongwha, Kim Tín MDF, Công ty cổ phần gỗ Đồng Phú... vẫn chưa có vùng trồng rừng nguyên liệu cho riêng mình. Doanh nghiệp chế biến gỗ chủ yếu thu mua gỗ cao su, điều từ các đầu mối cung cấp, tư thương nên giá cao hơn giá trị thực tế, trong khi nông dân trồng rừng luôn thua thiệt khi bị tư thương ép giá.
Ngày 29-4-2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Kế hoạch số 1391/KH-BNN-TCLN về phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp giai đoạn 2014-2020. Ngày 16-3-2015, Tổng cục Lâm nghiệp cũng đã ban hành Văn bản số 282/TCLN-QLSXLN hướng dẫn việc lập phương án xây dựng mô hình kinh tế hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp giai đoạn 2015-2020.
Việc hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất và chế biến sản phẩm gỗ rừng trồng có vai trò rất quan trọng trong xây dựng các mô hình kinh tế hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp, tạo động lực tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong đó, phải chú trọng từ khâu giống cây trồng, chăm sóc, khai thác rừng và bảo quản chế biến lâm sản.
Đối với giống cây trồng, phải đảm bảo được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận, ưu tiên các giống mới, giống tiến bộ khoa học - kỹ thuật có năng suất sinh khối cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Từ việc hình thành mối liên kết giữa bên cung cấp nguyên liệu đến nhà máy chế biến gỗ sẽ cắt bỏ được những khâu trung gian, mua đi bán lại nhiều lần gây thiệt thòi cho cả người dân và doanh nghiệp.
Để làm được điều đó cần có những chính sách lâu dài thu hút người dân, tổ chức bắt tay tham gia xây dựng, phát triển hình thức kinh tế hợp tác, liên kết. Thiết lập chuỗi liên kết sản phẩm trong sản xuất - kinh doanh và chế biến gỗ rừng trồng. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết thành những tổ, đội sản xuất và tạo chuỗi cung ứng, sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Xây dựng các mô hình liên kết gắn với tiêu thụ lâm sản phát triển chuỗi giá trị gia tăng, tái cấu trúc thị trường đầu vào và đầu ra, giúp nông dân tham gia vào tổ chức kinh tế hợp tác, liên kết với doanh nghiệp có uy tín và thị trường xuất khẩu gỗ rừng trồng lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản... (Báo Bình Phước 18/1) đầu trang(
Theo kế hoạch, năm 2016 huyện Na Rì phấn đấu trồng mới 810 ha rừng. Trong đó, ngân sách Nhà nước hỗ trợ trồng 300ha, số diện tích còn lại do chủ rừng tự trồng sau khai thác.
Tính đến cuối tháng 12/2015, toàn huyện Na Rì có hơn 830 hộ dân đăng ký trồng rừng với tổng diện tích gần 730ha. Cơ cấu giống đăng ký chủ yếu gồm 250ha cây quế, hơn 210ha cây mỡ và hơn 260ha cây keo. Tổng diện tích đã thiết kế ngoại nghiệp là trên 300ha. Hiện nay, các hộ dân đang tích cực xử lý thực bì chuẩn bị cho công tác trồng rừng năm 2016.
Mặc dù diện tích trồng rừng năm nay được giao ít hơn các năm trước nhưng hơn 800ha vẫn là con số không nhỏ so với quy mô phát triển rừng của huyện Na Rì hiện nay. Do đó, ngay tại thời điểm này, công tác chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2016 đang được các ngành chuyên môn và địa phương tích cực triển khai thực hiện nhằm đảm bảo đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 18/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Chú đười ươi được tìm thấy trong tình trạng gần như vô phương cứu chữa trước kia, nay đã khỏe mạnh tại một trung tâm cứu hộ ở Indonesia, hãng tin AFP cho biết hôm 18.1.
Một nhóm tình nguyện viên từ tổ chức Giải cứu động vật quốc tế (IAR) hồi tháng 8.2015 đã bắt gặp Gito, tên họ đặt cho chú đười ươi sau đó, trong tình trạng như một “xác ướp” ở đảo Borneo thuộc Indonesia.
Hình ảnh của AFP chụp thời điểm ấy cho thấy Gito trông xơ xác, thiếu sức sống và được chẩn đoán gặp rất nhiều bệnh tật, gần như không thể cứu chữa.
Tuy nhiên với sự quan tâm của cộng đồng yêu động vật, nó đã lành lặn và mới đây xuất hiện khỏe mạnh trong lúc chơi đùa với một chú đười ươi khác nhỏ tuổi hơn.
Người bạn nhỏ tuổi của Gito được đặt tên là Asoka, cũng được giải cứu tại Borneo vài tháng trước. Một người dân nhìn thấy Asoka bị bỏ rơi trong rừng và giao nó cho các thành viên IAR.
Hiện tại Gito đã tạm bình phục, thoát khỏi tình trạng mất nước, suy dinh dưỡng và nhiễm trùng da. Tuy nhiên, những người chăm sóc nó cho rằng con đười ươi chưa đầy 1 tuổi này vẫn cần được quan tâm nhiều và có thể mất khoảng 5-7 năm nếu muốn thực sự hòa nhập tốt khi trở lại môi trường tự nhiên.
Đười ươi Bornean, sống ở đảo Borneo được phân vào hàng sắp tuyệt chủng và được bảo vệ từ pháp luật Indonesia. Môi trường sống của chúng bị hủy hoại vì các đồn điền dầu cọ, giấy... Người dân nuôi trồng xem đười đươi Borneo là tác nhân gây hại cho đồn điền của họ, dẫn tới một sự sụt giảm đáng kể các cá thể đười ươi nơi đây. Ngoài ra, các vụ cháy rừng trong năm 2015 ở Indonesia cũng góp phần làm giảm diện tích thiên nhiên của nhiều giống loài khác. (Thanh Niên 18/1) đầu trang(
Tấm ảnh do vợ chồng nhiếp ảnh gia Pháp Dominique Renaud và Laurent chụp được khi đến thăm khu bảo tồn động vật hoang dã Maasai Mara ở Kenya.
Con hà mã màu hồng xen lẫn những đốm xám nổi lên giữa đàn hà mã xám ngụp lặn trong nước trông thật ấn tượng.
Có nhiều ý kiến khác nhau quanh hiện tượng lạ này: các chuyên gia về động vật hoang dã cho rằng nó mắc chứng bệnh kiểu như bạch tạng, số khác lại giải thích đó là bệnh Leucism khiến các con vật khiếm khuyết một số tế bào sắc tố, dẫn đến màu da trở nên bất thường.
Điều đó thể khiến con hà mã này dễ rơi vào tầm ngắm của một số loài hoặc các đối tượng săn mồi và có khả năng dễ “bắt nắng” hơn đồng loại. Nhiều người cũng lo tuổi thọ của chú hà mã này có thể bị rút ngắn lại do sự đột biến trên. (Công An TP.HCM 19/1) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||