Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lại xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020.
Một trong các nhiệm vụ chủ yếu của Đề án là tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị kiểm dịch trong việc kiểm soát các loài ngoại lai.
Cụ thể, kiểm soát và lập danh mục, hồ sơ theo dõi các loài ngoại lai nhập khẩu vào Việt Nam. Đào tạo, tập huấn cho các cán bộ cấp Lãnh đạo và chuyên viên quản lý chuyên môn công tác tại các Chi cục Bảo vệ môi trường, Chi cục bảo vệ thực vật của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban quản lý Khu bảo tồn về công tác ngăn ngừa và kiểm soát loài ngoại lai xâm hại.
Bên cạnh đó, đào tạo, tập huấn cho các cán bộ kiểm dịch tại 47 trạm/chốt kiểm dịch, cán bộ Hải quan tại 18 cửa khẩu quốc tế giáp biên giới với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia về nhận dạng các loài ngoại lai xâm hại, các quy định kiểm dịch, kiểm tra biên giới nhằm kiểm soát các loài ngoại lai khi nhập khẩu vào Việt Nam.
Phát triển hệ thống cảnh báo sớm tại miền Bắc, Trung và Nam, bao gồm việc thông báo những trường hợp loài ngoại lai xâm hại mới xuất hiện hoặc dự báo xuất hiện; thiết lập mạng lưới chia sẻ thông tin trong kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại Việt Nam.
Nhiệm vụ khác của Đề án là từ năm 2013 - 2020, thực hiện chương trình kiểm soát và diệt trừ loài ngoại lai đang xâm hại nghiêm trọng ở Việt Nam bao gồm: ốc Bươu vàng, cây Mai dương, cây Trinh nữ móc.
Cụ thể, thực hiện đánh giá, lựa chọn các giải pháp kiểm soát và diệt trừ 3 loài ngoại lai xâm hại kể trên; xây dựng mô hình và áp dụng thử nghiệm kiểm soát và diệt trừ các loài ngoại lai xâm hại tại một số địa phương; xây dựng và phổ biến tài liệu hướng dẫn kiểm soát và diệt trừ các loài ngoại lai xâm hại và triển khai áp dụng chương trình kiểm soát vá diệt trừ các loài ngoại lai xâm hại nêu trên trên toàn quốc.
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, ngành khác phối hợp thực hiện. (Chinhphu.vn 18/12)đầu trang(
Đó là nội dung của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trong nuôi trồng thủy sản mà Bộ NNPTNT đang dự thảo và sẽ thực hiện trong năm 2013.
Tại hội thảo tham vấn xây dựng chính sách chi trả DVMTR trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) do Bộ NNPTNT tổ chức ngày 18.12, ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp lý giải:
"Chính sách chi trả DVMTR có rất nhiều ý nghĩa, nhắm tới 3 mục tiêu chính. Trước hết là thay đổi, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên trong việc bảo vệ và phát triển rừng, trân trọng những giá trị từ rừng, do rừng mang lại, kể cả người sử dụng và cung ứng.
Thứ hai là góp phần bảo vệ rừng tốt hơn bởi vì khi các chủ rừng, người dân làm nghề rừng nhận tiền của người NTTS, họ sẽ rất có trách nhiệm trong việc tạo ra dịch vụ tốt hơn, nếu không rừng sẽ bị phá hủy, chất lượng nước kém đi. Chính sách này cũng sẽ góp phần cải thiện đời sống những người gắn bó với rừng”.
Ông Phạm Hồng Lượng - Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Tổng cục Lâm nghiệp) cũng nhấn mạnh: “Người làm nghề rừng đã tạo ra môi trường tốt cho NTTS phát triển, vậy nên các hộ NTTS phải có trách nhiệm trả lại cho người cung ứng một khoản tiền nhất định”. Về việc NTTS phải chi trả DVMTR, ông Lượng giải thích:
“Rừng tạo ra môi trường, môi sinh cho các loài thủy sản sinh sống và phát triển, nếu thiếu những yếu tố đó thì cá tôm và các loài thủy sản khác không thể sống được”.
Nhiều chuyên gia cho rằng việc xây dựng chính sách chi trả DVMTR trong NTTS là đúng đắn, điều đó sẽ tạo điều kiện tốt hơn nữa cho người trồng rừng cũng như tạo môi trường ngày càng tốt cho NTTS phát triển. Ông Phạm Trọng Thịnh - chuyên gia rừng ngập mặn phân tích:
“Chỉ nói riêng rừng ngập mặn đã có rất nhiều lợi ích: Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên và môi trường cho NTTS. Hệ sinh thái rừng ngập mặn góp phần xử lý các chất thải trong quá trình NTTS... Để xử lý cho 1ha nuôi tôm công nghiệp thì cần một diện tích rừng ngập mặn tối thiểu là 22ha”.
Về mức thu DVMTR, Tổng cục Lâm nghiệp khẳng định mức thu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng doanh thu hàng năm của các tổ chức, cá nhân, hộ nông dân NTTS. Cụ thể Tổng cục Lâm nghiệp đang nghiên cứu tạm tính theo 3 cách. Một là tính theo doanh thu và chi phí của doanh nghiệp, dự kiến sẽ thu từ 1-2% doanh thu hàng năm.
Hai là thu theo diện tích NTTS, cách này đơn giản hơn trong việc tính toán, cứ 1ha thì thu một số tiền nhất định, dự kiến có các mức từ 300.000 - 1.000.000 đồng/ha/năm cho từng loại hình nuôi trồng. Ba là tính theo trữ lượng nước mà cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng, xác định qua lượng nước được dẫn về từ nguồn nước tự nhiên trong rừng, mức chi trả bằng 40 đồng/m3.
Về hiệu quả và tác động tích cực của chính sách này, TS Bùi Thế Đối - chuyên gia lâm nghiệp thuộc Trường ĐH Lâm nghiệp cho rằng: “Chúng ta sẽ huy động được nguồn lực của xã hội vào việc bảo vệ và phát triển rừng. Chỉ tính riêng rừng ngập mặn ven biển, ước thu được hàng năm khoảng 150 tỷ đồng; mức chi cho quản lý bảo vệ rừng khoảng 300.000 - 400.000 đồng/ha/năm và tăng thu nhập cho các hộ nông dân vùng ven biển”. (Nông Thôn Ngày Nay 19/12)đầu trang(
Gần 10 năm thực hiện thí điểm cổ phần hóa (CPH) nông lâm trường (NLT) quốc doanh cho thấy công tác rà soát, quản lý chặt hiệu quả sử dụng đất (SDĐ) giữ vai trò hết sức quan trọng. CPH NLT cũng phải gắn chặt CPH vườn cây, rừng trồng, vật nuôi với CPH cơ sở chế biến.
Trong số hơn 600 NLT trên cả nước đến nay đã CPH được 32 đơn vị. Trong đó, 17 đơn vị đã CPH cả vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với CPH cơ sở chế biến; các đơn vị còn lại chủ yếu chỉ CPH cơ sở chế biến. Bình quân giá trị vốn, tài sản tại mỗi doanh nghiệp (DN) gần 272 tỷ đồng.
Tại thời điểm CPH, các đơn vị quản lý sử dụng bình quân 2.668ha đất. Theo báo cáo của các đơn vị, diện tích đất đã được rà soát đạt 30,68%, diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ đạt 58,65%, diện tích chuyển sang ký hợp đồng thuê đất đạt 13,08%.
Hầu hết đơn vị sau khi phát hành cổ phiếu lần đầu đều giữ được tỷ lệ vốn Nhà nước nắm cổ phần chi phối trên 51% và dành một phần cổ phần bán ưu đãi cho người lao động (NLĐ) trong đơn vị (chiếm 10%). Một số đơn vị ngay khi bán cổ phần lần đầu đã có cổ đông là người sản xuất nguyên liệu cung cấp cho nhà máy, như: Công ty Chè Than Uyên (Lai Châu), Chè Lâm Đồng (Lâm Đồng), Chè Hà Tĩnh (thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam). Đến nay, tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ trên 51% chỉ còn ở 7 đơn vị.
Ông Phạm Quốc Doanh - Phó trưởng Ban Chỉ đạo đổi mới và quản lý DN của Bộ NN&PTNT, cho biết thí điểm CPH hệ thống các NLT trong thời gian qua về phương pháp, cách triển khai đều đúng theo trình tự và thủ tục chung đối với CPH DN nhà nước. Tuy nhiên có sự khác biệt bởi đối với các NLT thì cách định giá trị tài sản nông nghiệp là vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc, nên có đặc thù riêng. Nhìn chung, hầu hết DN sau CPH đều duy trì sản xuất và phát triển, vốn Nhà nước tại các DN được bảo toàn và phát triển, quản trị DN từng bước thay đổi, lao động việc làm thu nhập tăng.
Trước CPH chỉ 16 đơn vị có lãi thì sau CPH tăng lên 24. Doanh thu của hầu hết đơn vị năm sau cao hơn năm trước, tăng 3 - 5 lần so với trước CPH, lợi nhuận trước thuế tăng 2 - 3 lần. Nhiều đơn vị chia cổ tức cho cổ đông với mức rất cao, điển hình như các công ty cao su chia cổ tức 25 - 30%/năm; Công ty Cổ phần Bò sữa Mộc Châu 30 - 40%/năm; Chè Than Uyên trả cổ tức năm 2011 lên tới 64%. Một số đơn vị không tính cổ tức nhưng bổ sung lại quỹ phát triển mở rộng sản xuất hoặc tăng giá mua nguyên liệu.
Một số đơn vị khắc phục được lỗ trước đó, thậm chí có đơn vị đã chuyển từ nguy cơ phá sản thành kinh doanh có lãi, như: Công ty Cổ phần Chè Chiềng Ve (Sơn La). Ông Hoàng Kháng - Giám đốc Công ty, chia sẻ: "Doanh thu của Công ty đã tăng gấp 5 lần so với thời kỳ đầu CPH. Trong Công ty, 75% vốn là do NLĐ nắm giữ, Nhà nước chỉ chiếm 25%. Cổ tức năm nay chia cho các cổ đông đạt 20%. Công ty đã bán vườn cây cho NLĐ nhưng vẫn quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất và bao tiêu sản phẩm cho người trồng chè. 3 năm trở lại đây, công ty đã XK trực tiếp sản phẩm thương hiệu Chiềng Ve, chất lượng chè hơn hẳn, chè làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó".
Sau CPH tại nhiều DN, NLĐ được bố trí việc làm phù hợp, thu nhập ngày càng tăng. Nhiều đơn vị trả lương cho NLĐ cao gấp 2 - 3 lần so với trước CPH. Các công ty cao su trước CPH đạt 4,8 triệu đồng/người/tháng; sau CPH lên tới 10,4 triệu đồng. Chè Lâm Đồng trước CPH chỉ trả lương 1,2 triệu đồng/người/tháng, nhưng năm 2011 đạt 3,57 triệu đồng.
Đã có những DN tìm được nhà đầu tư (NĐT) chiến lược, đặc biệt là NĐT nước ngoài có năng lực về tài chính, nhiều kinh nghiệm trong tái cơ cấu DN. Trước đây có nhiều ý kiến lo lắng nếu để DN nước ngoài nắm cổ phần thì việc thôn tính DN trong nước sẽ xảy ra, nhưng thực tế hoàn toàn khác.
Ông Đặng Gia Anh - Chủ tịch HĐQT Công ty Cao su Đồng Phú (Bình Phước), cho biết: "Mặc dù các cổ đông của tổ chức nước ngoài sở hữu 40% cổ phần, nhưng hoạt động của công ty vẫn có sự liên hệ chặt chẽ, nhận chỉ đạo trực tiếp của Tập đoàn Cao su Việt Nam về giá thành, giá bán sản phẩm. Trong quá trình hoạt động, những ý kiến đóng góp, những chất vấn của cổ đông nước ngoài trong sử dụng vốn đã giúp Công ty có những bước phát triển vững chắc".
Bên cạnh những thành công, CPH NLT vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Khảo sát thí điểm CPH tại 32 đơn vị cho thấy trong CPH NLT, điều quan trọng nhất là phải rà soát, quản lý chặt hiệu quả SDĐ vì đây là tài sản đặc biệt và quyết định sự sống còn đối với NLT.
Muốn DN sau CPH phát triển bền vững phải gắn CPH vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến. Hiện một số công ty chưa có sự thống nhất về phương pháp, nên tính chưa đúng giá trị vốn tài sản DN khi CPH, quản lý SDĐ chưa chặt chẽ, lãng phí, hiệu quả thấp. Thậm chí một số đơn vị không quản lý được đất giao khoán do khoán trắng, nên sau khi CPH, nhà máy chế biến không có nguyên liệu để sản xuất.
Quản lý vốn Nhà nước tại DN còn nhiều lúng túng, xúc tiến thương mại phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu còn hạn chế. Một số lao động dôi dư chưa được giải quyết chế độ. Hầu hết đơn vị sau CPH không được hưởng chính sách ưu đãi về thuế, vay vốn…, trong khi lĩnh vực sản xuất - kinh doanh nông lâm nghiệp nhiều khó khăn, tạo sự bất bình đẳng đối với DN khác và gặp nhiều khó khăn trong sản xuất - kinh doanh.
Ông Nguyễn Đăng Khoa - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, cho biết từ kết quả đạt được qua việc thí điểm CPH tại 32 NLT, Bộ NN&PTNT kiến nghị Chính phủ mở rộng CPH đối với các NLT theo hướng: tiến hành hoàn thành rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc, phê duyệt quy hoạch SDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ và hợp đồng thuê đất với chính quyền địa phương.
Trước mắt, phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần nắm giữ trên 51%, đối với cao su là trên 70%. Các bộ, ngành liên quan sớm giải quyết dứt điểm một số tồn tại vướng mắc trong quá trình CPH các đơn vị. (Thời Báo Kinh Doanh 18/12)đầu trang(
Tại kỳ họp HĐND tỉnh Quảng Trị ngày 18-12, các đại biểu đã kiến nghị về chống thất thoát khi bán rừng nhà nước. Theo đại biểu Hoàng Thế, cử tri rất bức xúc về việc bán gần 400ha rừng ở huyện Gio Linh với giá quá rẻ, chỉ hơn vài chục ngàn đồng một mét vuông.
Đáng cảnh báo là hiện tượng mua đi bán lại kiếm lợi từ các chủ mua rừng, tự ý khai thác khi chưa được cấp phép, dù khai thác rừng chưa xong nhưng chính quyền địa phương vẫn cho các doanh nghiệp thuê đất, trong khi người dân địa phương đang thiếu đất sản xuất để xóa đói giảm nghèo. Các đại biểu đã kiến nghị UBND tỉnh cần chỉ đạo quy định giá bán rừng hợp lý, tránh thất thoát cho Nhà nước và tạo kẽ hở cho cá nhân trục lợi bất chính.
Đại biểu Hoàng Đức Cường, chánh văn phòng HĐND tỉnh, đã đưa ra việc UBND tỉnh tự ý quyết định đầu tư cho bốn công trình, dự án trong năm 2012 với tổng kinh phí trên 2.000 tỉ đồng mà chưa được sự chấp thuận của HĐND tỉnh.
Đại biểu này cho hay trong tình hình khó khăn hiện nay, chỉ có các dự án thật sự cần thiết và cấp bách mới được xem xét đầu tư. Và nhất thiết phải được sự chuẩn y của HĐND tỉnh trong kỳ họp gần nhất của HĐND tỉnh theo quy định của Luật ngân sách. Đại biểu Hoàng Đức Cường đề nghị xem xét vấn đề nêu trên ngay tại kỳ họp HĐND tỉnh lần này. (Tuổi Trẻ 19/12)đầu trang(
Đã có gần 15.000 ha rừng tự nhiên đã được giao cho cộng đồng, nhóm hộ, gia đình tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo đó, rừng tự nhiên đã giao cho các gia đình ở Phú Lộc, Phong Điền, Nam Đông, A Lưới quản lý, hưởng lợi. Mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý được thực hiện đầu tiên từ năm 2000, đến nay đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc gắn kết vai trò, trách nhiệm, nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư trong việc hình thành nên những “tai, mắt” bảo vệ nguồn tài nguyên rừng.
Hiện toàn tỉnh có hơn 293.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 203.000 ha. Theo đề án giao rừng của tỉnh, đến năm 2014 phấn đấu giao khoảng 35.000 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý, hưởng lợi. (Đại Biểu Nhân Dân 19/12)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Hội thảo có nội dung phân tích thể chế và bối cảnh, đánh giá quản trị rừng cho sáng kiến giảm phát thải nhà kính thông qua bảo vệ và phát triển rừng bền vững đã được Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Chương trình phát triển LHQ (UNDP) VN và Sở NNPTNT Lâm Đồng tổ chức tại Đà Lạt vào ngày 18.12.
Các sáng kiến của cá nhân cùng việc phân tích thể chế nhằm giảm phát thải nhà kính là nội dung chính của hội thảo lần này. Cùng với hội thảo, các đại biểu cũng đã có chuyến khảo sát thực tế tại một số địa phương Lâm Đồng về tình hình quản lý và bảo vệ rừng, nhằm giảm phát thải nhà kính trong thời gian gần đây. (Lao Động 19/12)đầu trang(
Cháy rừng là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp. Chỉ trong mười năm (từ năm 2001 đến năm 2011), cả nước xảy ra gần tám nghìn vụ cháy rừng, gây thiệt hại hơn 30 nghìn ha rừng; bình quân mỗi năm xảy ra 715 vụ cháy rừng, gây thiệt hại hơn 2.800 ha rừng.
Diện tích bị thiệt hại do cháy rừng chủ yếu vào mùa hanh khô, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc và Nam Trung Bộ. Riêng trong năm 2011, đã xảy ra 236 vụ cháy rừng, gây thiệt hại hơn 1.700 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên gần 42 ha, rừng trồng hơn 1.670 ha.
Năm 2012 được đánh giá là năm có kết quả cao trong công tác phòng, chống cháy rừng (PCCR) nhờ các ngành, các cấp chủ động triển khai các biện pháp hiệu quả; ngành kiểm lâm đã tổ chức tốt lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy bảo đảm sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra.
Tuy vậy, hiện tượng cháy rừng vẫn còn xảy ra ở một số nơi, mức độ thiệt hại tuy không lớn, song vẫn cảnh báo cho công tác bảo vệ và PCCR. Mới đây, đứng trước nguy cơ cháy rừng cao do tại nhiều địa phương có rừng ít mưa, thời tiết hanh khô nhiều ngày, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo, tăng cường cán bộ kiểm lâm về các địa bàn trọng điểm có thể xảy ra cháy rừng, chỉ đạo kiểm lâm địa bàn chủ động trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ, PCCR. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các tổ xung kích, tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở cơ sở.
Ðể thực hiện triệt để việc PCCR, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm giải quyết tận gốc vấn đề. Theo thống kê, có khoảng hơn 80% số vụ cháy rừng xảy ra hiện nay là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào các dân tộc, do người dân đốt dọn thực bì làm nương rẫy để cháy lan vào rừng. Mặc dù công tác PCCR được chú trọng, nhắc nhở thường xuyên, song thực tế vẫn chưa tạo được ý thức tự giác của người dân và các địa phương có rừng.
Do đó, nguy cơ cháy rừng sẽ vẫn còn tiềm ẩn nếu không thực hiện tốt việc hỗ trợ vật chất đi đôi với hướng dẫn, tuyên truyền làm thay đổi tập quán canh tác đốt nương, phát rẫy của một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số và ý thức của cộng đồng cư dân nơi cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Mặt khác, cũng cần thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về công tác bảo vệ rừng; tổ chức hoạt động của lực lượng kiểm lâm gắn với chính quyền, với dân, với rừng. Phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về PCCR, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung và tuyên dương kịp thời những tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác PCCR để động viên những công dân tích cực, gương mẫu. (Nhân Dân 19/12)đầu trang(
18/12, Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Thanh Sơn đã tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng và khắc phục hậu quả do cháy rừng xảy ra tại khu dân cư xóm Quất, xã Yên Lương.
Tình huống giả định là nhân dân bất cẩn trong khi đốt thực bì để trồng rừng đã gây cháy rừng, các lực lượng tham gia diễn tập đã thực hành từ giai đoạn chuẩn bị phòng, chống cháy rừng đến giai đoạn tổ chức thực hành chữa cháy rừng. Ở các nội dung này, với chức năng nhiệm vụ được giao, UBND xã Yên Lương, Hạt Kiểm lâm và Ban CHQS huyện Thanh Sơn đã phối hợp tổ chức tốt việc chọn địa điểm diễn tập, huy động đông đảo lực lượng tham gia diễn tập là nhân dân tại các thôn, bản, chuẩn bị tốt mọi công cụ, vật dụng tham gia diễn tập…
Đánh giá chung đợt diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng – bảo vệ rừng tại xã Yên Lương đạt kết quả tốt, có tác động tích cực đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền, ý thức trách nhiệm và khả năng phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ rừng cho các ban ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân địa phương. (Báo Phú Thọ 19/12)đầu trang(
Thực hiện quy chế phối hợp về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) vùng giáp ranh giữa các huyện Như Thanh, Như Xuân (Thanh Hóa) và các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Châu (Nghệ An), đến nay, công tác bảo vệ rừng, PCCCR đã có bước chuyển biến rõ rệt.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR, phát triển rừng được cơ quan chức năng, chủ rừng, Nhà nước và chính quyền địa phương phối hợp triển khai thực hiện đồng bộ.
Trong năm 2012, huyện Như Thanh đã tổ chức tuyên truyền miệng được 86 cuộc ở 55 thôn có rừng giáp ranh cho hơn 8.000 lượt người tham gia, tổ chức cho 2.162 hộ gia đình, 55 trưởng thôn ký cam kết trách nhiệm bảo vệ rừng; củng cố 50 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng của thôn; phối hợp với các xã có rừng giáp ranh điều tra, xác định vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng với tổng diện tích 5.500 ha.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm Nghĩa Đàn cũng đã phối hợp với các xã có rừng giáp ranh, chủ rừng tổ chức điều tra xác định vùng trọng điểm cháy với tổng diện tích 3.000 ha; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát lửa rừng; duy trì tổ công tác PCCCR 24/24 giờ...
Đồng thời kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc xử lý thực bì của các chủ rừng nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quy định trong PCCCR. Năm 2012, nhiều diện tích rừng vùng giáp ranh không còn điểm nóng, tụ điểm về khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, đặc biệt không xảy ra cháy rừng. (Báo Thanh Hoá 19/12)đầu trang(
Theo tin từ Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 18-12, các khu vực Long Ðiền, Tân Thành, Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu); Ayun Pa, Krông Pa (Gia Lai); Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết hanh khô kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh. Ban chỉ đạo T.Ư Phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương nêu trên chủ động thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 19/12)đầu trang(
Thanh Sơn là huyện có nhiều diện tích rừng với trên 40 nghìn ha nên việc quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Trong những năm gần đây sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực qua đó góp phần bảo vệ và phát triển tốt diện tích rừng hiện có, mỗi năm trồng mới hàng nghìn ha rừng, góp phần giữ ổn định độ che phủ rừng cho toàn huyện. Ý thức bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân đã nâng lên, nhiều mô hình nông - lâm nghiệp được áp dụng mang lại hiệu quả thiết thực. Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên những thay đổi đó là Thanh Sơn đã làm tốt công tác bảo vệ tận gốc.
Xác định để làm tốt việc bảo vệ rừng tận gốc cần phải có sự tham gia của người dân ở khu vực có rừng, vì vậy Hạt kiểm lâm Thanh Sơn đã tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về rừng cho các tầng lớp nhân dân. Hạt kiểm lâm đã chỉ đạo bộ phận kỹ thuật và các trạm kiểm lâm địa bàn chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền ngay từ đầu năm.
Trong năm 2012, Hạt đã mở 2 lớp tuyên truyền cho cán bộ xã; phối hợp với Ban chỉ huy quân sự huyện mở 2 lớp cho dân quân tự vệ. Hệ thống đài truyền thanh cơ sở đã có gần 200 buổi tuyên truyền về bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra còn sử dụng pa nô, áp phích kẻ vẽ các khẩu hiệu tuyên truyền và phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức cuộc thi tìm hiểu về luật bảo vệ và phát triển rừng; phát tài liệu tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân.
Ông Trần Quốc Toản- Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Sơn cho biết: “Để bảo vệ rừng tận gốc, việc quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cần được tăng cường. Vì vậy, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 12 và Chỉ thị số 08 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
Hạt cũng đã chỉ đạo bộ phận pháp chế, tổ kiểm lâm cơ động thường xuyên phối hợp với các lực lượng công an - quân đội kiểm tra, kiểm soát các tụ điểm trên địa bàn có kinh doanh, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép, đồng thời hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ các thủ tục trong kinh doanh, chế biến lâm sản và nuôi nhốt động vật hoang dã, tạo điều kiện thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân phát triển kinh tế theo đúng quy định của pháp luật”.
Trong năm 2012, lực lượng kiểm lâm của Hạt đã phối hợp với các lực lượng chức năng xử lý 62 vụ vi phạm pháp luật về rừng, tịch thu hơn 5m3 gỗ, 94 con động vật hoang dã, tổng thu nộp ngân sách gần 180 triệu đồng.
