|
Ngày 18 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Xung quanh những ý kiến trái chiều về quy định mới cho phép khai thác 160 loài động vật rừng thông thường cho mục đích thương mại trong Thông tư 47/2012, Nhân Dân hằng tháng có cuộc phỏng vấn ông Đỗ Quang Tùng, Phó Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam (cơ quan của Việt Nam thực hiện Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT), để có những thông tin từ đơn vị chủ trì soạn thảo Thông tư.
Dư luận cho rằng có một số loài trong danh mục động vật rừng thông thường được ban hành kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT đang có nguy cơ tuyệt chủng như thỏ nâu, thỏ rừng Trung Hoa... Với tư cách là đơn vị chủ trì soạn thảo, ông có thể cho biết danh mục các loài đó được ban hành là theo tiêu chí nào? ông Tùng cho hay: Thực tế, lâu nay nước ta mới chỉ ban hành những văn bản quy định đối với các loài nguy cấp quý hiếm có trong danh mục động vật rừng nguy cấp quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và trong danh mục của Công ước CITES - Công ước quốc tế quy định về việc kiểm soát buôn bán các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng giữa các quốc gia.
Còn các loài khác (hiện chúng ta có trên sáu nghìn loài, trong đó hơn 300 loài thú, hơn 800 loài chim, gần 800 loài bò sát, hơn hai nghìn loài cá...) thì không ai kiểm soát do chưa có văn bản quy định. Nếu Thông tư 47 không ban hành thì các loài đó đương nhiên được săn bắn, tiêu thụ và không ai có thể xử lý được.
Danh mục 160 loài động vật rừng thông thường đáp ứng các tiêu chí, đó là những loài không thuộc công ước CITES và không thuộc Nghị định 32, là những loài đang được gây nuôi và săn bắn, sử dụng phổ biến ở Việt Nam và là những loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nếu chúng ta không bảo vệ ngay bằng thông tư này sẽ nguy cơ nằm trong danh mục Nghị định 32. Nếu khai thác dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng thì sau này khi sửa Nghị định 32, phải tính toán để đưa ra khỏi danh mục của Thông tư này và đưa vào danh mục của Nghị định 32. Lúc đã đưa vào danh mục của Nghị định 32 sẽ cấm săn bắn toàn bộ.
Cũng theo ông Tùng: Trong Thông tư 47 quy định rất rõ khai thác phải có hồ sơ đánh giá rất đầy đủ cả về căn cứ khoa học và bảo đảm số lượng quần thể thì mới được khai thác, chứ không thể khai thác tự do được. Trong đó, thuyết minh phương án khai thác phải thể hiện rõ nội dung mô tả hiện trạng của khu vực khai thác; thời gian khai thác; tên loài, số lượng khai thác; phương tiện, công cụ, phương thức, danh sách những người thực hiện khai thác.
Báo cáo đánh giá quần thể cũng phải thể hiện rõ tổng quan khu vực, phương pháp, thời gian, kết quả; phương án khai thác. Báo cáo này phải được lập bởi tổ chức được pháp luật quy định có chức năng điều tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học về lâm nghiệp, sinh học. Việc điều tra, đánh giá phải mời các nhà khoa học, phải có cơ quan tư vấn có chức năng thì làm sao mà nhầm được.
Với những quy định chặt chẽ về điều kiện khai thác trong Thông tư, tôi nghĩ sẽ ngăn chặn việc xâm hại các loài chứ không phải gây hại các loài như dư luận lo lắng.
Thông tư có quy định các tổ chức, cá nhân đã nuôi động vật rừng thông thường trước khi Thông tư này có hiệu lực thi hành thì phải báo với UBND xã về số lượng, nguồn gốc động vật. Nhưng ông có tiên liệu tình trạng người dân không chấp hành quy định này? - Tôi nghĩ, Thông tư đã quy định thủ tục đơn giản nhất rồi, đó là người dân chỉ phải thông báo với UBND xã.
Người dân phải chứng minh nguồn gốc ở đâu ra, nhập khẩu, khai thác hay mang từ các cơ sở hợp pháp khác tới. Nhưng các trại nuôi cũ đã có rồi mình không xét đến nguồn gốc nữa vì tập tính của ta ra đường cứ mua và họ nuôi như lợn gà trong nhà người bán thì không biết ở đâu. Tinh thần của Thông tư là tạo điều kiện cho người dân đi đăng ký để Nhà nước có quản lý chung để sau này khi ai nuôi thêm thì cơ quan chức năng xác định được con này từ đâu ra.
Tôi biết, trước mắt sẽ rất khó thực hiện vì nhiều trường hợp không khai báo. Chẳng hạn như nuôi con chim trong nhà chơi, đường đi ở miền núi phải mấy ngày mới tới được UBND xã thì rất khó bắt họ đi khai báo. Nhưng đối với trường hợp nào không khai báo thì không được phép mua bán, chuyển nhượng. Thí dụ nhà nuôi con gì đó không khai báo nhưng sau này đẻ ra con con thì sẽ không có nguồn gốc, không bán được. Thông tư 47 chủ yếu điều chỉnh đối với hình thức thương mại, buôn bán hay gây nuôi quy mô lớn, phải đăng ký để xác định rõ nguồn gốc, chứ rất khó thực hiện đối với những người nuôi động vật không vì mục đích thương mại. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
Thông tư 47 của Bộ NN&PTNT mới ban hành, có hiệu lực từ 9-11-2012 cho phép khai thác 160 loài thú rừng phục vụ thương mại khiến các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn thiên nhiên, chủ rừng, các nhà khoa học lo ngại nhiều loài thú quý hiếm ngoài danh mục này cũng bị vạ lây.
Thông tư đưa ra danh mục động vật rừng thông thường gồm 160 loài được phép khai thác từ tự nhiên và nuôi với mục đích thương mại. Có thể kể một số loài như thỏ nâu, thỏ rừng trung hoa, cầy tai trắng, cầy vòi hương, lửng chó, chồn bạc má bắc, lửng lợn, lợn rừng, hoẵng (mang), nai, hươu sao, dúi nâu, don, gà rừng, bìm bịp lớn...
Thông tư quy định, các loài động vật rừng thông thường có thể được khai thác bằng săn, bắt, bẫy, bắn và những hoạt động khác để lấy ra khỏi nơi cư trú tự nhiên các cá thể còn sống, trứng hoặc ấu trùng của chúng. Còn mục đích thương mại cũng được quy định rõ là những hoạt động khai thác, nuôi, trao đổi, dịch vụ hoặc các hoạt động xúc tiến thương mại mẫu vật nhằm thu lợi nhuận.
Về điều kiện khai thác, tổ chức, cá nhân phải có giấy phép khai thác do cơ quan có thẩm quyền cấp; Sử dụng công cụ, phương tiện phải bảo đảm an toàn trong quá trình khai thác, không gây tổn hại sinh cảnh và môi trường và phải được sự đồng ý của chủ rừng. Tuy nhiên, không khai thác vì mục đích thương mại trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Tổ chức, cá nhân khai thác không được đồng thời là chủ rừng.
Đối với động vật rừng thông thường đã nuôi trước thời điểm thông tư ban hành thì trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thông tư có hiệu lực, người đang nuôi phải lập bảng kê gửi ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có cơ sở nuôi để được xác nhận.
PGS, TS Nguyễn Xuân Đặng, Phòng Động vật học có xương sống, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, cho rằng việc ban hành thông tư này là cần thiết vì đây là công cụ để xử lý vi phạm hàng loạt trong khai thác và nuôi động vật rừng thông thường. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là công tác kiểm tra, giám sát và hậu kiểm phải hết sức chặt chẽ, nếu không sẽ gây ra nhiều hệ lụy, như việc lợi dụng vào rừng khai thác động vật thông thường rồi tiện thể săn bắt luôn động vật hoang dã.
Mặc dù quy định không được khai thác thú rừng vì mục đích thương mại trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng ông Đào Duy Phiên, Giám đốc Vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh), nhận định sẽ rất khó trong quản lý và bảo vệ sự đa dạng sinh học của vườn quốc gia. Bởi lẽ, khi cho phép người dân vào rừng khai thác các loại động vật, do ý thức tự giác chưa cao nên gặp loài nào cũng bắt, dẫn đến nhiều loài động vật nằm trong danh mục cấm sẽ bị ảnh hưởng.
Đồng quan điểm này, ông Trần Xuân Cường, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) cho rằng: “Chung quanh các khu rừng đặc dụng đều là miền núi, người dân chủ yếu là dân tộc ít người, nếu cho phép khai thác các loài động vật rừng theo Thông tư 47, họ sẽ lợi dụng săn bắt các loài động vật quý hiếm khác. Tôi nghĩ, chủ trương của Bộ NN&PTNT không sai nhưng trong điều kiện ý thức của một số người dân chưa cao thì việc thực hiện cần cân nhắc kỹ để tránh những tác động không tốt”.
Bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc sáng lập Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên lo lắng: Trên thực tế, các cơ quan chức năng địa phương rất hạn chế trong việc định dạng chính xác các loài; những người khai thác, buôn bán, nhân nuôi vì mục đích thương mại lại càng thiếu kiến thức này. Vì vậy, việc khai thác và nhân nuôi vì mục đích thương mại chỉ nên hạn chế ở một số nhóm loài dễ dàng phân biệt, kể cả khi sống và chết. Còn một số loài có đặc điểm gần hay tương tự nhau như chim, cầy, chồn, rắn, thằn lằn... rất khó phân biệt thì chỉ nên cho khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học.
Giáo sư Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam cũng băn khoăn cho rằng, Thông tư 47 đáp ứng được nhu cầu xã hội khi cho khai thác mục đích thương mại một số loài động vật rừng nhưng làm không cẩn thận thì rất nguy hiểm. “Nhất thiết chúng ta phải có hướng dẫn, giải thích cho người sử dụng, người khai thác biết động vật đó như thế nào bởi vì không chỉ người dân mà ngay nhà quản lý cũng khó biết hết được các loài. Chỉ có các nhà khoa học mới có thể biết được.
Mặt khác, 160 loài thông thường đó, chúng ta phải xem số lượng đó hiện còn thế nào, phải kiểm soát chặt số lượng, chứ không phải cứ muốn khai thác là được, nếu không thì nguy cơ một vài năm nó sẽ trở thành loài quý hiếm và vào sách đỏ ngay. Trước mắt, cơ quan chức năng phải có in ảnh, tờ rơi để nhận biết và phân biệt các loài, tổ chức các lớp hướng dẫn để nhận dạng các loài, sự phân bố của chúng, tránh việc khai thác nhầm như dư luận lo ngại, GS Huỳnh đề xuất. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
13/12, Bộ NN-PTNT - cơ quan thường trực BCĐ Tổng kết Nghị quyết 28-NQ/TW về sắp xếp đổi mới nông, lâm trường quốc doanh đã tổ chức hội thảo về quản lý, sử dụng đất trong các nông, lâm trường (nay là các cty nông, lâm nghiệp) nhằm rà soát đánh giá về thực trạng, vướng mắc trong quản lý sử dụng đất.
Theo báo cáo của BQL Đổi mới DN (Bộ NN-PTNT), thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị (NQ 28) và các nghị định của Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, đến nay, hiệu quả hoạt động SX-KD và tình hình quản lí và sử dụng đất nông, lâm trường đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Về nông trường quốc doanh (NTQD), trong số 187 NTQD, đến nay đã thực hiện giải thể 23 nông trường. Số còn lại, phần lớn đã thực hiện chuyển thành các Cty TNHH một thành viên và các Cty cổ phần. Trước khi thực hiện sắp xếp lại các NTQD, diện tích đất để hoang, không sử dụng lên tới trên 13.000 ha, đến nay, diện tích đất chưa sử dụng giảm xuống chỉ còn trên 8.500 ha. Diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm tại các NTQD từ trên 20.000 ha, đã giảm xuống còn hơn 15.200 ha.
Về lâm trường quốc doanh (LTQD), sau khi thực hiện sắp xếp lại, số lượng LTQD đã giảm từ 256 xuống chỉ còn 148, giảm 42% so với trước khi sắp xếp, trong đó đã thực hiện giải thể 14 LTQD hoạt động yếu kém, còn lại đa số chuyển thành các Cty TNHH một thành viên, các BQL rừng và Cty cổ phần...
Sau khi thực hiện sắp xếp lại các LTQD, tổng diện tích đất do các LTQD quản lí đã giảm mạnh, đến nay chỉ còn hơn 2 triệu ha, giảm trên 50% so với trước khi sắp xếp. Trong đó, có hơn 565 nghìn ha đất rừng đã được giao trả về cho các địa phương quản lí, góp phần rất lớn cho việc giải quyết nhu cầu đất cho người dân ở các địa phương đang thiếu đất SX.
Trước khi thực hiện sắp xếp, diện tích đất do các LTQD tự tổ chức SX chiếm hơn 80%, đến nay đã nâng lên trên 90%; diện tích đất cho thuê, cho mượn giảm hơn 3.000 ha; diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm giảm gần 4.000 ha so với trước khi sắp xếp. Điều này cho thấy việc sắp xếp, rà soát lại đất các LTQD đã tạo được chuyển biến lớn giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Theo tổng hợp của Bộ TN-MT, tổng diện tích đất mà các nông, lâm trường quốc doanh đã trả về cho địa phương quản lí tính đến hết năm 2011 là 735.700 ha. Đến nay, diện tích đất do các nông, lâm trường (gồm cả các Cty nông, lâm nghiệp đã chuyển đổi theo NQ 28) chỉ còn hơn 6,8 triệu ha, trong đó, đất do các nông, lâm trường tự tổ chức SX (gồm cả đất giao khoán) là hơn 6,6 triệu ha. Hiện tại, vẫn còn khoảng trên 8.600 ha đất bị xâm canh, và dự kiến sẽ tiếp tục trả về cho các địa phương quản lí trên 140 nghìn ha.
Cả nước hiện cũng đã thực hiện cấp được gần 3.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường, BQL rừng (nay gồm cả các Cty), với tổng cộng diện tích trên 2 triệu ha, chiếm gần 30% tổng diện tích đất đã cấp cho các nông, lâm trường.
Tại hội thảo, trong số gần 20 ý kiến của lãnh đạo các Cty nông, lâm nghiệp đại diện cho các nông, lâm trường đã chuyển đổi sắp xếp lại theo NQ 28 của Bộ Chính trị hầu hết đều khẳng định, việc rà soát, sắp xếp lại mô hình hoạt động của các nông, lâm trường quốc doanh sang các Cty TNHH theo tinh thần của NQ 28 trong thời gian qua là hướng đi đúng đắn, có tác dụng rõ rệt trong việc vực dậy tình hình SX-KD của các nông, lâm trường.
Đa số các nông, lâm trường sau khi chuyển đổi sắp xếp lại đến nay làm ăn đều có lãi, nhiều đơn vị đạt hàng chục tỉ đồng lợi nhuận mỗi năm. Chủ trương cho thuê đất, giao khoán và rà soát lại tình hình sử dụng đất tại các nông, lâm trường đã được các Cty nông, lâm nghiệp nhất trí tán thành. Bên cạnh đó, việc giao lại đất cho địa phương quản lí và tình hình tranh chấp, lấn chiếm đất nông, lâm trường vẫn đang là vấn đề khiến lãnh đạo các Cty nông, lâm nghiệp hết sức lo ngại.
Theo ông Ngô Như Khoa, Phó GĐ Cty TNHH MTV Lâm công nghiệp Long Đại (Quảng Bình), thực hiện NQ 28, từ năm 2006, Cty đã tiến hành rà soát và trả lại cho địa phương hơn 100 ha đất - chiếm 50% tổng diện tích trước đây. Hầu hết các diện tích đất trả về địa phương đều là đất đẹp, tuy nhiên từ đó đến nay, trong khi người dân và cả Cty đang rất cần đất để trồng rừng tràm nhưng không có đất thì hầu hết các diện tích đất mà Cty đã giao về cho địa phương quản lí đến nay vẫn không sử dụng, gây lãng phí rất lớn.
Không những thế, rất nhiều dự án của tỉnh Quảng Bình còn lấy phần đất còn lại của Cty một cách vô tội vạ, thậm chí huyện cấp đất rồi, tỉnh còn cấp đất chồng chéo lên nhau. "Các nông, lâm trường sau khi rà soát đất, thì nên bàn giao lại cho các Cty giao khoán cho dân SX nhằm giữ đất nông nghiệp, chứ không nên giao về cho địa phương. Bởi giao về địa phương rồi, địa phương cấp đất, cấp dự án cho dân, dân lại chuyển nhượng sang đất phi nông nghiệp, như thế không giữ được đất nông nghiệp nữa" - ông Khoa nêu ý kiến.
Cùng ý kiến với ông Khoa, ông Đỗ Viết Liêm, GĐ Cty Cao su Thanh Hóa khẳng định: Kể từ khi tiếp nhận và sáp nhập 3 NTQD của tỉnh Thanh Hóa về Cty Cao su Thanh Hóa (thuộc Tập đoàn CN Cao su Việt Nam) theo NQ 28, Cty liên tục làm ăn có lãi, hiện đang rất cần đất mở rộng vùng nguyên liệu. Thế nhưng trong tổng số hơn 9.600 ha đất của các nông trường trước đây, hiện đã có hơn 2.000 ha bị địa lấn chiếm. Thậm chí dân làm nhà, xây công trình ngay trên đất nông trường.
Trong khi đó, chính quyền lại luôn đứng về phía người dân trong tranh chấp nên Cty bất lực. Nhiều diện tích trả về cho địa phương, địa phương không giao khoán làm nông nghiệp, mà giao cho dân để dân xây nhà, xây công trình... Trong khi đó đất Cty thì liên tục bị lấy cho các dự án.
"Nhiều dự án xây dựng NTM cũng lợi dụng để lấy đất nông trường. Xây dựng Cty làm ăn hiệu quả là xây dựng NTM chứ đi đâu xa! Tôi rất phản đối việc giao lại đất cho địa phương. Phải củng cố và vực dậy hoạt động của nông, lâm trường và các Cty nông, lâm nghiệp bằng các giải pháp cho hiệu quả, chứ đừng phá, đừng có chuyện bóc tách, giao đất giao điếc gì cho địa phương cả" - ông Liêm gay gắt. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/12)đầu trang(
Sống giữa núi rừng bạt ngàn nhưng có một nghịch lý trớ trêu hiện nay là đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi hiện không đủ đất để canh tác, sản xuất nông - lâm nghiệp.
Đất thiếu về lượng đã đành, nay càng kiệt quệ về chất, càng khiến cho bà con lâm vào cảnh thiếu lương thực để ăn, xoay đủ kiểu để sống, thậm chí phải sống du canh du cư.
Bộ NNPTNT vừa công bố nhiều số liệu đáng quan ngại về tình trạng thiếu đất sản xuất tại nhiều tỉnh vùng núi nước ta hiện nay. Theo đó, tính đến hết tháng 9.2012, cả nước vẫn còn gần 327.000 hộ thiếu đất nói chung, trong đó có hơn 294.000 hộ thiếu đất sản xuất. Thiếu tư liệu sản xuất rơi nhiều vào nhóm dân tộc ít người (có dân số dưới 10.000 người) với 41% số hộ thiếu đất nông nghiệp.
Theo tính toán của Viện Tư vấn phát triển (CODE), bình quân đất sản xuất của nhóm dân tộc này chỉ vẻn vẹn 0,1ha/khẩu, trong đó thấp nhất là dân tộc Pà Thẻn với 0,04ha/khẩu, Pu Péo với 0,08ha/khẩu... Nhóm hộ “báo động đỏ” về quỹ đất còn tập trung ở các vùng tái định cư dự án thủy điện, vùng đất ngập mặn.
Tại huyện Sa Thầy - Kon Tum, hơn 740 hộ dân sau khi tái định cư di dời khỏi vùng ngập vẫn đang loay hoay khi mỗi hộ chỉ được cấp 1 - 1,2ha đất để canh tác. Đây được xem là quỹ đất vốn quá ít ỏi đối với những hộ dân tộc thiểu số vốn quen với tập quán canh tác rộng lớn.
Thiếu đất đã đành, điều đáng nói là chất lượng đất của những địa bàn nói trên cũng xuống cấp nghiêm trọng. Tại Sa Thầy, quỹ đất được giao cho dân vùng tái định cư lại chủ yếu là rừng nghèo kiệt. Hệ quả là dù có khai hoang để trồng cây ngắn ngày nhưng dân vẫn không đủ sống trên chính mảnh đất được giao. CODE cũng cung cấp thêm, đất các vùng núi, đặc biệt miền núi phía bắc chủ yếu là đất núi đá, độ dốc lớn. Đất lâm nghiệp tuy lớn nhưng số diện tích thực giao cho bà con canh tác lại quá ít ỏi.
Khoảng 380 hộ dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) được giao gần 190ha đất nông nghiệp, song trong thực tế, chỉ 45% số đất này là sản xuất được, phần còn lại là đất núi đá vôi, đồi dốc.
Theo Cục Kiểm lâm, trước đây nông dân miền núi tham gia sản xuất lâm nghiệp đơn thuần chỉ như công nhân làm thuê cho các lâm trường. “Nồi cơm” của họ phụ thuộc vào sự thăng trầm của các lâm trường quốc doanh. Vì thế, Nghị định 163 về giao đất cho dân trở thành cứu cánh của không ít hộ dân vùng núi vốn quá khó khăn về kinh tế hiện nay.
Tuy nhiên, dù đã triển khai rầm rộ, song trong thực tế, tỉ lệ đất rừng giao cho hộ gia đình mới chỉ chiếm 27% tổng quỹ đất. Xung quanh việc giao đất cũng còn quá nhiều bất cập như diện tích rừng giao cho chủ rừng và người dân chưa xác định cụ thể trên bản đồ và thực địa, hồ sơ giao đất, giao rừng thiếu nhất quán, quản lý không chặt chẽ và không đồng bộ. Có những diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao quản lý đã bị chuyển đổi mục đích khác nhưng không bị xử lý.
Trước thực trạng này, Bộ NNPTNT trực tiếp giao Cục Kiểm lâm rốt ráo thực hiện công tác giao đất, giao rừng và cho thuê rừng cho hộ gia đình ở vùng núi. CODE sẽ phối hợp với Cục Kiểm lâm trong nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật về giao đất giao rừng cho phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời có chính sách hưởng lợi thích hợp khuyến khích mọi thành phần tham gia nhận đất, nhận rừng để quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh hiệu quả. (Lao Động 18/12)đầu trang(
Triển khai thực hiện Quyết định số 750 của Thủ tướng về phê duyệt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 3061 phê duyệt quy hoạch phát triển cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2009-2020, cấp giấy phép cho các doanh nghiệp khảo sát, lập dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện chương trình này đã nảy sinh những bất cập…
Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su tại Tây Nguyên, theo thống kê chưa đầy đủ, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án (trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…) trên đất lâm nghiệp với diện tích hơn 215.720 ha. Trong đó riêng tại Đắk Lắk, tỉnh đã cho phép 90 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh vào khảo sát, lập 104 dự án đầu tư trồng rừng, trồng cao su và một số loại cây nông lâm nghiệp khác.
Với mục đích phủ xanh đất trống đồi trọc, khai thác, phát huy hiệu quả từ việc chuyển đổi rừng nghèo, sẽ chẳng có gì đáng bàn nếu mọi dự án đều được triển khai đúng tiến độ, đúng phương án phê duyệt và cả đúng mục đích sử dụng đất rừng. Tuy nhiên, sự ồ ạt của các dự án đã tạo tâm lý, phản ứng dây chuyền khiến một số người dân tổ chức chiếm đất, phá rừng trái phép trong khu vực dự án để lấy đất hoặc để đòi chủ dự án bồi thường, tạo áp lực lớn đến công tác bảo vệ rừng.
Trong khi đó, nhiều chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ rừng để rừng bị phá, lấn chiếm nhưng không có biện pháp ngăn chặn. Nhiều cánh rừng đã được khai thác, tận thu gỗ, còn việc trồng rừng theo như mục tiêu của dự án và chủ trương của tỉnh thì đang chậm và vướng...
Sau gần 4 năm thực hiện, đến nay các doanh nghiệp chỉ mới trồng được hơn 7.235 ha cao su, gần 8.000 ha rừng. Tiến độ trồng cao su, trồng rừng rất chậm với so với kế hoạch, còn việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi được các doanh nghiệp triển khai nhanh chóng với 44 nghìn mét khối gỗ trên diện tích 7.343 ha rừng. Chỉ tính riêng từ năm 2008 đến tháng 9-2012, toàn tỉnh có gần 10 nghìn ha rừng bị tàn phá và lấn chiếm, trong đó có gần 3.000 ha rừng và đất lâm nghiệp bị chặt phá và lấn chiếm thuộc quản lý của các dự án.
Đơn cử như đối với Dự án đầu tư quản lý bảo vệ rừng và trồng cây mít do Công ty Cổ phần Vinamit làm chủ đầu tư, ngày 8-12-2010, UBND tỉnh có quyết định về việc thu hồi 925,83 ha đất tại tiểu khu 294,295 thuộc địa bàn xã Cư M’lan, huyện Ea Súp của Công ty Lâm nghiệp Chư Ma Lanh để giao cho công ty này.
Quyết định nêu rõ, Công ty Cổ phần Vinamit có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích, ranh giới diện tích đất được thuê, chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất kinh doanh quản lý bảo vệ rừng trên đất được thuê theo đúng dự án đã được thẩm định. Nếu để rừng bị xâm hại, thất thoát thì phải bồi thường và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định. Từ khi có quyết định giao đất (13-7-2011) đến thời điểm đầu năm 2012, chủ đầu tư vẫn chưa tiến hành triển khai kiểm tra thực hiện dự án.
Nguyên nhân do hiện trạng rừng và đất của dự án có nhiều biến động so với kết quả điều tra, chưa thỏa thuận được với các hộ dân lấn chiếm đất và đang sản xuất trên đất dự án. Đến ngày 18-6-2012, kết quả rà soát hiện trạng về rừng và đất lâm nghiệp của dự án Công ty Vinamit cho thấy, diện tích còn rừng là 170,4 ha, chiếm 18,7% và diện tích rừng mất là 741,6 ha, chiếm 81,3%, trong đó: trồng cao su 58 ha, trồng điều 5,5 ha, trồng hoa màu các loại 133,4 ha, rừng bị cắt hạ, gom đốt nhưng chưa trồng tỉa 544,749 ha.
Đến ngày 23-7-2012, UBND tỉnh có quyết định thu hồi số diện tích trên giao lại cho Công ty Lâm nghiệp Chư Ma Lanh để sử dụng vào mục đích đất rừng sản xuất. Đây cũng là kết cục buồn của một dự án sau hai năm giao đất, giao rừng nhưng rừng nghèo đã được khai thác xong, còn việc trồng thì chẳng được là bao nếu không nói là không triển khai.
Tại xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, số phận của Dự án trồng rừng kinh tế bằng cao su của Công ty TNHH Hữu Bích cũng chẳng sáng sủa hơn. Trên tổng diện tích 113,5 ha đất lâm nghiệp được giao thuộc địa bàn xã Ea Huar, công ty này mới chỉ trồng 40 ha cao su, số diện tích còn lại hầu hết đã bị người dân lấn chiếm.
Hơn thế, ngày 2-1-2012, ông Lai Hoàng Xương, thường trú tại 327 Tôn Đản, phường 15, quận 4, TP. Hồ Chí Minh có đơn phản ánh ông Lê Hữu Hậu, Giám đốc Công ty TNHH Hữu Bích bán cho ông 30 ha đất của dự án với số tiền 300 triệu đồng. Ông Hậu đã nhận số tiền trên nhưng chưa giao đất. Đây thực chất là việc thỏa thuận sang nhượng đất của dự án, việc làm này không đúng với dự án đã được thẩm định và quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh.
Các địa phương có dự án trồng cao su, trồng rừng cho rằng, việc triển khai dự án do UBND tỉnh phê duyệt, ngoài việc thực hiện theo đúng quy trình để phê duyệt thực hiện dự án, cần có những bước đi chắc chắn bằng việc thử nghiệm một vài mô hình, dự án để rút kinh nghiệm vì “thả gà vào rừng thì biết đường nào mà đuổi”, trong khi rừng bị phá, bị mất không thể một sớm một chiều mà gây dựng lại được. Câu chuyện về quản lý bảo vệ rừng chưa có hồi kết thì sự góp mặt của những dự án trồng rừng như trên ít nhiều cũng đã tạo thêm áp lực cho chính quyền cơ sở.
Đơn cử như tại huyện Ea Súp, với hơn 20 dự án chuyển đổi từ rừng sang trồng cao su, các dự án trồng rừng, cải tạo rừng và các dự án nông lâm nghiệp khác, nội riêng công tác quản lý nhân khẩu, bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn cũng rất phức tạp. Và theo chính quyền địa phương ở đây, doanh nghiệp đã được thuê đất trồng rừng phải có trách nhiệm bảo vệ rừng và để mất rừng thì phải xử lý theo quy định.
Còn lãnh đạo huyện Ea H’leo thì cho rằng, đối với những dự án đang nảy sinh nhiều bất cập, sự cần thiết bây giờ là dừng dự án, tập trung quản lý bảo vệ rừng. Hiệu quả kinh tế của các dự án chưa được kiểm chứng nhưng hậu quả thực tế đã diễn ra trước mắt, đó là việc mất rừng đang làm cho khí hậu trở nên khắc nghiệt, hạn hán, mất nguồn nước và ngập lụt thường xuyên xảy ra. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội thủy lợi Việt Nam, phá rừng trồng cao su làm mất thảm thực vật, ảnh hưởng đến lớn nguồn nước ngầm.
Từ những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong thực tế, UBND tỉnh đã thành lập các đoàn kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng đã được tỉnh giao đất, cho thuê đất, thuê rừng. Theo đó, tỉnh đã thu hồi 32 dự án không có hiệu quả. Hiện tại còn có 57 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đang thực hiện 71 dự án tại các huyện Ea Súp, Ea H’leo, Buôn Đôn, Ea Kar, Krông Năng.
Tuy nhiên, trong số này, không ai có thể kiểm nghiệm được hết doanh nghiệp về năng lực tài chính, kinh nghiệm trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng. Những chủ dự án không thực hiện đúng quy định, để mất rừng cũng chưa có đơn vị nào chịu trách nhiệm. Ngay cả việc thu hồi đất bị người dân lấn chiếm cũng đang là một vấn đề nan giải. Quả bóng mất rừng từ những dự án chuyển đổi rừng đang được đẩy qua đẩy lại giữa chính quyền địa phương – doanh nghiệp – cơ quan chức năng trong ngành lâm nghiệp.
Trái bóng ấy vẫn lăn thì cây rừng vẫn bị triệt hạ, trong khi biến đổi khí hậu do mất rừng đang diễn ra trước mắt, còn trồng lại rừng, cũng là chỉ rừng nguyên liệu sản xuất giấy, để có những cánh rừng nguyên sinh, phải mất đến hàng chục, hàng trăm năm. Bộ nN&PTNT cũng đã có văn bản số 4039 gửi Văn phòng Chính phủ xin chủ trương khảo sát hiện trạng rừng khu vực Tây Nguyên bằng máy bay và tổ chức hội nghị về quản lý rừng Tây Nguyên.
Theo đó, sau khi khảo sát hiện trạng rừng bằng máy bay, Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011–2020 tổ chức hội nghị sơ kết việc chuyển đổi rừng, đất lâm nghiệp để trồng cao su tại các tỉnh Tây Nguyên và một số địa phương khác. Dư luận mong chờ và hy vọng, sau hội nghị này sẽ có những điều chỉnh, rút kinh nghiệm để có những bước đi vững chắc hơn. (Báo Đắk Lắk 17/12)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
16/12, ông Nguyễn Tiến Sự - Hạt trưởng KL Quảng Trạch (Quảng Bình) cho biết đã bàn giao cho Trung tâm Nghiên cứu khoa học và cứu hộ (Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng) một cá thể chà vá chân nâu nặng khoảng 4,5 kg để Trung tâm chăm sóc trước khi thả về môi trường tự nhiên.
Được biết, con chà vá chân nâu này được một người dân ở xã Quảng Hợp đi rừng bắt được. Sau khi nhận được thông tin, Hạt KL Quảng Trạch phối hợp cùng chính quyền địa phương vận động người dân giao nộp thú quý để thả về rừng. Chà vá chân nâu trên có tên khoa học là Pygathrix nemaeus, đây là loài linh trưởng quý hiếm thuộc nhóm IB, cần được bảo vệ nghiêm ngặt. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/12)đầu trang(
Xe chữa cháy rừng đa năng được tích hợp nhiều công nghệ mới, có thể chữa cháy bằng đất, cát, tạo tính hiệu quả trong chữa cháy rừng.
“Xe chữa cháy rừng đa năng” là đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước của TS. Dương Văn Tài (Đại học Lâm nghiệp Hà Nội) được đánh giá là bước đột phá trong công nghệ, đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng độc quyền sáng chế.
Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ có cuộc trao đổi với TS. Dương Văn Tài để tìm hiểu thêm về sáng chế đặc biệt này.
TS. Dương Văn Tài cho biết: Chiếc xe chữa cháy rừng đa năng được thiết kế trên cơ sở tích hợp các hệ thống chữa cháy rừng bằng nước, bằng đất, cát và không khí. Đặc biệt, xe có thêm bộ phận làm đường băng cản lửa để khoanh vùng và cô lập đám cháy. Bộ phận này được gắn ở đầu xe.
Thiết kế chiếc xe xuất phát từ những nghiên cứu thực tế cháy rừng ở nước ta xảy ra ở các vùng có địa hình phức tạp, không có nguồn nước, do đó chữa cháy chủ yếu là thủ công nên rất khó khống chế kịp sớm cháy rừng.
Chữa cháy bằng nước rất phổ biến nhưng chữa cháy bằng đất, cát và không khí chưa được biết đến nhiều, xin Tiến sĩ cho biết thêm về công nghệ đặc biệt này? TS. Dương Văn Tài: Đó chính là điểm mới có tính đột phá của sáng chế. Khảo sát đặc điểm địa hình rừng núi Việt Nam, cũng như nguyên nhân và tình trạng các vụ cháy rừng đã xảy ra, thiết kế xe không chỉ có hệ thống chữa cháy thông thường bằng nước mà có thêm hệ thống cắt đất, cát tại chỗ rồi phun trực tiếp vào đám cháy ở khu vực không có nước hoặc không đủ nước để dập lửa.
Vòi phun của xe dài tới 50m, có khả năng phun 40 kg đất cát/phút với tốc độ trên 30m/s, có thể bao phủ đám cháy và dập tắt nhanh chóng hơn.
Vậy còn bộ phận làm đường băng để khoanh vùng, cô lập đám cháy được gắn ở đầu xe? TS. Dương Văn Tài: Muốn chữa cháy rừng hiệu quả trước hết phải khoanh vùng để cô lập đám cháy, nhưng thực tế các thiết bị chữa cháy hiện nay chưa làm tốt việc này. Vì vậy, xe được gắn thêm hệ thống lưỡi cưa ở đầu xe để chặt hạ cây, cắt cây bụi, sau đó hệ thống cắt cỏ rác lắp sau xe sẽ cắt sạch cỏ rác để tạo đường băng cách ly đám cháy. Hệ thống này vừa có tác dụng dọn đường giúp xe có thể đi vào vùng có đám cháy, vừa khoanh vùng đám cháy nhanh chóng và hiệu quả so với biện pháp làm thủ công.
Ngoài xe chữa cháy đa năng, đề tài còn nghiên cứu chế máy chữa cháy cầm tay cũng dùng vòi phun đất với nguyên lý tương tự. Ngoài ra, đề tài còn thiết kế, chế tạo máy chữa cháy dùng sức gió, có thể dập tắt những đám cháy cao dưới 2m, tiện dụng ở những nơi có địa hình phức tạp. Những sản phẩm chế tạo của đề tài kết hợp thành hệ thống thiết bị chữa cháy hiệu quả, có thể áp dụng ở mọi địa hình Việt Nam.
Hiệu quả chữa cháy rừng đã rõ nhưng Tiến sỹ đã tính tới việc thương mại hóa sáng chế này chưa? TS. Dương Văn Tài: Không chỉ giới hạn ở chữa cháy rừng, ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có hàng triệu ha mía và cây công nghiệp và năm nào cũng xảy ra cháy gây thiệt hại về tài sản rất lớn. Khi nghiên cứu, tôi đã tính tới việc ứng dụng xe và thiết bị chữa cháy rừng đa năng trên những cánh đồng mía... Hiện nhiều doanh nghiệp mía đường quan tâm và muốn mua sáng chế. Tuy nhiên, để thương mại hóa sáng chế cần sự hợp tác với các nhà đầu tư.
Vậy còn khả năng chuyền giao sáng chế ra nước ngoài, kể cả những nước có công nghệ, thiết bị chữa cháy hiện đại và như vậy có phải là vấn đề xa vời không? TS. Dương Văn Tài: Tôi lại không nghĩ là xa vời. Khoa học công nghệ là sự kế thừa và phát triển. Để được cấp bằng sáng chế, công nghệ của tôi hay của bất kỳ tác giả nào đều cần có tính sáng tạo đột phá trên mặt bằng thế giới. Sáng chế này có thể giải quyết những vấn đề trong chữa cháy rừng trên thế giới hiện nay.
Thực tế, Nga, Mỹ hay nhiều quốc gia khác có trình độ khoa học công nghệ hiện đại nhưng tình trạng cháy rừng đôi khi vẫn ngoài tầm kiểm soát. Tôi sẵn sàng chuyển giao công nghệ, thậm chí nghĩ tới việc đề xuất Chính phủ tặng các nước quyền khai thác sáng chế. Đây cũng việc thiết thực mở ra cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau. (Chinhphu.vn 17/12)đầu trang(
14-12, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013.
Trong năm 2012, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, ngành, sự chủ động tham mưu, thực hiện tốt các phương án, biện pháp BV&PCCCR của các đơn vị liên quan, công tác QLBVR trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả. Các lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng đã phối hợp với chính quyền địa phương các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh tổ chức hơn 550 đợt tuần tra truy quét tại các vùng giáp ranh và khu vực trọng điểm phá rừng, phát hiện 997 vụ vi phạm, tăng 17,6% so cùng kỳ năm 2011.
Đã tiến hành xử lý vi phạm 748 vụ, tịch thu gần 300 phương tiện các loại (riêng các loại xe máy chế độ gần 250 chiếc), trên 500 m³ gỗ các loại, thu nộp ngân sách gần 4 tỷ đồng. Trong năm toàn tỉnh chỉ xảy ra 7 vụ cháy rừng, với diện tích 15,8 ha, chủ yếu là cháy thảm thực bì. Công tác vận động, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được triển khai sâu rộng, góp phần nâng cao nhận thức và tạo chuyển biến tích cực trong công tác tham gia bảo vệ rừng của nhân dân.
Hội nghị cũng đã đánh giá thực trạng và nhìn nhận những mặt còn tồn tại, yếu kém trong công tác QLBVR trên địa bàn tỉnh, đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong năm tới. Theo đó, trong năm 2013, tỉnh ta xác định tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng độ che phủ rừng; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia hoạt động bảo vệ rừng.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuần tra truy quét và xử lý vi phạm lâm luật; tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa các đối tượng sử dụng xe độ chế, tình hình kinh doanh, sản xuất gỗ của các cơ sở. Duy trì ổn định hoạt động lực lượng QLBVR túc trực thường xuyên tại các địa phương để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác PCCCR trong cao điểm mùa khô.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Trần Xuân Hòa, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh ghi nhận công tác QLBVR của các đơn vị trong năm qua. Đồng chí cho rằng Tình hình xâm hại rừng còn diễn ra khá phức tạp trên địa bàn tỉnh. Công tác phối hợp thực hiện của các ngành và địa phương còn khá lỏng lẻo. Người dân chưa thật sự đóng vai trò tích cực trong việc tham gia bảo vệ rừng. Để công tác QLBVR thật sự đạt hiệu quả cao trong năm 2013, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị liên quan cần nâng cao trách nhiệm và quyết liệt hơn nữa trong công tác QLBVR...
Nhân dịp này, lãnh đạo Sở NN&PTNT đã tặng giấy khen cho 16 cá nhân và 9 tập thể đạt thành tích xuất sắc trong công tác QLBVR năm 2012. (Báo Ninh Thuận 18/12)đầu trang(
Theo dự báo, mùa khô 2012-2013 khí hậu ở Đồng Nai nắng nóng và ít mưa. Là tỉnh có nhiều rừng thì khô hạn sẽ làm nguy cơ cháy rừng cao hơn. Để rõ hơn về việc phòng chống cháy rừng trong mùa khô, phóng viên Báo Đồng Nai đã có cuộc phỏng vấn Phó giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn Đặng Hồng Tăng.
Ông cho biết: Đồng Nai hiện có gần 180 ngàn hécta đất có rừng, với tỷ lệ che phủ gần 30%. Từ lâu tỉnh đã thực hiện chính sách đóng cửa rừng nên công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng khá tốt. Cụ thể, nhiều năm nay chưa để xảy ra vụ cháy rừng lớn nào.
Để hạn chế nguy cơ xảy ra cháy rừng, ông Tăng cho biết: Hiện Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn đã triển khai các biện pháp phòng chống cháy rừng trong mùa khô cho các địa phương có rừng và các chủ rừng. củng cố lại 11 ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện và 56 ban chỉ huy cấp xã. Đồng thời, các chủ rừng cũng đã lên phương án chi tiết các biện pháp ngăn chặn nguy cơ xảy ra cháy rừng và trình sở thẩm định.
Song song với công việc trên thì các địa phương, chủ rừng chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, nhân lực ứng phó để khi xảy ra cháy rừng có thể nhanh chóng dập lửa, không để xảy ra cháy rừng trên diện rộng. Một trong các giải pháp được các chủ rừng ở Đồng Nai thực hiện hiệu quả từ nhiều năm nay là làm đường băng cản lửa, xử lý các trảng cỏ có nguy cơ cháy lan vào rừng và vận động người dân sống gần rừng nâng cao ý thức và ký cam kết bảo vệ rừng. Nhờ có các giải pháp kịp thời, nhiều năm nay, Đồng Nai chưa để xảy ra vụ cháy rừng lớn nào.
Trong mùa khô trước, trên địa bàn tỉnh có xảy ra một vụ cháy rừng sản xuất tại xã Bàu Cạn (huyện Long Thành), nhưng diện tích bị ảnh hưởng chỉ khoảng 0,5 hécta. Nguyên nhân xảy ra cháy rừng là do người dân lân cận đốt rẫy để lửa cháy lan sang khu vực rừng trồng cây xà cừ, song hiện đã phục hồi trở lại, không gây thiệt hại nhiều về kinh tế.
Xảy ra nắng hạn kéo dài, nơi có nguy cơ cháy rừng cao là những vùng giáp ranh tỉnh Bình Thuận, vì đây là khu vực có khí hậu cực Nam Trung bộ rất khô hanh. Do đó, tỉnh xác định đây là khu vực trọng điểm tập trung nhiều nhân lực, vật lực để phòng chống cháy rừng. Vào những giai đoạn thời tiết khắc nghiệt, sở sẽ tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và thường xuyên có những thông tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng để người dân biết cùng tham gia góp sức bảo vệ rừng.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 13 ngàn hộ dân với hơn 40 ngàn người đang sinh sống, làm ăn trong các khu vực lâm phận của các chủ rừng. Để giảm bớt nguy cơ cháy rừng từ những sơ suất của người dân, hàng năm tỉnh đều phối hợp với các địa phương tổ chức nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng đến các hộ dân. Công tác tuyên truyền này được làm thường xuyên nên đa số người dân sống trong rừng đều có ý thức trong công tác phòng chống cháy rừng.
Thực tế, những năm qua cũng đã chứng minh là Đồng Nai không để xảy ra một vụ cháy rừng tự nhiên lớn nào. Theo tôi, nếu không có sự đồng lòng, góp sức của người dân thì chắc chắn không có được kết quả cao như vậy. (Báo Đồng Nai 17/12)đầu trang(
Theo dự báo, mùa khô năm nay nắng hạn kéo dài, công tác phòng, chống cháy rừng (PCCR) sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Đặc biệt là đề án di dân sống xen kẽ trong rừng và tách lúa ra khỏi rừng chưa được triển khai.
Hầu hết các vụ cháy rừng những năm trước đây do người dân sau khi thu hoạch lúa thường đốt đồng vệ sinh đồng ruộng, chuẩn bị cho sản xuất vụ mùa, gây cháy lan vào rừng. Ngoài ra, một bộ phận người dân xâm nhập vào rừng trái phép khai thác động thực vật dưới tán rừng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Khu vực rừng tràm tập trung ở 2 huyện Trần Văn Thời và U Minh, tổng diện tích đất lâm nghiệp 40.744 ha, trong đó diện tích có rừng 35.249 ha, do các đơn vị trực tiếp quản lý gồm: Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Trại giam Cái Tàu, Trung tâm Giống nông nghiệp U Minh, Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng kỹ thuật rừng ngập Minh Hải và các xã: Khánh Lâm, Nguyễn Phích, Khánh Thuận, Khánh An, huyện U Minh và xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời.
Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cho biết, ngay từ đầu mùa khô, UBND tỉnh thành lập ban chỉ đạo về bảo vệ và phát triển rừng, củng cố ban chỉ đạo ở cơ sở và lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách tại đơn vị, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.
Theo đó, các đơn vị trực tiếp quản lý rừng và các hộ dân nhận khoán đất rừng xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng tràm và 2 cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối.
Để công tác PCCR phát huy hiệu quả, các đơn vị chủ rừng đã chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác PCCR và tập trung thực hiện kiểm tra, bảo trì các dụng cụ, vận hành máy chuyên dùng để chủ động khi có sự cố xảy ra, đồng thời đẩy mạnh thực hiện công tác PCCR theo phương châm “4 tại chỗ”.
Theo đó, các đơn vị triển khai đắp 95 con đập giữ nước lớn, nhỏ, xây mới và sửa chữa trên 100 chòi quan sát lửa, ban gạt tất cả các tuyến đê bao, phát dọn 183 km kinh lưu thông, kiểm tra, sửa chữa 97 máy bơm nước, lắp đặt thêm và sửa chữa nhiều pa-nô, biển báo, biển cấm ở các khu vực trọng yếu, vành đai rừng, khu vực tiếp giáp lộ giao thông.
Tuy độ ẩm dưới chân rừng còn cao so với các năm trước từ 10-20 cm, nhưng theo dự báo, mùa khô năm nay kéo dài hơn mọi năm do mùa mưa kết thúc sớm và có hiện tượng Elnino, công tác PCCR gặp nhiều khó khăn.
Để công tác PCCR đạt hiệu quả, theo đồng chí Lê Văn Hải, trước hết phải tách lúa ra khỏi rừng, đầu tư hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống người dân dưới tán rừng.
Thực tế cho thấy, Phân trường 30/4 thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ làm tốt công tác tách lúa ra khỏi rừng nên hơn 10 năm qua, trên lâm phần của phân trường không xảy ra cháy.
Xác định công tác tuyên truyền là một trong những yếu tố quan trọng, các đơn vị chủ rừng chủ động phối hợp với ngành chức năng và chính quyền địa phương xây dựng và triển khai kế hoạch mở các lớp tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng, PCCR đến các tầng lớp nhân dân, trong đó chú trọng đối tượng học sinh.
Ngoài ra, huấn luyện nghiệp vụ cơ bản về kỹ năng PCCR cho các lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách và lực lượng dân quân tự vệ các xã có rừng, ven rừng. Phối hợp với chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra khu vực trọng điểm, bảo đảm an ninh trật tự, đồng thời ngăn chặn kịp thời không để người dân vào rừng trái phép để khai thác tài nguyên rừng, sử dụng lửa bừa bãi gây ra cháy rừng. (Báo Cà Mau 18/12)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TS Nguyễn Khắc Kinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định & Đánh giá Tác động Môi trường, Bộ Tài nguyên&Môi trường (TN&MT), khẳng định với Tiền Phong lẽ ra phải bác dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A (ĐN 6&6A) ngay từ đầu để tránh rắc rối và thiệt hại cho tất cả các bên.
Trước sức ép của dư luận và nhiều nhà khoa học, liệu có khả năng Bộ TN&MT bác báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của chủ đầu tư dự án thủy điện ĐN 6&6A không? ông Kinh nói: Trừ phi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ hoặc ý kiến của Quốc hội, Bộ TN&MT khó mà bác được báo cáo ĐTM. Hàng đống bất cập trong báo cáo ĐTM được chỉ ra, chủ đầu tư vẫn có thể vượt qua được mà.
Ông có nói đùa không? Hoàn toàn nghiêm túc. Nào là nguy cơ đe dọa sự toàn vẹn của đa dạng sinh học, nguy cơ mất rừng. Nào là nguy cơ làm mất cân bằng nước trên lưu vực sông Đồng Nai, nguy cơ vượt ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái ở đó.
Tất cả các nguy cơ ấy thực chất là gì? Thực chất chỉ là cảnh báo, là dự báo. Báo cáo ĐTM mà chủ đầu tư thuê làm cũng đề cập đến các nguy cơ đó nhưng khẳng định không sao.
Việc đó mới chỉ là dự báo, dự đoán thôi nên có thể đúng nhiều, đúng ít tùy thuộc vào nguồn thông tin, phương pháp dự báo có phù hợp nguồn thông tin hiện có hay không.
Tôi khó tin hiện tại ta có đầy đủ các thông tin cần thiết với độ tin cậy và tính cập nhật cần thiết để dự báo chính xác các tác động có thể xảy ra, nhất là thông tin về các thành phần môi trường sinh học, thủy văn v.v…
Vì thế, mọi dự báo, dự đoán đưa ra hôm nay đều cần được xem xét, theo dõi một cách toàn diện, khách quan và bình đẳng cho đến khi chúng được kiểm chứng trong thực tiễn. Mà thực tiễn đó có thể là 20-50 năm sau.
Nghe nói, tư vấn và chủ đầu tư đã điều tra hàng tháng trời?, Về điều này, ông Kinh cho hay: Nếu họ có đủ bằng chứng thì cứ yên tâm chờ hội đồng thẩm định thông qua. Nhưng tôi đồ rằng cả tư vấn và chủ đầu tư chưa thể có được cái đó. Kể cả bên phản biện, họ cũng chưa thể có. Để có được kết quả nghiên cứu đủ tin cậy không thể chỉ làm trong vài tuần như tư vấn ban đầu và không thể với dăm trăm triệu đồng. Phải làm 3-5 năm với tốn phí hàng triệu USD.
Vậy tại sao họ không làm? Tốn tiền chứ sao. Nhưng cần bàn hơn cả là lỗ hổng luật pháp. Những lỗ hổng ấy mở đường cho không ít chủ đầu tư làm qua loa. Hiện chưa có bất cứ quy định hay hướng dẫn nào về mức kinh phí để lập báo cáo ĐTM đối với chủ dự án.
Nhưng thực tế cho thấy, mức kinh phí đã bỏ ra này là rất nhỏ so với yêu cầu. Đối với các dự án đầu tư trong nước, chủ dự án chỉ bỏ vài chục triệu đồng để lập cam kết bảo vệ môi trường (BVMT) cho một dự án, từ dăm bảy chục triệu đến dăm bảy trăm triệu đồng lập báo cáo ĐTM cho một dự án.
Các dự án đầu tư nước ngoài khá hơn nhưng cũng chỉ từ một hai tỷ đồng để lập báo cáo ĐTM cho một dự án. Trong khi đó, kinh phí cho ĐTM của đa số quốc gia thường từ 1-4 triệu USD cho một dự án.
Thế có nghĩa báo cáo ĐTM của dự án ĐN 6&6A sẽ lọt qua được Luật BVMT? Gần đúng như thế. Chúng ta vẫn chưa có được đầy đủ các chuẩn mực cần thiết cho ĐTM. Hiện tại mới có hai loại quy chuẩn Việt Nam (QCVN) phục vụ cho bảo vệ môi trường nói chung, cho ĐTM nói riêng.
Một là QCVN về chất lượng môi trường xung quanh và, hai là, QCVN về chất thải. Với các dự án thủy điện, chỉ dựa vào hai QCVN ấy chẳng khác nào mở tung cho các báo cáo ĐTM được thông qua dễ dàng.
Hai loại QCVN này mới là chuẩn mực để đánh giá các tác động xảy ra liên quan chất thải, tức là khía cạnh “kiểm soát ô nhiễm” của ĐTM đối với dự án. Chứ chúng không giúp đánh giá được các tác động không liên quan đến chất thải, như sự xói mòn, sụt, lở, trượt đất; xói lở bờ sông, bờ biển; hạ thấp mực nước mặt và nước ngầm; xâm nhập mặn, phèn; thay đổi vi khí hậu; suy giảm hoặc mất cân bằng sinh thái, mất đa dạng sinh học..v.v… Nghĩa là, với khía cạnh “bảo tồn thiên nhiên” của ĐTM, hầu như không có chuẩn mực nào để bắt chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước dựa vào đó thực hiện.
Cụ thể, với các dự án thủy điện, vấn đề chất thải hầu như không lớn, nhất là sau khi đi vào hoạt động. Vì thế khía cạnh “kiểm soát ô nhiễm” của ĐTM đối với dự án thủy điện không mấy tác dụng.
Trong khi đó, các tác động tiềm tàng khác mà thủy điện có thể gây ra lại thuộc về khía cạnh “bảo tồn thiên nhiên” của ĐTM. Và, như tôi nói ở trên, hai QCVN mà người làm ĐTM bắt buộc phải tuân thủ không giúp đánh giá được gì khía cạnh này.
Tóm lại, báo cáo ĐTM của dự án ĐN 6&6A rất có thể được thông qua? Cũng không dễ. Một khi chưa có các chuẩn mực cần thiết thì không thể so sánh và đánh giá mức độ tác động của dự án. Mà không đánh giá được mức độ tác động xảy ra thì cũng không thể có cơ sở để chủ đầu tư đề ra các biện pháp cần thiết, thích hợp, và khả thi để khắc phục tác động.
Như vậy chủ đầu tư sẽ phải làm lại? Đúng thế. Làm cho đến khi nào có đủ cơ sở để khẳng định các biện pháp khắc phục tác động là thuyết phục.
Trường hợp nào dự án vẫn sẽ được thông qua? Chỉ Thủ tướng Chính phủ mới đủ toàn quyền.
Nhưng như thế sẽ vi phạm Luật Đa dạng Sinh học năm 2008 và Nghị quyết 49 của Quốc hội năm 2010? Chỉ cần cho điều chỉnh quy hoạch, đưa vùng dự án ra khỏi vị trí vùng lõi VQG Cát Tiên, là xong. Nhưng tôi không nghĩ khả năng này xảy ra. Đây là một dự án thực sự nhạy cảm.
