Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, chiều 11/11, các đại biểu Quốc hội làm việc tại tổ, thảo luận về một số nội dung của dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).
Góp ý về nội dung bảo vệ môi trường rừng, đại biểu Huỳnh Minh Thiện (TPHCM) cho rằng, từ ngàn xưa, phát triển của quốc gia dựa vào hai lợi thế rừng và biển. Tuy nhiên, dự án Luật hầu như chỉ nói đến biển đảo, trong khi rừng chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội nhưng không được đề cập đến.
Đại biểu đề nghị, dự án Luật cần bổ sung thêm một chương riêng về bảo vệ môi trường rừng bởi nếu không sẽ mất cân xứng, không thể hiện được tầm quan trọng chiến lược của rừng trong phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng an ninh. (VietnamPlus.vn 11/11; Nông Thôn Ngày Nay 12/11; Tiền Phong 12/11) đầu trang(
Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định số 99 của Chính phủ đang được triển khai có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Xã Ta Gia (huyện Than Uyên) là một trong những xã có diện tích rừng lớn, từ khi triển khai Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhiều hộ dân đã gắn bó với rừng.
Nằm trong nhiều xã có diện tích rừng cao nhất nhì của huyện Than Uyên, xã Ta Gia có trên 3.596,3ha rừng, phân bố chủ yếu ở 5 bản trên địa bàn: bản Gia, Mè, Củng, Nam và Hỳ. Thời gian qua, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tới người dân, nên những cánh rừng trên địa bàn xã đã thêm xanh tốt. Đặc biệt, khi được hưởng lợi từ chính sách chi trả tiền DVMTR, bà con càng tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng hơn.
Ông Lò Văn Xương - Chủ tịch UBND xã Ta Gia cho biết: “Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn nên việc được nhận tiền DVMTR không những giúp bà con có thêm thu nhập từ rừng mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng, giảm thiểu tình trạng lấn chiếm rừng làm nương, khai thác rừng trái phép”.
Anh Lò Văn Tiển, Trưởng bản Củng cho biết: “Bản có 40 hộ nhận khoán bảo vệ 351,3ha rừng theo hình thức cộng đồng. Ngoài số tiền nhà nước hỗ trợ bảo vệ rừng, vừa qua bà con được nhận tiền chi trả DVMTR nên phấn khởi lắm”. Hằng năm, bước vào mùa hanh khô, bản cắt cử các hộ tham gia trực phòng chống cháy rừng. Nhờ triển khai chặt chẽ các bước trong công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, nên diện tích rừng của các hộ nhận giao khoán theo chính sách chi trả DVMTR không bị xâm hại.
Hiện nay, tổng diện tích rừng của bản sẽ được chia đều cho tất cả các hộ sinh sống, không phân biệt chủ hộ có rừng hay không có rừng, tránh sự ganh tỵ lẫn nhau, mất đoàn kết trong thôn bản. Ngoài việc đề ra quy ước, hương ước để bảo vệ rừng, chính quyền địa phương còn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý dự án rừng 661 đẩy mạnh công tác tuyên truyền để bà con hiểu thêm về chính sách chi trả DVMTR. (Báo Lai Châu 12/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Tây Giang là huyện miền núi với diện tích rừng trên 80%, do đó công tác bảo vệ rừng gặp khó khăn về nhân lực. Nhằm giải quyết điều đó, Tây Giang đã cho xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng tại thôn, bản và trở thành điểm sáng trong công tác này.
Ông Pơloong Nhóp - Trưởng thôn Tà Vàng cho biết, trước khi tổ chức xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng thôn, bản, kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND xã, trao đổi và thống nhất với trưởng thôn, bản chúng tôi những nội dung cần đưa ra trước hội nghị thôn, bản để bàn bạc, thảo luận, biểu quyết nhất trí và cam kết thực hiện. Từ đó, thôn, bản cử ra tổ bảo vệ và phát triển rừng, ủy viên thanh tra nhân dân để tổ chức, giám sát việc thực hiện quy ước đó.
Khi có những tranh chấp, vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, nếu thuộc nội bộ của cộng đồng đã được quy định trong quy ước thôn, bản sẽ được nhắc nhở, giải quyết trên tinh thần thương lượng, hòa giải trong cộng đồng. Với trường hợp hành vi và mức độ vi phạm đã được pháp luật quy định cần phải xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự thì trưởng thôn, bản lập biên bản báo cáo UBND xã, đồng thời báo cho kiểm lâm địa bàn để xử lý.
“Khi quy ước ra đời, ý thức của người dân bản, làng cũng tăng lên. Người dân không còn tự ý phá rừng già, rừng đầu nguồn để lấy đất sản xuất, làm nhà ở hoặc dùng vào các việc khác khi chưa được sự cho phép của các cấp có thẩm quyền. Người dân bắt đầu có trách nhiệm ngăn chặn và báo với tổ quản lý bảo vệ rừng thôn, UBND xã, các cơ quan chức năng như kiểm lâm, công an về hành vi vi phạm đến rừng, đồng thời còn có trách nhiệm đẩy đuổi người ngoài thôn vào khu vực rừng của thôn.
Người dân trong thôn luôn cùng nhau kiểm tra, theo dõi nếu phát hiện các hành vi vi phạm các điều khoản đã được quy định trong quy ước, ngăn chặn và báo kịp thời với tổ quản lý bảo vệ rừng của thôn” - ông Nhóp nói.
Qua hơn 1 năm thực hiện, nhờ có bản quy ước mà công tác bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm được thực hiện tốt hơn. Việc phát rừng già, rừng đầu nguồn để làm rẫy ít xảy ra, tình trạng khai thác rừng trái phép đã giảm đáng kể. Chính nhờ thông tin kịp thời từ nhân dân, lực lượng chức năng thu thập và xác minh được nguồn tin về các hoạt động phạm pháp đã và đang xảy ra trên địa bàn, ngăn chặn hàng trăm vụ phá rừng nghiêm trọng nhằm giữ sự bình yên cho rừng. Người dân dần có nhận thức về bảo vệ rừng, biết rừng có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống của họ, chính vì thế không còn bị một số đối tượng lợi dụng khai thác rừng trái phép.
Người dân tự động nộp cưa lốc cho xã. Hiện tại, các xã đang quản lý 110 cái máy cưa lốc trong tổng số 160 cái có trên địa bàn, số còn lại đang tiếp tục vận động nhân dân giao nộp. Cán bộ kiểm lâm và tổ quản lý bảo vệ rừng của thôn, bản đã tổ chức đo đếm nhiều loại cây gỗ quý như pơmu, lim..., ngăn chặn được sự tàn phá của giới lâm tặc.
Ông Tăng Tấn Lộc - cán bộ Ban quản lý bảo vệ rừng (Hạt Kiểm lâm Tây Giang) cho biết, trước đây tình trạng phá rừng thường xuyên xảy ra, chính nhờ những bản quy ước này mà người dân có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Hiện, ở tất cả thôn, bản của huyện Tây Giang đã có bản quy ước và người dân tham gia rất nhiệt tình, đẩy đuổi được hàng chục vụ xâm hại rừng.
Cái hay của việc làm này là nhằm thu hút người dân cùng bảo vệ, bởi người dân là lực lượng nòng cốt để những cánh rừng mãi xanh. Huyện Tây Giang đang tập trung khai hoang mở rộng diện tích lúa nước để người dân sản xuất lúa nước, giảm áp lực vào rừng tự nhiên, đời sống của người dân địa phương được nâng lên rõ rệt. (Báo Quảng Nam 11/11) đầu trang(
Trong những tháng mùa khô, lực lượng kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông thường xuyên tuần tra, kiểm soát tại những vùng trọng điểm cháy rừng nhằm kịp thời phát hiện khi có cháy rừng xảy ra.
Ngoài ra, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện việc cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh và các trang web của Chi cục Kiểm lâm.
Đến nay, Sở NN&PTNT đã thẩm định, phê duyệt phương án phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 5 năm cho 3 đơn vị chủ rừng là doanh nghiệp tư nhân gồm: Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành; Công ty cổ phần nông lâm nghiệp Khải Vi và Công ty TNHH Mai Khôi. Thẩm định 22 phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cho 22 đơn vị chủ rừng là doanh nghiệp Nhà nước.
Mùa khô năm 2012 – 2013, các đơn vị chủ rừng đã triển khai xây dựng 4 chòi canh lửa; làm mới 213 ha đường băng trắng; làm giảm vật liệu cháy 388 ha và mua mới hàng trăm công cụ phương tiện như máy cắt thực bì, dao, cuốc, xẻng.
Ngay từ mùa khô 2013 – 2014, Chi cục Kiểm lâm đã yêu cầu các đơn vị chủ rừng củng cố, kiện toàn ban chỉ huy, tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng và khẩn trương xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả. (Đài PT - TH Đăk Nông 11/11) đầu trang(
Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại về rừng do các vụ cháy gây ra, bước vào mùa khô năm 2013 - 2014 huyện Chợ Mới đã chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai các biện pháp cấp bách để thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô.
Theo ông Nguyễn Văn Minh - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, hiện tại huyện đã thành lập, kiện toàn, và củng cố lại 18 Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong Bảo vệ rừng Phòng cháy chữa cháy rừng, phân công trách nhiệm cụ thể với các thành viên trong ban, đồng thời đã củng cố lại 161 tổ, đội PCCCR tại chỗ ở các thôn bản, tổ phố. Phân công lực lượng trực PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã 24/24h trong 6 tháng mùa khô để tiếp nhận thông tin và ứng phó kịp thời.
Cùng với đó là tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng kiểm lâm, công an và quân đội về công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR. Có kế hoạch kiểm tra phương án PCCCR ở các ban chỉ huy các xã, thị trấn nhằm bổ sung phương án PCCCR ở các đơn vị sao cho phù hợp với đặc điểm của mỗi vùng. Khi có cháy rừng xảy ra phải thực hiện tốt phương châm "4 tại chỗ": “Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ”.
Huyện cũng chỉ đạo các Ban Chỉ huy PCCCR tăng cường kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, chủ rừng thực hiện tốt các phương án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, nhất là đối với các gia đình xử lý thực bì ở vụ trồng rừng mới nghiêm túc thực hiện đúng quy trình xử lý thực bì tránh tình trạng để rừng cháy lan sang khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng khác.
Đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn để mọi người nhận thức rõ công tác PCCCR là góp phần phát triển kinh tế - xã hội, duy trì tổ chức ký cam kết không vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng với một số hộ dân sống gần rừng.
Huyện Chợ Mới có diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng khá lớn, 80% số dân chủ yếu sống vào nghề nông, lâm nghiệp và gắn bó với rừng. Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với huyện đó là một số công trình, biển báo PCCCR đã bị hỏng và xuống cấp; kinh phí để phục vụ cho hoạt động PCCCR còn ít, trang thiết bị PCCCR thô sơ, nhiều khi có cháy xảy ra phải huy động phương tiện cả trong dân vì vậy hiệu quả chưa cao.
Trên địa bàn huyện chưa xây dựng được các công trình PCCCR như đường băng cản lửa, chòi canh, đập hồ chứa nước phòng cháy, chữa cháy rừng. Vì vậy để triển khai có hiệu quả các phương án PCCCR rừng trong mùa khô năm 2013-2014, rất cần sự quan tâm của cấp trên trong việc hỗ trợ về cơ sở vật chất PCCCR để kịp thời xử lý mọi tình huống, ứng phó khi xảy ra cháy rừng. (Báo Bắc Kạn 12/11) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 11/11, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp một lần nữa khẳng định: "Tới thời điểm này Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam chưa hề nhận được một đồng nào từ tiền phí trồng hoàn rừng và tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng".
Trước thông tin Bộ Công thương cho rằng EVN và các chủ đầu tư xây dựng thủy điện đã đóng hàng trăm tỉ đồng phí sử dụng môi trường và tiền trồng hoàn rừng về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng VN, ông Phạm Hồng Lượng cho rằng: "Bộ Công thương nói như vậy là không đúng. Bộ NN&PTNT sẵn sàng đối thoại trực tiếp với Bộ Công thương về số tiền này.
Nếu Bộ Công thương nói các chủ đầu tư đã nộp tiền về Quỹ thì mời Bộ Công thương hãy công khai danh sách những chủ đầu tư đã nộp tiền cho Bộ NN&PTNT và dư luận biết", ông Lượng bức xúc.
Theo ông Lượng, Bộ Công thương là đơn vị quản lý từ xa mà lại phát ngôn như vậy là sai bản chất.
Trước đó, ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng khẳng định: "Trong năm 2012, hầu hết các địa phương có các dự án thủy điện lớn, đều thu được hàng trăm tỉ đồng từ các dự án thủy điện. Những địa phương có thủy điện vừa và nhỏ như Sơn La, các tỉnh miền núi phía Bắc cũng thu được hàng chục tỉ đồng. Số tiền này đều nộp về quỹ phát triển rừng".
Ông Phong còn nhấn mạnh, toàn bộ số tiền đó đều đã được chi trả cho người dân để trồng lại rừng.
"Việc tại sao 20.000ha rừng chuyển đổi lại chỉ trồng được 1.000ha rừng là trách nhiệm của Bộ NN&PTNT. Làm thế nào để tiền về quỹ là trách nhiệm của Bộ NN. Tại sao lại đẩy sang Bộ Công thương?", ông Phong đặt câu hỏi.
Tuy nhiên, khẳng định lại lần nữa, ông Lượng cho biết, tới nay quỹ vẫn chưa nhận được một đồng tiền nào từ các chủ đầu tư để trồng hoàn rừng cũng như chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Dẫn văn bản của Bộ NN&PTNT đề nghị phối hợp chỉ đạo các nhà máy sản xuất thủy điện nộp tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) gửi Bộ Công thương và EVN ngày 26/9/2013, ông Lượng cho biết: Theo quy định, tất cả các cơ sở sản xuất thủy điện thực hiện việc kê khai và nộp tiền DVMTR kể từ ngày 1/1/2011 với mức chi trả là 20đ/1kwh điện thương phẩm.
Tổng số tiền DVMTR còn nợ đọng của EVN và các nhà máy thủy điện tính đến ngày 31/8/2013 là 296.609.182.000 đồng.
Bộ NN&PTNT đề nghị Bộ Công thương chỉ đạo, EVN và các đơn vị sản xuất thủy điện ngoài EVN khẩn trương hoàn trả số tiền này.
"Tới nay số tiền gần 300 tỉ EVN và các chủ đầu tư xây dựng thủy điện còn nợ đọng vẫn chưa có tín hiệu được thanh toán", ông Lượng tái khẳng định. (Đất Việt 12/11) đầu trang(
TS Phạm Quốc Doanh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo và Phát triển doanh nghiệp cho biết: Ngày 16/6/2003, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh theo hướng: Sắp xếp đổi mới nông lâm trường phải gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn, bảo đảm phân biệt rõ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ công ích.
Đối với nông, lâm trường có chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là chính thì chuyển hẳn sang hoạt động sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, thực hiện ký hợp đồng thuê đất với Nhà nước; nông lâm trường sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm nhận một phần chức năng xã hội và an ninh, quốc phòng thì nhà nước có chính sách hỗ trợ thích hợp; nông, lâm trường được giao nhiệm vụ công ích là chính thì hoạt động theo quy định về thực hiện nhiệm vụ công ích của Luật doanh nghiệp. Chuyển giao toàn bộ cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, các công trình công cộng…) không liên quan đến mục đích sản xuất kinh doanh cho địa phương quản lý.
Triển khai Nghị quyết nêu trên, các cấp từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp đã nghiêm túc quán triệt thực hiện, Chính phủ đã ban hành các Nghị định, Quyết định, các Bộ, ngành, địa phương ban hành các văn bản hướng dẫn và xây dựng đề án sắp xếp các nông lâm trường quốc doanh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, đạt được những kết quả quan trọng là:
Thứ nhất: Hầu hết các nông lâm trường quốc doanh đã rà soát lại chức năng nhiệm vụ, tách chức năng xã hội và nhiệm vụ công ích với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Hoàn thành sắp xếp lại các nông trường theo hướng: nông lâm trường quốc doanh có đủ điều kiện thì tiếp tục duy trì, củng cố phát triển, chuyển thành công ty nông nghiệp và nay là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước; các lâm trường quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đã chuyển đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ; một số nông lâm trường có cơ sở chế biến thực hiện thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến..
Đến nay, cả nước còn 286 công ty, trong đó: 138 công ty nông nghiệp, 148 công ty lâm nghiệp và 35 công ty cổ phần, thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có 284 công ty nông lâm nghiệp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 100% vốn nhà nước; chuyển đổi và thành lập mới 91 ban quản lý rừng phòng hộ từ 91 lâm trường quốc doanh quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; thí điểm thành lập 2 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên; giải thể 36 nông lâm trường trong đó: nông trường 22, lâm trường 14.
Thứ hai: Các công ty đã rà soát đất đai, làm rõ hiện trạng sử dụng đất; nhiều công ty đã lập quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quy hoạch 3 loại rừng; xác định rõ diện tích cần giữ lại để quản lý, sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất; diện tích không có nhu cầu sử dụng, sử dụng hiệu quả thấp hoặc để giải quyết cho đồng bào không đất, thiếu đất thì bàn giao cho địa phương; tích cực xử lý giải quyết các trường hợp sử dụng đất không đúng quy định.
Diện tích các công ty nông nghiệp đang quản lý: 630,841 ngàn ha (tăng 17,5 ngàn ha ở các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng); bình quân một công ty quản lý 3.966 ha. Diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 44,45%. Diện tích thuê đạt 40,4%; diện tích bàn giao về địa phương quản lý 60 ngàn ha, đạt 53% so với dự kiến.
Diện tích đất liên doanh, liên kết giảm 53%; đất tranh chấp, lấn chiếm, chồng lấn giảm 34%; đất cho thuê, mượn giảm 7,7%. Diện tích đất các công ty đã đưa vào tổ chức sản xuất là 88,9%, trong đó tự tổ chức sản xuất 67,14%; khoán 23,6%, liên doanh, liên kết 3,35%.
Diện tích đất các công ty lâm nghiệp đang quản lý: 2,15 triệu ha. Đã bàn giao về cho địa phương 404 ngàn ha (đạt 18,67%). Diện tích đất thực hiện giao khoán chiếm 30%, diện tích đất liên doanh, liên kết chiếm 1,1%, diện tích đất tự tổ chức sản xuất chiếm 66,5%.
Thứ ba: Các công ty đã tiến hành rà soát, làm rõ tài sản, tình hình tài chính, các khoản phải thu, phải trả; chuyển giao các công trình kinh tế - xã hội không phục vụ trực tiếp sản xuất về cho địa phương quản lý. Giải quyết lao động dôi dư, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động và dân trong vùng.
Thứ tư: Một số công ty nông lâm nghiệp sau khi sắp xếp đã tổ chức lại sản xuất gắn với quy hoạch kinh tế xã hội và sử dụng đất của địa phương, tạo thành mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp liên kết giữa vùng nguyên liệu với sản xuất, chế biến, tiêu thụ và thị trường mở rộng dịch vụ đầu vào đầu ra hỗ trợ kỹ thuật cho nhân dân trong vùng, hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên vẫn còn tồn tại khó khăn là:
Một là: Một số tỉnh đã tự điều chỉnh đề án được phê duyệt; một số nông trường trồng cây ngắn ngày (chủ yếu lúa) chưa thực sự chuyển đổi theo nội dung Nghị quyết. Đã xuất hiện một số mô hình mới hoặc thí điểm cổ phần hóa, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, trong công ty có Ban quản lý rừng nhưng chậm được tổng kết, điều chỉnh bổ sung kịp thời.
Hai là: Đến nay, tuy đã hoàn thành việc sắp xếp lại theo đề án được phê duyệt, nhưng nhiều công ty vừa có rừng phòng hộ, đặc dụng, vừa có rừng trồng, rừng sản xuất và trong công ty có ban quản lý rừng phòng hộ, khó tách bạch giữa nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và công ích; nhiều công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất lúng túng về phương hướng sản xuất kinh doanh, rất khó khăn chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp.
Ba là: Phần lớn đất đai chưa được xác định ranh giới, cắm mốc; diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất thấp (còn 55,55% chưa được cấp giấy chứng nhận, 59,6% chưa thuê đất). Diện tích đất giao về địa phương chỉ đạt 55,66 % so với dự kiến; diện tích đất chưa đưa vào sử dụng hoặc hoang hóa 27.229 ha (chiếm 4,3%). Nhiều công ty buông lỏng quản lý khoán dẫn đến khoán trắng “phát canh thu tô”, chưa quản lý được hợp đồng giao khoán, chuyển nhượng hợp đồng giao khoán không đúng quy định, mua bán trái phép.
Bốn là: Một số công ty vẫn chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp; hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng đất nhiều đơn vị vẫn còn thấp chưa tương xứng với nguồn lực đất đai được giao, doanh thu trên 1 ha canh tác 71 triệu đồng, nếu trừ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, thì doanh thu chỉ 25 triệu đồng (bằng 30% bình quân của cả nước). Năm 2011 vẫn còn 18 công ty thua lỗ chiếm 14,6%, bình quân lỗ 1,5 tỷ đồng/công ty.
Nhiều công ty chưa có sự đổi mới căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, không chuyển sang hoạt động kinh doanh theo Luật doanh nghiệp được. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng đất thấp, bình quân doanh thu 1 ha đất canh tác 11,7 triệu đồng (bằng 80-90% bình quân cả nước). Năm 2011 còn 32 công ty lỗ (chiếm 22,2%), bình quân lỗ: 766 triệu đồng/công ty.
Năm là: Tài sản, vốn của công ty nông lâm nghiệp vẫn còn nhỏ bé, tài chính còn nhiều khó khăn: bình quân vốn chủ sở hữu của công ty nông nghiệp nếu trừ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam chỉ 22,7 tỷ đồng/công ty; vốn điều lệ 21,4 tỷ đồng/công ty, nhiều công ty có vốn điều lệ nhỏ bé khoảng 1 tỷ đồng. Bình quân vốn tài sản 1 công ty lâm nghiệp 27 tỷ đồng, vốn điều lệ 9,3 tỷ đồng, một số công ty vốn chỉ dưới 1 tỷ đồng. Tài chính gặp nhiều khó khăn, vay vốn ngân hàng còn nhiều hạn chế.
Sáu là: Thu nhập của người lao động còn thấp, đời sống của người lao động và dân trong vùng vẫn còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân của người lao động ở một số công ty nông nghiệp và nhiều công ty lâm nghiệp ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ chỉ: 1-2 triệu đồng người/tháng; nhất là ở vùng Tây Nguyên nhiều công ty lâm nghiệp không có nguồn thu, nên thu nhập từ lâm trường còn thấp hơn, thậm chí một số công ty lâm nghiệp nợ lương, bảo hiểm xã hội của công nhân. (Nông Nghiệp Việt Nam 12/11) đầu trang(
Sự nguy hại của sinh vật ngoại lai đến con người, môi trường, kinh tế đã được cảnh báo từ lâu. Thế nhưng ở nước ta, sinh vật ngoại lai ẩn chứa đầy nguy hiểm vẫn được nhập khẩu như là một nguồn lợi kinh tế giúp nông dân ở vùng nông thôn làm giàu.
Cách đây hơn 50 năm, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã đưa ra cảnh báo nguy hại môi trường sống và con người của sinh vật ngoại lai. IUCN đã lập công ước và đưa ra một tài liệu hướng dẫn với 6 vấn đề ưu tiên như: nâng cao nhận thức về tác hại của sinh vật ngoại lai xâm hại đối với đa dạng sinh học, sức khỏe con người và kinh tế xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển, ưu tiên cho công tác ngăn chặn sự du nhập của các loài sinh vật ngoại lai ở quy mô quốc gia cũng như trên toàn thế giới…
Hiện nay các nhà khoa học cho rằng, sinh vật ngoại lai có thể xâm nhập vào một môi trường sống mới bằng nhiều cách. Chủ yếu như theo gió, dòng nước, bám theo các loài di cư… Nhưng trong đó nguy hại nhất là sự chủ động của con người khi đưa các loại sinh vật ngoại lai vào đời sống.
Bài học ốc bươu vàng (Pomacea sp) được Bộ NN&PTNT nhập khẩu chính ngạch vào nước ta với hy vọng phát triển thành một nguồn thực phẩm là một ví dụ và đến nay loại sinh vật ngoại lai này vẫn đang là một hiểm họa có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Loài ốc ấy đã nhanh chóng lan từ Đồng bằng sông Cửu Long ra các tỉnh miền Trung, miền Bắc, phá hại nghiêm trọng lúa và hoa màu của các địa phương.
Cho đến nay, hằng năm Nhà nước vẫn phải bỏ ra hàng trăm triệu đồng cho công tác tiêu diệt ốc bươu vàng nhưng không thể tận diệt được vì ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó còn có bèo tây, cây dương xỉ, cá dọn bể, cá hoàng đế, cá hổ đều trong danh sách loài xâm hại nguy hiểm đã được cảnh báo được nhập về.
Ông Nguyễn Thế Đồng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên & Môi trường cho biết: “Mặc dù các loài sinh vật ngoại lai đang gây hại lớn nhưng những hạn chế trong việc nhận diện, phòng ngừa các nguy cơ này lại xuất phát từ chính các cơ quan quản lý. Chúng ta đã gặp phải bài học đắt giá qua sự bùng phát ốc bươu vàng. Nhưng đến nay, sự du nhập nhiều loài sinh vật ngoại lai xâm hại vẫn chưa được kiểm soát”.
Trước tình trạng nhiều loài sinh vật ngoại lai được du nhập vào nước ta trong khi công tác kiểm soát, ngăn ngừa còn lỏng lẻo, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1896/QĐ-TTg phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lại xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiến hành khảo sát các ban, ngành liên quan đã phát hiện thực trạng đáng lo ngại của công tác kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại. Theo kết quả điều tra, đánh giá của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, có tới 90% cán bộ được hỏi thuộc cấp quản lý Trung ương và trên 90% cán bộ được hỏi thuộc cấp địa phương chưa đủ khả năng, năng lực quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại do chưa có cán bộ hiểu biết về sinh vật ngoại lai hay do chưa có đủ phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính...
Mặt khác, một trong những đơn vị quan trọng nhất kiểm soát sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai là hải quan thì gần như phần lớn nhân viên thiếu thông tin, kiến thức về sinh vật ngoại lai. Theo thăm dò của Tổng cục Môi trường, có khoảng 60% cán bộ Sở Tài nguyên - Môi trường (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và Chi cục Hải quan địa phương không nhận biết được một số loài là sinh vật ngoại lai xâm hại.
Vừa qua, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên & Môi trường tổ chức Hội thảo tăng cường công tác quản lý về sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam. Tại hội thảo, các nhà khoa học đã chỉ ra sự chồng chéo trong công tác quản lý và bất hợp lý ngay trong Luật Đa dạng sinh học đã tồn tại nhiều năm nay.
Điển hình là việc quản lý đa dạng sinh học trong đó có sinh vật ngoại lai được quy định trong Luật Đa dạng sinh học nhưng nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành chưa rõ ràng và phân tán như ngành nông nghiệp được quyền cấp phép nhập khẩu giống thủy sinh vật vào Việt Nam nhưng quản lý thủy sinh vật ngoại lai trong nước lại do ngành tài nguyên và môi trường. Sự chồng chéo này khiến việc ngăn ngừa, kiểm soát sinh vật ngoại lai thiếu thống nhất, kém hiệu quả.
Trước thực tế trên, Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Tài nguyên & Môi trường Trần Văn Khương cho rằng: “Đã có nhiều văn bản quy định về sinh vật ngoại lai, nhưng dường như việc nhận diện và xử lý chúng, đối với các cơ quan chức năng còn hạn chế. Nếu thực tế này không được khắc phục, thì sinh vật ngoại lai không ngừng phát sinh và sẽ gây ra những hậu quả nặng nề”.
Quản lý triệt để sinh vật ngoại lai xâm hại đang trở thành vấn đề cấp bách, bức thiết. Hàng triệu nông dân đang từng ngày, từng giờ phải chịu thiệt hại vì ốc bươu vàng, cá dọn bể, bèo tây… Đã đến lúc các bộ, ngành liên quan cần xắn tay vào ngăn chặn, tiêu diệt sinh vật ngoại lai để giảm thiệt hại cho dân, trả lại môi trường sống an toàn cho các sinh vật bản địa trong đó có con người Việt Nam. (Theo Petrotimes 12/11) đầu trang(
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lâm sản Việt Nam (Vifores), dù suy thoái kinh tế nhưng kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2013 vẫn tăng 2 con số, khoảng 12%, ước đạt 5,3 - 5,5 tỷ USD. Các chuyên gia trong lĩnh vực này cho rằng, Nhà nước nên có chính sách ưu tiên hơn nữa đối với thị trường nội địa vốn giàu tiềm năng.
Hơn 10 năm qua, ngành chế biến gỗ có bước phát triển rất mạnh. Kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 4,57 tỷ USD, tăng gần 200% so với năm 2007. Việt Nam là nước chế biến gỗ số 1 Đông Nam Á, số 2 châu Á và số 6 thế giới. Hiện cả nước có 3.900 doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ với khoảng 300.000 lao động, 95% trong số này là DN tư nhân, gồm cả DN nước ngoài (FDI).
Dù chỉ chiếm 10% về số lượng nhưng DN FDI lại có vai trò quan trọng, chiếm 35% về kim ngạch xuất khẩu, với thiết bị hiện đại, chất lượng sản phẩm cao, ổn định. Năng lực chế biến gỗ khoảng 15 triệu m3 gỗ tròn/năm, chủ yếu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu chế biến. Nguyên liệu gỗ nhập khẩu tăng mạnh, kim ngạch tăng từ 151 triệu USD năm 2000 lên 1,3 tỷ USD năm 2011.
Tuy nhiên, theo nhận định của lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, xu hướng các nước là giảm dần xuất khẩu nguyên liệu gỗ tròn và việc hợp pháp hóa gỗ nguyên liệu ngày càng chặt chẽ ở những nước nhập khẩu. Đây là thách thức nhưng cũng là động lực để ngành chế biến gỗ quay lại thị trường nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước.
2 năm qua, kim ngạch nhập khẩu gỗ giảm dần, năm 2012 chỉ bằng 90% so với năm 2011. Dự báo giai đoạn năm 2010 - 2030, lượng nguyên liệu gỗ nhập khẩu giảm còn 40% và 25% nhu cầu. Thay vào đó là tăng gỗ rừng trồng trong nước.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, chính sự phát triển ngành chế biến gỗ là động lực phát triển diện tích rừng trồng, cũng như những thị trường chính trên thế giới là châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Australia… đang ngày càng thắt chặt những quy định về nguồn gốc nguyên liệu gỗ chế biến như luật FLEGHT, LACEY hay AILPA.
Nhưng để việc sử dụng gỗ trồng trong nước một cách hợp lý, hài hòa quyền lợi các bên, cần sớm hình thành các chuỗi cung ứng, kết nối giữa người dân, DN trồng rừng với DN chế biến và xuất khẩu, qua đó từng bước tiến tới hạn chế việc xuất khẩu gỗ dăm, cũng như có nghiên cứu để tạo ra giống cây rừng chất lượng hơn. Điều này rất cần thiết vì hiện nay chất lượng cây keo tai tượng và bạch đàn trồng ở Việt Nam thua kém nhiều nước.
Vifores cho rằng, bên cạnh việc tăng kim ngạch xuất khẩu nhưng trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện nay, các DN chế biến gỗ cũng bắt đầu nhìn nhận lại thị trường trong nước với 90 triệu dân, rất tiềm năng, ước tính khoảng 2 tỷ USD/năm. Hiện nay thị trường này hầu như phó mặc cho làng nghề, các DN vừa và nhỏ với đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ và phục vụ xây dựng là những nhóm được tiêu thụ mạnh nhưng chất lượng không đồng đều, mẫu mã hạn chế.
Ngoài ra, đồ gỗ nước ngoài có xu hướng xâm nhập thị trường Việt Nam, như Singapore, Thái Lan, Trung Quốc... Đó là chưa kể tác động của TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương), hàng nội thất sẽ còn vào Việt Nam nhiều hơn, với chất lượng ổn định, mẫu mã đa dạng. Vì vậy, nếu không kịp thời chuẩn bị sẽ bị động sau này. Hiện nay các DN lớn đã vào cuộc. Tuy nhiên, khi gia nhập TPP cũng không ít cơ hội cho ngành chế biến gỗ, đây là dịp để đổi mới thiết bị, công nghệ nhờ được miễn thuế.
Những khó khăn khi trở về thị trường nội địa hiện nay không hề nhỏ. Ba khó khăn dễ thấy nhất, đó là: Nhà nước gần như chưa có chính sách phát triển ngành chế biến gỗ phục vụ nội địa. Hơn chục năm nay, Nhà nước chỉ chú trọng và tạo điều kiện cho việc xuất khẩu sản phẩm gỗ, như được miễn thuế… trong khi DN chế biến tiêu thụ nội địa phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) 10%...
Cái khó thứ hai là kênh phân phối hoàn toàn tự phát, DN muốn tiêu thụ hàng nội địa, không chỉ chế biến, mà còn phải tự vận chuyển, tìm nơi tiêu thụ. Hầu như phải tự làm tất cả và không ai ký hợp đồng dài hạn, trong khi với việc xuất khẩu, DN luôn có hợp đồng ổn định với số lượng khá lớn, việc phân phối có nhà nhập khẩu lo. Vì vậy, để mở rộng thị trường nội địa, trước hết Nhà nước phải có chính sách phù hợp, giúp DN yên tâm tìm về thị trường nội địa. (Sài Gòn Giải Phóng 12/11) đầu trang(
Nếu như năm 2000, giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ chế biến là 219 triệu USD thì con số này dự kiến năm nay là 5,5 tỷ USD. Các doanh nghiệp chế biến gỗ chinh phục thành công thị trường Bắc Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu, Canada, Australia…
Nhờ đó, ngành chế biến gỗ đã có bước phát triển mạnh mẽ, không phải ngành nào cũng có được, vượt qua Malaysia trở thành nước chế biến gỗ số 1 khu vực Đông Nam Á, số 2 châu Á sau Trung Quốc và là nước có ngành chế biến gỗ lớn thứ 6 trên thế giới. Thế nhưng, trong 96,7 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gỗ chế biến của 70 nước trên thế giới, con số mà ngành chế biến gỗ Việt Nam có được còn khiêm tốn.
Với tiềm lực đó, nếu có chính sách, biện pháp phù hợp, kịp thời với chiến lược đúng đắn, ngành chế biến gỗ có thể đạt con số 15-20 tỷ USD trong hơn 1-2 thập niên tới. Có nhiều cơ sở để tin rằng, ngành chế biến gỗ hoàn toàn có thể trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn.
Do miệt mài đi “chinh phục” các nước nên trong một thời gian dài, các doanh nghiệp chế biến gỗ hầu như bỏ hẳn sân nhà cho các làng nghề và các sản phẩm từ Thái Lan, Singapore, Trung Quốc… xâm nhập ngày càng nhiều. Theo số liệu khảo sát do Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) cung cấp, con số tiêu thụ nội địa các sản phẩm gỗ trước suy thoái kinh tế khoảng 2,7 tỷ USD, 2 năm nay suy giảm chỉ còn khoảng 1,7 tỷ USD.
Nhận ra điều bất cập này, 3 năm qua, Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa) liên tục tổ chức Hội chợ Đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam (Vifa Home) mà đối tượng nhắm đến là 90 triệu người tiêu dùng trong nước. Nhưng việc trở về “sân nhà” không phải là một cuộc dạo chơi mà thực sự là một cuộc cạnh tranh khốc liệt.
Theo Hawa, mấy năm nay, bên cạnh các doanh nghiệp chế biến gỗ từ Trung Quốc, Singapore đầu tư vào Việt Nam, còn có thêm nhà đầu tư Thái Lan cũng vào Việt Nam. Trong khi đó, Malaysia đã có kế hoạch và chiến lược nhằm lấy lại vị trí số 1 ở Đông Nam Á vào năm 2020 với kim ngạch chế biến gỗ đạt 17 tỷ USD trong bối cảnh mà Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP sắp thành hiện thực, nên đây có thể nói là cuộc chạy đua quyết liệt.
Theo Hawa, gặt hái thành công tại thị trường các nước, nhưng với sân nhà lại là “cuộc chiến” khác. Điều lo ngại chính là từ nội tại. Với TPP, các nước đang có những chiến lược rõ ràng, như Thái Lan có cả Ủy ban hội nhập ASEAN, các trường đại học Thái Lan đã có bộ môn dạy các ngôn ngữ ASEAN.
Có thể nói, đây là sự đầu tư căn cơ tầm vĩ mô mà Thái Lan và các nước nhắm đến. Trong khi đó, với Việt Nam, tự thân các ngành thực hiện là chính. Mỗi ngành nghề phải tự giữ thị trường và thị phần thay vì có sự tiếp sức từ tầm chiến lược chung, trong đó, nhiều ngành cùng tham gia. (Sài Gòn Giải Phóng 12/11; Nhân Dân 12/11) đầu trang(
Theo ban tổ chức, Hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam - Vifa Home 2013 lần thứ 3, chủ đề "Giáp pháp mua sắm cho ngôi nhà Việt" diễn ra từ 14 - 17/11, tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Tân Bình được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.
Hội chợ thu hút sự tham gia của 92 doanh nghiệp với 435 gian hàng, trong đó các doanh nghiệp đến từ TPHCM chiếm 61,25%, từ 16 tỉnh – thành phố chiếm 38,75%, đặc biệt có 3 doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ đến từ miền Bắc.
Các doanh nghiệp tham gia trưng bày các sản phẩm đồ gỗ trong nhà và ngoài trời, các sản phẩm trang trí nội thất, giới thiệu các dịch vụ tư vấn kiến trúc, thiết kế thi công trang trí nội ngoại thất và các dịch vụ hỗ trợ… (Sài Gòn Giải Phóng 12/11) đầu trang(
Nhóm nghiên cứu đề tài do PGS.TS Trần Công Luận làm chủ nhiệm đã tiến hành điều tra trên 3 khu vực chính là: Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An (huyện Vĩnh Cửu) thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai.
Kết quả cho thấy có 615 loài cây thuốc khác nhau trong toàn khu này. Nhóm đã thu thập được 724 tiêu bản của 268 loài và lưu tọa độ phân bố được 278 loài (phần lớn là cây thuốc đặc trưng quý hiếm). Nhóm cũng phát hiện 154 loài thuốc mới chưa được ghi nhận trong các kết quả điều tra thực vật trước đó, như: loài ngãi rợm, lệ dương...
PGS. TS Trần Công Luận cho rằng, thành phần cây thuốc của Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai phân bố tương đối đồng nhất, có rất nhiều cây thuốc quý hiếm. Khu vực Vĩnh An và Mã Đà đáng được quan tâm nghiên cứu, bảo tồn, nhân giống, trồng khai thác cây thuốc. (Báo Đồng Nai 12/11) đầu trang(
Tính đến đầu tháng 11/2013, toàn tỉnh Lạng Sơn đã trồng mới được 11.349 ha rừng, đạt 126,1% kế hoạch, tăng 30,2% so với cùng kỳ. Trong đó trồng rừng tập trung được 4.933 ha, tăng 35,4%. Trồng cây phân tán 6.416 ha tăng 26,5%.
Để vượt chỉ tiêu trồng rừng, toàn tỉnh đã tập trung chỉ đạo ngay từ đầu năm, các cơ quan chuyên môn làm tốt khâu chuẩn bị hiện trường, gieo ươm 24,5 triệu cây con giống. Đồng thời huy động sức dân, các tổ chức, đơn vị đóng trên địa bàn tham gia trồng rừng, tuyên truyền bảo vệ, phát triển vốn rừng đến trên 2.000 thôn bản. Từ đó nhân dân đã nhận thức rõ về lợi ích của việc trồng rừng.
Tính đến nay, độ che phủ rừng ở Lạng Sơn đã đạt 52,1%, cao hơn mức bình quân của cả nước. (Báo Lạng Sơn 11/11) đầu trang(
Sơn Hải - Lục Ngạn là một trong những xã đặc biệt khó khăn với hơn 80% diện tích mặt nước hồ và đồi núi dốc. Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây, nhờ biết phát huy thế mạnh kinh tế rừng nên cuộc sống của bà con nhân dân xã Sơn Hải ngày càng đổi khác, nhiều hộ đã thoát nghèo từ trồng rừng kinh tế.
Để từng bước thực hiện tốt việc giảm nghèo bền vững trên địa bàn, những năm gần đây, xã Sơn Hải đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chú trọng tập trung phát huy những tiềm năng tự nhiên sẵn có, tuyên truyền vận động người dân đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, đưa rừng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu của địa phương.
Ông Lý Văn Đảng, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Hải cho biết: “Là xã nằm trong vùng lòng hồ Cấm Sơn, người dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp là chính, tuy nhiên mấy năm nay nước hồ dâng cao đồng nghĩa với việc diện tích đất cấy lúa bị thu hẹp. Do đó, trong ba Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội đảng bộ xã lần thứ XXIII (nhiệm kỳ 2010-2015) đề ra có Chương trình phát triển lâm nghiệp.
Coi lâm nghiệp là hướng đi chủ lực trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân. Chính vì vậy, từ khi Công ty TNHH một thành viên Lâm Trường Lục Ngạn chuyển giao rừng tới các hộ dân, thì bà con nhân dân đã tập trung trồng rừng và đã đem lại những hiệu quả bước đầu”.
Với 5 thôn bản, xã Sơn Hải có diện tích 5.267ha thì có đến 3.281ha là đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất lâm nghiệp do UBND xã và hộ gia đình quản lý là 1.812ha. Những năm qua xã đã tận dụng tối đa diện tích đất lâm nghiệp sẵn có để phát triển trồng rừng.
Để phát huy có hiệu quả mô hình trồng rừng kinh tế, đồng thời nhằm mục tiêu cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn, hàng năm cùng với việc tuyên truyền vận động người dân khai thác diện tích rừng trồng, xã Sơn Hải còn chú trọng đẩy mạnh với việc trồng mới, chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm nay nhân dân trong xã đã trồng được trên 90ha rừng. Hiện nay độ che phủ rừng trong xã đạt 39% bằng 62,6% chỉ tiêu Đại hội đề ra. (Theo Lucngan.Bacgiang.gov.vn 12/11) đầu trang(
Theo thông tin từ cơ quan chức năng huyện Văn Bàn, tính đến ngày 8/10, toàn bộ số gỗ bị khai thác trái phép ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn và khu vực thủy điện Nậm Xây Nọi 2... đã được thu hồi.
Trước đó, sau khi báo Lào Cai phản ánh về nạn khai thác, buôn bán trái phép lâm sản tại Văn Bàn, các cơ quan chức năng huyện Văn Bàn như kiểm lâm, công an...đã tổ chức đợt tổng kiểm tra các khu vực: Khu bảo tồn Hoàng Liên - Văn Bàn, rừng tự nhiên các xã Nậm Mả, Nậm Dạng, Nậm Xây, Nậm Tha... để xử lý các đối tượng khai thác trái phép lâm sản.
Qua kiểm tra cho thấy, rừng ở các khu vực gồm: Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn (Tiểu khu 518 và 510 thuộc xã Nậm Xé; Tiểu khu 528 và 526 thuộc xã Nậm Xây (Văn Bàn); Tiểu khu 457, thuộc địa bàn các thôn Mai Hồng 1,2,3, xã Tân An; Tiểu khu 431 thuộc địa bàn xã Nậm Mả bị khai thác trái phép; nghiêm trọng nhất là khu vực thi công công trình thuỷ điện Nậm Xây Nọi 2, xã Nậm Xây, bởi rừng phòng hộ ở đây bị khai thác trái phép rất nhiều.
Riêng tại khu vực thi công Nhà máy thuỷ điện Nậm Xây Nọi 2, xã Nậm Xây, Công ty xuất nhập khẩu Hùng Anh - Hà Nội, sau khi được chủ đầu tư là Công ty cổ phần Sông Đà 9.06 thuê khai thác tận thu lâm sản trong khu vực giải phóng mặt bằng được cấp phép đã tự ý tổ chức khai thác trái phép nhiều diện tích rừng phòng hộ ở Tiểu khu 510, 526, thuộc địa phận xã Nậm Xây và Nậm Xé với khối lượng gỗ lên đến hơn 120m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 6 (chủ yếu là sến và táu...).
Ngay sau khi kiểm tra, phát hiện tình trạng khai thác rừng trái phép, UBND huyện Văn Bàn yêu cầu Công an huyện vào cuộc điều tra, làm rõ, đưa các đối tượng ra xử lý trước pháp luật, đồng thời tổ chức thu hồi toàn bộ số gỗ bị khai thác trái phép. Đến nay, các cơ quan chức năng đã thu hồi hơn 300m3 gỗ tang vật từ các vụ khai thác rừng trái phép nêu trên. (Báo Lào Cai 12/11) đầu trang(
Để đánh giá chính xác về chất lượng, hiệu quả công tác trồng rừng năm 2013, hiện nay, tỉnh Bắc Kạn đang tích cực chỉ đạo các đơn vị hoàn thành công tác nghiệm thu rừng sản xuất theo cơ chế Quyết định 147 của Thủ tướng chính phủ.
Trên cơ sở quyết định 147 của Thủ tướng về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 -2015, UBND tỉnh đã có văn bản hướng dẫn việc nghiệm thu rừng trồng trên địa bàn tỉnh, theo đó yêu cầu, với rừng trồng năm thứ nhất sẽ hoàn thành nghiệm thu đánh giá trong tháng 11. Dù chưa có kết quả chính thức, song theo báo cáo sơ bộ của một số địa phương, hầu hết những diện tích rừng trồng năm 2013 đều được nghiệm thu xong trước ngày 8/11 và tỉ lệ cây sống có thể đạt từ 90% trở lên.
Ông Phạm Ngọc Kiên, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Lâm Nghiệp tỉnh cho biết: thực hiện kế hoạch của toàn tỉnh, các Ban quản lý bảo vệ và phát triển rừng các cơ sở đã tiến hành nghiệm thu từ tháng 8/2013 và đang tổng hợp báo cáo về Chi cục lâm nghiệp. Qua đánh giá sơ bộ thì việc chăm sóc bảo vệ rừng đạt kết quả khá tốt, dự kiến việc nghiệm thu hoàn thành đúng kế hoạch đề ra. (Đài PT - TH Bắc Kạn 12/11) đầu trang(
Ngày 11.11, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam) cho biết, 60 mẫu vật đã được thu thập, xử lý và hiện trưng bày tại Trung tâm truyền thông bảo tồn biển Cù Lao Chàm.
Theo tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm), đây là những mẫu vật thu thập được trong tháng 9.2013, luôn được xây dựng và cập nhật thông tin.
Xây dựng bộ sưu tập mẫu sinh vật biển sinh động, đặc sắc, đa dạng và có giá trị về mặt khoa học để trưng bày triển lãm phục vụ tham quan, du lịch và nghiên cứu được xem là nhiệm vụ quan trọng của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm là vùng đa dạng sinh học vào loại cao nhất tại Việt Nam, nhiều loại được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam.
Tại khu vực có diện tích gần 371 km2 này, cơ quan chuyên môn phát hiện hơn 300 loài san hô (thuộc 40 giống và 17 họ), thảm cỏ biển có 5 loài ở các vùng nước sâu, 97 loài thân mềm có liên hệ với các rạn san hô (thuộc 61 giống và 39 họ). Chưa kể nhiều loài tôm hùm và khoảng 270 loài cá rạn (thuộc 105 giống, 40 họ).
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm có tới ba phân vùng chức năng, gồm vùng lõi khu bảo tồn biển, vùng đệm cửa sông Thu Bồn, vùng chuyển tiếp đô thị cổ Hội An. Sức hấp dẫn về đa dạng sinh học cũng là yếu tố thu hút du khách với hơn 150.000 lượt đến tham quan, lưu trú tại Cù Lao Chàm chỉ trong vòng 10 tháng đầu năm.
Trước đó, từ tháng 8.2013, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã phối hợp Trường đại học Đà Nẵng tập huấn kỹ thuật xử lý, bảo quản mẫu vật sinh vật biển cho cán bộ kỹ thuật và người dân làm công tác bảo tồn trong Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
Từ đầu năm 2013, tại vùng vành đai khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp - Sông Mã (thuộc huyện Sông Mã, Sơn La) xuất hiện một con voi rừng thường xuyên đến phá hoa màu của đồng bào. Gần đây nhất, voi xuất hiện ở nương ngô của bà con ở bản Hải Sơn, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã.
Voi còn vào khu đông dân cư để phá hoại hoa màu và tài sản, đe dọa gây nguy hiểm đến tính mạng của người dân. Đặc biệt, vào các đêm 22/8, 9/9, 12/9 voi đã xuống sát nhà dân để tìm thức ăn và phá hoại gần 2.000 m2 diện tích các loại hoa màu của người dân. Gần đây, tối 1/11 voi đã xuất hiện tại bản Hương Mai, xã Huổi Một. Đêm ngày 2/11 voi xuất hiện ở bản Hua, xã Nà Nghịu phá hoại nhiều diện tích hoa màu của người dân đang trong thời kỳ thu hoạch.
Trước đó năm 2012, voi cũng đã từng đến ăn, phá hơn 35.000 m2 diện tích hoa màu của người dân tại các xã Chiềng Khoong, Mường Cai và Huổi Một . Đặc biệt, do tính hiếu kỳ, nhiều người dân đã tụ tập đến xem và xua đuổi khiến voi làm 1 người bị thương.
Theo UBND huyện Sông Mã, để đối phó với tình trạng voi thường xuyên xuống phá hoại hoa màu đe dọa đến tính mạng của người dân, trước mắt huyện phối hợp cùng với các ngành chức năng tiến hành tuyên truyền, ban hành các thông báo đến nhân dân các bản trong vùng voi thường xuyên xuất hiện và các vùng lân cận biết để phòng tránh voi gây hại, hướng dẫn nhân dân tiến hành các biện pháp xua đuổi voi ra khỏi khu dân cư và bảo vệ voi an toàn.
Đồng thời, kiến nghị với các ngành chức năng cần sớm có biện pháp sử lý di chuyển voi đến khu vực khác để đảm bảo tài sản, tính mạng của nhân dân trong vùng. (Tin Tức 11/11) đầu trang(
Từ giữa tháng 10/2013 đến nay, huyện Văn Bàn (Lào Cai) đã mở đợt tổng kiểm tra truy quét đối tượng khai thác lâm sản và khoáng sản trái phép trên địa bàn.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã thu hồi hơn 300m3 gỗ các loại và đánh sập nhiều lò đào vàng, tịch thu hàng trăm máy phát điện nhỏ, máy khoan và các công cụ khác phục vụ việc khai thác vàng trái phép ở khu vực rừng xanh, rừng vầu xã Minh Lương và xã Nậm Xây, Nậm Xé; đưa toàn bộ những người lạ ra khỏi địa bàn.
Theo chính quyền địa phương, số lâm sản thu được chủ yếu kẻ gian khai thác ở các tiểu khu 510, 518 thuộc xã Nậm Xé và tiểu khu và 526, 528 thuộc xã Nậm Xây - Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn. Ngoài ra, các tiểu khu lân cận như 457 (xã Tân An) và tiểu khu 431 (xã Nậm Mả) cũng có khối lượng gỗ bị khai thác trái phép.
Riêng tại xã Nậm Xây Nọi, hơn 120m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 6 đã bị Công ty xuất nhập khẩu Hùng Anh (có địa chỉ đóng tại Hà Nội) khai thác trái phép. Sau khi được chủ đầu tư là Công ty cổ phần Sông Đà 9.06 thuê khai thác tận thu lâm sản trong khu vực giải phóng mặt bằng được cấp phép, Công ty xuất nhập khẩu Hùng Anh đã tự ý tổ chức khai thác trái phép lan sang nhiều diện tích rừng phòng hộ ở khu vực này.
Theo ông Mùa A Vàng, Phó Chủ tịch xã Nậm Xây, huyện Văn Bàn, tiểu khu 510, 518 vốn là rừng nguyên sinh thuộc rừng phòng hộ rất nhiều gỗ tốt như sến và tấu, nhưng gần đây đã bị chặt phá gần hết với lý do làm dự án thủy điện Nậm Xây Nọi.
Ông Hà Minh Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn cho biết, do lực lượng kiểm lâm huyện mỏng, một người phụ trách hàng chục thôn nên rất khó khăn cho việc kiểm soát. Về lâu dài, để giữ rừng Văn Bàn, chính quyền huyện đề nghị tỉnh tăng cường lực lượng kiểm lâm giữ rừng bằng hình thức điều chuyển một số cán bộ kiểm lâm từ các huyện ít rừng hỗ trợ có thời hạn giúp Văn Bàn, sau khi ổn định sẽ trở lại địa bàn cũ. (VietnamPlus.vn 12/11) đầu trang(
Theo thông tin từ ông Vũ Đình Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thành phố Đà Lạt, Hạt vừa thả một cá thể khỉ đuôi lợn, động vật hoang dã thuộc nhóm 2B do một người dân bắt tại khu vực phường 5, Tp Đà Lạt trở về tự nhiên.
Hạt Kiểm lâm Đà Lạt đã thả chú khỉ này vào khu rừng lá rộng phù hợp với môi trường sinh sống của khỉ đuôi lợn. Cũng theo ông Cường, hiện Đà Lạt là nơi còn đàn khỉ đuôi lợn với số lượng khá đông. (Báo Lâm Đồng 12/11) đầu trang(
Ngày 11-11, nghe báo cáo kết quả thực hiện giao khoán giữa công ty TNHH MTV cao su Bình Phước và bà Nguyễn Thị Thanh Hợp (huyện Đồng Phú), Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm đề nghị Công ty cao su Bình Phước làm đúng quy trình thu lại toàn bộ diện tích đất đã giao.
Theo báo cáo của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 1-1-2005, Ban quản lý rừng kinh tế (QLRKT) Tân Lập ký hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng với bà Nguyễn Thị Thanh Hợp với diện tích 62,68 ha tại khoảnh 1, tiểu khu 391.
Sau một thời gian thực hiên, UBND tỉnh đề nghị đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng giao khoán, nếu bà Hợp thực hiện tốt việc quản lý bảo vệ rừng thì tiếp tục giao khoán, ngược lại thì thanh lý hợp đồng và xử lý theo trách nhiệm.
Kiểm tra việc giao khoán, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát hiện: Ban QLRKT Tân Lập xây dựng bản đồ giao khoán không đúng vị trí nhận khoán ngoài thực địa. Diện tích nhận khoán chỉ còn 43,3 ha, giảm 19,38 ha so với hồ sơ giao khoán. Hiện trạng theo hồ sơ giao khoán là rừng non phục hồi loại II.B, nhưng thực tế kiểm tra là rừng gỗ nghèo loại III.A1, tầng tán bị phá vỡ; ngoài hiện trường còn một số cây gỗ lớn bị khai thác trái phép.
Tháng 11-2011, xét đề nghị của UBND huyện Đồng Phú, UBND tỉnh đã có văn bản chấp thuận cho bà Hợp tiếp tục thực hiện hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, thực hiện việc giao khoán theo quy định hiện hành, công ty cao su Bình Phước yêu cầu bà Hợp ký hợp đồng giao khoán mới, bà Hợp không chấp thuận mà đề nghị công ty tiếp tục giao khoán theo hợp đồng cũ và xin được móc ranh giới để quản lý rừng tốt hơn… Tuy nhiên, do chưa ký hợp đồng giao khoán mới nên công ty cao su Bình phước không đồng ý. Hợp đồng giao khoán đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú Nguyễn Thành Chương đề nghị thanh lý hợp đồng giao khoán với bà Hợp. Ông cho rằng, việc giao rừng cho cá nhân quản lý là rất manh mún… Giám đốc công ty cao su Bình Phước cũng đề nghị thu hồi, giao cho công ty quản lý. Sau này, nếu UBND tỉnh cho phép thì chuyển sang trồng cao su tạo quỹ an sinh xã hội. (Báo Bình Phước 12/11) đầu trang(
Dựng chiêu trò "bịp" Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang để "nhảy dù" vào đào xới rừng phòng hộ Cấm Sơn với những mục đích mờ ám, bất thường, Công ty CP Vina Anh Linh đã bị UBND tỉnh Bắc Giang tước giấy phép, đình chỉ hoạt động.
Ngay sau khi báo chí thông tin việc Công ty CP Vina Anh Linh (Công ty Anh Linh) có trụ sở tại 184 Thái Thịnh - Đống Đa (Hà Nội) "đột kích" vào rừng phòng hộ Cấm Sơn tại xã Tân Sơn - Lục Ngạn (Bắc Giang) đào xới với những mục đích bất thường, mờ ám, các ban ngành tỉnh Bắc Giang đã hết sức bức xúc và có những động thái xử lý sai phạm của công ty này.
Ông Lại Thanh Sơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cho biết: UBND tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xử lý nghiêm những sai phạm của Công ty Anh Linh. Đến thời điểm hiện tại, UBND tỉnh đã nhận được báo cáo kết quả xử lý doanh nghiệp này từ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNPTNT). Theo đó, công ty Anh Linh đã bị tước giấy phép đình chỉ hoạt động.
Chiêu trò của Công ty Anh Linh đã "qua mặt" được cả Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang. Để lấy cớ "nhảy dù" được vào rừng phòng hộ, công ty này gửi một công văn đến Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang và chính quyền huyện Lục Ngạn vào ngày 9/5/2013 với đề xuất được kết hợp với một tổ chức phi chính phủ và các nhà khoa học triển khai chương trình "phát triển kinh tế bền vững trên rừng nghèo Việt Nam" với mục đích là hỗ trợ người dân vùng rừng nghèo kiến thức bảo vệ và phát triển kinh tế rừng bền vững.
Trong công văn này, Công ty Anh Linh đưa ra hàng loạt "bánh vẽ" như: Sẽ đầu tư 100% kinh phí để đầu tư trồng cây dược liệu quý có giá trị dưới tán rừng nhằm chống bào mòn cho đất, tăng cường độ che phủ cho rừng, sản phẩm dự án được bao tiêu toàn bộ, đầu tư cải tạo nâng cấp tuyến giao thông từ trung tâm xã Tiên Sơn đến các vùng dự án, hỗ trợ địa phương xây dựng thêm lớp học, bệnh xá, khám chữa bệnh miễn phí cho nhân dân..., đồng thời cam kết thực hiện nghiêm túc, không gây ảnh hưởng tới rừng.
Chỉ với công văn suông như vậy, Công ty Anh Linh đã lập tức đưa được Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang vào "bẫy". Sở này vừa "giong trống mở cờ" đón chào vừa sốt sắng gửi công văn tới UBND huyện Lục Ngạn, Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm Sơn...đề nghị tạo điều kiện cho Công Anh Linh vào tiến hành khảo sát tại rừng phòng hộ.
Chỉ chờ có thế, Công ty này đã nhanh chóng "đột kích" vào rừng phòng hộ Cấm Sơn đào xới bất thường.
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Công ty Anh Linh lộ mặt mờ ám khi huy động máy móc, phương tiện cơ giới cùng cả chục người dựng lán trại đào các hố sâu đến 6m, lấy đất đóng thành các túi khoảng 15kg rầm rập chuyển khỏi địa phương.
Ngoài việc lấy đất mang đi, công ty không khảo sát bất kỳ số liệu nào khác để phục vụ cho việc đầu tư lập dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng như xin phép ban đầu.
Chính vì vậy, UBND huyện Lục Ngạn có văn bản gửi Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang vào ngày 5/9 "tố" những hành vi bất thường của công ty này. Ngày 3/9, các cơ quan chức năng huyện Lục Ngạn đã thanh tra thực địa khu vực khảo sát của công ty này phát hiện tại hiện trường có 2 lán trại, đào 2 hố, mỗi hộ có diện tích 36m2 sâu đến 6m.
Ngày 3/9, các cơ quan chức năng huyện Lục Ngạn đã thanh tra thực địa khu vực khảo sát của công ty này phát hiện tại hiện trường có 2 lán trại, đào 2 hố, mỗi hộ có diện tích 36m2 sâu đến 6m. Công ty này còn thuê đến 15 người từ nhiều tỉnh đến để đào bới.
Ông Dương Xuân Bánh - Phó giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang thừa nhận Công ty Anh Linh hoạt động rất bất thường, đồng thời bức xúc khi doanh nghiệp này đã "bịp" cả Sở Nông nghiệp để "nhảy dù" được vào rừng phòng hộ đào xới mờ ám.
Trước dư luận cho rằng tại khu vực Công ty Anh Linh lấy đất mang đi có liên quan đến khoáng sản quý hiếm, ông Bánh cho biết chưa có kết luận vì chưa có cơ quan nào tiến hành giám định mẫu đất tại đây. (Dân Trí 11/11) đầu trang(
Ngày 11.11, TAND tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tuyên phạt Nguyễn Quốc Tuấn (41 tuổi), nguyên Phó ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ H.Tân Kỳ (Nghệ An), 8 năm tù về tội danh trên, đồng thời buộc Tuấn phải bồi thường cho các bị hại gần 1,6 tỉ đồng.
Theo cáo trạng, từ năm 2009 đến đầu năm 2013, lợi dụng chức vụ Phó BQL rừng, Tuấn đã làm giả hồ sơ hàng trăm héc ta đất rừng do BQL rừng phòng hộ Tân Kỳ quản lý mang tên Tuấn để lừa bán cho 3 người, chiếm đoạt hơn 1,6 tỉ đồng. Tại tòa, Tuấn khai do làm ăn thua lỗ và tiêu xài cá nhân, cần tiền trả nợ nên đã thực hiện các vụ lừa đảo này. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
Thời gian qua, đã có hàng trăm người dân từ khắp nơi ồ ạt tràn vào tiểu khu 300 thuộc xã vùng sâu Cư K'lông, huyện Krông Năng (tỉnh Đắk Lắk) phá rừng, đào bới đất đá tìm kiếm đá màu trái phép. Việc làm này không những gây sạt lở đất đá, hủy hoại tài nguyên môi trường mà còn làm cho tình hình an ninh trật tự ở nông thôn phức tạp.
UBND huyện Krông Năng cho biết, trong vòng ba tháng trở lại đây, từ tin đồn thất thiệt cho rằng, tại tiểu khu 300 của xã vùng sâu Cư K'lông có mỏ đá quý saphia, thạch anh tinh thể nên nhiều người, có lúc lên trên 300 người dân địa phương và từ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình… đổ xô vào phá rừng, đào, khoét núi bới tìm đá quý.
Trước tình hình người dân đổ xô khai thác đá quý trái phép vì nghe theo tin đồn, UBND huyện Krông Năng đã kịp thời chỉ đạo các phòng ban chức năng ra quân giải tỏa. Đồng thời chỉ đạo các lực lượng Công an, quân sự, thanh tra, Phòng TN&MT cùng vào cuộc để truy quét. Bố trí các trạm tuần tra giao thông trên các tuyến đường vào khu vực, đưa lực lượng ăn ở tại địa phương nhằm kiểm tra, truy đuổi và xử lý người dân từ các nơi đổ về đây để thành lập băng nhóm khai thác khoáng sản trái phép.
Tuy nhiên, do khu vực khai thác khoáng sản trái phép nằm sâu trong rừng, địa hình hiểm trở, đường giao thông đi lại lầy lội và dốc cao nên rất khó khăn cho công tác kiểm tra, truy quét. Khi bị ngăn chặn ban ngày, họ chuyển sang làm đêm, khiến các lực lượng chức năng truy quét cũng rã rời.
Thượng tá Phạm Châu, Trưởng Công an huyện Krông Năng cho biết, việc người đổ xô đi tìm đá ở tiểu khu 300 là xuất phát từ tin đồn. Qua nắm tình hình, lực lượng chức năng xác định chưa có ai đào được đá quý, nhiều người vào tới nơi mới biết ngộ nhận, không có tiền về.
Còn ông Phan Xuân Ngân, Phó Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Đắk Lắk cho biết thêm, sự việc trên xuất phát từ việc sử dụng đất của HTX nông nghiệp, kinh doanh tổng hợp Trường Sơn. Được tỉnh cho thuê đất trồng rừng nhưng HTX không thực hiện mà bán đất cho ông Nguyễn Hồng Hải ở tỉnh Cà Mau.
Mới đây, ông Hải đưa máy móc vào khai thác khoáng sản. Việc làm của ông Hải, cùng với thông tin một người dân tìm được viên đá quý đem ra thị xã Buôn Hồ bán đã kích thích hàng trăm người tràn vào tiểu khu 300.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo huyện Krông Năng và các ngành chức năng tăng cường truy quét, đồng thời kiểm tra các sai phạm trong việc sử dụng đất của HTX Trường Sơn để xem xét thu hồi và xử lý nghiêm theo quy định. Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk khẳng định, nơi đây không có đá saphia hay thạch anh tinh thể, đó chỉ là thông tin đồn thổi. (Công An Nhân Dân 11/11) đầu trang(
Không chỉ riêng các tỉnh ĐBSCL, Phú Yên, Khánh Hòa..., những ngày gần đây, thương lái Trung Quốc gom hàng, đẩy giá tôm thương phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tăng cao khiến nhiều người nuôi khấp khởi, đua nhau chặt phá rừng dương phòng hộ, đào ao nuôi tôm.
Ông Đặng Hồng Võ, chủ hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở thôn 5 (xã Tam Hòa, huyện Núi Thành), cho biết tôm thẻ chân trắng (loại 70 con/kg) có giá 160.000 đồng/kg. Cùng thời điểm này vào năm ngoái, giá loại tôm này chỉ 110.000 đồng/kg. “Lâu nay, mỗi khi được mùa tôm thì bị tư thương ép giá. Nay thì khác, giá tôm liên tục tăng từ đầu năm đến nay” - ông Võ bộc bạch.
Ông Nguyễn Văn Sanh (SN 1956, ngụ xã Tam Hòa) cho biết lúc trước, thương lái rất kén hàng, chỉ thích loại tôm cỡ lớn, nay họ mua cả tôm cỡ nhỏ, loại trên 100 con/kg. Ngoài ra, các thương lái còn rất dễ dãi, họ không mua theo giá cố định mà cứ trả giá luôn cao hơn so với giá mua của doanh nghiệp trong nước từ 15%-20%. Đáng quan ngại là họ mua mà không màng tới việc kiểm soát kháng sinh trong tôm.
Một tư thương thu mua tôm ở xã Tam Hòa cho biết trước đây, bà mua tôm rồi bán lại cho các công ty chế biến thủy sản tại TP Đà Nẵng. Thời gian gần đây, do thương lái Trung Quốc mua với giá cao hơn nên bà đã chuyển sang bán cho họ. “Tôi cũng không hiểu Trung Quốc nhập tôm về làm gì mà họ lại đẩy giá tôm lên như vậy. Chúng tôi đi buôn, chỗ nào lời nhiều thì bán, không tìm hiểu rõ làm chi” - người này cho biết.
Theo thương lái này, nếu trước đây khi bán cho các công ty chế biến thủy sản, bà chỉ cần dùng các phuy to chứa nước và đá lạnh để ướp tôm thì bây giờ phải chở rất nhiều thùng xốp và cả máy xay đá để cấp đông tôm tại hồ bán cho thương lái Trung Quốc chuyển ra Lạng Sơn rồi đưa sang Trung Quốc.
Những ngày này, theo đường Thanh Niên chạy qua các huyện ven biển của tỉnh Quảng Nam, nhất là đoạn từ xã Tam Thanh (TP Tam Kỳ) đến xã Tam Tiến (huyện Núi Thành), đâu đâu cũng bắt gặp cảnh xe múc, xe ủi thi nhau đào bới, xây dựng ao nuôi tôm. Nhiều diện tích rừng dương phòng hộ ven biển ở xã Tam Tiến đã bị người dân đốn hạ, cây vẫn còn rỉ mủ chất đống hai bên đường.
Theo ông Nguyễn Giúp, Chủ tịch UBND xã Tam Tiến, từ khoảng tháng 4-2013 đến nay, giá tôm trên địa bàn xã được đẩy lên rất cao cho nên người dân bất chấp, chặt phá cây dương phòng hộ ven biển để làm ao tôm. Trước tình trạng trên, chính quyền xã lập biên bản, tịch thu tang vật nhưng cán bộ xã xuống ban ngày thì họ lại chuyển sang làm ban đêm. Xã chỉ còn cách tuyên truyền, báo cáo lên cấp trên. Nhiều lần cán bộ huyện, tỉnh về tuyên truyền nhưng vì lợi nhuận quá lớn, người dân vẫn bất chấp. (Người Lao Động 11/11) đầu trang(
Người dân và cán bộ ở xã Hiệp Hòa Trung, Đông Hòa, Phú Yên đều khẳng định gần 3.000m2 đất của bà Nguyễn Thị Xao khai hoang năm 1972 và sản xuất, trồng cây ổn định từ đó tới nay. Nhưng khi giải tỏa, Chủ tịch UBND xã và huyện lại bảo đây là đất nghĩa địa, và đền bù theo giá… đất rừng sản xuất!
Năm 2009 tỉnh Phú Yên chuẩn bị đầu tư làm đường qua xã Hòa Hiệp Trung (nay là thị trấn Hòa Hiệp Trung), huyện Đông Hòa, Phú Yên. Để thực hiện Tiểu dự án 3, huyện Đông Hòa thu hồi nhiều phần đất để xây dựng công trình giao thông và làm dự án tái định cư. Việc định giá đất đền bù tùy tiện đã phát sinh nhiều hệ lụy.
Bà Trà Thị Minh Nam - con gái bà Nguyễn Thị Xao ở thôn Phú Thọ 1, thị trấn Hòa Hiệp Trung bức xúc: “Đất này bố mẹ tôi khai hoang từ năm 1972 trồng hoa màu sinh sống. Năm 2009, mẹ mất để lại hơn 3.000m2 cho 7 anh chị em tiếp tục canh tác. Khi có dự án mở đường, năm 2011, UBND huyện Đông Hòa ra 2 quyết định thu hết đất của chúng tôi.
Trong đó Quyết định (QĐ) số 1208/QĐ-UBND thu hồi 1.129,8m2 để làm đường, và QĐ số 1079/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ 1.789,5m2 đất mà 7 anh chị em chúng tôi sinh sống để làm khu tái định cư! Trong khi các hộ xung quanh đều được bồi thường theo giá đất thổ cư, giá đất nông nghiệp và được cấp đất tái định cư, thì gia đình tôi chỉ được bồi thường theo giá đất rừng sản xuất, chỉ có 15.000đ/m2”.
Ngày 21/9/2011, khi đường mới đã phóng tuyến, làm nền xong, dân khiếu nại về công tác đền bù, UBND huyện Đông Hòa mới cùng UBND xã Hòa Hiệp Trung họp xét việc bồi thường thu đất.
Cuộc họp xác minh nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Xao do bà Nam đại diện có mặt Phó Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa, cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường; Ban chuyên trách Bồi thường Hỗ trợ tái định cư, đại diện chính quyền, các tổ chức đoàn thể… đều khẳng định toàn bộ diện tích đất bà Xao là đất trồng hoa màu, đủ điều kiện đền bù.
Biên bản cuộc họp có chữ ký của đại diện cả chục cơ quan, đóng 5 dấu đỏ hẳn hoi. Nhưng khi làm văn bản gửi cấp trên, ông Trần Phú Sơn- Chủ tịch UBND xã Hòa Hiệp Trung vẫn yêu cầu bồi thường cho bà Nam theo giá đất rừng.
Bức xúc kéo dài, bà Nam đại diện 7 anh em khiếu nại lên UBND huyện Đông Hòa và các cấp liên quan, đề nghị áp giá đền bù thỏa đáng khi thu hồi đất, đồng thời xin bố trí 489,5m2 ngay trong diện tích đất bị thu hồi làm Khu tái định cư để gia đình bà Nam có nơi thờ cúng bố mẹ, tổ tiên.
Khi nhận được đơn khiếu nại, ngày 8/5/2013, ông Nguyễn Tài- Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa ký QĐ số 335/QĐ-UBND bác đơn bà Nam, cho rằng đây là đất… nghĩa địa!?
Ngày 19/8/2013, chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên có văn bản nêu rõ: Quá trình tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa thu hồi đất, Phòng TNMT huyện Đông Hòa chưa kiểm tra, đo đạc, đối chiếu hồ sơ để xác định cho đúng vị trí thửa đất, loại đất bà Nam bị thu hồi… Mặt khác, Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa cho rằng đất của bà Xao là đất nghĩa địa nhưng lại bồi thường theo giá đất rừng sản xuất là không chính xác.
Mới đây, ngày 26/9/2013, UBND huyện Đông Hòa khi ra QĐ giải quyết khiếu nại đối với 7 hộ gia đình do bà Nam làm đại diện vẫn giữ nguyên quan điểm cũ, không làm rõ chỉ đạo của UBND tỉnh Phú Yên. (Tiền Phong 12/11) đầu trang(
Ngày 11/11, ông Nguyễn Văn Hiến (Chủ tịch UBND xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) xác nhận, đêm 10/11 kẻ gian đã cưa trộm một cành của cây sưa có niên đại hơn 400 năm tuổi trong quần thể di tích đình làng Đông Cốc.
Trong khu di tích đình Đông Cốc, năm 2007 dân làng thống nhất bán bớt 1 cây sưa và 1 nhánh cây sưa 400 tuổi được hơn 1 tỷ đồng lấy tiền trùng tu đình. Ngoài ra, đình Đông Cốc còn có 1 cây sưa 200 tuổi từng bị rao bán với giá 50 tỷ đồng vào cuối năm 2012.
Mới đây, một cây sưa ngoài cổng đình bị cưa trộm, người dân kịp thời phát hiện nên cây sưa chưa bị đốn hạ. Sau đó, Ban quản lý di tích cho đào cây sưa này lên, bán được 350 triệu đồng. (Tiền Phong 12/11) đầu trang(
Ngày 10-11, Phòng Cảnh sát kinh tế (Công an tỉnh Bắc Giang) bắt khẩn cấp và khám xét đối với Trăng Thị Duyên, thường trú tại thôn Chi Mạc, xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn (Lạng Sơn), hiện ở số 660, đường Nguyễn Khoái, quận Hoàng Mai (Hà Nội), là chủ số sừng tê giác, ngà voi vận chuyển trái phép.
Trước đó, Phòng Cảnh sát giao thông (Công an tỉnh) bắt giữ trên xe ôtô BKS 29A 85594, trên xe có 3,4 kg sừng tê giác và 39,8 kg ngà voi. Phòng Cảnh sát kinh tế đang tạm giữ Duyên để điều tra, xử lý. (Báo Bắc Giang 12/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum phát hiện 724 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu trên 1.365m3 gỗ các loại, ra quyết định xử phạt hah chính gần 6 tỷ đồng. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Tuần qua, gần chục nhân viên vườn thú quốc gia Washington – Mỹ đã trang bị lưới quanh hồ, máy ảnh không thấm nước và khăn quấn các loại để dạy bơi cho hai chú hổ con sumatra, giúp chúng có thể tự bảo vệ mình ngay cả trong môi trường khá an toàn là vườn thú quốc gia.
“Chúng tôi muốn chịu trách nhiệm về các con vật bên cạnh việc chăm sóc chúng. Tuy chúng nhỏ nhắn, rất dễ thương nhưng hãy trân trọng chúng, hãy để chúng làm những con hổ thực sự”, ông Craig Saffoe, người phụ trách chăm sóc gấu và hổ tại vườn thú, cho biết.
Dell Guglielmo, một nhân viên chăm sóc hổ, cho biết đây là lần đầu tiên các chú hổ con được tiếp xúc chính thức với hồ nước. “Đó là một bản năng sinh tồn. Chúng tôi để hổ con hoàn toàn tự xoay xở tại thời điểm này”, cô Guglielmo nói. (Người Lao Động 12/11) đầu trang(
Các nhà cổ sinh học Mỹ cho biết họ tìm thấy vết tích của một loài khủng long mới. Đó là một thành viên của "gia đình" khủng long bạo chúa, ăn thịt và từng tung hoành hàng chục triệu năm trước.
Nó được đặt tên khoa học Lythronax argestes và có biệt danh là “vua máu lạnh”. Loài ăn thịt khổng lồ này sinh sống ở Laramidia, một hòn đảo khá lớn hình thành trên bờ biển phía tây của một vùng biển nông, trước khi chúng tràn vào khu vực trung tâm Bắc Mỹ vào khoảng 80 triệu năm trước, theo báo cáo của các nhà khoa học tại Đại học Utah.
Loài này có những đặc điểm rất độc đáo mà dòng khủng long Tyrannosaurus bà con của nó không có. Đó là cái mõm hẹp, ngắn trong hộp sọ rộng ở phía sau và mắt luôn hướng về phía trước. Hãng tin UPI cho biết, các nhà cổ sinh vật học cho rằng Tyrannosaurus với hộp sọ rộng từng sống cách đây 70 triệu năm. Nhưng loài khủng long mới phát hiện này còn sống xa hơn họ hàng chúng đến 10 triệu năm. (Thanh Niên 11/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa