Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GỚI

BẢO VỆ RỪNG
Bức xúc vì bị lực lượng công an xã bắt nộp đủ 30 triệu đồng, nếu không sẽ bắt bỏ tù và tịch thu cả chiếc xe chở gỗ, anh Đào Văn Hà ở xã Ia Ga, huyện Chư Prông đã gửi đơn tố cáo
Anh Hà trình bày vào ngày 26-4, anh phát hiện và trục vớt được một cây gỗ khô tại suối Đục. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Hà nhờ xe anh Trần Văn Đoạt (cùng xã Ia Ga) chở cây gỗ về nhà thì bị lực lượng Công an xã Ia Ga bắt giữ. “Lúc bị bắt ông Nguyễn Văn Trọng (trưởng công an xã) đã yêu cầu tôi phải nộp phạt 30 triệu đồng nếu không sẽ tịch thu cả xe lẫn gỗ mà còn bắt phải đi tù” - ông Hà nói.
Khi chỉ mượn được 25 triệu mang tới thì ông trưởng công an xã trả lời dứt khoát: “Mày về đi, 30 phút nữa không có tiền thì đưa cả xe lẫn gỗ về Hạt Kiểm lâm”.
Anh Trần Văn Đoạt xác nhận: “Lần cuối cùng khi mượn đủ số tiền 30 triệu đồng, anh Hà chở tôi xuống để chạy xe gỗ về. Lúc đó, anh Hà đưa tiền cho ông Trọng, ông này lấy tiền bỏ vào túi rồi viết biên bản bắt tôi và anh Hà ký vào”.
Khi về nhà, anh Hà mới nhận thấy việc công an xã yêu cầu nộp phạt 30 triệu đồng mà không ghi biên lai nộp phạt và cũng không thông báo nội dung biên bản mà anh ký nên nảy sinh nghi ngờ có khuất tất và đã gọi điện báo cơ quan chức năng.
Đến sáng 28-4, Hạt Kiểm lâm Chư Prông đã đến nhà anh Hà lập biên bản về việc cất giữ lâm sản trái pháp luật, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp nên đã tịch cây gỗ thu đưa về UBND xã Ia Ga, sau đó ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối về hành vi cất giữ lâm sản trái phép, đồng thời tịch thu tang vật là 1,258 m3 gỗ tròn nhóm IIA mà anh Hà vớt được dưới suối.
Sau khi xảy ra sự việc, anh Hà đã làm đơn tố cáo vụ việc gửi các cơ quan ban ngành huyện Chư Prông.
Ngày 11-7, bà Phạm Thị Thu Hiền, Chủ tịch UBND xã Ia Ga cho biết đã nhận được Công văn số 1021 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Prông yêu cầu chủ tịch UBND xã Ia Ga tạm đình chỉ công tác đối với ông Nguyễn Văn Trọng, Trưởng công an xã Ia Ga vì đã vi phạm quy trình công tác.
Kết quả xác minh điều tra của Công an huyện Chư Prông cho thấy: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác, khi phát hiện vụ việc vi phạm pháp luật nhưng ông Trọng đã không báo cáo với lãnh đạo UBND xã để xin ý kiến chỉ đạo; khi xác định lâm sản vận chuyển không có nguồn gốc là vi phạm hành chính, trưởng công an xã đã lập biên bản nhưng không phải là biên bản vi phạm hành chính mà chỉ là biên bản xác minh, biên bản này không có chữ ký của tổ công tác cũng như của người lập; không tạm đình chỉ phương tiện, tang vật vi phạm để tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết…
Vụ việc đang được tiếp tục điều tra, làm rõ. (Người Lao Động 12/7) đầu trang(
13.7, ông Ngô Đức Hòa - GĐ Cty TNHH MTV Hân Thịnh (xã Trung Sơn, huyện Gio Linh– chủ sở hữu 2,6m3 gỗ bị CA TP.Đông Hà tạm giữ (LĐ số 153 ngày 4.7 đã có bài viết "DN bị tạm giữ 2,6m3 gỗ cẩm lai, CA TP.Đông Hà: Cố tình kéo dài thời gian giải quyết") cho biết - đã khởi kiện vụ án hành chính lên tòa án.
Ông Hòa đã kiện ông Trần Hữu Văn - Đội trưởng Đội cảnh sát kinh tế CA TP.Đông Hà – người trực tiếp thu giữ 2,6m3 gỗ cẩm lai và lãnh đạo CA TP.Đông Hà - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Nội dung đơn nêu, ông Trần Hữu Văn đã tạm giữ lô gỗ của DN quá thời gian Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định mà không tiến hành xử lý hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý; lãnh đạo CA TP.Đông Hà có sự bao che cho cấp dưới làm trái quy định của pháp luật, giải quyết khiếu nại của DN thiếu khách quan. (Lao Động 14/7, tr7) đầu trang(
Ngày 12-7, trạm cảnh sát giao thông (CSGT) Ngọc Hồi thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh đã lập biên bản, tạm giữ tang vật và phương tiện vi phạm.
Theo ông Vũ Hồng Doãn - CSGT trạm Ngọc Hồi, khi kiểm tra ôtô biển số nước ngoài do Khamvongsa (39 tuổi, quốc tịch Lào, thường trú tại Lào) điều khiển chạy từ hướng cửa khẩu quốc tế Bờ Y, huyện Ngọc Hồi về TP Kon Tum phát hiện trên xe chở khoảng 1m3 gỗ trắc nhưng không có giấy tờ hợp pháp.
Lái xe Khamvongsa không xuất trình được giấy tờ đăng ký xe, còn giấy phép lái xe do Lào cấp nhưng đã hết hạn vào tháng 9-2013. Vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ. (Tuổi Trẻ 13/7, tr5; Thanh Niên 14/7, tr17) đầu trang(
Khung cảnh yên bình của xã miền sơn cước Tân Tri (Bắc Sơn, Lạng Sơn) bỗng bị phá tan bởi tiếng gầm rú của đoàn xe máy chở gỗ nghiến. Những chiếc xe máy lấm lem bùn đất, chở gỗ cao quá đầu người, oằn mình vì sức nặng, lấy đà phóng đi như bay.
6h sáng, 11h trưa, 3h chiều, 11h đêm, thậm chí là 3h đêm, mỗi ngày có cả trăm mét khối gỗ nghiến được các "lâm tặc" vận chuyển trót lọt trước mắt của chính quyền sở tại và lực lượng kiểm lâm địa bàn.
Theo thông tin PV nắm được, những đối tuợng này vận chuyển gỗ từ xã Nghinh Tường (Võ Nhai) xuyên rừng rồi chở qua địa bàn xã Tân Tri. Hai con đường mòn đất nhão nhoẹt tạo thành gọng kìm chính là đuờng đi của nhũng lâm tặc này. Một đường nối từ Nghinh Tường qua thôn Thâm Xi (thuộc xã Tân Tri), đường còn lại nối từ bản Mùn (xã Nghinh Tường) xuyên thẳng về con đường chính trước cổng UBND xã Tân Tri.
Ngày thứ nhất, PV ngược từ Nghinh Tường về Tân Tri qua con đường mòn của thôn Thâm Xi. Khung cảnh núi rừng rộng lớn, tĩnh mịch đến rợn người. Đoạn đường nối giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn chỉ có duy nhất một gia đình người dân tộc Dao đỏ sinh sống. Phục kích từ sáng, thêm một buổi chiều, PV vẫn chưa phát hiện được những đối tượng chở nghiến “bay”. Trời về chiều, ánh nắng nhạt dần, hơi lạnh từ cây rừng phả vào mặt khiến PV rùng mình.
Vượt tiếp cung đường đất dựng đứng, nhão nhoẹt sau đêm mưa, PV về “đóng quân” tại trung tâm xã Tân Tri. Đoạn đuờng chừng 6 km nhưng phải mất đến một tiếng đồng hồ mới có thể vượt qua. Nhiều đoạn, xe máy cài số 1 vẫn không thể lên. Cậu đồng nghiệp sợ toát mồ hôi hột phải nhảy xuống đẩy xe, đoạn thì chạy trước kiểm tra đường để hoa tiêu.
Ngày thứ hai, dậy thật sớm, lần theo cung đường thứ hai có vẻ dễ “nhằn” hơn, cách UBND xã Tân Tri không xa. Hết đoạn đường sỏi đá, PV đi sâu vào chừng 5 km, khu vực suối Tính, suốt Tát rồi dừng lại “săn mồi”. Vờ bị hỏng xe, PV vác cờ-lê, tuốc-nơ-vít ra “chọc ngoáy” vài đường cơ bản. Từ con đường cái dẫn vào, PV gặp ít nhất 2 người... cũng hỏng xe.
Những người này dựa xe vào tảng đá rồi ngồi hút thuốc, mắt đảo như rang lạc. Thấy PV, nhóm người này nhìn với ánh mắt không thân thiện và bắt đầu “phát sóng ngắn”, nói tiếng bản địa. Cứ khoảng nửa tiếng lại có chiếc xe Wave phóng vèo qua, hai bên kẹp hai can xăng, loại 5 lít. Những chiếc xe này mang biển kiểm soát của tỉnh Thái Nguyên. 3 tiếng đồng hồ chờ đợi, từ xa, PV nghe thấy tiếng xe máy thồ hàng nặng, “vít” ga khét lẹt. Tiếng người nói oang oang, vang cả một góc rừng. Quay sang cậu đồng nghiệp, nháy mắt “Đến rồi đấy, chuẩn bị nhé”.
Từ con dốc xa xa, một tốp xe máy lầm lũi tiến lên, những người này vẫn cười nói rôm rả. Đằng trước, đằng sau, hai bên, gỗ nghiến được chằng chặt bằng dây cao su trên khung sắt. Gỗ được xẻ thành từng khúc nhỏ như chiếc hộp, rồi thành thớt.
Chắc chắn đây là những cây gỗ nghiến lâu năm, đường kính thân cây lớn. Mỗi xe như vậy chở được vài mét khối gỗ nghiến. Tốp xe này mang biển kiểm soát tỉnh Thái Nguyên. Thấy PV đứng ở ven đường, nhóm này quay ra nhìn, tiếng cười nói tắt lịm. Qua con dốc, những con “ngựa sắt” được vít ga hết cỡ, như chồm lên rồi lao ra đường cái.
Đây đều là nhũng chiếc xe được “độ” thêm một cặp giảm sóc, bộ khung sắt chở đồ. Một vài chiếc, lốp còn được quấn xích, tăng độ bám đường để chở gỗ. Chớp mắt, những xe chở gỗ nghiến đã đi cách PV đoạn khá xa. “Đuờng xấu mà chúng đi như thế, phải anh em mình chắc toi rồi”, cậu đồng nghiệp tặc lưỡi. Chiếc xe thứ 11 đi cuối cùng không chở gỗ mà mang theo 2 can xăng, có nhiệm vụ tiếp xăng cho những xe nghiến “bay”.
Ghi hình đã đầy đủ tại khu vực suối Tính, suối Tát, PV ngược ra con đường cái, đoạn ngay trước cổng UBND xã để phục kích. Đúng lh chiều, đoàn xe 10 chiếc chở gỗ cao vượt đầu người bắt đầu phóng qua. Đường đẹp và vắng, những đối tượng này cho xe chạy hết tốc lực, tiếng pô xe gầm lên đinh tai nhức óc. Vận tốc trung bình đạt 70 - 80 km/giờ. Thoạt nhiên, một đối tượng dừng lại, rút điện thoại ra nghe. Sau vài câu “sóng ngắn”, đột nhiên đối tượng này quay đầu xe đánh vèo rồi chạy như ma đuổi.
Thấy vậy, một số đối tượng khác cũng cho xe luồn sâu vào khu vực thôn Ngọc Lâu. Để tránh bị nghi ngờ, PV bỏ xe ven đường, đi theo nhóm đối tượng này vào thôn Ngọc Lâu. Đến cuối đường bê tông, những người này dừng lại, bỏ xe một chỗ rồi đứng cách đó chừng chục mét ngó nghiêng. 15 phút sau, chuông điện thoại lại réo rắt rồi nhóm người này vòng xe lại con đường cái, tiếp tục phóng như bay.
Tốp lúc nãy từ đâu cũng xuất hiện, nhập đoàn như chưa có gì xảy ra. Đêm hôm đó, PV tiếp tục chứng kiến cảnh hàng đoàn xe máy chở gỗ nghiến phóng qua với tốc độ kinh hoàng. Mỗi nhóm từ 6 - 10 xe, đèn pha bật cao, rọi thẳng vào PV. Chuyến nghiến “bay” cuối cùng PV ghi nhận đuợc là vào 3h sáng. Trung bình có khoảng 50 - 60 chuyến nghiến “bay” như thế đi qua khu vục xã Tân Tri mỗi ngày.
Những người dân khu vực thôn Ngọc Lâu đã quen cảnh chứng kiến nhiều năm nay, ngày nào cũng vậy, giờ không ai buồn để ý. Khu vực suối Tính, suối Tát và sâu hơn nữa hoàn toàn không có sóng điện thoại. Nhưng chỉ khi ra gần trung tâm xã, những đối tượng chở gỗ này liên tục được điện để báo “chốt”.
Khi thấy lực lượng kiểm lâm hoặc cảnh sát giao thông ở phía trước, sẽ có người gọi điện báo để những đối tượng này tìm cách lẩn trốn. Và sau những cú điện như thế, nhóm chở gỗ nghiến lại tách ra, bủa đi như ong vỡ tổ. Nhiều học sinh trường cấp II gần đó kể lại, có hôm đang học thì đoàn xe chở gỗ mang theo bùn đất phi thẳng vào cửa lớp. Sau đó, những đối tượng này bỏ của chạy lấy người, chớp mắt chỉ còn những chiếc xe gỗ chỏng chơ giữa sân trường. “Ban đầu chúng em còn thấy sợ, nhiều lần rồi thấy bình thuờng. Họ vứt xe đó, lúc sau quay lại lấy rồi đi”, một học sinh kể.
Chính vì sự chuyên nghiệp, tinh vi, những đối tượng này ít khi bị dính lưới, có chăng chỉ bắt được lẻ tẻ... vài xe cho vui. Ai là người báo “chốt” cho những đối tượng này là câu hỏi không lời đáp. Và số gỗ nghiến này chở từ đâu đến đây, khu rừng đang bị tàn phá là nơi nào, có ai tiếp tay cho những đối tượng này hay không? Một loạt những câu hỏi thổi thúc PV nguợc cung đường đất nối hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn để tìm hiểu. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/7, tr15) đầu trang(
Được thành lập từ năm 1864, đến nay “Sở thú” - tên gọi thân quen của Thảo cầm viên (TCV) Sài Gòn - Công ty TNHH MTV Thảo cầm viên Sài Gòn, đã tròn 150 năm.
Nếu như năm 2004 chỉ có 600.000 lượt người, nay mỗi năm TCV Sài Gòn đón trên 2 triệu lượt khách tham quan, học tập. Hiện TCV Sài Gòn có đến 125 loài với gần 1.000 cá thể, với nhiều chủng loài quý hiếm của Việt Nam và thế giới.
Trong khi tình trạng săn bắt nhiều loài thú quý hiếm diễn ra khắp nơi, công tác chăm sóc, bảo tồn, nhân giống, sinh sản cho nhiều cá thể tại TCV Sài Gòn thành công, là việc mang nhiều ý nghĩa. (Sài Gòn Giải Phóng 13/7, tr5) đầu trang(
Lãnh đạo VKSND Tối cao vừa có văn bản yêu cầu VKSND tỉnh kiểm tra, báo cáo việc xử lý vụ phá trắng 25,3 ha rừng phòng hộ tại tỉnh mà báo Tiền Phong đã nêu.
Trong văn bản chỉ đạo, lãnh đạo VKSND Tối cao tóm tắt nội dung bài “Vụ phá rừng nghiêm trọng ở Khánh Hòa: Voi thành chuột nhắt”, đăng trên báo Tiền Phong số ra ngày 26/6. Theo đó, báo cáo ngày 28/5/2013 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, đã có 25,3 ha rừng phòng hộ tại tiểu khu 105 thuộc xã Khánh Bình (Khánh Vĩnh) bị phá trắng, tổng khối lượng lâm sản bị thiệt hại khoảng 6.300 m3.
Đây là một trong những vụ phá rừng nghiêm trọng nhất ở Khánh Hòa từ trước đến nay, UBND tỉnh đã chỉ đạo điều tra làm rõ và xử lý vụ phá rừng nghiêm trọng này. Ngày 5/7/2013, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh khởi tố vụ án “hủy hoại rừng” và chuyển hồ sơ đến Công an huyện để điều tra.
UBND tỉnh chưa ban hành quy định về khung giá rừng, nhưng theo quy định về giá các loại rừng ở tỉnh Đắk Lắk, do UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành, rừng giàu phòng hộ thuộc huyện M’Đrắk, giáp huyện Khánh Vĩnh có giá từ 351 triệu đồng/ha đến 488 triệu đồng/ha. Với 25,3 ha rừng phòng hộ, phần lớn là rừng giàu bị phá trắng, giá trị tài sản thiệt hại phải là nhiều tỷ đồng.
Tuy nhiên, Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Khánh Vĩnh xác định tổng thiệt hại của 25,3 ha rừng bị phá sạch này chỉ có 80,6 triệu đồng. Cho rằng không đủ yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản nhà nước, Công an huyện Khánh Vĩnh không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chủ rừng là Cty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương. (Tiền Phong 14/7, tr10) đầu trang(
Ông Ngô Quang Tuyên, Phó Giám đốc Sở VHTT và Du lịch Đồng Tháp cho biết, cây khế 287 năm tuổi và cây sộp 326 năm tuổi được trồng tại khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc, phường 4, TP Cao Lãnh vừa được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận Cây di sản Việt Nam. 2 cây được trồng cạnh khu vực mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hiện nay 2 cây phát triển rất tốt, được trồng trong chậu, cành lá sum sê theo dáng kiểng. Riêng cây khế có bề rộng 0,5m, cao 4m mỗi năm cho trái rất sai, ăn rất ngọt.
Còn cây sộp cao 3m được cắt tỉa theo tầng, mỗi bên có 9 tầng, giống như chùa tháp. Cây sộp do ông Ngô Văn Hay (thầy giáo Ký) ở Tân Hưng, Sá Đéc trồng vào năm 1688, đến đời con cháu của ông Hay đã mang cây này qua tặng cho khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc.
Đây là 2 cây đầu tiên của Đồng Tháp được công nhận là cây di sản. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/7, tr2) đầu trang(
13/7, một cán bộ có trách nhiệm của Viện KSND tối cao cho biết, đơn vị này đang dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn xử lý hình sự hành vi buôn lậu , vận chuyển tàng trữ trái phép sừng tê giác, ngà voi.
Cụ thể, đối với sừng tê giác từ 0,3 kg đến dưới 0,9 kg hoặc từ 3kg đến dưới 9kg ngà voi thì được coi là hàng cấm có số lượng lớn, hàng hóa nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn; từ 0,9kg đến dưới 2,7kg sừng tê giác hoặc từ 9kg đến dưới 27kg đối với ngà voi được coi là hàng cấm có số lượng rất lớn, hàng phạm pháp có số lượng rất lớn. Còn trên các mức này được coi là có số lượng đặc biệt lớn.
Theo báo cáo của Viện KSND tối cao, ngà voi và sừng tê giác là loại nghiêm cấm mua bán trên thị trường. Tuỳ theo tình tiết cụ thể của từng vụ việc, các hành vi buôn bán vận chuyển ngà voi hay sừng tê giác bị xử lý theo các tội “Buôn lậu”, “Vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới”, “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán hàng cấm”.
Tuy nhiên, việc xử lý các tội này đang gặp vướng  mắc là các điều luật đều có quy định định lượng ở các tình tiết định khung cấu thành cơ bản và tăng nặng (hàng cấm có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn).
Mặt khác, đây là hàng hoá cấm mua bán nên không có giá trên thị trường và cơ quan Nhà nước không thể định giá. Theo phản ánh của một số địa phương và các ngành, nếu không có hướng dẫn sẽ không xử lý được.
Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa xét xử vụ án buôn lậu 3,2kg sừng tê giác nhưng đối tượng buôn lậu chỉ bị tuyên phạt 2 năm tù cho hưởng án treo.
Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đang điều tra 1 vụ án về vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi và đã kết thúc 4 vụ án vận chuyển, buôn bán trái phép sừng tê giác từ nước ngoài vào Việt Nam. (Công An Nhân Dân 14/7, tr1) đầu trang(
Ông Nguyễn Đức Tưng, Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, từ đầu năm đến nay, các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 390 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó, xử lý hành chính 387 vụ, xử lý hình sự 3 vụ.
Các lực lượng chức năng đã tịch thu gần 150 m3 gỗ các loại, hơn 67 kg động vật hoang dã... nộp ngân sách trên 1,6 tỷ đồng thông qua xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật, phương tiện bị tịch thu.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, so với cùng kỳ năm trước thì năm nay số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm đáng kể (giảm trên 100 vụ), nhưng tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng còn diễn biến phức tạp. Việc các đối tượng lén lút khai thác mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra tập trung chủ yếu trên địa bàn hai huyện Chiêm Hóa và Na Hang.
Nguyên nhân chủ yếu là do chính quyền cơ sở nhiều nơi còn thiếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện; sự tham gia, phối hợp của các ngành có liên quan trong công tác bảo vệ rừng còn hạn chế, trong khi đó lực lượng kiểm lâm còn mỏng, cách bố trí lực lượng chưa hiệu quả. Mặt khác, các đối tượng vi phạm, hoạt động ngày càng tinh vi, manh động hơn, vẫn còn tình trạng chống người thi hành công vụ.
Trong thời gian tới, để hạn chế tối đa các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, ngành kiểm lâm tỉnh chủ động bố trí lực lượng, quản lý, vận hành các chốt, trạm, thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng.
Chi cục Kiểm lâm tiếp tục tăng cường lực lượng để hỗ trợ cho 2 Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang, Lâm Bình trong công tác bảo vệ rừng; thực hiện có hiệu quả phương án nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ kiểm lâm, kiểm tra trách nhiệm của lãnh đạo, công chức của cán bộ kiểm lâm trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các trường hợp thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời, tiếp tục phối hợp cùng các cấp, các ngành tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho người dân nâng cao ý thức chấp hành nghiêm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. (Tin Tức 14/7; Công An Nhân Dân 14/7, tr4) đầu trang(
Ông Hồ Ngọc Hùng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh cho biết: Thời gian gần đây, do giá thu mua quả ươi của tư thương xuất bán sang Trung Quốc cao (khoảng 600.000/kg) nên nhiều người hám lợi đã vào rừng tại các huyện miền núi Vân Canh, Vĩnh Thanh, An Lão, Tây Sơn, Hoài Ân để chặt cây ươi, thu hoạch quả (cả quả chín, quả già và quả non), gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng và khiến người dân địa phương bức xúc.
Trước tình hình đó, Sở Nhân Dân&PTNT tỉnh đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các hạt Kiểm lâm các địa phương tổ chức kiểm tra 45 đợt và đã phát hiện 45 vụ; trong đó, có 43 vụ lâm tặc đã bỏ trốn, còn 2 vụ bắt được quả tang. Qua kiểm tra tại thực địa, cơ quan chức năng phát hiện lâm tặc chặt bỏ 292 cây ươi các loại và đã tạm thu giữ trên 24 tấn hạt tươi.
Trong thời gian tới, ngành kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục cử các đoàn kiểm tra truy quét ngăn chặn lâm tặc chặt cây ươi thu hạt tại rừng, kiểm tra chốt chặn tất cả các cửa rừng; phối hợp với cảnh sát giao thông các địa phương kiểm tra phát hiện và xử lý các phương tiện vận chuyển hạt ươi trái phép. (Tin Tức 14/7, tr11) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, Phú Yên đang ở mức dự báo cháy rừng cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên phạm vi toàn tỉnh.
Trước tình hình này, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai các biện pháp phòng cháy rừng. Toàn tỉnh đã xây dựng mới 45.100m2 đường băng cản lửa rừng trồng thuộc các Ban quản lý rừng đặc dụng đèo Cả (Ðông Hòa) và Krông Trai (Sơn Hòa); cắm mới 90 bảng cấm lửa và duy tu 101.580 m2 đường băng cản lửa khác tại các khu rừng trọng điểm, có nguy cơ cháy cao; vận động 578 hộ dân sinh sống, sản xuất gần rừng ký cam kết bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng...(Nhân Dân 14/7, tr2) đầu trang(
Tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Hạt Kiểm lâm Tam Đảo vừa phối hợp cùng các lực lượng chức năng tổ chức việc thả 14 cá thể rùa đất Tam Đảo về với môi trường tự nhiên.
Trong số những cá thể rùa được thả về với tự nhiên có 11 cá thể với trọng lượng trên 1,2kg đã được Hạt Kiểm lâm Tam Đảo thu giữ từ 1 vụ mua bán trái phép của người dân trong tháng 6/2014 và 3 cá thể đã được UBND thị trấn Tam Đảo giao nộp với trọng lượng 0,16 kg.
Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân trong công tác chăm sóc và bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm; tạo sự đồng thuận giữa nhân dân và các lực lượng chức năng trong việc bảo vệ hệ sinh thái rừng của Vườn Quốc gia Tam Đảo nói riêng, bảo vệ môi trường sinh thái nói chung. (Vinhphuc.gov.vn 11/7) đầu trang(
Sáng 10/7, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác quản lý bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Ông Đào Xuân Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Báo cáo tại hội nghị đã chỉ rõ, trong 6 tháng đầu năm nay, toàn tỉnh đã xảy ra 602 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tăng 53 vụ so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó phổ biến là tình trạng mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái pháp luật. Phá rừng xảy ra 22 vụ với tổng diện tích thiệt hại gần 30hecta.
Đến nay các cơ quan chức năng đã xử lý 526 vụ, khởi tố 18 vụ. Số lượng tang vật bị tịch thu hơn 1.236 m3 gồm gỗ tròn và gỗ xẻ. Theo đánh giá của các ngành chức năng, tuy số vụ vi phạm có tăng nhưng qui mô và mức độ thiệt hại đều giảm so với cùng kỳ.
Tại hội nghị, ông Đào Xuân Liên, phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các ngành, địa phương, hạt kiểm lâm đánh giá thực chất tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn trong thời gian qua. Đặc biệt là việc quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ, tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Những tồn tại, hạn chế hiện nay để từ đó có hướng tháo gỡ phù hợp.
Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Xuân Liên nhấn mạnh để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung, trong đó trọng tâm là ngăn chặn tình trạng khai thác, phá rừng, mua bán, vận chuyển, cất giữ, chế biến lâm sản trái pháp luật, từng địa phương, ngành chức năng và chủ rừng cần có giải pháp quản lý bảo vệ rừng cụ thể.
Phải thống kê lại các kho gỗ trên địa bàn có nguồn gốc từ đâu và có giải pháp xử lý từng đầu nậu mua bán gỗ trái phép. Tiếp tục tổ chức lực lượng tăng cường tuần tra, truy quét lâm tặc, trong đó chủ tịch UBND các huyện phải trực tiếp chỉ đạo lực lượng này.
Bên cạnh đó, các địa phương phải hoàn thành tốt công tác kiểm kê rừng để qua đó thấy rằng công tác quản lý bảo vệ rừng thời gian quan có tốt hay không. (Đài PTTH Gia Lai 10/7) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm cho biết: từ đầu năm 2014 đến nay trên địa bàn huyện đã xảy ra 142 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, tăng 8 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Trong đó, phá rừng , khai thác rừng trái phép là  68 vụ, mua bán , cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép 50 vụ và vi phạm khác 24 vụ. Nguyên nhân dẫn đến các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng tăng là do một số doanh nghiệp sau khi được cấp phép cho thuê rừng, đất rừng chậm triển khai dự án và không tổ chức thực hiệ tốt công tác quản lý bảo vệ rừng.
Trong số các vụ vi phạm nêu trên, đến nay các cơ quan chức năng ở huyện Bảo Lâm đã xử lý 110 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 3 tỷ đồng.
Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, cùng với việc tuyên truyền, vận động, tuần tra kiểm soát, huyện Bảo Lâm đang đề nghị UBND tỉnh thu hồi đối với những dự án cho thuê rừng, đất rừng không triển khai thực hiện theo đúng cam kết. (Đài PTTH Lâm Đồng 11/7) đầu trang(
Võ Nhai là huyện vùng cao, địa bàn rộng, giáp ranh với nhiều tỉnh; đây là trở ngại lớn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Xong do Hạt Kiểm lâm Võ Nhai làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng; nhờ đó mà việc khai thác, vận chuyển, mua bán, kinh doanh lâm sản trái phép giảm; công tác trồng rừng vượt so với kế hoạch đề ra.
Trong 6 tháng đầu năm, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã phát hiện và xử lý 39 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 200 triệu đồng. Đồng thời, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét các hành vi khai thác, tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép; qua đó đã góp phần giảm đáng kể tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Bên cạnh việc làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, ngay từ đầu năm, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn phối hợp với Ban lâm nghiệp các xã tiến hành cấp phân bón, cây trồng, cử cán bộ kỹ thuật xuống hướng dẫn các hộ gia đình thực hiện trồng rừng theo đúng kỹ thuật.
Năm 2014, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai được giao trồng mới 650ha rừng sản xuất, đến nay đã trồng được trên 480 ha, bằng 74% kế hoạch. Đơn vị cũng đã khoán bảo vệ rừng được 1.310 ha, bằng 262% kế hoạch.
6 tháng cuối năm, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai sẽ tiếp tục tham mưu cho các cấp triển khai, thực hiện các quy định về bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng; kiểm tra, truy quét ngăn chặn việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép…
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, qua đó  nâng cao nhận thức của người dân, nhất là người dân các xã vùng cao về công tác quản lý, bảo vệ rừng; tiếp tục tăng cường cán bộ xuống địa bàn, đẩy mạnh tuần tra các khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, nhất là những địa bàn giáp ranh. (Đài PTTH Thái Nguyên 10/7) đầu trang(
Các hộ ở những thôn, bản nằm trong vùng lõi, vùng đệm của rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thiếu cơ hội sinh kế vững chắc buộc phải tác động vào vốn rừng.
Thanh Hóa có 6.500 hộ thuộc 150 thôn bản ở trong vùng lõi, vùng đệm của hơn 80 nghìn ha rừng đặc dụng, hơn 190 nghìn ha rừng phòng hộ. Sức ép mưu sinh, nhu cầu làm nhà ở nên người dân vẫn lén lút khai thác lâm sản, gây nên tình trạng mất an ninh rừng.
Đường về Nà Đang sau những trận mưa đầu mùa trơn nhẫy, lòng đường xẻ rãnh sâu, ổ gà to như hố trâu đầm. Cả bản Nà Đang cùng diện tích canh tác nằm lọt thỏm giữa vùng lõi của BQL Rừng phòng hộ sông Lò. Bình quân mỗi lao động canh tác chưa đầy 400 m2 đất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo trong bản chiếm tới 81% .
Trong nhân dân vẫn tồn tại tâm lý lợi dụng vốn rừng, dù đã ký cam kết thực hiện các quy ước quản lý, bảo vệ rừng. Thông thường hộ đồng bào Thái chuẩn bị dần gỗ làm nhà trong nhiều năm nên tại mỗi hộ luôn có gỗ cất dấu. Nhu cầu thiết yếu xen lẫn một số cá nhân có động cơ khai thác gỗ thương mại nên nảy sinh các vụ khai thác rừng trái phép ở Ban Quản lý Rừng phòng hộ sông Lò.
Theo kết quả kiểm tra rừng của kiểm lâm huyện Lang Chánh tại nhiều lô, tiểu khu rừng tình trạng khai thác gỗ xảy ra khá nhiều. Tại thời điểm kiểm tra một số hộ trong thôn đang dựng nhà và có hộ ông Lò Văn Nhơ dựng khung nhà để bán bị cấp ủy, chính quyền, nhân dân trong thôn tạm giữ.
Theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, toàn tỉnh có 6.500 hộ, hơn 30.000 nhân khẩu thuộc 150 thôn, bản ở trong vùng lõi, vùng đệm của rừng đặc dụng, phòng hộ. Thời gian qua lực lượng kiểm lâm tham mưu cho tỉnh rà soát, quản lý 10.313,2 ha nương rẫy, hướng các chương trình hỗ trợ nhân dân trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng nhằm tạo sinh kế, thu nhập cho các hộ dân sống gần rừng, gắn bó với rừng.
Dù vậy, người lao động ở 150 thôn, bản nêu trên thiếu đất canh tác, chưa được giao đất, nhận rừng. Mấy năm gần đây Nhà nước hỗ trợ các hộ còn quỹ đất trống, nhất là hộ nghèo trồng rừng theo Quyết định 147 nhưng vẫn còn nhiều hộ ở các thôn, bản có đặc điểm dân sinh kinh tế giống bản Nà Đang không được tham gia vì không được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Các hộ ở những thôn, bản nằm trong vùng lõi, vùng đệm của rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thiếu cơ hội sinh kế vững chắc buộc phải tác động vào vốn rừng, gây mất an ninh rừng.
Theo cán bộ, công nhân viên BQL Rừng phòng hộ sông Lò, đơn vị đã đề xuất thiết kế, hỗ trợ kinh phí bảo vệ khoảng 1.000 ha rừng khu vực này, tạo cơ hội cho nhân dân có thêm thu nhập, cùng tham gia bảo vệ rừng. Thực hiện Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chức năng ở Thanh Hóa đã khảo sát nguyện vọng, rà soát toàn bộ các thôn, bản nằm trong vùng lõi, vùng đệm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, tham mưu giao bớt diện tích đất lâm nghiệp do các đơn vị đang quản lý cho các địa phương.
Theo đó các BQL rừng phòng hộ: Mường Lát bàn giao 1.200 ha, Na Mèo 859 ha, Thanh Kỳ 279 ha và cơ quan chức năng tiếp tục tham mưu cho tỉnh giao hơn 38 nghìn ha đất lâm nghiệp các xã đang quản lý cho hộ dân canh tác. Bên cạnh đó Tổng Công ty Giấy Việt Nam hoàn trả hơn 14.000 ha cho Thanh Hóa đầu tư phát triển vốn rừng.
Lực lượng kiểm lâm cũng đã rà soát toàn bộ số lượng gỗ hiện có trong hộ dân nhằm quản lý chặt, yêu cầu các hộ chứng minh nguồn gốc số lượng gỗ chuẩn bị để làm nhà. Theo thống kê, báo cáo của 9 huyện miền núi, tại 6.500 hộ dân hiện có 23.142 m3 gỗ.
Kiểm lâm Thanh Hóa đã niêm yết công khai tất cả các số điện thoại của lãnh đạo, kiểm lâm viên theo Đề án 500/QĐ-CCKL “Tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, đề nghị của nhân dân về công tác kiểm lâm”. Để bảo vệ rừng tận gốc phát triển vốn rừng bền vững phải tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân sinh sống trên đất rừng.
Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Lâm nghiệp Lê Văn Mơn thông tin thêm: Nhu cầu vốn phát triển lâm nghiệp rất lớn nhưng kinh phí phân bổ hàng năm chỉ đạt 40% đến 50% kế hoạch. Nếu như năm 2010 Thanh Hóa được phân bổ hơn 70 tỷ đồng cho hoạt động bảo vệ, phát triển rừng thì những năm sau đó giảm dần.
Riêng năm 2014 nguồn ngân sách đầu tư trồng, chăm sóc rừng trồng đạt khoảng 16 tỷ đồng, nguồn ngân sách sự nghiệp bảo vệ rừng là 23 tỷ đồng. Tỉnh chú trọng khơi dậy nguồn lực trong nhân dân, tranh thủ thêm các nguồn hỗ trợ phát triển vốn rừng từ các tổ chức quốc tế. Thanh Hóa đã và đang tiếp cận gần 20 triệu USD thông qua ba dự án sử dụng vốn vay ODA để trồng rừng thương mại; trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ; chương trình rừng và đồng bằng.
Cùng với đó tỉnh quan tâm phục tráng, thâm canh gần 30 nghìn ha rừng luồng nghèo kiệt, xây dựng 50 nghìn ha rừng thâm canh gỗ lớn đi đôi với quy hoạch mạng lưới chế biến lâm sản, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng đầu tư phát triển lâm nghiệp.
Cái khó là ngân sách tỉnh còn hạn hẹp nên chính sách phục tráng rừng luồng, khuyến khích phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn chưa được thông qua; quy hoạch phát triển cơ sở chế biến lâm sản vẫn trong giai đoạn khởi động. Lâm nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn ở vùng thượng du Thanh Hóa nhưng khu vực này hiện có 7 huyện nghèo trong số 62 huyện nghèo cả nước.
Cấp ủy, chính quyền, nhân dân các huyện đang nỗ lực thực hiện Nghị quyết 09 của BCH Đảng bộ tỉnh mới ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh, bền vững ở các huyện miền núi đến năm 2020 nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, thực hiện thắng lợi di huấn của Bác Hồ “Thượng du thắng, Thanh Hóa thắng”. (Văn Hóa & Đời Sống Thanh Hóa 10/7) đầu trang(
Bảo vệ và phát triển rừng là nghĩa vụ của các cấp, các ngành và toàn dân, trong đó lực lượng kiểm lâm đóng vai trò nòng cốt. Xác định rõ nhiệm vụ của mình, Hạt Kiểm lâm huyện Xín Mần luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng.
Xín Mần là huyện miền núi, có địa hình phức tạp, diện tích rừng tương đối lớn nên việc tuần tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn trong khi lực lượng kiểm lâm lại mỏng, nhiều đồng chí phải kiêm nhiệm.
Để khắc phục những khó khăn này, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Xín Mần đã phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên giữ trọng trách ở các trạm hoặc phụ trách các xã trọng điểm có diện tích rừng lớn. Tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn mình quản lý.
Tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền trong nhân dân về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, quản lý lâm sản bằng nhiều hình thức như: Tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh; xây dựng bản tin tuyên truyền, in tờ rơi, tờ gấp cấp cho các xã, thị trấn và các thôn, bản; tuyên truyền bằng xe lưu động. Phối hợp với Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện, các xã, thị trấn tổ chức giao lưu văn nghệ với chủ đề: “Rừng xanh yêu thương” để nhân dân hiểu rừng quan trọng như thế nào với cuộc sống.
Ngoài ra, Hạt còn chỉ đạo cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn phải thường xuyên bám sát cơ sở, kiểm tra, chữa cháy rừng của các chủ rừng, thôn, bản; hướng dẫn nhân dân đốt thực bì, làm nương rẫy đúng quy định. Tham mưu cho chính quyền địa phương theo dõi, kịp thời ra thông báo, cảnh báo cấp dự báo cháy rừng để mọi người dân thực hiện. Kết quả là 6 tháng đầu năm 2014, trên địa bàn Hạt quản lý chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng với tổng diện tích 0,375ha ở thôn Xỉn Khâu, xã Chế Là.
Hạt Kiểm lâm huyện Xín Mần còn thực hiện tốt quy chế phối hợp với các lực lượng như công an, quân đội, quản lý thị trường, các hạt kiểm lâm giáp ranh trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn huyện đã phát hiện và lập biên bản xử lý 20 vụ vi phạm, trong đó vận chuyển gỗ nhóm III 10 vụ (0,769m3), vận chuyển măng vầu 8 vụ (316kg), vi phạm thủ tục hành chính 2 vụ. Tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 28,3 triệu đồng.
Sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên Hạt Kiểm lâm Xín Mần đã được trả công xứng đáng. Phần lớn nhân dân trong huyện đã thấy được lợi ích của việc bảo vệ, phát triển rừng. Những diện tích đồi núi dần có chủ, không còn cảnh hoang hóa như xưa.
Sau nhiều năm kiên trì phủ xanh đất trống đồi trọc, đến nay, Xín Mần là một trong những huyện có độ che phủ rừng cao nhất tỉnh, đồng thời đã thành công trong việc trồng, khai thác, chế biến gỗ rừng trồng, góp phần tạo việc làm cho hàng ngàn lao động.
Sản xuất lâm nghiệp đã góp phần tích cực giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, mang lại sự đổi thay cho nhiều địa phương. Từ chỗ coi rừng là nguồn tài nguyên vô tận, chỉ biết lợi dụng khai thác thì đến nay, người dân trong huyện đã nhận đất để trồng rừng, hiểu được lợi ích to lớn về kinh tế, môi trường do rừng đem lại.
Chính điều này đã giúp tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp được quản lý, khai thác hợp lý hơn. Trong thành quả đó có đóng góp rất lớn của tập thể cán bộ, nhân viên, công nhân viên Hạt Kiểm lâm Xín Mần. (Kinh Tế Nông Thôn 11/7, tr9) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Hòn Heo ở thị xã Ninh Hòa đang bị lâm tặc tàn phá cây rừng và săn bắt voọc trái phép. (Nhân Dân 12/7, tr7) đầu trang(
11/7, UBND tỉnh cho biết đã chỉ đạo Vườn quốc gia (VQG) Bidoup - Núi Bà đẩy nhanh tiến độ xây dựng hồ sơ Khu dự trữ sinh quyển thế giới để trình UNESCO công nhận.
Lâm Đồng vừa thành lập Ban chỉ đạo do Phó Chủ tịch tỉnh làm trưởng ban nhằm hỗ trợ VQG này quảng bá, xây dựng hình ảnh, thương hiệu… để nâng tầm từ VQG thuộc tỉnh thành khu dự trữ sinh quyển thế giới.
VQG Bidoup-Núi Bà có diện tích 64.800ha, chiếm gần trọn cao nguyên Lang Biang. Các nhà khoa học đánh giá đây là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu của thế giới và là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam, có nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu… (Tiền Phong 12/7, tr14) đầu trang(
Hiện nay tình hình thời tiết nắng nóng diễn biến phức tạp, tại Quảng Nam, nguy cơ  cháy rừng  luôn đặt trong tình trạng báo động; Trong đó đáng chú ý là việc ngăn chặn không để xảy ra cháy tại những cánh rừng đặc dụng luôn được giám sát chặt chẽ bởi các lực lượng chức năng.
Bên cạnh xây dựng phương án chuẩn bị, các địa phương cũng tích cực tuyên truyền, vận động người dân sẵn sàng tham gia và đầu tư nhiều phương tiện, thiết bị để thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng.
Huyện miền núi Nam Giang là địa phương có diện tích rừng khá lớn gồm: rừng đặc dụng Sông Thanh, rừng Nam Sông Bung và Cà Dy. Riêng khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh có diện tích gần 76.300 ha nằm trên địa bàn 2 huyện Nam Giang và Phước Sơn.
Đối với các khu rừng đặc dụng, trong mùa nắng nóng hiện tượng cháy rừng luôn ở trong tình trạng khẩn cấp. Do vậy, bên cạnh xây dựng các phương án; thì việc tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng luôn được các địa phương và ngành kiểm lâm triển khai tích cực.
Ông Bhing Thạch, Người dân xã Tà Bhing, huyện Nam Giang cho biết, “ý thức của người dân trong bảo vệ phòng cháy rừng rất tốt Người dân hiểu được là không đốt nương làm rẫy,  nếu có đốt thì đốt xa rừng và không để xảy ra cháy rừng.”
Ông Hôih Ưu, Phó Chủ tịch UBND xã Cà Dy, huyện Nam Giang cho biết, “các cấp các ngành cũng rất quan tâm vấn đề này, nên trong thời gian vừa qua mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn có nhiều khó khăn nhưng cơ bản chúng tôi cũng triển khai thực hện tốt đồng bộ đến các cấp ngành đối với các thôn bản và bà con nhân dân họ đều đồng tình hưởng ứng.”
Bên cạnh đó, ngành kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh còn thường xuyên tuần tra, kiểm sát ở những điểm dễ cháy và cấp phát tiền nhận khoán bảo vệ rừng kịp thời, để người dân thực hiện tốt công tác phòng cháy rừng. Đặc biệt việc đầu tư các vật dụng, trang thiết thiết bị phòng cháy chữa cháy rừng cho các địa phương cơ sở và tổ chức cho người dân ký cam kết bảo vệ đã góp phần hạn chế được nạn cháy rừng xảy ra.
Ông Pơloong Hon, Chủ tịch UBND xã Tà Bhing, huyện Nam Giang cho biết, “đối với địa phương vừa rồi cũng được cấp cho côgn tác bảo vệ phòng cháy chữa cháy rừng khoảng 5 triệu đồng dẻ mua cácd ụng cụ như mũ, giày dép, can nhựa để cấp cho lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn .”
Ông Mai Văn Dưỡng,  Cán bộ Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh, Nam Giang cho biết, “đối với công cụ hỗ trợ phòng cháy chữa cháy rừng thì Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh đã hỗ trợ cho 8 xã, mỗi xã 5 triệu về công cụ phòng cháy chữa cháy. Hằng năm, Ban quản lý bảo tồn thiên nhiên sông Thanh sẽ ký cam kết với tất cả các thôn trên địa bàn thuộc Ban quản lý về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.”
Có thể nói, công tác tuyên truyền dựa vào việc giao khoán bảo vệ rừng và sự hưởng lợi của người dân đã hạn chế được nạn đốt nương làm rẫy và nâng cao nhận thức của đồng bào địa phương trong công tác này.
Đặc biệt, các ngành chức năng đang tăng cường xử lý tình trạng chặt phá, khai thác cây ươi vì đây cũng là tình trạng dễ gây ra cháy rừng. Mặc dù đến nay chưa có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra  nhưng trước tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài như hiện nay; chính quyền các địa phương và chủ rừng tiếp tục triển khai quyết liệt công tác tuần tra xử lý, nhằm ngăn chặn và hạn chế những thiệt hại khi có cháy rừng xảy ra. (VTV9 11/7) đầu trang(
Từ đầu năm 2014 đến nay, các lực lượng chống buôn lậu và gian lận thương mại của tỉnh Lạng Sơn đã xử lý 114 vụ, xử phạt hành chính 36 vụ, thu phạt hơn 460 triệu đồng.
Trong đó, có 61 vụ vận chuyển, tàng trữ trái phép pháo nổ, thu 2.469kg pháo các loại; 26 vụ vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã, thu 26,556m3 gỗ, 140kg rắn, 6kg rùa. Còn lại là các vụ vận chuyển trái phép chất ma túy, đao kiếm, súng đồ chơi…
Cơ quan chức năng tỉnh Lạng Sơn đã khởi tố 5 vụ gồm 7 đối tượng trong đó có 3 vụ vận chuyển ma túy, 2 vụ vận chuyển pháo nổ. (Đại Đoàn Kết 12/7) đầu trang(
Ông Nguyễn Lân bị UBND tỉnh Quảng Nam phạt 150 triệu đồng vì mua 1.215 kg trái ươi, trị giá 121.500.000 đồng.
UBND tỉnh Quảng Nam vừa ra quyết định số 2128/QĐ - UBND xử phạt vi phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với ông Nguyễn Lân (SN 1971, trú tại thôn Mỹ Hảo, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam).
Ông Lân bị phạt vì có hành vi mua, bán bộ phận của thực vật rừng là quả ươi.
Trước đó, ngày 25/6 ông Lân bị Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (CA tỉnh Quảng Nam) phát hiện có hành vi mua bán lâm sản không có hồ sơ, nguồn gốc hợp pháp, cụ thể là quả ươi, gồm 41 bao với tổng trọng lượng 1.215 kg.
Ông Lân khai nhận đã mua thu gom từ người dân ở các huyện miền núi Quảng Nam với giá từ 80-150.000/kg bán lại kiếm lời.
Theo quyết định xử phạt của UBND tỉnh, ông Nguyễn Lân đã vi phạm quy định tại điểm e, khoản 7, điều 23, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ (Quy định xử phạt hành vi mua, bán lâm sản trái với các quy định của Nhà nước đối với thực vật rừng hoặc bộ phận, dẫn xuất của chúng ngoài gỗ có giá trị từ trên 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng, với mức tiền phạt từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng).
UBND tỉnh cũng yêu cầu ông Lân phải chấp hành quyết định xử phạt trong vòng 10 ngày. Nếu quá thời hạn sẽ bị cưỡng chế. (Phụ Nữ TP HCM 12/7; Giao Thông 12/7) đầu trang(
Sở thích gọi món kỳ đà khi vào nhà hàng, quán nhậu của thực khách ngày càng trở nên phổ biến gần đây đã khiến nạn săn bắt kỳ đà trở nên rầm rộ.
Mỗi ngày, hàng chục nhóm người từ các xã quanh Vườn quốc gia Yok Đôn ( Đắk Lắk) đeo ba lô, vác rựa, dắt chó săn đi sâu vào rừng, tránh các chốt kiểm lâm để bẫy kỳ đà vân, kỳ đà hoa.
Sau 3-4 ngày, mỗi nhóm trung bình bắt được từ 10-15 ký kỳ đà, bán cho đầu nậu giá trên dưới 200 nghìn/ ký. Cán bộ VQG thừa nhận thực trạng này ai cũng biết, nhưng cơ chế quản lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ hiện nay rất khó ngăn chặn. (Tiền Phong 12/7, r10) đầu trang(
“Cơn lốc” ươi bay đang cuốn hàng ngàn người dân Quảng Ngãi, Quảng Nam và Kon Tum vào chốn rừng sâu do giá ươi đang “bay cao”. Không còn cảnh chờ hạt ươi từ trên cây rụng xuống để nhặt mang về bán nữa, những cây ươi xanh, to và cao giữa núi rừng nguyên sinh bị chặt hạ trước sự bất lực của chính quyền địa phương và ngành quản lý tài nguyên rừng!
Có mặt tại xã Sơn Lập (Sơn Tây) khi trời còn chưa sáng nhưng dọc hai bên đường, từng đoàn người đã nối nhau tay gậy, tay bị vào rừng. Bên nhóm khoảng 5-6 người đang ngồi nghỉ ven đường, lân la bắt chuyện với ông Đinh Văn Hải (50 tuổi) ở thôn Nước Rin (xã Sơn Lập), ông Hải khoe: “Ươi năm nay được mùa, giá cao nên bà con bỏ hết nương rẫy đi nhặt ươi”. Ở vùng rẻo cao này, vấn đề “nóng” hầm hập gần tháng nay không phải thời tiết bỏng rát của miền Trung mà là… “cơn lốc” hạt ươi.
Trở về sau một ngày lặn lội trong rừng, cõng trên vai gần 10kg ươi, ông Đinh Văn Tre (45 tuổi) ở xã Sơn Lập, cười tươi: “Được mùa ươi nhất trong nhiều năm qua. Nhà mình có 3 người thì cả vợ chồng và con cái đều vào rừng nhặt ươi. Từ đầu mùa đến giờ, kiếm được vài chục triệu rồi đấy”- ngừng giây lát, rít thêm hơi thuốc lá, ông Tre bảo: “Sáng sớm vào rừng, tối mịt về là có tiền triệu, cái bụng đồng bào ai cũng vui”.
Chọn cho mình điểm dừng chân dưới gầm cầu nối xã Sơn Lập với Ngọc Tem (huyện Kon Plông, tỉnh Kontum), chị Định Thị Nết ở xã Sơn Thủy (Sơn Hà) kê chiếc bao đem theo để đựng ươi dưới nền đất rồi ngồi bệt xuống, hổn hển cho biết, nhóm của chị gồm 5 người ở xã Sơn Thủy lên vùng này nhặt hạt ươi được gần 1 tuần. Sáng sớm cả nhóm kéo nhau “cắm mặt” trong rừng suốt ngày, chiều tối mới về điểm tập kết bán hàng cho thương lái, xong xuống gầm cầu nấu ăn, nghỉ ngơi, sáng hôm sau lại vào rừng.
“Săn” hạt ươi giờ đã thành công việc mang lại thu nhập khá cao cho người dân ở vùng núi ở các tỉnh miền Trung. Từ những cánh rừng già của huyện Sơn Hà, Sơn Tây lên tít tận tỉnh Kon Tum hay vắt qua địa bàn tỉnh Quảng Nam, đâu đâu cũng bắt gặp dân “ươi bay”. Có những gia đình một ngày đi “săn” ươi kiếm vài triệu, số tiền họ bán hết cả mùa lúa rẫy cũng không bằng, khiến hạt ươi trở thành “cơn lốc” thật sự giữa đại ngàn.
Theo chân chị B. - một thương lái thu mua ươi trên địa bàn huyện Sơn Tây, PV xâm nhập “đội quân” thu mua ươi của Quảng Ngãi và Kon Tum.
13 giờ chiều, đoạn đường khoảng 15km ở phía Nam trung tâm xã Sơn Lập (Sơn Tây) và khoảng 10km đoạn Trường Sơn Đông đi qua xã Ngọc Tem (Kon Plong, tỉnh Kon Tum), hàng trăm thương lái đã tụ tập chờ người nhặt ươi. Số khác cưỡi xe máy mang theo cân, bao tải liên tục di chuyển đến “chốt chặn” các điểm, ngã rẽ mà dân hái ươi đi qua.
Thậm chí, vào tận các khu dân cư nằm ven tuyến giao thông này để đợi người khai thác ươi trở về để tranh mua. Chị B. cho hay: “Người mua ươi nhiều, giành giật nhau nên lượng ươi bị san sẻ, khiến số lượng mua sụt giảm thấy rõ. Khoảng 2 tuần trước, đến quá chiều, đã thu gom được 1,5 tạ, hôm nay mới được hơn 30kg”.
Chị B. cùng với một thương lái khác tên S. quyết định chạy xe máy sang xã Ngọc Tem (huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum) để gom hàng. Đã 6 giờ tối, song cảnh mua bán ươi ở đây vẫn nhộn nhịp hơn nhiều so với xã Sơn Lập. Chỉ trong đoạn đường khoảng 5km, kéo dài từ thôn Đieklo II đến Điektem, người mua lên đến cả trăm người.
20 giờ tối, số ươi mà chị B. thu mua được đã khá. Nhưng chị B. và hàng chục người thu mua khác vẫn chưa muốn rời rừng mà tìm nhà dân bên đường để nghỉ trọ. “Mua ươi bay (hạt ươi đã rụng) thì giờ về cũng được, nhưng trong số ươi thu mua có cả ươi xanh nên về lúc này lực lượng kiểm tra phát hiện và tịch thu sẽ lỗ vốn” - chị B phân trần. Chỉ tay về phía cánh rừng xa tít nổi bật trên nền rừng xanh là những sắc đỏ của cây ươi, ông Đinh Văn Sau (xã Sơn Lập) bảo đó là rừng ươi ở bên tỉnh Kon Tum, chứ ở Quảng Ngãi nhiều diện tích rừng ươi đã bị triệt hạ. “Sợ ươi chín người khác đến lấy mất nên khi còn xanh trên cây, họ đã chặt ngã cây để nhặt hạt đem về rồi” - ông Sau cho hay.
Theo ông Sau, đa số cây ươi cao đến 25-40m nên khi chặt phá ươi, khiến không chỉ cây ươi ngã đỗ mà còn kéo theo nhiều cây rừng xung quanh cũng gãy đỗ theo, đây là hệ lụy rất lớn trong việc bảo vệ rừng.
Chỉ tính trên trên địa bàn xã Sơn Kỳ có khoảng 7.000ha rừng nguyên sinh, trong đó lượng ươi sống phân bổ đều và thuộc loại nhiều nhất tỉnh Quảng Ngãi. Theo lực lượng kiểm lâm ước tính chỉ trong tháng qua, tại các khu rừng ở xã Sơn Kỳ đã có khoảng 1.000 cây ươi có tuổi đời từ 30-100 năm tuổi bị đốn hạ.
Rừng ươi “chảy máu”, máu người cũng vấy trên những thân cây vì tranh giành lãnh địa hoặc bị thương nặng vì bị cây ngã đè trong lúc nhặt ươi. Ông Đinh Tấn Bắc, Chủ tịch UBND xã Sơn Kỳ nhẩm tính, có khoảng 10 người bị tai nạn liên quan đến “săn” ươi rồi dẫn chứng: “Trưa 25-6, có 3 người đã bị thương nặng phải chuyển xuống bệnh viện đa khoa tỉnh điều trị trong lúc khai thác ươi tại địa bàn xã Sơn Lập, gồm: anh Đinh Văn Nháp (28 tuổi), chị Đinh Thị Đu (30 tuổi) cùng ở xã Sơn Kỳ và chị Đinh Thị Ha Lê (35 tuổi) ở xã Sơn Ba (Sơn Hà). Họ đều bị cây ngã đè khi đốn hạ để lấy hạt ươi”.
“Chúng tôi đã ngăn chặn và bắt gần 10 vụ liên quan đến việc buôn bán và chặt phá ươi. Tuy nhiên, vì giá ươi cao, họ vẫn lén lút đốn cây để khai thác. Tổ chức truy đuổi, nhiều đối tượng liền bỏ ươi chạy vào rừng sâu rồi quay lại… hạ cây tiếp”- ông Bắc chia sẻ.
Với UBND huyện Sơn Hà, Sơn Tây, lãnh đạo huyện thừa nhận chỉ tuyên truyền và vận động người dân khai thác hợp lý chứ không thể ngăn chặn và xử lý vì bị động với cách khai thác… “hạ gục” như năm nay. (Sài Gòn Giải Phóng 12/7, tr6) đầu trang(
Trong những tháng mùa khô, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã phối hợp với các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương các cấp tăng cường đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng.
Bước vào mùa khô năm nay, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng cục bộ kéo dài làm cho các khu rừng trồng thực bì khô, dẫn đến nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Trong khi đó, địa hình rừng núi phức tạp, phân bố không đồng đều, bị chia cắt bởi các đồi núi, sông suối; một số chính quyền địa phương cấp xã và chủ rừng chưa thực hiện tốt vai trò quản lý, bảo vệ diện tích rừng trên phần được giao nên công tác phòng chống cháy rừng gặp nhiều khó khăn.
Xác định khâu tuyên truyền là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm Quảng Ngãi đã tổ chức 32 đợt tuyên truyền lưu động, 428 đợt tuyên truyền bằng hình thức họp dân, thu hút trên 20 nghìn lượt người tham gia.
Ngoài ra, ngành còn phối hợp tuyên truyền trên loa phát thanh 275 lượt, cấp phát 5.000 tờ rơi bảo vệ rừng, PCCCR cho người dân tại các khu dân cư. Đồng thời tổ chức 2 lớp tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho cán bộ được UBND cấp xã ký hợp đồng bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trong các tháng cao điểm mùa khô năm 2014. Qua đó góp phần nâng cao ý thức bảo vệ rừng và năng lực PCCCR của người dân tại các địa phương.
Nhằm nâng cao kỹ năng chữa cháy rừng, tháng 6 vừa qua, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Tư Nghĩa và UBND xã Nghĩa Thọ tổ chức thành công buổi diễn tập chữa cháy rừng tại xã Trà Thọ. Đồng thời chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm trong tỉnh tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng và  phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn.
Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi còn chỉ đạo lực lượng kiểm lâm địa bàn tăng cường trách nhiệm, thường xuyên bám sát địa bàn kiểm tra, kiểm soát lửa rừng thuộc vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng, chủ động phát hiện sớm để báo cáo chính quyền sở tại huy động lực lượng ứng cứu tham gia chữa cháy kịp thời khi có xảy ra cháy rừng. Đồng thời tham mưu giúp UBND cấp xã tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, lực lượng kiểm lâm Quảng Ngãi đã tổ chức 1.108 đợt tuần tra, 261 đợt kiểm tra và 273 đợt truy quét trên các địa bàn trọng điểm. Kết quả phát hiện 173 vụ vi phạm, tăng 17 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 117 vụ, thu giữ 148 m3 gỗ các loại, 26 xe gắn máy và 17 cá thể động vật hoang dã các loại; thu nộp ngân sách hơn 888 triệu đồng.
Các loại động vật hoang dã bị tịch thu đã được thả về tự nhiên và giao 9 cá thể rùa các loại (9,4kg) thuộc loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho vườn Quốc gia Cúc Phương nuôi dưỡng. (Báo Quảng Ngãi 10/7) đầu trang(
Cơn sốt săn trái ươi từ các tỉnh miền Trung đã lân đến Tây Nguyên khi thời gian gần đây, nhiều người dân các xã Ea Trang, Cư San… (huyện M’Drak) rủ nhau vào rừng chặt phá cây ươi để lấy trái bán tiềm ẩn những hệ luỵ lâu dài.
PV cùng nhóm hái ươi gồm 6 người của Ama Tr. (buôn M’Jui, xã Ea Trang) đi theo quốc lộ 26 hướng về TP. Buôn Ma Thuột đến cầu số 11 thì sẽ vào rừng khu vực giáp ranh giữa 2 xã Ea Trang và Cư San để lấy ươi. Đường vào rừng dốc, đá lởm chởm, nhiều chỗ lầy lội vì mới mưa xong, có đoạn xe chúng tôi phải đi số 1 và vặn hết ga mới qua được.
Đi quanh co qua hết mấy quả đồi trồng keo, mỳ thì đến bìa rừng. Nhiều nhóm người đi hái ươi bỏ xe máy lại đi bộ vào rừng sâu để tìm ươi. Từ đây, chúng tôi bắt đầu chứng kiến nhiều cây ươi lớn bị “ươi tặc” cưa đổ, cành bị chặt, lá đã héo. Đi được một đoạn, chúng tôi bị chắn lại bởi một cây ươi dài khoảng 15 m, đường kính gần 40 cm bị hạ nằm ngang đường. Bỏ xe lại đi bộ theo con đường mòn vào sâu trong rừng và chứng kiến nhiều cây ươi lớn đã bị hạ, có cây đã hạ đổ nhưng vướng cây dây leo chằng chịt nên vẫn vướng trên cao.
Đi dọc quốc lộ 26, đoạn từ đầu xã Ea Trang đến sát đèo Phượng Hoàng, có thể thấy trái ươi được phơi như cà phê trước sân, hay chất từng bao ở trong nhà. Tại các giải khát ven đường, ở đâu cũng nghe nói về trái ươi. Ở đây, mỗi ngày có hàng trăm người vào rừng lấy ươi bán kiếm tiền.
Trên quốc lộ 26  khu vực gần chốt kiểm dịch động vật đèo Phượng Hoàng, ban đêm có nhiều người chở từng bao tải ươi từ các hướng về nhập cho thương lái đã cho ô tô tải chờ sẵn.
Ông Lê Văn Ba, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm M’Drak cho biết: trên địa bàn huyện, cây ươi có nhiều ở các xã Ea Trang, Cư San, Ea H’Mlay, từ năm 2007 đến nay mới có trái trở lại. Đây là cây gỗ tạp, nếu người dân nhặt trái rụng hoặc hái bằng cách dùng kèo thì ít ảnh hưởng đến rừng.
Hiện, UBND huyện đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm truy quét, ngăn chặn tại gốc tình trạng chặt ươi, phối hợp với chính quyền các xã tuyên truyền cho người dân cấm chặt phá cây ươi, nếu phát hiện đem dụng cụ chặt cây sẽ nhắc nhở...(Báo Đắc Lắc 10/7) đầu trang(
Theo thống kê mới nhất của Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song, tính từ ngày 20-5 đến ngày 10-7, đã có khoảng 1.300 cây thông mới trồng trên diện tích hơn 1,2 ha trong tổng số gần 4.000 cây thông giống được trồng trên diện tích gần năm ha thuộc rừng thông phòng hộ cảnh quan (RTPHCQ) Quốc lộ 14 đoạn qua hai xã Nâm N’jang và Trường Xuân của huyện Đác Song bị người dân chặt chặt phá, nhổ gốc.
Ngoài ra, những diện tích được trồng gần nhà dân còn bị người dân bẻ ngọn, lay gốc, chặt gốc rồi cắm xuống hố trồng… làm cho cây chết dần cũng diễn ra nhiều nơi.
Trước đó, Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song phối hợp với Công an huyện, Ban Chỉ huy quân sự huyện thành lập tổ công tác thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng phá rừng thông này, nhưng từ cuối tháng 5 đến nay không bắt được vụ chặt phá rừng thông nào, trong khi trên thực tế thì diện tích rừng thông bị chặt phá ngày càng tăng.
Theo giải thích của Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song, do RTPHCQ nằm dọc theo quốc lộ 14 với chiều dài hơn 30 km, nhiều hộ dân sinh sống xen kẽ trong rừng thông, trong khi lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng thông còn mỏng, phương tiện hỗ trợ còn thiếu… nên công tác quản lý, bảo vệ gặp rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, một số hộ dân sau khi bị huyện Đác Song cưỡng chế giải tỏa, nay quay lại lấn chiếm đất rừng phòng hộ, dựng lều lán bán hàng, sinh sống và tiếp tục chặt phá rừng trồng… Mặc dù thời gian qua, UBND huyện Đác Song đã tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân không chặt phá, lấn chiếm RTCQPH Quốc lộ 14, đồng thời đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, … nhưng việc ngăn chặn tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng thông này vẫn chưa hiệu quả.
Đặc biệt, sau khi huyện tổ chức cưỡng chế, giải tỏa các hộ dân lấn chiếm trái phép RTPHCQ Quốc lộ 14 thì các hộ dân này luôn tìm cách chống đối và tiếp tục chặt phá rừng thông.
Như Nhân Dân điện tử đã nhiều rừng phản ảnh, RTPHCQ Quốc lộ 14 đoạn qua huyện Đác Song, tỉnh Đác Nông đã hơn 30 năm tuổi với diện tích ban đầu hơn 400 ha. Ngoài chức năng phòng hộ, rừng thông này còn tạo ra cảnh quan đẹp cho cả tuyến quốc lộ 14, từ huyện Đác Song đến thị xã Gia Nghĩa. Trong thời gian qua, do những bất cập trong công tác quản lý nên đã có hàng chục ha rừng phòng hộ này bị người dân địa phương chặt phá, lấn chiếm trái phép để xây dựng nhà ở, trồng cây công nghiệp...
Qua rà soát của UBND huyện Đác Song và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đác Nông, tại khu rừng trồng này có tất cả 96 hộ dân lấn chiếm, sử dụng đất rừng trái phép để xây dựng nhà, lán trại, lều quán, cây trồng trái phép…, trong đó có 88 nhà với diện tích 4.809m2, 35 lán trại, lều quán với diện tích 2.242m2, công trình phụ 39 cái với diện tích 660,8m2; giếng và hàng rào 23 cái; trồng hàng nghìn cây công nghiệp và cây ăn trái trên trên hàng chục nghìn m2.
Để bảo vệ khu rừng này, UBND huyện Đác Song đã nhiều lần tổ chức cưỡng chế giải tỏa các hộ dân lấn chiếm trái phép này và gần đây nhất là vào ngày 26-4, huyện đã tổ chức cưỡng chế giải tỏa 41 hộ dân và tịch thu toàn bộ diện tích đã lấn chiếm, bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song quản lý và trồng lại số diện tích rừng đã mất. Nhưng kể từ cuối tháng 5 đến nay. gần một nửa số cây thông mới trồng lại bị người dân nhổ bỏ, chặt phá, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng.
Trước tình trạng này, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho UBND huyện Đác Song xây dựng phương án quản lý, bảo vệ rừng thông phòng hộ theo hướng giao khoán rừng cho người dân quản lý, bảo vệ để trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt.
Tuy nhiên, theo PV, trong chờ phê duyệt phương án, UBND tỉnh Đác Nông cần chỉ đạo các ngành chức năng triển khai ngay các biện pháp mạnh để ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các trường hợp chặt phá, lấn chiếm rừng trái phép. Nếu cứ để tình trạng phá hoại rừng như lâu nay thì không chỉ những diện tích cây thông mới trồng bị chặt phá, mà những diện tích rừng thông hơn 30 năm tuổi cũng bị đe dọa. (Nhân Dân 11/7) đầu trang(
Rừng Trà Xom nằm trên địa bàn hai xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim (Vĩnh Thạnh), có nhiều loại gỗ quý hiếm. Tuy nhiên, kể từ khi Tổng công ty Sông Đà đầu tư xây dựng Nhà máy thủy điện Trà Xom đầu năm 2008, nhiều lâm tặc đã lợi dụng việc này để phá rừng.
Vào những ngày đầu tháng 6/2014, chúng tôi có dịp lên cánh rừng này và thực sự ngỡ ngàng, xót xa trước cảnh những chiếc xe máy rầm rập chở những khúc gỗ to, nhỏ đủ kích thước ra khỏi rừng, ngay giữa ban ngày.
Lấy làm bất ngờ, chúng tôi quyết định ở lại khu vực này điều tra thực hư vụ việc. Qua tìm hiểu được biết, sáng nào cũng thế, các nhóm lâm tặc, mỗi nhóm khoảng 7 - 10 người, phóng xe máy từ dưới thị trấn thẳng vào rừng lấy gỗ và tập kết ở một điểm cố định. Chúng khai thác gỗ ở tận rừng sâu và chỉ triệt hạ gỗ quý, hiếm. Sau khi đốn hạ, lâm tặc xẻ gỗ ngay tại hiện trường, tất cả đều đúng kích thước đã được khách hàng giao kèo trước đó.
Nấp trong những hạng mục từ công trình thủy điện Trà Xom để quan sát ghi hình, thấy nhóm lâm tặc có khoảng chục người. Gỗ sau khi xẻ xong, chúng mang ra khỏi bìa rừng. Sau đó bọn chúng hoặc là một nhóm người lạ chất gỗ lên xe chở đi.
Điều đáng nói là, mọi hoạt động đều diễn ra công khai, giữa ban ngày trước sự chứng kiến của hàng trăm công nhân đang làm thủy điện ở đây.
Một công nhân cho hay, ngày xưa khi mới lên đây, họ thấy rừng còn nguyên vẹn với nhiều loài động, thực vật quý hiếm nhưng chỉ một thời gian sau, đêm nào cũng có tiếng cưa máy gầm rú, tiếng người kéo gỗ dưới suối, rồi tiếng xe máy chạy rầm rập. Điều đáng nói là, chưa khi nào những công nhân ở đây thấy cơ quan chức năng hoặc lực lượng kiểm lâm lên đây tuần tra kiểm soát.
Các cơ quan chức năng ở đâu khi rừng đang kêu cứu từng ngày. Bằng cách nào mà lâm tặc có thể đưa được nhiều gỗ ra khỏi rừng khi chỉ có một con đường duy nhất và trên con đường ấy lại có tới hơn một trạm kiểm lâm? (Kinh Tế Nông Thôn 11/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm 2014, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phát hiện, lập hồ sơ, xử lý 842 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản, phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng 241 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Trong đó, riêng vi phạm phá rừng làm nương rẫy trái phép có 434 vụ, tăng 215 vụ, thiệt hại 53,31ha rừng non tái sinh.
Ngay từ đầu năm 2014, ngành kiểm lâm tỉnh Sơn La đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật; đồng thời phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh tuyên truyền tới người dân về công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Trong 6 tháng đầu năm, Chi cục đã tổ chức được 1.686 hội nghị ở các xã, bản với 95.854 lượt người tham gia; phát xuống các thôn, bản, trường học 3.560 tờ rơi có nội dung tuyên truyền giáo dục pháp luật liên quan tới công tác bảo vệ rừng.
Trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, Kiểm lâm Sơn La đã tham mưu kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 gồm 33 thành viên do Phó chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khối làm trưởng ban; 204 ban chỉ huy bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng ở xã, phường, thị trấn; củng cố kiện toàn và thành lập 2.789 tổ, đội quần chúng, mỗi tổ, đội có từ 8-12 người tham gia vào công tác bảo vệ, phòng chá, chữa cháy rừng.
Đặc biệt, Sơn La đã xây dựng 12 phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện, 204 phương án ở cấp xã, thị trấn và các chủ rừng.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền là vậy nhưng tình trạng phá rừng vẫn diễn ra trên địa bàn tỉnh Sơn La. Đặc biệt, việc phá rừng làm nương rẫy trái phép có chiều hướng gia tăng.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm Sơn La, trong 6 tháng đầu năm 2014, Chi cục đã phát hiện, lập hồ sơ và xử lý 842 vụ, tăng 241 vụ so với cùng kỳ năm 2013. Riêng vi phạm phá rừng làm nương rẫy trái phép có tới 434 vụ; buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép 262 vụ, tăng 73 vụ; 22 vụ cháy rừng làm thiệt hại 119,92 ha rừng tự nhiên và rừng trồng.
Ông Đào Văn Tưởng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sông Mã, cho biết: “Nguyên nhân xảy ra tình trạng phá rừng trái phép làm nương rẫy là do sự phối hợp giữa kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương chưa ăn ý; luật và nghị định liên quan phạt rất nặng nhưng đối tượng vi phạm chủ yếu là hộ nghèo, không có tiền nộp phạt, từ đó xảy ra tình trạng nhờn luật. Giá trị cây ngô mang lại khá lớn, trong khi trên địa bàn tỉnh Sơn La nói chung, Sông Mã nói riêng, kinh phí chi trả cho dịch vụ môi trường rừng còn thấp…”.
Còn theo ông Lò Thế Thi, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La: “Do áp lực tăng dân số đã tạo nên áp lực tác động vào rừng. Tập quán canh tác của người dân còn lạc hậu. Trong khi đó, khí hậu ở Sơn La khắc nghiệt, mùa nắng thì hạn hán kéo dài, mùa đông rét đậm, rét hại làm ảnh hưởng tới đàn gia súc, gia cầm và sản xuất nông nghiệp”.
“Cấp ủy chính quyền địa phương một số nơi chưa thực sự vào cuộc, còn xem công tác bảo vệ rừng là việc của lực lượng kiểm lâm; chưa phát huy hết trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ, quản lý rừng. Một số kiểm lâm địa bàn chưa kịp thời tham mưu cho chính quyền địa phương hay việc quy hoạch quản lý rừng, quy hoạch đất lâm nghiệp còn hạn chế”, ông Thi nói.
Về giải pháp khắc phục, ông Thi cho biết: “Cần có giải pháp đồng bộ trong phát triển kinh tế cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, cho người dân sống gần rừng và bên trong rừng. Phối hợp với cấp ủy chính quyền đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong việc bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Rà soát, quy hoạch lại đất nông nghiệp, lâm nghiệp cho phù hợp để nhân dân có điều kiện phát triển kinh tế. Nâng mức đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, tăng cường biên chế cho kiểm lâm cùng với đó là đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra ở cơ sở; cấp ủy chính quyền địa phương phải thực sự vào cuộc và nêu cao trách nhiệm nhà nước trong bảo vệ rừng”. Trước thực trạng số vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là hành vi phá rừng làm nương rẫy đang có xu hướng gia tăng, thiết nghĩ, tỉnh Sơn La cần chỉ đạo quyết liệt hơn nữa trong việc bảo vệ, phát triển rừng; đồng thời cần có chính sách hỗ trợ giúp người dân ổn định đời sống...(Kinh Tế Nông Thôn 11/7) đầu trang(
Theo các chuyên gia, sừng tê giác hoàn toàn không có khả năng chữa những bệnh như ung thư, cường dương hay chỉ là để giã rượu.
Tuy nhiên tại Viêt Nam, nhiều người có điều kiện kinh tế khá giả đã muốn mua hoặc sử dụng sừng tê giác mong chữa đươc bệnh nan y. Song song đó, cũng có những trường hợp mua sừng tê giác chỉ vì một mục đích: chứng minh sự giàu có.
Nét mặt buồn thiu, chị Nguyễn Thuý Hằng, giám đốc một công ty tư nhân tại Hà Nội cho biết vừa đưa cha mình đi cấp cứu vì ngộ độc chất bảo quản có trong sừng tê giác. Chị Hằng cho biết cha mình bị ung thư phổi, gia đình đã đưa ông đi nhiều nơi, cho uống nhiều loại thuốc nhưng bệnh không hề thuyên giảm.
Nghe nhiều người mách, chị đã mua một miếng sừng tê giác tại phố Lãn Ông (Hà Nội) để mài, pha nước cho cha mình uống. "Một miếng nhỏ sừng tê giác có giá cả trăm triệu đồng, tôi mài cho bố uống nhưng bệnh không giảm mà còn nặng thêm. Đưa bố đi cấp cứu mới biết ông bị ngộ độc bởi chất bảo quản được tẩm trong sừng”, chị Hằng nói.
Câu chuyện của chị Thuý Hằng chỉ là một trong những trường hợp về những người đã phải chịu hậu quả do quá tin vào một loại "thuốc" chữa được bách bệnh, mà thực chất, thành phần của "thuốc" đó chỉ giống như tóc và móng tay.
Sừng tê giác được người dân truyền miệng là có tác dụng chữa được nhiều bệnh trong đó có bệnh ung thư và làm cường dương. Tuy nhiên, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch Hội Các ngành sinh học Việt Nam khẳng định sừng tê giác không có khả năng chữa được bệnh như ung thư, liệt dương... và nếu uống nhiểu có thể bị ngộ độc.
Ngoài ra, theo ông Dũng, sừng tê giác thường bị ăn cắp từ các viện bảo tàng, các kho lưu trữ... do đó, nó đã bị tẩm hóa chất rất độc hại để bảo quản. Như thế, người sử dụng có thể bị nhiễm độc và tử vong. "Chúng ta không nên sử dụng một loại thuốc đắt hơn vàng, tính theo trọng lượng, nhưng lại chỉ có thành phẩn giống sừng trâu, móng tay, tóc, ông Dũng nói.
Còn theo Tổ chức Cứu trợ hoang dã (Wildaid), có tới 90% sừng tê giác ở Việt Nam là giả và việc thực hiện giữa sừng tê giác thật và giả không thể phân biệt được bằng mắt thường mà phải xét nghiệm ADN.
Báo cáo "Mối quan hệ thương mại sừng tê giác giữa Việt Nam và Nam Phi” do Mạng lưới kiểm soát buôn bán động vật hoang dã (TYaffìc) thực hiện năm 2012 cho thấy, nhu cầu về sừng tê giác tại Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm gần đây do sự gia tăng về thu nhập và nhu cầu tiêu thụ những mặt hàng xa xỉ, đặc biệt là phân khúc người giàu có tại Việt Nam.
Ông Doug Hendrie, cố vấn kỹ thuật của tổ chức Education for Nature, một trong những tác giả của báo cáo cho hay, những năm gần đây Việt Nam là một trong những nước tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất thế giới, đồng thời, số người gốc Việt săn bắn trái phép tại Nam Phi giai đoạn 2007-2009 rất lớn, chỉ sau Mỹ, là một trong những quốc gia có truyền thống săn bắn lâu đời.
Báo cáo cho thấy, số tiền mà các con buôn người Việt Nam trả để mua sừng tê giác trắng ở Nam Phi tăng đều hàng năm và dường như giá sừng tê giác càng tăng thì nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này càng lớn. Ước tính năm 2003, Việt Nam đã bỏ ra khoảng hơn 500.000 đô la Mỹ để mua sừng tê giác ở Nam Phi nhưng đến năm 2010 con số này đã là hơn 5,5 triệu đô la Mỹ, tức tăng 11 lần chỉ trong bảy năm. Tổng cộng trong giai đoạn đó, Việt Nam đã chi khoáng 22 triệu đô la Mỹ.
Sừng tê giác thẩm lậu vào Việt Nam chủ yếu từ Nam Phi, nhưng nó không được chuyển trực tiếp từ Nam Phi sang Việt Nam mà thường qua các nước trung gian trước khi tới Việt Nam. Các nhóm tội phạm buôn lậu thường hoạt động ở Nam Phi, Mozambique, Zimbabwe cũng như nhiều khu vực khác nhưng chúng được tổ chức và điểu hành bởi công dân Việt Nam sinh sống tại các nưóc này.
TS. Patrick Bergin, Tống giám đốc Quỹ Hoang dã châu Phi, khẩn thiết: "Chúng tôi mong người Việt sẽ chấm dứt sử dụng sừng tê giác để bảo đảm rằng các loài tê giác châu Phi sẽ không phải hứng chịu thảm họa tương tự như của Việt Nam". (Sài Gòn Tiếp Thị 9/7, tr4) đầu trang(
Ngày 8-7, CAQ Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) cho hay đang xác minh chủ sở hữu số lượng lớn gỗ không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp được lực lượng CAQ phát hiện vận chuyển trên ô-tô BKS 43S-2970 (gồm 23 khúc gỗ, chưa rõ chủng loại).
Tiếp tục kiểm tra ga-ra ô-tô biệt thự M7, khu biệt thự Ocean Villas (P. Hòa Hải, Q. Ngũ Hành Sơn), lực lượng CA phát hiện thêm hơn 5 tấn gỗ (chưa rõ chủng loại) không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chủ sở hữu và tại thời điểm kiểm tra không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp nên CAQ Ngũ Hành Sơn lập biên bản tạm giữ toàn bộ số lượng gỗ trên.
Vậy những ai là chủ sở hữu số gỗ trên, liên hệ Đội CSĐTTPVTTQLKT-CV&MT (CAQ Ngũ Hành Sơn, số 492-Lê Văn Hiến, Đà Nẵng) để giải quyết. Sau 30 ngày đăng thông báo, nếu không có ai liên hệ giải quyết, CAQ Ngũ Hành Sơn sẽ tiến hành xử lý theo luật định. (Công An TP Đà Nẵng 9/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Công tác giao rừng, cho thuê rừng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng đang được đẩy mạnh.
Do đó, những chủ trương, đề xuất trong công tác giao rừng, cho thuê rừng thời gian qua đã được lãnh đạo các cấp tại các địa phương đồng tình, tạo điều kiện thuận lợi.
Mặt khác, Thông tư số 38/2007/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có những hướng dẫn rất cụ thể về trình tự, thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho các sở, ngành làm tham mưu cho UBND tỉnh và phía tổ chức xin thuê rừng dễ dàng phối hợp thực hiện để hoàn thành hồ sơ giao, cho thuê rừng theo quy định.
Tuy vậy, hiện nay Nhà nước vẫn chưa có chính sách quy định cụ thể về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ quản lý, chăm sóc bảo vệ và phát triển rừng. Việc lập hồ sơ, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng còn gặp nhiều lúng túng với việc giao đất, cho thuê đất, tại đơn vị, địa phương được quy hoạch cho thuê.
Do đó, để tạo thuận lợi cho cả cơ quan quản lý nhà nước và các chủ rừng đang nhận giao khoán rừng, đề nghị Nhà nước chỉ đạo công tác rà soát, điều chỉnh để hoàn thiện hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng đối với đất có rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định nhằm thực hiện đồng bộ giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất.
Đồng thời, chính sách của Nhà nước về giao rừng, cho thuê rừng, trách nhiệm và quyền hưởng lợi của các chủ rừng cần được quy định cụ thể. Có như vậy thì quyền lợi của người chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng mới được bảo đảm, nhất là trong giai đoạn hiện nay chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang được triển khai hiệu quả tại nhiều địa phương. (Nhân Dân 12/7) đầu trang(
Sáng 10-7, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm 2014 và triển khai nhiệm vụ quý III; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Khiết chủ trì.
Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm đã kiểm tra phát hiện 1.207 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, giảm 12,2% so với cùng kỳ năm trước; tịch thu gần 2.000 m3 gỗ các loại, 1.458 phương tiện các loại, số tiền thu sau xử lý gần 11 tỷ đồng và khởi tố hình sự 7 vụ.
Đáng chú ý, trong 6 tháng đầu năm đã xảy ra nhiều vụ chống người thi hành công vụ, trong đó có 2 vụ gây thương tích cho 5 kiểm lâm. Đến nay, toàn tỉnh có 47 cơ sở chế biến lâm sản và 322 cơ sở mộc đang hoạt động, trong đó chỉ có 18 xưởng bảo đảm 6 tiêu chí; có 10 xưởng di dời vào cụm công nghiệp; 261 cơ sở mộc có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong 6 tháng, các đơn vị đã trồng được 465 ha/4.680 ha; tiến hành chăm sóc, phát dọn thực bì lần 1 đối với diện tích rừng trồng đang trong giai đoạn chăm sóc với diện tích khoảng 5.500 ha, đạt 49% kế hoạch. Công tác kiểm kê rừng đến nay vẫn chưa thực hiện xong…
Tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Khiết đánh giá công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chưa kiên quyết trong xử lý các vi phạm.
Theo đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các địa phương, lực lượng kiểm lâm siết chặt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng, trong đó tập trung xác định các điểm “nóng” về khai thác lâm sản, các tuyến đường vận chuyển lâm sản trái phép để tổ chức truy quét, ngăn chặn và xử lý vi phạm; kiểm tra, xử lý triệt để phương tiện độ chế; kiên quyết thực hiện chủ trương đình chỉ, xóa bỏ các xưởng chế biến lâm sản, cơ sở mộc không đủ điều kiện hoạt động, không có nguồn nguyên liệu hợp pháp...(Đắc Lắc 24h 11/7) đầu trang(
Đán Đanh và Púng Trạng là 2 bản vùng cao đặc biệt khó khăn của xã Mường Tùng (huyện Mường Chà). Nhiều năm qua, người dân 2 bản đã cùng nhau bảo vệ một diện tích rừng rộng lớn với đa dạng các loại động, thực vật.
Tuy nhiên, đến nay, Đán Đanh và Púng Trạng là 2 bản còn lại của xã Mường Tùng chưa được chi trả dịch vụ môi trường rừng do công tác giao đất, giao rừng chậm tiến độ. Người dân mong mỏi các cơ quan chức năng sớm hoàn thành giao đất giao rừng để được hưởng dịch vụ môi trường rừng.
Hai bản Đán Đanh và Púng Trạng có 5.456ha rừng (chiếm trên 50% diện tích rừng toàn xã Mường Tùng), chủ yếu là rừng tự nhiên. Ông Giàng A Chứ, Trưởng bản Đán Đanh, xã Mường Tùng cho biết: Chúng tôi có diện tích rừng rộng lớn, với đa dạng các loại động, thực vật như gấu, hoẵng, khỉ, lợn rừng... cây gỗ to 3 – 4 người ôm, có nhiều hang động đẹp. Bao nhiêu năm nay, từ đời cha ông chúng tôi đã cùng nhau bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của rừng nên rừng rất xanh tốt, có độ ẩm cao nên cũng rất ít khi xảy ra cháy rừng, kể cả vào mùa hanh khô.
Rừng ở đây ít bị xâm hại bởi vì bà con dân bản đã ý thức được nguồn lợi mà rừng mang lại cho cuộc sống của họ. Ở khu vực Đán Đanh và Púng Trạng cũng không có tình trạng người ngoài vào khai thác trái phép lâm sản.
Khi được cán bộ xã tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân 2 bản Đán Đanh và Púng Trạng rất vui mừng, phấn khởi. Anh Chang A Dế, bản Đán Đanh chia sẻ: Từ trước tới nay chúng tôi bảo vệ rừng là để có nước phục vụ sản xuất, có gỗ làm nhà, có con chim con thú để săn bắt phục vụ đời sống, nay còn được Nhà nước trả thêm tiền thì vui lắm.
Tuy nhiên, đến nay, gần 100 hộ dân của 2 bản Đán Đanh và Púng Trạng vẫn chưa được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng trong khi 13 bản khác của xã Mường Tùng đã được chi trả trong suốt 2 năm qua. Chúng tôi mong các cơ quan chức năng sớm hoàn thành việc giao đất giao rừng để dân bản Đán Đánh và Púng Trạng sớm được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trao đổi vấn đề này với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà, được biết, hiện nay Ban đang tích cực phối hợp với Sở NN & PTNT, Sở Tài Nguyên và Môi trường thực hiện giao đất giao rừng cho cộng đồng 2 bản Đán Đanh và Púng Trạng. Dự kiến, cuối năm 2014 người dân 2 bản Đán Đanh và Púng Trạng sẽ được chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Điện Biên Phủ 11/7) đầu trang(
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, NK gỗ nguyên liệu từ Trung Quốc trong vài năm gần đây đã gia tăng nhanh chóng.
Nếu năm 2000, NK gỗ từ Trung Quốc chỉ đạt 30 triệu USD thì đến năm 2013 đã đạt 201 triệu USD và 6 tháng năm 2014 đạt 85 triệu USD. Tuy nhiên, so với tổng kim ngạch NK gỗ nguyên liệu của Việt Nam thì giá trị kim ngạch nhập gỗ của Trung Quốc chỉ đạt 15% (201 triệu USD/1.360 triệu USD).
Cũng theo ông Nguyên Tôn Quyền, đối với gỗ nguyên liệu ở dạng sơ chế và chi tiết, nhu cầu NK của Việt Nam không lớn và chúng ta có thể cung cấp được. Đối với các loại ván nhân tạo, Việt Nam đã và đang xây dựng 11 nhà máy sản xuất các loại ván nhân tạo và sẽ đạt được 1,5 triệu m3 sản phẩm/năm vào năm 2020.
Như vậy trong vài năm tới Việt Nam sẽ không NK các loại ván nhân tạo từ Trung Quốc. Việt Nam hiện nay và sau này sẽ không lệ thuộc vào Trung Quốc về việc nhập gô nguyên liệu. (Hải Quan Cuối Tuần 13/7, tr2) đầu trang(
Năm 2014, Ban Quản lý Dự án 147 - Hạt Kiểm lâm huyện Như Xuân được giao kế hoạch trồng 490 ha rừng theo Quyết định 147 của Chính phủ trên địa bàn 11 xã, gồm: Thanh Xuân, Thanh Sơn, Thanh Quân, Cát Vân, Cát Tân, Thượng Ninh, Tân Bình, Bình Lương, Yên Lễ, Xuân Bình, Bãi Trành, với 203 hộ dân tham gia. Tổng số vốn hỗ trợ dự án hơn 2,273 tỷ đồng.
Để sớm hoàn thành kế hoạch được giao, ngay từ đầu năm, đơn vị đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đăng ký tham gia trồng rừng; chuẩn bị cây giống bảo đảm  chất lượng, thiết kế, hướng dẫn nhân dân trồng rừng ngay từ đầu vụ xuân.
Nhờ vậy, đến nay dự án trồng rừng 147 trên địa bàn huyện Như Xuân đã trồng được 489,7 ha,  đạt hơn 99%. Ngoài ra, năm 2014 huyện Như Xuân cũng xây dựng kế hoạch trồng 550 ha rừng. Trong 6 tháng đầu năm, nhân dân trong huyện đã trồng được 249,6 ha. (Báo Thanh Hóa 12/7) đầu trang(
Được giao đất lâm nghiệp, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ) từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước theo chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ, người dân xã Thượng Cửu huyện Thanh Sơn đã bỏ công sức, tiền của để phát triển kinh tế rừng.
Tuy nhiên, sau gần 16 năm gây dựng, đất rừng có giá và những đồi cây nguyên liệu cao to phủ kín, nhiều hộ dân mới ngã ngửa khi cán bộ xã thông báo: Đất họ đựơc giao là đất của người khác, không phải của mình!
Thời gian qua, cả xã Thượng Cửu nháo nhác bởi thông báo trên của chính quyền. Tá hoả hơn, khi đối chiếu bản đồ với ô, thửa ghi trong bìa đỏ, nhiều hộ nhận thấy, đất rừng lâu nay mình đổ mồ hôi, công sức, tiền của để trồng lại không phải đất trong bìa đỏ đã được cấp; đất mình lâu nay canh tác là đất của... người hàng xóm; còn đất hàng xóm canh tác mới đích xác là đất của mình (?) Thậm chí, có nơi 1 thửa đất mà có tới 2 bìa đỏ của 2 xã khác nhau.
Anh Hà Văn Nam (xóm Tu Chạn, xã Thượng Cửu) bức xúc cho biết: Gia đình anh được giao 4,2ha đất rừng tại thửa số 74, khu vực suối Loọng theo nội dung Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 078335 do bà Sa Thị Quyết, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Sơn, ký ngày 19/9/1998. Tuy nhiên, hiện đối chiếu thực tế thì diện tích đất này lại do ông Đinh Công Xếp (ở Khu Cảy, xã Thượng Cửu) canh tác nhiều năm qua.
Vì sao có nghịch lý này? Theo ông Bùi Quang Doanh-Bí thư Đảng bộ xã Thượng Cửu, nguyên nhân là do, vào thời điểm năm 1998-1999, khi giao đất, giao rừng cho các hộ dân, cán bộ huyện về tập trung bà con trên ngọn đồi cao rồi phóng tay... chỉ áng khoảng diện tích của từng nhà với ranh giới rất mơ hồ, như: “ven con suối”, “chân quả đồi”... Sau đó, xã nhận được một tập bìa đỏ có ghi tên, địa chỉ, diện tích cụ thể của từng gia đình, không gia đình nào kiểm tra vị trí đất được giao mà cứ thế canh tác trên thửa đất dựa theo trí nhớ.
Không chỉ “nhầm” địa chỉ đất của từng hộ mà ở Thượng Cửu còn có tình trạng, đất của xã này lại cấp cho dân xã khác sử dụng. Ống Đinh Văn Dũng-Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Cửu cho biết: Xã có khoảng 15-16ha đất lâm nghiệp thuộc địa giới hành chính đã được giao trong bìa đỏ cho các hộ dân thuộc khu Sinh Dưới (xã Thượng Cửu). Nhưng chẳng hiểu sao khi tiến hành đo đạc, giao đất cho dân, diện tích đó lại được giao cho các hộ dân của xã Khả Cửu.
Theo ông Đinh Văn Dũng, để giải quyết sự “nhầm lẫn” tai hại này, hiện xã đang vận động các hộ dân được giao rừng “nhầm” thoả thuận đổi cho nhau để “đất của ai về nhà đó”. Tuy nhiên, việc người dân tự thoả thuận cũng vô cùng khó vì hộ có diện tích rừng trồng mà cây gần đến chu kỳ khai thác khó có thể “trả” đất lại cho chính chủ của nó.
Mặt khác, không ít hộ đã vay nợ ngân hàng bằng việc thế chấp bìa đỏ, nên khi tiến hành chuyển giao diện tích đất lại càng khó khăn hơn. Không chỉ khó cho dân mà khó cả cho ngân hàng khi chủ hộ không thể thanh toán tiền nợ, ngân hàng phải thu hồi tài sản thế chấp, nhưng hộ vay bằng thế chấp bìa đỏ lại không phải là “chính chủ” của diện tích đất đã thế chấp!
Với hơn 5.300ha đất lâm nghiệp, trong đó có gần 1.200ha rừng sản xuất, đất lúa ít, lại cằn cỗi nên sinh kế của người dân Thượng Cửu chủ yếu dựa vào các hoạt động kinh tế từ rừng. Khi rừng bị “phong toả” do giao nhầm, các hộ dân lại không thoả thuận được với nhau, cuộc sống của nhiều hộ dân nơi đây bị đảo lộn. Thiếu đất sản xuất, không có sinh kế nên không ít hộ đã làm liều, biến mình thành “lâm tặc”.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn, từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn huyện đã xảy ra 37 vụ vi phạm Luật Phát triển bảo vệ rừng được phát hiện, lập biên bản, xử lý; thu nộp ngân sách hơn 80 triệu đồng. Ông Nguyễn Tiến Hiếu-Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn cho biết: Các vụ vi phạm phần lớn do nhận thức của bà con còn hạn chế và tình trạng thiếu đất sản xuất khiến bà con làm liều. Tình trạng phá rừng xảy ra trầm trọng ở khu vực xóm Sinh Tàn, nơi 100% đồng bào dân tộc Dao thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo sinh sống.
Hành vi nghiêm trọng nhất và cũng chịu mức phạt cao nhất là gia đình ông Bàn Văn Sơn (B) ở xóm Sinh Tàn, với hành vi phát 1.700m2 rừng phòng hộ, chịu mức phạt dự kiến 20 triệu đồng.
Trướng xóm Sinh Tàn Đặng Văn Nội cho biết, xóm có 60 hộ với hơn 300 nhân khẩu mà chỉ có 3,3ha lúa nước. Ruộng vùng cao cằn cỗi, năng suất lúa rất thấp. Đất rừng tuy rộng nhưng diện tích được canh tác chẳng đáng là bao. Cuộc sống người dân phụ thuộc cả vào rừng. Thế nên 60 hộ thì có tới 38 gia đình thuộc diện nghèo, số còn lại thuộc diện cận nghèo.
Theo Bí thư Đảng bộ xã Thượng Cửu, ông Bùi Quang Doanh, toàn xã có gần 4 nghìn ha rừng tự nhiên, được bảo vệ nghiêm ngặt, không thể lấn chiếm xâm phạm. Trên thực tế, đây là những quả đồi trọc với lau lách, dây leo là chủ yếu. Xã đã rà soát và làm đơn kiến nghị cấp trên cho chuyển đổi mục đích để bà con có đất sản xuất, phát triển kinh tế rừng, tránh lãng phí tài nguyên đất. Nhưng không hiểu sao đề nghị cả chục năm nay mà cả huyện, tỉnh vẫn chưa có hồi âm.
Việc “cấp nhầm” đất rừng ở xã Thượng Cửu đang gây ra rất nhiều hệ luỵ, rất cần các cơ quan chức năng huyện Thanh Sơn vào cuộc giải quyết dứt điểm. Bên canh đó, với nhu cầu chuyển đổi diện tích đất rừng nghèo kiệt để người dân có đất sản xuất cũng là mong muốn chính đáng, các cấp ngành huyện Thanh Sơn cần xem xét. (Dân Tộc & Phát Triển 11/7, tr5) đầu trang(
Những năm trở lại đây, ngành công nghiệp (CN) chế biến trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển đáng kể, góp phần tích cực vào việc gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Trong những năm gần đây ngành CN chế biến lâm sản của tỉnh cũng đã có những bước phát triển đáng kể. Địa hình Quảng Ninh cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp đa dạng, cả trồng rừng, bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên rừng... Tận dụng lợi thế này, ngành CN chế biến lâm sản của tỉnh đã có những bước tăng trưởng mạnh. Toàn tỉnh hiện có 384 cơ sở sản xuất chế biến gỗ.
Trong đó có 127 cơ sở là doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, hiện đại  như Công ty CP Chế biến lâm sản Quảng Ninh, Công ty CP thông Quảng Ninh, Công ty TNHH Thanh Lâm... còn lại 257 cơ sở là các xưởng xẻ gỗ, sản xuất đồ mộc, băm dăm gỗ quy mô nhỏ.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp chế biến vẫn chưa xây dựng được thương hiệu hàng hoá cho các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu của mình dẫn tới thị trường xuất khẩu không ổn định, thường bị ép giá…
Chỉ nhìn vào ngành CN chế biến lâm sản hiện nay có thể thấy được những hạn chế của ngành công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh thời gian qua. Mặc dù có một nguồn tài nguyên rừng phong phú, số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ tăng mạnh qua các năm, nhưng ngành CN chế biến gỗ của tỉnh cũng còn khá nhiều tồn tại.
Đơn cử như các cơ sở băm dăm gỗ chiếm tỉ trọng áp đảo các ngành nghề khác nhưng lại quá ít các cơ sở sử dụng nguyên liệu dăm gỗ để sản xuất ván sợi, giấy, ván dăm… Hầu như toàn bộ dăm gỗ sản xuất ra đều để xuất khẩu thô. Điều này gây lãng phí tài nguyên, giảm giá trị nguyên liệu gỗ, thu nhập của người trồng rừng thấp, tính bền vững của rừng trồng giảm. Phân bố các doanh nghiệp chưa gắn với vùng nguyên liệu nên chi phí vận chuyển nguyên liệu và hiệu quả sử dụng gỗ bị hạn chế.
Ngoài ra, trong tổng thể cơ cấu ngành nghề trong chế biến gỗ chưa thể hiện sự gắn kết hữu cơ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chế biến liên tục gỗ rừng trồng. Sản phẩm của doanh nghiệp này chưa là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp kia.
Do đó, các sản phẩm đồ mộc, gỗ xẻ, ván gỗ nhân tạo chưa có thương hiệu, chưa đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng để chiếm lĩnh các thị trường trong nước, mà chủ yếu tiêu thụ ngay nội tại các địa phương trong tỉnh. Sản phẩm xuất khẩu nổi bật là dăm gỗ nhưng trong tỉnh chỉ có các cơ sở sản xuất vệ tinh, không có doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu. (Báo Quảng Ninh 12/7) đầu trang(
Đến hết tháng 6, toàn tỉnh mới trồng rừng đạt 70% kế hoạch. Như vậy, để hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng năm 2014 sẽ phải kéo dài thời vụ trồng  rừng sang tháng 7, thay vì kết thức trong tháng 6.
Nguyên nhân vì sao tiến độ trồng rừng năm nay lại chậm nhiều so với kế hoạch như vậy mặc dù tổng diện tích trồng rừng đã giảm 2.000ha  so với các năm trước?
Thời điểm hiện nay toàn tỉnh đã cơ bản trồng xong một số loài cây như: keo, mỡ, xoan, lát, trám, tông dù, trúc. Người dân tiếp tục trồng các loài: quế, hồi, thông. Tiến độ trồng rừng năm nay chậm so với khung thời vụ, nguyên nhân chính là từ đầu năm thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cây giống.
Nếu như mọi năm cuối tháng 3 đầu tháng 4 dương lịch cây mỡ đã đủ tiêu chuẩn xuất vườn, nhưng năm nay đến cuối tháng 5 nhiều vườn ươm cây vẫn còn nhỏ chưa thể đem trồng. Thêm vào đó  thời điểm xử lý thực bì năm nay  mưa ẩm kéo dài nên người dân không thể phát, đốt được.
Bắt đầu từ năm 2013 tỉnh mới bổ sung cây quế vào cơ cấu trồng rừng để thay thế cây mỡ tại những vùng sâu ong gây hại nặng, chính vì vậy người dân các huyện Chợ Mới, Chợ Đồn đã chuyển đổi từ trồng mỡ sang trồng quế, diện tích trồng quế toàn tỉnh năm nay đã tăng lên trên 600 ha, tương đương với khoảng 1,5 triệu cây giống.
Đây là loại cây có thời gian sinh trưởng dài 8 đến 10 tháng, trong khi việc chuẩn bị các loài giống này năm nay còn thiếu chủ động, hiện tại giống quế vẫn đang được chăm sóc tại vườn ươm của Trung tâm giống cây trồng vật nuôi chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn bởi số giống này các vườn ươm chuẩn bị để phục vụ cho vụ trồng rừng năm sau.
Sở dĩ huyện Chợ Mới có diện tích trồng cây quế khá lớn gần 350a nhưng đã trồng xong là do Trung tâm giống đã liên hệ mua được giống từ Yên Bái về và cấp xong cho dân, số diện tích còn lại chủ yếu ở huyện Chợ Đồn còn thiếu giống là  do không mua được giống cây quế từ tỉnh ngoài về nên phải xử lý bằng cách chăm sóc số cây quế trong vườn của Trung tâm giống để chờ đủ tiêu chuẩn cấp cho dân vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 này mặc dù đây là số giống chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2015.
Điều này thể hiện sự thiếu chủ động của đơn vị cung ứng giống làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng của toàn tỉnh.
Một trong những ý kiến thắc mắc của người dân trồng rừng năm nay là tại sao các vườn ươm cây giống trồng rừng ở các xã (những vườn ươm nhỏ, vệ tinh) đã được thực hiện mấy năm trước đây giờ lại bị thu hẹp lại, chủ yếu tập trung gieo ươm ở các vườn ươm chính? Phải chăng cung ứng cây giống trồng rừng là một thị trường “ thu lời cao” nên các Ban quản lý dự án cũng như Trung tâm giống cây trồng vật nuôi ôm hết?
Nếu như năm 2012 toàn tỉnh có 110 vườn ươm trong đó có 29 vườn ươm chính, còn lại là vườn ươm vệ tinh, năng lực sản xuất 32 triệu cây giống. Đến năm 2013 rút xuống còn 100 vườn ươm(nhưng vẫn còn vườn ươm vệ tinh). Nhưng sang đến năm nay 2014, không còn vườn ươm vệ tinh nào hoạt động, chỉ còn 29 vườn ươm tập trung sản xuất giống.
Vậy thử hỏi chỉ với 29 vườn ươm thì năng lực sản xuất giống có đủ cho diện tích 10.000ha? Các Ban quản lý dự án và Trung tâm giống không thể sản xuất đủ nên đã phải đi mua giống ở nhiều tỉnh khác như Thái Nguyên, Lào Cai, Yên Bái, Phó Thọ…giá cây giống ở đây khá rẻ so với giá của tỉnh phê duyệt để hưởng chênh lệch, mặc dù vẫn được hợp thức hóa là giống do tỉnh sản xuất.
Chính vì cây giống vận chuyển từ xa về nên chất lượng không đảm bảo khi giao về đến dân bảo quản không tốt nên tỷ lệ cây chết cao. Ví dụ ở Na Rì có những xã tỷ lệ cây chết tới 50%. Nhiều ý kiến cho rằng cần khôi phục lại sản xuất cây giống trồng rừng đối với các vườn ươm vệ tinh ở các xã để người dân chủ động hơn về giống, bởi theo Pháp lệnh về giống thì đối với những loại giống cây trồng rừng không phải là cây chính thì có thể ươm ở những vườm ươm nhỏ.
Như vậy đối với Bắc Kạn, ngoài cây Keo, cây Thông thì các loài cây khác đều có thể ươm ở những vườm ươm vệ tinh.
Chính vì triển khai trồng rừng muộn  nên trùng với thời điểm bà con thu hoạch vụ xuân, gieo cấy vụ mùa, đặc biệt với 2 huyện Bạch Thông và Ngân Sơn còn trùng với thời gian thu hoạch cây thuốc lá. Tuy nhiên trong số 8 huyện thị triển khai trồng rừng thì có 2 địa phương đã hoàn thành vượt mức kế hoạch đó là Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn.
Huyện Chợ Mới diện tích giao là 1.440ha, đến nay đã trồng được 1.611ha, đạt 112% kế hoạch. Đây là huyện có tỷ lệ trồng keo chiếm phần lớn gần 800ha. Thị xã Bắc Kạn diện tích trồng rừng được giao 285ha, đến nay đã trồng được 346ha, đạt 122%.
Hiện nay địa phương có tiến độ trồng rừng đạt thấp nhất đó là Ngân Sơn 21%. Chỉ tiêu giao 1.300ha nhưng đến nay mới trồng được 267ha, Chợ Đồn mới trồng được 780ha/1.737ha kế hoạch bằng 45%, Na Rì mới trồng đạt 53% kế hoạch.
Chợ Đồn được xem là huyện có thế mạnh về nghề rừng, tuy nhiên phong trào trồng rừng mấy năm gần đây không khí thế như trước do ảnh hưởng của dịch sâu ong phát tán trên diện rộng.
Một số bà con chuyển đổi sang trồng cây quế, tuy nhiên năm nay cây giống kham hiếm khiến nhiều nơi trong tình trạng đã chuẩn bị sẵn sàng nhưng chưa có giống. Đơn cử như xã Đại Sảo: là một trong những xã có diện tích trồng rừng mới bị thiếu giống nhiều nhất trên địa bàn huyện Chợ Đồn. Năm 2014, xã được giao chỉ tiêu  trồng 100ha rừng mới, thiết kế được 150ha, vượt kế hoạch huyện giao.
Trong tháng 6 cây keo và cây mỡ về cơ bản xã đã trồng xong, tuy nhiên với gần 70 ha trồng quế phải chờ cây giống.
Đối với huyện Ngân Sơn, việc triển khai trồng rừng nhiều năm rất chậm so với kế hoạch nguyên nhân là do đặc thù khí hậu tại địa phương này thường thấp hơn so với nơi khác, người dân chủ yếu trồng cây thông và sa mộc, khung thời vụ của 2 loài cây này muộn hơn so với các loài mỡ, keo.
Năm nay tỉnh phát động phong trào trồng cây phân tán, nhằm tận dụng mọi diện tích đất trống thuận tiện đường giao thông, đường làng, ngõ xóm để phủ xanh cây rừng bằng cách huy động nguồn lao động của các hội, đoàn thể địa phương, trong đó lực lượng chính là thanh niên. Đến nay diện tích trồng rừng phân tán được 1.700ha/2.373ha kế hoạch, đạt 71%, chủ yếu người dân trồng các loài cây như keo, xoan, lát, hồi, quế. Tại hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2014 của ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn mới được tổ chức mới đây hầu hết các địa phương chưa hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng đều đề nghị với tỉnh cho phép kéo dài thời vụ trồng rừng đến hết tháng 7 để đôn đốc bà con trồng nốt số diện tích còn lại đã đăng ký theo kế hoạch.
Đối với tình trạng thiếu giống cây quế, ông Ngô Thế Cường- Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết sẽ chỉ đạo đơn vị cung ứng giống là Trung tâm giống cây trồng vật nuôi tích cực chăm sóc đảm bảo đạt chất lượng tiêu chuẩn xuất vườn, sớm giao cây cho dân trong tháng 7 này. Đối với huyện Ngân Sơn Ban Quản lý dự án khẩn trương cấp giống thông đồng thời đôn đốc người dân đẩy nhanh tiến độ trồng khắc phục tình trạng kéo dài thời vụ như mọi năm.
Mặc dù thời tiết đang ở những tháng cao điểm của mùa hè, nhưng nhiệt độ không quá nắng nóng, vẫn có những cơn mưa rào khiến không khí mát mẻ, theo cơ quan chuyên môn thì thời vụ trồng rừng năm nay có kéo dài hơn so với mọi năm thì mức độ ảnh hưởng cũng không lớn nên bà con tranh thủ trồng hết số diện tích đã đăng ký, thiết kế khi đã được cấp giống không nên bỏ diện tích, tránh lãng phí cũng như phá vỡ kế hoạch trồng rừng chung của toàn tỉnh. (Báo Bắc Kạn 11/7) đầu trang(
Rừng ngập mặn là nguồn tài nguyên quan trọng đối với nguồn lương thực và sinh kế của con người. Nếu diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm thì đồng nghĩa với thực trạng là nguồn thủy sản sẽ ít đi, cộng đồng địa phương sẽ phải gánh chịu những tác hại của thiên tai do thiếu sự bảo vệ tự nhiên của đai rừng ngập mặn.
Nhận thức được tầm quan trọng của rừng ngập mặn, đặc biệt đối với vai trò phát triển nuôi trồng thủy sản, những năm qua tỉnh TT Huế đã có nhiều dự án nâng cao nhận thức của người dân trong việc trồng rừng ngập mặn gắn với phát triển nuôi trồng thủy sản, bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định.
Hộ gia đình ông La Duy ở xã Hương Phong thị xã Hương Trà, những năm trước đây công việc nuôi trồng thủy sản của nhà ông gặp không ít khó khăn, mùa màng hàng năm thất bát do thiên tai phá hủy các ao nuôi trồng thủy sản.
Đầu năm nay, được sự tư vấn của cán bộ hội KHKT lâm nghiệp tỉnh TT Huế tham gia vào dự án xây dựng mô hình ao nuôi thủy sản sinh thái - Vừa nuôi trồng thủy sản vừa kết hợp trồng rừng ngập mặn để giữ vững đê ao.
Nhờ chọn giống và trồng cây đúng quy trình và khoa học nên chưa đầy nửa năm cây phát triển nhanh, đê bao được giữ vững, các loài thủy sản trong ao nuôi phát triển tốt, giúp ông yên tâm hơn trong mùa mưa bão năm nay.
Tuy diện tích rừng trồng vẫn chưa cao, hiện chỉ mới tập trung chủ yếu ở xã Hương Phong, nhưng đã có những tác động tích cực. Đã thấy xuất hiện nhiều loài giáp xác đến trú ngụ và sinh sôi trong thảm rừng trồng. Tỉnh TT Huế còn có 5 huyện có đất ngập mặn là Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc rất cần được hỗ trợ đầu tư loại hình này.
Việc để người dân tự cảm nhận và hưởng thụ những hiệu quả từphục hồi và trồng rừng ngập mặn là cách làm thực tế và thiết thực. Đem lại những lợi ích cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Đây là giải pháp tốt nhất để thích ứng và giảm thiểu tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, phát triển nhanh kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống người dân địa phương và bảo vệ môi trường sống bền vững. (VTV Huể 11/7) đầu trang(
Những năm qua, bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi, huyện Tam Đường triển khai hiệu quả chương trình phát triển rừng kinh tế đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.
Tìm hiểu được biết, với 53.155,5ha đất lâm nghiệp, trong đó 33.126,4ha rừng phòng hộ, 20.029,1ha rừng sản xuất,để phát huy nguồn lợi từ rừng, UBND huyện chú trọng công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng trồng. Chủ động trình UBND tỉnh chuyển đổi, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn.
Tạo điều kiện tốt nhất cho các tổ chức, doanh nghiệp vào khảo sát, lập dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng. Lựa chọn loài cây cho trồng rừng phòng hộ phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu của huyện như mỡ, thông, sơn tra, vối thuốc, trẩu và rừng sản xuất chọn cây có giá trị kinh tế cao như bơ, mít Thái Lan, hạt dẻ, mắc ca, nhãn…
Bên cạnh đó đẩy mạnh tuyên tuyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ chế, chính sách nhận giao khoán trồng và chăm sóc rừng phòng hộ, rừng sản xuất người dân.
Qua đó, làm thay đổi nhận thức của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng đầu tư và hưởng lợi trực tiếp từ việc trồng rừng sản xuất góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái.  Ngăn chặn, hạn chế tối đa việc chặt phá rừng để làm nương rẫy, giảm dần diện tích nương luân canh, ưu tiên mở rộng diện tích nương có bờ để nhân dân yên tâm sản xuất trên đất rừng.
Trung bình hàng năm xây dựng được gần 90,0ha đường băng trắng cản lửa; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng đến từng hộ dân; rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy ước bảo vệ rừng đến tất cả các bản trên địa bàn huyện.
Cùng với đó, huyện chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với UBND các xã, thị trấn xây dựng mô hình kinh tế kết hợp, hướng dẫn các hộ dân, các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển rừng. Chuẩn bị tốt về giống cũng như hướng dẫn kỹ thuật từ khâu đào hố, quy trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng cho người dân. Quan tâm và ưu tiên phát triển kinh tế rừng với các mô hình nông lâm, kết hợp, mô hình vườn - ao - chuồng - rừng, rừng xen các loại cây, trồng, chăm sóc thảo quả dưới tán.
Làm tốt công tác quy hoạch, rà soát tổng diện tích đất lâm nghiệp giao đất, giao rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp để bà con yên tâm sản xuất.
Hiện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình được 40.256,08/49.456,35ha, đạt 85,04% diện tích đất lâm nghiệp. Huyện còn lồng ghép các nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng gắn với phát triển kinh tế rừng tại 14/14 xã, thị trấn. Đường đến trung tâm xã 100% đã được cứng hóa, đường đến bản đã cứng hóa đạt 59,6%, tạo thuận lợi cho Nhân dân trong tuần tra, bảo vệ và phát triển rừng đảm bảo nhanh chóng, kịp thời.
Nhờ đó, hàng năm kế hoạch trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng trên địa bàn huyện đều hoàn thành vượt mức, tỷ lệ cây sống đạt cao; độ che phủ rừng đến nay đạt 47,5%, tăng 3,63% độ che phủ và trên 2.339,6ha rừng so với năm 2010. Số vụ cháy rừng, vi phạm các quy định bảo vệ và phát triển rừng năm sau giảm so với năm trước.
Trên địa bàn huyện có trên 7.500 hộ gia đình, 3 tổ chức tham gia thực hiện chương trình phát triển kinh tế rừng. Thu nhập của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức tham gia nhận khoán rừng khoanh nuôi tái sinh rừng, bảo vệ rừng và môi trường rừng bình quân đạt khoảng 4 triệu đồng/hộ/năm, có nhiều hộ đạt trên 10 triệu đồng/hộ/năm ở bản Hoa Dì Hồ (xã Bản Hon), bản Chu Va 12 (xã SơnBình).
Thu nhập từ trồng rừng ước đạt khoảng 30 triệu đồng/ha. Thu nhập từ trồng thảo quả bình quân mỗi hộ thu nhập 30-35 triệu đồng/hộ/năm, có một số hộ đạt hàng trăm triệuở xã Sơn Bình và xã Khun Há.
Việc tổ chức quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng còn góp phần đảm bảo cho các hộ dân có thu nhập cao gián tiếp từ rừng, kinh doanh có hiệu quả từ rừng như: Trang trại nuôi cá tầm, cá hồi (tập trung chủ yếu ở xã Sơn Bình), các nhà máy thủy điện,...
Từ thu nhập trực tiếp và gián tiếp từ rừng, các sản phẩm từ các mô hình nông - lâm kết hợp góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập của người dân, giúp người dân thoát nghèo bền vững. Hiện có khoảng 1.800 hộtham gia nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng có thu nhập trên 30 triệu đồng/hộ/năm.
Với sự nỗ lực và cách làm phù hợptrong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, rừng đã và đang mang lại nguồn thu đáng kể, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho nông dân Tam Đường, góp phần tích cực vào công cuộc giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Toàn huyện Tam Đường hiện có 928,4ha thảo quả đang cho thu hoạch, năng suất bình quân ước đạt 3,2 tạ/ha; sản lượng đạt trên 294 tấn; đã triển khai trồng được 391,76ha cây có giá trị kinh tế gồm: 143,4ha mắc ca, 61,78ha tre bát độ, 16ha bơ, 12,0 ha đào Mỹ, 16,5 ha giổi xanh, 3,0ha dẻ trùng khánh, cam 89,7ha và mít Thái Lan 18,78ha. (Báo Lai Châu 11/7) đầu trang(
Đến nay, qua 8 năm triển khai thực hiện Dự án trồng rừng WB3 ở huyện Tây Sơn, toàn huyện đã có trên 1.400 hộ ở 6 xã (Tây Thuận, Vĩnh An, Bình Thuận, Tây Xuân, Bình Tân và Bình Thành) tham gia trồng gần 3.000 ha rừng, góp phần tăng độ che phủ rừng, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Qua thực hiện Dự án WB3, đã có 1.251 hộ ở 6 xã trên địa bàn huyện được cấp  sổ đỏ với diện tích trên 2.000 ha. Trong 8 năm triển khai dự án đã giải ngân trên 27,9 tỉ đồng để tạo điều kiện cho nông dân đầu tư trồng rừng và chăm sóc rừng trồng.
Tây Thuận là một trong những xã có diện tích rừng WB3 nhiều nhất trên địa bàn huyện. Đến nay, toàn xã có 406 hộ dân tham gia Dự án WB3 và trồng được hơn 747 ha rừng ở 4 thôn với 2 loại cây trồng chủ yếu là bạch đàn và keo lai.
Các hộ tham gia dự án đã được Ban thực hiện dự án huyện hỗ trợ kịp thời về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, được giới thiệu những đơn vị cung cấp giống, phân bón có uy tín, chất lượng. 100% hộ trồng rừng WB3 ở xã Tây Thuận được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân an tâm đầu tư chăm sóc rừng trồng.
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cũng đã giải ngân hơn 5,72 tỉ đồng cho các hộ trồng rừng WB3 vay, mỗi ha rừng được vay từ 10-15 triệu đồng, lãi suất 0,65%/tháng.
Đa số những hộ trồng rừng ở Tây Thuận những năm đầu đã thu hoạch rừng trồng, bán với giá từ 50 - 60 triệu đồng/ha. Dự án WB3 đã tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình ở địa phương. Điển hình như hộ ông Nguyễn Thanh Sang ở xóm 1, thôn Tiên Thuận, tham gia trồng rừng WB3 từ năm 2006 với diện tích 8,5 ha, trồng keo lai và bạch đàn.
Qua khai thác, mỗi ha cho thu nhập 50 -  60 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi trên 30 triệu đồng/ha. Ông Sang cho biết: “Tham gia trồng rừng theo Dự án WB3 đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho gia đình, qua khai thác lần đầu năm 2012 đã đem lại cho gia đình tôi một nguồn thu nhập đáng kể. Hiện nay diện tích rừng trồng còn lại đang phát triển tốt và triển vọng cho thu nhập cao”.
Ở xã miền núi Vĩnh An, người dân luôn có ý thức trồng và bảo vệ rừng. Đến nay, Vĩnh An có 249 hộ tham gia trồng rừng theo Dự án WB3 với diện tích 258,2 ha. Ông Đinh Hoan Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh An, cho biết: Dự án trồng rừng WB3 đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương, đời sống người dân được cải thiện đáng kể.
Riêng năm 2013, bà con xã Vĩnh An đã khai thác được hơn 350 tấn gỗ nguyên liệu từ rừng trồng WB3, với giá bán từ 1 triệu đến 1,2 triệu đồng/m3, tổng giá trị thu được trên 3,5 tỉ đồng, lợi nhuận khai thác lần đầu của người trồng rừng khoảng 30 đến 50 triệu đồng/ha. Trong năm 2014 này, xã Vĩnh An đã lập kế hoạch vận động bà con tiếp tục đăng ký trồng rừng với diện tích 50 ha, có 70 hộ tham gia. (Báo Bình Định 10/7) đầu trang(
Chiều 10/7, Ban Chỉ đạo Giao đất giao rừng tỉnh tổ chức họp đánh giá tình hình triển khai Kế hoạch số 388 của UBND tỉnh về việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2013 – 2015 trên địa bàn tỉnh.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo chủ trì cuộc họp.
Theo báo cáo, đến nay 10/10 huyện, thị xã, thành phố đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo giao đất giao rừng; tổ chức đấu thầu để lựa chọn đơn vị tư vấn giao đất giao rừng. Các địa phương đã khảo sát hiện trạng, xác định diện tích, ranh giới, trữ lượng rừng; rà soát diện tích đã giao theo Nghị định 163 của Chính phủ đạt 79,8%; 41 xã, phường đã xây dựng phương án giao đất giao rừng.
Toàn tỉnh hiện đã giao trên 132.754,9ha rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bản; giao trên 107.711ha đất lâm nghiệp có rừng… Năm 2014, toàn tỉnh dự kiến giao 144.193,7ha đất lâm nghiệp có rừng và 285.073ha đất lâm nghiệp chưa có rừng.
Ý kiến một số đại biểu nêu vướng mắc trong quá trình triển khai, như: một số diện tích rừng đặc dụng nằm rải rác ở các huyện không đủ diện tích để đề nghị thành lập các ban quản lý dự án rừng đặc dụng theo Quyết định số 714 năm 2013 của UBND tỉnh; các ban quản lý rừng phòng hộ chưa xác định được diện tích được giao dẫn đến khó khăn khi triển khai giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư…
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến đánh giá cao nỗ lực thực hiện giao đất giao rừng của các ngành, địa phương thời gian qua, cơ bản đáp ứng được tiến độ Kế hoạch 388 đề ra.
Để đảm bảo chất lượng, tiến độ giao đất giao rừng, ban chỉ đạo các huyện, thị, thành phố cần rà soát, kiểm tra các nội dung đã thực hiện về hiện trạng, trữ lượng rừng; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện phương án giao rừng cấp xã; đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa, mục đích giao đất giao rừng để người dân tích cực tham gia bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 11/7) đầu trang(
Do thị trường Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, Bình Định quyết định từ năm 2015 sẽ chuyển sang chế biến sâu mặt hàng dăm gỗ, thay vì xuất thô như hiện nay.
Trao đổi với VnExpress.net chiều 11/5, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết Hội đồng nhân dân tỉnh vừa thông qua quyết định dừng xuất khẩu dăm gỗ thô từ năm 2015.
Theo ông Lộc, thời gian qua, các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ xuất khẩu trong tỉnh thường xuyên bị phía Trung Quốc ép giá, quá lệ thuộc vào thị trường nước này gây ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu và đời sống bà con nông dân.
Từ nay đến năm 2020, Bình Định dự kiến quy hoạch xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao để tăng giá trị nông nghiệp, phối hợp với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu, sản xuất sợi, dệt, may mặc theo chu trình khép kín để phát triển kinh tế bền vững.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Kim Phương, Giám đốc Sở Công thương Bình Định xác nhận, hiện nay, thị trường xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn do giá cả quá thấp (chỉ 125 USD mỗi tấn) và sức mua chậm.
Hiện toàn tỉnh có đến 20 nhà máy sản xuất dăm gỗ, 6 tháng đầu năm sản xuất hơn 530.000 tấn nhưng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng lâm sản này đạt thấp hơn nhiều so với năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 319 triệu USD, chỉ đạt 47% so với  kế hoạch năm.
Ông Phương cho hay, định hướng của tỉnh là không sản xuất dăm gỗ nữa mà chuyển dần sang chế biến sâu như sợi phục vụ ngành dệt may, chế biến bột giấy để sản xuất ván ép, gỗ ép tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Hiện Vinatex đã khảo sát tại huyện Hoài Nhơn để chọn địa điểm xây dựng Tổ hợp dệt may xuất khẩu, chọn cụm công nghiệp Cầu Nước Xanh, huyện Tây Sơn để xây nhà máy xay bạch đàn, keo lai thành bột để làm sợi. Từ nay đến 2015, Tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ liên kết làm nhà máy sản xuất ván ép, sợi.
Vinatex đã đề xuất tỉnh Bình Định khả năng đầu tư khoảng 120 triệu USD làm khu công nghiệp khép kín quy trình từ nguyên liệu đến công nghệ dệt, đến sản xuất đồ dùng may mặc, đến xuất khẩu hàng hóa và cung ứng đến các hệ thống siêu thị trong và ngoài nước. Vùng nguyên liệu khoảng 100.000 ha đáp ứng nhu cầu sản xuất 30.000 tấn sợi mỗi năm. Doanh nghiệp cũng đang xem xét đầu tư một nhà máy dệt nhuộm với công suất 60 triệu sản phẩm/năm, vốn đầu tư 100 triệu USD mỗi năm. (VnExpress 12/7) đầu trang(
Những năm gần đây, việc trồng rừng ở Lạng Sơn, nhất là trồng cây thông đã đạt được nhiều kết quả khả quan, trở thành một hướng phát triển kinh tế hàng hóa cho bà con địa phương.
Tuy nhiên, giá cả sản phẩm bấp bênh, thị trường tiêu thụ hạn hẹp đang là cản trở lớn cho sự phát triển kinh tế rừng một cách bền vững.
Chủ tịch UBND xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, Đinh Văn Đông cho biết: Trước đây, người dân xã Tú Mịch chỉ biết phát nương làm rẫy và trông chờ vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho nên cứ bị cái nghèo đeo đẳng. Năm 1996, nhờ sự hỗ trợ về cây giống, kỹ thuật và kinh phí chăm sóc cây trồng hằng năm của bộ đội biên phòng tỉnh, cho nên bà con hăng hái trồng cây.
Đến nay, tổng diện tích rừng thông của xã đạt hơn 4.300 ha, với gần 200 hộ dân tham gia. Nhiều hộ gia đình trồng vài chục ha, hộ nào ít cũng có từ ba đến năm ha. Thông thường, một cây thông đến kỳ khai thác cho thu hoạch từ 3 đến 4 kg nhựa mỗi năm. Với mức giá thời điểm hiện tại dao động từ 35 đến 40 nghìn đồng/kg nhựa thì một ha thông trưởng thành (khoảng 1.500 cây) sẽ cho thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm. Với người dân xã Tú Mịch, đó là thu nhập đáng mơ ước.
Ngoài ra, sau khoảng hơn bốn năm khai thác hết nhựa, cây thông tiếp tục cho lấy gỗ. Mỗi khối gỗ thông có giá hơn hai triệu đồng, bình quân một ha cũng cho thu nhập vài trăm triệu đồng. Nhờ giá trị kinh tế của việc trồng rừng, đời sống của người dân nơi đây từng bước được cải thiện. Cuối năm 2013, xã Tú Mịch đã thoát khỏi diện đầu tư của Chương trình 135.
Theo ông Tàng Văn Lanh (ở xã Tú Mịch), trước đây diện tích rừng trồng của gia đình ông rất ít nhưng từ khi tỉnh có chính sách hỗ trợ 50% lãi suất vốn vay trồng cây lâm nghiệp và phát giống cây con, diện tích rừng trồng đã lên tới gần 20 ha, chủ yếu là cây thông. Hiện phần lớn diện tích thông đã cho khai thác, mỗi năm thu nhập khoảng 300 triệu đồng. "Nhờ cây thông mà gia đình tôi đã thoát nghèo và đời sống được cải thiện rất nhiều", ông Lanh phấn khởi chia sẻ.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lạng Sơn, tính đến hết năm 2013, tổng diện tích đất có rừng của tỉnh là hơn 648 nghìn ha, trong đó rừng sản xuất khoảng 505 nghìn ha.
Hướng tới phát triển các vùng cây trồng trọng điểm, tỉnh đã xây dựng vùng nguyên liệu gỗ công nghiệp hơn 118 nghìn ha, tập trung ở các huyện: Lộc Bình, Đình Lập, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, trong đó cây thông chiếm diện tích lớn (khoảng 80 nghìn ha), diện tích trồng bạch đàn khoảng 25 nghìn ha, trồng keo hơn 10 nghìn ha. Vùng cây đặc sản chủ yếu là cây hồi có hơn 33 nghìn ha, trồng nhiều ở các huyện: Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, bình quân hằng năm khai thác hơn 6.000 tấn hồi khô.
Với diện tích trồng rừng như vậy, sản lượng lâm sản hằng năm của Lạng Sơn khá lớn. Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 140 cơ sở chế biến đồ gia dụng, khoảng 20 cơ sở bóc gỗ dăm và một số công ty sản xuất ván MDF xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ, Hàn Quốc.
Tuy nhiên, giá của các mặt hàng lâm sản không ổn định, phụ thuộc nhiều vào thương lái. Cách đây bốn năm, nhựa thông có giá hơn 60 nghìn đồng/kg, nhưng đến thời điểm này chỉ còn khoảng 30 nghìn đồng/kg, khiến lợi nhuận của người dân giảm đáng kể. Ngoài cây thông, các loại cây như keo, bạch đàn cũng rất bí đầu ra.
Ông Lý Văn Tư, thôn Bản Rỵ, xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình chia sẻ: "Gia đình tôi có hơn 10 ha cây trồng các loại, trong đó cây thông chiếm phần lớn. Hiện nay, thông bắt đầu cho nhựa nhưng gia đình muốn đợi vài năm nữa gỗ thông già sẽ kết hợp lấy nhựa cùng khai thác gỗ. Song trước những biến động về giá cả theo chiều hướng đi xuống như hiện nay, không biết chúng tôi còn giữ rừng được bao lâu nữa dù cây đang trong thời kỳ sinh trưởng tốt". Trăn trở của ông Tư cũng là lo lắng của nhiều người dân trồng rừng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Lý Vinh Quang cho biết: "Cách đây vài năm, có một vài doanh nghiệp của Ấn Độ, Nhật Bản đề cập về việc liên kết thu mua sản phẩm lâm nghiệp trên địa bàn nhưng phần lớn người dân chưa có ý thức tuân thủ sản xuất quy trình khép kín theo yêu cầu của đối tác cho nên họ từ chối đầu tư. Từ đó đến nay chưa có thêm doanh nghiệp nước ngoài nào đặt vấn đề hợp tác". Bên cạnh vướng mắc về đầu ra, hiện nay, việc trồng rừng tại Lạng Sơn cũng gặp không ít khó khăn. Sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, chu kỳ sản xuất dài, gặp rủi ro về sâu bệnh, nguy cơ cháy rừng cao. Ngoài ra, việc khai thác thông non lấy nhựa không theo quy trình cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng cây khiến nhựa cạn kiệt và chất lượng gỗ giảm sút. Nếu tình trạng này tiếp diễn liên tục trong vài ba năm, nguy cơ rừng thông bị "xóa sổ" sẽ ngày một lớn.
Bảo vệ và phát triển rừng ở Lạng Sơn không chỉ góp phần phát triển kinh tế bền vững tại địa phương mà còn có ý nghĩa trong việc củng cố an ninh -quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biên giới. Vì vậy, để người dân yên tâm sản xuất và gắn bó với rừng, thì việc nỗ lực tìm đầu ra cho sản phẩm, nâng cao thu nhập cho các hộ trồng rừng là điều cần quan tâm hàng đầu.
Theo đó, địa phương cần đẩy mạnh quy hoạch và phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân trong quá trình sản xuất, khai thác các sản phẩm lâm nghiệp.
Lạng Sơn có diện tích rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp hơn 648 nghìn ha, chiếm 78% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, quy hoạch rừng phòng hộ gần 135 nghìn ha, rừng đặc dụng 8.293 ha và rừng sản xuất 505.206 ha. Độ che phủ đạt hơn 52%, bình quân mỗi năm tăng 1,31%. (Nhân Dân 12/7) đầu trang(
Việc UBND huyện Bình Sơn đề nghị cấp thẩm quyền tỉnh phê duyệt dự án đầu tư trồng rừng nguyên liệu của doanh nghiệp Hàn Quốc đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của người dân ở địa phương.
Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vốn cho người dân trồng rừng, đồng thời bao tiêu toàn bộ sản phẩm khi thu hoạch.
Từ hàng chục năm qua nguồn lợi từ trồng rừng, trong đó chủ yếu từ cây nguyên liệu giấy là bạch đàn và keo, đã mang lại nguồn lợi rất lớn cho hàng trăm ngàn hộ dân ở các huyện miền núi, trung du của tỉnh. Từ trồng rừng, nhiều hộ gia đình không chỉ thoát được nghèo mà còn làm giàu với mức thu nhập từ vài chục, đến hàng trăm triệu đồng/năm.
Tuy nhiên gần đây, do nhiều nguyên nhân nên giá cả và việc tiêu thụ keo, bạch đàn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thu nhập của người trồng đã bị giảm sút. Vì vậy việc doanh nghiệp Hàn Quốc xin đầu tư nhiều chục tỷ đồng cho người trồng rừng, bao tiêu sản phẩm khi thu hoạch, ở 2 xã Bình An và Bình Khương, huyện Bình Sơn, đã thu hút sự quan tâm của người dân nơi đây.
Anh Trần Văn Nhi (35 tuổi, quê ở xã Bình Khương), tâm sự: Để trồng keo và bạch đàn trên diện tích gần 3ha của gia đình, tôi đã phải vay mượn trên 20 triệu đồng. Đến thời điểm thu hoạch phải tự mình tìm thương lái hoặc đến các nhà máy chế biến dăm của tỉnh để liên hệ bán, rất vất vả. Nếu có doanh nghiệp chịu đầu tư, thu mua cho bà con như vậy thì còn gì thuận lợi bằng.
Ông Nguyễn Văn Vinh - Chủ tịch UBND xã Bình An cho biết: Dự án đầu tư trồng rừng trên là của Công ty TNHH Han Vina Energy (Hàn Quốc, có trụ sở đặt tại quận 7, TP.Hồ Chí Minh). Diện tích rừng xin đầu tư là 10.000ha, với tổng số tiền đầu tư là 74 tỷ đồng.
Trong đó tại hai xã Bình An và Bình Khương là 6.000ha, số tiền đầu tư 44,4 tỷ đồng; diện tích còn lại ở Quảng Nam. Hình thức đầu tư là thuê đất, đầu tư trực tiếp vốn cho người dân để trồng rừng. Đến kỳ khai thác sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho nông dân theo giá thị trường.
Theo đó số gỗ keo và bạch đàn thu mua sẽ được doanh nghiệp chế biến thành viên gỗ nén, xuất khẩu 100% sang Hàn Quốc làm nguyên liệu cho nhà máy điện. Còn số tiền đầu tư, công ty sẽ khấu trừ vào tiền bán sản phẩm của người dân. Với hình thức này, người trồng rừng ở Bình An sẽ được sự thuận lợi hơn rất nhiều so với tự đầu tư và tìm nơi tiêu thụ như trước đó.
Ông Phạm Trung Trường (65 tuổi, ở thị trấn Châu Ổ) đang có khoảng 650ha đất rừng ở thôn Thọ An, xã Bình An, cho biết: Qua thông tin mà đại diện doanh nghiệp cung cấp, việc thu mua keo và bạch đàn của người dân không chỉ là phần thân cây chính như các nhà máy sản xuất dăm, mà mua tất cả cành nhánh, trừ lá. Vì vậy người trồng rừng sẽ có thêm một khoản thu không nhỏ từ sản phẩm của mình. (Nông Thôn Ngày Nay 11/7, tr11) đầu trang(
Những nguy cơ từ đầu tư kinh tế TQ vào Việt Nam đã được đề cập từ lâu, nhưng hiện nay, vấn đề này đã ngày càng trở lên cấp bách.
Trong hai thập niên vừa qua kinh tế Việt Nam lệ thuộc xấu vào Trung Quốc. Chính sách trải thảm đỏ ưu đãi đầu tư Trung Quốc có thể tạo nên những nguy cơ về an ninh quốc phòng. Hiện nay, tình hình trên biển đang nóng lên từng ngày nên càng phải thận trọng, cảnh giác.
Theo hồ sơ “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020” và “Kế hoạch sử dụng đất 2011- 2015” đối với đất quốc phòng và an ninh, quy hoạch đất dành cho 2 lĩnh vực này đều tăng, với quốc phòng có 278 ngàn ha, tăng 87 ngàn ha so với năm 2010. Đất an ninh có 55,6 ngàn ha, đạt 71,25%, so với chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015.
Không chỉ ồ ạt thu gom nông sản, người Trung Quốc còn núp bóng dân địa phương thuê lại đất để làm nông nghiệp, rồng rừng, nuôi trồng thủy sản tại các khu vực ven biển... Đáng chú ý là hầu hết diện tích cho thuê đều nằm ở vị trí, khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh, có khu vực là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, quân cảng, cảng nước sâu...
Theo thông tin, tới năm 2013 diện tích đất cho thuê là hơn 300.000 ha. Bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, thực tế cho thuê dài hạn là 15.664 ha. Tuy nhiên, Ủy ban An ninh Quốc phòng cho biết, toàn quốc có 19 dự án nước ngoài được cấp phép ở trồng rừng ở 18 tỉnh với diện tích trên 398.374 ha chứ không phải 305.353ha như bộ báo cáo.
Từ năm 2010, 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương... đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50-70 năm) để trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó doanh nghiệp từ Hồng Kông, Đài Loan - Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới. (Đất Việt 11/7) đầu trang(
Đó là một trong những nội dung chỉ đạo của ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững tại buổi họp ngày 10/7 đánh giá tình hình thực hiện Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững từ năm 2011 - 2014, bàn nhiệm vụ trọng tâm năm 2015.
Thực hiện chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững, tỉnh ta đã tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân; xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng; ban hành quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp; giao đất giao rừng, quản lý cây giống...
Nhờ đó, một số mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012 - 2020 bước đầu được thực hiện. Hầu hết hộ gia đình, cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng và chăm sóc rừng đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 28% (năm 1998) lên 40,94% (năm 2013); phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%.
Tham gia ý kiến tại buổi họp, các đại biểu tập trung phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững tại cơ sở. Đó là việc quy hoạch diện tích 3 loại rừng còn nhiều bất cập; phân bổ vốn trồng rừng hàng năm chậm; tiến độ thực hiện các dự án doanh nghiệp trồng rừng sản xuất, công tác quyết toán dự án trồng rừng 327, 661 gặp nhiều khó khăn; nên giao diện tích rừng đặc dụng cho người dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ để được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng...
Kết luận cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến chỉ đạo: Đối với diện tích quy hoạch rừng đặc dụng, trước mắt giao cho cộng đồng; tập trung chỉ đạo quyết toán dự án trồng rừng 327, 661; rà soát lại diện tích 3 loại rừng sát thực tế và thống nhất với quy hoạch sử dụng đất. Đối với 3 Ban Quản lý rừng phòng hộ giao cho Sở NN&PTNT phối hợp với Sở TN-MT, chính quyền địa phương liên quan đánh giá lại hiệu quả hoạt động để có biện pháp giải quyết. Đối với các dự án doanh nghiệp trồng rừng sản xuất, giao Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các ngành liên quan rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động, kiên quyết rút giấy phép kinh doanh đối với những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. (Báo Điện Biên Phủ 11/7) đầu trang(
Lấy lý do rừng keo của ông Lương Hiền trú tại thôn Đông Tây, xã Tam Đại (Phú Ninh) đang có tranh chấp nên Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh (gọi tắt là BQL rừng Phú Ninh) không cho khai thác. Ông Lương Hiền bức xúc làm đơn khiếu nại.
Ông Lương Hiền có đơn thư phản ánh với nội dung: Năm 1978, khi xây dựng hồ Phú Ninh, gia đình ông phải di dời ra khỏi vùng ngập nước. Ông Lương Nhàn - cha ông Hiền, được chính quyền địa phương cấp đất ở hố Chuối, hố Ruộng để canh tác hoa màu.
Sau khi ông Nhàn qua đời, gia đình giao cho ông Hiền tiếp tục quản lý, canh tác tại khu vực nêu trên. Năm 2005, ông Hiền vay vốn Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh Phú Ninh để chăn nuôi bò và trồng keo tại hố Chuối, hố Ruộng thuộc thôn Đại Hanh.
Năm 2009, Ban Quản lý (BQL) rừng Phú Ninh quy hoạch lại diện tích đất rừng. Khi kiểm tra thực tế tại hố Chuối thuộc tiểu khu 583 (xã Tam Đại), cơ quan chức năng xác định rừng keo do ông Hiền trồng khoảng 3 năm tuổi, diện tích 1,4ha. Tổ công tác gồm đại diện Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam và BQL rừng Phú Ninh kiến nghị giữ nguyên hiện trạng và đề nghị BQL rừng Phú Ninh sớm giải quyết để đưa diện tích này vào quy hoạch trồng rừng.
Cuối năm 2013, các đơn vị đến hiện trường kiểm tra thiệt hại do bị ảnh hưởng cơn bão số 11, xác định 1,3ha cây keo do ông Lương Hiền trồng tại tiểu khu 583 bị thiệt hại 30%, quy ra gỗ khoảng 23.882m3.
Khi gia đình làm đơn xin khai thác toàn bộ rừng keo, BQL rừng Phú Ninh buộc ông viết cam kết trả lại 1,3ha tại khu vực hố Chuối và chỉ cho khai thác 0,6ha. Diện tích còn lại 0,7ha, ông Cao Văn Thọ - kiểm lâm viên BQL rừng Phú Ninh cho rằng, trùng với diện tích rừng BQL rừng Phú Ninh quản lý nên không được khai thác.
Tuy nhiên, ông Bùi Văn Lê ở thôn Đại Hanh, xã Tam Đại cho hay, năm 2009 nhiều hộ dân thôn Đại Hanh lấn chiếm đất trồng rừng trái phép ở tiểu khu 583. BQL rừng Phú Ninh phối hợp với Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam kiểm tra, sau đó hỗ trợ cho người dân từ 300 nghìn đến 500 nghìn đồng tiền công phát hoang và buộc trả lại đất.
Thời điểm đó, tại hố Chuối ông Hiền đã trồng cây keo khoảng 3 năm tuổi. Cũng theo ông Lê, năm 2008, ông hợp đồng trồng cây sao đen, keo cho Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam tại tiểu khu 583, khu vực ông Hiền đã trồng cây keo cao gần 3m. Chỉ nhiều cây keo khoảng 8 năm tuổi được trồng chạy dọc bờ ruộng lên sườn đồi có đường kính khoảng từ 20 - 40cm, ông Lê khẳng định toàn bộ rừng keo do ông Hiền trồng chứ không phải của BQL rừng Phú Ninh.
Hồ sơ thiết kế được lưu giữ tại BQL rừng Phú Ninh thể hiện rừng đã trồng năm 2008 tại xã Tam Đại là 125ha; bản đồ thiết kế chăm sóc rừng năm 2009 trồng tại tiểu khu 583 và 584 diện tích sao đen là 86,5ha, keo tai tượng là 38.5ha. Quan sát tại thực địa, chúng tôi thấy khu vực hố Chuối thuộc tiểu khu 583, nơi ông Hiền cho rằng BQL rừng Phú Ninh không cho khai thác 0,7ha keo có rất nhiều cây keo lá tràm có đường kính từ 20 - 30cm chứ không phải là keo tai tượng được Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam trồng theo thiết kế năm 2009.
Ông Lương Hiền cho hay, khi làm việc với BQL rừng Phú Ninh và UBND xã Tam Đại, ông có nguyện vọng  được khai thác hết số keo ở 0,7ha còn lại, bởi đây là công sức của gia đình, nhưng đến nay vẫn chưa được BQL rừng Phú Ninh giải quyết.
Trao đổi với chúng tôi, Giám đốc BQL rừng Phú Ninh Nguyễn Xuân Phước cho biết, trong khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh hiện nay tồn tại cả hai loại rừng do Nhà nước và nhân dân trồng. Ranh giới rừng các khu vực rừng cũng xác định rất mơ hồ khiến người dân mạnh ai nấy lấn chiếm. Hiện nay, đơn vị phối hợp với chính quyền địa phương mời các hộ lấn chiếm rừng phòng hộ cam kết trả đất cho BQL rừng Phú Ninh sau khi khai thác keo.
Đối với khiếu nại của ông Hiền, đơn vị chỉ đạo cán bộ kiểm lâm mời ông Hiền đến hiện trường xác định 0,7ha keo chưa được khai thác để xác định độ tuổi. Nếu rừng keo ông Hiền trồng tại tiểu khu 583 có độ tuổi từ 5 - 8 năm, đơn vị sẽ cho phép khai thác nhằm đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông. Còn rừng keo dưới 4 tuổi thì đó là cây keo tái sinh và cây keo ông Hiền mới trồng do lấn chiếm đất rừng phòng hộ.
“Giải quyết không đúng cơ sở pháp luật dễ phát sinh khiếu nại, bởi theo thống kê tổng diện tích rừng phòng hộ Phú Ninh hơn 11 nghìn héc ta, riêng ở xã Tam Đại có hơn 20ha rừng người dân đang lấn chiếm” - ông Phước nói.
Hướng giải quyết đã có, vì vậy BQL rừng Phú Ninh cần nhanh chóng thực hiện nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân để tránh khiếu nại dai dẳng. (Báo Quảng Nam 11/7) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT, năm nay nguồn vốn ngân sách đầu tư cho phát triển rừng và phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh là 260,6 tỷ đồng.
Trong đó có 185 tỷ trích từ nguồn dịch vụ môi trường rừng; ngân sách tỉnh chi 10 tỷ đồng cho trồng và chăm sóc rừng, 3,84 tỷ đồng để trồng cây phân tán, kinh phí quản lý bảo vệ rừng của các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp 28,6 tỷ; 19 tỷ từ Chương trình bảo vệ và phát triển rừng cùng 14,2 tỷ đồng kinh phí phòng chống cháy rừng mùa khô 2013-2014.
6 tháng đầu năm nay, từ nguồn kinh phí này toàn tỉnh đã thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 376.136ha rừng cho 22.852 hộ dân (có 17.662 hộ là người dân tộc thiểu số). (Dân Tộc & Phát Triển 11/7, tr11) đầu trang(
Mặc dù nhiều DN gỗ tại Đồng Nai hiện đã có hợp đồng sản xuất đến hết quý III, thậm chí đến hết tháng 11 năm nay. Tuy nhiên, họ đang chật vật vì nguyên liệu khan hiếm và giá tăng vọt…
Ông Lê Hồng Phát, Giám đốc Cty cổ phần chế biến gỗ Hoàng Nhật Phát (huyện Long Thành), cho biết các loại gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ đầu năm đến nay tăng giá khá nhiều dẫn đến DN chế biến gỗ bị giảm lợi nhuận.
Theo ông Phát, các loại gỗ, như: thông, dẻ gai, trăn… đã tăng từ 5 - 10 USD/m3. Cụ thể, giá gỗ thông nhập khẩu loại đã xẻ, sấy vào cuối năm 2013 vẫn ở mức 230 USD/m3 thì hiện tại lên gần 240 USD/m3, hay gỗ dẻ gai đã từ 420 USD/m3 lên xấp xỉ 430 USD/m3, gỗ trăn từ 500 USD/m3 tăng lên 506 USD/m3.
Đối với các sản phẩm do khách hàng chỉ định loại gỗ sản xuất, DN không được tự lựa chọn loại gỗ thay thế còn phức tạp hơn. Ông Đỗ Văn Hùng - Giám đốc DNTN Minh Tiến, chuyên sản xuất đồ gỗ xuất khẩu (phường Tân Biên, TP Biên Hòa), cho hay giữa tháng 5 vừa qua ông xuất 2 lô hàng là tủ rượu và bàn ghế bằng gỗ sồi, gỗ tần bì qua Mỹ, tính ra suýt bị lỗ do giá 2 loại gỗ này tăng quá cao.
Hợp đồng được ký từ tháng 11/2013, lúc đó giá gỗ tần bì của Mỹ (loại đắt nhất) là 428 USD/m3, nhưng đến tháng 3/2014, loại gỗ này tăng khoảng 100 USD/m3, đến đầu tháng 6 vừa qua tăng thêm gần 25 USD/m3 nữa. Tương tự, gỗ sồi thời điểm tháng 3 cũng tăng 60 USD/m3 và đến nay mức tăng là 105 USD/m3.
Ông Lê Khắc Khang - trợ lý Tổng giám đốc Cty chế biến gỗ F.J Wood (huyện Trảng Bom) cho biết, 2 loại gỗ trong nước được các DN làm hàng xuất khẩu sử dụng nhiều là cao su và xà cừ. Tuy nhiên, nguồn cung 2 loại gỗ này ngày càng giảm khiến giá cũng tăng theo.
So với cuối năm 2013, hiện tại mỗi mét khối gỗ cao su tăng thêm 350 - 400 ngàn đồng và gỗ xà cừ trên dưới 500 ngàn đồng. Hiện nay, giá gỗ cao su đang ở mức xấp xỉ 6 triệu đồng/m3, gỗ xà cừ 5,5 triệu đồng/m3.
Theo ông Khang: “Mấy năm trước, các Cty cao su khai thác gỗ vườn cao su già để trồng mới khá nhiều nên lượng gỗ dồi dào, đến nay việc khai thác chậm lại. Bên cạnh đó, nhiều TCty cao su đã có các nhà máy chế biến nên một phần họ để lại phục vụ sản xuất. Gỗ xà cừ trên thị trường từ năm 2013 đã thấy giảm mạnh do người dân trồng không nhiều”.
Còn theo Bộ NN-PTNT, nguồn gỗ trong nước ngày càng nhiều nhưng do khai thác sớm, nên đường kính gỗ còn nhỏ, chất lượng thấp, do đó vẫn phải phụ thuộc nhập khẩu để sản xuất các sản phẩm có giá trị cao.
Đây là một nghịch lý, làm cho ngành chế biến gỗ có tính cạnh tranh thấp trên thị trường. Dù không còn phải xuất khẩu tập trung vào 1 nước để tái xuất sang nước thứ 3 như trước, nhưng khi xuất khẩu trực tiếp, hầu hết các DN chưa có mạng lưới phân phối sản phẩm ở nước ngoài, vẫn phải qua những tập đoàn bán lẻ nên bị động về thị trường.
Bên cạnh gỗ nguyên liệu nhập khẩu chiếm 35%-40% giá thành, ngành công nghiệp phụ trợ chưa có, đa phần phải nhập khẩu giá cao chiếm 10%, chi phí bán hàng lớn khoảng 14% làm giảm khả năng cạnh tranh nên lợi nhuận của DN chế biến xuất khẩu chỉ còn khoảng 5% giá trị xuất khẩu.
Ở Trung Quốc, ngành chế biến gỗ nhập gỗ nguyên liệu từ Nga, tổ chức cưa xẻ ở Nội Mông sau đó vận chuyển về các nhà máy chế biến tập trung.
Tạo được các chuỗi liên kết đó mới giúp phát triển chế biến vừa phủ xanh đất trống, đồi trọc và là nguồn sinh kế ổn định của người trồng rừng vừa chủ động nguồn nguyên liệu cho DN, nhà máy chế biến lại vừa đảm bảo môi trường sống cho người dân. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 11/7, tr10) đầu trang(
Sáng 10/7, ông Lê Tiến Phương - Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp trực tuyến với các cơ quan chức năng và địa phương, đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm 2014.
Hội nghị khẳng định, tuy tình hình có chuyển biến tích cực nhưng công tác này cần phải được tập trung chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt hơn nữa.
6 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh xảy ra hơn 400 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm khoảng 9,5% so với cùng kỳ. Các cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự 7 vụ vi phạm. Cũng trong thời gian này, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ việc có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, (tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm 2013).
Cơ quan chức năng đánh giá, tính chất, mức độ hành vi các vụ việc nguy hiểm hơn. Các đối tượng tổ chức thành số đông, sử dụng hung khí, súng tự chế để chống trả hoặc tấn công lại, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Từ đầu năm đến nay, theo báo cáo của các Hạt Kiểm lâm, toàn tỉnh đã phát hiện lập hồ sơ vi phạm về hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép 49 vụ với gần 21 ha. Tình hình phức tạp diễn ra chủ yếu tại vùng giáp ranh, nhất là giữa xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình với huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Tiến độ trồng rừng còn chậm so với kế hoạch. (Đài PTTH Bình Thuận 10/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GỚI
Một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà khoa học ở Bra-xin và Vương quốc Anh đã định lượng tác động của việc khai thác gỗ chọn lọc, phá hủy một phần các khu rừng bằng cách đốt rừng, hiện trạng rừng bị phân mảnh do sự phát triển của đồng cỏ và các đồn điền đối với rừng nhiệt đới Amazon.
Những yếu tố này có thể loại bỏ gần 54 triệu tấn các-bon được lưu trữ ở rừng mỗi năm và lượng khí này được đưa vào khí quyển như khí nhà kính. Lượng khí này tương đương với 40% lượng các-bon lưu trữ bị mất đi bởi nạn phá rừng trong khu vực.
Nghiên cứu này được thực hiện bởi 10 nhà nghiên cứu từ 11 tổ chức ở Bra-xin và Vương quốc Anh và được công bố trên tạp chí Global Change Biology. Erika Berenguer, nhà nghiên cứu từ Trung tâm Môi trường Lancaster ở Đại học Lancaster, Vương quốc Anh, tác giả đầu tiên của nghiên cứu cho biết: “Con người ít quan tâm đến những tác động của tình trạng khai thác gỗ, đốt cháy rừng và phân mảnh rừng vì tất cả những nỗ lực được tập trung vào việc ngăn chặn nạn phá rừng. Con người đã đạt được những tiến bộ to lớn trong việc bảo tồn rừng Amazon của Bra-xin với tỷ lệ phá rừng đã giảm hơn 70% so với 10 năm trước. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng các dạng suy thoái khác có ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng với số lượng rất lớn các-bon được lưu trữ trước đó bị mất vào bầu khí quyển”.
Theo Joice Ferreira, nhà nghiên cứu tại Cơ quan Nghiên cứu nông nghiệp Bra-xin và là tác giả thứ hai của nghiên cứu, một trong những lý do mà tình trạng suy thoái này không được chú ý là việc giám sát gặp nhiều khó khăn. Hình ảnh vệ tinh cho phép phát hiện dễ dàng hơn nhiều các khu vực rừng bị tàn phá hoàn toàn.
Nghiên cứu đánh giá dựa trên hình ảnh vệ tinh theo điểm ảnh (pixel-by-pixel) (mỗi điểm ảnh trong hình ảnh tương ứng với một khu vực rộng 900 m2 cho thấy những gì đã xảy ra trong vòng 20 năm qua). Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã xem xét 225 lô (mỗi lô 3.000 m2) trong hai khu vực rừng lớn có diện tích 3 triệu ha được sử dụng như một mô hình để ước tính những gì xảy ra ở Amazon.
Các hình ảnh vệ tinh được so sánh hai năm một lần giúp các nhà nghiên cứu có một cái nhìn tổng quan về sự xuống cấp của rừng trong thời gian 20 năm. Nghiên cứu đánh giá các khu vực rừng bị đốt, khai thác gỗ và các tình trạng suy thoái khác, từ đó đưa ra ước tính lượng các-bon lưu trữ bị mất đi.
Hai khu vực đã được nghiên cứu là Santarém và Paragominas ở phần phía đông của khu vực Amazon đang trong tình trạng suy thoái mạnh. 225 lô đã được nghiên cứu ở hai vùng này. Ferreira cho biết: “Chúng tôi thu thập dữ liệu từ hơn 70.000 cây và lấy hơn 5.000 mẫu đất, cây gỗ chết và các thành phần khác vốn được coi là nơi lưu trữ lượng các-bon. Đây là nghiên cứu lớn nhất được tiến hành cho đến nay liên quan đến mất các-bon từ rừng nhiệt đới do khai thác có chọn lọc và cháy rừng”.
Trong nghiên cứu, năm loại rừng được xem xét là rừng nguyên sinh (hoàn toàn nguyên vẹn); rừng bị ảnh hưởng bởi khai thác gỗ; rừng bị ảnh hưởng cháy rừng; rừng bị ảnh hưởng bởi khai thác gỗ chọn lọc và cháy rừng; và rừng thứ sinh (rừng được tái sinh sau khi bị chặt phá hoàn toàn).  Các khu rừng bị khai thác gỗ hoặc cháy rừng có lượng các-bon lưu trữ thấp hơn từ 18% đến 57% so với rừng nguyên sinh.
Một khu vực rừng nguyên sinh lưu trữ hơn 300 tấn các-bon/ha, trong khi rừng đã bị đốt cháy hoặc bị khai thác gỗ có lượng các-bon lưu trữ nhiều nhất là 200 tấn/ha, trung bình ít hơn 100 tấn các-bon/ha. (Bộ NN&PTNT 11/7) đầu trang(
Theo báo cáo mang tên Wood Resource Quarterly thì New Zealand chính thúc trở thành nhà cung cấp gỗ mềm lớn nhất thế giới.
Trong vòng 5 năm trở lại đây, luợng gỗ mềm (softwood logs) XK của New Zealand tăng tới 4 lần, đạt trên 2 tỷ USD, chiếm khoảng 20% thị phần gỗ mềm của thế giới.
Doanh thu XK nhóm gỗ này tăng gấp 3 lần trong vòng 5 năm trở lại đây, những nước NK gỗ lớn nhất của New Zealand là Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản; xếp thứ 2 là Nga; thứ 3 là Mỹ, mỗi nước này có thị phần NK gỗ mềm ước khoảng 15%.
Năm 2013, gỗ của New Zealand XK sang Trung Quốc chiếm tói 72% lượng gỗ XK chung của cả nước. Cũng theo báo cáo nói trên, năm 2008 doanh thu XK gỗ của New Zealand mới chỉ đạt 500 triệu USD, nhưng đến năm 2013, đã tăng 4 lần, đạt trên 2 tỷ USD. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/7, tr7) đầu trang(
Một nhân viên của vườn thú Shoalhaven, ở tiểu bang New South Wales, Úc bất ngờ bị con cá sấu tấn công trong lúc cho chúng ăn.
Trent Burton, 31 tuổi cố xoay xở để thoát ra với nhiều vết thương trên người sau khi con cá sấu đực dài gần 4m ngoạm lấy tay anh lôi xuống nước. Con cá sấu tên John này đã sống ở đây hơn 10 năm. (Công an TPHCM 11/7, tr15) đầu trang(
Theo dõi quần thể gấu Bắc cực trong điều kiện băng giá rất nặng nhọc, nguy hiểm. Công việc này đã trở nên nhẹ nhàng hơn khi giám sát chúng từ không gian.
Các nhà khoa học đã sử dụng hình ảnh vệ tinh để theo dõi các sinh vật ngoài khơi bờ biển Canada, đồng thời công nghệ này còn xem xét việc tan băng ở Bắc cực làm ảnh hưởng đến số lượng của gấu. Những hình ảnh được cho là rất chi tiết vì mỗi hình cần đến 2,5 GB lưu trữ, hơn 1.300 lần so với dung lượng một hình ảnh trung bình ghi bởi iPhone.
Các nhà nghiên cứu bắt đầu ghi hình gấu vào mùa hè năm 2012 và căn cứ vào đó để tính số lượng gấu.
Các sinh vật có thể được phân biệt với những điểm màu sáng khác nhau bằng cách so sánh hình ảnh vệ tinh với những hình ảnh khác trên cùng một hòn đảo.
Một nghiên cứu tại hiện trường trước đó cho thấy có khoảng 100 con gấu trên một hòn đảo ở địa cực, và hình ảnh vệ tinh đã khẳng định điều này.
Daily Mail cho biết phát triển kỹ thuật hiệu quả để giám sát động vật hoang dã là một ưu tiên ở Bắc cực, nơi xa xôi và khó khăn cho công tác hậu cần khi muốn tiếp cận.
Hình ảnh vệ tinh là công cụ đầy hứa hẹn để theo dõi không chỉ gấu Bắc cực mà còn đối với những động vật hoang dã khác sống trong môi trường này. (Thanh Niên 11/7) đầu trang(
Sở Lâm nghiệp bang Penang của Malaysia cho biết hôm 10-7 cơ quan này đã bắt giữ 13 người Việt Nam sở hữu trái phép 5kg gỗ trầm hương.
Báo The Star dẫn lời giám đốc Sở Lâm nghiệp Penang Rosli Jamaluddin cho biết 13 người Việt Nam này đã bị bắt khi kiểm lâm và cảnh sát Malaysia lục soát một căn nhà ở thị trấn Simpang Ampat (quận Seberang Prai).
Cán bộ kiểm lâm Penang đã phát hiện 5 kg gỗ trầm hương cùng những thiết bị được cho là dùng để khai thác trầm hương. Chiến dịch bắt giữ này diễn ra từ 0g đến 1g sáng hôm qua.
Ông Jamaluddin cho biết những nghi can trên có độ tuổi từ 20 đến 45, trong đó có 6 phụ nữ và 7 người đàn ông. Trước đó, Cơ quan lâm nghiệp Penang đã được dân địa phương mật báo về nhóm người nước ngoài có dấu hiệu khả nghi khai thác trầm trong khu vực.
Chính quyền Penang sau đó đã đưa toàn bộ 13 nghi can này đến tòa sơ thẩm. Tại đây, tòa án đã ra lệnh tạm giam các nghi can trong vòng 4 ngày. Vụ việc đang được điều tra theo Luật lâm nghiệp quốc gia Malaysia ban hành năm 1984.
Nếu bị buộc tội, các nghi can trên có thể đối mặt với án tù tối đa 5 năm, phải nộp phạt khoảng 15.696 USD, hoặc có thể bị cả hai hình phạt này. (Tuổi Trẻ 12/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng