|
Ngày 13 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Việc dựa vào các tiêu chí ngoại quan và độ cứng để áp thuế xuất khẩu đối với than gỗ rừng trồng đã và đang gặp phải vướng mắc. Để giải quyết triệt để cũng như tạo điều kiện cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đang dự kiến bỏ một số tiêu chí kỹ thuật.
Theo Thông tư số 56/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng than gỗ rừng trồng thuộc nhóm 44.02 trong Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, mặt hàng “than gỗ rừng trồng” mã số 4402.90.90 được áp dụng mức thuế xuất khẩu 5%.
Để được hưởng mức thuế ưu đãi này, hàng xuất khẩu phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật như: Về ngoại quan phải đen, bóng láng, không nứt nẻ; về độ cứng phải cứng, rắn chắc; hàm lượng tro ≤ 3%,... Việc quy định các tiêu chí này nhằm phân biệt than gỗ rừng trồng sản xuất theo quy mô công nghiệp với than gỗ truyền thống trong dân (than gỗ truyền thống thì có màu đen xám, xù xì, nứt nẻ, mềm và dễ vỡ).
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp xuất khẩu có phản ánh, khi kiểm hoá, do than không lau chùi nên không đáp ứng được tiêu chí ngoại quan (nếu được lau chùi than sẽ bóng, đen và cứng, rắn chắc đúng theo yêu cầu) và có một vài vết rạn không đáng kể do xác suất trong quá trình sản xuất. Những đặc điểm này hoàn toàn không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Khảo sát thực tế sản xuất cũng như xuất khẩu mặt hàng này, Bộ Tài chính nhận thấy than vẫn có các vết rạn nứt nhỏ và màu sắc không hoàn toàn được đen bóng láng mà có thể là màu đen, hoặc xám.
Qua trao đổi với các doanh nghiệp, trong quá trình sản xuất không thể không có các vết rạn nứt ở một tỷ lệ nhất định (khoảng 20-30% tuỳ thuộc vào kỹ thuật công nhân đốt lò). Song, các vết rạn nứt này không ảnh hưởng đến chất lượng của than mà các tiêu chí về hàm lượng carbon, nhiệt lượng, độ bốc... mới quyết định chính chất lượng than. Các đối tác nhập khẩu cũng vẫn chấp nhận các loại than có các vết rạn nứt này.
Do vậy, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ quan Hải quan trong khâu kiểm tra hàng hoá, Bộ Tài chính dự kiến bỏ tiêu chí về ngoại quan và độ cứng đồng thời chỉ yêu cầu bắt buộc đáp ứng các tiêu chí về mặt kỹ thuật (hàm lượng tro, hàm lượng carbon, nhiệt lượng, hàm lượng lưu huỳnh, độ bốc) để than gỗ rừng trồng có thể được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi.
Cũng liên quan đến mặt hàng này, các doanh nghiệp sản xuất- xuất khẩu nhận định, phần lớn than củi của Việt Nam được các hộ dân hầm từ nguồn gỗ khai thác tận dụng từ các vườn cây ăn trái, cà phê, cao su, cam, bưởi... mà đã hết tuổi thu hoạch.
Mặt hàng than củi gỗ vườn này được các công ty thu mua từ các hộ cá thể và được chính quyền sở tại xác nhận trong các bảng kê thu mua để làm nguồn gốc hàng hoá. Mã HS kê khai cũng là 4402.90.90. Vì vậy, một số doanh nghiệp cũng đề nghị mở rộng mở rộng diện áp dụng chịu thuế đối với mặt hàng than gỗ vườn, góp phần tiêu thụ sản phẩm của nông dân, tạo việc làm tại chỗ...
Bộ Tài chính không đồng thuận với kiến nghị này. Theo lý giải của Bộ Tài chính, than gỗ truyền thống được hầm nung ngắn ngày, đốt trong hầm ngoài trời, từ 3-4 ngày, phát sinh nhiều khói khi đốt lò, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.
Việc quy định tiêu chí kỹ thuật đối với than gỗ rừng trồng xuất khẩu nhằm khuyến khích việc đầu tư công nghệ nung than theo quy mô công nghiệp từ nguồn gỗ rừng trồng (bạch đàn, keo...), sử dụng công nghệ cao, lượng khói phát sinh ít, đảm bảo môi trường sản xuất. Do đó, thuế suất ưu đãi chỉ nên áp dụng đối với than gỗ rừng trồng.
Những dự kiến sửa đổi nêu trên đều đang được Bộ Tài chính cân nhắc đưa vào Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2014 ban hành vào cuối năm nay. (Hải Quan 13/11) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa ra công văn về việc tăng cường công tác lâm nghiệp nhân kỷ niệm 24 năm ngày Lâm nghiệp VN (28/11/1959 - 28/11/2013).
Theo đó, Bộ yêu cầu Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố phối hợp với các ban, ngành đoàn thể triển khai tốt việc tuyên truyền, khơi dậy tình yêu nghề, yêu rừng trong mỗi cán bộ, công nhân viên, vận động mọi tầng lớp nhân dân tích cực trồng và bảo vệ rừng. Thực hiện tốt kế hoạch trồng rừng, nhất là rừng đặc dụng năm 2013 và chuẩn bị tốt giống cho năm 2014.
Đồng thời, đẩy mạnh chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đặc biêt là những tỉnh có nhiều rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 13/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Hội Cây di sản Việt Nam vừa công nhận thêm 13 cây và cụm cây là “Cây di sản Việt Nam”.
Đặc biệt trong danh sách này có cây Bạch mai ở đình Phú Tự, ấp Phú Tự (xã Phú Hưng, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre) là một trong ba cây Bạch mai quý hiếm ở nước ta có tuổi thọ 300 tuổi, 9 thân với chiều cao 14 m.
Ngoài ra, một loại cây mới được đưa vào danh sách là cây Trộm mõ 1.000 tuổi ở thôn An Để (xã Hiệp Hòa, Vũ Thư, Thái Bình). Như vậy cho đến thời điểm này đã có tổng cộng 514 cây di sản được công nhận. (An Ninh Thủ Đô 13/11; Công An Nhân Dân 13/121) đầu trang(
UBND huyện Tánh Linh vừa tổ chức cuộc họp giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng tháng 10 và 10 tháng năm 2013.
Trong tháng 10, tình hình phá rừng vẫn diễn biến phức tạp tại từng đơn vị chủ rừng, từng địa phương. Một số địa bàn trọng điểm tuy đã được tăng cường kiểm tra nhưng rừng vẫn bị tác động. Tình hình vận chuyển lâm sản trái phép trên tuyến quốc lộ 55 nối dài thuộc lâm phần Khu bản tồn thiên nhiên Núi Ông vẫn xảy ra. Tình hình sử dụng gỗ rừng tự nhiên đốt hầm than tại khu vực Quang Hà, thị trấn Lạc Tánh vẫn còn tái diễn.
Trong 10 tháng năm 2013, huyện Tánh Linh đã xử lý hành chính trên 250 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (giảm 46 vụ so với cùng kỳ năm 2012). Tịch thu sung quỹ nhà nước gần 65 m3 gỗ tròn, gần 50 m3 gỗ xẻ, gần 60 con động vật hoang dã. Tịch thu nhiều phương tiện, vật dụng khác. Tổng nộp ngân sách nhà nước gần 290 triệu đồng.
Hạt kiểm lâm khởi tố chuyển cơ quan điều tra công an huyện 04 vụ. Ngoài ra, Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông đã chuyển Công an huyện điều tra 6 vụ phá rừng trái pháp luật vượt khung xử lý hành chính.
2 tháng cuối năm, Hạt kiểm lâm huyện tiếp tục tham mưu UBND huyện mở đợt tuyên truyền sâu rộng về những quy định pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên toàn huyện; phối hợp truy quét tại các vùng trọng điểm giáp ranh với huyện bạn; ngăn chặn, xử lý tình hình vận chuyển lâm sản trên các tuyến đường…. (Đài PT - TH Bình Thuận 12/11) đầu trang(
Sáng 12-11, UBND tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị trực tuyến về công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014.
Trong năm 2013, toàn tỉnh đã xảy ra 1.018 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 335 vụ so với năm 2012. Tập trung chủ yếu vẫn là tình trạng buôn bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép 904 vụ; cháy rừng 4 vụ gây thiệt hại 411 ha rừng; phá rừng trái phép 26 vụ gây thiệt hại 45 ha; các vi phạm khác 27 vụ; khai thác rừng 43 vụ…
Đối tượng vi phạm chủ yếu là hộ gia đình, cá nhân 610 vụ; doanh nghiệp vi phạm khai thác 6 vụ; các đối tượng vi phạm khác chưa xác định được chủ 402 vụ.
Cơ quan chức năng đã xử lý 997 vụ, trong đó khởi tố hình sự 21 vụ, xử phạt hành chính 976 vụ. Tịch thu 965 m3 gỗ tròn; 1.550 m3 gỗ xẻ cùng 34 xe ô tô, máy kéo cùng nhiều phương tiện khác. Thu nộp phạt vào ngân sách nhà nước trên 24 tỷ đồng.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Xuân Liên đề nghị, trong thời gian tới các cơ quan chức năng cần tập trung xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững. Kiên quyết di dời đưa các cơ sở chế biến gỗ vào quy hoạch tập trung. Các đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh, huyện tăng cường công tác tuần tra kiểm soát ở các địa bàn trọng điểm. Đặc biệt, các lực lượng chức năng ở các địa phương tập trung phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô sắp tới. (Báo Gia Lai 13/11) đầu trang(
Sở NN&PTNT Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội vừa tổ chức lễ tổng kết cuộc thi tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng đối với các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học tại các xã có rừng của huyện Ba Vì năm 2013.
Kể từ khi phát động, tháng 4/2013, 10 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học tại 7 xã miền núi có rừng của huyện Ba Vì đã tích cực tuyên truyền để học sinh tham gia.. Sau 6 tháng phát động, đã có 5.643 bài dự thi, nhiều trường có gần 100% các em tham gia.
Tại lễ tổng kết, Ban tổ chức đã trao thưởng cho 10 tập thể, 100 cá nhân vì đã có thành tích trong cuộc thi tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng. Cuộc thi đã nâng cao nhận thức của các em về các quy định của Nhà nước về Luật bảo vệ và phát triển rừng, từ đó nâng cao ý thức về công tác bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/11) đầu trang(
Theo Báo cáo của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh, trong mùa khô năm nay, do tình hình nắng nóng kéo dài và do việc kiểm soát người ra vào rừng của các chủ rừng chưa được thực hiện nghiêm ngặt. Do đó, tính đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ cháy rừng.
Trong đó, huyện Hớn Quản có 09 vụ; diện tích cháy là: 48,63 ha của Công ty Cổ phần Hải Vương (đơn vị nhận khoán trồng rừng), làm thiệt hại nặng 80-90% khoảng hơn 20 ha rừng, số diện tích này Công ty CP Hải Vương đã thanh lý để trồng lại rừng và 13,66 ha rừng thiệt hại nhẹ (từ 10-30%) đã được chăm sóc, bảo dưỡng. (Sở NN&PTNT Bình Phước 12/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Khu vực miền Trung- Tây Nguyên diện tích rừng đang ngày một giảm sút. Cùng với nguyên nhân do tình trạng di dân tự do, xâm chiếm đất rừng để làm chỗ ở, lấy đất canh tác và nạn lâm tặc phá rừng; thì các dự án- trong đó nổi lên là các dự án thủy điện, hồ thủy lợi là nguyên nhân chính làm mất nhiều cánh rừng.
Đáng chú ý, một thống kê của cơ quan chức năng cho biết, từ năm 2006 đến nay có gần 51.000ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện nhưng chủ đầu tư trồng bù lại chỉ ngót nghét 1.000 ha. Cuối năm 2012, Bộ NN&PTNBT từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012.
Theo đó, trong 6 năm, có hơn 20.000 rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, chỉ bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất. Theo rà soát của Bộ Công thương, thực tế tỉ lệ diện tích rừng trồng bù còn thấp hơn nữa. Nguyên nhân là do hầu hết chủ đầu tư không chịu bỏ kinh phí trồng rừng thay thế trong tổng vốn đầu tư của dự án.
Do tác động xấu đến môi trường, theo đề xuất của Bộ Công thương, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý loại khỏi các quy hoạch nhiều dự án xây dựng thủy điện.
Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định: "Chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích không phải lâm nghiệp phải đảm bảo việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng chuyển đổi”. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các chủ dự án chỉ chặt rừng làm công trình chứ không chịu bỏ kinh phí trồng lại rừng sau khi dự án đã đi vào hoạt động. Vì thế, xung quanh các dự án, cảnh đồi núi trọc là phổ biến.
Ví dụ, tại Phú Yên, để có 3 nhà máy thủy điện Sông Hinh, sông Ba Hạ, Krông Năng đi vào hoạt động, tỉnh phải mất hơn 1.000 ha rừng. Trong đó, thủy điện Krông Năng do Công ty CP Sông Ba làm chủ đầu tư theo quy định phải trồng lại 175 ha rừng, nhưng từ năm 2010 đến nay vẫn chưa triển khai. Dự án thủy điện sông Ba Hạ do công ty CP thủy điện sông Ba Hạ làm chủ đầu tư phải trồng lại hơn 200 ha thì hiện mới trồng được khoảng 1/10 diện tích được giao.
Còn dự án thủy điện sông Hinh do Công ty CP thủy điện Kiến Sơn, Sông Hinh làm chủ đầu tư thì hầu như "án binh bất động”. Theo ông Nguyễn Thái Học, Phó trường đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên thì nếu những diện tích đất rừng bị lấy đi nếu không trồng lại, không khôi phục lại sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hệ sinh thái, đến tài nguyên môi trường, và đương nhiên liên quan đến biến đổi khí hậu.
Tại Đăk Lăk, theo phê duyệt của tỉnh thì các dự án thủy điện trên địa bàn phải trồng mới gần 850 ha rừng, nhưng đến nay chỉ mới có vỏn vẹn 63 ha. Thủy điện Ea M’Đoan 2 chuyển đổi 11,5 ha rừng cũng chỉ trồng bù chưa được một nửa. Thủy điện Srêpốk 4 lấy đi hơn 200 ha rừng thì mới trồng bù chưa đầy 40 ha.
Còn đối với tỉnh Lâm Đồng, hầu hết các dự án thủy điện chưa trồng rừng thay thế. Sau những trận bão lũ, hạn hán, thiên tai liên tiếp dội xuống những năm qua cho thấy, biến đổi khí hậu đã và đang tác động mạnh mẽ đến khu vực Miền Trung- Tây Nguyên.
Nhìn lại, người ta đã phải giật mình về diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn bị phá đi làm thủy điện là vô cùng lớn, lớn cả về diện tích lẫn giá trị sinh thái. Nhưng nếu cứ trù trừ, nại ra hết lý do này đến lý do khác để lẩn tránh việc trồng lại rừng thì tình hình sẽ ngày một xấu đi. (Đại Đoàn Kết 12/11) đầu trang(
Những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến sự suy giảm nhanh chóng diện tích rừng, từ độ che phủ vào khoảng 70% đầu thế kỷ XX xuống còn 43% vào giữa thế kỷ và xuống thấp nhất vào giai đoạn đầu thập niên 90 của thế kỷ trước khi diện tích rừng chỉ còn khoảng 28%.
Trước xu thế đó, vấn đề cấp thiết đặt ra không chỉ với Việt Nam là phải thúc đẩy quá trình phục hồi các hệ sinh thái (HST) rừng. Chính vì thế, ngay từ năm 1995, nhiều chương trình trồng rừng đã được thực hiện, đặc biệt là Chương trình 661/5 triệu ha rừng. Chỉ tính riêng trong khuôn khổ Chương trình 661/5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010, đã có 2,45 triệu ha rừng được trồng mới và 0,9 triệu ha được khoanh nuôi tái sinh rừng….
Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp lý quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030… để định hướng cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. Với những nỗ lực đó, đến hết năm 2012, tổng diện tích rừng của Việt Nam đạt 13.862.043ha, tỷ lệ che phủ đạt 40,7%. Với đà phát triển này, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 nâng độ che phủ rừng lên 47%.
Để tiếp tục thúc đẩy tiến trình phát triển, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đối khí hậu, ông Võ Thanh Sơn, Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường cho biết, trong thời gian tới, một mặt cần tiếp tục phủ xanh những vùng đất bị suy thoái, mặt khác cần khuyến khích những giải pháp phục hồi HST rừng, đặc biệt là trồng rừng với các loài bản địa để tăng giá trị đa dạng sinh học, đồng thời đẩy mạnh công tác bảo tồn trong hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/11) đầu trang(
Xác định lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, 3 năm qua, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện nhiều giải pháp tích cực, hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư, giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp theo quy hoạch, làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Nhiều năm liên tục, Tuyên Quang luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng đã đề ra, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân. Từ năm 2010 đến năm 2013, toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới gần 45.000 ha rừng, trong đó có 88% diện tích do người dân tự bỏ vốn trồng rừng.
Chỉ tính riêng năm 2013, diện tích rừng trồng mới của tỉnh là 13.787 ha, tổng giá trị đầu tư gần 400 tỷ đồng, thì có tới 90% được huy động từ sức dân. Kết quả đó cho thấy, tỉnh đã huy động được nguồn lực to lớn của nhân dân để phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, thời gian tới, Tuyên Quang tập trung phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, tăng cường trồng rừng sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; gắn trồng rừng với chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ rừng; huy động các nguồn lực xã hội từ các thành phần kinh tế khác nhau để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng sản xuất;
Đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu thâm canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo cung cấp nguyên liệu ổn định cho Nhà máy bột giấy và giấy An Hòa và các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, kết hợp với trồng rừng, đảm bảo khả năng bảo vệ môi trường sinh thái, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, lũ lụt.
Toàn tỉnh phấn đấu thu hút khoảng 90.000 lao động tham gia vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp ở địa phương, giữ vững độ che phủ rừng, đưa kinh tế lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh theo hướng đa mục tiêu, hiệu quả và bền vững. (Đài PT - TH Tuyên Quang 13/11) đầu trang(
Nhờ phát triển mô hình kinh tế kết hợp vườn - ao - chuồng - rừng (VACR) với 15ha đồi rừng, 1ha ao thả cá cộng với một hệ thống hai dãy chuồng lợn đã cho gia đình chị Văn Thị Xuân ở tổ 8A, thị trấn Yên Bình (Yên Bình) thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Lấy nhau năm 1984, cuộc sống khó khăn nên vợ chồng chị Văn Thị Xuân đưa nhau từ Bình Lục, Hà Nam lên khai hoang ở Yên Bái. Những ngày đầu ở vùng đất mới, cuộc sống vô cùng khó khăn nhưng hai vợ chồng cứ thế chăm chỉ làm thuê làm mướn rồi khai hoang lấy đất sản xuất qua từng ngày. Năm 1993, khi huyện Yên Bình có chính sách giao đất giao rừng, thấy đây là cơ hội không thể bỏ lỡ, vợ chồng chị Xuân nhận 13ha trồng bạch đàn.
Qua các lớp tập huấn của Trạm Khuyến nông huyện đã giúp anh chị được tiếp cận tiến bộ kỹ thuật vào việc ươm, trồng nên rừng của gia đình luôn xanh tốt, đến kỳ khai thác đạt sản lượng cao, đem lại nguồn thu lớn. Từ đầu năm đến nay, gia đình đã bắt đầu khai thác 7ha rừng trồng, trung bình mỗi héc-ta cho thu khoảng 60 triệu đồng, sau khi trừ mọi chi phí cho thu lãi gần 300 triệu đồng.
Thấy quỹ đất vẫn còn, ngoài thời gian chăm sóc vườn rừng còn nhiều thời gian nhàn rỗi, anh chị quyết định đầu tư chăn nuôi lợn. Ban đầu, do chưa có nhiều kinh nghiệm nên chỉ dám nuôi vài con lợn thịt để tích cóp dần dần, sau này chị nuôi thêm lợn nái, chủ động nguồn giống.
Cứ thế, lấy ngắn nuôi dài, vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm cộng với kiến thức học được qua các lớp tập huấn, mỗi năm thu lãi chị lại đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Đặc biệt, khi tỉnh Yên Bái có chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, anh chị không ngần ngại mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa. (Báo Yên Bái 12/11) đầu trang(
Cơn bão số 10 và số 11 vừa qua đã làm cho nhiều diện tích rừng trồng ở các địa phương bị gãy đổ, gây khó khăn không nhỏ cho người dân và các đơn vị trong tỉnh. Mặc dù vậy, các địa phương, đơn vị vẫn cố gắng khắc phục hậu quả, tiếp tục khôi phục và phát triển lại rừng trồng.
Riêng đối với cây cao su, đến nay, toàn tỉnh đã trồng mới được 914 ha, đạt 114 % kế hoạch của năm. Trong đó, Đoàn kinh tế Quốc phòng 79: 300ha; Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Long Đại 250ha; Công ty TNHH MTV Lệ Ninh 150ha…
Sở NN&PTNT cũng đã chuẩn bị 15 triệu cây giống các loại để chuẩn bị đưa vào trồng mới. Tiến hành kiểm tra, thống kê những diện tích rừng bị gãy đổ có khả năng trồng lại vào năm sau để có kế hoạch chuẩn bị. Các địa phương, đơn vị cũng đang nỗ lực hết mình trong việc thực hiện kế hoạch trồng và chăm sóc rừng trồng, nhất là rừng phòng hộ, qua đó nhằm tiếp tục phát triển diện tích rừng, góp phần hoàn thành kế hoạch đã đề ra trong năm 2013. (Đài PT - TH Quảng Bình 13/11) đầu trang(
Anh Đặng Minh Tuấn, Tổ 66 Khu 6, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, sinh năm 1979, tốt nghiệp Đại học Mỏ - Địa chất năm 2004 và hiện đang công tác cho một công ty tư nhân lớn với mức thu nhập ổn định, nhưng anh Đặng Minh Tuấn vẫn làm giàu từ mô hình nuôi lợn rừng
Anh chia sẻ: “Tầm cuối năm 2009, các nhà hàng đặc sản rừng mọc lên “như nấm sau mưa”, trong đó lợn rừng trở thành một trong những món ăn được nhiều thực khách lựa chọn vì có giá trị dinh dưỡng hợp lý. Nhu cầu của thị trường rất lớn nhưng nguồn cung cấp lại hạn chế. Vì thế sau khi tham khảo tư vấn của nhiều bạn bè cùng nhiều nguồn tham khảo trên mạng, tôi quyết định đầu tư xây dựng gia trại chăn nuôi lợn rừng.
Đã nghĩ là làm, tôi quyết tâm dồn vốn và vay mượn thêm nhập về 43 lợn giống (trong đó có 40 lợn nái) từ Viện Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT). Bắt đầu từ đó, tôi học hỏi kiến thức từ bạn bè là giảng viên trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc, chủ động tìm tòi, nghiên cứu thêm qua sách vở, mạng internet, đầu tư tâm sức cho gia trại lợn rừng của mình”.
Anh Tuấn cũng cho biết: Nuôi lợn rừng dễ hơn nhiều so với lợn nhà, bởi lợn rừng là loài ăn tạp, hệ thống tiêu hóa có khả năng hấp thụ thức ăn tốt, nên trong khẩu phần ăn mỗi bữa có tới 95% là rau, củ, quả, cỏ dễ kiếm. Chuồng trại cũng rất đơn giản, chỉ cần cách xa khu dân cư và đường sá. Chỗ nuôi lợn rừng phải có nhiều cây cối, càng rậm rạp càng tốt.
Đàn lợn trong gia trại của anh Tuấn luôn có trên dưới 300 con lợn rừng (bao gồm lợn thịt, lợn giống). Mỗi năm, 1 lợn rừng nái đẻ trung bình 2 lứa cho 12 lợn rừng con. Nuôi theo hình thức bán hoang dã khoảng 3 tháng lợn rừng con đạt trọng lượng 10kg, xuất chuồng với giá trung bình 150 đến 200 ngàn đồng/1 kg thịt lợn hơi.
Mỗi năm, trừ đi chi phí mọi mặt, gia trại nuôi lợn rừng của anh Tuấn thu lãi từ 200 đến 300 triệu đồng. Sản phẩm lợn rừng của gia trại anh hiện đã có thị trường ổn định từ Đông Triều đến Cẩm Phả và vươn sang tận Hải Phòng. Chất lượng và giá cả của sản phẩm luôn được khách hàng đánh giá cao.
Hiện nay, gia trại của anh Đặng Minh Tuấn đang tạo việc làm thường xuyên cho ít nhất 5 lao động với mức thu nhập trung bình 3 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, tất cả những vùng đất nông nghiệp hoang hóa xung quanh gia trại đều được anh tận dụng triệt để, mượn hoặc thuê lại, cải tạo để trồng chuối, sắn, cỏ voi… làm thức ăn cho đàn lợn rừng. (Báo Quảng Ninh 13/11) đầu trang(
Bà con nông dân Quảng Trị đỡ khó khăn hơn sau các cơn bão dồn dập khi được Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị thu mua củi cành, ngọn từ các loại cây rừng, cao su gãy đổ với giá cả phù hợp.
Nông dân Trần Thị Con ở xã Gio Bình, huyện Gio Linh mừng ra mặt khi bán được mấy tấn củi cành, ngọn cao su gãy đổ cho Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị với giá bất ngờ.
Với nông dân Quảng Trị, bây giờ nếu không được Cty thu mua củi thì họ cũng bỏ cho mục nát chứ trong nhà chẳng còn chỗ nào mà cất nữa, để đun nấu cũng không xuể. Vì nhà nào cũng có không ít diện tích cao su và rừng trồng bị bão làm gãy đổ.
Sau hai trận bão số 10 và 11, diện tích rừng trồng và cao su ở Quảng Trị bị gãy đổ hơn 20 ngàn ha. Người dân phải bán số gỗ này cho các NM chế biến dăm, còn củi cành, ngọn không biết thu dọn vào đâu để khôi phục lại vườn cây. Trong tình thế đó, bà con nông dân lại được Cty thu mua giúp.
Ông Cao Thanh Nam- TGĐ Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị cho biết: "Nhà kho của chúng tôi đã tràn ngập củi cành, ngọn cây rừng và cây cao su. Mua nhiều rồi nhưng lượng củi trong dân còn quá lớn. Trước tình hình này, Cty tiếp tục thuê thêm một sân bãi nữa để có đủ chỗ chứa và tiếp tục thu mua giúp người dân Quảng Trị".
Theo ông Nam, Cty chỉ thu mua phần củi, còn phần gỗ nhường cho các NM chế biến gỗ dăm. Trung bình mỗi ngày Cty thu mua cho dân 1.000 tấn củi cành, ngọn, trong lúc nhu cầu NM chế biến của Cty chỉ tiêu thụ 400 tấn/ngày. Hiện tại giá thu mua ngoài thị trường chỉ ở mức 250 đến 300 ngàn đồng/tấn củi cành ngọn các loại, nhưng Cty đã thu mua với giá gần 600 ngàn đồng/tấn củi rừng trồng, củi cao su 400 ngàn đồng/tấn, cao hơn giá các chỗ khác rất nhiều.
Bởi trong lúc người dân gặp khó khăn thì chủ trương của Cty là nâng giá thu mua lên cao một ít để giúp bà con có thêm một phần thu nhập, bù lại những diện tích rừng trồng, rừng cao su bị thiên tai tàn phá.
Suốt tháng này, từ các cánh rừng, mỗi ngày có vài chục xe ô tô chuyên chở củi cao su, rừng trồng về bán cho Cty. Anh Nguyễn Văn Điệp ở xã Gio An, huyện Gio Linh cho biết: Trung bình mỗi ngày anh chở một chuyến củi cành ngọn cao su bán cho Cty, trừ chi phí xăng dầu, đường sá, anh cũng kiếm được một ít lãi trong thời buổi khó khăn. Biết được Cty thu mua với giá cao nên rất nhiều bà con nông dân thuê xe chở củi về bán.
Không chỉ lúc bà con gặp thiên tai Cty mới đứng ra giúp đỡ, từ nhiều năm nay, Cty luôn đứng ra mua sản phẩm rừng trồng cho bà con với giá cả hợp lý. Nhờ đó giúp dân yên tâm trồng rừng... Việc làm của Cty vừa giúp dân tiêu thụ gỗ, vừa có nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ sản xuất. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/11) đầu trang(
Từ giữa tháng 10.2013 đến nay, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã mở đợt tổng kiểm tra truy quét đối tượng khai thác lâm sản và khoáng sản trái phép trên địa bàn.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã thu hồi hơn 300m3 gỗ các loại và đánh sập nhiều lò đào vàng, tịch thu hàng trăm máy phát điện nhỏ, máy khoan và các công cụ khác phục vụ việc khai thác vàng trái phép ở khu vực rừng xanh, rừng vầu xã Minh Lương và xã Nậm Xây, Nậm Xé; đưa toàn bộ những người lạ ra khỏi địa bàn. (Lao Động 12/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái phép trên địa bàn các huyện nằm trên QL48 - Nghệ An có nhiều diễn biến phức tạp. Trong khi đó, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm của lực lượng kiểm lâm (KL) hiện nay gặp không ít khó khăn và trở ngại.
Theo Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 3 Nghệ An cho biết, tính từ đầu năm cho đến tháng 11/2013, qua tuần tra, kiểm soát, Đội đã phối hợp với các cơ quan chức năng, phát hiện, bắt giữ 134 vụ vận chuyển, mua bán lâm sản, lập biên bản tịch thu 328,75m3 gỗ các loại, 21 kg động vật rừng. Tổng thu nộp ngân sách tính đến ngày 11/11/2013 là 1,606 tỉ đồng. Trong đó chưa kể đến 70m3 gỗ tồn kho chưa bán phát mãi.
Qua tìm hiểu, công tác phát hiện và ngăn chặn của ngành chức năng đối với các vụ mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái phép gặp rất nhiều khó khăn. Bởi nhiều đối tượng đã sử dụng các hình thức vận chuyển rất tinh vi như: Ngụy trang các loại lâm sản trên các phương tiện vận tải hàng hóa, xe khách để "né" lực lượng chức năng. Ngoài ra, chúng còn lập các hồ sơ giả với chữ ký, con dấu giả của các đơn vị chức năng. Trong khi đó, lực lượng của đội khá mỏng nên rất khó khăn trong việc phát hiện và ngăn chặn lâm tặc.
Đáng báo động, tình trạng đối tượng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng tăng và coi thường pháp luật. Khi bị phát hiện, ngăn chặn, các đối tượng thường có hành vi chống đối, thậm chí còn hành hung người thi hành công vụ, đe dọa tính mạng cán bộ, nhân viên KL.
Đáng chú ý hơn, các đối tượng thường tụ tập thành những nhóm đông người, chúng sẽ cử người theo dõi mọi "nhất cử nhất động" của lực lượng KL và khi bị lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn, chúng sẽ lập tức tấn công, nhục mạ lực lượng làm nhiệm vụ. (Đời Sống&Pháp Luật 12/11) đầu trang(
Ngày 27/5/2011, TAND huyện Hương Khê xét xử vụ tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn là Cty Cao su Hương Khê, bị đơn là ông Lê Hữu Chí (công dân xóm 3, xã Hương Giang, Hương Khê, Hà Tĩnh) xung quanh việc ông Chí chiếm dụng đất lâm nghiệp trái phép của Cty Cao su Hương Khê.
Tòa án buộc ông Chí phải trả lại mặt bằng diện tích đất chiếm dụng cho Cty cao su. Sau đó không lâu, TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phúc thẩm, tuyên y án. Mặc dù án tuyên đã quá 2 năm nhưng Hội đồng thi hành án huyện lại bảo dừng lại!
Đơn kháng cáo gửi Toà phúc thẩm của bị đơn Lê Hữu Chí cho rằng, không thừa nhận việc chiếm đất của Cty Cao su Hương Khê, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn khẳng định, 7 ha đất tranh chấp nằm trong tổng số 82 ha đất rừng đã được Nhà nước cấp đất sử dụng hợp pháp cho gia đình ông từ năm 1992, thể hiện ở văn bản “Đơn xin nhận đất khoán rừng” ngày 30/7/1992, có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Hương Giang.
Nội dung xin cấp 82 ha đất là để thực hiện dự án di dời dân làm khu kinh tế mới theo chủ trương của UBND huyện Hương Khê thời bấy giờ; đồng thời để khoanh nuôi, bảo vệ rừng đầu nguồn theo Dự án 327 của xã Hương Giang.
Cũng theo ông Chí, trong 82 ha đất được xã cấp, bị đơn đã bị Cty Cao su Hương Khê chiếm gần hết, nay chỉ còn lại 7 ha nên bị đơn kiên quyết giữ lấy. Vì thế, bị đơn nhiều lần tổ chức lao động ra sản xuất trên diện tích đất đó là nhằm để bảo vệ khỏi sự lấn chiếm của Cty Cao su Hương Khê trên vùng đất sử dụng hợp pháp của mình.
Theo báo cáo kết quả kiểm tra đơn của ông Chí, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hà Tĩnh cho rằng, thực tế hồ sơ và hiện trường vùng đất 82 ha ông Chí không có một loại giấy tờ nào liên quan đến quyền sử dụng đất, chỉ có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn của gia đình ông về gia súc chăn nuôi bị bệnh chết, ao cá bị lũ cuốn trôi, đơn viết gửi chính quyền có xác nhận của thú y, thôn trưởng và UBND xã mà thôi.
Vì thế nên hồ sơ tài liệu mà ông Chí cung cấp không đủ căn cứ để chứng minh đất đó thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông. Mà, vùng đất rừng 82 ha ông Chí khiếu nại này đã được UBND tỉnh Nghệ- Tĩnh (cũ) cấp quyền sử dụng đất cho Cty Sản xuất kinh doanh thông Hà Tĩnh thời đó (nay là Cty Cao su Hà Tĩnh).
Vì thế nên tại bản án sơ thẩm ngày 27/5/2011, TAND huyện Hương Khê đã tuyên, buộc ông Lê Hữu Chí phải di dời hết toàn bộ số cây keo đang trồng trên diện tích 7 ha đất thuộc lô 17, khoảnh 6, tiểu khu 200 xã Hương Giang, Hương Khê, Hà Tĩnh để trả lại mặt bằng cho Cty Cao su Hương Khê có đất thực hiện dự án đúng quy hoạch đã được phê duyệt.
Ngày 26/8/2011, TAND tỉnh Hà Tĩnh mở phiên phúc thẩm xét xử vụ án tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn là Cty Cao su Hà Tĩnh, bị đơn là ông Lê Hữu Chí.
Tại phiên phúc thẩm này ông Lê Hữu Chí xuất trình công văn số 274/SNN – KL ngày 18/8/2011 của Sở NN-PTNT tỉnh Hà Tĩnh về việc đính chính nội dung tại văn bản số 3997 ngày 18/12/2010 cho rằng “ông Chí chỉ có đơn xin nhận đất khoán rừng vào năm 1992 chứ không phải năm 1995”. Đồng thời ông Lê Hữu Chí cũng yêu cầu HĐXX tạm đình chỉ giải quyết vụ án và đợi kết quả giải quyết của UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện nguyên đơn là Cty Cao su Hương Khê khẳng định: Diện tích đất tại khoảnh 6, lô 17, tiểu khu 200 đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh ký Quyết định số 17 ngày 6/1/2003, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cty Cao su Hương Khê.
Còn theo công văn trả lời đơn tố cáo của công dân xã Hương Giang gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh ngày 24/9/2009, ông Trần Minh Kỳ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Tỉnh Hà Tĩnh, khẳng định: “Việc một số công dân ở Hương Giang, Hương Khê gửi đơn tố cáo Cty Cao su Hương Khê lấy đất của dân Hương Giang thuộc khu vực rừng phòng hộ, Dự án 327 và Dự án 661 trong đó có hộ ông Lê Hữu Chí là không đúng, nên UBND tỉnh giao các cơ quan chức năng xử lí đơn thư của công dân theo đúng pháp luật hiện hành”.
Cũng tại phiên phúc thẩm, một lần nữa tòa án buộc gia đình ông Lê Hữu Chí phải trả lại mặt bằng diện tích 7 ha đất thuộc lô 17, khoảnh 6, tiểu khu 200 cho Cty Cao su Hương Khê.
Kể từ khi bản án sơ thẩm và án phúc thẩm được tuyên đến nay đã hơn 2 năm trời trôi qua nhưng việc thi hành án vẫn cứ kéo dài theo năm tháng; ông Chí vẫn xây nhà xây cửa, phát triển sản xuất trên vùng đất của Cty Cao su Hương Khê không hề có sự can thiệp nào. Trong khi đó, Cty Cao su Hương Khê vẫn dài cổ ngồi chờ ngày thi hành án để có đất sản xuất.
Hỏi nguyên nhân vì sao bản án hiệu lực 2 năm rồi mà vẫn không được thi hành? Chi cục trưởng Thi hành án huyện Hương Khê, cho rằng: “Việc thi hành án chậm bởi ý kiến của Chủ tịch Hội đồng thi hành án huyện đề nghị nên giãn việc thi hành án ra bởi vụ án này còn có nhiều vấn đề…". (Nông Nghiệp Việt Nam 12/11) đầu trang(
Sau khi Tiền Phong đăng tải bài “Ngang nhiên tàn phá rừng phòng hộ”, cuối tuần qua lãnh đạo huyện Kỳ Anh có cuộc làm việc với phóng viên. Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh cho rằng mọi việc huyện thực hiện đúng hoàn toàn. Tuy nhiên lãnh đạo huyện này lại không trả lời được những chất vấn của phóng viên về những vấn đề liên quan vụ việc.
Mở đầu buổi làm việc, phóng viên Tiền Phong đề nghị lãnh đạo huyện Kỳ Anh giải thích tại sao trong hồ sơ thu hồi đất của bà Lê Thị Phượng ghi rất rõ là tại khoảnh 2, trong khi đất của bà Phượng nằm ở khoảnh 1? Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh, ông Nguyễn Văn Bổng và các cán bộ khác không trả lời được nên đề nghị gọi cán bộ của Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh đến ngay cuộc họp để trả lời.
Lúc sau, một cán bộ xuất hiện và cho biết, rõ ràng giữa khoảnh 1 và khoảnh 2 là hai vị trí hoàn toàn khác nhau. “Có thể có sự điều chỉnh lại bản đồ tại các khoảnh này”, vị cán bộ BQL rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh nói.
Khi phóng viên đề nghị vị cán bộ này khẳng định chắc chắn có sự điều chỉnh hay không, và nếu có sự điều chỉnh phải có văn bản chứng minh. Vị cán bộ này cho biết do đang đi công tác được lãnh đạo gọi đến nên chưa nắm được hết nội dung cuộc họp.
Về việc gia đình bà Phượng chưa đồng thuận được mức giá bồi thường, huyện Kỳ Anh đã huy động lực lượng vào bảo vệ cho Cty Việt Gia - Song Hui vào chặt phá rừng keo để thi công, ông Nguyễn Hoài Sơn - Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết, do doanh nghiệp và người trồng rừng không thỏa thuận được với nhau nên huyện thực hiện việc áp giá bồi thường theo quy định của nhà nước.
Tuy nhiên khi phóng viên đặt vấn đề cơ sở nào để lãnh đạo huyện Kỳ Anh cho rằng doanh nghiệp và người trồng rừng không thỏa thuận được với nhau?, Phó Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh nói: “Chúng tôi nghe phía doanh nghiệp họ nói bà Phượng đòi giá bồi thường cao quá nên không thực hiện”.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo huyện Kỳ Anh khẳng định, cho đến hiện nay, Cty Việt Gia - Song Hui chỉ có một mỏ đá duy nhất tại xã khu vực Đá Mài, xã Kỳ Liên. Ngay sau đó phóng viên đưa ra hai giấy phép khai thác mỏ đá của Cty Việt Gia - Song Hui tại ngay khu vực Đá Mài.
Cụ thể, Giấy phép thứ nhất cấp ngày 11/11/2009 do ông Võ Kim Cự (Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh tỉnh lúc đó) ký cấp 4,5ha. Trong lúc mỏ đá này chưa thể thực hiện thì đến ngày 22/7/2011, ông Trần Minh Kỳ (Phó Chủ tịch tỉnh) lại ký quyết định cấp phép mỏ đá rộng 15,4ha, cũng tại khu vực này.
Trong hai mỏ đá này, chỉ có mỏ đá thứ nhất có quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên việc thu hồi đất được tiến hành sau gần 2 năm tỉnh cấp giấy phép mỏ đá. Lãnh đạo huyện Kỳ Anh sau một hồi nghiên cứu thốt lên rằng, đây là lần đầu tiên thấy giấy phép này.
Về việc Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh, ông Nguyễn Văn Bổng, ra quyết định điều động lực lượng bảo vệ thi công cho mỏ đá Việt Gia - Song Hui. Lãnh đạo huyện Kỳ Anh cho rằng, do trước đây đã nghe Cty Việt Gia - Song Hui báo cáo có một số lần có người đến đe dọa lực lượng thi công, lo sợ khi triển khai thi công bị đe dọa nên ông mới ra quyết định huy động lực lượng hùng hậu để bảo vệ.
Tuy nhiên khi phóng viên đặt vấn đề, “xin được xem biên bản các lần đe dọa”, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh và các thuộc cấp có liên quan lại nói rằng “không lập biên bản vì những người đó đe dọa chứ chưa hành động?!”.
Vì nghi vấn “mối đe dọa” (không biết đối tượng nào), Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh đã ký quyết định huy động 30 công an huyện (có cả lãnh đạo), xe đặc chủng, 35 người (cán bộ xã, lực lượng cơ động mạnh) tại xã Kỳ Liên, hàng chục cán bộ phòng ban, y bác sỹ, phóng viên truyền hình với những chỉ đạo tác chiến như đánh trận... để “bảo vệ thi công” cho mỏ đá.
Tại quyết định này không hề có thời hạn. Toàn bộ kinh phí phát sinh, Chủ tịch huyện giao phía doanh nghiệp phải chịu. Ngày 24/10, sau 14 ngày “bảo vệ thi công”, khi nhóm phóng viên có mặt tại hiện trường, vẫn đang có 3 chiến sỹ công an với 1 xe đặc chủng thường trực. (Tiền Phong 13/11) đầu trang(
Hơn 20 năm đầu tư, các hộ dân bỗng dưng bị UBND tỉnh Tây Ninh ra văn bản thu hồi gần 150 ha cao su đang thu hoạch để làm... khu dân cư
Vừa qua, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã tổ chức buổi họp với các hộ dân đang trồng gần 150 ha cao su tại ấp Bùng Binh, xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng để thông báo văn bản của UBND tỉnh Tây Ninh về chủ trương thu hồi mảnh đất trên làm khu đô thị dịch vụ Bùng Binh. Theo đó, các hộ dân chỉ được ký hợp đồng thuê đất với UBND huyện Trảng Bàng đến hết tháng 6-2017.
Từ năm 1992, ông Hà Minh Đỏ, Giám đốc Nông trường Cao su Bời Lời (huyện Trảng Bàng) ký hợp đồng kinh tế với nhiều hộ dân về việc giao đất trồng cao su ở ấp Bùng Binh. Thời hạn giao đất bằng chu kỳ tăng trưởng của cây cao su là 50 năm.
Theo hợp đồng, nông trường giao đất rừng tái sinh và thiết kế lô hoàn chỉnh, hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng và khai thác. Người dân phải đầu tư san ủi mặt bằng, trồng, chăm sóc, khai thác đúng quy trình kỹ thuật và bán toàn bộ sản phẩm cho nhà nước; ngoài ra, nộp phí quản lý 1%/năm cho nông trường.
Sau hơn 20 năm đầu tư, đến nay, các hộ dân trồng cao su được UBND tỉnh Tây Ninh thông báo sau thời hạn tháng 6-2017, UBND huyện Trảng Bàng sẽ thu hồi khu đất trên để thực hiện quy hoạch chi tiết khu đô thị dịch vụ Bùng Binh. Theo UBND tỉnh Tây Ninh, hợp đồng kinh tế giữa Nông trường Cao su Bời Lời và các hộ dân về việc giao đất để trồng cao su với thời hạn 50 năm là không đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai.
Về vấn đề trên, ông Hà Minh Đỏ cho rằng nếu theo Luật Đất đai thời điểm hiện tại thì sai nhưng chính quyền nên xem xét hoàn cảnh vào thời điểm năm 1992. Lúc đó, nếu không có sự chỉ đạo của huyện thì nông trường sẽ không dám ký hợp đồng giao đất cho người dân. Trong khi trước đó, khu đất này chỉ trồng cây điều, mía và không có hiệu quả.
“Trong suốt quá trình làm giám đốc nông trường đến khi bàn giao việc quản lý đất khu vực Bùng Binh cho UBND huyện Trảng Bàng, không thấy ai nói tôi sai. Hơn 20 năm sau mới nói đến việc này thì tôi đành chịu” - ông Đỏ nói.
Sau khi có thông báo của UBND tỉnh Tây Ninh, phần lớn hộ dân đang thuê đất ở khu vực Bùng Binh không chịu ký lại hợp đồng với UBND huyện Trảng Bàng. Ông Nguyễn Quang Bội, người trồng cao su, nói: “Nếu ký hợp đồng với thời hạn 3 năm thì vô tình chúng tôi phủ nhận hợp đồng cũ có thời hạn 50 năm. Chúng tôi đã đầu tư biết bao tiền của, công sức vào mảnh đất này. Đến khi vườn cao su đang thu hoạch thì bỗng dưng bị thu hồi đất, chúng tôi phải sống thế nào?”.
Theo ba Huỳnh Thị Lan Phương, người trồng cao su, hợp đồng giữa gia đình bà với Nông trường Cao su Bời Lời có giá trị pháp lý. Nếu nông trường sai thì nhà nước có trách nhiệm giải quyết. “Hơn 20 năm đầu tư hàng tỉ đồng để mảnh đất khô cằn thành vườn cao su tươi tốt mà nay bị thu hồi thì quá thiệt thòi cho chúng tôi” - bà Phương bức xúc.
Nhiều hộ dân khác đặt vấn đề nếu UBND tỉnh Tây Ninh cho rằng hợp đồng giao đất không đúng thẩm quyền thì sao không sớm chỉ ra để người dân khỏi phải tốn bao công sức gầy dựng vườn tược. Sau 20 năm mới nói hợp đồng sai thì cuộc sống sau này của người dân sẽ như thế nào?
Được biết năm 2000, UBND tỉnh Tây Ninh đã có văn bản đề nghị Nông trường Cao su Bời Lời giao cho UBND huyện Trảng Bàng quản lý khu đất trên và đã yêu cầu huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho người dân. Thế nhưng, suốt 13 năm qua, việc cấp sổ đỏ cho người dân vẫn không được chính quyền huyện Trảng Bàng thực hiện. Trong khi đó, nhiều mảnh đất tại đây đã được người dân sang nhượng với sự chứng nhận của chính quyền xã Hưng Thuận.
Thắc mắc của người dân về vấn đề sẽ thu hồi đất vào năm 2017 vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Các hộ dân trồng cao su tại ấp Bùng Binh kiến nghị UBND tỉnh Tây Ninh nên có chính sách đền bù thỏa đáng cho họ nếu thu hồi đất hoặc cho họ tiếp tục trồng cây cao su và có nghĩa vụ đóng thuế đối với nhà nước. (Người Lao Động 13/11) đầu trang(
12-11, lực lượng chức năng xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh (Phú Yên) đã mai phục, bắt giữ xe tải biển số 76K-3537 đang vận chuyển trái phép gần 5,5 m3 gỗ quý hiếm thuộc nhóm 1 từ Gia Lai đi Phú Yên.
Khi bị lực lượng chức năng bao vây, truy đuổi, tài xế điều khiển chiếc xe tải trên đã bỏ trốn.
Trước đó hơn một tuần, cơ quan chức năng xã Ea Lâm cũng đã bắt giữ vụ vận chuyển trái phép gần 3,5 m3 gỗ quý, gồm 189 khúc gỗ hộp thuộc nhóm 1 đang trên đường vận chuyển ra Phú Yên. (Pháp Luật TPHCM 13/11; Công An Nhân Dân 13/11; Nhân Dân 13/11; Nông Thôn Ngày Nay 13/11) đầu trang(
Trong hơn 5 năm, với sự buông lỏng quản lý của các doanh nghiệp, được sự tiếp tay của một số cán bộ kiểm lâm, Ngô Đình Quang tức “Quang Kiều”, trú tại Thị xã Phước Long (Bình Phước) và đồng bọn ra sức tung hoành tàn phá hàng nghìn ha rừng thuộc địa bàn xã Quảng Trực (Tuy Đức - Đắk Nông) và vận chuyển lâm sản trái phép để đi tiêu thụ.
Trước đây, ở những Tiểu khu 1520, 1522 thuộc địa bàn xã Quảng Trực cây rừng còn dày đặc, tán che kín cả bầu trời, nay thì trống hoác, chỉ còn trơ gốc và bị đốt cháy trơ trụi.
Tình trạng rừng nơi đây bị phá vượt quá sự tưởng tượng của những ai đã từng đến và chứng kiến nơi này. Nhiều diện tích rừng được một số người dân mua lại để trồng cây lương thực. Tiếp tục đi sâu vào các tiểu khu 1534, 1535 và 1536, những cánh rừng bị đốn hạ tan hoang không kém.
Một điều khó có thể tin được là địa hình sâu, phải vượt đồi núi dốc, băng qua suối hiểm trở mà các đối tượng vẫn đưa được các thiết bị, phương tiện hiện đại để vào đây chặt phá, khai thác rừng trái phép. Với những phương tiện như máy cưa, xe độ chế và cả nhân lực làm thuê hùng hậu của Quang thì hàng nghìn ha rừng bị phá cũng là điều dễ hiểu.
Tại những khu vực rừng ở đây vẫn có rất nhiều lán trại của hàng trăm đối tượng dựng lên như “doanh trại” để phá. Tiếp xúc với một trong số những đối tượng làm thuê cho Quang, ông Ng V H ở tỉnh Bình Phước cho hay: “Được anh Quang thuê và nói là đất của gia đình mua từ lâu, có giấy tờ hợp pháp, nên tôi cùng những người khác đến đây chặt, đốn hạ để lấy gỗ.
Với mức công trả khá cao nên những người làm thuê như chúng tôi phải làm cật lực cả ngày lẫn đêm. Những ngày cuối tuần, tất cả đều không được nghỉ, trừ những trường hợp đau ốm nặng, bị tai nạn do cây đỗ, gỗ đè”.
Ngoài băng nhóm của Quang, tại các tiểu khu này còn có cả những băng nhóm khác tiến hành tàn phá rồi chiếm đất rừng trái phép làm nương rẫy và sang nhượng lại cho người khác. Để sang nhượng lại cho người khác, chúng đã làm các loại giấy tờ giả nhằm lừa hàng chục người dân mua đất rừng bất hợp pháp.
Đại tá Nguyễn Kim Nhị, Trưởng phòng Cảnh sát kỹ thuật hình sự cho biết: “Trong thời gian qua, đơn vị giám định hàng chục loại giấy tờ, chữ ký giả do các đối tượng cầm đầu trong đường dây phá rừng dùng thực hiện hành vi lừa đảo bán đất rừng trái phép cho người dân”.
Với cách thức hoạt động của Quang cùng đồng bọn và các băng nhóm tội phạm khác, từ năm 2008 đến nay chúng đã tàn phá trên 3000 ha rừng để khai thác gỗ và lấn chiếm làm nương rẫy gây thiệt hại tài nguyên rừng. Hầu hết những diện tích rừng này đều do các Công ty Kiến Trúc Mới, Hoàng Ba, 59, Nam Tây Nguyên quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng.
Một điều mà dự luận rất quan tâm, chính là vì sao Quang lại đưa nhân lực hùng hậu, phương tiện vào khai thác gỗ và tàn phá mà không bị lực lượng chức năng xử lý? Và suốt thời gian dài hoạt động, tàn phá nhiều diện tích rừng như thế, các đơn vị, doanh nghiệp đã được giao nhiệm vụ quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ rừng ở đâu, để cho Quang ngang nhiên hoạt động? Mọi câu hỏi của dư luận xã hội đều được giải đáp khi Cơ quan điều tra, công an tỉnh vào cuộc khám phá.
Trung tuần tháng 4/2013, mặc dù trời mưa lớn, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh chỉ đạo 1 tổ với 7 đồng chí trinh sát do Trung tá Nguyễn Quang Kỳ chỉ huy đã kiên trì bí mật bắt quả tang 15 đối tượng, 2 xe ô tô độ chế vận chuyển chở 24 m3 khối gỗ các loại từ Quảng Trực về xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng (Bình Phước).
Khám phá nơi ở, xưởng cưa của Quang và đồng bọn, lực lượng công an tỉnh còn thu 122m3 gỗ tròn từ nhóm 2 đến nhóm 8, 7 lóng gỗ tròn và 60m3 gỗ thành khí các loại. Từ đây, đường dây hoạt động phá rừng, khai thác và vận chuyển gỗ trái phép của Quang và đồng bọn được phanh phui, phơi bày.
Theo đó, từ năm 2008, Quang cùng đồng bọn đến xã Đắk Nhau mua đất mở xưởng cưa, mua xe độ chế, các phương tiện khác để hình thành đường dây khai thác và tiêu thụ lâm sản. Để hoạt động lâu dài, tránh bị xử lý, Quang cấu kết, móc nối với một số cán bộ biến chất của các công ty được giao quản lý, bảo vệ rừng, xã Đắk Nhau, Quảng Trực và lực lượng kiểm lâm cơ sở.
Với sự câu kết đó, hàng đêm, Quang vận chuyển hàng chục xe gỗ từ Quảng Trực về các xã Đắk Nhau, Bom Bo, Đường 10, huyện Bù Đăng cất dấu, tiêu thụ mà không hề bị bắt giữ. Mọi chi phí của mỗi chuyến gỗ chở ra, Quang trả công cho lái xe 500.000đ, phụ xe là 300.000đ. Sau đó, Quang bán lại cho các xưởng cưa và người có nhu cầu với giá 1.500.000đ/ m3 gỗ tròn và 3.200.000đ/ m3 gỗ dầu, gỗ bằng lăng.
Được sự “che chở” của những cán bộ biến chất, Quang còn điều hành đường dây bảo kê cho các chủ có xe độ chế muốn vận chuyển gỗ ra ngoài địa bàn.
Cụ thể, nếu muốn chở gỗ ra được an toàn, không bị bắt giữ, mỗi chủ xe phải đóng cho Quang với số tiền là 6 triệu đồng/ chuyến gỗ tạp, 8 triệu đồng/ chuyến gỗ dầu. Quang còn cam đoan bảo lãnh cho các chủ xe nếu bị bắt trên địa bàn xã Quảng Trực thì chịu cho 50% chi phí, chịu 100% nếu bị bắt tại xã Đắk Nhau.
Dưới bàn tay bảo kê của Quang, trong suốt thời gian dài, các chủ xe khác “thi nhau” khai thác và vận chuyển trót lọt gỗ từ địa bàn xã Quảng Trực về nơi khác tiêu thụ.
Theo Đại tá Nguyễn Hữu Lộc, Trưởng Phòng cảnh sát hình sự, công an tỉnh Đắk Nông thì ngoài việc cấu kết, chính sự buông lỏng quản lý của các công ty, một số thiếu năng lực tài chính, dẫn đến các đối tượng từ nơi khác kéo đến phá rừng làm nương rẫy, buôn bán gỗ, đất đai trái phép gây mất an ninh trật tự.
Riêng đối với vụ Ngô Đình Quang, sau hơn 4 tháng điều tra, mới đây Cơ quan điều tra đã khởi tố 9 đối tượng gồm Quang, Nguyễn Văn Chở, Trương Duy Thịnh, Ửng A Phong, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Phú Thành, Triệu Văn Vĩnh Trần Văn Đào, Điểu Thành La đều ở huyện Bù Đăng. Vụ việc hiện đang được lực lượng công an tiếp tục điều tra mở rộng, làm rõ để xử lý. (Tamnhin.net 13/11) đầu trang(
Ngày 9/11, quá trình tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông tại cầu Thanh Trì, tổ công tác đội Cảnh sát giao thông số 14 đã phát hiện 1 xe ô tô vi phạm dừng đỗ trên cầu, chở một lượng gỗ khối lớn, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc.
Số gỗ trên đã được đưa về trụ sở hạt kiểm lâm số 2, Chi cục kiểm lâm thành phố Hà Nội làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 13/11) đầu trang(
Mới đây, Ban Thường vụ Huyện ủy Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) gửi công văn, yêu cầu kiểm điểm, xử lý trách nhiệm ông Huỳnh Hiếu, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận, theo trách nhiệm người đứng đầu trong vụ hủy hoại rừng xảy ra tại rừng La Dạ và Đông Giang.
Theo công văn, ngày 26-9, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xét xử hai bị cáo Lê Hữu Khanh và Phạm Thành Trung, nguyên là công chức kiểm lâm Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Bắc. Cả hai kiểm lâm này đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, có hành vi nhận hối lộ của lâm tặc hơn 30 triệu đồng.
Tại thời điểm xảy ra vụ án trên, ông Huỳnh Hiếu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Bắc. Căn cứ yêu cầu của Ban Nội chính Tỉnh ủy Bình Thuận về xử lý trách nhiệm người đứng đầu, Huyện ủy Hàm Thuận Bắc có công văn đề nghị như trên. (Pháp Luật TPHCM 13/11) đầu trang(
Chưa bao giờ hoạt động của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chúc A (Hương Khê) lại lâm vào bế tắc như hiện nay. “Kể từ tháng 8/2013 đến nay, Công ty vẫn còn nợ lương cán bộ công nhân viên” - Giám đốc Dương Văn Thắng ngậm ngùi. Nan giải hơn, đến thời điểm hiện tại, Công ty vẫn chưa tìm được lời giải cho bài toán trên.
“Phát triển kinh tế và bảo vệ rừng bền vững là nhiệm vụ xuyên suốt đối với hoạt động của đơn vị, nhưng từ đầu năm đến nay, Công ty mới chỉ có 108 triệu đồng từ công tác bảo vệ 15.200 ha rừng. Muốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh phải có vốn. Nhưng làm thế nào để vay vốn ngân hàng trong khi đất không có bìa đỏ và nếu là bìa đỏ của một đơn vị bảo vệ rừng cũng chẳng có ngân hàng nào cho vay” - Giám đốc Dương Văn Thắng rầu rĩ.
Cũng chính vì vậy, đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty từ chỗ 150 người (năm 2011) nay chỉ còn 36 người (trong đó có 24 bảo vệ rừng và 12 người làm việc hành chính). Năm 2011, mức thu nhập bình quân của người lao động từ 3-3,5 triệu đồng/tháng, nay đã giảm khá nhiều.
Đặc biệt, từ tháng 8 đến nay, Công ty vẫn chưa tìm được nguồn nào để trả lương cho người lao động. Trước đây, mọi hoạt động đều trông chờ vào khoản tiền phần trăm thu được từ việc khai thác gỗ 2-3 tỷ đồng. Nay nguồn thu này không còn do việc khai thác gỗ đã bàn giao cho người trúng thầu nên Công ty rất khó cầm cự…
Công ty cũng đã tìm mọi cách để liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp (DN) khác nhằm khơi thông bế tắc theo phương thức “hai bên cùng có lợi”. Một trong những DN được lựa chọn là Công ty CP Dược Hà Tĩnh nhưng mối “tơ duyên” này không thành. Bởi “địa hình Công ty quản lý có độ dốc quá lớn nên việc triển khai trồng dược liệu phục vụ nhà máy sản xuất thuốc khó thực hiện” - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Dược - Võ Đức Nhân khẳng định.
Hạn chế về địa hình là một yếu tố bất lợi với DN này nhưng lại là một cơ hội với DN khác khi phần lớn diện tích nằm khá xa khu dân cư nên việc triển khai xây dựng các mô hình chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn hoàn toàn không làm ô nhiễm môi trường.
Một phương án khác cũng được DN tính đến là “bắt tay” với Tổng Công ty KS&TM Hà Tĩnh, triển khai xây dựng ít nhất 2 mô hình chăn nuôi lợn có quy mô lớn tập trung tại khu vực rừng thuộc DN quản lý. Tuy nhiên, theo lời ông Thắng thì “tới đây, hai bên sẽ cùng nhau thảo luận, còn hiện tại chưa thể nói được điều gì”. (Báo Hà Tĩnh 13/11) đầu trang(
Ngày 12.11, Công an TP.Vinh, Nghệ An đã bắt giữ và khởi tố 3 người thuộc Chi cục Thi hành án TP.Vinh gồm Đinh Thị Trà Giang (thủ kho), Đặng Ngọc Thế (nhân viên văn phòng) và Tạ Đức Anh (bảo vệ cơ quan) để điều tra vụ mất trộm ngà voi tại cơ quan này.
Trước đó, vào đêm 9.10, tại kho của Chi cục Thi hành án TP.Vinh bị mất trộm một khối lượng khá lớn ngà voi trong số 209,4 kg ngà voi đang được cất giữ tại đây. Số ngà voi này là tang vật của vụ án buôn bán trái phép ngà voi đã được TAND TP.Vinh xét xử vào năm 2012, tuyên sung công quỹ và đang chờ xử lý thì bị mất trộm. (Tuổi Trẻ 13/11; Lao Động 13/11; Vietnamnet.vn 13/11; VOV 13/11; Pháp Luật TPHCM 13/11) đầu trang(
Tại cuộc họp báo vào chiều 12.11, Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng Văn Hữu Chiến yêu cầu Sở Xây dựng kiểm điểm Công ty công viên cây xanh về việc thi công không đúng kỹ thuật khiến hàng loạt cây xanh gãy ngã sau bão số 11 (bão Nari) tháng 10 vừa qua.
Theo Sở Xây dựng, bão số 11 làm gãy ngã 7.059 cây (10,3% cây xanh toàn TP) gây thiệt hại hơn 6 tỉ đồng, trong đó thiệt hại về cây xanh chiếm 2/3 còn lại là các tài sản và kiến trúc liên quan.
Bên cạnh nguyên nhân khách quan do bão, cây xanh gãy ngã còn do trồng dối như đào không đủ sâu, chèn chống không đúng kỹ thuật, thậm chí nhiều nơi không tháo cả dây buộc, lưới bọc rễ và bao ni lông khi trồng. Đồng thời do muốn tạo bóng mát nhanh nên ở một số tuyến đường Công ty công viên cây xanh đã trồng các cây lớn trong khi hệ rễ yếu nên ngã rạp sau bão.
Ông Trần Thọ, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, yêu cầu Sở Xây dựng xem xét trách nhiệm trong khâu giám sát, nghiệm thu trồng cây xanh, đồng thời yêu cầu Sở này cùng Sở TN-MT chấm dứt đùn đẩy trách nhiệm, khẩn trương thu dọn rác cành cây đã cắt tỉa trước siêu bão Haiyan hiện còn nằm đầy đường. (Thanh Niên 13/11) đầu trang(
Ngày 12/11, Đội 2 Phòng cảnh phòng, chống tội phạm về môi trường, Công an TP Hà Nội phối hợp với Hạt kiểm lâm số 3, Chi cục kiểm lâm TP Hà Nội phát hiện, bắt quả tang Mai Thế Văn, trú tại huyện Từ Liêm vận chuyển trái phép 1 con hon, 5 con nhím không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Lực lượng chức năng đã lập biên bản, tich thu số động vật hoang dã trên bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn nuôi nhốt theo quy định. (An Ninh Thủ Đô 13/11) đầu trang(
Nhiều cán bộ, đội viên của Tổng đội Thanh niên xung phong 6 (Tổng đội 6) vô cùng bức xúc vì lãnh đạo đơn vị này đã “bắt tay” với Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Yên Thành lập khống hồ sơ để rút hàng trăm triệu đồng tiền chăm sóc, bảo vệ rừng trong 3 năm qua...
Tổng đội 6 được thành lập năm 2001 với nhiệm vụ tập hợp giải quyết việc làm cho hơn 600 đoàn viên thanh niên và nhân dân vùng Tây Bắc huyện Yên Thành và cả phía Nam huyện Quỳnh Lưu.
Ngoài nhiệm vụ xây dựng kinh tế mới, khi dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được triển khai thì Tổng đội 6 được tỉnh giao thực hiện trồng. Sau khi dự án nói trên kết thúc, năm 2011, tỉnh Nghệ An còn vốn kết dư của dự án này với số tiền là 5,2 tỷ đồng.
Sau khi xin ý kiến của Trung ương, số tiền nói trên được giữ lại để cho phép được thanh toán để hoàn trả cho các hạng mục công trình đã hoàn thành và đủ hồ sơ thuộc Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo đề nghị của UBND tỉnh Nghệ An; Kinh phí còn lại đề nghị chuyển sang thực hiện các hạng mục thuộc Dự án Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 theo Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Tổng đội 6 là 1 trong số những đơn vị nhận triển khai việc chăm sóc rừng theo quy định của Nhà nước. Cụ thể, năm 2011, Tổng đội 6 nhận thực hiện việc chăm sóc (chăm sóc năm 1) với diện tích 60 ha.
Theo đó, chiếu theo quy định sẽ được nhận số kinh phí hỗ trợ đối tượng triển khai công việc là 96 triệu đồng. Chăm sóc năm thứ 2 (tức là năm 2012) Tổng đội 6 nhận thực hiện 60 ha tương đương với số tiền nhận hỗ trợ là 104,4 triệu đồng. Chăm sóc năm 3 (tức năm 2013) đơn vị này nhận thực hiện việc chăm sóc 120 ha tương đương với số tiền hỗ trợ là trên 94 triệu đồng.
Như vậy là trong 3 năm chăm sóc, Tổng đội 6 phải triển khai thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ số diện tích rừng phòng hộ là 240 ha với số tiền hỗ trợ tương đương trên 294,4 triệu đồng. Tuy nhiên, theo đơn tố cáo của ông Nguyễn Duy Tiến – Trưởng phòng Kế hoạch của Tổng đội 6 thì những số liệu như vừa trình bày ở trên đều là số liệu mà phía lãnh đạo đơn vị này lập khống để nhận tiền hỗ trợ trái pháp luật.
Ông Tiến bức xúc trình bày: “Là một Trưởng phòng kế hoạch đáng lẽ ra tất cả những số liệu này tôi phải nắm được cũng như được triển khai thực tế trên thực địa. Có nghĩa là Tổng đội 6 phải thực hiện các bước từ hợp đồng bảo vệ, chăm sóc rừng đến bản thiết kế lô thửa rõ ràng và quan trọng nhất là phải được chăm sóc rừng thực sự... đằng này tự dưng thấy thông báo đến họp rồi ép ký danh sách nhận tiền. Là cán bộ Đảng viên lâu năm, tôi không thể nhắm mắt làm dối được!”.
Cũng theo ông Tiến, số tiền chăm sóc rừng năm 1 (tức năm 2011) thì hầu như không có cán bộ đội viên nào biết gì về việc có dự án nói trên. Riêng số tiền chăm sóc rừng năm 2 (tức năm 2012) thì Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Yên Thành có đưa danh sách xuống và nhờ lãnh đạo Tổng đội mời những ai có danh sách ký nhận tiền đến ký xác nhận.
Thế nhưng, ký xong thì chẳng có người nào được nhận tiền. Vì thế, anh Tiến đã kiên quyết không ký nhận nhưng sau đó trong danh sách mà PV được cung cấp thì vẫn có tên và chữ ký mà theo anh Nguyễn Duy Tiến thì đó là người ta giả mạo chữ ký của anh.
Đối với số tiền chăm sóc rừng năm 3 (tức năm 2013) vừa qua, ngày 26/10 vừa qua, Tổng đội 6 đưa một danh sách đã điền sẵn họ tên, diện tích chăm sóc và số tiền từng hộ gia đình được nhận đến và gọi những cán bộ có tên trong danh sách đến để ký nhận tiền. Sau một hồi đắn đo, tất cả 20/21 người có danh sách nhận tiền đã ký và nhận tiền, riêng anh Tiến kiên quyết từ chối ký nhận với lý do “không được chăm sóc thực tế thì không việc gì đi ký nhận tiền khống của Nhà nước”.
“Khi đó, ông Đào Quang Ngọc – Tổng đội trưởng Tổng đội 6 nói ai ký tên thì cho nhận tiền ngay, nhiều anh em có tên trong danh sách lo lắng không dám ký vì họ cho rằng họ không được chăm sóc rừng thực tế thì nhận tiền khống của Nhà nước làm gì? Nhưng sau đó lãnh đạo tổng đội đã gây sức ép nên hầu hết những ai có tên trong danh sách đều ký tên và nhận tiền. Riêng tôi không ký thì ông Ngọc đã nhắn tin có lời lẽ khiếm nhã ý trách móc tôi...” – anh Nguyễn Duy Tiến, kể lại.
Theo điều tra của PV, những phản ánh và bức xúc của anh Tiến và một số cán bộ đội viên Tổng đội là có cơ sở. Bởi vì trên thực tế Tổng đội 6 không triển khai chăm sóc rừng theo hợp đồng đã ký với Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, đồng thời danh sách những đối tượng nhận tiền cũng không hề hay biết gì về việc này mà lãnh đạo Tổng đội 6 cũng như Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành đã tự dựng lên số liệu cũng như danh sách “ảo” để rút khống tiền dự án chăm sóc rừng của Nhà nước.
Đặc biệt, theo phản ánh thì số diện tích nằm trong dự án chăm sóc rừng mà Tổng đội 6 và Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành tự vẽ ra thực chất đã bị UBND tỉnh thu hồi từ năm 2012 và bàn giao cho dự án của Tập đoàn TH để triển khai các dự án trồng cỏ nuôi bò sữa, trồng dược liệu và nhà máy chế biến gỗ!
Ông Nguyễn Sỹ Hậu – Trưởng phòng Hành chính - Tổng đội 6 cho biết: “Chúng tôi triển khai đúng với chủ trương nhưng danh sách và các tài liệu liên quan thì hẹn hôm khác sẽ cung cấp cho các anh”. Sau đó, ông Hậu không trả lời thêm được những câu hỏi của PV đặt ra liên quan đến vụ việc! (Tài Nguyên&Môi Trường 12/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có hiệu lực từ năm 2011, những người yêu quý rừng cảm thấy vui hơn vì sẽ huy động được nguồn lực xã hội cho việc phát triển lâm nghiệp.
Các cơ sở sử dụng DVMTR sẽ đáp ứng nhu cầu vốn để thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng, từng bước cải thiện chất lượng rừng, phát triển diện tích rừng, cải thiện sinh kế cho người dân trong khu vực.
Đối tượng sử dụng DVMTR trước hết là thủy điện, nước sạch, du lịch được áp dụng thực hiện chính sách. Vì vậy, nếu các đơn vị sử dụng DVMTR này chậm nộp tiền DVMTR thì sẽ gây ảnh hưởng đến kế hoạch chi trả tiền DVMTR cho chủ rừng ở các địa phương. Thế mà nhiều nhà máy thủy điện, không chỉ chậm mà còn chây ỳ, thậm chí có dấu hiệu chiếm dụng không chịu nộp số tiền này...
Tại hội nghị Chính sách chi trả DVMTR khu vực Tây nguyên mở rộng do Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp tổ chức tại TP.Đà Lạt mới đây, Bộ NN-PTNT đưa ra con số: hiện các nhà máy thủy điện trong nước chưa nộp tiền DVMTR của các năm 2011, 2012 và các quý năm 2013 với tổng số tiền khoảng hơn 294 tỉ đồng.
Một đại diện tỉnh Đắk Nông cho hay: các nhà máy thủy điện luôn viện dẫn nhiều lý do thoái thác và chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền DVMTR từ năm 2011 đến nay, đặc biệt 4 nhà máy thủy điện đóng chân trên địa bàn tỉnh Bình Phước có sử dụng lưu vực của Đắk Nông nhưng mấy năm qua chưa đóng đồng nào.
Trong khi đó, ông Kiều Thanh Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng Đắk Lắk, tỏ ra bức xúc khi kể câu chuyện chính ông đi “đòi nợ” tiền DVMTR của nhà máy thủy điện Krông Hnăng (thuộc chủ quản của Công ty CP Sông Ba – Phú Yên) và công ty vẫn chây ỳ không trả.
“Tôi biết Tập đoàn điện lực Việt Nam đã chuyển tiền (mức chi trả 20đ/1kwh điện thương phẩm) cho công ty này rồi nhưng công ty không chịu trả nợ, tôi nói với họ như vậy là chiếm dụng tiền DVMTR thì lãnh đạo công ty nói sẵn sàng chịu xử phạt. Họ nợ đến hơn 9 tỉ đồng chứ ít đâu…”, ông Hà bức xúc kể.
Trong khi đó, lãnh đạo Quỹ bảo vệ phát triển rừng Bình Phước cũng than thở: Quỹ đã nhiều lần liên hệ làm việc với lãnh đạo 2 nhà máy thủy điện ở địa phương để đàm phán, thương thảo ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR nhưng đều không nhận được sự hợp tác đầy đủ; lãnh đạo nhà máy né tránh không dự, chỉ cử cán bộ phụ trách sản xuất dự làm việc và đưa ra các lý do để thoái thác nghĩa vụ chi trả tiền DVMTR…
Cũng theo ông Kiều Thanh Hà, nguyên nhân của việc chây ỳ này phần lớn là do nhiều nơi không đôn đốc quyết liệt, hơn nữa cũng chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể, rõ ràng về việc xử phạt nên các đơn vị “không sợ” và cứ thế ỳ ra không chịu nộp.
Tại hội nghị trên, nhiều đại biểu đề xuất, cần nâng mức xử phạt đối với các nhà máy thủy điện nộp chậm, đang chiếm dụng tiền DVMTR theo lãi suất vay cơ bản tại thời điểm Ngân hàng nhà nước công bố. Đã đến lúc các ngành chức năng cần có kế hoạch và biện pháp sao cho đủ mạnh để buộc các nhà máy thủy điện sớm thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với rừng… (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Theo tin từ Tân Hoa xã, Hải quan TP. Hạ Môn (thuộc tỉnh Phúc Kiến-Trung Quốc) vừa bắt giữ một ổ nhóm buôn lậu xuyên lục địa ngà voi trị giá 603 triệu Nhân dân tệ (tương đương 767 triệu đô la Hồng Kông).
Hải quan Hạ Môn cho biết chi tiết của cuộc điều tra trong thời gian dài đối với 2 nhóm tội phạm với tên gọi là “những ông trùm đen”.
Một đối tượng người bản địa Phúc Kiến tên Chen, câu kết với một nhóm buôn lậu giữa Trung Quốc và châu Phi để đáp ứng nhu cầu ngày càng vượt quá số lượng quy định được phép nhập khẩu cung cấp cho các cửa hàng ngà voi được cấp phép của Chen.
Nhóm của Chen đã bị cơ quan Hải quan Hạ Môn biết đến từ năm 2011. Trong tháng 8 năm nay, một số thành viên của nhóm này đã bị bắt giữ và tịch thu khoảng 2.000 kg ngà voi. Hải quan Hạ Môn đã thu giữ một số vụ vận chuyển ngà voi của nhóm này, bao gồm 4 vụ vào năm 2011, ngà voi được cất giấu trong cát, hạt điều, kim loại và da.
Băng đảng của Chen vận chuyển lậu thông qua Hồng Kông, nơi một số vụ vận chuyển đã bị bắt giữ trong thời gian gần đây. Vào đầu tháng 10 gần 800 kg ngà voi đã bị thu giữ có nguồn gốc từ Bờ Biển Ngà.
Hải quan Hạ Môn đang điều tra đối tượng có tên là Liu, tên trùm thứ hai. Băng đảng của Liu đã phải chịu trách nhiệm về tội vận chuyển lậu lô hàng 4,2 tấn ngà voi vào năm ngoái.
Ngà voi được xem như là một biểu tượng của sự giàu có và địa vị tại Trung Quốc và ngày càng phổ biến trong những năm gần đây với sự phát triển của tầng lớp trung lưu giàu có.
Ba đối tượng người Trung Quốc đã bị bắt giữ tại Dares Salaam, Tanzania mới đây sau khi cất giấu 800 chiếc ngà voi trong túi đựng tỏi tại nhà.
Tại một cuộc họp báo, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hong Lei khẳng định Trung Quốc cam kết phối hợp với cộng đồng quốc tế bảo vệ động vật hoang dã. (Hải Quan 13/11; Giáo Dục&Thời Đại 12/11) đầu trang(
Cô bé Nirmala Toppo, 14 tuổi, ở bang Jharkland (Ấn Độ), được ca ngợi như một cô bé rừng xanh vì có khả năng nói chuyện với voi.
Toppo cho biết, cô bắt đầu nói chuyện với voi sau khi mẹ cô bị giết bởi loài động vật da dày này. Cô quyết định tìm cách để đuổi chúng đi. Cách của Toppo rất đơn giản, đầu tiên cô cầu nguyện và sau đó nói chuyện với chúng.
Toppo khẳng định: "Chúng hiểu những gì tôi nói". Bằng cách riêng của mình, Toppo đã giúp các nhà chức trách tại thành phố Rourkela (bang Odisha) đưa một đàn voi hung dữ trở lại rừng, theo Oddity Central.
"Khi đàn voi đông đúc tiến vào thành phố, chúng tôi đã cố gắng gom chúng vào sân vận động nhưng không có cách nào đẩy chúng trở lại rừng", một quan chức thành phố nói. Sau đó, họ nhớ ra một người có thể giúp họ và lập tức gọi điện cho cha của Toppo.
Cô gái có vóc dáng nhỏ bé nhưng tiềm ẩn một sức mạnh phi thường Toppo đã không làm thất vọng mọi người. Cô đi nhiều vòng quanh đàn voi, luôn miệng nói gì đó với chúng và rồi chúng nghe lời cô đi thẳng vào rừng sâu.
Mặc dù cô bé hành động một cách rất tự nhiên, trong sáng nhưng nhiều người vẫn tỏ ra nghi ngờ. Một số người đưa ra bằng chứng khẳng định rằng cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học nào chứng minh voi hiểu được tiếng người. Tuy nhiên, Toppo nói cô bé dùng tiếng nói của bộ lạc mình để điều khiển đàn voi và đó cũng là lý do tại sao chúng hiểu cô. (Thanh Niên 13/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||