Vậy nếu đương chức, ông sẽ xử lý dự án này thế nào? Tôi sẽ bác ngay từ đầu, ngay từ khi họ đề nghị làm báo cáo ĐTM vì lý do vị trí của dự án nằm trong vùng không được phép theo quy định hiện hành. Tôi không bao giờ chấp nhận một dự án vi phạm luật. Tôi từng bác những dự án vi phạm luật kiểu như thế rồi. (Tiền Phong 18/12)đầu trang(
14/12, tại Nam Định, UBND các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình phối hợp với UBND tỉnh Nam Định và Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển sông Hồng tổ chức Hội nghị kiện toàn ban quản lý và hoàn thiện quy chế quản lý khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước liên tỉnh ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng; đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển bền vững khu vực này trong những năm tiếp theo.
Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước liên tỉnh ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng (gọi tắt là Khu DTSQ sông Hồng), đại diện lãnh đạo 3 tỉnh và Ban tư vấn (bao gồm Ủy ban UNESCO Việt Nam, Ủy ban Con người và Sinh quyển MAB, Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng MCD) đã lấy ý kiến bổ sung và thống nhất dự thảo về quy chế quản lý để bảo tồn và phát triển bền vững khu vực tiềm năng này.
Theo đó, hoạt động quản lý Khu DTSQ sông Hồng phải dựa trên nhiều biện pháp tổng hợp có sự tham gia của cộng đồng địa phương, tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam và Công ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực đa dạng sinh học mà Việt Nam là thành viên.
Phương thức quản lý Khu DTSQ sông Hồng cũng hướng tới mục tiêu phát huy tốt ba chức năng: Bảo tồn, phát triển và hỗ trợ. Trong đó vấn đề thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững về sinh thái cũng như các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân cư và có liên quan tới khu vực dự trữ được đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, Ban quản lý cũng khuyến khích các hoạt động đóng góp vào việc duy trì, bảo tồn đa dạng di truyền, loài và hệ sinh thái; tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, giám sát giữa các địa phương nhằm phát triển Khu DTSQ sông Hồng một cách bền vững.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Huệ - Giám đốc MCD (đơn vị tham vấn), trong những năm tới Ban Quản lý Khu DTSQ sông Hồng cần điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, khả năng tái sinh cũng như các giá trị về kinh tế, đa dạng sinh học để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong khu vực, bao gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Việc bảo vệ đa dạng sinh học cần được thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư địa phương và các đối tượng có liên quan. Từ đó có thể xây dựng kế hoạch phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được khai thác từ gió, mặt trời, thủy năng...
Khu DTSQ sông Hồng là hệ thống bao gồm hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái ven biển và một số hệ sinh thái kết hợp có tổng diện tích 105.557 ha, với dân số khoảng hơn 128.000 người, nằm trên địa bàn 6 huyện Thái Thụy, Tiền Hải (tỉnh Thái Bình); Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). (Tài Nguyên&Môi Trường 16/12; Kinh Tế&Đô Thị 17/12)đầu trang(
Kết thúc kỳ họp thứ V, khóa VIII nhiệm kỳ 2011-2016, HĐND tỉnh Đắk Lắk đã thông qua Nghị quyết về việc quy định một số chính sách bảo tồn voi tại Đắk Lắk. Việc thông qua Nghị quyết này đã mở ra một hy vọng mới cứu đàn voi ở Đắk Lắk đang trên đà suy giảm nhanh chóng, có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai…
Đắk Lắk là một trong những địa phương có đàn voi hoang dã cũng như voi nhà lớn nhất nước sinh sống, là nơi duy nhất có truyền thống lâu đời về nghề thuần dưỡng, chăm sóc voi. Tuy nhiên, hiện nay số lượng voi ở Đắk Lắk đang suy giảm một cách nhanh chóng, có nguy cơ bị tuyệt chủng trong nay mai. Nếu như năm 1980, toàn tỉnh có 550 con voi hoang dã thì hiện nay chỉ còn chưa đầy 100 con; còn đàn voi nhà từ 502 con đến nay cũng chỉ còn vỏn vẹn 51 con.
Một trong những nguyên nhân khiến đàn voi hoang dã sụt giảm nhanh chóng là do bị tác động của con người trong quá trình khai thác lâm sản, chuyển đổi đất rừng sang trồng cây công nghiệp, nông nghiệp khiến môi trường sống của voi bị thu hẹp; nguồn thức ăn, nước uống khiến nơi cư trú, sinh sống của voi bị xâm hại. Bên cạnh đó, nạn săn bắn, giết trộm voi để lấy ngà vẫn diễn ra hằng ngày khiến xung đột giữa người và voi ngày càng gia tăng.
Đối với voi nhà, việc bị nuôi cô lập theo tổ chức, hộ gia đình, cá nhân… không có môi trường tự nhiên để giao phối dẫn đến voi mất khả năng sinh sản. Chính vì nguyên nhân này mà trong hơn 20 năm qua, chưa có một con voi nhà nào sinh sản được. Theo thống kê, hiện nay, toàn tỉnh chỉ còn 15 con voi đực và 23 voi cái đang trong độ tuổi có thể sinh sản được (từ 15-45 tuổi). Tuy nhiên, số voi này đang được huy động vào việc khai thác du lịch và các hoạt động khác quá sức. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho voi chưa có, voi được nuôi xa vùng rừng tự nhiên nên nguồn thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng, làm ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ, sức khỏe của voi.
Tổng kinh phí của đề án là 60 tỷ đồng, kéo dài từ nay đến hết năm 2014. Trong đề án sẽ xây dựng 2 khu tập trung tại huyện Buôn Đôn với diện tích 200ha và huyện Lắk 100ha. Ở đây sẽ được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh gồm: bệnh viện voi, vườn ươm thức ăn cho voi với khoảng 70 loài cây cỏ… Theo đó, vào mùa động dục từ tháng 6 đến tháng 10 hằng năm, voi được tập trung về đây, được chăm sóc sức khỏe, bảo vệ an toàn để có thể sinh sản.
Theo đề án, khi các chủ voi tự nguyện đưa voi vào khu chăn thả thì được Nhà nước hỗ trợ kinh phí trong thời gian voi gặp gỡ, giao phối, mang thai, sinh sản và nuôi con. Theo đó, đối với chủ voi cái được hỗ trợ 500.000 đồng/ngày trong thời gian voi gặp gỡ, động dục, giao phối. Trong thời gian voi mang thai, sinh sản và nuôi con, chủ voi sẽ được hỗ trợ kinh phí trong vòng 28 tháng. Trong 10 tháng đầu, mức hỗ trợ 300.000 đồng/ngày, từ tháng 11 trở đi sẽ được hỗ trợ 600.000 đồng/ngày.
Đối với chủ voi đực, trong thời gian voi động dục sẽ được hỗ trợ 600.000 đồng/ngày. Đối với nài voi cái, trong thời gian chăm sóc voi động dục, giao phối, sinh sản và nuôi con sẽ được hỗ trợ 200.000 đồng/ngày, thời gian hỗ trợ 28 tháng; đối với nài voi đực, trong thời gian voi động dục, giao phối sẽ được hỗ trợ 200.000 đồng/ngày, thời gian hỗ trợ trong vòng 30 ngày.
Ngoài ra, những địa phương có voi hoang dã thường xuyên xuất hiện được thành lập các tổ bảo vệ (số thành viên không quá 10 người), làm nhiệm vụ theo dõi, giám sát di chuyển của đàn voi. Qua đó, kịp thời phát hiện tổ chức lực lượng xua đuổi voi hoang dã nhằm tránh gây thiệt hại về người và tài sản mỗi khi voi xuất hiện. Chi phí mua sắm vật dụng (đèn pin, loa, kẻng, ống đốt đất đèn…) cho tổ bảo vệ là 20.000.000 đồng/năm; hỗ trợ cho các thành viên (xăng xe phục vụ đi lại, bồi dưỡng trực…) là 2.000.000 đồng/người/năm.
Đối với các tổ chức, gia đình, cá nhân sinh sống, lao động hợp pháp trong khu vực có voi hoang dã cư trú, di chuyển khi bị voi tấn công gây thiệt hại về người và tài sản sẽ được Nhà nước xem xét, hỗ trợ. Trong trường hợp thiệt hại về tài sản, sẽ được hỗ trợ 100% giá trị tài sản. Còn trong trường hợp thiệt hại về sức khỏe, người bị voi tấn công được Nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám, tiền thuốc điều trị và được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động đối với tỷ lệ sức khỏe bị tổn thương. Trường hợp bị tử vong thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất như đối với trường hợp người lao động trong cơ quan Nhà nước bị tai nạn lao động dẫn đến tử vong.
Đối với khám, chữa bệnh định kỳ: hàng năm, cơ quan chuyên môn tổ chức khám, chữa bệnh định kỳ cho voi một lần. Các chủ voi được hỗ trợ 100% tiền công khám và tiền thuốc điều trị bệnh cho voi. Trong trường hợp cơ quan chuyên môn phát hiện hoặc dự báo có thể xảy ra dịch bệnh đối với voi và tổ chức khám, cấp thuốc phòng bệnh cho voi thì các chủ voi được hỗ trợ 100% tiền công khám và tiền thuốc phòng bệnh cho voi. Khi chủ voi phát hiện voi bị bệnh đề nghị cơ quan chuyên môn khám, chữa bệnh thì được hỗ trợ 100% tiền công khám và 50% chi phí tiền thuốc điều trị bệnh cho voi. (Công An Nhân Dân 1712)đầu trang(
Việt Nam được thế giới công nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhưng theo các nhà khoa học, hệ sinh thái động vật của Việt Nam đang suy giảm đến mức đáng báo động do nạn săn bắt, buôn bán động vật hoang dã quý hiếm.
Sự đa dạng sinh học có sự góp mặt của động vật hoang dã. Theo các nhà động vật học Việt Nam và cả nghiên cứu của quốc tế, thì riêng động vật hoang dã của Việt Nam khoảng 22 nghìn loài. Gần đây, nước ta liên tục phát hiện ra hàng trăm loài động vật mới, điều rất hiếm thấy ở các nước. Chẳng hạn, vào những năm 80, Việt Nam phát hiện ra con bò xám mà theo các nhà khoa học trên thế giới nguồn gen của nó quý hiếm đến mức có thế cải tạo nửa đàn bò trên thế giới bị thoái hóa.
Năm 1992, Việt Nam cũng phát hiện con sao la đầu tiên trên thế giới tại Vườn quốc gia Vũ Quang Hà Tĩnh. Năm 1994 loài mang lớn nhất được phát hiện tại Vườn quốc gia Vũ Quang. Năm 2000, phát hiện thỏ vằn ở Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Quảng Bình. Gần đây nhất, năm 2011 phát hiện chuột đá tại Tuyên Hóa, Quảng Bình, loài mà ngỡ đã bị tiệt chủng hơn 11 triệu năm trước. Còn các loài bò sát lưỡng cư gần đây cũng được phát hiện rất nhiều.
Việc liên tục phát hiện ra các loài mới không chỉ đơn thuần là sự phát triển về khoa học, kỹ thuật trong nghiên cứu động vật mà đó còn là bằng chứng sinh động cho tính đa dạng, phong phú của thiên nhiên, của các hệ sinh thái nước ta. Con người không thể một lúc hay một thời gian ngắn có thể biết được hết các loài trong thiên nhiên.
Các nhà khoa học quốc tế hết sức quan tâm đến nguồn động vật hoang dã của Việt Nam. Chính vì thế có rất nhiều tổ chức quốc tế đặt chân đến Việt Nam để nghiên cứu và họ thật sự bị hấp dẫn bởi sự bí ẩn của hệ sinh thái đa dạng của nước ta.
Tuy nhiên, điều đáng buồn là hệ sinh thái động vật của Việt Nam đang suy giảm đến mức đáng báo động. Nhiều năm nay, công an đã bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm trên tuyến quốc lộ với số lượng lớn.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, năm 2011, có 201 vụ vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã bị bắt, chủ yếu là hổ, báo. Chưa hết năm 2012 nhưng đã có tới hơn 200 vụ. Các nhà khoa học dường như “lực bất tòng tâm” trước thực tế càng phát hiện ra được các loài mới thì số loài bị tiệt chủng đi vào sách đỏ ngày càng tăng.
Theo sách đỏ Việt Nam, trước năm 2000, số loài động vật bị tiệt chủng hoặc có nguy cơ suy giảm ở Việt Nam có khoảng 300 loài nhưng đến năm 2007, con số đó tăng lên 418 loài, trong đó có những loài động vật bị tiệt chủng rất nhanh. Tê giác một sừng từng hy vọng còn trong Vườn quốc gia Cát Tiên nhưng cuối cùng năm 2011 tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) công bố tê giác tại Việt Nam đã tiệt chủng. Hiện loài tê giác một sừng duy nhất còn ở In-đô-nê-xi-a. Hay như heo vòi, cầy rái cá, hươu sao... cũng đã bị tiệt chủng.
Việc giết hại động vật hoang dã, quý hiếm để phục vụ nhu cầu của con người có lẽ đã không còn là điều lạ lẫm. Động vật hoang dã đang ngày càng trở thành món ăn đặc sản cao cấp, là đối tượng săn bắt của con người, không chỉ ở các tỉnh có đường biên giới đi qua, mà còn phổ biến ở những nơi phồn hoa thị thành.
Tháng 7 năm 2012, đánh giá về tình hình bảo vệ động vật hoang dã thế giới của WWF thì Việt Nam là một trong các quốc gia có việc thực thi đáng lo ngại. Thậm chí, báo cáo còn xác định Việt Nam là quốc gia tiêu thụ sừng tê giác với số lượng lớn nhất và được coi là tác nhân gây ra khủng hoảng săn bắn trộm tại Nam Phi.
WWF cũng đưa ra nhận định về hệ thống pháp luật và thực thi luật của một số nước, trong đó có Việt Nam là “không đáng tin cậy và thiếu khách quan”. Những đánh giá có thể nói là “tiêu cực” của các tổ chức quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm ở Việt Nam đòi hỏi phía Việt Nam phải tăng cường các biện pháp đấu tranh cũng như thể chế pháp luật để bảo vệ, ngăn ngừa các hành vi giết hại, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã.
Theo các nhà khoa học, nếu pháp luật không nghiêm thì các loài động vật quý hiếm ở trong nước sẽ tiếp tục bị tiệt chủng. Nếu không có biện pháp bảo tồn, thì dự báo trong mười năm nữa, học sinh chỉ thấy hổ, voi qua sách vở, phim ảnh mà thôi.
Một thực trạng buồn, ở nơi được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt nhất là các khu bảo tồn, vườn quốc gia thì chính là nơi để mất động vật hoang dã nhiều nhất. Theo thống kê của cơ quan chức năng, năm 2008 thì bắt được 7.840 con động vật, trong đó 587 con thuộc loài động vật quý hiếm, nằm trong diện cấm khai thác và trong sách đỏ. Năm 2009, có 12.930 con bị bắt, trong đó có 724 con thuộc động vật quý hiếm trong sách đỏ. Năm 2010, có 12.936 con, trong đó có 508 con thuộc diện trong sách đỏ, quý hiếm. Năm 2011 có tới 660 vụ vi phạm quản lý về động vật hoang dã.
Thực trạng đó khiến ai cũng hoài nghi về việc bảo vệ tài nguyên chưa thật sự nghiêm. “Công tác quản lý lỏng lẻo hay là có sự thông đồng? Báo động nguy cơ tiệt chủng là có lý. Chúng ta cần xem lại việc thực thi pháp luật”, GS Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam chia sẻ.
Một giải pháp thường được nêu ra là nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Tuy nhiên, theo một số nhà động vật học thì trong lĩnh vực này không chỉ nhắm vào đối tượng người nghèo mà quan trọng hơn là người giàu có. Họ là đối tượng tiêu xài động vật hoang dã, cho nên cần tuyên truyền để họ có ứng xử tốt với thiên nhiên. Mặt khác, để tránh tình trạng săn lùng động vật quý hiếm làm thuốc chữa bệnh, Nhà nước cần có chính sách thay thế bằng các loại thuốc có giá trị tương tự, bằng kỹ thuật nuôi, trồng trong khu bảo tồn thiên nhiên.
Theo GS Đặng Huy Huỳnh, để không cần cấm mà bảo vệ động vật hoang dã vẫn hiệu quả, cần quy định điều kiện khai thác một cách rõ ràng đối với những loài được khai thác. Ông dẫn chứng, Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, chưa rõ ràng đối với quy định “hạn chế khai thác” đối với động vật nhóm II.
Theo đó, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm. Nhóm I, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại đối với những loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tiệt chủng cao. Nhóm II, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại đối với những loài động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tiệt chủng.
“Từ hạn chế khai thác còn lập lờ, chưa được hướng dẫn cụ thể. Hạn chế phải có cơ sở khoa học, tức là phải biết đặc điểm sinh thái của quần thể đó, loài đó, điều kiện phát triển thế nào, từ đó đưa ra việc hạn chế khai thác cụ thể. Nếu không hướng dẫn rõ thì người dân có thể nại đủ lý do nói là tôi đã hạn chế khai thác rồi thì cơ quan quản lý làm gì được họ. Nhưng nếu khai thác có điều kiện thì người dân cảm thấy họ được lợi từ thiên nhiên, từ đó họ sẽ bảo vệ thiên nhiên.
Tôi nghĩ cần thiết phải ban hành lại một danh mục, loài nào cấm hoàn toàn thì không được đụng chạm đến, còn hạn chế khai thác là như thế nào phải nói rõ mới bảo vệ được an toàn nguồn động vật hoang dã”. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
Trồng cỏ xen canh dưới tán rừng ở Bắc Kạn: Đầu tư ít, lãi nhiều
Được sự hỗ trợ của Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn (3Pad), nhiều hộ dân ở huyện Na Rì đã trồng cỏ xen canh với tán rừng đem lại nhiều hiệu quả cao.
Nằm giữa thung lũng, bao quanh là đồi núi, căn nhà của anh Phùng Văn Hùng ở thôn Ka Đoóng, xã Quang Phong, huyện Na Rì (Bắc Kạn) khang trang, đỏ tươi màu ngói mới. “Giờ thì gia đình mình cũng đã thoát được cái nghèo, cái đói đeo bám bao năm nay rồi. Mình cũng đã nuôi được 12 con lợn, 50 con gà, 6 con trâu và mua sắm được tiện nghi sinh hoạt trong nhà... Tất cả cũng nhờ phát triển trồng cỏ xen canh với rừng bởi từ đó mới có vốn để mở rộng đầu tư sản xuất”- anh Hùng phấn khởi chia sẻ.
Anh Hùng cho biết, những năm trước, cứ vào mùa đông là trâu bò của bà con ở đây lại thiếu thức ăn và đối mặt với nguy cơ bị chết rét. Từ chỗ chỉ nuôi 1 con trâu cũng thiếu cỏ, sau hơn 1 năm trồng cỏ xen canh, gia đình anh Hùng đã nuôi 6 con trâu, mà vẫn thừa cỏ, thậm chí còn thu được 8 triệu đồng từ việc bán cỏ thừa.
Không chỉ có anh Hùng, nhiều hộ khác ở Na Rì từ chỗ chỉ nuôi trâu để lấy sức kéo, hiện đã đầu tư mua thêm nghé con và trâu gầy về tận dụng cỏ trồng vỗ béo trâu bò tăng gia sản xuất. Ông Hoàng Trường Giang - Trưởng nhóm trồng cỏ thôn Ka Đoóng cho biết: Đất ở đây vốn chủ yếu là bỏ hoang. Từ năm 2011, với việc hỗ trợ sản xuất theo tổ nhóm, người dân đã trồng cỏ xen kẽ với diện tích cây mỡ. Nhóm cùng sở thích trồng cỏ lúc đầu chỉ có 10 người, nhưng đến nay cả xóm đã cùng tham gia. Từ đó, đàn trâu bò cũng không ngừng tăng lên, hiện nhóm đã có 60 con trâu, bò.
Ông Lèo Phương Đông - cán bộ khuyến nông xã Quang Phong cho biết, vào mùa đông, có năm rét đậm, rét hại làm trâu bò trong xã chết hơn 100 con, nhưng hiện tình trạng đó đã không còn.
“Diện tích đất bỏ hoang đất trống, đồi trọc ở nhiều vùng núi của Bắc Kạn vẫn còn khá lớn. Nhận thấy thực tế này, cùng với việc hỗ trợ vốn, Dự án 3 Pad đã hỗ trợ bà con trồng cỏ xen canh cây mỡ. Loại cây này cho giá trị kinh tế khá cao nhưng phải sau thời gian dài từ 7- 9 năm mới cho thu hoạch”.
Do đó, theo ông Giáp, để tận dụng khoảng trống về đất cũng như giúp người dân tăng thu nhập từ nuôi trâu, bò dự án đã hỗ trợ bà con mua giống cỏ Ghine về trồng xen cây mỡ. Trung bình mỗi thành viên được hỗ trợ giống và phân bón để trồng 1.000m2 cỏ. (Nông Thôn Ngày Nay 18/12)đầu trang(
Dù còn bỡ ngỡ như người xa quê lâu ngày nhưng nhiều doanh nghiệp gỗ vẫn quyết tâm đầu tư dài hơi cho chiến lược quay trở lại thị trường đồ gỗ nội địa, vốn do doanh nghiệp nước ngoài lấn lướt.
Với giá trị thị trường đồ gỗ nội địa lên tới 3 tỷ USD, trong khi kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2012 (tính đến hết tháng 11/2012) đạt 4,2 tỷ USD, thì các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu có niềm tin để kiên trì theo đuổi thị trường nội địa dù phía trước còn rất nhiều khó khăn, thách thức.
Theo nhận định của nhiều doanh nghiệp gỗ, tiềm năng của thị trường nội địa còn khá lớn, nhưng nếu không có chiến lược cụ thể sẽ rất dễ bị “ngã ngựa” tại sân nhà.
Trước đây, cứ nói đến bán hàng phục vụ thị trường nội là nhiều nhà sản xuất lắc đầu vì đã quen với quy mô sản xuất hàng loạt và thị hiếu của khách hàng thuộc khu vực châu Âu và Hoa Kỳ. Nhưng trong tình hình sức mua của thị trường thế giới giảm 30%, một số doanh nghiệp đã quay về thị trường nội địa. Tuy nhiên, họ vẫn loay hoay do chưa tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp, thiếu hệ thống phân phối và giá bán bất hợp lý.
Từ sản xuất theo dây chuyền hàng trăm ngàn bộ, nay phải điều chỉnh để mỗi mẫu mã có thể chỉ vài chục bộ, thậm chí vài bộ, nhưng giá thành phải hợp lý. Cùng với đó, mẫu mã phải đa dạng hơn và thay đổi thường xuyên theo thị hiếu người tiêu dùng mới có thể cạnh tranh được với các sản phẩm ngoại nhập đang tràn lan.
Ngay cả thương hiệu gỗ Đồng Kỵ - tỉnh Bắc Ninh với các sản phẩm gỗ nội thất đạt đến độ tinh xảo, mẫu mã đẹp và chất lượng tốt, nhưng khi quay trở lại thị trường nội địa cũng không ít vấp váp, xa lạ khi tiếp cận trở lại khách hàng trong nước.
Theo ông Lê Hồng Thắng, Phó Tổng giám đốc Công ty gỗ Đức Thành, vấn đề mà doanh nghiệp trong ngành phải đối mặt khi phát triển ở thị trường nội địa là chọn phân khúc và xây dựng hệ thống phân phối, trong khi các doanh nghiệp chỉ quen với việc gia công theo thiết kế của đối tác nước ngoài, không phải lo điều tra thị trường, lo bán sản phẩm.
Còn ông Võ Trường Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành, nhận định, thị trường trong nước tiềm năng nhưng phần lớn dân số tập trung ở nông thôn nên nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực mở rộng mạng lưới đại lý, cửa hàng.
Do vậy, việc xâm nhập và phát triển thị trường nội địa phải có kế hoạch dài hạn, doanh nghiệp phải biết đánh thức tiềm năng tiêu dùng của khách hàng. Chính sách hữu hiệu được các doanh nghiệp ứng dụng khi phát triển thị trường nội địa là “mưa dầm thấm lâu”, và điều cần nhất là việc mở rộng hệ thống phân phối.
Ngoài ra, quay về thị trường nội địa sẽ giúp doanh nghiệp gỗ đa dạng thị trường, tránh phụ thuộc vào một vài thị trường để hạn chế rủi ro, vì đơn hàng trong nước giá cao hơn hàng xuất khẩu.
Các chuyên gia đã chỉ ra 3 điểm yếu cơ bản của doanh nghiệp gỗ trong nước cần khắc phục nếu muốn giành lợi thế trên thị trường nội địa.
Thứ nhất, hiện cả nước có trên 3.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó trên 90% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ xét trên quy mô vốn đầu tư và mức độ sử dụng lao động nên khả năng làm chủ công nghệ, thiết bị sản xuất không cao. Đây cũng chính là nguyên nhân tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không thể đưa ra được những sản phẩm cao cấp để cạnh tranh với sản phẩm của các nước mà chấp nhận gia công cho nhiều doanh nghiệp nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI.
Thứ hai, ngành gỗ đang phải nhập tới 80% nguyên liệu. Một sản phẩm gỗ hoàn chỉnh nhưng chỉ tính riêng chi phí đầu vào như chi phí về lãi suất ngân hàng, chi phí vận chuyển và nhất là chi phí cho nguyên liệu đầu vào đã khiến giá thành sản phẩm bị đẩy lên rất cao. Đây là điểm yếu của các doanh nghiệp gỗ trong nước, khi mà những doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế về vốn, nguồn nguyên liệu. Thậm chí, do khó khăn về vốn nên nhiều doanh nghiệp trong nước còn phải ngưng hoạt động hoặc bán ngay nguyên liệu thô sau khi vừa nhập khẩu về để duy trì sản xuất.
Thứ ba, xét về năng lực, doanh nghiệp gỗ còn gặp khó khăn trong khâu bán hàng bởi sản phẩm xuất khẩu đã tuân theo quy trình sản xuất chuẩn và kèm theo đó là chuẩn về giá, khâu thị trường đã có người khác quyết định. Nếu vào thị trường nội địa họ lúng túng trong đánh giá nhu cầu, thận trọng ở cả bộ phận thiết kế, đánh giá mẫu mã và khả năng thương mại. Một nhà sản xuất phải đầu tư cho thiết kế, nghiên cứu thị trường và cả kênh bán bán lẻ có thể bị quá sức.
Đó là những nguyên nhân cơ bản khiến doanh nghiệp gỗ trong nước phải chấp nhận nhường phần lớn thị trường đồ gỗ nội địa với sức mua lên đến 3 tỷ USD/năm cho doanh nghiệp nước ngoài.
Và giải pháp khắc phục cho tình trạng trên là phải nhanh chóng liên kết theo chuỗi cung ứng từ nguồn nguyên liệu đến chế biến, thiết kế, phân phối sản phẩm gỗ.
Trước hết là cần chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu sẽ giúp tiết giảm chi phí đầu vào rất lớn. Các doanh nghiệp trồng và chế biến gỗ trong nước cần ngồi lại để tạo ra chuỗi liên kết giá trị có lợi cho các bên, thay cho nghịch lý doanh nghiệp trồng rừng bán gỗ dăm ra nước ngoài với giá thấp, còn doanh nghiệp chế biến gỗ phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ, kể cả ván dăm với giá cao.
Thay cho tư tưởng vừa sản xuất, thiết kế đến vừa bán hàng, là phát triển các doanh nghiệp chuyên về phân phối đồ gỗ. Đơn vị này sẽ đảm nhận việc nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã và đặt hàng cho doanh nghiệp sản xuất để phân phối. Đồng thời cần có sự liên kết giữa các
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần mạnh dạn đầu tư, thay đổi công nghệ, thiết bị sao cho phù hợp và chớp lấy thời cơ, khi những nước có thể mạnh về chế biến gỗ ở châu Âu như Đức, Italia, Pháp… đang bị thua lỗ, phải đóng cửa và rao bán nhà máy với thiết bị và công nghệ tiên tiến hiện nay. Đây là cơ hội để trang bị lại dây chuyền và thiết bị nhà máy vốn đã khá cũ và lạc hậu.
Một tín hiệu vui cho doanh nghiệp chế biến gỗ, nội thất trong nước là các nhà phân phối trước đây luôn nhập hàng ngoại, nay đã “săn hàng” trong nước.
Dù chưa ai rõ các doanh nghiệp gỗ trong nước mất bao lâu để chinh phục thị trường nội địa, song việc các doanh nghiệp lớn tham gia tích cực vào các hội chợ trong nước đang cho thấy quyết tâm rất lớn của các doanh nghiệp trong ngành. (Chinhphu.vn 17/12)đầu trang(
Lần đầu tiên tại Việt Nam đã cho ra đời những sản phẩm giả gỗ thân thiện với môi trường, giá thành bằng 1/3 giá nhập ngoại, mở ra triển vọng mới thay thế hàng nhập ngoại với tính năng ưu việt.
Sản phẩm trên nằm trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit trên cơ sở nhựa polylefin và bột gỗ ứng dụng làm vật liệu xây dựng, kiến trúc nội- ngoại thất” của tiến sỹ Nguyễn Vũ Giang, Viện Kỹ thuật nhiệt đới, Viện KH-CN Việt Nam.
TS. Giang cho biết, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu từ 3,5- 4 triệu m3 gỗ. Trong khi đó, phế liệu trong sản xuất chế biến gỗ chiếm tỷ trọng từ 45-63% thể tích nguyên liệu, phần lớn lượng phế liệu này dùng cho mục đích làm nhiên liệu, chất đốt ở trong nước. Ngoài ra số phế liệu này cũng được một số nhà máy chế biến gỗ đầu tư máy móc thiết bị sản xuất giấy, tuy nhiên chỉ một số loại gỗ phù hợp với ngành này nên hiện nay bột gỗ chủ yếu được xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Malaisya và các nước châu Âu khác với giá rẻ (khoảng 800.000/đồng/tấn).
“Việc tận dụng nguồn phế liệu để chế tạo vật liệu polyme compozit phục vụ trong các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, kiến trúc, giao thông, chế tạo ôtô, đóng tầu, nông nghiệp…thay thế các sản phẩm nhập ngoại có tiềm năng lớn trên phương diện khoa học, kinh tế song song với việc chống ô nhiễm môi trường và phát triển hệ sinh thái bền vững. Tuy nhiên, việc nghiên cứu biến tính bột gỗ một cách khoa học, bài bản hiện nay là rất cần thiết nhằm chế tạo được các vật liệu compozit bột gỗ- nhựa nhiệt dẻo có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của các ngành kỹ thuật và cuộc sống”, tiến sỹ Giang chia sẻ.
Cũng theo TS. Giang, hiện tại ở trong nước cũng có một số công trình sử dụng vật liệu này để chế tạo vật liệu xanh thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, do bột gỗ chưa được xử lý trước khi thử nghiệm nên khả năng tương tác với nền nhựa chưa được tốt, sản phẩm vẫn có độ hút nước cao. Đặc biệt, nếu sử dụng phương pháp truyền thống như trước đây sẽ có nhược điểm rất lớn là chỉ chế tạo được các vật liệu có hình dạng đơn giản, gia công bằng phương pháp ép nhiệt. Không thể chế tạo được các vật liệu có các hình dạng phức tạp như mặt cong, độ rỗng, hay vật liệu trang trí nội thất, chi tiết phụ tùng ô tô, thậm chí các vật liệu khác, như vỏ tivi….
Trước tình hình đó, đề tài sử dụng hướng nghiên cứu các hạt kích nano gia cường cho vật liệu compozit bột gỗ- nhựa nhiệt dẻo chưa được triển khai ở Việt Nam. Trên thế giới hướng nghiên cứu này cũng mới bắt đầu trong khoảng 2 năm gần đây. Nhưng, trong các nghiên cứu đó, việc đưa các hạt, sợi vô cơ kích thước nano mới chỉ dừng ở sự phối trộn cơ học, chưa hình thành các liên kết hóa học với vật liệu nền và bột gỗ phân tán nên hiệu quả gia cường chưa cao.
Đề tài do TS. Giang thực hiện được áp dụng và cải tiến trên công nghệ của Đức. Tuy nhiên, khác biệt của đề tài ở chỗ đã sử dụng thành công khâu mạch, vật liệu nano gia cường, phụ gia, nano silica…làm tăng tính kết dính giữa 2 pha của vật liệu là bột gỗ và nhựa bằng những chất biến tính bề mặt cho phép sản phẩm có thể điều chỉnh theo yêu cầu sử dụng. Cùng với việc lưới hóa nhựa nền, hình thành các liên kết ngang giữa các phân tử nhựa nền và bột gỗ làm tăng các tính chất của vật liệu compozit và độ bền thời tiết của vật liệu là yếu tố công nghệ quan trọng ảnh hưởng đến tính chất, chất lượng của compozit.
Đặc biệt, với phương pháp mới chế tạo vật liệu compozit có mặt chất khâu mạch sẽ cho phép tạo ra sản phẩm có những ưu điểm quý giá: cơ tính tốt, chịu ẩm, bền thời tiết. Việc đẩy cao hàm lượng bột gỗ, vốn là nguyên liệu rẻ tiền, nhờ sử dụng tác nhân silan kép trong quá trình biến tính trong compozit, là giải pháp hữu ích trong việc giảm giá thành sản phẩm để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm.
TS. Giang chia sẻ, loại vật liệu này có triển vọng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất trong nước và tiến tới xuất khẩu như làm tấm lát sàn, ốp tường, hàng rào... cho công trình xây dựng, phụ kiện chi tiết cho công nghiệp sản xuất ôtô, tàu hỏa thay thế hàng ngoại nhập (giá thành chỉ bằng 1/3 của các sản phẩm nhập ngoại đang bán trên thị trường hiện nay, khoảng 250-300 nghìn/m2, các sản phẩm của Nhật, Đức từ 50-70 USD).
Những sản phẩm này nếu được thương mại hóa sẽ có giá thành chỉ bằng 1/3 sản phẩm nhập ngoại với tính năng vượt trội
Về mặt xã hội, đề tài thành công là định hướng để mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho lao động cũng như tăng giá trị kinh tế của nền công nghiệp nội địa.
Hiện vật liệu này đã được chế tạo và thử nghiệm thành công tại Phòng thí nghiệm Hóa lý vật liệu phi kim loại, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bước đầu triển khai sản xuất quy mô công nghiệp tại nhà máy thuộc Công ty CP Xây dựng phát triển nhà và thương mại Hà Nội.
Ngoài ra, do vật liệu compozit nhựa-gỗ sử dụng bột gỗ phế thải công nghiệp từ các nhà máy chế biến gỗ có số lượng khá lớn (sản lượng trên 50.000 tấn/năm) nên giá thành rẻ, với quy trình công nghệ phù hơp sẽ hoàn toàn có thể triển khai sản xuất ở quy mô công nghiệp. Vì vậy việc sử dụng nguồn nguyên liệu bột gỗ dư thừa trong các nhà máy chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, đề tài góp phần tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, do đầu tư thiết bị không nhiều nên đó cũng là một yếu tố cạnh tranh trong việc xem xét giá thành sản phẩm cũng như thời gian thu hồi vốn của đơn vị sản xuất.
Được biết, hiện Việt Nam chưa có nhà máy sản xuất các sản phẩm compozit loại này, do đó, triển vọng nhân rộng kết quả của đề tài là rất cao, ứng dụng sản xuất các sản phẩm cho ngành điện- điện tử (vỏ các thiết bị điện –điện tử), công trình giao thông,…
“Hy vọng những sản phẩm sản xuất thành công từ Phòng thí nghiệm sẽ được ứng dụng trên quy mô sản thử nghiệm ra các sản phẩm cụ thể trên thị trường bao gồm cả giá trị thẩm mỹ, giá thành vật liệu, độ bền theo tiêu chuẩn của vật liệu xây dựng”, Chủ nhiệm đề tài chia sẻ.
Đồng thời, TS. Giang cũng bày tỏ mong muốn Bộ KH&CN tạo điều kiện để đề tài được tiếp tục phát triển theo hướng một dự án sản xuất, kết hợp với doanh nghiệp để đưa sản phẩm thương mại hóa trên thị trường trong nước và quốc tế.
Với nhứng thành công trên, đề tài đã được đăng ký sáng chế, được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn tháng 4/2012. (Đất Việt 17/12)đầu trang(
Đề nghị thành lập trung tâm cứu hộ vùng, miền để đáp ứng tối đa việc cứu hộ động vật hoang dã trong cả nước đã có “tuổi thọ” mười năm nhưng vẫn chưa thành hiện thực. Hiện tại, phần lớn các vụ cứu hộ đều dồn về trung tâm cứu hộ của Hà Nội, đó là Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng.
Sau sự kiện bò tót đi lạc vào sân bay Phú Bài ngày 24-7-2012 đã bị lực lượng chức năng khống chế bắn hạ bằng thuốc gây mê và chết sau đó, dư luận cho rằng trình độ cứu hộ còn yếu kém, cơ sở cứu hộ thiếu cho dù nguyên nhân chết được công bố do con bò tót có bệnh từ trước.
Sự yếu kém được ông Đỗ Quang Tùng, Phó Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam (cơ quan của Việt Nam thực hiện Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT) thừa nhận, Việt Nam vẫn chưa có lực lượng chuyên trách về cứu hộ động vật hoang dã.
Hiện nay, các bác sĩ thú y ở Việt Nam chủ yếu được đào tạo từ các trường đại học trong nước nên chỉ có chuyên môn ở vài loài gia cầm (gà, vịt...) hay gia súc (heo, bò, trâu...), hạn chế trong việc cứu hộ động vật hoang dã. Cũng theo ông Tùng, Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam mười năm nay lên đề án xây dựng các trung tâm cứu hộ hiện đại ở các vùng, miền để đáp ứng điều kiện sinh thái phù hợp cho các động vật hoang dã được cứu hộ nhưng hiện nay vẫn chưa được duyệt.
Hiện chỉ có một nơi được gọi là trung tâm cứu hộ động vật hoang dã tổng hợp, đó là Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng đóng tại xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Các điểm cứu hộ khác trên cả nước chỉ chuyên sâu cứu hộ một số loài cụ thể như gấu, rùa, cầy vằn...
Đây là trung tâm cứu hộ của Hà Nội nhưng lại có chức năng cứu hộ động vật hoang dã trên cả nước. Và đây cũng là đơn vị duy nhất trong cả nước thực hiện chức năng cứu hộ, bảo tồn, nhân nuôi sinh sản, tổ chức nghiên cứu khoa học, tham quan, quan hệ quốc tế “UBND TP Hà Nội thành lập trung tâm nhưng hoạt động mang tính quốc gia. Bất cứ địa phương nào trong cả nước gọi cần cứu hộ là chúng tôi lên đường ngay, bất kể giờ nào, lúc nào chứ không phân biệt tỉnh nào cả”, ông Ngô Bá Oanh, Giám đốc trung tâm cho biết.
Với chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận động vật hoang dã do các cơ quan chức năng bắt giữ, tịch thu trong quá trình săn bắn, buôn bán, vận chuyển trái phép để cứu hộ và sau cứu hộ thả về môi trường tự nhiên, từ khi thành lập (1996) đến nay, trung tâm đã tiếp nhận 635 vụ với gần 100 loài, trong đó có nhiều loài thuộc nhóm IB và IIB là loại động vật hoang dã quí hiếm.
Trong đó, đáng chú ý là tiếp nhận các vụ buôn bán, vận chuyển hổ trái phép như đàn hổ bốn con do kiểm lâm Đồng Nai bắt tại Trung tâm vườn xoài xã Nam Thành vào tháng 12-2006 và vụ hai cá thể hổ do cảnh sát môi trường Hà Nội bắt vào tháng 1-2008. Gần đây nhất, ngày 5-9-2012, trung tâm tiếp nhận bốn cá thể hổ do Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh bắt khi đối tượng đang vận chuyển trên tuyến đường quốc lộ 8A, thuộc địa bàn xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, số hổ được cứu hộ và nuôi bảo tồn tại trung tâm đã có tổng cộng 19 cá thể hổ, trong đó đã nuôi sinh sản thành công hai cá thể hổ mẹ, sinh được 12 cá thể hổ con.
Sau cứu hộ, trung tâm lại tổ chức thả về môi trường tự nhiên tại nhiều khu vực rừng trong cả nước có điều kiện tự nhiên phù hợp với các loài như các Vườn quốc gia Cát Tiên, Ba Bể, Cát Bà và Vườn quốc gia Bù Gia Mập, khu rừng đặc dụng Hương Sơn... Ngoài ra, trung tâm còn chuyển giao cho các cơ quan nghiên cứu khoa học phục vụ nghiên cứu, các khu du lịch, liên đoàn xiếc.
Kể về chuyện nghề, Giám đốc Ngô Bá Oanh đầy phấn khởi khi nói về những chú hổ con ngày đầu về trung tâm. “Các cá thể hổ con những ngày đầu vào trung tâm được cứu hộ bằng những bình sữa bột, đúng như của em bé, và chỉ ăn được thức ăn khác khi đã được tám tháng tuổi. Thức ăn, dụng cụ cũng phải tiệt trùng, để tránh bị đau bụng. Chúng quấn quýt người nuôi như mẹ con, bế thì nó cọ vào nách, đi đâu nó theo từng bước”.
Khi hổ mẹ sinh con, đích thân ông Oanh là người túc trực đỡ đẻ, không ai được phép vào giờ ấy vì con hổ lúc sinh cần một người gần gũi. Dường như ông giám đốc trung tâm rất có uy với đàn hổ. Khi chúng tôi xuất hiện, một con hổ đực, mà theo ông Oanh nói là ba tạ, gầm lên động cả một vùng khiến ai cũng giật bắn người suýt bỏ chạy. Ông Oanh chỉ cần mắng nhẹ vài câu, con hổ đang hung tợn là thế, lập tức ngoan ngoãn đi vào ô nằm.
Tuy đã khá hài lòng với công tác cứu hộ những năm qua, nhưng ông Oanh vẫn băn khoăn với thực tế chưa có đủ điều kiện để nuôi nhốt bán hoang dã trước khi thả động vật về thiên nhiên. Đây là khâu hết sức quan trọng để động vật quen dần với môi trường tự nhiên sau một thời gian dài bị nuôi nhốt. Đã từng có những vụ trung tâm “giữ hộ” động vật hoang dã trong những vụ án hình sự.
Nhưng vụ án qua nhiều cấp, cũng phải mất hai, ba năm trời, thế là khi án tuyên thì động vật đã bị chết do bị chậm thả về môi trường tự nhiên. Băn khoăn ấy của những người làm công tác cứu hộ tại trung tâm đã được “cởi nút” khi tháng 11 vừa qua, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt quy hoạch chi tiết mở rộng Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã.
Theo đó, trên diện tích khoảng 12 ha, sẽ có hơn 87 nghìn m2 đất đồi núi rừng kết hợp nuôi nhốt động vật hoang dã. Quy hoạch gắn với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã (cứu hộ tại chỗ, nuôi thả bán hoang dã các động vật hoang dã); phát triển khu bảo tồn động vật hoang dã (nuôi giữ, phát triển các loài động vật hoang dã trong nước và ngoài nước phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên, tham gia học tập) gắn kết hài hòa với khu cây xanh công viên mặt nước; bảo vệ môi trường sinh thái rừng hiện có, tạo lập môi trường thích hợp cho các động vật, thực vật tự nhiên phát triển.
Bên cạnh đó, trung tâm sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có điều kiện nghiên cứu, đầu tư gìn giữ, phát triển môi trường tự nhiên, rừng và các loài động thực vật hoang dã theo quy định; xây dựng công trình, ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ cứu hộ, hỗ trợ nuôi, phòng, chống dịch bệnh động vật bảo đảm ổn định.
Như vậy, trong khi mơ ước mô hình cứu hộ vùng chưa thành hiện thực thì việc mở rộng trung tâm cứu hộ Sóc Sơn chắc chắn sẽ đáp ứng tốt hơn việc cứu hộ động vật hoang dã cho cả nước. “Chúng tôi luôn coi công tác cứu hộ là góp phần bảo vệ cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường bền vững nên không quản ngại bất cứ khó khăn nào”, ông Oanh chia sẻ. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
Người viết bài này từng tiếp xúc với một chủ cửa hàng bán thịt chó tại Hà Tĩnh và được người này hé lộ, xương chó không vứt đi mà được ngâm hàng tháng trời dưới mương nước rồi gom đem bán cho những chủ nấu cao. Nấu cao gì thì ông biết nhưng một điều chắc chắn là chẳng ai thừa nhận nấu cao chó, bán cao chó...
Trào lưu uống mật gấu chữa bệnh lắng xuống thì người dân lại rỉ tai nhau mua cao hổ xịn chữa các bệnh xương khớp hay dùng sừng tê giác để “trị” bệnh ung thư. Các tay buôn thường mời chào kiểu lấp lửng, họ có chung nhau nấu với ai đó hổ “xịn” để người mua không nghi ngờ. Đã từng có những người bỏ hàng chục triệu để mua một lạng cao hổ mà kết quả chữa bệnh chẳng rõ công hiệu đến đâu.
Có lẽ vì vậy mà “ông ba mươi” xuống núi liên tục. Nói tới hổ là nghĩ tới chốn thâm sơn cùng cốc nhưng nay hổ hạ sơn, về đồng bằng, sống chung trong các khu dân cư và được nuôi kiểu tăng trọng.
Cách đây năm năm, báo chí loan tin gia đình ông Nguyễn Mậu Oai ở Thọ Xuân, Thanh Hóa nuôi nhốt một đàn hổ lên tới mười con ngay trong tư gia. Tại địa bàn này, cùng thời điểm, lực lượng chức năng phát hiện trong nhà một cán bộ chính sách xã Xuân Tín cũng có tới năm “ông ba mươi”, trọng lượng ba, bốn mươi ký nuôi trong vườn nhà.
Sau nhiều năm, kể từ khi vụ nuôi nhốt trái phép loại động vật hoang dã quý hiếm (thuộc nhóm IB) có quy mô lớn bị phát hiện, tình trạng trên có chiều hướng gia tăng. Tại một số nơi ở Nghệ An, việc nuôi nhốt hổ “bùng” lên giống như phong trào “trồng rau, nuôi lợn” thời bao cấp.
Vào cuối tháng 10 vừa qua, các ban, ngành chức năng huyện Yên Thành và cả tỉnh Nghệ An nháo nhào vào cuộc kiểm tra, xác minh khi được tin một số cá thể hổ đang được nuôi nhốt thành đàn (bốn con) ngay cạnh phòng khách của một gia đình ở xã Đô Thành, suốt hơn năm trời mà không hề bị ai phát hiện.
Tiếp đó, ngày 6-11-2012, Công an huyện Diễn Châu (Nghệ An) đã khám xét và phát hiện thêm hai cá thể hổ nặng chừng 70kg được nuôi giữ trái phép tại nhà riêng của ông Nguyễn Văn Sáng, trú ở xóm 5 xã Diễn Quảng. Qua xác minh, công an huyện khẳng định, chuồng hổ nuôi nhốt trong nhà ông Sáng có liên quan đến một hộ nuôi hổ trái phép ở “vùng hổ” Đô Thành (Yên Thành, Nghệ An).
Trả lời báo chí, một số hộ đã không ngần ngại nói rằng, việc nuôi hổ giống như làm “mô hình kinh tế” và nó có thể giúp họ đổi đời một cách nhanh chóng. Vì vậy, ban đầu chỉ một nhà nuôi, sau đó nhận thấy kết quả siêu lợi nhuận, nhiều gia đình ở đây đã học theo “mô hình” này đi mua con giống, tập “tăng gia”. Được biết, một con hổ giống (ba kg) được mua với giá 150-180 triệu đồng, sau một năm có thể đạt tới trọng lượng từ 130-170 kg, giá hổ trưởng thành khi xuất chuồng lên tới năm triệu đồng/kg. Món lợi này khiến nhiều người mơ ước, và ngày càng muốn lao vào.
Hiện tác dụng của các loại sản phẩm từ động vật hoang dã như cao hổ, sừng tê giác... y học chưa kiểm chứng nhưng theo các nhà chuyên môn, nếu có, thì việc nuôi hổ kiểu tăng trọng như nuôi lợn như tại Nghệ An cũng chẳng có hiệu quả gì. Một tiết lộ của một chuyên gia giám định các vụ buôn bán sản phẩm từ động vật hoang dã khiến không ít người phải giật mình, đó là có tới 80% là xương trâu, bò trong các vụ nghi nấu cao hổ. “Như vụ nấu cao hổ ở Thanh Xuân bị bắt gần đây khi giám định chỉ có một vài mẩu xương sườn hổ, còn lại toàn bộ là xương trâu. Trường hợp này, cơ quan chức năng chỉ phạt hành vi gây ô nhiễm môi trường mà thôi”, vị này cho biết.
Giám đốc một trung tâm cứu hộ động vật hoang dã thì cho biết, rượu ngâm rắn mà trung tâm tiếp nhận trong các vụ cứu hộ chủ yếu ngâm với phoóc-môn để giữ cho con rắn được đẹp và lâu!
Còn với sừng tê giác, ông Đỗ Quang Tùng, Phó Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam nói, chắc chắn rất ít người dân Việt Nam đã nhìn thấy sừng tê giác thật, nên sẽ bị lừa. “Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm thế mà nhìn bằng mắt thường còn khó phân biệt thật giả. Chúng tôi đã từng phục bắt các vụ buôn bán sừng tê nhưng kết quả toàn là sừng trâu nước châu Phi. Tôi khẳng định ở Việt Nam phần lớn là sừng tê giác giả”, ông Tùng khẳng định. Nhân chuyện sừng tê giác giả, ông Tùng giãi bày chuyện Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) xác định Việt Nam là quốc gia tiêu thụ sừng tê giác với số lượng lớn nhất là không đúng.
Theo ông Tùng, cách họ điều tra đi vào Bệnh viện K hỏi người nhà các bệnh nhân, nhiều người muốn dùng sừng tê giác để chữa bệnh và kết luận Việt Nam là thị trường tiêu thụ lớn là không đúng. “Với giá hàng chục nghìn đô-la thì người dân Việt Nam lấy đâu ra tiền mà mua sừng tê giác!”, ông Tùng nhận định. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
Tỉnh Bình Thuận đã huy động các cấp và lực lượng chức năng tích cực triển khai công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống phá rừng trên địa bàn. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các khu vực giáp ranh với hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai. Nguy hiểm hơn, tình trạng chống người thi hành công vụ cũng tăng. Điều này cho thấy lâm tặc ngày càng manh động và coi thường pháp luật.
Theo Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận, tình trạng phá rừng tại địa bàn giáp ranh vẫn diễn ra phức tạp. Tính đến tháng 11/2012, lực lượng bảo vệ rừng trên toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý vi phạm 1.162 vụ phá rừng, tịch thu 1.200 m3 gỗ các loại. Điểm nóng nhất về tình trạng phá rừng là tại huyện Bắc Bình.
Ông Võ Thái Hòa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình, cho biết: rừng Bắc Bình có chiều dài vùng giáp ranh với huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) gần 40 km, chỉ cách nhau dãy núi, nhưng phía Đức Trọng chỉ là rừng chồi hoặc rừng thông và rẫy của người dân. Còn phía Bắc Bình, nhờ bảo vệ rừng tốt trong nhiều năm qua, nên rừng vẫn còn phong phú với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm. Vì vậy, rừng ở Bắc Bình ngày đêm bị lâm tặc rình rập và tàn phá bất cứ khi nào có thể.
Bên cạnh đó, tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép cũng diễn ra khá phức tạp, chủ yếu ở các huyện giáp ranh với tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng như Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Thuận Bắc. Tại đây, hàng trăm hộ dân đã tự ý vào rừng phát, đốt trên diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Trong năm 2012, các đơn vị chủ rừng đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra truy quét và phá bỏ cây trồng trái phép trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích trên 200 ha.
Đặc biệt, tình trạng chống người thi hành công vụ của lâm tặc ngày càng nhiều. Lâm tặc thường hoạt động thành băng nhóm, hung hãn, liều lĩnh và bất chấp pháp luật. Trong năm qua xảy ra 13 vụ chống người thi hành công vụ tại các huyện giáp ranh của tỉnh.
Theo Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận, tình hình mua bán, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn còn nhiều diễn biến phức tạp, nhất là các khu vực rừng giáp ranh. Tỉnh Bình Thuận đã thành lập các Tổ kiểm tra liên ngành gồm: công an, quân sự huyện, Hạt Kiểm lâm để tổ chức truy quét chống phá rừng. Ngoài ra, Bình Thuận cũng đang tăng cường phối hợp các tỉnh Ninh Thuận, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu trong công tác tuần tra giữ rừng giáp ranh.
Hiện nay, huyện Bắc Bình (Bình Thuận) và huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) đã phối hợp thành lập đoàn kiểm tra bảo vệ rừng tại các khu vực giáp ranh. Công an huyện Đức Trọng đang tiến hành nắm lại các cơ sở chế biến gỗ, đối tượng và số lượng xe cải tiến chuyên mua bán, khai thác lâm sản trái phép để tổ chức học tập, ký cam kết. Song song đó, Hạt Kiểm lâm Bắc Bình sẽ tăng cường tuần tra, truy quét vận chuyển gỗ trái phép tại các tuyến đường rừng, đường giao thông liên xã. (Tin Tức 18/12; VietnamPlus.vn 18/12)đầu trang(
Rừng giao cho lâm trường, doanh nghiệp bảo vệ cũng bị phá. Rừng giao về tận hộ gia đình rồi cũng mất. Đắc Lắc nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp nhưng rừng vẫn chảy máu từng ngày.
Lý giải nguyên nhân mất rừng, một "mẫu số chung" là do người dân phá rừng. Ông Y Rít Buôn Yă- Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắc Lắc, cho biết: Nguyên nhân trực tiếp phá rừng chủ yếu do người dân lấn chiếm đất, áp lực đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và dân di cư tự do.
Tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số, dân kinh tế mới diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là các huyện như Krông Năng, Buôn Đôn, Ea Sup, Cư M'gar... dẫn đến người dân vào tranh chấp đất đai ở các vùng quy hoạch định canh, định cư, triển khai các dự án sản xuất nông lâm nghiệp. Giá tiêu tăng cao khiến người dân đổ xô trồng tiêu, kéo theo nhu cầu trụ tiêu tăng lên. Ở các huyện Buôn Đôn, Ea Sup, Ea H'leo, Cư M'gar... người dân vào rừng sâu săn lùng căm xe, cà chít xẻ dọc thành nhiều trụ, mỗi trụ bán từ 180-250 nghìn đồng, nếu chuyển đi vùng khác giá lên đến 300 nghìn đồng. Những yếu tố trên gây khó khăn trong công tác bảo vệ rừng ở Đắc Lắc.
Thế nên, diện tích rừng bị phá rất lớn nhưng số vụ việc được đưa ra ánh sáng chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ. Tháng 1-2012, UBND tỉnh Đắk Lắk có Thông báo số 19/TB-UB giao CA Đắc Lắc chủ trì điều tra xử lý việc phá rừng trong các vùng thực hiện dự án trồng cao su, cải tạo trồng rừng. Tuy nhiên, theo báo cáo của CA tỉnh, hầu hết các vụ phá rừng không xác định được đối tượng chặt phá và không có đủ căn cứ buộc trách nhiệm chủ dự án trong việc để mất rừng.
Đắc Lắc tổ chức nhiều đợt kiểm tra, đình chỉ nhiều xưởng cưa lâm sản tại hai huyện Buôn Đôn và Ea Sup. Tại H. Buôn Đôn, 3 chốt chặn liên ngành được thành lập để ngăn chặn vận chuyển gỗ từ huyện Ea Sup và Buôn Đôn về TP Buôn Ma Thuột... Tuy vậy, phá rừng vẫn diễn ra hằng ngày tại Đắc Lắc, các biện pháp giữ rừng vẫn không phát huy được tác dụng.
Trước tình trạng phá rừng không có hồi kết, ông Y Rít kiến nghị UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các huyện, thành phố nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 ở địa phương. Đồng thời rà soát các cơ sở chế biến lâm sản, đẩy nhanh quy hoạch cụm điểm công nghiệp để di dời các xưởng chế biến lâm sản, kiên quyết thu hồi các phương tiện vận chuyển, cưa xẻ lâm sản trái phép. Trong đó, quan trọng hơn hết là đề nghị cơ quan CA phối hợp với kiểm lâm và UBND các xã tập trung xử lý các vụ vi phạm phức tạp, nghiêm trọng pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng; điều tra xử lý các vụ vi phạm đã khởi tố hình sự và các vụ chống đối người thi hành công vụ.
Trong cuộc họp mới đây, ông Trần Việt Hùng, Phó BCĐ Tây Nguyên, cho biết: Trước tình hình phá rừng trầm trọng và không có dấu hiệu suy giảm tại Tây Nguyên, BCĐ Tây Nguyên đề nghị thành lập một bộ phận trực tiếp chỉ đạo bảo vệ rừng đặt tại Tây Nguyên, đồng thời nghiên cứu thành lập một số đơn vị đặc nhiệm chuyên xử lý các điểm nóng phá rừng, vi phạm lâm luật.
BCĐ cũng đề nghị Thủ tướng phê duyệt dự án tổng thể điều tra, kiểm kê rừng tại Tây Nguyên trong năm 2013; xem xét chỉ đạo tạm dừng khai thác rừng tự nhiên từ năm 2013 (trừ những đơn vị có chứng chỉ rừng bền vững do quốc tế cấp). Thậm chí, đề nghị sử dụng lực lượng quân đội để bảo vệ rừng.
Rừng ở Đắc Lắc vẫn chảy máu từng ngày mặc cho nỗ lực của các ngành chức năng. Đã đến lúc, Đắc Lắc cần nhìn lại các biện pháp giữ rừng, để đánh giá thực sự các biện pháp này đã giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ra phá rừng, có thực sự mang lại hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ rừng. (Công An Đà Nẵng 17/12)đầu trang(
Nạn khai thác khoáng sản trái phép ở rừng đầu nguồn Khánh Vĩnh diễn ra từ cuối năm 2011. Hệ lụy là hàng trăm ha rừng đầu nguồn ở hai xã Khánh Thành và Khánh Trung bị tàn phá, đào xới. Nguồn nước sinh hoạt của người dân phía hạ du sông Khế, sông Cầu bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Đáng nói, dù các ngành chức năng huyện đã nhiều lần tổ chức nhiều đợt truy quét nhưng sau đó, tình trạng trên lại tái diễn và trở nên phức tạp.
Hiện nay, huyện Khánh Vĩnh tiếp tục chỉ đạo triển khai công tác truy quét, chốt chặn nhằm ngăn chặn “khoáng tặc”. Công an huyện đã lập 3 tổ tuần tra trên nhiều tuyến đường.
Ông Nguyễn Ngọc Hoa, Chánh văn phòng UBND huyện Khánh Vĩnh cho biết, hiện nay huyện đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc khống chế tình hình ở bãi khai thác khoáng sản trái phép. Theo ông Hoa, việc đẩy đuổi và chốt chặn như thế chỉ là tạm thời, bởi thực tế thời gian quan cho thấty việc này chưa thực sự mang lại hiệu quả. Cụ thể là sau nhiều lần truy quét, tình hình chỉ tạm lắng được một thơi gian, sau đó các đối tượng lại đi băng đường mòn hoặc cắt rừng tránh các trạm gác để vào bãi quặng… (Bảo Vệ Pháp Luật 18/12)đầu trang(
Ngày 14.12, ông Lê Văn Bé - Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên - cho biết Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh này đã ra quyết định kỷ luật giáng chức từ Hạt trưởng xuống Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm H.Tuy An đối với ông Tạ Ngọc Khánh.
Ngoài ra, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên cũng ra quyết định kỷ luật là hạ bậc lương đối với ông Bùi Ngọc Thạch, cán bộ kỹ thuật kiêm kiểm lâm địa bàn xã An Xuân, vì đã không thực hiện tốt trách nhiệm công chức kiểm lâm địa bàn, qua đó để xảy ra tình trạng cất giữ gỗ trái phép trên địa bàn xã; còn ông Trần Khoa, cán bộ pháp chế, tổ trưởng tổ cơ động Hạt kiểm lâm H.Tuy An, cũng bị kỷ luật với hình thức khiển trách do thiếu trách nhiệm trong công tác tham mưu cho lãnh đạo Hạt kiểm lâm huyện trong việc kiểm tra, kiểm soát trên địa bàn quản lý. (Thanh Niên 15/12; Pháp Luật Việt Nam 18/12)đầu trang(
Tây Nguyên được xác định là khu vực có diện tích rừng già trù phú nhất cả nước, độ che phủ rừng trước năm 1995 luôn đạt trên 36%. Tuy nhiên, gần đây, diện tích rừng đầu nguồn bị tàn phá đến mức báo động; hệ thống các công trình thuỷ lợi thì xuống cấp nghiêm trọng, không có khả năng chứ và giữ nguồn nước, sông suối bị đào khoét nham nhở đã khiến cho môi trường ngày càng thay đổi theo hướng xấu đi.
Chỉ tính từ năm 2006 đến nay, đã có trên 800.000 ha rừng ở khu vực Tây Nguyên bị tàn phá; gần 2.000 con sông, suối bị băm nát, hàng trăm công trình thuỷ lợi bị xuống cấp hoặc bỏ hoang.
Như ở Đắk Lắk, từ năm 2008 đến nay, hơn 200.000 ha rừng bị xoá sổ. Ngoài việc lâm tặc phá rừng, tại tỉnh Đắk Lắk còn có nhiều doanh nghiệp lập dự án trồng rừng nhưng trồng thì ít, mà tận thu lâm sản, sang nhượng, mua bán dự án, chiếm giữ đất rừng là chính. Đây cũng là nguyên nhân khiến rừng ở Đắk Lắk ngày càng nghèo kiệt, khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn.
Rừng ở Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum cũng chung số phận. Riêng tại Lâm Đồng, thời tiết diễn biến phức tạp còn thêm nguyên nhân quy hoạch đô thị ồ ạt, thiếu khoa học khiến cho rừng hiếm dần trong phố.
Riêng trong năm 2012, Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên cho biết: Từ đầu mùa mưa đến nay, lượng mưa tại các địa phương chỉ đạt từ 30 – 60% so với các năm. Mực nước trên các con sống cũng xuống thấp gấp từ 0,5 - gần 2m so với trung bình năm, khí hậu lạnh, có nơi xuống thấp dưới 10 độ C. Có những tháng trong năm thời tiết lại đột ngột nắng nóng khiến xảy ra tình trạng khô hạn cho hoa màu.
Theo ông Nguyễn Thành Nam, cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk, chống lại biến đổ khí hậu trong giai đoạn hiện nay ở khu vực Tây Nguyên là nhiệm vụ rất nan giải. Cần phân ra từng giai đoạn, từng nhiệm vụ và thời gian, kế hoạch hoàn thành cụ thể chứ tránh làm chung chung, ồ ạt. Một mặt cần tăng cường công tác đo đạc khí tượng thuỷ văn, lập thêm các trạm để khai thác, quản lý chặt tình hình khí tượng thuỷ văn toàn khu vực; thiết lập nhiều hơn các khu rừng phòng hộ đầu nguồn, chú trọng bảo vê môi trường sunh tgái và có kế hoạch sử dụng nguồn nước hợp lý…
Cũng theo ông Nam, chưa thể ngăn chặn được cảnh tàn sát rừng, nên trước tiên, các tỉnh Tây Nguyên cần nhân rộng các mô hình điểm về việc giao khoán rừng cho các hộ dân địa phương. Gắn chặt họ vào nhiệm vụ bảo vê rừng – đó là bảo vệ mô trường sống của chính mình. Từ đó, mô trường và khí hậu sẽ được cải thiện theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân cũng sẽ khấm khá lên từ kinh tế rừng.
Bên cạnh đó, cần phải tăng cường tuyên truyền cho người dân, công động hiểu tầm quan trọng và vai trò của đa dạng sinh học. Chính các hệ sinh thái tự nhiên sẽ giúp người dân thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai địch hoạ. Khuyến khích nông dân trồng thêm cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng trong khuôn viên đất ở, trong vườn cà phê để hạn chế thoát hơi nước, xói mòn và rửa trôi đất. (Lao Động Xã Hội 16/12)đầu trang(
17-12, tin từ lãnh đạo Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn) cho biết: Liên quan đến việc khai thác trái phép 15 cây gỗ nghiến cổ thụ mới được phát hiện tại Vườn quốc gia Ba Bể, đến nay cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố, bắt tạm giam bảy đối tượng.
Bảy đối tượng bị bắt tạm giam gồm: Triệu Kim Phượng, sinh năm 1962; Triệu Kim Thắng, sinh năm 1969; Lý Kim Tiến, sinh năm 1970; Triệu Long Thọ, sinh năm 1992, Đặng Tòn Khánh, sinh năm 1991; Đặng Dư Tiến, sinh năm 1986 và Đặng Dương Hoa, sinh năm 1980 đều cư trú tại bản Lồm, xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn - giáp với Vườn quốc gia Ba Bể.
Bước đầu, bảy đối tượng nêu trên đã khai nhận, vào đầu tháng 11-2012, chúng đã dùng cưa lốc vào các tiểu khu 83, cột mốc 50 thuộc rừng đặc dụng Vườn quốc gia Ba Bể cưa hạ 15 cây nghiến, tổng số gần 65 khối. Sau khi cưa hạ, chúng đã xẻ được hơn 30 cục thớt nghiến đưa đi tiêu thụ.
Trước đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể cũng đã điều tra, làm rõ một vụ án khác chặt hạ 32 cây gỗ nghiến tại Vườn quốc gia Ba Bể trên địa phận xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể, khởi tố và bắt tạm giam bốn đối tượng.
Việc cơ quan cảnh sát điều tra thời gian gần đây khởi tố, bắt tạm giam hàng loạt đối tượng khai thác gỗ nghiến trái phép, lực lượng kiểm lâm thường xuyên tuần tra, truy quét, chốt chặn tại các cửa ngõ ra vào Vườn quốc gia Ba Bể thì tình hình khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép trên địa bàn các huyện Chợ Đồn, Ba Bể đã lắng xuống. (Báo Bắc Kạn 18/12)đầu trang(
Gác lại sau lưng quá khứ nhúng chàm, gần một ngàn người từng là lâm tặc hoặc con em của lâm tặc đã hoàn lương mười năm nay, kể từ khi vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng trở thành di sản thiên nhiên thế giới.
Mười năm làm người lương thiện, rửa tay gác kiếm, nhưng nay con đường phía trước của họ lại trắc trở khi có những quy định trái khoáy từ trung tâm du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng.
Năm 2003, khi vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng trở thành di sản thiên nhiên thế giới, điều người ta quan ngại nhất là ở xã Sơn Trạch (huyện Bố Trạch, Quảng Bình) vẫn còn hàng trăm lâm tặc. Làm sao để lực lượng này không ở thế đối đầu, tiếp tục chặt phá rừng? Con đường tốt nhất là tạo công ăn việc làm ổn định cho họ, giúp họ giã từ dao rựa, cưa máy.
Chính quyền địa phương từ huyện đến tỉnh đã đưa ra chủ trương xem việc tạo kế sinh nhai cho lực lượng này là ưu tiên hàng đầu, bởi “một lâm tặc có việc làm sẽ giảm thiểu rất nhiều những tác động phá rừng”. Thời điểm đó, lượng du khách đến vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng ngày một nhiều và các hộ dân có người đi rừng được vận động đóng thuyền chở khách tham quan hang động.
Nguyễn Văn Hiền, lâm tặc đầu tiên rửa tay gác kiếm kể: “Lúc đầu nghĩ mình vai u thịt bắp mà đi phục vụ khách du lịch, thì họ cười chết. Nhưng đi rừng cực khổ, thấy kiểm lâm phải trốn lủi, đi được vác gỗ mô cũng nơm nớp sợ bắt, không bắt thì bị làm luật. Rứa là tui liều đóng thuyền chở khách du lịch, từ giã kiếp lâm tặc mười năm rồi”.
Ông Hoàng Văn Biền, từng là đại ca lâm tặc, nhớ lại: “Lúc đầu do ăn nói bỗ bã với nhau trong rừng quen rồi, nên nói với khách khứa cứ cộc lốc, ưng chi nói nấy, có khi văng tục. Nhưng dần dà, bọn tui thấy cần đổi thay cách nói năng rừng rú thành “dạ”, “thưa” lịch sự để làm vừa lòng khách”. Và Biền đã cùng vợ làm được nhiều chuyện cảm động với du khách mỗi khi họ bước lên thuyền của đôi vợ chồng một thời bức tử những cánh rừng.
Khách lên thuyền, Biền mời ngồi, vợ đon đả mời nước, hướng dẫn từng người bỏ rác vào nơi quy định trên thuyền để giữ sạch sông Son và hang động. Nay con cái có bốn đứa, Biền đều cho đi học cả. Theo Biền, nếu còn làm kiếp lâm tặc, chắc mấy đứa con cũng theo cha vào rừng phá rú với cuộc đời mù mịt trước mắt.
Thợ ảnh Nguyễn Văn Thắng nói: “Em trước đây đi khắp rừng Phong Nha để kiếm gỗ sưa, gỗ mun, nhưng không có ăn, được đồng nào lại xào đồng đó. Gặp ai cũng thẹn về kiếp lâm tặc phá rừng, rồi người ta vận động vào đội chụp ảnh. Bán bò mua cái máy ảnh cơ, đi học chụp để làm thợ hai tháng, được kết nạp vô đội thợ ảnh hang động, mừng lắm”. Từ chỗ không biết gì về máy móc, ảnh đẹp, nay Thắng đã biết phân biệt được tốc độ, khẩu độ chụp ánh sáng tối phía trong hang... làm du khách hài lòng.
Không chỉ nam giới mà nữ nhi sơn cước theo chồng bao chuyến phá rừng cấm cũng từ bỏ kiếp lâm tặc. Chị Nguyễn Thị Liễu, ở thôn Trằm Mé, xã Sơn Trạch nói: “Tui nhờ bỏ nghề rừng, đi chụp ảnh mà con cái có cái chữ, chứ phá rừng thất đức lắm... May được vô đội ảnh mà biết làm ăn đàng hoàng”.
Chúng tôi đi về phía núi xã Sơn Trạch, tiếp xúc với ai ở đội thuyền và đội ảnh phục vụ du khách, họ đều nói bỏ kiếp lâm tặc là điều trước đây không nghĩ đến. Nay, sau mười năm làm người lương thiện, với họ đó là cuộc hoàn lương đường hoàng mà ai cũng mong muốn. Người đời không còn nhìn họ với con mắt ác cảm như trước đây nữa.
Với người dân miền núi, thu nhập từ chèo thuyền và chụp ảnh phục vụ du khách không quá mười triệu mỗi năm, nhưng họ có việc làm ổn định và có thời gian tăng gia thêm nhiều thứ để kiếm miếng cơm manh áo, nuôi con cái ăn học. Ấy là tính nhân văn của chủ trương tạo kế sinh nhai cho lâm tặc mà chính quyền Quảng Bình đã thực hiện.
Đùng một cái, trung tâm du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng ban hành quy định phải đóng thuyền nhôm theo quy cách vịnh Hạ Long với giá 170 triệu đồng, không được sử dụng thuyền 70 triệu đồng. Chưa hết, trung tâm này đưa một doanh nghiệp Hà Nội vào đóng thuyền nhôm thay thế thuyền gỗ, giá mỗi chiếc 170 triệu đồng, trong khi người dân vào Huế, thuê thiết kế thuyền nhôm phù hợp với sông Son giá 70 triệu đồng.
Đơn vị này mời lãnh đạo xã đến họp, nhưng theo ông Nguyễn Văn Hoá, bí thư xã Sơn Trạch nói: “Xã phản đối vì không hợp lòng dân. Với 170 triệu đồng mỗi thuyền, dân không kham nổi. Xã bỏ họp không dự nữa. Sở Giao thông vận tải cũng phản đối vì không hợp lòng dân và thuyền theo quy cách vịnh Hạ Long không hợp với cảnh quan sông Son”.
Không chỉ có vậy, cả tháng nay, gần 100 thợ ảnh ở thôn Trằm Mé phải bó gối ở nhà. Anh Nguyễn Văn Thắng nói: “Em dùng máy phim, đến lượt em đi chụp, họ không gọi, đến hỏi họ nói máy phim không cho chụp. Cả làng ni cũng nhiều người chụp máy phim, chừ phải ở nhà, không tiền thu nhập”. Ông Nguyễn Văn Mường, có con chụp ảnh phục vụ khách, nói: “Con tui về kể, họ còn nói quá 35 tuổi là không được chụp ảnh trong động, có ai nghiên cứu độ tuổi chụp ảnh như rứa không? Và có ai nghiên cứu chụp ảnh phim có tác hại chi cho hang động không mà ép dân như thế?”
Trước những quy định trái khoáy của trung tâm du lịch Phong Nha, người dân xã Sơn Trạch đã phản ứng gay gắt tại các cuộc tiếp xúc cử tri. Và lần đầu tiên, hội đồng nhân dân xã này đã có văn bản gửi đến mười đơn vị cấp tỉnh. Văn bản số 9/CV–HĐND có nội dung: “Trung tâm du lịch sinh thái Phong Nha – Kẻ Bàng, tìm mọi kế sách để không cho thợ nhiếp ảnh tham gia phục vụ khách du lịch đến tham quan động Phong Nha. Điều này làm ảnh hưởng đến hơn 390 thợ nhiếp ảnh không có việc làm.
Lý do là trung tâm du lịch sinh thái Phong Nha – Kẻ Bàng và công ty nhiếp ảnh Thành Huế buộc thợ nhiếp ảnh phải mua máy ảnh mới với giá khoảng 12 – 15 triệu đồng cho mỗi máy. Trong lúc đó, thu nhập của một thợ nhiếp ảnh các năm trước bình quân khoảng 7 – 8 triệu đồng một năm. Việc tìm cách để đào thải một lúc 390 thợ nhiếp ảnh gây bức xúc cho cử tri và nhân dân trong xã; nếu lực lượng lao động nói trên không có việc làm sẽ gây khó khăn cho xã, một bộ phận thanh niên trẻ sẽ vào rừng để kiếm sống bằng cách phá rừng; đời sống của người dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn thêm...” (Sài Gòn Tiếp Thị 18/12)đầu trang(
17-12, TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử và tuyên phạt 65 năm tù cho 7 bị cáo gồm: Nguyễn Nhật Phong (12 năm tù), Mai Trung Hải, Nguyễn Văn Tịnh (mỗi bị cáo 11 năm tù), Nguyễn Văn Ngọ (10 năm tù), Nguyễn Minh Tuấn (8 năm tù), Trần Hồng Thái (7 năm tù) về tội “trộm cắp tài sản” và Nguyễn Xuân Sinh 6 năm tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Tòa buộc các bị cáo bồi thường 585 triệu đồng. Trước đó, ngày 5-12-2011, nhóm trộm đến thôn Xuân Tự 1 (xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh) đột nhập nhà dân lấy trộm gỗ sưa, bán cho Sinh lấy tiền chia nhau. (Sài Gòn Giải Phóng 18/12)đầu trang(
Sau một vài tháng lặng tiếng lâm tặc, Vườn Quốc gia Yok Don tưởng đâu được bình yên. Thế nhưng, năm hết tết đến cũng là lúc lâm tặc bắc đầu “vào vụ” xẻ thịt những cây gỗ quý còn sót lại.
Chỉ trong 5 ngày, từ 11 đến 16.12.2012, khoảng 13m3 gỗ hộp (tương đương gần 20m3 gỗ tròn) được phát hiện và vớt lên từ đáy sông Sêrêpok.
Trong đó, số lượng gỗ được trục vớt lên vào ngày 11.12 là 5,3m3, ngày 12.12 là 1,4m3, ngày 13.12 là 2m3 và chiều ngày 16.12 là hơn 2m3 (chủ yếu là gỗ hương, thuộc nhóm 2B).
Những hộp gỗ này được phát hiện cách trạm kiểm soát đường sông từ 2-8km.
Theo đánh giá của một lãnh đạo Vườn quốc gia, dòng sông Sêrêpok chảy xuyên Vườn có chiều dài khoảng 60 km, trong khi đó chỉ chưa tới 10 km, lực lượng cơ động kiểm lâm Vườn đã phát hiện gần 20m3 gỗ tròn (chỉ một bên bờ sông).
Vậy với trên 50km bờ sông còn lại sẽ có bao nhiêu số lượng gỗ bị lâm tặc thâu tóm? (Nông Thôn Ngày Nay 17/12)đầu trang(
Liên tục từ đầu năm 2012 đến nay, Công an Hà Tĩnh đã bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm trên tuyến quốc lộ với số lượng lớn. Nguồn hàng này chủ yếu là từ Thái-lan, Lào vận chuyển vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch.
4-9, trên quốc lộ 8A, địa phận xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đội trinh sát Phòng PC 49, Công an Hà Tĩnh đã bắt giữ một vụ vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm có số lượng lớn nhất từ trước tới nay với 119 con tê tê, có trọng lượng hơn 424 kg, đáng nói hơn, có bốn cá thể hổ con đang còn sống. Hai đối tượng lái xe thực hiện vụ vận chuyển là Hồ Sỹ Hạnh (SN 1976), ở Quỳnh Lưu, Nghệ An và Bùi Văn Mười (SN 1979), ở Yên Thành, Nghệ An đã khai nhận chở thuê cho một người không quen biết ra Hà Nội để tiêu thụ.
Tiếp đó, 22-10, tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, đội chống buôn lậu Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an Hà Tĩnh và lực lượng hải quan cùng biên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo phát hiện một xe ô-tô có dấu hiệu nghi vấn. Lợi dụng đêm tối, lại trên địa bàn rừng núi hoang vu, các đối tượng dừng xe sau đó bỏ chạy thoát thân, để lại chiếc xe bảy chỗ và tang vật, gồm 39 con tê tê và 17 con kỳ đà, tổng cộng hơn 400 kg.
Trao đổi về các vụ việc trên, đại úy Đặng Quang Niềm, Phó Trưởng phòng Cảnh sát Môi trường Công an Hà Tĩnh cho biết thêm, năm 2012 là năm ngành chức năng bắt giữ được nhiều vụ vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm nhất và có số lượng lớn nhất từ trước tới nay.
Thực trạng này cho thấy nhiều vấn đề vướng mắc trong công tác đấu tranh với các hành vi buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm. Qua đấu tranh với các đối tượng vận chuyển, công an nhận định, các nguồn hàng chủ yếu từ Thái-lan và Lào đưa về Việt Nam qua đường tiểu ngạch. Từ hình thức thuê người dân mang vác hàng qua biên giới rồi gom hàng tập kết, từ đó thuê các loại xe ô-tô đắt tiền để chở, thay đổi biển số giả thường xuyên, hoặc dùng xe máy phân khối lớn hỗ trợ trên đường nếu bị phát hiện.
Riêng vụ vận chuyển 424 kg tê tê và bốn cá thể hổ con, cơ quan công an cũng tịch thu được nhiều biển số giả. Đây đều là những biển số công vụ hoặc biển số dân sự ở nhiều tỉnh thành để che mắt ngành chức năng. Khó khăn lớn nhất của các lực lượng là quá trình đấu tranh với các đối tượng vận chuyển mất rất nhiều thời gian nhưng hiệu quả không cao khi không bắt được các đối tượng đầu nậu mà chỉ bắt được đối tượng trung gian vận chuyển. Bởi những đầu nậu buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã, quý hiếm không bao giờ lộ diện. Vì vậy, có thể gọi số hàng bắt được nói trên là hàng vô chủ. Mà khi bị phát hiện, chủ thực của lô hàng thường “bỏ của chạy lấy người”.
“Mặc dầu bắt giữ được số lượng lớn động vật hoang dã,nhưng thực ra, chúng tôi mới chỉ cắt được phần ngọn, mà không giải quyết được phần gốc.” Đại úy Đặng Quang Niềm, Phó Trưởng phòng Cảnh sát Môi truờng, Công an Hà Tĩnh nhấn mạnh.
Qua đánh giá thực trạng buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã, quý hiếm trên địa bàn Hà Tĩnh, có thể nhận thấy, đây cũng là địa điểm trung chuyển của tội phạm buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã do lợi thế có cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, quốc lộ 8A. Bên cạnh đó, nguồn cầu tiêu thụ rất lớn khiến cho những đối tượng đầu nậu hám lợi, bất chấp pháp luật.
Có cầu ắt hẳn sẽ có cung. Việc giết hại động vật hoang dã, quý hiếm để phục vụ nhu cầu của con người không còn là điều lạ lẫm. Lên Hương Sơn, Hương Khê, Hà Tĩnh không khó tìm được cháo khỉ, ăn thịt lợn rừng, cầy hương... Không nghi ngờ gì nữa, động vật hoang dã đang ngày càng trở thành món đặc sản cao cấp, ở những nơi phồn hoa thị thành, nơi nhiều người sẵn sàng trả tiền triệu, chục triệu cho một bữa ăn.
Chế tài xử lý lại chưa đủ sức răn đe. Vừa qua, Công an Hà Tĩnh đã tiến hành khởi tố hình sự đối với bị can Hồ Sỹ Hạnh do nhận vận chuyển hổ con. Đối tượng còn lại là Bùi Văn Mười chỉ bị xử phạt hành chính. Sở dĩ như vậy là theo quy định của Nghị định 99/2009/ NĐ-CP của Chính phủ về chế tài xử phạt trong quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có hiệu lực từ ngày 1-1-2010, chỉ những cá thể nhóm 1b thuộc loại nguy cấp, quý hiếm, mới bị xử lý hình sự.
Còn theo Nghị định 99 về chế tài xử phạt, dẫu có bắt được số lượng lớn tê tê, cũng chỉ bị xử phạt hành chính cao nhất đến 500 triệu đồng. Đây ắt hẳn cũng là nguyên nhân sâu xa để các đầu nậu không chỉ sẵn sàng bỏ của chạy lấy người khi bị phát hiện, mà còn bất chấp tất cả để có thể vận chuyển hàng. (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
Những cây gỗ quý hiếm hàng trăm năm tuổi trong Vườn quốc gia Vũ Quang (huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh) lần lượt ngã rạp bởi lưỡi cưa xăng của lâm tặc.
Dưới bàn tay chuyên nghiệp của những kẻ phá rừng, cây cổ thụ trong khu rừng già nhanh chóng biến thành hàng loạt phách gỗ vuông vắn. Sau đó, gỗ được cho trâu kéo ra khỏi rừng rồi bằng nhiều cách đưa về xuôi bán cho các tay buôn gỗ lậu.
Sau khi xem qua những hình ảnh và clip mà PV ghi lại được cảnh tàn phá trong Vườn quốc gia Vũ Quang, ông Nguyễn Huy Lợi - Chi cục trưởng Kiểm lâm Hà Tĩnh, nhấn mạnh: “Mặc dù Vườn quốc gia Vũ Quang không phải là đơn vị trực thuộc của Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh, nhưng với trách nhiệm của những người làm công tác bảo vệ rừng, sau khi xem những hình ảnh và clip này tôi thấy cần phải kiểm tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đây là vấn đề làm ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của người dân, nhất là trong thời gian này đang kiểm điểm theo nghị quyết Trung ương 4. Với trách nhiệm của Chi cục trưởng, tôi sẽ chỉ đạo bằng công văn và thành lập đoàn đi kiểm tra thực tế. Nếu phát hiện đúng như vậy chúng tôi kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.
Vườn quốc gia Vũ Quang nằm ở phía tây tỉnh Hà Tĩnh, nơi có nhiều loài sinh vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam. Nơi đây hội tụ nhiều loài gỗ quý và động vật quý hiếm. Vườn được thành lập ngày 30-7-2002 theo quyết định số 102/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích: 55.028,9ha, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 38.800ha, phân khu phục hồi sinh thái: 16.184,9ha, phân khu hành chính dịch vụ: 44ha. (Công An TPHCM 18/12)đầu trang(
Trong năm 2012, Hạt Kiểm lâm Hương Sơn đã bắt giữ và xử lý 176 vụ vi phạm Luật bảo vệ rừng.
Trong đó có 137 vụ mua bán, vận chuyển cất giấu lâm sản trái phép; vi phạm chế biến: 9 vụ; khai thác rừng trái phép: 19 vụ; vi phạm về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã: 4 vụ…Tịch thu 329,254 m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 8; tịch thu 996,3kg động vật rừng; thu giữ 8 xe máy, 18 xe thô sơ, 1 xe công nông; xử phạt hành chính với số tiền là 471 triệu đồng; tiền bán lâm sản, phương tiện tịch thu: 915.625.000 đồng. (Báo Hà Tĩnh 18/12)đầu trang(
Tiểu khu 1644, 1645 xã Quảng Sơn, huyện ĐăkGlong do Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý từ năm 2009 đến nay đã có 76,8 ha rừng bị chặt phá.
Toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá trên để lấy đất trồng cây hoa màu, cây công nghiệp. Theo nhận định của cơ quan chức năng, đối tượng phá rừng chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đối tượng chưa đến tuổi vị thành niên từ các nơi khác đến.
Hiện nay, trước thông tin sẽ chia tách huyện mới cùng với giá cả các loại nông sản tăng cao nên tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất, dựng lều, lán trại chờ đền bù giải tỏa tại một số tiểu khu trên địa bàn xã Quảng Sơn ngày càng trở nên phức tạp. (Theo Đài PT- TH Đăk Nông 18/12)đầu trang(
Theo lực lượng kiểm lâm, lâm nghiệp xã và chủ rừng trên địa bàn tỉnh, năm 2012 các lực lượng này đã phát hiện và lập biên bản 1.954 vụ xâm hại rừng, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, riêng diện tích rừng bị phá là hơn 140ha, giảm 76,64ha. Đã xử lý 1.784 vụ xâm hại rừng, đạt hơn 91%. Trong đó: xử phạt hành chính 1.739 vụ; xử lý hình sự 45 vụ; thu nộp ngân sách 14,5 tỷ đồng; tịch thu các tang vật vi phạm gồm 3.000m3 gỗ tròn các loại, 631 phương tiện và hơn 1.600 cá thể động vật hoang dã.
Ngoài ra, các cơ quan chức năng trong tỉnh đã tiến hành giải tỏa 702ha diện tích đất rừng bị lấn chiếm và tái lấn chiếm; thu hồi 19.584ha rừng dự án vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai; chậm triển khai thực hiện… (Đại Biểu Nhân Dân 16/12)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Lo ngại việc xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ ảnh hưởng đến Vườn quốc gia Cát Tiên là ý kiến chung của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, cũng như nhiều nhà khoa học trong hội thảo do Mạng lưới sông ngòi Việt Nam tổ chức cuối tuần qua tại TP.HCM.
Một số nhà khoa học và giám đốc một số vườn quốc gia đều bày tỏ lo ngại nếu hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A xây dựng. Cụ thể, đó chính là lo ngại sự mất mát những cánh rừng nguyên sinh, đặc hữu, dẫn đến sự tàn phá môi sinh và đặc biệt là cuộc sống của hàng triệu người dân vùng hạ lưu sông Đồng Nai.
Hội thảo về tác động của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đến lưu vực sông Đồng Nai được tổ chức ngày 16/12 tại TP.HCM vừa qua không có đại diện lãnh đạo bộ, hoặc lãnh đạo các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông hay Bình Phước tới dự. Hội trường nằm trong Khu du lịch Bình Quới 2 với khoảng 100 ghế kín chỗ, phần lớn là các chuyên gia về môi trường, thủy lợi, các nhà khoa học và cánh báo chí.
TS Lê Anh Tuấn, chuyên gia về biến đổi khí hậu và tài nguyên nước đã khẳng định: Hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nếu xây dựng sẽ làm ngập vĩnh viễn 171 ha rừng phòng hộ thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Theo Nghị quyết Quốc hội số 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010, tại điều 3 có quy định: Tiêu chí về dự án, công trình quan trọng quốc gia đầu tư tại Việt Nam phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư khi dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50ha trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50ha trở lên…".
Từ đó, ông Tuấn cho rằng, cả 2 dự án thủy điện này đều có diện tích chiếm dụng vườn quốc gia trên 50ha, nên phải được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư.
Ngoài ra, theo Luật Đa dạng sinh học Việt Nam thì đều nghiêm cấm các hành vi xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ an ninh, quốc phòng. Như vậy 2 dự án thủy điện này cũng đã vi phạm Luật Đa dạng sinh học Việt Nam.
Đại diện Mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng: Việc quy hoạch xây dựng thủy điện là thuộc quy hoạch ngành, phải ưu tiên quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học. Vườn quốc gia Cát Tiên là quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước. Việc điều chỉnh đất của Vườn quốc gia để làm thủy điện là vi phạm điều 11 của Luật Đa dạng sinh học.
Nhiều chuyên gia về môi trường nghi ngại, việc xây 2 thủy điện sẽ làm biến mất bàu Sấu, một khu vực đất ngập nước đã được UNESCO công nhận là khu Ramsar của Việt Nam. Hiện Vườn quốc gia Cát Tiên đang hoàn thành hồ sơ trình UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, thì việc xây 2 đập thủy điện càng phải được tính toán kỹ lưỡng.
Cuối tuần qua, trong cuộc họp báo do UBND tỉnh Đồng Nai tổ chức, các phóng viên đều đặt câu hỏi với lãnh đạo tỉnh về 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Trả lời báo giới, ông Đinh Quốc Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho rằng tỉnh cũng đã có văn bản gửi Bộ Chính trị, Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ phản đối 2 dự án thủy điện này. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai cũng đã có văn bản, ý kiến chất vấn các thành viên Chính phủ trước kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa 13.
Ông Thái cho rằng, những ý kiến nói "2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A không xây dựng trên địa bàn tỉnh" là đi ngược lại những phản biện khoa học chân chính. Ông Thái cho rằng các địa phương ở hạ lưu có quyền phản đối việc xây đập ở thượng lưu. Bởi việc đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân.
TS Lê Anh Tuấn cho biết: Phần tóm tắt của Báo cáo đánh giá tác động môi trường, có đoạn “Khi thủy điện Đồng Nai 6A đi vào hoạt động thì mực nước sẽ dâng lên cao làm ngập khu vực rừng trước đây không ngập, điều này tạo cho cây rừng tiếp xúc với mực và mặt nước gần hơn do đó cây cối trong những vùng lân cận của vùng ngập sẽ có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với trước đây (ở xa mặt nước)”.
Phản đối gay gắt lập luận trên, TS Lê Anh Tuấn cho rằng, ở các khu rừng không ngập nước thường xuyên, cây rừng đã tồn tại nhiều năm trong điều kiện khô hạn vào mùa nắng và chỉ nhận nguồn nước vào mùa mưa, kết cấu thổ nhưỡng là cứng chắc và thoáng khí. Khi chuyển sang điều kiện ngập nước thì nền đất chuyển sang trạng thái bão hòa, khiến kết cấu của nó chuyển sang mềm nhão dễ sạt lở và rửa trôi. Đất úng ngập sẽ làm cây rừng dễ dàng bị chết, xói mòn tăng cao và kéo theo diện tích rừng mất đi càng lớn lên.
Đồng tình với TS Lê Anh Tuấn nhiều nhà khoa học đều cho rằng, không nên xây dựng 2 đập thủy điện này, bởi tác hại của nó quá lớn đối với con người cũng như môi sinh. (Thể Thao&Văn Hoá 18/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||