|
Ngày 14 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bức tranh được phác họa cơ bản thông qua Bản tóm lược chính sách dài 8 trang mang tiêu đề “Chi trả các dịch vụ môi trường ở Việt Nam: Từ chính sách tới thực tiễn” do Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) vừa biên soạn và xuất bản.
Dựa trên những nghiên cứu cụ thể kết hợp với thông tin thu thập được tại các dự án thí điểm Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), nhóm tác giả ấn phẩm đã đưa ra những đánh giá, phân tích về tính hiệu quả, hiệu ích và công bằng của PFES trong quá trình triển khai tại Việt Nam từ năm 2008, tương ứng với ba khía cạnh của PFES bao gồm: xây dựng các cơ sở pháp lý, cơ chế chia sẻ lợi ích, giám sát và đánh giá.
Nhận định về các thành tựu chính của PFES tại Việt Nam từ năm 2008 – 2012, nhóm tác giả khẳng định: PFES nhận được nhiều sự quan tâm và hỗ trợ từ Chính phủ và các bộ, ngành. Tổng cộng có 20 văn bản pháp lý đã được ban hành dưới dạng Nghị định, Quyết định của Thủ tướng và Thông tư, Quyết định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai PFES.
Việc triển khai PFES đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý, nâng cao nhận thức xã hội và thu được 1.782 tỉ đồng, trong đó tiền chi trả từ các cơ sở sản xuất thủy điện chiếm khoảng 98%, từ các công ty cung cấp nước 2% và từ các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành 0,1%. Tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng ước tính chiếm 0,8% ngân sách đầu tư lâm nghiệp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện PFES cũng tồn tại một số hạn chế. Cụ thể, do thiếu các cơ sở pháp lý và các hướng dẫn chi tiết nên trong số các loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP hiện mới có 2 dịch vụ được thực hiện là dịch vụ phòng hộ đầu nguồn và dịch vụ du lịch sinh thái.
Việc giải ngân từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tới những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng đạt tỷ lệ khá khiêm tốn (46%) trong tổng số tiền thu được tới nay. Nguyên nhân là do công tác kiểm kê rừng chưa hoàn thiện, cộng thêm sự chậm chạp trong việc giao đất, giao rừng; số lượng lớn người cung cấp dịch vụ lại sống rải rác tại các khu vực hẻo lánh; năng lực kỹ thuật và tài chính ở cả cấp trung ương và địa phương còn hạn chế…
Điểm thứ ba cũng đáng lưu ý là nhóm đối tượng cộng đồng vẫn chưa có sự rõ ràng về tư cách pháp nhân để tham gia vào những thỏa thuận về PFES, điều này làm giảm sự quan tâm của các cộng đồng địa phương tới việc bảo vệ và phát triển rừng.
Ngoài những bất cập trên, việc thực hiện PFES cũng còn thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng tiền chi trả cũng như các quy định liên quan tới hệ thống giám sát và đánh giá. Việc chưa có các hướng dẫn cụ thể dẫn tới tình trạng hiểu và thực thi khác nhau tại các địa phương cũng như sự e dè trong công tác triển khai PFES do e ngại làm sai định hướng.
Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện PFES, nghiên cứu đề xuất cần minh bạch hóa việc phân bổ nguồn tiền từ cấp trung ương tới địa phương thông qua việc phát triển một hệ thống giám sát và đánh giá với một cơ chế ghi nhận và phản hồi ý kiến rõ ràng. Bên cạnh đó, PFES cũng cần được hỗ trợ và kết hợp với các chương trình bảo tồn đất, nguồn nước ở lưu vực và phát triển kinh tế xã hội khác để mang đến một chương trình toàn diện hơn. (Diễn Đàn Đầu Tư 12/10) đầu trang(
Toàn tỉnh Điện Biên hiện có 7 đơn vị phải thực hiện trách nhiệm trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) với nguồn thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Nguồn thu ấy đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho các chủ rừng và các hộ dân, hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên cho biết: Mục đích của chính sách chi trả DVMTR theo hướng xác định rõ lợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được chi trả và phải chi trả DVMTR, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ; đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch.
Vì vậy, để chính sách chi trả DVMTR phát huy hiệu quả, các nhà máy thủy điện và cơ sở sản xuất, kinh doanh nước sạch phải có trách nhiệm nộp phí theo quy định. Nguồn tiền chi trả từ bên sử dụng DVMTR nhằm thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, song những giá trị từ rừng được sử dụng trực tiếp để tạo ra giá trị hàng hóa cung cấp cho sản xuất, tiêu dùng thuộc về các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được hưởng lợi trực tiếp từ DVMTR. Nhận thức đúng về mục tiêu, ý nghĩa kinh tế và xã hội của chính sách sẽ góp phần tổ chức thực hiện chính sách đạt hiệu quả.
Theo hình thức chi trả gián tiếp, bên sử dụng DVMTR ủy thác với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng để chi trả tiền cho bên cung ứng DVMTR. Thời gian qua, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền chính sách đến các doanh nghiệp, đơn vị thực hiện, đến nay 100% các doanh nghiệp thủy điện và sản xuất, kinh doanh nước sạch trong tỉnh đã ký hợp đồng ủy thác với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh.Đó là các công ty: Điện lực Điện Biên, Công ty TNHH Xây dựng cấp nước Điện Biên, Nhà máy Thủy điện Thác Bay, Công ty Cổ phần Thủy điện Nà Lơi...
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên có trách nhiệm hướng dẫn chính sách, đôn đốc bên sử dụng DVMTR nộp tiền chi trả đúng số kê khai, đúng kỳ hạn nhằm bảo đảm quá trình thực hiện kế hoạch chi trả được UBND tỉnh phê duyệt hàng năm, thông báo diện tích rừng cung ứng và kết quả nghiệm thu rừng cho bên sử dụng DVMTR, đồng thời giải quyết các vướng mắc phát sinh theo hợp đồng đã ký kết.
Là đơn vị đầu tiên thực hiện trả phí DVMTR trên địa bàn tỉnh, Công ty TNHH Xây dựng cấp nước Điện Biên đã ủy thác hơn 500 triệu đồng cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh.
Ông Phạm Quang Tuấn, Phó Giám đốc Công ty cho rằng: Là doanh nghiệp sản xuất, cung cấp nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các hộ dân và hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn TP. Điện Biên Phủ và một số thị trấn trực thuộc các huyện. Công suất nhà máy đạt 16.500m3/ngày đêm.
Từ đầu năm đến nay, sản lượng nước cấp cho khách hàng sử dụng trên địa bàn thành phố đạt trên 1,9 triệu mét khối, doanh thu đạt hơn 11,7 tỷ đồng. Thực hiện nghĩa vụ trả phí DVMTR ủy thác cho Quỹ được doanh nghiệp xác định để cho các đối tượng cung ứng DVMTR tái đầu tư góp phần nâng cao hiệu quả điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch.
Còn theo ông Nguyễn Trung Kiên, Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy điện Nà Lơi: Nhận thức rõ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả phí DVMTR, đơn vị sẽ thực hiện trả tiền ủy thác cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh theo đúng cam kết. Ông Kiên mong muốn, Quỹ phối hợp với chính quyền địa phương sẽ có những tác động cụ thể để đảm bảo chất lượng dịch vụ môi trường rừng trong lưu vực hoạt động của Nhà máy.
Được biết, đến nay, tổng số thu ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh hơn 100 tỷ đồng (chủ yếu do Quỹ Trung ương điều tiết, còn lại thu trong tỉnh từ các đơn vị sử dụng dịch vụ trên 2 tỷ đồng). Với số tiền thu được, Quỹ đã tích cực phối hợp với các ban, ngành chức năng, chính quyền địa phương chi trả trực tiếp cho các chủ rừng và các hộ nhận khoán bảo vệ rừng. (Báo Điện Biên 12/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Lộc Bình là vùng thông lớn của tỉnh, đây cũng là một trong những địa phương được Bộ NN&PTNT, Cục Kiểm lâm Việt Nam thông báo tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao. Vì vậy, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được cấp ủy, chính quyền huyện Lộc Bình đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đã có những chuyển biến tích cực.
Năm 2011, toàn huyện xảy ra 7 vụ cháy rừng, làm thiệt hại trên 10 ha rừng. Năm 2012, toàn huyện xảy ra 4 vụ cháy, làm thiệt hại trên 5 ha rừng nhưng trong 9 tháng đầu năm 2013, toàn huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nào.
Đạt được kết quả nêu trên là do huyện đã quan tâm củng cố, xây dựng phương án về PCCCR, giao trách nhiệm cụ thể cho các ban, ngành chức năng, các xã, thị trấn. Một trong những nhiệm vụ được Hạt Kiểm lâm huyện, các xã, thị trấn đặc biệt chú trọng là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về PCCCR nhằm nâng cao ý thức cho nhân dân.
Nguyên nhân dẫn đến cháy rừng vài năm trở lại đây thường là do bà con trong quá trình làm nương, đốt rẫy bất cẩn để ngọn lửa cháy lan dẫn đến cháy rừng. Vì vậy, nội dung tuyên truyền tập trung nâng cao ý thức, cảnh báo nguy cơ cháy rừng từ việc đốt nương làm rẫy, hướng dẫn người dân cách PCCCR.
Ngoài tổ chức tuyên truyền tại huyện, tại xã, các thôn trọng điểm về nguy cơ cháy rừng, Hạt Kiểm lâm huyện còn quan tâm tổ chức tuyên truyền lưu động tại các tuyến đường, nhất là các thôn, xã có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Kết quả, 9 tháng đầu năm 2013, Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với các xã tổ chức được 9 hội nghị tuyên truyền về PCCCR với gần 700 lượt người tham dự gồm: các ban, ngành chức năng của huyện; lãnh đạo, các ban, ngành đoàn thể xã; bí thư, trưởng các thôn bản và đại diện các chủ rừng…
Trong những tháng mùa khô, từ tháng 10,11,12 năm trước đến tháng 1,2,3 năm sau, huyện đã tăng cường tuyên tuyên truyền lưu động, phát loa đến các thôn bản, khu vực gần rừng, vào ngày chợ hoặc những nơi đông người được trên 50 buổi. (Báo Lạng Sơn 11/10) đầu trang(
Báo Công an TP Đà Nẵng ra ngày 8/10, có đăng bài “Chủ rừng ở đâu?”, phản ánh tình trạng người dân khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 54 (trên địa bàn thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, H. Hòa Vang, Đà Nẵng).
Sau khi Báo đăng, ngày 9/10, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa (Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng) đã tiếp thu nội dung báo phản ánh và xác nhận tình trạng trên là có thật. Theo đó, khu vực bị xâm hại thuộc khoảnh 2, tiểu khu 54 (giáp ranh với xã Ba, H. Đông Giang, Quảng Nam).
Gần đây, một số người dân ở thôn Dốc Kiền (xã Ba) do thiếu đất sản xuất, không có nghề nghiệp ổn định, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng nên đã lén vào rừng khai thác gỗ, củi để mưu sinh.
Để hạn chế tình trạng trên, thời gian đến Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa sẽ có những biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế việc tác động xấu vào rừng (nhất là tại tiểu khu 54); đồng thời đề nghị về lâu dài các cấp có thẩm quyền nên có phương án di dời thôn Dốc Kiền mới ra xa vùng giáp ranh với rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa. (Công An Đà Nẵng 13/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính phủ Na Uy sẽ viện trợ không hoàn lại 190 triệu NOK, tương đương 30 triệu đô la Mỹ nhằm hỗ trợ thực hiện chương trình nâng cao hiệu quả quản lý rừng và sử dụng đất tại sáu tỉnh thí điểm gồm Bắc Cạn, Bình Thuận, Cà Mau, Hà Tĩnh, Lâm Đồng và Lào Cai.
Tại buổi khởi động chương trình có tên UN-REDD giai đoạn II diễn ra ngày 11-10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát cho hay, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN-REDD chuyển sang giai đoạn II nhằm giảm phát thải khí nhà kính thông qua cải thiện quản lý rừng và sử dụng đất.
Ông Phạm Mạnh Cường - Giám đốc chương trình cho biết, song song với mục đính chính là giảm thiếu khí nhà kính, giai đoạn II cũng mang lại những lợi ích môi trường và xã hội khác.
Bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho hay, nếu giai đoạn II này được thực hiện thành công thì Việt Nam sẽ có được tiền để đền bù lại những cố gắng của người dân trong việc bảo vệ rừng.
“Đây chính là khuyến khích vật chất do các nước phát triển cung cấp trong giai đoạn III nhưng phải dựa trên cơ sở giai đoạn II được thực hiện thành công theo cơ chế của REDD+” – bà Pratibha Mehta nhấn mạnh.
Ông Stale Torstein Risa, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Na Uy tại Việt Nam cho hay sau khi kết thúc giai đoạn II (dự án được thực hiện từ 2013 - 2015), nếu như kết quả đạt được theo mục tiêu mà phía Na Uy và Liên hiệp quốc đặt ra thì phía Na Uy sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện giai đoạn III.
Hiện nay, mỗi năm Na Uy viện trợ phát triển cho Việt Nam khoảng 40 triệu đô la Mỹ. Tuy nhiên, ông Stale Torstein Risa cho hay, khoản tiền viện trợ này sẽ ngày càng giảm và chuyển sang hỗ trợ kỹ thuật do Việt Nam đã là nước có mức thu nhập trung bình.
Giai đoạn I (2009-2013) của chương trình này đã xây dựng thành công Chương trình hành động REDD+ quốc gia và xây dựng các kĩ năng, kiến thức và kinh nghiệm cần thiết cho các bên liên quan.
Mục tiêu của Chương trình là tăng cường năng lực để Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc chi trả dựa vào kết quả giảm phát thải khí nhà kính trong tương lai khi thực hiện REDD+, góp phần thực hiện thành công Chương trình hành động quốc gia về REDD+ và tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/10; Đầu Tư 12/10; Kinh Tế&Đô Thị 12/10; Tiền Phong 12/10; VietnamPlus.vn 11/10) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa quyết định phê duyệt dự án "Khẩn cấp bảo tồn voi và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi ở Việt Nam đến năm 2020" với mức kinh phí trên 50 tỷ đồng.
Dự án đặt mục tiêu bảo tồn được các tiểu quần thể voi có số lượng đàn ít, sinh cảnh sống bị cô lập và bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm trong cùng vùng sinh cảnh. Đồng thời, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi săn bắn, xâm hại voi, buôn bán, vận chuyển, lưu giữ trái phép ngà voi và các bộ phận của voi, giảm thiểu các tác động tiêu cực của con người lên sự sinh tồn tự nhiên của voi hoang dã.
Dự án được thực hiện tại các khu rừng, sinh cảnh nơi voi rừng cư trú, hành lang di chuyển của các quần thể voi hoang dã hiện có ở Việt Nam; tập trung ở các khu rừng đặc dụng và các khu rừng khác trên địa bàn các tỉnh trong cả nước có voi hoang dã phân bố (không bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai); các địa phương có các hoạt động mua bán trái phép ngà và mẫu vật voi.
Bộ NN&PTNT nêu rõ, sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các thông tin bảo tồn voi trong cả nước thông qua các hoạt động như điều tra đánh giá quần thể, phạm vi phân bố, sinh cảnh tự nhiên, tình hình sinh sản của các đàn voi nhỏ lẻ ngoài 3 tỉnh đã lập dự án là Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai.
Cùng với đó, thực hiện kế hoạch bảo tồn tại chỗ các tiểu quần thể voi gắn với các quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững với các khu rừng đặc dụng có voi phân bố thông qua các hoạt động như quy hoạch vùng sinh cảnh sống và hành lang di chuyển cho voi; liên kết công tác bảo tồn voi với bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm khác, thực hiện các biện pháp nhằm cải tạo môi trường sống của voi và hạn chế xung đột giữa voi với con người.
Tổng vốn đầu tư dự án khoảng hơn 50 tỷ đồng, được thực hiện qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, từ năm 2014 đến 2015 và giai đoạn 2 từ 2016 đến 2020.
Theo thông tin Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, kết quả một số cuộc điều tra, khảo sát và tập hợp báo cáo của các địa phương từ năm 1995 đến nay cho thấy, trên phạm vi toàn quốc hiện chỉ còn 15 khu vực được xác định là có voi sinh sống với số lượng ước tính khoảng 75-130 con, phân bố chủ yếu dọc biên giới Việt-Lào và Việt-Campuchia, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, các tỉnh Tây nguyên và tỉnh Đồng Nai.
Các đàn voi sống rất phân tán và bị xé lẻ thành nhiều nhóm, đàn nhỏ; đàn lớn nhất không quá 10-20 con. Điều này dễ dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng nếu như không có những biện pháp quản lý tích cực đối với voi ở Việt Nam. (Chinhphu.vn 12/10) đầu trang(
Dù hàng ngàn hecta cao su đã gãy đổ trong cơn bão số 10 nhưng người dân ở Quảng Bình và Quảng Trị vẫn tiếp tục trồng loại cây này, bất chấp cảnh báo rủi ro từ thiên tai. Theo các công ty và người trồng cao su, bão to thì nhiều năm mới có trong khi lợi ích từ cây cao su đem lại hiện chưa có cây trồng nào sánh kịp.
Những ngày gần đây, hơn 400 công nhân của Công ty TNHH MTV Lệ Ninh (Lệ Thủy, Quảng Bình) đang tất bật thu dọn hàng trăm hecta cao su của công ty bị gãy đổ trong cơn bão vừa qua. Một nhóm đi đào hố trồng cây mới, nhóm dựng dậy những cây cao su bị bật gốc, nhóm khác cắt bỏ những cây bị bão bẻ gãy... Tổng diện tích cao su gãy đổ hoàn toàn của công ty lên đến hơn 600ha, chiếm đến một nửa diện tích cao su kinh doanh của công ty này. Và ít nhất phải mất cả chục năm để hồi phục rừng cao su trở lại như ban đầu.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn, giám đốc công ty cho biết, sau khi thu dọn xong bãi “chiến trường” này, công ty sẽ trồng lại toàn bộ diện tích đã bị gãy đổ vì vùng đất này không thể có loại cây nào đem lại hiệu quả cao hơn.
“Thiên tai rải đều ra cả nước chứ không riêng gì Quảng Bình, Quảng Trị. Hơn nữa vài chục năm mới có bão lớn một lần. Chừng đó đủ để cho một chu kỳ cây cao su từ khi trồng đến thu hoạch xong. Nếu mình thuận theo chu kỳ đó thì vẫn đem lại được hiệu quả” - ông Sơn khẳng định.
Không chỉ có các công ty, với hàng ngàn hộ dân trồng cao su tiểu điền ở vùng nông trường Việt Trung cũ (huyện Bố Trạch), trồng mới cao su cũng là ưu tiên hàng đầu. Ông Phan Văn Khoa, giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Bình, cho biết dù diện tích cao su của tỉnh bị gãy đổ trong đợt bão vừa qua rất lớn, thiệt hại vô cùng nặng nề nhưng địa phương vẫn khuyến khích người dân tiếp tục gắn bó với loại cây này. Có thể ban đầu phải lấy ngắn nuôi dài bằng cách trồng xen canh các loại cây ngắn ngày để hỗ trợ việc tái hồi phục diện tích cao su đã gãy đổ.
Ông Khoa phân tích trong mấy chục năm qua cao su là cây mũi nhọn của ngành nông nghiệp tỉnh. Trong khi gió bão lớn cũng hơn 20 năm mới có một lần, như từ năm 1983 đến giờ mới có bão lớn trở lại. Ngoài cao su, vùng này cũng chỉ có thể trồng keo lá tràm (keo lai). Cây keo lai thu hoạch theo chu kỳ năm năm, mỗi lần thu khoảng 40-50 triệu đồng/ha. Như vậy trong 20 năm, nhiều nhất keo lai cũng chỉ đem lại lợi nhuận gần 200 triệu đồng trong khi cây cao su đem lại tiền tỉ. “Nếu bão lớn thì cả hai loại cây này đều cùng gãy đổ như nhau” - ông Khoa cho biết.
Ông Nguyễn Văn Bài, giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị, cho biết địa phương này có gần 7.000ha cao su bị gãy đổ trong trận bão vừa qua, tập trung ở Vĩnh Linh và Gio Linh. Hiện có nhiều ý kiến cân nhắc có nên tiếp tục trồng cây cao su ở vùng thường xuyên bão lũ như Quảng Trị không.
Do đó, trước mắt tỉnh sẽ tiếp tục hỗ trợ người dân phục hồi cao su vẫn còn khả năng tái tạo mủ. Nhưng về lâu dài, tỉnh đã tính đến phương án tìm loại cây khác thay thế hoặc tìm cách hạn chế những tác động của thiên tai nếu tiếp tục trồng cây cao su như trồng theo mô hình của các vùng đảo là ba cây chụm lại, trồng sâu hơn bình thường... “Đây mới chỉ là những ý kiến mang tính tham khảo, chúng tôi sẽ cân nhắc để có thể triển khai trong tương lai” - ông Bài nói.
Theo Cục Trồng trọt, báo cáo về diện tích gãy đổ và thiệt hại của các địa phương mới chỉ ở mức sơ bộ, cần có những phân tích chi tiết thiệt hại của cây cao su gãy đổ mới có phương hướng giải quyết cụ thể. Ngay sau khi bão đi qua, Cục Trồng trọt đã có công văn hỏa tốc gửi sở NN&PTNT các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế để thống kê diện tích cao su bị thiệt hại do bão, đề xuất phương án và biện pháp khắc phục thiệt hại do bão gây ra.
Theo đó, Cục Trồng trọt yêu cầu sở NN&PTNT các địa phương báo cáo chi tiết về mức độ thiệt hại theo phân mức diện tích cụ thể. Trong đó có phân tích mức độ thiệt hại tương ứng với độ tuổi của cây, các loại hư hại cũng như các điều kiện liên quan như rừng chắn gió, giống cao su, hướng trồng...
Ông Lê Quốc Doanh, cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, hiện tại chưa vội kết luận trồng cao su là sai hay nên trồng loại cây nào khác thay thế. (Tuổi Trẻ 11/10) đầu trang(
Trong những năm gần đây, để tăng cường hiệu quả và đẩy mạnh công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng, các đập giữ nước đã được xây dựng ở vùng lõi vào mùa khô tại Vườn bảo tồn quốc gia U Minh Hạ - Cà Mau.
Những biện pháp này đã từng bước ngăn chặn tình trạng cháy rừng, tuy nhiên việc giữ nước ngập thường xuyên trong mùa khô cũng có những ảnh hưởng nhất định đến đặc tính nước trong khu vực. Ở khu vực vùng ngoại biên không giữ nước ngập trong mùa khô, việc thoát và giữ nước hoàn toàn tự nhiên nên có ảnh hưởng khác nhau đến tính chất nước ở các kênh và nước trong rừng nơi đây so với khu vực vùng lõi.
Nhóm nghiên cứu thuộc khoa nông nghiệp, Trường ĐH Cần Thơ đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của các cách quản lý nước khác nhau đến tính chất nước trong đất ở khu vực rừng bị cháy và rừng không bị cháy, ở kênh trong rừng và kênh ngoài rừng, vùng ngoại biên và vùng lõi, từ đó có biện pháp quản lý nước phù hợp nhằm tránh ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng rừng tràm.
Kết quả khảo sát cho thấy, việc giữ nước trong mùa khô ở khu vực vùng lõi làm tăng pH nước trong kênh, giảm hàm lượng Fe2+, Al3+ hòa tan so với khu vực ngoại biên nước thoát tự nhiên. pH nước trong vật liệu than bùn ở cả hai khu vực vùng ngoại biên và vùng lõi đạt tương tự nhau, tuy nhiên pH nước khu vực rừng than bùn bị cháy đạt cao do tình trạng giữ nước trong khu vực. Hàm lượng Fe trong nước kênh và nước trong rừng đạt cao.
Tuy nhiên, hàm lượng Al hòa tan đạt thấp trong nước kênh và nước trong rừng. Theo thời gian hàm lượng Fe, Al trong kênh và nước trong rừng có khuynh hướng giảm dần đến cuối mùa mưa do hòa loãng bởi nước mưa, trong khi đó pH nước có khuynh hướng tăng dần.
Biện pháp giữ nước phòng chống cháy rừng có lợi là làm cho pH nước gia tăng, giảm hàm lượng Fe2+ và Al3+ hòa tan, tuy nhiên cần nghiên cứu thêm các tác hại khác do tình trạng ngập nước kéo dài có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng tràm để có biện pháp giữ nước hợp lý, có thể phòng chống cháy rừng trong mùa khô nhưng không gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng của rừng tràm. (Khoa Học Phổ Thông 12/10) đầu trang(
11.10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ đã chủ trì buổi giao ban về tiến độ thực hiện công tác giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) rừng phòng hộ cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện dự án bàn giao rừng, giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) rừng phòng hộ, Sở NN&PTNT đã thực hiện giao rừng, giao đất và GCNQSDĐ rừng phòng hộ cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn của 9 huyện: Ba Tơ, Đức Phổ, Mộ Đức, Bình Sơn, Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây và Minh Long, với tổng diện tích rừng và đất rừng phòng hộ 93.664,129 ha.
Đến nay, toàn tỉnh đã giao 100% ha rừng cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh, trong đó rừng tự nhiên 81.414,597 ha, rừng trồng 12.248,532 ha.
Đối với công tác giao đất và cấp GCNQSDĐ rừng phòng hộ cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đơn vị thi công là Văn phòng Đăng ký QSDĐ tỉnh đã biên tập bản đồ địa chính khu đất cho 59/59 xã với tổng diện tích gần 114.000ha để thực hiện các bước rà soát, kiểm tra, thẩm định, phục vụ công tác lập thủ tục giao đất và cấp GCNQSDĐ trong thời gian đến.
Hiện một số huyện đã lập phương án giao rừng, cho thuê rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn ở các địa phương (theo Quyết định số 1465/QĐ-UBND ngày 16/9/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh), đã bố trí vốn và đang triển khai các bước lập thủ tục. Tuy nhiên tiến độ thực hiện công tác này cũng chậm so với yêu cầu. Nguyên nhân là do công tác chỉ đạo thực hiện tại các địa phương chưa thật sự quyết liệt, chưa bố trí vốn kịp thời để thực hiện.
Để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ chỉ đạo các sở ngành, các địa phương, đơn vị liên quan tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoàn thành các mục tiêu cơ bản của dự án trong năm 2013.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị thực hiện đồng bộ các nội dung của dự án, trong đó cơ bản nhất là hoàn thành kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo Quyết định 871 ngày 23.4.2007 của Chủ tịch UBND tỉnh để làm cơ sở lập các thủ tục, hồ sơ liên quan trong công tác giao đất, cấp GCNQSDĐ; giao rừng và cho thuê rừng. (Báo Quảng Ngãi 12/10) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang đã chỉ đạo các ngành chức năng triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm khẩn trương đưa Nhà máy chế biến gỗ MDF đi vào hoạt động.
Tỉnh tạo mọi điều kiện cho Công ty cổ phần Công nghiệp và Xuất nhập khẩu Lâm nghiệp Hà Giang (đơn vị đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến gỗ) sớm hoàn thành thực hiện dự án để đưa nhà máy đi vào hoạt động.
Tỉnh chỉ đạo Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Vị Xuyên và các ngành chức năng khẩn trương giải quyết công tác giải phóng mặt bằng để Công ty hoàn thiện công tác san lấp, lắp đặt nhà máy.
Để tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang cam kết phân bổ đủ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương cho dự án, đồng thời đề nghị Ngân hàng cổ phần Thương mại Công thương Chi nhánh tỉnh Hà Giang tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp được vay vốn để đầu tư Nhà máy.
Nhà máy chế biến gỗ MDF được triển khai xây dựng tại Khu công nghiệp Bình Vàng (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) từ đầu năm 2011. Nhà máy do Công ty cổ phần Công nghiệp và Xuất nhập khẩu Lâm nghiệp Hà Giang (tên giao dịch là VIFOREX) là chủ đầu tư xây dựng, với tổng vốn đầu tư 420 tỷ đồng, công suất thiết kế 100.000 m3 sản phẩm/năm, trong đó dây chuyền sản xuất ván MDF 80.000 m3/năm và dây chuyền sản xuất ván ghép thanh 20.000 m3/năm.
Theo dự kiến, cuối năm 2012 Nhà máy đi vào hoạt động sẽ thúc đẩy việc phát triển vùng nguyên liệu rừng, khai thác và phát huy tối đa tiềm năng về đất, rừng; tạo thêm việc làm cho hàng nghìn người lao động địa phương; tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước mỗi năm trên 50 tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Nhị Sơn, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang, việc triển khai xây dựng Nhà máy gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn đầu tư dẫn đến tiến độ thi công chậm, không đạt kế hoạch đề ra. Đến nay, công tác san lấp mặt bằng Nhà máy mới thực hiện được 8/13ha.
Hai dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ưu tiên là đầu tư trồng rừng nguyên liệu cho nhà máy giai đoạn 2011-2020 và cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, giá trị thấp sang trồng rừng nguyên liệu cho nhà máy giai đoạn 2011-2020 nhưng hiện vẫn chưa được triển khai thực hiện.
Ông Bùi Tùng Mậu, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị VIFOREX cho biết, Công ty đã thực hiện hợp đồng kinh tế với nhà thầu là Công ty TNHH thiết bị kỹ thuật lâm nghiệp Đồng Đại Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc) và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thanh Danh (Việt Nam) cung cấp thiết bị lắp đặt cho Nhà máy sản xuất ván MDF, hiện số lượng thiết bị đã nhập về Nhà máy đạt khoảng 40%.
Từ nay đến cuối năm 2013, Công ty sẽ khắc phục khó khăn lập phương án sản xuất chi tiết, xây dựng kế hoạch và các giải pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành giai đoạn đầu tư và đưa Nhà máy sớm đi vào sản xuất. (VietnamPlus.vn 11/10) đầu trang(
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa có quyết định thành lập khu bảo tồn Sao la nằm trên địa phận 3 xã: Hương Nguyên (huyện A Lưới) Thượng Quảng, Thượng Long (huyện Nam Đông).
Đây là khu vực có rừng nguyên sinh tự nhiên còn sót của khu Trung Trường Sơn, nơi có độ đa dạng sinh học bậc nhất trong khu vực và trên toàn thế giới.
Khu bảo tồn có diện tích 15.519 ha sẽ làm nhiệm vụ bảo tồn quần thể Sao la quý hiếm và hai loại thú móng guốc là Mang lớn và Mang Trường Sơn đồng thời bảo tồn nhiều loài động, thực vật đặc hữu và quý hiếm khác trong khu vực. (Tiền Phong 12/10; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/10; Nhân Dân 11/10; Sài Gòn Tiếp Thị 12/10) đầu trang(
Ngày 10.10, Chủ tịch UBND huyện Đạ Huoai (Lâm Đồng) Lưu Tiến Chinh đã có văn bản chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, Công an huyện, UBND các xã và các chủ rừng về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng khu vực giáp ranh với huyện Tánh Linh (Bình Thuận).
Từ tháng 5 đến nay, cơ quan chức năng của huyện Đạ Huoai và huyện Tánh Linh đã bắt nhiều vụ vi phạm lâm luật tại vùng rừng giáp ranh; trong đó đáng kể là bắt giữ 3 xe ô tô và 4 xe lôi chở gỗ trái phép; tịch thu 30m3 gỗ các loại, 5 xe máy, 6 xe lôi và 17 cưa xăng... (Nông Thôn Ngày Nay 11/10) đầu trang(
Khảo sát nhiều doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ tại Biên Hòa cho thấy ngành hàng này đang có sự “trái chiều” trong sản xuất. Theo đó, những DN làm hàng xuất khẩu năm nay đón mùa hàng đến khá sớm, trong khi hàng trong nước vẫn còn đủng đỉnh.
Nhiều DN sản xuất hàng bán ở thị trường nội địa nhận định, năm 2013 rất có thể doanh thu sẽ giảm khoảng 20% so với năm 2012 do sức mua yếu. Trong khi đó, ở các DN xuất khẩu khẳng định doanh thu sẽ bằng, thậm chí vượt năm ngoái.
Anh Nguyễn Thế Thọ, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Minh Thiện chuyên sản xuất hàng mộc tiêu thụ nội địa ở phường Tân Hòa (TP.Biên Hòa), cho rằng hiện rất khó có thể khẳng định thị trường đồ gỗ trong nước năm nay có tốt hơn năm ngoái hay không, bởi đến nay vẫn chưa có biến động gì về sản xuất.
Theo anh Thọ, sở dĩ ngành mộc trong nước vào mùa trễ do cả nhà sản xuất lẫn người kinh doanh đều thận trọng, không muốn bị “chôn” vốn vào hàng thời gian lâu. Thông thường, giữa tháng 9 các cơ sở và DN chế biến gỗ đã lo vốn để mua nguyên liệu và sản xuất một phần, nhưng hiện nay rất ít đơn vị vay tiền vì sức mua giảm nhiều.
Các cơ sở sản xuất luôn có hàng tồn, là số hàng buộc phải sản xuất để giữ thợ. “Hàng trong nước mẫu mã không thay đổi nhiều nên không sợ lỗi mốt, nhưng tiêu thụ chậm thì vốn không quay vòng được. Mấy năm trước hàng bán tốt nên thời điểm này, nhiều DN phải đi vay vốn ngân hàng để trữ nguyên liệu. Nhưng năm nay hầu hết chỉ sản xuất bằng vốn gia đình, hoặc vay rất ít” - anh Thọ nói. Sản phẩm đồ gỗ nội thất của DN Minh Thiện chủ yếu tiêu thụ ở các tỉnh miền Trung. Kết thúc 9 tháng của năm nay, doanh thu chỉ bằng 3/4 cùng kỳ năm ngoái.
Hiện các cơ sở mộc ở Tân Hòa và Tân Biên đang giữ nhịp sản xuất khá chậm chạp, một số DN nhận xét, năm nay phải sang tới tháng 11 mới vào mùa sản xuất cuối năm. Không chỉ thay đổi về thời gian sản xuất, giá trị các món hàng cũng biến động theo. Kể từ năm 2011, những bộ sản phẩm có giá trị trên 100 triệu đồng tiêu thụ chậm hẳn, thay vào đó các loại hàng trị giá từ 50 triệu đồng/bộ trở xuống bán tốt hơn.
Ông Nguyễn Duy Tính, chủ một cơ sở mộc ở phường Tân Biên, cho hay 3 năm nay các cơ sở mộc rất hồi hộp, hầu như không có đơn hàng trước mà sản xuất theo dạng “bán đến đâu làm đến đó”.
Năm nay, các DN chế biến gỗ xuất khẩu đã có đơn hàng ngay từ tháng 8, tới thời điểm này hầu hết DN đều có hợp đồng hết năm 2013, thậm chí nhiều đơn vị đang đàm phán đơn hàng cho năm 2014. Nhiều công ty đã có đơn hàng đến hết năm 2013 từ khá sớm, như: gỗ Hòa Bình (TP.Biên Hòa), Minh Thuận Thắng, Quyết Thành (huyện Trảng Bom), Hoàng Nhật Phát (huyện Long Thành)…
Ở DNTN Minh Thuận Thắng, chủ DN đã bắt đầu phải tổ chức tăng ca mỗi ngày thêm 1 giờ để kịp hàng giao. Nhiều DN chế biến gỗ khác phải tuyển thêm lao động. Theo Hiệp hội Chế biến lâm sản Đồng Nai, sở dĩ các DN chế biến gỗ xuất khẩu năm nay có đơn hàng tốt, ngoài một số thị trường kinh tế tốt hơn nên cải thiện sức mua, thì sự chuyển dịch về thị trường nhập khẩu của các công ty thương mại trên thế giới rời Trung Quốc tìm hàng ở các nước châu Á khác, trong đó có Việt Nam đã tạo ra một cơ hội lớn. (Báo Đồng Nai 14/10) đầu trang(
Một nửa doanh thu xuất khẩu sản phẩm gỗ tính đến hết tháng 9 thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang hoạt động ở Việt Nam.
Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ tháng 9 của cả nước đạt trên 305 triệu đô la Mỹ, riêng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đã chiếm đến gần 2/3 trên tổng số, tương đương 200 triệu đô la Mỹ. Tính từ đầu năm đến nay ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ thu về trên 2,6 tỉ đô la Mỹ, riêng các doanh nghiệp FDI thu về 1,67 tỉ đô la Mỹ, tức chiếm trên 64% tổng số.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ Tịch Hiệp hội chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, cho biết trong năm nay ngành chế biến và xuất khẩu đồ gỗ phát triển khá tốt so với các năm trước. Sau nhiều năm bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ từ các thị trường tiêu thụ trọng điểm như Mỹ, Nhật, EU đang tăng lên.
Ngành chế biến và xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam, đang xếp ở vị trí số 1 Đông Nam Á và thứ 2 châu Á, chỉ sau Trung Quốc, đang đón nhận những thay đổi này. Một thuận lợi nữa của ngành chế biến gỗ là các khách hàng EU, Mỹ lẫn Nhật đều chuyển từ đặt hàng sản xuất ở Trung Quốc sang Việt Nam.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tận dụng được cơ hội này. Ông Thanh cho biết có sự phân hóa khá mạnh giữa các doanh nghiệp trong ngành, nếu như những doanh nghiệp có năng lực chế biến đủ lớn, nhiều nhất là các doanh nghiệp FDI đến từ Đài Loan, Mỹ, Anh… “làm cả ngày lẫn đêm” vẫn không kịp giao hàng cho đối tác thì có những đơn vị “ngồi chơi xơi nước” vì đối tác không chọn những đơn vị này để đặt hàng. Phần lớn trong số này là các doanh nghiệp Việt Nam.
Theo ông, không chỉ có năng lực quản lý, tài chính cao hơn hẳn các doanh nghiệp nội địa, các doanh nghiệp này còn có sẵn mạng lưới đối tác là các hệ thống phân phối, đại siêu thị ở các thị trường nhập khẩu lớn như Mỹ, Nhật, EU nên họ không mất thời gian tìm hiểu đối tác như các doanh nghiệp trong nước.
Còn theo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), gần đây có hiện tượng người nước ngoài đến thuê lại nhà xưởng và kho tàng của các doanh nghiệp chế biến đang gặp khó khăn để sản xuất xuất khẩu, đích đến là các thị trường Mỹ, Trung Quốc. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 14/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai vừa tiếp nhận 2 cá thể culi từ người dân để thả về tự nhiên.
Trước đó, ngày 27/9/2013, ông Đặng Thanh Phương, ngụ tại số 375, tổ 1, ấp Láng Me, xã Xuân Đông (huyện Cẩm Mỹ) trong lúc đi làm rẫy phát hiện 2 con culi nhỏ (tên khoa học là Nycticebus pygmaeus) trên cây. Thấy đẹp nên ông Phương bắt về nuôi. Do được một số người thân xung quanh cho biết đây là loài động vật rừng quý hiếm, tự ý nuôi nhốt là trái pháp luật nên anh Phương đã gọi điện cho tổng đài 1080 để được tư vấn.
Sau đó, anh Phương đã làm đơn chủ động giao nộp 2 con culi này cho Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai để cứu hộ và trả lại thiên nhiên. Sau khi tiếp nhận động vật rừng quý hiếm do người dân bàn giao, Phòng Bảo tồn thiên nhiên đã phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm liên huyện Long Thành và Cẩm Mỹ đã chuyển cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Cát Tiên.
Culi thuộc lớp thú, bộ linh trưởng. Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ quy định đây là loại động vật rừng nguy cấp quý hiếm nằm trong nhóm I nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Đây là loài động vật có số lượng cá thể còn rất ít trong tự nhiên và có nguy cơ tuyệt chủng cao. (Nhà Báo&Công Luận 12/10) đầu trang(
Trong những ngày qua, thông tin về việc hơn 8 ha Sâm Ngọc Linh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp Đăk Tô (đơn vị đang thực hiện việc bảo tồn, nhân giống Sâm Ngọc Linh) xuất hiện bệnh thối củ.
Thông tin còn cho rằng sự việc trên không chỉ gây hại đến 8 ha sâm mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến nỗ lực bảo tồn, phát triển và xây dựng thương hiệu quốc gia cho Sâm Ngọc Linh mà tỉnh Kon Tum đang gây dựng.
Trước đó, ngày 15/5/2013 Công ty Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp Đăk Tô có báo cáo gửi UBND tỉnh Kon Tum và cơ quan chức năng về việc phát hiện 67 cây sâm 6 và 11 tuổi bị thối củ (trong đó 61 cây thối đầu thân sinh trưởng, 6 cây thối hoàn toàn). Trước sự việc trên, Công ty phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Kon Tum đã lấy 7 mẫu sâm bị hỏng gửi Phòng điều tra giám sát-Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu II (TPHCM) giám định. Kết quả cho thấy “chưa phát hiện vi sinh vật ký sinh gây hại”.
Ngoài ra, theo ông Nguyễn Thành Chung, Giám đốc Công ty Đăk Tô: “Hiện tượng thối củ trên cây Sâm Ngọc Linh hiện không phát sinh. Một số thối đầu sinh trưởng đã mọc chồi mới. Giữa tháng 9 vừa qua, Công ty đã thu hái hạt và gieo ươm sâm giống theo đúng kế hoạch sản xuất”. Cũng theo ông Chung nhận định sự việc trên có thể do từ thời điểm tháng 3 đến tháng 5 năm 2013, vùng trồng Sâm trải qua 5 đợt mưa đá lớn làm gãy cây, dập nát đầu mầm củ sâm.
Cũng liên quan đến vấn đề này, chiều ngày 8/10, ông Đặng Thanh Long, Chánh văn phòng, người phát ngôn UBND tỉnh Kon Tum đã chính thức bác bỏ thông tin trên. “Thông tin sai sự thật mà một số tờ báo đăng tải đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo tồn, phát triển và xây dựng thương hiệu quốc gia cho Sâm Ngọc Linh, mà địa phương đang nỗ lực thực hiện” ông Long khẳng định.
Tỉnh Kon Tum hiện đang nỗ lực bảo tồn, phát triển và xây dựng thương hiệu quốc gia cho Sâm Ngọc Linh. Đến nay, tỉnh Kon Tum đã phát triển diện tích sâm lên trên 150 ha.
Tỉnh cũng đã đang phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia Sâm Ngọc Linh” với mục đích đến năm 2020 sẽ phát triển vườn sâm lên thành 500 ha; xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho Sâm Ngọc Linh; xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm của Sâm Ngọc Linh… (Dangcongsan.vn 11/10) đầu trang(
Để có cái nhìn toàn diện hơn, cả đoàn “họp” ngay giữa rừng. Kỹ sư Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT, mở lời trước.
Trong báo cáo mang theo bên mình, anh Sử cho hay, lâm phần rừng tràm Cà Mau hiện có trên 40.000 ha, trong đó gần 80% rừng kinh tế, có trên 5.000 hộ dân sinh sống. Từ năm 1999 đến cuối 2012, toàn lâm phần trồng mới và trồng rừng sau cháy được trên 14.300 ha. Song, rừng tràm chủ yếu trồng quảng canh, năng suất không cao.
Theo thời gian, thị trường cừ tràm trong xây dựng giảm kéo theo giá gỗ tràm tuột thấp, giá trị sinh lời thấp hơn các loại cây trồng khác, đời sống người trồng tràm khốn khó. Mãi đến năm 2009, Cà Mau được chấp thuận từ Bộ NN&PTNT cho phép bổ sung thêm 2 loài cây lâm nghiệp được phép trồng cho rừng sản xuất, có cả cây keo lai.
Sau ngày ấy, tỉnh chỉ đạo các đơn vị lâm nghiệp, các doanh nghiệp thuê đất và các hộ gia đình trên lâm phần trồng keo lai nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Ông Phạm Thạnh Trị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh, góp ý: “Mình đừng mặc cảm với keo lai như trước. Thực tế rõ rồi, chu kỳ chỉ 4-5 năm mà lợi nhận hơn 3 lần trồng tràm quảng canh, hơn 2 lần tràm thâm canh. Hơn nữa, Cà Mau mình đã có nhà máy công suất cực lớn, đâu lo đầu ra bấp bênh như tràm. Tôi ủng hộ trồng keo lai”.
Đồng tình với quan điểm của ông Bảy Trị, ông Ba Liêm cho rằng, cây lâm nghiệp nào cũng là cây, nhưng loại nào kinh tế cao, đầu ra và giá cả ổn định, có lợi nhiều cho dân thì nên làm chứ đừng để bà con mãi khổ với cây tràm. “Mình nói “rừng vàng” mà bao năm trời người dân sống trong rừng khổ sở. Nay có cơ hội rồi, dù chưa thành vàng nhưng biến rừng thành bạc cũng được. Với hiệu quả kinh tế như đã đánh giá, chỉ vài năm nữa thôi, mình trở lại rừng tràm, đi giữa rừng tràm chẳng thấy nghèo đâu”, ông Ba Liêm vui vẻ.
Ông Ba Liêm phân tích rằng, lâu nay mình còn lẫn lộn giữa rừng bảo tồn và rừng kinh tế nên chưa đầu tư nhiều cho rừng tràm, cả tiền bạc, cơ chế, lúc phân ra, lúc gộp lại nhưng đến giờ vẫn chưa xong. Hệ luỵ kéo theo là cả một vùng đất đai rộng lớn chỉ dừng lại mức tiềm năng, quản lý còn chồng chéo cả về lợi ích và kinh tế.
Một người nhận 5-7 ha đất rừng mà nghèo, nghe hơi lạ nhưng lại có thực ngay xứ U Minh này. Mà không nghèo sao được, 1 ha tràm trồng hơn 10 năm, bán được 50 triệu đồng, trừ hết chi phí và ăn chia với chủ rừng, người dân còn được chừng một nửa.
“Tôi cho lời 30 triệu luôn, chia cho 10 năm thôi, mỗi năm 1 ha sinh lời có 3 triệu đồng. Nếu phân ra 12 tháng trong năm thì người trồng rừng mỗi tháng thu nhập bao nhiêu. Để có thêm nguồn thu “nuôi dài”, bà con buộc phải lén lút phá rừng, xiệc cá non… làm nguồn tài nguyên rừng ngày càng suy giảm”, ông Ba Liêm chua chát.
Cũng theo lời ông Ba Liêm, cái nghèo còn có thể xở gỡ được, nhưng đau lòng hơn chính là sự thiệt thòi của người trồng rừng. Theo lời ông, hàng chục năm trời sau giải phóng, cư dân rừng tràm vẫn chưa biết mình là ai. Nếu gọi là nông dân cũng chưa đúng vì nông dân phải làm chủ ruộng đất, có bằng khoán đỏ. Khu đất rừng ngoài trồng rừng, người dân phải được hưởng lợi từ các cây trồng, vật nuôi trên đất.
Nhưng thực tế thì không phải hộ nào ở rừng cũng được vậy, phải chịu nhiều loại phí rất kỳ cục. Thậm chí bà con trồng một cây lâu năm cũng phải dè chừng vì ai biết phải trả lại đất lúc nào, cây trái đó chưa chắc để lại được cho đời con, đời cháu thụ hưởng. Còn gọi dân trồng rừng là công nhân lâm nghiệp cũng không phải. Nếu là công nhân lâm nghiệp phải được chủ rừng trả lương hằng tháng, được mua bảo hiểm...
Để tháo gỡ những khó khăn ấy, theo ông Ba Liêm, cần thay đổi cơ chế quản lý rừng. Ông ủng hộ trồng cây lâm nghiệp rút ngắn chu kỳ khai thác nhưng cho hiệu quả kinh tế cao như keo lai, miễn sao bà con sống được với loại cây trồng đó.
Ông cũng lưu ý nên đầu tư hệ thống kinh trục để thoát phèn toàn vùng, bảo đảm cả cây và cá đều phát triển tốt. Công ty lâm nghiệp vừa trồng rừng, khai thác rừng nhưng phải vừa làm dịch vụ cho nghề rừng nhằm khai thác, nâng cao giá trị cây rừng. Chỉ nên giữ lại khoảng 10.000 ha rừng phục vụ bảo tồn, diện tích còn lại nên giao về cho chính quyền địa phương quản lý để cấp phát cho hộ dân, làm giấy chủ quyền, giúp bà con yên tâm canh tác lâu dài. (Báo Cà Mau 12/10) đầu trang(
Những năm qua, trên địa bàn huyện Tiên Phước có gần 3.500 hộ dân trồng dó bầu với diện tích khoảng 980ha. Theo đó, nghề sản xuất trầm hương, trầm cảnh ngày một phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Có được những kết quả trên nhờ huyện có nhiều cơ chế, chính sách đẩy mạnh khuyến công, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trầm hương liên kết, tạo nên sản phẩm trầm hương đặc trưng của địa phương.
