Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 06 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Mọi điều kiện cần thiết để triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã sẵn sàng, vậy mà điều người dân mong ngóng nhất là tiền thì vẫn chưa đến. Đó là nghịch lý...
Tính đến nay, cả nước đã thành lập và đi vào hoạt động được 29 quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Mặc dù các bộ, ngành T.Ư đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức các đoàn công tác đến làm việc trực tiếp nhiều lần, nhưng bên cạnh những địa phương thực hiện rất tốt chính sách chi trả DVMTR và mang lại hiệu quả lớn cho người dân sống dựa vào rừng như Lai Châu, Lâm Đồng, Gia Lai, Đăk Nông thì tại một số địa phương khác, chính sách được thực hiện rất chậm và còn nhiều lúng túng. Tiền vẫn chưa đến được tay người bảo vệ rừng.
Điện Biên là một tỉnh nằm trên hệ thống sông Đà và là một trong 5 tỉnh có tiềm năng lớn nhất cả nước về chi trả DVMTR từ các nhà máy Thủy điện Hòa Bình và Sơn La... Trong năm 2011 và 2012, tiền thu từ DVMTR của Điện Biên là 140 tỷ đồng, trong đó, do Quỹ Trung ương điều phối là 138,5 tỷ đồng.
Kế hoạch năm 2013 dự kiến thu tiền DVMTR của Điện Biên là 114,7 tỷ đồng, trong đó do Quỹ Trung ương điều phối là 114,2 tỷ đồng, thu nội tỉnh là 0,5 tỷ đồng. Mặc dù được thông báo sớm về tiềm năng chi trả DVMTR của tỉnh, nhưng phải đến tháng 11.2012 Ban điều hành quỹ mới được kiện toàn và chính thức đi vào hoạt động, tuy nhiên, tổ chức nhân sự và các điều kiện vận hành quỹ đến nay vẫn chưa ổn định...
Tính đến hết năm 2012, Quỹ Trung ương đã chuyển cho Điện Biên 100 tỷ đồng, nhưng hết kỳ chi trả tiền DVMTR của năm 2012 là 30.4.2013 thì Điện Biên không giải ngân được cho chủ rừng, tiền DVMTR chỉ dừng lại ở chủ rừng là tổ chức nhà nước là Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé với số tiền là hơn 10,9 tỷ và chưa đến được tay bà con nhận khoán bảo vệ rừng. Theo tính toán, nếu được chi trả, số tiền trung bình/ha của các chủ rừng và người nhận giao khoán, bảo vệ tại Điện Biên là 300.000 đồng/ha.
Cùng với Điện Biên, thì một số tỉnh khác cũng triển khai thực hiện chính sách rất chậm như Quảng Nam, Đăk Lăk, Kon Tum... Theo đánh giá của ông Phạm Hồng Lượng - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, thì điểm mấu chốt của việc lúng túng, chậm trễ triển khai thực hiện chính sách trên là sự thiếu chủ động của các tỉnh. Thứ nhất nằm ở sự chậm trễ trong việc thành lập và vận hành bộ máy quỹ. Thứ hai là công tác tuyên truyền, giải thích về chính sách đến các cấp, các ngành và nhân dân còn hạn chế, chính vì thế, chính sách chưa nhận được sự quan tâm, vào cuộc của các cấp, các ngành và người dân. Thứ ba là sự thiếu chủ động trong việc bố trí các nguồn lực để thực hiện chính sách.
Trong khi đó, nhiều tỉnh đã thực hiện thành công chính sách chi trả DVMTR, đem lại lợi ích cho người dân mà đi đầu là Lai Châu, một tỉnh giáp ranh và có nhiều điều kiện tương tự với Điện Biên. Hiện nay, trong 165 tỷ đồng được điều phối từ Quỹ Trung ương, tỉnh Lai Châu đã thực hiện giải ngân được 98,18%.
Bí quyết được ông Lê Trọng Quảng- Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2011 - 2020 cho biết đó chính là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự ủng hộ của nhân dân.
Việc xác định ranh giới, diện tích cho chủ rừng trong lưu vực cung ứng DVMTR và rà soát việc giao khoán bảo vệ rừng đến chủ rừng trong lưu vực là điểm khó nhưng lại được thực hiện nhanh chóng tại Lai Châu. Đó là nhờ vào sự chủ động của chính quyền cơ sở và người dân tự tổ chức xác định và công khai thông tin để tự kiểm tra lẫn nhau. Chính vì thế, hồ sơ để thực hiện chi trả được thực hiện rất nhanh chóng.
Một thực tế cho thấy là ở đâu có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương và sự phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành liên quan thì chính sách được thực hiện rất nhanh chóng và sớm mang lại hiệu quả, lợi ích như mong muốn. Chi trả DVMTR là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về lâm nghiệp và mang lại lợi ích thiết thực, trực tiếp là đồng tiền bát gạo cho chủ rừng và người dân nhận khoán bảo vệ rừng với vai trò là người cung ứng dịch vụ, người bán. (Nông Thôn Ngày Nay 18/6)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, từ đầu năm 2013 đến nay, trên lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết, huyện Lộc Ninh không xảy ra phá rừng mới. Tuy nhiên, các hành vi khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản đang diễn biến rất phức tạp.
Thực tế cho thấy, việc khai thác gỗ trái phép tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết tồn tại từ các năm trước, việc khai thác cây gỗ non để làm nọc tiêu giả chỉ mới phát sinh trong những tháng đầu năm 2013. Thế nhưng sự việc này vẫn chưa được ngăn chặn và xử lý triệt. Thêm vào đó, từ khi Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết bị tạm giam vì có liên quan đến trách nhiệm để mất rừng, thì tình hình lại càng phức tạp, do các hoạt động bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết hầu như bị tê liệt.
Trước tình hình trên, Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xác định lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết là trọng điểm phá rừng, khai thác lâm sản trái phép của tỉnh. Sở và Chi cục đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra, truy quét xử lý các hành vi vi phạm tại khu vực này, đồng thời, tham mưu chính quyền các cấp tăng cường công tác chỉ đạo bảo vệ rừng Tà Thiết.
Tuy nhiên, theo đánh giá thì hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên lâm phần được giao của Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết vẫn còn nhiều bất cập và không đạt ỵêu cầu nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, trên lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết, việc tổ chức bảo vệ rừng có nhiều lực lượng chức năng thuộc nhiều sở, ban, ngành từ tỉnh đến huyện, xã. Thế nhưng, việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp bảo vệ rừng chưa hiệu quả.
Ngoài lực lượng 11 người của Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết với vai trò là chủ rừng, còn có thêm lực lượng như Hạt Kiểm lâm Lộc Ninh với 4 người, lực lượng phối hợp Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh với tiểu đoàn 208 phụ trách. Bên cạnh đó là các Ban bảo vệ rừng tại các xã Lộc Thịnh, Lộc Thành, Lộc Thiện; 2 Đồn biên phòng Tà Vát và Tà Pét cũng cử cán bộ phụ trách địa bàn cùng tham gia hỗ trợ khi có đề nghị…
Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết đa số là người mới, chưa chủ động nắm bắt về hiện trạng rừng và đất rừng trên lâm phần quản lý để đề ra các phương án, kế hoạch nhằm quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng và đất rừng được giao. Công tác tuần tra bảo vệ rừng thường xuyên bị động, không có kế hoạch cụ thể, lực lượng bảo vệ rừng của Ban rất thụ động khi tham gia các đợt truy quét bảo vệ rừng. Công tác phối hợp chưa được duy trì liên tục vì các lực lượng tham gia còn phải giải quyết công tác chuyên môn của lực lượng mình. Ngoài ra Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết cũng không đủ kinh phí để đảm bảo sinh hoạt cho lực lượng hỗ trợ.
Trong năm 2013, với yêu cầu của tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo tiểu đoàn 208 tiếp tục thực hiện công tác bảo vệ rừng, nhưng do không bị ràng buộc bởi hợp đồng giao khoán nên việc bảo vệ chỉ là hình thức, không có trách nhiệm cụ thể. Hiện nay, tiểu đoàn 208 đã có 4 chốt bảo vệ rừng tại 4 vị trị quan trọng ra vào rừng Tà Thiết, tuy nhiên thực tế hoạt động lại không hiệu quả. Lực lượng tại chốt bình quân chỉ có 1 chiến sĩ nghĩa vụ quân sự trực chốt, không có phương án tuần tra rừng nên chỉ đảm bảo giữ chốt, chưa thấy hiệu quả giữ rừng. Khi các đối tượng ra vào rừng mà chưa có dấu hiệu vi phạm, chưa chở lâm sản thì có thể qua lại chốt dễ dàng.
Còn hai đồn biên phòng Tà Vát và Tà Pét chỉ cử cán bộ hỗ trợ khi có đề nghị, tuy nhiên, công tác kiểm soát hành chính khu vực biên giới cũng chưa thật chặt chẽ, người dân qua lại các tuyền đường trong khu vực biên giới dễ dàng, nhất là đồng bào dân tộc. (Thiên Nhiên 17/6; Đảng Cộng Sản VN 17/6)đầu trang(
Tuyên Quang có diện tích rừng khá lớn, do đó công tác bảo vệ và phát triển rừng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở NN&PTNT, sự phối kết hợp giữa các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố, Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang đã chủ động triển khai nhiệm vụ.
Những năm qua, Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang đã kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc, tăng cường các chốt bảo vệ rừng và thuê lực lượng tuần tra để hỗ trợ tại các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trên địa bàn các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình, Hàm Yên.
Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, thi hành pháp luật cho cán bộ, công chức; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân cũng được Chi cục quan tâm, triển khai thường xuyên. Riêng trong năm 2012, Chi cục đã tổ chức 34 lớp tập huấn tại các thôn, bản, phổ biến chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với Công an tỉnh tổ chức lớp tập huấn về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng và công vụ hỗ trợ cho 39 công chức kiểm lâm; đồng thời mở 1.502 buổi tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho 97.692 lượt người thuộc vùng sâu, vùng xa, sống gần rừng và liền rừng.
Các ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cấp cơ sở đã thực hiện tốt công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo chỉ tiêu được giao; đồng thời thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), chủ động lực lượng và phương tiện để sẵn sàng ứng cứu khi cháy rừng xảy ra.
Năm 2012, Tuyên Quang trồng được 15.681,6/15.600ha rừng được giao theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện Đề án trồng rừng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn 23 xã cho 1.323 hộ với diện tích 1.406,06ha.
Cũng trong năm 2012, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với lực lượng chức năng và chính quyền các cấp kiểm tra phát hiện xử lý 1.359/1.359 vụ; tịch thu 3 xe ô tô; 112 xe mô tô, xe gắn máy; 20 khẩu súng săn; tịch thu 363,666m3 gỗ tròn; 368,604m3 gỗ xẻ các loại; động vật rừng 108,8kg; lâm sản ngoài gỗ thuộc loại nguy cấp, quý hiếm 392kg. Tổng số tiền xử lý lên tới 9.639.764.749 đồng.
Ông Nguyễn Đức Tưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang tâm sự: “Tuyên Quang là tỉnh có diện tích rừng khá lớn, rừng đặc dụng tương đối nhiều. So với quy định, Chi cục còn thiếu khoảng 120 kiểm lâm viên. Lực lượng mỏng đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác bảo vệ, ngăn chặn các hành vi chặt phá rừng. Do vậy, cần bổ sung thêm biên chế cho lực lượng kiểm lâm tỉnh và cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị, nhất là tại cơ sở, có như vậy công tác bảo vệ rừng mới đạt kết quả tốt”.
Theo ông Tưng, hiện các vật dụng cần thiết ở các trạm, chốt phục vụ cho kiểm lâm viên còn thiếu, do đó cần hỗ trợ kinh phí để mua sắm thêm trang thiết bị cần thiết. Rồi chế độ phụ cấp cho kiểm lâm viên, kiểm lâm địa bàn chưa có gì ngoài trợ cấp thâm niên trong khi công việc thì vất vả. Nên giảm tuổi nghỉ hưu đối với lực lượng kiểm lâm xuống 55 là hợp lý.
“Hàng năm, Chi cục khởi tố tới 40 vụ án các loại, khi hoàn tất hồ sơ chuyển sang công an, những hồ sơ này chỉ mang tính tham khảo, phải điều tra lại từ đầu. Qua đây, tôi đề nghị nên bổ sung cho kiểm lâm thêm lực lượng điều tra viên để khi chuyển hồ sơ sang công an mới đảm bảo tính khách quan của sự việc”, ông Tưng nói. (Kinh tế Nông thôn 17/6)đầu trang(
Ðổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp tình hình thực tế, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn thành lập các chốt, trạm kiểm lâm tại các cửa rừng, khu vực xung yếu chung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, đưa kiểm lâm viên xuống "cắm" bản. Hiệu quả là rừng được bảo vệ, công tác dân vận được tăng cường, xóa đói, giảm nghèo tiến triển theo hướng bền vững.
KBT Kim Hỷ rộng lớn, trải rộng trên diện tích bảy xã thuộc hai huyện, địa hình hiểm trở, chia cắt, hiện nay chỉ có gần 30 cán bộ kiểm lâm, không thể ngày nào cũng thực hiện được những cuộc tuần tra, kiểm soát rừng. Lực lượng kiểm lâm ở xa, sáng xuống địa bàn, tối về, không thể có mặt thường xuyên tại cơ sở thì làm sao giữ được rừng?
Khắc phục vấn đề này, từ năm 2011, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn và Ban Quản lý KBT Kim Hỷ tổ chức lại việc quản lý, bảo vệ KBT, thành lập các chốt, trạm kiểm lâm ở các cửa ngõ, khu vực xung yếu, các thôn, bản là "điểm nóng" của tình trạng khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép. Ðồng thời, cử kiểm lâm viên xuống "cắm" ở các trạm, chốt để gần rừng, bám bản lâu dài, "ba cùng" với dân.
Hầu hết các chốt, trạm kiểm lâm chung quanh KBT Kim Hỷ được thành lập đến nay đã hơn hai năm nhưng cơ sở vật chất vẫn đang trong tình trạng tạm bợ, cán bộ kiểm lâm phải ăn ở, sinh hoạt trong điều kiện rất khó khăn, thiếu thốn, vất vả. Chốt Thẳm Mu xa tít nơi góc rừng, phải thường xuyên bám bản, chợ ở xa cho nên bữa ăn hằng ngày của hai cán bộ kiểm lâm chủ yếu là cá khô, mì tôm, ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, Tết không được nghỉ. Dịp giáp Tết Quý Tỵ vừa rồi, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh vào thăm, chúc Tết và tặng quà là hai hộp mì tôm, hai kg cá khô làm thực phẩm lâu dài.
Tuy nhiên, vượt qua những bất cập về chế độ chính sách, điều kiện ăn ở thiếu thốn, kiểm lâm "cắm" bản là những cán bộ dân vận gần gũi, tạo sinh kế lâu dài cho người dân sinh sống ở vùng lõi, vùng đệm KBT.
Ðồng bào dân tộc Dao ở bản Thẳm Mu trước đây quen sống dựa vào rừng, ruộng đất và vườn bãi bỏ hoang hóa, hai kiểm lâm cắm bản giải thích, vào mùa khô rừng không sinh thủy, không có nước chảy về làm cho cả bản "khát" là bởi khai thác rừng cạn kiệt. Bà con nhận ra tác hại của việc phá rừng, cho nên đã không vào rừng khai thác trái phép, tự giác bán cưa máy, số còn lại mang đến chốt để cán bộ kiểm lâm quản lý, chỉ sử dụng vào những việc có ích.
Từ bỏ việc "làm" thớt, không sống dựa vào khai thác rừng trái phép, bà con chuyển sang làm ruộng, cả cánh đồng của bản lại xanh một mầu lúa, ngô, dong riềng. Nhiều hộ bị lốc xoáy "quét" qua tốc mái nhà, cán bộ kiểm lâm kêu gọi bà con chung tay khắc phục, lợp lại mái nhà cho dân.
Cán bộ kiểm lâm tại các chốt, trạm cùng chính quyền xã xây dựng dự án trồng rừng tại vùng đệm KBT theo Chương trình 147 của tỉnh, liên hệ với huyện lấy cây giống về, hướng dẫn bà con cách trồng rừng sản xuất, sau sáu, bảy năm được khai thác, khai thác xong lại trồng mới, có thu nhập lâu dài từ rừng trồng.
Chủ tịch UBND xã Ân Tình Mã Thiên Hướng phấn khởi nói: "Năm nay xã đề ra chỉ tiêu trồng 17 ha rừng, nhưng bà con đăng ký trồng 20 ha, sẽ trồng xong trong tháng sáu này. Phong trào trồng rừng trên địa bàn xã hai năm qua phát triển mạnh là nhờ có sự vào cuộc tích cực của cán bộ kiểm lâm đấy". Không chỉ ở xã Ân Tình, tất cả các xã vùng đệm KBT, kiểm lâm là người trực tiếp quản lý, tổ chức nhân dân trồng rừng sản xuất.
Trong nỗ lực tạo sinh kế lâu dài cho người dân địa phương, sau khi trồng thử nghiệm thành công, đến nay Ban Quản lý KBT Kim Hỷ tổ chức tập huấn, cung cấp phân bón, giống cho nhân dân xã Cao Sơn trồng được 55 ha cây mây nếp dưới tán rừng. Ðây là loại cây dễ trồng, phát triển nhanh, sau ba năm trồng sẽ cho thu hoạch đều đặn trong vòng 20 năm.
Mây nếp là loại lâm sản phụ, là nguyên liệu làm bàn ghế, thủ công mỹ nghệ, đan lát, bán được giá, có thị trường tiêu thụ ổn định, mang lại thu nhập bình quân hơn 20 triệu đồng/ha/năm. Lãnh đạo xã Cao Sơn đánh giá cao việc làm của kiểm lâm, chỉ trong một, hai năm nữa, hơn 20% số hộ ở xã vùng cao này sẽ có thu nhập ổn định, đời sống người dân sẽ được cải thiện.(Nhân Dân 16/6)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau 10 năm đổi mới, mặc dù các nông lâm trường quốc doanh đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, yếu kém.
Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) mới đây cho biết, sau quá trình sắp xếp lại các nông lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 28 (2003) của Bộ Chính trị, đến nay diện tích đất do các nông lâm trường quốc doanh quản lý giảm mạnh, chỉ còn 2.064.690ha, giảm hơn 50%.
Trong đó, rừng phòng hộ giảm hơn 1,3 triệu ha, chủ yếu chuyển sang các ban quản lý rừng; chuyển giao cho địa phương 565.167ha, chiếm 14,2% tổng diện tích đất do các nông lâm trường quốc doanh quản lý trước đó để giao lại cho người có nhu cầu sử dụng. Việc chuyển giao này đang từng bước giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho người dân sở tại.
Theo ông Phạm Quốc Doanh – Phó Trưởng ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp (đơn vị trực thuộc Chính phủ), bình quân một nông lâm trường quốc doanh quản lý khoảng 2.577ha, hiện nay tại các nông trường chủ yếu sử dụng đất theo 2 hình thức chính: “Tự tổ chức sản xuất” và “khoán”. Diện tích đất để hoang, không sử dụng hiện còn 8.585ha (trước khi sắp xếp đổi mới là 13.135ha).
Cái được của nông lâm trường quốc doanh sau 10 năm đổi mới, theo đánh giá của ông Phạm Quốc Doanh là đã tách bạch được giữa nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ công ích; đã làm rõ ràng hiện trạng đất, lập được quy hoạch sử dụng đất của công ty nông lâm nghiệp.
Đến nay cơ bản đã hoàn thành xong việc rà soát phương hướng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của nông lâm trường quốc doanh, sau khi rà soát xong đã phân loại ra một số loại để xây dựng đề án sắp xếp đổi mới và phát triển. Đến nay hầu hết các công ty nông lâm nghiệp đã tiến hành rà soát hiện trạng quản lý sử dụng đất, một số đã tiến hành cắm mốc thực địa xác định ranh giới và xin được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất.
Đối với công ty sản xuất kinh doanh chuyển sang ký hợp đồng thuê đất với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, tỷ lệ đơn vị chuyển sang thuê đất của Nhà nước vẫn rất thấp, diện tích thuê đất chỉ khoảng 3%.
“Sau 10 năm đổi mới, mặc dù nông lâm trường quốc doanh đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém nên không phát huy được hiệu quả sử dụng đất” – ông Phạm Quốc Doanh nhìn nhận.
Bên cạnh năng lực quản trị doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, hầu hết các nông lâm trường thể hiện năng lực sản xuất kém hiệu quả. Sau khi khảo sát và làm việc tại 56 nông lâm trường quốc doanh ở 15 tỉnh, thành phố, Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp cho rằng: Nông lâm trường không điều hành được kế hoạch sản xuất (cây trồng, vật nuôi) khi có kế hoạch trồng tái canh, nhất là nông lâm trường quốc doanh giao khoán không đi đôi với quản lý.
Chẳng hạn như Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc (Tổng Công ty Lâm nghiệp), khi cây bạch đàn trên đất khoán được thu hoạch, lâm trường muốn tổ chức trồng lại để giao khoán, người nhận khoán không cho, lâm trường cũng bất lực. Tình trạng tương tự ở nhiều nông lâm trường khác.
Về hiện trạng sử dụng đất, báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp thừa nhận, đất ở hầu hết các nông lâm trường quốc doanh chưa được đo đạc, cắm mốc trên thực địa. Tình trạng tranh chấp lấn chiếm, cho thuê mướn đất đai trái pháp luật, xâm hại rừng diễn ra khá phổ biến chưa được giải quyết triệt để, có nơi tình trạng ngày càng nghiêm trọng.
Đất giao cho các nông lâm trường có nơi giao chồng với diện tích giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác; quyền sử dụng đất không rõ ràng, khó tạo động lực phát triển. nông lâm trường quốc doanh được giao quản lý diện tích đất lớn nhưng không có vốn đầu tư, năng lực tổ chức sản xuất yếu kém nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng đất (chỉ có một số nông trường thực sự phát huy được hiệu quả sử dụng đất).
Nhiều công ty cổ phần hiện nay không có vốn nhà nước, quản lý sử dụng hàng ngàn ha đất, nhưng vẫn chưa thực hiện thuê đất theo quy định. Cơ sở hạ tầng kém, trình độ khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất còn lạc hậu, sản xuất kinh doanh có nhiều rủi ro. Vốn ít, sản phẩm nhỏ lẻ, chất lượng và khả năng cạnh tranh chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường… Lợi nhuận vì vậy chưa cao so với nguồn lực đất đai được giao.
Một trong những nội dung cốt lõi về đổi mới nông lâm trường quốc doanh là đổi mới về cơ chế quản lý sử dụng đất, mô hình nào thì kèm theo cơ chế quản lý sử dụng ấy. Ông Phạm Quốc Doanh nêu quan điểm: “Nếu các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh theo luật phải chuyển sang thuê đất, trước khi chuyển sang thuê đất cần tiếp tục rà soát lại một lần nữa để nắm bắt thực sự nhu cầu sử dụng đất cả công ty là bao nhiêu, và quản lý phải hiệu qủa. Diện tích còn lại, chuyển hết đất cho địa phương để rà soát lại từng đối tượng, cấp đất và quản lý nhằm đảm bảo công bằng cho người dân.
Khi đã rà soát lại rồi, đơn vị nào có nhu cầu cần bao nhiêu thì phải thuê đất của Nhà nước, cắm mốc rõ ràng và được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Nếu làm như thế thì chặt chẽ ngay! Ngày xưa, thực hiện giao đất không thu tiền thì chẳng có nông lâm trường nào không ôm nhiều đất cả. Bây giờ siết chặt như thế sẽ buộc các công ty phải tính toán lại cho phù hợp với năng lực của họ”.
Đồng tình với quan điểm này, GS-TSKH Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phân tích thêm: “Có rất nhiều cuộc họp về đổi mới nông lâm trường, nhưng kết quả chưa được gì đáng kể, câu chuyện cũ vẫn còn nguyên, hiệu quả nông lâm trường dù không có tiêu chí đánh giá nhưng ai cũng thấy hoạt động nông lâm trường kém hiệu quả.
Tôi nghĩ, Nhà nước nên đầu tư thêm cho một số DN lâm nghiệp hoạt động hiệu quả. Chúng ta có thể đầu tư một số DN mũi nhọn để bảo vệ và khai thác dưới tán rừng, bên cạnh đó cần giải tán những DN làm ăn kém hiệu quả. Đây là câu chuyện vẫn còn ở trước mắt. Chúng ta phải đẩy mạnh đổi mới quản lý rừng, đây là câu chuyện rất lớn của nước ta”. (Thiên Nhiên 17/6)đầu trang(
Tại Văn phòng Tập đoàn Công nghiệp Caosu VN (VRG), ông Huỳnh Trung Trực - Phó TGĐ VRG - cùng lãnh đạo Ban Kế hoạch đầu tư, Ban Xây dựng cơ bản VRG vừa có buổi tiếp và làm việc với nhóm công tác của GW do bà Megan MacInnes - Trưởng nhóm Tài nguyên đất của GW - dẫn đầu.
Buổi làm việc nhằm làm rõ những cáo buộc của GW liên quan đến việc thực hiện đầu tư các dự án trồng caosu của VRG tại Vương quốc Campuchia (CPC) và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Lào).
Tại buổi làm việc, ông Phạm Văn Thành – Trưởng ban Kế hoạch đầu tư VRG - cho biết, các dự án đầu tư trồng caosu của VRG tại CPC và Lào nằm trong khuôn khổ các chương trình hợp tác về kinh tế (KT), văn hóa (VH), khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ VN và hai nước Lào, CPC.
Nguồn gốc đất phục vụ trồng caosu của VRG tại CPC và Lào đều nằm trong vùng quy hoạch phát triển cây công nghiệp đã được nhà nước sở tại phê duyệt. Quy trình cấp đất tô nhượng tại CPC và Lào là rất chặt chẽ. Những diện tích đất thuộc khu vực công viên rừng quốc gia, rừng bảo tồn, rừng dày và ven sông, suối, rừng cộng đồng, rừng thiêng và đất canh tác của người dân sẽ được loại bỏ ra khỏi diện tích đất tô nhượng.
Về vấn đề lợi ích của người dân trong vùng dự án trồng caosu, VRG khẳng định các dự án trồng caosu của DN này tại Lào và CPC luôn đảm bảo và tôn trọng các lợi ích của người dân, không lấn chiếm đất của người dân và không xung đột với quyền lợi của cộng đồng dân cư quanh vùng dự án.
Vấn đề do GW cho rằng: Khi triển khai dự án trồng caosu tại CPC và Lào sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng dân cư trong vùng dự án, Phó TGĐ VRG - ông Huỳnh Trung Trực - khẳng định: “Hầu hết các dự án trồng caosu của VRG ở Lào và CPC đều nằm ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện KT-XH kém phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Chủ trương của VRG là phát triển caosu gắn với ưu tiên tuyển dụng lao động (LĐ) tại chỗ vào làm CN và được chi trả mức lương, thưởng và các chế độ, chính sách đúng với quy định của nước sở tại cũng như quy định của VRG. Kèm theo đó, VRG còn đầu tư làm đường giao thông, xây dựng nhà ở cho CN, trường học, trạm y tế, chùa chiền... để hình thành các khu dân cư mới, ổn định an sinh XH”.
Ông Trực cũng thừa nhận khó khăn của DN trực thuộc VRG nói riêng và DN VN nói chung khi đầu tư trồng caosu ở Lào và CPC như: Tình trạng thiếu hụt LĐ trực tiếp tại chỗ nên phải tuyển dụng thêm LĐ từ nơi khác đến. Tuy nhiên, ông Trực nhấn mạnh: “Là một DN đầu tư ra nước ngoài, VRG rất quan tâm đến sự đồng thuận và ủng hộ của người dân sở tại nơi triển khai dự án. Có thể nói, VRG xem đây là yếu tố sống còn của DN. Chính vì vậy, chúng tôi luôn lắng nghe và giải quyết ngay những lợi ích chính đáng của người dân trong vùng dự án.
Đối với vấn đề tiền lương, do đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên DN sẽ chi trả ở mức chấp nhận được. Khi dự án đưa vào khai thác VRG sẽ tuyển thêm LĐ và đào tạo nghề cho họ. Chắc chắn khi đó, việc chi trả tiền lương, thưởng cùng các chế độ khác cho NLĐ sẽ ở mức tốt hơn nhiều”.
Ông Trực cam kết, sẽ tiếp tục tiến hành thẩm định, kiểm tra các nội dung khuyến nghị GW đưa ra và có phản hồi với GW trước ngày 15.7.2013. Ngoài ra, VRG sẵn sàng tiếp nhận thêm những thông tin từ phía GW thu thập được nếu có, để cho việc kiểm tra và giải quyết triệt để các tranh chấp có liên quan đến lợi ích của người dân trong vùng dự án. Tại buổi làm việc này, ông Trực chuyển lời của TGĐ VRG mời đại diện GW đi tìm hiểu thực tế tại các dự án trồng caosu của VRG, để có cái nhìn và đánh giá xác thực hơn về những lợi ích KT-XH.
Sau khi trực tiếp tìm hiểu tài liệu và nghe ban lãnh đạo VRG trình bày, bà Megan MacInnes đã đánh giá cao tinh thần cởi mở, thẳng thắn, cầu thị của VRG. Đặc biệt, bà rất hài lòng với những giải đáp của VRG đối với những kết luận và khuyến nghị mà GW đã gửi trước cho VRG, cũng như các vấn đề nêu ra tại buổi làm việc. Sau buổi làm việc, bà Megan MacInnes cho hay, vào tháng 8 năm nay, GW sẽ trở lại VN để tiếp tục làm việc với VRG. Đồng thời, đại diện GW sẽ đi tìm hiểu thực tế tại các dự án trồng caosu của VRG. (Lao Động 17/6)đầu trang(
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế và Chi cục thủy sản Bình Thuận vừa phối hợp với Phòng kinh tế huyện Phú Quý tổ chức tập huấn chương trình “hãy cứu lấy rùa biển và môi trường sống của chúng” cho 40 cán bộ và ngư dân của huyện Phú Quý.
Các chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực rùa biển của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế đã giới thiệu đến cán bộ và ngư dân Phú Quý về tầm quan trọng của rùa biển, các văn bản qui định bảo tồn loài thuỷ sản này, đặc điểm sinh học và cách nhận biết các loại rùa biển, những vùng biển có rạn san hô thích hợp cho việc sinh trưởng và phát triển của loài rùa biển.
Tại buổi tập huấn các đại biểu còn được chia thành từng nhóm thảo luận, trao đổi những vấn đề liên quan đến loài rùa biển thông qua những câu hỏi được các chuyên gia đặt ra. Mục đích lớp tập huấn là nâng cao ý thức bảo vệ rùa biển của cộng đồng ngư dân, hạn chế tình trạng săn bắt rùa biển. (Đài PT - TH Bình Thuận 17/6)đầu trang(
15/6, tại xã Nhị Bình (huyện Hóc Môn, TP.HCM), hàng trăm cán bộ và đoàn viên thanh niên của Sở NN&PTNT TP.HCM và huyện Hóc Môn đã tham gia trồng 5.500 cây xanh có công dụng phòng, chống sạt lở như nhạc ngựa, gõ nước, tràm chua trên đoạn đê bao dài khoảng 2 km.
Từ tháng 6 đến tháng 7/2013, vào thứ bảy và chủ nhật hằng tuần, các quận và huyện ngoại thành (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, quận 12) sẽ triển khai trồng cùng với chăm sóc cây xanh tại bờ bao các tuyến sông, kênh, rạch để phòng, chống sạt lở. Trong năm nay thành phố sẽ trồng khoảng 280.000 cây xanh để hoàn tất chương trình trồng 500.000 cây xanh trong ba năm 2011, 2012 và 2013 nhằm phòng, chống sạt lở đồng thời tăng vẻ mỹ quan đô thị, phục hồi hệ sinh thái sông nước… cho TP.HCM. (Tài Nguyên&Môi Trường 16/6)đầu trang(
Để giữ rừng, đồng thời giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích, những năm gần đây, UBND tỉnh Kiên Giang cho phép các chủ rừng được sử dụng 30% diện tích đất nhận khoán chưa có rừng để kết hợp nuôi trồng thủy sản và hoa màu.
Đồng thời, chính quyền địa phương và ngành chuyên môn cũng tích cực hỗ trợ cả về vốn và kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng nhằm giúp các chủ rừng tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống.
Ông Lê Văn Danh, ngụ ấp Xẻo Quao A, xã Nam Thái A, huyện An Biên cho biết, năm 2012, gia đình ông được Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Kiên Giang hỗ trợ 26 triệu đồng và hướng dẫn sản xuất theo mô hình nuôi tôm – cua – sò huyết. Sau khi thu hoạch vụ đầu tiên, ông có thu nhập trên 70 triệu đồng. Với chủ trương đúng đắn và được sự hướng dẫn tận tình của các kỹ sư nông nghiệp đã giúp gia đình ông Danh trả được vốn vay ngân hàng, xóa được nghèo. Hiện nay, mô hình của gia đình ông Danh đang được nhân rộng tại địa phương.
Năm 2012, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Kiên Giang đã triển khai chương trình hỗ trợ 40% vốn và chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho các hộ nhận khoán đất rừng phòng hộ trong tỉnh. Theo đó, chương trình đã giúp nhiều hộ nhận khoán đất rừng tại huyện An Biên thoát nghèo, vươn lên khá giả với mô hình nuôi sò huyết kết hợp nuôi tôm và cua dưới tán rừng.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Bí thư Đảng ủy xã Nam Thái A cho biết, trước đây người dân nuôi tôm sú bên ngoài rừng phòng hộ cuộc sống bấp bênh. Từ khi triển khai mô hình nuôi sò huyết kết hợp tôm – cua dưới tán rừng phòng hộ, với 24 hộ tham gia, đa số làm ăn có hiệu quả. Với mô hình này, chắc chắn người dân sinh sống ven biển sẽ sớm thoát nghèo và vươn lên có cuộc sống tốt hơn. (Tài Nguyên&Môi Trường 16/6)đầu trang(
Dự án bảo tồn dựa vào cộng đồng quần thể loài voọc đen má trắng lớn nhất còn lại tại Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu được triển khai tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang với tổng kinh phí gần 1,9 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Đức Tưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang cho biết dự án này do Tổ chức con người, tài nguyên và bảo tồn (PRCF - một tổ chức phi Chính phủ tại Việt Nam) triển khai nhằm bảo tồn loài voọc đen má trắng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu.
Theo đó, dự án thực hiện đến hết tháng 7 nhằm giúp đồng bào nâng cao nhận thức bảo vệ loài vọoc và tính đa dạng sinh học tại xã Thượng Lâm, Khuôn Hà (huyện Lâm Bình, Tuyên Quang).
Dự án cũng thành lập và hỗ trợ kinh phí hoạt động cho 2 đội giám sát, bảo vệ voọc tại 2 xã Thượng Lâm và Khuôn Hà.
Các thành viên trong đội được phân vùng quản lý, tuyến tuần tra bảo vệ và được trang bị một số trang thiết bị cần thiết cho việc giám sát, bảo vệ như ống nhòm, máy định vị GPS, máy ảnh kỹ thuật số…
Ngoài nhiệm vụ duy trì việc đi tuần rừng 7 ngày/tháng để thu thập tư liệu về loài voọc, phát hiện các trường hợp săn bắn trái phép, các thành viên trong đội còn tuyên truyền cho bà con trong thôn, xã, nâng cao ý thức bảo vệ rừng và loài voọc, phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Voọc đen má trắng là loài linh trưởng sống chủ yếu trên núi đá vôi. Theo báo cáo của Tổ chức PRCF, hiện nay trên thế giới có khoảng 400 cá thể voọc đen má trắng. Riêng ở Việt Nam có trên 100 cá thể, trong đó huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) có quần thể voọc đen má trắng lớn nhất với trên 70 cá thể, tập trung ở xã Thượng Lâm và Khuôn Hà. (VietnamPlus.vn 18/6)đầu trang(
Đêm 15/6, anh Nguyễn Minh Chiến (ở TP Cao Lãnh, Đồng Tháp) đánh lưới bắt được con cá tra dầu dài hơn 1,4m, đường kính hơn 80cm và nặng tới 63kg trên sông Tiền.
Địa điểm anh Chiến bắt được con cá quý hiếm này là ở vàm sông Voi Me đổ ra sông Tiền (huyện Cao Lãnh). Đây là loài cá có nguy cơ tuyệt chủng, được đưa vào sách đỏ của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN với mức độ đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng.
Các ngư dân đánh cá nước ngọt trên sông Tiền cho hay, cá tra dầu có khá nhiều trên sông này trước năm 1975, nhưng nay gần như không thấy. Đây là loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, có con dài đến 3m, nặng 200-300kg. (Kinh Tế&Đô Thị 17/6) đầu trang(
Với thế mạnh về ngành sản xuất gỗ, thời gian gần đây các doanh nghiệp Ý đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào ngành gỗ Việt Nam.
Trong các cuộc xúc tiến thương mại gần đây tại TP HCM, nhiều doanh nghiệp đến từ Ý đặc biệt quan tâm và chú ý đến thị trường gỗ Việt Nam. Với thế mạnh về công nghệ, thiết bị máy móc trong lĩnh vực sản xuất đồ gỗ. Nhiều doanh nghiệp Ý mong muốn sự hợp tác giữa các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ giữa hai nước sẽ thúc đẩy ngành gỗ của Ý và Việt Nam phát triển hơn so với hiện nay.
Đây là lý do vì sao thời gian qua, các doanh nghiệp của Ý đã sang Việt Nam tìm hiểu và nghiên cứu thị trường nhằm xúc tiến quan hệ đối tác kinh doanh tro ngành công nghiệp nchế biến gỗ. Theo các doanh nghiệp của Ý, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã có những bước tiến dài trong những năm gần đây. Dù điều kiện kinh tế toàn cầu và nội địa có nhiều khó khăn nhưng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam trong năm 2012 vẫn đạt được 4,67 tỉ USD, tăng 17,9% so với năm 2011. Tính đến tháng 4/2013, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ đã được 1,57 tỉ USD.
Trong đó, ngành đồ gỗ của Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu khắt khe của thị trường thế giới đối với các sản phẩm đồ gỗ. Đặc biệt là yêu cầu về chứng minh nguồn gốc gỗ đến từ Hoa Kỳ và Ủy ban Châu Âu. Việc hợp tác phát triển sẽ giúp doanh nghiệp hai nước tận dụng được các lợi thế của nhau. Nếu như các doanh nghiệp Ý nổi tiếng trong chế biến đồ gỗ xuất khẩu với việc sản xuất các sản phẩm đồ gỗ cao cấp, xếp 2 thế giới (sau Trung Quốc) về xuất khẩu mặt hàng này thì doanh nghiệp gỗ Việt có thế mạnh về đội ngũ lao động có tay nghề, chăm chỉ, giá rẻ.
Việc hợp tác này được đánh giá là sẽ đem lại cho doanh nghiệp Ý lợi nhuận từ việc cung cấp các sản phẩm có giá thành rẻ hơn những nước khác. Còn ngành gỗ Việt Nam sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Chiến Thắng - Chủ tịch Hiệp hội Chế biến Gỗ và Thủ công Mỹ nghệ TP HCM: Việc hợp tác với Ý hiện nay là một mô hình tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam vì tầm cỡ của các doanh nghiệp Ý không lớn. Mục tiêu khi hợp tác là làm sao kết hợp được thương hiệu Ý, công nghệ Ý, thị trường Ý với sản xuất tại Việt Nam để đưa được giá thành hợp lý và mở rộng thị trường. “Nếu hợp tác giữa hai bên phát triển làm thúc đẩy ngành chế biến gỗ tăng tốc, khi đó sẽ kéo theo sự lớn mạnh của nhiều ngành khác như trồng rừng, cưa xẻ, vận chuyển, ngành công nghiệp phụ trợ, cơ sở hạ tầng, ngành cơ khí chế tạo máy...”
Chính vì vậy, đây là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ Việt tận dụng cơ hội để hợp tác phát triển nang lợi nhuận về cho mình và cho thị trường gỗ trong nước. Bên cạnh đó, đưa mối quan hệ hợp tác giao thương giữa hai nước lên tầm cao mới. (Petrotimes 18/6)đầu trang(
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam vừa chính thức công nhận cụm Cây Gừa có tuổi gần 160 năm ở ấp Nhơn Khánh, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ là Cây Di sản Việt Nam.
Đây là giàn cây cổ thụ đầu tiên của TP Cần Thơ, cũng là Cây Di sản Việt Nam đầu tiên tại ĐBSCL được công nhận. Ông Lâm Minh Triết, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, cho biết Hội đã xét duyệt và công nhận gần 500 cây đủ tiêu chuẩn là Cây Di sản Việt Nam.
Sắp tới, ĐBSCL sẽ có thêm cây dầu hơn 700 năm tuổi và cây me hơn 600 năm tuổi tại huyện Tri Tôn (An Giang) tiếp tục được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Theo bà Trương Kim Khuyên, phó chủ tịch UBND huyện Phong Điền, sự kiện này không những nhằm trực tiếp bảo tồn nguồn gen tiêu biểu mà còn là động lực thúc đẩy quảng bá du lịch cho khu Di tích lịch sử văn hóa Giàn Gừa, cũng như các điểm du lịch sinh thái khác ở Phong Điền. (Tuổi Trẻ 15/6)đầu trang(
Ngà voi hóa thạch gần 20.000 năm tuổi
Chủ sở hữu chiếc ngà voi này là ông Nguyễn Trường Sơn, ngụ TP.Pleiku (Gia Lai). Chiếc ngà có khối lượng 24 kg, dài 1,26 m, gồm 4 khúc (ảnh) được phát hiện từ lòng đất thuộc xã Chư A Thai, H.Phú Thiện (Gia Lai), cách núi lửa Hàm Rồng khoảng 30 km.
Trên ngà voi vẫn còn dính nhiều hạt nhỏ nhiều màu, mà theo những người chuyên chơi đồ hóa thạch, đó là dấu tích của nham thạch khi núi lửa Hàm Rồng còn hoạt động cách đây hàng chục ngàn năm.
Tổng hội Địa chất Việt Nam, Viện Đá quý - trang sức đã cấp Giấy chứng thực kiểm định đá quý về chiếc ngà voi. Còn Viện Khảo cổ học Việt Nam đã có kết quả giám định chiếc ngà voi hóa thạch có từ 19.450 năm trước công nguyên.
Ông Sơn cho biết ông sẵn sàng phối hợp với các cơ quan chức năng để nghiên cứu thêm về chiếc ngà voi hóa thạch này. Đây cũng là cơ sở quý giá để nghiên cứu về vùng đất Gia Lai thời cổ đại cả về địa chất cũng như hệ động thực vật. (Thanh Niên 18/6)đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Dương vừa ký quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm thuộc Vườn Quốc gia Tràm Chim tỉnh Đồng Tháp (gọi tắt là Hạt Kiểm lâm).
Hạt Kiểm lâm chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về biên chế, công tác và kinh phí hoạt động của Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim; đồng thời chịu sự quản lý về công tác nghiệp vụ, trang thiết bị chuyên ngành của Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Hạt Kiểm lâm là cơ quan hành chính nhà nước, có tư cách pháp nhân, trụ sở và con dấu riêng. (Báo Đồng Tháp 16/6)đầu trang(
Hơn 150ha đất rừng của Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê bị 55 hộ dân Hòa Hải xâm chiếm trái phép. UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản yêu cầu huyện Hương Khê giải quyết dứt điểm nhưng đã hơn 5 tháng nay sự việc vẫn “giậm chân tại chỗ”.
Ngày 26.10.2012, Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê (Công ty) được UBND tỉnh Hà Tĩnh giao 324,5ha đất lâm nghiệp ở tiểu khu (TK) 192, 193 thuộc xã Hòa Hải, huyện Hương Khê để trồng cao su. Công ty đã chi hơn 5 tỷ đồng để hoàn thành các thủ tục pháp lý, trong đó đóng nộp vào ngân sách tỉnh gần 2 tỷ đồng và ngân sách xã Hòa Hải hơn 1,6 tỷ đồng tiền đền bù theo quy định. Thế nhưng khi công ty triển khai mặt bằng để trồng mới cao su trên diện tích nói trên thì bị một số người dân địa phương ngang nhiên ngăn cản.
Sáng 22.11.2012, trong lúc công ty đang tổ chức thi công trên phần đất của mình tại lô 17, khoảnh 11 TK 192 thì bị 4 công dân xóm 11 xã Hòa Hải là Phan Văn Khởi, Phan Văn An, Phan Văn Kháng, Phan Văn Tân đứng ra ngăn chặn. Chiều 30.11.2012, công ty đã báo cáo bằng văn bản lên UBND các cấp tỉnh Hà Tĩnh. Mặc dù được sự giúp đỡ của chính quyền, Công an huyện Hương Khê, xã Hòa Hải và Đồn Biên phòng 569, song các ngày 6.12 và 16.12.2012, khi công ty cho máy ủi vào khoảnh 14 và khoảnh 11 (TK192) thi công thì vẫn bị hàng chục người dân ra chống đối, cản trở. Sau đó, nhiều hộ dân còn tự ý chặt phá và chiếm dụng hàng trăm ha đất rừng do công ty quản lý.
Theo ông Trần Thanh Hà - Tổng Giám đốc Công ty Cao su Hương Khê, đến nay đã có hơn 150ha đất rừng bị chiếm trái phép. Khi công ty cùng lực lượng chức năng vào kiểm tra thì một số hộ dân còn ngang nhiên cản trở, dọa nạt… Ngày 18.1.2013, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn đã ký Văn bản số 231 yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Hương Khê chỉ đạo sâu sát, đồng bộ các giải pháp, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng xung đột, tranh chấp làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.
Thế nhưng phải gần 4 tháng sau, huyện mới thành lập tổ công tác do Phó Chủ tịch UBND huyện Lê Trần Sáng phụ trách và gần 1 tháng sau nữa thì đoàn công tác mới chính thức xuống làm việc với xã theo chỉ đạo của tỉnh. Từ đó đến nay, tiến độ công việc cũng không tiến triển gì.
Chủ tịch UBND xã Hòa Hải - ông Phạm Hữu Nhân thừa nhận, sự chậm trễ, bất lực trong quản lý nhà nước, dẫn đến tình trạng 55 hộ dân liên tục tự ý xâm chiếm trái phép hơn 150ha đất rừng của công ty. Với những trường hợp chiếm đất trái phép của công ty, theo ông Nhân, xã chỉ mới làm biên bản nhưng người vi phạm không chịu ký. Xã cũng bỏ qua, không có biện pháp xử lý gì hơn. Theo ông Nhân, lực lượng của xã quá mỏng, tổ chức vào hiện trường kiểm tra thì bị số người nói trên dọa chém, nên cũng chùn tay...
Ông Đinh Hữu Tân - Chủ tịch UBND huyện Hương Khê cho biết, việc lấn chiếm của người dân là trái phép, gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Huyện đang tiếp tục vào cuộc quyết liệt, một mặt giải thích cho dân hiểu, giải quyết nhu cầu của người dân. Mặt khác, củng cố hồ sơ vi phạm xử lý theo pháp luật và sẽ tổ chức lực lượng đủ mạnh để ngăn chặn, trục xuất toàn bộ người dân vào lấn chiếm trái phép; sau đó sẽ xem xét trách nhiệm của cán bộ liên quan. Tuy nhiên đến nay, sự việc vẫn chưa có gì tiến triển thêm. Chỉ khổ doanh nghiệp, công nhân thiếu việc làm, cây giống để già quá lứa, đất vẫn bỏ hoang! (Nông Thôn Ngày Nay 17/6)đầu trang(
Theo các cụ cao tuổi làng Cát Ngòi, xã Cát Quế (Hoài Đức), cây đa tía (cây đa Cầu Gạo) tại cổng làng Cát Ngòi được trồng cách đây khoảng 600 năm, nằm ở vị trí trung tâm làng.
Trước đây, xung quanh khu vực cây đa có các công trình miếu, văn chỉ, nhưng trong những năm chiến tranh các công trình này đã bị tàn phá. Khoảng 30 năm trở về trước, người dân vẫn gọi cây đa tía này là cây đa 9 gốc, gồm gốc chính và 8 gốc phụ (rễ cây mọc từ các cành cây xuống ăn sâu vào lòng đất). Tuy nhiên, do ý thức bảo vệ cây đa của người dân chưa cao, cộng với thiên tai khắc nghiệt nên đến nay cây đa chỉ còn 6 gốc, một số cành cây lớn bị thiên nhiên và con người tàn phá.
Đáng nói, kể từ năm 1994 đến nay khi thôn Cát Ngòi giao thầu trái thẩm quyền (không có thời hạn, thu tiền một lần) toàn bộ khu đất gần cây đa, giáp trục đường chính vào thôn để người dân xây dựng quán bán hàng, sửa chữa xe máy, hàn tiện và xây dựng công trình phụ, bếp, mái che, mái vảy thì cây đa bị tàn phá nặng nề nhất.
Nguyên nhân, các hộ đã đổ nước thải vào khu vực cây khiến cây bị úng nước, một số rễ cây bị mục. Để bảo vệ cây, giúp cây phát triển, chính quyền địa phương đã nhiều lần "ra tay" xử lý các hộ dân nhận thầu đất tại đây xây dựng công trình lấn ra phần đất công thuộc khu vực bảo vệ cây đa nhưng chỉ được một thời gian đâu lại vào đấy.
Sau khi cây đa tía được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận Cây Di sản Việt Nam (3-2013), địa phương đã đầu tư kinh phí và vận động nhân dân ủng hộ tiền xây dựng tường khoanh vùng bảo vệ quanh cây, dựng bia Cây Di sản. Tuy nhiên, do vướng mặt bằng nên chưa thể hoàn thành việc khoanh vùng. Hiện tại, công trình của các hộ dân được xây dựng chỉ cách gốc cây đa 60-70cm.
Trong tiêu chí công nhận Cây Di sản Việt Nam, trách nhiệm bảo vệ cây thuộc về chủ sở hữu (chùa, đình, làng, xã, cá nhân, tập thể... đăng ký danh hiệu). Ở xã Cát Quế, Chủ tịch UBND xã đã lập hồ sơ đăng ký công nhận cây di sản, thế nhưng từ ngày cây đa tía được công nhận Cây Di sản, xã Cát Quế vẫn chưa có biện pháp bảo vệ cây. Đặc biệt, chính quyền chưa xử lý triệt để các hộ dân đã nhận thầu đất công giáp cây trả lại cảnh quan môi trường cho khu vực(!). (Hà Nội Mới 17/6)đầu trang(
Thời gian gần đây, hàng chục héc ta rừng ở xã Xuân Hòa cách thị trấn Như Xuân (thuộc xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, Thanh Hóa) đang bị lâm tặc tàn phá. Sự việc kéo dài nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa thể xử lý.
Ông Lò Văn Xum, Phó Chủ tịch xã Xuân Hòa cho biết, diện tích rừng vừa bị chặt phá (khoảng 10 ha) nằm tại các lô 4,9,10,11 thuộc khoảnh 1 tiểu khu 6A32.
Ông Xum cho biết thêm, khu rừng bị phá khoảng đầu tháng 5. Đến khoảng giữa tháng, khi người dân báo cáo chính quyền địa phương vào kiểm tra thì thấy cả cánh rừng đã te tua.
Ông Nguyễn Bá Lương, Trạm trưởng trạm kiểm lâm Xuân Hòa cho biết, khu rừng bị chặt hạ như phản ánh là có thật. Tuy nhiên, theo ông Lương diện tích rừng này là rừng sản xuất được giao cho các hộ (chủ rừng) quản lý, trong đó có cả phần diện tích rừng của Trung đoàn 923 Binh chủng phòng không không quân.
Khi hỏi về trách nhiệm, ông Lương lại phân trần: “Vào thời điểm lâm tặc chặt phá rừng đang là mùa thu hoạch mía của bà con. Trung bình mỗi ngày trên đồi có vài trăm người lên làm thuê, họ lợi dụng vào đó để chặt, do vậy kiểm lâm không thể phát hiện được”.
Ông Dương Văn Mạnh, Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban chỉ đạo phòng chống cháy và bảo vệ rừng (BCĐ 12) cho biết, sau khi nhận được thông tin, huyện đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành vào cuộc để điều tra, làm rõ vụ việc.
Ông Lê Quốc Việt, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho biết, sau khi nhận được báo, Chi cục đã trực tiếp đến kiểm tra hiện trường vụ phá rừng.
Tuy nhiên, theo ông Việt: “Đối chiếu hồ sơ giao đất lâm nghiệp, diện tích này đã giao cho các hộ gia đình thôn 8 xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, nhưng đến nay vẫn chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp theo quy định”.
Liên quan tới câu hỏi về trách nhiệm, ông Việt cho biết: “Chi cục ở trên không thể bám sát được dưới cơ sở. Nhưng khi cơ sở để xảy ra chuyện như vậy thì dù thế nào chúng tôi cũng làm và chỉ đạo tới nơi, cho đến lúc không tìm ra được đối tượng phá rừng thì chúng tôi cũng phải gắn trách nhiệm đó cho người đứng đầu”.
Ông Việt cho biết, trước mắt Chi cục kiểm lâm đã yêu cầu Hạt trưởng Kiểm lâm Như Xuân đình chỉ công tác đối với đối với hai kiểm lâm viên địa bàn xã Xuân Hòa để chỉ đạo kiểm điểm làm rõ trách nhiệm. (Vietnamnet 18/6)đầu trang(
5 tháng đầu năm, lực lượng Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các ngành công an, quân đội và chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét các tổ chức, cá nhân xâm hại tài nguyên rừng.
Lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 49 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có 3 vụ khai thác rừng trái phép; 27 vụ vận chuyển lâm sản trái phép; 13 vụ mua bán, cất giữ, chế biến kinh doanh lâm sản; 2 vụ phá rừng làm nương; 4 vụ vi phạm khác.
Các vụ vi phạm đã được xử lý theo quy định, đúng người, đúng tội, không có khiếu nại nảy sinh. Tổng tịch thu 6,384m3 gỗ xẻ, 9,728m3 gỗ tròn, nộp ngân sách nhà nước gần 200 triệu đồng. (Báo Hòa Bình 17/6)đầu trang(
17/6, Hạt Kiểm lâm huyện Tu Mơ Rông cho biết: Những ngày gần đây, người dân trên địa bàn các xã Đắk Hà, Tê Xăng, Măng Ri, Ngọc Lây và Văn Xuôi đã ken cây, chặt phá gần 6ha rừng nguyên liệu giấy để lấy đất sản xuất trái với quy định của pháp luật.
Các vụ vi phạm nói trên đã được Hạt Kiểm lâm huyện Tu Mơ Rông phối hợp với Ban Trồng rừng nguyên liệu giấy Văn Xuôi và các cấp chính quyền địa phương lập biên bản xử lý, với hình thức phạt tiền.
Đáng nói ở đây là, người dân không có tiền nộp phạt, khiến hình thức xử phạt hành chính này không có tác dụng, thiếu tính răn đe. (Thanh Tra 18/6)đầu trang(
Về hành vi giả mạo của ông Lê Duy Nguyên, bản án sơ thẩm ngày 31/5/2013 của TAND huyện Quỳnh Lưu nhận định: “Đã có kết luận giám định các chữ ký tên ông Lập đều không phải do ông Lập ký, ông Nguyên thừa nhận ông đã tự làm và ký vào biên bản góp đất, sổ lâm bạ, giao nhận thực địa”.
Như vậy là sau hơn 2 năm trời tiến hành tố tụng, 5 lần mở phiên tòa xét xử, có lần đã ra quyết định “đình chỉ vụ án” trái pháp luật bị TAND tỉnh Nghệ An hủy bỏ, buộc phải xét xử lại, phải mời tới 2 cơ quan trưng cầu giám định chữ ký tên ông Lập, cuối cùng, bản án của TAND huyện Quỳnh Lưu đã chính thức khẳng định một loạt hành vi gian dối, trái pháp luật của ông Lê Duy Nguyên.
Tại phiên tòa ngày 31/5/2013, ông Lê Duy Nguyên thừa nhận đã tự làm và ký tên Lập (giả mạo) vào biên bản cam kết góp đất, biên bản giao nhận thực địa và sổ lâm bạ mang tên người khác
Ngày 10/1/1993, UBND huyện Quỳnh Lưu ra Quyết định số 02, 03, 04 cấp cho hộ gia đình ông Trần Xuân Lập 36,5 ha, hộ ông Trần Xuân Ngoạn 40,5 ha, hộ gia đình Trần Xuân Nam 84,5 ha… Sau khi có đất, các hộ đã cùng ông Nguyên bàn bạc thành lập “tổ hợp trồng rừng” gồm trên 30 người và mỗi người phải đóng 400.000đ gọi là tiền trách nhiệm… Việc điều hành Tổ hợp do ông Nguyên chỉ đạo.
Tháng 8/1993, Doanh nghiệp Lê Duy Nguyên thành lập, trụ sở đặt tại nhà ông Lập. Mấy chục hộ tham gia trồng rừng từ 1993 đến 2009, trong đó, gia đình ông Lập tham gia trồng rừng được trên 2400 công. Tranh chấp xẩy ra khi Nhà nước lấy đất làm đường vào phần đất Lâm bạ cấp cho ông Lập. Nhưng ông Nguyên lại có bản báo cáo là các hộ có tên trong số lâm bạ 02,03,04 đã có Bản cam kết giao quyền quản lý và sử dụng đất cho ông nên tiền đền bù lấy đất 36,5 ha đất rừng trong sổ lâm bạ mang tên ông Lập là của ông Nguyên.
Đến lúc này ông Lập mới ngộ ra ông em vợ Lê Duy Nguyên, từng là Đại biểu Quốc hội đàng hoàng, nhưng không ngờ lại lừa ông, giả mạo chữ ký, giả mạo giấy tờ để bí mật hợp thức hóa việc chiếm đoạt 36,5 ha đất rừng Nhà nước đã cấp cho ông. Từ đó, một loạt hành vi giả mạo nhằm mục đích chiếm đoạt đất rừng Nhà nước cấp cho ông Lập lần lượt bị phơi bày.
Hành vi thứ nhất, ông Nguyên giả mạo chữ ký trong sổ lâm bạ mang tên ông Lập, ông Nam. Khi biết 3 hộ gia đình Trần Xuân Lập, Trần Xuân Ngoạn, Trần Xuân Nam được UBND huyện Quỳnh Lưu cấp sổ lâm bạ, ông Nguyên dù không có tên trong sổ lâm bạ nhưng đã đứng ra ký mạo tên các chủ lâm bạ vào trong các sổ lâm bạ để được giao và nắm giữ cả 3 quyển sổ lâm bạ.
Hành vi thứ hai, ông Nguyên tạo ra Biên bản bàn giao hồ sơ lâm bạ và thực địa đất rừng ngày 21/1/1993 bất hợp pháp. Đó là, dù không có tên trong cả 3 sổ lâm bạ, không được ông Lập, anh Nam ủy quyền nhưng ông Nguyên vẫn cùng một số cán bộ lập Biên bản giao nhận đất rừng và đứng tên trong biên bản là “Chủ hộ nhận đất rừng”.
Trong khi đó 2 chủ lâm bạ là ông Lập và anh Nam lại không được biết để có mặt. Đại diện Hạt kiểm lâm Quỳnh Lưu là ông Trần Sỹ Mỹ, theo lý lịch Đảng thì thời điểm đó đang làm Bí thư chi bộ 13, xóm trưởng 13 Quỳnh Vinh (tháng 1/1989-12/1993), không thể là đại diện Hạt kiểm lâm để giao đất rừng.
Trong quá trình xét xử, ông Mỹ là nhân chứng quan trọng được Tòa triệu tập, nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và Tòa cũng không lấy bất cứ lời khai báo nào của ông Mỹ về việc trên. Ngày giao đất (21/1/1993) theo Lịch Vạn niên là ngày 29 Tết. Còn UBND xã Quỳnh Lập thì lại xác nhận vào biên bản ngày 22/1/1993 tức ngày 30 Tết(!?) Thêm nữa, thời gian căng dây đo mốc giới để giao 161,5 ha đất thực địa không thể làm trong một ngày, vì trong quá trình thụ lý, chính TAND huyện Quỳnh Lưu đã cùng các cơ quan có thẩm quyền của huyện xác nhận mốc giới với diện tích 36,5 ha theo sổ lâm bạ (nhỏ hơn tới gần 5 lần) của ông Lập và lại đo bằng máy định vị mà phải mất 1 ngày mới xong.
Cuối cùng, xác nhận của Hạt kiểm lâm ngày 26/1/1993 lại là ngày mồng 4 Tết; ông Dương Văn Thước, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu - người bị thể hiện là có bút tích và chữ ký kèm con dấu trong Biên bản - có văn bản gửi Tòa khẳng định: Dòng chữ viết tay trong biên bản chắc chắn không phải chữ ông viết.
Hành vi thứ ba, để chiếm đoạt đất rừng đã cấp cho ông Lập trong sổ lâm bạ, ông Nguyên giả mạo tới 2 Bản cam kết ba hộ có tên trong sổ Lâm bạ (Lập, Ngoạn Nam) thống nhất giao tất cả đất rừng cho ông Nguyên. Tại Bản án sơ thẩm ngày 31/5 vừa qua, TAND huyện Quỳnh Lưu nhận định: “Ông Nguyên thừa nhận đã tự làm và ký vào biên bản góp đất, sổ lâm bạ, giao nhận thực địa.”
Trong khi trước đó, ngày 5/7/2010, ông Nguyên lại có văn bản báo cáo gửi các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An và huyện Quỳnh Lưu với nội dung trơ trẽn như sau: “Để có cơ sở thành lập doanh nghiệp và bảo đảm quản lý, sử dụng thuận lợi, ổn định lâu dài, đúng pháp luật, tôi đề nghị những người có tên trong lâm bạ làm Bản cam kết giao quyền quản lý sử dụng sản xuất kinh doanh diện tích 161,5 ha đất trên cho tôi (thời hạn từ ngày 10/02/1993 đến hết ngày lâm bạ có hiệu lực). Những người nói trên đồng ý, ký cam kết. UBND xã Quỳnh Lập xác nhận vào bản cam kết. UBND huyện Quỳnh Lưu ký đồng ý ngày 29/5/1993”.
Trong quá trình tố tụng, luật sư Lương Quang Tuấn cho biết: Trước sau ông Nguyên chỉ thừa nhận có duy nhất một “Bản cam kết giao quyền quản lý sử dụng sản xuất kinh doanh đất trồng rừng” của 3 hộ cho ông Nguyên quản lý sử dụng, thời gian kể từ ngày 10/02/1993 đến “hết thời gian Lâm bạ có hiệu lực”.
Ông Nguyên còn cả gan khẳng định ông Lập trực tiếp ký vào Bản cam kết,vì thế buộc phải trưng cầu tới 2 cơ quan giám định. Nhưng chỉ đến khi luật sư bất ngờ trình HĐXX “Bản cam kết..” thứ 2 đề ngày 10/3/1993 được Phòng Công chứng số 1 Nghệ An công chứng thì ông Nguyên mới thừa nhận là có 2 Bản cam kết và cũng thừa nhận luôn 3 chữ ký trong Bản cam kết với các tên (Lập, Nam, Ngoạn) là do ông Nguyên tự ký giả mạo.
Hệ thống hành vi giả mạo và âm thầm thực hiện không cho ông Lập biết kể trên của ông Nguyên là lô gic với nhau và cho thấy mục định đen tối của người được phong là “người chân chính” là nhằm chiếm đoạt đất rừng Nhà nước đã cấp cho ông Lập. Và thực tế, khi Nhà nước làm đường vào phần đất nằm trong diện tích lâm bạ cấp cho ông Lập, ông Nguyên đã bộc lộ mục đích đen tối đó qua việc đứng ra nhận tiền đền bù lấy đất để làm đường của Nhà nước.
Nếu cán bộ chính quyền xã Quỳnh Lập và huyện Quỳnh Lưu công tâm, thực thi công vụ đúng pháp luật thì ông Nguyên có tài giỏi giả mạo đến mấy cũng không thể gây ra hậu quả phức tạp như ngày hôm nay. Việc giả mạo giấy tờ của ông Nguyên đã xâm hại đến tính đúng đắn trong hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của gia đình nông dân được Nhà nước xét giao đất rừng, dẫn đến cảnh “nồi da nấu thịt” tại công đường, gây mâu thuẫn và làm mất niềm tin trong nhân dân.
Tuy nhiên, sự thật là trong vụ việc này đã có nhiều cán bộ đãkhông công tâm mà còn dung túng, tiếp tay cho việc làm sai pháp luật của ông Nguyên. Đó là đã để cho ông Nguyên ký mạo tên và nhận sổ lâm bạ của nhiều người, xác nhận và chấp thuận cho ông Nguyên đứng tên trong Biên bản bàn giao hồ sơ lâm bạ và thực địa đất rừng dù ông Nguyên không có tên trong sổ lâm bạ, không được các chủ lâm bạ vắng mặt ủy quyền. Hạt kiểm lâm để lọt giấy tờ khống chỉ và đã có người đã mạo danh Hạt trưởng để viết xác nhận giao đất rừng trái pháp luật cho ông Nguyên.
Cán bộ xã Quỳnh Lập không có mặt trong lúc lập biên bản bàn giao thực địa đất rừng nhưng vẫn điềm nhiên ký xác nhận vào biên bản, “nhiệt tình” tới mức ký cả vào ngày nghỉ Tết cổ truyền (30 Tết) không cần biết ông Nguyên có đủ tư cách để nhận đất rừng hay không. Đặc biệt, là việc xác nhận liên tiếp nhiều lần, tắc trách (có dấu hiệu thông đồng) của các cán bộ lãnh đạo chủ chốt xã Quỳnh Lập và huyện Quỳnh Lưu vào 2 Biên bản Cam kết giao quyền sử dụng đất rừng của 3 hộ (Lập, Ngoạn, Nam) cho ông Nguyên.
Nay, với bản án sơ thẩm ngày 31/5/2013 của TAND huyện Quỳnh Lưu, hành vi giả mạo hàng loạt chữ ký và giấy tờ của ông Lê Duy Nguyên đã được khẳng định, không thể không truy xét trách nhiệm của ông Nguyên cũng như của những cán bộ đã giúp ông Nguyên tạo giá trị pháp lý cho những giấy tờ giả mạo mà ông Nguyên đã lập ra, tạo điều kiện cho ông Nguyên được giao nhận sổ lâm bạ và đất rừng một cách bất hợp pháp, gây hậu quả phức tạp.
Sự tiếp tay, bao che không chỉ của các cán bộ đã tham gia ký xác nhận vào các văn bản giả mạo do ông Nguyên lập ra, mà còn cả những cán bộ đương chức ở xã Quỳnh Lập cũng tỏ thải độ bao che cho vi phạm của ông Nguyên và các cán bộ tiếp tay cho hành vi giả mạo của ông Nguyên.
Biểu hiện “sinh động” nhất là khi Báo VOV đăng bài đầu tiên, chỉ mới đặt vấn đề: “Có hay không sự nuông chiều sai phạm?”, thì lập tức tiếp theo đơn khiếu nại của ông Nguyên, Báo VOV cũng nhận được một công văn kỳ lạ, đóng tới 8 con dấu đỏ với chữ ký của Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Bí thư Đoàn thanh niên xã Quỳnh Lập... để phản đối bài báo, cho rằng bài báo vu khống xã, vu khống huyện, vu khống ông Nguyên, yêu cầu đăng “toàn văn kết luận” trên báo VOV.
Lạ hơn, để “kết luận” được như trên, văn bản này cho biết: 8 tổ chức, cơ quan, đoàn thể trên của xã đã tự cho mình cái quyền xem xét và kết luận nội dung bài báo đăng trên báo VOV trên cơ sở giải quyết... Đơn khiếu nại nội dung bài báo của ông Lê Duy Nguyên(!?). Báo VOV đăng bài trả lời, bác bỏ toàn bộ nội dung văn bản 8 con dấu của xã Quỳnh Lập và đề nghị Huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Lập kiểm tra, làm rõ văn bản kỳ lạ có tính bao che kể trên.
Được biết, huyện Quỳnh Lưu đã chỉ đạo cán bộ tư pháp kiểm tra làm rõ việc này, đã kết luận văn bản 8 con dấu của xã Quỳnh Lập là sai. Tuy nhiên, đến nay Báo VOV vẫn chưa nhận được thông tin chính thức từ Huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Lưu về việc này.
Với các bằng chứng về hành vi giả mạo chữ ký, giấy tờ của ông Lê Duy Nguyên, tại các phiên tòa xét xử của TAND huyện Quỳnh Lưu, luật sư Lương Quang Tuấn đã nhiều lần đề nghị HĐXX xem xét có kiến nghị đến Cơ quan điều tra khởi tố và điều tra hành vi giả mạo giấy tờ chiếm đoạt tài sản theo Điều 141 Bộ luật Hình sự của ông Nguyên và sự tiếp tay của một số cán bộ xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu.
Nhưng bản án sơ thẩm ngày 31/5/2013 của TAND huyện Quỳnh Lưu đã không xem xét đến, mà chỉ tuyên “bác đơn khởi kiện” đòi lại 36,5 ha đất rừng của ông Lập do có chữ ký giả mạo của ông Nguyên trong sổ lâm bạ. Như vậy, với bản án nêu trên, hành giả mạo chữ ký, giấy tờ của ông Lê Duy Nguyên đã gây hậu quả nghiêm trọng: Gia đình ông Lập mất quyền quản lý sử dụng 36,5 ha đất rừng được Nhà nước giao sau 20 năm tham gia trồng rừng và hơn 3 năm trời mệt mỏi khởi kiện ông Nguyên ra tòa, gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” tại công đường... (VOV 18/6)đầu trang(
Cách trung tâm huyện Mang Yang (Gia Lai) hơn 1km, cánh rừng thông hơn 30 năm tuổi (thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa) đang bị người dân chặt phá không thương tiếc để lấy đất trồng cà phê, hồ tiêu. Dù tình trạng này đã diễn ra trong một thời gian dài nhưng chính quyền địa phương vẫn không có một động thái hữu hiệu nào để ngăn chặn.
Tại tiểu khu 501, hàng trăm cây thông ở nhiều khoảnh rừng khác nhau đang chết dần chết mòn do bị băm vằm, đốt cháy xém và chỉ cần những cây thông này chết khô thì các chủ đất ngang nhiên chặt hạ chiếm đoạt làm đất sản xuất của mình. Nhiều cây thông đường kính 60cm bị đốt cháy thành than để phi tang nằm ngổn ngang bên những vườn hồ tiêu, cà phê vừa mới xuống giống.
Cùng chung "số phận", hàng nghìn cây thông khác tại tiểu khu 499 cũng bị triệt hạ không thương tiếc. Nhìn từ xa, loang lổ những khoảnh rừng khô héo, cháy vàng, thi thoảng xuất hiện những khoảnh trơ trọi các gốc thông vừa bị đốn hạ. Ngạc nhiên hơn, nhiều người dân ở đây còn ngang nhiên rao bán từ 200 - 250 triệu/1ha đất đẹp.
Không chỉ vậy, cách rừng thông bị chặt hạ, đốt phá khoảng 2km, hàng chục ha đất trồng cây sao xanh cũng bị chặt phá thậm chí nhiều diện tích đã được phân lô, cắm trụ và được dựng cả trang trại.
Theo thống kê sơ bộ ban đầu của Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang, tại các khu vực nói trên đã có hơn 43ha rừng thông và đất lâm nghiệp bị 80 hộ dân lấn chiếm (trong đó, có gần 35ha rừng thuộc vùng lõi) để trồng cà phê và tiêu. Hàng chục vườn tiêu của các hộ dân đã bắt đầu bén rễ trên vùng rừng thông bị đốn hạ.
Ông Nguyễn Long Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang cho biết: Trước tình hình này, Hạt Kiểm lâm đã có công văn gửi huyện đề nghị huyện chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan tập trung phương án và tổ chức cưỡng chế nhổ bỏ toàn bộ cây trồng trên diện tích 43ha đất bị lấn chiếm tại khu vực rừng thông thuộc các tiểu khu 499, 501 của xã Đăk Djrăng, nhưng đến nay, huyện vẫn chưa có động thái gì.
Trước thực trạng này, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn chỉ đạo xử lý vụ phá rừng thông tại huyện Mang Yang; trong đó, nêu rõ: Để kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm vụ việc trên, UBND tỉnh giao cho Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức điều tra ban đầu và khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, phối hợp với chính quyền địa phương triển khai các biện pháp ngăn chặn không để tình trạng phá rừng tiếp tục diễn ra.
Đại tá Phan Anh Tuấn, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh cho biết: Đoàn công tác do Phòng PC46 chủ trì phối hợp với Chi cục lâm nghiệp, Chi cục kiểm lâm cùng UBND huyện Mang Yang và Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa tiến hành kiểm tra cụ thể vụ việc phá rừng trên. Tuy nhiên, việc điều tra đang gặp nhiều khó khăn bởi người dân xâm chiếm cánh rừng thông này đã khá lâu, cũ có, mới có. (Tài Nguyên&Môi Trường 18/6)đầu trang(
6 tháng năm 2013, lực lượng chức năng huyện Khánh Vĩnh đã tổ chức 53 lượt kiểm tra các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản; tổ chức 14 đợt truy quét chống phá rừng ở các khu vực rừng trọng điểm.
Qua đó, phát hiện và tiến hành xử lí 125 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng; tịch thu hơn 166 m3 gỗ xẻ hộp. Thu giữ các phương tiện dùng để vận chuyển lâm sản trái phép, thu nộp ngân sách 645 triệu đồng. (Tài Nguyên&Môi Trường 18/6)đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Tình trạng phá rừng phòng hộ làm nương rẫy vẫn diễn ra trên địa bàn huyện Thạch An. (Nhân Dân 18/6)đầu trang(

THẾ GIỚI
Ngày 17/6, Singapore đã lên tiếng thúc giục láng giềng Inđônêxia có "các biện pháp khẩn cấp" để xử lý các đám cháy rừng đang gây ô nhiễm trầm trọng bầu không khí trên đảo Sumatra (Indonesia), và tạo ra những đám khói mù dày đặc làm nghẹt thở cả đảo quốc Sư tử.
Các tòa nhà chọc trời ở Singapore, kể cả tổ hợp giải trí Marina Bay Sands nổi tiếng, đang bị bao phủ trong khói mù và mùi khét cay nồng của gỗ cháy.
Trang tin điện tử của Cơ quan Môi trường Quốc gia Singapore (NEA) cho biết Chỉ số Tiêu chuẩn ô nhiễm (PSI) ở Singapore vào tối 17/6 (giờ địa phương) ở mức rất cao là 152, vượt xa mốc 100 - ngưỡng được coi là "có hại cho sức khỏe". Theo đánh giá của Bộ Môi trường và Nguồn nước Singapore, thảm họa khói mù lần này là tồi tệ nhất được ghi nhận ở đảo quốc này kể từ năm 2006.
Trong khi đó, nhiều nơi ở Malaysia cũng đang phải chịu tình cảnh tương tự. Hiện tượng này xảy ra theo định kỳ hàng năm và chính phủ các nước Đông Nam Á hầu như bất lực trong giải quyết vấn đề dù có nhiều hối thúc phải hành động.
NEA cho biết họ đã báo động phía Indonesia, kêu gọi các nhà chức trách nước này nghiên cứu các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn, giảm thiểu và giám sát khói từ cháy rừng.
Tuy nhiên, Bộ Lâm nghiệp Indonesia cho biết lực lượng lính cứu hỏa đã dập được đám cháy và máy bay chữa cháy sẽ chỉ được triển khai nếu chính quyền địa phương yêu cầu. (VietnamPlus.vn 18/6)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa