|
Ngày 17 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành quy định về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo nhóm hộ dân ở 5 thôn A Đền, A Dớ, A Zal, Trơ Gung, Tà Rèng (xã Mà Cooih, H.Đông Giang), với sự hỗ thực hiện thí điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Cụ thể, nhóm hộ được lập theo từng thôn, có nhà ở gần nhau hoặc cùng tộc họ để tiện tuần tra rừng, giám sát kết quả lao động lẫn nhau; diện tích rừng giao khoán cũng đồng đều nhau để tạo công bằng về nghĩa vụ bảo vệ, phân chia tiền.
Từ hợp đồng ký kết với Ban quản lý rừng phòng hộ A Vương, nhóm hộ được chi trả tiền 3 tháng/lần, sau đó trích 20%-40% để làm vốn đầu tư sản xuất (gửi tại ngân hàng), còn lại chia nhau. Được biết, Ban quản lý rừng phòng hộ A Vương nằm trong số 9 trên 14 đơn vị sản xuất thủy điện tại Quảng Nam được UBND tỉnh ký kết hợp đồng ủy thác (trị giá hơn 83 tỉ đồng) để chi trả DVMTR. (Thanh Niên 14/12)đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định đã quyết định chấm dứt hoạt động dự án Nhà máy bột giấy Sài Gòn - Bình Định tại xã Cát Khánh, H.Phù Cát và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư do UBND tỉnh Bình Định cấp ngày 7.4.2008 cho Công ty CP giấy Sài Gòn - Bình Định (chủ đầu tư) do sau 12 tháng được cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ đầu tư vẫn không triển khai thực hiện.
Dự án có số vốn đầu tư 8.800 tỉ đồng, bao gồm vốn đầu tư xây dựng nhà máy và phát triển vùng nguyên liệu rừng trồng. (Thanh Niên 15/12)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo đề án Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Lâm Ðồng giai đoạn 2011 - 2020, từ nay tới năm 2020, tỉnh sẽ tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ rừng trên diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 576.192 ha; đồng thời chú trọng phát triển rừng bằng khoanh nuôi tái sinh tự nhiên: 28.123 ha, trồng rừng: 79.538 ha, làm giàu rừng: 4.979 ha, nuôi dưỡng rừng: 51.974 ha.
Tổng nguồn vốn để thực hiện các hoạt động nêu trên là 7.177 tỷ đồng, gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn của các doanh nghiệp, vốn từ chi trả dịch vụ môi trường rừng, vốn ODA, nguồn vốn từ tín dụng thương mại.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, việc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được tỉnh Lâm Ðồng triển khai thực hiện hiệu quả. Việc giao khoán bảo vệ rừng đạt bình quân 428.804 ha/năm; trồng mới 33.071 ha, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 9.783 ha, làm giàu và nuôi dưỡng rừng hơn 31.000 ha. (Nhân Dân 16/12)đầu trang(
Trung bình mỗi kiểm lâm phụ trách 1,4 xã có rừng. Điều này rõ ràng vừa quá sức, vừa không đáp ứng được yêu cầu giữ rừng. Trong khi đó hình thức vận động người dân quản lý rừng lại chưa thực sự phổ biến.
Về việc chi trả cho công tác bảo vệ rừng hiện nay ông Phùng Văn Vinh – Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ không khỏi lo ngại vì nguồn thu quá ít. Tại Phú Thọ chỉ có 2 nguồn thu chính là thu của Cty nước sạch và của các đơn vị sử dụng một phần diện tích rừng cho thủy điện Hòa Bình.
Nguồn thu ít, việc chi trả cho chủ rừng lại vấp phải khó khăn về vấn đề thủ tục: muốn chỉ trả cho hộ gia đình phải có đề án được phê duyệt… Điều này dường như đang tăng gấp đôi khó khăn cho việc bảo vệ rừng dựa vào lực lượng chủ chốt là nhân dân.
Trong lúc đó, ở Lai Châu, nơi đã thành lập được Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng mọi việc dường nhu đơn giản hơn rất nhiều. Ban quản lí rừng phòng hộ Tam Đường là một trong mười đơn vị của tỉnh Lai Châu nhận khoán từ Quỹ để bảo vệ khoảng 24.500 ha rừng. Số rừng này được giao cho các hộ ở 105 bản. Đến nay diện tích rừng, nhất là rừng tự nhiên của Lai Châu không chỉ được bảo vệ tốt mà còn tiếp tục phát triển.
Anh Lương Văn Mục, thôn Thèn Thầu, xã Bình Lư (Tam Đường, Lai Châu), một trong những hộ gia đình nhận khoán 7,5ha rừng cho biết: “Công việc hằng ngày của các thành viên trong gia đình là bảo vệ rừng, phòng cháy cho rừng và canh gác thường xuyên tránh để đối tượng phá hoại rừng hoạt động. Trước kia, dù rất chăm chỉ làm ăn nhưng gia đình anh vẫn gặp khó khăn về kinh tế. Nay được nhận tiền trông, chăm sóc rừng từ Ban Quản lí rừng phòng hộ Tam Đường, kinh tế gia đình anh khá hẳn lên. Bản thân mỗi người trong gia đình anh cũng có trách nhiệm hơn với công việc bảo vệ rừng”.
Thông tin từ Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNTVN): hiện cả nước có gần 11.800 kiểm lâm viên, trong đó kiểm lâm địa bàn toàn quốc là hơn 4.400 người, phụ trách 5.531 xã. Với số lượng kể trên, dù có căng hết lực lượng thì kiểm lâm cũng không thể bảo vệ được diện tích rừng hiện có. Trong khi đó số người dân nhận khoán bảo vệ rừng cũng không ít. Nếu nguồn kinh phí thu từ những đơn vị sử dụng rừng được đưa đến với những người dân đang ngày đêm sống với rừng thì sẽ phát huy tối đa việc xã hội hóa công tác bảo vệ rừng.
Trong giai đoạn thực hiện thí điểm chính sách (2008-2010), tổng số thu tại hai tỉnh thí điểm là Lâm Đồng và Sơn La thu qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (quỹ trung ương) đạt tới 493 tỉ đồng, mức chi trả bình quân tiền DVMTR giai đoạn này đạt trên 200.000 đồng/ha. Tại Sơn La, tổng số thu tiền DVMTR là 113 tỉ đồng, số tiền đã chi trả đến 50.967 chủ rừng khoảng 99,4 tỉ đồng với diện tích được chi trả 421.909ha, bình quân trong 2 năm mỗi hécta được chi trả hơn 235.000 đồng. (Theo Vietnamnet 16/12)đầu trang(
Qua 5 năm triển khai mô hình quản lý rừng cộng đồng ở xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả ban đầu rất thiết thực. Cuộc sống của người dân được cải thiện đáng kể nhờ những chính sách hưởng lợi từ rừng và môi trường sinh thái nhờ đó cũng được bảo vệ và cân bằng. Mô hình này cần được nhân rộng ra nhiều địa phương trong tỉnh.
Mô hình quản lý rừng cộng đồng thuộc Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng” do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ được triển khai ở 2 thôn Khánh Giang và Trường Lệ thuộc xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, thu hút 350 hộ dân tham gia quản lý hơn 1.000 héc-ta; trong đó 60% diện tích là rừng tự nhiên.
Theo mô hình này, Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư bảo vệ, quản lý, sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng; làm giàu rừng bằng các biện pháp lâm sinh, tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên và ổn định cho các thành viên. Ông Trịnh Bê, Phó Chủ tịch UBND xã Hành Tín Đông cho rằng: Từ khi có dự án, đã chấm dứt tình trạng xâm phạm rừng nên rừng càng ngày càng xanh tươi phát triển.
Theo mô hình, rừng được giao cho cộng đồng quản lý có nhiều loại cây gỗ quý như lim, sến, ngát, chò, giẻ, trám, dầu rái… có trữ lượng gỗ gần 150.000 mét khối. Việc thành lập các nhóm hộ sử dụng rừng cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng được xem là chìa khóa cho sự phát triển rừng bền vững.
Ông Đàm Bàng, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hành - Quảng Ngãi cho biết: Sẽ đề nghị Ban quản lý dự án Trung ương tài trợ xây dựng Hợp tác xã nghề rừng nhằm giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống và tương lai chúng tôi sẽ biến nơi đây thành nơi du lịch sinh thái vừa tạo nguồn thu nhập ổn định lâu dài cho xã viên, cho xã, vừa bảo vệ tài nguyên rừng hiện có.
Được biết, cuộc sống của hàng trăm gia đình người Kinh và người Hrê tại thôn Trường Lệ và thôn Khánh Giang, xã Hành Tín Đông lâu nay chủ yếu dựa vào rừng. Trước đây, do nhận thức còn hạn chế, tình trạng khai thác gỗ trái phép, đốt củi lấy than… diễn ra khá phức tạp. Từ khi triển khai mô hình quản lý rừng cộng đồng thuộc Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng” đã tác động tích cực, tạo cân bằng môi trường sinh thái, cải thiện cuộc sống cho người dân được hưởng lợi trực tiếp từ việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Bà Huỳnh Thị Huân, một trong những thành viên tham gia dự án cho biết: Khi chưa có dự án, cuộc sống bà con nơi đây tất cả tập trung vào rừng. Người ta chặt củi, đốt than bán để kiếm kế sinh nhai, nhưng từ khi có dự án, bà con biết bảo vệ rừng và hưởng lợi từ rừng, ai cũng vui.
Mô hình quản lý rừng cộng đồng ở xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, bước đầu cho thấy hiệu quả thiết thực. Qua mô hình này, cộng đồng đã nhận thức được lợi ích của rừng mang lại cho người dân, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, cùng nhau gìn giữ, bảo vệ rừng theo hướng bền vững. (Tài Nguyên&Môi Trường 16/12)đầu trang(
16/12, tại huyện đảo Phú Quốc, UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị Khu dự trữ sinh quyên (DTSQ) Kiên Giang - Việt Nam”. Theo TS. Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, hệ sinh thái rừng ngập mặn có tầm quan trọng to lớn đối với khu DTSQ Kiên Giang.
Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lê Văn Thi nhấn mạnh: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ tác động trực tiếp đến vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, do vậy, việc bảo tồn hệ sinh thái, giảm thiểu tác hại thiên tai, đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội bền vững và an toàn cần phải được cả cộng đồng xã hội chung tay”.
“Qua hội thảo này, Kiên Giang sẽ có được nhiều ý kiến đề xuất các chính sách, giải pháp, cách thức quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của khu DTSQ phù hợp nhằm phục vụ phát triển bền vững cho tỉnh Kiên Giang trong đó có Phú Quốc. Kiên Giang sẽ đề ra được những định hướng hợp tác nghiên cứu, thực hiện công tác bảo tồn với các tổ chức trong và ngoài nước để kêu gọi, vận động các tổ chức quốc tế hỗ trợ, tài trợ đầu tư phục vụ việc bảo tồn, phát triển bền vững khu DTSQ Kiên Giang”-ông Lê Văn Thi cho biết.
Bà TS. Katherine Muller-Marin nói: “Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong phòng hộ ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp thực phẩm, thức ăn cho gia súc, nhiên liệu và gỗ. Tôi kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét tóm lược “chính sách bảo vệ tương lai của rừng ngập mặn”, dựa trên bản đồ rừng ngập mặn thế giới. Cần cung cấp cho các nhà quản lý khu DTSQ các bài học kinh nghiệm về bảo tồn và quản lý rừng ngập mặn, và khuyến nghị các biện pháp chính sách có thể áp dụng để bảo vệ sinh thái. Sẽ thật tuyết vời nếu chúng ta tìm nguồn hỗ trợ để dịch cuốn Atlas và các minh họa chính sách ngắn gọn kèm theo để có thể chia sẻ với các khu DTSQ và các cơ quan khác có quan tâm”
Tỉnh Kiên Giang nằm ở tận cùng phía Tây Nam đất nước, có diện tích tự nhiên hơn 6.348 km2, với hơn 200 km bờ biển và trên 56 km đường biên giới đất liền với Campuchia. Kiên Giang được ví như một Việt Nam thu nhỏ, được thiên nhiên ưu đãi với đủ cả hệ thống sông ngòi, núi, rừng, đồng bằng và biển đảo.
Khu DTSQ Kiên Giang được UNESCO công nhận ngày 27-10-2006 tại kỳ họp thứ 19 của Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển. Đây là khu DTSQ lớn nhất Việt Nam, với tổng diện tích là 1.188.105 ha.
Khu DTSQ Kiên Giang bao gồm 10 huyện, thị thành phố; không gian rộng, kết nối với Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Thượng; VQG Phú Quốc, Khu bảo tồn biển Phú Quốc, Khu rừng bảo vệ cảnh quan Kiên Lương và đai rừng ngập mặn ven biển Tây.
Ba chức năng chính của khu DTSQ là: bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế thân thiện với môi trường và hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, văn hóa, giáo dục, ba chức năng này có thể được thực hiện ở một hoặc cả ba vùng tùy theo mức độ và mục đích triển khai.
Tại hội thảo, đại diện Ủy ban Sinh quyển và Con người Việt Nam đã trao Giấy chứng ngận nhãn hiệu chứng nhận Khu DTSQ Kiên Giang cho Ban quản lý. (Nhân Dân 16/12)đầu trang(
Cây pơ mu có đường kính thân khoảng 3m, vừa được phát hiện ở xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, nên được xem là cây di sản của quốc gia - đó là đề xuất của Viện Sinh thái học Miền Nam.
Theo Viện Sinh thái học Miền Nam, cây pơ mu này gần như lớn gấp đôi các cá thể cùng loài từng được biết.
Phó Giám đốc Sở TNMT Khánh Hòa Mai Văn Thắng cho biết, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng có biện pháp bảo vệ cây pơ mu đặc biệt này, tránh nguy cơ xâm hại của lâm tặc. (Nông Thôn Ngày Nay 14/12)đầu trang(
Để ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thời gian qua, tỉnh Bến Tre đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn.
Uỷ viên thường vụ thường trực HĐND tỉnh Bến Tre Đỗ Đức Minh: Đây cũng là dự án ưu tiên số 1 trong 20 dự án ưu tiên của Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010- 2015, định hướng đến năm 2025 được xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh lần này.
Ông Minh cho hay: Tại Kỳ họp thứ 3 HĐND tỉnh Bến Tre, trong nghị quyết về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2012, HĐND tỉnh Bến Tre đã thông qua 20 chỉ tiêu chủ yếu về KT- XH, ANQP. Kết quả đến nay và ước thực hiện các chỉ tiêu đến cuối năm 2012, Bến Tre có 12/20 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, 8 chỉ tiêu còn lại đạt mức tăng trưởng khá. Cụ thể, GDP của tỉnh ước tăng 6,61%; nông, lâm ngư nghiệp tăng 2,52% so với cùng kỳ năm 2011; CN- TTCN tăng 14,63%; giải quyết việc làm cho 23.000 lao động, trong đó xuất khẩu lao động ra nước ngoài là 600 người…
Có được kết quả trên là nhờ vào sự cộng đồng trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền địa phương và toàn thể nhân dân trong tỉnh. Đặc biệt, ngay từ đầu năm 2012, Thường trực HĐND tỉnh đã tích cực đôn đốc, kiểm tra, trực tiếp giám sát và điều hòa, phối hợp tốt hoạt động giám sát của các Ban HĐND tỉnh đối với UBND tỉnh và các sở, ngành chức năng trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh. Bên cạnh đó, Thường trực HĐND tỉnh đã có ý kiến cụ thể, kịp thời với UBND để kịp thời thực hiện có hiệu quả các giải pháp phát triển KT-XH của tỉnh.
Cũng theo ông Minh: Trong năm 2013 và những năm tiếp theo, HĐND tỉnh sẽ tập trung xem xét ban hành các cơ chế, chính sách, quyết định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH hàng năm; đồng thời thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH theo kế hoạch 5 năm.
Để thực hiện chủ trương trên, HĐND tỉnh sẽ chú trọng lắng nghe, nắm vững tình hình thực tế và tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thực hiện tham vấn ý kiến nhân dân trước khi quyết định các chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, có phạm vi tác động sâu rộng nhằm đáp ứng nguyện vọng của đông đảo cử tri và nhân dân trong tỉnh; đồng thời tăng cường chất lượng công tác giám sát để kịp thời phát hiện, kiến nghị giải quyết và xử lý những vấn đề còn bất cập, bảo đảm thực hiện thắng lợi các nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra.
Cụ thể, trước dự báo tình hình kinh tế thế giới, kinh tế trong nước và trong tỉnh năm tới sẽ tiếp tục khó khăn… nên kế hoạch xây dựng các chỉ tiêu KT-XH cho năm 2013 cũng được đặt ra ở mức vừa phải, trên cơ sở cân đối với nguồn lực của tỉnh: phấn đấu GDP năm 2013 tăng 7%; nông - lâm - thủy sản tăng 2,69%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,17%; dịch vụ tăng 8,27%; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,5%...
Bến Tre là tỉnh nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, trên 90% diện tích đất có cao độ địa hình từ 1 – 2m so với mực nước biển. Trong đó, vùng cửa sông, ven biển chỉ dưới 1m, thường xuyên ngập triều nên là địa phương dễ bị tổn thương nhất ở nước ta do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Thực tế những năm gần đây, tại các cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa có năm nước mặn xâm nhập sâu từ cửa biển vào trong nội địa 50-60km.
Xuất phát từ thực tế này, bảo vệ rừng ngập mặn, xây dựng đê biển, trồng rừng phòng hộ được coi là nhiệm vụ hàng đầu được tỉnh Bến Tre đặt ra. Thời gian qua, các ngành chức năng của tỉnh đã xây dựng các dự án bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn; tiến hành giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình để trồng, chăm sóc và bảo vệ, từng bước xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ và phát triển rừng; tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng các mô hình sản xuất, quản lý, các mô hình phòng chống xói lở an toàn và hiệu quả ở vùng cửa sông, ven biển…
Đặc biệt, để ứng phó với việc rừng ngập mặn bị xâm hại, năm 2011, Thường trực HĐND tỉnh Bến Tre đã thành lập đoàn giám sát việc tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng… Vấn đề bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn cũng chính là dự án ưu tiên số 1 trong 20 dự án ưu tiên của Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010- 2015, định hướng đến năm 2025 được HĐND tỉnh xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 5 này.
Thực tế những năm qua, HĐND tỉnh đã tổ chức nhiều đợt giám sát việc bảo vệ môi trường trong sản xuất, sinh hoạt đời sống ở các vùng sinh thái mặn, lợ, ngọt của tỉnh về nuôi thủy sản (mặn, lợ, ngọt); khai thác cát lòng sông; vấn đề ngập nước các cồn trên sông; diễn biến xoáy lỡ các cồn trên sông, và vùng cửa sông ven biển. Đó là những cơ sở để các Ban của HĐND tỉnh thẩm tra, phản biện tại Kỳ họp thứ 5.
Sau khi quy hoạch được thông qua, đại biểu HĐND tỉnh là người phổ biến, tuyên truyền cho cử tri am hiểu để thực hiện các dự án cụ thể. Đặc biệt, đối với vấn đề bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn sẽ được Thường trực HĐND, các Ban HĐND và các đại biểu HĐND tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể để giám sát việc thực hiện. Bên cạnh đó, tổ chức TXCT theo chuyên đề về vấn đề này để tham vấn ý kiến của cử tri và nhân dân… (Đại Biểu Nhân Dân 14/12)đầu trang(
Ngày 14.12, tin từ Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, Trung tâm Nghiên cứu khoa học và cứu hộ vừa tiếp nhận một cá thể Chà vá chân nâu được một người dân giao nộp.
Con chà vá chân nâu trên có tên khoa học là Pygathrix nemaeus, đây là loài động vật quý hiếm thuộc nhóm IB, có cân nặng khoảng 4,5kg, được người dân bàn giao cho UBND xã Quảng Hợp (huyện Quảng Trạch), sau đó phối hợp với Hạt kiểm lâm Quảng Trạch bàn giao cho Trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ trong tình trạng đã bỏ ăn nhiều ngày. Cá thể động vật quý hiếm trên sẽ được Trung tâm cứu hộ trước khi thả về môi trường tự nhiên. (Lao Động 15/12)đầu trang(
Thị xã Quảng Yên có 5.580ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng là 4.876ha bao gồm 3 loại: Rừng đặc dụng chiếm 33,5ha, rừng phòng hộ, chắn sóng bảo vệ đê điều ven sông, ven biển là 1.630ha, còn lại là rừng sản xuất với trên 3.000ha. Xác định công tác bảo vệ và phát triển rừng, là vô cùng quan trọng nên trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm TX Quảng Yên đã có nhiều biện pháp để quản lý và bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả.
Ông Hoàng Văn Hiểu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm cho biết: Năm qua công tác bảo vệ rừng, và phòng chống cháy rừng trên địa bàn TX Quảng Yên đạt được những kết quả tích cực trên là nhờ có sự quan tâm của chính quyền thị xã. Trong năm 2012, TX Quảng Yên đã đầu tư kinh phí xử lý toàn bộ thực bì rừng đặc dụng với diện tích 33,5ha, đảm bảo an toàn cho thảm thực vật của rừng đặc dụng không bị xảy ra cháy.
Bên cạnh đó, các đơn vị xã, phường và chủ rừng đã chủ động xây dựng kế hoạch, phương án thực hiện tốt công tác PCCCR, nhờ đó, trên địa bàn TX Quảng Yên thời gian qua không có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra, nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng đã được phát hiện, xử lý triệt để.
Ngoài ra, để làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, ngay từ những tháng đầu năm, Hạt Kiểm lâm thị xã đã tổ chức ký cam kết với 486 hộ gia đình, cá nhân có liên quan trong công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Đồng thời, đơn vị cũng triển khai thực hiện hai hội nghị tuyên truyền cho các đối tượng liên quan trên địa bàn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng. Hạt cũng đã tổ chức phổ biến các Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về hướng dẫn thực hiện khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ như Thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT; Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra lâm sản; Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT...
Đồng thời công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng mùa hanh khô cũng được Hạt tuyên truyền sâu rộng đến quần chúng nhân dân; phối hợp cùng Công an PCCC tỉnh tổ chức kiểm tra công tác PCCCR đối với các xã, chủ rừng trên địa bàn; phối hợp cùng Đoàn Thanh niên phường Minh Thành và Tiểu đoàn 15 tổ chức phát dọn thực bì khu vực Đài tưởng niệm Bác Hồ. Ngoài ra, đơn vị còn áp dụng công nghệ thông tin bằng thư điện tử và ảnh viễn thám dự báo cháy rừng, do đó đã chủ động được công tác kiểm tra và phòng cháy rừng.
Song song với công tác tuyên truyền, công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị, cá nhân, hộ gia đình cũng được đơn vị chú trọng thực hiện nhằm hạn chế việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp không đúng mục đích. Hạt đã phối hợp cùng các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra việc khai thác than trái phép trên khu vực giáp ranh huyện Hoành Bồ, qua công tác kiểm tra đã kịp thời phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm, đảm bảo môi trường sinh thái của rừng.
Cụ thể trong năm, Hạt Kiểm lâm thị xã đã kiểm tra, lập biên bản 7 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, thu hồi 10,73m3 gỗ các loại; 49,9kg động vật hoang dã với tổng tiền thu nộp xử phạt hành chính và phát mại lâm sản đạt 120.103.000 đồng.
Theo ông Hoàng Văn Hiểu, Hạt trưởng cho biết: Thời gian tới, đơn vị tiếp tục phối hợp cùng với chính quyền, đoàn thể địa phương tiếp tục tuyên truyền cho nhân dân về việc bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao năng lực PCCC cho các chủ rừng, tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở dưới cơ sở, trong đó đặc biệt chú trọng công tác phòng chống cháy rừng mùa hanh khô. Đồng thời Hạt tiếp tục tăng cường công tác thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng của các địa phương, cá nhân, tổ chức được giao rừng. (Báo Quảng Ninh 14/12)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Một trong những trọng tâm của Dự án bảo tồn voi Đắk Lắk là voi nhà có thể sinh sản, thế nhưng trong nhiều năm qua voi nhà còn lại của tỉnh sinh sản rất ít.
Nguyên nhân chủ yếu được đưa ra là do voi đực và voi cái được nuôi riêng lẻ, không có điều kiện tiếp xúc với nhau, voi phải lao động quá nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản...
Huyện Buôn Đôn là nơi có nhiều chủ voi nhất tỉnh Đắk Lắk và các chủ voi sống tập trung quanh khu du lịch Bản Đôn (xã Krông Na, Buôn Đôn). Anh Y Đê (35 tuổi), làm nài voi cho Công ty du lịch Bản Đôn, cho biết trước đây gia đình anh cũng nuôi voi nhưng sau đó voi già chết, gia đình anh không mua voi nuôi nữa.
Công việc hằng ngày của anh Y Đê là điều khiển voi chở khách du lịch tham quan Bản Đôn, tối đưa voi vào rừng thả để voi tự kiếm ăn, sáng tinh mơ thì vào rừng đưa voi về chở khách du lịch. Anh Y Đê cho biết từ nhỏ đến giờ anh chưa thấy voi nhà nào trong buôn Trí A, buôn Đôn... đẻ voi con vì voi phải lao động quá nhiều...
Ông Ama Bế (70 tuổi, buôn Đôn, xã Krông Na) cho biết tập quán nuôi voi của buôn Đôn trước đây là voi cái nhà nào được voi đực làm cho mang bầu thì gia chủ phải tạ ơn chủ voi đực một con trâu. Ngoài ra, chủ voi cái còn mua một con heo làm “lễ cưới” cho hai con voi này để hai chủ voi và dân làng vui chung. Nhưng hiện nay thì khác - ông Ama Bế nói thêm - muốn voi cái đẻ voi con phải thả chung trong rừng với voi đực hàng tháng trời, nó thích voi đực nào thì sẽ quấn quýt nhau và giao phối.
Thế nhưng bây giờ voi nhà nào cũng bận làm du lịch cả ngày, ăn uống lại ít nên không còn đủ sức khỏe, thời gian thả ra rừng lại quá ít nên chúng không thể “tìm hiểu” và “yêu” nhau được. Ngoài ra, các chủ voi cái cũng không muốn cho voi mình gần gũi với voi đực, sợ voi cái bị thương, không đi làm du lịch được...
Ông Ama Bế kể có lần con voi đực Khăm Thưng của ông “theo đuổi” voi cái của một chủ voi khác khiến voi cái đó bị thương nhẹ. Chủ voi cái liền “bắt vạ” buộc ông phải chữa cho voi cái lành bệnh, dọa nếu voi cái chết sẽ bắt voi đực của ông để đền. Từ đó trở đi, tuy voi đực của ông (27 tuổi) đang hết sức sung mãn nhưng ông không dám thả gần voi cái người khác nữa vì sợ vạ lây...
Trong những năm qua cũng ghi nhận vài trường hợp voi nhà sinh voi con nhưng đó là những trường hợp rất hiếm gặp. Ông Nguyễn Trụ, Công ty du lịch sinh thái Bản Đôn (huyện Buôn Đôn), cho biết: năm 2008, voi cái H’Panh của công ty trong một lần động đực đã được một con voi rừng giao phối, H’Panh mang bầu được hơn hai năm nhưng không thể sinh con do bị ốm và qua đời sau đó...
Ông Đàng Năng Long (huyện Lắk, Đắk Lắk) cho biết cách đây khoảng bảy năm, voi cái H’Túk (28 tuổi) do ông quản lý mang thai và sinh con, đáng tiếc là sau đó voi con bị voi mẹ H’Túk vô ý giẫm chết. Ông Long cũng cho biết voi con cuối cùng được sinh ra và sống sót tại Đắk Lắk là con voi ở huyện Ea Súp, hiện tại được bán cả voi con lẫn voi mẹ về khu du lịch Đại Nam (Bình Dương).
Voi sinh con, chủ voi được hỗ trợ hơn 400 triệu đồng, nài voi cũng được hưởng gần 170 triệu đồng là thông tin khiến nhiều chủ voi, nài voi tại Đắk Lắk phấn khởi. Tuy nhiên, ông Y Thanh Uông - một nài voi ở khu du lịch Hồ Lắk (Đắk Lắk) - lại cho rằng hiện nay nguồn thức ăn và môi trường sinh sống cho voi không được như trước đây nên sức khỏe của voi cũng yếu hơn.
“Nhiều năm nay, chúng tôi vẫn thấy voi giao phối nhưng đó là bản năng tự nhiên chứ để mang thai được thì khó lắm” - ông Uông nói. Theo ông, để voi có thể sinh sản được phải có khoảng không gian rừng rộng lớn để voi giao phối, quá trình voi mang thai kéo dài hai ba năm nên để một con voi ra đời là cả thời gian rất dài. “Voi cái chọn bạn tình rất khắt khe, voi đực nó không thích thì có theo đuổi cả ngày, cả tuần nó vẫn né tránh, không cho giao phối” - ông Y Thanh Uông cho biết.
Trong khi đó, ông Đàng Năng Long, người nuôi nhiều voi nhất Đắk Lắk, cho biết chính sách hỗ trợ tiền cho chủ voi để tạo điều kiện voi nhà sinh sản ra đời vào thời điểm này là một điều rất đáng mừng đối với người nuôi voi. Bất kỳ ai là chủ voi cũng mong muốn voi mình sinh con, bởi đây không chỉ là tài sản quý giá mà đó là niềm vinh dự, tiếng tăm của chủ voi.
“Từ nhiều năm nay chúng tôi đã tìm nhiều cách để cho voi có thể sinh sản nhưng môi trường nuôi nhốt, nguồn thức ăn và cách chăm sóc thiếu thốn nên voi không thể sinh sản được. Tôi nghĩ giờ hỗ trợ 400 triệu đồng chứ nhiều hơn nữa cũng không quyết định được. Thay vì cho tiền hãy cho chúng tôi rừng, chúng tôi sẽ giúp voi sinh sản được” - ông Long đề nghị.
Ông Huỳnh Ngọc Luân, giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, cho biết hiện Trung tâm Bảo tồn voi đang xin chủ trương quy hoạch 200ha tại rừng phòng hộ Buôn Đôn để làm không gian chăn thả voi nhà mỗi kỳ voi động dục, giao phối. Đối với chính sách hỗ trợ chủ voi, nài voi đó mới là hành lang pháp lý để triển khai dự án, để chính sách hiện thực hóa cần có thêm những quy định chặt chẽ, cụ thể hơn...
PGS.TS Bảo Huy (Trường ĐH Tây nguyên), chủ nhiệm dự án Bảo tồn voi Đắk Lắk được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt năm 2010, cho biết: “Không cần quá lo lắng việc voi có thể giao phối, sinh sản được hay không bởi chúng tôi lấy kinh nghiệm từ Sri Lanka trong công tác bảo tồn voi nhà.
Trước đây, họ chỉ còn chưa tới mười con voi nhà nhưng hiện nay voi nhà của họ đã sinh sản hàng chục con từ việc thả voi trở lại tự nhiên trong mùa sinh sản. Trong công tác bảo tồn voi ở VN, quan trọng nhất là quyết tâm thực hiện những chính sách bảo tồn voi có tới cùng hay không, trong đó cốt lõi là phải có không gian sinh sản của voi cũng như chính sách hỗ trợ chủ voi, nài voi hợp lý, kịp thời...”. (Tuổi Trẻ 16/12)đầu trang(
Tại hội thảo chuyên đề “Lưu vực sông Đồng Nai - tác động của dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A” tổ chức tại TP.HCM ngày 16-12, thay mặt Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh: “Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên và xã hội, gây hậu quả khó lường và không có khả năng khắc phục”.
Chiều cùng ngày, VRN cũng đã ra thông cáo kiến nghị dừng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A (ĐN 6, 6A).
Là thành viên và đại diện VRN, TS Tuấn (Viện biến đổi khí hậu - ĐH Cần Thơ) cho rằng bản báo cáo đánh giá tác động môi trường không nhắc gì đến việc hai dự án này vi phạm Luật đa dạng sinh học và nghị quyết số 49 của Quốc hội khóa XII đã đưa ra năm 2010. Dự án thủy điện ĐN 6, 6A lấy mất 137ha rừng, đất rừng của vườn quốc gia Cát Tiên nên phải được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Ngoài ra, vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong hệ thống quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước, do đó việc Bộ NN&PTNT điều chỉnh đất của vườn để cho dự án thủy điện ĐN 6, 6A xây dựng là vi phạm điều 11 của Luật đa dạng sinh học.
Cũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ, PGS.TS Lê Trình, chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường VN, cho rằng việc xây dựng thủy điện ĐN 6, 6A nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên sẽ gây tác động đến môi trường, diện tích rừng mất đi sẽ tăng gấp nhiều lần. TS Trình lấy ví dụ: khi thủy điện Trị An được khởi công xây dựng thì nơi đây cả cây rừng và động vật hoang dã đều còn bạt ngàn. Khi đó thủy điện Trị An chỉ làm ngập khoảng 200km2 rừng, nhưng đến nay trên thực tế đã có thêm hàng ngàn kilômet vuông rừng bị mất đi vì nhiều nguyên nhân.
“Tôi cho rằng dự án thủy điện ĐN 6, 6A không chỉ lấy mất 137ha rừng của vườn quốc gia Cát Tiên mà diện tích rừng mất đi sẽ cực kỳ lớn trong tương lai. Tôi cảm thấy đau khổ khi những cánh rừng như thế này mất đi vì thủy điện. Cá nhân tôi cực lực phản đối dự án thủy điện ĐN 6, 6A” - TS Trình bộc bạch.
“Tôi cũng phản đối dự án thủy điện ĐN 6, 6A” - giám đốc Ban quản lý di tích danh thắng tỉnh Đồng Nai, ThS Lê Trí Dũng nói ngay khi vừa bước lên báo cáo tham luận tại hội thảo. Ông Dũng cho rằng làm thủy điện lấy mất rừng còn có thể nói trồng lại được, chứ các di sản văn hóa, đặc biệt các giá trị khảo cổ học, nếu bị nhấn chìm dưới nước thì sẽ mất hoàn toàn. “Khu vực Cát Lộc - nơi dự kiến xây dựng hai dự án thủy điện ĐN 6, 6A - được cho là khu kinh đô của nền văn hóa Óc Eo. Do đó nếu thủy điện ĐN 6, 6A xây dựng sẽ nhấn chìm các di chỉ khảo cổ học dày đặc trên sông Đồng Nai”.
Ông Trần Văn Mùi (giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai) cho rằng diện tích rừng “hi sinh” cho dự án thủy điện ĐN 6, 6A là rất lớn, rất xót xa bởi đây là một trong những nơi có hệ sinh thái đa dạng sinh học cao nhất nước. Với trên 20 năm sống, làm việc và bảo vệ rừng khu vực vườn quốc gia Cát Tiên cũng như Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, ông Trần Văn Mùi cho rằng không nên tin tưởng vào lời hứa sẽ trồng lại rừng của những chủ đầu tư dự án thủy điện. “Bởi chẳng còn đất ở đâu để trồng. Trồng lại rừng sau khi xây dựng thủy điện là điều không tưởng”.
Tại hội thảo, TS Đào Trọng Tứ, cố vấn VRN, kêu gọi: “Nhà nước nên nhìn nhận lại việc có nên tiếp tục cho phép xây dựng thủy điện trên sông Đồng Nai hay không”. Còn TS Lê Phát Quới (trưởng Phòng tài nguyên môi trường - trực thuộc Viện Tài nguyên và môi trường) nói rằng ông cảm thấy xấu hổ cho một số nhận xét, đánh giá trong báo cáo đánh giá tác động môi trường thủy điện ĐN 6, 6A. “Báo cáo đánh giá tác động môi trường này có nhiều điều “xạo”. Tôi đã góp ý nhiều nhưng một số anh em không nghe” - TS Quới nói và cho biết ngay từ đầu ông đã từ chối tham gia làm báo cáo đánh giá tác động môi trường cho hai dự án này.
Ông Hoàng Việt, đại diện WWF Việt Nam dự hội nghị, cũng thống nhất: “Không nên cho phép xây dựng hai dự án thủy điện ĐN 6, 6A” và nêu thêm Mỹ cũng như các nước châu Âu đang phải phá đi một số thủy điện đã được xây dựng. Vì vậy không cớ gì chúng ta lại đi ủng hộ việc xây dựng những thủy điện có tác động xấu như dự án thủy điện ĐN 6, 6A. TS Lê Trình cũng cho rằng việc cho phép xây dựng dự án thủy điện ĐN 6, 6A sẽ tạo tiền lệ rất xấu cho các vườn quốc gia trong tương lai. “Bộ Tài nguyên - môi trường mà đồng ý cho hai dự án thủy điện ĐN 6, 6A được triển khai xây dựng là không bình thường” - TS Trình bày tỏ. (Vnexpress.net 17/`12; Tuổi Trẻ 17/12; Đại Đoàn Kết 17/12; Dân Trí 17/12; Nông Thôn Ngày Nay 17/12; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 17/12; Sài Gòn Tiếp Thị 16/12; Sài Gòn Giải Phóng 17/12)đầu trang(
14/12, tại UBND tỉnh Đồng Nai đã diễn ra cuộc họp báo tổng kết năm 2012. Bên cạnh việc có rất nhiều tin vui từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài (hơn 1,2 tỉ USD, tăng 33% so với năm ngoái) thì Đồng Nai cũng còn tồn tại nhiều vấn đề “nóng”.
Ông Nguyễn Thành Trí, phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết sở dĩ Đồng Nai kiên quyết phản đối thủy điện Đồng Nai 6 và 6A xây dựng giữa rừng quốc gia vì không thể không nghĩ đến hàng triệu cư dân hạ du sông Đồng Nai, trong đó có người dân của tỉnh.
“Tháng 8.2011, UBND tỉnh đã có văn bản gửi bộ Công thương về vấn đề thủy điện giữa rừng quốc gia và ngay sau đó tổ chức hội thảo với 60 chuyên gia, nhà khoa học để lắng nghe ý kiến. Đa số các nhà khoa học đều phản ứng theo xu hướng không ủng hộ thủy điện vì các tác hại của nó. Ban tuyên giáo, ban thường vụ tỉnh ủy Đồng Nai cũng đã gửi văn bản đến bộ Chính trị với cùng nội dung.”- ông Trí cho biết.
Theo ông Trí, về tác động môi trường thì các nhà khoa học đã phân tích kỹ nhưng riêng tác động đến môi trường văn hóa là tác động rất quan trọng. “Tháng 9.2011 Cát Tiên được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt và căn cứ vào luật bảo vệ di sản văn hóa. Dự án 137ha nằm ngay vùng lõi là quá rõ ràng để luật phải can thiệp. 11.2011, Cát Tiên và khu bảo tồn Thiên nhiên và di tích lịch sử được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nên phải chịu sự điều chỉnh bởi công ước quốc tế.
Tổ chức con người và thiên nhiên cũng đã kiến nghị ngưng ngay hai dự án này. Đồng Nai phối hợp Lâm Đồng, Bình Phước để công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và 6.2013 sẽ trình UNESCO để xin công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Như vậy, trách nhiệm bảo vệ Cát Tiên không chỉ là của Đồng Nai mà còn là của Việt Nam, của thế giới!”- ông Trí khẳng định.
Tiếp lời ông Nguyễn Thành Trí về vấn đề này, ông Đinh Quốc Thái, chủ tịch tỉnh Đồng Nai nhận định thêm: “Vừa qua, tiến sĩ Lê Đức Chương, vụ trưởng vụ Khoa học công nghệ và môi trường của bộ Văn hóa thể thao và du lịch phát biểu “ngộ” quá! Đồng chí này cho rằng Đồng Nai không có tí đất nào ở khu vực xây thủy điện mà phản đối thủy điện và cho rằng nên xây dựng thủy điện. Thử hỏi ở Lào xây dựng thủy điện Xayaburi mà khiến nhiều nước dưới hạ nguồn, bao gồm Việt Nam lo lắng và phản ứng là sao? Tôi nghĩ đó là một phát biểu vô trách nhiệm, thiếu am hiểu về giá trị di sản lẫn thiếu khoa học kỹ thuật!”
Như đã nói, tỉnh Đồng Nai năm 2012 thu hút vốn khá lớn (trên 1,2 tỉ USD) và dạt mức tăng trưởng cao (trên 12%, cao hơn Hà Nội lẫn TP.HCM) tuy nhiên lãnh đạo tỉnh cho biết vẫn… chưa hài lòng. Theo báo cáo của đại diện sở Kế hoạch đầu tư, nguồn vốn thu hút cao nhưng được chọn lọc, trong đó tập trung vào việc phát triển công nghệ sinh học và công nghệ thông tin.
Năm 2012, Đồng Nai đã thu hồi 32 dự án (tổng cộng 170 triệu USD) vì lý do nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư quy mô nhỏ và thực hiện chậm trễ, hết thời hạn giấy phép, triển khai kém hiệu quả. Trong đó, nhiều doanh nghiệp tự đề nghị rút lui nhưng cũng có doanh nghiệp thậm chí về nước mà không làm thủ tục giải thể. “Bộ Khê hoạch đầu tư đã có văn bản hướng dẫ thu hồi các dự án nhưng mang tính tình thế, trong thời gian tới phải điều chỉnh các nghị định về đầu tư sát tình hình thực tế. Quy định của luật Đầu tư về các nhà đầu tư nước ngoài bỏ trốn chưa có thì cần bổ sung.
Được biệt là bổ sung việc kiểm tra đầu tiên là doanh nghiệp bỏ trốn, giải thể có nợ lương lao động hay không? Nếu có thì phát mãi tài sản để trả cho người lao động, nếu không còn tài sản hoặc tài sản không trả đủ thì lấy ngân sách hỗ trợ người lao động”, bà Bồ Ngọc Thu, giám đốc sở Kế hoạch đầu tư tỉnh cho biết.
Bên lề cuộc họp, trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị, bà Huỳnh Thị Nga, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai còn trăn trở về việc chuyển giá và báo lỗ (dù có lãi) của các doanh nghiệp nước ngoài. Theo bà Nga, không chỉ Đồng Nai mà các tỉnh cần công bố danh sách các đơn vị tương tự như trường hợp cục thuế TP.HCM đã làm với Coca-Cola và dung áp lực của người tiêu dung để tạ sức ép để doanh nghiệp trách nhiệm hơn.
“Đây là một vấn đề nhạy cảm và liên quan đến nhiều yếu tố như chính trị, ngoại giao và các khó khan về xác minh giá cả nhập hàng của nước ngoài của doanh nghiệp. Cơ quan nhà nước cũng thấy bất cập nhưng gặp khó trong việc xác minh như đã nói. Chuyển giá, trốn thuế không chỉ là câu chuyện không của Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới”, bà Nga nói
Các nhà báo còn đặt nhiều câu hỏi về sai phạm của các cán bộ UBND TP.Biên Hòa trong vụ chợ Tân Hiệp, đặt vấn đề về sự lạm quyền của lực lượng dân phòng, vấn đề xe công vụ (xe máy) của lực lượng thanh tra giao thông giống xe.. dân chơi, trách nhiệm của công ty Sonadezi Long Thành và trách nhiệm của người đứng đầu Sonadezi- đại biểu Quốc hội Đỗ Thị Thu Hằng,…
Do thời gian có hạn nên các vấn đề trên được UBND tỉnh hứa sẽ trả lời bằng văn bản, trong tháng 12.2012. (Sài Gòn Tiếp Thị 16/12)đầu trang(
“Không nên đầu tư thủy điện Đồng Nai 6, 6A!”
Theo quy hoạch, thủy điện này chỉ lấy 210 km2 rừng để làm hồ chứa. Nhưng từ khi có hồ, do dân cư tăng nhanh, đã có hàng ngàn km2 rừng bị phá không kiểm soát được.
“Với tư cách là chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường Việt Nam (VAFEIA), tôi cho rằng dứt khoát không nên quyết định đầu tư dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cũng như các dự án thủy điện nằm trong vườn quốc gia, khu vực bảo tồn thiên nhiên. Chúng ta cần thực hiện đúng Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học chứ không thể nói rằng sau này sẽ nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường” - PGS-TS Lê Trình nhấn mạnh tại hội nghị thường niên của Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), ngày 16-12.
Theo PGS-TS Lê Trình, những tác động tiêu cực về môi trường, thủy văn, đa dạng sinh học… nếu cho phép thực hiện dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã được các nhà khoa học và địa phương, nhất là UBND tỉnh Đồng Nai đề cập rất nhiều. Ông Trình lấy trường hợp thủy điện Trị An để minh chứng thêm.
Theo quy hoạch, thủy điện này chỉ lấy 210 km2 rừng để làm hồ chứa. Nhưng từ khi có hồ, do dân cư tăng nhanh, đã có hàng ngàn km2 rừng bị phá không kiểm soát được. Hiện nay, xung quanh hồ Trị An không còn cánh rừng nào. “Những tác động như thế này được các tổ chức quốc tế rất quan tâm. Nó gọi là tác động kèm theo, giống như vết dầu loang” - ông Trình nói.
Theo ông Trình, dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Cát Tiên. Vậy sau khi có hồ rồi, liệu ai sẽ đảm bảo được rằng người dân sẽ không đổ vào quanh hồ và lấn dần, phá dần diện tích rừng xung quanh các dự án. Như vậy vết dầu loang sẽ bắt đầu từ vị trí các dự án thủy điện nằm ở trung tâm của Vườn Cát Tiên, lan rộng dần đe dọa nghiêm trọng tới vườn quốc gia này.
Trong khi đó, lấy bối cảnh TP.HCM đang hứng chịu những đợt triều cường cao, TS Lê Tuấn Anh (VRN) lại cảnh báo: Nếu xảy ra vỡ đập thủy điện Đồng Nai 6, 6A, trên 7.000 ha đất ở Đắk Nông, Lâm Đồng và Đồng Nai sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. TP.HCM cũng không thoát khỏi cảnh ngập nặng.
“Nếu công trình gặp sự cố thì thiệt hại sẽ rất lớn, vượt quá tiềm lực kinh tế cũng như tính toán lợi nhuận của chủ đầu tư. Thế nhưng chúng tôi không thấy ĐTM đưa ra phương án khả thi để giải quyết hàng loạt sự cố và tai nạn có thể xảy ra. Cạnh đó, cũng không có biện pháp nào đủ mạnh và hiệu quả để bù đắp các mất mát, thiệt hại của hệ sinh thái mà dự án có thể gây ra” - TS Anh quan ngại. (Pháp Luật TPHCM 17/12)đầu trang(
Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bìnhxác nhận số chồn nhung đen đang được bán ở Nghệ An không có giấy phép đăng ký trong khi Cục Chăn nuôi Bộ NN&PTNT khẳng định chưa cấp phép cho việc nhập chồn nhung đen vào Việt Nam làm vật nuôi nông nghiệp.
Như VTC News thông tin, nhiều hộ dân ở xã Quỳnh Bá (huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An) đang tham gia mô hình nuôi chồn nhung đen. Số chồn nhung đen này được trại nuôi của ông Đoàn Việt Châu ở địa chỉ xóm Mỏ, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình cung cấp với giá 4 triệu đồng/cặp bố mẹ.
Sẽ không có gì đáng bàn nếu đường đi của những con chồn nhung đen này minh bạch và bản hợp đồng ký kết giữa người mua và người bán xuất hiện những điểm đáng ngờ. Trong đó, điểm quan trọng nhất là bao tiêu sản phẩm được nhà cung cấp giống cam kết sẽ thu mua nhưng lại không đề rõ ngày tháng cụ thể.
Cục kiểm lâm Hòa Bình: Chồn nhung ở Nghệ An có vấn đề: Sau khi nhận được phản ánh từ VTC News, ông Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng tỉnh Hòa Bình cho biết đã chỉ đạo cán bộ kiểm tra hồ sơ, xác minh số chồn nhung đen đang nuôi ở trang trại của ông Đoàn Việt Châu.
Theo đó, đúng như bài báo mà VTC News đã thông tin, ngày 12/07/2012, Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình ký giấy chứng nhận đăng ký cho ông Đoàn Việt Châu nuôi 2 con nhím và 40 con chồn nhung đen có nguồn gốc từ Thái Nguyên. Từ đó cho đến nay, cơ quan này không cấp thêm giấy chứng nhận nào khác cho ông Đoàn Việt Châu.
"Tôi đã liên hệ với ông Châu và ông này thừa nhận có mang chồn vào Nghệ An bán nhưng không làm thủ tục, giấy tờ xác nhận, tự ý bán thốc, bán tháo vào Nghệ An. Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình sẽ vào cuộc kiểm tra về hoạt động nuôi cũng như mua bán của người này", ông Minh khẳng định.
"Trước đây ở Hòa Bình có thời điểm bán 6 triệu đồng/cặp chồn giống, hiện nay rẻ hơn và rất nhiều hộ dân đang tham gia nuôi. Tuy nhiên, thị trường rất ế ẩm, thịt thương phẩm bán ra chỉ 300 - 500 ngàn/con có trọng lượng 1,5kg. Người dân cần tỉnh táo cảnh giác vì trước đây cũng từng xảy ra tình trạng tương tự đối với nhím," ông Nguyễn Văn Minh cảnh báo thêm.
Bộ NN&PTNT: Không cấp phép chồn nhung. Để làm rõ hơn về những điểm nghi vấn về nguồn gốc chồn cũng như sự thật trong những thông tin mà ông Đoàn Việt Châu "tung" ra cho bà con nông dân ở xã Quỳnh Bá (huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An) và các lãnh đạo phòng - ban Huyện, Sở, PV VTC News đã có cuộc trao đổi với lãnh đạo Cục Chăn nuôi Bộ NN&PTNT.
Ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, chồn nhung đen thực chất có tên gọi là Guinea pig và khẳng định: "Chưa cấp phép cho việc nhập chồn nhung đen vào Việt Nam làm vật nuôi nông nghiệp".
Theo lời ông Giao, vào khoảng tháng 6 – 7/2006, Viện Chăn nuôi có đề xuất xin nhập một số con chồn nhung đen về Việt Nam với mục tiêu là khảo nghiệm, đánh giá, xem xét khả năng thích nghi và ảnh hưởng như thế nào đến môi trường với vật nuôi xung quanh.
Đến tháng 12/2006, Viện Chăn nuôi vẫn chưa nhập được về và phải xin gia hạn đến tháng 3/2007. Sau đó, Viện Chăn nuôi được phép nhập khẩu 200 đôi chồn nhung đen giống bố mẹ (khoảng 400 con) từ cơ sở giống Công ty Hắc đồn Đạt Kim Sinh, huyện Hoành, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc về nuôi khảo nghiệm tại Trạm Nghiên cứu đà điểu thuộc Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
Tuy nhiên, đến nay, đã qua 71 tháng (gần 6 năm) kể từ ngày gia hạn nhập khẩu và qua 68 tháng hết hạn thời gian nhập khẩu, Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, Viện Chăn nuôi chưa có báo cáo kết quả nhập khẩu và báo cáo kết quả nuôi khảo nghiệm gửi về Cục Chăn nuôi.
“Tôi khẳng định chồn nhung đen người dân đang nuôi hiện nay chưa có tên trong danh sách các vật nuôi nông nghiệp, không rõ nguồn gốc và chưa có kết quả khảo nghiệm của các cơ quan chuyên môn báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”, ông Giao nhấn mạnh.
Như vậy, đến nay loài động vật này vẫn chưa có căn cứ đánh giá mặt tích cực, cũng như tác hại của chồn nhung đen (lây lan dịch bệnh, sự phá hoại mùa màng), ngoài ra cũng chưa có căn cứ để kết luận về giá trị dinh dưỡng và chất lượng thịt của vật nuôi này.
Trong khi đó, trao đổi với phóng viên VTC News, tiến sỹ Võ Văn Sự, Viện chăn nuôi, lại cho rằng, chồn nhung đen đã được đưa vào Việt Nam từ thời Pháp thuộc. Trước đây, chồn nhung đen được dùng làm động vật nghiên cứu trong y học và cũng được xem là sinh vật cảnh.
Đến năm 2005, Hội đồng khoa học của Bộ Nông nghiệp phát triển và nông thôn đã phê duyệt cho Viện Chăn nuôi nhập giống này và năm 2007 chồn nhung đen chính thức được nhập vào nước ta, hoàn toàn hợp pháp và đã qua tất cả các khâu kiểm dịch.
Về sự mâu thuẫn này, Cục trưởng Cục Chăn nuôi khẳng định: “Nếu có thông tin là đã cấp chứng nhận thì Viện Chăn nuôi đã sai. Chúng tôi cũng đã gửi công văn yêu cầu Viện Chăn nuôi báo cáo cụ thể”.
Cũng theo ông Giao, để đề phòng các rủi ro và tác hại từ việc chăn nuôi chồn nhung đen, các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải tuyên truyền cho người dân hiểu được mặt tiêu cực từ việc tự phát nuôi chồn nhung đen khi chưa có kết quả khảo nghiệm của cơ quan chuyên môn là tiềm ẩn rủi ro, vì vậy chưa phát tán rộng rãi. (Theo VTC News 15/12)đầu trang(
Tiếp theo loạt bài về Trung tâm Cứu hộ Gấu Tam Đảo. Phóng viên Tuần Việt Nam phỏng vấn ông Đỗ Đình Tiến, Giám đốc Vườn quốc gia Gấu Tam Đảo, GĐ phía Việt Nam của Trung tâm Cứu hộ Gấu.
Ông nghĩ sao về việc AAF cáo buộc ông, với cương vị là Giám đốc phía Việt Nam của Trung tâm Cứu hộ Gấu đã vô trách nhiệm và có động cơ cá nhân trong việc tạo áp lực khiến Trung tâm bị đứng trước nguy cơ phải di dời? Trả lời câu hỏi này, ông Tiến cho hay: Những lời cáo buộc hoàn toàn không chính xác. Tôi xin nói rõ những nguyên nhân. Thứ nhất: AAF đã cử những đại diện yếu kém, không hiểu biết về pháp luật Việt Nam làm dự án. Với trách nhiệm cá nhân, tôi phải có trách nhiệm bảo vệ và thực thi pháp luật Việt Nam.
Thứ hai: tôi phải làm sao để tránh lãng phí, tránh những phức tạp có thể xảy ra trong công tác quản lý. Vì sao tôi không làm hết trách nhiệm: là vì còn một số thủ tục cho dự án bảo tồn gấu chưa được hoàn thiện là chưa có quy hoạch sử dụng đất đai cụ thể do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn hoặc UBND duyệt cho sử dụng; và chưa có đánh giá tác động môi trường.
Tôi đã giục nhiều lần thì anh Tuấn Bendixsen có nói đã thuê một tổ chức vào làm đánh giá tác động môi trường hết 500 triệu VNĐ, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy có báo cáo.
Nhưng dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt?Ông Tiến khẳng định: Không có một quyết định nào được phê duyệt cả. Tất cả đều chỉ là chủ trương đồng ý cho dự án vào. Mọi thứ đều chưa cụ thể.
Ông vừa nói AAF 'toàn cán bộ yếu kém', cụ thể họ kém thế nào? Với tư cách là GĐ Việt Nam, sao ông không giúp đỡ tư vấn cho họ, cũng như xúc tiến hoàn thiện mọi thủ tục từ trước khi dự án được triển khai? Tất cả những thủ tục đi làm đều phải có chi phí như xăng xe, liên hệ các cơ quan... Tất cả những việc đó anh Tuấn Bendixsen đều nhận làm, và anh ấy trực tiếp quản lý toàn bộ nguồn vốn. Chúng tôi không được tham gia vào việc quản lý và sử dụng vốn nhưng anh ấy không báo cáo gì dù chúng tôi đã giục rất nhiều lần.
Với trách nhiệm cá nhân, tất cả những gì cần làm tôi đã hướng dẫn đầy đủ, nên không thể nói tôi vô trách nhiệm.
Vườn Quốc gia Tam Đảo có diện tích 36.883 ha. Thảm thực vật ở đây đặc trưng cho 5 kiểu rừng. Hệ thực vật có 904 loài thuộc 478 chi, 213 họ thực vật bậc cao, trong đó có 64 loài thực vật quí hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam. Động vật gồm có 307 loài, trong đó 56 loài động vật quí hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (gồm 22 loài thú, 9 loài chim, 17 loài bò sát, 7 loài lưỡng cư và 1 loài côn trùng).
Còn việc AAF cáo buộc ông đưa Công ty Trường Giang Tam Đảo vào đo đạc, đầu thầu mặt bằng của Trung tâm để làm khu du lịch sinh thái, ông có ý kiến gì? Tôi chẳng có ý gì, đó là lời cáo buộc vô căn cứ. Tôi khẳng định chẳng có cơ sở nào chứng minh điều này.
Đúng là với vị trí của Vườn quốc gia Tam Đảo, thuận lợi về giao thông, khí hậu, xung quanh khu vực này có rất nhiều khu công nghiệp. Nhu cầu về nghỉ ngơi của của khách du lịch, cán bộ công nhân viên trong khu vực là có. Nhu cầu xây dựng một khu du lịch nghỉ ngơi là cần thiết. Tam Đảo hiện có rất nhiều đơn vị đến xem xét và muốn thuê đất làm khu sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, trong đó có Trường Giang Tam Đảo.
AAF nói con gái ông có 10% cổ phần trong Trường Giang Tam Đảo? Và trên thực tế Trường Giang Tam Đảo đã vào đo đạc đất trong Trung tâm? Việc xem xét khảo sát thì chúng tôi đã kêu gọi nhiều tổ chức vào xem xét khảo sát, chứ không chỉ riêng Trường Giang Tam Đảo, mà thời điểm này kinh tế khó khăn, ít công ty vào quá.
Còn việc ai liên kết với ai thành lập công ty với tôi chả có nghĩa gì. Việc con gái tôi có 10% ở Trường Giang Tam Đảo, tôi có hỏi con tôi, nó nói có thành lập công ty với bạn bè, mỗi người có 10% cổ phần. Nhưng việc nó thành lập công ty là một việc, còn có được cấp trên phê duyệt dự án hay không lại là việc khác. Hơn nữa từ ngày AAF cáo buộc này khác, Trường Giang Tam Đảo chẳng thấy ý kiến gì, chả xin thuê nữa.
Ông có thấy việc mời một (vài) công ty vào đo đạc đất của một tổ chức đang hoạt động, đã được TW cấp phép như vậy có đúng đắn hay không? Tôi thấy chẳng có vấn đề gì, việc đó (đo đạc - PV) có ảnh hưởng gì đến ai. Hơn nữa chúng tôi còn đang kêu gọi các công ty vào khảo sát kinh doanh. Nhà nước cũng đã có chủ trương cho phép khai thác các khu rừng làm nơi du lịch nghỉ ngơi và tăng thu nhập. Đây là chủ trương lớn được nhiều bộ ngành đồng tình.
Nhưng Trung tâm Cứu hộ Gấu đã được cấp phép, đang hoạt động? Trung tâm sẽ phải đóng cửa.
Là một thành phần quan trọng trong dự án, đứng trước nguy cơ Trung tâm bị di dời, ông đã và đang có những nỗ lực nào để giải quyết vấn đề? Tôi đang tìm kiếm một vị trí thích hợp để di chuyển Trung tâm đến đó.Tôi đã đi một số nơi, trao đổi với một số cơ quan nhưng vẫn chưa tìm được vị trí nào phù hợp
Câu chuyện ‘gấu Tam Đảo’ đã nổi tiếng đến mức nhiều đại sứ các nước, đại diện các tổ chức quốc tế đã lên tiếng. Chuyện không còn dừng lại ở những chú gấu nữa, mà đã chuyển sang một khái niệm rộng lớn hơn, tựa như uy tín quốc gia hoặc văn hóa – văn minh con người.
Không ồn ào như những nghệ sĩ đang đình đám, ngày 3/12, nữ diễn viên Ali MacGraw, ngôi sao của Love Story 40 năm trước sang Việt Nam lặng lẽ viết tiếp một ‘câu chuyện tình’ mới với những chú gấu Tam Đảo.
Bà Ali chia sẻ lý do sang Việt Nam nỗ lực góp tay bảo vệ Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo bởi vì “không ai có thể yên lòng khi nhìn những hình ảnh những con vật tội nghiệp bị hành hạ và khai thác mật một cách tàn nhẫn như vậy. Điều đó đang hủy hoại những giá trị tốt đẹp mà con người đã và đang nỗ lực tạo ra và hướng tới”
Tiến sỹ Jill Robinson MBE, người sáng lập và điều hành Tổ chức Động vật Châu Á tiếp lời bà Ali: “Ở cả Trung Quốc và Việt Nam hiện nay có hơn 10 000 cá thể gấu đang được nuôi lấy mật. Những chú gấu được lấy mật bằng nhiều cách, cách nào cũng dã man và đáng sợ” (Theo VEF 15/12)đầu trang(
Ngày 13-12, tại Hội nghị tổng kết về quản lý, sử dụng đất trong các nông lâm trường quốc doanh, báo cáo của các bộ, ngành liên quan cho thấy, hiện có tới hơn 240 nghìn ha đất rừng của 185 nông, lâm trường bị lấn chiếm trái phép, 11 nghìn ha khác đang có tranh chấp trong khi hiện vẫn còn hơn 315 nghìn ha đất bị bỏ hoang hóa.
Nguyên nhân là các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng không quản lý được diện tích đất rừng, việc rà soát quỹ đất chỉ được thực hiện trên sổ sách mà không qua đo đạc thực tế.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời gian tới, cần mạnh dạn xem xét giải thể các nông, lâm trường hoạt động không hiệu quả, hoặc quản lý yếu kém; thu hồi, xử lý đối với những diện tích đất nông, lâm trường để hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích; kiên quyết không thực hiện đền bù đối với công trình nhà cửa, dịch vụ... Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông, lâm nghiệp cần được hoàn thành dứt điểm vào năm 2015. (Nhân Dân 15/12)đầu trang(
Trong tuần qua, HĐND các tỉnh khu vực Tây Nguyên đã tiến hành kỳ họp cuối năm nhằm đánh giá kết quả phát triển kinh tế xã hội trong năm 2012.
Tại các phiên họp, nhiều vấn đề được các đại biểu đưa ra chất vấn, trong đó, vấn đề quản lý và bảo vệ rừng tiếp tục trở thành vấn đề “nóng” khi tình trạng lâm tặc lộng hành, diện tích rừng ở các tỉnh Tây Nguyên liên tục bị tàn phá.
Tại kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh Đắk Lắk, nhiều đại biểu đặt câu hỏi vì sao nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng vấn nóng bỏng, dù vấn đề đã được nói đến nhiều, thậm chí là rất nhiều trong các kỳ họp HĐND và các kỳ họp quan trọng khác của tỉnh. Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk… cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu triển khai quyết liệt các biện pháp, nhưng nạn phá rừng vẫn tiếp tục gia tăng.
Trong năm, toàn tỉnh có tới 1.600 vụ vi phạm tài nguyên rừng được phát hiện, với 182 ha rừng bị tàn phá. Ngay cả dải rừng thông phòng hộ quốc lộ 14, ở huyện Krông Búc và Ea H’Leo, cũng tàn phá ngang nhiên, đất rẫy tiến sát tới mặt đường. Việc mất rừng được lý giải do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu vẫn do công tác quản lý và bảo vệ rừng lỏng lẻo, chưa làm rõ trách nhiệm cụ thể của những cán bộ và đơn vị liên qua.
Đại biểu Y Manh A Drơng, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea H’Leo chất vấn về trách nhiệm của đơn vị chủ rừng: Trong báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về vấn đề đánh giá nguyên nhân thu hẹp rừng thì chưa hết. Tôi thấy mới đề cập, vai trò của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, hạt kiểm lâm nhưng chưa nói đến vai trò của đơn vị chủ rừng. Như vậy, để xử lý việc này, đề nghị phải làm rõ vai trò của đơn vị chủ rừng vì nhà nước giao cho anh , anh phải có trách nhiệm, còn đơn vị khác chỉ là đơn vị phối hợp và quản lý nhà nước thôi.
Còn tại tỉnh Kon Tum, điều khiến các đại biểu hết sức băn khoăn là dù rừng có chủ, có nhiều cơ quan chức năng và chính quyền địa phương bảo vệ, song vẫn bị tàn phá.
Càng bất ngờ hơn khi nhiều vụ khai thác lâm sản trái phép được phát hiện là do người dân tố giác trực tiếp với lãnh đạo tỉnh, chứ không phải từ lực lượng chức năng. Trước sự truy vấn của đại biểu, ông Nguyễn Trung Hải, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum cho biết, phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng đã được xây dựng.
Trong đó, cũng quy rõ trách nhiệm đối với chính quyền, đảng ủy địa phương và ngành chức năng: Trong phương án này đồng chí Bí thư Huyện ủy chịu trách nhiệm trước đồng chí Bí thư Ban cán sự Đảng của Ủy ban tỉnh. Chủ tịch UBND huyện sẽ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về để tình trạng khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rẫy. Còn lại các ngành như là công an, huyện đội, kiểm lâm tham mưu cho chính quyền cấp huyện và chịu trách nhiệm trước ngành dọc của mình ở cấp trên.
Khác với Kon Tum và Gia Lai, rừng ở tỉnh Lâm Đồng bị phá rất mạnh ở những dự án nông-lâm kết hợp hoặc du lịch sinh thái. Trong số 700 dự án đã được cấp phép có liên quan đến rừng và đất rừng, thì có hơn 350 dự án để xảy ra nạn phá rừng, đang làm thiệt hại hàng trăm héc ta mỗi năm.
Tại kỳ họp thứ 5 vừa tổ chức, Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề ra mục tiêu duy trì mức tăng trưởng kinh tế đạt từ 14 đến 15% trong năm 2013. Muốn đạt được điều này, tỉnh sẽ phải cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư. Trong đó, có việc rà soát, chấn chỉnh các dự án chậm tiến độ, để mất rừng.
Ông Nguyễn Xuân Tiến, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết: Chúng tôi cũng đang tìm hiểu thật là kỹ cái nào khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính, về cơ chế, chính sách quản lý đất đai chẳng hạn thì tiếp tục xem xét và tháo gỡ. Và khi nào dự án không có năng lực để hư hại về rừng, không có phương án bảo vệ rừng, xây hại đến rừng thì kiên quyết thu hồi. Ở dưới các huyện cứ kiểm tra xem xét, nếu các trường hợp dự án vi phạm về vấn đề đó thì cứ đề nghị lên đây tôi ký quyết định ngay, thu hồi ngay”.
Mất rừng vốn là vấn đề đã gây bức xúc ở khu vực Tây Nguyên trong suốt nhiều năm qua. Nhưng, trách nhiệm của cán bộ như thế nào khi rừng liên tục mất vẫn là vấn đề được nhiều cử tri và đại biểu quan tâm. Chỉ khi hai tiếng “trách nhiệm” được thể hiện thật cụ thể, thì mới có hy vọng để các giải pháp ngăn chặn phá rừng được thực hiện có hiệu quả . (Vov.vn 16/12) đầu trang(
Cứ khoảng vài ba ngày một số người đồng bào Cơ Ho, Mạ ở các địa bàn Lạc Dương, Đơn Dương chở lan rừng về TP Đà Lạt trên các tuyến phố ngã tư Phan Chu Trinh - Quang Trung, Chợ Đà Lạt… để bày bán những cây lan rừng sau vài ngày đi săn lan.
Nhưng việc tận thu lan rừng quá mức đã dẫn đến sự khan hiếm các giống lan trên địa bàn Lâm Đồng, nguy cơ biến mất của một số giống lan quý.
Theo chủ một vườn lan ở Đà Lạt cho biết, lan rừng ngày càng hiếm, nên việc mua bán cũng khó khăn hơn trước. Các loại lan quý phải đặt trước hàng tháng trời mới có được. Nguy cơ đe doạ đến các giống lan ở Lâm Đồng là rất lớn. Bởi theo các tay săn lan rừng thì họ phải đi rất xa mới có lan. Thậm chí, hiện nay các loại lan cần đặt hàng cũng không thể kiếm được, hoặc có cũng rất ít. (Báo Lâm Đồng 14/12)đầu trang(
Trong đó, 2.348ha rừng trồng; 4.628ha rừng tự nhiên và 4.222ha đất trống. Đến thời điểm hiện tại huyện Ba Chẽ đã có 6 tổ chức, doanh nghiệp được giao và thuê đất lâm nghiệp với tổng diện tích 16.282,67ha; 18 cộng đồng dân cư thôn, bản được giao với diện tích 719,4ha; 2.690 hộ gia đình được giao với diện tích 26.633ha; 32 hộ gia đình được thuê đất với diện tích 230ha.
Với diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao còn nhiều đã gây khó khăn cho công tác quản lý của huyện và lãng phí tài nguyên trên địa bàn. Chính vì vậy hiện nay huyện Ba Chẽ đang tập trung cho việc lập, hoàn thiện đề án giao đất, giao rừng bền vững. (Báo Quảng Ninh 15/12)đầu trang(
Ngày 10-12, Đảng ủy Chi Cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức Hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng ủy theo Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI.
Sau 1 ngày làm việc nghiêm túc với tinh thần dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm cao, thẳng thắn, nhìn thẳng sự thật, tập thể Đảng ủy và từng cá nhân đồng chí ủy viên BCH Đảng ủy đã kiểm điểm sâu sắc, phân tích, làm rõ những ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới. (Báo Sơn La 15/12)đầu trang(
Ở những buôn làng người đồng bào Ê-đê thuộc xã Ea Tu cách trung tâm TP Buôn Ma Thuột khoảng 10 km có những cánh rừng nguyên sinh với nhiều cây cổ thụ cao chót vót, gốc cây 4 - 5 người ôm...
"Kmrơng Prong" - một địa danh ở thành phố Buôn Ma Thuột, theo tiếng Ê-đê “Prong” có nghĩa là “to lớn”; còn “Kmrơng” được dịch ra là “rừng”. “Kmrơng Prong” nôm na theo tiếng đồng bào Ê-đê là “rừng lớn”.
Ông Y Wih Ê-ban - trưởng buôn Kmrơng Prong B năm nay 57 mùa rẫy chỉ nhớ cánh rừng nguyên sinh đầu nguồn có từ xa xưa, khi buôn Kmrơng Prong B còn chưa thai nghén. Trong ký ức của ông Y Wih Ê-ban, rừng Kmrơng Prong B nguyên sinh rất rộng, ranh giới có thể giáp các huyện Cư M’gar và huyện Krông Pắk (Đắk Lắk).
“Buôn Kmrơng Prong B hồi xưa được tạo lập trong rừng, khi đó già làng không biết phải đặt tên buôn như thế nào. Mà hồi đó là toàn rừng lớn, chạy đến sát huyện Krông Pắk nên sau khi lấy ý kiến bà con trong buôn, già làng quyết định đặt tên là Kmrơng Prong B - tức là buôn Kmrơng Prong thứ 2 nằm trong rừng lớn”, ông Y Wih Ê-ban nói.
Cách buôn Kmrơng Prong B khoảng 2 km, ở buôn Kmrơng Prong A cũng có một cánh rừng nguyên sinh cổ thụ. Theo già làng buôn Kmrơng Prong A - Y Yơh Kbuôr (73 tuổi), cánh rừng nguyên sinh buôn Kmrơng Prong A cũng có từ xa xưa và có thể kéo dài đến dốc Hà Lan, thị xã Buôn Hồ (tỉnh Đắk Lắk).
Ông cho biết, chuyện là gia đình ông có một con voi, đang mùa yêu đương nên voi suốt ngày quậy phá, một hôm theo tiếng gọi “tình yêu” chú voi bứt cả dây xích chạy mất hút đến dốc Hà Lan khiến gia đình ông quàng mắt đi tìm.
Nghe tin voi đang phá nương rẫy ở dốc Hà Lan, cách buôn mấy chục cây số, chú bé Y Yơh Kbuôr được giao trông voi nay để voi bứt dây bỏ đi, quá hoảng sợ chú men theo sườn rừng Kmrơng Prong A chạy một mạch đến dốc Hà Lan tìm thấy voi dắt về trong sự sung sướng mà nhìn rừng Kmrơng Prong A vẫn còn xa tít.
“Một mình tui đi trong rừng mà chỉ sợ sợ lạc, lúc đó tui cũng chẳng biết mỏi chân là gì nữa, chỉ mong tìm thấy voi chứ voi đã sổng ra nó phá tan hoa màu người ta sẽ phạt vạ. Khi tôi phát hiện ra voi cách buôn mấy chục km đường bộ mà rừng vẫn còn dài mỏi cả mắt”, già làng Y Yơh Kbuôr nhớ lại.
Dẫn chúng tôi đi về khu rừng đầu buôn, trưởng buôn Kmrơng Prong B - Y Wih Ê-ban tự hào chỉ vào những cây gỗ quý như tùng, bằng lằng, sao… cao chót vót, đường kính gốc 3 - 4 người ôm không hết.
Nép mình bên một gốc cây cổ thụ cao lớn, ông kể: “Từ hồi lập buôn đến giờ, rừng đầu nguồn vẫn vậy, không ai chặt phá cả! Theo phong tục của buôn, ai chặt phá cây rừng ở đầu nguồn bị bắt quả tang là phạt cúng một con trâu khỏe. Không những vậy, ai chặt rừng mà bị bắt là phải đền hết số lễ vật đã cúng từ xưa đến nay cộng lại. Nhờ vậy mà rừng đầu nguồn vẫn còn nguyên vẹn”.
Trưởng buôn Y Wih Ê-ban cho biết thêm, không những bà con không chặt phá rừng mà còn có cam kết hẳn hoi không phá rừng, hàng năm phân cử người trồng thêm cây mới phân tán xung quanh khu rừng.
Trong khi đó ở buôn Kmrơng Prong A, già làng Y Yơh Kbuôr cho biết ngay cả những cây gỗ đã chết đứng trong rừng nhưng bà con vẫn không chặt, chỉ đến khi cây đổ xuống do tuổi già, gió bão thì bà con báo cáo thôn buôn, UBND xã tìm cách xử lý hoặc thống nhất cưa ra đem bán làm quỹ buôn.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Bùi Văn Hượng - cán bộ Văn hóa Thông tin xã Ea Tu (TP. Buôn Ma Thuột) - cho biết tổng diện tích của 2 cánh rừng đầu nguồn ở buôn Kmrơng Prong A và Kmrơng Prong B khoảng 1,6 đến 1,7 ha. Ngoài ra, cách buôn Kmrơng Prong A không xa cũng có cánh rừng nguyên sinh của buôn Ju (thuộc xã Ea Tu) diện tích khoảng 1,5 ha.
“Bà con buôn Kmrơng Prong A, Kmrơng Prong B ai cũng ý thức được giữ rừng là giữ nguồn nước đầu nguồn, bảo vệ bến nước phục vụ sinh hoạt dù hiện nay đã có giếng. Các cánh rừng cũng làm cho không khí ở địa phương trong lành, mát dịu hơn hẳn. Thấy được lợi, hằng năm bà con còn trồng thêm cây xanh mới ở các khu vực xung quanh. Ngay cả cây sao ở cánh rừng của buôn Kmrơng Prong B dù đã chết mà bà con vẫn để vậy chứ nhất quyết không chịu chặt đi”, cán bộ Hượng nói.
Ông Hượng cho biết thêm, hướng đến việc gìn giữ cánh rừng đầu nguồn buôn Kmrơng Prong B, vừa qua Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường tỉnh Đắk Lắk phối hợp với UBND xã Ea Tu và buôn Kmrơng Prong B ký một cam kết “tay ba” nhằm bảo vệ khu rừng.
Ông Đoàn Ngọc Khuê - Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường tỉnh Đắk Lắk: “Những cây rừng đầu nguồn ở buôn Kmrơng Prong B, Kmrơng Prong A (xã Ea Tu, TP. Buôn Ma Thuột) đều có tuổi thọ trên 100 năm tuổi. Việc TP. Buôn Ma Thuột còn lưu giữ được cánh rừng đầu nguồn như ở xã Ea Tu là rất quý, nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời những cánh rừng này sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Bảo vệ số rừng đầu nguồn này cũng là cách gìn giữ được nguồn nước sạch đầu nguồn cho bà con”. (Dân Trí 15/12)đầu trang(
116 ha rừng thông lâu năm giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn, "lá phổi xanh" của huyện Sơn Hà (Quảng Ngãi) đã bị người dân triệt phá để lấy đất trồng sắn.
Người dân huyện miền núi Sơn Hà được cho là đã dùng rựa gọt quanh gốc thông rồi phủ kín lá cây xung quanh chờ cây chết dần. Cách đây 5 năm, thị trấn Di Lăng huyện miền núi Sơn Hà được ví như TP Đà Lạt ẩn mình dưới bạt ngàn rừng thông. Song giờ những vạt rừng thông xanh đã biến mất.
Ông Đinh Văn Hai ở thị trấn Di Lăng cho biết, giá củ sắn liên tục tăng trong 2 năm nay. Mỗi ha sau thu hoạch trừ chi phí còn lãi gần 40 triệu đồng nên người dân nơi đây đã tìm cách phá rừng thông lâu năm lấy đất trồng sắn.
116 ha rừng thông ba lá được chính quyền huyện Sơn Hà phát động trồng năm 1977 để phủ xanh đất trống, đồi trọc, phòng hộ khu vực đầu nguồn. Đến năm 2008, toàn bộ diện tích rừng thông chuyển sang loại rừng sản xuất vô tình tạo "kẽ hở" cho người dân chặt thông để trồng sắn, keo lai.
2 năm qua, chính quyền thị trấn Di Lăng phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Sơn Hà tổ chức mai phục, truy bắt người dân phá rừng thông đưa ra kiểm điểm, xử lý hành chính. UBND thị trấn Di Lăng từng lập hồ sơ vụ án tập thể người dân phá rừng thông gửi lên cơ quan chức năng để khởi tố, xử lý hình sự, nhưng vụ việc sau đó rơi vào im lặng.
Ông Nguyễn Hữu Dương, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Sơn Hà thống kê, mức độ tàn phá rừng thông ngày càng gia tăng, từ 116 ha ban đầu đến nay chỉ còn vài ha. Lãnh đạo Hạt kiểm lâm Sơn Hà đang "đau đầu" trước tình trạng phá thông theo kiểu đẽo, gọt cho cây chết đứng giữa rừng, sau đó mới cưa hạ.
Trong khi đó ông Đinh Quốc Bình, Chủ tịch UBND thị trấn Di Lăng cho rằng, huyện đã bàn giao 116 ha rừng thông cho địa phương quản lý nhưng thực chất chỉ có khoảng 54 ha đất là có thông. Rừng đã bị người dân lén lút chặt phá "nay chỗ này, mai chỗ kia" không thể nào kiểm soát.
Trước nhu cầu đất sản xuất "nóng bỏng" như hiện nay, UBND thị trấn Di Lăng đã báo cáo huyện Sơn Hà không thể quản lý nổi rừng thông. "Huyện đã giao 54 ha rừng thông, cấp sổ đỏ đất lâm nghiệp cho 37 hộ dân trên địa bàn để quản lý rừng với mức hỗ trợ mỗi năm là 200.000 đồng/hộ. Diện tích nào trống thì trồng cây xà cừ để phủ xanh đồi trọc", ông Bình cho biết thêm.
Tuy nhiên ông Bình cũng lo ngại, với mức hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ quá thấp như hiện nay, trong tương lai gần rừng thông khó tồn tại. (Vnexpress.net 14/12)đầu trang(
Ngày nay, ở khắp các làng quê trong tỉnh Bắc Giang có nhiều gia đình bằng ý chí, nghị lực và đôi bàn tay đã làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Vợ chồng anh chị Nguyễn Văn Hùng (SN 1972) -Trần Thị Bẩy (SN 1979), thôn Cai Vàng, xã Đông Hưng (Lục Nam) là một điển hình như vậy. Hằng năm, từ mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi, gia đình anh chị thu gần 600 triệu đồng.
Chị Bẩy cho biết, hiện gia đình chị có hơn 70ha rừng trong đó có 50ha trồng bạch đàn cao sản. Sở dĩ chọn bạch đàn cao sản là do thấy nhu cầu của thị trường đang chuộng loại gỗ này, hơn nữa chăm sóc cũng không vất vả như những loại cây khác, chỉ phải bón phân, phát cỏ chứ không mất công tỉa cành.
Chia sẻ về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, anh Hùng cho biết: 1ha trồng khoảng 1.660 cây; hàng cách hàng, cây cách cây từ 2- 2,5m. Trong năm đầu thường xuyên dọn cỏ, vun gốc và bón phân. Tận dụng diện tích đất khi bạch đàn chưa khép tán để trồng ngô trong hai năm đầu. Trồng trong 6 năm là bạch đàn cho thu hoạch.
Không chỉ trồng rừng, anh chị còn chăn nuôi lợn, vài chục con dê lấy thịt và thả cá. Với gần 2ha mặt nước mỗi năm thu từ 2 đến 3 tấn cá các loại. Anh chị quy hoạch hai dãy chuồng nuôi lợn nái và lợn thịt. Chuồng trại được bố trí khoa học sạch sẽ, có vòi nước tự động trước mỗi máng ăn, tính ra mỗi năm thu khoảng 200 triệu đồng.
Với khối lượng công việc lớn như vậy, vợ chồng anh chị không thể làm xuể nên thường xuyên phải thuê người làm công, vào mùa vụ tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động trong xã. Hiện nay, anh vợ chồng anh chị cũng mở thêm một xưởng bóc vỏ gỗ ở cầu Già Khê.
Bằng sự cần cù chịu khó, ham học hỏi, sáng tạo trong công việc, vợ chồng anh chị Hùng - Bẩy được nhiều người trong làng, ngoài xã nể phục. (Báo Bắc Giang 14/12)đầu trang(
Đó là chuyện tréo ngoe xảy ra ở Lâm Đồng. Trong khi Bộ NNPTNT đang xúc tiến lập đề án đề nghị Chính phủ tạm đóng cửa rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước, thì tỉnh Lâm Đồng lại “mạnh dạn” lập quy hoạch “bảo vệ và phát triển rừng” với nhiều nội dung, trong đó có hạng mục khai thác trắng rừng thông ba lá tự nhiên và cả rừng trồng hàng ngàn hécta.
Ngày 16.12, một nguồn tin đáng tin cậy từ Sở NNPTNT Lâm Đồng cho biết: Tỉnh này đang cần một nguồn vốn khá lớn để chi cho công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) từ nay đến 2020 là gần 7.178 tỉ đồng. Trong đó, ngoài các nguồn vốn của trung ương, vốn DN, vốn chi trả dịch vụ môi trường, vốn tín dụng thương mại và vốn ODA thì nguồn vốn thuộc ngân sách địa phương chiếm phần rất đáng kể: 3.504 tỉ đồng (gần 50%). Điều đáng lưu ý là, vốn ngân sách địa phương này chủ yếu lấy từ nguồn bán gỗ khai thác tại chỗ.
Ở nội dung “khai thác rừng”, kế hoạch mà tỉnh đưa ra và nhận được “sự thống nhất cao” đó là, từ nay đến 2020, ngoài khai thác lâm sản ngoài gỗ (lồ ô, tre nứa... khối lượng 54.727 tấn và 13.432 tấn nhựa thông), khai thác gỗ tận thu (556.825m3) và khai thác gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch hằng năm (307.281m3) thì cùng với khai thác trắng rừng trồng với khối lượng 1.696.620m3, Lâm Đồng còn mạnh dạn đưa ra kế hoạch khai thác trắng rừng thông ba lá tự nhiên với diện tích lên đến 6.720ha (tương đương 1.173.107m3 gỗ).
Theo số liệu thống kê mới nhất, Lâm Đồng hiện có 598.192ha đất lâm nghiệp có rừng; trong đó, rừng tự nhiên chiếm 89% (532.598ha), còn lại là rừng trồng. Trong tổng diện tích 65.794ha rừng trồng (11%), rừng mới trồng ở giai đoạn 1 hiện có 7.688ha nên chưa được tính vào độ che phủ của rừng. Như vậy, tổng diện tích rừng được tính độ che phủ của Lâm Đồng là 590.504ha, tương đương độ che phủ 60,4%. Theo quy hoạch 3 loại rừng, Lâm Đồng hiện có 342.175ha rừng sản xuất, chiếm 57,13% diện tích đất lâm nghiệp, còn lại là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Cũng theo quy hoạch này, Lâm Đồng phấn đấu đưa độ che phủ của rừng từ 60,4% hiện nay lên 61% năm 2015 và 61,6% năm 2020. Cụ thể, đến năm 2020, Lâm Đồng sẽ sử dụng đất lâm nghiệp theo hướng: Tăng diện tích rừng đặc dụng từ 83.674ha hiện nay lên 84.153ha (tăng từ 13,97% lên 14,2%); giảm diện tích rừng phòng hộ từ 173.148ha (28,9%) hiện nay xuống còn 172.800ha (29,2% - diện tích giảm nhưng tỉ lệ tăng) vào năm 2020; và cũng giảm diện tích rừng sản xuất từ 342.175ha (57,13%) hiện nay xuống còn 334.523ha (56,6%) năm 2020.
Điều quan trọng khác, nếu cân đối nguồn vốn thì tổng nguồn thu lâm nghiệp của Lâm Đồng đến năm 2020 sẽ vượt xa con số về nhu cầu vốn để đầu tư QLBVR: Gần 14.944 tỉ đồng so với 7.178 tỉ đồng. Trong tổng nguồn thu theo tính toán, ngoài các nguồn thu từ tỉa thưa nuôi dưỡng rừng trồng, khai thác gỗ tận dụng, lâm sản phụ, mủ caosu, dịch vụ môi trường rừng, nguồn thu từ các dự án và thu từ khai thác chính rừng tự nhiên thì hai nguồn thu đặc biệt quan trọng là nguồn thu từ khai thác trắng rừng thông tự nhiên là gần 3.031 tỉ đồng và thu từ khai thác trắng rừng trồng 2.982 tỉ đồng.
Như vậy, về lý thuyết mà nói thì theo cách tính này của tỉnh Lâm Đồng, lợi nhuận thu được từ dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 lên đến con số gần 7.766 tỉ đồng (sau khi đã trừ 7.178 tỉ đồng đã chi), trung bình mỗi năm thu được gần 777 tỉ đồng.
Về lý thuyết, việc chặt trắng 8.417ha rừng (trong đó có 6.720ha rừng thông ba lá tự nhiên) so với 598.192ha rừng hiện có sẽ là điều không quá... to tát, bởi tỉ lệ rừng được chặt trắng là khá nhỏ. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm đó là trong xu thế hiện nay, vẫn biết rằng việc đóng của rừng kiểu “kín bưng” hẳn chưa phải là hoàn toàn tích cực, nhưng kiểu “mở toang” như thế liệu có ngăn được những tiêu cực phát sinh như thực tế lâu nay? (Lao Động 17/12)đầu trang(
Theo Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn, chiều 14/12, việc trục vớt số gỗ quý mà "lâm tặc" giấu dưới sông Sêrêpốk đã hoàn thành. Số gỗ đo được khoảng gần 11m3, chủ yếu là giáng hương và căm xe (gỗ nhóm 2).
Qua tuần tra, lực lượng kiểm lâm vườn quốc gia đã phát hiện khối lượng lớn gỗ khai thác trái phép được giấu dưới lòng sông Sêrêpốk thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Yok Đôn. Lực lượng chức năng của vườn quốc gia và huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk đã tổ chức trục vớt và vận chuyển về Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn.
Theo lãnh đạo Vườn quốc gia Yok Đôn, khu vực phát hiện và trục vớt gỗ lậu thuộc sự quản lý, bảo vệ của các trạm kiểm lâm Đrang Phốk và Trạm kiểm lâm số 6.
Trước đó, ngày 15/11, lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn cũng đã phát hiện và trục vớt dưới lòng sông Sêrêpốk 44 hộp gỗ hương, cẩm lai, căm xe với tổng khối lượng hơn 5m3. Số gỗ này sau đó được xác định bị "lâm tặc" chặt trộm tại tiểu khu 447, thuộc lâm phần Trạm kiểm lâm số 9.
Hiện cơ quan chức năng huyện Buôn Đôn phối hợp với Vườn quốc gia Yok Đôn tiếp tục điều tra làm rõ nguồn gốc số gỗ lậu trên để xử lý. (VietnamPlus.vn 5/12)đầu trang(
Công trình thủy điện Đrăng Phốk nằm trong Vườn quốc gia Yok Đôn, thuộc địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) hiện nay mới trong giai đoạn điều tra, đánh giá tác động môi trường, thế nhưng nhiều hộ gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây đã không đồng tình với việc phá rừng nguyên sinh để làm thủy điện.
Theo kế hoạch, công trình thủy điện Đrăng Phốk được xây dựng trên dòng sông Sêrêpốk, với công suất 26 MW, do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và ứng dụng công nghệ mới, thành phố Hồ Chí Minh, làm chủ đầu tư. Đây là công trình thủy điện thứ 8 trên dòng sông Sêrêpốk, sau các công trình như buôn Tuôr Sar, buôn Kuốp, Hòa Phú, Dray H’Linh, Sêrêpốk 3, Sêrêpốk 4, Sêrêpốk 4A.
Theo Sở Công thương Đắk Lắk, để xây dựng công trình thủy điện này, chủ đầu tư có kế hoạch phá 63 ha rừng nguyên sinh, với nhiều loại cây gỗ lớn, lâu năm như cà chít, cẩm lai, bằng lăng, dầu, trong đó có 53 ha rừng đặc dụng bị phá, chiếm dụng vĩnh viễn và 10 ha giải tỏa sử dụng tạm thời. Đây là vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết, xây dựng công trình thủy điện Đrăng Phốk ngay trong vùng lõi của Vườn, ngoài việc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường, thay đổi môi trường sống của các loài thủy sinh còn gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở xã Krông Na cho rằng, phá các khu rừng nguyên sinh vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn làm thủy điện, không chỉ gây ô nhiễm môi trường, đời sống đồng bào thêm khó khăn, mà còn làm cho các khu rừng khác trong khu vực cũng thường xuyên bị đe dọa, các loài động vật hoang dã cũng không còn nơi cư trú...
Vườn quốc gia Yok Đôn có tổng diện tích trên 113.853 ha, trong đó có phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích trên 72.006 ha, phân khu phục hồi sinh thái 35.501 ha, diện tích còn lại là phân khu dịch vụ hành chính. Vườn quốc gia Yok Đôn được thành lập là nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng khộp (rừng thưa cây họ dầu chiếm ưu thế) - một loại rừng đặc hữu của Tây Nguyên - Việt Nam nói riêng và của cả vùng Đông Nam Á nói chung.
Yok Đôn được ghi nhận có tầm quan trọng để bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp và nhiều loài động vật di cư thích nghi với sinh cảnh này như bò xám, bò rừng, voi rừng... Thế nên việc đánh đổi 63 ha rừng vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn để lấy công trình thủy điện nhỏ này có nên chăng? (Tin Tức 15/12)đầu trang(
14-12, lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn phối hợp với Công an và VKSND huyện Ea Súp (Đắk Lắk) tổ chức khám nghiệm hiện trường vụ một con voi bị chết tại tiểu khu 290, thuộc Trạm kiểm lâm số 7 (VQG Yok Đôn).
Ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, cho biết đây là con voi con, thuộc giống đực, khoảng năm tháng tuổi, nặng 100 kg, dài 1,2 m và cao 0,9 m. Con voi này đã chết trước đó khoảng một tuần và hiện đang trong quá trình phân hủy.
Theo nhận định của cơ quan chức năng, có khả năng voi con đã bị các cá thể voi trưởng thành giẫm chết khi đi uống nước. Đây là hiện tượng theo quy luật sinh tồn chứ không có dấu hiệu bị săn bắn, giết hại. Từ đầu năm 2012 đến nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã có sáu con voi rừng chết. Gần nhất, ngày 25-8, hai cá thể voi trưởng thành bị thợ săn giết hại tại tiểu khu 257, VQG Yok Đôn. (Pháp Luật TPHCM 15/12; Lao Động 15/12; Nhân Dân 15/12; Thanh Niên 14/12; VietnamPlus.vn 14/12; Vietnamnet 14/12; Tiền Phong 15/12)đầu trang(
Là cơ quan quản lý nhà nước về chế biến nông, lâm sản trên địa bàn, Sở NN-PTNT tỉnh cho rằng, năm 2012 này, lĩnh vực chế biến nông lâm sản của tỉnh đã có bước phát triển so với những năm trước, nhiều loại nông lâm sản sau chế biến đã có chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước như chè, hạt điều, cà phê nhân, rau cấp đông.
Đây là kết quả của việc nhiều doanh nghiệp tuy gặp khó khăn lớn song vẫn mạnh dạn đầu tư công nghệ, máy móc mới, tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên so với lượng nông lâm sản nguyên liệu cần được chế biến để nâng cao hơn giá trị mà các địa phương sản xuất được thì sản lượng nông lâm sản sau chế biến của địa phương vẫn rất khiêm tốn; một số loại nông sản địa phương có ưu thế sản xuất và ưu thế cạnh tranh cao như cà phê, chè, gỗ thông, lâm sản ngoài gỗ (tre, nứa, mây…) chỉ mới dừng lại ở mức sơ chế trước khi tiêu thụ.
Là địa phương có nguồn lâm sản khá phong phú và đa dạng, chính quyền địa phương cũng đã và đang có nhiều chính sách phát triển lĩnh vực chế biến lâm sản theo hướng phát triển tinh chế gỗ và chuyển từ sơ chế gỗ sang chế biến lâm sản ngoài gỗ. Cũng theo Sở NN-PTNT thì hiện tại trên địa bàn tỉnh có 124 đơn vị (doanh nghiệp) và 370 cơ sở (hộ) kinh doanh cá thể tham gia chế biến lâm sản với năng lực chế biến khoảng 200.000 m3 gỗ tròn mỗi năm.
Năm nay, toàn tỉnh đã khai thác được 140.654 m3 gỗ các loại, 215.965 cây lồ ô tuyển, trên 70 tấn song mây và gần 44 tấn lá buông, nhưng lượng gỗ nguyên liệu đưa vào chế biến lại chỉ mới dừng lại ở mức 75.000m3 gỗ tròn, 1.220 m3 gỗ hộp… và sản phẩm sau chế biến chỉ ước đạt 26.000 m3 gỗ xẻ các loại (sản phẩm sơ chế), 10.000 bộ hàng mộc, 31.000 sản phẩm mộc khác và 6.000 m3 gỗ ván ghép (sản phẩm tinh chế) với tổng giá trị lâm sản sau chế biến 150 tỷ đồng.
Năng lực chế biến vượt quá khả năng cung ứng nguồn gỗ nguyên liệu (200.000/ 140.654 m3) nhưng lượng gỗ khai thác hàng năm được đưa vào chế biến đạt thấp (75.000 m3/ 140.654 m3) cho thấy một nghịch lý trong lĩnh vực chế biến lâm sản mà ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh phải sớm tìm ra nguyên nhân. (Báo Lâm Đồng 14/12)đầu trang(
14-12, ông Nguyễn Văn Trị - hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Nam Trà My (Quảng Nam) - cho biết đã khởi tố hình sự vụ án phá rừng phòng hộ và chuyển hồ sơ, đối tượng vi phạm cùng tang vật cho cơ quan điều tra thụ lý giải quyết.
Trước đó lúc 11g trưa 12-12, 10 cán bộ kiểm lâm huyện trong lúc đi tuần tra đã phát hiện 4 đối tượng đang dùng cưa xẻ gỗ trái phép tại tiểu khu 790 thuộc địa phận thôn 3, xã Trà Leng.
Phục kích và tổ chức vây bắt, lực lượng kiểm lâm đã bắt được Đinh Văn In (31 tuổi, trú tại xã Trà Tân, Bắc Trà My).
Qua đấu tranh lấy lời khai ban đầu, In khai nhận đã cùng với 3 người khác tên Hùng, Sỹ và Nhứt (cùng trú tại xã Trà Tân, Bắc Trà My) tổ chức khai thác gỗ trái phép được 4 ngày.
Tại hiện trường, lực lượng kiểm lâm huyện đã thu giữ 19 phách gỗ xẻ và 10 lóng gỗ tròn với tổng khối lượng hơn 20m3, trong đó chủ yếu là gỗ gõ, sơn huyết thuộc nhóm 1 và xoan đào thuộc nhóm 6. Một số tang vật phục vụ việc khai thác gỗ trái phép như máy cưa, rựa, xăng nhớt cũng bị tịch thu.
Đây là khu vực rừng phòng hộ nằm giáp ranh huyện Bắc Trà My nên lâm tặc thường xuyên tổ chức khai thác gỗ trái phép để vận chuyển ra lòng hồ Sông Tranh 2 đưa đi tiêu thụ. Đây là vụ phá rừng trái phép thứ hai tại khu vực bị kiểm lâm huyện phát hiện xử lý trong năm nay. (Tuổi Trẻ 15/12)đầu trang(
g 12-12, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông phát hiện 5 bãi tập kết gỗ với 62 lóng gỗ tròn và 41 lóng gỗ xẻ hộp trong khu vực nương rẫy của người dân, thuộc địa phận các xã Đức Xuyên và Đắk Nang, huyện Krông Nô.
Khi kiểm lâm đưa xe cẩu đến chở gỗ đi, có khoảng 15 người đến cản trở, không cho vận chuyển. Đến khoảng 2 giờ sáng 13-12, tang vật mới được đưa về trụ sở Chi cục Kiểm lâm tỉnh để tiếp tục làm rõ. (Tiền Phong 14/12)đầu trang(
14.12, Trạm Kiểm lâm địa bàn xã Đắk Ngo bàn giao toàn bộ hồ sơ cùng 22 m3 gỗ tròn cho Hạt Kiểm lâm H.Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông để xử lý.
Trước đó, vào khoảng 0 giờ ngày 12.12, lực lượng kiểm lâm thuộc Trạm Kiểm lâm địa bàn xã Đắk Ngo phối hợp với các đơn vị chức năng và Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Quảng Tín, tiến hành kiểm tra và phát hiện 7 lóng gỗ dầu đỏ có đường kính từ 43 cm đến 1,15 m; với chiều dài từ 5-9 m, đang cất giữ ở 2 điểm tại tiểu khu 1529 thuộc lâm phần của Công ty TNHH một thành viên Quảng Tín. Tổng số gỗ ước tính khoảng 22 m3. (Thanh Niên 15/12)đầu trang(
14.12, Hạt Kiểm lâm H.Nam Trà My (Quảng Nam) khởi tố vụ án phá rừng phòng hộ và chuyển hồ sơ, đối tượng vi phạm cùng tang vật cho cơ quan điều tra thụ lý.
Trước đó, 12.12, nhận được tin báo, lực lượng kiểm lâm bao vây tiểu khu 790 (xã Trà Leng) và bắt giữ Đinh Văn In (31 tuổi, trú xã Trà Tân, H.Bắc Trà My, Quảng Nam). Qua đấu tranh, In khai nhận cùng với Hùng, Sỹ và Nhứt (cùng trú xã Trà Tân) tổ chức khai thác gỗ trái phép ở tiểu khu 790.
Đây là khu vực rừng phòng hộ, có nhiều loại gỗ quý hiếm, nằm giáp ranh với H.Bắc Trà My. Từ ngày có thủy điện Sông Tranh 2, lâm tặc thường xuyên vào tiểu khu 790 khai thác gỗ trái phép để vận chuyển ra lòng hồ Sông Tranh 2 đưa đi tiêu thụ. (Thanh Niên 15/12)đầu trang(
UBND huyện Chợ Ðồn (tỉnh Bắc Cạn) cho biết, gần đây, sâu ong xuất hiện với mật độ dày đặc trên diện tích 210 ha rừng mỡ một, hai năm tuổi.
Sâu ong ăn lá, chồi non dẫn đến chết cây, đã làm gần 100 ha rừng ở các xã Rã Bản, Nghĩa Tá, Phương Viên, Bình Trung có nguy cơ xóa sổ. Huyện đang tích cực phối hợp Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh mở các lớp tập huấn kỹ thuật diệt trừ sâu ong cho người dân ở tất cả các xã, cung cấp đầy đủ thuốc bảo vệ thực vật, tăng cường cán bộ chuyên môn xuống cơ sở để hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp diệt trừ sâu ong, bảo vệ rừng trồng. (Nhân Dân 15/12)đầu trang(
12/12, UBND huyện Gio Linh (Quảng Trị) cho biết, đang tích cực làm rõ, xử lý nghiêm cá nhân sai phạm trong các vụ bán rừng Nhà nước trên địa bàn với giá rẻ mạt.
Tuy nhiên, đối với vụ bán 385 héc-ta rừng trồng gần 15 năm tuổi ở tiểu khu 591, xã Linh Thượng, thuộc các dự án trồng rừng 327 và 661 của Nhà nước, là do UBND tỉnh Quảng Trị và ông Nguyễn Văn Thành, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Gio Linh, kiêm Giám đốc Ban quản lý dự án 661 Nam Bến Hải đứng ra trực tiếp bán. Số tiền bán rừng 890 triệu đồng, tức mỗi héc-ta rừng chỉ có giá 2,3 triệu đồng.
Vụ việc đến nay vẫn chưa được xử lý. (Công An Nhân Dân 14/12)đầu trang(
Qua 3 năm, Ban quản lý dự án (QLDA) 661 Nam Bến Hải đã bán gần 1.000ha rừng Nhà nước với giá vô cùng rẻ mạt (chưa tới 2,2 tỉ đồng), trong khi giá trị thực của những cánh rừng này, theo các cán bộ trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và kiểm lâm là không dưới 50 tỉ đồng.
Những hành vi táo tợn, bất chấp pháp luật đã bị các cơ quan báo chí đồng loạt lên tiếng phản ánh. Nhưng tiếc rằng khi chính quyền địa phương và cơ quan chức năng vào cuộc thì rừng đã không còn nữa...
Theo số liệu điều tra, gần 1.000ha rừng trên thuộc các dự án 327 và 661 trên địa bàn huyện Gio Linh được trồng cách đây từ 9-15 năm, với mật độ khá dày (2.000 cây/ha).
Vốn trồng rừng này là của Nhà nước nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, được trồng theo các hình thức: Nhân dân trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; Ban QLDA 661 Nam Bến Hải trồng, thuê người dân chăm sóc và bảo vệ rừng. Hằng năm, công tác chăm sóc, bảo vệ rừng ở đây được thực hiện nghiêm túc, bình quân mỗi hécta rừng được trồng dặm 200 cây do việc trồng ban đầu bị chết. Mọi biến động về rừng cũng đã được kiểm tra, ghi chép đầy đủ, lưu giữ tại những đơn vị có trách nhiệm liên quan...
Cây rừng có trên 13 năm tuổi, đường kính thân bình quân từ 45-55cm, ở xã Linh Thượng, huyện Gio Linh, đã bị bán với giá rất bèo bọt.
Thế nhưng trong các lần thẩm định hồ sơ thiết kế khai thác gỗ rừng, Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị đều thống nhất với Trung tâm Điều tra Quy hoạch Thiết kế Nông – Lâm Quảng Trị (đơn vị tư nhân do Ban QLDA 661 Nam Bến Hải thuê thiết kế rừng), mật độ cây chỉ còn 178-179 cây/ha (?!). Số liệu lệch từ 2.000 cây/ha được hạ xuống thấp như vậy đã đặt ra câu hỏi, việc thiết kế rừng là gian dối, hay các đơn vị chức năng liên quan như Ban QLDA 661 Nam Bến Hải, Hạt Kiểm lâm huyện Gio Linh đã buông lỏng quản lý, bảo vệ rừng?
Lẽ ra, điều bất thường này cần được xác minh làm rõ thì Sở NN&PTNT Quảng Trị lại… bút phê vào văn bản thẩm định rừng của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh. Không biết vô tình hay cố ý, nhưng đây rõ ràng là “cầu nối” cho Ban QLDA 661 Nam Bến Hải tiếp tục bán rừng Nhà nước với giá rẻ mạt.
Trả lời câu hỏi của chúng tôi: “Đối với sai phạm trong bán rừng Nhà nước ở huyện Gio Linh, những ai phải chịu trách nhiệm?”, ông Nguyễn Quân Chính - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị trả lời rằng: “Lãnh đạo UBND huyện phải chịu trách nhiệm!”. Tuy nhiên, đó là lời nói của ông Chính, còn trong thực tế từ 3 năm qua, không có ai là lãnh đạo UBND huyện Gio Linh phải chịu trách nhiệm về vấn đề này (!). Thế mới là chuyện lạ!
Đáng chú ý, Ban QLDA 661 Nam Bến Hải được thành lập và hoạt động theo quyết định của UBND tỉnh Quảng Trị. Theo đó, ban này hết nhiệm vụ và tự giải thể vào năm 2010. Thế nhưng, đến ngày 24/9/2012, UBND tỉnh Quảng Trị lại có Văn bản 3010/UBND-NN, do ông Nguyễn Quân Chính ký, cho phép ban trên tiếp tục với việc bán rừng trên địa bàn huyện Gio Linh (?!). Công bằng mà nói, nếu không có ông Trần Ngọc Lân, người vừa đảm nhận chức Chủ tịch huyện Gio Linh cách đây mấy tháng, thì các việc làm trái pháp luật, vô trách nhiệm của một số người từ huyện tới tỉnh và ban, ngành chức năng sẽ còn bị bưng bít.
Trở lại việc gần 1.000ha rừng Nhà nước bị bán với giá rẻ mạt, dư luận hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng, nếu không có sự móc nối, câu kết giữa các cá nhân từ huyện đến tỉnh và các đơn vị liên quan thì rừng Nhà nước không thể bị bán với giá rẻ mạt như vậy được!
Hiện tại, vì tính chất phức tạp của sự việc, Công an huyện Gio Linh đã tăng thêm từ 2-6 cán bộ điều tra, tập trung xác minh làm rõ. Việc làm của Công an huyện Gio Linh thể hiện rõ quan điểm cương quyết, xử lý nghiêm vụ việc theo pháp luật, nhằm sớm ổn định tình hình trên địa bàn. (Công An Nhân Dân 6/12)đầu trang(
Được biết, tháng 7-2012, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo cho Ban quản lý rừng 661 huyện Gio Linh bán 385 ha rừng thuộc loại nói trên cho Cty TNHH Minh Quang Thành có trụ sở tại huyện Vĩnh Linh với giá 890 triệu đồng.
15-11, báo Pháp Luật&Xã Hội có bài “Bán rừng Nhà nước sai quy định”, phản ánh việc Ban dự án rừng 661 huyện Gio Linh vừa bán 120 ha rừng dự án 661 và 327 của Nhà nước tại xã Linh Thượng, huyện Gio Linh với giá rẻ hơn bán củi. Lập tức, người dân địa phương tiếp tục gửi đến PV báo Pháp Luật&Xã Hội nhiều thông tin chỉ ra rằng việc bán rừng của Nhà nước sai quy định này có sự “tiếp tay” của lãnh đạo tỉnh Quảng Trị với hàng trăm ha chứ không dừng lại như báo nêu?
Được biết, tháng 7-2012, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo cho Ban quản lý rừng 661 huyện Gio Linh bán 385 ha rừng thuộc loại nói trên cho Cty TNHH Minh Quang Thành có trụ sở tại huyện Vĩnh Linh với giá 890 triệu đồng.
Sau khi trúng thầu, doanh nghiệp này đã chia nhỏ bán cho rất nhiều chủ khai thác với số tiền hơn 20 triệu đồng/ha.
Anh Trần Quang Báo, trú tại huyện Gio Linh, đã mua 86 ha rừng với giá 1,7 tỷ đồng trong tổng số 385 ha rừng của một người có tên là Thủy, ở huyện Đông Hà mua lại từ Cty Minh Quang Thành.
Trả lời vấn đề trên, ông Nguyễn Quang Trinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Gio Linh cho biết: “Huyện không hề bán số rừng này. Huyện chỉ làm theo chỉ đạo của tỉnh là cho phép chỉ định thầu bán số rừng nói trên. Nói là chỉ đạo cho huyện đứng ra chỉ định thầu, song tỉnh cũng đã có công văn ấn định “bắt” huyện phải chỉ định cho Cty Minh Quang Thành được mua (?)”.
Mặt khác, ông Trinh cho rằng, Ban dự án rừng 661 là của tỉnh lập ra và quản lý, huyện chỉ có chức năng giám sát về mặt Nhà nước. Khi Ban dự án 661 tổ chức thẩm định đấu giá, không báo cáo cho huyện nên huyện cũng không biết. Trả lời là vậy, song ông Trinh lại nói: “Chúng tôi muốn có ý kiến trong việc này thì tỉnh cũng không nghe. Sở dĩ như vậy là do thẩm quyền của việc bán rừng trên thuộc tỉnh quản lý” (?)
Có mặt tại các tiểu khu rừng 591 (385 ha rừng bán nói trên), PV ghi nhận, lượng gỗ của khu rừng này rất nhiều. Cây lớn nhất có đường kính 60cm, cao khoảng 15m. Cây nhỏ nhất có đường kính 10cm, cao trên 10m.
Qua khảo sát giá từ người đã mua lại và đang khai thác, toàn bộ số rừng trên chủ yếu là gỗ tràm đen và tai tượng. Sau khi khai thác chở ra Trung tâm của xã thì 1m3 bán với giá 3,4 triệu đồng. Số nhỏ hơn không tận dụng gỗ được thì bán cho các nhà máy chế biến với giá 700 đến 800 nghìn đồng/1xte (tức là khoảng 2,4 m3).
Như vậy, ước lượng 1 ha rừng của dự án 661 và 327 tại xã Linh Thượng, huyện Gio Linh đang bị bán có trữ lượng xấp xỉ từ 70 đến gần 100 m3/ha.
Trở lại vấn đề Ban dự án 661 thuê Cty dịch vụ đấu giá Đất Việt (có trụ sở tại huyện Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) đứng ra tổ chức đấu giá số rừng nói trên, một cán bộ Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị cho biết, quy trình tổ chức đấu giá của Cty trên thực hiện là hoàn toàn trái với quy định đấu giá của pháp luật.
Theo đó, ngày 27-11, lãnh đạo Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị đã có công văn và trực tiếp chỉ đạo cán bộ đến Cty dịch vụ đấu giá Đất Việt để kiểm tra lại toàn bộ thủ tục đấu giá rừng của Nhà nước nói trên. Cùng ngày, huyện Gio Linh cũng đã cử hai đoàn cán bộ gồm nhiều cơ quan tiến hành thực tế và đo đạc, kiểm tra toàn bộ số rừng đang được khai thác và tổ chức đấu giá vừa qua để có biện pháp xử lý.
Lãnh đạo huyện Gio Linh cho biết thêm, hiện số rừng 385 ha “bị” tỉnh bán trên chưa thể cho ngừng được vì cấp thẩm quyền của huyện không cho phép?
Trước những sự việc này các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị cần sớm chấn chỉnh những việc làm sai trái trên. Đặc biệt, cần thiết phải cho hủy toàn bộ hợp đồng mua bán rừng sai quy định với giá rẻ mạt nhằm khắc phục hậu quả và bảo vệ tài sản cho Nhà nước, nhân dân. (Pháp Luật&Xã Hội 16/12)đầu trang(
Việc mở đường trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đang khiến cây đa đại thụ ngàn năm tuổi ở tiểu khu 63 có nguy cơ gãy đổ rất cao, nhất là vào mùa mưa bão!
Theo ông Phan Xuân Tiệp, Phó BQL bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng (BQL bán đảo Sơn Trà), ở khu vực phía Đông bán đảo Sơn Trà có nhiều cây đa cổ thụ có từ hàng trăm đến hàng nghìn năm tuổi. Trong đó nổi bật hơn hết là cây đa cổ thụ ở tiểu khu 63, từng được gọi tên là "Bách niên đại thụ" và có giá trị sinh thái rất lớn.
Với hình dáng đặc sắc, hùng vĩ gồm 26 rễ phụ có chiều cao ước tính 25m, chu vi thân 10m, cây đa này đã trở thành điểm tham quan hết sức ấn tượng đối với du khách trong và ngoài nước. Rất nhiều công ty du lịch đã chọn cây đa cổ thụ này làm một trong những điểm đến cho du khách khi mở các tour du lịch sinh thái khám phá bán đảo Sơn Trà.
Mới đây, BQL bán đảo Sơn Trà phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn đã tiến hành kiểm tra thực tế tình hình sinh trưởng, phát triển của "Bách niên đại thụ" và nhận thấy việc xây dựng tuyến đường cơ động bán đảo Sơn Trà ở ngay bên dưới, sát gốc cây đa đã làm cản trở hệ rễ phụ bám đất để phát triển và thực hiện các chức năng của mình. Nếu không kịp thời có các biện pháp lâm sinh can thiệp đối với tình trạng này thì sự phát triển lệch tán của cây đa đại thụ sẽ dẫn đến nguy cơ gãy đổ rất cao.
Thạc sĩ lâm sinh Đặng Ngọc Kim Trang, Trưởng Phòng Quản lý và Khai thác du lịch Sơn Trà (BQL Sơn Trà) giải thích thêm, cây đa thuộc chi Ficus, ngoài bộ rễ chính thì còn có các rễ phụ phát triển từ trên các cành, nhánh hướng xuống đất. Khi bám được vào đất, các rễ phụ này sẽ phát triển to ra thành những trụ đỡ cho cây tiếp tục ngày càng vươn rộng.
"Về nguyên tắc, các rễ phụ phải bám đất để hút chất dinh dưỡng. Nhưng rễ phụ của cây đa cổ thụ ở tiểu khu 63 khi tiếp giáp tới mặt đất đã bị tuyến đường bêtông chặn lại. Nếu các rễ phụ không phát triển được sẽ không làm thành các trụ đỡ cho hệ thống tán cây đang phát triển mạnh về phía biển. Về lâu dài, tình trạng này sẽ dẫn tới chỗ cây đa bị lệch tâm và rất dễ gãy đổ, nhất là khi gặp gió bão lớn!" - Thạc sĩ Đặng Ngọc Kim Trang nói.
Trước tình hình đó, ngày 16/11, BQL bán đảo Sơn Trà đã có công văn kiến nghị UBND TP Đà Nẵng chỉ đạo nghiên cứu và đề xuất các biện pháp thích hợp để phát triển hệ rễ phụ của cây đa đại thụ.
Ngày 10/12 vừa qua, Sở NN-PTNT Đà Nẵng đã họp với các Sở TN-MT, VH-TT-DL, BQL bán đảo Sơn Trà, Chi cục Kiểm lâm và Tập đoàn Sun Group. Thạc sĩ Đặng Ngọc Kim Trang cho hay, thay vì để hệ rễ phụ ở phía taluy âm phát triển tự nhiên, hướng thẳng xuống mặt đường nhựa thì bước đầu giải pháp được các cơ quan hữu quan đề xuất là kéo các chùm rễ phụ này "chồm" qua bên kia đường để có thể tiếp xúc với mặt đất. Tiếp đó sẽ sử dụng các biện pháp lâm sinh kích thích rễ phát triển.
Tuy nhiên thực tế không dễ được "lãng mạn" như vậy. Có thể do yêu cầu quốc phòng và du lịch nên không thể không mở tuyến đường cơ động bán đảo Sơn Trà. Vấn đề là lẽ ra khi mở đường người ta phải tính toán để không gây hại cho những cây cối có giá trị sinh thái lớn như cây đa cổ thụ ở tiểu khu 63.
Thế nhưng tuyến đường lại được mở ngay sát gốc đa. Nay việc "cưỡng bức" hệ rễ phụ không được phát triển tự nhiên mà phải "chồm" qua bên kia đường đòi hỏi rất nhiều công phu. Chưa kể khi tạo thành "vòm" thì có thể nảy sinh những vấn đề như đảm bảo tĩnh không cho việc lưu thông trên tuyến đường này! (Theo Infonet 15/12)đầu trang(
Vườn quốc gia Xuân Thủy nằm tại nơi sông Hồng đổ ra Biển Đông, thuộc huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định), là 1 trong 2 địa điểm của Việt Nam được UNESCO công nhận là khu Ramsar. Vùng đệm của VQG này đang bị đe dọa...
Trước mắt chúng tôi, vùng đất ngập mặn thuộc các xã Giao An, Giao Xuân, Giao Thiện… nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy trở nên nham nhở, khác hẳn với một vùng phong cảnh tuyệt đẹp, sông nước hữu tình từng có. Nếu như trước đây, các chủ đầm chỉ được nuôi tôm, cua… dưới tán những rừng sú, vẹt thì nay đã xuất hiện hàng loạt những ao rộng hàng ha phẳng lì, trống trơn cây cối.
Anh Trần Đài - một người dân đang nuôi tôm, cua chỉ ra phía một đầm đã bị cào trắng, đào sâu nói: “Trước đây, khu đầm rộng 2ha kia toàn là cây xanh. Cách đây 2 tháng, chủ đầm cho chặt hết cây, hút hết bùn đất ra sông để lập trại nuôi ngao giống. Máy múc, máy hút làm ròng rã hàng tháng trời. Vài năm trước, chim mỏ thìa, bồ nông, cò về đây nhiều lắm. Nhưng bây giờ, rừng chỉ còn lưa thưa, máy móc ầm ầm không chim chóc nào dám về”.
Theo một lãnh đạo huyện Giao Thủy, việc cải tạo các kênh mương ở đây bằng nguồn vốn của Chính phủ với giá trị hàng chục tỷ đồng. Như vậy, số tiền không nhỏ đó đã bị đổ xuống sông, xuống biển một cách vô ích.
Giám đốc VQG Xuân Thủy - ông Nguyễn Viết Cách cho biết, tổng diện tích bị cải tạo chuyển sang nuôi ngao, vạng (bắt buộc chặt cây) ở vùng đệm của VQG ước khoảng hàng chục ha. Ông Cách cho rằng: “Quy định vùng đệm của VQG ngập mặn có được cải tạo hay không hiện nay chưa rõ ràng, mỗi nơi áp dụng mỗi cách khác nhau”.
Được sự chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm đến khu đầm ngao đã được san phẳng của một người tên là Trần Văn Ninh (xã Giao Xuân). Một người trông coi đầm này nói: “Khu đầm này ruộng 3,8ha; trước đây dùng để nuôi tôm, cua dưới tán rừng, nhưng vừa rồi phải chặt bỏ cây, hút bùn sâu xuống rồi bơm cát vào thì mới nuôi ngao được.
Anh Ninh có “quan hệ” với lãnh đạo huyện và lãnh đạo VQG nên chỉ mất 5 – 6 triệu đồng, nếu không thì phải mất 15 – 20 triệu đồng mới được “cải tạo”. Hồi đầu năm, nghe nói anh Nam, Tuyền, Trọng (những hộ cũng chuyển đổi) “chạy luật” hết 25 triệu đồng. Nói chung chạy luật không có giá nào, quen thì ít, còn không thì cũng kha khá”- ông này tiết lộ.
Anh Nguyễn Văn Chiến ở thôn Giao Hy, xã Giao An đang thuê 18ha tại vùng đệm VQG Xuân Thủy để nuôi tôm, cua, rau câu… bức xúc nói: “Chúng tôi chỉ được đào lạch ở những vùng không có cây để nuôi tôm, cua chứ không được chặt bỏ một cây nào. Ngay cả việc gom cây già chết về làm củi cũng bị Ban quản lý VQG bắt phạt. Nhưng không hiểu sao, nhiều người chặt phá cả ha cây, cải tạo hút bùn đổ ra sông lại không bị phạt”.
Ông Nguyễn Văn Hán - một hộ nuôi ở đây còn cho biết, khi biết có những chủ đào ao, chính ông đã gọi điện báo cho lãnh đạo VQG và cán bộ UBND huyện. Nhưng máy móc làm liên tục hàng tháng trời, không thấy đoàn nào ra kiểm tra.
Khi PV liên lạc với ông Phùng Văn Nhân - Phó Chủ tịch UBND huyện Giao Thủy phụ trách mảng nông nghiệp, ông này lại nói rằng, việc cải tạo đầm như trên là được phép và từ chối làm việc vì đang bận. (Nông Thôn Ngày Nay 16/12)đầu trang(
CAQ Cầu Giấy, Hà Nội phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, công an tỉnh Nghệ An vừa xác minh, bắt giữ được Mai Thị Tuân, thường gọi là Hà (41 tuổi), quê quán xã Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An về hành vi lừa đảo chiếm đoạt hàng tỷ đồng.
Thời điểm bị bắt, Hà đang tá túc tại 1 nhà nghỉ ở địa bàn quận Cầu Giấy.
Tài liệu cơ quan chức năng xác định, Hà có liên quan đến đường dây buôn bán động vật hoang dã từ Nghệ An ra Móng Cái- Quảng Ninh. Nhiều người quen của người đàn bà này đã được gợi ý góp vốn để làm ăn lớn. Trong số này có anh Trần Văn B., trú ở huyện Diễn Châu. Hà quảng cáo với anh B. đang có 1 “lô” hàng động vật quý hiếm của Nhà nước thanh lý, trị giá khoảng 7 tỷ đồng, cần huy động vốn để mua đấu giá. Hà quả quyết với anh B., nếu thắng đấu giá, lô hàng này bán ra thị trường ít nhất cũng được trên dưới chục tỷ đồng.
Nhận 7 tỷ đồng của anh B. và lượng tiền không nhỏ của một số người dân khác, Hà đã bỏ trốn. Tiếp nhận đơn trình báo của người bị hại, công an Nghệ An đã tổ chức điều tra, truy xét; và đến ngày 8- 12, được sự phối hợp của công an Hà Nội, công an Nghệ An đã bắt được đối tượng. Mai Thị Tuân hiện đã bị CQĐT khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (An Ninh Thủ Đô 15/12; Công An Nhân Dân 14/12)đầu trang(
15-12, nguồn tin từ Đội quản lý thị trường số 4 đóng trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vừa bắt giữ xe khách mang BKS Lào chở gần 100 kg động vật quý hiếm.
Vào thời điểm nói trên, Đội quản lý thị trường số 4 đóng trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, chiếc xe khách mang BKS: UN 4922 (Lào) do tài xế Lê Thanh Trầm, trú tại xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An điều khiển đang lưu thông theo hướng Vinh –Hà Nội thuộc địa phận huyện Quỳnh Lưu với dấu hiệu nghi vấn. Ngay lập tức tổ trinh sát CA huyện Quỳnh Lưu đã điện khẩn cho lực lượng CSGT kiểm yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Lực lượng chức năng phát hiện trên xe gồm: 40 kg gạc nai các loại, 15 kg, 6 con rùa, 1 con heo rừng và nhiều loại động vật khác.
Hiện Đội quản lý thị trường số 4 huyện Quỳnh Lưu đang hoàn tất hồ sơ để xử lý theo pháp luật. (Pháp Luật&Xã Hội 16/12)đầu trang(
Nghề nuôi rắn đang ngày càng nở rộ ở nhiều địa phương. Lợi nhuận mà công việc này mang lại đã giúp người nông dân thoát nghèo, phát triển kinh tế.
Làng Sổ (xã Mai Đình, Hiệp Hòa, Bắc Giang) nằm ven sông Cầu vốn là một vùng thuần nông, người dân chỉ biết trông chờ vào 2 vụ lúa và ít đất trồng hoa màu. Khi nông nhàn, nhiều người dân nơi đây phải đi xa hàng chục cây số để làm thuê kiếm tiền. Tuy nhiên, những chuyện đó chỉ còn là dĩ vãng khi một vài năm trở lại đây, nghề nuôi rắn hổ mang đã giúp đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.
Qua báo đài, một vài người trong làng biết đến nghề nuôi rắn hổ mang ở Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) nên cũng đến tận nơi tìm hiểu cách làm. Thấy được lợi ích kinh tế mà công việc nuôi rắn mang lại nên mọi người “chuyển giao công nghệ” cho nhau. Hàng chục hộ nông dân ở đây đã trở thành những ông bà chủ của... rắn. Ông Nguyễn Văn Tân (55 tuổi) là một trong những người tiên phong nuôi rắn hổ mang bành ở địa phương này. Hiện tại, trong nhà ông đang có hơn 50 chuồng, trong đó có hàng chục con rắn hổ mang từ 5kg trở lên.
Thức ăn cho rắn hổ mang cũng rất đa dạng, từ cóc, nhái, chuột cho đến gà, vịt con... nhưng món khoái khẩu của chúng là cóc mủ. Thịt loại cóc này thơm, nhiều đạm nên rắn hổ mang nếu được ăn cóc mủ thì chất lượng thịt rất đảm bảo. Riêng loại rắn hổ chúa chỉ chuyên ăn rắn. Vào mùa hè, cứ khoảng 3 ngày thì mới cho rắn hổ mang ăn 1 con cóc.
Mùa heo may, thời tiết lạnh lẽo là lúc rắn hạn chế nhu cầu ăn uống. Cả 3 tháng đông, chi phí đầu tư cho rắn hổ mang ít hơn nhưng nhiều con sau thời gian này sẽ bị hao cân, ảnh hưởng tới giá bán. “Rắn là một loài ở rất sạch nên chuồng phải xây dựng rất công phu và bảo đảm mát mẻ về mùa hè, ấm về mùa đông. Nếu không chúng sẽ dễ mắc các bệnh ỉa chảy, viêm phổi, sưng mật...
“Do không có thuốc đặc trị cho rắn, nên hầu hết chúng tôi ở đây đều chữa bệnh cho rắn bằng thuốc... dành cho người, liều lượng theo kinh nghiệm. Rắn mà không ăn là người nuôi chúng tôi lo lắng lắm, có nguy cơ thua lỗ rất cao” - ông Tân cho biết.
Nhiều người làng Sổ cho rằng nuôi rắn là nghề có thể làm giàu cho bà con nông dân, bởi chi phí đầu tư không quá cao. Nghề nuôi rắn đang phát triển rầm rộ ở làng Sổ bởi nhiều hộ dân đã “lột xác” nhờ con vật này. Nhiều gia đình đã thoát nghèo, không còn phải đi làm thuê theo thời vụ nữa. Mấy năm nay, đời sống kinh tế nhà ông Tân ổn định hơn, mua sắm được nhiều vật dụng đắt tiền. Trung bình cứ nửa năm, các hộ nuôi rắn ở đây lại xuất chuồng một lứa.
Theo lời một ông chủ của hơn 200 con rắn hổ mang, cứ khoảng 100 con rắn hổ mang nếu không bị bệnh tật trong quá trình nuôi, bán được giá thì người nuôi có thể lãi hơn 50 triệu đồng. Người này nói: “Một con rắn hổ mang có giá vài triệu đồng, thậm chí có con nặng cỡ chục cân trở lên thì giá lên tới tiền vài chục triệu. Hầu như đầu mối tiêu thụ của chúng tôi chỉ có nước ngoài hoặc những đại gia thành phố mua về thịt hoặc ngâm rượu”.
Nghề nuôi rắn hổ mang được đánh giá là một trong những nghề mới, nhanh giàu nhưng không hề ít mạo hiểm đối với người nuôi. Nọc rắn hổ mang rất độc, nếu được xử lý ngay, thì có thể cứu mạng, nhưng chậm thì phải cưa khớp tay, chân, có thể tử vong. Bài học cho những người nuôi rắn ở làng Sổ vẫn còn. Một người đàn ông (xin được giấu tên) trong một lần cho rắn ăn, do sơ ý nên bị rắn cắn đã phải tháo khớp tay để bảo toàn tính mạng.
Nuôi “tử thần” trong nhà mà chuồng trại không đảm bảo, tạm bợ là rất dễ gặp nguy hiểm. Nếu không chốt cửa chuồng trại cẩn thận để rắn bò ra ngoài thì cả làng lãnh đủ. Nhẹ thì ăn gà, vịt con, nhưng chẳng may người nào vô tình giẫm lên người nó thì rất nguy hiểm, nhất là vào buổi tối. Cùng với việc nuôi rắn thì người nuôi phải có những dụng cụ bảo hộ chuyên dụng như quần áo, giầy ủng, gang tay, gậy móc. Tuy nhiên, các hộ nuôi rắn làng Sổ đều chỉ có những đồ tự tạo khi tiếp xúc với rắn hổ mang. (Giao Thông Vận Tải 14/12)đầu trang(
Báo Nông Nghiệp Việt Nam nhận được đơn đề nghị của ông Lê Văn Vẽ, thôn Làng Bông, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai trình bày về việc Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR tỉnh Phú Thọ đã thu giữ 862,5 kg rắn ráo và rắn sọc dưa của gia đình ông trên đường vận chuyển về Quảng Ninh.
Tóm tắt nội dung vụ việc như sau: Gia đình ông Lê Văn Vẽ được Chi cục Kiểm lâm Lào Cai cấp Giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh trưởng động vật hoang dã thông thường vào ngày 1/2/2008, mã số trại 002/2008, với nội dung: Có đủ điều kiện đăng ký gây nuôi sinh trưởng động vật hoang dã sau: hổ mang bành, rắn ráo thường.
Ngày 1/10/2012, ông Vẽ thuê ông Nguyễn Thế Thành, trú tại xã Đại Đồng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vận chuyển lô hàng rắn đi Quảng Ninh bán. Hồ sơ xác minh nguồn gốc được kiểm lâm viên Nguyễn Mạnh Hùng và Hạt Kiểm lâm Bảo Thắng lập là 932 kg, trong đó rắn sọc dưa 100 kg, rắn ráo 832 kg, tổng số lượng cá thể rắn là 31.067 con.
Thực tế ông Vẽ chỉ mang 42 kg rắn sọc dưa và 832 kg rắn ráo, tính bình quân mỗi con là 0,3kg/con, thì số rắn chỉ có khoảng 3.100 con, nhưng do chia nhầm nên tổng số con tăng 10 lần, thành ra 31.067 con. Mặc dù ông Vẽ trình bày do tính toán nhầm, nhưng Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ vin vào cớ số rắn vận chuyển không phù hợp với hồ sơ nên đã tạm giữ toàn bộ số rắn và phương tiện vận chuyển.
Ngày 3/10/2012 Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ cử ông Trần Văn Sơn, đội phó và ông Phan Văn Sơn, kiểm lâm viên lên gia đình ông Vẽ xác minh nguồn gốc, trang trại nuôi rắn, có sự chứng kiến của ông Nguyễn Mạnh Hùng, kiểm lâm viên thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Thắng, người đã lập hồ sơ vận chuyển số rắn trên.
Sau khi lập biên bản ông Vẽ yêu cầu phô tô để ông giữ một bản, nhưng ông Phan Văn Sơn nói: “Chiều còn làm việc tiếp, khi nào làm việc xong chúng tôi sẽ đưa, còn bây giờ muộn rồi đi ăn cơm đã”. Chiều tổ công tác không quay lại, nên ông Vẽ không có trong tay biên bản xác minh đó. Sau đó ông Vẽ vô cùng ngạc nhiên trong biên bản xác minh xuất hiện dòng chữ: “Hộ ông Vẽ không nuôi rắn ráo, và trang trại không đủ điều kiện nuôi rắn ráo, không có chuồng trại”.
Ngày 4/10, ông Vẽ về Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ làm việc với ông Phan Văn Sơn, ông Sơn hỏi: “Mày có muốn lấy hàng về nhanh không?”. Ông Vẽ đáp: “Các anh giúp em với”. Sau đó ông Sơn với lý do việc này Công an Kinh tế Phú Thọ đã biết, không thể thả không được và hướng dẫn cho ông Vẽ nhận đã thu mua gom một ít rắn của người dân để lấy cớ phạt rồi trả hàng cho ông Vẽ mang về.
Ông Vẽ đã viết theo sự hướng dẫn của ông Phan Văn Sơn. Ngày 10/10, ông Vẽ được mời về Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ làm việc, ông Phan Văn Sơn yêu cầu ông Vẽ viết lại bản tự khai theo ý của ông Sơn là có mua hàng của bà con đi đường, lần này ông Vẽ không viết theo ý của ông Sơn nữa. Ông Sơn bực tức nói: “Nếu khai thế này thì chúng tao không cần nữa”.
Chiều 11/10, ông Vẽ mang giấy xác nhận của Hạt Kiểm lâm Bảo Thắng về việc chia nhầm nên số cá thể rắn trong hồ sơ không khớp với số rắn vận chuyển. Nhưng ông Trần Văn Sơn, đội phó đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ, trả lời: “Bây giờ tao không nhận bất cứ loại giấy tờ gì của mày nữa”.
Tiếp đến ngày 17/10, ông Vẽ lại được gọi về Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ làm việc. Nhưng ông Vẽ không đồng ý với nội dung biên bản do ông Phan Văn Sơn lập: “Các anh viết không đúng sự thật nên tôi không ký”, ông Sơn đáp: “Mày chỉ được phép ký và viết tên, ngoài ra không được viết bất cứ một chữ nào khác vào biên bản”. Sau đó gọi hai người bên ngoài vào làm chứng ký vào biên bản, mặc dù hai người này không hề chứng kiến sự việc.
Ngày 17/11/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ ký Quyết định số 3058/QĐ-UBND xử phạt ông Vẽ 80.250.000đ và tịch thu toàn bộ số rắn trên.
Với đơn trình bày cũng như hồ sơ mà ông Lê Văn Vẽ cung cấp cho NNVN, chúng tôi thấy như sau: Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ và ông Phan Văn Sơn như điều ông Vẽ trình bày là “giăng bẫy” để lừa ông Vẽ khai “có mua một ít của bà con đi đường”, từ đó có cớ tịch thu số rắn có nguồn gốc hợp pháp.
Hạt Kiểm lâm Bảo Thắng đã xác nhận việc tính toán nhầm số lượng cá thể rắn vận chuyển do ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Hạt trưởng ký, sao không được Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ xem xét? Ông đội phó Trần Văn Sơn lại trả lời người dân thiếu văn hoá: “Bây giờ tao không nhận bất cứ loại giấy tờ gì của mày nữa”.
Viêc lập hồ sơ xác minh số 32/BB-XM ngày 3/10 những người đi xác minh đã tự ghi thêm vào biên bản “Hộ ông Vẽ không nuôi rắn ráo, và trang trại không đủ điều kiện nuôi rắn ráo, không có chuồng trại”. Việc này ông Nguyễn Mạnh Hùng, kiểm lâm viên huyện Bảo Thắng là người làm chứng kiến đã viết Giấy cam đoan: “Sau khi thống nhất biên bản, cán bộ Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR không đưa biên bản cho cá nhân chủ trang trại là ông Lê Văn Vẽ và tôi - cán bộ kiểm lâm Lào Cai theo qui định, qui trình làm việc của pháp luật”. Phần ghi thêm là do những người đi xác minh tự ghi vào. Như vậy đã rõ, việc cán bộ Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR Phú Thọ đã cố tình làm sai lệch hồ sơ.
Nếu hộ ông Lê Văn Vẽ không đủ điều kiện nuôi rắn ráo, không có chuồng trại thì sao Chi cục Kiểm lâm Lào Cai lại cấp giấy chứng nhận cho gia đình ông Vẽ nuôi rắn? Vậy số rắn kia ông Vẽ mua từ đâu để Hạt Kiểm lâm Bảo Thắng xác nhận nguồn gốc hợp pháp? Điều đó đủ thấy dòng chữ ghi thêm vào biên bản xác minh là có chủ ý hại người dân.
Từ những điều trình bày trên, một câu hỏi đặt ra: Cán bộ kiểm lâm phú Thọ có cố ý làm trái, cố “giăng bẫy” để hại người dân lương thiện? (Nông Nghiệp Việt Nam 14/12)đầu trang(
Lợi dụng sự tín nhiệm cũng như trình độ dân trí còn hạn chế của người dân, cán bộ xã Diễn Lợi (Diễn Châu, Nghệ An) đã ngang nhiên giả mạo chữ ký của hàng chục hộ dân, “thay mặt” họ bán hàng chục ha rừng!
Cũng như hàng chục hộ dân khác đang kêu cứu lên các cơ quan chức năng có thẩm quyền về hành vi lừa đảo,giả mạo chữ ký của cán bộ xã Diễn Lợi, chiếm đoạt hàng trăm ha rừng thông của người dân bán cho doanh nghiệp khai thác để thu lợi, ông Thái Bá Quảng, một hộ trồng rừng ở xóm 9, xã Diễn Lợi, bức xúc cho biết, thực hiện chủ trương trồng mới 5 triệu ha rừng phủ xanh đất trống đồi trọc của Chính phủ, năm 1997, ông cùng hơn 50 hộ dân nghèo xã Diễn Lợi, được UBND huyện Diễn Châu ký hợp đồng giao khoán trông coi hơn 640ha rừng thông trên địa bàn trong thời hạn 50 năm.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai trồng, khoanh nuôi và bảo vệ trên diện tích rừng được giao, với mong muốn được tiếp cận với những ưu đãi hỗ trợ của Chính phủ về vốn dành cho các hộ trồng rừng, năm 2009 ông cùng các hộ dân nghèo trên địa bàn đã “liều mình” đến ngân hàng Nông nghiệp huyện để vay vốn theo chương trình hỗ trợ vốn ODA của Chính phủ cho những hộ trồng rừng.
Ngân hàng Nông nghiệp yêu cầu các hộ trồng rừng trình sổ lâm bạ để chứng minh diện tích rừng mình trực tiếp trồng, khoanh nuôi và bảo vệ. Người dân về xã hỏi sổ lâm bạ thì được ông chủ tịch xã lúc bấy giờ là ông Hoàng Xuân Hồng trả lời “sổ lâm bạ chưa được cấp nên chưa có để phát cho dân”.
Thắc mắc tại sao dân đã nhận đất trồng rừng hơn 10 năm nay mà vẫn chưa được cấp sổ lâm bạ,dân đến Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu hỏi thông tin về sổ lâm bạ thì lại được biết sổ lâm bạ đã được huyện cấp từ rất lâu rồi.
Nếu câu trả lời của Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu là đúng, thì sổ lâm bạ của 50 hộ dân đang ở đâu? Nếu không có sổ lâm bạ, người dân không thể tiếp cận được với nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, hàng trăm ha rừng thông của họ sẽ kiệt kinh phí chăm sóc, và giấc mơ “có thể nuôi rừng, sống dựa vào rừng, làm giàu từ rừng” sẽ khó thực hiện.
Cầm cuốn sổ lâm bạ của mình, ông Thái Bá Quảng bức xúc trình bày sự việc cán bộ địa phương đã giam sổ lâm bạ của gia đình nhiều năm.
Quá bức xúc, các hộ dân làm đơn kêu cứu gửilên các cơ quan có thẩm quyền. Ngày 1/7/2011, chính quyền xã Diễn Lợi mới có “giấy mời” các hộ trồng rừng lên nhận sổ lâm bạ. Nhận sổ rồi dân mới ngớ người khi biết sổ lâm bạ đã được cấp từ năm 1997.
Vậy trong suốt 14 năm, cán bộ xã đã “giam” sổ lâm bạ của người dân ở đâu? Vì mục đích gì?
Chưa hết bức xúc với việc xã vô lý "giam" sổ lâm bạ của mình, hàng chục hộ dân lại bất bình trước việc UBND xã Diễn Lợi đã tự ý thay mặt chủ rừng ký và bán hàng trăm ha rừng của họ cho doanh nghiệp HTX TM&CB nông lâm Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu khai thác tận thu nhựa thông. Hàng ngàn cây thông non chưa tới tuổi khai thác bị bức tử trong nỗi đau xót của người trồng rừng.
Từ đây dẫn đến một loạt các sai phạm khác trong quá trình quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn: Những hộ đang trực tiếp trồng rừng không được cấp sổ lâm bạ, những hộ trên thực tế không trồng bất kỳ một cái cây nào lại có tên trong diện tích rừng được khai thác, ký tên bán rừng... Tất cả những việc này dân đều không hay biết.
Ông Cao Xuân Ninh (xóm 10), là hộ đã nhận trồng khoanh nuôi 4,2 ha rừng keo và 7,4 ha rừng thông, bức xúc: “Diện tích đất trồng rừng của tôi có hơn 4,2ha keo và 7,4 ha rừng thông. Tuy nhiên, trong khi các hộ trồng rừng khác đều nhận sổ lâm bạ mà tôi vẫn không được cấp sổ. Trong lúc đó lưu trữ của tỉnh thì diện tích đất của tôi là có, nhưng khi tôi hỏi xã thì xã lại trả lời tôi là không có tên nên không được cấp…”.
Trong thời gian nhận trồng rừng 3 năm, ông Ninh được nhận hộ hơn 200 ngàn đồng/năm tiền công cho diện tích đất rừng mình trồng khoanh nuôi. Vậy tại sao cán bộ xã bảo ông không có tên trong danh sách?
Ông Lê Trung Thiệp ở xóm 10 không có bất kỳ một diện tích đất nào nhưng ông lại có tên và được người ta “ký cho” có 3,1 ha rừng thông đến tuổi khai thác. Trong khi đó, thực tếông Thiệp không hề ký bất kỳ một giấy tờ nào liên quan, cũng không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào. Tuy không thiệt hại gì về kinh tế nhưng ông Thiệp cũng vô cùng bức xúc trước những việc làm sai trái của cán bộ xã.
Trả lời về vấn đề trên, Thường trực Huyện ủy huyện Diễn Châu xác nhận sự việc cán bộ xã Diễn Lợi giả mạo chữ ký của người dân là có thật. Nếu sự việc đã được khẳng định là có, rất mong cơ quan ban ngành có hướng xử lý kịp thời, trả lại công bằng cho người dân. (Dân Trí 15/12) đầu trang(
Câu lạc bộ (CLB) Súng sơn (Công ty CP MDQ) vừa đưa môn thể thao đấu súng sơn vào Khu du lịch (KDL) Trường Mai. Tuy vậy, nên cân nhắc về sản phẩm du lịch mới này để tránh một cuộc “đổ bộ” vào hệ sinh thái rừng nguyên sinh...
Theo CLB Súng sơn, hiện giới trẻ và đặc biệt là khách nước ngoài rất thích thú với hành trình “phượt” 20 km từ trung tâm thành phố đến KDL Trường Mai. Ông Đỗ Ngọc Dân, Chủ nhiệm CLB cho hay, không gian rừng nguyên sinh khiến người chơi có cảm giác chiến trận rất thật.
Đặc biệt, với 30 ha đang khai thác của KDL Trường Mai trên diện tích 68 ha rừng già được giao, các tay súng có thể chọn được rất nhiều loại trận địa. Chiến trường ở đây rất rộng rãi, không bị giới hạn bởi các tấm lưới và địa vật đơn điệu. Theo ông Dân với số lượng súng 70 khẩu, quân phục, mặt nạ, áo giáp… như hiện nay, CLB có thể phục vụ cùng lúc 70 “chiến sĩ” và trong thời gian đến sẽ còn tăng thêm để 100 tay súng xung trận đồng thời.
Thế nhưng, theo ông Nguyễn Trường Mai, Giám đốc Công ty CP Trường Mai, quản lý KDL cùng tên cho biết, KDL hiện cũng hấp dẫn du khách bởi đang bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái động thực vật tự nhiên của bán đảo Sơn Trà.
Đặc biệt quý hiếm là 3-4 đàn voọc chà vá chân nâu, được mệnh danh là “Nữ hoàng loài linh trưởng”, đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới với số lượng khoảng 60 con trên tổng số 400 cá thể toàn bán đảo. Còn khỉ đít đỏ, khỉ đuôi vàng thì hàng trăm con cùng heo rừng, hoẵng, mèo rừng, tê tê thường xuyên xuất hiện.
Do đó, việc đưa môn thể thao có tính tiêu diệt mục tiêu vào chắc chắn ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của thú rừng, nên phải khảo sát kỹ. Nếu không, trong quá trình thi đấu sẽ không lường trước được các tay súng thiếu ý thức, tiện tay chĩa súng vào những con thú hoang thoáng xuất hiện. Đó là chưa kể KDL Trường Mai còn có hàng chục cây đại thụ hàng trăm năm tuổi thuộc họ nhà đa và hàng trăm cây thuốc quý, các trận “đổ bộ” của những tay súng không tránh khỏi để lại các dấu vằn vện của đạn sơn trên thân đại thụ, hoặc giẫm nát các cây non, nguồn gen thực vật phục vụ trồng rừng đang sinh sôi trên mặt đất.
Việc can thiệp thiếu tính toán vào hệ sinh thái tự nhiên của bán đảo Sơn Trà trước đây cũng đã để lại những bài học đắt giá mà hiện nay vẫn chưa giải quyết xong hậu quả, như chuyện mở đường Hoàng Sa từ bãi Bụt đi bãi Bắc thiếu khảo sát địa chất đã dẫn đến sạt lở liên tục vào mùa mưa, mỗi năm tiêu tốn cả trăm triệu đồng khắc phục.
Mới đây, trong quá trình nghiên cứu voọc chà vá ở Sơn Trà, Tiến sĩ người Đức Ulrike Simonne Streicher đã phát hiện tại lý trình Km 3 + 300 đến Km 3 + 800 có 7 cá thể voọc bị cô lập dưới bờ taluy âm, không thể trở về đàn ở phía taluy dương do quá trình xé rừng mở đường bê tông đã đốn hạ cây xanh, cắt đường đi của voọc.
Do đó, sau khi được UBND TP.Đà Nẵng phê duyệt, sắp đến BQL bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch sẽ xây dựng 3 “cầu cây xanh” với kinh phí 134 triệu đồng, đó là trồng những cây xanh đường kính trên 40 cm (tính ngang ngực người), cao hơn 5 mét để phủ tán rộng ngang qua đường bê tông tạo hành lang cho 7 cá thể voọc bị cô lập di chuyển về đàn. Không chỉ vậy, hiện ở tuyến 1 và tuyến đường bê tông nhựa từ Nhà vọng cảnh đến đỉnh Bàn Cờ (tuyến 2) còn cần 10 cầu cây xanh khác để “giải cứu” đàn voọc.
Chính vì vậy, trong đợt khảo sát vừa qua, Sở VH-TT-DL cùng các đơn vị lữ hành dù ủng hộ sản phẩm du lịch mới đấu súng sơn ở KDL Trường Mai, nhưng đề nghị đơn vị tính toán kỹ, khoanh vùng thi đấu, đảm bảo không ảnh hưởng đến hệ sinh thái Sơn Trà. (Thanh Niên 15/12)đầu trang(
Theo thông tin từ Công an Bình Phước, khoảng 6h ngày 12/12, bà Võ Thị Quý Thiện (41 tuổi, ngụ thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, Bình Phước), chủ khai thác rừng ở tiểu khu 196, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng mang 2 can nước lên xe ôtô tải BKS 51C-100.08 tại chòi rẫy thuộc tiểu khu 196 thì phát hiện phía sau thùng xe có 1 bọc giấy xốp màu vàng.
Sau khi gọi chị Huỳnh Thị Mai Lan (người làm công cho bà Thiện) lấy bọc vào chòi bà Thiện mở ra kiểm tra, bên trong là hộp giấy đựng máy radio hiệu Sony và 3 cục pin trung (loại con ó). Ngay khi vừa bỏ pin vào máy bấm nút nghe thử thì bất ngờ chiếc máy phát ra tiếng nổ khiến bà Thiện bị thương bất tỉnh.
Ngay sau đó, bà Thiện được đưa đi cấp cứu và đã qua khỏi cơn nguy kịch.
Cơ quan Công an đang điều tra làm rõ. (Công An Nhân Dân 15/12)đầu trang(
15-12, trên quốc lộ 1A đoạn qua địa phận cầu Giát (huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An).
Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 4 - Chi cục QLTT tỉnh Nghệ An phối hợp cùng Đội CSGT Công an huyện Quỳnh Lưu kiểm tra, bắt giữ xe khách mang biển số Lào UN-4922 chở động vật và xương động vật hoang dã.
Kiểm tra xe, lực lượng chức năng thu giữ một beo con đã bị chết (trọng lượng 16 kg), sáu con rùa (tổng trọng lượng 15 kg) và 40 kg gạc, sừng hươu, nai và xương động vật các loại. Tài xế là Lê Thanh Trầm (trú xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) khai nhận chở số động vật và sừng, xương động vật hoang dã trên ra phía Bắc để tiêu thụ. Hiện vụ việc đang được lực lượng chức năng điều tra, làm rõ.
Tình hình buôn bán động vật hoang dã đến nay vẫn không giảm. Trước đó, Công an huyện Diễn Châu (Nghệ An) kiểm tra, thu giữ hai con hổ đang nuôi nhốt tại nhà ông Nguyễn Văn Sáng (trú xã Diễn Quảng, huyện Diễn Châu). (Pháp Luật TPHCM 16/12; Tuổi Trẻ 16/12)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
“Tuyệt vời, thật tự hào khi Việt Nam ta còn những mảng rừng tự nhiên đa dạng sinh học như vậy. Hỡi những ai còn chút lương tâm, hãy kêu gọi mọi người bảo vệ khu rừng Cát Tiên này và xem như bảo vật quốc gia bất khả xâm phạm. Hãy giữ lại những cánh rừng quý giá này và môi trường sạch cho chúng ta và con cháu mai sau”.
Đây là ý kiến của bạn đọc Tư Hên (Bình Dương) khi đọc bản tin “Vì một Cát Tiên nguyên vẹn” trên Báo Người Lao Động Online, thông tin về cuộc triển lãm ảnh “Ấn tượng Cát Tiên” tổ chức ngày 16-12 tại TPHCM. 64 bức ảnh của các nhiếp ảnh gia trong và ngoài nước đã chuyển tải đến người xem những hình ảnh sống động, đầy mỹ cảm nghệ thuật với tính nhân văn sâu sắc.
Triển lãm đưa người xem về với di sản Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, vùng rừng nhiệt đới ẩm duy nhất còn sót lại tại miền Nam Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc điều tiết khí hậu cho Tây Nguyên và Nam Bộ. Hình ảnh hoang sơ, kỳ vĩ của Cát Tiên với những cổ thụ chục người ôm; đàn bò tót, vượn đen má vàng - những loài vật trong danh mục cần bảo vệ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế; dòng suối róc rách dưới tán cây, hoa anh đào nở thắm đường rừng; quang cảnh Bàu Sấu - Ramsar độc nhất của Việt Nam: nằm trên núi cao nhưng vẫn ngập nước...
Đẹp đến thế, quý giá như thế nhưng những loài vật này đang sống trong khu vực dự định thực hiện 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A và gần đây lượng nước đổ về Bàu Sấu giảm do các thủy điện trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nếu xây thêm 2 thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ngay bên trên Bàu Sấu, lưu lượng và chất lượng nước đổ về chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Theo cảnh báo của các chuyên gia, tổ chức khoa học trong và ngoài nước, việc xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trong vùng lõi VQG Cát Tiên sẽ gây tác động xấu đến môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học.
Với nhiều bạn đọc, đây là tài sản vô giá của cả dân tộc, vì tương lai của đất nước, vì các thế hệ mai sau, phải giữ vẹn nguyên VQG Cát Tiên, kiên quyết không để lọt vào tay những người vì lợi nhuận cá nhân mà phá hoại tài sản vô giá này. Bạn đọc Tiếng Xưa cho rằng: “Cát Tiên đẹp không thua kém (thậm chí là hơn) bất kỳ khu sinh quyển nổi tiếng thế giới nào mà tôi đã từng xem trên Discovery. Nếu nơi này bị xâm hại thì đó là một tổn thất, một cái giá quá đắt cho đất nước”. Bạn đọc Quốc Khánh trăn trở: “Đừng đánh đổi bằng mọi giá mà có tội với nhân loại”...
Theo Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP): Các khoản đầu tư phục vụ cho những lợi ích ngắn hạn sẽ góp phần gây ra những tổn thất lớn. Tổ chức này lưu ý: Khi chúng ta đầu tư 30 triệu USD cho việc chống phá rừng và suy thoái rừng thì chúng ta có thể nhận được 2,5 tỉ USD từ các sản phẩm và dịch vụ mà nó mang lại. Hơn nữa, việc đầu tư vào lâm nghiệp có thể tạo ra hơn 10 triệu việc làm trên toàn thế giới. Việc quản lý rừng bền vững, hướng tới một nền kinh tế xanh phụ thuộc vào hành động của con người.
Với tầm nhìn dài rộng đó, hướng về Cát Tiên của chúng ta, rõ ràng việc bảo vệ và lưu giữ sự nguyên vẹn cho di sản Cát Tiên là thông điệp hết sức thiêng liêng với những ai yêu quý đất nước này. (Người Lao Động 16/12)đầu trang(
Thủy điện có vai trò quan trọng trong hệ thống điện Việt Nam. Nhiều dự án thủy điện (DATÐ) đã góp phần quan trọng bảo đảm cung ứng điện cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Tuy nhiên, thời gian qua, việc buông lỏng quản lý khiến quy hoạch phát triển các DATÐ, nhất là các dự án thủy điện nhỏ không được kiểm soát chặt chẽ.
Có những dự án đã gây những hệ lụy về môi trường-xã hội (MT-XH) như chặt phá rừng, không trồng bù diện tích rừng đã mất, lấy quá nhiều đất sản xuất, cạn kiệt nguồn nước...
Dư luận cả nước mới đây hết sức bức xúc trước việc Nhà máy thủy điện Ðác Mek 3, ÐaKrông 3do không kiểm soát được chất lượng thi công nên đã xảy ra các sự cố vỡ đập, gây hậu quả nghiêm trọng. Việc phát triển thủy điện nhỏ là cần thiết nhưng phải tuân thủ các quy định, nâng cao chất lượng quy hoạch, đánh giá tác động môi trường chặt chẽ, cẩn trọng. Hơn bao giờ hết, để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững thì càng không thể phát triển thủy điện bằng mọi giá.
Trước thực trạng nêu trên, từ năm 2009 đến nay, thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Công thương phối hợp UBND các tỉnh liên quan thực hiện rà soát, đánh giá quy hoạch và đầu tư xây dựng các DATÐ trên địa bàn cả nước nhằm: đánh giá việc thực hiện đầu tư xây dựng, hiệu quả kinh tế-tài chính, tác động MT-XH, sự phù hợp quy hoạch; kiến nghị loại bỏ khỏi quy hoạch các DATÐ hiệu quả thấp, tác động tiêu cực MT-XH, ảnh hưởng quy hoạch khác; đánh giá việc thực hiện di dân, tái định cư; thực hiện quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa...
Qua xem xét, UBND các tỉnh đã thống nhất loại khỏi quy hoạch 117 DATÐ (gần 618 MW); không xem xét bổ sung vào quy hoạch 156 vị trí đã xác định thông qua nghiên cứu quy hoạch có tiềm năng khai thác khoảng 355 MW. Qua rà soát, ngoài các dự án trên, Bộ Công thương kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo loại bỏ thêm 260 DATÐ nhỏ (434 MW) và ba vị trí tiềm năng (13,5 MW).
Hiện nay, nhiều DATÐ nhỏ đang thực hiện đầu tư hoặc chuẩn bị đầu tư nhưng phải tạm dừng hoặc giãn tiến độ do khó khăn về nguồn vốn. Trong khi đó, nguồn vốn nhà nước cho đầu tư xây dựng các công trình lưới điện cũng hạn chế. Nhiều dự án cũng chưa hoàn thành hoặc chưa nghiên cứu đầu tư nên chưa có đủ thông tin về hiệu quả, tác động MT-XH... để xem xét, đánh giá. Vì vậy, Bộ Công thương kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các địa phương tạm dừng và chỉ cho phép đầu tư xây dựng từ sau năm 2015 đối với 102 DATÐ nhỏ có tổng công suất gần 663 MW.
Ðể bảo đảm việc đầu tư xây dựng các DATÐ đáp ứng các yêu cầu kinh tế-xã hội, môi trường, các bộ, ngành, địa phương cần quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ về tăng cường quản lý các DATÐ. UBND các tỉnh cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương và các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá các DATÐ trên địa bàn để kịp thời điều chỉnh hợp lý hoặc thu hồi để loại khỏi quy hoạch các DATÐ đã và đang nghiên cứu đầu tư nhưng chưa khởi công xây dựng, có tác động tiêu cực lớn MT-XH, hiệu quả thấp, ảnh hưởng quy hoạch khác.
Ðối với các dự án chuẩn bị khởi công, chỉ cho phép chủ đầu tư triển khai thi công khi đã bố trí đủ vốn cho các hợp đồng dự án; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn của địa phương tăng cường kiểm tra công tác quản lý đầu tư xây dựng các DATÐ, nhất là bảo đảm chất lượng công trình, tập trung vào hạng mục đập chính nhà máy cũng như công tác bảo vệ môi trường. Kiên quyết xử lý các chủ đầu tư, nhà thầu vi phạm các quy định về giám sát, quản lý chất lượng, tiêu chuẩn công trình...
Thực hiện nghiêm việc kiểm tra, xem xét kỹ năng lực của các doanh nghiệp trước khi giao làm chủ đầu tư các DATÐ nhỏ; kiên quyết thu hồi các dự án mà chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện. Ðối với các DATÐ đã đi vào vận hành, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường kiểm tra công tác vận hành, bảo đảm tuân thủ nghiêm quy trình vận hành xả lũ, độ an toàn của thân đập trong quá trình vận hành cũng như các cam kết với địa phương về bảo vệ môi trường... (Nhân Dân 17/12)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Một loài động vật linh trưởng mới có nọc độc vừa được các nhà khoa học khám phá tại các khu rừng nhiệt đới đảo Borneo, địa phận Indonesia, BBC đưa tin.
Đó là loài cu li Nycticebus kayan, được đặt theo tên của dòng sông Kayan chảy vắt ngang môi trường sống của nó.
Trong bài báo đăng trên số ra tháng 12-2012 của tạp chí Động vật linh trưởng Mỹ, các nhà khoa học cho biết đây là loài cu li duy nhất trong gia đình động vật linh trưởng có nọc độc được tiết ra từ các tuyến ở khuỷu tay. Sau đó, nó dùng lưỡi lấy chất độc và trộn với nước bọt.
Khi bị tấn công, con cu li dễ thương này sẵn sàng cắn và tiết độc tố đủ mạnh vào cơ thể giết chết kẻ thù.
Do có “ngoại hình” dễ thương, cu li Nycticebus kayan sẽ trở thành đối lượng săn lùng của những kẻ buôn bán thú nuôi làm cảnh, trích thông tin trên BBC.
Một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi giáo sư Anna Nekaris làm việc tại ĐH Oxford Brookes (Anh) và Rachel Munds từ Đại học Missouri (Mỹ) đã phát hiện cu li Nycticebus kayan. (Tuổi Trẻ 15/12)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||