Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã nhấn mạnh như vậy tại phiên thảo luận của Quốc hội “Quy hoạch thủy điện” chiều 13/11.
Bộ trưởng cho biết, từ 2006 trở lại đây, theo phân cấp tất cả các thủy điện nhỏ đều giao cho các địa phương phê duyệt quy hoạch, các địa phương có tham khảo ý kiến của các bộ, ngành nhưng quyết định phê duyệt vẫn là của địa phương. Trong tổng số các dự án thủy điện nhỏ đã được quy hoạch thì 65% là do các địa phương phê duyệt quy hoạch.
“Do vậy, những điều mà chúng ta đang nói đây là chúng ta đang nói về chúng ta chứ không phải nói về Chính phủ hay bộ ngành nào. Thủ tướng Chính phủ vừa có yêu cầu, từ nay trở đi, tất cả các dự án thủy điện không phân biệt quy mô khi quyết định đầu tư và trước khi khởi công đều phải báo cáo Thủ tướng, nếu Thủ tướng đồng ý mới được khởi công", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Thảo luận trước đó, đa số các đại biểu (ĐB) đều bày tỏ bức xúc về việc có tới hơn 66% diện tích đất rừng bị mất bởi việc xây dựng các công trình thủy điện chưa được trồng lại theo quy định.
ĐB Danh Út (Kiên Giang) cho rằng, thực tế có chuyện lợi dụng làm thủy điện để phá rừng. Ông đề nghị: Chính phủ cần làm rõ vì sao phần lớn các dự án thủy điện hiện nay không trồng rừng, có dự án giải thích không trồng rừng vì không có đất nhưng có nơi có đất cũng không trồng. “Vì sao làm thủy điện gần 20 năm mà mãi đến năm 2013 Bộ NN-PTNT mới quy định về trồng rừng?”, ĐB Út nêu vấn đề.
Chưa bao giờ mối nguy cơ từ các công trình thủy điện vừa và nhỏ lại phát lộ nhiều như lúc này, xảy ra nhiều sự cố về con người về tài sản, hoa màu, phá vỡ cân bằng sinh thái… nhưng không ai chịu trách nhiệm. ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên) chỉ ra rằng: Quá trình vận hành thủy điện ở nhiều địa phương cho thấy, nhiều chủ đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận mà không quan tâm tới trách nhiệm và nghĩa vụ đã cam kết.
ĐB Huỳnh Minh Hoàng (Bạc Liêu) cho rằng, hiện tượng lũ tăng bất thường, vỡ đập, động đất, phá rừng biến đổi hình thái sinh thái… là do kết quả tất yếu của việc tăng trưởng nóng về thủy điện hơn 10 năm gần đây. “Sự dễ dàng, buông lỏng quản lý trong việc phê duyệt quy hoạch thủy điện đã bắt cả môi trường tự nhiên và người dân gánh chịu thảm họa do sự cố thủy điện gây ra”, ĐB Hoàng nói.
ĐB Nguyễn Công Bình (Yên Bái) cho rằng, báo cáo của Chính phủ chưa đánh giá toàn diện, nhất là việc ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân sau khi nhường đất để xây dựng các công trình thủy điện còn rất mờ nhạt. Ông dẫn chứng, cách đây hơn 40 năm, 5 vạn dân đã phải di chuyển nhường gần 20.000 ha đất để xây dựng thủy điện Thác Bạc (Yên Bái). Nhưng đến nay vẫn còn hơn 1 vạn dân vẫn chưa có điện.
"Người dân hỏi nhau rồi hỏi ĐBQH là bao giờ thôn bản mình có điện. Dân nhường đất để làm ra điện nhưng hơn 40 năm vẫn chưa có điện là thực tế không thể chấp nhận”, ông Bình bức xúc.
Từ thực tế hơn 65.000 hộ với trên 300.000 nhân khẩu phải di dời để nhường nơi ở của mình cho công trình thủy điện là nguyên nhân chính gây ra nghèo đói và di cư tự do vì nơi ở mới không đảm bảo, ĐB Danh Út đề nghị: "Cần có số liệu cụ thể hơn, làm thủy điện đã có bao nhiêu khu tái định cư đảm bảo được đời sống của người dân được bằng và tốt hơn nơi ở cũ".
ĐB Nguyễn Thái Học chỉ trích gay gắt việc tập trung quá đà và phát triển thủy điện trong một thời gian dài dẫn đến hậu quả là đầu tư thủy điện thành một phong trào. Điều đáng quan tâm là hàng loạt vi phạm lại không được phát hiện hoặc nếu có phát hiện thì cũng không bị xử lý. “Điều này khiến người dân bức xúc cho rằng, các công trình thủy điện có những đặc quyền đặc lợi khác thường nên không bị xem xét xử lý vi phạm”, ĐB Học nói.
ĐB Danh Út đặt câu hỏi: "Vì sao hơn 424 dự án bị loại ra trước đó đều thẩm định tác động môi trường tốt nay lại loại vì không tốt cho môi trường?". ĐB Trương Văn Vở (Đồng Nai) đề nghị xác định rõ một số bộ ngành, địa phương liên quan chưa thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao trong tham mưu, thẩm định, phê duyệt quy hoạch.
ĐB Huỳnh Minh Hoàng đề nghị ra nghị quyết về kết quả rà soát chứ không chấp nhận nghị quyết thừa nhận quy hoạch thủy điện, bổ sung loại bỏ những thủy điện nhỏ, tạo lợi nhuận không bao nhiêu nhưng gây ra hệ lụy lớn cho xã hội. (Thanh Niên 14/11; Tin Tức 14/11; Công An Nhân Dân 13/11; Dangcongsan.vn 13/11; Người Lao Động 14/11; Đại Đoàn Kết 14/11; Pháp Luật TPHCM 14/11) đầu trang(
Tính đến nay, Quỹ bảo vệ phát triển rừng Lào Cai (Quỹ BVPTR) đã thu được 10,6 tỷ đồng tiền từ 42 nhà máy thủy điện, cơ sở cung ứng nước sạch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, theo hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Trong đó, thu từ các đơn vị sản xuất thủy điện là 9,2 tỷ đồng, thu từ các cơ sở sản xuất, cung ứng nước sạch là 585 triệu đồng, thu từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch là 317 triệu đồng. Hiện, hơn 20 đơn vị trên địa bàn còn nợ Quỹ BVPTR khoảng 31 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trên cơ sở số tiền đã thu được sử dụng nguồn tiền dự phòng, từ nay đến hết ngày 31-12-2013, Quỹ BVPTR Lào Cai sẽ chi trả 17 tỷ đồng cho 14 chủ rừng là tổ chức và ủy thác cho Hạt Kiểm lâm chín huyện, thành phố chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho hàng chục nghìn hộ dân đang quản lý, chăm sóc, bảo vệ hơn 97 nghìn ha rừng trên địa bàn.
Trong năm 2012, Quỹ BVPTR Lào Cai mới chi trả được 500 triệu đồng cho một đơn vị là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên. (Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Từ năm 2012, người dân trồng rừng và bảo vệ rừng bắt đầu được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng do người sử dụng điện chi trả thông qua các nhà máy thủy điện. Đây là nguồn thu cần thiết khuyến khích người dân bảo vệ rừng tốt hơn.
Rừng Yên Bái nằm trên lưu vực sông Đà, sông Chảy và sông Hồng. Theo thống kê, đến năm 2012 tổng diện tích rừng của Yên Bái là 415.103 ha, trong đó rừng tự nhiên 23.337 ha, rùng trồng 172.521 ha, độ che phủ đạt 59,6%, diện tích rừng được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng là 180.000 ha. Đây là nơi giữ nuớc và cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện có công suất lớn như Thác Bà, Hòa Bình, Huổi Quảng, Văn Chấn...; ngoài ra có rất nhiều thủy điện vừa và nhỏ nằm dọc các con suối như Nặm Kim, Ngòi Thia, Năm Hát, Năm Đông...
Năm 2012, tiền dịch vụ môi trường rừng là 20,6 tỷ, số tiền chi trả trung bình cho các luu vực sông Đà 320.000 đ/ha, sông Chảy 33.000 đ/ha, sông Hồng 28.000 đồng/ha. Trong đó BQL rùng phòng hộ huyện Mù Cang Chải được chi trả 9,3 tỷ, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải 6,5 tỷ, BQL rừng phòng hộ Trạm Tấu 6,9 tỷ. Đến ngày 30/4/2013 toàn bộ số tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012 đã phát hết cho người dân. Năm 2013 một số nhà máy thủy điện mói buớc vào hoạt động, dự kiến số tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả cho người dân khoảng 30 tỷ.
Ngoài tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân còn được hưởng tiền khoán BVR là 200.000 đ/ha, trừ chi phí quản lý nguời dân thực nhận đối vói lưu vực sông Đà là 476.200 đ/ha, lưu vực sông Hồng là 211.750 đ/ha. So với nhiều năm trước đây người dân BVR đã có nguồn thu đáng kể, chính điều đó đã hạn chế được tình trạng phá rừng làm nương rẫy, nhất là các trận cháy rừng đã giảm hẳn. Huyện Mù Cang Chải được ví là “chảo lửa cháy rừng”, năm cháy nhiều nhất 35 vụ, diện tích rừng cháy trên 700 ha, mùa khô năm 2012 - 2013 chỉ xảy ra 1 trận cháy, diện tích rừng thiệt hại 8,8 ha, huyện Trạm Tấu cũng chỉ xảy ra 1 trận cháy rừng, diện tích thiệt hại 4,9 ha.
Thu nhập của người dân không chỉ có tiền BVR, mấy năm qua người dân còn tham gia khai thác nhựa thông, tỉa thưa rừng. Năm 2013 huyện Trạm Tấu khai thác 100 tấn nhựa thông, tỉa thưa 561 m3 gỗ giúp ngưòi dân có việc làm và tăng thu nhập.
Tuy nhiên, theo ông Đinh Thanh Ba - GĐ BQL rừng phòng hộ Trạm Tấu, huyện có trên 4.000 hộ dân với diện tích 32.893 ha được hưởng dịch vụ môi trường rừng, thì trung bình mỗi hộ dân chỉ được 1,7 triệu đồng. Trong khi đó giá cả đều tăng, nhu cầu cuộc sống của người dân mỗi ngày một cao. Nhà nước cần tăng tiền dịch vụ môi trường rừng cũng như tăng mức khoán BVR...
Ông Lê Mạnh Hùng - GĐ BQL rừng phòng hộ Mù Cang Chải cho biết: Chúng tôi đang quản lý 46.944 ha rừng các loại, do nằm ở suờn tây của dãy Hoàng Liên Sơn, gió Lào thổi suốt 6 tháng mùa khô, việc trồng rừng đã khó, việc bảo vệ rừng còn khó hơn. Nếu không bảo vệ tốt, chỉ cần một trận cháy rừng thì hàng trăm ha rừng bị xóa sổ. Nếu 1 ha rừng mỗi ngày chi trả cho người dân bảo vệ 1.000 đồng thôi thì riêng tiền khoán bảo vệ đã là 365.000 đ/ha. Vì thế Nhà nước cần tính toán thêm chỗ này, để người dân BVR tốt hơn... (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11) đầu trang(
Đến nay Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk đã giải ngân 15 tỷ đồng cho 9 chủ rừng gồm: các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, ban quản lý, công ty lâm nghiệp và cộng đồng địa phương quản lý, bảo vệ rừng.
Việc chi trả căn cứ trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch hoạt động bảo vệ rừng cụ thể và mức chi trả hợp lý. Đây là nguồn lực quan trọng góp phần mang lại những chuyển biến tích cực, thúc đẩy thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tổng diện tích rừng của tỉnh Đắk Lắk có gần 650.000 ha, tỷ lệ che phủ đạt 48,8%, trong đó 562.770 ha rừng tự nhiên và 78.041 ha rừng trồng (31.467 ha rừng trồng cao su). Năm 2013 tổng số tiền cần chi trả phí dịch vụ môi trường rừng là 37 tỷ đồng, trong đó Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh là đơn vị ủy thác thực hiện chi trả gián tiếp phí của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng đến với bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo kịp thời, đầy đủ đúng quy trình. (Hội Nông Dân VN 13/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Nhờ sự bảo vệ của 320 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở 6 xã thuộc các huyện Mang Yang, Đăk Đoa và Kbang (Gia Lai) mà 8.000ha rừng của Vườn quốc gia Kon Ka Kinh đã không bị xâm chiếm...
Cùng với 24 hộ khác, anh Kuh, làng Hyêr, xã Ayun, (Mang Yang) được thôn trưởng, già làng lựa chọn đại diện cho 91 hộ dân của làng ký hợp đồng và nhận tiền giao khoán rừng. Làng Hyêr đứng ra nhận giao khoán bảo vệ 600ha rừng vói Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, vớii số tiền được chi trả là 120 triệu đồng/năm(200.000 đồng/ha/năm).
Anh Kuh cho biết: Diện tích anh nhận giao khoán là 30ha với số tiền được nhận là 1,5 triệu đồng/quý. Sau khi nhận tiền về sẽ nộp hết lại cho làng, sau đó chia đều cho tất cả các hộ bởi theo quy định của làng Hyêr, số tiền nhận được sẽ được chia đều cho tất cả 91 hộ dân trong làng vì ai cũng đểu có trách nhiệm tham gia giữ rừng.
Làng Hyêr đã chia 91 hộ làm 5 tổ, mỗi tổ từ 15-20 người để tiến hành kiểm tra thường xuyên đối với phần diện tích rừng đã nhận giao khoán. Ngoài ra, mỗi tháng 2 lần, làng đều cử ra 2 tổ phối hợp với cán bộ trạm kiểm lâm của vườn tham gia tuần tra, kiểm tra, nhờ đó mà diện tích mà làng Hyêr đã nhận giao khoán từ trước đến nay không bị xâm hại, bị cháy hay bị lấn chiếm đất rừng làm rẫy...“Đã nhận tiền bảo vệ rồi mà, không phá rừng được đâu. Phải giữ cho con cái mình sau này còn nhìn thấy được những cây to...”- anh Kuh nói.
Ông Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh cho biết: “Vườn có 8 trạm kiểm lâm và một đội kiểm lâm cơ động, mỗi cán bộ kiểm lâm được giao quản lý trên 500ha rừng thì không làm sao quản lý nổi. Nếu không có tai mắt của người dân trong việc chia sẻ trách nhiệm bảo vệ rừng thì rừng sẽ bị xâm hại”.
Ngoài việc được hưởng lợi từ những nông sản phụ, có thêm thu nhập từ diện tích nhận khoán, cộng đồng thôn bản vùng đệm còn được nhà nước đầu tư với mức hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn bản/năm để đồng quản lý rừng đặc dụng. Trong năm nay sẽ có 20 làng thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Kon Ka Kinh sẽ được hỗ trợ xây dựng các công trình công cộng. (Nông Thôn Ngày Nay 14/11) đầu trang(
Một thời vùng Ma Ao Dứa (VQG Tam Đảo) rúng động đêm ngày như một công trường khai thác của bọn quặng tặc. Những hang sâu hun hút thông với nhau dưới lòng đất đã giết chết không biết bao nhiêu cây cổ thụ phía trên. Một cuộc chiến đào, lấp diễn ra dai dẳng trong nhiều năm mới dứt. Không ít cánộ kiểm lâm (KL) đã đổ máu để rừng hồi sinh.
Từ cửa rừng gần Trạm KL Tam Đảo Núi, phải đi bộ hơn 10 km xuyên rừng mới đến đuợc đỉnh Ma Ao Dứa ở độ cao 1.200 m. Giũa đại ngàn thâm u có một căn lều bạt tạm bạ dựng bên cạnh những thân cây cổ thụ mốc xanh mốc đỏ. Các cán bộ KL vẫn sinh hoạt hằng ngày trong đó để bảo vệ bãi quặng rộng 3.000 m2.
Khi PV đến bãi quặng, 3 cán bộ KL là Nguyễn Văn Thường (35 tuổi, Trạm trưởng Trạm KL Tam Đảo Núi); Lê Ngọc Lý (28 tuổi, Trạm trưởng Trạm KL Yên Mỹ) và Triệu Huy Hoàng (23 tuổi, nhân viên Trạm KL Quân Chu) đang gác ở đây.
Nói về cái khổ trong sinh hoạt ở rừng Ma Ao Dứa, anh Lê Ngọc Lý tâm sự: Từ tháng 5-8, mưa nối mưa liên tục ngày này qua ngày khác. Trong lều chẳng sướng hơn ngoài tròi là mấy. Chăn màn ẩm ướt hết. Quần áo giặt từ đầu tháng đến cuối tháng vẫn chưa mặc được. Gió luồn giũa hai khe núi ập thẳng vào bạt bay phần phật, rít lên từng hồi. Sợ nhất là sét đánh, mua bao nhiêu bóng điện cũng nổ đòm đọp, đành phải dùng đèn pin. Xung quanh lều toàn là cây to mọc trên núi đá nên rất dễ đổ. Anh em nằm ở trong mà cứ nơm nớp lo sợ.
Mùa đông khổ vì giá rét. Cái rét trên đỉnh Ma Ao Dứa không tuân theo quỵ luật của tự nhiên. Mới 6 giờ tối, gió lạnh đã tràn vào trong lều khiến tất cả đều phải khoác thêm áo dày sù sụ, môi khô tai tái, thở ra hơi nước.
Phó Hạt trưởng Hạt KL VQG Tam Đảo Phạm Xuân Trường tình nguyện nấu cơm bếp củi để sưởi. Dù không có tủ lạnh, nhưng đồ ăn, thúc uống của anh em KL chuẩn bị ca trục được mang từ chân núi vào đây vẫn bảo quản được 4-5 ngày không ôi, thiu nhờ ngâm trong dòng nước lạnh buốt chảy ra từ núi đá.
3 năm trước, Nông Nghiệp Việt Nam đã đăng tải loạt bài “Sóng ngầm trên núi Tam Đảo”, phản ánh về thực trạng khai thác quặng rầm rộ tại khu vục rừng Ma Ao Dúa và cuộc chiến khốc liệt giữa lục lượng KL VQG Tam Đảo vói các đối tượng quặng tặc trong suốt 3 năm (từ 2008 - 2010) mói chấm dứt.
Trong cuộc chiến ấy, 3 KL đã phải đổ máu. Trong đó có ông Phạm Xuân Trường (thương binh 4/4), người đang cùng PV tham gia tuần tra bảo vệ rừng. Trong một lần truy bắt quặng tặc vào tháng 12/2009, ông đã bị các đối tượng khai thác quặng trái pháp luật hung hãn chống trả, dùng gậy đập một nhát sau lung khiến phổi bị tổn thương.
Tiếp đến, hàng chục quặng tặc khác đứng ở trên ném đá khiến đèn pin đeo truớc trán của ông vỡ tan, một hòn đá khác rơi giũa đỉnh đầu. Trong tình thế nguy nan, ông kiên quyết không lùi bước trước sự đe doạ của bọn “ăn tươi nuốt sống rừng” với lời đanh thép: “Thằng nào bước một bước tao bắn”, mặc dù khẩu súng trong tay đã bắn chỉ thiên hết đạn.
Ở tuổi 55, mặc dù bị vỡ mắt cá chân, chấn thương vùng đầu và ngục, tổn thương 31% súc khoẻ, nhưng sức hút của rừng xanh đã khiến ông đúng dậy, tiếp tục cuộc chiến bảo vệ rừng.
Năm 2010, lãnh đạo VQG Tam Đảo đã thành lập 1 tổ thường trục dựng lán trại gần bãi quặng, trực 24/24 để ngăn chặn các đối tuợng tái diễn khai thác. Bọn quặng tặc đã dùng nhũng thủ đoạn ma quái để “chặn đường sống” của cán bộ KL VQG như cắt đứt dây diện dẫn từ máy thuỷ điện vào chốt trục; băm nát đường dẫn nước từ suối xuống; thậm chí bỏ tiền thuê nguòi nghiện dọa nạt gia quyến của KL. Nhưng, những hành động trả thù đó không làm khuất phục ý chí của những chiến sỹ KL mang trong mình sứ mệnh bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11) đầu trang(
Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vừa công nhận cụm cây xoài Đá Trắng có tuổi hơn 220 năm, được trồng trong khuôn viên Khu di tích lịch sử Quốc gia Chùa Từ Quang ở thôn Cần Lương, xã An Dân, Tuy An (Phú Yên) là Cây di sản Việt Nam.
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Phú Yên cho biết, cụm cây xoài Đá Trắng là một quần thể gồm 20 cây xoài ngự có tuổi hơn 220 năm, được trồng trong khuôn viên Khu di tích lịch sử Quốc gia Chùa Từ Quang (thường gọi là chùa Đá Trắng) là loại xoài ngon nổi tiếng.
Được biết, đến nay, cả nước có 514 cây được công nhận là cây di sản Việt Nam. (Lao Động 13/11; Công An Nhân Dân 13/11) đầu trang(
Ngày 12/11, tại xã Cốc Ly, UBND các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng và Mường Khương tổ chức Hội nghị giao ban Quy chế phối hợp bảo vệ rừng khu vực giáp ranh giữa 3 huyện.
Khu vực rừng giáp ranh giữa 3 huyện có 10 xã với tổng diện tích tự nhiên 48.037 ha với nhiều loài gỗ quý hiếm cần được bảo vệ. Việc triển khai công tác phối hợp bảo vệ rừng (từ 10/10/ 2012 – 15/10/2013) đã được thực hiện có hiệu quả theo các nội dung quy chế đã được ký kết; công tác tuyên truyền, tuần tra, kiểm tra rừng đã được tăng cường, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực giáp ranh đã giảm về số vụ vi phạm so với năm trước.
Tuy nhiên, do đời sống người dân tại các xã khu vực giáp ranh kinh tế còn khó khăn, trình độ nhân thức hạn chế, mặt khác nhu cầu sử dụng lâm sản ngày càng gia tăng; đặc biệt là nhu cầu sử dụng gỗ nghiến tròn làm thớt bán ra thị trường với lợi nhuận cao, nên người dân vẫn lén lút vào rừng khai thác trái phép lâm sản, tập trung chủ yếu tại các xã: Cốc Ly, Bảo Nhai, thị trấn Phong Hải, Bản Cầm, Tả Thàng, La Pán Tẩn.
Theo thông kế, qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng kiểm lâm 3 huyện đã phát hiện 19 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, bao gồm: Khai thác rừng trái phép, vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản trái pháp luật và vi phạm quy định về quản lý động vật rừng (Bắc Hà 10 vụ, Bảo Thắng 9 vụ), các lực lượng đã thực hiện sử phạt vi phạm hành chính số tiền gần 15 triệu đồng, tịch thu 2 mô tô và 7,359 m3 gỗ tang vật.
Hội nghị đã dành nhiều thời gian để thảo luận bàn giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác phối hợp bảo vệ rừng trong khu vực giáp ranh; đề xuất kiến nghị với tỉnh về việc mở rộng tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng giáp ranh giữa 4 huyện: Bắc Hà, Bảo Thắng, Mường Khương và Si Ma Cai trong thời gian tới. (Báo Lào Cai 13/11) đầu trang(
Ngày 12-11, UBND tỉnh đã có Quyết định số 2390 phê duyệt Dự án đầu tư Bảo vệ và phát triển rừng huyện Võ Nhai.
Mục tiêu của Dự án là bảo vệ tốt rừng hiện có; sử dụng tài nguyên rừng và quỹ đất quy hoạch cho lâm nghiệp có hiệu quả, bền vững, tăng độ che phủ rừng, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập để người dân gắn với nghề rừng, góp phần xóa nghèo, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Dự án sẽ được triển khai, thực hiện tại các xã: Bình Long, Dân Tiến, Lâu Thượng, La Hiên, Liên Minh, Phương Giao, Phú Thượng, Tràng Xá, thị trấn Đình Cả, trong đó, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả chỉ thực hiện nhiệm vụ của rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Theo đó, các hạng mục đầu tư lâm sinh của Dự án là khoán bảo vệ rừng: 4.850 ha; theo dõi diễn biến tài nguyên rừng: 9.000 ha; trồng mới 4.000 ha rừng; trồng 400.000 cây phân tán: cải tạo rừng nghèo kiệt: 300 ha; xây dựng 40km đường băng cản lửa và 1 vườn ươm. Ngoài ra, Dự án sẽ xây dựng 5 đập chứa nước phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng; 9 biển báo cháy rừng; 50km đường lâm nghiệp…
Tổng vốn đầu tư cho Dự án là trên 154 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2014-2020 hơn 49 tỷ đồng; ngân sách địa phương, các nguồn vốn huy động khác và nhân dân đóng góp là gần 105 tỷ đồng. Dự án sẽ được thực hiện từ năm 2014-2020. (Báo Thái Nguyên 14/11) đầu trang(
Để chủ động và kịp thời tổ chức lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó khi có các tình huống cháy rừng xảy ra tại địa phương, huyện Ba Bể đã triển khai sớm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2013 - 2014.
Huyện Ba Bể có diện tích rừng tự nhiên trên 64.000 ha, trong đó đất có rừng là 44.000 ha, vì vậy đối tượng rừng có nguy cơ cháy là rất lớn. Theo thống kê hiện nay, trên địa bàn huyện có trên 6.000 ha rừng dễ xảy ra cháy chủ yếu là các rừng trồng một số loại cây như: Thông, Mỡ, Keo và diện tích lau lách…
Trong mùa khô năm 2012-2013, trên địa bàn huyện đã xảy ra 2 vụ cháy rừng và cháy trên diện tích đất lâm nghiệp tại xã Bành Trạch và Thượng Giáo với diện tích cháy là gần 3 ha. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân thiếu ý thức trong công tác phòng chống cháy rừng, chủ quan trong công tác xử lý thực bì hoặc trẻ trâu đi đốt ong thả trâu đã xảy ra cháy lan lên rừng gây thiệt hại không nhỏ.
Xác định công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là một trong những nội dung quan trọng đối với công tác quản lý và bảo vệ rừng, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra, Hạt kiểm lâm huyện Ba Bể đã chủ động tham mưu cho UBND huyện kiện toàn lại Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng từ cấp huyện đến cấp xã.
Thành lập gần 200 tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng tại chỗ ở thôn, bản trong toàn huyện, với hơn 1.000 thành viên tham gia. Chỉ đạo cho chính quyền cơ sở 15 xã, thị trấn xây dựng các phương án sẵn sàng phòng cháy, chữa cháy rừng một cách có hiệu quả, phù hợp với từng địa phương.
Đặc biệt, hạt Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện, chỉ đạo các địa phương cơ sở giám sát chặt chẽ việc đốt dọn, xử lí thực bì trồng rừng, đảm bảo không để cháy lan. Song song với đó, lực lượng Kiểm lâm huyện đã phối hợp tổ chức tuyên truyền về phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng và lắp biển dự báo cháy rừng, biển tuyên truyền Bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra các khu vực trọng điểm dễ cháy… (Đài PT - TH Bắc Kạn 13/11) đầu trang(
Để chủ động trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (BVR, PCCCR), Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước đã tham mưu Chủ tịch tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo công tác bảo vệ rừng mùa khô năm 2013 và năm 2014, trong đó nhiệm vụ Sở NN&PTNT tỉnh sẽ thực hiện tổng hợp một số biện pháp.
Theo đó, tăng cường các hoạt động phối hợp kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng theo Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng; Phối hợp Cảnh sát PCCC – Công an tỉnh và Ban Chỉ đạo BVR các huyện, thị tổ chức các đợt kiểm tra tại các vùng có nguy cơ cháy cao, yêu cầu các chủ rừng thực hiện tốt việc bố trí lực lượng, phương tiện tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, cháy rừng để kịp thời phát hiện, xử lý;
Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Bù Gia Mập và thị xã Phước Long tăng cường các hoạt động tuyên truyền, tuần tra BVR, PCCCR tại rừng đặc dụng Bù Gia Mập và Khu Di tích Lịch sử núi Bà Rá;
Phối hợp Trung tâm Khí tượng – Thủy văn và Đài Phát Thanh và Truyền hình tỉnh, thực hiện tốt công tác dự báo cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, phối hợp với Đài phát thanh & Truyền hình tỉnh thực hiện phóng sự, đăng tin, bài trên Báo Bình Phước, trang Website Sở Nông nghiệp, thông tin tuyên truyền đến người dân trên địa bàn tỉnh nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Tổ chức lực lượng trực bảo vệ rừng, sẵn sàng hỗ trợ các địa phương khi xảy ra các vụ việc cấp bách về phá rừng, cháy rừng. Tổng hợp tình hình phá rừng, cháy rừng trên địa bàn tỉnh, báo cáo Tổng cục Lâm nghiệp và UBND tỉnh theo quy định. (Sở NN&PTNT Bình Phước 13/11) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo UBND tỉnh Bình Phước tại Công văn 3627 về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng mùa khô năm 2013 và năm 2014, ngày 12/11, Chi cục Kiểm lâm đã có văn bản số 723 về triển khai công tác bảo vệ rừng mùa khô năm 2013 – 2014, qua đó, yêu cầu lãnh đạo các đơn vị trực thuộc khẩn trương triển khai thực hiện các biện pháp gồm:
Tham mưu Chủ tịch UBND các cấp rà soát thực hiện tốt Phương án BVR-PCCCR năm 2013 đã được phê duyệt; đồng thời, xây dựng Phương án BVR-PCCCR năm 2014 để trình cấp thẩm quyền phê duyệt thực hiện; Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luạt về công tác bảo vệ rừng trong các công đồng dân cư sống và sản xuất trong rừng, gần rừng;
Xây dựng các kế hoạch phối hợp giữa Kiểm lâm, chủ rừng và các lực lượng chức năng thực hiện việc kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, khai thác, cất giữ lâm sản trái phép trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2014; Tổ chức lực lượng thường trực, sẵn sàng hỗ trợ các chủ rừng và Ban bảo vệ rừng các xã khi xảy ra các vụ việc cấp bách về phá rừng, cháy rừng.
Thực hiện việc phối hợp với Trung tâm Khí tượng – Thủy văn và Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện công tác tuyên truyền; dự báo cháy rừng trên địa bàn tỉnh; Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm cũng đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm và Kiểm lâm phụ trách địa bàn, tham mưu UBND các địa phương tổ chức Hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng năm 2013 nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại yếu kém trong công tác bảo vệ rừng trong năm 2013, đề ra các giải pháp thực hiện trong năm 2014.
Trong thời gian tới (đầu tháng 12/2013), Chi cục Kiểm lâm sẽ tổ chức phối hợp với Cảnh sát PCCC – Công an tỉnh và Ban Chỉ đạo BVR các huyện, thị tổ chức đợt kiểm tra tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao; đôn đốc, hướng dẫn các chủ rừng xây dựng Phương án bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trên lâm phần được giao; yêu cầu các chủ rừng thực hiện tốt việc bố trí lực lượng, phương tiện tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, cháy rừng để tuần tra, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc. (Sở NN&PTNT Bình Phước 12/11) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Trước thông tin đẩy đưa giữa hai Bộ Công thương và Bộ NN&PTNT về tiền quỹ phát triển rừng, Bộ Tài chính cho biết Quỹ là do Bộ NN&PTNT quản lý, nhưng việc đốc thúc trả tiền là do Bộ Công thương. Bộ Tài chính không liên quan.
Ông Lại Văn Dương - Phó vụ trưởng Vụ Tài chính sự nghiệp (Bộ Tài chính) khẳng định như vậy.
Trả lời câu hỏi: Thưa ông, trước thông tin Bộ Công thương thì cho rằng EVN và các chủ đầu tư xây dựng thủy điện đã nộp tiền phí dịch vụ môi trường và phí trồng hoàn rừng về Quỹ phát triển rừng, trong khi đó Bộ NN&PTNT lại khẳng định chưa có đồng nào về quỹ. Xin ông cho biết, theo nguyên tắc kiểm soát tài chính dòng tiền được đi như thế nào trong trường hợp này? Ông Lại Văn Dương cho hay: Ôi, cái đó phải làm việc với Bộ Nông nghiệp. Bộ Tài chính không nắm việc này.
Bộ NN&PTNT có cả một Hội đồng quản lý quỹ, có người giúp việc cho quỹ, có người theo dõi tiền ai trả, ai chưa chứ Bộ Tài chính làm sao nắm đượcviệc này?
Nhưng Bộ nói có, Bộ nói không và cuối cùng Quỹ không có đồng nào. Xét về nguyên tắc kiểm soát tài chính thì Bộ Tài chính phải biết được tiền đó đi đâu chứ ạ?, ông Lại Văn Dương cho biết: Việc sử dụng tiền thế nào, tiền đi đâu thì đều có cơ chế rồi. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam do Bộ NN&PTNT quản lý thì làm sao Bộ Tài chính biết được? Việc thu - chi quỹ thế nào đã có quy định tại Nghị định 99 của Chính phủ. Cứ Nghị định đó mà thực hiện thôi.
Quỹ do Bộ NN&PTNT quản lý, nhưng tiền do Bộ Công thương trích trả. Bộ Tài chính nói không biết nghĩa là thế nào?, ông Lại Văn Dương lý giải: Đơn vị quản lý và chỉ đạo trực tiếp là Bộ NN&PTNT, nhưng chỉ đạo dọc hệ thống thủy điện, EVN là Bộ Công thương. Bộ Công thương phải có trách nhiệm chỉ đạo các chủ đầu tư thủy điện hoàn trả tiền phí sử dụng môi trường, tiền trồng hoàn rừng. Còn việc thu tiền về, chi bao nhiêu, tiền đi đâu là do văn phòng quỹ của Bộ NN. Quỹ này có cả bộ máy văn phòng giúp việc cơ mà. Chắc chắn, Bộ NN&PTNT sẽ nắm được con số chi tiết ai trả, ai chưa và chi thế nào.
Vậy còn trách nhiệm của Bộ Công thương?, ông Lại Văn Dương cho hay: Họ chỉ có trách nhiệm phối hợp thôi. Vì trong kết cấu giá của EVN thì đã có quy định rồi, Bộ Công thương phải có trách nhiệm đốc thúc doanh nghiệp trả tiền. Có thể trả muộn, trả chậm cái này thì ngay cả văn phòng quỹ cũng phải có sự đôn đốc.
Quy định là vậy, nhưng tại sao 20.000 ha rừng bị phá không được trồng lại cũng không nộp tiền. Tiền phí sử dụng môi trường thì nợ đọng. Trong khi đó, hai bộ NN&PTNT và Bộ Công thương lại tìm cách đẩy cho nhau?, ông Lại Văn Dương khẳng định: Cái đó thì phải làm việc với Bộ NN&PTNT chứ Bộ tài chính làm sao biết được?
Vậy trách nhiệm quản lý dòng tài chính, Bộ Tài chính nói sao?, ông Dương nói: Làm sao Bộ Tài chính biết được, cái này phải làm việc với Bộ NN&PTNT. (Đất Việt 14/11) đầu trang(
Báo Nông Nghiệp Việt Nam tiếp tục đăng ý kiến của TS Phạm Quốc Doanh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo và Phát triển doanh nghiệp về việc đổi mới, phát triển công ty nông lâm nghiệp
Mục tiêu: 1. Đổi mới công ty nông, lâm nghiệp phải phù họp nội dung tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tại Kết luận số 50-KL/TW ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trang ương Đảng khóa XI; phù họp với chiến luợc phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tái cơ cấu nền kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là Chương trình xây dựng nông thôn mới.
2. Đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, rừng, vườn cây lâu năm; đất đai và rùng phải có chủ quản lý, gắn quyền lọi với trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai; tiếp tục duy trì và hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hóa tập trung, thâm canh quy mô lớn.
3. Tạo sự chuyển biến càn bản về phương thúc tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; tổ chúc lại các công ty nông, lâm nghiệp làm nhiệm vụ kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù họp vói quy định của pháp luật.
Phương hướng, nhiệm vụ: 1. Tiếp tục duy trì, củng cố phát triển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước:
a) Đối với các công ty nông nghiệp đang thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh kết họp an ninh - quốc phòng.
Các công ty được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để tổ chức sản xuất, kinh doanh và thực hiện giao khoán đất cho ngưòi lao động, dân trên địa bàn. Hiện nay, các công ty nông nghiệp thuộc diện này thuộc Binh đoàn 15 và Binh đoàn 16, Bộ Quốc phòng, đóng trên địa bàn vùng biên giói, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
b) Đối với công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất: Hiện tại, còn 148 công ty trong đó có 126 công ty đều có quản lý rừng tự nhiên. Đây là những công ty hoạt động khó khăn nhất, không chuyển sang sản xuất kinh doanh theo Luật được, do thu không đủ chi, nhất là các công ty vùng Tây Nguyên (51/56 công ty không có nguồn thu từ rừng trồng).
Nguyên nhân chính là: chỉ tiêu khai thác gỗ từ rừng giảm hoặc không có, nếu có chỉ tiêu thì không phù hợp với phương án điều chế đưọc phê duyệt và phải tổ chức đấu thầu, tiền thu được nộp về ngân sách tỉnh; đối với rừng nghèo kiệt thì khó khăn cải tạo trồng rừng nguyên liệu, cây công nghiệp mà phải khoanh nuôi tái sinh.
Triển khai chủ trương “dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên” Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, việc thục hiện phương án quản lý rừng bền vững đuợc cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải đuợc cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững là công cụ quản lý, hàng rào kỹ thuật khả thi; hiện tại, một số dự án do quốc tế tài trợ và Bộ NN- PTNT đang chỉ đạo thí điểm có kết quả tốt ở 5-7 công ty thục sự chuyển sang sản xuất kinh doanh được, hầu hết các công ty còn lại sẽ không còn có nguồn thu từ gỗ rừng, diện tích rừng công ty đang quản lý cần bảo vệ, chăm sóc phải có nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước.
Để giảm nguồn chi từ ngân sách, phải tạo cho công ty có nguồn thu từ nguồn thu khác trên cơ sở dự án đầu tư, dịch vụ đã đuọc đăng ký kinh doanh, thì phải chuyển sang doanh nghiệp công ích. Mặt khác, hiện tại, cả nước có 91 ban quản lý rừng phòng hộ (đơn vị sự nghiệp) trong những năm qua ngân sách hàng năm chỉ đảm bảo được 30% kế hoạch vốn cho chăm sóc bảo vệ.
Do là đơn vị sự nghiệp nên số luợng cán bộ công nhân viên chức mỗi Ban quản lý đuọc định biên khoảng 15- 20 nên chưa thực sự gắn trách nhiệm, quyền lợi của họ với việc bảo vệ và phát triển rùng, hoạt động của các Ban quản lý rất khó khăn. Vì vậy về cơ bản các công ty chuyển sang doanh nghiệp công tích, không chuyển sang ban quản lý. Đối với các công ty này duy trì doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước nhưng đuợc tồn tại dưới 2 loại hình là:
- Thực hiện sản xuất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp đối với các công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất đuợc phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững. Công ty thuê đất của nhà nước theo quy định để hoạt động kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
Đối với diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng xen kẽ trong địa giới công ty thì Nhà nước bảo đảm kinh phí để quản lý bảo vệ rừng theo phương thức Nhà nuớc đặt hàng, giao kế hoạch hàng năm hoặc được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của công ty.
- Thực hiện nhiệm vụ công ích đối với công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững. Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối vói diện tích đất sử dụng thực hiện nhiệm vụ công ích. Ngoài nhiệm vụ công ích, doanh nghiệp thục hiện kinh doanh theo quy định của pháp luật. Được huy động các nguồn tài chính phục vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; được tận dụng sản phẩm từ rừng theo quy chế quản lý rừng.
2. Thực hiện cổ phần hóa các công ty nông nghiệp và công ty lâm nghiệp (quản lý chủ yếu rừng trồng)
Tổng kết thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn vói cổ phần hóa cơ sở chế biến ở 32 đơn vị (công ty nông, lâm nghiệp) đã khẳng định là chủ trương đúng, có mô hình và phương thúc sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đặc thù của các công ty nông, lâm nghiệp quản lý quỹ đất đai lớn, đã hình thành vùng gia súc, công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng trồng.
Đối với công ty nông nghiệp trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, công ty lâm nghiệp (rừng trồng) khi chuyển sang công ty cổ phần phải thực hiện thuê đất; sản xuất kinh doanh phải phù họp vói quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phuơng; bảo đảm quyền lợi của người đang nhận giao khoán đất.
- Nhà nước không giữ cổ phần chi phối đối với công ty nông nghiệp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây hàng năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, công ty giống cây nông nghiệp, giống cây lâm nghiệp, giống chăn nuôi, giống thủy sản. Khi chuyển sang công ty cổ phần phải chuyển phần lớn đất đai về địa phương quản lý sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch của địa phương, pháp luật về đất đai và phải bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ cho người đang nhận giao khoán đất.
Công ty chỉ giữ lại một phần đất đai để sản xuất giống, xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao khoa học và công nghệ, xây dựng cơ sở chế biến. Diện tích giữ lại phải chuyển sang thuê đất. Các công ty chuyển sang cổ phần hóa phải thục hiện thuê đất; sản xuất kinh doanh phải phù hợp vói quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3. Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên nhằm gắn kết công ty nông lâm nghiệp phát triển vùng nguyên liệu của công nhân và của người dân trong vùng vói công nghiệp chế biến nông sản và thị trường tiêu thụ. Công ty thực hiện thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. thực hiện sản xuất kinh doanh theo quy hoạch sử dụng đất của địa phương và bảo đảm quyền lợi người lao động đang nhận giao khoán đất của công ty.
4. Giải thể các công ty nông, lâm nghiệp hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ kéo dài; các công ty thục hiện khoán trắng (thục chất là phát canh thu tô), giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai, sản phẩm làm ra; các công ty không cần thiết phải giữ lại. Khi giải thể phải xử lỷ công nợ, tài sản trên đất (rừng, vườn cây), bàn giao đất đai về địa phương quản lý theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi của người đang nhận khoán, ổn định xã hội tại địa phương.
5. Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ đã đuợc chuyển đổi từ lâm trường
Tiếp tục duy trì, củng cố và đổi mới Ban quản lý rừng phòng hộ được chuyển đổi từ lâm trường (có 91 ban quản lý). Ban quản lý rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế đon vị sự nghiệp có thu. Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; bảo đảm kinh phí để thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng.
Thực hiện phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch hàng năm đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên không khai thác phân bố xen kẽ trong địa giới của Ban quản lý. Tiếp tục thục hiện chính sách giao khoán, đồng quản lý rừng trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rùng, cùng hưởng lợi từ rừng... (Nông Nghiệp Việt Nam 13/11) đầu trang(
Ông Hoàng Văn Phức - Phó phòng Nghiệp vụ 3, Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính cho rằng, sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh chủ yếu mới dừng ở... “tên gọi”, chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý. Để từng bước tháo gỡ những bất cập này cần có một cuộc “đại phẫu”. Đặc biệt là chính sách đất đai.
Theo ông Hoàng Văn Phức, mục tiêu của sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường (nay là công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng) là phải tạo được sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp, làm cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, rừng, vườn cây và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nông, lâm trường.
Để làm được điều đó, theo ông Phức cần có một cuộc “đại phẫu”, về đất đai, cần hoàn thành việc đo đạc xác định diện tích, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất theo quy định của Luật đất đai, cần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông, lâm nghiệp hoàn thành vào năm 2015. Ngần sách nhà nước cấp kinh phí để thực hiện việc rà soát, đo đạc, cắm mốc ranh giới cho các công ty nông, lâm nghiệp.
Các công ty nông, lâm nghiệp phối họp với chính quyền địa phương hoàn thành việc chuyển giao đất về cho địa phương. Đó là các diện tích đất gồm: Đất công ty không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả; diện tích đất đã cho thuê, đã chuyển nhượng, đã cho mượn; diện tích đất đã bán vườn cây; diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp phải giải thể; diện tích đất dôi ra do thu hẹp nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt.
Đặc biệt cần có giải pháp giải quyết các tồn tại, vướng mắc về đất đai. Ông Phức cho rằng, đối với đất thuê, hoặc mướn, nếu sử dụng đúng mục đích và đúng quy hoạch thì tiến hành thu hồi lại và chuyển sang thuê; riêng đối với đất có cây lâu năm, rừng trồng thì đền bù giá trị cây trồng, nếu không có khả năng đền bù thì tiếp tục để đối tượng thực hiện thuê hết kỳ cây trồng hiện đang có trên đất sau đó thu hồi; nếu sử dụng không đúng mục đích và không đúng quy hoạch thì kiên quyết thu hồi giao lại cho địa phương quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật.
Đối với đất bị lấn chiếm, diện tích đất bị lấn chiếm phải thu hồi trả lại cho địa phương quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Đối vói đất bị tranh chấp, cần được xem xét từng trường hợp cụ thể theo hướng diện tích đất bị tranh chấp các hộ dân đã sản xuất ổn định, không ảnh hưởng đến quy hoạch và không làm cho đất manh mún thì giao lại cho địa phương để giao cho dân theo hạn mức của địa phương, số vượt hạn mức thực hiện thuê đất.
Về giải pháp tài chính, ông Phức cho rằng, đây phải là giải pháp đột phá. Công ty nông, lâm nghiệp thực hiện chế độ tài chính theo quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp; đối với nhiệm vụ công ích thì thực hiện theo đơn đặt hàng hoặc kế hoạch nhà nước giao.
Đối với công ty nông, lâm nghiệp chuyển sang cổ phần hóa trong một vài năm tới, xem xét xử lý dứt điểm các khoản nợ khoanh, nợ treo sử dụng nguồn vốn ODA, các nguồn vốn khác... và tồn đọng tài chính trước đây nếu có, đê hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động lành mạnh có hiệu quả; có chính sách miễn giám thuế, thu nhập doanh nghiệp, sú dụng đất phi nông nghiệp; tiền thuê đất khi thực hiện cổ phần hóa; có chính sách cho các doanh nghiệp được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất.
Ban quản lý rừng hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu, được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí bào vệ và phát triên rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo kế hoạch được nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; được huy động từ các nguồn thu khác phục vụ cho quản lý rừng, như: Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (dịch vụ điều tiết nước, bảo vệ đất, du lịch sinh thái, hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng...), nguồn thu từ khai thác tận thu, tận dụng lâm sản; dịch vụ thương mại và các nguồn thu khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Xử lý công nợ, các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng tiến hành rà soát, thống kê lại vốn và tài sản, các khoản nợ đọng của từng đơn vị; có cơ chế giải quyết đối với các khoản công nợ khó đòi cũng như các khoản phải trả do các nguyên nhân khách quan gây nên thua lỗ của các công ty.
Xử lý tài sản trên đất (rừng, vườn cây lâu năm...) trong trường hợp thu hồi đất, chuyển đổi công ty nông, lâm nghiệp sang công ty cổ phần, giải thể hoặc chuyển đôi sang hình thức khác. Trong trường hợp đất trồng cây công nghiệp dài ngày được chuvèn giao từ doanh nghiệp về địa phương để giao cho dân thì phái định giá lại tài sản theo thị trường và bán trả chậm cho người được giao, được thuê đất theo hướng dẫn của cơ quan tài chính để thu hồi phần vốn của Nhà nước đã đầu tư. (Thời Báo Tài Chính 13/11) đầu trang(
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, tuy nhiên, sau khi sắp xếp thì việc hoàn trả lại diện tích cho địa phương, người dân còn nhiều bất cập. Điều đáng buồn là hầu hết người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn rơi vào hoàn cảnh thiếu đất sản xuất. Trong khi các nông, lâm trường quản lý không hiệu quả, gây lãng phí…
Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tiến Sinh (Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình), hiện nay tình trạng thiếu đất sản xuất ở nông dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra nhiều nơi. Do không có đất sản xuất nên tình trạng tranh chấp đòi lại đất đã giao cho các nông, lâm trường trước đây diễn ra khá gay gắt.
Chỉ có một số nông, lâm trường đã chuyển đổi thành các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, còn lại phần lớn là gặp khó khăn, khả năng quản lý và sử dụng đất được giao rất hạn chế và đã xuất hiện tình trạng giao khoán lại cho người dân, người dân gọi là phát canh thu tô. Bản thân người dân phải làm thuê trên chính mảnh đất của mình mà không đủ ăn.
Đơn cử, là một xã vùng rừng núi biên giới của huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, xã Trường Sơn, trước đây bị tàn phá khốc liệt trong chiến tranh nên dân cư thưa thớt. Từ sau năm 1972, nhiều hộ gia đình người Vân Kiều từ Quảng Trị ra định cư lập nên các bản mới dọc sông Long Đại, sinh kế của người dân ở đây chủ yếu dựa vào phát nương làm rẫy. Nhưng khi Nhà nước vận động đồng bào chấm dứt tình trạng đó chuyển sang định canh định cư, thì chính quyền địa phương lại không bố trí được nguồn đất canh tác dẫn tới tình trạng đói nghèo có xu hướng gia tăng.
Cụ thể, thôn Khe Cát có 100 hộ dân người Vân Kiều, diện tích canh tác bình quân mỗi hộ (4 - 5 khẩu) khoảng 0,4 ha đất màu ven suối và 46% số hộ được giao thêm 08 ha đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, con số đó vẫn không đủ để đảm bảo tư liệu sản xuất cho người dân dẫn tới tủ lệ nghèo tại thôn khá cao và tình trạng lấn chiếm đất của các lâm trường có xu hướng càng tăng.
Còn tại hai xã vùng 3 của huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn là Tân Thành và Thiện Kỵ là nơi định cư của hơn 80% dân số là đồng bào Nùng và Cao Lan. Đáng chú ý, cả hai xã đều có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng trên 75% diện tích đó lại nằm trong phần diện tích đã được giao cho Công ty Đông Bắc. Không có đất sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo khá cao (45% xã Thiện Kỵ và 21% ở xã Tân Thành).
Thống kê của công ty cho thấy tổng diện tích đất bị các hộ dân ở hai xã lấn chiếm lên tới 17.095 ha, chiếm 78,3% diện tích đất công ty hiện đang được giao quản lý. Chỉ tính riêng trên địa bàn khu vực thôn Cốt Cối thuộc xã Tân Thành, diện tích bị lấn chiếm lên tới 272 ha/400 ha.
Điều đáng nói là việc quản lý, sử dụng đất của các nông lâm trường còn rất lãng phí. Một cuộc khảo sát tại 56 nông, lâm trường quốc doanh tại 15 tỉnh, thành phố do Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp triển khai mới đây cho thấy, do năng lực quản trị yếu kém, 50% trong tổng số gần 150 nông, lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ.
Đó thực sự là một nghịch lý, trong khi người dân địa phương nơi công ty lâm trường đóng quân đang không có đất để sản xuất thì mỗi công ty lâm nghiệp lại nắm trong tay hàng nghìn ha rừng. Cùng với đó là, nhiều công ty cổ phần hiện nay không có vốn Nhà nước, quản lý sử dụng hàng ngàn ha đất, nhưng vẫn chưa thực hiện thuê đất theo quy định.
Theo Báo cáo giám sát việc giải quyết khiếu nại của cử tri của UBTVQH cho thấy: “Hầu hết các công ty nông, lâm trường hiện vẫn chưa thực hiện xong việc rà soát, đo đạc, cắm mốc, xác định ranh giới tại thực địa, chủ yếu mới thực hiện việc giao đất trên bản đổ, sổ sách; thậm chí nhiều nông, lâm trường không có bản đồ, hồ sơ địa chính…
Chính vì vậy ở nhiều công ty tình trạng diện tích được giao trên giấy tờ sổ sách còn chênh lệch nhiều với diện tích đang sử dụng bao gồm cả diện tích các làng bản, đường sá, sông suối.” . Do đó, khi xảy ra những tranh chấp đất đai giữa người dân và các công ty lâm trường thì cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương không có cơ sở để giải quyết mâu thuẫn.
Đồng thời, theo quy định của pháp luật thì khi xảy ra tranh chấp thì bước đầu tiên là các bên tổ chức tự hòa giải. Nếu các bên không tự hòa giải được thì tổ hòa giải cấp xã được hình thành. Nếu không thành công thì có thể nhờ vào sự phán xét của tòa án. Tuy nhiên, do các cơ sở pháp lý ở nhiều địa phương không được hoàn chỉnh và vai trò của UBND xã trong việc giải quyết tranh chấp còn nhiều hạn chế, chủ yếu dừng ở mức độ hòa giải.
Trong khi huyện có vai trò lớn hơn nhưng lại thiếu cơ sở và nguồn lực để giải quyết. Về mặt quản lý, các công ty này lại không trực thuộc chính quyền địa phương mà do Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam quản lý dẫn tới vai trò của chính quyền huyện, xã trong chỉ đạo lâm trường giải quyết tranh chấp không khả thi.
Thực tế, một số địa phương sau khi thực hiện Nghị quyết 28 đã giao lại một phần diện tích cho địa phương. Tuy nhiên, việc giao đất này phần lớn chỉ thực hiện trên giấy tờ, do đó địa phương chưa thể giao đất lại cho người dân. Ngoài ra, nguồn kinh phí để thực hiện khảo sát, đo đạc đất đai trước khi giao cho người dân đang là một “rào cản” lớn, khiến tình trạng thiếu đất sản xuất của người dân vẫn tiếp diễn.
Đơn cử như tại Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc (trụ sở tại Lạng Sơn), tổng diện tích đất lâm nghiệp của đơn vị này là 21.825,8 ha, sau khi sắp xếp, công ty dự kiến trả lại cho địa phương 12.776 ha, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì chưa có kinh phí. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/11) đầu trang(
Ngày 13/11, nhiều hãng truyền thông của Mỹ và phương Tây như ABCNews, Reuters đưa tin: Một nhóm các nhà bảo tồn quốc tế thuộc Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) cho biết, những hình ảnh về Sao la - một trong những loài động vật quý hiếm nhất, bị đe dọa tuyệt chủng nhiều nhất đã được ghi lại bằng biện pháp bẫy ảnh tại Việt Nam.
Trong một tuyên bố phát đi ngày 12/11, WWF cho biết, các chuyên viên của tổ chức này đã ghi lại được hình ảnh của Sao la - loài động vật quý hiếm với sừng rỗng có thể dài đến 1,27m sống dọc khu vực rừng núi Việt – Lào, hồi tháng 9 vừa qua. Tại Việt Nam, đây là lần đầu tiên trong vòng 15 năm mới có được hình ảnh về Sao la này trong tự nhiên, đưa đến hy vọng về khả năng phục hồi cá thể quý hiếm này.
Ông Văn Ngọc Thịnh , Giám đốc WWF-Việt Nam cho biết: “Khi lần đầu tiên nhìn vào các bức ảnh, chúng tôi đã không thể tin vào mắt mình. Đây là một phát hiện nghẹt thở, làm sống lại hy vọng về sự phục hồi quần thể động vật này.”
Được biết, hình ảnh về loài thú bí ẩn này được ghi lại thông qua hoạt động bẫy ảnh của nhóm chuyên gia thuộc WWF phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tại các cánh rừng miền Trung giáp ranh với Lào. Sao la lần đầu tiên được phát hiện sinh tại Việt Nam vào năm 1992 và tại thời điểm đó được coi là phát hiện đầu tiên của giới khoa học về một loài động vật có vú lớn trên thế giới trong vòng 50 năm.
Sau hơn 20 năm, việc có quá ít thông tin về tập quán sinh trưởng của loài động vật bí ẩn này đã ngăn cản các nhà khoa học đưa ra ước tính chính xác số lượng cá thể Sao la còn sống. Có thể khoảng 200 hoặc chỉ còn vài chục cá thể Sao la tại các khu rừng rậm dọc biên giới Việt - Lào. (Người Lao Động 14/11; Pháp Luật TPHCM 14/11; Tuổi Trẻ 13/1; Chinhphu.vn 13/11; Thanh Niên 14/11; Vnexpress.net 13/11; Tin Tức 13/11) đầu trang(
Trong chuyến khảo sát về đa dạng sinh học gần đây của tổ chức Wildlife at Risk (một tổ chức bảo tồn động vật tại TP.HCM) ở khu vực Ba Tơ (Quảng Ngãi), các nhà nghiên cứu đã thu thập được mẫu thằn lằn có kích cỡ rất nhỏ.
Loài này sống chui luồn dưới lớp thảm mục trong rừng thường xanh ở độ cao tuyệt đối hơn 1.000m, thuộc cao nguyên Kon Tum.
Qua phân tích và so sánh đặc điểm hình thái, các nhà khoa học Việt Nam, Hoa Kỳ và Đức đã phát hiện đây là một loài bò sát mới và cho công bố trên tạp chí Zootaxa, New Zealand (11.2013).
Loài mới có tên thằn lằn phê-nô shea Sphenomorphus sheai Nguyen, Nguyen, Van Devender, Bonkowski & Ziegler, 2013. Đặc điểm nhận dạng: kích cỡ rất nhỏ (chiều dài đầu và thân 35mm), đuôi mập (59mm), không có lỗ tai ngoài, gốc đuôi màu nâu đồng, bụng màu kem… (Sài Gòn Tiếp Thị 13/11) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương cho biết: Tính đến thời điểm này, 3 đơn vị chủ rừng gồm: Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Nung cùng 6 doanh nghiệp khác đã giao khoán gần 80.000 ha rừng cho 2.500 hộ và 14 đơn vị tập thể trên địa bàn huyện quản lý bảo vệ.
Trong đó, diện tích giao khoán từ chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng là 72.000 ha với 2.226 hộ và diện tích giao khoán theo chương trình Filicht là 8.654 ha với 274 hộ.
Chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng đã giúp các hộ dân, đặc biệt là các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng, tăng thêm nguồn thu nhập, cải thiện cuộc sống, yên tâm gắn bó với rừng, thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần tăng độ che phủ rừng ở Lạc Dương trên 86%, cao nhất nước hiện nay. (Đài PT - TH Lâm Đồng 14/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Ngân Sơn đã tham mưu cho ngành chuyên môn cấp được 670 giấy phép và Bản đăng ký khai thác lâm sản cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn.
Trong đó, khai thác gỗ các loại là trên 600 giấy phép, khối lượng được cấp khai thác là hơn 5.000 m3, trong đó chủ yếu là cây thông, mỡ và cây keo. Số giấy phép cấp khai thác lâm sản ngoài gỗ là gần 40 giấy phép. Hiện nay, các tổ chức, cá nhân được cấp phép đang đẩy nhanh tiến độ khai thác, nhất là đối với những diện tích rừng trồng.
Qua theo dõi của lực lượng kiểm lâm Ngân Sơn, đến nay các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác gỗ trên địa bàn đều thực hiện đúng việc khai thác theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, không xảy ra tình trạng lợi dụng giấy phép để khai thác rừng trái phép.
Cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình khai thác gỗ, hiện lực lượng kiểm lâm Ngân Sơn cũng đang tích cực vận động người dân chủ động chăn sóc rừng trồng mới và đăng ký trồng rừng năm 2014. (Đài PT - TH Bắc Kạn 14/11) đầu trang(
Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và Chi Cục Kiểm Lâm (Sở NN&PTNT Hà Tĩnh) vừa tổ chức hội nghị sơ kết công tác phòng ngừa, điều tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên (2009 – 2013).
Báo cáo tại hội nghị cho thấy, trong công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật, 4 năm qua, hai lực lượng đã tiến hành nhiều cuộc kiểm tra đối với các tổ chức và cá nhân sản xuất, kinh doanh chế biến lâm sản, các xưởng chế biến lâm sản, các cơ sở gây nuôi sinh trưởng, sinh sản động vật rừng.
Điển hình, năm 2009 phát hiện 15 vụ, 25 đối tượng vi phạm, thu giữ 1 cá thể mèo rừng, 55kg kỳ đà và rùa đá, 60m3 gỗ các loại, xử phạt vi phạm hành chính hơn 80 triệu đồng. Năm 2010 phát hiện bắt giữ 38 vụ, 44 đối tượng vi phạm, tịch thu 1 xe ô tô camry, 38kg khỉ, 3 cá thể Gấu, 1 cá thể già đẩy Java loại đặc biệt quý hiếm, 18 cá thể kỳ đà và chồn có trọng lượng 42,5kg; 269,5 kg tê tê, 71m3 gỗ các loại, xử phạt vi phạm hành chính hơn 100 triệu đồng.
Năm 2011, phát hiện 27 vụ, 38 đối tượng vi phạm, tịch thu hơn 150m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính hơn 170 triệu. Năm 2012 phát hiện xử lý 37 vụ vi phạm, tịch thu 234,8 m3 gỗ các loại; 2.852,4 kg động vật rừng, 2 xe ô tô camry, 4 xe máy…
10 tháng đầu năm 2013 phát hiện, xử lý 45 vụ, 39 đối tượng, tịch thu 1079,5 kg động vật rừng; 476,5m3 gỗ các loại, 2 bộ da hổ, 1 bộ da Sơn Dương, 30kg xương động vật rừng, 1 xe ô tô camry, 7 xe máy, 6 xe lôi, khởi tố 1 vụ, 4 bị can, xử phạt vi phạm hành chính gần 150 triệu đồng.
Phát biểu tại hội nghị, ô Đại tá Bùi Đình Quang – Phó Giám đốc Công an tỉnh và đồng chí Nguyễn Huy Lợi – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi Cục trưởng Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh nhấn mạnh, thời gian tới 2 lực lượng tiếp tục thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa Cục Cảnh sát môi trường và Cục Kiểm lâm. ổ sung, sửa đổi kế hoạch giữa hai lực lượng Cảnh sát môi trường và chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh để phù hợp với tình hình thực tế để nâng cao hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ.
Tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, trao đổi thông tin giữa hai lực lượng về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong công tác bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong các cấp, các ngành, nhân dân về ý thức bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên và nêu cao tinh thần phối hợp giữa các cấp, các ngành với các lực lượng chức năng... (Conganhatinh.gov.vn 11/11) đầu trang(
Ngày 13.11, UBND huyện Lạc Dương cho biết, tại buổi làm việc với huyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng - ông Phạm S đã đặc biệt lưu ý đến nạn lấn chiếm đất rừng trên địa bàn huyện này.
Theo báo cáo của UBND huyện, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Lạc Dương có gẩn 100 ha rừng bị lấn chiếm; trong đó, diện tích rừng bị lấn chiếm thuộc khu vực dọc theo tuyến đường mới Đà Lạt - Nha Trang đoạn qua huyện Lạc Dương (đường 723) chiếm phần lớn.
Cũng theo báo cáo của huyện Lạc Dương, từ đầu năm đến nay, huyện đã tiến hành giải tỏa được 67,3ha đất rừng bị lấn chiếm (tăng 54,8ha so với cùng kỳ) để trồng lại rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 14/11) đầu trang(
Theo thông tin từ cơ quan chức năng huyện Văn Bàn, tính đến ngày 8/10, toàn bộ số gỗ bị khai thác trái phép ở khu vực thủy điện Nậm Xây Nọi 2, xã Nậm Xây... đã được thu hồi. Một nhân viên của doanh nghiệp phá rừng đã bị tạm giữ để điều tra làm rõ.
Trước đó, sau khi báo chí đăng loạt bài về nạn khai thác, buôn bán trái phép lâm sản tại Văn Bàn, các cơ quan chức năng huyện Văn Bàn đã tổ chức đợt tổng kiểm tra các khu vực: Khu bảo tồn Hoàng Liên - Văn Bàn, rừng tự nhiên các xã Nậm Mả, Nậm Dạng, Nậm Xây, Nậm Tha... để xử lý các đối tượng khai thác trái phép lâm sản.
Tại khu vực thi công Nhà máy thuỷ điện Nậm Xây Nọi 2, xã Nậm Xây, Công ty xuất nhập khẩu Hùng Anh - Hà Nội, sau khi được chủ đầu tư là CTCP Sông Đà 9.06 thuê khai thác tận thu lâm sản trong khu vực giải phóng mặt bằng được cấp phép đã tự ý tổ chức khai thác trái phép nhiều diện tích rừng phòng hộ ở Tiểu khu 510, 526, thuộc địa phận xã Nậm Xây và Nậm Xé với khối lượng gỗ lên đến hơn 120m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 6. Được biết, hiện nay, chủ đầu tư đã ngừng thi công Nhà máy thủy điện Nậm Xây Nọi 2.
Bên cạnh đó, qua kiểm tra cho thấy, rừng phòng hộ ở các khu vực gồm: Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn (Tiểu khu 518 và 510 thuộc xã Nậm Xé; Tiểu khu 528 và 526 thuộc xã Nậm Xây (Văn Bàn); Tiểu khu 457, thuộc địa bàn các thôn Mai Hồng 1,2,3, xã Tân An; Tiểu khu 431 thuộc địa bàn xã Nậm Mả bị khai thác trái phép. Đến nay, các cơ quan chức năng đã thu hồi hơn 300m3 gỗ tang vật từ các vụ khai thác rừng trái phép nêu trên.
Hiện Công an huyện Văn Bàn đã vào cuộc điều tra các đối tượng tham gia phá rừng. (Tài Nguyên&Môi Trường 13/11; VOV 13/11) đầu trang(
Mặc dù việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Bắc Giang) lại lợi dụng phá, bán hơn 20 ha rừng tự nhiên, thậm chí mở cả đường xuyên rừng để thuê ô tô chở lâm sản tẩu tán nhưng chính quyền tỉnh Bắc Giang lại đang bất nhất trong việc xử lý.
Liên quan đến việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Bắc Giang) "núp bóng" trong dự án trồng rừng để chặt phá hơn 20 ha rừng tự nhiên, mở đường trái phép xuyên rừng thuê xe tẩu tán lâm sản, Dân trí đã đưa thông tin và làm việc với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNPTNT) tỉnh Bắc Giang.
Ông Dương Xuân Bánh - Phó giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang cho biết: Theo Kết luận nội dung tố cáo của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang, năm 2008, Công ty Lâm nghiệp Sơn Ðộng (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng) được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt dự án cải tạo rừng tự nhiên giai đoạn 2008-2012, với tổng diện tích 390 ha.
Đến hết năm 2012, Công ty này đã thực hiện cải tạo, khai thác được 351,7 ha trên tổng số 390,6 ha được cấp phép. Tuy nhiên, kết quả thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang đã khẳng định ngoài việc cải tạo diện tích rừng trên, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn...tiện thể phá luôn 23 ha rừng tự nhiên với thủ đoạn chuyển sang trồng rừng kinh tế. Diện tích Công ty này phá rừng nằm tại khu vực Khe Rào (xã Bồng Am) và khoảnh 19, đội Ðá Bờ 2, đều nằm trên diện tích Công ty được giao quản lý, khai thác và bảo vệ.
Đặc biệt, cùng với việc phá một diện tích rừng tự nhiên rộng lớn như vậy, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động dưới sự điều hành của ông Chu Bá Nghĩa - Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc công ty còn lén lút mở hẳn một con đường dài gần 4km chạy xuyên rừng để tẩu tán lâm sản chặt phá núp dưới lí do lấy đường để trồng rừng trên khu núi trọc. Công ty này cũng rất "chuyên nghiệp" khi ký hẳn hợp đồng thuê 2 xe tải để đưa lâm sản khỏi rừng.
Sai phạm của Công ty lâm nghiệp Sơn Động được chính Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang khẳng định là hết sức nghiêm trọng. Tuy nhiên, điều khá lạ là dù có kết luận mức độ nghiêm trọng như vậy nhưng trong bản Kết luận của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang lại không hề xác định thiệt hại cụ thể quy ra tiền mà hành vi vi phạm pháp luật của Công ty Lâm nghiệp Sơn Động gây ra.
Trước đó, ông Bánh khẳng định Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang đã chuyển hồ sơ sự việc lên UBND tỉnh Bắc Giang để xin ý kiến xử lý.
Thế nhưng trao đổi với PV Dân trí, ông Lại Thanh Sơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang lại cho biết: Liên quan đến sai phạm của Công ty lâm nghiệp Sơn Động, Sở Nông nghiệp phải là đơn vị xử lý, ra quyết định trực tiếp bởi liên quan đến quản lý rừng UBND tỉnh Bắc Giang đã giao cho Sở Nông nghiệp phụ trách.
"Thẩm quyền xử lý sự việc này thuộc về bộ phận kiểm lâm và thanh tra Sở Nông nghiệp. Đến thời điểm hiện tại, tôi vẫn chưa nhận báo cáo kết quả xử lý sự việc từ Sở NNPTNT", ông Sơn nói.
Tuy nhiên, về nội dung trả lời của Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang lại bất đồng. Ông Khái khẳng định: Thẩm quyền xử lý sai phạm của Công ty lâm nghiệp Sơn Động phải do UBND tỉnh Bắc Giang thụ lý mà cụ thể là Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang phải ra quyết định.
Theo ông Khái, do Công ty lâm nghiệp Sơn Động trực thuộc trực tiếp UBND tỉnh Bắc Giang, ngang cấp với Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang nên Sở Nông nghiệp không thể có đủ thẩm quyền xử lý.
Với sự bất nhất của các cấp chính quyền tỉnh Bắc Giang trong việc ra quyết định xử lý sai phạm nghiêm trọng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng khiến dư luận đặt ra câu hỏi về "quả bóng" trách nhiệm mà các cơ quan hữu quan này đang "đá" cho nhau. Và đến nay, ông Chú Bá Nghĩa - Giám đốc Công ty lâm nghiệp Sơn Động vẫn chưa bị xử lý và vẫn ung dung tại vị. (Dân Trí 13/11) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei (tỉnh Kon Tum) đã chuyển hồ sơ cho cơ quan cảnh sát điều tra vụ phá rừng thông tại Tiểu khu 96, thuộc xã Đắk Pét (huyện biên giới Đắk Glei).
Lợi dụng cơn bão số 11 vừa qua, lâm tặc đã triệt hạ rừng thông trồng từ năm 1978 tại tiểu khu trên, do Lâm trường Đắk Pô Kô quản lý, với khối lượng hơn 21m3. Những cây thông đường kính từ 30 - 50cm bị chặt hạ nằm ngổn ngang. Nhiều khúc gỗ lớn đã được cắt khúc vuông vắn đang chờ chuyển đi.
Theo ông Nguyễn Văn Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei, từ giáp Tết Nguyên đán 2013 đến nay, rừng thông ở xã Đắk Pét bị một số người cắt vỏ ở gốc chờ cây chết dần để khai thác rồi chiếm đất làm nương rẫy trái phép. Vụ phá rừng thông phòng hộ tại Tiểu khu 96 nói trên là một trong 16 vụ phá rừng tại huyện Đắk Glei xảy ra từ đầu năm đến nay mà hạt kiểm lâm huyện chuyển hồ sơ đề nghị công an khởi tố, với diện tích rừng bị mất gần 50ha (chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất).
Ông Nguyễn Hữu Thành, Giám đốc Lâm trường Đắk Pô Kô, đơn vị quản lý Tiểu khu 96 - thừa nhận ngăn chặn phá rừng rất khó vì lâm tặc lợi dụng đêm tối, trời mưa để hoạt động. (Công an TPHCM 14/11) đầu trang(
Ngày 13-11, ông Đặng Đình Toại - Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên - cho biết lãnh đạo huyện đang chờ kết luận chính thức của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên để ra quyết định kỷ luật ông Võ Trọng Bình, Phó Giám đốc Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Hinh.
Tuy nhiên, theo nguồn tin của Báo Người Lao Động, tại cuộc họp bất thường mới đây, Thường trực Huyện ủy Sông Hinh đã thống nhất kỷ luật ông Bình với hình thức khai trừ Đảng và đề nghị buộc thôi việc vì ông tự chia đất rừng cho mình và cán bộ của BQL rừng phòng hộ Sông Hinh.
Trước đó, ngày 8-11, UBND huyện Sông Hinh đã phải tổ chức buổi đối thoại để giải tỏa bức xúc của người dân buôn Thinh, xã EaTrol khi BQL rừng phòng hộ Sông Hinh không giao khoán đất cho người dân trồng rừng mà tự chia cho cán bộ trong ban.
Vụ bức xúc xảy ra ngày 15-8 khi 93 hộ dân ở buôn Thinh kéo nhau lên Tiểu khu 306 khu vực Hòn Cồ (xã EaTrol) thuộc lâm phần do BQL rừng phòng hộ Sông Hinh chặt hạ cây rừng do các cán bộ của BQL rừng phòng hộ Sông Hinh trồng để lấy đất sản xuất.
Ngay sau đó, lãnh đạo huyện yêu cầu dừng việc chặt phá và tổ chức nghe ý kiến của người dân. Tại đây, nhiều người dân bức xúc cho rằng trong khi dân thiếu đất sản xuất và trồng rừng kinh tế, BQL rừng phòng hộ Sông Hinh không giao khoán đất cho dân mà lại chia cho cán bộ. “Vì sao đất vốn của ông bà chúng tôi nhưng lại thu hồi giao cho cán bộ” - bà Mí Trun ở buôn Thinh bức xúc.
Theo giải thích của BQL rừng phòng hộ Sông Hinh, sau khi thành lập huyện Sông Hinh (năm 1985), người dân buôn Thinh được di dời đến nơi ở mới, đất của buôn Thinh cũ (thuộc Tiểu khu 306 bây giờ) được thu hồi để giao cho BQL rừng phòng hộ Sông Hinh trồng rừng. Ban đã thông báo giao khoán đất cho dân trồng rừng kinh tế. Tuy nhiên, lúc đó, người dân ngại trồng rừng, không ai nhận khoán nên ban mới giao cho cán bộ trong ban.
Không đồng tình với giải thích này, Oi Sơn, một người dân lớn tuổi ở buôn Thinh, cho rằng không hề có chuyện BQL rừng phòng hộ Sông Hinh thông báo giao khoán đất cho dân trồng rừng. Ngoài ra, người dân bức xúc vì đất được thu hồi là để trồng rừng nhưng trên nhiều diện tích, cán bộ nhận khoán lại không trồng rừng mà trồng cây cao su, mì, cà phê để kiếm lợi nhuận.
Trước những bức xúc của người dân buôn Thinh, lãnh đạo huyện Sông Hinh đã thành lập đoàn liên ngành để kiểm tra việc chia chác đất rừng ở BQL rừng phòng hộ Sông Hinh, đồng thời đề nghị Tỉnh ủy kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức, cá nhân của ban này.
Theo ông Đặng Đình Toại, kết quả xác minh của đoàn kiểm tra cho thấy trong số đất thu hồi để giao cho BQL rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý, ban này đã giao khoán lại cho 24 hộ với hơn 252 ha; trong số này, chủ yếu là cho cán bộ của ban, riêng ông Võ Trọng Bình nhận khoán đến 18 ha. Trong số đất giao khoán cho cán bộ, có hơn 47 ha không trồng rừng mà trồng cao su, cà phê, mì.
Ông Lơ Mô Tu, Phó Bí thư Huyện ủy Sông Hinh, khẳng định: “Việc BQL rừng phòng hộ Sông Hinh giao khoán đất rừng cho cán bộ cũng như việc cán bộ sử dụng không đúng mục đích đất rừng là sai. Huyện Sông Hinh và tỉnh Phú Yên đang xem xét kỷ luật những cán bộ sai phạm”.
Không chỉ lấy đất rừng chia chác cho cán bộ, theo ông Đặng Đình Toại, ông Võ Trọng Bình còn mắc nhiều sai phạm khác liên quan đến đất rừng trên địa bàn huyện.
Tại buổi đối thoại gần đây, ông Đặng Đình Toại cho biết UBND huyện nhận khuyết điểm trước người dân buôn Thinh khi để vụ việc kéo dài. UBND huyện đã phát hiện BQL rừng phòng hộ Sông Hinh chia chác đất rừng cho cán bộ từ năm 2008 nhưng chỉ đề nghị giáng chức ông Bình từ giám đốc xuống phó giám đốc ban này mà chưa có kỷ luật thích đáng.
Về việc xử lý diện tích đất rừng giao không đúng đối tượng, sử dụng không đúng mục đích, ông Toại cho biết đang xin chủ trương của tỉnh. “Chắc chắn, đất không giao đúng đối tượng sẽ bị thu hồi” - ông Toại khẳng định. (Người Lao Động 14/11) đầu trang(
Nhiều lều, lán của các đối tượng khai thác thạch anh ở khu vực đồi Tỷ (thuộc địa phận xã Xuân Lẹ, huyện miền núi Thường Xuân, Thanh Hóa) vừa bị đốt bỏ.
Trong nhiều năm qua, tại khu rừng thuộc tiểu khu 526 và 527, trên địa bàn xã Xuân Lẹ thường xuyên xảy ra tình trạng phá rừng để khai thác thạch anh. Thời điểm các đối tượng tập trung khai thác nhiều ở đồi Tỷ (tên gọi địa phương) lên tới hơn 100 người vào năm 2008.
Đến nay, tình trạng khai thác đá quý ở khu vực này vẫn diễn ra lén lút. Dù chính quyền địa phương cùng cơ quan chức năng nhiều lần bố trí lực lượng kiểm tra, truy quét, đốt phá thiết bị, vật dụng, lều lán..., song tình trạng này vẫn chưa chấm dứt.
Gần đây nhất, ngày 8/11, chính quyền xã Xuân Lẹ phối hợp lực lượng kiểm lâm địa bàn, đốt 9 lều lán dựng trên đồi Tỷ và tiểu khu 527. Bên trong các lều lán này có đồ dùng vật dụng nấu ăn và sinh hoạt hàng ngày của những người đào đá. Ngoài ra, 6 can xăng (loại 20 lít/can) cùng một máy nổ được phát hiện bên hố đào sâu, cũng được đốt bỏ.
Đây không phải lần đầu tiên lực lượng chức năng đốt bỏ lều lán dựng trong rừng. Cứ đốt, phá lều được một thời gian, các lều, lán mới do người đi khai thác thạch anh lại được dựng lên.
Theo ông Vi Văn Tuyến, Chủ tịch UBND xã Xuân Lẹ, tình trạng khai thác thạch anh kéo dài nhiều năm qua. Những người khai thác đá có cả người địa phương, lân cận và tỉnh ngoài.
Vị trí khai thác đá xa khu vực có dân cư gần 3 giờ đồng hồ đi bộ. Đường đi lại rất khó khăn, hiểm trở. Khi lực lượng chức năng xuất hiện, những người khai thác thạch anh bỏ chạy khỏi hiện trường. Trong khi đó, lực lượng địa phương mỏng. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cơ quan chức năng, các ngành, các cấp hỗ trợ kinh phí, phương tiện vật dụng, cũng như lực lượng để cùng tham gia ngăn chặn, chấm dứt tình trạng trên. (Tiền Phong 14/11) đầu trang(
Ngày 13/11, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Văn Trúc đã ký Quyết định số 1998/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Xuân Rin do vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Theo đó, UBND tỉnh quyết định phạt tiền 75 triệu đồng đối với ông Lê Xuân Rin (thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) về hành vi điều khiển xe ô tô BKS 78C-027.73 vận chuyển lâm sản (11,887 m3 gỗ hộp thuộc chủng loại gỗ Chò nhóm III, không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm) trái pháp luật. Đồng thời, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe đối với lái xe Lê Xuân Rin trong thời hạn 6 tháng. (Giao Thông 13/11) đầu trang(
Hiện nay, diện tích rừng của huyện Điện Biên Đông đang dần bị thu hẹp bởi tình trạng phá rừng làm nương của một bộ phận người dân. Năm 2013, số vụ vi phạm về lâm luật, mức độ nghiêm trọng trong từng vụ vi phạm và diện tích rừng bị thiệt hại đều tăng. Thực trạng này đang đặt ra những thách thức rất lớn cho các cơ quan chức năng huyện Điện Biên Đông trong cuộc chiến giữ rừng.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Điện Biên Đông, năm 2013, số vụ vi phạm về lâm luật tăng 4 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 122.803m2, số vụ vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép tăng 1 vụ so với năm 2012.
Ông Lò Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông cho biết: Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thời gian qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã thường xuyên phối hợp với cán bộ các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, công tác phòng cháy chữa cháy rừng tới từng hộ gia đình. Song, nhận thức của người dân vẫn rất hạn chế, tập quán làm nương luân canh vẫn còn nên tình trạng phá rừng làm nương tiếp tục xảy ra.
Thay đổi nhận thức, phong tục tập quán của người dân đang là khó khăn lớn nhất trong công tác bảo vệ rừng của huyện Điện Biên Đông. Khó khăn bởi vì, phần lớn diện tích rừng của huyện hiện nay đều nằm ở vùng sâu, vùng xa, đời sống người dân tại các vùng này rất khó khăn nên các hình thức tuyên truyền bị hạn chế, hiệu quả không cao.
Hơn nữa, người dân ở những vùng này chỉ sống bằng sản xuất trên nương, không có diện tích ruộng nước hay một hình thức sản xuất nào khác nên khi đất nương bạc màu họ lại phải đi tìm những vùng đất mới màu mỡ hơn và phá rừng để làm nương là phương pháp họ lựa chọn đầu tiên.
Để bảo vệ rừng, công tác tuần tra kiểm soát, phát hiện và xử lý các đối tượng vi phạm của lực lượng kiểm lâm, bảo lâm địa bàn đóng vai trò đặc biệt quan trọng và khi biện pháp tuyên truyền chưa mang lại hiệu quả, ý thức tự giác của người dân hạn chế thì cần phải tăng cường lực lượng, tăng tần suất đi kiểm tra mới hạn chế được các trường hợp vi phạm. (Báo Điện Biên 14/11) đầu trang(
Ngày 11-11, khi kiểm tra cơ sở sản xuất rượu ngâm động vật rừng của anh Nguyễn Thành Vân tại ấp Cầu Hang, xã Hóa An (TP.Biên Hòa), Công an TP.Biên Hòa phát hiện cơ sở này kinh doanh không có giấy phép và có hành vi mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh động vật rừng trái quy định của Nhà nước.
Công an TP.Biên Hòa đã lập biên bản tạm giữ gần 15kg động vật rừng các loại để điều tra, xử lý theo quy định. (Báo Đồng Nai 14/11) đầu trang(
9 tháng của năm 2013, lực lượng kiểm lâm tỉnh Kon Tum phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 796 đợt truy quét tại các “điểm nóng”.
Qua đó kịp thời phát hiện và ngăn chặn được nhiều vụ khai thác gỗ cũng như phát đốt rừng làm nương rẫy trái phép. Cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý trên 700 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu trên 1.365m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 249m3 gỗ quy tròn các loại so với cùng kỳ năm 2012).
Đáng chú ý, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được bảo đảm an toàn, không để xảy ra cháy rừng trên quy mô lớn. Toàn tỉnh chỉ cháy 2,6ha rừng trồng, giảm 5,1ha so với năm 2012. (Thanh Tra 14/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều diện tích rừng phòng hộ ven biển, thuộc xã Tam Tiến, huyện Núi Thành bị người dân chặt phá để nuôi tôm. (Nhân Dân 14/11, tr7) đầu trang(
Ngày 14.11, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp đã khởi tố và bắt tạm giam Võ Văn Hồng, là kế toán của Ban Quản lý dự án trồng rừng phòng hộ đặc dụng thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Tháp về hành vi “tham ô tài sản”.
Theo cơ quan điều tra, từ năm 2007 đến năm 2010, lợi dụng chức vụ được giao, Hồng đã liên tục lập 76 chứng từ khống chiếm đoạt trên 2 tỉ đồng từ dự án trồng rừng phòng hộ. Hồng dùng số tiền trên vào việc tiêu xài sinh hoạt cá nhân. (Thanh Niên 14/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, Nông Nghiệp Việt Nam nhận được đơn kêu cứu khẩn thiết của bà Lê Thị Phượng, thường trú tại tiểu khu 4 - thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh về việc bà được nhận khoán trồng rừng 50 năm tại khu vực rừng phòng hộ xã Kỳ Liên, Kỳ Anh, nhưng đùng một cái, cả khu rừng trên 10 ha của gia đình bà đã bị một doanh nghiệp tư nhân tổ chức đào phá tan tành để khai thác đá.
Qua đơn trình bày gửi các cơ quan chức năng của bà Phượng, tháng 1/2005, bà được Cty Rau quả Hà Tĩnh, kiêm BQL Dự án Rừng phòng hộ Kỳ Anh ký hợp đồng kinh tế về việc khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ (RPH) đầu nguồn, thời hạn 50 năm theo QĐ số 178/2001 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Hợp đồng ghi rõ, trách nhiệm của bên được giao rừng phải sử dụng đúng mục đích đất đã được giao; phải đầu tư trồng hết diện tích 19,5 ha đất trống trong vòng 2 năm kể từ ngày nhận đất; tuân thủ quy trình khai thác rừng phòng hộ theo quy định. Hai bên cam kết thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ nội dung các điều khoản đã được ghi trong hợp đồng.
Phần cuối của hợp đồng được ghi rõ, quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, hai bên cùng nhau bàn bạc, tìm hướng giải quyết. Nếu một trong hai bên cố tình vi phạm hợp đồng bên đó phải chịu bồi hoàn kinh tế theo pháp luật quy định.
Sau khi ký kết hợp đồng, tháng 2/2005, gia đình bà Phượng đã tập trung mọi nguồn lực với 50 lao động thuê máy móc khai hoang trồng mới rừng đúng với yêu cầu hợp đồng đã được ký kết. Trong quá trình thi công do đất đồi núi cằn cỗi nên gia đình bà phải trồng đi trồng lại nhiều lần mới có được cánh rừng phòng hộ xanh tốt trên tổng diện tích 19,5 ha.
Trong lúc gia đình bà đang tiến hành chăm sóc, phát triển diện tích rừng phòng hộ qua 8 năm bỏ bao công sức, tiền của, mồ hôi nước mắt, bỗng nhiên, ngày 8/10/2013, UBND xã Kỳ Liên có giấy mời làm việc với nội dung: “Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND huyện Kỳ Anh, UBND xã Kỳ Liên phối hợp với Hội đồng BT-HT-TĐC huyện tổ chức buổi làm việc với các hộ gia đình có đất bị ảnh hưởng bởi dự án khai thác và chế biến vật liệu xây dựng (mỏ đá) của Cty CP Việt Gia - Song Hui".
Cũng trong ngày 8/10/3013, ông Nguyễn Việt Đức - Phó chủ tịch Hội đồng BT-HT-TĐC huyện ký thông báo về việc tổ chức bảo vệ thi công đối với các hộ dân không chấp hành chủ trương thu hồi đất, bồi thường GPMB dự án khai thác, chế biến đá xây dựng của Cty Việt Gia - Song Hui.
Thông báo có đoạn: Kể từ ngày 10/10/2013, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành tổ chức các lực lượng để bảo vệ thi công khu đất thuộc dự án khai thác, chế biến đá xây dựng của Cty Việt Gia - Song Hui. Mọi thiệt hại về tài sản, gia đình phải tự chịu trách nhiệm; kinh phí tổ chức bảo vệ thi công sẽ được trừ vào số tiền bồi thường, hỗ trợ của gia đình…
Ngày 22/9/2010, ông Lê Văn Huận - Giám đốc Cty CP Nông Lâm sản Hà Tĩnh (tiền thân là Cty Rau quả) ký Tờ trình số 459/TTR-NLS gửi các cơ quan chức năng về việc xin trả đất rừng sản xuất. Nội dung có đoạn: “Cty CP Nông Lâm sản Hà Tĩnh xin trả 11,54 ha diện tích đất rừng sản xuất tại khoảnh 2, tiểu khu 389a, thuộc địa bàn hành chính xã Kỳ Liên, Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Số diện tích nói trên, Cty đã giao cho các hộ dân nhận khoán theo Nghị định 01/CP (các hộ tự bỏ vốn đầu tư trồng, chăm sóc, bảo vệ), bao gồm các loại cây trồng, keo tràm, do Cty CP Nông Lâm sản Hà Tĩnh quản lý. Nay xin trả để cho Cty CP Việt Gia - Song Hui thuê đất làm bãi chế biến khai thác mỏ đá xây dựng...”.
Theo nội dung của Tờ trình này, diện tích đất Cty Nông Lâm sản xin trả để cho Cty Việt Gia - Song Hui làm mỏ đá là diện tích đất rừng sản xuất thuộc khoảnh 2, tiểu khu 389a, thuộc địa bàn hành chính xã Kỳ Liên, Kỳ Anh.
Cũng tại Công văn số 769/UBND-TNMT ngày 8/10/2010 do ông Phạm Khắc Dạ - PCT UBND huyện Kỳ Anh ký về việc thu hồi và cho thuê đất khai thác, chế biến vật liệu xây dựng tại mỏ đá khe Rú Mài, xã Kỳ Liên, ghi rõ: UBND huyện Kỳ Anh đồng ý, đề nghị UBND tỉnh, Sở TN-MT, Sở NN-PTNT thực hiện thu hồi 11,54 ha đất lâm nghiệp tại khu vực Núi Mài, xã Kỳ Liên (thuộc khoảnh 2, tiểu khu 389, do Cty CP Nông Lâm sản quản lý).
Nếu chiếu theo các văn bản trên, phần đất của bà Phượng được giao hoàn toàn không liên quan gì đến phần đất được trả để cho Cty Việt Gia - Song Hui làm mỏ đá.
Mặt khác, diện tích Cty Rau quả giao cho bà Phượng là đất thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn, trong khi đó, phần diện tích đất của Cty Nông Lâm sản xin trả lại là đất rừng sản xuất. Rõ ràng, phần đất của Cty Lâm Nông sản trả (khoảnh 2) và phần đất của Cty này giao cho bà Phượng (khoảnh 1) hoàn toàn không liên quan gì đến nhau.
Thế nhưng, không hiểu do động cơ gì, UBND huyện Kỳ Anh lại điều động một lực lượng hùng hậu, trong đó có hàng chục công an vào để “bảo vệ thi công”, tiếp tay cho doanh nghiệp phá rừng phòng hộ của bà Phượng một cách vô lý như thế?!
Như đã nói ở trên, chiều ngày 9/10/2013, theo ý kiến chỉ đạo của UBND huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Liên đã tổ chức gặp các hộ dân có đất bị ảnh hưởng bởi dự án khai thác và chế biến vật liệu xây dựng của Cty CP Việt Gia - Song Hui. Thế nhưng, trước đó, ngày 8/10, ông Nguyễn Văn Bổng - Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh đã ký quyết định số 2504/QĐ-UBND điều động lực lượng vào “bảo vệ thi công".
Theo đó, 30 chiến sỹ công an huyện và 35 cán bộ cấp xã đủ các thành phần, 3 y bác sỹ, 1 xe cứu thương, bông băng, thuốc men, 1 xe ô tô đặc chủng (xe chở tội phạm)… ra hiện trường “bảo vệ thi công”.
Được thể, doanh nghiệp Việt Gia - Song Hui liền huy động cả loạt máy xúc, máy đào, máy ủi và các phương tiện khác cùng nhân lực vào ầm ầm tàn phá trên 10 ha rừng phòng hộ mà gia đình bà Phượng đã dày công trồng, chăm sóc, bảo vệ suốt cả 8 năm trời.
Gạt dòng nước mắt trên khuôn mặt hốc hác đầy mệt mỏi, bà Phượng mếu máo: “Chúng tôi nhận đất rừng phòng hộ của Nhà nước, cầm cố hết tài sản nhà cửa, đất đai vay ngân hàng, vay hết anh em, bạn bè để trồng được cả một cánh rừng như thế.
Nay, sắp đến kỳ thu hoạch, vợ chồng con cháu hớn hở chuẩn bị bán lấy tiền trả nợ thì bỗng nhiên chính quyền huyện Kỳ Anh điều động lực lượng đến tiếp sức cho Cty tư nhân ngang nhiên tàn phá rừng của chúng tôi. Toàn bộ hơn tám vạn cây keo tràm trên 10,4 ha của chúng tôi đã bị đốn hạ và tẩu tán. Tiền tỷ của chúng tôi, phút chốc trắng tay!”.
Ông Ngô Trọng Vân - Phó BQL KKT Vũng Áng cho rằng, theo quy định của UBND tỉnh, các doanh nghiệp khi đầu tư vào khu kinh tế Vũng Áng sau khi hoàn tất các thủ tục về đất đai được các cơ quan chức năng tổ chức bàn giao sang cho Ban, lúc đó Ban mới ra quyết định giao đất cho doanh nghiệp thực hiện dự án.
Với quy định trên, nhẽ ra Cty Việt Gia - Song Hui phải nhận đất từ BQL KKT Vũng Áng rồi mới được phép tiến hành thi công dự án. Nhưng không hiểu vì sao, cho đến nay, Ban chúng tôi chưa được tiếp nhận bàn giao diện tích đất nói trên mà Cty này lại đưa máy vào thi công là sai.
Tại Quyết định số 1195/QĐ-UBND ngày 8/4/2011 do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Lê Đình Sơn ký, cũng đã ghi rõ: Sau khi thực hiện xong việc bồi thường, GPMB theo quy định, Sở TN-MT có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở NN-PTNT, Cty CP Nông Lâm sản Hà Tĩnh, UBND huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Liên và thủ trưởng các cơ quan liên quan xác định cụ thể mốc giới bàn giao đất trên thực địa cho BQL KKT Vũng Áng...
Thế nhưng, không hiểu sao, huyện Kỳ Anh và một số cơ quan, đơn vị khác lại vội vàng cho DN làm trái quy định.
Ông Phạm Hồng Phương (chồng bà Phượng) tay run run nâng gốc cây rừng mà mình trồng đã 8 năm bị phía thi công đốn hạ, nghẹn ngào nói: “Đất đai chúng tôi được Nhà nước giao theo Nghị định 01-CP của Thủ tướng Chính phủ nhằm phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn. Chúng tôi đầu tư lên đây biết bao công sức, tiền của, mồ hôi nước mắt kể cả phải đổ máu ra nữa.
Thế mà bỗng dưng bị ông Chủ tịch huyện tổ chức lực lượng đứng ra "cưỡng chế" cho một đơn vị tư nhân, tàn phá rừng chúng tôi. May sự việc đã kịp thời phản ánh đến các cơ quan báo chí nên họ mới dừng lại". (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tỉnh Gia Lai xảy ra 1.018 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 335 vụ so với năm 2012.
Hầu hết các vụ vi phạm đều tập trung vào buôn bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép (904 vụ). Cơ quan chức năng đã xử lý 997 vụ (khởi tố hình sự 21 vụ, xử phạt hành chính 976 vụ; tịch thu 965 khối gỗ tròn, 1.550 khối gỗ xẻ cùng 34 xe ô tô, máy kéo cùng nhiều phương tiện vi phạm khác; thu nộp phạt vào ngân sách Nhà nước trên 24 tỷ đồng.
UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng cần tập trung xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững, đưa các cơ sở chế biến gỗ vào quy hoạch tập trung; tăng cường kiểm tra rà soát ở các địa bàn trọng điểm; lực lượng chức năng các địa phương cần tập trung phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô đang tới. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa