|
Ngày 16 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thực hiện Nghị định số 99/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đến nay trên địa bàn tỉnh Sơn La còn 18 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ chưa nộp tiền theo quy định này, đang gây khó khăn trong việc chi trả tiền bảo vệ rừng cho người dân.
Theo quy hoạch, trên địa bàn tỉnh Sơn La có 57 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất khoảng 3.800 MW (trong đó Thủy điện Sơn La có công suất lớn nhất với 2.400 MW). Ðến nay, đã có 24 nhà máy đi vào hoạt động, hằng năm mang lại nguồn thu lớn, góp phần ổn định việc điều tiết tiêu thụ điện và phát triển kinh tế-xã hội địa phương.
Nhằm duy trì bảo vệ môi trường rừng, phát triển thủy điện gắn với bảo vệ rừng một cách bền vững, ngày 10-4-2008, Thủ tướng có Quyết định số 380/QÐ-TTg thí điểm thực hiện chính sách chi trả môi trường rừng đối với các thủy điện vừa và nhỏ. Theo đó, hằng năm các doanh nghiệp thủy điện này có nghĩa vụ ký hợp đồng ủy thác với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng các tỉnh, nộp tiền chi trả môi trường rừng để chi trả cho các chủ rừng và người dân thực hiện bảo vệ rừng. Số tiền phụ thu được tính trên cơ sở sản lượng điện từng nhà máy, với mức bình quân 20 đồng/kW giờ.
Sau khi quyết định của Chính phủ có hiệu lực, trong hai năm 2009-2010 các Nhà máy Thủy điện Sơn La, Hòa Bình đã nghiêm túc thực hiện thí điểm nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Riêng Nhà máy Thủy điện Suối Sập (do Công ty TNHH xây dựng Trường Thành làm chủ đầu tư) mới nộp 200 triệu đồng/1,7 tỷ đồng.
Ngày 24-9-2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NÐ-CP quy định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Số tiền Nhà máy Thủy điện Suối Sập phải thực hiện nghĩa vụ trong ba năm từ 2011 đến 2013 tăng lên 2,672 tỷ đồng, nhưng doanh nghiệp này chỉ nộp thêm 200 triệu đồng. Như vậy, từ khi thực hiện chính sách chi trả môi trường rừng, số tiền doanh nghiệp này nợ đọng lên đến 4,172 tỷ đồng.
Như vậy, cùng với Nhà máy Thủy điện Suối Sập, hiện nay trên địa bàn tỉnh Sơn La còn 17 nhà máy thủy điện chưa thực hiện quy định của Chính phủ. Trong đó, có sáu đơn vị đã ký hợp đồng ủy thác với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La, nhưng chưa nộp tiền, gồm: Thủy điện Suối Sập 2, Nậm Pia, Nậm Công 1, Nậm Công 2, Nậm Công 3 và Nậm Hồng 1.
Ðồng thời, còn 12 nhà máy thủy điện nữa chưa thực hiện ký hợp đồng ủy thác và chưa nộp tiền, với tổng số tiền các đơn vị này phải nộp đang nợ đọng lên đến con số hơn 35,626 tỷ đồng. Ngày 30-9-2013, UBND tỉnh Sơn La đã ban hành Công văn số 2526 yêu cầu các đơn vị này thực hiện nghĩa vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó các đơn vị này phải có nghĩa vụ ký hợp đồng ủy thác và nộp tiền trước ngày 10-10-2013, nhưng đến nay các đơn vị nêu trên vẫn chưa có động tĩnh gì!
Nguyên nhân của tình trạng nêu trên một phần do trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương chưa tốt. Mặt khác, do công tác quy định, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 99/2010/NÐ-CP của Chính phủ giữa liên Bộ Tài chính và Công thương chưa cụ thể, chưa áp dụng các chế tài đủ mạnh buộc các doanh nghiệp này phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định của Nhà nước.
Ðể thực hiện nghiêm quy định trên, trách nhiệm của Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) cần có hướng dẫn, tính toán cụ thể vào giá thành mức thu tiền mua bán điện, quy định với các doanh nghiệp thủy điện cung ứng điện có nghĩa vụ nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng như thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Nếu đơn vị nào không thực hiện, có thể phải thực hiện ngừng việc mua điện. (Nhân Dân 16/10) đầu trang(
Thời gian qua, từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, người dân sống ở lưu vực lòng hồ các thủy điện thuộc huyện Đông Giang, Phước Sơn được nhận giao khoán bảo vệ rừng. Nguồn kinh phí này đã góp phần làm tăng hiệu quả giữ rừng của người dân địa phương.
Ông Hồ Văn Nghĩa (xã Phước Công, huyện Phước Sơn) đại diện cho 12 hộ nhận khoán bảo vệ gần 210ha rừng nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Ngày được giao diện tích giữ rừng, nhóm hộ ông Nghĩa phấn khởi lắm. Một buổi lễ ăn mừng nhỏ cũng diễn ra tại làng, nội dung xoay quanh là bàn thảo các phương án, cách thức tuần tra, canh giữ rừng hiệu quả. Mỗi người một nhiệm vụ, họ tự phân công nhau lịch trực.
Ông Nghĩa cho biết: “Từ ngày Nhà nước giao rừng, đồng bào mình vui lắm. Đầu tiên nhóm hộ chúng tôi khoanh phạm vi ranh giới, diện tích do mình quản lý, bảo vệ. Rừng trải dài mênh mông, nhưng chúng tôi tự cắt ra từng khu vực cho cá nhân tự giữ. Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm trong lúc trực của mình. Tuy nhiên, nếu phát hiện lâm tặc phá rừng, nhóm hộ có trách nhiệm đồng loạt kéo đến xử lý ngay”.
Theo thống kê của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (chủ rừng), đến nay đã giao khoán cho 497 hộ chăm sóc, bảo vệ 8.055ha rừng, mỗi nhóm hộ đông nhất với 12 hộ, ít nhất 6 hộ dân. Trong khi đó, tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đắc Mi (Phước Sơn), đến nay đã giao rừng cho 13 nhóm hộ gồm 143 hộ với diện tích hơn 4.188ha.
Để đi đến thống nhất giao khoán cho nhóm hộ, trước đó Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng (đơn vị ủy thác nhận tiền từ các đối tượng chi trả DVMTR) phối hợp với chính quyền, các bộ phận liên quan khảo sát, rà soát lưu vực và lập danh sách đối tượng được hưởng lợi. Chủ rừng xác định vị trí và chụp ảnh cột mốc cùng chủ hộ nhận khoán, rồi hai bên tiến hành đếm từng gốc, hiện trạng rừng ghi vào biên bản giao nhận khoán.
Tại xã Ma Cooih (huyện Đông Giang) bình quân mỗi hộ nhận bảo vệ 20ha rừng. Mỗi hộ nhận hơn 5,4 triệu đồng/năm tiền công giữ rừng. Hằng tháng, bà con tuần tra, canh giữ ít nhất 3 lần để ngăn chặn tình trạng xâm hại rừng trái phép. Nhiều người dân bảo, trong diện tích được giao bảo vệ, thường ngày họ còn vào rừng khai thác lâm sản phụ như lấy mật ong, các loại nấm, khai thác măng, cây mây… Có thêm tiền Nhà nước chi trả nhưng sinh kế vẫn không bị ảnh hưởng.
Ông A Lăng Trách - Bí thư Đảng ủy xã Ma Cooih nói: “Quyền lợi của người dân được đảm bảo, những điều khoản trong hợp đồng chặt chẽ, vì thế họ rất sợ phá rừng lấy đất sản xuất. Theo nguyện vọng của bà con, Nhà nước cần hỗ trợ cho họ trồng thêm các loại cây dược liệu dưới tán rừng giao khoán để cải thiện thu nhập, làm giàu hệ sinh thái rừng...”.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng đã ký kết hợp đồng ủy thác với 16 nhà máy thủy điện và 3 đơn vị sản xuất nước sạch với số tiền hơn 53 tỷ đồng. Đáng nói, đơn vị này đã tham mưu cho UBND tỉnh mời tư vấn có năng lực xây dựng các đề án chi trả DVMTR để có cơ sở thực hiện giao khoán rừng và chi trả tiền đến người giữ rừng. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Đức – Giám đốc Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng, khó khăn nhất hiện nay là vẫn còn một số doanh nghiệp cố tình phớt lờ nghĩa vụ chi trả DVMTR dẫn đến bị động về nguồn thu.
Tính đến hết tháng 9.2013, một số nhà máy thủy điện, nước sạch còn nợ hơn 4 tỷ đồng tiền phí DVMTR của năm 2011, 2012 và quý 1 và 2 năm 2013. Trong đó, Công ty CP Sông Ba (Nhà máy thủy điện Khe Diên) nợ quý 1 và 2 năm 2013 hơn 170 triệu đồng, Công ty CP Thủy điện GERUCO Sông Kôn (Nhà máy thủy điện Sông Kôn 2) nợ quý 1 và 2 năm 2013 gần 2 tỷ đồng,
Công ty CP Tư vấn xây dựng điện 1 (Nhà máy thủy điện Sông Bung 5) nợ bản kê khai nộp tiền và chưa thanh toán tiền DVMTR quý 1 và 2 năm 2013, Công ty CP Cấp thoát nước Quảng Nam nợ tiền DVMTR năm 2012 và quý 2 năm 2013 hơn 239 triệu đồng, Công ty CP Hoàng Anh Quảng Nam nợ các năm 2011, 2012 và quý 1 và 2 năm 2013 hơn 75 triệu đồng… (Báo Quảng Nam 16/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Vẫn là một bài toán quá khó trong việc tìm cách bảo vệ các khu rừng đặc dụng tránh khỏi số phận bị xẻ thịt một cách nhức nhối. Chỉ với lực lượng kiểm lâm quá mỏng như hiện nay sẽ quản không xuể trước sự hung hãn của lâm tặc. Những cánh rừng đặc dụng rồi sẽ dần biến mất nếu như những bất cập trong cơ chế chậm được giải quyết.
Chất lượng rừng đặc dụng nhiều nơi hiện nay suy giảm nghiêm trọng. Việc gắn trách nhiệm và phối hợp giữa các bên, trong đó có sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương trở thành giải pháp hiệu quả để bảo vệ rừng đặc dụng. Vườn quốc gia Bạch Mã đang triển khai dự án cho phép người dân đăng ký vào rừng tận dụng khai thác các sản phẩm không phải là gỗ theo quy định như măng, nấm, củi khô một cách hợp lý. Người dân sẽ ký cam kết và cùng chung tay bảo vệ các nguồn lợi từ rưng. Dự án đang mang lại hiệu quả tích cực khi chính người dân đã phát hiện nhiều vụ lâm tăc vào khai thác trái phép.
Ông Đặng Ngọc Quốc Hưng, cán bộ vườn quốc gia Bạch Mã chia sẻ: Nhiều khu bảo tồn, vườn quốc gia tuyệt đối cấm người dân vào khai thác. Tuy nhiên, không thể đủ nguồn lực để quản lý. Thực tế từ ngàn đời nay họ sống ở đó, khai thác sản vật từ rừng, không có lý nào để ngăn cấm họ. Và cũng chỉ có sự tham gia quản lý của người dân, của công đồng địa phương khi họ trực tiếp bảo vệ chính lợi ích của mình mới là giải pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ rừn.
Ngọc Sơn - Hổ Luông, tỉnh Hòa Bình là một khu bảo tồn mới được thành lập từ năm 2004, tới nay, khu bảo tồn này có diện tích gần 16.000 ha thuộc địa bàn 7 xã của 2 huyện Tân Lạc và Lạc Sơn. Đây cũng từng là điểm nóng về nạn chặt phá rừng. Hằng năm, Ban quản lý thu giữ tới 60 - 70 chiếc xe máy chuyên chở gỗ. Tuy nhiên, đó chỉ là con số nhỏ thu giữ được, trong khi nạn chặt phá trái phép này diễn ra từ nhiều năm.
Anh Bùi Văn Bình, trưởng nhóm tự quản lâm nghiệp xóm Khú, Khu bảo tôn thiên nhiên Ngọc Sơn - Hổ Luông cho biết, xóm có 64 hộ, chia làm bốn tổ, luân phiên cùng chính quyền và Ban quản lý bảo vệ rừng. Người dân địa phương được phép vào rừng khai thác các sản vật theo quy định và khi xuất hiện người lạ, nếu báo động với các tổ để tuần tra, kiểm tra.
Anh Bình Tâm sự: Trước kia, bốn mặt chung quanh đều là rừng giá với các loại gỗ nghiến, gỗ trai quý hiếm. Từ những năm 2000, nạn chặt phá rừng quá mức, những cánh rừng tan hoang, nhìn đau xót lắm. Khi tham quan vườn quốc gia Xuân Sơn, thấy người ta giữa được gỗ, giữ được rừng và hưởng lợi rất nhiều từ rừng, thèm lắm, chúng tôi đã về họp với bà con, cùng bàn cách để giữ bằng được rừng".
Những cánh rừng ở Ngọc Sơn - Ngổ Luông bây giờ đã bắt đầu hồi sinh. Chia sẻ vê thành công này, ông Bùi Bình Yên - Giám đốc Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông chia sẻ: Nếu chỉ có kiểm lâm không thôi thì không thể giữ được rừng. Những thời điểm căng thẳng, kiểm lâm phải đổ cả máu. Từ khi có sự tham gia của người dân, giúp sức của cộng đồng, rất nhiều vụ vi phạm lâm luật đã được ngăn chặn". (Thời Nay 14/10) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Phong, Phó Chủ tịch tỉnh Trà Vinh vừa ký ban hành công văn chấp thuận và chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp với đơn vị xúc tiến lập dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và dự án đầu tư khu bảo tồn sinh thái rừng ngập mặn Long Khánh, giai đoạn 2014 - 2018.
Tổng kinh phí đầu tư là hơn 122,8 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương 89%, ngân sách địa phương 11%.
Theo đó, đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn 3 huyện Châu Thành, Cầu Ngang và Duyên Hải 37.211 ha; trồng mới 1.786 ha; chăm sóc 3.151 ha; xây dựng 1 vườn ươm bán ngập; xây dựng mô hình trồng cây trên vùng ngập úng; phát triển du lịch sin thái; đầu tư khu bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn Long Khánh… (Nông Nghiệp Việt Nam 16/10) đầu trang(
9 tháng đầu năm 2013, công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bắc Mê đã đạt được những kết quả tích cực.
Đối với công công tác quản lý bảo vệ rừng, hơn 2100 lượt người đã tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng. Điều tra sâu bệnh hại rừng được 10 ô tiêu chuẩn, đang tổng hợp số liệu các xã thị trấn, theo dõi diến biến tài nguyên rừng 13/14 xã, thị trấn. Tổ chức ký cam kết sử dụng máy cưa xăng được 146 máy. Cùng với đó là kiệm toàn ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng gồm 14 ban và thành lập các tổ xung kích quản lý bảo vệ rừng – phòng chống cháy rừng tại các xã với 13 tổ và 138 tổ đội phòng chống cháy rừng ở các thôn bản.
Về công tác thanh tra – pháp chế, trong 9 tháng đầu năm 2013 hạt kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 33 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó có 29 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, 01 vụ vi phạm quy định về phòng chống cháy rừng, diện tích thiệt hại 0,3 ha rừng trồng. Mua, vận chuyển, cát giữ động vật hoang dã trái phép 02 vụ, tịch thu trên 10kg động vật hoang dã (Rắn hổ mang phì).
Khai thác lâm sản trái phép 01 vụ và đã khởi tố vụ án chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Lâm sản tịch thu 9,87 m 3 gỗ xẻ và gỗ tròn các loại. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính và bán tang vật tịch thu nộp ngân sách là trên 193 triệu đồng. Về công tác quản lý khai thác lâm sản, đơn vị luôn thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ trong công công tác tham mưu cũng như kiểm tra giám sát khai thác, kinh doanh vận chuyển lâm sản của các tổ chức cá nhân.
Ông Hoàng Hồng Trường Hạt trưởng hạt kiểm lâm Bắc Mê cho biết: Số vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng so với cùng kỳ năm ngoái đã giảm và mức độ vi phạm của các vụ không lớn. Đấy có thể nói là một kết quả đáng mừng đối với nghành kiểm lâm.
Để có được kết quả như vậy là do có sự quan tâm vào cuộc quyết liệt của cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc xử lý các vụ vi phạm lớn về khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, điển hình như ở địa bàn các xã Minh Sơn, Minh Ngọc, các đối tượng vị phạm đã được xử lý nhanh và nghiêm theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy đã có tính răn đe rất lớn đối với những người có toan tính khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép nhằm mưu cầu chuộc lợi cá nhân… (Đài PT - TH Hà Giang 15/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 15/10, tại hội thảo khu vực về dự án “Lồng ghép phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu vào quá trình xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học” tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến, cho biết trong thời gian tới, Việt Nam cần phải lập bản đồ các hệ sinh thái, sinh cảnh chính; đánh giá mức độ độ tổn thương của các hệ sinh thái/sinh cảnh và các vùng giàu đa dạng sinh học để có biện pháp can thiệp kịp thời.
Theo ông Tuyến, dù là khu vực có hệ sinh thái, loài, nguồn gen phong phú, nhưng hiện nay, việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên sống; ô nhiễm môi trường từ các hoạt động nông, lâm nghiệp; dân số gia tăng… là nguyên nhân khiến đa dạng sinh học ở Việt Nam bị suy giảm nhanh. Ngoài ra, biến đổi khí hậu với những hệ quả như: lũ lụt, hạn hán, cháy rừng…cũng đe doạ môi trường sống của con người và các loài. (Sài Gòn Tiếp Thị 16/10; VietnamPlus.vn 15/10; Kinh Tế&Đô Thị 16/10; Tài Nguyên&Môi Trường 16/10) đầu trang(
Một thực tế được chỉ ra là các dự án thủy điện luôn chiếm một diện tích rừng rất lớn. Theo Bộ NN&PTNT, từ năm 2006 đến năm 2012 có khoảng 19.800 ha rừng được chuyển đổi mục đích để thực hiện 160 dự án thủy điện thuộc 29 tỉnh, thành. Nhưng tới nay, diện tích rừng trồng thay thế chỉ đạt 735 ha (3,7% tổng diện tích theo yêu cầu).
Còn theo báo cáo của Bộ Công Thương, tính đến tháng 5-2013 mới chỉ có hơn 2% diện tích rừng được trồng thay thế trong tổng số 50.900 ha đất rừng đã được sử dụng cho các dự án thủy điện. Trong khi đó, chỉ riêng 37 dự án thủy điện công suất lớn hơn 60 MW của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã chiếm gần 37.000 ha đất rừng.
Kết quả giám sát của Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội chỉ rõ nhiều địa phương không có quỹ đất quy hoạch hoặc đất không phù hợp để trồng rừng thay thế. Tại một số dự án thủy điện, có đối tượng đã lợi dụng khai quang rừng với quy mô lớn hơn nhiều so với yêu cầu; lợi dụng hạ tầng công trình thủy điện để khai thác khoáng sản trái phép!
“Có một lỗ hổng trong quy trình quản lý nên việc quản lý, cấp phép và giám sát môi trường chưa chặt chẽ dẫn đến các tác động ngoài mong muốn như lũ tăng bất thường, động đất kích thích, vỡ đập, phá rừng, biến đổi sinh thái… Đó là kết cục tất yếu của quá trình hơn 10 năm khai thác thủy điện nhưng các chế tài chưa phù hợp với phong trào “nhà nhà làm thủy điện, người người làm thủy điện” - báo cáo giám sát nêu rõ.
Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, không bất ngờ với những đánh giá trên. Theo ông, các dự án thủy điện vừa và nhỏ đều do tư nhân làm nên họ chỉ chú tâm vào hiệu quả kinh tế hơn là bảo vệ môi trường sinh thái. Mà một trong những “hiệu quả kinh tế” thu được là phá rừng lấy gỗ!
“Trong thời gian dài nhiều tỉnh, thành ồ ạt làm thủy điện không chỉ vì nhu cầu cung cấp điện ở địa phương mà xa hơn là chủ đầu tư sẽ được hưởng lợi từ khai thác tài nguyên rừng, đặc biệt là gỗ. Không phải tự nhiên mà đa phần các địa điểm xây dựng thủy điện thường là rừng già, nhiều cây gỗ quý” - ông Ngãi nói thẳng.
Theo ông Ngãi, lẽ ra số dự án thủy điện bị loại bỏ cần nhiều hơn nữa. Bởi phần lớn trong số 424 dự án bị loại bỏ đều có công suất nhỏ, do tư nhân làm chủ đầu tư nên không tác động đến nguồn cung cấp điện của cả nước. Thay vào đó, hơn 50 nhà máy nhiệt điện công suất 36.000 MW và các nhà máy điện nguyên tử sẽ bảo đảm đủ cung cấp điện cho cả nước.
Theo TS Đào Trọng Tứ, chuyên gia mạng lưới sông ngòi Việt Nam, phát triển thủy điện phải gắn với bền vững, bảo đảm môi trường, hướng đến lợi ích của người dân. Khi thực hiện cần phải có quy hoạch xây dựng chi tiết, toàn diện, dù ở mức độ định tính (nhất là với các dự án đặt ở vị trí nhạy cảm). “Khi tính toán, phải biết được ngay là nên loại bỏ hay triển khai dự án chứ đừng để vẽ ra rồi mới bỏ thì tốn kém cho các bên” - ông Tứ đánh giá.
Nhận định của ông Tứ càng được minh chứng rõ trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban KHCN&MT. Theo đó, chất lượng lập quy hoạch thủy điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ hiện rất hạn chế. Không ít dự án sau đó đã bị loại khỏi quy hoạch vì hiệu quả đầu tư thấp, gây tác động xấu đến môi trường và kinh tế xã hội.
Theo ông Tứ, trước đây nguồn cung điện bị thiếu hụt nên phát triển thủy điện được xem là biện pháp tối ưu dựa trên lợi thế của nước ta về địa hình, nguồn nước, sông ngòi… Tuy nhiên, dần dần thủy điện được xây dựng quá nhiều chỉ vì mục đích kinh tế. Bình quân 1 MW tiêu tốn 2-10 ha đất rừng, tùy vào quy mô công trình. Nếu cứ ồ ạt phát triển thủy điện, chẳng bao lâu rừng sẽ biến mất.
“Trong các chuyến khảo sát các dự án thủy điện, tôi thấy suy nghĩ của địa phương và chủ đầu tư rất đơn giản về thủy điện. Khi làm họ chỉ nghĩ dự án sẽ đóng góp bao nhiêu ngân sách cho tỉnh mà rất thờ ơ khi đề cập đến môi trường, đời sống người dân. Phát triển thủy điện được xem như một kênh đầu tư đem lại lợi ích lớn cho chủ đầu tư thông qua việc phát hành cổ phiếu…” - ông Tứ nêu thực tế. (Pháp Luật TPHCM 16/10) đầu trang(
7 năm tham gia hội đồng thẩm định hàng trăm dự án chặt rừng tự nhiên nghèo để trồng caosu, GS-TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng: cho rằng sẽ cực đoan nếu khuyến cáo nông dân trồng cao su ở Bắc Trung Bộ. Qua đó, ông đề nghị cách làm khoa học hơn.
GS Nguyễn Ngọc Lung cho biết: Tôi đã cùng tham gia thời kỳ khảo nghiệm trồng caosu ở Quảng Bình, Nghệ An, Phú Thọ... từ những năm 1960 - 1965. Kết quả là không khả quan: Nhiều nơi cho lượng mủ rất thấp, chỉ đủ hòa vốn. Có nhiều lý do, trong đó ngoài lý do không chọn lọc giống, nhiều vùng đất tại đây chứng tỏ lập địa không thích hợp để trồng caosu. Tuy nhiên, do thời điểm đó caosu chưa có thị trường xuất khẩu nên không thể tính toán lỗ hay lãi, chỉ đơn thuần khảo nghiệm mật độ sinh trưởng, lượng mủ...
Đây chính là thiếu sót lớn nhất trong điều kiện khảo nghiệm. Kết quả chúng tôi đưa ra, vì thế chỉ mang tính tham khảo cho bà con lúc đó.
Theo ông Lung: Không chỉ ở Bắc Trung Bộ, caosu đã được trồng thí điểm nhiều nơi, trải dọc từ miền Trung ra tới Phú Thọ, Sơn La, Hà Giang..., có nơi sinh trưởng tốt hoặc bình thường và nhiều nơi thất bại. Khuyết điểm lớn nhất của ta là trồng caosu tràn lan mà không có bất cứ sự thí nghiệm nào đủ lớn, đủ thời gian để đánh giá hiệu quả kinh tế trước khi quyết định đầu tư lớn.
Tập đoàn Công nghiệp Caosu VN năm 2009 đưa caosu lên Tây Bắc trồng hàng loạt, nhưng chưa trả lời được câu hỏi: Liệu caosu trồng ở Tây Bắc có cho mủ không, sản lượng và chất lượng mủ có cho phép duy trì khi thời giá đang giảm mạnh? BTB cũng vậy, chưa hề có kết quả công bố nào của một viện nghiên cứu hoặc đơn vị thử nghiệm. Việt Nam không còn đói nghèo đến mức phải làm kinh tế bằng bất cứ giá nào.
Về lý do tại sao cao su vẫn trồng tràn lan ở Bắc Trung Bộ, ông Lung lý giải: Có hai lý do: Thứ nhất là trồng hú họa; may thì được, chẳng may thì thôi. Có một số chỗ tốt, cho mủ và bán được lãi, thị trường TQ lại đang rất thiếu nên có thể có bao nhiêu trồng bấy nhiêu. Khi giá caosu lên, cả doanh nghiệp lẫn người dân đều ''hoa mắt'', cứ nghĩ rằng đó là thời cơ, dân có thể giàu lên từ caosu.
Trồng caosu trở thành một đợt phát động như là cây xóa đói giảm nghèo cho dân, bất luận có nơi trồng được, có nơi không. Tất cả đều xuất phát từ phong trào, vì lợi ích kinh tế trước mắt cứ ồ ạt trồng mà không hề có quy hoạch tính toán gì, kể cả phá rừng tự nhiên, trong khi toàn thế giới đang bảo vệ để hạn chế biến đổi khí hậu.
Cũng theo ông Lung: Sẽ rất cực đoan nếu nói rằng toàn bộ Bắc Trung Bộ không nên trồng caosu. Mặc dù là rốn bão, nhưng sẽ có nhiều khu vực hạn chế được tối đa sức gió, như những thung lũng giữa các vùng núi, đồi... Hơn nữa, do người dân chưa trồng caosu đúng quy trình nên đã không hạn chế được thiệt hại khi bão vào. Trồng caosu ngoài việc chia lô, đường cụ thể để cản các dòng chảy xói mòn thì mỗi khu vực đều phải trồng cây vành đai chắn gió. Các tỉnh chỉ đạo quyết liệt trồng càng nhiều càng tốt, dẫn đến phá vỡ hết mọi quy hoạch và rủi ro càng nhân cao.
Nếu muốn trồng lại caosu ở Bắc Trung Bộ, chắc chắn phải làm quy hoạch trước, phải vẽ lại bản đồ theo các mức ưu tiên, đặc biệt phải tham vấn các cơ quan chuyên ngành caosu. Phải chi tiết hóa quy hoạch, vùng nào trồng caosu là tối ưu, diện tích bao nhiêu và chỉ được trồng trong phạm vi đó. Những vùng có thể phát triển được và phải đầu tư công nghệ cao để khắc phục đất đai và khí hậu chưa đáp ứng. (Lao Động 15/10) đầu trang(
Nếu không có thay đổi vào phút chót, vào quý I năm 2014, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) sẽ công nhận Vườn quốc gia Cát Bà là Di sản thiên nhiên thế giới.
Thông tin từ Bộ VH, TT&DL cho biết, hồ sơ trình UNESCO công nhận Vườn quốc gia Cát Bà là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí đa dạng sinh học đã được chuyển sang Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUNC) để thẩm định và hoàn thiện hồ sơ.
Được biết hồi tuần trước, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp ông Peter Hitchcok - Trưởng nhóm chuyên gia tư vấn độc lập của IUNC và thể hiện quan điểm của Việt Nam là: Thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên quần đảo Cát Bà.
Vườn quốc gia Cát Bà là khu rừng đặc dụng của Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển thế giới thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng, có tổng diện tích 16.196,8ha. Trong 282 loài động vật sinh sống ở đây, Voọc Cát Bà (tên khoa học Trachypithecus poliocephalus, phân loài poliocephalus) thuộc loài linh trưởng rất quý hiếm, có tên trong danh sách 25 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Trước đó, có trường hợp Việt Nam đề cử nhưng không được UNESCO công nhận, đó là Vườn Quốc gia Cúc Phương năm 1991. (Giao Thông Vận Tải 16/10) đầu trang(
Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ trong 9 tháng đạt trên 2,6 tỷ USD. Tuy nhiên, riêng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đã chiếm gần 2/3 tổng số.
Tính từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ của các doanh nghiệp FDI đạt 1,67 tỷ USD, tương đương 64% tổng kim ngạch, phần lớn rơi vào tay các doanh nghiệp FDI đến từ Đài Loan, Mỹ, Anh…
Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam không phát huy được hết công suất do không được các đối tác lựa chọn, thì các doanh nghiệp FDI "làm cả ngày lẫn đêm" vẫn không kịp giao hàng.
Theo phản ánh của Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM, gần đây đang có hiện tượng người nước ngoài đến Việt Nam, thuê lại nhà xưởng, cơ sở của các doanh nghiệp chế biến đang gặp khó khăn để sản xuất xuất khẩu. (VTV 16/10) đầu trang(
Trong năm 2013, toàn huyện Phù Cát có 265 hộ tại 5 xã đăng ký trồng trên 315 ha rừng WB3, đến nay đã đo đạc, thiết kế trồng 154 ha, đạt 49% kế hoạch.
Ban quản lý Dự án WB3 huyện đã phối hợp giải ngân cho vay 946,5 triệu đồng phục vụ đầu tư chăm sóc rừng; tổ chức nhiều lớp tập huấn đánh giá sản lượng rừng trồng, kỹ thuật trồng và chăm sóc, khai thác rừng trồng.
Tuy nhiên, gần đây giá gỗ nguyên liệu giấy tăng cao, nên có 46 hộ của 10 nhóm xin cấp chứng chỉ rừng đã tự ý khai thác gần 60 ha rừng với sản lượng trên 4.370 tấn gỗ nguyên liệu. Tuy thu nhập có tăng, nhưng vấn đề này đã gây ảnh hưởng lớn đến việc cấp chứng chỉ rừng.
Ban quản lý Dự án WB3 huyện đang đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ không khai thác rừng sớm hơn thời gian quy định; tiếp tục thiết kế diện tích trồng rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia dự án; đồng thời xử lý và khắc phục các lỗi trong việc cấp chứng chỉ rừng FSC. (Báo Bình Định 16/10) đầu trang(
Ngày 15/10, tại thôn Lao Chải, xã Quan Thần Sán (Si Ma Cai), Chi đoàn thanh niên Khối Lâm nghiệp huyện phối hợp với UBND xã Quan Thần Sán, tổ chức lễ ra quân trồng rừng năm 2013.
Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, như phát dọn thực bì, đào hố, cây giống, trong thời gian 1 ngày, đoàn viên, thanh niên Khối Lâm nghiệp huyện và nhân dân xã Quan Thần Sán đã hoàn thành việc trồng mới 21 ha rừng phòng hộ (chủ yếu là cây sa mộc).
Được biết, trong những năm qua, xã Quan Thần Sán đã trồng mới 145 ha rừng (chủ yếu là thông và tống quá sủ), nâng tỷ lệ tán che phủ rừng lên 36%; công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được quân tâm làm tốt. (Báo Lào Cai 16/10) đầu trang(
Dù còn gặp không ít khó khăn trong việc trong thực hiện phương án giao rừng, cho thuê rừng nhưng Ban quản lý dự án giao rừng, cho thuê rừng huyện Tư Nghĩa đã có nhiều cố gắng để thực hiện hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân.
Đến nay, Ban quản lý dự án giao rừng, cho thuê rừng của huyện đã thực hiện hoàn thành một số nhiệm vụ như: đo đạc, xác định vị trí, ranh giới, diện tích đất có rừng; lập ô tiêu chuẩn điều tra tài nguyên rừng, xác định trạng thái rừng và phát tuyến để phân chia ranh giới giữa các lô rừng, đánh mốc ranh giới.
Về việc bàn giao rừng thực địa cho các khu dân cư, tính đến cuối tháng 9/2013, Ban quản lý dự án đã thực hiện đo và bàn giao gần 1.502 ha rừng tự nhiên cho 05 khu dân cư của xã Nghĩa Sơn và 02 thôn của xã Nghĩa Thọ. Trong đó, xã Nghĩa Sơn gần 1.316 ha và xã Nghĩa Thọ trên 186 ha.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hiện nay việc thực hiện phương án giao rừng, cho thuê rừng ở huyện Tư Nghĩa vẫn còn một số tồn tại do diện tích rừng biến động.
Nguyên nhân của tình trạng này là do khi lập phương án giao rừng, cho thuê rừng, đơn vị tư vấn lập phương án không đi khảo sát thực địa mà chỉ thống kê diện tích, hiện trạng rừng trên bản đồ quy hoạch 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) nên dẫn đến số liệu diện tích rừng tự nhiên dự kiến giao trong phương án không đúng với số liệu đã đo đạc hiện nay.
Mặt khác, diện tích và hiện trạng rừng trên bản đồ quy hoạch 3 loại rừng thường không chính xác so với ngoài thực địa. Cụ thể như, qua thực hiện đo đạc, lập ô tiêu chuẩn để phân loại trạng thái rừng cho thấy có khoảng 200 ha rừng của xã Nghĩa Sơn tại khoảnh 7 và 15 tiểu khu 142 và khoảnh 1, 2, 3, 4 và 5 tiểu khu 143 thuộc đất trống, núi đá, nương rẫy xâm canh, không phải là rừng tự nhiên nhưng trong phương án giao rừng đã thống kê là rừng tự nhiên. (Tunghia.Quangngai.gov.vn 15/10) đầu trang(
Không phải tâm bão, nhưng gió lớn giật mạnh nhiều giờ tại các huyện Phú Lộc, Nam Đông (tỉnh TT-Huế), gây nhiều thiệt hại về rừng kinh tế, rừng cao su, rừng cảnh quan và rừng phòng hộ.
Tại hai bên đèo đường bộ Phước Tượng, gió bão quật đổ, bẻ vụn nhiều cánh rừng keo từ hai đến ba năm tuổi. Rừng cao su tại thị trấn Phú Lộc, xã Lộc Trì bị thiệt hại nặng. Các rừng thông cảnh quan phòng hộ vững chãi cũng không chịu được sức tàn phá của gió bão. Tại huyện vùng cao Nam Đông, gió bão làm gãy đổ hàng chục hecta cao su trong thời kỳ cho mủ. (Tiền Phong 15/10) đầu trang(
Hữu Lũng là một trong những huyện có diện tích rừng lớn của tỉnh Lạng Sơn, với khoảng 35.000 ha. Nhằm tối đa lợi thế này, nhiều năm qua, Hữu Lũng đã xây dựng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân sống được từ rừng.
Anh Lâm Quốc Nguyên, ở xã Minh Hòa, chủ của 5 ha keo, bạch đàn cho biết: Hiện rừng bach đàn và keo chuẩn bị bước vào thời kỳ thu hoạch, hứa hẹn cho nguồn thu nhập khá. Anh Nguyên nhẩm tính, trung bình 1 ha rừng trồng 1.600 - 1.800 cây, lần khai thác này, dự kiến thu 70 - 120 triệu đồng.
Không chỉ gia đình anh Nguyên, nhiều hộ ở xã Minh Hòa đã biến những triền đồi bạc màu sỏi đã thành rừng bạch đàn, keo lai, nâng tổng số diện tích rừng sản xuất trên địa bàn lên 18.000 ha; cung cấp sản lượng gỗ nguyên liêụ bình quân khoảng 50.000m3/năm cho hơn 30 cơ sở sản xuất gỗ bóc của huyện.
Trồng rừng không những giúp người dân giảm đói nghèo mà còn giúp nâng cao độ che phủ rừng của huyện lên trên 60%. Cùng với phong trào trồng rừng sản xuất, nhiều hộ trên địa bàn đã tận dung quỹ vườn nhà xây dựng trên 100 vườn ươm giống cây lâm nghiệp, cung cấp cho các hộ trồng rừng.
Ông Lương Văn Bính, cán bộ phòng NN&PTNT huyện Hữu Lũng cho biết: Phong trào trồng rừng sản xuất trên địa bàn huyện đã có từ lâu nhưng thực sự phát triển từ năm 2003 trở lại đây. Quan trọng nhất là trồng rừng bạch đàn và keo là người dân phải chú trọng trồn, chăm sóc theo đúng uy trình kỹ thuật tư khâu cuốc hố, phát quang, vun với, bón phân… Với giá cả như hiện nay, nhiều hộ trường được 3 - 5 ha rừng đã đạt mức thu nhập 300 - 500 triệu đồng. Rừng khai thác được đến đâu được bà con trồng lại đến đó.
Tuy nhiên, thực tế thấy, không ít người dân chưa thật sự tận dụng được tiềm năng, thế mạnh đồi rừng trong phát triển kinh tế. Một số hộ sau khi trồng chưa quan tâm chăm sóc khiến cây bị chậm phát triển.
Trước thực tế trên, để phát huy thế mạnh đồi rừng, thời gian tới huyện Hữu Lũng tiếp tục chỉ đạo các ban, ngành chức năng tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân chú trọng phát triển rừng kinh tế. Đồng thời mở các lớp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hướng dẫn người dân từ khâu ươm giống đến kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ để rừng sinh trưởng, phát triển tốt. (Kinh tế Nông thôn 14/10) đầu trang(
Vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên gồm 5 xã, 39 thôn với 5.845 hộ, hơn 25.400 nhân khẩu trên diện tích hơn 36.000 ha, thuộc địa bàn huyện Thường Xuân. Đời sống của bà con nơi đây còn nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu phụ thuộc vào nguồn lợi khai thác từ rừng, chính điều này gây áp lực lớn đến công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng ở khu bảo tồn.
Vì vậy, Ban Giám đốc Khu BTTN Xuân Liên xác định việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho người dân trong vùng đệm là nhiệm vụ quan trọng, quyết định đến an ninh rừng.
Để giải quyết vấn đề trên, Ban giám đốc đã tham mưu cho tỉnh tập trung triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ sản xuất nhằm từng bước nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho bà con, đồng thời giảm áp lực khai thác tài nguyên tại khu bảo tồn.
Cùng với các chương trình xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ phát triển kinh tế kết hợp phát triển lâm nghiệp tại khu vực miền núi, như: Chương trình 135, Chương trình 327, Dự án 147, Ban Quản lý Khu BTTN Xuân Liên đã triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ để quản lý, bảo vệ rừng và xây dựng các mô hình phát triển kinh tế vùng đệm thông qua các dự án: “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình nuôi nhím, nhân giống cây lâm nghiệp và trồng rừng thâm canh phục vụ phát triển ổn định kinh tế - xã hội vùng đệm Khu BTTN Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa”;
Đồng thời, phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam tham gia thực hiện dự án “Phát triển và nâng cao chất lượng giống các loài cây lâm nghiệp bản địa và lâm sản ngoài gỗ, giai đoạn 2011-2015”; nghiệm thu các Dự án: “Điều tra, bảo tồn loài vượn đen má trắng”, “Nghiên cứu, khai thác tiềm năng lợi thế vùng lòng hồ Cửa Đạt”...
Ngoài ra, tỉnh và các nhà tài trợ khác cũng đã đầu tư xây dựng một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế vùng đệm, điển hình như: xây dựng nhà trung tâm du khách, hồ sinh thái, khu cứu hộ động vật bán hoang dã và tổ chức sản xuất, chuyển giao các mô hình cây, con đặc sản tạo hàng hóa phục vụ đón tiếp các tua khách đến tham quan...
Để quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững diện tích rừng đặc dụng, thời gian tới, Ban Quản lý Khu BTTN Xuân Liên tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, mô hình phát triển cộng đồng thuộc 5 xã vùng đệm; đánh giá những mô hình thành công, đạt hiệu quả để nhân rộng. Tiếp tục khảo sát nhu cầu của cộng đồng, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư cho các đề tài, dự án phát triển đời sống nhân dân vùng đệm, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, cải tiến phương thức sản xuất.
Bên cạnh đó, cũng rất cần sự quan tâm đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng, giống cây, con, kiến thức về sản xuất nhằm tạo việc làm cho người dân ở trong và ven rừng, gắn công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học với nâng cao đời sống của người dân trong vùng để người dân gắn bó và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng ở khu bảo tồn. (Báo Thanh Hóa 16/10) đầu trang(
Trong khi nhiều người dân trồng rừng thường bán rừng non độ vài năm tuổi thì có một lão nông vẫn kiên trì với kế hoạch lâu dài của mình, chờ rừng đủ tiêu chuẩn, tuân thủ tiêu chí, quy định của chứng chỉ FSC (chứng chỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững) mới đưa vào khai thác. Ông là Lê Biên Hòa, ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn, Gio Linh (Quảng Trị).
Năm 1997, khi huyện triển khai Dự án trồng rừng Việt Đức, theo tiêu chuẩn, hai vợ chồng ông nhận 4ha rừng. Ông bảo, thời bấy giờ, bà con nhận rừng về trồng ít người quan tâm đến khâu bón phân cho cây lắm, phân được phát về nhiều người đem đi bón ruộng, riêng ông đặc biệt tuân thủ kỹ thuật trồng đã được hướng dẫn. Chính nhờ vậy mà 4ha rừng của ông phát triển khá thuận lợi.
Nhận thấy đất đai còn nhiều, được sự ủng hộ, khuyến khích của chính quyền địa phương, ông mạnh dạn làm đơn xin thêm 10 ha đất đồi, liều lĩnh đầu tư 10 cây vàng mua cây giống, phân bón, thuê nhân công trồng cây keo lai F1. Hồi đó, 10 cây vàng là cả một gia tài không nhỏ, nhiều người hồ nghi vào sự táo tạo của ông. Nhưng, với bản chất người lính không lùi bước trước khó khăn, sự ủng hộ của gia đình, ông tin ở khả năng và nghị lực của mình.
Sau 6 năm vật lộn chăm bẵm 10 ha rừng, đến năm 2003, lứa rừng đầu tiên cho thu hoạch gỗ mang về cho ông nguồn vốn tương đối. Có tiền, ông tiếp tục vay thêm 80 triệu đồng mua 15 ha đất rừng trị giá xấp xỉ ba trăm triệu đồng để tiếp tục mở rộng quy mô trồng rừng. Càng trồng càng say.
Trong đầu ông lúc nào cũng ấn tượng bởi cuộc trò chuyện với một chuyên gia người Đức của Dự án “Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững”. Đó là thời điểm vào năm 2007. Khi biết ông Hòa sở hữu diện tích rừng khá lớn đang kỳ thu hoạch, vị chuyên gia hỏi: “Ông nghĩ sao nếu chúng tôi giúp ông tăng gấp đôi giá trị gỗ rừng ông hiện có?”. Quá sửng sốt với lời đề nghị này, ông tham gia ngay vào chương trình dự án. Thời điểm đó, mỗi ha rừng 6 năm tuổi có giá 35 - 40 triệu đồng. Theo lời khuyên của chuyên gia để thêm hai năm bán giá lên đến 97 triệu đồng.
Hiện ông Hòa sở hữu diện tích 30 ha. Rừng trồng theo chứng chỉ này tuân thủ theo 10 nguyên tắc, 54 tiêu chí do các tổ chức quốc tế về cấp chứng chỉ rừng FSC qui định. Trong đó, các tiêu chí đặc biệt quan trọng là cấm săn bắt động vật hoang dã; không được dùng máy cày, san ủi đất ảnh hướng đến thực bì, làm nghèo chất dinh dưỡng trong đất; giữ lại trên 5% cây bản địa; không được sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học gây hại môi trường; không được sử dụng lao động trẻ em; khai thác đúng thời gian...
Năm 2010, ông Hòa bán 4ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, và mới đây nhất, ông vừa cho khai thác 10ha rừng thu về gần ba tỉ đồng. Trừ chi phí, lãi ròng hơn 2,2 tỉ đồng.
Với những kinh nghiệm thực tiễn và hiệu quả thu được từ trồng rừng theo đúng tiêu chuẩn chứng chỉ FSC, ông Lê Biên Hòa vinh dự được mời dự hội thảo về trồng rừng ở khắp nơi trong cả nước để truyền đạt kinh nghiệm cho bà con. Đặc biệt, chuyến đi hội thảo về rừng bền vững tại Malaysia đã cho ông mở mang tầm mắt rất nhiều, học hỏi được nhiều điều bổ ích.
Hiện tại, ngoài 30 ha rừng, ông còn sở hữu 3 ha cao su, 1 ha ruộng, chưa kể 1.000m2 tiêu mỗi năm cho thu nhập khoảng 20 triệu đồng. Không chịu cho đất nghỉ, lão nông tỉ phú trồng rừng ở vùng đất Trung Sơn này đang từng ngày chăm bẵm cho sản phẩm của mình tham vọng 10 năm sau nâng chất lượng rừng của mình đạt mức giá bán 300 triệu đồng/1 ha. “Gỗ quê mình đã xuất ngoại thì phải làm cho nó có giá trị đúng với tầm quốc tế”, ông Hòa nói. (Thanh Niên 16/10) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh vừa chỉ đạo tiếp tục xử lý, khắc phục tồn tại về quản lý đất rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn.
Bên cạnh yêu cầu thực hiện hàng loạt giải pháp để tiếp tục xử lý vi phạm, khắc phục tồn tại trong quản lý, UBND TP nêu rõ, tồn tại trong quản lý, sử dụng đất rừng tại huyện Sóc Sơn đã được UBND TP chỉ đạo tại văn bản ban hành trong các năm 2005, 2006 và 2012. T
uy nhiên, việc tổ chức thực hiện quá chậm, những vi phạm không được xử lý nghiêm, triệt để. Những tồn tại về quản lý chậm được khắc phục và phát sinh nhiều sai phạm mới mà không kịp thời xử lý, các ngành liên quan và UBND huyện Sóc Sơn không báo cáo những khó khăn, vướng mắc để xin ý kiến chỉ đạo. (An Ninh Thủ Đô 16/10) đầu trang(
Theo quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh ngày 28/02/2012 về việc cho thuê đất sử dụng vào việc khai thác đá xây dựng có đề cập đến việc chuyển đổi 26.000m2 đất thuộc rừng phòng hộ Hồng Lĩnh cho công ty Ngọc Hải khai thác đá.
Theo đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh quyết định cho công ty TNHH Ngọc Hải thuê 40.000m2 đất ở xã Vượng Lộc (huyện Can Lộc), đất được UBND tỉnh thu hồi để bồi thường giải phóng mặt bằng tại quyết định số 1867 ngày 23/6/2009, có 26.000m2 đất thuộc rừng phòng hộ Hồng Lĩnh quản lý được chuyển đổi sang khai thác đá xây dựng tại quyết định số 300 ngày 27/1/2009 của UBND tỉnh và 14.000 m2 đất không có rừng, để sử dụng vào mục đích sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ (khai thác đá xây dựng).
Ông Nguyễn Ngọc Lân cán bộ phòng tài nguyên và môi trường huyện Can Lộc nói, do đây là những quy hoạch của những năm trước, hiện nay sở Tài nguyên và môi trường cũng đã có quy hoạch lại việc cấp mỏ đá cho các doanh nghiệp khai thác.
Điều đáng nói là việc cấp đất cho công ty TNHH Ngọc Hải khai thác đá nằm ngay cạnh nghĩa trang liệt sỹ huyện Can Lộc cũng như cách khu dân cư sinh sống không xa.
Hơn nữa việc nổ mìn, khai thác đá tại Vượng Lộc (H. Can Lộc, Hà Tĩnh) nơi mỏ đá nói trên hoạt động, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân mà còn làm hàng ngàn mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) H. Can Lộc cũng không chịu nổi chấn động. Nghiêm trọng hơn, việc nổ mìn khai thác đá tại đây làm tượng đài, tường rào của nghĩa trang có thể đổ sập bất cứ lúc nào.
Được biết, hiện nay UBND tỉnh Hà Tĩnh, đang giao cho Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh chủ trì, phối hợp với các sở liên ngành liên quan lập “Quy hoạch điều chỉnh bổ sung vật liệu xây dựng”, theo dự kiến toàn bộ các mỏ đá dọc hai bên tuyến đường 1A, không được đưa vào diện quy hoạch vật liệu xây dựng.
Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ. Chủ yếu là những nơi đồi núi có độ dốc cao, yêu cầu đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng, có độ che phủ của tán rừng là 0,6 trở lên.
Được thành lập với mục đích chống gió hạn, chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển. Mục đích là điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch thế nhưng ở Hà Tĩnh lại không coi trọng việc bảo vệ rừng phòng hộ.
Ở một địa phương thường xuyên bị bão lũ như Hà Tĩnh lại không chăm lo bảo vệ rừng mà lại ngang nhiên phá rừng vì mục địch lợi nhuận của một số cá nhân doanh nghiệp!? (Người Đưa Tin 15/10) đầu trang(
Sau khi báo Nhân Dân phản ánh tình trạng nhiêu diện tích rừng ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức bị chặt phá bừa bãi, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Tuy Đức đã tăng cường kiểm tra, ngăn chặn nạn phá rừng; xư rlys hoạt động mua bán vận chuyển lâm sản trái phép.
Đồng thời, hạn chế hiện tượng di dân tự do vào rừng sinh sống; cưỡng chế giải tỏa các điểm lấn chiếm đất rừng, buộc các đối tượng phá rừng phải trồng lại rừng. (Nhân Dân 15/10) đầu trang(
Chống lâm tặc khai thác gỗ trái phép đã “bở hơi tai”, các công ty lâm nghiệp ở Đắk Lắk còn vất vả đối phó tình trạng xâm lấn, tranh chấp đất rừng.
Một ngày đầu tháng 8 vừa qua, hàng chục người dân ở thôn 2, xã Ea Kiết, H.Cư Mgar (Đắk Lắk) xông vào trụ sở Lâm trường Buôn Ja Wầm thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm đập phá đồ đạc, hành hung các cán bộ Lâm trường, khiến 4 người bị thương, trong đó 2 người phải điều trị cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh. Trước đó, Lâm trường Buôn Ja Wầm tổ chức lực lượng nhổ bỏ khoảng 200 cây tiêu, 50 cây cao su và một số hoa màu của các hộ dân vừa trồng trái phép trên đất rừng của Lâm trường.
Ông Dương Văn Sơn, Tổng giám đốc Công ty Buôn Ja Wầm, cho rằng tình trạng đất rừng bị người dân lấn chiếm căng thẳng nhiều năm nay. Vận động, thuyết phục người dân rời khỏi địa bàn không được, doanh nghiệp (DN) buộc phải dùng biện pháp cưỡng chế, hủy bỏ cây trồng trái phép nhưng lại gặp phản ứng tiêu cực, gây khó khăn. Ông Sơn cho biết những năm trước, công ty đã chuyển gần 3.000 ha đất rừng bị lấn chiếm cho địa phương quản lý, nhưng hiện vẫn còn hơn 350 ha khác đang bị xâm canh, không thể xử lý được.
Lấn chiếm đất rừng cũng xảy ra ở Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông. Đầu mùa mưa năm nay, ngay trên đất được phát dọn, chuẩn bị trồng rừng của DN, một số hộ di cư tự do vào xâm lấn, canh tác gần 10 ha. Công ty đã đề nghị chính quyền xã Cư Đrăm hỗ trợ giải quyết nhưng việc triệu tập họp người dân để vận động trả lại đất rừng bất thành.
Tương tự, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Chư Ma Lanh quản lý hơn 14.700 ha rừng và đất rừng trên địa bàn H.Ea Súp nhưng đến nay có khoảng 6.000 ha đã bị lấn chiếm. Việc tranh chấp đất đã khiến công ty không thể thực hiện các dự án liên doanh liên kết với đơn vị khác trên đất rừng được giao. Mới đây, Công ty CP Vinamit đã phải trả lại dự án liên kết trồng cây công nghiệp trên 900 ha với Công ty Chư Ma Lanh do phần lớn đất đã bị xâm canh. Thậm chí, khi DN lâm nghiệp này trồng lại 80 ha rừng trên đất thu hồi cũng bị phá hoại hơn 50% diện tích...
Ngày 16.3.2012, UBND tỉnh Đắk Lắk ra chỉ thị số 03, trong đó yêu cầu “các công ty TNHH MTV lâm nghiệp kiểm tra, rà soát, lập biên bản thống kê diện tích rừng, đất lâm nghiệp bị phá, lấn chiếm trái phép từ năm 2008 đến nay, phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức lực lượng phá bỏ các loại cây trồng, lều lán trại xây dựng trái phép để trồng lại rừng”.
Tuy nhiên, theo ông Dương Văn Sơn, chính quyền địa phương vẫn thiếu kiên quyết trong việc phối hợp với DN trong hoạt động này. Ông Sơn băn khoăn: “Hơn nữa, việc hướng dẫn thực hiện chỉ thị trên chưa cụ thể. Chính quyền địa phương là UBND cấp xã hay UBND cấp huyện, ai là người chủ trì tổ chức lực lượng phá bỏ cây trồng, lều lán trại trái phép trên đất rừng… vẫn chưa được quy định rõ nên khó triển khai”.
Theo thống kê của Sở NN-PTNT Đắk Lắk, từ năm 2008 đến nay, toàn tỉnh có 14.160 ha rừng, đất lâm nghiệp bị phá, lấn chiếm trái phép. Ông Nguyễn Quốc Hưng, Giám đốc Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk, cho rằng đất rừng bị mất do lấn chiếm là vấn nạn nan giải với hầu hết các công ty lâm nghiệp; nhiều đơn vị không đủ lực lượng canh giữ rừng ngày đêm, trong khi việc xâm lấn diễn ra vừa lén lút, vừa công khai, người lấn đất có lúc manh động; việc thu hồi đất rừng cũng hết sức phức tạp, khó khăn.
Theo ông Hưng, đã có nhiều kiến nghị đối với cấp thẩm quyền để chỉ đạo chính quyền các cấp cùng vào cuộc, nhưng hầu như các công ty lâm nghiệp đều phải đơn độc giữ rừng.
“Ở nhiều địa bàn không chỉ có nông dân xâm canh trên đất rừng mà còn có bàn tay đầu nậu đứng đằng sau thuê người phá rừng lấy đất để sang nhượng trái phép. Tuy nhiên, lâu nay chưa có vụ phá rừng chiếm đất nào bị khởi tố, điều tra để xử lý trước pháp luật. Thiếu sự tiếp sức của các cơ quan chức năng, hoạt động quản lý, bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp gặp nhiều cam go”, ông Hưng bức xúc nói. (Thanh Niên 15/10) đầu trang(
Cách đây nhiều năm trước, Tủa Chùa được biết đến là huyện vùng sâu, vùng xa rừng rậm thâm u, khí hậu trong lành với nhiều đặc sản từ rừng đặc trưng, nhưng nay rừng Tủa Chùa cơ bản đã bị con người phá hoại gần hết.
Tại Tủa Chùa hiện nay, đất đai ngày càng xói mòn, bạc màu; nguồn nước từ những con suối bị cạn kiệt; khí hậu biến đổi khó lường, nguyên nhân là rừng đã và đang bị phá hoại nghiêm trọng, bị triệt hạ khoảng 70% trong vòng 15 năm qua.
Không phải cho đến bây giờ, mà từ gần 20 năm trước, Tủa Chùa đã có chủ trương về bảo vệ, quản lý rừng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tủa Chùa nhiệm kỳ 2005 – 2010 xác định phương hướng: Thực hiện tốt công tác khoanh nuôi và phát triển vốn rừng. Nâng độ che phủ mỗi năm 1,5%. Phấn đấu đến năm 2010 độ che phủ của rừng đạt 42 % trở lên. Tuy nhiên, đến nay – năm 2013, độ che phủ rừng chỉ đạt khoảng hơn 35%!
Mục tiêu của huyện là phấn đấu mỗi năm trồng mới từ 1.200 đến 1.300 ha rừng các loại, nhưng từ năm 2005 đến nay, mỗi năm Tủa Chùa chỉ trồng được khoảng vài trăm ha rừng, thậm chí nhiều năm chẳng trồng được cây rừng nào, chưa kể đến hiệu quả của việc trồng rừng rất kém. Đến nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng của toàn huyện có trên 23.000ha, chiếm 35% tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy, tức là trạng thái rừng 2B và rừng 2A và rừng nghèo kiệt.
Rừng Tủa Chùa cơ bản bị thiệt hại phần lớn về diện tích, từ 75 đến 85% vào năm 1995, giảm xuống chỉ còn 35 % như hiện nay. Vào trước năm 2000, khi một số xã vùng sâu của huyện Tủa Chùa như Huổi Só, Sín Chải hay Lao Xả Phình chưa có hoặc đã có đường vào trung tâm xã nhưng đi lại rất khó khăn thì rừng của các xã này vẫn còn 100% là nguyên sinh.
Tuy nhiên, vài năm nay, khi đường ô tô được mở đến tận các xã, các thôn bản; đặc biệt là từ khi thực hiện Dự án di dân Tái định cư Thủy điện Sơn La vào đầu năm 2005 đến nay thì rừng ở các xã nói trên giảm mạnh theo từng tháng, từng ngày. (Đài PT - TH Điện Biên 15/10) đầu trang(
Kết luận thanh tra của chủ tịch UBND huyện Đồng Phú (Bình Phước) cho biết: “Các cán bộ, công chức mắc nhiều sai phạm khi xác nhận, tham mưu cho UBND huyện Đồng Phú cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại trên đất rừng cho bốn hộ dân ở tiểu khu 369 (do Ban quản lý rừng kinh tế Suối Nhung quản lý) và tiểu khu 369 (do Ban quản lý rừng kinh tế Tân Lập) quản lý”.
Theo kết quả thanh tra, lãnh đạo Phòng Nông nghiệp huyện, nguyên chủ tịch xã Tân Hưng, giám đốc Ban quản lý rừng Suối Nhung đã xác định sai nguồn gốc đất (đất do các hộ lấn chiếm nhưng xác nhận hợp pháp), dẫn đến huyện cấp giấy cho các hộ dân sai, làm thất thoát lớn đất rừng. (Pháp Luật TPHCM 15/10) đầu trang(
Ngày 14.10, Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an Quảng Nam cho biết, ngày 13.10, tại khu vực đồi Đá Trắng (thuộc thôn Thạch Kiều, xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành) xảy ra một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng.
Theo điều tra ban đầu, tại thời điểm trên có hai nhóm người trong thôn Thạch Kiều tổ chức phát rẫy và khai thác cây đã xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau. Hậu quả làm Võ Huỳnh Trưởng (39 tuổi, trú thôn Thạch Kiều) tử vong trên đường đi cấp cứu do vết thương ở ngực quá nặng; 4 người khác bị thương tích đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam.
Vụ việc PC45 đang tiến hành điều tra làm rõ. (Báo Quảng Nam 16/10) đầu trang(
9 tháng đầu năm, Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Uyên phát hiện 3 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đã xử lý 3/3 vụ; phạt hành chính 4 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước; tịch thu 0,83 m3 gỗ xẻ các loại, trong đó có 0,62 m3 gỗ quý hiếm.
Huyện đãuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ, trồng cây gây rừng, hợp đồng kiểm tra, nghiệm thu hợp đồng thuê khoán bảo vệ - phòng cháy, chữa cháy rừng tại 6 xã trọng điểm. Tổ chức trồng 55 cây ăn quả tại đường mới Thị trấn; cung ứng 1.000 cây ăn quả, cây lấy gỗ cho các xã, thị trấn và các trường học trong huyện. (Báo Cao Bằng 16/10) đầu trang(
14/10, tại khu vực tổ 30, phường Yên Ninh, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái xảy ra vụ cháy đồi keo đã làm một cụ già tử vong. Nạn nhân được xác định là ông Nguyễn Quang Thỉnh, 78 tuổi.
Trước đó, người dân phát hiện ngọn lửa bùng cháy dữ dội trên đồi keo vừa khai thác của gia đình ông Nguyễn Quang Thỉnh nên đã gọi điện cho lực lượng phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh. Ngay lập tức lực lượng này điều động 4 xe phòng PCCC cùng 30 cán bộ chiến sỹ đến ứng cứu. Khi ngọn lửa được dập tắt, mọi người phát hiện xác ông Thỉnh bị thiêu cháy.
Theo người dân địa phương thì khoảng 14 giờ chiều, ông Thỉnh đi đốt cỏ, dọn đồi có diện tích chừng 1.000 m2 gần nhà, nơi gia đình ông trồng keo vừa mới khai thác gỗ bán cách đó ít lâu. Do thời tiết nắng nóng, hanh khô, ngọn lửa bùng phát mạnh và nhanh chóng lan rộng, hơn nữa, do tuổi cao ông Thỉnh không chạy kịp đã bị lửa bén vào người. Một số người dân đã phát hiện nhưng không kịp cứu ông Thỉnh.
Tuy là đô thị, nhưng thành phố Yên Bái có rất nhiều đồi, người dân địa phương vẫn trồng rừng, khai thác lấy gỗ bán nên nguy cơ cháy rừng ở đây rất cao. (VOV 15/10) đầu trang(
Ở Nam Tây Nguyên, ngoài đi mót cà phê, mót chè… còn có thêm nghề mót của rừng. Đó là nghề đào gốc cây khô có hình dáng tưởng tượng, mang về bán cho khách vãng lai. Công việc vừa nặng nhọc vừa nguy hiểm, nhưng thu nhập lại quá bấp bênh.
Đèo Blao là sơn nguyên đá núi cuối cùng ở miệt Nam Tây Nguyên. Vì vậy mãi cho đến năm 1980 khu này vẫn còn là rừng nguyên sinh. Sau này trà, cà phê được giá, rừng hoang lùi dần nhường chỗ cho các loại cây công nghiệp. Chính vì thế tìm được gốc lõi cây khô nằm dưới lòng đất hàng vài chục năm gần như là một cuộc đánh bạc với niềm hy vọng.
Anh Trần Đình Hồng và vợ Nguyễn Thị Hương Lan là cặp vợ chồng có thâm niên 10 năm chinh chiến rừng già, đã từng trèo lên hàng chục triền núi đá đào bới gốc cây khô. cho biết: “Ở khu đầu đèo bây giờ có đến vài chục người chuyên đi tìm sái, nghề này gọi mót của rừng là đúng chóc, vì mình đi tìm những gốc cây đã mục chỉ còn lại phần lõi. Tuy nhiên, ai vào nghề mới nhận ra được thế nào là gian khổ. Ngày chúng tôi cưới nhau, cả hai không có công việc ổn định nên đẩy xe thồ vào rừng đốn củi khô về bán cho các nhà máy sản xuất chè đen. Công việc quá cực nhọc, nhưng ngày công cũng chỉ đến vài chục ngàn.
Có lần qua suối trong cơn khát, tôi ngồi thụp xuống vốc tay bụm nước uống, vô tình phát hiện một rễ cây sần sùi nằm vắt vẻo trên bờ. Nghĩ có thể bán được nên dùng cưa cắt ra, chở xuống nhà ông Tuấn ở đầu đèo bán được 400.000 đồng, hơn cả 5 ngày công đốn củi. Lần thứ hai gặp một gốc cây bị sạt lở nằm chênh vênh trên triền đồi, hai vợ chồng thồ về bán được hơn 1 triệu.
Vào thời điểm ấy, lao động chân tay kiếm được tiền triệu một ngày là giấc mơ lớn. Tôi còn nhớ, sau khi nhận được tiền vợ tôi ra chợ mua 1 con gà, đêm về cả nhà xì xụp bên tô cháo nóng thơm lừng và còn dư tiền mua được cho con vài bộ quần áo và mấy chục ký gạo giá rẻ. Anh biết đấy làm nghề đi mót sái rừng đố thằng nào dám mua 1 ký gạo 15 ngàn để ăn, nếu có chỉ là mấy cha ở công ty pháo Bình Đà. “Vì sao gọi là pháo Bình Đà?”- tôi hỏi. Ông Hồng ngửa mặt lên trời cười sằng sặc, đó là tiếng lóng dành cho mấy thằng nổ đó mà.
Anh tiếp tục: “Chính bữa ăn nhớ đời đó, hai vợ chồng quyết định bỏ nghề thồ củi, chuyển sang đào gốc cây khô. Thực tình đến nay chúng tôi không nhớ nổi đã đào bao nhiêu gốc, tổng cộng bao nhiêu tiền, nhưng đã tích cóp mua được 7 sào cà phê và xây được căn nhà tí tẹo trên đồi này”.
Người làm nghề đi mót sái rừng hầu hết đều là những người dân nghèo khổ, chạy ăn từng bữa, không có nghề nghiệp rõ ràng, cũng không có cơ hội tiếp cận thị trường nên khi bán được gốc cây vài triệu đã là hạnh phúc. Tại những nơi mua bán loại hàng đặc biệt này, có khi chỉ trong chốc lát các doanh nhân sang tay nhau có thể kiếm được năm bảy triệu tiền lãi ngay trước mặt người trực tiếp đi rừng trên mặt còn lấm tấm mồ hôi.
Năm 2009, một chú thợ rừng bán một gốc cây đẹp mang hình con rồng trong nhóm tứ linh với giá 12 triệu, vài tháng sau người chủ mới bán lại 30 triệu và cuối cùng là 50 triệu. Sự thua thiệt về giá cả ngay tại sân nhà là do kiến thức định phẩm, không chú ý thị trường. Nhưng nguyên nhân chính vẫn là cơm áo bức bách của gia đình, họ bán xới theo giá ngày công mà không cộng thêm chi phí đặc thù khác.
Không biết vài năm nữa, nếu họ không tích cóp tiền bạc để tạo dựng cuộc sống bền vững, trong khi sái rừng mỗi năm mỗi cạn kiệt, rồi họ sẽ làm gì và sẽ về đâu! (Công An Nhân Dân 15/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Không nên đặt câu chuyện lỡ làm thủy điện, lỡ phá rừng rồi nên phải tìm cách khắc phục hậu quả, mà phải thu hồi dự án, đình chỉ thi công, đóng cửa nhà máy và không duyệt những dự án thủy điện mới, những vụ chuyển rừng bừa bãi, gây hệ lụy lâu dài đối với môi trường sinh thái và bất ổn về an sinh xã hội… Nhiều người dân ở Tây Nguyên bức xúc mỗi khi mùa lũ đi qua bị ngập, mùa khô cạn kiện đến tận cùng và…
Vụ sập đập thủy điện tại công trình Thủy điện Đắk Mek 3, thuộc địa bàn xã Đắk Choong, huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum, gây bức xúc dư luận và hậu họa của sự cố này đã làm anh Nguyễn Quốc Hùng (28 tuổi) quê ở xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, công nhân lái xe của Công ty TNHH Thái Sơn (đơn vị nhận thi công) tử nạn khi đang thi công trên thành đập.
Thủy điện Đắk Mek 3, chỉ đạt công suất 7,5MW, nhưng diện tích lòng hồ khoảng từ 8/10 ha và khi tích nước sẽ chứa khoảng 800-900.000m3 nước. Ngoài những ảnh hưởng trực tiếp vùng lòng hồ còn kéo theo nhiều hệ lụy cuộc sống môi trường sinh thái xung quanh. Sau sự cố vỡ thành đập nhiều người dân ở xã Đắk Choong không khỏi lo lắng sau khi thủy điện tích nước, vì nghi ngờ chất lượng công trình này.
Trong khi đó, vụ vỡ đập Thủy điện Ia Krêl 2, ở xã Ia Dom, Đức Cơ, Gia Lai của Công ty cổ phần Công nghiệp và Thủy điện Bảo Long (Gia Lai) thêm một lần nữa cho thấy chất lượng các công trình thủy điện ở Tây Nguyên có vấn đề. Kết luận của đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Gia Lai xác định nguyên nhân gây ra sự cố vỡ đập chính của thủy điện này là thi công không tuân thủ đúng theo bản vẽ thiết kế.
Theo thiết kế, toàn bộ phần mái của thân đập bên trong lòng hồ có một lớp xi măng chống thấm dày 20cm, trên tổng chiều dài khoảng 250m, đơn vị thi công bỏ qua công đoạn này và thay vào đó toàn thân đập được làm bằng đất và trồng cỏ.
Trong khi đó, hệ thống cống dẫn dòng được đổ một lớp bê tông bảo vệ khi chưa kết dính theo yêu cầu kỹ thuật nhưng đơn vị thi công cho các loại phương tiện có trọng tải lớn qua lại gây rạn nứt phần thân cống. Thế nhưng, Công ty cổ phần Công nghiệp và Thủy điện Bảo Long, không nghiệm thu thẩm định chất lượng công trình mà cho tích nước với dung tích 5 triệu m3, bằng 1/2 dung tích tối đa theo thiết kế.
Theo số liệu thống kê của UBND huyện Đức Cơ, tổng thiệt hại do sự cố vỡ đập thủy điện Ia Krêl 2 gây ra trên 3,5 tỉ đồng, nhưng việc bồi thường thiệt hại cho dân và các đơn vị liên quan không được chủ đầu tư tiến hành kịp thời.
Cùng với việc thi công ẩu, chất lượng công trình không đảm bảo, nhiều công trình thủy điện ở Tây Nguyên và khu vực miền Trung còn kéo theo nhiều hệ lụy đối với môi trường sinh thái tự nhiên. Cụ thể tại Thủy điện An Khê - Knắk (Gia Lai) đã nắn dòng chảy sông Ba trái quy luật tự nhiên, đưa nguồn nước chảy về Bình Định, làm cho cuộc sống người dân vùng hạ lưu sông Ba bị đảo lộn. Nắng thì khô cạn, khi mưa thì xả lũ ngập cả núi đồi.
Trong khi bài học đau xót về Thủy điện An Khê - Knắk chưa được rút kinh nghiệm thì các nhà đầu tư thủy điện lại tiếp tục thiết kế và cho xây dựng Thủy điện Thượng Kon Tum, đầu nguồn sông Đắk Snghé và tiếp tục nắn dòng chảy trái quy luật tự nhiên theo phương án chuyển nước sang lưu vực sông Trà Khúc. Và hạ lưu sông Đắk Snghé sẽ khô cạn không còn nước cung cấp cho sông Đắk Bla, 1 trong 3 chi lưu lớn của sông Sê San.
Nước cho chảy về sông Trà Khúc (Quảng Ngãi) sẽ làm vùng hạ lưu sông Đắk Snghé (khoảng 40km) và sông Đắk Bla bị khô cạn, hàng ngàn người dân của 25 xã, phường ở huyện Kon Plông, Kon Rẫy và TP Kon Tum sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Theo hồ sơ, nhà máy thủy điện này có công suất 220MW, do Công ty cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (Bình Định) làm chủ đầu tư. Công trình được khởi công xây dựng vào ngày 27/9/2009 với tổng vốn đầu tư hơn 6.000 tỉ đồng. Tổng diện tích đất đai chiếm dụng khoảng 782ha, trong đó có 414 đất rừng tự nhiên và 135ha đất sản xuất nông nghiệp thu hồi của 154 hộ dân trong vùng.
Thế nhưng, đáng nói là đến nay, hơn 350 ha rừng phòng hộ của huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum chưa được Chính phủ cho phép chuyển đổi rừng đặc dụng, nhưng chủ đầu tư Thủy điện Thượng Kon Tum đã thi công xây dựng từ lâu. Trong khi đó nhiều làng tái định cư cho dân vùng ảnh hưởng thủy điện chưa có, cuộc sống nhân dân mùa mưa bão bị ảnh hưởng, buộc chính quyền địa phương phải di dời đến nơi ở tạm thời...
Theo báo cáo của Ban Dân tộc, HĐND tỉnh Gia Lai, thực trạng công tác định canh, định cư ở vùng các dự án thủy điện còn nhiều bất cập, việc quy hoạch các khu tái định cư ở một số nơi chưa phù hợp với đặc điểm, tập quán của người dân tộc thiểu số. Nhiều nhà ở tái định cư xây trong vùng trũng hoặc đồi núi rất nguy hiểm trong mùa mưa lũ; chất lượng công trình xuống cấp nhanh như ở làng Yut, làng Kênh, làng Tum, xã Ia Phí, Chư Pah, Gia Lai.
Tại 6 khu tái định cư Thủy điện An Khê - Knắk còn thiếu đất sản xuất cho các hộ dân khoảng trên 140 ha và không có đường đi vào khu sản xuất. Một số chủ dự án chưa thực hiện cam kết đúng lời hứa với dân, chưa chi trả tiền bồi thường về đất nông nghiệp, tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ dân khu tái định cư, định canh và tạo việc làm theo quy định… như ở Kbang, Krông Pa (Gia Lai).
Đặc biệt, một số công trình cấp nước sinh hoạt cho khu tái định cư không bảo đảm, đa số mùa khô không có nước, hoặc nước không đảm bảo vệ sinh, đường cầu đập tràn tại xã Krông Năng, Krông Pa (Gia Lai) hư hỏng nặng... Sau các sự cố vỡ đập thủy điện như ở Đức Cơ, Gia Lai, chủ dự án chây ì bồi thường thiệt hại cho dân gây khó khăn cuộc sống người dân.
Một hậu quả khác của những dự án thủy điện nữa là người dân thiếu đất sản xuất, những khoản tiền đền bù được người dân chi tiêu không hợp lý, như sắm xe máy, ôtô để đi rồi dẫn đến cuộc sống bấp bênh. Có dự án đã khởi công nhưng chưa bố trí được nơi tái định cư cho người dân, gây hiểm họa vào mùa mưa lũ như ở Kon Plông, Kon Tum vừa qua…
Không chỉ ở Tây Nguyên, mà tại tỉnh Quảng Nam, nơi có nhiều công trình thủy điện cũng gây bức xúc. Theo báo cáo của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ hộ nghèo tại các khu tái định cư thủy điện còn rất cao, cụ thể như tại Thủy điện Sông Tranh 2: 60,3%, A Vương: 80,5%, Đắk Mi 4: 93,3%...
Cùng với thủy điện, các dự án chuyển rừng trồng cao su ở Tây Nguyên, nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết ban đầu như xây dựng cơ sở hạ tầng và tuyển công nhân đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân mà còn chuyển giao vườn cao su cho doanh nghiệp khác với danh nghĩa "liên kết đầu tư"…
Cụ thể, việc tuyển công nhân người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm ở các doanh nghiệp rất ít. Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Gia Lai, 12 doanh nghiệp tư nhân có dự án cao su chỉ tuyển 85 người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân, trong khi đó số lao động cần tuyển theo định mức 5 ha/công nhân là trên 2.900 người…
Trong khi đó, tại tỉnh Đắk Lắk, qua kiểm tra đã đình chỉ, thu hồi 21 dự án chuyển đổi 16.036 ha rừng tự nhiên sang trồng cao su. Sở dĩ các dự án trên bị thu hồi do các doanh nghiệp triển khai dự án quá chậm, công tác quản lý bảo vệ rừng trong vùng dự án chưa tốt dẫn đến tình trạng để người dân chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Nhiều dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cao su, sau khi được tỉnh giao đất, giao rừng, các doanh nghiệp vẫn để người dân tự ý vào khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng xâm canh trái phép, đòi đền bù gây khiếu kiện phức tạp. Có doanh nghiệp lợi dụng chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su để sang nhượng, mua bán dự án trái pháp luật.
Tỉnh Đắk Lắk đang tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành rà soát, đánh giá tình hình triển khai thực hiện của các dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su và kiên quyết xử lý nghiêm khi phát hiện doanh nghiệp nào có sai phạm, thực hiện dự án không hiệu quả, có biểu hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ phát triển rừng… sẽ kiên quyết đình chỉ, thu hồi đất dự án theo đúng quy định.
Phát triển thủy điện, cây cao su là những vấn đề cần thiết, có tính chiến lược ở Tây Nguyên để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, song không phải vì thế mà thực hiện bất chấp các quy định về môi trường tự nhiên, và quên cả vấn đề an sinh xã hội lâu dài cho người dân. Điều ấy càng đi ngược lại với mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và mục đích phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. (Công An Nhân Dân 16/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Các nhà nghiên cứu mới đây phát hiện những điểm tương đồng về sự phát triển cảm xúc giữa khỉ con bonobo trong một khu bảo tồn ở châu Phi và các em nhỏ, trong đó loài khỉ này có khả năng điều chỉnh cảm xúc giống như con người.
Hai tiến sĩ Zanna Clay và Frans de Waal đến từ Trung tâm Nghiên cứu Linh trưởng Quốc gia, Đại học Emory, tiến hành nghiên cứu tại khu bảo tồn khỉ bonobo gần Kinshasa, thủ đô nước Cộng hòa Dân chủ Congo.
Các đoạn video phân tích cuộc sống thường ngày của các con khỉ tại khu bảo tồn cho phép hai nhà nghiên cứu đánh giá sự thể hiện cảm xúc của khỉ bonobo cũng như cách chúng phản ứng với cảm xúc của những con khác. Họ phát hiện ra rằng các con khỉ bonobo có thể phục hồi nhanh chóng và dễ dàng sau những biến đổi về mặt cảm xúc.
Ví dụ như sau khi thua cuộc trong một cuộc chiến đấu, những con khỉ có biểu lộ sự đồng cảm với các con cùng loài nhiều hơn. Các con khỉ này cũng thường xuyên thể hiện các hành động tình cảm như chạm, ôm, hôn những con khỉ khi chúng gặp đau buồn.
Xét về mặt di truyền, khỉ bonobo (Pan paniscus), một trong những loài linh trưởng gần gũi nhất với con người, cũng có nhiều điểm tương đồng với con người tương tự như tinh tinh. Khỉ bonobo cũng được coi là loài khỉ lớn có khả năng thể hiện sự đồng cảm rõ ràng nhất.
"Phát hiện này cho thấy loài khỉ bonobo có thể trở thành con vật lý tưởng nhất để thực hiện các so sánh về tâm lý. Bất kỳ một điểm tương đồng cơ bản nào giữa con người và khỉ bonobo đều có thể giúp lần ra dấu vết của tổ tiên chung đã sống cách đây khoảng 6 triệu năm trước", Science Daily dẫn lời Wall cho biết.
Nếu sự thể hiện cảm xúc của khỉ bonobo dự đoán được cách chúng bộc lộ phản ứng với các con khác, điều này có thể gọi là sự điều tiết cảm xúc hay khả năng làm dịu những cảm xúc tức giận hay tránh những tác động gây kích thích. Ở trẻ em, việc điều tiết cảm xúc rất quan trọng cho sự phát triển về mặt nhân cách xã hội.
Khu bảo tồn khỉ bonobo trong nghiên cứu này có nhiều con khỉ là nạn nhân của nạn săn bán thú rừng. Các con khỉ được nhân viên khu bảo tồn chăm sóc thay cho khỉ mẹ từ khi còn nhỏ cho đến khi chúng đủ lớn và được chuyển vào rừng sống với các con khỉ cùng độ tuổi. So với những con khỉ được khỉ mẹ chăm sóc, những con khỉ bị bỏ rơi thường gặp khó khăn hơn trong việc điều tiết cảm xúc, chúng rất dễ cảm thấy khó chịu hơn và thường la hét một vài phút sau khi một trận đấu nào đó diễn ra.
Bằng cách đánh giá cách biểu hiện sự đau khổ và phản ứng với những tác động bên ngoài, các nhà nghiên cứu có thể khẳng định sự điều tiết về mặt cảm xúc là một phần tất yếu của sự đồng cảm. Sự đồng cảm cho phép loài khỉ hiểu những sự đau khổ của những con khác mà không tự làm mình tổn thương, giống như con người. Điều này giải thích tại sao những con khỉ bonobo bị bỏ rơi, từng có những trải nghiệm dễ khiến chúng bị tổn thương, sẽ bị cản trở sự phát triển cảm xúc, khả năng biểu lộ về mặt xã hội kém hơn những con khác.
Đây là phát hiện quan trọng với lịch sử tiến hóa của loài người bởi nó có thể cho thấy các khuôn mẫu biểu lộ cảm xúc xã hội được áp dụng với trẻ em cũng có tác dụng tương tự với loài khỉ. Với việc áp dụng khuôn mẫu này, các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra những dự đoán hành vi của các con khỉ trưởng thành. (Vnexpress.net 16/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||