|
Ngày 15 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Nguyên nhân hồ thủy lợi bị trơ đáy, rừng phòng hộ cháy liên tục, nguồn nước sinh hoạt khan hiếm, nhà dân lún nứt, hệ thống đường sá bị xuống cấp… được cho là bắt nguồn từ việc khai thác đất đá tại khu vực núi Khe Su (Mồng Gà), xã Sơn Bình, huyện Hương Sơn trong thời gian qua.
Đất đá đã và đang bị đào bới nham nhở, khoét sâu vào khu vực rừng phòng hộ Ngàn Phố là hình ảnh cho thấy sự bất lực và lúng túng của các cơ quan chức năng tại địa phương. Hàng ngày, có 2 – 3 chiếc máy múc và hàng chục xe ben vào ra khai thác đất tại khu rừng Khe Su, xã Sơn Bình, huyện Hương Sơn.
Một cán bộ thuộc UBND xã Sơn Bình tiết lộ, đơn vị khai thác là Công ty TNHH Thương mại & Khai thác khoáng sản Phú Lộc An.
Tìm hiểu hồ sơ xin khai thác đất của Công ty Phú Lộc An, nhận thấy có sự mập mờ, bất thường trong quy trình xin khai thác mỏ. Có nhiều công đoạn “tiền trảm hậu tấu”, vừa khai thác vừa chờ giấy phép. Tờ trình gửi các cơ quan chức năng của công ty không có ngày tháng ban hành, không có số văn bản lưu trữ; địa chỉ của công ty cũng không ổn định. Giấy phép đăng ký kinh doanh ghi địa chỉ xóm 15, xã Sơn Bình, huyện Hương Sơn; có văn bản ghi địa chỉ công ty ở xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc (Nghệ An). Trên thực tế, tại xóm 15, xã Sơn Bình không có một trụ sở doanh nghiệp nào như ghi trong giấy phép.
Khu vực mà Công ty Phú Lộc An đang khai thác đất nằm ngay khu vực rừng phòng hộ Ngàn Phố. Việc đào bới đất như hiện nay, gây ra những hệ lụy mà PV nêu trên, nó còn ngăn phá 2 dòng chính cung cấp nguồn nước cho hồ thủy lợi Khe Su.
Ngoài ra, người dân địa phương cho hay, khi mỏ đất này bị khai thác, dân đã có ý kiến với chính quyền nhiều lần về việc để xe quá tải qua lại làm hư hại đường sá; gây dư chấn làm sụt lún nhà dân. Xã và doanh nghiệp đã họp với dân, hứa sẽ sớm làm một con đường kiên cố nối QL8A vào khu mỏ.
Tuy nhiên, đến nay, con đường mòn đi lại của người dân cũng đã bị đào bới lấy đất. Việc khắc phục, hỗ trợ như lời hứa, đến nay vẫn chưa thấy có biến chuyển gì.
Ông Lê Văn Minh, một người dân ở xóm 5, xã Sơn Bình bức xúc: “Xe cộ chạy rầm rầm suốt ngày, đất đá văng khắp nơi, nhưng có ai khắc phục đâu. Nhà tôi và một số hộ trong xóm đã bị nứt, lún rồi. Nếu các nhà báo không làm, tôi sẽ tiếp tục có đơn kiến nghị để sớm ngăn chặn việc khai thác này”.
Ông Cù Văn Điền, Chủ tịch UBND xã Sơn Bình cho rằng, việc khai thác lẽ dĩ nhiên người dân sẽ kêu ca, phản ánh. “Sinh ra khai thác đất đá sẽ có những chỗ nọ chỗ kia khó tránh khỏi”, ông Điền tỉnh bơ.
Ông Nguyễn Đình Công, Trưởng phòng Tài Nguyên - Môi trường (TN – MT) cho hay: Trước đây, do cấp bách việc san lấp mặt bằng mở rộng QL8A, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cho Công ty Phú Lộc An khai thác với một khối lượng tương đối chỉ trong 45 ngày (từ 21/5 – 4/7/2013).
Đến nay, giấy phép đã hết hạn, lẽ ra đơn vị phải hoàn trả mặt bằng. Gần đây, công ty này khai thác trở lại. Khi cán bộ phòng TN – MT hỏi, công ty trả lời rằng đã được gia hạn giấy phép.
“Nói thế, chứ vẫn chưa thấy họ xuất trình giấy phép. Sắp tới, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra. Nếu đầy đủ thủ tục, đảm bảo an toàn thì mới cho khai thác tiếp”, một cán bộ thuộc Phòng TN – MT Hương Sơn cương quyết.
Một số người dân cho rằng, đứng sau việc khai thác đất đá này, do một cán bộ có thế lực trong lĩnh vực quản lý hạ tầng, giao thông, xây dựng ở địa phương “bật đèn xanh” và “chống lưng”…(Người Đưa Tin 15/7) đầu trang(
Theo BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, nơi đây từ 15 năm trước, những cây gỗ nghiến loại lớn đã bị đốn hạ.
Trong khu bảo tồn hiện chỉ còn những cây nghiến cao từ 5 – 7m. Ông Nguyễn Quang Lịch, GĐ BQL Khu bảo tồn nói chắc như đinh đóng cột, số gỗ nghiến vận chuyển trái phép mà PV ghi hình được là từ bên Na Rì (Bắc Kạn) đưa sang. Nếu đúng, tại sao những đối tượng này có thể đưa hàng trăm, nghìn mét khối gỗ qua mặt lực lượng chức năng dễ dàng như vậy?
Tại xã Tân Tri, PV đã tiếp cận được một số người từng đi chở gỗ, vác gỗ thuê từ Nghinh Tường qua. Anh H, 24 tuổi, nhà thôn Thâm Xi (xã Tân Tri) bảo, nhà nghèo, làm mấy miếng ruộng với cái nương ngô không đủ ăn nên đi chở gỗ thuê thôi. Hằng ngày, H dậy từ sớm, đi xe máy qua khu vực bản Mùn (xã Nghinh Tường) rồi chở gỗ thuê cho các đầu nậu.
PV hỏi H, gỗ được lấy từ đâu, H lắc đầu, lúc đến, họ thuê chở từ đâu thì biết đó, cũng chẳng ai hỏi gì. Chạy một mạch từ Thâm Xi qua trung tâm xã Tân Tri, gỗ được tập kết tại một căn nhà, gần quốc lộ 1B. Chủ căn nhà là ai và làm gì, H cũng bảo không biết, chở đến đó bốc gỗ xuống rồi quay đầu xe. Mỗi chuyến, đầu nậu trả cho H cũng như nhiều người khác 200 nghìn đồng. Ngày nào chạy khỏe thì được 2 chuyến, số tiền kiếm được bằng H làm ruộng cả vụ lúa.
“Lâu rồi em nghỉ vì làm nặng quá, đi khám bác sĩ bảo đau thần kinh tọa gì đó, giờ chỉ ở nhà làm ruộng, chăn mấy con bò thôi”, H thủng thẳng. Chúng tôi ngỏ ý nhờ dẫn vào khu vực tập kết gỗ, H lắc đầu bảo chịu thôi, người lạ mặt không vào được khu đó đâu.
Bà V (xã Tân Tri) thì bảo, ở đây cứ lúc nông nhàn, mọi người coi việc đi vác gỗ thuê là nghề kiếm cơm cho cả gia đình. Như bà V, mỗi ngày vác gỗ thuê, bét nhất cũng được 200 nghìn đồng.
Men theo con đường đất ven suối Tính, suối Tát, mất khoảng 5 giờ đồng hồ đi bộ là có thể tới khu vực bản Mùn. Tại đây có những lán trại là nơi ăn nghỉ cho những người vác gỗ. Chủ lán trại chính là đầu nậu, người dân ở Tân Tri gọi họ là Mán – dân tộc Dao.
“Khi đủ người, chúng tôi được dẫn ngược núi lên khu Lân, vác gỗ xuống chân núi. Sau đó sẽ có người dùng xe máy hoặc xe ngựa chở đi tiếp, đi đâu thì bọn tôi không biết. Mỗi lần vác từ trên núi xuống, tôi được 120 nghìn, vác nhiều hơn thì được 200 nghìn. Đợt tôi đi vác chủ yếu là thớt, cái nhẹ nhất cũng khoảng 25 cân”, bà V thuật lại.
Bà V tận mắt chứng kiến những cây gỗ to cả người ôm không hết bị đốn hạ bằng cưa xăng. Nghe bà V kể chuyện, PV thấy cũng lạ, việc vào rừng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép ở đây nhẹ nhàng như việc lên nương trồng lúa, tra ngô.
“Có hôm, chúng tôi đang vác gỗ thì có một nhóm kiểm lâm tới. Họ cũng chả bảo gì, đứng nhìn một lúc rồi bỏ đi”, bà V nhớ lại. Ngỏ ý nhờ dẫn vào nơi khai thác gỗ, bà V giãy nảy như đỉa phải vôi rằng, dẫn người lạ tới mất mạng như chơi. Cái lạ thứ hai, việc vận chuyển gỗ diễn ra ngang nhiên, nhiều năm, chẳng lẽ chính quyền xã Tân Tri không hề hay biết!? Phải chăng, rừng bên nào bên ấy giữ, việc ai người nấy lo…
Không người dẫn đường, PV và cậu đồng nghiệp đánh liều, đột nhập vào khu vực bản Mùn. Dọc đường từ Thâm Xi qua, chúng tôi bắt gặp từng đoàn xe máy đã được “độ” để chở gỗ. Thấy người lạ, những người này chạy chậm dần, rồi tụt lại phía sau PV.
Vờ dừng lại uống nước, nhóm người này cũng dừng theo. Dọc đường từ UBND xã Nghinh Tường vào bản Mùn, cái dễ bắt gặp nhất là những chiếc xe máy "độ", lủng lẳng can xăng hai bên. Xe vào tới bản Mùn, chúng tôi “nhận” được vô vàn ánh mắt dò xét, đe dọa.
Biết là không thể thâm nhập sâu hơn, PV đành quay ra. Trên đường ra, một người đàn ông đi theo “tiễn” chúng tôi ra tận con đường cái trước cổng UBND xã.
Để tìm hiểu rõ nguồn gốc của số gỗ nghiến kia, PV liên hệ làm việc với BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, trụ sở tại xã Cúc Đường, huyện Võ Nhai. Sau khi xem những tư liệu PV ghi lại, lãnh đạo BQL Khu bảo tồn tỏ ra hết sức ngạc nhiên.
Ông Phan Quốc Thụ, PGĐ BQL cho biết, từ 15 năm trước, lượng cây nghiến có tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng đã bị đốn hạ sạch. Tại đây chỉ còn những cây nghiến loại nhỏ, mới được trồng, chiều cao từ 5 – 7m.
Còn ông Nguyễn Quang Lịch, GĐ BQL thì khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng, Thần Sa – Phượng Hoàng làm gì còn gỗ nghiến to thế để khai thác. Địa bàn xã Nghinh Tường có cả rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nhưng lượng nghiến to không còn. Về nguồn gốc, ông Lịch khẳng định, đó là số nghiến được đốn từ vùng Na Rì (Bắc Kạn).
Theo ông Lịch, việc vận chuyển gỗ nghiến từ Na Rì qua Võ Nhai để sang Lạng Sơn đã diễn ra từ nhiều năm nay. Nhưng với số lượng nhiều như qua tư liệu PV cung cấp, ông Lịch cho rằng “ngoài sức tưởng tượng”.
Hiện tại, BQL đã thành lập 2 chốt kiểm lâm, một tại khu vực giáp ranh xã Tân Tri, một tại bản Mùn. Quân số dao động từ 11 – 12 người, túc trực 24/24. Tuy nhiên không hiểu sao, mỗi ngày vẫn có gần trăm chuyến nghiến vận chuyển trót lọt qua khu vực này. Vị GĐ BQL thừa nhận, 2 năm qua, việc bắt được các vụ vận chuyển gỗ rất hạn chế.
PGĐ Phan Quốc Thụ thì phân trần, vì đây là vùng giáp ranh giữa ba tỉnh, công tác quản lí bảo vệ rừng vô cùng khó khăn. Việc ngăn chặn tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép qua địa bàn khó khăn gấp bội.
“Anh em kiểm lâm chúng tôi đã gồng hết sức mình để bảo vệ rừng. Tại các chốt luôn có người trực 24/24. Tình trạng phá rừng thì vẫn lác đác xảy ra. Theo Quyết định 07/2012 của Chính phủ, chính quyền địa phương có trách nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ, ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép. Xem những hình ảnh các anh cung cấp, gỗ vận chuyển qua ngay UBND xã nhưng hình như chính quyền xã không quan tâm”, ông Thụ nói.
Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm Khu bảo tồn đã lập biên bản tiêu hủy 29 lán trại của các đối tượng phá rừng, tịch thu 29 m3 gỗ các loại, trong đó gỗ nhóm IIA là 28 m3. Đồng thời tịch thu 1 ô tô, 23 xe máy cùng 9 cưa xăng, tổng thu và nộp ngân sách nhà nước 328 triệu đồng.
Số vụ chống đối, cản trở lực lượng kiểm lâm thi hành công vụ của các đối tượng buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép có chiều hướng gia tăng. Trên thực tế, một trong những nguyên nhân dẫn tới việc gỗ nghiến chảy “máu” ồ ạt như trên là do công tác phối hợp giữa các địa phương, lực lượng chức năng gần như không có. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/7, tr15) đầu trang(
Thông tinh nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Nhiều người kéo nhau vào rừng phòng hộ đầu nguồn xã Vĩnh An, huyện Sơn Tây khai thác, hạ chặt cây ươi trái phép, gây mất trật tự, phá hoại hệ sinh thái rừng. (Nhân Dân 15/7, tr7) đầu trang(
Sáng 14-7, BCH Biên phòng Hải Phòng cho biết, 7m3 gỗ hương cùng hơn 10 tấn gỗ trắc chứa trong container không có giấy tờ hợp lệ vừa được lực lượng Biên phòng Hải Phòng phát hiện, tạm giữ.
Qua kiểm tra tại bãi container cảng Transvina Hải Phòng, Biên phòng cửa khẩu cảng Hải Phòng phối hợp Phòng phòng, chống ma túy - tội phạm (BCH Bộ đội Biên phòng TP Hải Phòng) đã phát hiện lô hàng trong container có số hiệu TCNU 9898771 có chứa lượng lớn gỗ trắc và gỗ hương, nhưng không có giấy tờ hợp lệ. Cụ thể gồm: 285 hộp gỗ hương, tương đương hơn 7m3 và khoảng hơn 10 tấn gỗ trắc.
Qua tìm hiểu bước đầu, số gỗ trên là của một HTX mỹ nghệ tại xã Đồng Kỵ, huyện Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) thu gom vận chuyển từ Bình Dương ra Hải Phòng.
Hiện, Bộ đội Biên phòng TP Hải Phòng đã tạm giữ số hàng hóa trên tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ. (Nhân Dân 15/7; Công An Nhân Dân 15/7, tr7) đầu trang(
14/7, theo thông tin từ Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) nhiều ca sỹ Việt Nam đã đồng hành cùng ENV trong chiến dịch “Tôi ủng hộ bảo vệ động vật hoang dã” với chủ đề “Cùng hành động vì các loài gấu của Việt Nam - Chấm dứt nạn nuôi nhốt gấu”.
Sao Việt khuyến khích cộng đồng không tiêu thụ mật gấu nhằm chấm dứt nạn nuôi nhốt gấu, bảo vệ các loài gấu của Việt Nam trước nguy cơ tuyệt chủng. Sự ủng hộ nhiệt tình của ca sĩ Hồng Nhung, Mỹ Linh, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Hồ Quỳnh Hương, Uyên Linh, Thái Thùy Linh, MC Thảo Vân và Danh thủ bóng đá Hồng Sơn đã truyền cảm hứng cho hàng chục ngàn người hâm mộ cùng lên tiếng bảo vệ các loài gấu của Việt Nam.
Hiện nay, tại Việt Nam còn khoảng 2.000 cá thể gấu đang bị nuôi nhốt trong các trang trại để chích mật. Là những người có tiếng nói và tầm ảnh hưởng, các sao Việt đã có những tác động tích cực, góp phần tạo nên sự thay đổi trong nhận thức của người dân về bảo vệ động vật hoang dã nói chung và bảo vệ gấu nói riêng. (Công An Nhân Dân 15/7, tr6) đầu trang(
Theo thống kê của Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân, diện tích gieo sạ lúa vụ hè thu toàn huyện năm nay giảm 18% so với vụ trước.
Ông Nguyễn Văn Tri, Phó phụ trách Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân cho hay, đã có gần 233 ha lúa không có khả năng gieo sạ, đang bỏ đất trống ở các xã Xuân Phước, Xuân Quang 3, Xuân Quang 1, Phú Mỡ.
Những diện tích trên chủ yếu hưởng nước từ hồ Phú Xuân và các đập dâng Cây Vừng, Mò O, Suối Cối 2, Suối Hàn, Ba Quân, nhưng không thể chuyển sang cây trồng khác vì rủi ro quá lớn.
Trong khi đó, ¾ diện tích mía trồng mới gặp nắng hạn, tỷ lệ nảy mầm thấp; diện tích xuống giống sắn cũng giảm đáng kể, trong đó có hơn một nửa bỏ trống, phá bỏ do sắn không nảy mầm và chết. Theo ông Tri, ước tổng thiệt hại các loại cây trồng gần 13 tỷ đồng.
Đó là chưa kể hàng ngàn ha rừng trồng của các đơn vị doanh nghiệp và cá nhân đang chết khô và trước nguy cơ cháy rất cao. Đã có gần 40 ha rừng bị cháy, chủ yếu là rừng trồng từ bốn đến sáu năm tuổi của các doanh nghiệp.
Cách đây vài tháng, dọc tuyến đường qua các xã Xuân Quang 2, Xuân Quang 1, Phú Mỡ rừng trồng xanh bạt ngàn, phủ kín các ngọn đồi, thì giờ đây ngả màu vàng, nhiều đám rừng chết khô trải dài trên các ngọn đồi.
Toàn huyện Đồng Xuân có hơn 13.000 ha rừng trồng, chủ yếu là keo và bạch đàn, ước tính đến thời điểm này có gần 1.000 ha vàng lá và chết; trong đó thiệt hại nặng nhất là Công ty TNHH Bình Nam. (Nhân Dân 14/7) đầu trang(
Qua thông tin phản ánh về việc một số hộ dân tự chuyển nhượng đất rừng phòng hộ ven biển để xây dựng quán nhậu, PV đã đến thôn Ân Quang, xã Cát Khánh, huyện Phù Cát và chứng kiến hộ ông Đặng Văn Dương, thường trú tại địa phương đang cho san mặt bằng và xây dựng quán nhậu trên diện tích khoảng 600 m2.
Đây là đất và rừng phòng hộ được giao cho một số hộ dân địa phương để trồng rừng phòng hộ ven biển.
Ông Dương cho biết, diện tích đất rừng này là ông thuê của bà Võ Thị Tân, cùng thường trú tại thôn Ân Quang, xã Cát Khánh, huyện Phù Cát với diện tích 670 m2 và thời gian thuê từng giai đoạn (từ 5-10-15-20 năm và thậm chí đến 50 năm) nếu bên thuê có nhu cầu. Ông Dương cũng thừa nhận đã cho đốt chặt một số cây dương và bạc hà để san lấp mặt bằng xây dựng quán.
Theo ông Nguyễn Thanh Tri, Chủ tịch UBND xã Cát Khánh, việc chuyển nhượng cho thuê đất và rừng của một số hộ dân ở đây chính quyền “không hề biết”. Diện tích rừng phòng hộ đoạn ven biển này khoảng trên 1,5 ha và UBND xã đã giao cho thôn quản lý.
Hộ ông Dương không phải là hộ đầu tiên phá rừng xây quán nhậu. Các hộ trước đó cũng đã cam kết là không chặt phá rừng phòng hộ. Tuy nhiên, phóng viên phát hiện có rất nhiều cây bị đốn khi đi vào dãy rừng dương khoảng 7 năm tuổi.
Ông Lương Ngọc Anh, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Cát cho biết thêm, khu vực rừng phòng hộ này đã được trồng từ năm 2007, theo sự chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Thiện, lúc còn làm Chủ tịch UBND tỉnh (nay là Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy).
Rừng dương này phát triển rất tốt, lại nằm gần cửa biển Đề Gi (thôn Ân Quang, xã Cát Khánh) có nhiệm vụ là vành đai rừng phòng hộ bảo vệ cảng biển và bảo vệ an ninh quốc phòng tuyến ven biển của tỉnh.
Nhưng trước đây, một phần đất đã được giao cho người dân địa phương trồng rừng và trong quá trình sử dụng vì lợi ích riêng, nên các hộ lén lút cho thuê đất. Chính quyền địa phương cũng đã nhiều lần nhắc nhở.
Tới đây, huyện tiếp tục chỉ đạo cho các ngành chức năng địa phương tăng cường công tác tuyên truyền và kiểm tra, xử lý và khi cần thu hồi lại đất để phát triển rừng phòng hộ theo đúng mục đích phòng chống triều cường xâm thực, che chắn cát bụi và đảm bảo hành lang an ninh quốc phòng trên tuyến biển này. (Tin Tức 15/7, tr13) đầu trang(
14/7, ông Phạm Cao Đảm, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (Sở NN&PTNT tỉnh), cho biết Sở NN&PTNT tỉnh đã thành lập ba tổ kiểm tra, kiểm soát lâm sản và tăng lực lượng công an tham gia vào tổ liên ngành, để tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đang diễn biến phức tạp trên địa bàn.
Ba tổ kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu động liên ngành được thành lập, mỗi tổ gồm 10 người, gồm lực lượng các ngành Kiểm lâm cơ động, Kiểm lâm điều động từ hai Vườn Quốc gia Núi Chúa và Phước Bình cùng với lực lượng công an.
Ba tổ được đóng chốt tại các điểm nóng và cửa rừng, nhằm ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép tại các lâm phần thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ninh Sơn và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tân Tiến quản lý.
Ông Đảm chia sẻ, hiện nay lực lượng kiểm lâm làm nhiệm vụ rất mỏng, trong khi tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn rất phức tạp.
Tình trạng xe tự chế vận chuyển lâm sản rất nhiều, trong khi đó kiểm lâm lại không có quyền bắt các loại xe này, chỉ trừ trường hợp phát hiện xe có chở lâm sản trái phép nhưng cũng chỉ được quyền xử lý lâm sản, còn xe vận chuyển thì lại không.
Các tổ kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu động liên ngành đi vào hoạt động, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả rất lớn trong việc ngăn chặn nạn phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp.
Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2014, Ninh Thuận đã xảy ra 256 vụ vi phạm, so với cùng kỳ năm 2013 tăng 113 vụ (256/143 vụ), trong đó có đến 165 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 55 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 34 cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản trái pháp luật và nhiều vụ vi phạm khác.
Ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành xử lý, xử phạt vi phạm hành chính 250 vụ, so với cùng kỳ năm 2013, số vụ xử phạt tăng 108 vụ (250/142 vụ), qua đó tịch thu gần 100m3 gỗ các loại và 60 xe môtô tự chế, xe ôtô vận chuyển lâm sản trái phép. (VietnamPlus 14/7; Người Lao Động 15/7, tr11) đầu trang(
Thống kê của cơ quan chức năng, từ giữa tháng 6 tới nay, ít nhất có 6 người chết và hàng chục người bị thương vì khai thác ươi trái phép tại khu vực rừng đầu nguồn.
Chiều 14/7, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Nam cho biết, Chi cục đã tổ chức cả trăm đợt truy quét, thu giữ 12 tấn hạt ươi, 6 ôtô tải, 12 xe máy và gần 50 máy cưa xăng dùng đốn hạ cây ươi ở khu vực rừng đầu nguồn.
"Chúng tôi đã xử phạt hành chính 10 vụ vận chuyển, khai thác ươi trái phép với số tiền hơn 360 triệu đồng. UBND tỉnh Quảng Nam cũng vừa ký quyết định xử phạt ông Nguyễn Lân (xã Đại Phong, huyện Đại Lộc) 150 triệu đồng; đồng thời tịch thu 1,2 tấn hạt ươi mua, bán trái phép", ông Tuấn thống kê.
Theo ông Tuấn, hơn một tháng qua, tổng hợp số liệu từ công an địa phương đã có ít nhất 5 người chết và 8 người bị thương vì bị cây ươi đè hoặc té ngã trong lúc khai thác ươi trái phép.
Trong khi đó, tại Phú Yên, ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đồng Xuân cho biết, thực trạng cắt hạ cây ươi bằng cưa máy để hái lượm, mua, bán hạt đang diễn ra phức tạp tại các huyện miền núi, gây hủy hoại nghiêm trọng tài nguyên rừng. "Do khai thác ươi trái phép cuối tháng 6, hai người dân ở xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân đã bị cây ươi ngã đổ đè khiến một người chết tại chỗ, một người bị thương nặng", ông Tâm nói.
Hiện Chi cục Kiểm lâm Phú Yên phối hợp với Công an tỉnh, Chi cục quản lý thị trường xác định vùng trọng điểm ở các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân để ngăn chặn tình trạng cưa hạ cây ươi, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vận chuyển, mua bán trái ươi trái phép.
Tại Quảng Ngãi, ông Đinh Tấn Bắc, Chủ tịch UBND xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà xác nhận, có 10 người dân trong xã cưa hạ cây ươi cổ thụ hàng chục năm tuổi ở khu vực rừng phòng hộ xã Sơn Lập, huyện Sơn Tây để lấy hạt đã bị cây ngã đè.
"Trong số này có bảy người bị thương nhẹ, còn ba người bị thương nặng phải nhập viện cấp cứu vào cuối tháng qua", ông Bắc cho hay.
Tại Bình Định, nạn khai thác ươi ở các huyện miền núi Vân Canh, Vĩnh Thanh, An Lão, Tây Sơn và Hoài Ân vẫn đang diễn biến phức tạp. Ông Hồ Ngọc Hùng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp Bình Định thống kê, Chi cục kiểm lâm tỉnh đã tổ chức 45 đợt truy quét. Cơ quan chức năng phát hiện nhiều nhóm lâm tặc cưa hạ hơn 290 cây ươi cổ thụ ở khu vực rừng đầu nguồn, thu giữ hơn 24 tấn hạt ươi. Có trường hợp đã ngụy trang thành xe cấp cứu để che mắt cơ quan chức năng vận chuyển ươi từ vùng cao về miền xuôi tiêu thụ.
Mỗi kg hạt ươi tươi bán tại rừng khoảng 50.000 đồng, hạt ươi khô bán với giá hơn 200.000 đồng. Những năm trước, đến mùa thu hoạch người dân chỉ thu lượm hạt rơi dưới gốc mang về bán. Giờ đây do thương lái Trung Quốc mua cả hạt non với giá cao nên một số người đã mang cưa máy hạ cây để thu hoạch.
Cây ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora, chỉ mọc chủ yếu ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Quả ươi dùng chữa trị các trường hợp bị đau họng, ho khan, chảy máu cam, khàn tiếng, mất tiếng, họng sưng đỏ và đau. Cách dùng thường là ngâm quả vào nước sôi cho nở ra rồi dùng. (VnExpress 15/7) đầu trang(
14-7, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết trong sáu tháng đầu năm 2014, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 256 vụ phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép, tăng 113 vụ so cùng kỳ.
Qua đó, tịch thu gần 100 m3 gỗ các loại, 60 mô tô tự chế, ô tô vận chuyển lâm sản trái phép. Trong đó có vụ một trại mộc của ở thị trấn Tân Sơn, huyện Ninh Sơn bị UBND tỉnh xử phạt 90 triệu đồng, tịch thu hơn 2,2 m3 gỗ hộp nhóm IIA và 1,2 m3 gỗ hộp nhóm II-III. (Pháp Luật TPHCM 15/7) đầu trang(
Theo hồ sơ tại VKSND huyện Đăk Song, khoảng 21 giờ ngày 11/03/2014, Trần Hoàng Lâm (SN 1996), trú thôn 10, xã Nâm N’-jang, huyện Đăk Song điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H5-6770, vận chuyển gỗ trái phép từ khu vực rừng do Công ty TNHH TV Lâm nghiệp Đăk N’Tao quản lý theo đường tỉnh lộ 6 đưa về thôn 4, xã Nâm N’Jang.
Do không có đèn nên Lâm sử dụng đèn pin lên đầu để soi đường, sợ bị lực lượng quản lý bảo vệ rừng phát hiện khi chạy qua Trạm quản lý bảo vệ rừng số 1 (thuộc Công ty TNHH TV Lâm nghiệp Đăk N’Tao), Lâm chủ định tắt đèn. Lúc này, tại trạm quản lý số 1, có 3 nhân viên đang trực, gồm anh Trần Ngọc Thanh, Nguyễn Ngọc Toán, Đinh Trọng Học (Đội phó phụ trách trạm).
Khi phát hiện có ánh đèn sáng soi vào mặt ngay đoạn đường trước Trạm, biết đó là lực lượng quản lý bảo vệ rừng nhưng Lâm không dừng lại mà điều khiến xe lách về bên trái đế tránh anh Toán cầm đèn, nhằm cho xe chạy đế không bị bắt giữ. Khi vừa qua khỏi đèn chiếu sáng, Lâm phát hiện anh Học cầm gậy cao su xông ra, Học không sử dụng đèn pin, vì khoảng cách rất gần Lâm không kịp xử lý nên đầu gỗ trên xe đã đâm vào người anh Học, làm anh Học ngã, phần đầu bên phải đập xuống mặt đường. Sau đó, anh Học được đưa đi cấp cứu, còn Lâm bỏ trốn. Rạng sáng ngày 13/3/2014, anh Học tử vong do bị chấn thương sọ não.
Sau khi cơ quan CSĐT - Công an huyện Đăk Song ra lệnh bắt khẩn đối với Trần Hoàng Lâm, các cơ quan chức năng của huyện Đăk Song vẫn chưa quyết định về việc định tội danh đế khởi tố với hành vi phạm tội nói trên.
Quan điểm của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song: hành vi cố tình vượt qua chốt chặn và không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của lượng chức năng của Trần Hoàng Lâm là hành vi chống người thi hành công vụ, quy định tại Điều 257 BLHS, vì vậy cần xử lý Lâm với danh trên.
Còn VKSND huyện Đăk Song cho rằng: hành vi của Trần Hoàng không cấu thành tội Chống người thi hành công vụ, do Lâm không ý cản trở cơ quan chức năng, việc gây tai nạn với anh Học là vô ý Lâm không xử lý kịp, mặt khác, do trời tối nên Lâm không quan sát thấy anh Học.
Hành vi của Lâm chỉ cố lách khỏi anh Toán để bỏ chạy chứ không nhằm mục đích chống hoặc cản trở. Việc gây thương tích đến tử vong của anh Học, Lâm không cố ý. Vì vậy, hành vi của Trần Hoàng Lâm chỉ cấu thành tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Điều 202 BLHS. (Bảo Vệ Pháp Luật 15/7, tr5) đầu trang(
Nhút nhát, khó nuôi và không dễ tìm được cá thể thuần chủng nhưng dân chơi gà vẫn sẵn sàng chi tiền triệu để sở hữu những chú gà rừng Việt hiếm có này.
Có hai giống chính là gà lôi và gà đỏ, gà rừng hiện là loài vật nuôi được săn đón trên nhiều trang web sinh vật cảnh ở Việt Nam. Nhút nhát, khó nuôi và không dễ tìm được cá thể thuần chủng nhưng dân chơi gà cảnh vẫn sẵn sàng chi tới tiền triệu để sở hữu một chú gà rừng Việt hiếm có.
Phổ biến nhất trong các loại gà rừng đang được nuôi làm cảnh là gà đỏ với tai trắng, màu lông sặc sỡ, cựa nhọn, dáng thon. Con đực khi trưởng thành có sải cánh dài 20-25cm, màu lông đỏ tía, nặng từ 1 đến 1,5kg, trong khi con cái chỉ có màu lông nâu xỉn và kích thước nhỏ bé hơn.
Mức độ thuần của gà rừng đỏ dựa trên màu sắc chân, số lông đuôi và chiều dài mình. Thông thường những con có màu chân xanh đá là giống thuần chủng, gà lai có chân màu xám. Gà rừng thuần chủng có thân hình thanh hơn, mào nhỏ và lông đuôi thưa với tối đa 2 cọng lông đuôi cong chính và khoảng 4 lông đuôi cong phụ mỗi bên. Ngược lại, gà lai có đuôi lớn, thân hình vạm vỡ hơn hẳn.
Giá gà rừng đỏ khá cao, loại thuần chủng, trưởng thành và đã quen nuôi nhốt thường được chào bán từ 600.000 đồng đến một triệu đồng/con, giá gà mái rẻ hơn gà trống. Gà đang trong giai đoạn sinh sản sẽ có giá khoảng 1,6 triệu đồng/cặp. Riêng gà rừng mới bẫy chưa thuần hóa có giá cao hơn hẳn, thông thường là 1,2 triệu đồng với một con mái và 1,5 triệu đồng với một con trống.
Đắt đỏ và hiếm hơn hẳn là một số giống gà rừng được đưa vào sách đỏ Việt Nam như gà lôi hông tía, gà lôi lam mào trắng hoặc các loài gà đặc hữu như gà lôi vằn. Nhỏ con hơn gà lôi giống nhập ngoại, giá bán của các giống gà thuần Việt này lên tới 3 - 4,5 triệu đồng/cặp, tùy vào độ thuần chủng, tức là gấp khoảng 10 - 15 lần so với gà lôi Tây. Gà càng được thuần hóa lâu hoặc ấp nở trong chuồng trại càng có giá thấp, trong khi những chú gà được bẫy ngoài tự nhiên sẽ được giá hơn.
Với dân chơi gà rừng cảnh, gà chỉ được nuôi bằng thức ăn tự nhiên như cỏ, côn trùng và thóc, trong khi gà rừng nuôi thịt có thể hấp thụ cả thức ăn công nghiệp như cám gạo, ngô xay nhuyễn hoặc thức ăn tổng hợp. Gà nuôi lấy giống hoặc làm cảnh thường chỉ ghép cặp 2 mái và một trống để tăng độ thuần, còn gà nuôi lấy thịt ghép cặp tới 12 mái -1 trống.
Vóc dáng nhỏ bé nhưng thịt chắc, giá trị dinh dưỡng cao khiến gà rừng lấy thịt vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi, dù giá không bằng gà nuôi giống hoặc làm cảnh. (Theo Zing.vn 14/7) đầu trang(
Những năm qua, phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" trên địa bàn xã Thạnh An (huyện Thạnh Hóa) được người dân tích cực hưởng ứng.
Qua phong trào, xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương dũng cảm tố giác và truy bắt tội phạm, góp phần tích cực vào công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Và, anh Phan Văn Để là một trong những người dân điển hình, luôn tích cực cùng với lực lượng Công an đảm bảo an ninh, trật tự (ANTT) trên địa bàn.
Anh Phan Văn Để hiện là nhân viên bảo vệ của Trạm thực nghiệm lâm nghiệp Miền Nam đóng trên địa bàn ấp 1 (xã Thạnh An, huyện Thạnh Hóa). Gần 20 năm qua, ngoài làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, anh còn tự nguyện tham gia lực lượng dân phòng ở địa phương.
Nhờ tinh thần tích cực đấu tranh với tội phạm, anh được bầu làm Đội trưởng Đội dân phòng ấp 1 và trực tiếp phụ trách tổ chốt chặn phòng, chống tội phạm đặt gần cơ quan nơi anh công tác.
Tuy bận rộn với công việc bảo vệ hàng trăm hécta rừng của Trạm thực nghiệm lâm nghiệp Miền Nam nhưng anh vẫn thường xuyên cùng với các thành viên đội dân phòng tổ chức tuần tra phòng ngừa tội phạm. Điều đặc biệt, trong năm 2013, anh liên tục lập thành tích xuất sắc khi đã trực tiếp truy bắt 3 đối tượng là học viên của Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Long An bỏ trốn.
Đã nhiều năm tham gia công tác bảo vệ rừng, từ thực tế kết hợp với kinh nghiệm, anh thường xuyên nhắc nhở và hướng dẫn người dân địa phương khác đến thu hoạch tràm cẩn thận khi sử dụng lửa nấu ăn trong quá trình làm việc.
Để đảm bảo an toàn cho những cánh rừng, anh cũng thường xuyên tuần tra, canh gác, phòng tránh cháy rừng. Đồng thời, sự có mặt thường xuyên của lực lượng dân phòng như các anh tại những con đường chính của xã cũng hạn chế tối đa tình hình trộm cắp xe gắn máy. Bởi, nhiều người dân thường bỏ xe môtô trên các trục lộ chính mà không có người trông coi và không khóa xe cẩn thận để vào sâu trong rừng thu hoạch tràm.
Với vai trò, trách nhiệm của một Đội trưởng Đội dân phòng, anh luôn gương mẫu trong công việc, thường xuyên cùng tập thể đội làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức trong phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và phòng, chống cháy rừng. Anh vừa tổ chức tốt công tác nắm tình hình có liên quan đến ANTT, vừa tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát cả đêm lẫn ngày tại các địa điểm phức tạp về ANTT.
Năm 2013, anh được Chủ tịch UBND huyện Thạnh Hóa tặng 3 giấy khen đột xuất. Đồng thời, được Bộ Công an tặng Kỷ niệm chương “Vì An ninh Tổ quốc” do có thời gian hơn 15 năm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ cơ quan.
Theo anh Để tâm niệm, được cống hiến, được góp sức mình vào việc giữ gìn ANTT, đảm bảo cuộc sống bình yên cho mọi người không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm vui khi được làm những việc có ích cho xã hội. (Công An Nhân Dân 15/7) đầu trang(
Tỉnh Nghệ An đang quyết liệt triển khai các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn.
Bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao kiến thức về phòng cháy, chữa cháy; các biện pháp, giải pháp thoát nạn, cứu người; phê phán các hành vi thiếu trách nhiệm, các vi phạm nghiêm trọng về phòng cháy, chữa cháy để giáo dục phòng ngừa chung, tỉnh yêu cầu Công an Nghệ An tập trung điều tra làm rõ nguyên nhân các vụ cố ý gây cháy để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; kiên quyết tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động những cơ sở có vi phạm nghiêm trọng, gây mất an toàn về phòng cháy, chữa cháy; những trường hợp để xảy ra cháy nổ lớn gây hậu quả nghiêm trọng do thiếu tinh thần trách nhiệm phải điều tra, khởi tố, xử lý.
Sở Giao thông vận tải đang phối hợp với Công an Nghệ An xây dựng phương án để tổ chức phổ biến kiến thức phòng cháy, chữa cháy cho các học viên tham gia học lái xe ô tô từ 4 chỗ ngồi trở lên. Tỉnh Nghệ An quy định khi kiểm định cấp giấy phép lưu hành đối với các loại phương tiện này, phải đảm bảo các yêu cầu an toàn về phòng cháy, chữa cháy, phòng nổ, thoát nạn cho người và phương tiện.
Từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn Nghệ An đã xảy ra 17 vụ cháy, 2 vụ nổ làm 3 người chết, 17 người bị thương; xảy ra 22 vụ cháy rừng, gây thiệt hại trên 145 ha rừng và làm 1 người chết, 4 người bị thương trong khi chữa cháy rừng.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Nghệ An, tình hình cháy, nổ trên địa bàn diễn biến phức tạp, đã xảy ra một số vụ cháy nổ lớn gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, tính mạng, tài sản của người dân.
Nguyên nhân chủ yếu do việc quản lý và tổ chức thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy còn nhiều bất cập, sơ hở và thiếu sót; vi phạm quy định về an toàn phòng cháy, chữa cháy xảy ra phổ biến ở nhiều nơi.
Trên địa bàn tỉnh vẫn có tình trạng một số đơn vị, địa phương chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác phòng cháy, chữa cháy; khi tiến hành quy hoạch, xây dựng, cải tạo công trình, chưa triển khai thực hiện các giải pháp phòng cháy, chữa cháy theo quy định, ý thức chấp hành của người đứng đầu đơn vị, địa phương chưa nghiêm...
UBND tỉnh Nghệ An đã yêu cầu Công an Nghệ An và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trước ngày 15/7 phải tham mưu để UBND tỉnh thành lập các đoàn liên ngành kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy theo các chuyên đề như: Xăng dầu, chợ, trung tâm thương mại, nhà cao tầng, khu công nghiệp, các khu di tích, việc chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng…(Đảng Cộng Sản VN 14/7) đầu trang(
Sau một thời gian nhiều người đổ xô vào các khu rừng ở huyện Sông Hinh, Đồng Xuân cưa hạ cây ươi để hái trái và đã có người chết do bị cây đè, lực lượng chức năng của tỉnh đã vào cuộc ngăn chặn, xử lý các đối tượng vi phạm, đến nay tình trạng này đã giảm hẳn.
Trung tuần tháng 7/2014, trong chuyến hành trình theo trục giao thông phía Tây Phú Yên, từ xã Xuân Phước (huyện Đồng Xuân) đến xã Sông Hinh (huyện Sông Hinh), dọc hai bên đường, chúng tôi thấy sân vườn nhà người dân trống trải, một vài nhà thì đang phơi hạt tiêu.
Còn chuyến đi trước, PV bắt gặp người dân sống hai bên trục đường này phơi ươi như phơi lúa. Ông Trần Văn Trung ở xã Sông Hinh đang chăm sóc cây tiêu cho hay: “Mấy ngày nay, tôi không thấy người vào rừng hái ươi nữa”.
PV đã “mục sở thị” tại khu rừng già thuộc khu vực giáp ranh giữa xã Sông Hinh và huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) để tìm hiểu về nạn chặt hạ cây ươi. Lúc trước, nơi đây rền vang tiếng máy cưa cắt đứt cây ươi…, giờ khu rừng này đã trở lại yên bình.
Ông Lê Ngọc Hải, Chủ tịch UBND xã Sông Hinh cho biết: Xã thành lập 3 tổ, gồm 15 người. Một tổ chốt chặn trên trục đường ngăn chặn không cho người ra vào rừng mang theo cưa máy, còn 2 tổ chia ra lên rừng kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp cưa hạ cây ươi trái phép. Đồng thời, xã cũng tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân địa phương không được chặt hạ cây ươi để thu hái trái. Đến nay không có người vào rừng nữa.
Đến xã Ea Ly (huyện Sông Hinh), PV cũng không còn thấy bóng dáng “đầu nậu” (người mua ươi) rảo quanh các nhà hỏi mua trái ươi như trước. Chị Hờ Hay ở xã Ea Ly cho hay: “Hiện nay không có ai đi hái ươi nữa, có chăng một vài chị em đi nhặt “ươi bay” (ươi khô tự nhiên) theo cách truyền thống”.
Ông Nguyễn Văn Toàn, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh cho biết: “Hạt đã tiến hành làm việc với UBND xã Ea Trol, Sông Hinh và Ea Ly, ký cam kết tổng kiểm tra truy quét việc khai thác, mua bán, cất giữ và vận chuyển trái phép trái ươi. Theo đó, Hạt kiểm lâm và địa phương triển khai lực lượng phối hợp với chủ rừng tổ chức kiểm tra, ngăn chặn không cho người dân mang dụng cụ vào rừng cưa cây ươi và các đầu nậu mua trái ươi. Sau một thời gian ngắn triển khai quyết liệt, đến nay không còn người vào rừng hái ươi trái phép như trước”.
Còn ông N.V.Đ ở xã Xuân Phước (huyện Đồng Xuân), một người chuyên hái ươi giãi bày: “Cách đây 2 tuần, tôi và nhiều người trong xóm đi hái ươi ở rừng Hòn Cùng, Suối Tiên. Đến chỗ cây ươi mạnh ai nấy xí phần, nấy cưa. Cây mình cưa chưa ngã, cây người khác cưa gần đó ngã kéo theo cành nhánh cây rừng đứng xung quanh ập xuống rất nguy hiểm. Kiểm lâm bắt giữ trái ươi khiến không có ai mua ươi nên tôi nghỉ, quay lại với nghề thợ hồ”.
Theo ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân: Thời gian qua, Hạt kiểm lâm huyện tích cực phối hợp với chính quyền các địa phương truy quét, chốt chặn tại các cửa rừng tuyên truyền người dân không vào rừng chặt phá cây ươi, đồng thời ngăn chặn, thu giữ, xử lý các đối tượng mua bán trái ươi trái phép để bảo vệ rừng.
Theo Sở NN-PTNT, cây ươi là cây rừng có giá trị kinh tế, trái ươi có công dụng làm thảo dược, pha chế nước giải khát rất được thị trường ưa chuộng. Trên địa bàn tỉnh, cây ươi phân bố chủ yếu ở các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân... Việc thu hái trái của loài cây này đã mang lại cho người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số thu nhập cao, giúp cải thiện đời sống.
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng người dân vào rừng khai thác trái ươi chưa được quản lý chặt chẽ; phương thức khai thác phổ biến là chặt hạ cây ươi còn sống để lấy quả, nguy cơ gây hủy diệt và thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng. (Báo Phú Yên 14/7) đầu trang(
Việc trồng rừng tại các địa phương vùng rú cát trên địa bàn tỉnh TT-Huế không những mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, chống nạn cát bay, cát lấp.
Tuy nhiên, trước thực trạng cháy rừng vùng cát như hiện nay đã gây nhiều tổn thức kinh tế nghiêm trọng, làm tăng nguy cơ sa mạc hóa tại các khu vực này. Trong khi đó, công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng vùng cát tại các địa phương hiện đang gặp rất nhiều khó khăn.
Đây là hiện trường vụ cháy rừng nghiêm trọng xảy ra tại vùng đồi cát xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế vào ngày 7/7. Chỉ trong phút chốc, trên 30 hecta rừng keo đang ở độ tuổi thu hoạch của các chủ rừng đã bị thiêu rụi hoàn toàn, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng.
Nguyên nhân của vụ cháy được xác định là do người dân đã vứt tàn thuốc bừa bãi. Gặp lúc trời nắng nóng và gió to, thảm thực vật dưới tán rừng lại dày đặc khiến đám cháy bùng phát và lan rộng. Sau khi xảy ra vụ cháy, tỉnh TT-Huế đã huy động lực lượng, cùng hai xe chữa cháy chuyên dụng phòng cháy chữa cháy để ứng cứu cho địa phương. Tuy nhiên, do nơi xảy ra cháy là vùng rú cát, hiện đang thiếu nước trầm trọng nên công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Quảng Điền đã xảy ra 5 vụ cháy rừng vùng rú cát, chủ yếu do người dân chủ quan, dù đang mùa nắng nóng nhưng không tiến hành thu dọn thực bì, tỉa cành, một số người dân còn vứt tàn thuốc bừa bãi gây cháy.
Bên cạnh đó, các chủ rừng cũng chưa chú trọng việc đầu tư các trang thiết bị phòng chống cháy rừng, điển hình là hệ thống dẫn nước. Thực tế cho thấy, khi được trang bị hệ thống này sẽ góp phần rất lớn trong việc phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, đến nay không mấy chủ rừng chú trọng phát triển hệ thống dẫn nước này.
Các khu rừng vùng cát đóng một vai trò rất qua trọng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của địa phương, tạo vành đai sinh học bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, chống nạn cát bay, cát lấp.
Tuy nhiên công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng vùng cát trên địa bàn tỉnh TT-Huế vẫn còn rất nhiều khó khăn gây thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái vùng rú cát. Thực trạng này sẽ còn tiếp diễn, nếu như người dân vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng rú cát. (VTV Huế 13/7) đầu trang(
Ông Hồ Ngọc Hùng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNN tỉnh cho biết: Thời gian gần đây, do giá thu mua quả ươi của tư thương xuất bán sang Trung Quốc cao (khoảng 600 nghìn/kg) nên nhiều người hám lợi (chủ yếu là lâm tặc) đã vào rừng tại các huyện miền núi Vân Canh, Vĩnh Thanh, An Lão, Tây Sơn, Hoài Ân để chặt cây ươi để thu hoạch quả (cả quả chín, quả già và quả non), gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng và gây bức xúc người dân địa phương.
Trước tình hình đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các hạt Kiểm lâm các địa phương tổ chức kiểm tra 45 đợt và đã phát hiện 45 vụ; trong đó, có 43 vụ lâm tặc đã bỏ trốn, còn 2 vụ bắt được quả tang. Qua kiểm tra tại thực địa, cơ quan chức năng thấy lâm tặc chặt bỏ 292 cây ươi các loại và đã tạm thu giữ trên 24 tấn hạt tươi.
Trong thời gian tới, ngành kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục cử các đoàn kiểm tra truy quét ngăn chặn lâm tặc chặt cây ươi thu hạt tại rừng, kiểm tra chốt chặt tất cả các cửa rừng; phối hợp với Cảnh sát giao thông các địa phương kiểm tra phát hiện và xử lý các phương tiện vận tải hạt ươi trái phép trên địa bàn tỉnh. (Tin Môi Trường 13/7) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, đơn vị này vừa xây dựng mới 45.100m2 đường băng cản lửa rừng trồng thuộc các Ban quản lý rừng đặc dụng đèo Cả (huyện Đông Hòa) và Krông trai (huyện Sơn Hòa); cắm mới 90 bảng cấm lửa và duy tu 101.580m2 đường băng cản lửa khác tại các khu rừng trọng điểm, có nguy cơ cháy cao; vận động 578 hộ dân sinh sống, sản xuất gần rừng ký cam kết bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Ngoài ra, các hạt kiểm lâm cũng đã cấp phát 6.875 tờ rơi, cung cấp tài liệu cho các đài truyền thanh cơ sở để tuyên truyền công tác bảo vệ, PCCCR đến các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện phối hợp với các ngành chức năng và chính quyền địa phương chữa cháy rừng.
Theo Cục Kiểm lâm, Phú Yên đang có nguy cơ cháy rừng cấp 5 (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên phạm vi toàn tỉnh, cần triển khai ngay các biện pháp phòng, chống. (Báo Phú Yên 14/7) đầu trang(
Trong diễn biến bất lợi của thời tiết, nhiều vụ cháy rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ở các địa phương trong cả nước đã xảy ra.
Tại Quảng Trị, đây là giai đoạn đỉnh điểm của nắng nóng, nguy cơ xảy ra cháy những diện tích rừng phòng hộ rất cao. Để chủ động phòng chống cháy rừng đối với các khu rừng phòng hộ, phóng viên Báo Quảng Trị đã phỏng vấn ông Trần Xuân Dưỡng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn.
Ông Trần Xuân Dưỡng cho biết: Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn quản lý diện tích rừng 7.997 ha trên địa bàn 3 huyện gồm: Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị.
Trong số diện tích rừng đang quản lý có 3.617,4 ha là rừng tự nhiên ở trạng thái IIB, 4.134,3 ha rừng trồng thuộc dự án 661 và các nguồn vốn khác chủ yếu là cây trồng hỗn giao giữa các loài cây bản địa như Thông nhựa, Sao đen, Sến trung với các loài cây phụ trợ là Keo tai tượng. Với đặc thù rừng phòng hộ, những năm qua công tác quản lý, bảo vệ và triển khai các phương án phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được lãnh đạo các cấp, ngành đặc biệt quan tâm chỉ đạo.
Tuy nhiên, trong điều kiện diện tích rừng phòng hộ chủ yếu nằm trên địa bàn các xã Hải Sơn, Hải Lâm (Hải Lăng), Triệu Thượng (Triệu Phong) và Hải Lệ (thị xã Quảng Trị) có đông các hộ dân sinh sống và sản xuất chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp, canh tác theo truyền thống, đời sống khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.
Trong thời gian nông nhàn, người dân thường vào rừng khai thác lâm sản trái phép, chặt củi, bắt ong lấy mật, rà tìm phế liệu khiến cho công tác PCCCR luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Bên cạnh đó, phần lớn diện tích rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe suối, hạ tầng PCCCR còn thiếu, chưa đáp ứng với yêu cầu đặt ra.
Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cho người dân luôn được đề cao và triển khai thường xuyên với nhiều hình thức thích hợp, đồng thời xây dựng các phương án PCCCR, trong đó tập trung mọi lực lượng, phương tiện cho mùa nắng nóng, đặc biệt là giai đoạn hiện nay khi thời tiết đang đang ở đỉnh điểm của mùa khô. Với tầm quan trọng của rừng phòng hộ nên từ khi thành lập, Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn rất chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ, đặc biệt là PCCCR nên trong thời gian qua không để xảy ra vụ cháy rừng lớn trên phần diện tích quản lý.
Tuy nhiên, với những diễn biến bất lợi của thời tiết hiện nay khi nắng nóng đang ở đỉnh điểm, nhiệt độ tăng cao cộng với gió phơn Tây Nam thổi mạnh khiến nguy cơ cháy rừng luôn ở cấp cảnh báo cực kỳ nguy hiểm. Căn cứ vào các vụ cháy rừng xảy ra trong thời gian qua trên địa bàn các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị cho thấy rừng có nguy cơ cháy cao là loại rừng trồng.
Bên dưới diện tích rừng này là thảm thực vật chủ yếu là cỏ tranh, lau lách, sim mua rất dễ bén lửa vào mùa khô nóng. Trong khi đó, bằng nhiều con đường, người dân thường xuyên vào rừng rà tìm phế liệu, đốt tổ ong rừng lấy mật, nên rất khó kiểm soát. Chính vì vậy, việc triển khai các biện pháp PCCCR được triển khai mạnh từ tháng 4 đến cuối tháng 9 hàng năm, đặc biệt trong giai đoạn đỉnh điểm của mùa khô.
Hiện tại, các phương án PCCCR với phương châm 4 tại chỗ gồm lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ luôn sẵn sàng. Đối với các Trạm quản lý bảo vệ rừng của đơn vị, đây là lực lượng nòng cốt, phải cử lượng bảo vệ rừng tuần tra liên tục 24/24 giờ trên các chòi canh, đồng thời theo sát và nhắc nhở người dân khi vào rừng cẩn thận khi sử dụng lửa trong sinh hoạt, đồng thời hướng dẫn người dân về PCCCR, báo cháy.
Khi phát hiện ngọn lửa bùng phát phải trực tiếp dập tắt, đồng thời báo cháy cho các lực lượng khác để được hỗ trợ. Thành lập các tổ nhận khoán bảo vệ rừng, lực lượng này thường xuyên phối hợp với các Trạm quản lý bảo vệ rừng để cùng tuần tra. Tổ chức phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, cá nhân sinh sống trong rừng và ven rừng hỗ trợ lực lượng ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra.
Các phương tiện chữa cháy được tập kết theo từng điểm cố định sẵn sàng ứng cứu, đồng thời đã tiến hành huy động các phương tiện tại chỗ trong nhân dân như máy thổi, máy phát thực bì, rựa, cuốc, xẻng, bao tải, thùng gánh nước, cành cây để tham gia dập lửa. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên lạc luôn thông suốt, hạ tầng PCCCR đã được đầu tư, nâng cấp như máy móc, thiết bị, hệ thống đường ranh cản lửa, các biển báo cấm, quy ước bảo vệ rừng…
Hiện nay, công tác bảo vệ, PCCCR rất được quan tâm, đặc biệt đối với rừng phòng hộ. Tuy nhiên thời gian qua trên địa bàn cả nước vẫn thường xảy ra những vụ cháy rừng đặc dụng, rừng phòng hộ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn dù chưa xảy ra vụ cháy nghiêm trọng nhưng nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng luôn hiện hữu.
Như đã nói ở trên, nguyên nhân tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng xuất phát từ việc người dân vào rừng đốt tổ ong lấy mật, rà tìm phế liệu, khai thác lâm sản sử dụng lửa bất cẩn. Bên cạnh đó, việc bom đạn chiến tranh còn sót lại trong lòng đất phát nổ gây ra hiểm họa cháy rừng vẫn thường xảy ra.
Để công tác PCCCR đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng đối với rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn cần phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của người dân về bảo vệ rừng. Tôi cho rằng đây là một nhiệm vụ quan trọng và lâu dài cần phải được đặc biệt coi trọng, trong đó cần có sự tham gia tích cực của các cấp, ngành và toàn xã hội ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng phòng hộ. Quan tâm về nhân lực, thiết bị phương tiện cho lực lượng quản lý, bản vệ rừng.
Hiện nay Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn quản lý gần 8.000 ha rừng trong khi đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp quản lý, bảo vệ quá mỏng, chỉ vỏn vẹn 6 người. Phương tiện, trang thiết bị quản lý, bảo vệ và PCCCR còn thiếu đã ảnh hưởng đến công tác tuần tra, bảo vệ và đối phó khi tình huống cháy rừng xảy ra. Các công trình phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng đã xuống cấp như các chòi canh, hệ thống đường ranh cản lửa đã xuống cấp…
Công tác bảo vệ, PCCCR là việc làm thường xuyên và lâu dài, đặc biệt đối với những cánh rừng phòng hộ cần phải được coi trọng. Những khó khăn kể trên cần phải được quan tâm tháo gỡ kịp thời, phát hiệu quả của rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn đối với môi sinh, môi trường. (Báo Quảng Trị 12/7) đầu trang(
Là tiến sĩ, bác sĩ thú y chuyên về cứu hộ các loài linh trưởng, 17 năm trong nghề, bà Ulrike Streicher ngược xuôi khắp các quốc gia - những nơi mà ý thức bảo vệ thiên nhiên hoang dã còn chưa cao, như: Lào, Việt Nam, Campuchia… để tham gia hàng trăm dự án bảo tồn và cứu hộ các loài thuộc nhóm linh trưởng.
Nữ tiến sĩ quốc tịch Đức này đã làm việc tại Vườn quốc gia Cát Tiên 5 năm nay, vẫn miệt mài với công việc của mình. Bà nói, đã đến lúc con người phải thực sự quan tâm đến thiên nhiên, nuôi dưỡng và bảo tồn nó một cách thực sự để giữ gìn chính cuộc sống của mình.
Bà Ulrike Streicher cho biết: Tôi đến Việt Nam năm 1997 để tham gia các dự án bảo tồn đời sống hoang dã. Tôi đã từng làm việc ở Trung tâm cứu hộ linh trưởng Cúc Phương trong thời gian 8 năm, ở Campuchia 2 năm, Lào 2 năm, và hiện tại là Trung tâm cứu hộ linh trưởng Đảo Tiên (Vườn quốc gia Cát Tiên) hơn 5 năm nay.
Việt Nam, Lào hay Campuchia - những quốc gia mà điều kiện kinh tế còn chưa phát triển, hầu như chỉ có bác sĩ thú y cho heo, gà chứ không có bác sĩ thú y cho linh trưởng, gấu hay voi. Đó là những nơi cần chúng tôi nhất. Lúc nào cũng có rất nhiều việc và tôi không thể bỏ đi được. Hiện tại, chúng tôi có 3 dự án ở Việt Nam, cụ thể là ở Cát Tiên, Cúc Phương và Sông Trà (Đà Nẵng), đều liên quan đến bảo tồn linh trưởng.
Tôi bắt đầu làm việc ở Cát Tiên từ năm 2001, vì vào năm đó có một dự án ở đây. Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần thông qua nhiều dự án. Và kể từ cách đây 5 năm, tức là năm 2009, tôi đến Việt Nam thường xuyên hơn để tham gia một dự án về bảo tồn loài linh trưởng ở Đảo Tiên với công việc thường xuyên là kiểm tra sức khỏe cho các loài linh trưởng.
Đây là dự án của Chính phủ Việt Nam hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm bảo tồn các loài linh trưởng, cứu những con linh trưởng bị buôn bán bất hợp pháp. Họ mang chúng đến Đảo Tiên, ở đó chúng tôi chữa trị, huấn luyện chúng và thả chúng về rừng. Chúng tôi cũng cho chúng đeo vòng cổ điện tử để theo dõi sự hòa nhập trở lại của chúng với thiên nhiên, để xem chúng có thể sống sót khi trở lại với cuộc sống hoang dã hay không.
Trước nguy cơ tuyệt chủng của các loài thú quý hiếm, điều duy nhất có thể làm là ra sức bảo vệ chúng, từng chút một.
Hiện tại, Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến đời sống hoang dã, môi trường xung quanh do còn bận tâm về nhiều thứ, như: làm sao để làm ra tiền, xây dựng đường sá... Nhưng tôi cho rằng 10 năm nữa, khi điều kiện hạ tầng đã phát triển thì Việt Nam sẽ bắt đầu trân trọng thiên nhiên hơn.
Còn sự khác nhau căn bản giữa công tác bảo vệ môi trường ở nước phát triển và đang phát triển, có thể so sánh đơn giản như sau: Ở một đất nước phát triển, xã hội rất quan tâm đến môi trường sống xung quanh.
Ví dụ, khi động vật hoang dã vào nhà bạn, kể cả khi con thú hoang đó giết chết con gà của nhà bạn thì bạn cũng không được quyền bắn nó. Bạn có thể bị kiện. Vì họ đã có đủ tiền, pháp luật và những quy định chặt chẽ để phát triển những chương trình bảo vệ thiên nhiên.
Nhưng ở những quốc gia chưa phát triển, hầu như chưa thể có sự trừng phạt thích đáng cho các hành động săn bắt do người dân còn nghèo và ý thức kém, và nhà chức trách có khi còn thông cảm cho điều đó. Chính phủ cần giáo dục người dân về môi trường thiên nhiên và cần làm ngay do có vài loài đã tuyệt chủng.
Từ nhỏ tôi đã yêu động vật và khi lớn lên, tôi muốn trở thành bác sĩ thú y, tôi đã xem gần hết các chương trình truyền hình về đời sống hoang dã và mong muốn bỏ ra cả đời mình để bảo vệ chúng. Công việc có nhiều khó khăn, vất vả, nhưng khi nhìn thấy các loài động vật khỏe mạnh, tự do trong môi trường sống của chúng, tôi cảm thấy rất hãnh diện, hạnh phúc.
Và tôi có thể nói với mọi người bên ngoài rằng, chính tôi là người đã góp phần làm cho cuộc sống của bạn, môi trường sống quanh bạn tốt đẹp hơn. Niềm hạnh phúc đó chính là động lực cho tôi. Khi nghe tiếng những loài linh trưởng kêu, tôi thậm chí còn phân biệt được chúng thuộc họ nào, đực hay cái và là thành viên của gia đình linh trưởng nào. Chúng là niềm vui hàng ngày của tôi.
Tôi luôn trực điện thoại để xem có bất cứ loài động vật nào bị bệnh hay không. Thời gian thất thường, đôi khi rất vất vả. Do sức khỏe và dụng cụ cho thú y không đủ nên nhiều lúc không thể làm gì hơn là nhìn những con thú phải dần chết - điều này làm tôi rất buồn. Nhưng khi giúp được những con khác và thấy chúng hồi phục dần, tôi cảm thấy mình hạnh phúc trở lại.
Nhìn chung, đây là một công việc rất vất vả, khắc nghiệt và không phủ nhận rằng, đã có những lúc tôi nghĩ đến chuyện từ bỏ. Song tôi lại gắng sức theo dự án đến cùng, và khi hoàn thành có kết quả, tôi lại thấy rất vui, lại muốn tiếp tục theo đuổi công việc.
Đa số người dân trên thế giới cũng dùng thịt động vật hoang dã, nhưng ở các quốc gia đang phát triển, tình trạng này nặng nề hơn bởi nhiều người dân vẫn xem nó như đặc sản, đắt và quý. Cách hiểu sai lầm này làm nhiều người điên cuồng săn bắt chúng.
Điều này không liên quan đến văn hóa, truyền thống, vấn đề chính là họ thiếu kiến thức về bảo vệ đời sống cho động vật hoang dã. Về mặt chuyên môn, thịt của các loài thú hoang dã không khác các loại thú nuôi lấy thịt chút nào, không làm cho người ta khỏe hơn như họ vẫn lầm tưởng.
Mọi thứ phải bắt đầu từ giáo dục. Trẻ em được dạy yêu động vật, lớn lên sẽ có ý thức bảo vệ chúng. Nên đưa các kiến thức về bảo tồn thiên nhiên hoang dã vào chương trình học.
Ngoài ra, cũng cần có các sản phẩm truyền thông về thực trạng đời sống thiên nhiên và động vật hoang dã ở Việt Nam. Mỗi chương trình nói về một loài động vật khác nhau. Các bạn cũng cần có những hình phạt cho các hành động săn bắt động vật hoang dã một cách thích đáng. Không thể chờ đến lúc thích hợp, cần phải làm ngay trước khi mọi việc quá muộn. (Báo Đồng Nai 11/7) đầu trang(
Mới đây, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã có công văn gửi các đơn vị trực thuộc chỉ đạo tăng cường phòng, trừ, hạn chế thiệt hại do sinh vật hại rừng gây ra.
Trong đó, Chi cục sẽ xử lý nghiêm đối với các trường hợp cố tình vi phạm hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp phòng, chống sinh vật hại rừng theo quy định.
Được biết, chỉ trong 2 tháng gần đây tình hình sâu hại rừng, nhất là diện tích rừng trồng diễn biến phức tạp và theo chiều hướng gia tăng cả về mức độ bị hại và tỷ lệ gây hại.
Cụ thể tính đến nay toàn tỉnh đã có 2.259ha rừng bị sâu hại, trong đó có 2.254ha rừng keo và 5ha rừng thông. Theo dự báo, tình hình sâu bệnh hại rừng sẽ còn tái diễn vào khoảng 2 tháng tới. (Báo Quảng Ninh 13/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dự thảo Nghị định sắp xếp, đổi mới các công ty nông - lâm nghiệp có quy định cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp, nhà nước nắm giữ cổ phần từ 65% vốn điều lệ trở lên. Nhiều ý kiến cho rằng, tính khả thi của quy định này không cao.
Dự thảo Nghị định sắp xếp, đổi mới các công ty nông - lâm nghiệp mới hướng tới việc chuyển các công ty lâm nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, theo đó sẽ cổ phần hóa 60 công ty, giải thể 7 công ty. Khuyến khích thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường.
Ngoài ra, sẽ giải thể công ty lâm nghiệp thuộc một trong những trường hợp sau: kinh doanh không hiệu quả, lỗ 3 năm liên tiếp, khoán trắng, quy mô diện tích nhỏ dưới 1.000ha, phân bổ xen kẽ với đất nông nghiệp…
Góp ý vào dự thảo, ông Vũ Long - chuyên gia chính sách nông nghiệp - cho biết, trong điều 11, quy định cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần từ 65% vốn điều lệ trở lên tính khả thi thấp, bởi nhà nước nắm giữ tỷ lệ quá cao sẽ kém hấp dẫn với các nhà đầu tư tiềm năng.
Mặt khác, khi công ty lâm nghiệp đã chuyển sang thuê đất rừng sản xuất thì vốn điều lệ không còn bao nhiêu, vì vậy, quy định tỷ lệ 65% cổ phần nhà nước nắm giữ cũng không có ý nghĩa. Ông Long nhìn nhận, rất ít công ty lâm nghiệp có điều kiện thu hút các thành phần kinh tế khác để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên.
Theo PGS.TS Triệu Văn Hùng - Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam, cần xem xét lại quy định về cổ phần hóa công ty nông - lâm nghiệp; cần làm rõ cơ sở nào đưa ra quy định này và có nhất thiết phải để nhà nước nắm giữ 65% vốn điều lệ trở lên hay không?
Trong khi đó, ở Khoản 2 Điều 11 quy định: Các công ty chủ yếu sản xuất giống cây lâm nghiệp và dịch vụ nông lâm thì nhà nước không giữ cổ phần chi phối, thậm chí có thể không giữ cổ phần. Nên chăng, quy định ngược lại giữa hai khoản này có vẻ hợp lý hơn. (Công Thương 15/7) đầu trang(
Liên quan đến việc dùng thuốc diệt cỏ để xử lý thực bì và dọn rừng xảy ra ở Công ty TNHH một thành viên Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, UBND tỉnh đã lập đoàn thanh tra toàn diện các hoạt động của công ty này và đã phát hiện thêm nhiều sai phạm.
Theo báo cáo của UBND tỉnh, sai phạm mới được phát hiện liên quan đến việc làm thất thoát kinh tế trong quản lý, nghiệm thu, thanh toán công trình xây dựng cơ bản và thực thi các khoản thuế của Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình với tổng số tiền lên đến gần 4 tỷ đồng.
Riêng với việc dùng thuốc diệt cỏ để xử lý thực bì và dọn rừng, đoàn thanh tra kết luận, việc làm này trái với quy trình theo quy định tại Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ngày 6/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Việc sử dụng thuốc diệt cỏ để phun xử lý thực bì mà không kịp thời thu gom các vỏ chai theo quy định về bảo vệ môi trường còn vi phạm quy định của Điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ.
Ngoài ra, Lâm trường Bố Trạch, thuộc Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình - đơn vị trực tiếp liên quan đến việc dùng thuốc diệt cỏ để xử lý thực bì và dọn rừng - còn làm trái các quy định của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ.
Với các sai phạm trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, xử lý trách nhiệm và xử lý kỷ luật đối với các tập thể, cá nhân có sai phạm theo kết luận thanh tra; đồng thời chấn chỉnh, khắc phục các sai phạm trong quản lý sử dụng đất, bảo vệ môi trường, khai thác phát triển rừng tại Công ty Công Lâm nghiệp Bắc Quảng Bình. (Tin Tức 14/7) đầu trang(
Bảo vệ và phát triển rừng bền vững, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân bằng nghề rừng là mục tiêu lâu dài và quan trọng mà tỉnh xác định.
Trong những năm qua, đã có nhiều chương trình, dự án và chính sách hỗ trợ người dân trồng rừng được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, phát triển rừng chưa thực sự bền vững còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được kịp thời tháo gỡ.
Để cụ thể hóa mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững, chính quyền cơ sở đóng vai trò vô cùng quan trọng với việc xây dựng kế hoạch, phương án phù hợp với thực tế địa phương; đồng thời giám sát các đơn vị triển khai thực hiện nhằm đạt kết quả cao nhất.
Tuy nhiên, qua đợt giám sát của HĐND tỉnh về tình hình thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012 - 2014 cho thấy một thực trạng: chính quyền cơ sở còn thờ ơ, chưa sâu sát trong thực hiện chương trình này.
Theo báo cáo của UBND huyện Mường Chà, Mường Tùng là một trong những xã điển hình của huyện trong việc thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Đến nay, xã Mường Tùng đã hoàn thành việc điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi 3 loại rừng và đã có 13/15 bản được giao đất giao rừng với tổng diện tích 4.617,29ha.
Đầu năm 2014, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã tiến hành chi trả gần 1 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân trong xã. Thế nhưng, khi đoàn giám sát HĐND tỉnh kiểm tra thực tế tại xã Mường Tùng thì những gì mà lãnh đạo xã nắm được rất sơ sài, thậm chí có nội dung không nắm được gì.
Ngay cả những thông tin cơ bản nhất như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tổng số đàn gia súc, gia cầm... trên địa bàn nhưng từ Bí thư, Chủ tịch đến Phó chủ tịch UBND xã phụ trách nông nghiệp đều không nắm rõ. Để biện minh cho sai sót của mình, đồng chí Chủ tịch xã Mường Tùng đã trả lời đoàn giám sát: “Chúng tôi còn phải làm nhiều việc nên không nắm chính xác những thông tin đó được, tuy không nắm được nhưng chúng tôi vẫn thực hiện rất tốt”.
Tình trạng này diễn ra không chỉ ở xã Mường Tùng mà tại hầu hết các xã mà Đoàn giám sát làm việc. Cùng với việc nắm tình hình thực tế không rõ ràng, việc lập báo cáo của các xã cũng rất yếu. Mặc dù, đoàn giám sát đã gửi hướng dẫn chi tiết xây dựng báo cáo nhưng tại một số xã vẫn không soạn báo báo để gửi đoàn giám sát. Thậm chí có trường hợp 2 xã trên cùng một địa bàn giống nhau tới từng dấu phẩy, dấu chấm câu chỉ khác nhau phần số liệu; thông tin báo cáo không sát nội dung làm việc.
Đặc biệt, đoàn giám sát hỏi một số thông tin cơ bản về chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững đã triển khai trên địa bàn thì hầu như lãnh đạo cấp xã đều không trả lời được. Và chỉ trả lời vòng vo, không sát nội dung hoặc chống chế như cách lãnh đạo xã Sa Lông (huyện Mường Chà) trả lời đoàn giám sát: Thiếu số liệu là do huyện không cung cấp!
Hiện nay, người dân trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng chủ yếu đang được thụ hưởng 2 chính sách hỗ trợ, đó là: Chính sách hỗ trợ gạo và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, qua một thời gian triển khai các chính sách này đã bộc lộ những điểm bất hợp lý.
Với chính sách hỗ trợ gạo, người dân trồng rừng được cấp gạo 3 tháng/lần. Tuy nhiên, qua các đợt giám sát, tiếp xúc cử tri, người dân đã có kiến nghị với các cơ quan chức năng nên thay đổi hình thức hỗ trợ gạo bằng hình thức hỗ trợ tiền hoặc thóc. Bởi vì, gạo được hỗ trợ thường có chất lượng không bằng gạo do người dân tự sản xuất ra, cùng lúc nhận một khối lượng gạo lớn (có gia đình nhận 1 – 2 tạ gạo hỗ trợ/lần) ăn không kịp nên gạo thường bị mốc.
Hơn nữa, với khối lượng gạo lớn, đường sá đi lại khó khăn nên rất khó trong việc vận chuyển, nhất là trong mùa mưa. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, người dân vừa nhận gạo ở UBND xã là bán lại cho những người chăn nuôi, nấu rượu với giá rất rẻ, có chỗ chỉ bằng 50% giá gạo hỗ trợ. Chính vì vậy, người dân kiến nghị, thay vì hỗ trợ gạo thì các cơ quan chức năng nên hỗ trợ bằng tiền hoặc bằng thóc để dễ dàng trong khâu bảo quản.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai đã mang lại niềm vui, tăng thu nhập góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân được giao khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Hình thức chi trả chủ yếu tại các cộng đồng thôn, bản hiện nay là trích 5 – 10% cho tổ bảo vệ, còn lại chia đều số tiền cho tất cả hộ dân trong cộng đồng.
Qua hơn 2 năm thực hiện, hình thức này đang bộc lộ những hạn chế, đó là: Trong một thôn bản có người không tham gia bảo vệ phát triển rừng vẫn được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng như người có nhiều thành tích. Điều này dẫn tới sự thiếu công bằng, dễ gây so bì trong cộng đồng dân cư. (Báo Điện Biên Phủ 13/7) đầu trang(
Nhiều diện tích chè già cỗi cho hiệu quả kinh tế thấp nên người dân chuyển đổi sang trồng keo lấy gỗ.
Một mặt họ vẫn duy trì diện tích chè bằng cách trồng thay thế giống chè cành cho năng suất cao, mặt khác cải tạo chè trên đất núi bằng cách trồng xen lẫn keo, dần thay thế chè già cỗi hoặc đã chết. Bởi theo các hộ, qua hơn chục năm cho thu hái, độ màu mỡ của đất trồng chè giảm đáng kể.
Việc duy trì cây chè đã già trên đất bạc màu rất khó có hiệu quả. Keo lai là loại cây chịu hạn tốt, thích nghi với đất núi, thời gian cho thu hoạch ngắn, giải quyết kịp thời tình trạng để không diện tích chè thu hoạch kém.
Hơn nữa, Hạ Hòa đang phát triển công nghiệp chế biến gỗ, ván ép XK với gần 200 xưởng chế biến lớn nhỏ. Vì vậy, nhu cầu gỗ nguyên liệu khá lớn. Vệc trồng keo lai là hướng đi đúng đắn và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các xã Ấm Hạ, Gia Điền, Phương Viên, Yên Kỳ, Hà Lương, Đại Phạm, Quân Khê…(Hạ Hòa) có diện tích chè già cỗi khá lớn được chuyển đổi trồng keo. Chỉ sau 5 - 7 năm, nhờ sự chăm sóc đúng kỹ thuật cây keo cho thu hoạch.
Hộ ông Nguyễn Văn Trung ở khu 2, xã Ấm Hạ (Hạ Hòa) quyết định chuyển đổi 2 ha chè sang trồng keo lai. Sau 7 năm, toàn bộ diện tích keo xen lẫn cây bồ đề, mỡ, bạch đàn... của gia đình ông đã cho thu hoạch. Trừ chi phí cây giống, phân bón, công chăm sóc... thu gần 200 triệu đồng.
So với đầu tư chăm sóc chè thì trồng keo cho lợi nhuận cao hơn. Cây keo cần ít phân bón, đỡ tốn công chăm sóc, giá cao, thời gian cho thu hoạch không dài. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/7) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm, hiện, toàn tỉnh đã giao, cho thuê gần 145.000ha rừng và đất lâm nghiệp, đạt 99% tổng diện tích.
Trong đó, đã có 52.507 hộ gia đình, cộng đồng dân cư được nhận khoán quản lý, sử dụng hơn 97.400ha; 4 ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được giao hơn 30.500ha; 8 doanh nghiệp được thuê gần 17.000ha rừng và đất lâm nghiệp.
Đạt được kết quả này là nhờ thực hiện thành công Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2009 - 2013.
Bên cạnh đó, đơn vị tích cực phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức rà soát, ưu tiên giao đất, giao rừng cho những hộ gia đình cá nhân đang nhận khoán bảo vệ rừng, hộ gia đình còn thiếu đất sản xuất... tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. (Đại Biểu Nhân Dân 15/7, tr7) đầu trang(
Theo các hộ tham gia trồng rừng thì keo là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Quang Bình là huyện có lợi thế trong phát triển kinh tế rừng của tỉnh Hà Giang. Sau hơn 7 năm triển khai trồng rừng, đến nay toàn huyện đã trồng mới 8.796 ha rừng, trong đó dự án 661 là 3.754 ha, chương trình 135 là 616 ha, còn lại là rừng của người dân và DN. Chủng loại cây rừng được trồng chủ yếu là mỡ, keo, xoan...
Để thực hiện tốt các chỉ tiêu về trồng rừng, hằng năm UBND huyện Quang Bình đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã, thị trấn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện kế hoạch đề ra.
Huyện cũng tập trung tư vấn về đất rừng cho các tổ chức, cá nhân; các hộ gia đình và kêu gọi DN liên kết với nông dân tham gia trồng rừng. Vì vậy đã hình thành các mô hình trồng rừng mang lại hiệu quả cao, làm cơ sở để nhân rộng thành phong trào.
Các địa phương triển khai vận động nhân dân xây dựng hương ước, quy ước nhằm bảo vệ rừng mới trồng. Từ đó phong trào trồng rừng được phát triển sâu rộng, thu hút các gia đình chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng SX…
Đến nay diện tích rừng của một số xã đã cho thu hoạch mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo, có nguồn tích lũy do kinh tế rừng mang lại.
Điển hình là các hộ anh Hoàng Văn Chài ở thôn Yên Phú, hộ anh Hoàng Chung Hà ở thôn Tân Chàng (xã Yên Hà) đều có trên 4 ha keo đến kỳ thu hoạch, được DN chế biến lâm sản thu mua với số tiền gần 200 triệu đồng; hộ anh Nguyễn Văn Huy ở thôn Trung Thành (xã Vĩ Thượng) có 3 ha keo trị giá gần 150 triệu đồng… Ngoài ra, còn nhiều hộ khác cũng có nguồn thu nhập ổn định từ rừng.
Theo các hộ tham gia trồng rừng thì keo là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việc thu mua lâm sản diễn ra khá thuận lợi...
Tuy nhiên, việc trồng rừng ở Quang Bình cũng gặp không ít khó khăn trở ngại như trồng chưa theo vùng quy hoạch, một số hộ chưa nhận thức đúng về tiềm năng trồng rừng kinh tế...(Nông Nghiệp Việt Nam 15/7, tr19) đầu trang(
Báo NNVN vừa đăng loạt bài “Trăn trở trên đất Cà Mau”, đặt ra một số vấn đề được dư luận rất quan tâm về chuyện phát triển KT- XH của địa phương và cả nhu cầu cần thay đổi trong tư duy quản lý của các cấp lãnh đạo.
Ông Lê Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đã có trao đổi để làm rõ hơn các vấn đề mà NNVN đặt ra.
Ông Lê Dũng cho biết: Do hiệu quả của việc nuôi tôm công nghiệp khá cao, nên từ giữa năm 2013 đến quý I năm 2014 diện tích nuôi tôm công nghiệp tăng đột biến, trong đó có nhiều hộ dân đầu tư ngoài vùng quy hoạch.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở NN-PTNT và UBND các huyện, thành phố Cà Mau rà soát lại quy hoạch để điều chỉnh cho phù hợp, đồng thời khuyến cáo nhân dân không đồng loạt mở rộng diện tích khi điều kiện nuôi tôm chưa đảm bảo.
Tuy nhiên, tình trạng tự phát đầu tư mở rộng diện tích vẫn tăng nhanh, dẫn đến lưới điện không đảm bảo phục vụ sản xuất, dịch bệnh phát sinh và lây lan sang các vùng nuôi lân cận do xả thải nguồn nước bị ô nhiễm ra sông rạch nhưng chưa được xử lý.
Để đảm bảo nuôi tôm công nghiệp phát triển theo quy hoạch, kế hoạch, nhằm hạn chế tình trạng thiếu cơ sở hạ tầng, nhất là điện, thủy lợi; dịch bệnh phát sinh và gây hại, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và UBND các huyện, thành phố tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thực hiện tốt các quy định của Nhà nước trong nuôi trồng thủy sản;
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, gắn với đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; tăng cường lực lượng giám sát chặt chẽ môi trường vùng nuôi, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm…
Thời gian qua, tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo tăng cường phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa; vận động doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm đầu vào có chất lượng và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân; hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất phù hợp và phòng, chống dịch bệnh...
Từ đó, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển khá tốt, sản lượng và chất lượng hàng hóa nông sản ngày càng được nâng lên, bước đầu hình thành một số mô hình có hiệu quả, điển hình như mô hình cánh đồng mẫu, nuôi tôm sinh thái, vùng nuôi an toàn...
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn còn tự phát, chưa mang tính hàng hóa, thiếu liên doanh, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Để khắc phục tình trạng này, thời gian tới, tỉnh triển khai thực hiện tốt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2020.
Trong đó, quy hoạch lại sản xuất theo hướng hàng hóa; ưu tiên nhân rộng các mô hình liên doanh, liên kết có hiệu quả, nhất là trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và sản xuất lúa; đẩy mạnh xây dựng, củng cố và phát triển kinh tế tập thể; tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất...
Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt Đồ án Quy hoạch tổ chức lại sản xuất và bố trí dân cư khu vực rừng tràm tỉnh Cà Mau.
Quy mô thực hiện trên phạm vi 7 xã thuộc huyện U Minh, với diện tích tự nhiên 22.869 ha, diện tích quy hoạch 3.244 ha.
Mục tiêu xây dựng các điểm dân cư gắn với sản xuất nông nghiệp để bố trí ổn định, tái định cư 3.976 hộ dân sống phân tán trong rừng tràm và hộ chính sách không đất sản xuất; dự toán tổng kinh phí thực hiện 1.408 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương 848 tỷ đồng, vốn địa phương 225 tỷ đồng, vốn nhà đầu tư 50 tỷ đồng, còn lại huy động từ người dân.
Do nguồn vốn thực hiện Đồ án rất lớn; mặt khác, khi thực hiện phải chuyển đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp, thu hồi, đền bù giải phóng mặt bằng do hộ dân quản lý với diện tích khá lớn, dẫn đến không đảm bảo nguyên tắc giữ ổn định diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp rừng tràm, gây xáo trộn đời sống của nhân dân trong lâm phần... nên tiến độ triển khai rất chậm.
Để tháo gỡ khó khăn nêu trên, trước mắt tỉnh triển khai thực hiện thí điểm, với quy mô bố trí ổn định khoảng 200 hộ dân sống phân tán trong lâm phần.
Về lâu dài, tỉnh đã chỉ đạo Sở NN-PTNT và các sở, ngành, đơn vị có liên quan rà soát quy mô, đối tượng, phạm vi quy hoạch, chính sách hỗ trợ để điều chỉnh Đồ án sát với tình hình thực tế của địa phương và quy định hiện hành.
Trên cơ sở đó, xác định cụ thể kế hoạch, tiến độ, phân kỳ đầu tư và huy động, lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác để thực hiện.
Khu vực rừng U Minh Hạ có tổng diện tích 40.576 ha rừng và đất lâm nghiệp; trong đó có 8.527,8 ha rừng đặc dụng và 32.048,2 ha rừng sản xuất.
Theo Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Cà Mau đến năm 2020, mục tiêu quy hoạch rừng nói chung, khu vực U Minh Hạ nói riêng nhằm bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; bảo vệ và phát huy các giá trị sinh thái, đa dạng sinh học, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh kết hợp phát triển du lịch sinh thái; sử dụng tài nguyên rừng và quỹ đất được quy hoạch cho lâm nghiệp có hiệu quả và bền vững theo quy định; nâng cao độ che phủ của rừng và cây phân tán.
Xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động lâm nghiệp; phát triển chế biến gỗ nhằm nâng cao giá trị của rừng, giải quyết đầu ra cho các sản phẩm từ rừng; tạo thêm việc làm, cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân trong lâm phần, góp phần giảm nghèo bền vững; đảm bảo an ninh, quốc phòng ở địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/7, tr6) đầu trang(
Sau khi Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh tuyên án, tất cả đối tượng liên quan gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, viện kiểm sát đều kháng cáo, kháng nghị khi phiên xử có quá nhiều “sạn”.
Bản án dân sự số 06/2014/KDTM-ST ngày 17-4-2014 của TAND tỉnh xoay quanh vấn đề tranh chấp hợp đồng (HĐ) mua bán rừng trồng. Nguyên đơn là ông Hoàng Trọng Độ (49 tuổi, trú thôn Cao Lâm, xã Vĩnh Lâm, huyện Vĩnh Linh. Đồng bị đơn (nhóm hộ) là các ông Hồ Thanh Xuân, Nguyễn Bặm, Lê Cương (cùng ở thôn Đại An Khê, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng). Bà Đào Thị Hồng (47 tuổi, ngụ cùng thôn) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngày 23-12-2013, ông Độ làm đơn kiện. Theo đó, ngày 25-12-2007 ông và nhóm hộ thỏa thuận miệng bán cho ông 10ha rừng trồng tại Tiểu khu 841TR và 841TR (thuộc xã Hải Trường, huyện Hải Lăng) giá 340 triệu đồng. Ngày 25-12-2007, ông Độ đặt cọc 50 triệu và sau 5 ngày, ông trả thêm 250 triệu; 40 triệu còn lại thỏa thuận khi nào khai thác xong sẽ thanh toán hết. Hai bên làm HĐ mua bán, có xác nhận của UBND xã Hải Thượng.
Ngày 22-11-2009, bà Hồng bị Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Hải Lăng truy tố về tội “trộm cắp tài sản” do khai thác lô rừng trên. Báo Công an TPHCM ngày 31-1-2013 đăng bài phản ánh, tòa sơ thẩm và phúc thẩm tuyên buộc Viện KSND huyện Hải Lăng (đơn vị truy tố oan sai) phải bồi thường 695 triệu đồng, khôi phục danh dự cho bà Hồng bằng cách công khai xin lỗi tại nơi cư trú và đăng trên phương tiện thông tin đại chúng.
Ông Độ cho rằng do bà Hồng vi phạm nên HĐ khai thác rừng của ông với nhóm hộ không thực hiện được đồng thời yêu cầu nhóm hộ trả 300 triệu đồng là số tiền đã mua 10ha rừng. Nhóm hộ và bà Hồng đều phản bác, đưa ra các hồ sơ, chứng cứ chứng minh ông Độ vu khống, bóp méo sự thật.
Tòa xét thấy giấy nhận tiền ngày 25-12 và 30-12-2007 mà ông Độ cung cấp không xác định được thời điểm viết. Xác nhận của UBND xã Hải Thượng ký ngày 20-2-2008 có dấu vết sửa chữa, nguyên gốc là 20-12-2007 (mâu thuẫn với ngày nhận tiền đặt cọc 25-12-2007), còn 250 triệu đồng ông Độ giao cho nhóm hộ ghi trong giấy nhận tiền ngày 30-12-2007 không phù hợp, vì theo nhóm hộ và bà Hồng thì họ nhận tiền ngày 30 hoặc 31-12-2007. Bà Hồng khai số tiền này vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hải Lăng (có chứng từ) vào ngày 31-12-2007. Nhóm hộ cho biết thêm, lúc ông Độ yêu cầu ký giấy bán rừng thì chưa biết ông và bà Hồng xảy ra mâu thuẫn. Trước đó, hai người làm ăn chung, tình cảm thân thiết.
Sau khi bà Hồng được tuyên vô tội và được bồi thường oan sai thì nhóm hộ nhiều lần yêu cầu ông Độ, bà Hồng khai thác rừng, nhưng chỉ có bà Hồng trả nốt khoản tiền còn lại, bồi thường thiệt hại do chậm HĐ, còn ông Độ không phản hồi.
Qua xem xét tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định việc mua bán rừng trồng bắt đầu từ ngày 25-12-2007. Số tiền 250 triệu đồng là của bà Hồng trả cho nhóm hô, 10ha rừng được bán cho cả ông Độ và bà Hồng. Các tài liệu ông Độ xuất trình không phù hợp với tình tiết, diễn biến vụ việc, vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tuy nhiên, ý kiến của hai hội thẩm nhân dân (HTND) cho rằng việc khởi kiện của ông Độ có cơ sở vì nhóm hộ trực tiếp nhận tiền từ ông này nhưng chỉ cho bà Hồng khai thác rừng. Do đó, buộc họ phải trả lại cho ông Độ 300 triệu đồng. Căn cứ khoản 2 điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) về nghị án, kết quả biểu quyết 2/3 nên HĐXX chấp nhận theo đa số.
Ngày 29-4-2014, tất cả nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, viện kiểm sát đều kháng cáo, kháng nghị bản án. Nhóm hộ đề nghị tòa phúc thẩm hủy án sơ thẩm, bác đơn kiện của ông Độ đồng thời xem xét việc HTND thiếu khách quan trong xét xử vì đã ưu ái cho ông Độ khi có một bộ hồ sơ (phôtô) về vụ án không được tòa cung cấp. Ông Độ cũng kháng cáo, cho rằng phần xét hỏi và nhận định của tòa không đúng luật.
Viện KSND tỉnh Quảng Trị kháng nghị, cho rằng nhận định của bản án không tuân thủ theo quy định tại khoản 2 điều 236 BLTTDS, tuyên theo biểu quyết của HTND. Phần nhận định được phân tích, đánh giá theo chủ tọa, còn khi quyết định lại theo ý kiến của hai HTND nên có sự mâu thuẫn. Viện KSND tỉnh đề nghị tòa phúc thẩm xét xử theo hướng sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Độ, buộc ông này phải chịu án phí 15 triệu đồng.
Điều đáng nói, thẩm phán hẹn các đương sự ngày 21-4-2014 (tức 5 ngày sau khi xét xử) tuyên án, nhưng mới được một ngày (18-4-2014) lại tuyên trong khi vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trước đó vài giờ, thẩm phán thông báo (bằng điện thoại) cho các đương sự nhưng mọi người không đến kịp do quá bất ngờ không thể sắp xếp được. Rõ ràng thẩm phán đã vi phạm thủ tục xét xử. Bà Oanh cho rằng: “Do hai HTND đi công tác trong ngày tuyên án như lịch dự kiến nên phải tuyên trước”.
Dư luận xôn xao rằng nội dung vụ án dân sự sơ thẩm cơ bản giống với vụ hình sự mà các cơ quan tố tụng của tỉnh, huyện Hải Lăng đã truy tố bà Hồng. Sau đó, bà này được tuyên vô tội và được bồi thường oan sai gần 700 triệu đồng.
“Màn bí mật” sẽ được “vén” trong phiên xử phúc thẩm do TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử tại trụ sở TAND tỉnh 17-7-2014. (Công An TPHCM 12/7) đầu trang(
Đắc Lắc có tiềm năng rất lớn để phát triển trồng rừng và chế biến gỗ rừng trồng, tập trung chủ yếu ở các huyện M’Drak, Lak, Krông Bông, Ea Kar, Ea H’leo….
Tuy nhiên, do chưa có nhà máy chế biến lâm sản quy mô lớn, nên nguyên liệu rừng trồng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ tại chỗ, phải xuất bán ở các địa phương khác với giá bấp bênh…
Huyện M’Drak là địa phương phát triển mạnh việc trồng rừng từ năm 2007 đến nay với diện tích hơn 13.900 ha, trong đó diện tích rừng của người dân là hơn 6.000 ha, còn lại là của các đơn vị: Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp M’Drak, Ban quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu, Công ty Cổ phần tập đoàn Tân Mai, Công ty TNHH Tam Phát, Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành M’Drak và Dự án “Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên” (FLITCH).
Tuy nhiên, trên thực tế hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng là không cao. Theo tính toán của những người trồng rừng, với chu kỳ 5 -7 năm, bình quân mỗi ha rừng trồng phải đầu tư 15 - 25 triệu đồng tiền giống, phân bón và công chăm sóc, nhưng chỉ khai thác được từ 60 đến 80 ster đôi (1ster đôi tương đương gần 1 m3 gỗ tròn), với giá bán hiện nay khoảng 400.000 đồng/ster đôi sẽ thu được từ 24 - 35 triệu đồng, tính ra lợi nhuận chẳng còn bao nhiêu.
Do hiệu quả kinh tế thấp, đầu ra sản phẩm bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao trong khi tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp (DN) trồng rừng lại hạn chế, nên diện tích rừng trồng hàng năm không tăng nhiều. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp M’Drak có 2.650 ha rừng trồng liên kết với người dân, sản lượng khai thác bình quân hàng năm khoảng 20.000 – 26.000 m3 nhưng chưa có khả năng chế biến tại chỗ nên phải bán cho các công ty nguyên liệu giấy.
Tuy nhiên, do chưa có hợp đồng tiêu thụ lâu dài nên công ty phải mời thầu thu mua hàng năm, giá cả bấp bênh. Do phụ thuộc vào sự lên xuống của thị trường nên DN rất bị động trong kế hoạch tài chính và sản xuất kinh doanh hàng năm. Cụ thể, năm 2014 công ty dự kiến khai thác 400 ha, nhưng do giá cước vận chuyển tăng, đơn vị thu mua hạn chế số lượng mua nên chỉ khai thác được 200 ha, vì vậy việc tổ chức sản xuất và trồng mới rừng cũng phải giảm xuống 50%.
Ông Ngô Văn Đức, Phó Tổng giám đốc công ty cho biết, lợi nhuận từ việc trồng rừng không cao do giá bán gỗ quá thấp và không có nhà máy chế biến tại chỗ. Đơn vị dự kiến đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ công suất lớn, nhưng thiếu vốn nên chưa triển khai được. Nếu có nhà máy chế biến tại chỗ thì giá thành sản phẩm sẽ được nâng cao, giảm chi phí vận chuyển, tăng lợi nhuận, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Cũng vì hiệu quả kinh tế thấp mà người dân không còn mặn mà với việc đầu tư trồng rừng hoặc liên kết với các đơn vị lâm nghiệp.
Anh Lưu Quang Hùng, thôn 1, xã Ea H’Mlay (huyện M’Drak) cho biết, trước đây gia đình anh trồng 2 ha rừng keo nhưng giá bán quá thấp và không ổn định nên phần lớn diện tích chuyển sang trồng các loại cây khác, chỉ còn lại 3 sào rừng.
Ông Trần Mạnh Quân, Phó phòng NN-PTNT huyện M’Drak cho biết, mỗi năm huyện khai thác khoảng 92.000 m3 gỗ rừng trồng, tuy nhiên chỉ có 2 đơn vị chế biến, công suất nhỏ, khối lượng gỗ còn lại phải bán đi các tỉnh khác, nhiều nhất là Khánh Hòa. Hiện Hợp tác xã Tiến Nam đang triển khai dự án xây dựng nhà máy sản xuất dăm gỗ (tại thôn 1, xã Cư Kroa, M’Drak), công suất 25.000 tấn sản phẩm/năm. Hy vọng sau khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ giải quyết được phần nào chuyện dư thừa nguyên liệu gỗ rừng trồng trên địa bàn huyện.
Toàn tỉnh hiện có hơn 84.000 ha rừng trồng, đây là nguồn nguyên liệu rất lớn phục vụ ngành công nghiệp chế biến. Một số DN đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến như: Công ty TNHH Lan Chi, Công ty TNHH Bảo Lâm, Công ty Cổ phần trồng rừng Trường Thành M’Drak.
Tuy nhiên cơ sở chế biến hầu hết công suất nhỏ, chủ yếu là sơ chế, hiệu quả còn thấp, trong khi đó các đơn vị muốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nhưng do nguồn kinh phí hạn chế nên rất khó thực hiện. Theo tính toán của những nhà chuyên môn, để tiêu thụ sản phẩm cần đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản có công suất 400.000 – 500.000 m3 gỗ/năm, nhưng do trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn nên đầu ra cho gỗ rừng trồng vẫn đang là vấn đề nan giải.
Do vậy, địa phương cần quy hoạch, khuyến khích phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu, nhằm tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho các cá nhân, DN tham gia trồng rừng. (Đắc Lắc 24h 14/7) đầu trang(
Năm 2014, huyện Mường Lát phấn đấu trồng mới 4.000 ha rừng tập trung và 40 ha rừng phòng hộ. Với phương châm “thiết kế đến đâu tiến hành trồng rừng đến đó”, tính đến hết tháng 6-2014, huyện Mường Lát đã thiết kế được 3.493 ha rừng (đạt 87,3% kế hoạch), trồng mới được 2.049,1 ha (đạt 51,2% kế hoạch).
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2014, huyện Mường Lát đã chỉ đạo ban quản lý Dự án 147 cơ sở và ban quản lý 661 huyện tiến hành khảo sát thiết kế diện tích rừng tại các địa phương; các đơn vị chủ động sản xuất và cung ứng giống cây kịp thời cho bà con nhân dân tiến hành trồng rừng.
Tuy nhiên, do địa hình đồi núi dốc, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt thường xuyên xảy ra sạt lở đất trong mùa mưa nên việc vận chuyển cây giống để trồng rừng gặp không ít khó khăn.
Thực hiện Quyết định số 552/QĐ-TTg ngày 4-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mường Lát tự nguyện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong thời gian chưa tự túc được lương thực giai đoạn 2013 – 2018, huyện Mường Lát đã tiến hành cấp 679.550 kg gạo cho 4.151 hộ/21.654 khẩu tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng năm 2012 và 2013.
Đồng thời, tuyên truyền, vận động bà con nhân dân tham gia trồng rừng, phát triển kinh tế, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. (Báo Thanh Hóa 13/7) đầu trang(
Đời sống của nhân dân xã Đạo Viện (Yên Sơn) chủ yếu dựa vào kinh tế vườn rừng. Và từ phát triển kinh tế rừng, đời sống của bà con nơi đây ngày càng được cải thiện, nâng cao...
Phát huy thế mạnh của địa phương, những năm gần đây, nhân dân trong xã đã đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, tạo công ăn việc làm ổn định, mang lại nguồn thu nhập khá cao.
Toàn xã có trên 3.900 ha đất lâm nghiệp, chiếm gần 90% diện tích đất tự nhiên. Trước đây, người dân địa phương không mặn mà với nghề trồng rừng vì chưa thấy hết lợi ích mà rừng mang lại. Xã đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách hỗ trợ người trồng rừng của Nhà nước để nhân dân nắm bắt và thực hiện.
Đến nay, toàn xã có trên 430 hộ tham gia phát triển kinh tế rừng. Riêng 6 tháng 2014, xã đã trồng mới được trên 110 ha cây keo lai.
Một trong những hộ đi đầu trong phát triển kinh tế rừng ở Đạo Viện là gia đình ông Đinh Văn Đường, thôn Oăng. Trước năm 2000, gia đình ông là hộ nghèo của xã; được chính quyền địa phương giao 10 ha đất để trồng keo và bạch đàn, giờ đã chuẩn bị cho khai thác.
Theo tính toán, sau khai thác, gia đình ông thu lãi khoảng 600 triệu đồng. Cũng như vậy, cách đây gần 10 năm, gia đình ông Đinh Hoài Tịnh, thôn Oăng cứ đến kỳ giáp hạt lại phải chạy ăn từng bữa. Năm 2001, ông Tịnh đã mạnh dạn nhận hơn 10 ha đất đồi bỏ hoang, đầu tư vốn và nhân lực trồng keo. Ông tích cực tham gia các lớp tập huấn, tham khảo tài liệu để có kiến thức, kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng.
Sau gần 7 năm, hơn 10 ha rừng keo lai của gia đình ông bắt đầu cho thu hoạch. Thấy rõ hiệu quả từ kinh tế rừng, nên khai thác đến đâu, gia đình ông tiến hành trồng lại ngay tới đó, trong 2 năm 2013 - 2014 ông đã khai thác và trồng mới gần 4 ha rừng keo. Ông Đinh Văn Đồng, Trưởng thôn Oăng cho biết: Thôn có 260 ha rừng sản xuất, trong đó 65% diện tích đã cập tuổi khai thác. Đây là nguồn thu kinh tế lớn cho người dân trong thôn.
Sau hơn 7 năm triển khai trồng rừng kinh tế, hiện xã Đạo Viện đã có trên 714 ha rừng đang trong thời kỳ cho khai thác. Với giá như hiện nay, mỗi ha rừng, trừ chi phí người dân sẽ thu được gần 60 triệu đồng. Riêng năm 2013 và 6 tháng năm 2014, các hộ dân trong xã đã thu được gần 10 tỷ đồng từ bán nguyên liệu gỗ rừng trồng. Nguồn thu từ rừng đã giúp nhiều hộ thoát nghèo, điển hình như hộ Nguyễn Văn Thanh, Thôn Phào; Trần Tờ Mậu, thôn Nghìn...
Việc vận động nhân dân trồng và phát triển rừng không chỉ tạo công ăn việc làm cho phần lớn người lao động địa phương phát triển nghề rừng mà còn tạo ra lực lượng cơ động tại chỗ để bảo vệ, chăm sóc rừng tận gốc. Nhiều năm nay trên địa bàn xã Đạo Viện không để xảy ra cháy rừng. Điều đó cho thấy công tác trồng, PCCCR của người dân nơi đây thực sự đã và đang mang lại hiệu quả, làm thay đổi nhận thức của người dân về phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Hiện nhu cầu được giao đất trồng rừng của người dân trong xã Đạo Viện còn rất lớn; UBND xã đang tiếp tục rà soát diện tích đất lâm nghiệp để lập hồ sơ đề nghị UBND huyện giao đất cho nhân dân trồng rừng, tạo điều kiện cho mỗi gia đình làm giàu từ phát triển kinh tế rừng. (Báo Tuyên Quang 11/7) đầu trang(
Thực hiện Kế hoạch 388/KH-UBND của UBND tỉnh Điện Biên về việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2013 - 2015, đến nay đã có trên 107,7 nghìn ha đất lâm nghiệp có rừng trên địa bàn được giao cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn bản.
Điện Biên hiện có trên 602 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó đất lâm nghiệp có rừng 317 nghìn ha, còn lại là đất lâm nghiệp chưa có rừng (khoảng 285 nghìn ha).
Số diện tích đất lâm nghiệp có rừng được giao đạt 34% (cơ bản đạt chỉ tiêu theo Kế hoạch 388), thuộc địa bàn các huyện: Nậm Pồ, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay.
Tuy nhiên, mới chỉ có thị xã Mường Lay hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 33 cộng đồng dân cư với diện tích trên 5.300 ha. Các địa phương khác trong tỉnh hiện vẫn đang tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ để giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản.
Năm 2014, các địa phương dự kiến sẽ tiến hành giao 144,1 nghìn ha đất lâm nghiệp có rừng, số còn lại sẽ được giao tiếp trong năm 2015. Diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng theo kế hoạch sẽ phải giao được 50% trong năm 2014, song tới thời điểm hiện tại vẫn chưa giao được bất kỳ ha nào và sẽ được thực hiện trong những tháng còn lại của năm 2014 và năm tiếp theo. (Đài PTTH Điện Biên 13/7) đầu trang(
Theo Sở NN và PTNT, năm 2014, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho phát triển rừng và phát triển lâm nghiệp trên địa bàn là 260,6 tỷ đồng.
Trong đó, 185 tỷ đồng trích từ nguồn dịch vụ môi trường rừng; ngân sách tỉnh chi 10 tỷ đồng cho trồng và chăm sóc rừng; 3,84 tỷ đồng để trồng cây phân tán; kinh phí quản lý bảo vệ rừng của các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp 28,6 tỷ đồng; 19 tỷ đồng từ Chương trình bảo vệ và phát triển rừng; 14,2 tỷ đồng kinh phí phòng chống cháy rừng mùa khô 2013-2014.
Trong 6 tháng đầu năm, từ nguồn kinh phí này, toàn tỉnh đã thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 376.136ha rừng cho 22.852 hộ dân, trong đó có 17.662 hộ là người dân tộc thiểu số. (Đại Biểu Nhân Dân 14/7, tr7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Axelle Despiegelaere - nữ cổ động viên bóng đá người Bỉ xinh đẹp - vừa bị cắt hợp đồng với công ty hóa mỹ phẩm lớn nhất thế giới L'Oréal sau khi để lộ những hình ảnh săn bắn động vật hoang dã tại châu Phi.
Axelle Despiegelaere vô tình lọt vào ống kính các phóng viên thể thao khi đang có mặt tại Brazil để cổ vũ cho đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ. Bức ảnh cô thiếu nữ 17 tuổi với chiếc mũ “Quỷ đỏ” trên đầu, hình quốc kỳ in trên má và nụ cười rạng rỡ đã nhanh chóng thu hút cư dân mạng.
Axelle được mệnh danh là một trong những cổ động viên xinh nhất mùa giải World Cup 2014 và trở thành ngôi sao mạng xã hội khi Facebook của cô thu hút hơn 200.000 lượt “thích” (like) chỉ trong vòng 2 tuần sau đó.
Đáng giá nhất, Axelle đã nhận được hợp đồng quảng cáo cho một sản phẩm về tóc của hãng L'Oréal Bỉ.
Tuy nhiên, “ngày vui ngắn chẳng tày gang” khi chính những hình ảnh trên mạng xã hội đã dẫn tới việc L'Oréal chấm dứt hợp đồng với Axelle vào ngày hôm 11-7.
Theo Telegraph, nguồn cơn của sự việc này là từ tấm hình Axelle, với tay cầm khẩu súng trường, chụp cạnh xác một chú linh dương. Bức ảnh chụp cách đó 1 năm tại châu Phi nhưng mới được người mẫu tuổi teen này đăng tải trên Facebook hôm 1-7 khi tuyển Bỉ có trận tranh đấu với tuyển Mỹ hôm 1-7.
Trên Facebook, Axelle còn đùa khi ghi lời chú thích ảnh rằng: “Săn bắn không phải là vấn đề sống hay chết. Ảnh này chụp cách đây 1 năm rồi, còn hôm nay thì sẵn sàng “săn” người Mỹ, haha”.
Hành động săn bắn động vật hoang dã và cả câu đùa vô ý của Axelle vấp phải sự chỉ trích nặng nề từ phía dư luận sau đó. Ngày 9-7, Axelle đã phải xóa bỏ trang Facebook của mình nhưng vụ việc đã đi quá xa khi L'Oréal tuyên bố chấm dứt hợp đồng với nữ cổ động viên xinh đẹp này, đồng thời nhấn mạnh hãng từ lâu đã “không còn thử nghiệm các sản phẩm trên động vật”.
Theo Telegraph, L'Oréal vốn khá nhạy cảm với vấn đề liên quan đến phúc lợi động vật. Hai năm trước, hãng đã tặng 1,2 triệu USD cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ để giúp cải thiện các thử nghiệm hóa chất an toàn mà không cần sử dụng động vật. (Tuổi Trẻ 12/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||