Năm 2008, gia đình ông Nguyễn Đức (xã Tiên Châu) mua 200 cây dó bầu về trồng trong khu vườn nhà mình. Qua 5 năm, cây dó có thể cấy ghép tạo trầm, tuy nhiên ông Đức luôn canh cánh nỗi lo vì thiếu kiến thức, phương pháp tạo trầm lẫn đầu ra cho sản phẩm. Lâu nay nông dân như ông Đức vẫn dựa vào kinh nghiệm cá nhân và tự mày mò phương thức tạo trầm nên hiệu quả không cao.
Ông cho biết: “Hầu hết nông dân trồng dó bầu đều thiếu kiến thức trong việc cấy tạo trầm và một điều nữa là giá cả bấp bênh. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đến nhà thu mua nhưng ép giá nên trừ đi chi phí và công chăm sóc tôi thu lời không đáng kể. Chúng tôi mong muốn huyện tổ chức các chương trình tập huấn nhằm chuyển giao kỹ thuật, giúp nông dân chăm sóc cây dó cũng như cách tạo trầm hiệu quả”.
Đứng trước nỗi lo của nông dân, huyện Tiên Phước quyết định thành lập Hội thủ công mỹ nghệ trầm hương Tiên Phước vào tháng 4.2013 với 25 hội viên. Từ khi Hội thủ công mỹ nghệ trầm hương Tiên Phước đi vào hoạt động với nhiều cơ chế hỗ trợ về kỹ thuật trồng và tạo trầm cũng như giải quyết các khó khăn về đầu ra cho sản phẩm đã giúp nông dân trồng dó bầu và các cơ sở sản xuất kinh doanh trầm hương trên địa bàn yên tâm hơn.
Ông Trương Công Lương - Phó Chủ tịch Hội thủ công mỹ nghệ trầm hương Tiên Phước cho biết thêm: “Về lâu dài, hội sẽ hỗ trợ các hội viên thông tin chính sách khuyến công, quảng bá sản phẩm để trầm hương Tiên Phước xây dựng được thương hiệu trên thị trường. Đây là cầu nối để các hội viên của hội có một tiếng nói chung trong khâu tổ chức sản xuất và xuất khẩu hàng hóa”. (Báo Quảng Nam 11/10) đầu trang(
Đây là khẳng định của Giám đốc Cơ quan quản lý các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Việt Nam (Bộ NN&PTNT) Đỗ Quang Tùng, tại buổi gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí chiều 11/10, tại Hà Nội. Cơ quan này cũng đã cung cấp thông tin về tình hình quản lý, buôn bán, sử dụng mẫu vật Tê giác tại Việt Nam hiện nay.
Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam Đỗ Quang Tùng cho biết: Tháng 9/2013, Tổ chức TRAFFIC/WWF đã công bố Báo cáo về Nghiên cứu tiêu dùng đối với sừng Tê giác tại Việt Nam, do Tổ chức TRAFFIC phối hợp với Ipsos Marketing thực hiện, kèm theo đó là bản giới thiệu tóm tắt với tiêu đề “Người tiêu dùng Tê giác, họ là ai?”.
Cơ quan quản lý CITES Việt Nam đánh giá cao những nỗ lực và sự hợp tác của tổ chức TRAFFIC trong thời gian qua đối với công tác bảo tồn, bảo vệ các loài hoang dã. Trong đó có Nghiên cứu tiêu dùng đối với sừng Tê giác tại Việt Nam .
Bản báo cáo đã được xây dựng một cách công phu và đưa ra một số thông tin liên quan đến nhóm người tiêu dùng sừng Tê giác tại Việt Nam. Tuy vậy, bản báo cáo đã đưa ra một số thông tin chưa chính xác và nhận định thiếu khách quan, cũng như phương pháp thực hiện không toàn diện và thông tin được công bố không rõ ràng, gây hiểu nhầm và ảnh hưởng nghiêm trọng tới những nỗ lực thực thi của các cơ quan chức năng và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cụ thể là mục tiêu của nghiên cứu về đánh giá nhận thức, cách thức sử dụng và thái độ của người Việt Nam nói chung về sừng Tê giác. Nhưng số lượng mẫu chỉ có 749 mẫu ở Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Trong số 40 người phỏng vấn sâu đều chọn những người có liên quan tới sừng Tê giác, gồm 10 người đã mua, 10 người sử dụng, 10 người không sử dụng nhưng biết về sừng Tê giác và 10 bác sĩ đông y. Phỏng vấn trực tiếp 709 người thì chọn ra trước 109 người đã mua và sử dụng, còn lại 600 người phỏng vấn ngẫu nhiên.
Như vậy, nghiên cứu này không thể đại diện cho người Việt Nam, cũng như không phản ánh đúng và khách quan về số người sử dụng sừng Tê giác trên tổng dân số. Vì trước khi phỏng vấn, đã lựa chọn ra tới 20% số người đã sử dụng hoặc mua sừng Tê giác.
Bảng câu hỏi được thiết kế dài gần 30 trang đều thiếu căn cứ khoa học, chủ yếu tập trung vào các câu hỏi xoay quanh việc sử dụng, mua bán sừng Tê giác, không xét đến khía cạnh tâm lý của người Việt Nam để đánh giá chính xác được đối tượng. Do vậy, kết quả đưa ra không phản ảnh được chính xác nhận thức và thái độ thực sự của người được hỏi, mà ra kết quả chủ quan của người hỏi mà thôi.
Mặt khác, nghiên cứu mang tính xã hội, nhưng lại do tổ chức Ipsos Marketing chuyên về xác định marketing, thị trường và kinh doanh thực hiện. TOR của nghiên cứu được xây dựng theo ý kiến chủ quan của WWF/TRAFFIC, không có sự tham gia hoặc góp ý của các bên có liên quan. Đặc biệt là thiếu sự tham vấn của các cơ quan của Chính phủ Việt Nam quản lý về lĩnh vực này. (Tin Tức 12/10; Tuổi Trẻ 12/10) đầu trang(
Chiều 11/10, ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc cơ quan quản lý Cites Việt Nam (Công ước về buôn bán quốc tế về các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp) cho biết, sau hơn 1 năm vụ đại gia Trầm Bê (Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT Sacombank) mất sừng tê giác, hiện Cites Việt Nam vẫn chưa nhận được nguyên nhân mất và kết quả điều tra vụ việc từ phía công an.
Theo ông Tùng, về nguồn gốc, mẫu vật tê giác trưng bày nhà ông Trầm Bê là hợp pháp. Tuy nhiên, quy định Cites hiện còn chung chung, ở Việt Nam chưa quy định cụ thể việc nhập hợp pháp có được cho, tặng, đưa ai sử dụng hay để nhờ nhà người khác hay không.
Đại diện Cites Việt Nam cho biết, hiện cơ quan này đang phối hợp với Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), xây dựng thông tư hướng dẫn quản lý các mẫu vật sau săn bắn trên. Lâu nay, Cites kiểm tra bằng cách rà chíp (gắn trên sừng tê giác) ở một số người nhập về, nhưng cũng không thể tiếp cận, kiểm tra đầy đủ các mẫu vật này. Ở Việt Nam, khi thuộc sở hữu cá nhân, việc kiểm tra kiểm soát khó, vì họ có quyền được thừa kế, cho tặng, chuyển giao. (Tiền Phong 12/10) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, 9 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 561 vụ vi phạm về lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tăng 30 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó, vi phạm về phá rừng trái pháp luật xảy ra 57 vụ, làm thiệt hại 60,7 ha rừng tự nhiên. So với cùng kỳ năm 2012, giảm 22 vụ nhưng diện tích thiệt hại tăng 22,46 ha.
Toàn tỉnh xảy ra 504 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý lâm sản, tăng 52 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vi phạm về mua bán, cất giữ lâm sản trái phép vẫn diễn biến phức tạp (147 vụ) tại các khu vực giáp với Vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông.
Ngành chức năng đã xử lý vi phạm 525 vụ, trong đó xử lý hành chính 523 vụ, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 2 vụ; thu hồi khoảng 1.100m3 gỗ, 66,1 ster củi các loại, 9 xe ôtô, 99 xe máy, xe hai bánh, 34 chiếc cưa máy, 1 khẩu súng tự chế. Tổng số tiền thu nộp khoảng 4,1 tỷ đồng. (Báo Bình Phước 12/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, Báo Pháp Luật Việt Nam nhận được khá nhiều đơn thư của bạn đọc phản ánh tại khu vực rừng Đarahoa, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) “lâm tặc” không chỉ phá rừng, khai thác thiếc trái phép, lấn chiếm đất rừng san băng đem bán mà còn ngang nhiên chống người thi hành công vụ, đánh vỡ đầu Giám đốc Công ty được giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) nhưng không ai xử lý.
Ngày 12/9/2013, Kiểm lâm (KL) xã Đạ Sar gồm các cán bộ: Nguyễn Đức Thuận, Phạm Văn Hào, Lơ Mu Ha Thoa được giao nhiệm vụ phối hợp với Cty Thành Phong (Cty TP) và Trạm QLBVR Đarahoa giải tỏa nóng cây trồng trên đất rừng bị lấn chiếm trái phép, thuộc lâm phần UBND tỉnh Lâm Đồng đã giao cho Cty TP quản lý bảo vệ là tiểu khu (TK) 143 xã Đạ Sar.
Đoàn công tác đến nơi thì phát hiện có 5 lô đất rừng với diện tích 1.031m2 đã bị đào bới và san thành băng; trong đó có 4 băng đã trồng cây sú được khoảng 2 tuần. Trong lúc tiến hành giải tỏa thì có một người từ dưới suối lên tự xưng là người làm thuê cho chủ vườn ở Thái Phiên (Đà Lạt) gọi điện báo ngay cho chủ vườn.
Khoảng 9h50, vợ chồng chủ vườn là ông Trần Văn Sáu, bà Hoa và 9 người khác kéo đến, trên tay mỗi người lăm lăm dao phát, búa, gậy tre, còn Hỏa Văn Định thì cầm ống tuýp nước bằng sắt hùng hổ xông vào hô to đánh lực lượng chức năng. Cả bọn lao vào, kẻ thì đánh vào người bà Võ Thị Nhạn - Giám đốc Cty TP và xô bà xuống vực; người thì dùng gậy tre quật vào lưng ông Lê Trần Phong - Phó Giám đốc Cty khiến ông té ngã.
Sáu cầm dao đòi đâm ông Phong. Hỏa Văn Định, Mai Văn Sơn thì hô hào chém chết ông Phong, bà Nhạn. Các cán bộ KL Thuận, Hào, Phương cũng bị nhóm người của ông Sáu, bà Hoa dùng dao phát, gậy tre tấn công gây thương tích. Đoàn công tác phải điện thoại nhờ công an (CA) huyện đến giải vây. 11 giờ cùng ngày, lực lượng CA đến nơi thì các đối tượng mới bỏ chạy vào rừng.
Ngày 12/9, Đoàn công tác có báo cáo gửi lãnh đạo Hạt KL Lạc Dương; ngày 20/9 Cty TP có Văn bản số 29 báo cáo UBND huyện Lạc Dương và các cơ quan chức trách toàn bộ sự việc. Tuy nhiên, không hiểu sao cho đến nay, các cơ quan chức trách huyện Lạc Dương vẫn chưa có biện pháp xử lý nào đối với hành vi lấn chiếm đất rừng trái phép, chống người thi hành công vụ nói trên.
Năm 2009, Mai Văn Nghĩa đưa máy ủi vào san ủi trái phép 1.650m2 đất rừng do Cty TP quản lý tại lô 2, khoảnh 7, TK 144 xã Đạ Sar. Ngày 28/5/2009, Hạt KL huyện lập biên bản phạm pháp quả tang. Ngày 5/6/2009 ra Quyết định (QĐ) số 46 xử phạt Nghĩa 4.950.000 đồng, buộc khôi phục lại hiện trạng ban đầu nhưng Nghĩa không chấp hành.
Năm 2011, Nghĩa tiếp tục tổ chức khai thác thiếc trái phép tại TK 144 dưới lòng suối. Ngày 11/3/2011, các ban ngành của tỉnh vào hiện trường bắt quả tang Nghĩa đang tiến hành đào đãi thiếc tại khu vực suối TK 144 giao cho UBND huyện Lạc Dương xử lý.
Cùng ngày, ông Nguyễn Duy Hải- Chủ tịch UBND huyện - và đoàn công tác đã đến hiện trường lập biên bàn ghi nhận có 7 chòi lợp bạt nilon, 4 hầm đào thiếc, 4 máy nổ, 2 máy phát điện, máy xay đá, bàn đãi thiếc và 12m2 gỗ thông. Đoàn thống nhất tịch thu toàn bộ máy móc thiết bị và số gỗ nói trên đưa về huyện để điều tra, xử lý. Tuy nhiên, sau đó không thấy ai xử lý!
Ngày 20/11/2011, Đoàn công tác gồm Cảnh sát môi trường, Đội 12, Phòng TN&MT, Trạm QLBVR Đarahoa và Cty TP tiếp tục lập biên bản quả tang về việc Nghĩa san ủi đất rừng trái phép tại TK 144 với diện tích 2.900m2, trong đó có 1.016m2 vừa san ủi.
Cơ quan chức năng bắt giữ 2 máy ủi đưa về Trạm KL và yêu cầu Nghĩa không được tác động thêm vào khu vực khai thác thiếc trái phép nói trên, chờ cấp có thẩm quyền xử lý. Nhưng rồi, “đâu lại vào đó”, ngày 16/1/2012 và ngày 5/10/2012, các cơ quan chức năng lại lập biên bản Nghĩa đang san ủi lô a2, khoảnh 7, TK 144 với diện tích 608m2.
Ngày 9/10/2012 lại lập tiếp biên bản Nghĩa dùng phương tiện cơ giới tiếp tục khai thác thiếc trái phép tại khu vực nói trên với diện tích 1.007m2. Tại hiện trường, máy ủi và máy múc của Nghĩa đã đào phá tan hoang một vùng đất rừng rộng lớn để đào đãi thiếc.
Sự việc nghiêm trọng là vậy nhưng không hiểu sao các cơ quan chức trách huyện Lạc Dương lại không xử lý nghiêm hành vi lấn chiếm đất rừng, khai thác thiếc trái phép của Nghĩa theo quy định của pháp luật, mà ngày 23/10/2012 Phó Chủ tịch UBND huyện Phạm Triều lại ký Văn bản số 1107 gửi CA huyện và các cơ quan chức năng với nội dung: “Mời ông Mai Văn Nghĩa lên làm việc cụ thể, yêu cầu tự giải tỏa, chấp hành đúng các quy định của pháp luật và nếu cố tình lấn chiếm, chống đối sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”(!?).
Sau đó, Nghĩa được ưu ái cho nhận lại máy ủi và vui vẻ ra về tiếp tục hủy hoại đất rừng, khai thác thiếc trái phép; còn Cty TP thì bị cơ quan chức năng ra QĐ xử phạt 420.000.000 đồng vì không QLBV được rừng. Mặc dù đã nhiều lần lập biên bản người vi phạm và có nhiều văn bản khẩn thiết đề nghị cơ quan thẩm quyền xử lý kẻ hủy hoại rừng!
Hiện tại khu vực TK 144 xã Đạ Sar còn có một số lâm tặc khác như Hỏa Văn Định, Mai Văn Thực lấn chiếm hàng ngàn mét vuông đất rừng của Cty TP được giao QLBV để san băng bán lại cho người khác, Cty TP đã nhiều lần kêu cứu nhưng các cơ quan chức trách huyện Lạc Dương hầu như bất lực.
Từ đó, dư luận đặt vấn đề phải chăng do có sự “bảo kê” của một số cán bộ huyện Lạc Dương nên Nghĩa và một số “lâm tặc” mới tỏ ra coi thường pháp luật, mặc sức hoành hành nên mới xảy ra việc sáng ngày 24/9/2013 khi Đoàn công tác liên ngành mời Nghĩa về trụ sở Trạm QLBVR Đarahoa để xác định phần đất rừng do Nghĩa lấn chiếm trái phép thì Nghĩa đã lấy ly sành loại lớn đánh thẳng vào đầu bà Nhạn – Giám đốc Cty TP làm bà gục tại chỗ. (Pháp Luật Việt Nam 12/10) đầu trang(
Chiều 9/10, ông Nguyễn Ngọc Phú, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Ea Súp (Đắk Lắk) cho biết, tại xã Cư M’lan, cách thị trấn Ea Súp khoảng 5km vừa xuất hiện một đàn voi rừng 5 con đang phá hoại hoa màu.
Hiện các lực lượng gồm công an huyện, dân quân và người dân xã Cư M’lan đang sử dụng các dụng cụ tạo tiếng động để xua đuổi nhưng đàn voi vẫn chưa chịu rời đi. Chỉ trong một ngày xuất hiện, đàn voi đã phá nát gần 20ha hoa màu và cao su của người dân.
Trước đó, ngày 26/9, một đàn voi rừng khoảng 20 con cũng đã kéo vào thôn 5, thị trấn Ea Súp dẫm nát hàng chục hecta hoa màu và tài sản của người dân. (Tiền Phong 12/10) đầu trang(
Chiều 10-10, Chi cục kiểm lâm tỉnh Phú Yên cho biết, vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường, Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh bắt giữ một vụ vận chuyển động vật hoang dã với số lượng lớn.
Trong lúc tuần tra, kiểm tra trên tuyến QL1A, đoạn qua huyện Đông Hòa, lực lượng chức năng phát hiện xe khách BS: 35B-002.96 lưu thông theo hướng Nam - Bắc, do tài xế Trịnh Văn Điền điều khiển, có biểu hiện nghi vấn, liền ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra, phát hiện có hơn 100kg động vật hoang dã còn sống gồm: Kỳ đà vân, rắn ráo trâu, rắn hổ mang, rắn sọc dưa được bọc trong túi lưới, giấu dưới gầm xe.
Khi hỏi về giấy tờ chứng minh nguồn gốc của "lô hàng", tài xế Điền không xuất trình được bất cứ giấy tờ hợp pháp nào. Ngay sau đó, lực lượng chức năng đã lập biên bản vi phạm hành chính và tiến hành thả toàn bộ số động vật hoang dã trên về môi trường tự nhiên thuộc khu vực Đèo Cả, xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa. (Công an TPHCM 12/10) đầu trang(
Ngày 11.10, Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế bàn giao 20kg động vật hoang dã cho Hạt Kiểm lâm TP.Huế xử lý.
Số động vật này gồm 3 cá thể rùa sa nhân, 1 cá thể cầy vòi hương, 2 cá thể cầy vòi mốc (trong đó 1 đã chết) và 1 cá thể tê tê Java. Trước đó, ngày 10.10, đối tượng Huỳnh Minh Dũng (ngụ xã Sơn Thủy, huyện A Lưới) dùng xe máy chở số động vật này từ huyện A Lưới về TP.Huế bán cho các quán nhậu thì bị lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện và bắt giữ. (Thanh Niên 11/10; Nông Thôn Ngày Nay 12/10; Nông Nghiệp Việt Nam 12/10) đầu trang(
Ngày 13.10, thông tin từ Đoàn kiểm tra liên ngành phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm TP.Tam Kỳ (Quảng Nam) cho biết vừa đề nghị UBND TP.Tam Kỳ ra quyết định xử phạt một hộ gia đình về hành vi vi phạm quy định về việc giết mổ và “phù phép” heo nái không rõ nguồn gốc thành heo rừng.
Ngày 9.10, đoàn kiểm tra bắt quả tang tại nhà bà Nguyễn Thị Bé (38 tuổi, trú P.Hòa Hương, TP.Tam Kỳ) đang giết mổ 4 con heo nái không rõ nguồn gốc; trong đó 3 con đang được làm giả heo rừng. Bà Bé khai mua 4 con heo nái về giết thịt (tổng trọng lượng 295 kg) rồi dùng đèn khò đốt lông, sau đó cạo sạch lớp cháy bên ngoài để tạo ra những súc thịt có da vàng.
Tiếp đó, bà Bé dùng máy bắn lông 3 chấu như lông heo rừng rồi đưa đi tiêu thụ tại các nhà hàng; chuyển lên núi để bán giả heo rừng hoặc chuyển ra Đà Nẵng. Ngoài ra, đoàn kiểm tra còn phát hiện thêm 34 kg thịt heo không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận kiểm dịch trong tủ đông lạnh. Đoàn kiểm tra đã tịch thu toàn bộ tang vật cùng các dụng cụ giết mổ, dụng cụ khò da làm giả thịt heo rừng để đưa đi tiêu hủy. (Thanh Niên 14/10; Công An Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Công an TPHCM cho biết, đã chuyển hồ sơ sang Viện KSND TPHCM, đề nghị truy tố đối với Nguyễn Văn Huy (33 tuổi, ngụ quận Gò Vấp) về tội “Buôn lậu”. Bị can Huy là Giám đốc Công ty TNHH XD-TM-DV Huy Vũ, trụ sở tại quận Gò Vấp TPHCM, có chức năng làm dịch vụ xuất nhập khẩu hàng may mặc.
Lợi dụng chính sách mặt hàng xuất khẩu quần áo may mặc được Nhà nước khuyến khích, miễn kiểm tra thực tế và những kẽ hở của quy trình kê khai, kiểm tra hải quan điện tử, Huy đã tìm cách xuất lậu 15 container chứa 344,623m³ gỗ giáng hương tròn, xẻ hộp (là loại hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu) tại cảng Tân Cảng, cảng Sài Gòn Khu vực 4 đi Trung Quốc, Nga, Ukraine.
Thủ đoạn của Huy là lợi dụng pháp nhân của Công ty Huy Vũ và của doanh nghiệp khác để kê khai mặt hàng xuất đi là hàng may mặc sẵn nhằm tránh bị kiểm tra phát hiện, làm giả giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ. Theo kết quả giám định, 344,623m³ gỗ giáng hương bị thu giữ trị giá gần 17,6 tỷ đồng. (Sài Gòn Giải Phóng 13/10; Công An Nhân Dân 13/10) đầu trang(
Ngày 9/10, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM (PC49) đã tiến hành khởi tố hai đối tượng trong đường giây buôn bán động vật hoang dã gồm Hoàng Văn Đình, ngụ phường Thới An, quận 12 và Trần Văn Khôi, ngụ ấp Đông Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn (TP HCM).
Trước đó, ngày 4/10, trong lúc đối tượng Đình đang giao một bao tải đựng bộ xương gấu cho Khôi thì bị Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an TP HCM bắt quả tang.
Tại cơ quan điều tra, Đình khai bộ xương gấu trên do Hoàng Văn Phúc (anh trai Đình), ngụ tại tổ 7, khu phố 7, phường Thới An (quận 12) nhờ giao cho Khôi. Số lượng hàng khoảng 13kg, trị giá 45 triệu đồng. Khôi đã quen biết Hoàng Văn Phúc từ năm 2012 và cả hai đã nhiều lần mua bán động vật hoang dã quý hiếm (mèo, tay gấu , beo...).
Qua khai thác nhanh, lực lượng chức năng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà Trần Văn Khôi, số 66/4E ấp Đông Lân, xã Bà Điểm (Hóc Môn), công an thu giữ hai cá thể hình dáng giống hổ đã chết, nặng 13kg và 5kg; 6 chân gấu, 60 lọ mật gấu; hai cá thể hươu sao. Khám xét nhà Hoàng Văn Phúc tại tổ 7, khu phố 7, Thới An (quận 12), công an thu được 8 cá thể họ mèo, 1 cá thể gấu, 35kg chân gấu; một số dụng cụ và thuốc nhuộm khác.
Hiện, đối tượng Hoàng Văn Phúc đã trốn khỏi nơi cư trú, cơ quan điều tra đang kêu gọi Phúc ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. (Đời Sống&Pháp Luật 12/10) đầu trang(
Do mưa lớn, lượng nước ứ đọng trong những cánh rừng U Minh Hạ (Cà Mau) rất lớn, cần phải xả để chống ngập úng cho hàng ngàn hécta rừng vừa mới trồng. Chính vì vậy, Cty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ (Cà Mau) quyết định xả nước từ các cống kênh 18, kênh 25 (xã Biển Bạch) và kênh 11 (xã Tân Bằng) thuộc huyện Thới Bình.
Ấy nhưng, do nước phèn từ rừng chảy ra khiến hàng trăm hộ nuôi tôm tại các xã Biển Bạch, Biển Bạch Đông, Tân Bằng (huyện Thới Bình) không thể lấy nước vào nuôi tôm do nguồn nước bị nhiễm phèn nặng.
Phó Chủ tịch UBND xã Biển Bạch Phạm Trường Sơn cho biết, chỉ riêng xã Biển Bạch có đến 500 hộ dân không thể lấy nước vào nuôi tôm; nhiều hộ nuôi tôm, trồng lúa bị thiệt hại nặng. (Báo Cà Mau 12/10; Lao Động 13/10) đầu trang(
Tối 10/10, tại km 192, QL 18A đoạn qua địa bàn huyện Tiên Yên, Tổ công tác của Đội tuần tra kiểm soát giao thông 1-4 đã tiến hành kiểm tra ô tô con loại 5 chỗ ngồi chạy hướng Hạ Long – Móng Cái và phát hiện số lượng lớn rắn hổ mang trên xe.
Kiểm tra bên trong chiếc ô tô trên, lực lượng CSGT phát hiện xe chở 41 cá thể rắn nghi là rắn hổ mang chúa đựng trong 5 bao tải dứa và 1 túi du lịch, có tổng trọng lượng 111 kg. Lái xe là Trần Anh Tuấn, trú tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số rắn trên .
Tại cơ quan Công an, lái xe và người đi cùng xe là Lê Quang Thắng cũng trú tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên khai nhận chở thuê số rắn trên từ Hưng Yên đến Móng Cái để tiêu thụ.
Hiện toàn bộ số rắn hổ mang chúa là động vật quý hiếm đã được bàn giao cho cơ quan chức năng để tiếp tục xử lý theo quy định. (Công An Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Sáng 8/10, Đội 4 - Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường CATP Hà Nội, phát hiện 1 thanh niên điều khiển xe máy BKS 29S6-068.60 chở sau một chiếc lồng sắt, biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra.
Việc kiểm tra được tiến hành phối hợp với Đội Cảnh sát phòng, chống tội phạm về kinh tế, ma túy, môi trường CAH Quốc Oai, làm nhiệm vụ trên Đại lộ Thăng Long - đoạn qua xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai.
Bên trong chiếc lồng sắt, lực lượng chức năng phát hiện có 2 con mèo rừng (loài động vật rừng nguy cấp quý hiếm, nghiêm cấm săn bắt, nuôi nhốt, mua bán, giết mổ). Người điều khiển phương tiện được xác định là Nguyễn Việt Dũng (SN 1992), trú tại xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, Hà Nội. Dũng khai đang vận chuyển 2 con mèo rừng đi bán thì bị phát hiện.
Theo cơ quan công an, Dũng là đối tượng có dấu hiệu nuôi nhốt, bán nhiều loài động vật hoang dã. Sau khi mua được các loài thú quý hiếm còn nhỏ, đối tượng chăm sóc, nuôi lớn mục đích bán kiếm lời. Được biết, trước khi giao chuyến hàng ngày 8/10, Dũng đã xem, chọn ngày đẹp mới khởi hành. (An Ninh Thủ Đô 11/10) đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Lăk cho biết, 15 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp trên địa bàn đã để người dân chặt phá, lấn chiếm trên 9.680 ha rừng, đất rừng tại địa bàn các huyện: Ea Súp, Ea H’leo, Cư M’gar...
Theo đó, 15 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh được giao quản lý trên 198.000 ha rừng, đất rừng. Trong thời gian dài, các công ty này buông lỏng quản lý, thiếu vốn đầu tư đã để dân di cư ngoài kế hoạch ồ ạt vào sâu trong rừng lén lút phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép, lập các khu dân cư, khu sản xuất. Đồng thời, đã xảy ra nhiều lần tranh chấp đất đai giữa các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp với các hộ dân gây phức tạp tình hình an ninh nông thôn…
Để từng bước khắc phục tình trạng trên, tỉnh đã có kế hoạch chuyển các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng thành các ban quản lý rừng, đồng thời tăng cường củng cố, đầu tư các công ty còn lại để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng.
Tỉnh cũng thành lập các đoàn kiểm tra về phối hợp cùng với các địa phương, chủ rừng kiểm tra, giải tỏa, thu hồi và chỉ đạo trồng lại rừng ở những vùng đất mới lấn chiếm. Các đơn vị chức năng cũng tiếp tục rà soát, đánh giá lại tình hình đất sản xuất và cuộc sống của người dân ở các vùng có các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp đang quản lý để trên cơ sở đó bố trí lại đất đai phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của từng đơn vị và đất sản xuất cho các gia đình thực sự thiếu đất sản xuất.
Tỉnh cũng kiến nghị Chính phủ sớm hỗ trợ kinh phí để triển khai Đề án đo đạc địa chính, cắm mốc ranh giới của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp, các ban quản lý rừng… nhằm từng bước loại bỏ tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng trái phép. (Đại Biểu Nhân Dân 13/10) đầu trang(
13-10, tại rẫy Ông Ký giáp chân núi Bà Thi (thuộc xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, Quảng Nam), một vụ xô xát do tranh chấp đất rừng giữa hai hộ ông Huỳnh Huy Cường và Võ Huỳnh Trưởng đã gây ra án mạng. Ông Trưởng bị đâm một nhát vào tim, chết ngay tại chỗ.
Năm người khác bị thương nặng được đưa đi cấp cứu gồm: ông Nguyễn Văn Tổng và con trai Nguyễn Văn Văn; Huỳnh Huy Hội và Huỳnh Huy Việt (là hai con của ông Cường); Võ Ngọc Hòa (em trai ông Trưởng).
Đại tá Nguyễn Thế Nghiệp, Trưởng phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) - Công an tỉnh Quảng Nam, cho biết hai nghi phạm liên quan đã bị tạm giữ. Thông tin ban đầu cho biết cái chết của ông Trưởng có liên quan đến ba người con của ông Cường. (Pháp Luật TPHCM 14/10; Thanh Niên 14/10) đầu trang(
Cho phép giữ nguyên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, đồng thời kiểm tra rà soát thực tế diện tích các hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời để tiến hành cấp đổi, cấp lại và chỉ đạo các ngành chức năng của huyện lập cam kết với các hộ dân không lấn chiếm thêm diện tích đất và bảo vệ diện tích rừng thông còn lại…
Đó là nội dung kiến nghị của UBND huyện Mang Yang trong Báo cáo số 214/BC-UBND, ngày 1-10-2014 về tình hình phá rừng, lấn chiếm đất trái phép tại địa bàn xã Đak Djrăng.
Theo kết quả kiểm tra của UBND huyện Mang Yang trong vụ việc người dân phá rừng thông, lấn chiếm đất lâm nghiệp: tại tiểu khu 496, 499 với diện tích lấn chiếm đo đạc được là 129,3 ha (trong đó tiểu khu 496 là 109,1 ha), có 204 thửa đất bị chiếm và được phân chia, đã xác định được tên của 115 hộ lấn chiếm, trong số 110 hộ lấn chiếm đất tại tiểu khu 496 xác định được tên của 60 hộ là đồng bào Bahnar, trú tại các làng Đê Rơn (xã Đak Djrăng); Đê Roa, Đê Kôp, Đê Ktu (thị trấn Kon Dơng).
Tiểu khu 496, 499 do Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa quản lý, qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ lãnh đạo, hiện nay chủ rừng không xác định ranh giới, người lấn chiếm, thời gian lấn chiếm, việc để mất rừng và trồng rừng mới Ban Quản lý không báo cho UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện để theo dõi, chỉ đạo xử lý.
Tuy nhiên, về mặt quản lý nhà nước, UBND xã Đak Djrăng còn buông lỏng để một bộ phận người dân địa phương và dân ở nơi khác đến xâm canh, chặt phá rừng nhưng không có biện pháp giải quyết triệt để; về diện tích, ranh giới của 128,18 ha đất rừng bị phá trong vụ án năm 2005 và việc lấn chiếm đất rừng từ năm 2005 đến nay Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa không xác định được vị trí, ranh giới nên tổ công tác của huyện không có cơ sở để xác định …
Ngoài những ý kiến được đưa ra để giải thích trong vụ việc người dân chặt phá rừng thông, lấn chiếm đất lâm nghiệp trồng hoa màu tại các tiểu khu 496, 499 và 501, thì phía UBND huyện Mang Yang còn đề xuất: Xin giữ nguyên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 50 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2003, trong đó có một phần nằm trên diện tích đất rừng theo quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Gia Lai;
Đồng thời tiến hành kiểm điểm, thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng; kỷ luật cảnh cáo đối với Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng.
Riêng các cá nhân là cán bộ công chức tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hiện đã chuyển công tác về tỉnh nên không đưa ra hình thức xử lý. Cách xử lý trong vụ người dân chặt, phá rừng thông và các cá nhân liên quan đang chờ quyết định cuối cùng của UBND tỉnh Gia Lai.
Để giải quyết dứt điểm tình trạng người dân chặt phá rừng, lấn chiếm đất trồng cây nông nghiệp và rừng thông nguyên liệu, ông Nguyễn Như Phi-Chủ tịch UBND huyện cho rằng: Với tiểu khu 501, nên phân cấp rõ ràng diện tích rừng về Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa bởi diện tích này chưa có chủ rừng. Rừng thông tại các tiểu khu trên địa bàn huyện sẽ tăng cường công tác tuyên truyền bảo vệ tài nguyên rừng, nếu người dân không chấp hành sẽ xử lý hành chính, xử lý hình sự đối với người vi phạm; đề xuất tỉnh nên tạo công ăn việc làm qua việc giao đất thu tiền.
Trong lúc các tiểu khu 496, 499 và 501 đang được điều tra để làm rõ các sai phạm của cá nhân, tổ chức thì tại một số nơi trên địa bàn huyện Mang Yang, Đak Pơ, thị xã An Khê vẫn đang diễn ra tình trạng phá rừng tại khu vực đồi núi, kể cả khu vực tại đèo Mang Yang. (Báo Gia Li 13/10) đầu trang(
Không thể để cái đói mãi đeo đuổi khi vào mùa giáp hạt, hơn 60 hộ dân làng Dip, xã Ia K’rêng, huyện Chư Păh, Gia Lai đã xâm lấn hàng chục ha rừng phòng hộ tại các tiểu khu thuộc lâm phần quản lý của xã Ya Tăng, huyện Sa Thầy, Kon Tum để làm nương rẫy.
Làng Díp thuộc xã Ia Krêng, huyện Chư Păh có gần 170 hộ dân và khoảng 800 khẩu từ bao đời nay sống dọc theo các suối Ia Blok, Ia Djrao, huyện Chư Păh xuôi dòng sông Sê San lấy việc đánh cá, trồng lúa rẫy, chăn nuôi để mưu sinh.
Hơn 10 năm trước, khi khởi công Thuỷ điện Sê San 3A, hàng trăm hộ đồng bào Jrai làng Díp phải từ bỏ làng đến khu tái định cư do Ban quản lý (BQL) DA Thuỷ điện Sê San 3A và chính quyền địa phương bố trí trong điều kiện “không còn quỹ đất để khai hoang”…
Mặc dù BQL DA Thuỷ điện Sê San 3A đã tái định canh, định cư, nhưng đồng bào vẫn gặp trở ngại khi huyện Chư Păh không còn quỹ đất để khai hoang, bố trí thêm. Vì vậy, mặc dù đã về nơi ở mới, nhưng các hộ đồng bào Jrai làng Díp chỉ được sản xuất trên một phần nương rẫy còn lại và tiếp nhận những chương trình hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi…
Cũng do đất bị thu hẹp, nương rẫy gặp phải địa hình đồi dốc, núi đá ngay tại khu ở mới nên sản xuất của dân gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình này, UBND huyện Chư Păh tiến hành khảo sát quỹ đất rừng thuộc BQL rừng phòng hộ Ia Ly nhằm tìm thêm đất sản xuất cho dân, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được quỹ đất phù hợp.
Làng Díp tái định cư như một khu phố với hơn 50 căn nhà xây dựng san sát nhau tạo một khu đô thị mới với tuyến đường rải nhựa chạy sát làng. Nhưng đối với người dân làng Díp bây giờ: Về những ngôi nhà mới là vui, nhưng nương rẫy đã bị lòng hồ thuỷ điện thu hẹp lại, họ lâm vào cảnh khó khăn, đói khát nhất là vào mùa giáp hạt.
Già làng Díp Rơchâm Jơk nói như thầm trách: Làng Dip đồng ý nhường đất xây công trình thuỷ điện nhưng rẫy không còn, người dân không biết làm gì cả. Nếu Yàng thương được mùa thì đủ ăn. Không thương thì cả làng cùng đói.
Trước cái đói thường xuyên đe doạ, hàng chục hộ dân làng Díp đã chọn giải pháp chẳng đặng đừng là xâm canh rừng phòng hộ tại các tiểu khu 642, 709 và 715… Xã Ya Tăng, huyện Sa Thầy, Kon Tum.
Việc phá rừng làm rẫy của dân làng Díp rộ lên hơn 3 năm trước. Để ổn định tình hình, UBND huyện Chư Pah đang thực hiện phương án cấp đất sản xuất cho dân làng Díp bằng cách chuyển đổi 175 ha đất lâm nghiệp của BQL rừng phòng hộ Ya Ly cấp cho dân. Trong khi việc chưa được giải quyết rốt ráo thì hàng chục hộ dân làng Dip không thể tiếp tục sống trong cái đói triền miên nên vẫn lén lút xâm canh.
Trong khi đó, từ 2010, sau khi hoàn thành Thủy điện Se San 4, dãy nhà cấp 4 phục vụ công trình được giao lại cho UBND xã Ia O, huyện Ia Grai quản lý. Khi chính quyền chưa biết sử dụng ra sao, thì dãy nhà này đã trở thành nơi trú ẩn của nhiều người. Họ là những di dân tự do đến từ Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai để khai thác thủy sản, thậm chí, còn tham gia vận chuyển, tiêu thụ gỗ lậu từ Sa Thầy, Kon Tum sang huyện Ia Grai.
Theo Phó trưởng Công an xã Ia, O Rah Mah Bưh, sau khi được vận động, một số hộ bỏ về quê, thời gian sau tiếp tục quay lại. Do là xã biên giới, UBND xã Ia O và lực lượng biên phòng xác định nạn di dân tự do ồ ạt là vấn đề nghiêm trọng gây mất an ninh trật tự vùng biên nên có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng chưa thuyên giảm. (Thanh Tra 14/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Thông điệp này của các nhà khoa học chuyển đi từ hội thảo "Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn lần thứ V” diễn ra giữa tuần này tại TP.Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), khẩn thiết cảnh báo các cơ quan quản lý, các cộng đồng dân cư ở địa phương và bản địa hãy bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp - một kiểu rừng đặc trưng chỉ có ở Đông Nam Á.
Nơi có diện tích rừng khộp lớn nhất và đặc trưng nhất nước ta là Tây Nguyên xanh ngút ngàn, hùng vĩ - khoảng 500 ngàn ha rừng khộp trải từ nam cao nguyên Pleiku đến Tây Ninh. Trong khi đi tìm cách thức tối ưu để Tây Nguyên phát triển bền vững dựa trên các trụ cột: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, môi trường - sinh thái, không chỉ cần một sự cải tổ mạnh mẽ các giải pháp xóa đói nghèo mà cần hơn, một cơ chế lắng nghe nghiêm túc và tôn trọng ý kiến các nhà khoa học.
Dưới tán lá rừng khộp chiếm ưu thế là cây họ dầu lá rộng và cây lấy gỗ, là các loại cây song, mây, tre, nứa... và hơn 150 loài cây cho lá và quả làm thức ăn, chưa kể 64 loài cây dùng làm dược liệu - địa liền, thiên niên kiện, hà thủ ô, sâm bố chính, mã tiền...
Trong 51 loài động vật quý hiếm ở Đông Dương thì tới 38 loài hiện diện ở rừng khộp Tây Nguyên. Mùa khô rừng khộp trơ trụi lá khiến ai lần đầu đến thăm cũng ngỡ khu rừng chết. Chỉ cần một cơn mưa ghé qua, cả khu rừng bừng lên chồi xanh ngút ngàn và suốt mùa mưa, rừng khộp tươi tốt tràn sức sống mãnh liệt. Vườn quốc gia Yok Đôn ở Buôn Đôn (Đắk Lắk) là nơi duy nhất ở Việt Nam bảo tồn loại rừng đặc biệt này.
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VN, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học - Bộ TN&MT đồng tổ chức hội thảo này với sự tài trợ của Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF), Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, có đại diện nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tham dự, để các nhà khoa học, nhà quản lý cùng sẻ chia những thách thức trong việc bảo vệ, bảo tồn rừng khộp trước áp lực phát triển kinh tế - xã hội.
Một thực trạng đáng báo động, là rừng khộp bị coi là kém hiệu quả kinh tế, đang bị phá bỏ không thương tiếc. Hàng trăm hecta đã và đang bị chuyển sang trồng cao su, cà phê... "Mất hệ sinh thái rừng khộp, kiểu rừng thưa lá rộng, sẽ không còn là Tây Nguyên”, Phó Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk Đinh Văn Khiết lo ngại.
Các nhà khoa học cũng lo rằng có thể có những địa phương hiểu rõ các giá trị của rừng khộp, về kinh tế và sinh học, sinh thái, nhưng vẫn cố tình bật đèn xanh cho doanh nghiệp chặt hạ rừng khộp "nghèo” để tận thu gỗ, có thể được tới 9,5 mét khối gỗ mỗi ha. Người nông dân thiếu thông tin nên không biết rừng khộp chính là "rừng vàng”, cứ luẩn quẩn trong điệp khúc "trồng - chặt”, trở thành nạn nhân của những cuộc thử nghiệm trồng mới ồ ạt.
Như đã nói ở trên, trong tình hình hiện nay, phải dựa vào các trụ cột để phát triển bền vững, không thể bỏ qua môi trường - sinh thái . Vì vậy giới khoa học nhấn mạnh, Nhà nước cần cho "đóng cửa” rừng khộp để cứu lấy hệ sinh thái rừng này. Quy hoạch bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp cần sớm có trong quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cả nước. Lồng ghép bảo tồn rừng khộp cũng phải có trong chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội các địa phương Tây Nguyên.
Một số trạm cứu hộ động vật ở Đắk Lắk, Gia Lai cần được xây dựng - các nhà khoa học đề nghị. Thí điểm mô hình chăn nuôi động vật hoang dã dưới tán rừng, khu nhân giống các loài cây quý hiếm bản địa phục vụ nhân rộng ở địa phương…
Đã làm phải cương quyết chứ cứ căn cứ đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu đặc thù của đất rừng khộp khảo sát tại VN và Campuchia, khẳng định hầu hết đất rừng khộp từ "giàu” đến "nghèo” đều có khả năng thích hợp trồng cao su, rồi phá khộp tràn lan như hiện nay thì chẳng mấy chốc, các nguồn lợi và những đặc thù có một không hai của rừng khộp không còn. Cũng đừng thần tượng hóa bất kỳ loại cây "giá trị cao” nào khi chưa đủ chứng cứ khoa học và chưa trồng thử nghiệm.
Với thực tế hơn mười năm qua, sau khi phá diện tích rừng nguyên sinh vốn là rừng khộp, rừng nghèo để trồng mới hàng trăm ha ca cao, hàng chục ngàn ha điều ở Tây Nguyên, thất bại khá nặng nề, không thể một sớm một chiều kỳ vọng rừng khộp ở đây được đóng cửa, cứu khẩn cấp, bảo tồn ngay. Nhưng phải nhìn ra từ bây giờ hậu quả phá rừng khộp đang kéo theo sự biến đổi môi trường sinh thái nghiêm trọng, đừng tiếp tục đi vào "vết xe đổ”. Mọi lợi nhuận thu về tưởng "đâu vào đó” nhưng thực chất, hệ sinh thái rừng khộp ở Tây Nguyên đang bị phá vỡ, đa dạng sinh học dãy Trường Sơn xác xơ.
Một sai lầm hết sức nguy hiểm của phát triển thiếu bền vững, đặc biệt cây trồng phát triển quy mô lớn, là không dựa trên căn cứ khoa học, đặc biệt quy hoạch sử dụng đất. Hàng trăm ngàn ha rừng khộp ở Tây Nguyên đã bị chặt phá khiến những năm gần đây, lũ lụt ở vùng này đã xảy ra thường xuyên hơn và có phần hung dữ hơn. Chúng ta phải gánh chịu hậu quả rất lớn, trong nhiều năm.
Cần tiếp tục cảnh báo các cơ quan quản lý, các cộng đồng dân cư ở địa phương và bản địa, rằng "hết rừng khộp là hết Tây Nguyên”, vì nhiều người vẫn chưa thực sự học được gì từ những thất bại vẫn còn nóng hổi. Người dân không thể bị đe dọa đói kém ngay trên cao nguyên màu mỡ tươi tốt của mình. (Đại Đoàn Kết 12/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Đàn cá tầm trong vùng biển Caspian đang bị đe dọa tuyệt chủng. Vài năm trước đây, Nga đã nêu gương cho các nước vùng Caspian khi áp đặt lệnh cấm đánh bắt công nghiệp với cá tầm trong vùng biển Caspian.
Rồi cả đến Kazakhstan cũng lên tiếng nói về sự cần thiết thi hành lệnh cấm đánh bắt cá tầm Caspian một cách tổng thể, thế nhưng nhiều năm nay Nga, Kazakhstan, Azerbaidjan, Turkmenistan và Iran chưa thể cùng thống nhất ban hành lệnh cấm đánh bắt cá tầm ở vùng nước này.
Trong khi đó, theo đánh giá của các chuyên gia trong hơn 10 năm qua số lượng cá tầm trong vùng biển Caspian đã giảm bớt 30 - 40 lần. Trong điều kiện đó, lệnh cấm 5 năm đã chẳng còn là phương thuốc vạn năng hiệu nghiệm, bởi vì để khôi phục mật độ các loại cá, chẳng hạn như cá tầm trắng Beluga thì khung thời gian của lệnh cấm cần có hạn ít nhất là một thập niên. (Sài Gòn Giải Phóng 13/10)đầu trang(
Ngày 11/10, một nhân viên dày dạn kinh nghiệm tại vườn thú bang Missouri, Mỹ đã bị một con voi tên là Patience vốn nổi tiếng với những hành vi hung hăng giẫm chết.
Tai nạn xảy ra khi ông John Bradford, 62 tuổi, người trông coi lũ voi tại Vườn thú Dickerson ở Sprinfield đang cùng với hai đồng nghiệp cho voi ăn thì con Patience nặng 2,7 tấn đột nhiên nổi giận và tấn công khiến ông bị thương nghiêm trọng và qua đời ngay sau đó.
Các nhân viên vườn thú vẫn không hiểu tại sao con voi được nuôi tại đây từ năm 1990 này lại đột nhiên tấn công ông Bradford.
Bà Cora Scott, người phát ngôn của thành phố Springfield nói: “Điều này chưa từng xảy ra trước đây. Chúng tôi đã cử các nhân viên tư vấn đến động viên các nhân viên khác trong vườn thú.”
Giám đốc vườn thú Mike Crocker cho biết: “Hôm nay là một ngày rất buồn cho cả vườn thú cũng như toàn thể cộng đồng ở đây.”
Ông Bradford đã làm việc ở vườn thú này suốt 30 năm, và là người hàng ngày trực tiếp chăm sóc voi Patience. Sau tai nạn này, vườn thú cho biết họ sẽ không loại bỏ con voi này.
Gần đây, vườn thú đã phải kết liễu sự sống nhân đạo đối với con voi đầu đàn mang tên Pinky sau khi con voi này mắc bệnh thận quá nặng.
Vườn thú cho biết các nhân viên của họ đã theo dõi sát sao các hành vi của Patience và một con voi cái khác sau khi voi đầu đàn Pinky chết. Hiện vườn thú vẫn hoạt động bình thường, tuy nhiên khu trưng bày voi đã bị đóng cửa. (Khám Phá 13/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||