Thực hiện tốt chế độ, chính sách liên quan đến bảo vệ rừng cũng là biện pháp quan trọng để bảo vệ rừng tận gốc. Với mục tiêu bảo vệ hơn 40 nghìn ha rừng, giữ độ che phủ rừng trên 55%, Hạt kiểm lâm Thanh Sơn đã chỉ đạo các Trạm kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền các xã thực hiện tốt các quyết định của Thủ tướng về trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; đồng thời chỉ đạo các Trạm tham mưu cho các xã rà soát phương án quản lý, bảo vệ, phát triển và PCCCR cấp xã và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Lực lượng kiểm lâm đã giám sát và hướng dẫn các chủ rừng trong việc khai thác gỗ và lâm sản theo Quyết định số 40 ngày 7/7/2005 của Bộ NN&PTNT.
Không chỉ làm công tác bảo vệ rừng, Hạt kiểm lâm Thanh Sơn thực hiện công tác phát triển rừng. Trong năm 2012 toàn huyện đã trồng hơn 1.550 ha rừng, trong đó rừng trồng theo dự án bảo vệ và phát triển rừng là 800 ha, công ty lâm nghiệp trồng hơn 130 ha, các hộ dân tự trồng hơn 620 ha. Độ che phủ rừng năm 2012 đạt 58%. Nhờ vậy, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, người dân gắn bó với rừng hơn, từ đó rừng được bảo vệ tốt hơn.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng cũng được quan tâm thường xuyên. Ông Nguyễn Văn Hội- Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Tam Cửu cho biết: “Theo chỉ đạo của Hạt kiểm lâm, Trạm kiểm lâm địa bàn chúng tôi đã chú trọng tuyên truyền ở những vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng; đồng thời tham mưu cho chính quyền các xã kiện toàn Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng PCCCR và đi vào hoạt động tốt.
Trạm cũng đã thực hiện tốt công tác phối kết hợp với cán bộ hợp đồng bảo vệ rừng các xã về công tác tuần tra, bảo vệ rừng, PCCCR và thực hiện tốt Quyết định số 2213 của UBND tỉnh về xử lý thực bì bằng phương pháp đốt”.
Trong năm qua, trên địa bàn huyện Thanh Sơn đã có 3km đường băng cản lửa được tu sửa, đảm bảo phát huy tác dụng ngăn chặn lửa cháy lan khi có cháy rừng xảy ra. Do làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng nên trong năm 2012 trên địa bàn huyện Thanh Sơn không xảy ra vụ cháy rừng nào lớn. (Báo Phú Thọ 19/12)đầu trang(
Tại Hội nghị sơ kết 5 năm công tác kiểm lâm địa bàn do Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT) tổ chức, anh Trần Đình Thiện - Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế là một trong 47 cá nhân tiêu biểu trong cả nước được vinh dự nhận bằng khen của Bộ NN&PTNT vì có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ phát triển rừng và phòng chống cháy rừng.
Anh Thiện kể, 8 năm về công tác tại huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là từng đó năm, anh kiên trì bám rừng, bám bản, cùng với người dân hai xã: A Ngo và Sơn Thủy gìn giữ màu xanh cho vùng đất giữa đại ngàn Trường Sơn.
Tốt nghiệp Đại học Nông Lâm Huế năm 2004, anh Thiện xung phong về công tác tại huyện A Lưới - một huyện miền núi nghèo với phần đông là người dân tộc thiểu số, và cũng là một trong những “điểm nóng” về tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
Thời gian đầu mới về nhận nhiệm vụ, anh Thiện được giao phụ trách bảo vệ 3.000ha rừng. Khi đó, chính quyền địa phương còn phó mặc công việc quản lý, bảo vệ rừng cho lực lượng kiểm lâm, còn người dân thì không hợp tác. Yêu màu xanh của rừng, anh Thiện luôn trăn trở làm thế nào để vừa bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng vừa cải thiện được sinh kế cho người dân.
Tuổi trẻ nuôi ước mơ hoài bão lớn. Từ suy nghĩ “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, “thanh niên đi trước, làng nước theo sau”, anh Thiện đã chủ động đề xuất với lãnh đạo đơn vị phối hợp với Đoàn Thanh niên hai xã A Ngo và Sơn Thủy, huyện A Lưới phát động phong trào “giữ rừng cho quê hương”.
Với phong trào này, mỗi thanh niên là một tuyên truyền viên tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, vận động người thân không khai thác lâm sản trái phép, mà nhận thêm nhiều diện tích rừng giao khoán để bảo vệ.
Bản thân anh Thiện cũng xác định rõ: Muốn bảo vệ rừng có hiệu quả, không thể dừng lại ở việc tuyên truyền, thuyết phục bà con vì cuộc sống người dân vùng núi vẫn còn nghèo đói. Vì thế, anh đã tham mưu cho chính quyền địa phương nhiều cách làm giúp người dân cải thiện đời sống từ nghề rừng.
Anh Trần Đình Thiện nói: “Thực hiện đề án 430 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi đã viết một đề án giao cho các hộ dân hoặc nhóm hộ gia đình ở địa phương có nhu cầu. Đến nay, diện tích rừng giao cho các hộ dân lên đến 9.000ha cho 120 nhóm hộ và tổ chức. Việc giao đất rừng khiến người dân được hưởng lợi từ dự án trồng rừng và họ có trách nhiệm với diện tích nhận trồng”.
Từ ý tưởng “đảm bảo thu nhập bền vững” cho người dân vùng miền núi A Lưới, năm 2011, anh Thiện cùng với đồng nghiệp vận động người dân thực hiện dự án “Mây bền vững” vừa tăng cường đa dạng sinh học, vừa giúp bà con có thêm thu nhập trong quá trình nhận khoán bảo vệ rừng.
Ông Trần Lộc - Chủ tịch xã Sơn Thủy, huyện A Lưới đánh giá: Từ khi xã có kiểm lâm xuống địa bàn, ý thức trách nhiệm của chủ rừng và người dân trong bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được nâng cao hơn. Nhiều người dân đã tố giác kịp thời các đối tượng có hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Suốt 8 năm bám rừng cùng dân, anh Trần Đình Thiện được nhân dân tin quý. Bà con nhận thấy giá trị từ rừng và tự nguyện bảo vệ rừng vì nguồn sống của chính bản thân và gia đình. Nhờ vậy, tình trạng phá rừng làm nương rẫy ở huyện miền núi A Lưới giảm đáng kể.
Ông Lê Nhân Đức - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận xét: “Anh Thiện là người có tinh thần học hỏi, giỏi trong công việc, ứng dụng các phần mềm chuyên dụng để thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn.
Kể về công việc và cuộc sống ở vùng núi còn đầy rẫy khó khăn, anh Trần Đình Thiện cho rằng: Mảnh đất nặng tình người của đồng bào các dân tộc miền núi A Lưới đã níu chân anh. Thời gian ở cùng đồng bào, đồng nghiệp nhiều hơn ở với gia đình. Thế nhưng, cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, một số người vẫn lén lút phá rừng, đào vàng trái phép. Do vậy, anh vẫn tiếp tục “3 cùng” đồng bào trong nỗ lực giữ rừng. (Vov.vn 19/12)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Báo The Guardian của Anh hôm 17/12 có bài nói về những người kiểm lâm Việt Nam dũng cảm chống nạn phá rừng trong khi thói quen cũng như nhu cầu kiếm sống của người dân địa phương khiến nạn săn trộm và đốn gỗ trộm xảy ra như cơm bữa.
BBCVietnamese.com xin trích thuật để giới thiệu cùng độc giả.
Nhân viên kiểm lâm được nhắc tới trong bài viết của tác giả Simon Speakman Cordall có tên Lê Quốc Thiện, năm nay 25 tuổi, mới tốt nghiệp đại học, ngành lâm nghiệp được hai năm.
Thiện nay làm kiểm lâm trong khu bảo tồn Saola ở miền trung, nơi rừng ken dày đặc trên địa hình núi và lực lượng kiểm lâm phải sống trong các điều kiện khắc nghiệt để bảo vệ rừng khỏi các vụ săn bắn trộm hay đốn gỗ trộm hầu như không bao giờ dứt.
Hoạt động của lực lượng kiểm lâm được duy trì phần lớn dựa vào sự liên minh giữa chính phủ Việt Nam, Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Hoang dã (WWF) và Ngân hàng Phát triển Đức, bài báo viết.
Các cơ quan, tổ chức này đã cùng thực hiện một trong các dự án sinh thái tham vọng nhất trong lịch sử Việt Nam, dự án có tên gọi Bấm CarBi (carbon and biodiversity project – dự án carbon và đa dạng sinh học), với mục tiêu đơn giản là nhằm bảo tồn tới mức tối đa di sản tự nhiên ở khu vực miền Trung Việt Nam và khu giáp biên với Lào, dãy núi Trường sơn.
Là khu vực rộng chừng 200 ngàn hecta rừng thuộc phần đất của cả Việt Nam và Lào, nơi này như lá phổi hấp thụ tới 1,8 triệu tấn carbon dioxide, tức tương đương với lượng khí thải mỗi năm của toàn bộ xe hơi chạy ở Anh, đồng thời là một trong những nơi có hệ sinh thái phong phú nhất thế giới.
Vùng núi này được cho là nơi tập trung đông nhất trên thế giới các loài động thực vật đặc trưng của khu vực, với năm loài mới được phát hiện tại đây chỉ trong một thập niên qua.
Bên cạnh loài voi Á châu đang có nguy cơ tuyệt chủng và hổ Đông Dương, nơi đây còn có voọc chân nâu, hoẵng khổng lồ và sao la, loài thú hiếm hầu như đã tuyệt chủng.
Hầu hết sự thành công của dự án CarBi là nhờ vào những gì được thực hiện tại chỗ.
Nhiều người sống trong khu vực dự án từ lâu nay vẫn có thói quen sống nhờ vào rừng. Với những tộc người thiểu số như người Kà tu, khác hẳn với các nhóm người Việt và người Lào khác, thì vấn đề lại càng cấp bách.
Tình trạng thất nghiệp và tệ nghiện rượu ngày càng tăng khiến khu vực càng trở nên đói nghèo, và các nhân viên kiểm lâm như Thiện phải đối diện với các mối đe dọa hàng ngày từ dân săn bắn và đốn gỗ trộm.
So với hoạt động khai thác trộm ở các nơi khác tại Đông Nam Á, thì nơi đây vẫn mang tính nhỏ lẻ.
Lê Ngọc Tuấn, giám đốc khu bảo tồn Saola, nơi thuộc sự bảo trợ của dự án, coi những người đốn trộm gỗ chỉ là để nhằm kiếm ít thu nhập.
“Trên thị trường, giá gỗ được đốn chặt hợp pháp vào khoảng 26 triệu đồng còn giá gỗ bất hợp pháp rớt còn chừng một nửa.”
Dân đốn trộm gỗ đi theo nhóm, thường khai thác bằng tay, có thể mất tới 20 ngày để hoàn tất từ đoạn đốn ngã cây đến việc đi bán gỗ, và tiền lãi thu được được chia cho cả nhóm có khi có tới bốn người. Chí ít thì với Lê Ngọc Tuấn, rõ ràng không ai giàu lên từ hoạt động này được.
Việc săn bắn trộm cũng vậy. Nó gắn liền với văn hóa và tập quán của các cộng đồng sống ở khu vực cũng như do ảnh hưởng của kinh tế khó khăn thường nhật.
Lê Quốc Thiện kể lại việc đi tìm nhặt các bẫy sập, bẫy đá đặt rải rác khắp nơi.
“Đa phần, người dân muốn bẫy bắt lợn rừng và dê. Có những người muốn lấy lá về lợp nhà, hay lấy mật ong về ăn. Với người dân tộc thiểu số, thì cá rất quan trọng, nhất là trong đám cưới.”
Hồi tháng 5, hai nhân viên kiểm lâm đã phải nhập viên sau khi bị dân đánh bắt cá trộm gây sự.
Từ 2/2011 đến nay, Thiện và đồng nghiệp đã dỡ bỏ hơn 12.500 bẫy và đóng hơn 200 trại đốn gỗ trộm, nhiều hơn mức mong đợi của dự án Carbi, báo the Guardian.
Nhìn tới sự xung đột giữa lợi ích của việc bảo tồn và sự nhu cầu sinh kế của người dân địa phương, WWF có kế hoạch phân bổ rừng cho từng ngôi làng và tập huấn để người dân biết cách quản lý, đồng thời trả công để họ duy trì, bảo vệ khu rừng được phân.
Với những người tham gia thì rõ ràng là nếu không cải thiện được các phúc lợi cho người dân địa phương, thì dự án không có mấy cơ hội để thành công.
Bởi vậy, việc bảo tồn ở vùng núi cao nguyên miền trung đã trở thành vấn đề xã hội chứ không chỉ là câu chuyện môi trường thuần túy, theo the Guardian. (Theo BBC Vietnamese 18/12)đầu trang(
Con dơi có mặt như con quỷ, con ếch “hát” như chim... - đó là 2 trong số 126 loài mới được các nhà khoa học phát hiện ở tiểu vùng Mekong.
AFP ngày 18-12 trích báo cáo về các loài mới phát hiện năm 2011 của Quỹ Bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF), đồng thời cũng cảnh báo tình trạng mất rừng, việc xây dựng các nhà máy thủy điện trên sông Mekong đang đe dọa sự đa dạng sinh thái của khu vực.
Điều này có nghĩa nhiều loài mới được phát hiện đang vật vã để duy trì sự tồn tại của mình. Tiểu vùng Mekong bao gồm Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Việt Nam, Lào và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). “Tin tốt là có nhiều phát hiện mới. Tin xấu là việc duy trì môi trường ổn định và công tác bảo tồn ngày càng khó khăn” - Nick Cox, giám đốc chương trình đa dạng loài tiểu vùng Mekong của WWF, nói với AFP.
Cuộc sống của một số loài như dơi mũi ống (nhỏ xíu, có màu sắc sậm trên cơ thể được đặt tên khoa học là Murina Beelzebub) được phát hiện ở VN phụ thuộc rất nhiều vào rừng nhiệt đới. Do đó, đời sống của chúng gặp nhiều nguy hiểm vì tình trạng chặt phá rừng hiện nay. Báo cáo cho biết chỉ trong khoảng 40 năm, 30% rừng ở tiểu vùng Mekong đã biến mất. Các loài khác như trăn đuôi ngắn tìm thấy ở Myanmar cũng đang đối mặt với nguy cơ biến mất vì nạn săn bắt trộm lấy thịt, da và sở thích nuôi những loài vật lạ của con người.
Danh sách mới của WWF có 21 loài bò sát và 5 loài lưỡng cư, còn lại chủ yếu gồm các loài thực vật. Cho dù những phát hiện này khẳng định tính đa dạng sinh học rất đặc sắc của khu vực, tương lai của những loài này đều đang gặp nguy hiểm. WWF cũng nhắc tới đập Xayaburi đang được xây dựng ở Lào “là mối đe dọa lớn” tới sự đa dạng sinh học của khu vực và cuộc sống của hơn 60 triệu dân hạ lưu Mekong. (Tuổi Trẻ 19/12)đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam là đất nước có đa dạng sinh học cao, với hơn 95 kiểu hệ sinh thái, hàng chục loài thực vật, hàng trăm loài động vật, nhiều loài vi sinh vật trên cạn và dưới nước. Tuy nhiên, các hệ sinh thái, các giống loài và nguồn gen này hiện vẫn đang tiếp tục bị suy giảm ở mức báo động.
Trong gia đoạn 2001-2010, thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường, mặc dù, Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ số khả quan, nhưng tài nguyên thiên nhiên vẫn bị khai thác quá mức, kém hiệu quả và thiếu bền vững. Nguyên nhân chính là do sự tàn phá của con người và sự biến đổi phức tạp, khó lường của khí hậu.
Cụ thể, tính đến năm 2012, diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng (3-7 tầng) bị giảm sút trầm trọng, chỉ còn 0,57 triệu ha, chủ yếu tập trung ở các khu rừng phòng hộ và trong các khu bảo tồn.
Đối với hệ sinh thái biển, kết quả điều tra từ năm 2004-2007 cho thấy hiện chỉ có 14,4% diện tích rạn san hô phát triển tốt, còn 44,9 % đang ở trong tình trạng xấu và rất xấu; diện tích thảm cỏ biển cũng giảm xuống 40-60%, đặc biệt là ở các khu vực miền Trung và Nam Bộ.
Đáng lo ngại hơn là tình trạng suy giảm các loài động vật quý hiếm, do tình trạng săn bắn và buôn bán động vật trái phép trong những năm qua.
Theo danh sách đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), nếu như năm 1996 mới chỉ có 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp thì đến năm 2010, con số này đã lên tới 47. Nhiều loài được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đe dọa ở mức báo động tại Việt Nam như hạc cổ trắng, voọc, cu li…
Cùng với đó, nhiều loài thực vật trước đây chỉ ở mức sắp nguy cấp thì nay đã bị xếp ở mức rất nguy cấp như hoàng đàn, bách vàng, sâm vũ diệp, tam thất hoàng.
Về nguồn gen, trong những năm qua, một số giống cây trồng và vật nuôi đã được kiểm kê, từng bước được phục hồi, song nhiều loài giống truyền thống, bản địa cũng dần bị mai một như lợn ỉ mỡ, lợn cỏ, gà Văn Phú,.. (VietnamPlus.vn 18/12)đầu trang(
Ông Dương Đông Dương, Chi cục trưởng Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bạc Liêu, cho biết đến 16 giờ ngày 18/12, ngành chức năng, chính quyền địa phương và ngư dân đã lai dắt con cá nhám voi (ngư dân thường gọi là cá Ông), có chiều dài khoảng 3m, vòng bụng 2m, nặng khoảng 600kg trở lại biển an toàn, khỏe mạnh, trong niềm vui mừng phấn khởi của bà con miền biển tỉnh này.
Trước đó, vào lúc hơn 8 giờ sáng cùng ngày, ngư dân Trương Hai và cùng một người bạn đi biển, phát hiện một con cá nhám voi đang bơi theo nước lớn (nước biển dâng cao) dạt vào bãi bồi gần cửa biển Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi thủy triều xuống cạn, con cá này mắc cạn tại bãi bồi ven biển, nằm trong phạm vi Hợp tác xã nuôi nghêu Thắng Lợi, phường Nhà Mát, cách cửa biển Nhà Mát khoảng 3km. Hay tin, ông Lâm Hoàng Tuấn, Chủ nhiệm Hợp tác xã Thắng Lợi huy động hàng trăm ngư dân đến cứu con cá nhám voi này.
Đây là con cá Ông thứ tư ngư dân vùng biển này phát hiện mắc cạn, hoặc vướng vào lưới khoảng ba năm gần đây, nhưng đây là con cá Ông duy nhất được cứu sống. (VietnamPlus.vn 18/12)đầu trang(
Những lô cao su đang tuổi dậy thì mơn mởn, được trồng theo hợp đồng, trồng đúng thiết kế. Nhưng đúng lúc cao su đang bắt đầu cho cạo mủ thì người trồng rừng bất ngờ nhận được thông báo của chính đơn vị đã ký hợp đồng với mình (Ban Quản lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng, Tây Ninh), buộc phải chặt bỏ và không có bồi thường! Lý do buộc chặt bỏ là trồng sai mục đích.
Năm 2004, ông Trần Văn Đông (ngụ P.4, TX.Tây Ninh) được Ban Quản lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng (BQLRPHDT) ký hợp đồng trồng cao su trên diện tích 21 ha, nằm trên địa bàn xã Suối Dây, huyện Tân Châu (hợp đồng giao khoán đất số 113/HĐ.DADT, thời hạn 50 năm). Sau khi bỏ ra cả tỷ đồng đầu tư vào khu đất, từ khai hoang, san lấp mặt bằng đến xây tường rào xung quanh, ông Đông bắt đầu trồng cao su theo nội dung hợp đồng. “Hồi đó, khu đất này toàn hố bom, ao tù và cây dại. Không kể rắn rết, khu đất còn rất nhiều trái đạn pháo, mìn từ thời chiến tranh để lại.
Tôi phải thuê người đến rà, dọn sạch mìn trước khi thuê xe ủi, xe cuốc đến san lấp. Ròng rã 3 tháng trời, tốn tiền tỷ, khu đất mới ra hình hài. Nhưng tôi nghĩ, hợp đồng thuê đến 50 năm, nên không ngại đầu tư”, ông Đông nhớ lại. Sau khi trồng cao su xong, ông Đông tiếp tục vay mượn tiền đào mương, dùng lưới B40 rào xung quanh. Đến thăm vườn cao su của ông Đông, chúng tôi mới thấy, do có sự đầu tư rất lớn nên cao su của ông đều tăm tắp, khác hẳn những vườn bên cạnh.
Năm 2010, sau 6 năm trồng, chăm sóc, khi ông Đông bắt đầu mở miệng, cạo mủ vườn cao su, thì BQLRPHDT và UBND xã Suối Dây buộc ông Đông phải chặt bỏ giao trả 4,9 ha cao su trong diện tích 21 ha đã ký hợp đồng để giao cho Ban Quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng quản lý và trồng rừng với lý do: phần diện tích này ông Đông trồng không đúng mục đích. Do yêu cầu này quá vô lý nên ông Đông không chấp nhận và gửi đơn khiếu nại.
Ngày 25/5/2010, ông Đông nhận được thông báo số 154/TB-RPHDT của BQLRPHDT, thu hồi hợp đồng giao khoán đất số 113 để lập hợp đồng mới (với diện tích giảm đi 4,9 ha) với lý do: “Nguyên nhân thu hồi hợp đồng của ông Đông là vì trước đây BQLRPHDT chưa xác định được ranh mốc cụ thể giữa khu vực trồng cao su, cây ăn trái và khu vực trồng rừng nên đã lập hợp đồng giao khoán đất trồng cao su bao trùm lên khu vực đất quy hoạch trồng rừng”!
“Đó là điều hết sức vô lý! Nội dung hợp đồng số 113 ghi rất rõ: BQLRPHDT có nghĩa vụ xác định diện tích, vị trí, ranh giới đất nhận khoán trên bản đồ và trên thực địa. Họ giao cho tôi diện tích đó, tôi nhận đúng và trồng đúng loại cây. Bây giờ lại nói tôi trồng cây không đúng mục đích?”, ông Đông bức xúc nói.
Vì ông Đông không chấp hành thông báo số 154/TB-RPHDT, ngày 19/07/2010, UBND huyện Tân Châu tiếp tục ban hành quyết định số 1371/QĐ-KPHQ với nội dung: “Buộc ông Đông chặt bỏ toàn bộ diện tích cây trồng không đúng mục đích và giao trả lại 4,9 ha đất tại thửa số 524, tờ bản đồ số 5, tiểu khu 52 khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng thuộc xã Suối Dây, cho BQLRPHDT quản lý, sử dụng theo quy định”. Ông Đông làm đơn gửi Chủ tịch UBND huyện Tân Châu khiếu nại quyết định trên. Ngày 20/09/2010 Chủ tịch huyện Tân Châu ban hành quyết định số 1884//QĐ-UBND, bác đơn của ông Đông về việc khiếu nại quyết định số 1371/QĐ-KPHQ ngày 19/07/2010 của UBND huyện Tân Châu.
Không chấp nhận quyết định này, ngày 11/10/2010 ông Đông nộp đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh để khiếu nại quyết định số 1884/QĐ-UBND ngày 20/09/2010 của Chủ tịch UBND huyện Tân Châu.
Căn cứ Điều 28, Luật Khiếu nại qui định, thì trong thời hạn 30 ngày, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh phải giải quyết khiếu nại của ông Đông. Nhưng mãi đến ngày 25/06/2012, Chủ tịch tỉnh mới ban hành quyết định số 1214/QĐ-UBND (và mãi đến ngày 05/09/2012 UBND huyện Tân Châu mới tống đạt quyết định này cho ông Đông). Như vậy Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh đã vi phạm Luật Khiếu nại về thời hạn giải quyết khiếu nại gần 2 năm. Nội dung quyết định 1214/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh là bác khiếu nại của ông Đông, giữ nguyên quyết định 1884/QĐ-UBND.
Không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, ông Đông khởi kiện hành chính quyết định này ra TAND tỉnh Tây Ninh. Nhưng Tòa án tỉnh cho rằng đối tượng khởi kiện trong vụ án này là quyết định số 1371 của Chủ tịch UBND huyện Tân Châu chứ không phải quyết định số 1214/QĐ-UBND ngày 25/06/2012 của Chủ tịch tỉnh nên chuyển đơn của ông Đông về TAND huyện Tân Châu xem xét, giải quyết.
TAND tỉnh Tây Ninh cho rằng đối tượng khởi kiện của vụ án này là quyết định 1371 của Chủ tịch UBND huyện Tân Châu là cố tình “né” tỉnh. Bởi ông Đông kiện quyết định số 1214/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, chứ không khởi kiện quyết định 1371/QĐ-KPHQ ngày 19/07/2010 của Chủ tịch UBND huyện Tân Châu.
“Điều 30, Luật Tố tụng Hành chính qui định: Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các yêu cầu của cá nhân, tổ chức về việc khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước cấp tỉnh. Cho nên, TAND huyện Tân Châu không có quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện này.
Và, hậu quả pháp lý mà ông Đông phải chịu là mất quyền khởi kiện. Chắc chắn rằng TAND huyện Tân Châu sẽ không thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đông với lí do là thời hiệu khởi kiện đã hết (điều 104, Luật Tố tụng Hành chính qui định thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính là một năm)”, ông Lưu Hải Triều, người tư vấn luật cho ông Đông nói.
Về xã Suối Dây, huyện Tân Châu, được biết, không chỉ cá nhân ông Đông “lãnh đòn”, mà còn có 3 hộ khác cũng bị buộc chặt bỏ cao su cùng lý do như ông Đông. Đó là chưa kể hàng chục hộ dân khác có từ 1 đến 5-6 ha cao su đã lớn, đang cạo mủ, nhưng do trồng trên đất sang nhượng và không có hợp đồng giao khoán nên khi bị buộc chặt bỏ họ đành ngậm ngùi đứng nhìn. Điều đáng nói là, sau khi chặt bỏ cây cao su đã lớn để trồng sao, dầu thay thế, thì những cây rừng “thứ thiệt” này không biết vì lý do gì, gần như không lên nổi, phải nhìn chăm chú mới thấy chúng đang phất phơ lẫn trong cỏ dại. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/12)đầu trang(
Công trình thủy điện Đrăng Phốk nằm trong Vườn quốc gia Yok Đôn, thuộc địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk hiện nay mới trong giai đoạn điều tra, đánh giá tác động môi trường, thế nhưng nhiều hộ gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số trong khu vực đã không đồng tình với việc phá rừng nguyên sinh để làm thủy điện.
Theo kế hoạch, công trình thủy điện Đrăng Phốk được xây dựng trên dòng sông Sêrêpốk, với công suất 26 MW, do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và ứng dụng công nghệ mới, Thành phố Hồ Chí Minh, làm chủ đầu tư. Đây là công trình thủy điện thứ 8 trên dòng sông Sêrêpốk, sau các công trình như buôn Tuôr Sar, buôn Kuốp, Hòa Phú, Dray H’Linh, Sêrêpốk 3, Sêrêpốk 4, Sêrêpốk 4A.
Theo Sở Công Thương Đắk Lắk, để xây dựng công trình thủy điện này, chủ đầu tư có kế hoạch phá 63 ha rừng nguyên sinh, với nhiều loại cây gỗ lớn, lâu năm như cà chít, cẩm lai, bằng lăng, dầu, trong đó có 53 ha rừng đặc dụng bị phá, chiếm dụng vĩnh viễn và 10 ha giải tỏa sử dụng tạm thời. Các diện tích này là vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết, việc xây dựng công trình thủy điện Đrăng Phốk ngay trong vùng lõi của Vườn, ngoài việc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường, thay đổi môi trường sống của các loài thủy sinh còn gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Nhiều hộ đồng bào dân tộc ở xã Krông Na cũng cho rằng, phá vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn làm thủy điện, không chỉ gây ô nhiễm môi trường, đời sống đồng bào thêm khó khăn, mà còn làm cho các khu rừng khác trong khu vực cũng thường xuyên bị đe dọa, các loài động vật hoang dã cũng không còn nơi cư trú...
Vườn quốc gia Yok Đôn có tổng diện tích trên 113.853 ha, trong đó có phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích trên 72.006 ha, phân khu phục hồi sinh thái 35.501 ha, diện tích còn lại là phân khu dịch vụ hành chính. Vườn quốc gia Yok Đôn được thành lập nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng khộp (rừng thưa cây họ dầu chiếm ưu thế) - một loại rừng đặc hữu của Tây Nguyên - Việt Nam nói riêng và của cả vùng Đông Nam Á nói chung. Yok Đôn được ghi nhận có tầm quan trọng để bảo tồn nhiều loài động vật di cư thích nghi với sinh cảnh này như bò xám, bò rừng, voi rừng...
Thế nên việc đánh đổi 63 ha rừng vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn để lấy công trình thủy điện trên có nên chăng? (Tin Tức 18/12)đầu trang(
17/12, tỉnh Bình Thuận có quyết định thu hồi hơn 3 triệu m2 đất có nguồn gốc từ đất rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 26 do Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Phú quản lý để giao cho người dân sản xuất. (Tuổi Trẻ 18/12) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch của tỉnh Khánh Hòa về việc tăng cường quản lý nguồn dược liệu, sáng 17/12, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch tuần tra, truy quét đối tượng khai thác dược liệu trái phép tại khu vực rừng Hòn Hèo.
Theo đó, từ nay đến cuối tháng 12, Bộ đội biên phòng tỉnh sẽ sử dụng lực lượng, phương tiện, kết hợp với chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng tuyên truyền, giáo dục, kết hợp tuần tra truy quét, kiểm soát bảo vệ rừng nhằm ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác tận thu cây Xáo tam phân (người dân địa phương thường gọi là cây thần dược) làm cơ sở cho các cơ quan chức năng nghiên cứu, điều tra, khoanh vùng bảo vệ và phát triển nguồn dược liệu quý.
Đợt truy quét còn nhằm ngăn chặn triệt để, tiến tới chấm dứt các hoạt động vi phạm phạm luật và các quy định của địa phương liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 18/12)đầu trang(
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống phá rừng được các cấp chính quyền và lực lượng chức năng trong tỉnh tích cực triển khai thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, nhất là các khu vực rừng giáp ranh.
Huyện Ninh Sơn luôn là điểm “nóng” về tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép nhiều năm qua. Đặc biệt tại khu vực rừng Tà Nôi, xã Ma Nới giáp ranh huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) diễn biến phức tạp.
Để đưa được lâm sản từ vùng giáp ranh về địa phương, các đối tượng “lâm tặc” sẽ phải đi theo đường mòn (giáp thôn Ma Pó, xã Đa Quyn, huyện Đức Trọng) uốn quanh núi Gia Vá và phải vượt qua nhiều con suối, qua các tiểu khu 118, 119, 120 và 122 thuộc lâm phần quản lý của Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn. Phương tiện chủ yếu được sử dụng vận chuyển lâm sản trên những con đường có địa hình phức tạp này chủ yếu là các loại xe máy đã được độ chế lại.
Sau khi nắm rõ địa bàn và thống nhất phương án theo kế hoạch được triển khai từ trước, những ngày đầu tháng 11, Đoàn truy quét chống phá rừng liên ngành của tỉnh, do Chi cục Kiểm lâm tỉnh dẫn đầu đã mở đợt truy quét cao điểm tại các điểm “nóng” tại khu vực rừng Tà Nôi, xã Ma Nới (Ninh Sơn) giáp ranh khu vực xã Đa Quyn, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng).
Đoàn chia làm hai mũi, một mũi truy quét từ vùng rừng giáp xã Đa Quyn, huyện Đức Trọng về và một mũi truy quét từ khu vực rừng Tà Nôi, xã Ma Nới lên vùng giáp ranh thuộc tiểu khu 120. Sau 4 ngày đêm truy quét, Đoàn kiểm tra đã phát hiện thu giữ hơn 2,5 m³ gỗ từ nhóm I đến nhóm VII, trong đó có 0,4 m³ gỗ hương thuộc nhóm IIA và 14 xe độ chế các loại. Theo đồng chí Phạm Cao Đảm, Chi cục phó Chi cục kiểm lâm tỉnh thì có lẽ do bị “động” nên các đối tượng rút lui chờ thăm dò tình hình, nên lượng gỗ và xe độ thu giữ không nhiều như các đợt truy quét trước.
Tỉnh ta hiện có gần 150.000 diện tích đất có rừng tự nhiên. Những năm qua, cùng với việc thực hiện các chương trình trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, các cấp chính quyền, lực lượng chức năng đã tích cực triển khai nhiều biện pháp truy quét, ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng lại nằm tại những vùng giáp ranh, địa bàn rộng lớn và hiểm trở nên việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn ngày một tăng cao.
Theo thống kê, trong thời gian từ năm 2010 đến nay, năm nào các lực lượng chức năng cũng phát hiện hằng trăm vụ vi phạm lâm luật. Trong đó vi phạm phá rừng, khai thác gỗ và vận chuyển lâm sản trái phép chiếm hơn 50%. Riêng trong năm 2012 toàn tỉnh phát hiện hơn 720 vụ vi phạm, tăng gần 10% so với năm trước ( năm 2011 có 652 vụ vi phạm).
Theo nhận định của lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tình hình phá rừng, mua bán, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là các khu vực rừng giáp ranh với các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa và Bình Thuận. Trong đó, đối tượng vi phạm tại các khu vực này chủ yếu là bà con đồng bào dân tộc thiểu số bị các đối tượng “lâm tặc” lợi dụng và người của địa phương các vùng giáp ranh.
“Địa hình rộng, phức tạp, lực lượng làm công tác quản lý bảo vệ rừng tại các khu vực này lại rất mỏng, công tác phối kết hợp giữa các lực lượng, vùng giáp ranh vẫn còn hạn chế nên tình trạng vi phạm lâm luật chưa ngăn chặn một cách triệt để.”. Đồng chí Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh nhìn nhận.
Trước thực trạng trên, để công tác phối hợp bảo vệ và quản lý vùng rừng giáp ranh trong thời gian tới đạt hiệu quả, ngăn chặn được nạn phá rừng diễn biến ngày càng phức tạp thì còn rất nhiều điều cần quan tâm. Việc tăng cường công tác truy quét là điều rất cần thiết, nhưng để việc bảo vệ rừng giáp ranh thật sự hiệu quả cần có nhiều biện pháp mạnh hơn nữa.
Trước hết, cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng và ký kết quy chế phối hợp bảo vệ rừng, không chỉ giữa các tỉnh giáp ranh, mà cần có thêm trách nhiệm giữa các huyện, các đơn vị chủ rừng…để tránh tình trạng thiếu đồng bộ khi tổ chức truy quét; đồng thời tăng tính pháp lý trấn áp, răn đe đối với các đối tượng, kể cả người ngoài địa phương.
Cần thường xuyên chủ động trong công tác tuyên truyền pháp luật cho nhân dân vùng giáp ranh để họ nâng cao nhận thức về việc bảo vệ rừng. Lập danh sách, quản lý các đối tượng khai thác, buôn bán gỗ tại địa phương để có các biện pháp răn đe, giáo dục; mở rộng thêm các chốt, trạm canh gác rừng; quan tâm bố trí kinh phí và tăng cường thêm lực lượng tham gia tuần tra, bảo vệ tại các vùng giáp rừng ranh.
Về dài lâu, cần sớm có những giải pháp phát triển kinh tế bền vững cho các khu vực miền núi, nhằm giúp người dân xóa đói giảm nghèo, từ đó chuyển đổi sang nghề mới có thu nhập cao hơn nhằm hạn chế tình trạng phá rừng. Có như vậy việc quản lý, bảo vệ vùng rừng giáp ranh mới thực sự hiệu quả dài lâu. (Thiên Nhiên 18/12)đầu trang(
Khoảng 2 năm nay, tình trạng khai thác vàng ở xã Long Sơn, huyện Lương Sơn diễn ra phức tạp. Đối tượng khai thác không chỉ là người trong xã mà có cả người từ các tỉnh khác đến. Các chủ lò vàng đầu tư lớn, thuê lao động, máy xúc, máy ủi để đào lò, ngang nhiên khai thác vàng trái phép.
Đất vàng ở xã Long Sơn có tiếng từ nhiều năm nay. Vàng dưới ruộng, vàng trên đồi, vàng nổi, vàng chìm, vàng cám, vàng viên đều có. Đấy là chuyện người dân bản địa kháo nhau. Mấy năm trước, có người ở Thái Nguyên đem máy móc về khu đồi Mơ, khu đập Lòng Mu khai thác vàng.
Chủ tịch xã Long Sơn Nguyễn Duy Thìn nói: “Họ (người khai thác vàng - PV) làm rất kín, lò vàng họ đào sâu trong núi 300 - 400m. Máy nghiền đá, máy cô vàng đều làm trong hầm lò. Đến khi họ “rút quân”, người dân trong xã mới biết đất quê mình nhiều vàng. Từ đó, những lúc nông nhàn người dân ở đây lại hò nhau lập hội, ít thì 5 - 6 người, nhiều thì 8 - 10 người kéo nhau vào núi mở lò đào, đãi vàng. Tình trạng này chỉ là nhỏ lẻ, tự phát”.
PV tới khu bãi vàng thuộc địa bàn xóm 3, thôn Yên Lịch lúc hơn 9 giờ sáng. Không cần hỏi đường, chúng tôi cứ đi theo hướng có tiếng máy xúc, tiếng ô tô. Bãi vàng ở cuối xóm, sát vườn nhà dân.
Tuy nhiên, khi biết có nhà báo tới, chỉ mấy chục phút sau, tiếng máy xúc ngừng móc lò. Một người đàn ông tầm ngoài 40 tuổi (sau này PV biết tên ông là Bùi Văn Quyền, ở xóm 3) nói với PV: "Chủ lò biết các anh là nhà báo nên cho máy nghỉ rồi. Các lò khác cũng rút máy về lán rồi". Lúc này, trên khu đồng chỉ còn lại 4 - 5 tốp là người địa phương vẫn đang dùng xẻng, xà beng đào cọc cạch, mấy người túm tụm đãi vàng bằng máng gỗ.
Nhóm PV lội xuống ruộng, đến một lò xem họ đào, đãi. Cửa lò vàng rộng hơn 1m, sâu khoảng 5m. Người dưới lò đào, lấy đất, người đứng trên tầng lò đón xô đất chuyển lên cho người đứng trên miệng lò. Đất thải đổ ngay trên ruộng, lớp đất vàng đổ lên tấm bạt trải cạnh cửa lò. Đây là lò vàng nổi. "Nhà ai có ruộng thì đào. Chính quyền xã đến thì nghỉ. Chính quyền đi thì đào tiếp. Chính quyền không ở đây suốt ngày suốt đêm được. Đấy, người ta đào bằng máy xúc, chở đất bằng ô tô, hố vàng to như cái ao làng ngay dưới chân đập nước, hệ thống kênh mương vỡ nát cả, có thấy ai bắt đâu", một người dân nói.
Từ khu đồng xóm 3, chúng tôi vào khu bãi vàng đồi Mơ, đập Lòng Mu. Nếu ở khu đồng xóm 3 chỉ có 2 máy xúc, 2 xe ô tô thì ở đây, hệ thống thiết bị đào, đãi vàng quy mô hiện đại gấp nhiều lần. Tất cả các công đoạn: đào, chuyển đất, bơm nước, đãi… đều bằng máy. Chủ lò còn xây cả nhà cho "công nhân" ăn ở, làm kho để dầu mỡ.
Bãi này đã hoạt động hai năm (2011 - 2012). Chủ lò là người huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La cho biết: “Khu đất này tôi mua lại của người địa phương. Năm nay đã bị lực lượng Công an huyện Lương Sơn xử lý 2 lần. Khi công an đi chúng tôi lại làm”.
Khai thác khoáng sản trái phép đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nhưng nghiêm trọng hơn, bãi vàng này đã xả thải trực tiếp vào đập Lòng Mu. Con đập này được đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng, mới đưa vào khai thác, cung cấp nước cho hàng chục ha ruộng trong xã Long Sơn. Nay, đập Lòng Mu trở thành hồ chứa nước phục vụ cho việc đãi vàng.
Ông Bùi Văn Quyền, người dân xóm 3, thôn Yên Lịch cho biết: Các lò vàng đã dùng thuỷ ngân để cô vàng gây ô nhiễm nguồn nước rất nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, đời sống sinh hoạt của người dân. Người dân thôn Yên Lịch đã làm nhiều đơn kiến nghị gửi chính quyền xã, huyện nhưng không được xử lý dứt điểm.
Đứng ở đập Lòng Mu nhìn lên đồi Mơ, mấy máy xúc đang "cặm cụi" đào bới. Tiếng đất đá lăn ầm ầm trên núi. Lò vàng trên đồi Mơ rất sâu. Sâu bao nhiêu mét thì không ai đo đếm được. Để mở được một lò vàng trên đồi Mơ, chủ lò phải đầu tư rất lớn, thời gian lâu. Phương tiện mở lò là máy xúc, ô tô, máy sàng… hoạt động giữa ban ngày nhưng lại không bị chính quyền xã Long Sơn ngăn chặn.
Làm việc với phóng viên, ông Nguyễn Duy Thìn, Chủ tịch xã Long Sơn cho biết: "Không ai cho phép khai thác vàng ở Đồng Vàng, đồi Mơ, đập Lòng Mu. Lò vàng hiện đang khai thác là tự phát. Từ đầu năm đến nay, Chủ tịch huyện đã 2 lần trực tiếp xuống hiện trường, chỉ đạo lực lượng liên ngành truy quét, xử lý, thu giữ phương tiện máy móc của chủ lò.
Tuy nhiên, khi lực lượng liên ngành rút quân về huyện thì các chủ lò vàng lại tiếp tục hoạt động". Hỏi về trách nhiệm của chính quyền xã, ông Thìn lắc đầu, nói: "Lực bất tòng tâm. Xã chỉ biết báo cáo lên huyện". (Thanh Tra 18/12)đầu trang(
Phát triển quá nhanh, quy hoạch thiếu khoa học của các công trình thủy điện trên địa bàn miền Trung đã gây ra những hậu quả đáng tiếc. Thể hiện rõ nhất là hàng chục ngàn hécta rừng bị còi trọc, sông suối khô cạn về mùa nắng, lũ nhấn chìm vùng hạ du khi mưa bão đến. Tại những nơi có công trình thủy điện, người dân bản địa, chính quyền địa phương than thở bởi cuộc sống bị đảo lộn do di dời nơi ở, thay đổi môi trường sản xuất...
Quảng Nam đứng đầu về số lượng công trình dự án thủy điện tại miền Trung - Tây Nguyên. Toàn tỉnh có 44 dự án thủy điện đã được phê duyệt với tổng công suất 1.584,6MW. Điều này cũng đồng nghĩa với việc hàng ngàn hộ dân phải di dời vào những khu tái định cư được các dự án thủy điện xây sẵn. Cuộc sống, tập quán sinh hoạt của đa số người dân không phù hợp, chất lượng các khu tái định cư quá kém đã và đang đẩy người dân vào khốn khó.
Đa số hộ tái định cư tập trung tại các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là đồng bào dân tộc thiểu số. Phong tục nhà ở của đồng bào từ xưa đến nay là nhà gỗ, việc làm nhà xây, trước hết không phù hợp với nếp sinh hoạt bao đời, thứ hai làm mất dần nét văn hóa vùng miền… Chính vì vậy, tại hầu hết khu tái định cư ở Bắc Trà My, Đông Giang, Tây Giang… tình trạng nhà tái định cư bị bỏ hoang hoặc biến thành chuồng bò, chuồng heo xảy ra nhan nhản. Về sống được một vài hôm thì người dân lại rủ nhau vào rừng làm nhà gỗ sinh sống.
Tệ hại hơn là khu tái định cư Pachepalanh (xã Màcooih, huyện Đông Giang) chỉ sau 2 năm đưa vào sử dụng đã sụp xệ, mốc meo, sạt lở. 257 hộ dân di dời vào đây ở để giao đất cho thủy điện A Vương giờ đều lắc đầu ngao ngán: “Sống ở đây khổ lắm, cơm không có ăn, ngày đêm lo núi lở”.
Theo thống kê của Ban Dân tộc - Miền núi tỉnh Quảng Nam, 97% người dân cho rằng chất lượng nhà ở do chủ đầu tư các dự án thủy điện cấp là kém chất lượng, 91% không hài lòng về chất lượng nhà ở và đất ở được cấp, 91,3% không hài lòng về các công trình công cộng tại các khu tái định cư.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UNBD huyện Bắc Trà My, bức xúc: Chủ đầu tư thì muốn giải quyết bằng tiền cho nhanh để đi vào xây dựng thủy điện. Người dân lại thiếu hiểu biết, thấy tiền thì nhận, không suy xét trước sau. Lại thêm, tình trạng động đất ở khu vực thủy điện Sông Tranh 2 xảy ra liên tục trong thời gian qua khiến người dân vùng tái định cư vừa hoang mang vừa lo đói ăn do thiếu đất sản xuất, nên tình hình rất bất ổn.
Còn ông Bhling Mia, Chủ tịch UBND huyện Tây Giang, cho rằng: Chúng tôi đã họp với Công ty CP Thủy điện A Vương nhiều lần để bàn cách khắc phục những hậu quả xấu từ việc xây dựng khu tái định cư kém chất lượng. Tuy nhiên, họ chỉ là đơn vị tiếp nhận, vận hành và khai thác nên chỉ hỗ trợ nhỏ. Mọi gánh nặng hiện nay địa phương phải tự lo.
Hầu hết các huyện miền núi ở Quảng Nam đều là huyện nghèo. Việc lo cho đời sống người dân có cuộc sống no đủ hết sức khó khăn. Nay phải gánh thêm gánh nặng từ hậu quả của các công trình thủy điện quả là điều hết sức phi lý.
Những năm cuối thế kỷ 20, rừng Quảng Nam còn bạt ngàn màu xanh với nhiều loại gỗ được xếp vào loại quý hiếm, như lim, gõ, kiền kiền... là “lá phổi xanh” không chỉ cho Quảng Nam mà cả khu vực miền Trung. Thế nhưng, trong vòng 10 năm qua, khi Nhà nước cho phép đầu tư xây dựng những nhà máy thủy điện trên các sông ở Quảng Nam, tình trạng phá rừng, mất rừng ngày càng diễn ra nghiêm trọng.
Theo thống kê của Sở TN-MT tỉnh Quảng Nam, ước tính đến nay, có ít nhất 10.000ha đất rừng bị ngập theo các nhà máy thủy điện. Trong đó, nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 và 3 “nuốt” hơn 2.600ha, thủy điện A Vương chiếm gần 1.000ha... Bên cạnh những diện tích rừng bị mất vì nằm dưới lòng hồ được Nhà nước cho phép tận thu thì những “lâm tặc” núp bóng các công ty, xí nghiệp lợi dụng danh nghĩa ấy để tận diệt rừng.
Ở địa phương lân cận là Quảng Ngãi, tình trạng nhà máy thủy điện “nuốt” rừng cũng diễn ra nghiêm trọng không kém. Theo Sở Công thương tỉnh này, đã có tổng cộng 25 dự án thủy điện được quy hoạch trên địa bàn tỉnh, với tổng công suất trên 374MW. Trong đó có 22 dự án đã được cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư, 3 dự án còn lại đang được xem xét để cho chủ trương đầu tư. Dự kiến tổng diện tích đất lâm nghiệp (bao gồm đất rừng tự nhiên và rừng trồng sản xuất) phục vụ cho 22 dự án thủy điện là 890ha, chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tổng số hộ dân phải di dời, tái định cư khoảng 520 hộ.
Ông Diệp Thanh Phong, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam cho hay, tính đến thời điểm này, chưa có thủy điện nào thực hiện việc trồng rừng một cách nghiêm túc. “Nếu không tự tay trồng được thì phải bỏ tiền ra thuê địa phương, nhưng theo tôi biết là tất cả thủy điện ở Quảng Nam chưa bỏ một đồng nào để trồng rừng” - ông Phong nói.
Cũng theo ông Phong, Sở NN-PTNT Quảng Nam đã nhiều lần đề cập đến vấn đề thủy điện hoặc bất kỳ một ngành nghề, lĩnh vực nào có tác động đến rừng đều phải hoàn thổ, trồng lại rừng nhưng đến nay việc này vẫn chưa được chú trọng. Chỉ có một vài nhà máy thủy điện ký vào hợp đồng chi trả phí dịch vụ môi trường rừng, nhưng cũng chỉ dừng lại… trên giấy.
Còn ở Quảng Ngãi, tình hình cũng chẳng khả quan gì khi có hơn 20 nhà máy thủy điện cố tình phớt lờ việc “trả nợ cho rừng”.
Theo ông Lê Đình Bản, Phó tổng giám đốc Công ty Thủy điện A Vương, từ năm 2008 - 2009, nhà máy thủy điện A Vương đã đặt vấn đề trồng lại rừng với huyện Đông Giang, nhưng địa phương này… không tìm ra đất trống cho công ty trồng rừng. Sau đó, công ty này đã gửi công văn cho tỉnh Quảng Nam, đề nghị được chuyển tiền cho tỉnh, sau đó tỉnh sẽ chỉ đạo địa phương làm. Cuối năm 2011, tỉnh giao cho QBL rừng phòng hộ ở Đông Giang làm giúp cho A Vương. Đến nay, việc trồng lại rừng của A Vương đang trong giai đoạn được QBL rừng phòng hộ… thiết kế, chờ tỉnh phê duyệt.
Thảm họa về môi trường sẽ ập đến với người dân miền Trung như cảnh báo của Th.S Nguyễn Đăng Thạch, giảng viên ĐH Bách khoa Đà Nẵng, không còn xa nữa nếu như ngay từ bây giờ các địa phương cũng như các bộ, ngành trung ương không có biện pháp kiên quyết buộc các nhà máy thủy điện trồng lại rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 19/12)đầu trang(
Nhiều hộ dân sống ngay cạnh rừng đặc dụng Nam Hải Vân (RĐDNHV) - Đà Nẵng, tha thiết được nhận khoán đất rừng để trồng cây phát triển kinh tế thì lại không được giao đất. Trong khi, một số cán bộ Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân, thuộc Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng đã ngầm móc nối với một lãnh đạo UBND P. Hòa Hiệp Bắc (Liên Chiểu) "xẻ thịt" hơn 90 héc ta đất RĐDNHV để giao khoán trái quy định Nhà nước.
Trong một thời gian dài, người dân và chính quyền địa phương hết sức phẫn nộ trước vụ việc trên, đến nay, tuy đã có sự chỉ đạo của thành phố, các cơ quan hữu quan đã vào cuộc nhưng mọi việc vẫn "an bài": chưa xử lý được người đứng đầu trong việc giao khoán đất trái quy định cũng như chưa thu hồi được đất giao trái phép.
Ngày 4/1/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/NĐ-CP (viết tắt NĐ 01), quy định về việc giao khoán đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước. Từ khi NĐ 01 ra đời, Ban Quản lý RĐDNHV được phép áp dụng để giao khoán đất rừng cho người dân trồng rừng, phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, lạm dụng chức năng, nhiệm vụ được giao, các ông Trần Huy Độ (nguyên Trưởng Ban Quản lý RĐDNHV, nay đã nghỉ hưu), ông Hồ Ngọc Lượng, nguyên cán bộ Quản lý bảo vệ rừng Ban Quản lý RĐDNHV, hiện công tác tại Hạt Kiểm lâm Sơn Trà và ông Trương Văn Chi, nguyên Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp (cũ), Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc, hiện công tác tại Phòng Nội vụ quận Liên Chiểu) đã cấu kết, thực hiện việc giao khoán đất RĐDNHV bừa bãi, bất chấp quy định nhà nước.
Theo hồ sơ, việc giao khoán đất RĐDNHV được thực hiện vô tội vạ suốt một thời gian dài. Nhiều hợp đồng giao khoán đất theo NĐ 01 được lập nhưng không có số hợp đồng, ngày, tháng, năm. Cụ thể như hợp đồng giao khoán cho hộ ông Ph. V. S, trú tổ 28, phường Tam Thuận (Thanh Khê) diện tích 0,45 héc ta ở khu vực Hóc Môn, tiểu khu 11 không hề có số hợp đồng giao khoán, xác nhận của chính quyền địa phương, chỉ có chữ ký của ông Trần Huy Độ và người được nhận khoán.
Tương tự, hợp đồng giao khoán 0,225 héc ta đất rừng ở khu vực Hóc Môn, tiểu khu 11 cho ông Ng. Ng. Th., trú đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hải Châu) không có số hợp đồng giao khoán, ngày, tháng, năm, chỉ có vỏn vẹn chữ ký xác nhận của ông Trương Văn Chi và ông Trần Huy Độ và người nhận khoán. Chưa hết, các hợp đồng giao khoán cho hộ Ph. Đ và Ph. A; Đ. Th… cũng không có số hợp đồng giao khoán theo quy định.
Theo một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng, NĐ 01 chỉ áp dụng giao khoán cho người dân, cán bộ… có hộ khẩu thường trú, đang sinh sống ở địa bàn quận Liên Chiểu. Quy định là vậy, nhưng trong năm 2004-2005, các cán bộ Ban Quản lý RĐDNHV và ông Trương Văn Chi vẫn bắt tay nhau giao khoán cho nhiều trường hợp có hộ khẩu thường trú ở địa bàn các quận Thanh Khê, Hải Châu… hàng chục héc ta đất rừng.
Điều đáng nói hơn, trong đơn xin nhận khoán đất rừng của hai ông Ng. B. Nh và Ng. B. T, trú phường Thạc Gián (Thanh Khê) ngày 1/10/2003, ông Nguyễn Văn Kháng, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố (nay đã nghỉ hưu) bút phê gửi Ban Quản lý RĐDNHV đề nghị "xét giải quyết theo NĐ 01". Và ngày 20/10/2003, Ban Quản lý RĐDNHV lập Hợp đồng giao khoán số 102/HĐGK căn cứ NĐ 01 giao cho hai ông này 3,0 héc ta đất rừng tại khu vực Cầu Đôi, tiểu khu 4A. Đến ngày 16/2/2004, ông Trương Văn Chi, Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp (cũ) mới đặt bút ký xác nhận vào hợp đồng giao khoán này của hai ông Ng. B. Nh và Ng. B. T.
Bà H. Th. Th. H, tổ 33 phường Hòa Hiệp Bắc bức xúc nói : Trong hai năm 2004-2005, gia đình bà nhiều lần làm đơn gởi UBND phường Hòa Hiệp (cũ) cũng như Ban Quản lý RĐDNHV xin nhận khoán đất rừng theo NĐ 01 để trồng cây phát triển kinh tế, nhưng chỉ được Ban Quản lý RĐDNHV hứa hẹn, rồi "ngâm" luôn hồ sơ từ đó cho đến nay. Chán nản, vì phải đi lại nhiều lần, gia đình bà H. cũng không còn tương tưởng mong chờ đến sự "ban ơn" của "chủ rừng".
Tương tự như gia đình bà H. Th. Th. H., ông Tr. V kể, sau khi biết thông tin Ban Quản lý RĐDNHV thực hiện việc giao khoán đất rừng theo NĐ 01, trong hai năm 2004-2005, gia đình ông cũng nhiều lần mang đơn đến Ban Quản lý RĐDNHV xin nhận khoán và cũng chỉ nhận được câu trả lời: "Chờ xét duyệt".
Trong khi đó, năm 2006, biết thông tin Ban Quản lý RĐDNHV thực hiện giao khoán đất rừng cho một số hộ dân ở phường Hòa Hiệp Bắc và các hộ dân ở quận Thanh Khê và Hải Châu…, ông tiếp tục đến Ban Quản lý RĐDNHV xin nhận khoán, với hy vọng sẽ được cấp đất, nhưng kết quả vẫn thất vọng như những lần trước đó.
Theo tìm hiểu, vào thời điểm này, rất nhiều hộ dân ở địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc có nguyện vọng tha thiết xin được nhận giao khoán đất rừng, trồng cây phát triển kinh tế, nhưng không được cấp đất. Ông Trần Phước Huấn, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc bức xúc: Chủ trương giao đất rừng để người dân trồng cây, phát triển kinh tế, giúp họ có cơ hội vươn lên thoát nghèo là chủ trương đúng đắn của Nhà nước.
Thế nhưng, nhiều hộ dân trên địa bàn phường có nhu cầu thật sự xin giao đất thì lại không được Ban Quản lý RĐDNHV giao khoán. Trong khi đó, họ (Ban Quản lý RĐDNHV) lại lén lút lập hợp đồng giao khoán nhiều héc ta đất rừng cho những trường hợp có hộ khẩu ngoài địa phương.
Ông Huấn cũng cho biết thêm, lâu nay, việc giao khoán đất RĐDNHV được Ban Quản lý RĐDNHV và ông Trương Văn Chi "thực hiện âm thầm", chứ không đưa ra xét duyệt công khai minh bạch. Vì thế, việc làm này các Phó Chủ tịch UBND không hề hay biết.
Ông Huỳnh Xuân, Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường quận Liên Chiểu cho biết thêm, Phòng Tài nguyên - Môi trường quận Liên Chiểu không có trách nhiệm trong việc quản lý, cũng như giao khoán đất RĐDNHV. Ở đây, việc giao khoán cho ai, diện tích như thế nào… do Ban Quản lý RĐDNHV và chính quyền địa phương quyết định. Và cũng chính vì có đặc quyền này, nên mới xảy ra việc làm trái quy định Nhà nước trong việc giao khoán đất rừng ở RĐDNHV .
Sau khi tiếp nhận thông tin về việc Ban Quản lý RĐDNHV giao khoán đất rừng trái Nghị định Chính phủ và trả lời câu hỏi cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của Ban Quản lý RĐDNHV? Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng khẳng định, trách nhiệm giải quyết vụ việc là do Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng. Và hiện nay, Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng đã kiểm tra, rà soát hồ sơ về việc giao khoán đất RĐDNHV. Bước đầu đã phát hiện những sai phạm của Ban Quản lý RĐDNHV trong việc giao khoán đất rừng theo NĐ 01 và NĐ 135, với tổng diện tích hơn 90 héc ta.
Theo ông Lương, trên cơ sở sai phạm này, Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng cũng đã phối hợp với UBND quận Liên Chiểu để tiếp tục làm rõ, xử lý trách nhiệm những cá nhân và tập thể liên quan đến sai phạm, cho dù những cán bộ đó đã nghỉ hưu hay đang tại chức. Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng sẽ kiến nghị các cấp thẩm quyền thu hồi toàn bộ diện tích đất RĐDNHV đã giao khoán sai quy định Nhà nước.
UBND TP. Đà Nẵng cũng đã có Công văn gửi Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, chỉ đạo về vụ việc trên. Cùng với đó, Chi cục Kiểm lâm đã có quyết định điều động ông Hồ Ngọc Lượng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Sơn Trà (nguyên cán bộ Quản lý bảo vệ rừng Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân) về Chi cục Kiểm lâm, để ông Lượng có trách nhiệm phối hợp với Đoàn Kiểm tra rà soát, thống kê việc giao khoán đất rừng đặc dụng Nam Hải Vân (RĐDNHV) theo Nghị định 01 và Nghị định 135.
Mới đây, Chi cục Kiểm lâm đã có quyết định thôi chức Hạt phó Hạt Kiểm lâm Sơn Trà đối với ông Hồ Ngọc Lượng; đồng thời điều động ông Lượng về làm chuyên viên Phòng Quản lý bảo vệ rừng, thuộc Chi cục Kiểm lâm. Nguyên nhân xử lý kỷ luật là do ông Hồ Ngọc Lượng có liên quan đến những sai phạm trong công tác giao khoán đất rừng tại rừng đặc dụng Nam Hải Vân (ông Hồ Ngọc Lượng nguyên là cán bộ quản lý bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân).
Tuy nhiên, đến nay, người đứng đầu các sai pham trên là ông Trần Huy Độ (nguyên Trưởng Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân) thì vẫn chưa có biện pháp xử lý, do hiện nay ông Độ đã… nghỉ hưu. Và dĩ nhiên, đất giao trái phép vẫn chưa được thu hồi để những người xứng đáng được nhận đất được hưởng quyền lợi chính đáng. (Tài Nguyên&Môi Trường 19/12)đầu trang(
Bộ đội biên phòng tỉnh Khánh Hòa vừa triển khai đợt truy quét các đối tượng khai thác cây thuốc xáo tam phân (dân địa phương gọi là “cây thần dược”) trái phép tại rừng Hòn Hèo (Ninh Hòa).
Bên cạnh tuần tra, truy quét, kiểm soát rừng… bộ đội biên phòng Khánh Hòa kết hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác tận thu cây thuốc xáo tam phân.
Nhiều tháng gần đây, sau khi thông tin xáo tam phân chữa khỏi được một số bệnh nan y cho người sử dụng được lan truyền, người dân địa phương rộ lên cơn sốt lên rừng Hòn Hèo đào rễ, chặt “cây thần dược” mà không chừa lại phần nào cho cây tái sinh. Rừng Hòn Hèo gần như đã cạn kiệt loài cây này.
Mới đây, Viện Dược liệu (Bộ Y tế) cho biết theo kết quả nghiên cứu bước đầu, xáo tam phân có tác dụng ức chế viêm gan cấp ở thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, ức chế năm tế bào dòng ung thư gồm ung thư đại tràng HTC116, ung thư vú MDA MB231, ung thư buồng trứng OVCAR-8, đặc biệt là ung thư gan Hep-G2 và ung thư cổ tử cung Hela.
Về độc tính cấp, xáo tam phân khá an toàn khi sử dụng. Viện khuyến cáo địa phương có biện pháp hữu hiệu bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu này.
Đợt truy quét theo chủ trương của UBND tỉnh Khánh Hòa sẽ kéo dài đến cuối tháng 12-2012. (Tuổi Trẻ 19/12; Người Lao Động 19/12; Sài Gòn Giải Phóng 19/12)đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu UBND tỉnh Bình Định kiểm tra sự việc đăng trên báo Thanh niên qua bài viết: "Rừng phòng hộ ven biển bị tàn phá".
Trước đó, báo Thanh niên ra ngày 10/12/2012 đăng bài: "Rừng phòng hộ ven biển bị tàn phá", phản ánh rừng dương phòng hộ ven biển Bình Định có diện tích hơn 1.200 ha, nằm trên địa bàn 2 huyện Phù Cát, Tuy Phước và TP. Quy Nhơn đang bị tàn phá. Thôn Huỳnh Giản Bắc có hơn 100 hộ tham gia phá rừng đốt than.
Cũng theo bài báo phản ánh, lực lượng tham gia phá rừng ngày càng nhiều, không chỉ ở thôn Huỳnh Giản Bắc, xã Phước Hòa mà nay đã lan sang các xã Cát Chánh, Cát Tiến (H.Phù Cát) với hàng trăm hộ. Các lò than thi nhau mọc lên trong các khu rừng và trong vườn nhà dân. Nhiều người sử dụng xe máy kéo rơ moóc, hay thuyền máy chở than đi tiêu thụ các nơi rất dễ dàng.
Việc phá rừng ở các khu vực trên hiện rất phổ biến, trong khi ngành chức năng gần như bó tay.
Về vấn đề này, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Bình Định kiểm tra sự việc báo nêu trên, nếu đúng phải có biện pháp xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/12/2012. (Chinhphu.vn 18/12)đầu trang(
Cách đây 3 năm, anh Đỗ Văn Tùng ở Quán Hàu, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) nhận 5 ha đất trên đồi cát ở xã biển Hải Ninh (huyện Quảng Ninh) để đầu tư xây dựng mô hình kinh tế trang trại tổng hợp.
Vùng đất hoang hóa xa khu dân cư đã trở thành nơi SX của gia đình và ngày càng phát triển theo hướng bền vững. Từ năm ngoái đến nay, anh Tùng đã bỏ công sức để làm mô hình nuôi kỳ đà và đang thực hiện ước mơ nuôi kỳ đà sinh sản...
Nhiều lần xem báo, nghe đài nói về con kỳ đà trên cát, anh Tùng cũng mê lắm. Thịt kỳ đà đôi lần bạn bè mời nhậu cũng nếm qua và nhất là giá bán cao nên anh nung nấu nuôi cho được loại động vật hoang dã xếp vào loại quý này. Từ mô hình nuôi vài con thử nghiệm ban đầu, anh Tùng quyết định đầu tư nuôi 100 con với sự hỗ trợ của Sở KH-CN tỉnh.
Sau gần 8 tháng triển khai, mô hình đã cho kết quả khả quan và mang lại một cơ hội làm giàu cho người chăn nuôi. Khu nuôi kỳ đà có diện tích 100 m2, với đầy đủ nền xi măng, lưới sắt bao quanh, cây cối, hệ thống dẫn nước uống và hồ nước nhỏ cho kỳ đà tắm... Anh Tùng cho hay từ 100 con kỳ đà giống với trọng lượng 0,4 - 0,5 kg/con, đến lúc xuất chuồng (thời gian nuôi 8 tháng) trọng lượng trung bình từ 3,5 - 4,5 kg/con; giá bán 420.000 đồng/kg.
“Trong điều kiện thuận lợi thì trừ đi chi phí, nuôi kỳ đà cho lãi khoảng 50%. Có nghĩa là kỳ đà thương phẩm có trọng lượng 4 kg/con, giá thành thu về 1,68 triệu đồng, mức lãi sẽ đạt khoảng 800.000 đồng/con”, anh Tùng cho biết.
Nói như anh Tùng thì nuôi kỳ đà cần phải có thời gian vì từ lúc thả con giống đến lúc thu hoạch kéo dài. Tuy vậy, với loại động vật hoang dã này thì có nhiều điều “kỳ lạ”, thuận lợi cho người nuôi. Kỳ đà ăp tạp với các loại thức ăn là vật nuôi hoặc nội tạng gia súc.
“Nó như là cỗ máy dọn vệ sinh cho các trang trại, gia trại chăn nuôi gà, vịt...”, anh Tùng nói khá ví von, có nghĩa là mỗi khi có gà con, ngan con nuôi vì lý do nào đó bị chết (mỗi trang trại nuôi gà, ngan từ vài trăm con trở lên thì tỷ lệ vật nuôi chết vì nhiều lý do khác nhau cũng rất nhiều), thay vì phải chôn lấp thì tận dụng làm nguồn thức ăn rất phù hợp cho kỳ đà. Ngoài ra, có thêm thức ăn sẵn có khác như cá vụn, da lợn, nội tạng lợn, trâu, bò... cũng là thứ khoái khẩu của kỳ đà.
Cũng theo anh Tùng, nuôi kỳ đà cũng không phải lo lắng nhiều về thức ăn cho chúng. Vì loài động vật này chỉ ăn no một lần rồi chui vào chuồng nằm ngủ đến vài ngày sau mới thức dậy bò ra đòi ăn tiếp. Vào mùa đông, chúng chỉ ăn một, hai lần rồi kéo nhau đi ngủ. Chỉ cần ném vào chuồng cái bao tải là chúng chui vào, lèn chặt, quấn lấy nhau ngủ. Nhiều khi, trong cái bao tải có đến vài chục con quấn lấy nhau như chẳng chịu rời ra.
“Hồi đầu năm, tôi đã mạnh dạn nuôi kỳ đà đẻ trứng và ấp. Tuy nhiên, sau đó vì chưa có kinh nghiệm nên trứng không nở được. Bây giờ rút kinh nghiệm và học hỏi thêm, tôi tiếp tục đầu tư để cho kỳ đà sinh sản vừa tự túc nguồn giống, vừa có thể cung cấp cho thị trường”, anh Tùng quả quyết.
Đưa chúng tôi ra xem khu trại vừa mới xây phục vụ cho dự án nuôi kỳ đà sinh sản, anh Tùng cũng cho rằng mình sẽ làm được. Dãy chuồng nuôi cũng không rộng lắm. Vì thực ra, nuôi kỳ đà không cần diện tích rộng. Nếu nuôi kỳ đà thịt thì mỗi mét vuông có thể thả 4-5 con là rộng rãi. Kỳ đà sinh sản được phân ô. Mỗi ô khoảng 2m2 có khoang đổ cát cho kỳ đà bới lên đẻ trứng và khoang ăn, dội nước...
Thực tế thì vốn đầu tư để chăn nuôi kỳ đà ít, trong khi hiệu quả kinh tế cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Thịt kỳ đà ngon và được ưa chuộng, mật và lưỡi là bài thuốc quý, da còn được dùng xuất khẩu. Tuy nhiên, đây là động vật hoang dã nên khi nuôi phải được cấp phép của cơ quan có thẩm quyền", ông Hoàng Văn Mịn, PGĐ Sở NN-PTNT Quảng Bình.
Để chuẩn bị cho dự án nuôi kỳ đà sinh sản, anh Tùng đã để lại 40 con (loại nặng từ 4 kg trở lên), trong có có 2 con đực để phối giống. Bắt một con kỳ đà mẹ nặng chừng trên 4 kg ra khỏi chuồng, anh Tùng kiểm tra và chỉ cho chúng tôi biết là bụng nó đang có nhiều trứng và cũng sắp đẻ.
“Vụ tới đây, tôi thả tiếp 500 con giống để nuôi lấy thịt. Nguồn tiêu thụ thì có sẵn rồi, không phải lo lắng. Tuy nhiên, cũng tăng dần về tổng đàn chứ không nên tăng nhanh trong thời gian ngắn được”, anh chia sẻ thêm.
Trang trại của anh Tùng không có loại vật nuôi nào là chủ lực mà rất nhiều “thể loại” với 160 lợn thịt, 40 lợn nái, 2.000 gà thịt, 500 ngan, 100 cặp bồ câu, 2 ao cá rộng. Ngoài ra, còn có cả lò ấp trứng... Ngoài lao động trong gia đình, anh Tùng còn có 4 lao động thường xuyên với mức thù lao mỗi tháng 3 triệu đồng/người.
Hỏi về mức lãi từ trang trại, anh Tùng cười hiền rồi cho con số: “Trung bình chi phí lao động và thức ăn cho vật nuôi mỗi tháng cũng hết khoảng 120 triệu đồng. Lo cho khéo thì mức lãi được một phần tư vốn mà”. (Nông Nghiệp Việt Nam 18/12)đầu trang(
14/12, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013.
Công tác chống phá rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cấp, các ngành và toàn xã hội; trong đó lực lượng kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng là nòng cốt. Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và UBND tỉnh về công tác chống phá rừng, PCCCR.
Ngay từ đầu năm 2012, lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng, các cơ quan chức năng (Công an, Quân đội và dân quân) và chính quyền địa phương các cấp đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu huy động lực lượng tập trung truy quét chống phá rừng, PCCCR đạt được những kết quả đáng kể.
Phát biểu tại hội nghị, ông Trần Xuân Hoà - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã đánh giá cao công tác quản lý bảo vệ rừng trong năm qua, các ngành, các cấp, các đoàn thể đã phối hợp chặt chẽ; đảm bảo độ che phủ của rừng đạt 43,5%.
Ông Hòa thống nhất các giải pháp đã đề ra trong báo cáo cũng như các kiến nghị của các sở, ngành; đồng thời đồng chí đề nghị cần bổ sung một số nội dung về các biện pháp trước mắt và lâu dài trong phần phương hướng và giải pháp năm 2013.
Nhân dịp tổng kết, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khen thưởng cho 9 tập thể và 16 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR và truy quét chống phá rừng năm 2012. (Theo Ninhthuan.gov.vn 19/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Các nhà khoa học Trung Quốc đang có kế hoạch đưa một cặp con hổ con Siberia, vốn được sinh sản và nuôi dưỡng trong môi trường nhân tạo, về với tự nhiên hoang dã.
Các chuyên gia thuộc Vườn bảo tồn loài hổ Siberia tỉnh Hắc Long Giang cho biết trung tâm này dự định sẽ đưa một hổ cái con một tuổi rưỡi về với môi trường tự nhiên.
Cá thể hổ con này ra đời vào tháng 7 năm ngoái bởi một con hổ mẹ 7 năm tuổi. Đây cũng là cá thể hổ được sinh sản và nuôi dưỡng thành công đầu tiên trong môi trường nhân tạo tại Trung Quốc.
Cá thể hổ con hiện đạt chiều dài là 70 cm và nặng 50 kg. Các chuyên gia tại trung tâm nói trên đã rèn luyện thể chất cho hổ con cũng như khả năng hòa nhập với môi trường hoang dã.
Ngoài ra, các nhân viên tại đây cũng sẽ đưa một cá thể hổ đực, giống Siberia, để "kết bạn" với cô hổ con tại khu vực bảo tồn động vật hoang dã của Trung Quốc.
Theo giới khoa học, việc gây giống và nuôi dưỡng thành công loài hổ Siberia là bước tiến đáng ghi nhận trong việc bảo tồn loài hổ quý hiếm này và đưa chúng trở lại môi trường sống ban đầu.
Hổ Siberia là một trong những loài động vật quý hiếm nhất trên thế giới với chỉ 300 cá thể còn sống trong tự nhiên, trong đó có 20 con sinh sống tại vùng Đông Nam của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành nhiều chương trình gây giống và nuôi dưỡng hổ Siberia nhằm tăng số lượng cá thể loài động vật quý hiếm này.
Tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc hiện đang sở hữu trung tâm bảo tồn loài hổ Siberia lớn nhất trên thế giới. Kể từ khi thành lập vào năm 1986 đến nay, trung tâm này đã nuôi dưỡng được hơn 1.000 cá thể hổ Siberia. (VietnamPlus.vn 19/12)đầu trang(
Hôm 17/12, các bảo tồn động vật hoang dã thế giới cho hay, trong năm 2012 có tất cả khoảng 34 tấn ngà voi đa bị thu giữ. Sự kiện này đánh dấu năm nay là năm tồi tệ nhất trong suốt 24 năm qua về tình trạng voi bị săn và buôn bán trái phép.
Theo ông Jason Bell, Giám đốc Chương trình quỹ bảo tồn voi quốc tế vì quyền lợi của động vật (IFAW) cho biết, khối lượng lớn ngà voi bị tịch thu trong năm 2012 vượt xa gần 40% so với con số kỷ lục 24,3 tấn vào năm ngoái. “Đó là dáu hiệu cho thấy việc săn trộm và buôn bán voi bất hợp pháp đã hoàn toàn vượt ra khỏi tầm kiểm soát”, ông Bell nói.
Số liệu thống kê trên được đưa ra ngay sau khi các quan chức Malaysia bắt giữ lô hàng nga voi lớn nhất từ trước tới nay với khối lượng nặng 24 tấn vào ngày 10/12 và thu giữ 1.500 chiếc ngà ở Port Klang. Vụ này lớn hơn cả vụ thu giữ 15 tấn ngà voi vào ngày 12/12 năm ngoái. Trước đấy, ngày 15 và 16/11/2012, cũng có hơn 5 tấn ngà voi nhập lậu bị tịch thu tại Hồng Kông.
Để bảo tồn loài voi IFAW đã phối hợp với Interpol để đào tạo cán bộ thực thi pháp luật phòng chống buôn bán động vật hoang dã ở một số nước trên khắp Châu Phi, Trung Đông, Châu Á, Châu Đại Dương và vùng Caribê. Đến nay đã có hơn 1.600 cán bộ được đào tạo. Đồng thời các nhà bảo tồn cũng kết hợp các biện pháp khác như nhận dạng DNA ngà voi để truy tìm nguồn gốc voi bị sát hại, sử dụng chó nghiệp vụ đánh hơi tại các sân bay, hải cảng và kiểm tra chặt ở những nơi này.
Tuy nhiên, IFAW cũng cảnh báo rằng mùa săn bắn hàng năm được điều hành bởi những kẻ săn trộm chuyên nghiệp ở Trung Phi có thể bắt đầu trong những ngày hoặc vài tuần tới. Vì những kẻ săn trộm đang tận dụng những lợi thế trong mùa khô khi mà dân số voi khó bảo tồn hơn. (Đất Việt 28/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa