Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 20 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Trước thông tin Bộ NNPTNT xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với người nuôi trồng thủy sản và có thể áp dụng ngay trong năm 2013, nhiều chủ trang trại và doanh nghiệp bày tỏ sự lo lắng.
Bà Đặng Thị Dịu - chủ trang trại nuôi tôm, khu 7, phường Hải Hoà, TP.Móng Cái, Quảng Ninh chia sẻ: "Tôi nhất trí với việc Nhà nước thu phí môi trường nước vì nhiều nước cũng làm. Nhưng tôi thấy dự thảo chính sách thu phí môi trường nước đưa ra mức đóng chưa hợp lý ở một số mức.
Chẳng hạn, với phương án thu phí theo lợi nhuận ròng/ha/năm thì mức đóng cao nhất là 0,45%, tức là 1.089.000 đồng/ha/năm. Đầm tôm của gia đình tôi có diện tích hơn 32ha vị chi tôi phải đóng tới hơn 35 triệu đồng/ha/năm. Nếu căn cứ theo diện tích nuôi thì đầm tôi của gia đình tôi phải đóng tới hơn 22 triệu đồng/năm là quá cao".
Cùng suy nghĩ với bà Dịu, ông Nguyễn Văn Quắn ở xã Mỹ Long Nam (huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh) thắc mắc: “Nếu đóng thêm tiền mua nước, có bớt được rủi ro?” Ông Quắn phân tích: "Nếu thuế hay phí môi trường nước dự kiến tính ở mức 700.000 đồng/ha, hay 0,15% tổng doanh thu là mức thu khá lớn đối với nghề nuôi tôm. Sản xuất nông nghiệp mà đóng phí môi trường nước là không hợp lý. Bởi vì, nông dân phải chịu rất nhiều rủi ro từ giá cả bấp bênh, dịch bệnh tràn lan. Hiện người dân phải gánh nhiều loại phí, nếu gánh thêm thuế, phí môi trường nước nữa thì sẽ càng gặp khó khăn hơn".
Tâm tư của bà Dịu, ông Quắn cũng là suy nghĩ của nhiều chủ trang trại nuôi trồng thủy sản khác trong cả nước.
Khi được hỏi về việc Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Tổng cục Thủy sản (Bộ NNPTNT) đang dự kiến xây dựng cơ chế thu - chi dịch vụ bảo vệ môi trường rừng đối với doanh nghiệp sử dụng mặt nước để sản xuất, kinh doanh, ông Trần Văn Lĩnh - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thủy sản và thương mại Thuận Phước (Đà Nẵng) cho rằng: Khi xây dựng cơ chế thu thuế, hay phí, hay bất kỳ khoản thu dịch vụ nào đó, cơ quan chức năng phải tùy từng thời điểm, đặc trưng của từng ngành sản xuất, kinh doanh mà có những mức thu phù hợp.
Đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay, là hoạt động mang lại thu nhập chính cho phần lớn nông dân, ngành nghề xuất khẩu chính của đất nước nhưng cũng đang trong tình trạng khó khăn trăm bề. Do đó, việc thêm một khoản thu nữa có thể sẽ khiến ngành nông nghiệp tụt thêm một vài bậc cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Ông Nguyễn Văn Đạo - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Gò Đàng cũng đồng ý với ý kiến này và phân tích thêm: "Ngay thời điểm này, sản phẩm cá tra phi lê xuất khẩu có giá 2,5 - 2,7USD/kg, chỉ vừa huề vốn cho doanh nghiệp chế biến, nhưng các nước vẫn nhập khẩu rất hạn chế. Nếu chi phí đầu vào, sẽ tăng giá bán lên nữa, chắc chắn cá tra Việt Nam sẽ càng khó cạnh tranh". Doanh nghiệp gặp khó, đồng nghĩa với nông dân nuôi trồng thủy sản gặp khó. (Nông Thôn Ngày Nay 20/12) đầu trang(
Cách hiểu khác nhau trong cấp phép nhập khẩu gỗ khiến cho gỗ nhập khẩu bị ách tắc. Đã thế, sự chậm trễ trong giải quyết vướng mắc của Bộ Công thương đang đẩy DN tới chỗ khó khăn không lối thoát.
Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam (Cầu Giấy - Hà Nội) là một trong hai công ty ký hợp đồng nhập khẩu 20.000m3 gỗ từ Campuchia về Viêt Nam. Số gỗ này đã được Campuchia cho phép xuất khẩu trong năm 2011- 2012.
Số gỗ nhập khẩu này cũng được UBND Đắk Nông cấp phép và ra quyết định mở cửa khẩu phụ từ tỉnh Đắk Nông sang tỉnh Mundulkiri của Cămpuchia tại khu vực quản lý của đồn biên phòng 751 tỉnh Đắk Nông để vận chuyển gỗ.
Tuy nhiên, khi Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam tiến hành nhập khẩu 10.000 m3 gỗ từ Campuchia về đến biên giới (lối mở 751 tỉnh Đắk Nông) thì lại không được cho nhập khẩu vào Việt Nam.
Lý do là Bộ Công thương không đồng ý vì cho rằng Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam không đủ điều kiện nhập khẩu gỗ. Theo Bộ Công thương để nhập khẩu gỗ thì DN phải được Bộ Công thương cấp phép. Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam hiện chưa được Bộ Công thương cấp phép nhập khẩu gỗ từ Cămpuchia.
Tuy nhiên, theo Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam, Thông tư số 13/2009 TT- BCT do Bộ Công thương ban hành ngày 3/6/2009 quy định xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nằm ngoài các khu kinh tế cửa khẩu quy định rõ: "Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nằm ngoài các Khu kinh tế cửa khẩu phải thuộc danh mục hàng hóa quy định tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
Chủ tịch tỉnh có cửa khẩu phụ, lối mở biên giới quyết định cho phép nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này. Riêng đối với hàng hóa thuộc danh mục quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có cửa khẩu phụ, lối mở biên giới quyết định cho phép nhập khẩu trên cơ sở có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Công Thương".
Đối chiếu với danh mục hàng hóa quy định tại Thông tư 13/2009 thì gỗ các loại thuộc Phụ lục 1, tức là hàng hóa sẽ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có cửa khẩu phụ, lối mở biên giới quyết định cho phép nhập khẩu. Và hàng hóa này không cần phải có giấy phép của Bộ Công thương Việt Nam cấp.
Theo Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam, việc Bộ Công thương yêu cầu phải có giấy phép do Bộ này cấp là căn cứ vào quy định tại Thông tư số 04/2006 TT- BTM do Bộ Thương mại ban hành ngày 6/4/2006, hướng dẫn Nghị định 12/NĐ - CP ngày 23/1/2006 quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Vì thế, không đúng với trường hợp của DN này.
Để chắc chắn, Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam đã có công văn gửi Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng Cục An Ninh 2 (Bộ Công An) xin giải đáp và làm rõ vấn đề này.
Bộ Tư pháp trong công văn số 9719 BTP - CV về việc giải đáp pháp luật cho DN liên quan đến thủ tục nhập khẩu gỗ nguyên liệu đã khẳng định hai Thông tư 04/2006 TT- BTM và 13/2009 TT-BCT có đối tượng và phạm vi điều chỉnh và phạm vi áp dụng khác nhau.
Bộ Tư pháp khẳng định, hoạt động nhập khẩu gỗ của Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam chịu sự điều chỉnh của Thông tư số 13/2009. Việc yêu cầu phải được Bộ Công thương cấp phép thì mới được nhập khẩu gỗ từ Cămpuchia là không có cơ sở pháp lý. Căn cứ vào các quy định pháp luật thì Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam có đủ điều kiện để nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Cămpuchia.
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng cho rằng, Công ty TNHH Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam nhập khẩu gỗ qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới thuộc địa bàn tỉnh Đắk Nông do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông quyết định cho phép là đúng quy định của Thông tư 13/2009 TT- BCT do Bộ Công thương ban hành.
Tổng cục An ninh 2 (Bộ Công An) trong công văn số 2036/CV- A81-A86 về việc nhập khẩu gỗ từ Cămpuchia của Công ty TNHH Đầu tư phát triển lâm nông nghiệp Việt Nam ngày 31/10/2012 cũng khẳng định, qua nghiên cứu các tài liệu công ty cung cấp và đối chiếu với thông tư 04/2006; thông tư 13/2009 thì thấy công ty đã tuân thủ các quy định tại Thông tư 13/2009 của Bộ Công Thương.
Sự việc kéo dài và đã được chuyển lên Chính phủ để phân giải. Ngày 5/12/2012 sau khi nhận được đề nghị của UNBD Đắk Nông và Hiệp hội Gỗ lâm sản Việt Nam, Văn phòng Chính phủ đã có công văn gửi Bộ Công thương yêu cầu có ý kiến về vấn đề này, báo cáo Thủ tướng trước ngày 10/12/2012.
Những mãi đến ngày 12/12/2012 Bộ Công thương có văn bản số 12091/ BCT- TMMN về việc nhập khẩu gỗ Campuchia qua của khẩu phụ, lối mở tỉnh Đắk Nông, trong đó vẫn khẳng định nhập khẩu gỗ từ Cămpuchia phải tuân thủ Nghị định số 12/2006, Thông tư 04/2006 và Thông tư 13/2009.
Theo quy định tại các văn bản trên, để nhập khẩu gỗ từ Cămpuchia, DN trước hết phải được Bộ Công thương cấp phép. Để được cấp phép thì phải có giấy phép của Bộ Thương mại Cămpuchia cho phép xuất khẩu gỗ gửi đến Bộ Công thương Việt Nam. Sau khi được Bộ Công thương cấp phép, thương nhân có thể lựa chọn 1 cửa khẩu nhập khẩu trong 14 cửa khẩu quốc gia và quốc tế theo quy định trong Thông tư số 04/2006 hoặc qua cửa khẩu phụ, lối mở hiện đã có đủ lực lượng chức năng và cơ sở kỹ thuật đảm bảo và quyết định cho phép nhập khẩu của Chủ tịch tỉnh theo quy định tại Thông tư số 13/2009.
Bộ Công thương đưa ra lý do, chưa nhận được công văn của Bộ Thương mại Campuchia thông báo đồng ý cho Công ty Angkor Ply Wood được phép xuất khẩu gỗ sang Việt Nam, chưa nhận được hồ sơ xin phép nhập khẩu gỗ của Công ty Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam nên Công ty chưa có đủ điều kiện để cấp phép. Vì vậy, Chủ tịch UBND Đắk Nông chưa có cơ sở quyết định cho DN vận chuyển gỗ qua cửa khẩu phụ lối mở 751.
Trước hoàn cảnh này, Công ty Đầu tư phát triển Nông lâm nghiệp Việt Nam cho rằng Bộ Công thương đã có những ý kiến trái ngược với các văn bản quy phạm pháp luật do chính mình ban hành và gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu hợp pháp của DN.
Cũng trong ngày 12/12/2012, một lần nữa Văn phòng Chính phủ lại có công văn yêu cầu Bộ Công thương khẩn trương chủ trì họp với Bộ Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công an, Bộ Tư pháp Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông để xem xét xử lý dứt điểm những vướng mắc trong nhập khẩu gỗ như đề nghị của Công ty TNHH Đầu tư phát triển lâm nông nghiệp Việt Nam, báo cáo Chính phủ trước ngày 20/12/2012.
Tuy nhiên, theo Công ty TNHH Đầu tư phát triển lâm nông nghiệp Việt Nam, đến hôm nay (ngày 19/12/2012) vẫn chưa có cuộc họp nào do Bộ Công thương đứng ra tổ chức và DN thì vẫn đang chịu "trận" khi gỗ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất không có, trong khi gỗ phía Campuchia đã tập kết tại biên giới vẫn chưa thể vào Việt Nam gây thiệt hại rất lớn cho DN. (Theo VEF 20/12) đầu trang(
Điện Biên đã xác định rõ ranh giới, diện tích đất có rừng thuộc lưu vực Sông Đà cho chủ rừng là các tổ chức cá nhân, cộng đồng thôn bản với tổng diện tích đất có rừng của lưu vực Nhà máy Thủy điện Sơn La là 242. 304 ha làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Nhưng một vấn đề hiện nay Điện Biên đang gặp phải là nhiều chủ rừng không nắm rõ được vị trí, diện tích đất, rừng, trạng thái rừng và trữ lượng rừng. Bởi khi các chủ hộ nhận khoanh nuôi và bảo vệ rừng lại không nhận ngoài thực địa mà chỉ nhận rừng trên giấy.
Vừa qua, huyện Điện Biên thực hiện đề án thí điểm tại xã Mường Nhà đã tiến hành rà soát lại toàn bộ các chủ rừng được giao bảo vệ và quản lý rừng. Căn cứ vào kết quả điều tra, rà soát tình hình sử dụng đất sau khi giao đất, giao rừng tại 4 xã Thanh Xương, Thanh An, Noong Hẹt và Sam Mứn của Phòng Kinh tế, huyện Điện Biên, toàn huyện có 26 chủ hộ có Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng không có người trong thôn, bản.
Ông Lò Văn Hương, Chủ tịch UBND xã Thanh An nhận định: "Thời điểm cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001, tôi chưa làm việc ở đây, nên không nắm được thực hư thế nào và nguyên nhân từ đâu. Việc cấp (GCNQSDĐ) cho các chủ hộ trên giấy nhưng không có người trong thôn, xã là có thật.
Tuy nhiên, đến nay mọi việc chưa giải quyết xong. Việc giao đất, giao rừng chỉ căn cứ vào lời khai của dân. Họ trồng ngô, trồng lúa rồi kê khai với thôn, bản, để xã chứng thực rồi được (CGCNQSDĐ). Việc không thực hiện giao đất ngoài thực địa đã trở thành phổ biến trong những năm qua tại huyện Điện Biên, nhiều gia đình được giao khoán chung một lô, một khoảnh rồi đứng tên một người trong sổ, cũng có nhiều trường hợp đất một nơi, Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất một nẻo, vừa không đúng diện tích, không đúng vị trí; đúng là người ta đã thực hiện việc giao đất giao "giời" ."
Được biết, việc giao đất giao "giời" không chỉ có ở một huyện của tỉnh Điện Biên. Giao đất lâm nghiệp (GCNQSDĐ) tại các xã nêu trên của huyện Điện Biên, được cấp một cách vô tội vạ, miễn sao cấp được nhiều sổ coi như đã hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu rồi. Cũng chính lẽ đó mà huyện Điện Biên có 52 hộ gia đình trả lại (GCNQSDĐ). "Chúng tôi giữ Số đỏ không để làm gì, tốt nhất mang trả lại cho Nhà nước" - ông Lò Văn Chung nói. Điều đó phần nào cho thấy nhân dân không mặn mà với việc nhận trồng và bảo vệ rừng. Đó là điều thật dễ hiểu, bởi họ không hề nhận được lợi ích gì từ rừng...
Một nghịch lý vẫn tồn tại ở huyện Điện Biên, nhiều hộ có (GCNQSDĐ) thì mang trả lại, nhưng nhiều gia đình lại tranh giành từng mét vuông đất, xảy ra kiện tục liên miên. Việc tranh chấp ở đây không xuất phát từ ý thức khoanh nuôi bảo vệ rừng, mà đơn thuần chỉ là sợ mất phần đất bao đời cha ông họ đã vỡ hoang cày cuốc (!)
Ông Nguyễn Văn Thiên, Phó Chủ tịch UBND xã Sam Mứn, cho biết: "Việc tranh chấp đất rừng đến giờ xã vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm, bởi từ năm 1998 khi chưa đóng cửa rừng thì nhiều hộ gia đình đã khoanh nuôi và coi diện tích đất rừng ấy như "của gia truyền" cha ông để lại, đến khi xã họp bàn để thu lại giao khoán cho các hộ khác, mâu thuẫn không giải quyết triệt để từ đó tranh chấp liên tiếp xảy ra. Một hộ làm được, nhiều hộ cũng làm được".
Để khắc phục tình trạng trên, huyện Điện Biên đang xây dựng đề án thí điểm tại xã Mường Nhà; thu hồi toàn bộ diện tích rừng, đất rừng, điều chỉnh diện tích rừng, đất rừng giao lại cho các cá nhân, cộng đồng có nhu cầu nhận rừng và đất rừng. Có đơn vị chuyên môn khảo sát đánh giá trạng thái rừng, xác định ranh giới theo đơn vị lô, khoảnh và tiểu khu; trực tiếp bàn giao ngoài thực địa, đóng mốc danh giới, thành lập Ban Chỉ đạo giao rừng, Tổ công tác giao rừng cấp huyện và Hội đồng giao rừng cấp xã. Tuy nhiên hiện nay đề án vẫn chưa có tính khả thi bởi vẫn còn nhiều vướng mắc ở khâu triển khai và thực hiện.
Ngày 6/12/2012, sau khi Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định số: 3003/QĐ- BNN-TCLN, ngày 29/11/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quyết định về việc công bố diện tích rừng thuộc lưu vực trong phạm vi từ hai tỉnh trở lên làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hội đồng Quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã tổ chức họp bàn dưới sự chủ trì của ông Hoàng Văn Nhân, Phó Chủ tịch UBND, tỉnh Điện Biên, Chủ tịch Hội đồng họp bàn xoay quanh vấn đề chi trả phí dịch vụ môi trường rừng.
Hiện nay, Công ty Thủy điện Sơn La ủy thác cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả tiền cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho các loại hình dịch vụ cung ứng, bao gồm bảo vệ, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối để điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện. Tổng diện tích đất có rừng của lưu vực Nhà máy Thủy điện Sơn La là: 242.304 ha.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Điện Biên cho biết, số tiền Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Điện Biên, đã nhận từ Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Việt Nam, do Công ty Thủy điện Sơn La ủy thác, tổng số tiền đã nhận trong năm 2011 và năm 2012 để chi trả dịch vụ môi trường rừng là hơn 70 tỷ đồng.
Hiện nay, Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Điện Biên đang thực hiện thí điểm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé tổng diện tích 31.211,1 ha của 11 xã bản và khu vực thị xã Mường Lay. Bà Hà cho biết thêm, trong khi chờ đợi UBND tỉnh Điện Biên ra quyết định, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã lên phương án ứng trước cho Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé10 tỷ đồng. Dự kiến trong thời gian tới sẽ hoàn tất các thủ tục để các Ban Quản lý rừng phòng hộ ứng tiền chi trả cho các hộ nhận khoán, định mức chi trả dịch vụ phí môi trường rừng giao 200 nghìn đồng/ha.
UBDN tỉnh Điện Biên giao cho Sở NN& PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường cùng phối hợp rà soát, việc giao đất, giao rừng diện tích rừng đã được cấp cho các cá nhân, tập thể là chủ rừng và xác định lại mốc giới, theo lô, khoảnh, trạng thái rừng và trữ lượng rừng của 6 huyện, thị thuộc vùng lưu vực Sông Đà hoàn thành trong quý I/2013.
Như vậy, việc tiến hành chi trả dịch vụ phí môi trường rừng cho các cá nhân, tập thể là chủ rừng tại các huyện, thị trên địa bàn tỉnh Điện Biên vẫn chưa thể thực hiện trong năm nay vì còn phải mất nhiều thời gian cho việc đi tìm kiếm chủ rừng. (Tài Nguyên&Môi Trường 20/12) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Sau 4 năm (2009 - 2012) triển khai thực hiện, dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) đã bước đầu đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ.
Dự án đã góp phần nâng độ che phủ rừng, bảo tồn các loài thực vật quý hiếm; duy trì được nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc biệt, dự án đã góp phần cải thiện môi trường sinh thái, tạo không gian xanh cho vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.
Thông qua chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng sản xuất, đã giải quyết được một phần vấn đề an ninh lương thực trong những ngày giáp hạt cho bà con dân tộc thiểu số sống liền kề với rừng.
Là tỉnh miền núi biên giới cực Bắc địa đầu của Tổ quốc, Hà Giang có 6/11 huyện, thành phố thuộc diện huyện nghèo, đặc biệt khó khăn, diện thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ; trong đó, có 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc gồm: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Nơi đây có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thiếu đất, thiếu nước sản xuất. Đây là nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, toàn vùng có trên 60% số hộ thuộc diện đói nghèo, thu nhập bình quân đầu người đạt dưới 3 triệu đồng/năm.
Ngày 20/1/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang với mục tiêu là hỗ trợ tiền, gạo cho người dân trong công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, cây dược liệu và trồng cỏ chăn nuôi. Thông qua dự án nhằm bảo vệ, phát triển vốn rừng và góp phần duy trì, đảm bảo đời sống nhân dân, nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Từ năm 2009 đến hết năm 2012, dự án đã giao khoán, quản lý, bảo vệ được trên 319.000 lượt ha rừng; giao khoán khoanh nuôi phục hồi rừng được trên 106.000 lượt ha; trồng mới được trên 11.000ha rừng và thực hiện lồng ghép với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2008-2010 được 8.720 ha; chăm sóc được gần 16.000 lượt ha rừng; trồng rừng cảnh quan (rừng phòng hộ môi trường) được 500ha; cải tạo và nâng cấp được 8 vườn ươm cung cấp cây giống trồng rừng cho vùng dự án tại 4 huyện trên Cao nguyên đá.
Tại 4 huyện đã xây dựng được 429 bảng nội quy, 1.509 bảng, biển báo tuyên truyền bảo vệ rừng. Các biển báo này được cắm tại các khu rừng thuộc dự án nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về việc quản lý, bảo vệ rừng; lợi ích và trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Từ việc triển khai thực hiện dự án, 100% các thôn, bản tại 4 huyện trên Cao nguyên đá đã xây dựng được hương ước bảo vệ rừng.
Với mục tiêu hỗ trợ tiền, gạo cho bà con dân tộc thiểu số thực hiện dự án trong công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng và trồng rừng, từ năm 2008 đến nay, dự án đã cấp gần 6.500 tấn gạo, đạt 100% kế hoạch giao.
Mặc dù thời gian cấp gạo được tập trung vào thời điểm giáp hạt là tháng Ba, tháng Tám và tháng 11 hàng năm, lúc đó thời tiết không thuận lợi, mưa nhiều, đường vùng cao đi lại khó khăn, song toàn bộ số gạo đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang và Ủy ban Nhân dân 4 huyện vùng cao phía Bắc triển khai cấp gạo đầy đủ, đảm bảo an toàn, chính xác.
Ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang, cho biết: Sau 4 năm triển khai thực hiện dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng trên Cao nguyên đá đã nâng độ che phủ rừng của toàn vùng từ 30,9% lên 39,7%, đạt 56% so với mục tiêu của dự án đề ra đến năm 2015 là 46,7%. Dự án đã từng bước cải thiện môi trường sinh thái trong vùng và khu vực lân cận. Bảo tồn các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng như: Thông đỏ, bách vàng, bách xanh, tùng la hán...
Thông qua dự án đã hình thành ý thức bảo vệ rừng trong từng bà con dân tộc thiểu số ở địa phương, đặc biệt là ý thức bảo vệ rừng cộng đồng. Đến nay, ở các địa phương này không còn tình trạng phá rừng tràn lan, số vụ cháy rừng giảm mạnh; công tác phòng chống cháy rừng đã được đông đảo nhân dân cùng tham gia.
Tổng nguồn vốn dự án đã hỗ trợ cho bà con là gần 148 tỷ đồng; bình quân mỗi hộ nhận trên 1 triệu đồng/hộ/năm. Ngoài ra, các hộ tham gia dự án còn được nhận gần 6.500 tấn gạo (bình quân mỗi hộ được hỗ trợ 50 kg gạo/năm). Đây là nguồn hỗ trợ đáng kể đối với đời sống của bà con dân tộc thiểu số tại 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc của Hà Giang còn nhiều khó khăn, từng bước góp phần cải thiện đời sống vật chất của hộ gia đình.
Dự án đã góp phần quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo tại 4 huyện trên Cao nguyên đá. Trên 4.583 ha rừng trồng sản xuất khi khai thác sẽ cung cấp trên 275.000m3 (tính bình quân 60m3/ha) sẽ là nguồn thu đáng kể về chất đốt, gỗ gia dụng đối với các hộ gia đình.
Thông qua chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng sản xuất đã được đông đảo bà con các dân tộc thiểu số nhiệt tình ủng hộ rất cao. Gạo hỗ trợ được cấp phát vào các thời điểm giáp hạt giúp người dân không bị đói vào thời gian khó khăn nhất.
Dự án đã thu hút được trên 28.000 hộ gia đình trên địa bàn 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc của Hà Giang tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm cho trên 50.000 lao động. Các chính sách hỗ trợ của dự án đối với bà con dân tộc thiểu số đã cho thấy rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các dân tộc ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.
Có thể nói, đây là một dự án mang tính xã hội cao, các chính sách được nhân dân đồng tình cao và tích cực tham gia. Dự án được triển khai thực hiện đã từng bước thay đổi nhận thức của người dân trong sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp mang tính bền vững. Dự án cũng đã góp phần hạn chế được tình trạng người dân vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động tự do, gây mất trật tự an ninh vùng biên giới.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang: Phát huy những kết quả đã đạt được, trong giai đoạn 2013-2015, tỉnh Hà Giang sẽ tiếp tục phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh của rừng; nguồn lực đất đai, lao động, vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách của dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng trên Cao nguyên đá.
Nhờ thực hiện có hiệu quả các mục tiêu dự án đã đề ra, 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc của Hà Giang từng bước vươn lên, đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, xứng đáng với vị trí quan trọng ở địa đầu cực Bắc của Tổ quốc. (VietnamPlus.vn 19/12) đầu trang(
Thực tế các vụ chữa cháy rừng ở Tây Bắc, Trung Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2012 cho thấy, vai trò của LLVT nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng là rất quan trọng. Tuy nhiên, để phát huy vai trò của quân đội với nhiệm vụ PCCC và bảo vệ rừng có nhiều vấn đề cần bàn. Đặc biệt, cần sớm tháo gỡ một số khó khăn, bất cập.
Theo đánh giá của Văn phòng UBQG TKCN, so với năm trước tình hình cháy rừng năm 2012 diễn ra phức tạp hơn. Ngay trong quý I, đã có trên chục vụ, điển hình là vụ cháy rừng Hoàng Liên xảy ra tại địa bàn xã Tả Van, huyện Sa Pa (Lào Cai) kéo dài từ ngày 2 đến ngày 7-3 làm thiệt hại gần 75ha rừng. Chỉ trong vòng ba tháng (từ tháng 5 đến tháng 8-2012), riêng địa bàn TP Đà Nẵng đã liên tiếp xảy ra hàng chục vụ cháy rừng. Tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, số vụ cháy rừng xảy ra trong mùa khô năm 2012 tăng gấp hơn 2 lần so với năm trước...
Tính đến hết tháng 10-2012 trên địa bàn cả nước xảy ra 1.932 vụ cháy nổ, cháy rừng, sập đổ công trình, làm chết 153 người, bị thương 307 người, cháy 1.329,45ha rừng các loại. Các đơn vị quân đội đã tham gia dập lửa ứng cứu 121 vụ cháy rừng. Tại những vùng trọng điểm về cháy rừng như: Lào Cai, Điện Biên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế… các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt.
Có rất nhiều ý kiến, thư khen, thư cảm ơn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương về tinh thần dũng cảm, khả năng cơ động kịp thời và xử trí tình huống linh hoạt, hiệu quả của bộ đội. Ban chỉ đạo Trung ương về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ và PCCCR đánh giá: Với vai trò nòng cốt, các đơn vị quân đội luôn chủ động phối hợp với các lực lượng trong công tác phòng, chống cháy rừng. Thực tế thời gian qua cho thấy nếu không có sự phối hợp, hiệp đồng hiệu quả đó thì thiệt hại do cháy rừng còn lớn hơn nhiều...
Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương mới đây, vấn đề phát huy vai trò của quân đội, nhất là Bộ đội Biên phòng trong nhiệm bảo vệ rừng cũng được đề cập. Trung tướng Võ Trọng Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh BĐBP cho rằng: Ở nhiều nơi, đặc biệt là các địa phương miền núi, biên giới rừng đang bị tàn phá nặng nề, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước; lực lượng kiểm lâm thì quá mỏng rất khó để đấu tranh, ngăn chặn...
Trung tướng Võ Trọng Việt đề nghị Chính phủ có chủ trương, chính sách để Quân đội nói chung, BĐBP nói riêng tham gia có hiệu quả hơn vào công việc quan trọng này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hoan nghênh, đánh giá cao tinh thần đó và nhất trí giao Bộ Quốc phòng xây dựng đề án.
Bên cạnh tích cực tham gia PCCCR, Bộ Quốc phòng cũng yêu cầu các đơn vị phải gương mẫu chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng. Để các đơn vị chủ động phát huy vai trò, kịp thời tham gia xử lý các tình huống phòng, chống thiên tai, thảm họa, Bộ Quốc phòng cũng cho phép khi có nhiệm vụ thì người chỉ huy được phép huy động lực lượng cứu nạn và sau đó báo cáo chứ không nhất thiết phải chờ đợi...
Theo Đại tá Phạm Văn Tỵ, năm 2012, Cục CH-CN đã mua và cấp bổ sung cho các đơn vị nhiều trang bị, phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ PCLB-TKCN nói chung và PCCCR nói riêng. Năm 2013 sẽ tiếp tục công việc này.
Đại tá Cao Đắc Cử - Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Lào Cai chia sẻ kinh nghiệm: “Để phòng, chống cháy rừng hiệu quả chúng tôi vừa chủ động trong phối hợp với các lực lượng, đồng thời tích cực làm tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng các phương án sát với nhiệm vụ, thực tiễn địa bàn, địa hình. Mặt khác, tăng cường huấn luyện, hội thao, diễn tập… được chúng tôi xem là biện pháp quan trọng để nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy và rèn luyện khả năng cơ động xử trí tình huống cho bộ đội”.
Tìm hiểu tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai… chúng tôi thấy, các đơn vị quân đội còn tham gia khá tích cực vào tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng và hướng dẫn việc thực hiện các biện pháp PCCCR, bảo vệ rừng. (Quân Đội Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao, trong số này có gần 4.000 loài cây thuốc, gần 90% là cây thuốc mọc tự nhiên. Việc bảo tồn, phát triển nguồn cây dược liệu của đất nước không chỉ đem lại hiệu quả rất lớn về kinh tế xã hội, môi trường thiên nhiên mà quan trọng còn khẳng định vị thế và tinh hoa của dân tộc.
Bác Hoàng Văn Trọng, Chủ nhiệm Hợp tác xã thuốc Nam Ba Vì chia sẻ: Đúc kết từ quá trình sinh sống gắn liền với thiên nhiên, bà con đã tìm ra những phương pháp thu hái, chế biến thích hợp với từng loại dược liệu. Cho đến nay, cộng đồng người Dao ở đây đã sưu tầm được 283 loại cây thuốc khác nhau, trong đó có nhiều cây thuốc quý. Tuy nhiên, do nguồn cung cấp cây thuốc Nam chủ yếu lấy từ rừng tự nhiên, thu hái tự phát nên nguồn dược liệu từ những cánh rừng trên núi Ba Vì ngày càng cạn kiệt.
Trước thực trạng khai thác tự phát bừa bãi làm cạn kiệt nguồn dược liệu, hơn 3 năm qua, HTX thuốc Nam Ba Vì đã quyết định xây dựng mô hình bảo tồn và phát triển vùng dược liệu một số cây thuốc quý hiếm nhằm gìn giữ nguồn "vành xanh" quý giá của địa phương cũng như nhằm nhân rộng ra một số địa phương cả nước.
Bác Trọng cho biết, để thực hiện được mô hình này, chính quyền xã Ba Vì cùng với người dân đã dành ra gần 100ha đất nông nghiệp không có hiệu quả cao để làm vườn ươm trồng cây dược liệu góp phần tạo nguồn dược chủ động và ổn định. "Tuy nhiên việc bảo tồn không làm tràn lan các loài cây đã bị thoái hóa về nguồn gen mà tập trung lựa chọn bảo tồn những loài cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng...", bác Trọng bật mí.
Do đó, đến nay sau hơn 3 năm thực hiện mô hình trên bắt đầu đem lại những hiệu quả tích cực, tổng thu nhập từ việc sản xuất KD thuốc Nam của người dân trong xã lên tới hàng tỷ đồng/năm, góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống người Dao.
Ông Trần Hoàn, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần sâm Ngọc Linh - người đã có hơn 13 năm gắn với với cây sâm Ngọc Linh chia sẻ: Ngày xưa sâm Ngọc Linh được tìm thấy tại nhiều xã của huyện Đak Lei. Bà con đồng bào dân tộc thường lấy đem về sử dụng như một cây rừng bình thường mà không biết giá trị của loài sâm quý hiếm này, khiến nguồn dược liệu rất giá trị này có nguy cơ tuyệt chủng. Đau xót trước nguồn dược liệu vô cùng quý của quốc gia ngày càng cạn kiệt, từ năm 1998, ông Hoàn và một số người thân đã lặn lội đi tìm rồi tiến hành trồng cây sâm Ngọc Linh ở Kon Tum và đưa sang vùng núi cao Đà Lạt trồng thử.
Đến năm 2003, sau khi khảo sát và thử nghiệm trồng sâm ở nhiều vùng, ông Hoàn quyết định chọn huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum làm điểm trồng sâm Ngọc Linh. Nhờ đầu tư sức người sức của, dần dần những cây sâm Ngọc Linh cũng phát triển và cho thu hoạch. Ông Hoàn chia sẻ, việc bảo tồn và phát triển được cây sâm Ngọc Linh không chỉ đem lại thương hiệu, giá trị kinh tế cho tỉnh Kon Tum mà còn để cho mọi người đến đây nhớ đến sâm Ngọc Linh như một thứ đặc sản rất có giá trị của Kon Tum nói riêng và cả nước nói chung.
Trong khi đó, mặc dù không có được những dược liệu đặc sản quý hiếm, nhưng tỉnh Nghệ An lại có được một thảm thực vật thiên nhiên rất phong phú, với các khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng là Pù Hoạt, Pù Huống và Vườn quốc gia Pù Mát có rất nhiều cây dược liệu.
Trước lợi thế đó, Nghệ An đã tiến hành quy hoạch 8 vùng rừng tập trung có nhiều cây thuốc để bảo tồn, phát triển cây dược liệu làm thuốc trên địa bàn nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên dược liệu, cung cấp thuốc cho nhu cầu chữa bệnh trong y học cổ truyền ở địa phương. Từ đó phát triển diện tích, khuyến khích nhân dân trồng các cây thuốc và vị thuốc có giá trị xuất khẩu như: bách bộ, cát căn, binh lang, bán hạ, bạch biển đậu, quế, kim tiền thảo, cẩu tích, xuyên tâm liên, hoa hòe.
Đáng chú ý, để phát triển tiềm năng dược liệu sẵn có hiện nay, đóng góp vào việc tự chủ sản xuất thuốc trong nước và tham gia thị trường khu vực và thế giới, gần đây Bộ Y tế đã tiến hành xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
Trong đó chú trọng đến nhiều công tác như: điều tra tổng thể nguồn tài nguyên dược liệu; xây dựng một số vùng sản xuất nguyên liệu các loài cây thuốc đang có nhu cầu lớn theo điều kiện sinh thái và địa lý phù hợp; bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc quý có tiềm năng phát triển tạo thuốc mới. Xây dựng Bộ Dược liệu chuẩn và chất chuẩn phục vụ công tác đánh giá chất lượng dược liệu và hiện đại hóa, tiêu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng thuốc từ dược liệu. (Sức Khỏe&Đời Sống 19/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại hội thảo tìm giải pháp phát triển bền vững vùng cửa sông Ô Lâu, do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh TT- Huế tổ chức ngày 18-12, nhiều nhà chuyên môn, đại diện chính quyền địa phương, kiến nghị tỉnh và ngành chức năng sớm phê duyệt thành lập khu bảo tồn đa dạng sinh học vùng cửa sông Ô Lâu.
Đây là vùng đất ngập nước phía bắc đầm phá Tam Giang-Cầu Hai (hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á) thuộc địa bàn 6 xã của hai huyện Phong Điền và Quảng Điền.
Việc lập khu bảo tồn nhằm phục hồi sinh cảnh tự nhiên, bảo vệ các bãi giống, bãi đẻ tôm cá, phát triển nguồn lợi thủy sản, gìn giữ tài nguyên, chấm dứt các hoạt động khai thác tận diệt... (Tiền Phong 19/12) đầu trang(
Trong khi giá trị xuất khẩu của nhiều nông sản chủ lực bị sụt giảm hoặc chỉ tăng trưởng rất thấp trong năm nay, thì xuất khẩu gỗ vẫn giữ được đà tăng trưởng tốt và lần đầu tiên vượt mốc 4 tỷ USD khi chưa hết năm.
Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 11 vừa rồi, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ của nước ta đạt giá trị trên 425 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Đến hết tháng 11, XK gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt giá trị 4,211 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ 2011. Mức tăng trưởng này rất đáng được ghi nhận bởi trong giai đoạn 2005-2011, tăng trưởng bình quân mỗi năm của ngành gỗ là 16%.
Như vậy, lần đầu tiên XK gỗ nước ta đã vượt qua mốc 4 tỷ USD, vượt xa so với kỷ lục cũ của cả năm ngoái là trên 3,9 tỷ USD. Với kim ngạch XK bình quân mỗi tháng trên dưới 400 triệu USD trong mấy tháng qua, thì đến hết năm nay, XK gỗ cả nước hoàn toàn có thể đạt giá trị khoảng 4,6 tỷ USD. Đồng thời, với đà tăng trưởng như trên, Việt Nam tiếp tục củng cố vị trí là nước XK đồ gỗ lớn nhất ở Đông Nam Á.
Theo các chuyên gia ngành gỗ, sự thành công của XK gỗ năm nay, ít nhiều có yếu tố may mắn, nhất là với thị trường Mỹ. Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) cho hay, do Mỹ áp dụng chính sách tài khóa áp thuế chống bán phá giá lên sản phẩm gỗ từ thị trường Trung Quốc, nên những dòng sản phẩm mới và khách hàng mới từ Mỹ đến Việt Nam nhiều hơn.
So về mặt bằng giá cả, thì đồ gỗ Việt Nam có giá cao hơn sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Nhưng khi nhiều mặt hàng gỗ của Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá thì sản phẩm gỗ của Việt Nam lại trở nên rẻ hơn. Mặt khác, sản phẩm gỗ của Việt Nam được khách hàng Mỹ đánh giá có chất lượng hơn và ít độc hại hơn so với đồ gỗ Trung Quốc.
Cũng theo ông Thanh, thị trường Nhật Bản đang mở ra cơ hội cho các nhà XK đồ gỗ Việt Nam vì nước này đang đẩy mạnh kiến thiết sau thảm họa thiên tai. Năm ngoái, Nhật Bản NK nhiều các sản phẩm gỗ thanh phục vụ cho xây dựng cơ bản. Năm nay, khi phần xây dựng cơ bản đã xong, Nhật lại tăng nhập các sản phẩm gỗ nội ngoại thất và sẽ tiếp tục NK nhiều trong năm tới.
Trong khi đó, ngành đồ gỗ Nhật Bản lại đang thu hẹp quy mô do giá nhân công tăng cao. Vì thế, gỗ Việt Nam đang được các nhà NK Nhật Bản quan tâm ngày càng nhiều hơn. Mặt khác, Nhật Bản cũng là một thị trường thân thiện và an toàn đối với các doanh nghiệp gỗ Việt Nam. Vì thế, XK gỗ sang Nhật Bản năm nay tăng trưởng khá tốt. Nếu như cả năm ngoái, XK gỗ sang Nhật Bản đạt gần 600 triệu USD, thì 11 tháng đầu năm nay đã vượt qua con số nói trên với giá trị trên 600 triệu USD.
Trong năm nay, 80% gỗ nguyên liệu vẫn phải NK từ nước ngoài, chủ yếu là từ Lào và Campuchia, nhưng nguồn gỗ ở những nước này đang cạn kiệt. Nguồn gỗ xả từ Malaysia và Indonesia lại đang bị đóng cửa, khiến cho giá gỗ nguyên liệu vào cuối năm tăng lên. Sang năm, giá gỗ nguyên liệu nhiều khả năng còn tăng mạnh, bởi nước sản xuất đồ gỗ lớn nhất thế giới là Trung Quốc sẽ tăng NK gỗ tròn, gỗ xẻ ... để đáp ứng việc tăng mạnh xây dựng nhà cửa.
Bên cạnh 2 thị trường lớn nói trên, XK gỗ sang nhiều thị trường khác cũng có sự tăng trưởng khá ấn tượng. Thị trường Trung Quốc trong năm ngoái đã vươn lên thành thị trường lớn thứ 2 của đồ gỗ Việt Nam. Năm nay, Trung Quốc đang tiếp tục giữ vững vị trí đó khi giá trị XK đồ gỗ sang nước này trong 11 tháng qua đã đạt trên 655 triệu USD, cao hơn gần 30 triệu USD so với cả năm ngoái.
Trong 10 tháng đầu năm nay, chỉ có 9 thị trường giảm mức tăng trưởng, còn các thị trường khác đều có mức tăng trưởng dương về XK gỗ. Trong đó có những thị trường tuy giá trị NK chưa cao nhưng lại có mức tăng trưởng rất ấn tượng: Hy Lạp tăng 579,04%, Thái Lan tăng 121,66%, Ảrập Xêút tăng 85,58% ...
Tuy nhiên, lợi nhuận của ngành gỗ trong năm nay lại khá thấp, nhất là với các doanh nghiệp nội địa. Ông Huỳnh Quang Thanh cho hay, nguyên nhân trước hết là do lãi suất vay ngân hàng năm nay vẫn quá cao, khiến nhiều doanh nghiệp tuy có nhiều đơn hàng XK nhưng chỉ hòa vốn hoặc lời rất ít. Bên cạnh đó, việc vẫn còn phụ thuộc quá lớn vào nguồn gỗ nguyên liệu NK cũng ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận của ngành gỗ, bởi gỗ NK chiếm tới 37% giá thành sản phẩm gỗ. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/12) đầu trang(
Qua 5 năm triển khai mô hình quản lý rừng cộng đồng ở xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả ban đầu rất thiết thực. Cuộc sống của người dân được cải thiện đáng kể nhờ những chính sách hưởng lợi từ rừng và môi trường sinh thái nhờ đó cũng được bảo vệ và cân bằng. Mô hình này cần được nhân rộng ra nhiều địa phương trong tỉnh.
Mô hình quản lý rừng cộng đồng thuộc Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng” do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ được triển khai ở 2 thôn Khánh Giang và Trường Lệ thuộc xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, thu hút 350 hộ dân tham gia quản lý hơn 1.000 héc-ta; trong đó 60% diện tích là rừng tự nhiên.
Theo mô hình này, Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư bảo vệ, quản lý, sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng; làm giàu rừng bằng các biện pháp lâm sinh, tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên và ổn định cho các thành viên. Ông Trịnh Bê, Phó Chủ tịch UBND xã Hành Tín Đông cho rằng: Từ khi có dự án, đã chấm dứt tình trạng xâm phạm rừng nên rừng càng ngày càng xanh tươi phát triển.
Theo mô hình, rừng được giao cho cộng đồng quản lý có nhiều loại cây gỗ quý như lim, sến, ngát, chò, giẻ, trám, dầu rái… có trữ lượng gỗ gần 150.000 mét khối. Việc thành lập các nhóm hộ sử dụng rừng cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng được xem là chìa khóa cho sự phát triển rừng bền vững. Ông Đàm Bàng, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hành - Quảng Ngãi cho biết: Sẽ đề nghị Ban quản lý dự án Trung ương tài trợ xây dựng Hợp tác xã nghề rừng nhằm giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống và tương lai chúng tôi sẽ biến nơi đây thành nơi du lịch sinh thái vừa tạo nguồn thu nhập ổn định lâu dài cho xã viên, cho xã, vừa bảo vệ tài nguyên rừng hiện có.
Được biết, cuộc sống của hàng trăm gia đình người Kinh và người Hrê tại thôn Trường Lệ và thôn Khánh Giang, xã Hành Tín Đông lâu nay chủ yếu dựa vào rừng. Trước đây, do nhận thức còn hạn chế, tình trạng khai thác gỗ trái phép, đốt củi lấy than… diễn ra khá phức tạp. Từ khi triển khai mô hình quản lý rừng cộng đồng thuộc Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng” đã tác động tích cực, tạo cân bằng môi trường sinh thái, cải thiện cuộc sống cho người dân được hưởng lợi trực tiếp từ việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Bà Huỳnh Thị Huân, một trong những thành viên tham gia dự án cho biết: Khi chưa có dự án, cuộc sống bà con nơi đây tất cả tập trung vào rừng. Người ta chặt củi, đốt than bán để kiếm kế sinh nhai, nhưng từ khi có dự án, bà con biết bảo vệ rừng và hưởng lợi từ rừng, ai cũng vui.
Mô hình quản lý rừng cộng đồng ở xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, bước đầu cho thấy hiệu quả thiết thực. Qua mô hình này, cộng đồng đã nhận thức được lợi ích của rừng mang lại cho người dân, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, cùng nhau gìn giữ, bảo vệ rừng theo hướng bền vững. (Tài Nguyên&Môi Trường 19/12) đầu trang(
Tỉnh Thừa Thiên - Huế đang phấn đấu đến năm 2014 giao khoảng 35.000 ha rừng tự nhiên cho dân quản lý, hưởng lợi. Đây được xem là biện pháp tích cực nhằm bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng khai thác bừa bãi đối với rừng tự nhiên trên địa bàn.
Thừa Thiên - Huế hiện có hơn 293.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 203.000 ha. Trong số đó, đến nay đã có gần 15.000 ha rừng tự nhiên đã được giao cho cộng đồng, nhóm hộ, gia đình ở Phú Lộc, Phong Điền, Nam Đông, A Lưới quản lý, hưởng lợi, trong đó cộng đồng là đối tượng chính. Mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý được thực hiện đầu tiên từ năm 2000 ở thôn Thủy Yên Thượng, xã Lộc Thủy (huyện Phú Lộc).
Mô hình này đã mở ra hướng đi mới trong công tác quản lý rừng tự nhiên bền vững, trong đó lấy lợi ích của người dân làm động lực thúc đẩy ý thức tham gia bảo vệ rừng. Quá trình thực hiện, mô hình đã gắn kết vai trò, trách nhiệm, từng bước nâng cao được ý thức của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ rừng. Chính người dân sống gần rừng là những "tai, mắt" phát hiện, ngăn chặn kịp thời tình trạng phá rừng, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng. Tại thôn Thủy Yên Thượng người dân đã khai thác được 78,8 m3 gỗ tròn theo hình thức hưởng lợi từ rừng phục vụ mục đích phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
Từ đó đến nay, mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý đã được nhân rộng ở nhiều địa phương và đã có những đóng góp tích cực trong bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng "chảy máu" rừng. Từ năm 2012, Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã cũng đã triển khai thí điểm dự án "Cơ chế chia sẻ lợi ích" theo phương thức giao rừng tự nhiên cho cộng đồng 7 thôn của xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông đồng quản lý với diện tích trên 9.200 ha.
Dự án này nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân xã Thượng Nhật thuộc vùng đệm VQG Bạch Mã. Kinh nghiệm từ VQG Bạch Mã cho thấy, ở đâu người đứng đầu các tổ chức có năng lực, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nhà nước và nhân dân nơi nhận khoán thì ở đó rừng được bảo vệ tốt hơn và ngày càng phát triển.
Huyện Phú Lộc đã có 3.550 hộ nhận khoán bảo vệ và sử dụng có hiệu quả trên diện tích 5.467 ha rừng. Hạt kiểm lâm huyện còn vận động nhân dân nhận đất trống, đồi núi trọc xây dựng được 59 trang trại, với tổng diện tích 1.666 ha để làm vườn rừng, kết hợp với sản xuất nông lâm nghiệp mang lại lợi ích kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo. (Đảng Cộng Sản VN 19/12) đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 212/2012 của UBND tỉnh Nghệ An, năm 2012, Lâm trường Qùy Hợp tổ chức bàn giao 6 tiểu khu với gần 2.500 rừng cho 6 xã trên địa bàn huyện Qùy Hợp. Đến tháng 11 năm 2012, Lâm trường Qùy Hợp đã hoàn tất các thủ tục bàn giao cho các xã.
Để thực hiện được mục tiêu theo Quyết định của UBND tỉnh Nghệ An "Về việc thu hồi đất lâm nghiệp của lâm trường Qùy Hợp thuộc Cty TNHH một thành viên lâm nông nghiệp Sông Hiếu quản lý, sử dụng để bàn giao lại cho các xã ở huyện Qùy Hợp đưa vào quản lý sử dụng. Ngay từ đầu năm Lâm trường Qùy Hợp đã chủ động tiến hành rà soát, thống kê, phân loại và xác định diện tích rừng cần chuyển đổi và diện tích loại rừng cần giao để làm cơ sở lập phương án giao rừng, cân đối nhu cầu giao rừng đến các chủ quản lý, bảo vệ sử dụng rừng.
Đồng thời xác định cụ thể các khu vực ưu tiên, các đối tượng ưu tiên nhận đất lâm nghiệp, nhận rừng để tiến hành giao đất lâm nghiệp và giao rừng đúng lộ trình và đảm bảo quy định. Trong qúa trình trả đất lâm trường đã lưu tâm đến chỗ trả những lô rừng, khoảnh đất gần thôn bản, tránh xa dân, tập trung để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong canh tác và bảo vệ, nhất là đất gần kề thôn bản, đất ruộng, đất nương, đất bà con khai khoang.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp lâm trường Qùy Hợp phải giao cho 6 xã trong 2012 là gần 2.500ha; Cụ thể: xã Châu Thái là 306 ha, Châu Cường 302 ha, Châu Lý 564,3 ha, Thọ Hợp 40 ha, Châu Hồng 33 ha, Châu Thành 1.101 ha. Các loại đất phải giao chủ yếu là 3 loại là: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Sau khi có sự quyết định của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở NN&PTNT Nghệ An, UBND huyện Qùy Hợp đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các địa phương tiếp tục kiểm tra, rà soát lại vị trí, ranh giới toàn bộ số liệu hiện trạng diện tích đất rừng thu hồi xác định theo bản đồ để tiến hành đảm bảo công tác giao, cho thuê rừng chính xác và phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương, nghiên cứu, quy định rõ những đối tượng được ưu tiên và điều kiện giao rừng, thuê rừng nhằm đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và mục tiêu đặt ra. Đồng thời có chính sách miễn, giảm phù hợp khi giao đất, giao rừng đối với hộ nghèo, gia đình chính sách… theo các quy định hiện hành của pháp luật.
Tuy nhiên hiện nay kinh phí dự kiến thực hiện cho việc triển khai giao rừng, cho thuê rừng, cho thuê đất sản xuất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các địa phương của huyện Qùy Hợp cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư ở thôn bản để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng gặp không ít khó khăn.
Việc chuyển giao một phần rừng giao cho hộ dân quản lý, sử dụng chính là điều kiện để phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, tài nguyên, nhân lực ở địa phương. Do đó, Quỳ Hợp rất cần sớm có cơ chế tạo nguồn kinh phí đo đạc, tư vấn và rà soát đất đai tiến hành quy hoạch đất rừng và giao cho từng hộ dân sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao mức thu nhập từ rừng cải thiện đời sống, XĐGN sớm ổn định cuộc sống, góp phần tích cực giúp huyện Qùy Hợp từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. (Theo Quyhop.gov.vn 19/12) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch tập huấn nghiệp vụ chuyên ngành Khuyến lâm - Chuyên đề phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR ) năm 2012, ngày 13/12/2012, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư (TTKNKN) Cà Mau phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Phòng cảnh sát PCCC Công an tỉnh Cà Mau và các đơn vị quản lý bảo vệ rừng khai giảng lớp tập huấn về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và khuyến lâm.
Tham gia lớp học có 30 cán bộ là lao động hợp đồng PCCCR Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Khuyến nông viên cơ sở địa bàn các xã có rừng tràm như: Khánh Lâm, Nguyễn Phích, Khánh Hòa, Khánh Thuận, Khánh Tiến, Khánh An (huyện U Minh), xã Khánh Bình Tây, Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời).
Trong 5 ngày tập huấn, các giảng viên đã cung cấp cho học viên một số văn bản pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (Nghị định 09), Thông tư 01; trang bị kiến thức cơ bản về kỹ năng tuyên truyền và kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và công tác bảo vệ rừng có hiệu quả; công tác lâm sinh trong PCCCR;
Giới thiệu các máy móc, thiết bị chữa cháy rừng; tổ chức huy động lực lượng, phương tiện và triển khai đội hình chữa cháy rừng; an toàn lao động trong chữa cháy; công tác khám nghiệm hiện trường, điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy; xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; giới thiệu một số biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng thiết thực nhằm giảm thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Phát biểu tại buổi lễ bế giảng lớp tập huấn, ông Nguyễn Trần Thức - Giám đốc TTKNKN tỉnh Cà Mau đã khẳng định, mặc dù thời gian học ngắn, dung lượng thông tin, kiến thức có liên quan lại nhiều nhưng với lòng tận tình của các giảng viên cùng với thái độ học tập nghiêm túc của các Khuyến nông viên cơ sở và các cộng tác viên phòng cháy chữa cháy rừng, lớp học đã thành công tốt đẹp. (Theo Khuyến Nông VN 19/12) đầu trang(
Theo Quyết định 674 của UBND tỉnh thì tổng diện tích đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn toàn tỉnh là 34.603 ha. Dự kiến sau khi đưa ra tỉnh sẽ giao lại cho các địa phương khai thác, quản lý, sử dụng số diện tích đất này song vì nhiều lý do, tiến độ hoàn thành còn chậm.
Nếu tính đến thời điểm này thì gần 2 năm trôi qua, nhưng tiến độ thực hiện còn chậm. Điều này làm ảnh hưởng đến việc thu hồi, giao đất của tỉnh cho các địa phương quản lý sử dụng. Một trong những nguyên nhân làm chậm trễ tiến độ được chỉ ra, đó là: sự phối hợp của các huyện với ngành chuyên môn thiếu đồng bộ, chặt chẽ.
Đơn cử như việc rà soát, đối chiếu số liệu có phần vênh nhau vì sai số do chuyển hệ tọa độ và sai về ranh giới trên thực địa. Bởi thế tổng diện tích đất đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng ban đầu là 34.603 ha, song khi kiểm chứng lại thì giảm trên 1.000 ha (chỉ còn 33.490 ha) vì lý do trên. Nếu căn cứ vào quyết định của tỉnh thì đến cuối năm 2010, công việc này phải hoàn thành nhưng xem ra mức độ “chuyển động” chưa có biểu hiện rõ nét. Cho dù cuối tháng 8/2012, tỉnh có tiếp tục ra thông báo cho các địa phương và các sở liên quan đẩy nhanh việc thực hiện, nhưng tiến độ chưa chuyển biến là bao.
Đến cuối tháng 10/2012, số diện tích đất đã hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục được UBND tỉnh có quyết định thu hồi, giao về cho địa phương và các thành phần kinh tế quản lý là 22.302 ha, chiếm 66,59% tổng diện tích đưa ra. Số diện tích đất còn lại chưa có quyết định thu hồi và giao đất của tỉnh là 11.188 ha, chiếm 33,41%.
Đối với việc triển khai lập phương án quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng, các địa phương đã có sự nỗ lực, tích cực hơn. Theo số liệu từ Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện có 7/8 huyện đã nộp hồ sơ về cơ quan này để thẩm định với diện tích 10.741 ha.
Trong đó, có 5 huyện đã lập hồ sơ trên toàn bộ diện tích đất điều chỉnh đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng là Hàm Tân 2.586 ha; Hàm Thuận Nam 2.408 ha; Tuy Phong 1.712 ha; Tánh Linh 1.004 ha và thị xã La Gi 1.563 ha. Riêng La Gi đã được tỉnh ban hành quyết định thu hồi và giao đất cho địa phương quản lý diện tích đất nói trên.
Cùng với Bắc Bình, Đức Linh đã hoàn tất thủ tục được tỉnh giao đất và gần đây là thị xã La Gi góp phần tích cực vào việc giải quyết đất sản xuất cho nhân dân, các thành phần kinh tế khác quản lý, sử dụng khá hiệu quả. Hiện các địa phương còn lại đang chờ kết quả thẩm định của Sở Tài nguyên và Môi trường, trình UBND tỉnh ra quyết định thu hồi và giao đất để quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn.
Ngoài việc giao đất lâm nghiệp đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng cho các cá nhân, tổ chức phát huy tác dụng, đạt hiệu quả thì cũng còn đó những bất cập khi giao cho các dự án. Thống kê cho thấy đất đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng giao cho các dự án và tổ chức kinh tế khác quản lý là 4.815 ha. Trong đó Tuy Phong 4 dự án/529 ,5ha; Bắc Bình 3 dự án/898 ha; Hàm Thuận Bắc 8 dự án/844,4 ha; thành phố Phan Thiết 32 dự án/2.490 ha; Hàm Thuận Nam 2 dự án/48,8 ha…
Nhiều dự án được giao đất, cho thuê đất nhưng triển khai chậm, nhất là các dự án sử dụng đất đưa ra khỏi đất lâm nghiệp để đầu tư du lịch, khu dân cư. Một thực tế hiện đã và đang xảy ra đối với những dự án dạng này do quản lý lỏng lẻo nên có dự án bị người dân lấn chiếm, không còn khả năng triển khai. Mới đây qua thanh tra, cơ quan này đã đề nghị tỉnh cho thu hồi dự án Kiến Hùng, Lê Hiền, Thuận Hòa Phát, Bình Tây thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình.
Để hoàn thành tiến độ giao đất cho các địa phương kết thúc vào cuối năm nay, tỉnh sớm chỉ đạo các địa phương, ngành tài nguyên môi trường tháo gỡ những vướng mắc trong việc lập, thẩm định hồ sơ địa chính đối với diện tích đất đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng. Đồng thời xem xét thu hồi các dự án được bố trí đất nhưng không có khả năng triển khai để giao cho các địa phương quản lý, bố trí đất sản xuất cho nhân dân. (Báo Bình Thuận 19/12)đầu trang(
Huyện Đam Rông hiện có 19 dự án do doanh nghiệp thuê đất trồng rừng đang được triển khai. Trong năm 2012, các doanh nghiệp đã trồng mới được 40 ha rừng, nâng tổng số diện tích do doanh nghiệp trồng rừng đã triển khai lên gần 3.600 ha.
Tuy nhiên, qua kiểm tra cho thấy chỉ có 7 doanh nghiệp thuê đất trồng rừng triển khai đúng tiến độ, các doanh nghiệp còn lại đầu tư triển khai trồng rừng chậm, trong đó có 5 doanh nghiệp mặc dù đã được gia hạn hợp đồng thuê đất nhưng chưa thực hiện đầu tư trồng rừng.
Hiện nay, ngành chức năng huyện đang tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp triển khai trồng rừng theo cam kết, nhằm đảm bảo các chỉ tiêu trồng rừng hàng năm tại địa phương. (Báo Lâm Đồng 19/12)đầu trang(
UBND tỉnh vừa đề xuất Bộ Tài nguyên - môi trường, Bộ NN&PTNT về một số cơ chế ưu đãi dành cho các công ty nông - lâm nghiệp thực hiện cổ phần hóa, sau khi rà soát quy hoạch sử dụng đất trên lĩnh vực này tại Quảng Nam.
Trong đó, ngoài thủ tục đất đai, chính sách tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, cần ban hành chính sách hỗ trợ mới cho những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, để hạn chế tình trạng lấn chiếm và tranh chấp đất đai, Quảng Nam đề xuất đầu tư hoặc hỗ trợ kinh phí đo đạc xác định, cắm mốc, đo đạc ranh giới, mốc ranh giới đất để xác lập quyền sử dụng đất…
Hiện Quảng Nam có 2 công ty quốc doanh đang cổ phần hóa gồm Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam, Công ty CP Giống nông lâm nghiệp Quảng Nam. Sau khi bàn giao gần 20,9 nghìn héc ta cho các địa phương, 2 công ty này đang quản lý hơn 1,8 nghìn héc ta. Hầu hết diện tích sau khi cổ phần hóa đều được sử dụng hiệu quả và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (1.015ha), tuy nhiên do một số diện tích rừng chưa được lập thủ tục giao đất nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp khó, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. (Báo Quảng Nam 20/12)đầu trang(
Mặc dù, các vườn ươm cây giống trong tỉnh sản xuất hơn 5,8 triệu cây con, đáp ứng nhu cầu trồng mới 4.785ha rừng tập trung trong năm 2012, nhưng đến cuối tháng 11, toàn tỉnh mới chỉ trồng được khoảng 3.350ha rừng, đạt hơn 70% kế hoạch. Bên cạnh đó khai thác gỗ cũng giảm so với năm 2011.
Do khó khăn về nguồn vốn nên đến cuối tháng 11, ngoài trồng 2 triệu cây phân tán, toàn tỉnh mới chỉ trồng được khoảng 3.350/4.785ha rừng tập trung, đạt hơn 70% kế hoạch. Riêng dự án trồng 250ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng không thực hiện được. Đối với Dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững (KFW6), kế hoạch trồng 1.237ha nhưng chỉ thực hiện 1.083ha, do không có nguồn vốn đối ứng 4,3 tỉ đồng của địa phương.
Các dự án trồng rừng sản xuất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cũng giảm gần 5% diện tích so với năm 2011 và không đạt mục tiêu đề ra trong năm 2012, trong đó có Công ty cổ phần Trường Thành Xanh, Doanh nghiệp tư nhân Bảo Châu, Công ty cổ phần Cao su VRG...
Huyện Đồng Xuân có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh. Năm 2012, địa phương này phấn đấu trồng mới 2.000ha rừng tập trung và 2 triệu cây phân tán (tăng 740ha và 670.000 cây so với năm 2011). Tuy nhiên, đến thời điểm này, toàn huyện mới chỉ trồng được gần 790ha và hơn 1,4 triệu cây phân tán. Trong khi đó, hiện nay huyện Sơn Hòa đã trồng được gần 660ha, vượt 260ha so với chỉ tiêu đề ra, tăng hơn 20% so với năm 2011.
Ông Đào Duy Linh, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Sơn Hòa cho biết: “Trong tổng số 660ha thì diện tích rừng trồng bằng nguồn vốn Nhà nước chỉ có 234ha, tập trung ở các xã Sơn Hội, Cà Lúi, Phước Tân và Ea Chà Rang. Còn lại là rừng trồng của Công ty cổ phần Trường Thành Xanh 328ha và Doanh nghiệp tư nhân Bảo Châu 97ha, ở các xã Phước Tân, Sơn Hội, Sơn Hà, với loài cây keo lai cấy mô, dâm hom và tai tượng. Từ năm 2011-2015, huyện phấn đấu trồng mới 2.000ha rừng, bình quân 400ha/năm”.
Nguyên nhân chính dẫn đến trồng rừng không đạt chỉ tiêu đề ra là do các doanh nghiệp trồng rừng gặp nhiều khó khăn; thời tiết không thuận lợi; nguồn vốn cân đối của Trung ương cho các dự án trồng rừng từ ngân sách Nhà nước chỉ có 15 triệu đồng/ha/4 năm, trong khi đó vốn hỗ trợ của địa phương không có. Trên thực tế, trồng rừng phải đầu tư từ 30-35 triệu đồng/ha/4 năm do hiện trường trồng rừng ngày càng xa và chưa có đường giao thông.
Ngoài ra, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh mới được thành lập nên chưa huy động được các nguồn thu từ dịch vụ môi trường, khai thác rừng trồng… để phục vụ cho việc trồng mới và chăm sóc rừng. Hiện nhiều địa phương đã kết thúc việc trồng rừng và chỉ còn hơn nửa tháng nữa là hết năm 2012 nên việc trồng mới rừng khó hoàn thành, mặc dù tỉ lệ độ che phủ rừng đạt 36,8% của kế hoạch năm 2012.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh chỉ khai thác được 11.500m3 gỗ rừng trồng, giảm hơn 40% so cùng kỳ năm 2011. Năm 2011, UBND tỉnh giao kế hoạch khai thác, sử dụng gỗ rừng tự nhiên 3.500m3, trong đó các ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bàn Thạch 2.000m3 và Sông Hinh 1.500m3. Tuy nhiên, các đơn vị trên chưa hoàn chỉnh phương án điều chế rừng nên không thể thực hiện.
Đến năm 2012, mặc dù được Bộ NN-PTNT phân bổ kế hoạch khai thác 4.000m3 gỗ rừng tự nhiên nhưng UBND tỉnh quyết định tạm thời không thực hiện nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Do không khai thác gỗ từ rừng tự nhiên nên các ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh và Sông Bàn Thạch không có thu nhập từ khai thác gỗ để hợp đồng lao động bảo vệ diện tích thuộc quy hoạch rừng sản xuất trên lâm phần được giao, trong khi tỉnh chưa có cơ chế hỗ trợ bảo vệ rừng. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến người dân lợi dụng đốt rừng làm rẫy hoặc trồng sắn, mía.
Ông Phạm Ngọc Minh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT) cho biết, ngành đang xúc tiến xây dựng Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo cấp tỉnh về Dự án đầu tư phát triển rừng, trình UBND tỉnh ban hành; xúc tiến xây dựng phương án điều chế rừng theo Thông tư 35/2012 của Bộ NN-PTNT, hướng dẫn khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ, hoặc chuyển sang xây dựng phương án quản lý rừng bền vững; triển khai thực hiện Dự án quy hoạch hệ thống rừng, vườn giống của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 sau khi được UBND tỉnh phê duyệt. (Báo Phú Yên 20/12) đầu trang(
Sở hữu 20 sào lúa, 20ha quế, 15ha bồ đề, keo xen sắn, 1ha ao, hồ nuôi cá và 2.000m2 nuôi ba ba gai giống và thương phẩm... hàng năm cho tổng thu nhập 985 triệu đồng, đó là những con số đáng nể khi nói về ông Nguyễn Ngọc Thắm ở thôn Làng Chẹo, xã An Thịnh, huyện Văn Yên, Yên Bái.
Cũng như bao thanh niên yêu nước khác, năm 1977, Nguyễn Ngọc Thắm lên đường làm nghĩa vụ quân sự tại chiến trường Tây Nam. Năm 1980, ông giải ngũ trở về địa phương, mang trên mình nhiều thương tật. Gia đình đông anh em, cuộc sống thiếu thốn trăm bề, làm gì để thoát khỏi cảnh cơ hàn luôn là nỗi trăn trở của ông Thắm.
Sau nhiều lần đi tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế ở địa phương, ông Thắm nhận ra ở quê mình có nhiều đất đồi, nếu biết khai thác sẽ đem lại hiệu quả kinh tế. Từ suy nghĩ và ý tưởng đó, năm 1986 ông chuyển nhà từ giữa làng lên đầu làng rồi mạnh dạn khai phá đào ao đắp đập, trồng rừng làm trang trại. Thấy nuôi cá, nuôi gà, lợn và trồng cây bạch đàn, bồ đề mang lại hiệu quả, những năm 1991-1992, khi Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng, ông bàn với gia đình và mạnh dạn nhận 25ha để trồng bạch đàn và quế.
Ông Thắm tâm sự: "Những năm đầu khi bắt tay vào làm kinh tế, gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn, nhất là vốn, lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi cá, trồng rừng nên hiệu quả không như mong muốn. Có năm cả ao cá bị bệnh dịch, cá chết trắng nổi đầy ao nhưng không vì thế mà tôi bỏ cuộc. Tôi đi vay vốn để mua cá giống, mua sách báo dạy kỹ thuật nuôi cá về học...".
Trời không phụ công người, sau bao nhiêu năm chịu khó lao động, giờ đây ông Thắm đang sở hữu một trang trại mà không phải ai cũng có. Theo như cách tính của ông, từ quế, keo, bồ đề, cá, lúa... cộng lại mỗi năm cho tổng thu nhập gần 1 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi 600 triệu đồng. Giờ đây, ông Thắm đã xây dựng được nhà cửa khang trang với đầy đủ tiện nghi. (Nông Thôn Ngày Nay 20/12)đầu trang(
Từ nguồn vốn chương trình Khuyến công năm 2012, huyện vùng cao Bắc Trà My đã ưu tiên hỗ trợ trang bị Hệ thống sấy gỗ sản xuất ván ép trị giá gần 200 triệu đồng cho hộ ông Ngô Trọng Thủy trú tại tổ Đông Bàu thị trấn Trà My.
Hộ hưởng lợi ông Thủy là người có ý chí làm ăn, phát triển kinh tế. Tranh thủ nguồn nguyên liệu cây keo dồi dào tại địa phương, hộ ông Thủy đã mạnh dạn đầu tư tiền của và vay thêm vốn ngân hàng xây dựng xưởng sản xuất ván ép để phục vụ nhu cầu tại chỗ và xuất khẩu, giải quyết được nhiều lao động nhàn rỗi tại địa phương với thu nhập ổn định. Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư, hộ ông Thủy không trang bị được hệ thống sấy gỗ mà phải phơi thủ công, vừa tốn kém chi phí chi trả cho nhân công vừa không chủ động được nguyên liệu trong mùa mưa.
Được tiếp sức, hộ ông Thủy trang bị được Hệ thống sấy gỗ sử dụng hơi bão hòa với công suất sấy khô 2 khối gỗ mỗi ca (8 giờ đồng hồ).
Sở Công thương Quảng Nam và chính quyền huyện Bắc Trà My vừa tổ chức nghiệm thu, bàn giao hệ thống sấy gỗ cho xưởng sản xuất của hộ ông Thủy. Qua vận hành trình diễn thử nghiệm, hệ thống sấy gỗ này hoạt động rất hiệu quả, giúp xưởng luôn chủ động được nguồn nguyên liệu gỗ sấy khô, giảm được chi phí sản xuất, sản phẩm ván ép đầu ra có giá thành chiết tính cũng giảm đáng kể để cung ứng cho thị trường. (Báo Quảng Nam 20/12)đầu trang(
19-12, ngư dân phát hiện xác một con cá voi đã chết nằm sâu trong rừng mắm khu vực xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Vị trí con cá voi chết này cách vị trí con cá voi mắc cạn tại bãi biển Nhà Mát chiều 18-12 khoảng 4km về hướng tây.
Ông Dương Văn Út Em, ngư dân ở khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu, đã phát hiện con cá voi chết. Ông Út Em kể lại: “Khoảng 9 giờ sáng tôi đi tìm cá ngư ông (cá voi bị mắc cạn chiều 18-12 - PV) thì phát hiện một con cá ngư ông khác tại kênh số 8, xã Vĩnh Hậu A, nằm sâu trong rừng”.
Con cá voi chết này nặng khoảng 150kg, dài 1,8m. Sau khi xin keo tìm nơi “an nghỉ” cho con cá voi này (theo nghi thức của người đi biển), ông Út Em đã đưa xác cá về miếu Vạn Ban Ngũ Hành nằm cặp chân cầu Nhà Mát. Đồn biên phòng Nhà Mát, Công an phường Nhà Mát và Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bạc Liêu đã lập biên bản vụ việc.
Ông Hồ Văn Chính, trụ trì miếu Vạn Ban Ngũ Hành, cho biết sẽ xử lý hóa chất xác cá, đợi lấy cốt lộng kính thờ. Thể theo yêu cầu của gia đình ông Út Em, đồn biên phòng Nhà Mát đã buộc ông Chính cam kết không di chuyển xác cá voi đi nơi khác.
Cũng trong sáng 19-12, một con cá voi khác đã vướng lưới ghe cá của nhà ông Út Em. Cha ông Út Em đã gỡ lưới và thả con cá này. Ông Trần Xí Khuôl, chi cục phó Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bạc Liêu, cho biết: “Có thể có một bầy cá voi đi ngang vùng biển Bạc Liêu”.
Ông Khuôi cho biết con cá voi chết có kỳ trên lưng, còn con cá voi mắc cạn hôm qua không có, nhưng phần đầu của chúng giống nhau.
19-12, một ngư dân cũng đã phát hiện con cá voi đang bơi gần khu vực cửa biển Cái Cùng - cách vị trí cá mắc cạn hôm qua khoảng 30km về hướng tây. (Tuổi Trẻ 19/12; Sài Gòn Giải Phóng 20/12)đầu trang(
Chưa đầy 2 tuần, Hạt kiểm lâm Khánh Vĩnh đã bắt và xử lí 3 xe ô tô vận chuyển gỗ trái phép trên tuyến Khánh Lê - Lâm Đồng trong lúc tuần tra kiểm soát.
Vụ vi phạm thứ nhất vào ngày 3/12, xe ô tô vận chuyển gỗ trái phép do tài xế Nguyễn Văn Dìn thường trú Diên Khánh điều khiển; xe thứ hai vi phạm vào ngày 5/12 do tài xế Nguyễn Thành Sang cũng thường trú huyện Diên Khánh điều khiển, vụ thứ 3 vào ngày 16/12, xe ô tô do tài xế Thạch Kim Triều thường trú xã Khánh Thượng - Khánh Vĩnh điều khiển. Cả 3 xe trên vận chuyển 6 m3 gỗ hộp và 3m3 gỗ tròn.
Thời gian qua, tình hình khai thác vận chuyển trái phép gỗ trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh ngày càng phức tạp, chỉ tính riêng trong vòng một tháng qua Hạt kiểm lâm huyện và các cơ quan chức năng đã phát hiện và lập biên bản tạm giữ 35 vụ vi phạm lâm luật với gần 54 m3 gỗ các loại. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 19/12) đầu trang(
Hàng chục ha rừng phòng hộ ở xã Quảng Lợi (Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) bị tàn phá để đào bới titan khiến đời sống và sản xuất của hàng loạt hộ dân bị ảnh hưởng nặng nề.
Từ tháng 8.2011, Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khoáng sản Thừa Thiên - Huế bắt đầu tiến hành khai thác titan ở các vùng rú cát của các thôn Cổ Tháp và Thủy Lập (xã Quảng Lợi). Doanh nghiệp này được UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp phép khai thác titan trong thời gian 3 năm, với tổng diện tích 87ha. Tại các khu vực khai thác titan có khoảng 70ha rừng phòng hộ từ 3-12 năm tuổi.
Có mặt tại các vùng rú cát thôn Cổ Tháp và Thủy Lập, chúng tôi chứng kiến những khu rừng phòng hộ rộng hàng chục ha đã bị đốn hạ không thương tiếc để đào bới titan. Những vùng cát mênh mông vốn có rừng che phủ nay đã bị cày xới tan hoang với hàng loạt những hầm hố sâu hoắm. Hàng chục máy hút cát, hút nước ngầm và xe tải điên cuồng gầm rú đào bới, vận chuyển titan.
Ông Lê Văn Hùng (thôn Cổ Tháp) cho biết, những diện tích rừng phòng hộ ở khu vực rú cát của thôn là bức bình phong bảo vệ làng mạc. Người dân tốn không biết bao nhiêu mồ hôi công sức mới trồng được những diện tích rừng này, nên khi thấy rừng bị phá, ai cũng đau xót. “Chúng tôi trồng rừng là để chống bão và nạn cát bay, cát nhảy, không hiểu sao họ lại nhẫn tâm phá rừng để lấy titan”- ông Hùng lo lắng.
Theo nhiều người dân thôn Cổ Tháp, từ tháng 8.2011 đến nay, sau khi nhiều diện tích rừng phòng hộ bị phá, mỗi lần có gió là toàn thôn chìm trong bụi cát. Cát bám dày trên cây cối, tấp vào nhà dân và bồi lấp đất canh tác. Tình trạng này khiến đời sống của người dân bị đảo lộn hoàn toàn. Cùng với nạn cát bay, cát nhảy, mạch nước ngầm ở các khu vực này cũng bị hạ thấp gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng.
Ông Trần Quý Quốc - một chủ trang trại vùng rú cát thôn Cổ Tháp cho biết, từ khi doanh nghiệp đào bới rú cát ở thôn để lấy titan, việc sản xuất trang trại của gia đình ông gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là bởi mạch nước ngầm trong khu vực bị hạ thấp khiến hồ cá và ruộng lúa của gia đình ông bị cạn nước. “Trước đây, vào mùa hè, trang trại của tui không bao giờ thiếu nước nhưng giờ giữa mùa đông mà cũng bị khô hạn”- ông Quốc bức xúc.
Hoạt động khai thác titan còn khiến môi trường ở các thôn này bị ô nhiễm bởi nước thải. Theo nhiều người dân thôn Cổ Tháp, mỗi lần nước thải của các xưởng tuyển titan tràn ra ngoài là cây cỏ chết khô. Hiện người dân đang lo lắng đến mất ăn mất ngủ trước nguy cơ nguồn nước thải độc hại này ngấm vào mạch nước ngầm gây nên bệnh tật nguy hiểm.
Ông Nguyễn Văn Cừ - Phó Giám đốc Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khoáng sản Thừa Thiên - Huế cho biết, để khắc phục tình trạng cát bay, cát nhảy ở Quảng Lợi do việc phá rừng phòng hộ khai thác titan, công ty đã tiến hành phun sương vào mùa hè ở các khu vực khai thác. Tuy nhiên, theo phản ánh của người dân, hoạt động phun sương trên chỉ mang tính hình thức vì không ngăn được cát bay, cát nhảy. Về tình trạng mạch nước ngầm hạ thấp gây nên khô hạn ở Quảng Lợi, ông Cừ cho rằng không phải do việc công ty khai thác titan gây ra.
Người dân các thôn Cổ Tháp và Thủy Lập cho biết, dù rất bức xúc trước tình trạng tàn phá rừng phòng hộ để khai thác titan nhưng họ không dám lên tiếng. PV NTNN đã nhiều lần liên hệ với ông Hoàng Thảo - Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Lợi, để trao đổi về phản ánh này của người dân, nhưng ông Thảo thoái thác. (Nông Thôn Ngày Nay 20/12)đầu trang(
Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa vừa triển khai đợt tuần tra, truy quét các đối tượng khai thác dược liệu trái phép tại khu vực rừng Hòn Hèo (thị xã Ninh Hòa), kéo dài đến cuối tháng 12-2012.
Cạnh đó, Bộ đội Biên phòng Khánh Hòa kết hợp với chính quyền địa phương và lực lượng chức năng tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác tận thu cây thuốc xáo tam phân (còn gọi là “cây thần dược”). Nguyên do nhiều tháng gần đây, người dân địa phương lên rừng Hòn Hèo đào rễ, chặt “cây thần dược” để chữa bệnh nan y nhưng không chừa lại phần nào cho cây tái sinh.
Theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), xáo tam phân có tác dụng ức chế viêm gan cấp; ức chế năm tế bào dòng ung thư, gồm: ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư buồng trứng, đặc biệt là ung thư gan và ung thư cổ tử cung. Viện khuyến cáo địa phương có biện pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu này. (Pháp Luật TPHCM 20/12)đầu trang(
19.12, Công an H.Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết đã ra quyết định khởi tố và bắt tạm giam 18 người liên quan đến hai vụ phá rừng tại Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà (Lâm Đồng).
Trước đó vào ngày 26.11, trong quá trình tuần tra tại tiểu khu 89, thuộc địa bàn H.Lạc Dương, giáp ranh H.Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia phát hiện và bắt quả tang hai người đang dùng cưa máy hạ một số cây pơ mu.
Sau đó cơ quan chức năng truy bắt được kẻ cầm đầu nhóm lâm tặc này là Nguyễn Lộc (33 tuổi, ngụ H.Diên Khánh, Khánh Hòa) cùng 8 người khác ở H.Khánh Vĩnh.
Khi các cơ quan chức năng kiểm kê cây rừng bị hạ tại tiểu khu 89 lại bắt quả tang 7 người khác đến từ H.Tây Hòa (Phú Yên) đang cưa hạ rừng.
Thống kê có 19 cây pơ mu, tương đương 44 m3 gỗ bị hai nhóm lâm tặc nói trên triệt hạ. (Thanh Niên 20/12)đầu trang(
Thời gian gần đây, người dân ở các huyện miền núi Hà Tĩnh như Hương Khê, Vũ Quang, đặc biệt là Hương Sơn đang kéo nhau vào rừng tìm cây chạc quẹch đem bán cho thương lái Trung Quốc.
Chạc quẹch là cách gọi của người địa phương, còn theo “Dược điển Việt Nam”, loại cây này có tên khoa học là Caulis Spatholobi Suberecti. Đây là loại cây dây leo, có thân to và dài, có khả năng giữ độ ẩm và tạo lớp phủ trên bề mặt thực bì của rừng.
Thời gian trước, thương lái thu mua với giá 2.000đ/kg, nhưng vài tháng trở lại đây, giá đã tăng lên 3.000đ/kg vì loại cây này đang dần khan hiếm, tuy nhiên cũng có người may mắn tìm được cây lớn, giá bán cả triệu đồng. Theo những người dân ở đây, rừng ở các xã Sơn Kim, Sơn Hồng (H.Hương Sơn) rất nhiều loại cây này nhưng đến nay đã cạn kiệt. “Giờ chúng tôi phải vào rừng sâu bên huyện Thanh Chương của Nghệ An mới tìm được”. Chị Trần Thị Thủy, một người dân ở xã Sơn Giang (H.Hương Sơn) cho biết.
Theo ghi nhận của Thanh Niên Online, hiện trên địa bàn H. Hương Sơn, xuất hiện nhiều điểm thu gom, tập kết hàng của các thương lái. Riêng ở thị trấn Phố Châu đã có gần chục điểm thu mua, chưa kể đến những xã khác như Tây Sơn, Sơn Giang, Sơn Lâm, Sơn Quang…
Người dân ở đây cho biết, các thương lái ngoài Bắc vào mua loại cây này để xuất sang Trung Quốc. Người dân cũng cho biết, họ thường đi mỗi nhóm từ 3-5 người, kéo dài khoảng 4 ngày, có khi mất cả tuần để chặt và đưa được loại cây này ra ngoài. Nhiều lúc phải đốn hạ những cây gỗ to nếu chạc quẹch leo lên đó.
Theo ông Nguyễn Khắc Tùng, Trưởng khoa Dược-Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Tĩnh, trong Đông y, loại cây này được gọi là cây kê huyết đằng, trong thân cây có nước đỏ như máu và là một vị thuốc quý, có thể trị chứng huyết hư gây huyết ứ trệ, thông kinh, chống tụ huyết, phong thấp đau lưng, đau xương khớp… và cần được bảo vệ. (Thanh Niên 20/12)đầu trang(
Những ngày gần đây, nhiều người dân ở Kon Rẫy, Kon Plông (Kon Tum) đổ xô vào rừng hái cây kim cương (lan gấm), một loại thảo dược, để bán cho các thương lái từ dưới xuôi lên. Không biết thứ dược liệu này có công năng gì, người dân nơi đây chỉ xem tìm kim cương là nghề kiếm cơm.
Theo người dân địa phương, cây kim cương mọc nhiều dọc theo các con suối, trong những cánh rừng già và chỉ mọc vào thời điểm mùa mưa. Dù loại cây dược liệu quý này đã biết đến cách đây hơn 10 năm nhưng chỉ thời gian gần đây mới bị săn lùng ráo riết. Cái giá thương lái trả 1 triệu đồng/kg lá kim cương tươi và sẵn sàng đến tận bìa rừng để thu mua, trao "tiền tươi" đã khiến họ bất chấp tất cả... Nhiều người còn đùm cơm, mang gạo đi dài ngày trong rừng để săn lùng cây kim cương.
Để có được 1 - 2 lạng cây kim cương, họ đã phải "cày" nát cả nhiều cánh rừng già. Người nào may mắn lắm thì tìm được vài ba lạng cho cả ngày tìm kiếm. Có người tìm cả ngày chỉ được vài cây. Mấy năm trước, họ đi tìm được nhiều hơn nhưng năm nay thì… khó quá. Cây kim cương đâu có mọc kịp.
Một chủ thu mua cây kim cương ở cầu Pháp, xã Pờ Ê (huyện Kon Plông) cho biết: Kim cương đất tươi 1,2 triệu đồng/1kg; kim cương đá 250.000 đồng/1kg. Thu mua đến đâu, các thương lái người Việt gom hàng rồi bán sang Đài Loan, Trung Quốc đến đó. Số lượng không hạn chế, có bao nhiêu, họ mua hết bấy nhiêu.
Việc người dân ồ ạt, đổ xô vào rừng hái kim cương, chính quyền các xã mặc dù biết rất rõ nhưng không có biện pháp ngăn chặn hiệu quả. Trong thôn Vigơlơng, xã Hiếu (huyện Kon Plông) hiện có 96 hộ và tất cả cứ đến mùa mưa lại kéo nhau lên rừng, lên núi tìm cây kim cương. Khi gặp, người dân thường nhổ cả rễ nên cây kim cương đang có nguy cơ bị tuyệt diệt. (Sức Khỏe&Đời Sống 19/12)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Cá voi nhỏ - loài cá voi bí ẩn khó tìm thấy và hiếm khi bơi gần bờ, chính là họ hàng của một giống cá voi đã tuyệt chủng cách đây 2 triệu năm, theo một nghiên cứu mới đây.
Live Science cho biết phát hiện này có thể giúp giải thích tại sao loài cá voi này khá khác biệt so với các đồng loại khác.
“Loài cá voi này gần như là một hóa thạch sống - Felix Marx, nhà cổ sinh vật học tại ĐH Otago ở New Zealand, nói - Nó là loài cuối cùng còn sống sót của một giống cá voi cổ đã tuyệt chủng từ hàng triệu năm trước”.
“Hóa thạch sống” mà Marx mô tả là loài cá voi tương đối nhỏ, dài chỉ 6,5m khi trưởng thành và chủ yếu sống ở vùng biển khơi. Chúng chỉ được nhìn thấy trên biển ở Bán cầu Nam vài chục lần, kết quả là các nhà khoa học gần như không biết gì về thói quen hay cấu trúc xã hội của chúng.
Theo các nhà khoa học, phát hiện trên sẽ giúp giải thích quá trình phát triển của loài cá voi nhỏ, cũng như làm sáng tỏ về đời sống của các loài cá voi cổ đại. (Tuổi Trẻ 20/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa