|
Ngày 16 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GỚI
BẢO VỆ RỪNG
UBND tỉnh vừa có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các huyện, TX, TP triển khai thực hiện nghiêm túc CV số 1724/BNN-TCLN của Bộ NN&PTNT về việc tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp tiếp tục tổ chức triển khai ngay các biện pháp chủ yếu sau: Chủ động thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và PCCC rừng, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 5/3/2014 của Thủ tướng về việc phòng cháy, chữa cháy rừng; Công điện khẩn số 01/CĐ-BNN-TCLN ngày 3-1-2014, văn bản số 3791/BNN-TCLN ngày 22-10-2013 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh chỉ đạo rà soát lại phương án bảo vệ rừng và PCCC rừng của các cấp ngành và chủ rừng. Trong đó, xác định cụ thể các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao để bố trí các nguồn lực phù hợp theo phương châm 4 tại chỗ, đảm bảo ngăn chặn và xử lý kịp thời các tình huống mới phát sinh không để xảy ra cháy rừng và cháy lớn; rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa lực lượng Quân đội, Kiểm lâm, Công an, Bộ đội Biên phòng trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.
Tỉnh yêu cầu xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp hoạt động giữa lực lượng Kiểm lâm với các lực lượng dân quân tự vệ, Công an xã, phường, thị trấn và các lực lượng khác; tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị PCCC rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng.
Ngoài ra, thành lập các đoàn công tác liên ngành tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, xã và chủ rừng triển khai thực hiện nghiêm túc phương án bảo vệ rừng và PCCC rừng; tăng cường lực lượng tổ chức chốt, trạm ở cửa rừng và thường trực tại khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao để kiểm soát người vào rừng.
Các lực lượng chức năng TTKS kiên quyết không cho những đối tượng không có phận sự vào rừng trong thời kỳ cao điểm mùa hè. (Giao Thông 15/7) đầu trang(
Nắng nóng gay gắt kéo dài suốt nhiều tháng qua đã làm cho hàng chục héc ta rừng trồng trên địa bàn các xã Phước Lộc, Phước An, Phước Thành (Tuy Phước) bị khô héo, nhiều diện tích bị chết khô.
Chị Nguyễn Thị Lượm, chủ khu rừng rộng gần 3 ha tại khu vực phía Bắc núi Sơn Triều, xã Phước Lộc, than thở: “Thời tiết nắng nóng kéo dài suốt hơn 3 tháng qua đã làm hơn 1,5 ha rừng keo lai 4 năm tuổi chuẩn bị khai thác bị chết khô. Tôi trồng rừng đã hàng chục năm nay mà chưa khi nào thấy thời tiết khắc nghiệt như năm nay. Nếu trong chục ngày tới trời tiếp tục nắng nóng, không mưa e rằng cả diện tích rừng gần 3 ha của gia đình bị mất trắng. Tiền cây giống, công chăm sóc đầu tư hàng chục triệu đồng trong 4 năm qua chắc đi tong”.
Thống kê của chính quyền địa phương cho thấy, có hơn 24 hộ trồng rừng với diện tích trên 40 ha trên các khu vực núi Sơn Triều, thuộc xã Phước Lộc bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thời tiết hanh khô kéo dài.
Trên địa bàn xã Phước An, qua khảo sát thực tế cho thấy số diện tích rừng bị khô héo và có nguy cơ chết cháy là 31,4 ha (rừng của 50 hộ dân); số diện tích rừng đã chết gần 1 ha. Ông Đoàn Sĩ Nhơn, cán bộ khuyến lâm xã Phước An, cho biết ngoài yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, nguyên nhân làm cho nhiều diện tích rừng trồng tại địa phương bị khô cháy còn do khâu xử lý thực bì của một số hộ trồng rừng chưa đúng quy trình kỹ thuật.
Ông Nguyễn Thành Đạt, Phó Chủ tịch UBND xã Phước Thành, cho biết: Hiện nay, toàn xã có trên 571 ha rừng trồng tự phát và 490 ha rừng thuộc dự án WB3 với 326 hộ gia đình tham gia. Trong đó, hộ ông Cù Văn Mẫn (thôn Bình An 1) có diện tích rừng trồng đến hơn 100 ha, đang đứng trước nguy cơ khô cháy. Cùng thôn có hộ ông Huỳnh Đức Đệ với diện tích rừng trồng hơn 9 ha đã bị khô cháy hơn 8 ha.
Trước tình hình trên, chính quyền, đoàn thể ở các xã đang tập trung tuyên truyền, cảnh báo nguy cơ cháy rừng và phân công tuần tra theo dõi kịp thời đề phòng hỏa hoạn xảy ra. (Báo Bình Định 14/7) đầu trang(
Ngày 8-7 lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT do ông Nguyễn Tấn Bình Quyền Giám đốc Sở cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Ban Quản lý rừng Phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng quản lý hơn 3.600 ha đất rừng phòng hộ và đất rừng.
Trong đó, tập trung ở xã Định Thành và Định An. Hàng năm, Ban Quản lý rừng Phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân trong khu vực về công tác quản lý bảo vệ rừng, xây dựng đường băng cản lửa, các bảng quy ước, biển cấm, biển báo về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Trong mùa khô ngoài lực lượng Quản lý bảo vệ của đơn vị, Ban quản lý rưng còn hợp đồng thêm người dân địa phương, nhằm quy động mọi thành phần cùng tham gia quản lý bảo vệ rừng trong mọi thời điểm.
Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, đồi núi có độ dốc cao, hệ thống đường tuần tra chưa liên thông với nhau trong các khu vực (sườn đông, sườn tây Núi Cậu). Nên công tác tuần tra, kiểm tra còn gặp nhiều khó khăn. Nằm trong rừng phòng hộ còn có Chùa Thái Sơn hằng năm từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch lượng khách hành hương và du lịch với số lượng khá lớn do đó công tác tuyên truyền vận động ngườn dân và kiểm soát người ra vào rừng còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra, trong rừng phòng hộ có trên 73 hộ dân địa phương thường xuyên ra vào rừng bằng nhiều nghề đánh bắt cá, làm rẩy, bẻ măng, sản xuất nương rẫy trong rừng phòng hộ, tập trung ở sườn Tây Núi Cậu, ven theo Hồ thủy lợi Dầu Tiếng.
Ban quản lý rừng đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng chung tay bảo vệ, giữ vững diện tích rừng - mảng xanh môi trường và góp phần quan trọng bảo vệ lòng hồ Dầu Tiếng.
Sau khi khảo sát thực tế công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng chống cháy rừng tại rừng phòng hộ Núi Cậu, Lãnh đạo Sở đánh giá cao công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, nhất là công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng chung tay bảo vệ, giữ vững diện tích rừng-mảng xanh môi trường và góp phần quan trọng bảo vệ lòng hồ Dầu tiếng. (Sở NN&PTNT Bình Dương 15/7) đầu trang(
Thương lái Trung Quốc đặt mua những sản phẩm quái dị, từ rong mơ, giun biển, cây gỗ trắc dây cho đến việc lợi dụng chính sách thông thương để tuồn hàng kém chất lượng như khoai tây, vải thiều... vào thị trường Việt Nam.
Với chiêu bài quen thuộc: Mua giá cao ngất ngưởng, tung tin mua với số lượng lớn rồi bỗng dưng biến mất khiến người nông dân "dở khóc dở mếu", còn các cơ quan quản lý thì đến nay vẫn loay hoay chưa tìm được biện pháp đối phó có hiệu quả.
Các tỉnh miền Trung, từ Thừa Thiên Huế vào đến Quảng Ngãi, Khánh Hòa... phải chứng kiến sự lũng đoạn có chủ đích của thương lái Trung Quốc nhằm phá hoại nền nông nghiệp nước ta.
Làm việc với PV, ông Phạm Lánh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) cho biết, thời gian gần đây, thương lái Trung Quốc tận thu cây gỗ trắc dây trên địa bàn Khánh Hòa.
Đây là cây gỗ thuộc nhóm 1, sống ở đất cằn, cát, chủ yếu mọc ở các đảo xa, ngoài khơi các xã Ninh Lộc, Ninh Hà, Ninh Vân... Thời gian đầu, thương lái mua những thân to, sau đó từ tháng 2 đến tháng 4-2014, tận mua kể cả những cành nhỏ, cân lên với giá 7.000-8.000 đồng/kg khiến người dân khai thác triệt để.
Theo thương lái thu gom cây trắc dây ở xã Ninh Hòa Trần Văn Sang, phía thương lái Trung Quốc tới đặt hàng từ đầu năm 2014 và tiến hành thu mua mạnh trong khoảng 2 tháng (tháng 3, 4-2014).
Ban đầu, họ đặt tiền và trả sòng phẳng, ở lúc cao trào, cây trắc dây được mua với giá từ 13.000 đến 15.000 đồng/kg. Người dân đổ xô đi chặt, có ngày mỗi người được cả 100kg gỗ trắc dây. Thế nhưng từ tháng 5 đến nay thì chững lại. Các đầu nậu chất đống, tồn từ 20 đến 30 tấn gỗ.
Mọi liên lạc với thương lái Trung Quốc đều chỉ qua điện thoại di động. Giờ gọi thì máy họ luôn tắt. Hậu quả để lại là cây trắc dây có khả năng làm sạch không khí, giữ đất tại các đảo xa không có cơ hội tái tạo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. (Hà Nội Mới 16/7, tr8) đầu trang(
Chiều 15-7, lãnh đạo Công an xã Ninh Sim (thị xã Ninh Hòa) cho biết, ông V.D.H (50 tuổi, trú thôn Tân Khánh 1, xã Ninh Sim) đã tử vong khi vào rừng khai thác quả ươi.
Trưa 13-7, ông H. cùng người thân lên khu vực rừng thuộc xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa) khai thác quả ươi.
Tại đây, ông H. cùng một người cháu dùng rìu chặt hạ cây ươi để lấy quả. Khi cây ươi đổ đã đè lên người ông H. làm giập nát 2 chân. Ông được người thân đưa ra khỏi rừng, nhưng đã tử vong do mất quá nhiều máu. (Báo Khánh Hòa 15/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Mai Sơn đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, xã, thị trấn, vận động cán bộ, nhân dân trồng 164.500 cây phân tán tại các khu rừng đầu nguồn và dọc hành lang các tuyến giao thông nông thôn.
Các đơn vị chức năng còn hướng dẫn nhân dân bản Cáp Na, xã Nà Bó trồng cây chắn gió; trồng rừng kinh tế tại bản Xam Ta, xã Chiềng Chung và chăm sóc phục hồi diện tích rừng thông bị cháy tại bản Hịa, xã Mường Chanh.
Tăng cường công tác kiểm tra, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm quản lý bảo vệ rừng; tổ chức 86 đợt tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng với 4.460 lượt người tham gia.
Phát hiện 37 vụ vi phạm, trong đó 17 vụ phá rừng; 20 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ gần 17 m3 gỗ, thu nộp ngân sách trên 866 triệu đồng. (Báo Sơn La 16/7) đầu trang(
Những cánh rừng phòng hộ ở xã Canh Thuận, huyện Vân Canh bị một số người dân phá làm nương rẫy, trồng rừng nguyên liệu… Các biện pháp xử lý của ngành chức năng của huyện không đạt kết quả và tình hình ngày càng trầm trọng hơn.
Khoảng tháng 3.2014 đến nay, một số hộ dân sống tại làng Kà Xiêm, xã Canh Thuận đã lén lút vào rừng phòng hộ để chặt phá cây rừng làm nương rẫy. Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 3 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại khoảnh 6, tiểu khu 375A đã bị đốn sạch. Nhiều loại cây rừng từ 20-30 năm tuổi bị đốn hạ nằm la liệt dưới mặt đất. Những vạt rừng xanh tươi giờ đã tan hoang, chỉ còn trơ lại những khoảnh đất trống, cháy nham nhở.
Việc rừng phòng hộ bị tàn phá đã có tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái. Trước đây, suối Kà Xiêm là nơi cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho 228 hộ dân trong làng, dù nắng hạn đến đâu cũng không đứt nguồn nước. Nay, thời tiết nắng nóng khắc nghiệt, cộng với sự tàn phá rừng phòng hộ đã làm suối Kà Xiêm cạn trơ đáy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt của người dân.
Hiện nay, nhiều hộ dân của làng không có nước uống, thiếu nước để chăn nuôi và trồng trọt, hàng ngày họ phải đi cõng nước từ những lũng đọng về dùng, không đảm bảo vệ sinh, dễ xảy ra dịch bệnh. Bên cạnh đó, hơn 18 ha lúa vụ Hè Thu của làng cũng đang bị cháy khô, mùa màng của bà con coi như mất trắng.
Bà Đinh Thị Phôi, ở làng Kà Xiêm, cho biết: “Thời gian qua, nhiều hộ dân trong làng đã ngang nhiên lên rừng phòng hộ Kà Xiêm phá nát cả một vạt rừng để làm rẫy, làm nương nhưng không thấy ai xử lý. Người dân làng mình nói họ đừng phá rừng họ không nghe, họ còn chửi cho”. Cùng đồng tình với ý kiến bà Phôi, ông Răhlan Kala, ở làng Kà Xiêm, nói thêm: “Phá rừng kiểu này thì hạn hán, nước đâu mà sống. Mong các cấp chính quyền có biện pháp bảo vệ rừng để giữ rừng và giữ nguồn nước cho bà con trong làng”.
Chính quyền xã Canh Thuận cũng đã đưa ra biện pháp phối hợp với các ngành có liên quan để phát hiện và xử lý những đối tượng vi phạm. Ông Lơ O Hòa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Canh Thuận, cho biết: Xã đã phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện, Công an huyện tiến hành xác minh điều tra làm rõ các đối tượng có hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng làm nương rẫy, kịp thời ngăn chặn không để tình trạng phá rừng phòng hộ kéo dài làm mất thêm rừng. Đến nay, xã đã xác định được một số hộ có hành vi phá rừng và đã đưa danh sách lên Ban quản lý rừng phòng hộ Vân Canh để có biện pháp xử lý.
Tuy các cấp, ngành của huyện đã có những động thái tích cực nhằm ngăn chặn hành vi phá rừng nhưng tiến độ vẫn còn quá chậm. Đề nghị UBND huyện Vân Canh sớm chỉ đạo địa phương và ngành chức năng có biện pháp hữu hiệu để rừng phòng hộ không còn bị “chảy máu”. (Báo Bình Định 15/7) đầu trang(
Năm 1998, từ Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng nhằm phủ xanh đất trồng đồi trọc theo quyết định 661 của Thủ tướng chính phủ, hơn 1 triệu cây neem đã được giao cho 1nghìn hộ dân ươm trồng trên những đồi cát có nguy cơ sa mạc hóa của tỉnh.
Thế nhưng, khi rừng neem có thể ngăn cát, chắn gió và dự án kết thúc chu kỳ đầu tư, cũng là lúc cây neem bắt đầu bị đốn hạ. Sau hơn 15 năm, sự có mặt của một chính sách được xem là đúng đắn và thiết thực đang dần mất đi ý nghĩa.
Tình trạng phá rừng trồng đang diễn ra ồ ạt ở những nơi mà trước đây, người dân tham gia trồng rừng. Đây là những diện tích đất đã từng là rừng neem ở xã Phước Hải, huyện Ninh Phước. Dấu tích còn sót lại chỉ là những gốc neem khô mục sau một thời gian dài bị chặt phá...và vài cây neem đang trong tình trạng chết dần.
Ông Châu Cả đã từng là 1 trong 4 người được Ban Quản Lý rừng phòng hộ đầu nguồn ven biển Ninh Phước hợp đồng thuê bảo vệ 120 ha rừng neem. Tuy nhiên, kể từ năm 2009, khi dự án không còn kinh phí tiếp tục hợp đồng với ông, rừng neem được giao lại cho chủ đất quản lý, ngay lập tức, 120 ha neem này đã bị chặt trụi.
Ông Châu Cả - Ngụ tại thôn Thành Tín, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước cho biết: “Cả làng tham gia chặt Neem, ai cũng thi nhau chặt phá mà không ai quản lý nên mới như thế”.
Những hầm than ngay tại rừng neem cứ thi nhau mọc lên để nhiều người tiện lợi hơn trong việc làm than neem đem đi bán.
Nhiều người cho rằng, Dự án kết thúc chu kỳ đầu tư, không còn hỗ trợ người trồng công trồng, chăm sóc; bên cạnh đó, gỗ neem tốt, có thể tận dụng cho nhiều mục đích khác nhau, đó chính là những nguyên nhân khiến cho việc phá rừng neem diễn ra ồ ạt.
Người không có đất trồng neem thì đổ xô đi chặt trộm cây, còn người có đất rừng thì cũng không muốn thiệt thòi nên đành chặt, cưa Neem về sử dụng hoặc bán với giá rẻ.
Ông Kiều Dách – Ngụ tại thôn Thành Tín, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước cho biết: “Không giữ được, bị chặt trộm nhiều nên cả làng cùng cưa cây Neem bán, người khác bán được vài triệu. Nhà có 2 mẫu đất trồng Neem, bán được 8 trăm nghìn”.
Có nhiều lý do để đơn vị tổ chức triển khai dự án trồng neem là BQL rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước giải thích cho việc không thể bảo vệ rừng neem sau hơn 15 năm kể từ khi triển khai dự án.
Ông Trần Ngọc Hiếu - Trưởng BQL Rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước cho biết: “Do lực lượng mỏng, ý thức của người dân, chưa có sự phối hợp tốt từ địa phương được giao quản lý đất rừng như quy định mới”.
Tuy nhiên, lãnh đạo UBND xã Phước Hải, nơi những rừng neem đang ngày một mất dần thì lại có cách lý giải khác.
Ông Châu Văn Biết - Chủ tịch UBND xã Phước Hải, huyện Ninh Phước cho biết: “Không được Ban quản lý rừng bàn giao, có tăng cường tuần tra truy quét, nhưng rừng bị tàn phá hết. Hiện nay, tình trạng phá rừng đã giảm vì người thất nghiệp đi đến chổ khác làm ăn nhiều”.
Có thể thấy rõ sự lúng túng, bất lực trong công tác bảo vệ rừng neem hiện nay...Đó cũng là lý do để đồi cát từng xanh màu cây neem này chỉ còn có cát và gió. Sự đầu tư cho sự sống trên những đồi cát sau 15 năm có thể sẽ quay về con số 0. Không ít người cảm thấy tiếc nuối khi đi qua đồi cát này. (VTV9 15/7) đầu trang(
15.7, TAND huyện Ba Tơ tổ chức phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án “Hủy hoại rừng” đối với bị cáo Đoàn Thế Lợi, 44 tuổi, ở thôn Đồng Vào, xã Ba Bích, huyện Ba Tơ.
Đầu năm 2012, Đoàn Thế Lợi thuê trên chục người dân lên khu vực rừng phòng hộ, xã Ba Bích, huyện Ba Tơ chặt phá gần 60m3 gỗ thuộc nhóm 7 và nhóm 8 với dịên tích bị tàn phá gần 3ha.
Ngay sau đó, lực lượng kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương xã Ba Bích kiểm tra phát hiện và lập biên bản việc Đoàn Thế Lợi phá rừng trái phép và báo cáo vụ việc cấp trên chờ xử lý. Tuy nhiên, Lợi bí mật thuê người đốt cháy toàn bộ cây rừng trên diện tích đã chặt phá để lấy đất trồng cây keo.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt Đoàn Thế Lợi 7 năm tù giam và phải bồi thường giá trên 96 triệu đồng giá trị gỗ rừng bị chặt phá. (Công An Nhân Dân 16/7, tr7) đầu trang(
Không còn cái ăn, chỗ ngủ, đàn sếu về Tràm Chim thưa thớt dần, trước đây có hàng nghìn con, thậm chí có năm lên đến hơn 1.700 con nhưng hiện nay chỉ lưa thưa vài chục.
Tháng 4 vừa qua, PV được Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp mời về thăm lại Đồng Tháp Mười (ĐTM), nơi PV đã có thời gian dài công tác từ năm 1992 về trước.
Chuyến đi đã giúpPV chứng kiến những sự thay đổi lớn lao về cuộc sống của người dân, sự phát triển của hạ tầng, sản xuất nông nghiệp… nhưng cũng day dứt về sự biến dạng của Vườn Quốc gia Tràm Chim, nơi kỳ vọng lưu giữ được cảnh quan của một ĐTM cùng hệ sinh thái đặc trưng.
Về thăm VQG Tràm Chim (huyện Tam Nông) vào cuối tháng 4/2014, thời điểm khốc liệt nhất của mùa khô.
Trái ngược với cái nóng chang chang 36oC trên đường đi, Tràm Chim, cái rốn của ĐTM, lại xanh ngắt và mát rượi. Chiếc tàu chở PV vào trung tâm vườn theo lối kinh bao phía Phú Hiệp - kinh Mười Nhẹ - trạm quan sát số 3, kinh vẫn đầy ắp nước bạc và nếm thử vẫn không thấy vị chát của phèn.
Ngày trước ông cha mình thấy kinh có màu đỏ “Trời xanh, kinh đỏ, đất xanh” (ca dao) và mùa khô năm 1986, tôi cũng từng thấy nước trong các bưng, các kinh nhỏ ở Tam Nông này có màu đỏ, còn trên các kinh lớn nước lại trong xanh như mắt mèo, nếm có vị chát xít. Màu và vị của nước được tạo nên bởi phèn.
Phèn là nhân tố chính làm cho ĐTM có tên gọi khác là cánh đồng chết. Vào mùa khô, khi mực nước trên sông Mekong xuống thấp, cánh đồng rơi vào tình trạng khô hạn, phèn trong đất xì lên làm cho độ pH giảm xuống chỉ còn từ 3-4, thậm chí 2-3.
Trong môi trường axít như vậy, ngoài một số cây có tính chống chịu cao vẫn sống sót được nhờ rơi vào trạng thái tiềm sinh, còn hầu hết các cây cỏ khác đều bị chết khô.
Trước đây người Pháp không gọi tên Đồng Tháp Mười mà gọi là cánh đồng lau sậy. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của ĐTM đã tạo nên một hệ sinh thái đặc trưng, phần lớn diện tích đều là những trảng cỏ, lung bàu, năn, lác, đưng, đế, sậy...
Các cây thân gỗ bản địa như tràm, trâm bầu, tre gai, tuy vẫn phát triển được nhưng không tập trung và vẫn như là còi cọc. Vậy mà, thảm thực vật VQG Tràm Chim nay vào đỉnh điểm mùa khô vẫn xanh tươi.
Trên con kinh Mười Nhẹ, hàng hàng cây tràm, bạch đàn, gáo lực lưỡng, xanh um nối tay nhau tít tắp che rợp cả dòng kinh. Trước đây cây tre gai cũng được người dân trồng nhiều dọc theo các dòng kinh Phú Hiệp, Đồng Tiến nhưng tre ngày đấy xơ xác như chiếc chổi cọng dừa dựng ngược, còn nay cũng những cây tre gai đấy ở VQG Tràm Chim nhưng sao chúng xanh tốt chẳng khác gì tre dọc sông Tiền.
Cũng là cây tràm, nhưng tràm ĐTM khác xa tràm rừng U Minh ở Cà Mau, Kiên Giang bởi U Minh là nước ngọt. Rừng tràm U Minh có nguồn gốc rừng tự nhiên, to lớn hơn còn tràm ở ĐTM là rừng trồng, tự nhiên chỉ có cây phân tán không to cao được như U Minh.
Vẫn có người nhầm rằng ở ĐTM có kèo ong tràm như rừng U Minh nên đến Tràm Chim cứ nằng nặc mua mật ong tràm. Đáp ứng nhu cầu đấy, VQG Tràm Chim đã đặt nuôi những tổ ong Ý dọc theo một số bờ kinh có tràm. Thật ra ong tự nhiên ở ĐTM chủ yếu là loại ong nhỏ (ong ruổi) làm tổ trong lau sậy, có tổ chỉ bằng chai nước suối. Việc đưa ong ngoại lai vào Tràm Chim dễ gây hiểu nhầm.
Năm 1986, người ta mới phát hiện ra ở Tràm Chim có sếu đầu đỏ (còn gọi là chim hạc), một loại chim quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Thực ra, người dân Tràm Chim không xa lạ gì với sếu, bởi tự bao giờ, cứ vào khoảng sau Tết Nguyên đán đến rằm tháng 5 âm lịch thì đàn sếu ở đâu lại về đây kiếm ăn. Chúng về đây vì Tràm Chim là “vựa năn kim” mà củ năn kim là thức ăn khoái khẩu của chúng.
Theo TS Dương Văn Ni, ĐH Cần Thơ, ĐTM có đến 5 loài năn khác nhau, nhưng dân giã thì chỉ phân biệt 2 loài là năn ống và năn kim. Có trảng chỉ chủ yếu là năn ống, có trảng chủ yếu năn kim hoặc cũng có thể hỗn giao cùng với một số cỏ khác như cỏ ống, cỏ mờm…
Cây năn bắt đầu phát triển vào mùa mưa, đến tháng 11 cây năn ống có thể cao tới trên 2 m, thân to gần bằng chiếc đũa, còn năn kim thì thấp, nhỏ và mềm hơn. Khi bước vào mùa khô, năn kim già, tàn và để lại chùm củ cho mùa sau và sếu là kẻ dự phần khai thác.
Khi yêu cầu được xem năn kim, cô hướng dẫn viên du lịch Tràm Chim tỏ ra lúng túng và phải mất nhiều cuộc điện thoại, cô mới xác định được vị trí là khu A1, cách trạm C4 600 m. Tàu tấp vào bờ, nước trong kinh đào chỉ thấp hơn mặt ruộng khoảng 30 cm, nước vẫn bạc và nếm vẫn ngọt.
Trước đây, vào tháng cao điểm mùa khô này, nước đã đỏ quạch, cánh đồng này đã khô cong lên, năn ống, năn kim, cỏ ống, cỏ bờm đã khô vàng nhưng nay vẫn xanh tươi. Phải dùng tay vạch lối qua thảm cỏ tốt um khoảng gần 100 m mới đến chỗ năn mọc và cũng phải tìm mãi mới thấy được một bãi có năn kim ước chừng 3.000 m2 xen lẫn trong năn ống.
Nhìn các gốc cây năn kim được nhổ lên, tôi biết đã có đàn sếu qua đây nhưng với diện tích, năng suất và sản lượng ít như thế thì không đủ cho sếu ăn 1 ngày. Cô gái cùng PV cố bới tìm mấy củ năn kim nhưng loay hoay mãi mới may mắn tìm được một củ chỉ bằng hột đậu, có hình thù như củ ấu.
Cùng với việc mất nguồn thức ăn, bãi ngủ của sếu cũng không như trước vì sếu thường ngủ đêm ở những bãi đất cao, khô ráo, trống trải giữa các trảng cỏ, còn hiện nay cả Tràm Chim không còn tìm được chỗ nào “khô cong lên” cho sếu ngủ. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/7, tr15) đầu trang(
Ngày 15-7, kỳ họp thứ 12 HĐND tỉnh khai mạc. Nhiều ý kiến của cử tri bức xúc về việc rừng văn hóa lịch sử Chàng Riệc (Tân Biên) bị tỉa thưa, chặt cành, chặt gốc.
Theo cử tri, trước đây giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh đã hứa khắc phục tình trạng này nhưng đến nay rừng Chàng Riệc vẫn tiếp tục bị chặt phá, thậm chí bị bao chiếm để làm rẫy.
Cử tri yêu cầu ngành chức năng cho biết vì sao không xử lý dứt điểm được tình trạng phá rừng và xác định trách nhiệm trong việc này. (Tuổi Trẻ 16/7) đầu trang(
Từ 14 -16/7, tỉnh Gia Lai tổ chức kỳ họp thứ 7 - HĐND tỉnh khóa X, tại kỳ họp, rất nhiều vấn đề ở lĩnh vực tài nguyên - môi trường được đưa ra “mổ xẻ”.
Đáng chú ý, tình trạng phá rừng trên địa bàn tỉnh ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, có nhiều cán bộ, kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc phá rừng.
Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2014, ngành chức năng của tỉnh Gia Lai đã phát hiện 491 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 584m3 gỗ, nộp ngân sách gần 10 tỷ đồng. (Sài Gòn Giải Phóng 16/7) đầu trang(
Trạm bảo vệ Đức Bình thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, Tánh Linh tuần tra, phát hiện rừng đặc dụng tại tiểu khu 344 bị lâm tặc triệt hạ 20 cây gỗ thuộc nhóm III đến nhóm V với khối lượng gỗ gần 80 m3.
Tại hiện trường, dấu vết cưa còn mới, nhiều lóng gỗ chưa kịp đưa ra ngoài. Trong số cây gỗ bị đốn hạ, lâm tặc đã lấy đi khoảng 42 m3. Căn cứ dấu vết tại hiện trường, cơ quan chức năng xác định lâm tặc đã dựng lều bạt, cưa xẻ theo quy cách tại chỗ trước khi đưa đi tiêu thụ. Hiện trường đang được giữ nguyên để phục vụ công tác điều tra do mức độ thiệt hại đã vượt khung xử phạt hành chính.
Chiều 15-7, ông Trương Văn Thưởng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh, cho biết đang yêu cầu các đơn vị có trách nhiệm báo cáo về vụ phá rừng nghiêm trọng này. (Pháp Luật TPHCM 16/7) đầu trang(
Chiều 14/7, các đại biểu HĐND tỉnh ở các đơn vị bầu cử huyện Tương Dương, Thanh Chương, Tân Kỳ (tổ 6) đã thảo luận tại tổ trong kì họp thứ 11, HĐND tỉnh khóa XVI.
Ông Lê Quang Đạt – Bí thư huyện ủy Thanh Chương, ĐBHĐND huyện Thanh Chương chủ trì buổi thảo luận.
Tại buổi thảo luận, các đại biểu thống nhất cao các báo cáo của UBND tỉnh về tình hình kinh tế -xã hội 6 tháng đầu năm. Bên cạnh đó, các đại biểu có các ý kiến về những vấn đề tồn tại, hạn chế ở một số lĩnh vực.
Trong việc đầu tư xây dựng NTM, các đại biểu thống nhất nhận định, tốc độ xây dựng NTM từ đầu năm 2014 đến nay được đẩy nhanh và mục tiêu năm 2014 có nhiều khả năng vượt. Tuy nhiên về mục tiêu dài hạn còn nhiều vấn đề đặt ra.
Tỉnh cần làm rõ trách nhiệm về tình trạng cháy rừng diễn ra trong thời gian qua và có giải pháp ngăn chặn. Bên cạnh đó, việc bình xét hộ nghèo vẫn chưa sát cần phải có thay đổi trong cách thức bình xét theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể…(Báo Nghệ An 14/7) đầu trang(
Sâu róm đang bùng phát và gây hại nặng đối với diện tích rừng thông ở tỉnh Quảng Trị. Nếu không có những biện pháp hữu hiệu, diện tích rừng thông bị ảnh hưởng là khó phục hồi và có nguy cơ lây lan ra diện rộng.
Khác với mọi năm, sâu róm thông thường xuất hiện phá hoại trong khoảng thời gian tháng Giêng, nhưng năm nay có hiện tượng khác thường, sâu róm xuất hiện cắn phá thời gian dài từ tháng giêng đến tháng 5 và 6 với mức dữ dội.
Một cây thông chỉ sau 3- 4 ngày là đã ăn trụi lá. Theo thống kê, đã có 140 ha thông bị ảnh hưởng, trong số đó có 40 ha bị thiệt hại nặng bị ăn trụi lá hoàn toàn.
Hiện tại toàn bộ diện tích thông bị sâu róm cắn phá đã tạm dừng khai thác nhựa và phải mất từ 3- 4 năm cây thông mới phục hồi hoàn toàn khi đó mới tiếp tục khai thác trở lại.
Theo dự báo vào tháng 8 tới sẽ tiếp tục có thêm một đợt sâu róm mới xuất hiện, đây cũng chính là thời điểm mà diện tích thông bị cắn phá tiếp tục ra lá non, tuy nhiên nếu như không có giải pháp ngay từ bây giờ thì nguy cơ sâu tấn công trở lại rất cao làm cho diện tích thông không còn sức phục hồi dẫn đến bị chết khô. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 14/7) đầu trang(
13/7, trong lúc lực lượng tuần tra của Vườn Quốc gia U Minh Hạ kiểm tra tại khu vực khoảnh 22, tiểu khu III thuộc khu vực cấm nghiêm ngặt của Vườn quốc gia U Minh Hạ, thì phát hiện có 03 đối tượng lạ mặt đang ở trong rừng.
Khi thấy có người đến, cả 03 đối tượng cùng bỏ chạy, lực lượng tuần tra đã tổ chức vây bắt được 01 đối tượng và thu giữ một số vật dụng đi rừng.
Đối tượng bị bắt giữ là Huỳnh Thanh Tâm (sinh năm 1979), thường trú tại ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời. Tang vật thu giữ gồm 02 bình ắc quy (dùng để “xiệc” điện), 02 chai gas mini, đuốc lấy ong, bao gùi...
Qua lấy lời khai, Tâm thừa nhận vào rừng để lấy mật ong và “xiệc” động vật hoang dã, đồng thời khai ra hai đối tượng cùng vào rừng đã chạy thoát là Ngô Trung Đẳng, thường trú tại Đội III, ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi và ông Bảy Đạt, thường trú tại xã Khánh Bình Đông.
Ngày 14/7, khi Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia mời làm việc thì Tâm và 02 đối tượng còn lại đã rời khỏi nơi cư trú. Lực lượng bảo vệ rừng của Vườn quốc gia U Minh hạ trở lại hiện trường, mở rộng vùng tìm kiếm thì phát hiện thêm 03 cần bẫy nai.
Thời điểm nay đang vào mùa sinh sản của các loài động vật hoang dã. Trong khi ngành chức năng đang ra sức bảo vệ thì cả các đối tượng trên đã liều lĩnh vào rừng, không chỉ dùng bẫy để săn bắt động vật mà táo bạo hơn, còn dùng xiệc điện để bắt động vật.
Đây là một phương pháp săn bắt mới, không chỉ nguy hiểm cho các loài động vật hoang dã mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Thiết nghĩ việc làm này cần phải được xử lý nghiêm.
Hiện sự vụ đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra xử lý. (Báo Ảnh Đất Mũi 15/7) đầu trang(
Đây là mục tiêu tập huấn diễn ra trong 3 ngày từ 10-12/7 tại Đà Lạt đối với cán bộ đến từ các khu bảo tồn, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Tà Đùng, Chu Yang Sin, Krong Trai, Yok Don, Biduop-Núi Bà và Chu Mom Ray.
Nội dung tập huấn do các tiến sĩ đến từ Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và thuộc khuôn khổ của Dự án “Khắc phục trở ngại tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn tại Việt Nam” gọi tắt là PA tổ chức.
Theo đó, các cán bộ quản lý khu bảo tồn, vườn quốc gia được cập nhật những kiến thức mới cùng thảo luận và khảo sát thực tế những nội dung như: Lồng ghép nội dung ĐDSH trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) các dự án phát triển; Xây dựng kế hoạch quản lý; Xây dựng kế hoạch tài chính bền vững.
Dự án PA do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEP) tài trợ thông qua Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), do các chuyên gia quốc tế và trong nước soạn thảo, xây dựng. (Báo Lâm Đồng 13/7) đầu trang(
6 tháng đầu năm 2014, Chi cục kiểm lâm Hà Nội đã tham mưu để UBND Thành phố xử lý 8 vụ vi phạm hành chính, trực tiếp xử lý 59 vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng; thu nộp ngân sách hơn 1,2 tỷ đồng, đạt gần 57% kế hoạch.
Chi cục kiểm lâm Hà Nội đã thực hiện tốt nhiệm vụ 6 tháng đầu năm trong việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng, nắm rõ tình hình trên địa bàn, không để xảy ra tình trạng phá rừng, hạn chế cháy rừng…
Cùng với đó, Chi cục đã xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch nghiệp vụ về công tác bảo tồn tài nguyên sinh vật rừng, quản lý động vật hoang dã năm 2014; kiểm tra, quản lý 317 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã; chuyển giao 2 cá thể gấu và 1 một cá thể vượn đen má trắng loài động vật hoang dã quý hiếm đến Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã để quản lý.
Phát biểu tại buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm về kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014 sáng 15/7, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt cho rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, Chi cục Kiểm lâm vẫn còn nhiều tồn tại.
Đó là việc phối hợp hoạt động trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, giao đất giao rừng còn hạn chế; tình trạng cháy rừng ở khu vực Sóc Sơn vẫn còn nhiều phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; vấn đề quản lý buôn bán lâm sản, động vật hoang dã vẫn còn nhiều lỗ hổng và nhức nhối…
Để khắc phục những hạn chế này, Phó Chủ tịch Trần Xuân Việt yêu cầu, trong thời gian tới Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tổng điều tra, phân loại các dự án, bố trí kinh phí dựa trên kiểm kê, xây dựng bản đồ quản lý, quy hoạch rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch phát triển rừng giai đoạn (2016-2020). Chú trọng bảo vệ trông coi phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ động vật hoang dã…
Bên cạnh đó kiện toàn bộ máy lãnh đạo, nâng cao trình độ cán bộ và bổ sung cán bộ một cách hợp lý, đảm bảo cán bộ được phân cấp; đẩy nhanh tiến độ các dự án, đề án, trong đó ưu tiên những dự án cấp bách phục vụ đắc lực cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ngoài ra, xây dựng mô hình hợp lý để làm giảm thảm thực bì và làm tăng thêm nguồn thu từ rừng. (Chính Phủ 15/7; Kinh Tế & Đô Thị 15/7; Hà Nội Mới 16/7, tr3) đầu trang(
Trước thực trạng rừng ở Đà Nẵng bị tàn phá, dư luận đòi hỏi chính quyền các cấp, cơ quan chức năng cần triển khai quyết liệt, hiệu quả hơn nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nếu không ngăn chặn được tình trạng phá rừng như thời gian qua, thì không bao lâu nữa, rừng Đà Nẵng sẽ chẳng còn.
Một ngày cuối tháng 6, từ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Sông Nam ở cuối thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang), theo con đường độc đạo lổn nhổn đá, PV vượt qua đèo Mũi Trâu chừng 4-5 cây số.
Hiện ra trước mắt là hàng trăm ha rừng nguyên sinh ở khu vực này đã biến mất, nhường chỗ cho rừng keo lai đang kỳ thu hoạch. Khu vực này bị băm nát bởi khá nhiều đường ô-tô mới mở ngược lên các sườn đồi để chở gỗ rừng trồng. Sát đó, rừng tự nhiên đã thưa thớt cây. Có chăng, khu vực gần đỉnh, khép tán khá dày.
Cuốc bộ lên núi, vừa chớm rừng tự nhiên, mọi người phát hiện giữa rậm rạp lau lách một lối nhỏ từ sườn núi xẻ thẳng xuống, vết trượt gỗ còn nguyên. Nhận định khu rừng phía trên là nơi lâm tặc tàn phá, mọi người níu cành cây, leo từng bước nặng nhọc ngược lối gỗ trượt xuống, dốc đứng, trơn trượt.
Lội khắp lượt khu rừng đã vắng bóng các cây gỗ lớn, trong phạm vi chừng 1ha, PV phát hiện gần 20 gốc cây trơ trọi, gỗ đã vận chuyển đi hết. Giở tấm sơ đồ đem theo, anh Thành, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cho biết, nơi PV đang đứng là khoảnh 4, tiểu khu 20.
Đây là một phần trong số hàng trăm ha thuộc các tiểu khu 17, 20 và 24, do Công ty CP Vinafor Đà Nẵng quản lý. Doanh nghiệp này được Lâm trường Sông Nam (cũ) giao quản lý 1.547ha từ năm 1997 đến nay, trong đó 724ha rừng tự nhiên khu vực tiếp giáp rừng trồng, thuộc diện khoanh nuôi tái sinh.
Ở những khu vực chung quanh, đến đâu cũng bắt gặp tình trạng tương tự. Những cây gỗ đường kính chỉ khoảng 30-40cm bị chặt hạ. Có gốc, tại vết cưa lốc, nhựa ứa ra còn đỏ thẫm như máu. Đứng tại sườn đồi, nhìn bao quát khắp lượt, ai cũng đều cảm thấy nhói lòng, khi cả khu vực rừng tự nhiên rộng lớn đã vắng những cây gỗ lớn.
Có chăng một vài cây đơn lẻ giữa thảm thực vật dày đặc lau lách, cây bụi. Và càng xót xa hơn khi biết những cây to đơn côi ấy bị rỗng ruột hoặc gỗ chẳng ra gì, lâm tặc chừa lại. Với những gì chứng kiến tại rừng, mới hay, 140 phách gỗ bị phát hiện thu giữ vào trung tuần tháng 6 vừa qua, chỉ là phần nhỏ trước sự tàn phá ghê gớm của lâm tặc tại các khu rừng phía cực Tây Đà Nẵng.
Không chỉ rừng phía tây bắc giáp lâm phận Thừa Thiên-Huế bị cạn kiệt tài nguyên, mà tại tiểu khu 54 Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, ở phía tây nam Đà Nẵng giáp huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) cũng bị “xẻ thịt” khá nghiêm trọng. Đầu tháng 6 vừa qua, dân quân xã Hòa Phú cùng lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng của Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa phát hiện gần 20 cây gỗ to bị lâm tặc chặt hạ, tại hiện trường chỉ còn những tấm bìa và đống mạt cưa còn mới.
Chưa hết, tại tiểu khu 44 rừng phòng hộ Hòa Ninh (huyện Hòa Vang) cũng vừa bị tàn phá rất đáng báo động. Trong số 3,51ha bị xâm hại, có 1,93ha bị chặt trắng hoàn toàn, thiệt hại về tài nguyên rừng rất lớn. Với những gì xảy ra tại hiện trường, vụ phá rừng này đã gây sốc đối với cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.
Được biết, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang cùng cơ quan liên quan đang thụ lý hồ sơ chuẩn bị truy tố vụ phá rừng này. Tương tự, rừng tại các tiểu khu 27, 29, lâm phận Hòa Vang, nhất là khu vực sát mỏ vàng Khe Đương cũng liên tục bị tàn phá. Theo người dân địa phương, kể từ khi đường từ thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc vào mỏ vàng Khe Đương, được sửa chữa để ô-tô vào vận chuyển máy móc thiết bị ra khỏi rừng, tình trạng phá rừng diễn ra hết sức phức tạp.
Rừng ở Đà Nẵng không nhiều, chỉ hơn 50.000ha, trong đó gần 30.000ha là rừng đặc dụng. Trong khi, lực lượng bảo vệ rừng gồm 102 cán bộ, nhân viên kiểm lâm; gần 40 người của Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cùng lực lượng dân quân, công an các địa phương; trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện bảo vệ rừng ngày càng đầy đủ, kinh phí không thiếu. Thế nhưng rừng vẫn bị tàn phá hằng ngày.
Trước thực trạng rừng ở Đà Nẵng bị tàn phá, dư luận đòi hỏi chính quyền các cấp, cơ quan chức năng cần triển khai quyết liệt, hiệu quả hơn nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nếu không ngăn chặn được tình trạng phá rừng như thời gian qua, thì không bao lâu nữa, rừng Đà Nẵng sẽ chẳng còn. (Báo Đà Nẵng 15/7) đầu trang(
Những cánh rừng xanh thẳm bạt ngàn này rộng 45.000ha của Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (huyện Mường Nhé), trải dài qua 5 xã: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé và Nậm Kè, Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé có đường biên giới dài hàng trăm km với thảm thực vật đa dạng, phong phú, nhiều cánh rừng nguyên sinh còn nguyên vẹn nằm trong khu phục hồi sinh thái rừng và khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Vào những năm 1980, rừng Mường Nhé giữ kỷ lục trên cả nước ta, với diện tích hơn 310.000ha, độ che phủ cao nhất tỉnh (63%). Hệ sinh thái rừng của Khu Bảo tồn có hàng nghìn loài động thực vật nằm trong thảm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, 742 loài thực vật, 257 loài chim, 130 loài thú thú và bò sát...
Trong đó có 29 loài thực vật, như: Pơ mu, dổi, trầm hương, re, lát hoa, và 45 loài động vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam, như: Voi, bò tót, nai, linh trưởng, vọoc xám gấu, tê tê, công, niệc cổ hung, trăn mốc...
Những năm gần đây, tình trạng phá rừng bừa bãi, dân di cư tự do ồ ạt vào địa bàn, phá hoại nhiều cánh rừng, săn bắn giết hại nhiều loài động vật, trong đó có các động, thực vật quý hiếm, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng khu sinh thái này, làm giảm dần diện tích rừng, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như: Cháy rừng, sạt lở, lũ lụt... ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của nhân dân các dân tộc sinh sống ven Khu Bảo tồn và huyện Mường Nhé.
Trước mối hiểm họa đe dọa đến khu sinh thái thiên nhiên duy nhất của tỉnh, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé và Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn đã có các biện pháp giữ rừng, bảo vệ tài nguyên bằng các hoạt động như: Dựng hàng trăm các biển cấm phá rừng; phối hợp với kiểm lâm địa bàn các xã tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân. Một trong những hoạt động mạnh mẽ nhất là tuần tra bảo vệ rừng, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi phá rừng, săn bắn thú rừng trái phép.
Cán bộ bảo lâm xã, Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn phối hợp với một số người dân xã Chung Chải đi tuần tra khu vực phục hồi sinh thái rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. Từ sáng sớm, hành trình của các anh đã bắt đầu từ cột mốc 62, 63 đi vào khu đặc dụng. Đoạn tuần tra vượt qua các cánh rừng nằm giáp ranh với xã Leng Su Sìn, nhiều vực sâu và khe suối của suối Nậm Ma và Nậm Nhé. Do địa hình phức tạp, diện tích quản lý lại rộng nên các kiểm lâm viên phải băng rừng, lội suối, đi bộ cả chục cây số.
Mỗi chuyến tuần tra thế này, tùy thuộc vào tình hình cụ thể, đoàn tuần tra đi từ 3 - 5 ngày, men theo đường rừng tới những khu phục hồi sinh thái. Quanh các khu vực này, có rất nhiều người dân sinh sống, đa số là người dân tộc Mông di cư tự do ở nơi khác đến đây. Họ dựng nhà và vào Khu Bảo tồn chặt gỗ, săn bắn thú tự nhiên. Do đó, khi phát hiện các đối tượng, đội tuần tra phải nhắc nhở, tuyên truyền cho họ nhận thức được tầm quan trọng của rừng, để không chặt phá rừng, bắn giết thú rừng.
Qua những chuyến tuần tra, đội tuần tra đã phát hiện và bắt giữ nhiều đối tượng phá rừng, săn bắn động thực vật trái phép. Lần gần đây nhất, đội tuần tra đã phát hiện, lập biên bản xử lý các đối tượng đang chặt, xẻ gỗ pơ mu tại Tiểu khu 178, trên địa bàn xã Nậm Kè, thu giữ tang vật và giao các đối tượng cho lực lượng chức năng xử lý. Chính nhờ hoạt động mạnh mẽ đã hạn chế được tình trạng phá rừng, săn bắn thú trái phép, góp phần giữ màu xanh của rừng Mường Nhé.
Đến nay, ngoài việc giữ gìn bảo vệ, phục hồi rừng Khu Bảo tồn, chính quyền huyện Mường Nhé đang có Dự án phát triển Khu Bảo tồn thành điểm tham quan du lịch. Hy vọng rằng, trong tương lai gần, dự án sẽ được triển khai và có hiệu quả, vừa giữ được rừng, bảo vệ được động thực vật, vừa trở thành nơi thăm thú cho con người, giúp họ tăng thêm sự hiểu biết về lợi ích từ rừng mà giữ rừng, giữ màu xanh của sự sống. (Báo Điện Biên Phủ 14/7) đầu trang(
UBND huyện Đức Trọng cho biết, trong 6 tháng đầu năm nay, các ngành chức năng huyện thông qua kiểm tra đã phát hiện và xử lý 94 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Cụ thể, có 6 vụ phá rừng trái pháp luật; 12 vụ khai thác rừng trái phép; 32 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 36 vụ mua bán cất giữ lâm sản trái phép; 3 vụ vi phạm quy định nhà nước về phòng chống cháy rừng, gây cháy rừng; 5 vụ vi phạm qui định chung về bảo vệ rừng.
Các ngành chức năng đã tịch thu 27,6m3 gỗ tròn; trên 23m3 gỗ xẻ các loại trong đó có gỗ quý hiếm, 7 xe máy, 3 máy cưa; thu nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng. Trên địa bàn đã xảy ra 12 vụ cháy rừng với diện tích 1,9ha, được các ngành chức năng phát hiện và xử lý kịp thời.
Các ngành chức năng huyện trong 6 tháng cũng tổ chức giải tỏa trên 12ha cây trồng trên đất lâm nghiệp tại các xã Ninh Loan, Đà Loan, Tà Hine và Phú Hội. (Báo Lâm Đồng 14/7) đầu trang(
Chỉ sau 9 tháng tiếp nhận nhưng có đến gần 200ha rừng sản xuất và rừng tự nhiên ở một xã miền núi của tỉnh Phú Yên bị lâm tặc tàn phá lấy gỗ và đất sản xuất.
Những cánh rừng đang ngày ngày ngã xuống trong khi đó chính quyền xã cho rằng đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp ngăn chặn. Không phải cho đến lúc này mà đã từ lâu việc giao rừng cho xã quản lý tại một số tỉnh ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên nảy sinh nhiều bất cập nên đã xảy ra tình trạng phá rừng hàng lọat trên những diện tích đã giao về các xã tiếp quản.
Những cây gỗ keo và dầu rái trồng gần 17 năm đã bị lấm tặc đốn hạ và tập kết chuẩn bị vận chuyển ra khỏi rừng. Những cây gỗ to của cả một cánh rừng tự nhiên bị lâm tặc xẻ gỗ. Trên những diện tích rừng đã bị xẻ thịt là những vườn sắn mọc lên. Phá rừng hàng loạt đang xảy ra ở những cánh rừng tự nhiên và rừng trồng thuộc khu vực Mũi Thuyền do xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa, Phú Yên quản lý.
Từ tháng 9 năm 2013, Xã Sơn Thành Tây chính thức tiếp nhận hơn 3.800 ha rừng trồng và rừng tự nhiên từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bàn Thạch. Diện tích này sẽ giao cho người dân quản lý. Theo qui đinh, rừng tự nhiên không được khai thác, còn với những diện tích rừng trồng đã 17 năm tuổi chỉ được thu hoạch khi có phương án chi tiết trình lên cơ quan chức năng. Thế nhưng sau khi tiếp nhận chưa được bao lâu thì rừng đã bị tàn phá.
Theo tìm hiểu của phóng viên ở đây có 2 hình thức phá rừng. 1 là phá rừng lấy gỗ và 1 phá rừng để lấy đất trồng sắn. Điều khó hiểu, là những cây gỗ to bị cưa xẻ hay hàng lọat gỗ keo, dầu rái trồng gần 17 năm tuổi bị đốn hạ khi vận chuyển ra khỏi rừng thì số lượng gỗ bị bắt giữ rất ít. Lãnh đạo xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên thừa nhận có tình trạng phá rừng xảy ra ở khu vực Mũi Thuyền và rất nghiêm trọng.
Thực tế, khu vực rừng bị phá nằm khá xa Trung tâm xã, trong khi cả xã chỉ có duy nhất 1 cán bộ lâm nghiệp. Đó là những lý do được lãnh đạo xã Sơn Thành Tây lý giải dẫn đến phá rừng. Và đây là vấn đề cần được tính đến khi bàn giao rừng cho ai quản lý và quản lý như thế nào cho có hiệu quả để những cánh rừng hàng chục năm tuổi bị đốn hạ không thương tiếc như thế này. (VTV9 14/7) đầu trang(
Thời tiết hiện nay trên địa bàn huyện Sơn Tây rất nắng nóng, cộng với việc đốt nương làm rẫy của nhân dân nên nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra là rất lớn. Người dân cùng với các ngành chức năng ở huyện đang ra sức bảo vệ những cánh rừng ở huyện, quyết tâm không để cháy rừng xảy ra.
Ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR huyện Sơn Tây đã tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR. Hiện nay, huyện thành lập Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR), giai đoạn 2011-2020, ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo.
9/9 xã đã có Kiểm lâm phụ trách địa bàn thực hiện nghiêm túc những nội dung quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn cấp xã và tổ chức tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo vệ rừng, PCCCR đến từng khu dân cư, hộ gia đình.
Đồng thời hợp đồng nhân sự bảo vệ rừng, PCCCR để kịp thời ứng phó, xử lý mọi tình huống khi có cháy rừng xảy ra; tăng cường kiểm tra, truy quét những điểm thường xảy ra phá rừng, khai thác rừng trái phép. Kiện toàn lại 9 Ban chỉ đạo về Kế hoạch BV&PTR trên địa bàn các xã. Toàn huyện thành lập 26 đội với 314 người và 86 tổ với 670 người là thành viên của tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng ở cơ sở; đây là lực lượng sẵn sàng tại chỗ của các thôn và khu dân cư để phát hiện và ứng phó khi có cháy rừng xảy ra.
Đến thời điểm này, Kiểm lâm địa bàn đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức hàng chục đợt tuyên truyền trực tiếp cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn các xã với trên 1.700 lượt người tham gia dự họp và ký cam kết bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở từng cộng đồng dân cư thôn, xem đây là một việc làm thường xuyên mang tính lâu dài và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Tuy hiện nay là mùa đốt nương làm rẫy của đồng bào, song các ngành chức năng quyết tâm ngăn chặn không cho dân phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép để làm nương rẫy, đồng thời tuyên truyền trong đông đảo nhân dân về mục đích, ý nghĩa rất quan trọng và những yêu cầu cụ thể trong việc PCCCR; vận động nhân dân khi đốt nương rẫy cần chú ý làm băng chắn lửa và dập hết lửa trước khi ra khỏi rừng. Khi có cháy rừng xảy ra, thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ) để dập tắt.
Các ban, ngành và hội đoàn thể ở các địa phương trong huyện cũng đã xác định công tác tuyên truyền và tập huấn PCCCR đến tận từng người dân, nhất là bằng hình thức diễn tập ở hiện trường, lồng ghép trong các cuộc họp thôn, KDC.
Nhờ vậy nhiều tổ viên, đội viên PCCCR ở cơ sở trước đây chỉ biết về những nhiệm vụ chung chung thì nay đã biết cách phát hiện các đám cháy mới xuất hiện; cũng như cơ động sẵn sàng áp dụng phương châm 4 tại chỗ để xử lý dứt điểm những đám cháy xảy ra.
Anh Nguyễn Thanh Hùng - kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Sơn Dung xác định: Công tác tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân không phá rừng làm nương rẫy là nhiệm vụ hàng đầu, làm cho nhân dân hiểu được việc phá rừng, hậu quả của cháy rừng.
Công tác tuyên truyền được lồng ghép với các cuộc họp, trong đó phối hợp với các ban, ngành đoàn thể để tuyên truyền cho nhân dân hiểu được tầm quan trọng của rừng và không phá rừng. Cách sử dụng lửa trong đốt nương làm rẫy nhằm hạn chế cháy rừng xảy ra trên địa bàn.
Hạt kiểm lâm huyện đã tăng cường sửa chữa những biển báo nguy cơ cháy rừng ở từng xã; thường xuyên tổ chức tuần tra để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những vụ việc có thể gây ra cháy rừng.
Ông Bùi Đình Lĩnh - Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sơn Tây cho biết thêm, chúng tôi chủ động ngay từ đầu năm, đã triển khai cho kiểm lâm địa bàn thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục cho bà con. Đồng thời kiện toàn lại các tổ, đội PCCCR mùa khô năm 2014 để đảm bảo đi vào hoạt động khi có sự cố cháy rừng xảy ra. (Báo Quảng Ngãi 13/7) đầu trang(
Lãnh đạo Viện kiểm soát nhân dân (VKSND) Tối cao vừa có văn bản yêu cầu Viện kiểm soát nhân dân tỉnh kiểm tra, báo cáo việc xử lý vụ phá trắng 25,3 ha rừng phòng hộ tại tỉnh.
Theo đó với 25,3 ha rừng phòng hộ, phần lớn là rừng giàu bị phá trắng, giá trị tài sản thiệt hại là nhiều tỷ đồng.
Tuy nhiên, Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Khánh Vĩnh xác định tổng thiệt hại của 25,3 ha rừng bị phá sạch này chỉ có 80,6 triệu đồng.
Cho rằng không đủ yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, Công an huyện Khánh Vĩnh không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chủ rừng là Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương.
Vì vậy VKSND Tối cao yêu cầu VKSND tỉnh kiểm tra, báo cáo vụ việc trên. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 14/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Được sự quan tâm của Trung tâm Khuyến nông quốc gia và Chủ nhiệm Dự án, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa đã triển khai và thực hiện Dự án “Trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh” (keo tai tượng).
Thời gian thực hiện 2 năm (1 năm trồng và 1 năm chăm sóc) tại 3 điểm trình diễn là: Xã Hải Long, xã Phúc Đường (Như Thanh) và xã Thanh Quân (Như Xuân), quy mô 113 ha, tổng số hộ tham gia 70 hộ.
Ngay từ khi triển khai, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa đã phối hợp với UBND các xã chọn các hộ có đủ các điều kiện về đất đai, lao động, kinh phí, nhiệt tình và viết đơn tình nguyện tham gia thực hiện mô hình; đồng thời cử những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm trực tiếp tham gia chỉ đạo mô hình.
Trong quá trình thực hiện, các hộ nông dân tham gia mô hình được hỗ trợ 100% kinh phí tập huấn và cây giống; 50% kinh phí mua phân bón (50% là kinh phí dân tự bỏ ra). Các đơn vị cung cấp cây giống và phân bón là những đơn vị sản xuất, kinh doanh có uy tín trên địa bàn với số lượng và chất lượng bảo đảm theo yêu cầu. Lượng phân NPK đã cấp cho các hộ dân trong 2 năm là 37.516 kg; cây giống là 187.580 cây (kể cả 10% cây tra dặm).
Được sự hướng dẫn nhiệt tình của cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa, nhất là khuyến lâm viên ngoài hiện trường, bà con nông dân đã nắm bắt và tuân thủ thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật từ khâu phát dọn thực bì, đào hố, lấp hố, bón phân và trồng cây.
Đào hố trước khi trồng 1 tháng; kích thước hố 30x30x30cm; lấp hố trước khi trồng 1 tuần; mỗi hố bón 0;2 kg phân NPK5:8:5 (trước đây các hộ chỉ trồng “chay”). Mật độ trồng 1.660 cây/ha; hàng cách hàng 3m; cây cách cây 2m. Thời điểm trồng rừng là tháng 7 và tháng 8 năm 2012, chọn những ngày mưa, thời tiết râm mát đất đủ ẩm để trồng.
Do được tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật; cây giống, phân bón bảo đảm chất lượng; thời vụ trồng rừng thích hợp và thuận lợi..., vì vậy cây keo tai tượng sinh trưởng nhanh, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Sau gần 2 năm thực hiện dự án cho thấy: Mô hình triển khai đúng tiến độ; đã trồng, chăm sóc và bảo vệ được 113 ha rừng, hoàn thành 100% khối lượng công việc. Sau 2 năm tỷ lệ cây sống bình quân đạt hơn 90%, cây sinh trưởng tốt, chiều cao trung bình đạt 3,2 - 3,5 m; đường kính gốc bình quân đạt 4,5 - 5,5 cm.
Không chỉ tập huấn kỹ thuật, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa còn phối hợp với UBND các xã trực tiếp tham gia mô hình trình diễn tổ chức được 2 hội thảo đầu bờ nhằm chia sẻ kinh nghiệm, góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm của bà con nông dân trên địa bàn. Khắc phục tình trạng “trồng chay”, mua giống không rõ nguồn gốc xuất xư của bà con nông dân các huyện miền núi. (Báo Thanh Hóa 16/7) đầu trang(
Đồ gỗ đang là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 5,6 tỷ USD, chiếm khoảng 80% tổng giá trị sản xuất của cả ngành, đem lại thu nhập cho gần 300 nghìn lao động ngành chế biến gỗ và hàng nghìn hộ gia đình tại các làng nghề, khu vực trồng rừng.
Tuy nhiên, thị trường EU (chiếm tới 30% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ) là một trong những thị trường "khó tính", với những thách thức, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật liên quan nguồn gốc gỗ hợp pháp theo chương trình Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) và quá trình tham gia Hiệp định đối tác tự nguyện (FLEGT-VPA) mà Việt Nam đang đàm phán với EU.
Khi thời điểm ký dự kiến đã đến gần (tháng 10-2014) nhưng hiện tại rất nhiều doanh nghiệp (DN) gỗ chưa nắm được các đòi hỏi của FLEGT cũng như chưa biết những tác động của FLEGT-VPA đối với hoạt động kinh doanh và xuất khẩu của mình sang EU.
Qua thực hiện 81 cuộc phỏng vấn tại 63 DN gỗ, các hiệp hội gỗ và các cơ quan truyền thông liên quan, kết quả cho thấy, chỉ có 57% số DN hiểu biết về FLEGT-VPA, 75% số DN chưa biết các nội dung chủ yếu của FLEGT-VPA. Điều đáng nói là 73% số DN này đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội, ngoại thất sang EU, chiếm 51% thị phần xuất khẩu.
Phần lớn DN hiện nay gặp khó khăn về việc yêu cầu các giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi thu mua gỗ trong dân, một phần do nhận thức, một phần do người dân chưa có thói quen lưu trữ hồ sơ và sự thiếu thống nhất về các yêu cầu giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ.
Do vậy, việc nâng cao tuyên truyền để người dân, DN nắm vững thông tin nhằm đáp ứng những sản phẩm có nguồn gốc hợp pháp, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu đang là những đòi hỏi bức thiết.
Phó Vụ trưởng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp) Nguyễn Tường Vân cho biết, ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam phát triển nhanh trong 10 năm qua, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2007 -2013 đạt gần 16%/năm.
Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ là một trong năm ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ sang hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, với bốn thị trường chính gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và EU.
Ngoài ra, chúng ta cũng đang chiếm khoảng gần 4% thương mại đồ nội thất, đứng thứ 6 trên thế giới và đứng thứ 2 châu Á. Tuy nhiên, hiện ngành chế biến gỗ xuất khẩu vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn như giá trị gia tăng còn thấp (tỷ trọng xuất khẩu dăm gỗ còn cao), chủ yếu xuất qua nhà nhập khẩu EU, chưa có thương hiệu.
Năng lực cạnh tranh còn kém do tính liên kết các DN còn yếu, phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu (40 - 50%). Bản thân các DN cũng chưa thật sự chú trọng đến thị trường trong nước, trong khi thị trường quốc tế lại đưa ra các quy định ngặt nghèo về nguồn gốc xuất xứ gỗ hợp pháp như luật Lacey của Hoa Kỳ, EUTR của EU,...
Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua các "rào cản" trong xuất khẩu, các DN phải chủ động nâng cao năng lực sản xuất và giá trị sản phẩm xuất khẩu, chú trọng mở rộng tiêu thụ thị trường trong nước, tránh bị ảnh hưởng, phụ thuộc vào một đối tác nhất định.
Mặt khác, các cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh đàm phán, ký FLEGT-VPA với EU nhằm cam kết chỉ xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp, cũng như thiết lập hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp (TLAS) để xác minh và cấp phép FLEGT cho gỗ và sản phẩm gỗ khi xuất khẩu vào thị trường EU. (Nhân Dân 16/7) đầu trang(
15/7, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, có khả năng sẽ thu hồi 30-40% diện tích đất nông lâm trường quốc doanh (NLTQD) và giao lại một phần cho các doanh nghiệp dân doanh.
Theo ông Tuấn, khoảng 30-40% NLTQD hoạt động kém hiệu quả cần được thu hồi. Có thể, nhà nước chỉ giữ lại 30% công ty nông, lâm nghiệp dưới dạng nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
Hiện cả nước có 319 công ty nông lâm, nghiệp đã được sắp xếp lại, với tổng diện tích hơn 2,78 triệu ha. (Tiền Phong 16/7, tr5) đầu trang(
Lương công nhân nông lâm trường (NLT) quốc doanh có nơi chỉ 1 triệu đồng/tháng. Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho biết như vậy tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty NLN, do Văn phòng Chính phủ tổ chức 15.7.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nay cả nước có tổng số 319 công ty NLN đã được sắp xếp lại với gần 2,8 triệu ha đất đang được các công ty quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, đến nay mới có 74 công ty chuyển sang cho thuê đất theo quy định, với tổng diện tích 460.000ha, còn lại vẫn đang sử dụng dưới hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Đáng chú ý là sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 26.6.2003 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển NLT quốc doanh, đến nay nhiều mục tiêu của nghị quyết vẫn chưa đạt được như chưa hoàn thành xác định ranh giới, cắm mốc thực địa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất. Diện tích đất chưa sử dụng hoặc hoang hóa còn nhiều.
Đơn cử như Tổng Công ty Giấy Việt Nam, có tổng diện tích đất được giao là hơn 64.450ha, trong đó khoảng 62.000ha đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đơn vị này vẫn gặp khó khăn trong việc rà soát ranh giới cắm mốc đất đai, nên thực chất không biết đất của mình đến đâu.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã nêu lên thực trạng đáng lo ngại: “Qua kiểm tra, tôi thấy có điều kỳ lạ là nhiều nơi có tới hàng trăm ha đất rừng không đơn vị nào quản lý, gây lãng phí tài nguyên của đất nước, do đó phải rà soát lại toàn bộ diện tích này”.
Theo Phó Thủ tướng, diện tích đất các NLT nắm giữ rất lớn, nhưng hiệu quả kinh tế thì rất thấp, số doanh nghiệp thua lỗ chiếm tới 1/4, có năm doanh thu chỉ đạt khoảng 1 tỷ đồng, lương trả cho người lao động chỉ được 1 triệu đồng/tháng. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, một phần cũng do quản lý còn lỏng lẻo.
Ông Phạm Quốc Doanh – Phó trưởng Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước cho biết, hơn 10 năm qua, việc đổi mới NLT quốc doanh vẫn chưa có mấy tiến triển. Nhìn bề ngoài thì đất đai vẫn do các doanh nghiệp quản lý, nhưng bên trong thì thực chất đã giao khoán hết cho các hộ dân, dân tự sản xuất kinh doanh, còn nông trường chỉ đứng ra thu khoán.
Đặc biệt là với các công ty lâm nghiệp, nhiều đơn vị sống rất lay lắt, mặc dù họ quản lý diện tích rừng tự nhiên, nhưng không được tự chủ hoàn toàn để sản xuất kinh doanh.
Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn cho biết: “Từ nay đến cuối năm, các công ty sẽ phải nhanh chóng rà soát lại diện tích kinh doanh có hiệu quả, để từ đó có phương án tái cơ cấu, làm ăn hiệu quả hơn, còn những diện tích không hiệu quả, không quản lý được hoặc đất có tranh chấp thì phải giao lại cho chính quyền địa phương xử lý theo hướng ưu tiên giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc tại chỗ; giao và cho những hộ nhận khoán lâu dài, làm ăn có hiệu quả được thuê tiếp, đồng thời sẽ có dành một phần diện tích cho doanh nghiệp ngoài nhà nước thuê, trong đó ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp”.
“Dự thảo nghị định của Chính phủ lần này đã xác định rất rõ việc chỉ đạo sắp xếp lại các công ty NLN, theo đó, có thể chúng ta chỉ giữ lại 1/3 số công ty NLN hiện nay dưới dạng công ty TNHH một thành viên nhà nước nắm 100% vốn điều lệ, còn những công ty quy mô nhỏ, làm ăn kém hiệu quả trong 3 năm qua sẽ phải giải thể, thu hồi đất. Theo thống kê sơ bộ, số diện tích kém hiệu quả lên tới 30- 40%” – ông Tuấn nói.
Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhấn mạnh, các địa phương phải quản lý bằng được đất đai của công ty NLN. Theo đó, đất đai phải có chủ, có quy hoạch tổng thể gắn với việc quản lý, sử dụng, bảo vệ phát triển rừng, tiếp tục duy trì và hình thành vùng nông lâm nghiệp quy mô lớn.
“Cần nhanh chóng quy hoạch lại đất đai, tập trung xử lý dứt điểm những trường hợp sử dụng đất chưa đúng mục đích, ví dụ đất cho thuê, cho mượn, đất bị lấn chiếm, tranh chấp, khoán trắng, liên doanh liên kết, mua bán trái phép” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh. (Nông Thôn Ngày Nay 16/7, tr10; Nhân Dân 16/7) đầu trang(
Ông Đinh Văn Khiết, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk trao đổi với báo giới về Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Ông Đinh Văn Khiết cho biết: Hiện Đăk Lăk đã xây dựng đề án thực hiện Nghị quyết 30, đang trình lên Thường vụ Tỉnh ủy. Tỉnh Đăk Lăk có 9 công ty lâm trường và 15 công ty lâm nghiệp. Đối với các nông trường có 2 dạng: công ty cà phê và công ty cao su. Tỉnh đang xây dựng các phương án sản xuất theo chỉ đạo chung của chính phủ; riêng các công ty lâm nghiệp hiện đang có một số tồn tại lớn.
Thứ nhất, rừng đang bị tranh chấp và lấn chiếm, chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng rất nhiều đến sinh thái sau này. Để xử lý vấn đề này có 2 nội dung lớn được đặt ra là: đất đai và tổ chức lại sản xuất. Về đất đai, theo chủ trương của Chính phủ, hiện nay cần thiết phải rà soát, sắp xếp tổ chức lại.
Nhưng để làm được việc đó, chúng tôi đề nghị Chính phủ sớm hỗ trợ kinh phí cho địa phương, rà soát, cắm mốc lập bản đồ địa chính giải quyết cho các công ty đó để có cơ sở sắp xếp lại.
Trên cơ sở đó tổ chức lại các loại rừng cần thiết, loại rừng nào để thực hiện theo hoạt động công ích và loại nào có thể kêu gọi các thành phần kinh tế liên doanh liên kết trồng lại rừng, hoặc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày khác.
Tranh chấp đất rừng hiện nay rất nghiêm trọng. Tranh chấp giữa người dân mới đến với công ty, người dân sở tại với công ty, giữa một số đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất với công ty và sự tranh chấp này không phải như trước đây là người ta vào rừng khai thác gỗ, mua bán vận chuyển gỗ trái phép mà người dân tự ý phá rừng, chiếm đất và giữ đất.
Sau này, nếu có dự án nào vào hoặc cần thiết phục hồi lại rừng thì họ yêu cầu đền bù. Đây là một vấn đề rất bất cập, nếu như thực hiện theo hướng này sẽ tiếp tục khuyến khích cho dân phá rừng. Do đó, tỉnh đề nghị có quan điểm chính thức đối với trường hợp người dân đã chiếm, sở hữu tài nguyên của quốc gia phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Đối với Đăk Lăk, đang xây dựng phương án tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng xanh, nâu và trắng. Xanh là về cây trồng, nâu là chúng tôi muốn biến sản phẩm cà phê của Đăk Lăk thành sản phẩm công nghiệp, qua rang xay, chế biến xuất khẩu chứ không sản xuất thô như hiện nay. Còn trắng chủ yếu là cao su.
Ngoài ra, tỉnh đang kêu gọi 4 dự án đầu tư về bò sữa khoảng 1,5 tỷ USD của 4 tập đoàn… Tỉnh đang xây dựng theo hướng như thế, đặc biệt là phát triển nuôi bò sữa. Hiện nay, các nhà đầu tư cần quỹ đất phát triển đàn bò, do đó chúng tôi đang tiếp tục rà soát lại.
Đăk Lăk đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành cho chuyển đổi một số diện tích rừng nghèo kiệt, rừng đã bị phá có thể không trồng lại được để chuyển sang phát triển bò sữa.
Thứ nhất, Trung ương nên sớm cụ thể hóa hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị một cách đồng bộ. Nếu như chúng ta có chủ trương mà kéo dài sẽ gây ra hệ lụy sau này. Thứ hai, để tiếp tục rà soát cần sớm có quyết định về mức hỗ trợ kinh phí về rà soát, đo đạc, cắm mốc, trên cơ sở đó mới tổ chức lại, chuyển đổi lại được.
Thứ ba, xử lý cho được một số tồn tại như về đất đai, nợ của các DN hiện nay, đặc biệt là nợ có 2 hình thức: DN nợ ngân hàng không có nguồn để trả, người dân nhận khoán không nộp sản phẩm cho DN nên không có nguồn thu nhập. Nhiều DN hiện nay không có nguồn để trả lương cho người lao động cũng như bộ máy quản lý. Một số giám đốc đã xin nghỉ việc. (Thời Báo Ngân Hàng 16/7) đầu trang(
Giao đất giao rừng cho người dân là một trong những chủ trương được Chính phủ ban hành với mục tiêu “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ”.
Tuy nhiên, tiến độ giao đất rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế rừng...
Thời gian qua, UBND tỉnh đã có quyết định rà soát, bóc tách đất rừng tại các nông, lâm trường, Ban quản lý rừng phòng hộ để chuyển đổi và trả lại một phần diện tích đất rừng giao cho các huyện quản lý, giao lại cho nhân dân.
Tuy nhiên, đến thời điểm này tiến độ giao đất cho nhân dân ở các địa phương còn chậm. Tại xã Châu Bình-Quỳ Châu, sau khi xảy ra việc người dân tự ý vào các khu đất của các lâm trường chặt phá, lấn chiếm đất, UBND tỉnh đã chỉ đạo Lâm trường Cô Ba giao 1.800 ha đất cho địa phương quản lý, giao cho các hộ dân của 2 xã Châu Bình và Châu Hạnh.
Ông Nguyễn Văn Thiện, Trưởng bản 32 cho biết: UBND xã Châu Bình chỉ mới bàn giao tạm cho bản 32 với 89 ha/235 hộ dân. Trong khi bà con đang rất cần được chia lô, chia thửa sớm để nhận đất quản lý, sản xuất. Bất cập trong quá trình giao đất ở đây là đất không giao “thuận canh, thuận cư” mà giao cách địa điểm 3 - 4 km nên gặp không ít khó khăn.
Ông Kim Văn Duyên, Chủ tịch UBND xã Châu Bình cho hay: Xã Châu Bình đã được nhận 1.135 ha đất rừng từ Lâm trường Cô Ba, tuy nhiên mới chỉ tổ chức giao cho dân được hơn 100 ha, hiện đang làm thủ tục để giao cho 96 hộ của bản Kẻ Can. Nguyên nhân giao đất lâm nghiệp cho người dân chậm là do phải đo đạc bằng thủ công. Ngoài 2 cán bộ địa chính xã, còn lại là cán bộ các ngành khác, non yếu chuyên môn nghiệp vụ đo đạc; địa thế núi rừng rộng lớn hiểm trở, ảnh hưởng đến tiến độ.
Theo rà soát, huyện Quỳ Châu cần bàn giao 15.000 ha đất rừng cho dân. Theo lộ trình của UBND huyện Quỳ Châu đến 30/6/2014 là hoàn tất việc giao đất cho dân, nhưng đến thời điểm này chỉ mới giao được 2000 ha/15.000 ha.
Nguyên nhân là việc giao thực địa rất khó khăn, chưa có dụng cụ máy móc hỗ trợ chủ yếu phải trèo đèo lội suối đo đạc thủ công theo hình thức “tạm tính”. Huyện đã thành lập Ban chỉ đạo và phải huy động hết các ban, phòng với nhiều cán bộ không chuyên trách nên nghiệp vụ hạn chế. Huyện đang kiến nghị với UBND tỉnh phân bổ nguồn kinh phí để thực hiện công tác đo đất lâm nghiệp. Theo dự tính, kinh phí đo đạc khoảng trên 16 tỷ đồng.
Hiện nay, một số địa phương đã được giao đất lâm nghiệp nhưng chủ yếu đang sử dụng sổ “lâm bạ trắng” mà chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Văn Bá, xóm 14, xã Diễn Đoài (Diễn Châu) cho biết: Gia đình ông có 22,1 ha được cấp sổ “lâm bạ trắng” từ những năm 1995. Hiện, rất mong được Nhà nước giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yên tâm quản lý sản xuất.
Diện tích đất trên lâu nay chủ yếu trồng keo, bạch đàn chưa phát huy hiệu quả. Mới đây đã có một số doanh nghiệp vào khảo sát muốn đầu tư để trồng rừng nguyên liệu theo hướng thâm canh nhưng do chưa có “bìa đỏ” nên họ đã không dám đầu tư.
Ông Bùi Văn Nam, Chủ tịch UBND xã Diễn Đoài phản ánh: Diễn Đoài hiện có trên 400 ha đất lâm nghiệp, trong đó có trên 200 ha giao cho nhân dân quản lý theo bìa lâm bạ được cấp từ những năm 1994-1995. Đến thời điểm này, toàn xã chỉ mới chuyển từ bìa lâm bạ sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 30 hộ dân/23,65 ha. Nguyên nhân là do vướng mắc các thủ tục, đặc biệt là thiếu kinh phí đo đạc dẫn đến tình trạng chậm cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Toàn huyện Diễn Châu hiện có khoảng 7.400 ha đất lâm nghiệp, nhưng trên 80% diện tích người dân đang sử dụng “lâm bạ trắng” chưa được cấp bìa đỏ, chủ yếu tập trung ở các xã Diễn Lâm, Diễn Đoài, Diễn Phú… Theo ông Lê Văn Thuận - Trưởng phòng Tài nguyên môi trường Diễn Châu thì lý do chậm chuyển từ bìa lâm bạ sang giấy quyền sử dụng đất cũng là do thiếu kinh phí, ước tính để đo diện tích trên tốn khoảng 11 tỷ đồng.
Tại huyện Nghi Lộc, đến thời điểm này đã cấp được 550 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tương đương trên 2.300 ha đất lâm nghiệp, hiện còn gần 2.000 ha bà con đang sử dụng “lâm bạ trắng”.
Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Chất - Trưởng phòng Quản lý đất đai (Sở Tài nguyên và Môi trường) cho hay: Hiện nay toàn tỉnh còn khoảng trên 25.000 ha đất lâm nghiệp chưa bàn giao được cho dân, tập trung các huyện Tương Dương, Quỳ Châu, Quế Phong và Kỳ Sơn. Hầu hết các huyện trên đã lập hồ sơ phê duyệt kinh phí về vấn đề giao đất lâm nghiệp nhưng tỉnh chưa có kinh phí. Chủ yếu nguồn kinh phí này phục vụ cho giao đất đo đạc, bản đồ địa chính.
Để tháo gỡ vướng mắc về vốn một số huyện đang triển khai thuê các đơn vị tư vấn bỏ kinh phí ra để đo đạc trước, xin được nguồn kinh phí sẽ trả lại sau, song gặp không ít khó khăn.
Để rừng có chủ thực sự, gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo điều kiện để người dân bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng được giao, thì những khó khăn, vướng mắc trên cần sớm được tháo gỡ. (Báo Nghệ An 14/7) đầu trang(
Trong khoa học điều tra hình sự, nghiên cứu thủ đoạn gây án có ý nghĩa rất quan trọng. Khoa học điều tra hình sự xem xét thủ đoạn gây án như là một tác nhân tác động chế ước những quy định hình thành chứng cứ và những nguồn thông tin cần thiết để xây dựng tất cả những bộ phận của khoa học điều tra hình sự nhằm điều tra, khám phá tội phạm, truy nã tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Những tài liệu về thủ đoạn gây án được khai thác, sử dụng để điều tra, khám phá và phòng ngừa tội phạm cụ thể. Thủ đoạn phạm tội của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (VPCQĐ về KT và BVR) là cách thức thực hiện hành vi phạm tội của chúng, trong đó có cả cách thức sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội.
Thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội là toàn bộ những hành động của bọn tội phạm từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội đến thủ đoạn che giấu sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Những kết quả nghiên cứu về thủ đoạn gây án của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có ý nghĩa rất quan trọng, nó là cơ sở để xây dựng phương pháp điều tra đúng đắn, phù hợp với thực tiễn công tác điều tra tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Đi sâu phân tích vấn đề này, cần xem xét riêng biệt thủ đoạn gây án của bọn tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng của các đối tượng phạm tội có tổ chức, băng, ổ nhóm, các đối tượng chuyên nghiệp thực hiện hành vi phạm tội trong các khâu khai thác, vận chuyển gỗ trái phép xảy ra trên địa bàn tỉnh Kon Tum có những nét đặc trưng riêng biệt.
Trong khâu khai thác: Các đối tượng phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng lén lút vào những khu rừng chưa được phép hoặc không được phép khai thác tiến hành chặt hạ cây. Thủ đoạn khai thác này diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Kon Tum. Các đối tượng thuê người và phương tiện vào rừng khai thác gỗ trái phép, sau đó vận chuyển dần ra bán cho các xưởng chế biến, tiêu thụ.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung chỉ đạo việc giao đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng. Cho đến nay, hầu hết diện tích rừng trong tỉnh đều đã có chủ rừng quản lý và bảo vệ.
Đối với các khu rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng nằm ở các địa bàn cách xa khu vực dân cư sinh sống, các hộ gia đình và cá nhân không có điều kiện nhận để chăm sóc và quản lý thì Nhà nước tiến hành giao cho các ban quản lý, các doanh nghiệp lâm nghiệp, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang tổ chức quản lý và bảo vệ.
Nhưng thực tế cho thấy lực lượng được giao trực tiếp làm nhiệm vụ này còn quá tắc trách với công việc, không tổ chức tuần tra, kiểm soát thường xuyên, thậm chí còn bỏ trống địa bàn quản lý trong thời gian dài dẫn đến bọn lâm tặc lợi dụng những sơ hở đưa lực lượng và công cụ vào rừng chặt hạ cây bừa bãi rồi bỏ lại, sau đó chúng tránh mặt tìm cách thông tin cho chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng đến kiểm tra, thu giữ gỗ và chính những tên chủ mưu này lại xin hợp đồng mua hoặc tham gia đấu giá để mua.
Sử dụng thủ đoạn trên, thường là những đối tượng đầu nậu, các chủ doanh nghiệp có chức năng chế biến và kinh doanh mặt hàng lâm sản bỏ tiền ra thuê mướn những người dân tộc thiểu số, những người lao động tại địa phương hoặc dân di cư tự do có hoàn cảnh kinh tế khó khăn trên địa bàn để thực hiện mục đích của chúng.
Do địa hình của tỉnh Kon Tum nhiều hiểm trở, nhất là những khu rừng có nhiều gỗ quý hiếm lại không tập trung mà phân tán nhiều nơi nên để thuận lợi bọn chúng phải thông qua một số người dân tộc địa phương, lợi dụng sự kém hiểu biết của họ để thuê dẫn đường, chỉ nơi khai thác “dặm rừng”.
Do đó, quá trình thực hiện hành vi phạm tội khai thác gỗ trái phép có người không tự nhận thức được đó là hành vi phạm tội (do sự lừa phỉnh đã có giấy phép khai thác hoặc chỉ khai thác xây trường học, làm nhà rông) nên họ đều thực hiện một cách tích cực.
Điển hình như: Tháng 01/2007, Nguyễn Văn Mười (sinh năm 1969, hộ khẩu thường trú: Thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, Kon Tum) tìm gặp A Lung, A Nhem (xã Kon Đào, huyện Đăk Tô) đặt vấn đề vào rừng tìm cắt hạ gỗ Dổi về để làm nhà theo Chương trình 134, với giá 900.000đ/m3 nhưng thực chất là Mười thuê vào khai thác gỗ lậu bán cho Mười. Trong 10 ngày, A Lung và A Nhem vào lâm phần của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đăk Tô cắt hạ 6 cây gỗ Dổi với khối lượng 37m3. Khi bị bắt, A Lung Và A Nhem không biết được là mình cắt hạ gỗ trái phép mà cứ nghĩ là cắt gỗ về làm nhà theo Chương trình 134.
Tội phạm VPCQĐ về KT và BVR hình thành các băng, ổ nhóm, tổ chức vào rừng khai thác gỗ trái phép rồi sử dụng các phương tiện thô sơ vận chuyển gỗ tiêu thụ. Cũng như những địa phương khác, thủ đoạn này hiện nay diễn ra phổ biến ở các lâm phần, các khu rừng có nhiều gỗ quý hiếm nhóm IA, IIA có giá trị kinh tế cao gây thiệt hại nghiêm trọng tài nguyên rừng, đồng thời còn gây nên tình trạng phức tạp cho trật tự an toàn xã hội, làm cho công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.
Thực tế nhu cầu sử dụng các loại gỗ quý hiếm để trang trí, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và đóng đồ dùng sinh hoạt trong gia đình ở nước ta rất lớn, trong khi đó nguồn gỗ này ngày một khan hiếm, chính lợi nhuận kiếm được giữa mâu thuẫn cung và cầu trên thị trường là động lực thúc đẩy tội phạm VPCQĐ về KT và BVR gia tăng để thu lợi bất hợp pháp. Hiện nay nhu cầu trên thị trường về các loại gỗ quý hiếm nhóm IA, IIA như Trắc, Hương, Cẩm là rất lớn, đã kích thích các đối tượng tổ chức thành các băng, ổ nhóm nhỏ vào rừng khai thác trái phép, vận chuyển đi tiêu thụ. Những loại gỗ này có trữ lượng rất lớn trên địa bàn tỉnh Kon Tum so với những địa phương khác.
Vào mùa khô, trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tội phạm VPCQĐ về KT và BVR hoạt động thành các băng nhóm. Hàng ngày, chúng mang theo các loại công cụ vào rừng để tìm, lựa chọn những cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao để chặt hạ. Để tránh sự phát hiện của chủ rừng và lực lượng kiểm lâm, bọn chúng cưa cắt cây thành những lóng gỗ có độ dài ngắn khác nhau, dùng rìu hoặc cưa líu xẻ bỏ bìa rồi đưa lên các phương tiện: xe độ chế, xe máy, xe trâu theo đường mòn hoặc cắt rừng đến các địa điểm thuận lợi để tập kết gỗ, sau đó mới đưa đi tiêu thụ.
Với phương thức, thủ đoạn nêu trên, chúng ta tưởng rằng tội phạm VPCQĐ về KT và BVR chỉ “gặm nhấm” rừng còn lượng gỗ bị khai thác không đáng kể. Song, thực tế số đối tượng hoạt động theo phương thức này rất đông, hành vi phạm tội của chúng xảy ra liên tục, kéo dài trong cả mùa khô, hoạt động khai thác gỗ của chúng có tính chuyên nghiệp, vì vậy thực tế khối lượng gỗ bị khai thác trái phép là rất lớn.
Mặc dù những loại gỗ quý hiếm trên đã được Nhà nước cấm khai thác tuyệt đối để bảo vệ nguồn gen và đa dạng sinh học cho Việt Nam. Do đặc điểm của thủ đoạn này nên việc phát hiện và ngăn chặn bon tội phạm VPCQĐ về KT và BVR gặp rất nhiều khó khăn. Bon chúng chia thành những nhóm nhỏ, đơn lẻ, trang bị đơn giản vào tận rừng sâu khai thác, sau đó mới vận chuyển dần dần đem tiêu thụ.
Điển hình như: Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2007, Nguyễn Văn Thanh cùng đồng bọn đã tổ chức 6 đợt đưa người và công cụ, phương tiện vào lâm phần Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Sa Thầy để khai thác gỗ, xẻ hộp rồi mang đi tiêu thụ. Ngày 12/4/2007, Công an Sa Thầy bắt quả tang Thanh cùng đồng bọn đang xẻ hộp một cây gỗ Cà te đường kính 80cm. Kết quả điều tra xác định Thanh cùng đồng bọn đã khai 15 cây gỗ Cà te nhóm IIA với khối lượng 79 m3.
Tội phạm VPCQĐ về KT và BVR lợi dụng việc khai thác tận dụng chuyển đổi mục đích rừng để khai thác trái phép. Thủ đoạn này cũng rất phổ biến trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây.
Thực tế cho thấy, theo quy định của Nhà nước việc khai thác chỉ trên diện tích chuyển đổi mục đích rừng và đã có hồ sơ thiết kế được phê duyệt. Tuy nhiên một số đối tượng lợi dụng khai thác ngoài diện tích chuyển đổi sau đó dùng hồ sơ thiết kế để hợp thức hóa nguồn gốc gỗ khai thác trái phép và vận chuyển đi tiêu thụ.
Điển hình đó là: Tháng 8/2008, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kon Tum phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác gỗ tận thu trên diện tích rừng nghèo để chuyển đổi sang trồng cây cao su thuộc lâm phần Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Sa Thầy và giao cho Công ty cổ phần Duy Tân khai thác. Công ty cổ phần Duy Tân có thuê Nguyễn Văn Hậu đứng ra khai thác.
Lợi dụng việc này, Hậu đã thuê một số đối tượng vào khai thác ngoài diện tích được phê duyệt. Ngày15/12/2008, Hậu đã cho xe ô tô vào vận chuyển số gỗ khai thác trái phép, đến thị trấn Sa Thầy bị Công an huyện kiểm tra, Hậu đã trình ra hồ sơ thiết kế khai thác nhưng kết quả điều tra đã xác định gỗ vận chuyển trên xe 82k - 2627 là gỗ Dổi, khối lượng 20m3 là gỗ khai thác không nằm trong diện tích chuyển đổi và không được nghiệm thu, đóng búa.
Trong khâu vận chuyển: Để làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát việc vận chuyển lâm sản, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, Chi cục kiểm lâm Kon Tum đã thành lập các đội kiểm lâm cơ động, Hạt kiểm lâm các huyện phân công trách nhiệm cho cán bộ kiểm lâm địa bàn phụ trách các xã. Chính những đơn vị và cá nhân này đã đóng góp rất lớn trong việc làm giảm thiểu hoạt động của bọn tội phạm VPCQĐ về KT và BVR trên địa bàn.
Tuy nhiên, trước sự cám dỗ của vật chất, tác động của kinh tế thị trường, một số cán bộ kiểm lâm thoái hóa, biến chất thông đồng và tiếp tay cho bọn lâm tặc phạm tội, xâm phạm đến nguồn tài nguyên rừng mà bản thân phải có trách nhiệm trực tiếp bảo vệ.
Gỗ là một mặt hàng nặng, cồng kềnh khó vận chuyển cho nên ngoài khối lượng gỗ mà bọn Lâm tặc sử dụng các loại xe thô sơ vận chuyển theo đường rừng để né tránh sự kiểm soát thì phần lớn gỗ được vận chuyển bằng các phương tiện cơ giới trên các trục quốc lộ, tỉnh lộ và phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của lực lượng Kiểm lâm thực thi nhiệm vụ.
Vì vậy, muốn vận chuyển trót lọt những lô gỗ khai thác trái phép, bọn chủ gỗ phải “gặp gỡ”, “làm luật” trước với các tổ, đội làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên các tuyến đường mà các xe chở gỗ của chúng sẽ đi qua. Để che mắt quần chúng nhân dân, các cơ quan chức năng và những người thi hành công vụ không “ăn cánh”, bọn chúng đã bàn bạc và thống nhất với nhau phương thức, thủ đoạn vận chuyển gỗ như sau:
Đối với số gỗ khai thác trái phép đã được đóng búa kiểm lâm, có số thứ tự đầu lóng trùng với những lóng khai thác hợp pháp sẽ được đưa lên các xe và đi theo từng đoàn. Khi đến Trạm kiểm soát lâm sản, cán bộ Kiểm lâm vẫn thực hiện đầy đủ các nội dung kiểm tra rồi đóng dấu “đã kiểm tra” vào giấy phép vận chuyển hoặc chứng từ vận chuyển nhưng không ghi ngày, giờ kiểm tra và cũng không ghi nội dung kiểm tra theo quy định vào sổ theo dõi lâm sản vận chuyển của trạm.
Bộ hồ sơ này sẽ được bọn chủ gỗ sử dụng quay vòng nhiều lần để tiếp tục vận chuyển những lô gỗ sau nếu như trên đường vận chuyển không bị kiểm tra, phát hiện. Trường hợp các lực lượng chức năng kiểm tra đột xuất thì chủ gỗ tiếp tục mua chuộc, hối lộ hoặc ghi ngày, giờ kiểm tra vào giấy phép vận chuyển, đồng thời nhanh chóng thông tin về Trạm Kiểm lâm tuyến trước để kịp thời ghi nội dung kiểm tra vào sổ theo dõi trước khi lực lượng kiểm tra đột xuất xác minh.
Đối với số gỗ khai thác trái phép không được đóng búa kiểm lâm thì chúng vẫn cho bốc xếp lên xe và xếp xen kẽ với số gỗ khai thác hợp pháp khoảng từ 30 - 40% tổng khối lượng gỗ mà xe vận chuyển rồi đi riêng lẻ từng chiếc (không đi theo đoàn). Nếu bị các lực lượng chức năng kiểm tra đột xuất, chủ gỗ không “làm luật” được thì khối lượng gỗ khai thác trái phép bị bắt giữ cũng chỉ ở trong khung xử phạt hành chính mà không bị xử lý về hình sự.
Bọn tội phạm sử dụng các loại xe chuyên dùng, xe của lực lượng vũ trang, xe hai đáy, xe mang biển kiểm soát giả... để vận chuyển gỗ. Đây là thủ đoạn mà bọn tội phạm thường dùng để vận chuyển các loại gỗ quý hiếm, gỗ xẻ bán thành phẩm có giá trị kinh tế cao. Tuyến đường mà chúng hoạt động chủ yếu là các quốc lộ 24, 14 nối liền tỉnh Kon Tum với các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam.
Trong những năm gần đây, bọn tội phạm vận chuyển gỗ trái phép hình thành các đường dây, hoạt động có tính chất chuyên nghiệp. Trước khi thực hiện tội phạm, bọn chúng đều có sự bàn bạc để phân công trách nhiệm cho nhau rồi bí mật, bất ngờ hành động làm cho lực lượng Kiểm lâm làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện bắt giữ chúng.
Thực tế cho thấy phương tiện chúng sử dụng để vận chuyển gỗ thường là các loại xe ô tô mà lực lượng Kiểm lâm làm nhiệm vụ chủ quan, ít chú ý để kiểm tra hoặc nếu bị kiểm tra cũng khó phát hiện xe có chở gỗ như: xe 2 đáy, xe 2 mui, xe chuyên dùng (xe cứu thương, xe đông lạnh, xe bồn chở xăng dầu), xe mang biển kiểm soát quân đội, xe không mang biển kiểm soát hoặc mang biển số kiểm soát giả...
Bọn chúng chọn các ngày nghỉ, giờ nghỉ cho xe ô tô hoặc xe máy phân khối lớn, chạy trước cảnh giới, thăm dò các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ trên đường, rồi dùng điện thoại di động hoặc máy bộ đàm để thông tin cho các lái xe chở gỗ. Khi bị phát hiện, lái xe cố tình không chấp hành hiệu lệnh dừng xe, nếu bị đuổi bắt chúng liều lĩnh cho xe cản đường, hoặc lái xe lạng lách, đánh võng, chèn ép, hoặc vứt bỏ gỗ xuống đường tạo thành chướng ngại vật để gây tai nạn cho xe truy đuổi để tẩu thoát.
Ở Kon Tum, để vận chuyển gỗ trái phép, bọn tội phạm còn sử dụng các loại xe ô tô loại hết hạn sử dụng, hết hạn lưu hành, thường là không có giấy tờ gì, mua bán trôi nổi trên thị trường, có giá trị thấp. Sau đó, đem đi độ, chế thay máy móc, làm các ngăn chứa hai đáy vận chuyển gỗ trái phép.
Trong trường hợp này, bọn chúng thường vận chuyển những loại gỗ cực kỳ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Khi bị lực lượng chức năng, phát hiện, đuổi bắt, bọn chúng bỏ chạy tẩu tán gỗ thậm chí để lại xe, bỏ trốn. Điển hình: Vào lúc 23 giờ 25 phút ngày 17/9/2007, Lê Văn Thành (Quảng Bình) dùng xe ô tô Uoát biển kiểm soát 68H-1537 vận chuyển 01m3 gỗ Huỳnh đàn đỏ từ Kon Rẫy về Kon Tum. Đến đoạn quốc lộ 24 xã Đắk Tờ Re, huyện Kon Rẫy bị Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum phát hiện và tạm giữ. Quá trình điều tra đã xác định biển số xe 68H-1537 là biển số giả, ngoài ra trên xe uoát có 02 biển kiểm soát của Gia Lai và Đăk Lăk.
Nhận thức được vấn đề trên có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, tố giác tội phạm, cung cấp những thông tin cần thiết cho cơ quan Công an.
Trong thực tế, ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum phải tranh thủ được già làng, trưởng thôn, những người uy tín trong cộng đồng, phân tích cho họ hiểu rõ thủ đoạn lợi dụng của bọn tội phạm, từ đó họ có những biện pháp vận động phù hợp để nhân dân cung cấp những thông tin cần thiết cho Cơ quan điều tra thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm.
Biện pháp cụ thể như: tiến hành cho nhân dân tổ chức họp từng làng, từng thôn để nắm tình hình hoặc thông qua già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong làng đề gặp gỡ riêng biệt từng người có khả năng biết được sự việc xảy ra để Cơ quan điều tra thu thập theo yêu cầu điều tra.
Chính những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng, những nơi có rừng đã tác động không nhỏ đến nhận thức của người dân ở đây tham gia vào quản lý và bảo vệ rừng.
Phải có những chủ trương, chính sách phù hợp với ý chí, nguyện vọng của người dân như làm đường, trường học, trạm y tế, các chế độ chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số…tránh việc bọn tội phạm lợi dụng sự khó khăn, yếu kém về nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số để mua chuộc, lợi dụng và tạo điều kiện cho bọn chúng thực hiện hành vi phạm tội và che giấu tội phạm. (Công An Kon Tum 15/7) đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, để tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng giống, thúc đẩy hội nhập, hợp tác và cạnh tranh có hiệu quả về giống cây trồng lâm nghiệp (GCTLN), hiện nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh GCTLN trên địa bàn tỉnh đã thành lập Ban Vận động thành lập Hội.
Từ nay đến cuối năm, Ban có nhiệm vụ vận động các đơn vị sản xuất kinh doanh GCTLN, tổ chức đăng ký tham gia Hội và hoàn chỉnh hồ sơ xin phép thành lập Hội trình cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập.
Được biết, hiện nay, toàn tỉnh có 106 đơn vị đăng ký sản xuất, kinh doanh GCTLN với 114 vườn ươm, tổng diện tích 72,5 ha; công suất sản xuất khoảng 200 triệu cây giống/năm.
GCTLN Bình Định có chất lượng khá tốt, không những phục vụ nhu cầu trồng rừng trên địa bàn tỉnh mà còn được tiêu thụ rộng rãi tại các tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên và xuất bán sang các tỉnh phía Nam Lào. (Báo Bình Định 14/7) đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ và các sản phẩm gỗ sang khu vực Trung Đông liên tục tăng trưởng thời gian gần đây. Trong 5 năm (2009-2013), kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã tăng gấp 3 lần (năm 2009 là đạt 18,1 triệu USD, năm 2013 là 54,6 triệu USD).
Quý I-2014, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang khu vực Trung Đông đạt 18,6 triệu USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2013. Ước 6 tháng năm 2014 kim ngạch đạt 37,3 triệu USD, tăng 37,1% so với cùng kỳ.
Một số thị trường nhập khẩu chính đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam tại khu vực Trung Đông là UAE, Ả rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ, Kuwait, Israel…
Nếu trước đây UAE là thị trường nhập khẩu lớn nhất mặt hàng này từ Việt Nam thì đến năm 2013, Ả rập Saudi đã vươn lên dẫn đầu là thị trường trong khu vực nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam với kim ngạch 15,3 triệu USD (chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang các nước Trung Đông).
Theo đánh giá của Vụ Châu phi Tây Nam Á (Bộ Công Thương), khu vực Trung Đông hiện đang dẫn đầu thế giới về tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án thủy lợi, nhà cao tầng, các trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp, các khu chung cư cao tầng và một loạt các dự án khác. Sự tăng trưởng nhanh của của ngành xây dựng cũng góp phần tăng nhu cầu sử dụng đồ gỗ và các mặt hàng về gỗ trong khu vực.
Ngoài ra, ngành công nghiệp chế biến gỗ của các nước phụ thuộc nhiều vào nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu do nguồn gỗ nguyên liệu tự nhiên của các nước Trung Đông rất hạn chế.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm thương mại quốc tế (International Trade Center), hàng năm khu vực này nhập khẩu gần 6 tỷ USD các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ. Một số nhóm sản phẩm gỗ được sử dụng chủ yếu như: Các sản phẩm đồ gỗ phục vụ gia đình, đồ gỗ văn phòng, đồ gỗ khách sạn nhà hàng, đồ gỗ nội, ngoại thất, đồ gỗ dành cho trẻ em.
Như vậy, cơ hội đối với hoạt động xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang khu vực Trung Đông còn nhiều. Các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thông tin thị trường, tham dự các hội chợ triển lãm, quảng bá sản phẩm và tích cực tìm kiếm các cơ hội kinh doanh tại khu vực này.
Vụ Châu phi Tây Nam Á khuyến cáo, các doanh nghiệp có thể tìm hiểu và tham khảo thông tin về mẫu mã, đặc điểm sản phẩm và các thông tin khác về gỗ và các sản phẩm gỗ tại một trong những triển lãm hàng đầu về đồ gỗ và các sản phẩm trang trí nội thất của khu vực Trung Đông là Index Exhibition tại Ảrập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất. (Hải Quan 12/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GỚI
Những nạn nhân của thảm họa cháy rừng tại bang Victoria năm 2009 đã được bồi thường khoản tiền kỷ lục 470 triệu USD theo một thỏa thuận dàn xếp vụ kiện tập thể đạt được hôm 15-7.
Một đám cháy lớn đã xảy ra tại thị trấn Kilmore vào ngày “thứ bảy đen tối” hồi tháng 2-2009 đã khiến 173 người tử vong và thiêu rụi hơn 2.000 ngôi nhà. Đây được xem là thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất nước Úc thời hiện đại.
Theo báo The Wall Street Journal (Mỹ), hơn 10.000 người cùng nộp đơn kiện đòi Công ty Điện lực SP AusNet phải chịu trách nhiệm cho vụ cháy ước tính gây thiệt hại hơn 936 triệu USD này. Đơn kiện cho rằng chính thiết bị hỏng hóc của công ty đã gây ra vụ cháy. Ngoài ra, bên nguyên đơn còn kiện Công ty Dịch vụ Tiện ích, đơn vị thuê SP AusNet bảo trì đường dây điện, cùng Sở Phát triển bền vững và môi trường.
Luật sư Andrew Watson, đại diện phía nguyên đơn, cho biết: “Bao nhiêu tiền cũng không thể bù đắp cho nỗi đau và tổn thất của các nạn nhân. Tuy nhiên, khoản bồi thường nửa tỉ USD phần nào cho thấy công lý đã được thực thi và giúp giảm bớt gánh nặng tài chính của các nạn nhân”.
Trong khi đó, dù nhất trí việc bồi thường nhưng Công ty SP AusNet vẫn phủ nhận trách nhiệm về vụ cháy rừng. Đại diện công ty cho rằng đường dây điện đã bắt lửa sau khi bị sét đánh trúng. (Người Lao Động 16/7, tr15; Tuổi Trẻ 16/7) đầu trang(
Nhân viên cứu hỏa hiện đang nỗ lực dập tắt 60 vụ cháy rừng tại hai tỉnh bang British Columbia và Alberta. Trung tâm “Canadian Interagency Forest Fire” (CIFF) cho biết hỏa hoạn lan rộng do thời tiết nóng kỷ lục và không có mưa.
Một trận cháy rừng có diện tích 70 cây số vuông đã xảy ra, hôm Chủ nhật 13/07, gần khu vực Rocky Mountain House, Alberta. Giới chức hữu trách địa phương lo ngại hỏa hoạn sẽ hủy hoại hạ tầng cơ sở tại địa phương này.
Cũng trong ngày 13/7, tại British Columbia, nhân viên cứu hỏa đã cố gắng khống chế ngọn lửa thiêu hủy 45 cây số vuông rừng gần Tumbler Ridge, ngăn chặn không cho hỏa hoạn lan ra vùng đông bắc tỉnh bang gần ranh giới với Alberta.
Tại hồ Euchiniko, B.C, 41 nhân viên cứu hỏa và 6 phi cơ trực thăng đã cố dập tắt ngọn lửa đang hoành hành trên khu vực 12 cây số vuông do sét đánh gây ra vào thứ ba tuần trước.
Cơ quan quản trị hỏa hoạn rừng ở British Columbia (British Columbia’s Wildfire Management Branch) cho biết, từ tháng tư đến nay đã có 477 vụ cháy rừng đã được ghi nhận tại tỉnh bang này.
CIFF ước tính sẽ có khoảng 11.000 cây số vuông rừng đã bị thiêu rụi trong năm nay.
Lãnh thổ tự trị Tây Bắc (Northwest Territories) bị thiệt hại nặng nhất với 8.400 cây số vuông rừng bị hủy diệt do nạn cháy rừng gây ra.
Thống kê của chính phủ liên bang cho biết trung bình mỗi năm 25.000 cây số vuông rừng bị thiêu hủy do hỏa hoạn gây ra bởi sét đánh và sự vô ý của con người. (Thời Báo 13/7) đầu trang(
Phát biểu tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội Lào đang diễn ra tại Thủ đô Vientiane, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường Lào Noulin Sybandith đã nhấn mạnh tầm quan trọng của rừng đối với đời sống con người, đồng thời khẳng định người dân không nên chỉ biết khai thác tài nguyên vốn có của rừng mà đồng thời cũng phải biết bảo vệ và phát triển rừng.
Theo Bộ trưởng Tài nguyên Thiên nhiên và môi trường Lào, rừng đem lại môi trường vô giá cho con người; giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần vào chiến lược quốc phòng an ninh; là môi trường du lịch sinh thái hấp dẫn; góp phần giải quyết việc làm bền vững cho người dân vùng nông thôn. Mục tiêu trước mắt, cả nước Lào quyết tâm nâng độ che phủ rừng từ 65% năm 2015 lên 70% vào năm 2020.
Lào là quốc gia thành viên của ASEAN đã đưa ra cam kết vì một khu vực xanh. Thời gian qua, các ngành chức năng của Lào đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế triển khai bảo vệ và phát triển rừng bằng 3 loại hình như: bảo vệ rừng nói chung, bảo vệ rừng dự trữ và rừng đầu nguồn; bảo vệ rừng sản xuất. (VOV 15/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||