Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 15 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chi trả các dịch vụ môi trường là kết quả của sự nỗ lực của Chính phủ Viêt Nam, cụ thể là của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE) Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV), Bộ TN&MT, và là đóng góp đáng kể của đối tác RUPES, trong đó có Tổ chức Winrock Quốc tế, Trung tâm Nông Lâm nghiệp thế giới (ICRAF), Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) trong 5 năm qua.
Có một nghịch lý là việc duy trì bảo vệ các hệ sinh thái rừng thường được thực hiện bởi một nhóm nhỏ, trong khi người hưởng lợi là số đông. Giữa hai bên hưởng lợi và duy trì lợi ích cần có sự bù đắp công bằng thông qua một cơ chế kinh tế. Cơ chế này cũng tạo ra một nguồn ngân sách cho việc đầu tư phục hồi và duy trì bền vững các giá trị hệ sinh thái. Đó chính là ý nghĩa ban đầu cho sự ra đời của cơ chế “Chi trả dịch vụ môi trường”( PFES).
PFES là bước ngoặt về chính sách đối với nghề Rừng ở Việt Nam. Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập cơ sở pháp lý nhằm thực hiện PFES thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi. Năm 2008, Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm PFES tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP tiếp tục được ban hành nhằm triển khai Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên phạm vi toàn quốc từ 1/1/2011. Sau 5 năm được thực hiện ở Việt Nam, PFES đã cho thấy tĩnh hữu dụng của nó trong công tác bảo vệ rừng.
Theo Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), dựa trên những nghiên cứu cụ thể kết hợp với thông tin thu thập được tại các dự án thí điểm PFES cho thấy, PFES đã chứng minh tính hiệu quả, hiệu ích và công bằng của PFES trong quá trình triển khai tại Việt Nam từ năm 2008, tương ứng với ba khía cạnh của PFES bao gồm: Xây dựng các cơ sở pháp lý, cơ chế chia sẻ lợi ích, giám sát và đánh giá.
Nhận định về các thành tựu chính của PFES tại Việt Nam, CIFOR cho biết, việc triển khai PFES đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý, nâng cao nhận thức xã hội và thu được 1.782 tỉ đồng, trong đó tiền chi trả từ các cơ sở sản xuất thủy điện chiếm khoảng 98%, từ các công ty cung cấp nước 2% và từ các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành 0,1%. Tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng ước tính chiếm 0.8% ngân sách đầu tư lâm nghiệp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện PFES cũng tồn tại một số hạn chế. Cụ thể, do thiếu các cơ sở pháp lý và các hướng dẫn chi tiết nên trong số các loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP, hiện mới có 2 dịch vụ được thực hiện là dịch vụ phòng hộ đầu nguồn và dịch vụ du lịch sinh thái.
Việc giải ngân từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tới những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng đạt tỷ lệ khá khiêm tốn (46%) trong tổng số tiền thu được tới nay. Bên cạnh đó, nhóm đối tượng cộng đồng vẫn chưa có sự rõ ràng về tư cách pháp nhân để tham gia vào những thỏa thuận về PFES, điều này làm giảm sự quan tâm của các cộng đồng địa phương tới việc bảo vệ và phát triển rừng.
Ngoài những bất cập trên, việc thực hiện PFES cũng còn thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng tiền chi trả cũng như các quy định liên quan tới hệ thống giám sát và đánh giá. Việc chưa có các hướng dẫn cụ thể dẫn tới tình trạng hiểu và thực thi khác nhau tại các địa phương cũng như sự e dè trong công tác triển khai PFES do e ngại làm sai định hướng.
Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện PFES, CIFOR đề xuất cần minh bạch hóa việc phân bổ nguồn tiền từ cấp trung ương tới địa phương thông qua việc phát triển một hệ thống giám sát và đánh giá với một cơ chế ghi nhận và phản hồi ý kiến rõ ràng. Bên cạnh đó, PFES cũng cần được hỗ trợ và kết hợp với các chương trình bảo tồn đất, nguồn nước ở lưu vực và phát triển kinh tế xã hội khác để mang đến một chương trình toàn diện hơn. (Tài Nguyên&Môi Trường 14/10) đầu trang(
UBND tỉnh Điện Biên vừa ban hành Quyết định số 766 về công bố diện tích rừng thuộc lưu vực các nhà máy thủy điện, nước sinh hoạt nội tỉnh làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo đó, toàn tỉnh có 32.297 ha rừng thuộc lưu vực trong phạm vi Nhà máy thủy điện Nà Lơi, Thác Bay, Thác Trắng, Pa Khoang, Tà Cơn, Na Son, Nậm Cản; Nhà máy nước TP. Điện Biên Phủ, thị trấn Mường Chà và TX. Mường Lay làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả DVMTR thu được từ bên sử dụng dịch vụ theo từng lưu vực, diện tích rừng của từng nhà máy trong lưu vực có tham gia cung ứng DVMTR đã được phê duyệt. UBND các huyện, thị xã, thành phố có các nhà máy sử dụng dịch vụ xác định các đối tượng được chi trả dịch vụ cung ứng với mỗi lưu vực và triển khai theo quy định hiện hành… (Báo Điện Biên 15/10) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Huổi Toóng 2, xã Huổi Lèng (huyện Mường Chà) là nơi sinh sống của 46 hộ dân tộc Mông, bản có 153ha rừng thuộc lưu vực sông Đà được chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010 của Chính phủ. Nhờ làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR, đến nay bà con trong bản đều ý thức được việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng.
Ông Thào Chứ Giàng, Trưởng nhóm Bảo vệ và Phát triển rừng bản Huổi Toóng 2 cho biết: Để làm tốt công tác giữ và bảo vệ rừng, các hộ dân trong bản đều ký cam kết bảo vệ rừng với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng.
Theo đó, ngoài cử các thành viên trong gia đình tham gia phát dây leo, bụi rậm; tham gia tuần tra, bảo vệ rừng, các hộ dân trong bản còn thực hiện giám sát lẫn nhau trong công tác bảo vệ. Nếu phát hiện hộ nào chặt phá rừng, ngoài việc báo với kiểm lâm còn bị Trưởng bản phê bình trước cuộc họp bản. Vì thế mà dù rừng được quản lý theo hình thức giao cho cộng đồng, nhưng nhiều năm qua không xảy ra tình trạng rừng bị chặt phá, xâm hại.
Bà con trong bản rất phấn khởi vì ngoài chính sách hỗ trợ khoanh nuôi, bảo vệ rừng hàng năm, hiện nay, các hộ còn được nhận tiền DVMTR do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả. Việc hưởng lợi từ việc giữ rừng sẽ góp phần giúp bà con vơi bớt khó khăn và nhiều cánh rừng thêm xanh tốt. (Báo Điện Biên 15/10) đầu trang(
9 tháng đầu năm 2013, được sự quan tâm của lãnh chỉ đạo của chi cục kiểm lâm tỉnh, Thường trực huyện uỷ, HĐND, UBND và sự phối hợp của các ngành, UBND các xã, thị trấn cùng với sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ kiểm lâm huyện, công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bắc Mê đã đạt được những kết quả tích cực.
Đối với công công tác quản lý bảo vệ rừng, hơn 2100 lượt người đã tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng. Điều tra sâu bệnh hại rừng được 10 ô tiêu chuẩn, đang tổng hợp số liệu các xã thị trấn, theo dõi diến biến tài nguyên rừng 13/14 xã, thị trấn. Tổ chức ký cam kết sử dụng máy cưa xăng được 146 máy. Cùng với đó là kiệm toàn ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng gồm 14 ban và thành lập các tổ xung kích quản lý bảo vệ rừng – phòng chống cháy rừng tại các xã với 13 tổ và 138 tổ đội phòng chống cháy rừng ở các thôn bản.
Về công tác thanh tra – pháp chế, trong 9 tháng đầu năm 2013 hạt kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 33 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó có 29 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, 01 vụ vi phạm quy định về phòng chống cháy rừng, diện tích thiệt hại 0,3 ha rừng trồng. Mua, vận chuyển, cát giữ động vật hoang dã trái phép 02 vụ, tịch thu trên 10kg động vật hoang dã (Rắn hổ mang phì).
Khai thác lâm sản trái phép 01 vụ và đã khởi tố vụ án chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Lâm sản tịch thu 9,87 m 3 gỗ xẻ và gỗ tròn các loại. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính và bán tang vật tịch thu nộp ngân sách là trên 193 triệu đồng. Về công tác quản lý khai thác lâm sản, đơn vị luôn thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong công công tác tham mưu cũng như kiểm tra giám sát khai thác, kinh doanh vận chuyển lâm sản của các tổ chức cá nhân.
Ông Hoàng Hồng Trường Hạt trưởng hạt kiểm lâm Bắc Mê cho biết: Số vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng so với cùng kỳ năm ngoái đã giảm và mức độ vi phạm của các vụ không lớn. Đấy có thể nói là một kết quả đáng mừng đối với nghành kiểm lâm.
Để có được kết quả như vậy là do có sự quan tâm vào cuộc quyết liệt của cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc xử lý các vụ vi phạm lớn về khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, điển hình như ở địa bàn các xã Minh Sơn, Minh Ngọc, các đối tượng vị phạm đã được xử lý nhanh và nghiêm theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy đã có tính răn đe rất lớn đối với những người có toan tính khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép nhằm mưu cầu chuộc lợi cá nhân. (Đài PT - TH Hà Giang 15/10) đầu trang(
Từ khi xuất hiện loài thú lạ ở khu dân cư Nghĩa Hiệp, xã Liên Hiệp (Đức Trọng - Lâm Đồng) vào trung tuần tháng 9/2013, người dân trên địa bàn rất hoang mang vì không chỉ bị mất gà, ngan, ngỗng mà còn đe dọa đến tính mạng của bà con. Tình trạng phá rừng trái phép đã làm cho môi trường sống của các loài vật ngày càng bị thu hẹp và xấu đi khiến chúng phải vào làng để tìm kiếm thức ăn và mở rộng vùng cư trú.
AnhVũ Gia Huấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng, được biết, độ che phủ rừng trên địa bàn hiện đạt 48%. Số vụ vi phạm lâm luật 97 vụ, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm 2012, nhưng vẫn còn cao và còn nhiều phức tạp.
Theo anh Huấn, muốn bảo vệ tốt số rừng còn lại, cần phải nâng cao đời sống cho người dân, đặt biệt là vùng đồng bào dân tộc gốc Tây Nguyên như : Tà Hine, Phú Hội, Tà Năng, Đa Quyn. Muốn thế, phải tạo công ăn việc làm cho bà con. Theo tâm sự của nhiều người dân thì khi có việc làm ổn định, đồng bào sẽ không vào rừng kiếm ăn nữa.
Nguồn tài nguyên từ rừng cũng thật đa dạng, không cần thiết phải chặt phá rừng. Từ con mắt của một nghệ nhân, trong một lần ngụp lặn dưới lòng suối, anh Mừng ở thị trấn Liên Nghĩa đã phát hiện ra những gốc cây trôi chìm dưới lòng suối với hình thù kỳ lạ, anh mang về nhà và gọt đẽo vài động tác là đã hiện ra những tác phẩm nghệ thuật có một không hai. Từ sự vô tình mà anh đã tạo nên một cơ nghiệp bắt đầu bằng những vật tưởng như bỏ đi của núi rừng.
Sống ở rừng, biết dựa vào rừng thì rừng sẽ cho ta bao lộc quý nhưng nếu can thiệp vào rừng một cách thô bạo thì rừng sẽ trừng phạt như sự xuất hiện của thú lạ vừa qua ở khu dân cư Nghĩa Hiệp là một ví dụ. Vì vậy, hãy yêu rừng và bảo vệ rừng để con cháu chúng ta mãi mãi hưởng lộc từ rừng. (Kinh tế Nông thôn 11/10) đầu trang(
Theo đánh giá của Trạm Kiểm lâm Bản Dõng, thời điểm nông nhàn, người dân sinh sống tại các khu vực gần rừng thường vào rừng, lén lút khai thác gỗ trái phép. Để giữ rừng hiệu quả, Trạm đã tăng cường cán bộ kiểm lâm bám địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép.
Trạm Kiểm lâm Bản Dõng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn 9 xã, thị trấn vùng thượng huyện Văn Chấn với diện tích trên 17.000ha rừng các loại. Khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR) khu vực thượng huyện Văn Chấn là hầu hết diện tích rừng phân bố trên địa bàn các xã tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, ý thức BVR của người dân còn hạn chế, tập quán sản xuất đốt nương làm rẫy của người dân chưa được loại bỏ nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Cá biệt, có một số địa phương trước đây luôn là điểm “nóng” về tình trạng khai thác rừng trái phép như: Nậm Lành, Nậm Búng nên công tác BVR gặp nhiều khó khăn. Trước thực trạng trên, Trạm Kiểm lâm Bản Dõng đã tăng cường cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống các xã trọng yếu phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức BVR và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cho người dân. Đồng thời tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát giữ rừng tận gốc.
Anh Lê Mạnh Lâm - cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Nậm Lành cho biết: “Xã có trên 5.000ha rừng các loại, các thôn bản chia cắt đi lại khó khăn. Để giữ rừng hiệu quả, chúng tôi thường xuyên phối hợp với cán bộ xã xuống các thôn bản tuyên truyền về công tác QLBVR và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR); nâng cao chất lượng khoán và bảo vệ rừng bằng cách hàng tháng kiểm tra việc bảo vệ rừng của các nhóm hộ; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát ở cửa rừng, ngăn chặn kịp thời các trường hợp vi phạm. Nhờ đó, tình trạng vi phạm lâm luật trên địa bàn xã giảm đáng kể”.
Theo báo cáo, 9 tháng qua, Trạm đã lập biên bản và xử lý 6 vụ vi phạm trong lĩnh vực QLBVR và quản lý lâm sản. Trong đó, vận chuyển lâm sản trái phép 4 vụ, cất giấu lâm sản trái phép 2 vụ, tịch thu trên 0,45m3 gỗ xẻ các loại và trên 4.190kg cành, cục, gốc pơ mu, tạm giữ 1 xe máy; xử lý vi phạm hành chính, nộp ngân sách 3 triệu đồng.
Con số trên cho thấy tình trạng vi phạm lâm luật đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, theo đánh giá của Trạm, mọi năm, cứ vào thời điểm nông nhàn khi thu hoạch xong vụ mùa, chuẩn bị lễ tết cuối năm, tình trạng vào rừng khai thác lâm sản mới “nóng”. Đặc biệt, cuộc chiến chống giặc lửa ở khu vực thượng huyện Văn Chấn cũng vô cùng gian nan bởi ở đây gió lào thổi mạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau nên nguy cơ cháy rừng rất cao.
Ông Hoàng Thái Học - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bản Dõng cho biết: “Nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, Trạm chỉ đạo cán bộ phụ trách địa bàn tham mưu cho UBND xã, thị trấn xây dựng kế hoạch, kiện toàn các tổ đội bảo vệ rừng ở các xã; tăng cường công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tới mọi người dân; ký cam kết không vi phạm Luật với hàng ngàn hộ dân; xây dựng và thực hiện quy ước BVR trong cộng đồng dân cư.
Đồng thời chủ động tham mưu cho UBND các xã ban hành phương án, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng. Trong đó, tập trung vào các vấn đề trọng tâm như khoanh vùng các khu vực dễ xảy ra cháy rừng và đề ra các phương án PCCCR cụ thể; phối hợp với UBND các xã chỉ đạo các nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng không để xảy ra phá rừng, lấn chiếm rừng, khai thác rừng trái phép; rà soát, thống kê các đối tượng thường xuyên vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng để có biện pháp ngăn chặn”.
Xác định từ nay đến cuối năm là thời điểm “nóng” về tình trạng vi phạm lâm luật, đặc biệt là công tác PCCCR, do đó Trạm Kiểm lâm Bản Dõng tăng cường cán bộ kiểm lâm địa bàn tham mưu cho chính quyền các xã kiện toàn ban chỉ huy PCCCR, phối hợp với chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý canh tác nương rẫy nhằm hạn chế nguy cơ xảy ra cháy rừng;
Tổ chức học tập, ký cam kết với các hộ gia đình về PCCCR, bảo vệ rừng; thành lập các tổ đội xung kích PCCCR ở các thôn bản, tăng cường kiểm lâm xuống các xã, kết hợp với các cơ quan chức năng, các đoàn thể thường xuyên nắm bắt thông tin các điểm có thể xảy ra khai thác và tàng trữ lâm sản để xử lý. Song song với đó, làm tốt công tác giao khoán BVR trên địa bàn, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia trồng rừng. (Báo Yên Bái 14/10) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Một số thông tin chưa chính xác, nhận định thiếu khách quan, phương pháp thực hiện không toàn diện, thông tin công bố không rõ ràng... Đây là những phản ứng của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam về Báo cáo về Nghiên cứu tiêu dùng đối với sừng tê giác tại Việt Nam do tổ chức TRAFFIC phối hợp với Ipsos Marketing thực hiện.
Cuối tháng 9/2013, tổ chức TRAFFIC/WWF đã công bố Báo cáo về nghiên cứu tiêu dùng đối với sừng tê giác tại Việt Nam do TRAFFIC phối hợp với Ipsos Marketing thực hiện, kèm theo bản giới thiệu tóm tắt với tiêu đề “Người tiêu dùng tê giác, họ là ai?”.
“Từ khi có báo cáo này, Việt Nam bị coi là “điểm đen chính” trong sử dụng sừng tê giác. Truyền thông thế giới quy kết: Việt Nam là quốc gia chính gây nên tình trạng săn bắn tê giác tại Nam Phi. Điều này gây ảnh hưởng tới hình ảnh của quốc gia”, ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cho biết tại buổi họp báo ngày 11/10 tại Hà Nội. Ông vừa tham gia chuyến công tác tại Nam Phi. Ở đó, ông cho biết: “Sứ quán Việt Nam tại Nam Phi cũng bị sức ép lớn, nhận hàng cặp táp móng tay và tóc của người bản xứ”.
CITES Việt Nam đã chỉ ra 10 điểm thiếu khách quan trong các nhận định của TRAFFIC, chủ yếu là những khẳng định: Nhu cầu mua sừng tê giác như là hàng hóa xa xỉ của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam, bao gồm doanh nhân, người nổi tiếng, quan chức chính phủ được xác định là nguyên nhân chính gây nên cuộc khủng hoảng săn bắn trộm tê giác.
Tình trạng sử dụng sừng tê giác như là một biểu tượng của người Việt khá giả ở đô thị là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng săn trộm tê giác. Người mua và người dùng chủ yếu để khẳng định vị trí, làm quà biếu người thân, bạn hàng hoặc người có vị trí ở cơ quan nhà nước. Người sử dụng sừng là người giàu có quyền lực và có ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam.
“Trước đây, TRAFFIC có nghiên cứu cho rằng nhu cầu sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam là làm thuốc - nay lại khẳng định là “biểu tượng khá giả”. Cá nhân tôi không thấy oai gì, nếu có sử dụng sừng tê giác”- ông Tùng nói. Tôi là quan chức chính phủ cấp trung, cũng như nhiều cán bộ khác, chưa có ai biếu sừng tê giác. “Báo cáo như vậy là chưa đầy đủ về quan niệm của người Việt Nam về sử dụng sừng tê”!
Đặc biệt, báo cáo dẫn tới hiểu lầm: 5% số dân Việt Nam sử dụng sừng tê giác và có tới 16% người được hỏi có ý định sử dụng, như vậy sắp tới số người sử dụng sẽ tăng lên 4 lần. Trong thực tế, số người phỏng vấn sâu rất ít (chỉ khoảng 40 người) nhưng công bố thông tin không rõ ràng khiến hiểu nhầm 5% của 90 triệu dân Việt Nam, tức 4 triệu người đã sử dụng sừng tê giác!.
Bản báo cáo đưa ra trường hợp “Mr. L” – một người giàu có, chỉ quan tâm tới địa vị xã hội, muốn được mọi người nhìn nhận là lãnh tụ, do vậy ông ta tin rằng sừng tê là biểu tượng cho sự giàu có, quyền lực và địa vị xã hội và thành quả lao động, đồng thời cho rằng sừng tê giác làm “Mr. L” yên tâm và hạnh phúc. “Tôi công nhận trên thực tế có tình trạng sử dụng sừng tê giác, nhưng “Mr. L” không phải điển hình cho tình trạng và tâm lý người Việt Nam. Điều này ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” - đại diện CITES Việt Nam khẳng định.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá về nhận thức, cách sử dụng và thái độ của người Việt Nam nói chung về sừng tê giác, nhưng số lượng mẫu phỏng vấn chỉ trong nhóm người nhỏ ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; sau đó chọn ra 109 người đã mua và sử dụng sừng tê giác để làm bảng hỏi, chỉ có 600 người là phỏng vấn ngẫu nhiên.
“Như vậy nghiên cứu này không thể đại diện cho người Việt Nam nói chung, cũng không phản ánh đúng và khách quan về số người sử dụng sừng tê trên tổng dân số vì trước khi phỏng vấn đã lựa chọn ra tới 20% người đã sử dụng hoặc mua sừng tê” - ông Tùng nhận xét
Bảng hỏi được thiết kế gần 30 trang, thiếu căn cứ khoa học và chủ yếu tập trung vào các câu hỏi xoay quanh việc sử dụng, mua bán sừng tê, không xét đến khía cạnh tâm lý của người Việt Nam để đánh giá chính xác được đối tượng. Do vậy, kết quả đưa ra không phản ảnh được chính xác nhận thức và thái độ thực của người được hỏi mà ra kết quả chủ quan của người hỏi - CITES Việt nam nhận xét.
Thêm vào đó, nghiên cứu mang tính xã hội, nhưng lại được thực hiện bởi một tổ chức Ipsos Marketing chuyên về xác định maketing, thị trường và kinh doanh thực hiện. TOR của nghiên cứu được xây dựng theo ý kiến chủ quan của WWF/TRAFFIC, không có sự tham gia hoặc góp ý của các bên có liên quan, đặc biệt thiếu sự tham vấn của cơ quan nhà nước quản lý về lĩnh vực này. (Tin Tức 15/10) đầu trang(
Nhằm ngăn chặn các hoạt động săn bắn bất hợp pháp và cảnh báo người tiêu thụ ở các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, các nhà bảo tồn đã bơm hóa chất độc hại vào sừng rất nhiều cá thể tê giác.
Trang tin khoa học hàng đầu LiveScience dẫn các nghiên cứu khẳng định sừng tê giác hoàn toàn không có giá trị y khoa. Nó được cấu thành từ chất sừng, giống với móng chân, móng tay của con người. Chính vì vậy, sừng tê giác hoàn toàn không có giá trị chữa bệnh.
Chỉ tính riêng trong năm nay, 688 con tê giác Nam Phi đã bị giết để lấy sừng. Con số này khiến năm 2013 trở thành năm tồi tệ nhất với loài tê giác, vốn đang bị đẩy tới sát mép vực tuyệt chủng.
Cũng theo trang tin này, Việt Nam là một trong những thị thường tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất bởi khá nhiều người hiểu không đúng về giá trị thực sự của loại mặt hàng này. Khi các biện pháp bảo vệ không đạt được hiệu quả, người ta buộc phải tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng đối với sừng tê giác. (Công An Nhân Dân 13/10) đầu trang(
Đoàn Đạị biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng đã tiếp xúc cử tri 3 huyện phía nam tỉnh, gồm xã Đạ M’ri, huyện Đạ Huoai, xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh và xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên.
Cử tri các địa phương đã kiến nghị với đoàn nhiều vấn đề như: cần có giải pháp khắc phục các tác động xấu về môi trường từ các dự án thủy điện vừa và nhỏ được thu hồi; cần tăng cường việc quản lý kinh doanh phân bón và xử lý nghiêm những vụ vi phạm; việc giải quyết chế độ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo còn nhiều bất cập, cần xem xét, rà soát lại các tiêu chí bình xét hộ nghèo để tạo sự công bằng cho nhân dân; giá cả các mặt hàng, đặc biệt là giá lúa gạo Cát Tiên thấp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của người nông dân;
Cần tạo điều kiện cho nông dân vay vốn dài hạn để xóa đói, giảm nghèo; cần có quyết sách quản lý giá cả một cách hữu hiệu để nâng cao mức sống cho người trồng lúa; xem xét nâng phụ cấp đối với cán bộ chuyên trách ở cơ sở; giải quyết việc làm cho sinh viên sau khi ra trường; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những hộ trong khu vực Vườn Quốc gia Cát Tiên… (Đại Biểu Nhân Dân 15/10) đầu trang(
Những năm 1925-1935 , Hà Nội là 1 trong 3 thành phố đẹp nhất châu Á cùng với Tokyo và Thượng Hải và được xây dựng theo những bản vẽ thiết kế do những nhà quy hoạch đô thị tài hoa bậc nhất đến từ nước Pháp.
Từ năm 1884, Hà Nội đã có những bản thiết kế đường phố đầu tiên do các kỹ sư công chính lập ra để từng bước thay đổi diện mạo của kinh thành hoang phế phương Đông đã bị lãng quên. Cây đầu tiên được trồng theo chỉ dẫn tại Hà Nội là phượng vĩ trên phố Tràng Tiền - Hàng Khay. Tuy vậy loại cây này có nhiều muỗi và ve sầu kêu đinh tai vào mùa hè đã sớm bị thay thế. Để tìm kiếm các loại cây, hoa trồng trong đô thị thích hợp hơn, năm 1988, người Pháp lập “Jardin d’essal” (Vườn thí nghiệm thực vật) rộng 33ha, người Việt vẫn gọi là vườn Bách Thảo.
Năm 1897, Hà Nội có văn bản xóa bỏ nhà lá quanh các phố quanh hồ Gươm, phải xây nhà gạch thẳng hàng, có rãnh thoát nước... Năm 1902, thành phố treo biển tên phố, đánh số nhà. Năm 1903, thành phố quy định cây xanh chỉ trồng trên các phố có vỉa hè rộng hơn 3 mét trở lên và phải tuân theo tiêu chí: có bóng mát, bảo đảm mỹ quan, không có nhựa và khí độc hại, không đổ trước các trận bão vừa phải…
Phạt tiền người nào phá hoại cây trên phố và phải trồng lại đúng giống cây đó. Ban đầu, trồng thử xà cừ ở Bách thảo và chỗ đất trống chung quanh. Xà cừ có ưu điểm lớn nhanh, bóng mát rộng… Tuy vậy, các nhà thực vật phát hiện ra giống cây này có nhược điểm là không chịu được ở khu vực đất trũng, rễ cây ăn ngang gây nguy hiểm cho các nhà mặt phố, đồng thời rễ nông, dễ đổ khi mưa bão lớn. Trong khi các giống bản địa: sấu, sao, muồng, cơm nguội, sưa... lại có ưu điểm là rễ cọc, tán gọn, thân thẳng, chống chọi được với gió.
Thành phố cho trồng mỗi phố một loài để tạo kiến trúc phong cảnh. Ở các phố phía nam hồ Gươm và các phố lớn quận Ba Đình, hay các phố Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông, đầu phố Bà Triệu, cuối phố Đinh Tiên Hoàng... chỉ trồng sấu, Lý Thường Kiệt trồng cơm nguội, nửa trên phố Lò Đúc trồng cây sao đen… Ngày đó, cây hoa sữa được trồng nhiều nhưng nếu ngửi thường xuyên thì là cực hình và thu hút nhiều muỗi, sâu bọ.
Tính đến năm 1954, Hà Nội có 1.512 cây sấu chiếm tới 60% trong tổng số cây xanh ở 4 quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa. Song có một điều khó hiểu là cây xà cừ có nhiều nhược điểm lại được trồng khá phổ biến sau 1954. Cuối thời bao cấp, lấy lý do giống cơm nguội hay bị sâu bên trong thân gây nguy hiểm nên họ đã chặt gần hết để thay vào đó là phượng.
Năm 1995, diện tích Hà Nội 921,8 km2, gồm 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Tổng số có hơn 200.000 cây xanh thuộc 46 giống loài. Một số loại cây được Công ty lựa chọn trồng trên đường phố là: trẹo, sưa, sữa, phượng, sao đen, lát hoa, bằng lăng tím, long não, sấu, tếch, nhội, me... và vẫn là xà cừ. So với tiêu chuẩn cây xanh đô thị thì hai tiêu chuẩn tán cây có khả năng quang hợp cao và thẩm mỹ thì các loại cây này chưa đạt. So với 1954, sau hơn 40 năm, diện tích nội thành Hà Nội tăng gấp 3,5 lần, dân số tăng gần gấp 5 lần, số cây xanh tăng hơn 13 lần …
Từ trước 1990, mỗi năm Hà Nội trồng được 3.000- 4.000 cây, nhưng từ sau năm 1991 tổng số cây xanh trồng tăng mỗi năm gấp 5-7 lần. Cùng thời gian này diện tích nhà ở dân tự xây lên đến cả triệu mét vuông, bằng tổng số diện tích nhà ở do nhà nước xây dựng trong suốt 10 năm trước đó. Tuy phát triển nhanh như vậy, diện tích cây xanh mới đạt 2,3m2/ người. So với tiêu chuẩn đô thị cùng loại là 4-5m2 / người thì mới đạt một nửa.
Thống kê năm 2008, cây xanh đường phố Hà Nội có 44.225 cây, có nhiều loại cây tự phát không theo quy hoạch, các loài cây gỗ nhỏ, rễ nông, dễ gãy đổ khi gặp mưa gió, cây có quả gây mất vệ sinh môi trường, có nhiều sâu róm, cong xấu, chiều cao thấp che khuất tầm nhìn gây mất mỹ quan đô thị và an toàn giao thông.
Các cây này cần được thay thế bằng các loài cây đảm bảo chất lượng, theo quy hoạch. Muốn có quy hoạch cây xanh thì cần có hồ sơ hiện trạng, thành phố từng đầu tư hàng tỷ đồng để đánh mã số: 44.225 cây và xây dựng phần mềm quản lý hệ thống cây xanh đô thị, tăng cường quản lý, bảo vệ và chăm sóc cây xanh.
Xem ra rất nhiều việc quanh chuyện trồng cây để Hà Nội xanh hơn vẫn ở phía trước, nhưng nếu muốn có thay đổi căn bản thì phải có những phương pháp thực hiện mới mẻ. Điều đáng nói là những bài học mới lại có thể thấy trong những kinh nghiệm cũ đã từng thực hiện ở Hà Nội cách nay hơn 60 năm. (An Ninh Thủ Đô 14/10) đầu trang(
Cuối tháng 9, Tổ chức WAR phối hợp với Quỹ Bảo tồn Voọc (DLF), Hiệp hội Bảo tồn Linh Trưởng Quốc Tế (IPPL) và Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, tỉnh Kon Tum, tổ chức khóa tập huấn Chăm sóc Động vật hoang dã cho 15 cán bộ và nhân viên Vườn Quốc gia Chư Mom Ray.
Khóa tập huấn nhằm cung cấp kĩ thuật cơ bản về chăm sóc, cứu hộ và điều trị bệnh cho các loài ĐVHD.
Sau 5 ngày tham dự tập huấn, học viên nắm được quy trình cứu hộ, các nguyên tắc đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh chuồng trại, các loại bệnh lý thường gặp cũng như cách chăm sóc, điều trị bệnh cho từng loài. Kỹ thuật gây mê, cấp thuốc cho các loài ĐVHD cũng đã được hướng dẫn kỹ lưỡng bởi các Bác sĩ Thú y của Tổ chức WAR. (Thiennhien.net 14/10) đầu trang(
Ngày 13-10, tin từ UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Đã phê duyệt Dự án Trồng mới và Phục hồi rừng ngập mặn ven biển xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, với tổng mức vốn đầu tư trên 24 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án từ năm 2014 – 2015, do Sở TN&MT tỉnh làm chủ đầu tư.
Với tổng diện tích dự án là 114,4 ha, mục tiêu của dự án là xây dựng và phát triển rừng ngập mặn ven biển trên địa bàn xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn chống xâm thực, tăng cường khả năng phòng hộ, điều hòa khí hậu và bảo vệ sinh thái ven biển; bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; góp phần vào nhiệm vụ chung là chống biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.... (Đại Đoàn Kết 14/10) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa có Công văn số 7584 chỉ đạo các sở, ngành, UBND huyện Sóc Sơn, Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển nông lâm nghiệp Sóc Sơn tiếp tục xử lý, khắc phục tồn tại về quản lý đất rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn.
Công văn nêu rõ, tồn tại trong quản lý, sử dụng đất rừng tại huyện Sóc Sơn đã được UBND TP chỉ đạo tại nhiều văn bản, tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện quá chậm, những vi phạm không được xử lý nghiêm, triệt để, dẫn đến phát sinh nhiều sai phạm mới; các ngành và UBND huyện Sóc Sơn không báo cáo những khó khăn, vướng mắc với UBND TP để xin ý kiến chỉ đạo.
Để khắc phục tồn tại, UBND TP yêu cầu, các sở, ngành, huyện Sóc Sơn thực hiện nghiêm túc Quyết định số 2100/QĐ-UB của UBND TP về phê duyệt dự án điều chỉnh quy hoạch rừng huyện Sóc Sơn.
Trong đó, huyện Sóc Sơn thực hiện công bố công khai, rộng rãi để các tổ chức, cá nhân có liên quan biết đầy đủ thông tin về quy hoạch rừng đã được phê duyệt. Triển khai việc cắm mốc giới trên bản đồ và trên thực địa, xác định ranh giới đất rừng theo quy hoạch trên thực địa theo dự án đã được phê duyệt.
Trên cơ sở kết quả việc cắm mốc giới, xác định ranh giới các loại đất, UBND huyện Sóc Sơn thống kê chi tiết và phân loại các dạng sai phạm về đất đai, trật tự xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối tượng, hạn mức sử dụng đất) theo quy định của pháp luật. Sở TN&MT có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ để UBND huyện Sóc Sơn thực hiện nội dung này. (Kinh Tế&Đô Thị 14/10) đầu trang(
Huyện Hòa Bình đã hoàn thành việc triển khai kế hoạch trồng rừng phòng hộ từ đê biển Đông đến kênh 130 (thuộc địa bàn 3 xã: Vĩnh Hậu A, Vĩnh Hậu và Vĩnh Thịnh) với tổng diện tích trên 47ha, tổng nguồn vốn trên 1 tỷ đồng. Đề án này do huyện phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện.
Đến nay, các địa phương đã trồng 13.455 cây phân tán trên các tuyến đường, trường học, đê biển...
Hiện, tổng diện tích rừng trên địa bàn huyện là 1.973ha. Trong đó, diện tích rừng phòng hộ là 1.384ha, rừng sản xuất là 588,7ha. (Báo Bạc Liêu 14/10) đầu trang(
Gần 1 năm nay, hơn 10 hộ ở thôn Nhân Hòa (xã Ia Drăng, huyện Chư Prông) đã đầu tư chuồng trại nuôi nhím để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Trung bình một chuồng nuôi khoảng 2-3 con nhím có diện tích 1 m2, cao 0,8-1 mét, bên trên có thể ngăn bằng lưới. Vì vậy, để nuôi khoảng 10 con nhím thì chủ nhân chỉ việc đầu tư 3-4 triệu đồng cho khâu chuồng trại. Theo các hộ gia đình, nhím giống bình thường có giá khoảng 3 triệu đồng/cặp, còn nhím giống bố mẹ có giá lên đến 9 triệu đồng/cặp. Có giá hơi đắt một chút nhưng nhím lại rất dễ nuôi.
Trung bình một năm, nhím mẹ đẻ 2 lứa, mỗi lứa 2-3 con, từ đó các gia đình tăng số lượng đàn nhím của mình. Một con nhím thịt tới lúc xuất chuồng nặng khoảng 10 kg có giá 230.000-250.000 đồng/kg, ngoài bán nhím thịt thì các hộ gia đình cũng bán nhím giống, phục vụ nhu cầu chăn nuôi cho các gia đình khác. Vì vậy, đàn nhím 10 con cũng đem lại thu nhập cho các gia đình 50-70 triệu đồng/năm. Ông Bùi Văn Dậu (47 tuổi) nuôi nhím từ năm ngoái, bắt đầu từ 1 cặp nhím giống, bây giờ gia đình ông đã có tất cả 10 con.
Ông Dậu cho biết: “Lúc đầu các gia đình khác nuôi, thấy lạ nên nhà tôi cũng thử làm theo, không ngờ hiệu quả cao mà lại không tốn quá nhiều thời gian cũng như nhân công chăm sóc. Chúng tôi xuất nhím thịt cho các nhà hàng có nhu cầu trên địa bàn, còn lại thì bán lai rai cho các gia đình có nhu cầu thưởng thức món ngon này”.
Ông Lương Ngọc Tân-Trưởng thôn Nhân Hòa cho biết: “Từ một hộ nuôi thử, các hộ khác trong thôn đã học và làm theo, cùng giúp đỡ nhau phát triển, nhân rộng mô hình. Từ ngày nuôi nhím, các gia đình có thêm thu nhập, cuộc sống cũng từ đó mà cải thiện rất nhiều. Trong thời gian tới, nếu mô hình này tiếp tục được nhân rộng, chúng tôi sẽ cùng nhau tìm một nguồn thu mua ổn định hơn để mọi người yên tâm đầu tư”. (Báo Gia Lai 13/10) đầu trang(
Rừng là tài nguyên thiên nhiên quý giá. Rừng là lá phổi xanh của thiên nhiên. Rừng là tiền, là bạc nhưng chúng ta ai cũng biết vấn nạn phá rừng đang hiện hữu. Biết vậy, nhưng mỗi ngày, bạn và tôi đã làm gì để ngăn chặn vấn nạn phá rừng ở Việt Nam?
Tài nguyên rừng ngày càng bị thu hẹp kéo theo những hiểm họa khổng lồ mang tính toàn cầu như làm biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơ khan hiếm nước, thay đổi khí hậu, gia tăng các tai họa thiên nhiên... Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng sẽ tiếp tục phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai do các hiện tượng thời tiết cực đoan như El Nino, La Nina gây ra với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt.
Phá rừng là một nguyên nhân gây ra nạn ô nhiễm môi sinh, hiện tượng trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, lụt lội, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản...; lâm sản dưới tán rừng bị hủy hoại nghiêm trọng gây nên sự mất cân bằng sinh thái, dẫn đến sự biến đổi khí hậu thất thường, bão lụt, lũ quét, lở đất và phát sinh nhiều loại dịch bệnh.
Người ta ước tính với nạn phá rừng như hiện nay thì tới năm 2050, có tới 2 tỷ người, tức 20% dân số thế giới, sẽ bị thiếu nước. Hầu hết số người chịu cảnh thiếu nước này sống tại các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, nguồn thực phẩm cũng có nguy cơ bị đe dọa vì nước dùng để tưới tiêu cũng trở nên khan hiếm.
Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất từ thiên tai, đặc biệt là mưa bão và lũ lụt. Mưa bão xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam ngày càng tăng cả về tần suất và sự nguy hại, đang trở thành mối đe dọa thực sự đối với cuộc sống của con người và sự phát triển của nền kinh tế.
Nạn phá rừng đầu nguồn để khai thác gỗ, phát triển nông nghiệp, thủy điện… làm thảm thực vật trên lưu vực ngày càng giảm dẫn đến khả năng cản dòng chảy kém, lũ tập trung nhanh hơn, nạn voi rừng bỏ về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản... Nạn phá rừng khiến mỗi năm thế giới phải chi phí khoảng 45 tỷ USD khắc phục hậu quả thiên tai.
Rừng nhiệt đới giữ một vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh thái. Đây là nơi ở của tới 70% chủng loại cây cối và muông thú của trái đất; đồng thời cũng chứa tới hơn 13 triệu chủng loại khác nhau, 30% loài chim và 90% loài động vật không xương sống. Đặc biệt, rừng nhiệt đới còn là nơi sinh sống của những loài động vật độc đáo nổi tiếng như các loài linh trưởng, đười ươi, vượn; các giống thuộc họ Mèo...
Rừng nhiệt đới cũng cực kỳ đa dạng và mỗi mẫu rừng chứa tới hơn 200 chủng loại, phá rừng khiến hàng nghìn chủng loại cây cối và thú vật bị tuyệt chủng. Người ta đoán, mỗi năm có khoảng 50.000 chủng loại khác nhau bị tuyệt chủng. Rừng ảnh hưởng đến khí hậu địa phương và khí hậu toàn cầu. Rừng trung hòa và làm dịu bớt nhiệt độ của luồng khí nóng ban ngày, đồng thời duy trì độ ẩm. Rừng hấp thụ lượng các-bon trong khí quyển và nhả ra khí ôxy cho chúng ta thở. Rừng là máy lọc, hút thán khí và nhả dưỡng khí cho con người.
Tình trạng môi sinh bị đảo lộn là do khí hậu trái đất đang ấm dần lên. Người ta tiên đoán, trong thế kỷ 21 này, cứ mỗi một thập niên, trái đất sẽ ấm dần lên 0,3 độ C, làm cho mùa màng thất bát, những khối băng đang tan nhanh hơn, nạn lũ lụt , mặt nước biển dâng cao, có nguy cơ nhấn chìm nhiều vùng đảo, duyên hải. (Kinh tế Nông thôn 14/10) đầu trang(
Mới đây, khi về thăm làng nuôi gấu nổi tiếng miền Bắc là Phụng Thượng (Phúc Thọ - Hà Nội), PV gặp bà Khuất Thị Lộc, 66 tuổi, ở khu 5, thị trấn Gạch, người đang “ôm” tới 7 con gấu ngựa, mới vỡ lẽ việc chăn nuôi các loài “đặc sản” của bà con nông dân hiện nay đang trong giai đoạn “lên bờ xuống ruộng”.
Theo bà Lộc, thời hoàng kim nuôi nhím vào những năm 2007 - 2010. Lúc đó, giá một cặp nhím sinh sản (trọng lượng 1,6 - 1,8kg/con) lên tới 16 triệu đồng. Còn giá nhím thịt 400.000 - 600.000 đồng/kg. Chỉ cần nuôi nhím sinh sản đã bội thu rồi, người từ khắp nơi về đặt cọc từng con nhím non một. “Thật không ai nghĩ lúc đó một cặp nhím giống có giá trị bằng cả một con trâu to béo” - bà Lộc nói.
Nhưng cũng bởi siêu lợi nhuận như thế nên chỉ vài năm sau đã hình thành cả phong trào nuôi nhím lan ra rộng khắp từ Bắc chí Nam. Tại các tỉnh như Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh… rồi vào tận Lâm Đồng, Đắk Nông đều có những trang trại nhím mọc lên. Thậm chí tại Hà Nội và TPHCM còn có thêm mô hình trang trại nuôi nhím cảnh để bán cho giới trẻ làm đồ chơi. Hậu quả, sau chừng 2 - 3 năm, giá nhím thành phẩm cũng như nhím giống rớt thê thảm.
Nói về nuôi nhím, nghề này khởi nguồn từ tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái. Từ những con nhím khai thác trong rừng tự nhiên, bà con đã nghiên cứu về kỹ thuật và đặc tính để cho sinh sản nhân tạo, nuôi quy mô rộng theo kiểu hàng hóa, bán cho các nhà hàng đặc sản.
Ông Hoàng Đức Thịnh, nguyên giám đốc Công ty chè Nghĩa Lộ, hiện là Hội trưởng Hội Nuôi nhím Văn Chấn - Nghĩa Lộ (Yên Bái) cho biết, sau khi nghỉ hưu, ông cùng bà con ở thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn đã cùng nuôi nhím. Nhà ít cũng 1 - 2 đôi, nhà nhiều nuôi hơn 150 cặp.
Chỉ riêng ông Thịnh mỗi năm xuất bán 35 - 40 cặp nhím giống, thu về 400 - 600 triệu đồng. Thời cao điểm năm 2011, cả hội có tới 250 hộ gia đình nuôi nhím. Nào ngờ, khi phong trào đã lan rộng ra cả nước thì giá nhím thành phẩm từ 500.000 đồng/kg lần lượt rớt còn 250.000 đồng và hiện nay 100.000 - 150.000 đồng/kg (có thể còn giảm nữa). Giá nhím giống từ 16 triệu đồng/cặp hiện nay chỉ còn 1,5 - 2 triệu đồng.
Trong khi giá trị đầu tư quá nhiều, chỉ cần mua 10 cặp bà con đã phải vay 160 triệu đồng, chưa kể đầu tư xây dựng chuồng trại, thuốc men, thức ăn… Có gia đình như ông Đinh Văn Đàm, ở phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ đã bỏ ra tới 1,4 tỷ đồng mua nhím giống. Do đó, khi giá rớt thì thua lỗ nặng. Rút cuộc, hàng trăm chủ hộ phải bán tống tháo hoặc chuyển cặp nhím bố mẹ sang làm nhím thịt và phải khéo bán mới được giá 130.000 đồng/kg. Nhiều gia đình phá sản, bỏ hoang chuồng trại.
Tại Vĩnh Phúc, hiện nay rất nhiều chủ hộ đang ôm nợ tới cả trăm triệu đồng. Thật không ai ngờ, đầu tư nuôi nhím với tham vọng được đổi đời, làm giàu chính đáng nhưng trở thành một “canh bạc”.
Theo tính toán, cứ mỗi cặp nhím như hiện nay chỉ bán được 7 - 12 triệu đồng, so với tiền mua nhím giống 16 triệu đồng, cộng 2 - 3 triệu đồng tiền thức ăn thì lỗ tới hơn 10 triệu đồng/cặp. Nếu mua được giá giống rẻ cũng lỗ ít nhất 3 - 5 triệu đồng.
Không riêng nuôi nhím, trước đó đã có những bài học rất cay đắng về phong trào nuôi hươu khai thác nhung ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Ninh Bình, Hòa Bình, Lào Cai… Rồi phong trào nuôi ba ba, ếch, trăn, rắn… gần đây là cá sấu ở Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội và các tỉnh ở ĐBSCL.
Riêng về ba ba, sau khi các loại đặc sản như ba ba trơn, ba ba hoa giống Trung Quốc, Thái Lan đã dần thất thế do giá giảm thì khoảng 1 - 2 năm nay, những người nông dân năng động ở nhiều nơi lại đổ xô chuyển sang tìm nuôi loài ba ba gai. Cũng do đua nhau nuôi như thế nên giá giống ba ba gai từ 150.000 - 200.000 đồng/kg đã tăng vọt lên 500.000 đồng/kg. Nhưng cứ đổ xô vào nuôi như thế thì liệu ba ba gai có thoát khỏi bi kịch như nhiều loài đặc sản khác và hàng ra nhiều thì sẽ bán cho ai?
Theo TS Võ Văn Sự, Chủ tịch Hiệp hội Bảo tồn động vật quý hiếm Việt Nam, việc thua lỗ do đua nhau nuôi con đặc sản ở cả miền Bắc lẫn miền Nam đã được cảnh báo nhiều lần. Không chỉ nhím, chồn nhung đen mà cả phong trào nuôi kỳ đà, kỳ nhông, ốc sên, kiến đen, rết, bò cạp, dế… do khi “bắt chước” bà con đã không cân nhắc, tham khảo kỹ về “đầu ra” nên cứ đổ xô vào nuôi đã đẩy con giống lên rất cao, tạo giá trị ảo. Khi giá trở về giá trị thực thì thua lỗ.
Cũng phải nói rằng, giờ đây nhiều nông dân ở khắp các làng quê đã rất năng động sáng tạo, liên tục trăn trở tìm cách làm giàu, trong đó chọn hướng nuôi những loài “đặc sản” hàng hóa, có giá trị cao như ba ba, nhím, heo rừng, dúi, trăn, cá sấu… là một cách làm rất đáng cổ vũ.
Thế nhưng, đáng buồn là do vai trò định hướng sản xuất cũng như điều tiết thị trường của các cơ quan chức năng chưa tốt, chưa thể hiện rõ trách nhiệm của mình nên hầu như vẫn đang để nông dân “tự bơi” trên thị trường cũng như lựa chọn con đường làm giàu.
Hậu quả là, cứ hễ thấy ai, ở đâu đó nuôi con gì có lãi cao thì nhiều người cũng nhảy vào, tạo thành phong trào tự phát. Cuối cùng, sản phẩm trở nên dư thừa, buộc phải cạnh tranh, bán phá giá. Dần dần, hàng làm ra cứ phải bán rẻ như cho, dẫn tới thua lỗ.
Theo ông Đỗ Quang Tùng, Phó Giám đốc phụ trách Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam, nhà nước cần có những công cụ quản lý, điều tiết việc nuôi động vật hoang dã đặc sản. (Sài Gòn Giải Phóng 12/10) đầu trang(
Ngày 11-10, UBND xã Hòa Khương (huyện Hòa Vang) phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện kiểm tra, bắt quả tang 12 lao động quê Thanh Hóa chặt hạ cây trái phép tại khu rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đồng Nghệ (tiểu khu 61, giáp ranh với H. Đại Lộc, Quảng Nam).
Hiện trường cho thấy diện tích rừng bị thiệt hại khoảng 10ha. Anh Phạm Văn Giang (đại diện nhóm lao động) cho biết được ông Trần Thanh Cho (trú xã Hòa Khương) thuê phát rừng tại đây từ ngày 16-9 với giá 3 triệu đồng/ha. (Công An Đà Nẵng 14/10) đầu trang(
Ngày 14-10, tại sông Bến Hải (đoạn qua thôn Kinh Thị, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh), Công an huyện Gio Linh (Quảng Trị) phối hợp với người dân địa phương trục vớt gần 100 m3 gỗ lậu được lâm tặc khai thác ở rừng đầu nguồn thả trôi theo sông Bến Hải về đây.
Số gỗ phát hiện thuộc nhóm 3 trở lên, được cưa xẻ thành khối vuông vắn và tập kết dày đặc dưới sông.
Công an huyện Gio Linh cho biết, từ nguồn tin báo của quần chúng, vào ban đêm gỗ lậu thường được lâm tặc kéo xuôi theo nguồn nước từ nơi khác đến rồi đưa lên bến sông ở thôn Kinh Thị nên đơn vị đã lập chuyên án, theo dõi từ nhiều ngày nay.
Lực lượng Công an huyện Gio Linh và Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh Quảng Trị bất ngờ đột nhập hiện trường, phong tỏa khu vực bến sông, xưởng cưa gần nơi tập kết gỗ và phát hiện vụ việc nói trên.
Theo Công an huyện Gio Linh do số gỗ lậu có số lượng lớn nên đơn vị đang khẩn trương tiến hành điều tra, làm rõ các nghi phạm liên quan và nguồn gốc của số gỗ lậu trên. (Nông Thôn Ngày Nay 15/10; Nhân Dân 15/10; Công An Nhân Dân 15/10; An Ninh Thủ Đô 15/10; Pháp Luật&Xã Hội 15/10; Thanh Niên 15/10; An Ninh Thủ Đô 15/10) đầu trang(
Ngày 13/10, ông Hà Văn Thoa, thôn trưởng thôn 2, xã Ya Xier, huyện biên giới Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) cho biết, đến rạng sáng ngày 13/10, gia đình và người thân mới đưa được thi thể nạn nhân Hà Văn Quyền về nhà.
Hai ngày trước, ngày 11/10, anh Hà Văn Quyền (42 tuổi), trú tại thôn 2, cùng hai người khác vào Vườn quốc gia Chư Mom Ray đặt bẫy thú rừng. Đến 21g40 cùng ngày, anh Quyền bị ho ra máu và tử vong.
Trước đó, ngày 9/10, nhóm bốn người gồm Hà Văn Tằm (53 tuổi), cùng hai em ruột là Hà Văn Tiến, Hà Văn Tới và Hà Văn Sao (con trai ông Tằm) cũng đi đặt bẫy thú rừng tại địa điểm trên. Đến khoảng 16g ngày 9/10, ông Tằm bị tử vong chưa rõ nguyên nhân. Đáng nói là trước khi vào rừng, anh Quyền và ông Tằm vẫn khỏe mạnh. CQĐT đang xác định nguyên nhân gây đột tử cho hai người dân này. (Phụ Nữ TPHCM 15/10) đầu trang(
Sáng 14.10, Hạt Kiểm lâm huyện Ba Tơ vừa đưa 3,2 mét khối gỗ được phát hiện trên địa bàn xã Ba Trang về trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện để điều tra xử lý.
Trước đó, ngày 10.10, lực lượng chức năng đã phát hiện 3,2 mét khối, 64 tấm gỗ xẻ chủ yếu là sến đỏ, gỗ huyễn tại tổ Con Riêng, thôn Con Riêng, xã Ba Trang.
Phát hiện số gỗ trên không hợp pháp, tại hiện trường không có dấu búa Kiểm lâm, không ai nhận là chủ sở hữu nên lực hượng kiểm lâm đã lập biên bản giữ nguyên hiện trường.
Tối cùng ngày, đối tượng Phan Long, thường trú ở thị trấn Đức Phổ, huyện Đức Phổ đến nhận số gỗ trên cưa. Đối tượng yêu cầu lực lượng kiểm lâm để nguyên hiện trường không được vận chuyển về trụ sở huyện, nhưng không được chấp thuận. Đối tượng trên đã dùng những lời lẻ thách thức sẽ đốt số gỗ trên và giết một người nếu lực lượng kiểm lâm vận chuyển số gỗ trên.
Ngày 11.10, đối tượng Long đã dùng can xăng 20 lít tưới lên số gỗ trên và đốt, lực lượng kiểm lâm đã tập trung cứu chữa. Đến 2 giờ 20 phút đối tượng Long lại dẫn thêm 1 đối tượng khác cũng dùng can xăng 20 lít tiếp tục đốt số gỗ trên, nhưng đã được lực lượng kiểm lâm dập tắt.
Số gỗ trên đã bị đốt cháy 29 tấm, gần 1,5 mét khối gỗ. Hiện vụ việc đang được Hạt Kiểm lâm Ba Tơ phối hợp với Công an huyện tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Quảng Ngãi 15/10) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, tình trạng khai thác rừng và săn bắt động vật hoang dã trái phép diễn biến phức tạp. (Nhân Dân 13/10) đầu trang(
Ngày 14.10, Hạt Kiểm lâm H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) vận chuyển 3,2 m3 gỗ lậu phát hiện tại xã Ba Trang về trụ sở, đồng thời lập hồ sơ chuyển Công an H.Ba Tơ điều tra, xử lý.
Trước đó, tối 10.10, trong lúc tuần tra tại xã Ba Trang, lực lượng kiểm lâm phát hiện 64 tấm gỗ xẻ (sến đỏ, huyễn) vô chủ, tổng cộng 3,2 m3.
Khuya cùng ngày, ông Phan Long (ở thị trấn Đức Phổ, H.Đức Phổ) đến nhận số gỗ trên là của mình và thách thức sẽ đốt rụi nếu lực lượng chức năng vận chuyển về trụ sở.
Không chỉ dọa, sáng 11.10, ông Long còn ngang ngược 2 lần dùng xăng tưới lên số gỗ và đốt nhưng đều được lực lượng kiểm lâm kịp thời phát hiện, dập tắt ngọn lửa. Qua kiểm tra, phân loại có 29 tấm gỗ (gần 1,5 m3) bị đốt cháy. (Thanh Niên 15/10) đầu trang(
9-10, Đội kiểm lâm cơ động phòng cháy chữa cháy rừng số 1, bắt quả tang xe ôtô tải biển kiểm soát 51C-09319 do Nguyễn Tiến Sơn, trú xã Thiện Hưng (Bù Đốp) điều khiển, trên xe chở 1,547m3 gỗ gõ (thuộc nhóm IIA).
Tất cả số gỗ trên đều không có dấu của kiểm lâm và các giấy tờ liên quan chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. Tổ công tác lập biên bản tại hiện trường, đồng thời chuyển toàn bộ tang vật thu được cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh giải quyết.
Trước đó, Đội kiểm lâm cơ động phòng cháy chữa cháy rừng số 1 cũng phát hiện xe ôtô tải biển kiểm soát 54S-5665, do tài xế Nguyễn Tấn Pháp, tạm trú xã Đắk Nhau (Bù Đăng) điều khiển. Khi qua khu vực cầu Hai, thị xã Đồng Xoài, tổ công tác yêu cầu tài xế cho dừng xe để kiểm tra, phát hiện trên xe vận chuyển 1,588m3 gỗ bằng lăng (nhóm V) trái phép. (Báo Bình Phước 12/10) đầu trang(
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TPHCM cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Văn Đình (20 tuổi, ngụ quận 12) và Trần Văn Khôi (48 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn) về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”.
Trước đó, ngày 4-10, Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (PC49) - Công an TPHCM phát hiện Đình đang giao một bộ xương gấu nặng 13kg cho Khôi. Qua khai thác tại chỗ cho thấy từ năm 2012, Khôi nhiều lần mua bán động vật hoang dã quý hiếm như gấu, beo... với Hoàng Văn Phúc (27 tuổi, anh ruột Đình). Ngày 4-10, nhận được điện thoại của Khôi đặt mua xương gấu, Phúc đưa bộ xương cho Đình đi giao hàng thì bị bắt quả tang.
Khám xét nhà của Khôi ở xã Bà Điểm huyện Hóc Môn, nhà của Phúc ở phường Thới An quận 12, Cơ quan Cảnh sát điều tra và PC49 - Công an TPHCM tạm giữ 2 cá thể có hình dáng giống hổ đã chết, nặng tổng cộng 18kg; 2 cá thể có hình dáng giống hươu sao đã chết, nặng 5kg; 8 cá thể họ mèo, 1 cá thể gấu; 42kg chân gấu; 60 lọ đựng dung dịch màu xanh...
Hiện Phúc đã đi khỏi nơi cư trú, cơ quan điều tra kêu gọi Phúc ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. (Sài Gòn Giải Phóng 15/10) đầu trang(
Đất rừng đã chuyển đổi nhưng hàng chục tỷ đồng tiền mua bán gỗ tận thu của các doanh nghiệp (DN) vẫn chây ì không nộp; nhiều DN không thực hiện đúng cam kết tuyển công nhân là người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân mà còn chuyển giao vườn cao su cho DN khác với danh nghĩa “liên kết đầu tư”… Đó là thực trạng của dự án (D.A) chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở tỉnh Gia Lai, theo chủ trương của Chính phủ.
Dư luận Phố núi Pleiku gần đây râm ran chuyện Cty TNHH 30-4 Gia Lai đã “bán” hết vườn cao su cho một DN tư nhân khác.
Có người cho rằng, DN tư nhân muốn bán vườn cao su cho người khác là chuyện bình thường. Nhưng có người bức xúc vì D.A chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên được Chính phủ chủ trương phải giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo ưu tiên cho người dân tộc thiểu số tại chỗ chứ không phải mua đi bán lại trục lợi… Trước khi lập D.A, giao đất chuyển rừng, các DN cũng đã cam kết phải thực hiện đầy đủ các quy định về triển khai D.A, ưu tiên tuyển người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân để xóa đói giảm nghèo…
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Sinh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Cty TNHH 30-4 Gia Lai cho biết, DN không bán vườn cao su mà chỉ chuyển giao theo kiểu “góp vốn liên doanh”. Toàn bộ diện tích vườn cao su, nhà đất được UBND tỉnh Gia Lai quyết định giao đất cho Cty TNHH 30-4, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su tại các D.A trồng cao su xã Ia Pnôn (huyện biên giới Đức Cơ, Gia Lai) 849ha; D.A trồng cao su tại xã Ia Ga (huyện biên giới Chư Prông, Gia Lai) 1.234,4ha, với tổng giá trị 92,4 tỷ đồng được DN góp vốn liên kết với Cty Kinh doanh Xuất nhập khẩu Quang Đức.
Theo hợp đồng góp vốn giữa 2 Cty, từ tháng 9/2012, Cty Kinh doanh Xuất nhập khẩu Quang Đức là chủ đầu tư mới của các D.A cao su do Cty TNHH 30-4 giao và toàn quyền quản lý, sử dụng, đăng ký, điều chỉnh, thay đổi chủ đầu tư D.A… Cũng theo ông Nguyễn Sinh, việc chuyển giao toàn bộ các D.A cao su này là do DN khó khăn về vốn để tiếp tục đầu tư…
Bên cạnh việc chuyển D.A theo kiểu liên kết góp vốn đầu tư, nhiều DN tư nhân triển khai D.A chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên không thực hiện đúng cam kết như ban đầu. Cụ thể, việc tuyển công nhân người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm ở các DN rất ít. Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Gia Lai, 12 DN tư nhân có D.A cao su chỉ tuyển 85 người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân, trong khi đó, số lao động cần tuyển theo định mức 5 ha/công nhân là trên 2.900 người…
Tại nhiều cuộc họp, ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND các huyện, thị xã và các đơn vị có D.A trồng cao su phải nghiêm túc thực hiện việc tiếp nhận đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su để xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống.
Chính quyền địa phương và ngành chức năng cần phối hợp rà soát danh sách người dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn có nhu cầu làm công nhân cao su và đề nghị đăng ký giới thiệu cho các DN sử dụng. Trường hợp ngay tại địa bàn không có người dân tộc thiểu số tại chỗ mới được tiếp nhận đồng bào ở địa bàn khác.
Trong trường hợp các DN không thực hiện đúng cam kết về đầu tư phát triển D.A cao su, xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tại chỗ thì cần thiết phải thu hồi D.A… nhưng thực tế đến nay, bài toán giải quyết người lao động dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su ở các DN tư nhân vẫn chưa có lời giải. Vì theo một số DN thì người dân tộc thiểu số không muốn vào làm công nhân.
Bên cạnh đó, mặc dù gỗ rừng tự nhiên trong các D.A chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã diễn ra từ năm 2008 đến nay nhưng hiện vẫn còn nhiều DN chây ỳ không chịu trả tiền mua gỗ cho tỉnh. Theo thống kê của Sở Tài chính Gia Lai, tổng số tiền nợ của các DN mua gỗ còn nợ ngân sách Nhà nước trên 9,1 tỷ đồng. Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng, chủ rừng tiến hành các biện pháp đòi nợ, kiện ra tòa để buộc các DN trả nợ.
Sau 5 năm triển khai D.A chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, trên địa bàn tỉnh Gia Lai, những vườn cao su đã lên xanh. Kinh tế phát triển, bao khó khăn đói khát không còn hiện hữu nhiều như ngày xưa, nhưng phía sau màu xanh ấy vẫn còn nhiều nỗi lo khó tả. (Thanh Tra 15/10) đầu trang(
Ngày 12/10, tại xã Sơn Linh, H. Sơn Hà (Quảng Ngãi) xảy ra vụ tai nạn do khai thác rừng trồng, làm một người bị gãy chân.
Nạn nhân là anh Đinh Văn Ôn (1977, trú xã Sơn Linh). Được biết, khi anh Ôn cùng một số lao động đốn cây keo tại ngọn đồi ở địa phương thì bị cây ngã đè làm anh bị gãy chân phải. (Công An Đà Nẵng 14/10) đầu trang(
7/10, nhận được tin báo từ quần chúng, Đội kiểm lâm cơ động PCCC rừng số 1 tỉnh Bình Phước đã kiểm tra nhà ông Trần Văn Cường (39 tuổi), ngụ tổ 4, khu phố IV, phường Tân Đồng (TX. Đồng Xoài), phát hiện cất giữ một số lượng gỗ trái phép.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện 2,716m3 gỗ tùng (thuộc nhóm 8), đang cất giữ tại sân vườn. Thời điểm kiểm tra, chủ nhà không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của số gỗ này. Tổ công tác lập biên bản, chuyển số gỗ trên về Chi cục Kiểm lâm tỉnh, phục vụ công tác điều tra, xử lý theo quy định. (Báo Bình Phước 12/10) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Khi cuộc tranh cãi xung quanh việc có nên cấp phép cho hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A giữa lòng Vườn quốc gia Nam Cát Tiên vừa có hồi kết, theo đó Chính phủ đã loại hai dự án thủy điện trên vì lý do hàng đầu là chúng xâm phạm lõi rừng quốc gia, báo chí lại rộ lên thông tin nhiều dự án thủy điện nhỏ nằm lọt giữa các vườn quốc gia khác đang ráo riết xin phép xây dựng.
Phần lớn trong số đó là những dự án có công suất rất nhỏ và nhỏ, chỉ từ 5 đến dưới 30 MW, do địa phương cấp phép, không có nhiều nước, giá thành điện cao, điện làm ra không ai mua hoặc mua dưới giá thành. Trước thông tin trên, dư luận đã đặt câu hỏi, trong khi chủ đầu tư của các dự án thủy điện nhỏ và vừa đang "bỏ của chạy lấy người" thì không hiểu vì lẽ gì người ta lại đua nhau xin phép làm thủy điện ở các vườn quốc gia?
Thực tế cho thấy, hiếm có nước nào trên thế giới có tình trạng "loạn thủy điện" như nước ta. Đã đành rằng Việt Nam giàu tiềm năng thủy điện, thế nhưng làm thủy điện mà không cân nhắc kỹ lợi hại, làm thủy điện bằng mọi giá như thời gian vừa qua thì thật tai hại.
Theo Bộ NN&PTNT, để làm 160 dự án thủy điện, chúng ta mất 20.000ha rừng, trung bình mỗi dự án "ngốn" 125ha. Một thống kê khác, cứ 1 MW điện sẽ mất 10ha rừng, chưa kể những thiệt hại khác như phá rừng để lấy đất phục vụ tái định cư, làm nương rẫy mới, lâm sản bị tận thu kiểu "ăn theo", tình trạng biến đổi dòng chảy, lúc thiếu lúc thừa nước, lũ lụt đe dọa, môi trường bị tàn phá, động thực vật hoang dã bị tận diệt…
Việc Bộ Công thương vừa đề nghị Chính phủ loại bỏ 424 dự án, tạm dừng 136 dự án và không đưa vào quy hoạch tiềm năng thủy điện 172 vị trí chính vì lẽ đó. Chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm xương máu trong việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Sông Tranh 2, Nhà máy Thủy điện Krong Kma, khiến cho diện tích rừng bị mất khá lớn, chưa kể nhiều hệ lụy khác như mất đất, tranh chấp nước giữa thủy lợi và thủy điện…
Không khó để nhận thấy việc xin cấp phép xây dựng những nhà máy thủy điện nhỏ thực chất chỉ là mượn cớ làm thủy điện để hợp thức hóa việc phá rừng. Vườn quốc gia phần nhiều là những rừng nguyên sinh, tài nguyên rừng vẫn tương đối dồi dào, phong phú.
Trong lúc việc khai thác rừng bên ngoài thời gian gần đây bị cấm đoán gắt gao, hơn nữa rừng cũng đã gần như cạn kiệt thì các chủ đầu tư chuyển hướng, nhắm tới các vườn quốc gia. Nếu như được cấp phép suôn sẻ, họ chỉ cần khai thác lâm sản dưới dạng tận thu đã có lãi, lợi ích từ làm thủy điện chỉ là chuyện nhỏ, có thể "bán cái", thậm chí bỏ dở cũng không sao.
Mùa mưa ở phía Bắc vừa dứt thì mùa bão lũ ở miền Trung bắt đầu. Đáng nói là gần đây mỗi khi mưa bão thường kèm theo lở đất và lũ quét. Nguyên nhân quan trọng nhất của hiện tượng này, không gì khác là do rừng đã bị tàn phá, tận diệt. Bởi vậy, thông tin UBND tỉnh Đăk Lăk mới đây đã từ chối cấp phép dự án thủy điện Ea Tour và Giám đốc Vườn quốc gia Yook Đôn vừa tuyên bố sẽ từ chức nếu dự án thủy điện Đrăng Phook được duyệt đã được dư luận đồng tình, ủng hộ.
Rõ ràng, nếu chúng ta lơ là, thiếu quyết liệt, để những kẻ hám lợi tàn phá rừng quốc gia thì những thảm họa lũ quét, lở đất như ở Bản Khoang (Lào Cai) mới đây có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ở bất kỳ đâu. (Hà Nội Mới 15/10) đầu trang(
- Cuối tuần, hai con tê giác trong một vườn thú Nam Phi hỏi chuyện nhau:
- Sao dạo này mày cứ thấy du khách Việt Nam là giấu sừng quay mông vào mặt họ? Ở đây an toàn rồi, mày vẫn sợ bị họ cưa sừng mang về xứ à?
- Tao làm thế cho… yên tâm. Bộ mày chưa biết theo một khảo sát thì có đến 5% dân số Việt Nam từng dùng sừng tê làm thuốc? 5% tức cả mấy triệu người, mà sừng tê thì mỗi con chỉ một cái, cung ứng sao đủ!
- Mày nhát hít à. Xứ đó còn nghèo, đâu phải ai cũng mua nổi sừng tê. Với lại họ đính chính tin đó rồi, không phải 5% dân số mà chỉ 5% số người được hỏi trả lời như thế. Không tin, tao cho mượn iPad, mày kiểm tra đi.
Con tê giác nhút nhát sau khi quẹt móng lướt qua tin tức về Việt Nam, bỗng rươm rướm nước mắt:
- Hic hic, tội cho họ quá…
- Thấy chưa! Họ nghèo thật mà.
- Ừ, đã nghèo mà dạo này kinh tế xứ họ lại lao đao, vật giá tăng liên tục, học phí viện phí đều nhảy vọt. Hic hic… Thế mà một bộ trưởng nỡ lòng cao giọng rầy dân rằng nếu cứ tăng giá là phản ứng thì chắc chắn đất nước không phát triển được!
- Thiệt không? Lên giá mà không cho phản ứng thì khác gì tê giác tụi mình bị đè ra cưa sừng mà không cho la, chịu sao nổi! (Sài Gòn Tiếp Thị 15/10) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Nhanh nhẹn, Asferi Ardiyanto leo thoăn thoắt lên một cây cao 15m ở giữa rừng Subayang, thuộc tỉnh Solok, phía tây đảo Sumatra, Indonesia. Anh gắn vào thân cây hai tấm pin mặt trời, ở giữa đặt một điện thoại di động. Bên dưới, Christophe White chăm chú quan sát diễn tiến công việc. Khi tất cả có vẻ ổn thỏa, anh gởi một tin nhắn cho chiếc điện thoại trên đọt cây. Nó trả lời ngay bằng một tin nhắn khác. Christophe la lên: Chạy rồi!
Dĩ nhiên chiếc điện thoại này không phải để nói chuyện, dùng để thu âm thanh chiếc máy cưa của bọn lâm tặc. Khi âm thanh đó vang lên, điện thoại gởi tin nhắn ngay cho Christophe White: Lúc đó chúng tôi chuyển báo động này cho kiểm lâm để bắt quả tang bọn phá rừng. Chàng trai trẻ gốc California, sống tại Los Angeles cho biết thế.
Ý tưởng tạo ra một chiếc máy như thế đến với anh trong chuyến đi Indonesia lần trước cách nay hai năm khi thăm một khu rừng gần làng Hampapak, ở phía bắc đảo Bornéo. Lúc đó, anh là khách mời của Chanee Kalaweit, một chiến binh bảo vệ loài khỉ owas-owas, đặc trưng của đảo Bornéo, nhà sáng lập Hiệp hội mang tên mình Kalaweit. Christophe White kinh ngạc với một phần rừng bị chặt phá.
Theo giải thích của Chanee Kalaweit, kiểm lâm chỉ mới phát hiện. Vết cắt chứng tỏ số cây này đã bị đốn hạ từ trước đó một tháng: Vấn đề là kiểm lâm đến quá muộn. Dĩ nhiên thời gian này là đủ chết cho rừng nhiệt đới, nơi có rất nhiều sinh vật đặc trưng, nhất là gấu, cọp, khỉ lớn và mèo vàng.
Christophe White mới tốt nghiệp khoa vật lý và vi tính, đã có ngay ý tưởng “rình nghe” hoạt động của bọn phá rừng. Anh biết rằng điện thoại di động phủ sóng đến tận khu rừng này. Trở lại San Francisco, anh tháo tung nhiều máy điện thoại di động và biết chắc micro của nó có thể thu được âm thanh trong vòng bán kính 500m. Anh cũng nghiên cứu âm thanh của máy cưa, vốn có tần số đặc biệt. Vì điện thoại có thể cài đặt trong rừng, chỉ cần có pin mặt trời để cung cấp điện. Phải có thêm lớp vỏ bọc và hút ẩm để chống mưa. Tất cả chưa đầy 1kg.
Hai năm sau, Christophe White quay trở lại rừng Subayang. Đây là nơi lý tưởng để làm những thí nghiệm đầu tiên. Asferi Ardiyanto, kỹ sư thuộc Hiệp hội Kalaweit nói: Khu rừng này chúng tôi đã mua, nên chẳng cần phải xin phép ai. Cả hai lắp đặt sáu điện thoại trên đọt cây.
Trong khi chờ đợi chúng báo động, Christophe White lập ra trang mạng Rainforest Connection để kêu gọi dân cư internet gởi cho mình những chiếc điện thoại cũ, sau đó anh sửa lại thành các “điệp viên micro”. Người ta gởi đến vô số. White đang tạo ra một phần mềm, làm cho điện thoại gởi tín hiệu báo động đến một trung tâm, mà ai cũng có thể truy cập được.
Asferi Ardiyanto nóng lòng chờ đợi lắp đặt thêm điện thoại giám sát, vì rừng Subayang đang bị đe dọa bởi những vườn cao su nhỏ do dân làng lân cận gầy dựng. Anh còn nhớ tiếng kêu chí chóe của bầy khỉ siamang khi đang lắp đặt những chiếc máy đầu tiên: Dường như chúng rất mừng khi có điện thoại di động bảo vệ cho cánh rừng của mình. (Công an TPHCM 15/10) đầu trang(
Một hóa thạch răng của loài voi răng mấu cổ đại sống cách đây 15.000 năm bất ngờ được phát hiện trong thùng quyên góp chuyển đến bang Michigan, Mỹ.
Hóa thạch được phát hiện trong thùng đựng những vật dụng quyên góp từ hồi tháng 7 tại thành phố Grand Rapids, bang Michigan, Mỹ. Các hóa thạch bao gồm một chiếc răng bị gãy ở hai điểm và một chiếc ngà voi rỗng một đầu. Các mảnh vỡ răng và ngà voi hóa thạch được xác định có niên đại từ 12.000 đến 15.000 năm tuổi và bao phủ bởi một lớp sơn mài.
Giới khoa học tin rằng đây là những bộ phận của loài voi răng mấu cổ đại. "Thật tuyệt vời khi phát hiện những hóa thạch này. Khi nhìn vào chúng, tôi cảm thấy sự khác biệt rõ rệt", Jay Starkey, giám đốc điều hành tổ chức từ thiện nói với Fox News.
Ông Jay cũng cho biết tổ chức từ thiện có thể bán hóa thạch này cho một người mua tư nhân, tuyên quyết định giữ lại để phục vụ cho ngành giáo dục. Trong thời gian tới, hóa thạch răng voi sẽ được tổ chức từ thiện bàn giao cho Bảo tàng Công cộng ở thành phố Grand Rapids, bang Michigan.
Voi răng mấu là loài voi từng sống ở Bắc Mỹ và tuyệt chủng khoảng 10.000 năm trước. Bốn em nhỏ cũng tìm thấy một chiếc răng voi răng mấu trong một con lạch ở phía đông Iowa hồi tháng 7, ước tính có niên đại 20.000 năm tuổi.
Việc phát hiện mẫu hóa thạch bổ sung thêm vào danh sách các mẫu vật từng được tìm thấy trong những thùng từ thiện. Trước đây, trung tâm này đã phát hiện bình đựng hài cốt, giấy tờ ly dị, một bức tranh trị giá 5.000 USD và cả ma túy. (Vnexpress.net 12/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa