Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 15 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Nhiều vi phạm về đất đai, tài nguyên nước, môi trường tại các thủy điện vừa và nhỏ đã được Bộ TN&MT chỉ rõ trong buổi họp báo về công tác thanh tra của ngành ngày 14/11.
Theo kết quả thanh tra của Bộ TN&MT, một số thủy điện gây thiếu nước nghiêm trọng cho vùng hạ du. Cụ thể, thủy điện Vĩnh Sơn (Bình Định), thủy điện An Khê - Ka Nak (Gia Lai) trên sông Ba chuyển dòng về sông Côn, tỉnh Bình Định khiến hạ lưu sông Ba khô hạn nghiêm trọng. Thủy điện Đắkmi 4 (Quảng Nam) cũng không trả nước về dòng cũ, làm ảnh hưởng đến hàng chục ngàn hecta đất sản xuất nông nghiệp và đời sống của gần 1,7 triệu dân vùng hạ lưu…
Bộ TN&MT chỉ rõ: “Toàn bộ dự án thủy điện vừa và nhỏ đang phát điện không thực hiện duy trì dòng chảy tối thiểu. Gần 100% các hồ thủy điện vừa và nhỏ ở vùng núi cao xây dựng đập dâng, đập tràn tự do, không có khả năng điều tiết nước về mùa lũ. 60% dự án thủy điện chưa có giấy phép khai thác nước mặt”.
Mặt khác, Bộ cũng cho biết gần một nửa số dự án chưa thực hiện xong việc lập hồ sơ xin giao đất, thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã xây dựng công trình. Đặc biệt, dự án thủy điện Mường Kim (Yên Bái) đã lấn chiếm khoảng 1.000 m2 đất hành lang giao thông quốc lộ 32.
Tại thời điểm thanh tra, các dự án thủy điện vừa và nhỏ còn tồn tại nhiều thiếu sót. Như dự án Thủy điện Sông Tranh 3 (Quảng Nam) chưa có quy trình vận hành hồ chứa, chưa cắm mốc an toàn hành lang hồ chứa. Dự án Thủy điện sông Ba Hạ (Phú Yên) không có giấy phép khai thác nước mặt, chủ đầu tư chưa trồng bù đủ diện tích đất rừng đã mất. Thủy điện ĐăkLô (Kon Tum) chưa thực hiện xong các thủ tục về đất đai, chưa lập hành lang bảo vệ hồ chứa…
Bộ TN&MT cũng chỉ ra hàng loạt yếu kém trong công tác quản lý nhà nước như tình trạng thu hồi đất và giao đất trái thẩm quyền, cho thuê đất làm hồ chứa thủy điện nhưng không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thêm nữa, có trên 32.000 ha rừng bị mất do chuyển đổi mục đích, xây dựng thủy điện mà địa phương chưa đưa ra yêu cầu chủ dự án phải trồng bù. Ngân sách các tỉnh dành cho nghiên cứu quy hoạch thủy điện còn hạn chế, dẫn đến thiết kế cơ sở thường xuyên phải điều chỉnh. Từ cuối năm 2009 đến nay, có đến hơn 100 dự án bị loại bỏ và 150 vị trí có tiềm năng khai thác không được UBND các tỉnh xem xét.
Về phía chủ đầu tư, đa phần các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) chưa đề cập đầy đủ các sự cố về môi trường, thiếu giải pháp ứng phó với sự cố vỡ đập do động đất, tai biến địa chất. Cùng đó, chủ đầu tư không thực hiện đúng cam kết bảo vệ môi trường khi xây dựng khu tái định cư.
Từ các vấn đề trên, Bộ TN&MT kiến nghị UBND các tỉnh tăng cường thanh, kiểm tra đối với các dự án thủy điện. Địa phương phải theo dõi diễn biến dòng chảy (nhất là các dòng chảy sau đập) và đề xuất hướng giải quyết nhằm đảm bảo môi trường sinh thái và nhu cầu sử dụng nước của người dân.
Bộ cũng kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công Thương xem xét loại bỏ những dự án không hiệu quả, tác động xấu đến môi trường, dự án chiếm nhiều diện tích đất rừng, đất sản xuất, ảnh hưởng lớn đến di dân, tái định cư, cấp nước hạ du. Kiên quyết dừng đầu tư và đưa các dự án chiếm dụng đất rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ra khỏi quy hoạch thủy điện đã được phê duyệt. (Pháp Luật TPHCM 15/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Từ 14 - 15/11, tại tỉnh Sơn La, Tổng cục Lâm nghiệp đã khai mạc Hội nghị Tổng kết công tác bảo vệ rừng khu vực phía Bắc năm 2013.
Đây là Hội nghị được tổ chức thường niên, vào dịp cuối năm, nhằm đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; tình hình thực hiện một số chủ trương, chính sách, văn bản pháp quy Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong năm; thống nhất một số giải pháp tham mưu/tổ chức thực hiện trong thời gian tới.
Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp nhấn mạnh, trong thời gian qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng tại các tỉnh phía Bắc đã được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm, chỉ đạo quyết liệt; lực lượng kiểm lâm đã chủ động tham mưu và tổ chức triển khai nhiều giải pháp có hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Do vậy, diện tích rừng ngày một tăng lên; tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng được hạn chế; đã xuất hiện nhiều mô hình bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả ở địa phương, góp phần khôi phục lại diện tích rừng, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, trước áp lực chung về dân số và phát triển kinh tế, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng còn có một số tồn tại, bất cập ở nhiều nơi làm ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý Nhà nước của Ngành.
Trước tình hình đó, ông Nguyễn Bá Ngãi đề nghị các đại biểu tham dự Hội nghị cần thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, bất cập ở các tỉnh khu vực phía Bắc để thống nhất giải pháp tham mưu với Bộ/ngành/chính quyền địa phương nhằm triển khai công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng thực sự có hiệu quả trong thời gian tới. (Theo Agroviet 15/11) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm huyện Lạc Sơn vừa phối hợp với chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4 (Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh) triển khai đợt tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR ở 12 xã gồm Miền Đồi, Mỹ Thành, Xuất Hóa, Phúc Tuy, Chí Thiện, Yên Phú, Bình Chân, Bình Cảng, Tân Mỹ, Hương Nhượng, Tân Lập, Định Cư.
Bên cạnh các nội dung liên quan đến Luật Quản lý & Bảo vệ rừng, các văn bản về công tác quản lý khai thác lâm sản, PCCCR mùa hanh khô, đợt tuyên truyền, phổ biến còn lồng ghép triển khai hướng dẫn hộ dân có rừng về quy trình, quy định phòng cháy rừng trong đốt nương, sử dụng lửa trong rừng.
Đồng thời, tham gia tư vấn một số câu hỏi của người dân về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp. Tại 12 xã, đã có 935 lượt hộ dân được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR. (Báo Hòa Bình 15/11) đầu trang(
Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Ban Quản lý các dự án lâm nghiệp (Sở NN-PTNT Phú Yên) vừa đầu tư xây dựng 4 tuyến giao thông phục vụ việc vận xuất lâm sản, phòng cháy chữa cháy rừng thuộc dự án Khôi phục và quản lý rừng bền vững (KFW 6) tại các huyện Tuy An, Đồng Xuân và TX Sông Cầu.
Bằng hình thức khai hoang thông tuyến, làm bằng phẳng mặt đường, các tuyến giao thông này được xây dựng tại thôn Trung Lương I, xã An Nghiệp (Tuy An), thôn Tân Vinh, xã Xuân Sơn Bắc, thôn Tân Bình, xã Xuân Sơn Nam (Đồng Xuân) và thôn Chánh Nam, xã Xuân Thọ I (TX Sông Cầu) với tổng chiều dài 12km, mặt đường các tuyến đều rộng 4m. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng hơn 2,5 tỉ đồng, trong đó dự án KFW 6 hỗ trợ mỗi km là 55 triệu đồng, phần còn lại do người dân trong vùng dự án đóng góp.
Theo kế hoạch, các tuyến giao thông này sẽ được hoàn tất và đưa vào sử dụng trong tháng 12/2013. (Báo Phú Yên 15/11) đầu trang(
Ngày 10/11, tại thôn 1, xã Vĩnh Thực, TP Móng Cái, đã xảy cháy rừng thông khoảng 3 năm tuổi.
Nhận được tin, Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Vạn Gia, Bộ đội biên phòng tỉnh cử 20 cán bộ, chiến sĩ phối hợp với lực lượng chức năng chữa cháy và đến 17h cùng ngày, đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn.
Thiệt hại ước tính khoảng 3ha rừng. Nguyên nhân ban đầu do người dân vô ý làm cháy. Hiện vụ việc được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra. (Biên Phòng 13/11) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
“Nói chủ đầu tư dự án thủy điện không nộp tiền trồng bù rừng là trách nhiệm của bộ mà lại đi kêu là không biết tiền nó đang ở đâu cũng là vô trách nhiệm. Ở đây bản thân Bộ NN&PTNT cũng tắc trách. Còn Bộ Công thương thì buông lỏng quản lý, dễ dãi để cho chủ đầu tư xong việc rồi phủi sạch trách nhiệm…”.
Ông Huỳnh Minh Thiện, đại biểu Quốc hội Đoàn TP Hồ Chí Minh đã chia sẻ với Đất Việt xung quanh việc có hơn 20.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện nhưng chủ đầu tư chỉ trồng lại có 1.000ha còn tiền nộp Quỹ để trồng bù rừng cũng không thấy đâu.
Trả lời câu hỏi: Liên quan đến câu chuyện các chủ đầu tư dự án thủy điện phải nộp tiền để trồng bù lại diện tích rừng đã làm mất hiện đang có nhiều vướng mắc. Thông tin mới nhất Bộ NN&PTNT cho biết, con số 20.000ha diện tích đất rừng bị lấy đi làm thủy điện hiện chưa có đồng nào được chủ đầu tư nộp ngược trở lại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để bộ thực hiện việc trồng bù. Mới đây bộ này có gửi công văn sang Bộ Công thương, đề nghị chỉ đạo EVN, cũng như các công ty thủy điện vừa và nhỏ phải thực hiện trách nhiệm đóng góp số tiền gần 300 tỷ từ dịch vụ môi trường rừng.
Ông Huỳnh Minh Thiện cho biết: Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của các bộ ngành có liên quan mà ở đây là Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, từ việc sử dụng diện tích đất rừng để chuyển đổi để xây dựng thủy điện. Việc đầu tiên phải quan tâm nhất là yêu cầu phải trồng rừng chứ không phải lấy tiền.
Lấy tiền không giải quyết được vấn đề môi trường hay đời sống dân cư thì các ông lại nói rằng không có đất để trồng, thành ra cho bù bằng tiền. Chính vì thế Chính phủ mới cho ra Nghị định cho phép bù bằng tiền.
Thế nhưng xem lại việc thực hiện Nghị định này thì thấy nhà đầu tư vẫn không chấp hành nghiêm túc. Rất nhiều dự án thủy điện đã được triển khai trong khi việc trồng bù lại rừng đã không đúng, không đủ. Rồi tiền bù trồng rừng đã lấy ra trồng được bao nhiêu… cũng không rõ ràng.
Theo báo cáo của Bộ Công thương thì mới trồng được... 2%, còn Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì nói tới... 37%. Nhưng diện tích cụ thể cũng khau. Bộ Công thương thì nói đã phá 50.000ha, còn Bộ NN&PTNT đưa ra con số mới phá 20.000ha. Vậy con số lệch nhau tới 30.000ha rừng này đang ở đâu?, ông Huỳnh Minh Thiện cho hay: Điều này thể hiện trách nhiệm quản lý yếu kém của các bộ, ngành.
Bây giờ Bộ Công thương lại tiếp tục đổ thừa là các địa phương phải có trách nhiệm, nhưng Bộ Chủ quản lĩnh vực thủy điện thì từ khâu quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, tổ chức đầu tư xây dựng giám sát… thuộc về trách nhiệm của bộ ngành. Tham mưu cho Chính phủ các vấn đề về kỹ thuật, vậy mà đến khi nhìn lại thì quá nhiều bất cập.
Quy định thì đã có nhưng hiện trách nhiệm nhắc nhở đốc thúc các chủ đầu tư nộp đúng, nộp đủ số tiền bù trồng rừng hiện đang đùn đẩy. Bộ NN&PTNT thì cho rằng, Bộ Công thương, địa phương phải chỉ đạo các chủ đầu tư thực hiện trách nhiệm nộp tiền bù trồng rừng, ngược lại Bộ Công thương lại cho rằng đó là việc của Bộ NN. Trong khi đó, đất rừng đã lấy, rừng đã phá, thủy điện đã mọc lên. Doanh nghiệp ung dung hưởng lãi còn cơ quan quản lý lúng túng. Về vấn đề này, ông Thiện nói: Tôi không đồng ý với cách trả lời của Bộ trưởng Bộ Công thương khi nói trách nhiệm của địa phương.
Với việc quản lý yếu kém ngay từ đầu do buông lỏng trách nhiệm, dễ dãi trong khi với chủ đầu tư làm thủy điện là kinh doanh vì lợi nhuận. Thành ra chuyện khi người ta đã làm xong việc rồi thì những yêu cầu khác nếu không được giám sát theo dõi chặt chẽ ngay từ đầu thì những việc còn lại họ sẽ phủ sạch.
Ngay như việc đánh giá tác động môi trường, chủ đầu tư không làm hoặc làm kiểu sao chép; rồi phải nộp tiền bù trồng rừng, hay trực tiếp trồng thì họ cũng không chịu làm. Tiếp đến là việc đền bù cho dân, thực hiện tái định cư cũng không làm.
Họ chỉ biết làm thủy điện và thu tiền. Đến khi môi trường xấu đi, bão lũ, cạn kiệt nguồn nước thì dân phải hứng chịu mà không biết kêu ai. Như vậy đời sống dân cư khu vực thủy điện vốn khó khăn càng khó khăn hơn.
Trách nhiệm này chủ đầu tư cũng không cần biết. Cho nên tôi muốn nhắc lại ở đây là trách nhiệm của bộ chủ quản. Người dân cần quản lý nhà nước ở chỗ này. Nhà nước phải có quy định cho nhà đầu tư chấp hành. Việc đóng tiền như thế nào, lấy tiền để phục vụ theo yêu cầu của sử dụng dịch vụ. Anh đưa ra chính sách rồi lại bảo trách nhiệm của người khác là không được.
Nhưng trong câu chuyện này bên quyết định lấy rừng là Bộ Công thương và địa phương, bên có trách nhiệm trồng rừng là Bộ NN&PTNT. Chủ đầu tư thì xin dự án làm thủy điện rồi bỏ tiền vào túi. Vậy theo ông việc phối hợp ở đây phải như thế nào để tránh tình trạng một bên thì xong việc, một bên xách túi đi đòi tiền?, ông Huỳnh Minh Thiện cha sẻ: Việc điều hành phối hợp giữa các bộ ngành đương nhiên là Chính phủ. Nhưng ở đây bản thân Bộ NN&PTNT cũng tắc trách.
Đây là trách nhiệm của bộ mà lại đi kêu là không biết tiền nó đang ở đâu cũng là vô trách nhiệm. Bộ không thể ngồi chờ tiền tự chảy về Quỹ mà phải xem các vấn đề liên quan, đặt vấn đề ngay xem vướng ở đâu và tìm cách giải quyết.
Ngay từ đầu bắt buộc phải giám sát. Bây giờ tất cả mọi việc xong rồi lại thấy Quỹ không có gì cả. Như vậy là thiệt thòi cho nhà nước, người dân. Nếu các bộ thấy vướng thì hoàn toàn có thể đề xuất Chính phủ xin hướng giải quyết cụ thể chứ không thể có chuyện ngồi kêu với nhau thế này được. (Đất Việt 15/11) đầu trang(
Sau 3 năm triển khai dự án "Trình diễn năng lực phục hồi rừng bền vững ở Việt Nam" tại Phú Thọ, dự án đã đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo đó, dự án không chỉ đạt hiệu quả về công tác phục hồi rừng nghèo kiệt ở các cộng đồng, nâng cao sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý rừng mà còn góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng giá trị môi trường sinh thái và cải thiện sinh kế của người trồng rừng nơi đây.
Dự án có tổng kinh phí hơn 586.000 USD, trong đó Mạng lưới châu Á-Thái Bình Dương về phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững (APFNet) tài trợ 499.750 USD.
Dự án được triển khai thực hiện từ tháng 9/2010 ở 2 huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ là Thanh Sơn và Tân Sơn với mô hình trình diễn phục hồi rừng nghèo kiệt ở cộng đồng.
Thông qua dự án, tỉnh Phú Thọ đã xây dựng thành công 100ha mô hình phục hồi rừng thứ sinh nghèo kiệt bằng trồng bổ sung cây gỗ bản địa và trồng cây lâm sản ngoài gỗ.
Trong đó đã xây dựng được 50ha mô hình thí điểm trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ như ba kích, hương bài, kim tiền thảo, rau bò khai...; phục hồi 50ha rừng nhờ chặt cải thiện, làm giàu rừng bằng việc bổ sung cây bản địa quý hiếm, nằm trong sách đỏ có giá trị cao như chò chỉ, chò nâu, lim xanh, dổi xanh, mỡ...Công tác trồng và phục hồi rừng đã nâng cao độ che phủ, tăng giá trị của rừng và tạo được thu nhập cả trong ngắn hạn và dài hạn cho người dân địa phương.
Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ cho biết, dự án đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Ước tính giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm đạt khoảng 350 tỷ đồng, chiếm 12% giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh Phú Thọ.
Bên cạnh đó, dự án còn tạo thêm việc làm cho gần 23.000 hộ dân ở các địa phương, từ đó đã dần hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến, năng suất, chất lượng và độ che phủ của rừng không ngừng nâng lên từ 35,9% năm 2000 lên 50% năm 2012, góp phần không nhỏ vào việc phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước, đời sống người trồng rừng ngày càng cải thiện, thêm gắn bó với rừng. (Kinh Tế Việt Nam&Thế Giới 15/11; Tamnhin.net.vn 15/11; VietnamPlus.vn 14/11) đầu trang(
Đó là quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý Rừng bền vững và Chứng chỉ Rừng với Báo Thanh tra.
GS.TS Nguyễn Ngọc Lung cho hay: Phát triển cây cao su không ảnh hưởng đến rừng tự nhiên, nếu như không xâm phạm đến diện tích rừng tự nhiên đã được quy hoạch quản lý bền vững. Nếu lấy đất rừng để trồng cao su thì phải phá rừng. Làm theo cách này thì ta đang "bơi ngược” trào lưu thế giới, khi mà Việt Nam đã cam kết tuân thủ các hiệp ước, công ước quốc tế về bảo vệ rừng tự nhiên, đặc biệt là trong giai đoạn hạn chế tác động của biến đổi khí hậu như hiện nay.
Phân tích về hiện trạng trồng cao su ở các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua, GS.TS Nguyễn Ngọc Lung cho biết: Ngày 3/6/2009, Chính phủ có Quyết định số 750/QĐ-CP giao chỉ tiêu quy hoạch phát triển cao su tới năm 2015 và 2020. Tuy nhiên, lúc này các tỉnh đã ồ ạt phá rừng để trồng cao su.
Tính đến năm 2011, cả nước đã trồng đươc 915 nghìn ha cao su. Riêng, khu vực Tây Nguyên đã trồng thêm trên 100 nghìn ha. Việc tự phát trồng cao su quá mức tại các tỉnh Tây Nguyên khiến những xã rừng khộp tại tỉnh Gia Lai lấy hết rừng để trồng cao su như: Xã Ia-Pút có đến 9 dự án, xã Ia-Blư có 6 dự án; tại tỉnh Đắk Lắk, xã Ea T’Mốt có 7 dự án… Như vậy, còn bao nhiêu đất đai buôn làng cho người dân bản địa sinh sống.
Ở Tây Nguyên chỉ có rừng khộp sống được trong hoàn cảnh 5 tháng hạn không mưa, 2 tháng mưa úng nước, đất khô cằn, cỏ cháy hàng năm nên đa phần thuộc loại rừng nghèo kiệt (trữ lượng gỗ <100 m3/ha). Vì điều kiện lập địa rừng khộp khác xa với sinh thái cao su, thế mà không trồng thử nghiệm thì chưa chắc sao su đã sống, nếu sống cũng chưa chắc đã cho nhựa (mủ), như tại các xã nêu trên. Việc phá rừng này không chỉ huỷ hoại hệ sinh thái rừng khộp, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sống và đến văn hóa sống truyền thống của đồng bào các dân tộc tại chỗ, nhất là họ không được tham gia lao động trong các dự án cao su như cam kết của của chủ đầu tư.
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Lung: Việc chặt rừng tự nhiên trồng cao su của các tỉnh Tây Nguyên không những "bơi ngược” dòng thế giới, mà việc trồng tự phát của các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính, chuyên môn cũng không khác gì phong trào phá rừng trồng cà phê 20 - 30 năm trước của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên khi giá thị trường lên cao.
Từ thực tế này rút ra kinh nghiệm làm kinh tế từ cây cao su không thể theo phong trào được. Điều đầu tiên, người trồng phải nắm được quy trình kỹ thuật, nếu tại vùng dân tộc thiểu số chưa biết cách làm, thậm chí là không biết chữ thì Nhà nước phải tìm cách chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và phải có cán bộ khuyến lâm nằm tại chỗ giúp đỡ cho họ.
Trồng cao su bao giờ cũng phải trồng thử nếu sinh trưởng được, ra nhựa và chất lượng nhựa tốt thì mới tiếp tục trồng. Sau đó phải tính toán được các điều kiện: Đầu tư, bán được nhựa, đưa ra các chỉ tiêu kinh tế, lãi ròng, mỗi ha/năm có thể nuôi được bao nhiêu người? Từ năm thứ 7 mới được khai thác, năm thứ 15 mới hoàn vốn và từ năm thứ 16 trở đi là lãi...
Như vậy, phải tính toán được những điều kiện này thì mới nên đầu tư. Việt Nam không làm theo quy trình này kể cả khi đồng loạt phát triển ra vùng Tây Bắc, vùng Bắc Trung bộ. Việc vài năm nay giá cao su thế giới đang giảm, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam chỉ là Trung Quốc, nhà đầu tư và cơ quan quản lý càng phải cân nhắc kỹ.
Cùng với đó, giải pháp hiệu quả là phải quy hoạch vùng sinh thái tối ưu của mỗi tỉnh (dành cho những người dân đồng bào dân tộc thiểu số), vùng có thể phát triển tuy còn vài hạn chế, nhưng vẫn bảo đảm lãi thì dành cho các doanh nghiệp mạnh để đầu tư khoa học công nghệ. Vùng rộng lớn hơn không phù hợp cho cao su thì dành cho loài cây khác hay sử dụng đất vào mục đích có lợi hơn.
Thêm nữa, cần tính toán đến phát triển cao su lấy gỗ (hiện gỗ cao su là loại gỗ đắt nhất thế giới). Tuy nhiên, việc này cần đi kèm với cam kết sản xuất quản lý bền vững thì sẽ được các tổ chức quốc tế cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FM). Có được chứng chỉ này thì đồ gỗ cao su Việt Nam có thể vào bất cứ thị trường nào trên thế giới, như 4 nông trường cao su tại Đông Nam bộ (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam) đạt được năm 2011. (Thanh Tra 14/11) đầu trang(
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong năm 2013 xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 4,57 tỉ USD (tăng gần 200% so với năm 2007), dự kiến năm 2013 xuất khẩu trên 5,3 tỉ USD, tăng 12% so với năm ngoái. Hiện Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ. Tuy nhiên, ngay trên sân nhà, các doanh nghiệp đồ gỗ trong nước lại “thất thủ” với hàng ngoại nhập.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành gỗ cả nước có khoảng 3.900 doanh nghiệp, trong đó có đến 95 doanh nghiệp tư nhân, 5% còn lại thuộc sở hữu nhà nước. Doanh nghiệp FDI tuy chiếm 10% về số lượng nhưng lại chiếm 35% về kim ngạch xuất khẩu. Thị trường đồ gỗ khá hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, hiện đã có 26 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào ngành chế biến gỗ tại Việt Nam, trong đó mạnh nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc…
Nhiều doanh nghiệp gỗ trong nước đang lo lắng thời điểm năm 2015 cận kề, các nước trong khối ASEAN sẽ trở thành cộng đồng kinh tế, hàng hóa từ các nước này sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với thuế suất bằng 0, trong đó có các mặt hàng đồ gỗ. Đây là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp đồ gỗ trong nước. Hàng nước ngoài có lợi thế về thương hiệu, mẫu mã đa dạng, chất lượng đã được khẳng định. Các doanh nghiệp lo lắng nhất ASEAN + 1, tức những doanh nghiệp lớn đến từ Trung Quốc với lợi thế giá rẻ, mẫu mã đa dạng, thao túng thị trường là điều khó tránh khỏi.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho biết doanh nghiệp gỗ trong nước đa số có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm trên 90%; chỉ có 5,5% doanh nghiệp quy mô vừa và 4,2% doanh nghiệp quy mô lớn. Doanh nghiệp trong nước có năng lực sản xuất, kinh doanh còn thấp, sức cạnh tranh còn yếu. Mặt khác, chưa có sự gắn kết giữa các đơn vị trồng rừng thương mại với các doanh nghiệp chế biến gỗ.
Cũng theo ông Quyền, thị trường đồ gỗ trong nước còn rất lớn, nhiều tiềm năng với dân số gần 100 triệu người. Ngay từ bây giờ, các doanh nghiệp phải có cách đưa sản phẩm của mình ra thị trường nội địa, tạo dựng thương hiệu để tìm chỗ đứng vững chắc, nếu không sẽ chậm chân. Hiện đồ gỗ của Singapore, Thái Lan, Malaysia đã có mặt tại Việt Nam và sắp tới sẽ còn nhiều nước khác tràn sang.
Còn theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, phần lớn người tiêu dùng chưa quen với thương hiệu đồ gỗ trong nước, chưa nhận diện được chất lượng sản phẩm. Do đó, doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị kế hoạch dài hạn, gia tăng chất lượng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng và phải khẳng định thương hiệu tại thị trường nội địa. Cần có chiến lược quảng bá thương hiệu, chất lượng bài bản, tạo sản phẩm chất lượng cao.
Ông Hạnh cho biết trước mắt, hàng Thái Lan, Malaysia đã tràn vào và đang khẳng định tên tuổi. Doanh nghiệp gỗ Thái Lan đang âm thầm sang nhượng lại các cửa hàng đồ gỗ kinh doanh không hiệu quả để mở rộng hệ thống phân phối của họ tại Việt Nam. Còn các nước khác trong khu vực ASEAN sẽ khó vào vì chi phí sản xuất của họ cao, chưa kể chi phí vận chuyển sẽ làm đội giá thành, khó cạnh tranh với hàng trong nước. Tuy nhiên, những nước này cũng đã có nhà máy tại Việt Nam nên họ sẽ dùng chính sản phẩm sản xuất tại Việt Nam để tiêu thụ tại chỗ.
Đồ gỗ ngoại tiêu thụ trong nước chưa có quy định về gỗ hợp pháp. Các tiêu chuẩn về hàm lượng chì trong hóa chất xử lý bề mặt sản phẩm gỗ, tiêu chuẩn chất phân hủy trong keo để tạo ra chất dính xử lý gỗ (là chất có thể gây ung thư) cũng chưa có. Đây là khe hở để sản phẩm nước ngoài tuồn hàng có chất độc hại cũng như sử dụng nguồn gỗ không hợp pháp để cạnh tranh. (Người Lao Động 15/11; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 15/11; Sài Gòn Tiếp Thị 15/11; VietnamPlus.vn 15/11) đầu trang(
Ngày 14/11, Sở KH-CN Lâm Đồng cho biết, mới đây, đơn vị đã cùng với Sở KH-CN tỉnh Ninh Thuận tiến hành kiểm tra tình hình thực tế việc triển khai đề tài “Nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò lai F1 giữa bò tót và bò nhà tại vùng rừng giáp ranh tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng”.
Theo đó, đề tài nghiên cứu về bò tót giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận này đã được thực hiện gần 2 năm với kết quả được đánh giá là khả quan.
Hiện tại, 8 con bò nhà (Bos taurus) lai bò tót (Bos gaurus) được mua của người dân đã được chăm sóc và phát triển tốt để phục vụ cho mục tiêu của đề tài đặt ra là đánh giá khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò lai F1. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/11) đầu trang(
Trong khuôn khổ của Hội thảo giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá về Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai mới được tổ chức tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, thực trạng và các giải pháp đã được đưa ra bàn thảo. Một trong các giải pháp mà các nhà khoa học quan tâm để phát triển rừng bền vững là phải gắn với phát triển văn hóa.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Diện - Giám đốc VQG Cát Tiên: Những thách thức mà Ban quản lý VQG Cát Tiên đang phải “đối mặt” trong việc bảo vệ và phát triển rừng hiện nay, đó là cơ chế chính sách, hành lang pháp lý, khung hình phạt còn nhiều hạn chế. Sự phối kết hợp kiểm soát giữa VQG Cát Tiên với một số ngành tại địa phương chưa đồng bộ, dẫn đến việc xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng và tài nguyên rừng đã làm giảm vùng cư trú của các loài động vật hoang dã và tiềm ẩn nhiều nguy cơ suy thoái sinh cảnh.
Kế hoạch xây dựng các đập thủy điện trên sông Đồng Nai và nạn khai thác cát bừa bãi có thể làm thay đổi chế độ thủy văn của hệ đất ngập nước trong VQG Cát Tiên. Sự phát triển mạnh mẽ của các loài ngoại lai; nguồn nước bị ô nhiễm do việc sử dụng phân bón, hóa chất trong sản xuất nông nghiệp; các hoạt động tiêu cực từ du lịch sinh thái... là những nguyên nhân rừng phát triển chưa bền vững.
Thạc sĩ Trần Văn Mùi- Phó Ban quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai cho rằng: Thế giới đang tồn tại những hạn chế mang tính thách thức: Sự suy thoái tầng ozon, hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái... đã khiến trái đất ngày càng nóng lên, nhiệt độ hằng năm cũng tăng theo, nguồn tài nguyên nước cạn kiệt, nước biển dâng, bão lũ, thiên tai, hạn hán ngày càng nhiều. Để hành tinh này còn có cơ hội tồn tại, chúng ta nhất thiết phải thay đổi văn hóa ứng xử với rừng. Nếu không, chúng ta sẽ phải trả giá cho những hành động thiếu ý thức của mình.
Do vậy, trong thời gian tới, chúng ta cần đẩy mạnh các chương trình tuyên truyền về giá trị của rừng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững; qua đó, nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên và xác lập quan điểm bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên là nhiệm vụ và là sự nghiệp của toàn dân, mọi tổ chức đều có trách nhiệm hưởng ứng và tham gia.
Ngoài ra, chúng ta nên khống chế diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng tối thiểu cho từng địa phương, trên cơ sở chiến lược phát triển bền vững ngành lâm nghiệp. Bởi lẽ, mỗi địa phương cần phải có diện tích rừng nhất định để đảm bảo vấn đề môi sinh môi trường trong tiểu vùng; có chính sách ưu đãi cho những địa phương có độ che phủ rừng cao; áp dụng chế độ chi trả dịch vụ môi trường cho các địa phương; có chính sách, chế tài đối với những địa phương vì quyền lợi cục bộ…
Còn Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới - Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai cho biết: Phát triển rừng bền vững cần phải gắn với phát triển văn hóa. Một khi nhận thức cộng đồng đúng đắn sẽ làm nảy sinh tình cảm đẹp và sẽ có hành động tốt.
Để ứng phó với những hiện tượng mang tính thách thức, cần có những chính sách tổng thể và rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến người dân, nhất là nhóm người nghèo rất dễ bị tổn thương; cần có sự kết nối giữa lý thuyết, thực hành và thực tế mới có thể hình thành sự phát triển rừng bền vững. Từ những nỗ lực trong sự liên kết này, để có thể hiểu thêm, có những cái nhìn mới, những nỗ lực mới hướng tới mục tiêu tạo ra sự tăng trưởng xanh. (Báo Lâm Đồng 15/11) đầu trang(
Đầu tư làm vườn ươm giống cây keo không những phục vụ cho công tác trồng rừng nguyên liệu, mà Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Đô Lương còn cung cấp giống cho người dân vùng lân cận.
Nhờ có vườn ươm rộng 2,5 ha được đầu tư đồng bộ các trang thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất, cùng với đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ, nên đã đáp ứng thỏa mãn nhu cầu giống cây phục vụ công tác trồng rừng nguyên liệu.
Luôn mạnh dạn đưa các giống cây mới có chất lượng, năng suất cao vào sản xuất, vườn ươm của đơn vị đã tạo được uy tín. Từ đầu năm 2013 đến nay, đã ươm gần 1 triệu cây giống (gồm 70 vạn cây keo hom và 30 vạn cây keo hạt) và tiêu thụ hơn 70 vạn giống cây.
Đặc biệt, giống cây keo BV 10 và BV 16 nếu được đầu tư chăm sóc, khai thác đúng quy trình năng suất sẽ đạt 150 tấn keo/ha và giống cây keo này đang được nhân rộng diện tích trồng rừng ở Đô Lương, Con Cuông, Yên Thành, Diễn Châu. Vườn ươm còn cung cấp nhiều loại giống cây phục vụ cho trồng rừng, như: lim, lát hoa, xà cừ… (Báo Nghệ An 15/11) đầu trang(
Tính đến cuối năm 2013, toàn huyện Đam Rông có tổng diện tích rừng là hơn 65.000ha, độ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 72%.
Trong những năm qua, huyện Đam Rông đã chỉ đạo các ngành chức năng rà soát toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đã bị lấn chiếm trái phép, lên kế hoạch giải tỏa để trồng lại rừng; giao khoán hơn 41.000ha cho hơn 3.300 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhận quản lý bảo vệ; trồng mới được gần 3.000ha đất rừng.
Ngoài ra, huyện Đam Rông còn tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển lâm nghiệp, trồng rừng kinh tế, bảo vệ diện tích rừng trồng và rừng giao khoán quản lý bảo vệ. Nhất là triển khai các chương trình trồng rừng theo Đề án 30a về giảm nghèo nhanh bền vững và dự án phát triển lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng nhằm góp phần phủ nhanh diện tích đất trống, đồi núi trọc. (Báo Lâm Đồng 15/11) đầu trang(
Theo chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng của UBND tỉnh, huyện Bạch Thông được tạm giao trồng mới 1.350 ha rừng trong năm 2014. Ngay sau khi nhận được kế hoạch, huyện Bạch Thông đã tiến hành thiết kế rừng trồng mới tại 17/17 xã, thị trấn.
Đến nay, đã có hơn 600 ha được thiết kế, dự kiến đến hết tháng 12 năm 2013 sẽ thiết kế xong diện tích còn lại. Đầu năm 2014 các hộ đăng ký trồng rừng sẽ tiến hành xử lý thực bì, công tác trồng rừng sẽ được tiến hành trồng từ tháng 5 năm 2014.
Dự kiến sẽ có khoảng 2.700 cây giống lâm nghiệp được trồng. Khó khăn trong thiết kế trồng rừng mới của huyện Bạch Thông là thiếu diện tích rừng trồng tập trung, do vậy, để đảm bảo diện tích được giao, Bạch Thông sẽ tập trung thiết kế trồng rừng sản xuất tái sử dụng, trồng rừng cây phân tán. (Đài PT - TH Bắc Kạn 15/11) đầu trang(
Xác định việc giao rừng tự nhiên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nên những năm qua Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa (Quảng Trị) đã chủ động giao gần 2.600 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng và 54 ha rừng tự nhiên cho hộ gia đình.
Hướng Hóa là một địa bàn miền núi có diện tích tự nhiên lên đến 115.283 ha, trong đó tổng diện tích rừng là 49.712,9 ha (diện tích rừng tự nhiên là 42.827,5 ha và rừng trồng là 6.885,4 ha). Rừng trên địa bàn được phân thành 3 loại: Rừng tự nhiên đặc dụng: 21.247,1 ha; rừng tự nhiên phòng hộ: 18.219,2 ha; rừng tự nhiên sản xuất: 10.246,6 ha.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa Lê Văn Thành cho biết thêm: “Từ ngày thực hiện chính sách giao rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình theo Quyết định 178/QĐ-TTg của Thủ tướng thì người dân ở đây phấn khởi và đời sống kinh tế được nâng lên.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng được thắt chặt, ổn định, đã giảm đi rất nhiều các vụ khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép. Vì vậy thời gian tới, Hạt sẽ đẩy mạnh hơn nữa công tác giao rừng tự nhiên theo quy định để góp phần cùng người dân vùng núi này thực hiện việc xóa đói, giảm nghèo và khai thác rừng theo hướng bền vững”. (Báo Quảng Trị 14/11) đầu trang(
Thực hiện chủ trương chung, thời gian qua, huyện Tuy Ðức đã tiến hành đo đạc, xây dựng đề án và bàn giao 3.906 ha rừng và đất rừng cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ.
Cụ thể, huyện đã bàn giao 1.016 ha rừng, đất rừng cho cộng đồng 2 bon Bu Nơ A và Bu Nơ B, thuộc xã Quảng Tâm; 1.110 ha cho cộng đồng 2 bon Mê Ra và Bu Dưng và 1.198 ha cho cộng đồng bon Bu Kon, thuộc xã Ðắk R’tíh và tạm giao 581 ha cho cộng đồng bon Bu Nung, xã Quảng Trực.
Ðến nay, huyện đã tiến hành đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng các bon với tổng diện tích 2.214 ha. Nhìn chung, diện tích rừng được giao đều được cộng đồng dân cư chăm sóc, bảo vệ nghiêm túc. Số vụ vi phạm lâm luật trên diện tích rừng, đất rừng được giao khoán cho cộng đồng là rất ít so với khu vực giao cho doanh nghiệp quản lý, bảo vệ.
Ngoài nguồn kinh phí hỗ trợ từ phía Nhà nước, nguồn thu sản phẩm phụ từ rừng và canh tác trên diện tích đất không có rừng, hiện một số cộng đồng dân cư cũng đã bắt đầu được hưởng lợi từ chính nguồn rừng mà họ đang quản lý, bảo vệ.
Ðiển hình, kể từ khi được giao đất, giao rừng đến nay, cộng đồng 2 bon Bu Nơ A và Bu Nơ B đã tổ chức khai thác tỉa thưa 4 đợt với tổng khối lượng gỗ 1975m3, với số tiền thu về từ việc bán gỗ là hơn 3,1 tỷ đồng.
Tại cộng đồng 2 bon Bu Mê và Bu Dưng cũng đã tiến hành khai thác tỉa thưa 1 đợt, với số tiền thu được từ sản phẩm gỗ khai thác gần 1 tỷ đồng. Sau khi trừ các chi phí theo quy định, số tiền còn lại đã được chia đều cho các hộ dân tham gia dự án.
Với những cơ chế giao khoán hợp lý, cùng với việc tăng cường công tác vận động, kiểm tra, cộng đồng dân cư được giao rừng và đất rừng đã thực sự nhận thức được lợi ích thiết thực từ rừng mang lại. Vì thế, họ rất tích cực tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng, ngăn ngừa và phát hiện kịp thời tình trạng chặt phá rừng, mua bán, lấn chiếm đất rừng trái phép. (Báo Đăk Nông 15/11) đầu trang(
Trong 10 tháng đầu năm 2013, Xí nghiệp chế biến gỗ Phú Quý, thuộc Công ty Việt Trung đã chế biến được 2.000m3 gỗ cao su nguyên liệu, trong đó có 500m3 gỗ được sản xuất hàng mộc dân dụng xuất khẩu; đạt doanh thu 15 tỷ đồng, bằng 85% kế hoạch năm.
Đặc biệt sau cơn bão số 10, cán bộ công nhân của Xí nghiệp đã tăng ca làm thêm giờ để chế biến gỗ cao su tận thu do bão làm gãy đổ.
Nhờ đẩy mạnh sản xuất nên thu nhập của người lao động trong 10 tháng đầu năm 2013, đạt 4 triệu đồng/người; nộp ngân sách 1,2 tỷ đồng, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ với tổng mức 1,4 tỷ đồng. (Báo Quảng Bình 15/11) đầu trang(
Đó là Thủy điện Sơn Trà 1 đang được chủ đầu tư gấp rút thuê tư vấn thiết kế quy hoạch để sớm khởi công xây dựng. Điều đáng nói, khoảng 80% diện tích của dự án nằm gọn trong rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham của 2 huyện Sơn Hà và Sơn Tây. Mặc dù địa phương và ban quản lý rừng kịch liệt phản đối nhưng đơn vị tham mưu… cứ cho là có hiệu quả!
Trưởng ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Thạch Nham Đoàn Ngọc Thạch bức xúc: “Rừng tự nhiên, cổ thụ như vậy nhưng khi tham mưu UBND tỉnh về việc cho phép triển khai thực hiện dự án này, Sở Công thương tỉnh lại cho rằng, “rừng phòng hộ liên quan đến dự án chủ yếu là rừng nhỏ, dây leo, độ che phủ của tán rừng rất thấp, một số khoảng trống của rừng có nhiều cây chuối; số còn lại hiện trạng đã khai hoang trồng keo, bạch đàn và… lúa nước! Số lượng cây rừng hiện có trên diện tích rừng phòng hộ bị ảnh hưởng bởi dự án là thấp, có giá trị không lớn, mật độ rừng cũng tương đối thấp, trữ lượng gỗ từ 10 - 100m³/ha thuộc loại rừng nghèo”.
Ông Thạch chắc chắn: “Thực tế, khi xây dựng thủy điện Sơn Trà 1, rừng phòng hộ đầu nguồn không chỉ mất đi 44,53ha (như quy hoạch) mà dưới tác động của công trình này diện tích rừng phòng hộ sẽ bị xâm hại thêm không nhỏ. Số diện tích có rừng là rừng hàng trăm năm tuổi; sản lượng gỗ từ 100 - 300m³/ha chứ không đơn giản và ít như Sở Công thương tham mưu, báo cáo”.
“Từ xã Sơn Lập, kéo đường dây điện nối với trạm phân phối của Nhà máy thủy điện Đakrinh mất 30km đường dây đều đi qua rừng phòng hộ nhưng dự án không thể hiện chiếm đất. Họ cố tình chia nhỏ dự án ra để diện tích rừng phòng hộ nằm trong quy hoạch không vượt quá 50ha, vì như thế phải xin ý kiến Quốc hội. Đó là chưa tính trên 50ha rừng sản xuất của dân mất trắng” - ông Thạch cho biết.
“Hồ sơ dự án đến nay vẫn chưa đủ cơ sở pháp lý, chúng tôi vẫn chưa có gì trong tay. Thậm chí, đơn vị khảo sát về cũng không thông qua huyện, BQL, trong khi chúng tôi là đơn vị quản lý rừng mà dự án thủy điện nằm gọn trong đó. Khảo sát thiết kế có đi hiện trường đâu. Họ thuê đơn vị tận Hà Nội vào, dựa trên bản đồ phân bổ rừng rồi cắm mốc quy hoạch. Quan điểm của tôi trước sau như một, không đồng ý triển khai dự án” - ông Thạch thẳng thắn.
Đồng quan điểm trên, Bí thư huyện ủy huyện Sơn Hà Đặng Ngọc Dũng cũng cho rằng, là quản lý cao nhất của địa phương, nhưng từ Huyện ủy, đến HĐND, UBND… đều không hay biết chủ đầu tư thuê đơn vị về khảo sát, tư vấn và lập quy hoạch. Chỉ đến khi chủ đầu tư cho nhân viên đem thiết bị lén vào rừng khảo sát bị Đội kiểm tra BQL rừng đầu nguồn Thạch Nham bắt “quả tang” đem về UBND xã rồi báo cáo lên huyện mới biết.
“Phương án tái tạo, trồng rừng chưa có; đánh giá tác động môi trường cũng chưa. Vậy mà Sở Công thương cứ ấn dự án xuống, cứ một mực dự án đem lại nhiều lợi ích. Chưa biết lợi ích thế nào, nhưng mất rừng, thay đổi môi trường sinh thái, người dân bản địa chịu mọi hậu quả xảy ra. Vì vậy, huyện Sơn Hà cũng thống nhất kiến nghị không triển khai dự án thủy điện Sơn Trà 1 trên địa bàn” - ông Dũng tỏ rõ quan điểm rồi băn khoăn: Tôi cũng không rõ các đơn vị khảo sát, lập quy hoạch lấy cơ sở đâu mà trong tỉnh Quảng Ngãi có 26 dự án thủy điện vừa và nhỏ, riêng huyện Sơn Hà có tới 9 dự án.
Ban quản lý rừng, chính quyền địa phương - hai đơn vị sâu sát và thực tế nhất với địa bàn đã thể hiện rõ quan điểm như vậy, nhưng Sở Công thương Quảng Ngãi lại nghĩ khác khi thể hiện tại hai báo cáo số 694 ngày 21-3-2013 và 958 ngày 8-7-2013 với UBND tỉnh.
Ngoài việc đánh giá về trữ lượng gỗ thấp, diện tích rừng ít, Sở này còn cho rằng dự án không ảnh hưởng đến việc di dân tái định cư, tái định canh của dân, có lưu vực chủ yếu là đá, không có dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp; sau nhà máy trả nước lại cho chính dòng sông đó nên không ảnh hưởng đến an sinh phía hạ lưu đập.
Cũng theo Sở này, dù chưa khởi công xây dựng nhưng chủ đầu tư đã “đổ” vào thủy điện này hơn 27 tỷ đồng, trong đó nhà đầu tư “dành” 10 tỷ đồng hỗ trợ công tác an sinh xã hội của tỉnh, nhưng hiện mới hỗ trợ 6 tỷ đồng, còn nợ 4 tỷ đồng. (Sài Gòn Giải Phóng 15/11) đầu trang(
Ngày 14-11, một ngày trước khi Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai ( HAGL ) chào bán cổ phiếu của Công ty An Phú, Global Witness (Tổ chức nhân chứng toàn cầu) lại phát đi thông cáo báo chí để lặp lại những cáo buộc mà họ đã đưa ra cách đây 6 tháng, và cho rằng HAGL đã không thực hiện những cam kết trước đó.
Cụ thể, Global Witness cho rằng việc HAGL đầu tư trồng cao su ở Lào, Campuchia có liên đới đến hủy hoại môi trường, phá rừng. Global Witness kêu gọi những tổ chức tài chính quốc tế nên rút vốn mà những tổ chức này đã đầu tư vào HAGL trong thời gian qua.
Theo Global Witness, sở dĩ chọn ngày 14-11 để nhắc lại những cáo buộc với HAGL là tròn 6 tháng kể từ khi tổ chức này công bố báo cáo của họ vào ngày 13-5-2013. Tuy nhiên, thời điểm ra thông cáo báo chí lại đúng một ngày trước khi HAGL chính thức chào bán quyền mua cổ phiếu của Công ty cổ phần bất động sản An Phú (cổ phiếu An Phú) mà công ty đang giữ cho cổ đông hiện hữu của HAGL. Theo đó, mỗi cổ đông đang nắm giữ 10.000 cổ phiếu HAGL (HAG) sẽ được mua 458 cổ phiếu của An Phú.
Trước đó, khi Câu lạc bộ bóng đá Anh là Arsenal sang thi đấu mùa hè tại Việt Nam, thông qua lời mời của ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch HĐQT HAGL, công ty đang là chủ sở hữu học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG, phía Global Witnes cũng phát đi một thông cáo báo chí kêu gọi Arsenal tuyệt giao với HAGL.
Global Witness là một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại London, Anh, có 19 năm hoạt động nghiên cứu điều tra và vận động chính sách chống lại những xung đột và tham nhũng liên quan tới khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng như những xâm phạm môi trường và vi phạm nhân quyền trong mảng này. Tại các nước Campuchia, Myanmar và Lào, Global Witness tập trung nghiên cứu về tác động tiêu cực của việc quản lý sai lầm tài nguyên thiên nhiên dẫn tới những hậu quả tai hại cho cộng đồng địa phương. Địa chỉ website: http://www.globalwitnes.org
Ông Đoàn Nguyên Đức lại cho rằng, những cáo buộc của Global Witness là không đúng sự thật và không quan tâm đến những gì mà Global Witness đưa ra trong thông cáo báo chí ngày 14-11.
“Nếu HAGL không tuân thủ những quy định pháp luật tại Lào, Campuchia thì chúng tôi không thể đầu tư phát triển công việc kinh doanh ở đây. Chúng tôi làm sai thì chính phủ các nước này đã không cấp phép đầu tư rồi”, ông Đức nói.
Ngày 13-5, Global Witness đã có cáo buộc rằng những dự án của HAGL tại Lào và Campuchia đã gây thiệt hại cho môi trường và cuộc sống của người dân địa phương. Cụ thể, báo cáo của Global Witness cho rằng HAGL đã được cấp đất làm dự án quá mức cho phép, đã phá rừng để lấy gỗ và lấy đất trồng cao su, gây hại cho môi trường sinh thái và làm cho cuộc sống người dân trong khu vực dự án gặp khó khăn vì thiếu đất canh tác, thiếu việc làm.
Ngay sau đó, trong buổi họp mặt cổ đông để giải thích những cáo cuộc này, phía HAGL cho biết, đã lập một bộ phận chuyên trách về môi trường để hỗ trợ công ty trong những vấn đề có liên quan đến môi trường, trách nhiệm xã hội tại những địa phương mà công ty đã và sẽ đầu tư. Bộ phận chuyên trách này hiện do một thành viên độc lập của Hội đồng quản trị - là đại diện của cổ đông lớn Dragon Capital, nắm 6% vốn cổ phần - phụ trách. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 15/11) đầu trang(
Theo văn bản số 4637, ngày 23/10/2013 của UBND tỉnh về việc phê duyệt phương án tổ chức cưỡng chế, giải tỏa đất rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 bị lấn chiếm trái phép, tỉnh yêu cầu huyện Đắk Song khẩn trương hoàn thiện phương án giải tỏa theo biện pháp cưỡng chế.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì qua rà soát, kiểm tra, hiện tại có 96 hộ lấn chiếm Rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14; trong đó ở xã Nâm N’jang có 64 hộ, xã Trường Xuân có 32 hộ. Trong số các hộ xâm phạm đất rừng thì có 3 hộ gồm: bà Trần Thị Mỹ, các ông Võ Văn Bảy, Nguyễn Quốc Thắng đều ở xã Trường Xuân đã được huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ðể cưỡng chế, giải tỏa các hộ xâm phạm đất rừng, thời gian qua, lực lượng kiểm lâm tỉnh cùng huyện Ðắk Song đã tuyên truyền, vận động người vi phạm tự tháo dỡ vật kiến trúc ra khỏi rừng phòng hộ. Qua đó, đã có 63/96 hộ vi phạm bị lập biên bản và ký biên bản, 23 hộ không ký biên bản, 4 hộ không xác minh được đương sự và có 6 hộ gia đình đã tự di dời.
Sau khi ngành chức năng, địa phương tiến hành rà soát cụ thể và đi đến thống nhất, trong số 96 hộ vi phạm thì đã có một số gia đình tự di dời đi nơi khác, nên chỉ còn 80 hộ thuộc diện cưỡng chế, giải tỏa. Việc giải tỏa sẽ được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn I có 42 hộ, giai đoạn II có 38 hộ.
Theo phương án cưỡng chế giải tỏa thì tổng số tiền hỗ trợ những gia đình tự di dời tài sản trên đất gồm: công trình nhà cửa, các loại cây trồng là 467 triệu đồng; hỗ trợ nhà cửa, vật kiến trúc 80 cái, trị giá 400 triệu đồng và hơn 67 triệu đồng hỗ trợ 4.574 cây trồng các loại.
Ngoài ra, trong quá trình giải tỏa, có 10 hộ gia đình đề nghị được cấp đất ở. Về vấn đề này, huyện Ðắk Song cũng đã lên phương án bố trí tái định cư cho những gia đình có nhu cầu về đất ở.
Liên quan đến chỉ đạo của tỉnh, tại Hội nghị trực tuyến giữa UBND tỉnh với các địa phương vừa qua, ông Phan Ðình Hiến, Chủ tịch UBND huyện Ðắk Song, kiến nghị tỉnh cho địa phương lùi thời gian cưỡng chế, giải tỏa lại đến cuối tháng 11, vì còn vướng một số thủ tục pháp lý...
Tuy nhiên, về phía lãnh đạo tỉnh đã yêu cầu huyện phải gấp rút hoàn thành các thủ tục pháp lý có liên quan và chậm nhất đến ngày 20/11 phải cưỡng chế giải tỏa các hộ dân lấn chiếm đất rừng theo đúng kế hoạch đã đề ra, không được để chậm trễ hơn nữa. Bởi vì, tỉnh đã nhiều lần chỉ đạo địa phương phê duyệt phương án theo thẩm quyền và tổ chức cưỡng chế giải tỏa đối với các hộ vi phạm sau khi đã được tuyên truyền, vận động, nhưng không chấp hành di dời.. (Báo Đăk Nông 14/11) đầu trang(
Trước thông tin về việc rừng gỗ pơmu Hoàng Liên - Văn Bàn đang bị "xẻ thịt", ông Lê Trọng Quảng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, đến thời điểm này tỉnh đã ngăn chặn được hiện tượng vận chuyển, thu gom, tiêu thụ gỗ pơmu từ Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu, việc khai thác, xâm phạm rừng của Khu bảo tồn Hoàng Liên - Văn Bàn, tỉnh được biết từ tháng 8/2013. Khi đó, huyện Văn Bàn (Lào Cai) đã có công văn gửi huyện Than Uyên (Lai Châu) đề nghị phối hợp. Huyện Than Uyên đã báo cáo và tỉnh Lai Châu chỉ đạo huyện Than Uyên phối hợp cùng với huyện Văn Bàn đánh giá tình hình, bàn biện pháp xử lý… đồng thời chỉ đạo Kiểm lâm tỉnh xuống cơ sở đánh giá lại tình hình.
Tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo Kiểm lâm tỉnh tăng cường lực lượng, triển khai chốt chặn các cửa rừng. UBND huyện Than Uyên cũng có văn bản yêu cầu các xã tuyên truyền, vận động nhân dân không tham gia khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép gỗ từ khu rừng bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn; giao cho cơ quan quản lý thị trường cùng kiểm lâm, công an huyện đi kiểm tra các cơ sở sản xuất đồ mộc, vừa tuyên truyền vận động vừa khuyến cáo, nếu phát hiện có vi phạm sẽ xử lý theo quy định của pháp luật…
Đặc biệt, sau khi nhiều cơ quan báo chí phản ánh có hiện tượng "xẻ thịt" rừng gỗ pơ mu Hoàng Liên - Văn Bàn ở phía Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt hơn, trong đó có việc điều chuyển toàn bộ lực lượng của trạm kiểm lâm ở đầu huyện Than Uyên, đóng trên trục quốc lộ 279, từ huyện Than Uyên đi huyện Văn Bàn (Lào Cai).
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cũng khẳng định, hiện các lực lượng chuyên ngành gồm công an, kiểm lâm, quản lý thị trường thường xuyên tiến hành tuần tra, kiểm soát địa bàn; hiện tượng vận chuyển, khai thác, tiêu thụ trái phép gỗ từ khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn ở phía Lai Châu đã được ngăn chặn.
Tại một số khu rừng lớn mà gỗ còn nhiều, có đường giao thông đi qua, tỉnh Lai Châu cũng đưa ra những giải pháp quyết liệt như: Giao Sở NN&PTNT triển khai dự án, chốt chặn hai đầu đường Pa Tần – Mường Tè đang mở, nơi có khu rừng rất đẹp, trữ lượng gỗ nhiều; trích từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng thuê dân bản với mức 2 triệu đồng/người/tháng để thường xuyên gác và đi kiểm soát trong rừng, nếu phát hiện vi phạm thì điện báo về đường dây nóng cho đội cơ động, hạt Kiểm lâm huyện để xử lý, kiên quyết bảo vệ rừng. (Tin Tức 14/11) đầu trang(
Xứ sở rừng già Kbang, Gia Lai là địa bàn duy nhất còn sót lại những cây gỗ hương cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đây cũng là nơi có Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh - Di sản Thiên nhiên ASEAN với nhiều loại gỗ, động thực vật quý. Tuy nhiên, để giữ được rừng quý ở đây còn sót lại thật không đơn giản.
Vụ 2 cây gỗ hương cổ thụ có đường kính gần 2m, bị lâm tặc cắt hạ mới đây tại khoảnh 1, tiểu khu 109, thuộc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, với khối lượng thiệt hại hơn 92m3 là một cảnh báo về tình trạng xâm hại của lâm tặc luôn rình rập ở khu rừng quý. Sau khi lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh phát hiện, khởi tố vụ án và chuyển giao hồ sơ cho cơ quan Công an tiếp tục làm rõ.
Đến nay, Công an huyện Kbang (Gia Lai) đã khởi tố 3 bị can đối với các đối tượng Trình Văn Bông, còn gọi là Bảy (39 tuổi); Lê Thế Hùng (22 tuổi) và Hồ Trọng Hải (19 tuổi) cùng ở huyện Kbang, Gia Lai về hành vi vi phạm các quy định về khai thác, quản lý và bảo vệ rừng. Hiện cơ quan Công an cũng đang tiếp tục điều tra và vận động 2 đối tượng liên quan khác ra đầu thú để hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đầu năm 2013, Công an huyện Kbang cũng đã phát hiện một vụ khai thác gỗ hương quy mô lớn ở rừng Kbang, tại các khoảnh 3 và 4, tiểu khu 83, thuộc địa phận rừng sản xuất (vùng đệm Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh) do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa quản lý. Tại hiện trường có tới 12 cây gỗ hương bị khai thác quy mô, diễn ra một thời gian dài, nhưng các cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa không xử lý.
Liên quan đến vụ việc này, tuy chưa làm rõ được những đối tượng trực tiếp khai thác gỗ hương trái phép nhưng qua điều tra, Công an huyện Kbang, Gia Lai đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Đăng Hướng (36 tuổi), Đội phó Đội Quản lý và Bảo vệ rừng và Nguyễn Đình Hạnh (27 tuổi), nhân viên bảo vệ rừng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (Kbang) về hành vi thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo Hạt Kiểm lâm Kbang, số vụ phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn được phát hiện từ đầu năm đến nay là 84 vụ, lâm sản tịch thu hơn 167m3 gỗ các loại. Tuy con số phát hiện mang tính nhỏ lẻ nhưng vẫn cho thấy tính phức tạp về công tác giữ rừng ở Kbang, nhất là tình trạng khai thác gỗ hương, đào bới tìm kiếm gốc rễ trắc còn sót lại ở rừng Kbang. (Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Sáng 10/11, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Cao Bằng đã phát hiện và bắt quả tang đối tượng Bùi văn Tâm quê ở Thanh Hóa, hiện trú tại Bình Thuận đang vận chuyển 16 bộ xương linh trưởng đã bị lột da và sấy khô. Toàn bộ số hàng này không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
Tại cơ quan Công an, đối tượng Bùi Văn Tâm khai nhận, Tâm nhận vận chuyển số hàng bất hợp pháp này cho một người đàn ông quen biết tên Tuấn (không rõ họ tên) trú tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Số hàng này được Tuấn gửi xe khách đưa cho Tâm, cùng 3 triệu đồng làm chi phí dọc đường, để Tâm vận chuyển số hàng này lên Cao Bằng.
Theo kế hoạch, đến Thành phố Cao Bằng, Tâm sẽ thuê xe tắc xi vận chuyển hàng vào thác Bản Giốc (Trùng Khánh, Cao Bằng) để bán cho một người Trung Quốc theo sự thỏa thuận trước đó của Tuấn. Nếu bán trót lọt số hàng này, Tuấn và Tâm sẽ chia đôi lợi nhuận
Hiện đối tượng cùng toàn bộ tang vật đã được bàn giao cho Phòng CSĐT tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Cao Bằng để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Ngày 13/11, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh An Giang cho biết, vừa thực hiện lệnh bắt khẩn cấp và khám xét nơi ở đối tượng Võ Văn Hồng (ở phường Mỹ Phước, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang), kế toán Ban Quản lý dự án trồng rừng phòng hộ đặc dụng (thuộc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang) để làm rõ về hành vi “Tham ô tài sản”.
Từ năm 2007 đến năm 2010, lợi dụng nhiệm vụ được giao, Võ Văn Hồng đã lập 76 chứng từ khống rút tiền của dự án trồng rừng phòng hộ mua sắm trang thiết bị, vật tư cho đơn vị với tổng số tiền trên 2 tỷ đồng. Sau đó, Hồng lấy những trang thiết bị, vật tư nói trên đem bán lại lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ. (Công An Nhân Dân 15/11) đầu trang(
Ngày 12/5/2005, Tổng đội thanh niên xung phong, xây dựng kinh tế (TNXP-XDKT) Phúc Trạch, tiền thân là BQL dự án Làng thanh niên lập nghiệp (LTNLN) Phúc Trạch (Tỉnh đoàn Hà Tĩnh) được UBND tỉnh giao 684,41 ha đất, trong đó có 437,81 ha tại tiểu khu 251A thuộc xã Phúc Trạch và 246,6 ha thuộc tiểu khu 251B (Hương Đô) để thực hiện dự án LTNLN Phúc Trạch..
Quá trình thực hiện, Tổng đội đã phối hợp khá tốt với chính quyền 2 xã Phúc Trạch, Hương Đô và UBND huyện Hương Khê giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 110 gia đình đội viên với diện tích 181,57 ha. Trong đó có 100 hộ được cấp 160,8 ha tại tiểu khu 251A - xã Phúc Trạch và 10 hộ với diện tích 20,77 ha tại tiểu khu 251B - xã Hương Đô.
Đến đầu năm 2012, qua điều tra quy hoạch, các cơ quan chức năng phát hiện “sự cố”… hy hữu. Mặc dù 684,41 ha trước đó đã được UBND tỉnh ra quyết định thu hồi của Ban CHQS huyện Hương Khê để bàn giao lại cho Tổng đội từ năm 2005, nhưng chẳng hiểu vì lý do gì, đến năm 2008, sau quá trình rà soát cấp quyền sử dụng đất, UBND huyện Hương Khê, Sở TN&MT lại tham mưu UBND tỉnh cấp 209,1 ha rừng và đất rừng tại khoảnh 1, khoảnh 2, tiểu khu 251B để giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho BQL rừng phòng hộ Ngàn Sâu.
Ngày 8/2/2013, UBND tỉnh ra Văn bản số 482/UBND-NL về việc “xử lý diện tích đất, rừng chồng chéo giữa BQL rừng phòng hộ Ngàn Sâu và Dự án LTNLN Phúc Trạch”. Theo đó, thu hồi 209,1 ha để giao UBND huyện Hương Khê thực hiện dự án LTNLN Phúc Trạch.
Trong số 52 ha mà BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu đã phát dọn thực bì và trồng keo có 34 ha được UBND tỉnh đồng ý cho đơn vị tiếp tục được quản lý, chăm sóc đến hết thời kỳ kinh doanh và tiến hành khai thác sản phẩm trước ngày 30/6/2020 để bàn giao đất lại cho UBND huyện Hương Khê và Tổng đội TNXP-XDKT Phúc Trạch thực hiện dự án LTNLN. Đối với 18 ha còn lại, BQL rừng phòng hộ Ngàn Sâu phải bàn giao lại cho Tổng đội sau khi thống nhất phương án xử lý chi phí đã đầu tư.
Phương án xử lý thấu tình đạt lý theo hướng có lợi cho cả đôi bên đã được ban hành. Tiếc rằng, cho đến nay, mọi việc vẫn “rối như canh hẹ”, chẳng bên nào chịu nhường bên nào. Tổng đội phó Tổng đội TNXP-XDKT Phúc Trạch Võ Anh Vũ bức xúc cho rằng: “Trong số diện tích này, BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu chỉ khai hoang 7 ha và toàn bộ diện tích trồng keo đều thực hiện sau ngày 10/7/2012 (biên bản làm việc của các ngành là không tác nghiệp trên mảnh đất tranh chấp kể từ ngày 10/7/2012) nên đền bù là vô lý”.
Ông Vũ còn nói thêm: “Đã nhiều lần (sau ngày 10/7/2012), Ban còn thuê người dân vào khai hoang, trồng keo tại khu vực tranh chấp. Chúng tôi đã phối hợp với chính quyền các địa phương lập biên bản nhưng không thể ngăn cản nổi”.
Trong khi đó, Trưởng BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu Nguyễn Kim Hùng lại khẳng định: “Chi phí chúng tôi bỏ ra lên đến hơn 145 triệu đồng đầu tư trồng keo cho phần diện tích 14,7/18 ha, có hồ sơ thiết kế, nghiệm thu và thanh lý hợp đồng đầy đủ mà họ (Tổng đội) lại cứ mặc cả lên xuống. Chấp nhận cho đền bù 108 triệu đồng là chúng tôi đã “xuống nước”, nhưng Tổng đội cứ lần khần hết lần này đến lần khác không thanh toán”.
Ông Hùng cũng cho biết, ngày 26/4 và 25/7/2013, BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu cũng đã có tờ trình kiến nghị cấp trên về việc BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu đã đề nghị Tổng đội TNXP-XDKT Phúc Trạch cùng tiến hành khảo sát hiện trường để sớm bàn giao phần diện tích 34 ha theo quyết định của tỉnh, nhưng Tổng đội không bố trí được thời gian.
Đồng thời trong phần diện tích 18 ha, do rừng không được chăm sóc, thực bì lên tốt chèn ép cây keo dẫn đến khả năng rừng bị mất. Nếu Tổng đội không chịu giải quyết, BQL rừng phòng hộ sẽ tiếp tục chăm sóc rừng và sử dụng hết chu kỳ đến năm 2020 bàn giao đất cho UBND huyện Hương Khê và Tổng đội thực hiện dự án. Dù đã nhiều lần phát “tín hiệu”, nhưng đến nay, theo lời ông Trưởng ban thì “chưa có đơn vị nào hồi âm”. (Báo Hà Tĩnh 14/11) đầu trang(
Sau hơn 2 tháng kiên trì bám địa bàn, cuối tuần qua, nhóm phóng viên VTV Đà Nẵng mới lần ra được đường dây tập kết và hợp thức hóa gỗ lậu hoạt động khá quy mô ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Dù được được nguy trang rất tinh vi, nhưng với quyết tâm vào cuộc của phóng viên, sự thật đang dần được hé mở.
Dù có được nguồn tin gần như chắc chắn từ người dân bản địa, nhưng phải mất hơn 4 tiếng đồng hồ lội rừng, tìm kiếm, nhóm phóng viên VTV mới lần ra được điểm tập kết gỗ lậu. Không tiếp cận được những cánh rừng bị tàn phá, nhưng nhìn những đống gỗ tại hiện trường cho thấy các đối tượng phá rừng đã tính toán rất kĩ cho việc vận chuyển hàng chục mét khối gỗ lậu.
Theo đó, hàng trăm phách gỗ lậu đã được các đối tượng cưa theo đúng quy cách khung ngoại và ván lót sàn của những căn nhà biệt thự. Chỉ chờ đêm xuống, chúng sẽ thả trôi số gỗ theo dòng nước là hàng chục mét khối gỗ lậu có thể về xuôi.
Người dân địa phương cho biết, đường dây phá rừng ở tiểu khu 39, thuộc huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã tồn tại đã nhiều năm nay và đã có hàng trăm mét khối gỗ quý bị các đối tượng này lấy đi dưới nhiều hình thức. Thực trạng này cho chúng ta đặt ra câu hỏi: Vậy các cấp ngành chủ quản ở đâu? Và dựa vào đâu mà đường dây phá rừng này tồn tại từ nhiều năm nhưng không bị phát hiện?
Điều đáng nói hơn là với một đường dây phá rừng khép kín từ khai thác, ngụy trang, tiêu thụ có tính chất nghiêm trọng đến thế, nhưng khi trao đổi với lãnh đạo ngành Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, PV chỉ nhận được câu trả lời: “Tùy từng nơi, từng lúc việc khai thác lâm sản trái phép tại địa phận chúng tôi quản lý vẫn có xảy ra. Vụ việc như phóng viên phát hiện, chúng tôi sẽ cho kiểm tra”, ông Phạm Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam nói.
Người dân phát hiện, phóng viên phát hiện, vậy không hà cớ gì các cấp ngành hữu quan không biết việc khai thác gỗ lậu ngay trên địa bàn mình quản lý? Ngay cả với việc cấp phép chế biến gỗ cho công ty Thanh Nhàn hoạt ngay giữa rừng, sát bên đường Hồ Chí Minh cũng đặt cho dư luận một câu hỏi lớn? Đây là mấu chốt của mọi vấn đề mà các cấp ngành liên quan tỉnh Quảng Nam cần điều tra, xử lý. (VTV Đà Nẵng 14/11) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Bình Phước, từ đầu năm đến nay, tổng số vụ rừng thiệt hại của cả tỉnh đã phát hiện được là 58 vụ, mục đích phá rừng là để chiếm đất trồng các loại cây nông nghiệp và các loài cây điều, cao su.
Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 60,762 ha rừng tự nhiên. So với cùng kỳ năm 2012, giảm 20 vụ nhưng diện tích rừng thiệt hại tăng 24,446 ha. (Sở NN&PTNT Bình Phước 14/11) đầu trang(
Để xây dựng Thủy lợi Tả Trạch (TX Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế), 10 năm trước, nhiều hộ dân khu vực lòng hồ đã bàn giao nhà đất hương hỏa, ruộng vườn... Nhưng đến nay, họ vẫn chưa được bồi thường như lời hứa “đất đổi đất” của cơ quan chức năng, để rồi từ vị trí chủ rừng, họ đang phải đi làm thuê kiếm sống.
Để xây dựng dự án hồ chứa nước Thủy lợi Tả Trạch, 855 hộ dân ở 3 thôn Hòa Bình, Hòa Thành, Bình Dương (xã Bình Thành, TX Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) nằm trong khu vực lòng hồ phải chuyển đến 7 khu tái định cư. Năm 2002, công tác kiểm kê, áp giá đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng 7 khu tái định cư cho các hộ dân nói trên đã được triển khai.
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn chế, để đẩy nhanh tiến độ triển khai công trình, tỉnh Thừa Thiên - Huế có chủ trương chỉ đền bù đất ở, đất nông nghiệp và tài sản trên đất. Còn đối với 1.012,5144ha đất lâm nghiệp của người dân bị thu hồi sẽ thực hiện “đất đổi đất” bằng việc sẽ thu hồi đất lâm nghiệp của các lâm trường, các tổ chức để giao lại cho các hộ dân này.
Nhưng đã 10 năm trôi qua, người dân khu tái định cư vẫn mòn mỏi chờ đợi lời hứa “đất đổi đất”. Ông Trương Văn Huy - Trưởng thôn tái định cư Khe Sòng cho biết, khi còn nơi ở cũ, bình quân mỗi hộ dân có từ 7 sào đất vườn trở lên, còn đất rừng thì có hộ có cả 20ha, hộ ít cũng được một vài ha. Nay đến nơi ở mới, đất sản xuất không có, đất vườn cũng không nhiều. “Ở vùng đồi núi này, không có đất rừng thì lấy chi mà sống...”, ông Huy than thở.
Theo ông Nguyễn Chua, - Trưởng thôn Hòa Bình, đến nay, trung bình mỗi hộ dân chỉ được cấp 5 - 6 sào đất, gồm cả đất ở và đất vườn, nhưng đất vườn chất đất xấu nên rất khó trồng, cấy. “Chúng tôi mong có đất lâm nghiệp để sản xuất, với người dân nơi đây, không có đất rừng tức là thất nghiệp, chúng tôi đã thất nghiệp 10 năm nay rồi”, ông Nguyễn Chua bức xúc.
Theo ông Trần Minh (thôn Hòa Bình), do không có đất sản xuất, nên sau khi đến nơi tái định cư, các hộ dân đành đi làm thuê cho các chủ rừng. Công việc làm thuê cũng bấp bênh, mỗi năm làm thuê có vài tháng, mỗi tháng cũng chỉ được 10 - 15 ngày. “Đang từ chủ rừng thành người làm thuê... Đã cực, người dân tái định cư nay còn cực hơn khi phải làm những công việc như: Phát rừng, cưa cắt, thu hoạch cây, bốc vác cây keo… không chỉ tốn sức, mà còn thường xảy ra tai nạn lao động”, ông Minh nói.
Vợ chồng ông Nguyễn Văn Hùng (54 tuổi) và bà Võ Thị Thu (55 tuổi) ở thôn tái định cư Khe Sòng cho biết, khi còn ở nơi ở cũ đất đai rộng, ông bà trồng rừng, trồng hoa màu… không hết việc. Nhưng đến khu tái định cư, thiếu đất sản xuất, ông bà phải đi làm thuê cho các chủ rừng, công việc làm thuê theo mùa vụ, còn lại là… ở nhà ngồi chơi, hoặc bươn chải đi làm thuê ở nơi xa…
Ông Nguyễn Văn Thương - Trưởng thôn tái định cư Bồ Hòn kể: “Về khu tái định cư, nhà nào cũng có con, cháu, chắt ở chung vì không có đất làm nhà. Ở nơi ở cũ, riêng việc trồng cây lồ ô chúng tôi đã làm không hết việc. Bây giờ về đây kinh tế giảm sút 70%, cuộc sống khó khăn do phải phụ thuộc vào việc làm thuê. Nơi ở cũ trước đây, đồ ăn uống chúng tôi tự làm ra hết, còn ở đây làm thuê ngày được 150.000 đồng cho 9 người ăn, rồi tiền cho con, cháu đi học, trăm thứ cần mua mà không có tiền”, ông Thương than vãn. (Giao Thông Vận Tải 15/11) đầu trang(
Ngày 14/11, Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho biết, đơn vị vừa phát hiện và thu giữ hơn 10m3 gỗ khai thác trái phép trên địa bàn.
Trước đó, từ nguồn tin báo của người dân, Kiểm lâm Hướng Hóa đã tiến hành kiểm tra và phát hiện 3,6m3 gỗ được cưa thành phách tại rừng thuộc thôn Ho Le, xã Húc. Cũng từ tin báo của người dân, Kiểm lâm huyện này đã phát hiện ở thôn Cợp, xã Hướng Lập hơn 7m3 gỗ quy tròn.
Từ đầu năm 2013 đến nay, tại huyện Hướng Hóa đã phát hiện 74 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu hơn 120m3 gỗ các loại. Các vụ khai thác gỗ trái phép đều do người dân phát hiện, báo cơ quan chức năng. (Công An Nhân Dân 15/11; Thanh Niên 14/11; Lao Động 15/11; Tin Tức 15/11) đầu trang(
Công an tỉnh Bắc Ninh cho biết, đang tích cực phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ của Cục Cảnh sát môi trường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh điều tra, làm rõ vụ vận chuyển khoảng 30 tấn gỗ trắc qua địa bàn tỉnh vừa bị bắt giữ.
Theo đó, ngày 9.11, lực lượng chức năng thuộc Cục Cảnh sát môi trường (Bộ Công an) phối hợp với các lực lượng của tỉnh Bắc Ninh thực hiện tuần tra kiểm soát trên tuyến quốc lộ 1A, đoạn qua tỉnh Bắc Ninh. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện xe tải 34C-03196 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng kiểm tra.
Qua kiểm tra sơ bộ, cơ quan chức năng phát hiện chiếc xe nói trên chở gỗ trắc với số lượng lớn nhưng không có giấy tờ hợp lệ. Ngay sau đó, lực lượng chức năng đã lập biên bản tạm giữ và chuyển về Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh.
Một đại diện Chi cục Kiểm lâm cho biết, số gỗ trắc trên xe ước lượng khoảng 30 tấn, toàn bộ là gỗ trắc chưa qua sơ chế. Lái xe khai nhận vận chuyển sang Trung Quốc để tiêu thụ.
Ngoài ra, theo một nguồn tin riêng, cũng trong đêm 9.11, tại thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, lực lượng chức năng cũng phát hiện và bắt giữ một xe tải vận chuyển khoảng 30 tấn gỗ trắc.
Được biết, trung bình mỗi kilôgram gỗ trắc có giá từ 300.000-1.000.000 đồng. Hiện lực lượng chức năng đang tiến hành kiểm đếm, làm rõ nguồn gốc và xác định những người liên quan để phục vụ công tác điều tra. (Lao Động 14/11) đầu trang(
Ngày 14.11, Công an TP.Vinh, Nghệ An cho biết liên quan đến vụ cán bộ, nhân viên thi hành án lấy trộm ngà voi, cơ quan CSĐT đã bắt khẩn cấp thêm Phạm Huy Minh (39 tuổi, chấp hành viên Cục Thi hành án Nghệ An) để điều tra.
Như đã đưa tin, năm 2012, TAND TP.Vinh xét xử vụ buôn bán ngà voi, tuyên tịch thu 209,4 kg ngà voi để sung công quỹ. Trong khi số ngà voi này đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án TP.Vinh để chờ đấu giá thì đêm 9.10 vừa qua, hơn 100 kg ngà voi (trị giá khoảng 4,5 tỉ đồng) bỗng dưng biến mất.
Qua điều tra, Công an TP.Vinh bắt giữ và khởi tố 3 nghi can thuộc cơ quan Chi cục Thi hành án TP.Vinh gồm Đinh Thị Trà Giang (32 tuổi, thủ quỹ kiêm thủ kho), Đặng Ngọc Thế (33 tuổi, nhân viên) và Tạ Đức Anh (36 tuổi, bảo vệ cơ quan). (Thanh Niên 15/11; Giáo Dục VN 15/11; Vnexpress.net 15/11) đầu trang(
Với diện tích hơn 29.500ha, rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng (trên địa bàn 2 huyện Tân Châu, Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh), có ý nghĩa quan trọng về sinh thái, môi trường cho các địa phương Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM... Thế nhưng, diện tích rừng đang giảm từng ngày do người dân vào xâm lấn, “khai hoang” làm rẫy.
PV vào chốt bảo vệ rừng mới lập, đối diện con đường rừng dẫn vào tiểu khu 48, đề nghị được đi cùng anh em tuần tra rừng, anh bảo vệ rừng Phùng Văn Mết lắc đầu: “Đi hiên ngang thế này làm sao thấy lâm tặc? Các anh đặt chân đến cửa rừng là có người biết rồi”.
Nhưng rồi anh Mết và anh Lý Minh Hiệp, nhân viên hạt kiểm lâm Tân Châu (tăng cường cho chốt) vẫn lên xe đưa PV đi. Vào đến tiểu khu 43, thấy những mảng rẫy mì xanh mướt giữa rừng. Có những rẫy rộng trên dưới 2 ha. Cạnh một căn chòi tạm là chiếc máy cày, bánh xe còn ướt đất, ít phút trước nó còn hung hãn gầm rú cày xới, giờ đã nằm im lìm và đơn độc như một đống sắt, không thấy chủ nhân nó đâu. Rải rác quanh rẫy mì là những thân cây bị đốn đã khô nằm ngổn ngang.
Trong các tiểu khu 37, 44, 47, 48, 49, 522, tình trạng diễn ra tương tự. Nhiều khoảnh rừng vừa được dọn sạch để trồng mì. Điều lạ là dù dấu vết cày xới còn mới tinh, nhưng khi PV đến, không thấy một bóng người.
Theo anh Mết, những rẫy mì, ruộng lúa “khai hoang” giữa rừng phòng hộ đều là của người dân tộc Khmer. “Khó khăn rất lớn là trong rừng có nhiều rẫy cũ của người dân. Họ vào canh tác rồi “lấn” dần vào rừng bằng cách khoanh vỏ cây, rong nhánh, làm cây chết dần. Khi cây chết khô, họ mới đốn hạ, bứng gốc, san bằng, xóa dấu tích và trồng mì lan ra. Khi có cơ hội, họ lại “khai hoang” rẫy mới, có nhiều khoảnh họ lấn mới, diện tích rộng tới hơn 1ha.
Do tập quán du canh du cư lâu đời của người dân tộc, có những người đã làm rẫy ở đây trước khi thành lập rừng phòng hộ (năm 1986), nên các ngành chức năng huyện Tân Châu khó xử lý dứt điểm các vụ lấn chiếm đất rừng”, anh Mết nói.
Nói về những khó khăn của lực lượng bảo vệ rừng, anh Mết cho biết, để xử lý được các vụ phá rừng, phải bắt quả tang. Nhưng lâm tặc rất đông, mỗi lần họ vào rừng, đều cắt cử người theo dõi các chốt bảo vệ, mọi hoạt động trong chốt không qua được “tai mắt” của chúng.
“Để đến được chỗ lâm tặc đang xâm lấn rừng mà không bị phát hiện, anh em bảo vệ phải đi đường vòng, đường tắt, đi những đường đất nhỏ, lầy lội. Thậm chí vạch lá xuyên rừng đi chứ chẳng có đường. Vậy mà vẫn không giữ bí mật được. Nhiều khi, đi nửa đường phải khiêng xe trở ra vì “dính” bẫy đinh. Hoặc đã vào được tới rẫy, bắt quả tang được một số đối tượng, lúc quay ra thì vỏ xe, ruột xe đã bị cắt tan nát.
Có lần, xe của anh em bảo vệ “tự nhiên” bốc cháy. Cũng có khi lâm tặc quá đông, lên đến vài chục người, lăm lăm dao rựa, cuốc trong tay, 2 anh bảo vệ đành quay lại để “bảo toàn lực lượng” và nhờ hỗ trợ. Nhưng khi lực lượng hỗ trợ vào tới nơi thì tất cả đã rút hết”, anh Mết kể.
Lực lượng bảo vệ khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng này có Hạt kiểm lâm của rừng phòng hộ, Hạt kiểm lâm Tân Châu và lực lượng bảo vệ rừng. Vậy nhưng, diện tích bị lấn chiếm vẫn cứ loang rộng dần. Từ đầu năm đến nay, đã có 106 vụ lấn chiếm đất rừng với diện tích trên 61ha. Đến nay, tổng diện tích bị lấn chiếm đã lên tới hơn 230 ha (số liệu báo cáo của BQL rừng).
Ông Nguyễn Văn Liêm, trưởng ấp Con Trăn (xã Tân Hòa, huyện Tân Châu) cho biết: “Hơn 90% trong tổng số 134 hộ người Khmer của ấp có truyền thống làm rẫy trái phép trong rừng. Xã, ấp đã đến từng nhà vận động bà con không phá rừng, tuyên truyền trên loa phát thanh hàng ngày, nhưng không ăn thua. Họ thường rủ nhau đi làm đổi công, một lực lượng hùng hậu vài chục người, trong một đêm đã xử lý xong 1ha rừng!”.
Theo ông Liêm, người dân địa phương trước giờ sống dựa vào rừng, nên nếu xử lý mạnh tay, chưa biết sẽ ổn định cuộc sống của họ như thế nào. Đó là chưa kể, có muốn ngăn chặn cũng không được, vì họ rất đông, trong khi ở xã Tân Hòa chỉ có 4 chốt bảo vệ rừng, lực lượng lại quá mỏng (mỗi chốt có từ 4 đến 10 nhân viên). Lực lượng kiểm lâm được tăng cường cho các chốt để tuần tra, bảo vệ cũng chỉ 1 đến 2 người/chốt, không thể kiểm soát nổi số người vào rừng hàng ngày.
Được biết, mỗi nhân viên bảo vệ rừng quản lý hàng chục ha rừng, trong khi đó, công khoán bảo vệ rừng chỉ… 200.000 đồng/ha/năm. Thu nhập quá thấp, địa bàn rộng, lại không có công cụ hỗ trợ, đội bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn khi làm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, rừng tự nhiên và rừng trồng đan xen kiểu da beo, nên không thể cấm người dân vào rừng. Đây chính là trở ngại lớn nhất đối với lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng.
Năm 2011, tỉnh Tây Ninh chủ trương giao cho các hộ Khmer trồng rừng, để giải quyết việc làm và vận động họ không phá rừng. Nhưng, nhiều hộ dân sau khi hợp đồng trồng rừng đã không giữ mà khai phá lấy đất trống trồng khoai mì, cao su. Nhiều người khác cũng theo vào rừng để chặt cây, lấn chiếm đất. Nhưng hễ bảo vệ rừng đi tuần tra, họ lại tản đi hoặc “tạm trú” ở các khu rừng trồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/11) đầu trang(
Đó là sự việc xảy ra ở Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa và Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa, khi hai đơn vị này dùng hàng chục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thẻ đỏ) để “chạy vốn” bảo vệ và trồng rừng. Đến khi cơ quan chức năng phá vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở tỉnh Thái Bình thì sự việc động trời này mới “lộ sáng”.
Từ tháng 6-2011, qua sự giới thiệu của một vị nguyên là cán bộ lãnh đạo huyện Minh Hóa, ông Đinh Văn Đối, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa đã tiếp cận với bà Lê Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH trồng rừng Hưng Thịnh (có địa chỉ ở thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa), để được tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ tham gia dự án bảo vệ và trồng rừng.
Ông Đinh Văn Đối cho biết, để có hồ sơ tham gia dự án, chúng tôi phải chuẩn bị 23 bộ hồ sơ bao gồm thủ tục pháp lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa (bản photo copy có công chứng); 33 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (là bản gốc). Đến ngày 18-6-2011, ông Đinh Văn Đối đã ra Hà Nội để gặp bà Lê Thị Hương và một người đàn ông-tên là Phạm Khắc Vỹ-được giới thiệu là người của Ban quản lý dự án đến để tiếp nhận hồ sơ của Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa.
Theo đó, ông Phạm Khắc Vỹ đã yêu cầu ông Đinh Văn Đối giao toàn bộ giấy tờ, hồ sơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gồm 33 thẻ đỏ) để Ban quản lý dự án đối chiếu, kiểm tra, và hứa sau khi kiểm tra xong sẽ trả cho đơn vị. Đến ngày 20-6-2011, ông Phạm Khắc Vỹ đến gặp ông Đinh Văn Đối và trao một quyết định về việc tiếp nhận hồ sơ xin tham gia dự án của Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa.
Tại buổi làm việc này, ông Đối có xin lại 33 thẻ đỏ nhưng ông Vỹ nói là chưa đối chiếu xong, phải chờ thêm một thời gian nữa. Lúc này, bà Hương nói với ông Đinh Văn Đối là thời gian thẩm định còn lâu nên khuyên về cơ quan chờ giải quyết.
Ngày 26-11-2011, ông Đinh Văn Đối lại được bà Lê Thị Hương yêu cầu ra Hà Nội để hoàn thiện hồ sơ dự án. Sau khi ra Hà Nội, ông Đinh Văn Đối được bà Lê Thị Hương giới thiệu gặp ông Nguyễn Viết Quý, Giám đốc Công ty CP đầu tư phát triển lâm nghiệp Quý Nhân (có địa chỉ tại TP Vinh, Nghệ An).
Khi gặp ông Nguyễn Viết Qúy, ông Đinh Văn Đối tiếp tục ký các hồ sơ, thủ tục xin vốn của dự án (theo yêu cầu của ông Quý), ngoài ra còn ký thêm 3 văn bản với Công ty CP đầu tư phát triển lâm nghiệp Quý Nhân, bao gồm: giấy ủy quyền về việc khai thác và tiếp nhận nguồn vốn; hợp đồng giao việc và cam kết thỏa thuận; cam kết tự nguyện trích thưởng không hủy ngang. Khi ký xong các hồ sơ trên, ông Đinh Văn Đối có đề nghị được trả lại thẻ đỏ, nhưng ông Qúy nói rằng, sau khi giải ngân đợt đầu sẽ trả lại hồ sơ gốc cho đơn vị.
Nhận thấy việc tiếp nhận, giải ngân dự án kéo dài nên ông Đinh Văn Đối đã nhiều lần điện thoại cho ông Nguyễn Viết Qúy để yêu cầu trả lại hồ sơ, thẻ đỏ cho Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa nhưng ông Quý đều trì hoãn với nhiều lý do khác nhau. Đến ngày 29-8-2013, ông Đinh Văn Đối mới tá hỏa khi biết 33 thẻ đỏ của Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa với diện tích 19.052.219ha lại xuất hiện tại nơi ở của Vũ Thị Mùa (tức Minh), là bị can cùng với Nông Xuân Hùng liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại tỉnh Thái Bình?
Theo hợp đồng giữa Ban quản lý phòng hộ Minh Hóa với Công ty CP đầu tư phát triển lâm nghiệp Quý Nhân, thì nguồn vốn mà Công ty này xin về cho Ban quản lý dự kiến từ 20-30 triệu đồng/ha. Đồng thời khi Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa ký nhận nguồn vốn nói trên phải cam kết tự nguyện trích lại cho Công ty CP đầu tư phát triển lâm nghiệp Qúy Nhân một khoản chi phí là 5 triệu đồng/ha.
Ông Đinh Văn Đối cũng không biết chính xác vốn đầu tư trồng và chăm sóc bảo vệ rừng này có nguồn gốc từ đâu, và cũng không kiểm chứng tư cách pháp nhân của các cá nhân và đơn vị liên quan trong vụ việc này. Điều đáng nói, là trong khi việc “chạy vốn” tuy chưa có kết quả nhưng ngày 18-6-2011, bà Lê Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH trồng rừng Hưng Thịnh đã có tờ trình gửi UBND huyện Minh Hóa đề nghị hỗ trợ nguồn kinh phí sau khi Công ty này xin được nguồn vốn về cho Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa ?!.
Tương tự như sự việc xảy ra ở Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa, tại huyện Tuyên Hóa, ông Nguyễn Hoài Nam, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa cũng đã nghe theo những lời đường mật để mang 32 thẻ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất) với tổng diện tích 26.703ha giao cho bà Trần Thị Trường (trú ở phường Nam Lý, TP. Đồng Hới) để xin vốn. Tuy nhiên, điều đáng nghi vấn là 32 thẻ đỏ của Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa cũng nằm trong tay của hai kẻ lừa đảo chiếm đoạt tài sản là Nông Xuân Hùng và Vũ Thị Mùa.
Trong báo cáo gửi UBND huyện Tuyên Hóa, ông Nguyễn Hoài Nam đã nói rõ người nhận hồ sơ của đơn vị là bà Trần Thị Trường và một người đàn ông tên Thùy. Và qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, năm 2011, hai người này đã từng liên quan đến việc “chạy vốn” cho Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. (Báo Quảng Bình 15/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã xử phạt hành chính gần 100 vụ buôn bán, cất giấu lâm sản, tịch thu gần 130m3 gỗ các loại. Trong đó nổi cộm là tình trạng vận chuyển gỗ nghiến dạng thớt.
Điển hình như vụ lái xe Hoàng Ngọc Tỉnh, cư trú tại Vũ Hòa, Vũ Thư, Thái Bình vận chuyển 380 chiếc thớt gỗ nghiến; vụ Hoàng Ngọc Thiết và Nguyễn Văn Thái, cư trú tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An vận chuyển hơn 690 chiếc thớt gỗ nghiến.
Để làm tốt công tác bảo vệ rừng, cùng với tăng cường kiểm tra việc phòng, chống cháy rừng, huyện Mộc Châu đẩy mạnh kiểm tra, truy quét các tụ điểm khai thác, cất giấu, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Đào Mạnh Phong, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu cho biết: "Nhiều trường hợp vận chuyển ở ngoài huyện đi qua bị kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Hơn nữa là nhân dân khai thác gỗ về làm nhà không có giấy phép. Hạt Kiểm lâm Mộc Châu đã tham mưu với Ủy ban huyện đẩy cao việc quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn. Đặc biệt là lực lượng kiểm lâm phối hợp với Công an, dân quân tự vệ, cơ quan quân sự để tổ chức kiểm tra, ngăn chặn". (VOV 15/11) đầu trang(
Thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện sông Hinh (Phú Yên) cho biết: Ngày 12/11, sau nhiều giờ mật phục, bằng các biện pháp nghiệp vụ và kiên quyết, đơn vị phối hợp với các lực lượng chức năng xã Ea Lâm (Sông Hinh) đã chặn bắt được xe ô tô chở gỗ lậu khi xe này vừa đến địa phận của xã.
Trước đó, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 12/11, lực lượng Công an và Xã đội xã EaLâm (Sông Hinh) đã mai phục bắt quả tang xe ô tô tải vận chuyển gần 5,5m3 gỗ lậu thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIA từ Gia Lai về Phú Yên. Mặc dù bị mai phục, khống chế đột ngột nhưng tài xế vẫn nhanh chân tẩu thoát khỏi hiện trường bỏ lại toàn bộ số gỗ trên cùng ô tô.
Hiện chủ phương tiện, chủng loại và số lượng gỗ đang được điều tra làm rõ danh tính và bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý
Được biết, các huyện giáp biên giới Gia Lai hiện đang là điểm nóng tập trung gỗ lậu và của nhiều đối tượng lâm tặc. Vì thế tình trạng các đối tượng này vận chuyển gỗ đi miền xuôi tiêu thụ ngày càng phức tạp. Vào cuối tháng 10/2013 vừa qua, các ngành chức năng của xã EaLâm cũng đã bắt giữ vụ vận chuyển 189 khúc gỗ xẻ nhóm I quý hiếm (gần 3,5m3) trái phép từ Gia Lai về Phú Yên. (Đời Sống&Pháp Luật 15/11) đầu trang(
Ngày 13/11, nguồn tin từ UBND huyện vùng cao Quan Hóa (Thanh Hóa) cho biết, từ đầu tháng 11 đến nay, Chi cục bảo vệ môi trường (thuộc Sở Tài nguyên- môi trường) phối hợp với phòng chức năng của huyện đã kiểm tra năm cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện, phát hiện các cơ sở này gây ô nhiễm môi trường.
Các cơ sở chế biến lâm sản từ tre, luồng, sản phẩm phụ sau gỗ (chủ yếu sản xuất đũa ăn dùng một lần, tăm, chân nhang, bột giấy) gồm: Công ty TNHH thương mại vận tải Hoàn Vân, Hợp tác xã Xuân Dương (đều ở xã Hồi Xuân); Hợp tác xã Hợp Phát, Hợp tác xã Sông Mã, Hợp tác xã Hà Long (đều xã Xuân Phú, huyện Quan Hóa).
Qua kiểm tra của ngành chức năng tại các cơ sở chế biến nêu trên đều cho thấy nước rò rỉ từ các bể ngâm kiềm lạnh, nước thải bốc mùi hôi thối được dẫn theo mương thoát nước, thải trực tiếp ra sông Mã. Các cơ sở này chưa xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thu gom, xử lý nước thải sản xuất, nên liên tục chảy ra sông Mã.
Kết quả phân tích chất lượng nước thải ra môi trường tại các cơ sở nêu trên vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần. Bên cạnh đó, các cơ sở trên đều chưa có giấy phép khai thác nước mặt theo quy định. Các cơ sở này còn đổ chất thải rắn trong quá trình chế biến lâm sản bên bờ sông Mã như: tro xỉ lò đốt cấp hơi, mùn cưa, rác luồng, rác thải sinh hoạt; vỏ bao chứa xút, vỏ bao chứa lưu huỳnh rất nguy hại cho môi trường…
Ông Trịnh Đức Du- trưởng Phòng Tài nguyên- môi trường huyện Quan Hóa cho biết thêm, đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường đối với năm cơ sở chế biến lâm sản nêu trên, với các hành vi: thực hiện không đầy đủ các nội dung theo bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận; xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép nhiều lần ra môi trường. Bên cạnh đó, ngành chức năng đã xử phạt năm cơ sở chế biến lâm sản nêu trên từ 10- 50 triệu đồng. (Tuổi Trẻ 14/11) đầu trang(
Đó là nhận định của ông Phạm Hữu Trí, Phó Giám đốc Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu trong công văn ngày 6/11/2013 vừa qua phản hồi loạt bài “Tan hoang rừng Xuyên Mộc” đăng trên Báo Nông Nghiệp Việt Nam vừa qua.
Nội dung loạt bài nói trên phản ánh tình trạng phá rừng phòng hộ, rừng bảo tồn trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Rừng phòng hộ tại khu vực núi Bể, núi Mây Tàu, núi Chữ Thập (khu vực này giáp ranh giữa ba tỉnh BR-VT, Bình Thuận và Đồng Nai), gần như bị cạo trắng.
Còn rừng trong Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu, lâm tặc (90% là người dân địa phương) cũng đang ngày đêm vào chặt phá. Mặc dù, lực lượng bảo vệ rừng đã cố gắng, nỗ lực hết mình, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan, tình trạng trên vẫn không thuyên giảm bao nhiêu.
Ngoài việc cám ơn Báo Nông Nghiệp Việt Nam đã có bài viết phản ánh kịp thời tình trạng phá rừng đang diễn ra nhức nhối như bài viết nêu, Công văn phản hồi của Ban quản lý Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu cũng nêu rõ: “Ban quản lý Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu nhìn nhận tệ nạn phá rừng vẫn đang nhức nhối và cam go, trên phạm vi rộng.
Các khu vực diễn ra tình trạng phá rừng mà báo nêu có một phần liên quan đến nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng của Ban quản lý Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu. Chúng tôi coi đó là một cảnh tỉnh đối với người làm nhiệm vụ giữ rừng...”. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/11) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngày 13/11, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry treo thưởng 1 triệu USD để giúp phá đường dây săn bắn động vật quý hiếm như voi và tê giác để lấy sừng và ngà hoạt động xuyên lục địa.
Đây là lần đầu tiên Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra giải thưởng nhắm vào mạng lưới Xaysavang tại Lào nhưng hoạt động xuyên suốt từ các nước Nam Phi, Mozambique đến Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Trung Quốc.
Theo ngoại trưởng Mỹ, các vụ bắt giữ gần đây đã giúp truy theo dấu mạng lưới này. Xaysavang bị cáo buộc giết các động vật có nguy cơ tuyệt chủng như voi, tê giác và các loài khác.
“Các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia tinh vi trong buôn lậu động vật hoang dã góp phần cổ xúy tham nhũng, đe dọa luật pháp và an ninh biên giới” - AFP dẫn tuyên bố của Ngoại trưởng Kerry. Ngoài ra, săn bắn trộm cũng ảnh hưởng đến các cộng đồng phụ thuộc vào sự đa dạng sinh học và du lịch sinh thái.
Ông ước tính lợi nhuận từ buôn bán động vật hoang dã trái phép lên đến 8 hoặc 10 tỉ USD mỗi năm và thường liên quan đến các hoạt động phi pháp khác như buôn ma túy, vũ khí và buôn người.
Sự lớn mạnh của thị trường đen tiêu thụ sừng tê giác và ngà voi ở châu Á đang góp phần làm bùng nổ nạn săn bắn trộm ở châu Phi. Chính quyền đảo Zanzibar hôm 13-11 cho biết họ vừa thu giữ hàng tấn ngà voi giấu trong một thùng container loại 12m. (Tuổi Trẻ 15/11) đầu trang(
Ngày 13/11, một tàu hỏa chở khách đã đâm vào đàn voi đang băng qua đường ray ở miền Đông Ấn Độ, làm chết 7 con.
Đoàn tàu đang chạy với tốc độ 80 km/giờ qua khu rừng Chapramari thì đâm phải đàn voi khoảng 40 con.
Các nhân chứng cho biết, sau tai nạn, đàn voi tản đi nhưng sau đó quay lại đường ray và đứng cho đến khi kiểm lâm cùng công nhân đường sắt lùa chúng đi.
Lâm nghiệp bang Tây Bengal, cho biết trong số 7 con voi bị tông chết có 2 con voi con. 10 con khác trong đàn bị thương nặng và có khả năng mất mạng. Đây là vụ tai nạn làm chết voi rừng tồi tệ nhất trong thời gian gần đây.
Ông Burman từng yêu cầu cơ quan đường sắt phải giảm tốc độ của tàu hỏa khi đi qua khu vực có nhiều đàn voi sinh sống thuộc huyện Jalpaiguri, cách thủ phủ Kolkata của bang 670 km. Tuy nhiên, đơn vị này phớt lờ đề nghị trên.
"Thật là mỉa mai khi voi bị tàu hỏa tông chết ở Bengal bởi lẽ nó được công nhận là di sản động vật ở Ấn Độ. Thậm chí, ngành đường sắt Ấn Độ còn lấy voi con làm linh vật" - ông Animesh Basu, điều phối viên của Quỹ bảo vệ thiên nhiên Himalaya, châm biếm.
Hàng chục con voi đã chết trong những năm gần đây do bị tàu hỏa đâm phải ở các khu rừng và vườn quốc gia Ấn Độ. Trong tháng 12-2012, bang Orissa ghi nhận một trường hợp 5 con voi bị tông chết. Còn tại Bengal, ít nhất 50 con voi đã chết trong các vụ tai nạn thảm khốc từ năm 2004 đến nay.
Hiện nay, số lượng voi hoang dã của Ấn Độ ước tính vào khoảng 26.000 con. (Sài Gòn Giải Phóng 15/11) đầu trang(
Đó là hình ảnh một con tê giác đen quý hiếm bị treo lộn ngược để vận chuyển bằng trực thăng tới khu bảo tồn mới để được chăm sóc tốt hơn.
Con tê giác đen này là cá thể mới nhất trong số khoảng 140 con vật đã được vận chuyển tới khu bảo tồn mới theo Dự án mở rộng phạm vi sinh sống cho tê giác đen của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF).
Dự án di dời này được thực hiện tại khu vực KwaZulu-Natal ở phía Đông Nam Phi. Nó diễn ra ​​chỉ vài ngày sau khi tê giác đen phương Tây, một phân loài của tê giác đen, đã chính thức tuyên bố tuyệt chủng.
Con tê giác đen quý hiếm được vận chuyển bằng máy bay trực thăng tới khu bảo tồn KwaZulu- Natal, Nam Phi để bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn trộm. Các chuyên gia của WWF tiêm thuốc gây mê và bịt mặt con tê giác đen trước khi buộc chân chúng lại để vận chuyển bằng trực thăng.
Trong khi nhiều người cho rằng cách vận chuyển bằng máy bay trông có vẻ đáng lo ngại nhưng nó lại được coi là an toàn hơn so với vận chuyển bằng xe tải. Phương pháp vận chuyển đường hàng không tốn ít thời gian gây mê hơn, không gây hại cho con vật.
Lãnh đạo dự án - Tiến sĩ Jacques Flamand nói: "Chúng tôi không lựa chọn cách vận chuyển tê giác bằng xe tải bởi hình thức này nguy hiểm hơn các di dời bằng trực thăng".
“Là một bác sĩ thú y, tôi thấy phương pháp vận chuyển bằng trực thăng là an toàn hơn cả bởi nó rất nhanh chóng và vô hại cho tê giác. Đó cũng chính là mối quan tâm đặc biệt của chúng tôi trong dự án này”, tiến sí Flamand cho biết. “Những con tê giác sẽ lại ăn cỏ ngay sau khi thả từ trực thăng - một dấu hiệu đảm bảo rằng chúng đã không gặp sự cố nào".
Trước khi những con tê giác được thả tại khu bảo tồn mới, chúng được cưa bỏ sừng. Hành động này của WWF nhằm loại bỏ nguy cơ tê giác đen bị sát hại để cắt lấy sừng của những kẻ săn trộm.
Trong những năm 1960, ước tính có khoảng 65.000 con tê giác đen đã được tìm thấy trên khắp châu Phi. Tuy nhiên, những kẻ săn trộm đã tàn số vô số những con tê giác đen này và chỉ còn lại khoảng 2.000 con vào đầu những năm 1990.
Mục tiêu của dự án vận chuyển tê giác đen tới khu bảo mới là nhằm làm tăng gấp đôi (ước tính khoảng 4.000 con) so với con số những con vật này còn sống sót (2.000 con sống sót vào đầu những năm 1990).
Đến nay, hơn 40 con tê giác đen được sinh ra trên các khu bảo tồn mới theo dự án của WWF. (Nông Thôn Ngày Nay 14/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa