|
Ngày 14 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Pỏm Om xưa nay là khu rừng thiêng được cộng đồng người Thái ở xã Hạnh Dịch (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) ra sức gìn giữ rất cẩn thận. Vậy mà bây giờ, khu rừng thiêng ấy có nguy cơ bị xóa sổ. Nguồn sống, tâm linh của đổng bào cũng sẽ mất theo?
Bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch có 71 hộ. Người Thái vốn dĩ rất coi trọng rừng, và ở đây cũng vậy. Tổ tiên của người Thái ở Pỏm Om từng có những lời nguyền về khu rừng nằm dưới chân núi Nhoi Hốc. Bất cứ ai xâm phạm đến rừng thiêng Pỏm Om sẽ bị thần linh trên rừng trừng phạt. Đời này qua đời khác đều như vậy.
Cũng có không ít kẻ bất chấp, lén lút lên rừng chặt cây, bẫy thú, nhưng cuối cùng đều phải gánh chịu hậu quả. Bí thư chi bộ Pỏm Om Lô Cẩm Xuyên và trưởng bản Vi Văn Phượng đều xác nhận rằng: Lời nguyền ở rừng thiêng Pỏm Om chưa bao giờ mất linh ứng cả.
Rừng thiêng cũng hào phóng, ban nguồn sống cho dân bản. Từ những gánh măng rừng đến từng cây thảo dược để người dân mang đi đổi gạo. Cũng chính tại ngọn núi Nhoi Hốc, từng mạch nuớc ngầm chảy xuống khe suối cung cấp nước sạch cho các bản làng lân cận.
Người ta từng ca ngợi rằng, khi nạn phá rừng đang hoành hành ở miền Tây xứ Nghệ, nhiều cánh rừng đã “cơ bản phá xong” thì Pỏm Om giống như điểm sáng hiếm hoi của ngành lâm nghiệp. Để tuởng thưởng cho bà con dân bản, ngày 19/6/2012, UBND huyện Quế Phong đã giao 426,52 ha đất, thuộc tiểu khu 85 cho cộng đồng Pỏm Om với thời gian sử dụng là 50 năm.
Ngày 30/7/2012, rừng thiêng Pỏm Om cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khó nói hết niềm hân hoan của cộng đồng người Thái ở miền biên viễn này. Dân bản còn đề nghị ban hành một quyển hương ước bao gồm nhiều nội dung giữ gìn và bảo vệ rừng.
Dần dà rừng Pỏm Om trở thành một kho báu thực thụ giữa đại ngàn. Rất nhiều giống thuốc quý hiếm được tìm thấy ở đây. Vậy mà...
Một ngày tháng 5/2013, cả bản Pỏm Om đang nô nức ăn mừng dịp khánh thành nhà văn hóa thì có nguời hốt hải chạy về báo, một nhóm người lạ đưa máy móc vào san ủi rừng thiêng. Dân bản kéo nhau lên kiểm tra thì nhóm nguời kia giới thiệu họ là người của Nông trường Cao su Quế Phong (thuộc Cty CP Đầu tư phát triển cao su Nghệ An) đang “mở rộng diện tích trồng cao su”.
Quá bức xúc, bản Pỏm Om cử người lên nông trường hỏi cho ra nhẽ. Ngày 29/5/2013, trong một cuộc họp giữa các bên liên quan để giải quyết vụ việc, ông Hồ Văn Mười, Giám đốc Nông trường cao su thừa nhận đơn vị này đã lấn vào phần đất rừng của bản Pỏm Om 1,17 ha, đã trồng 280 cây cao su rồi.
Ngay sau đó ông Lang Văn Minh, Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong cũng đã có công văn yêu cầu Nông trường cao su Quế Phong không được tiếp tục san ủi, khai hoang trồng cây lấn sang phần đất đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om... Đối với 280 cây cao su đã trồng trên phần đất lấn sang, phải di dời để trả lại đất cho bản.
Vụ việc tưởng chừng được giải quyết êm đẹp, tuy nhiên, sau một thời gian im ắng, ông Mười tiếp tục xua quân đưa máy ủi lên lấn chiếm rừng Pỏm Om, mở rộng diện tích lên thành 7,6 ha, thể hiện quyết tâm lấn chiếm khu vực rừng thiêng.
Không những thế, người dân còn phát hiện công nhân nông trường sử dụng hóa chất để diệt trừ một số diện tích rừng trồng của dân bản. Ngày 3/6/2014, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An đã kiểm tra và kết luận: Việc trồng, chăm sóc, bảo vệ cây cao su có sử dụng hóa chất có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước là có cơ sở.
Những hành động của Nông trường Cao su Quế Phong khiến Chủ tịch UBND xã Hạnh Dịch, ông Lương Tiến Lê phải thốt lên: "Họ ăn cắp đất rừng của bà con một cách trắng trợn, bất chấp pháp luật. Rừng thiêng không chỉ có giá trị tâm linh mà còn có giá trị phòng hộ đầu nguồn, cung cấp nguồn nước sinh hoạt, nếu họ phun hóa chất thì khác gì đầu độc dân chúng tôi".
Sau khi nhận được báo cáo của xã Hạnh Dịch phản ánh việc Nông trường Cao su Quế Phong tiếp tục ngang nhiên lấn chiếm vào diện tích rừng cộng đồng, ngày 19/2/2014, UBND huyện Quế Phong lại phải có công văn gửi Cty CPĐTPT cao su Nghệ An yêu cầu Nông trường Cao su Quế Phong chấm dứt ngay hành động trên.
Tuy nhiên, thay vì tìm cách khắc phục, phía Cty cao su Nghệ An lại thể hiện nhiều động thái thách thức chính quyền sở tại bằng việc có văn bản do ông Trần Ngọc Thắng, Tổng giám đốc Cty ký, yêu cầu ngược UBND huyện Quế Phong rút lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om.
Cty cao su Nghệ An cho rằng, việc giao đất của UBND huyện Ọuế Phong cho cộng đồng Pản Om là sai qui định, còn việc họ tiếp tục lấn chiếm đất rừng cộng đồng là đúng qui trình?
Cụ thể, trong công văn có đoạn bản “Dự án đầu tư phát triển nông - lâm nghiệp tại huyện Quế Phong giai đoạn 2001 - 2010 được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 3192/QĐ-UBND ngày 14/9/2001 do Tổng đội TNXP7-XDKT (tiền thân của Nông trường Cao su Quế Phong) làm chủ đầu tư. Địa điểm tại xã Hạnh Dịch gồm 5 tiểu khu 78, 81, 82 và 85 với diện tích là 6.136,3 ha”.
Theo văn bản của Cty Cao su Nghệ An, việc để xảy ra tình trạng lấn chiếm, tranh chấp như hiện tại hoàn toàn là do UBND huyện Quế Phong đã cấp sổ đỏ sai quy trình. Tuy nhiên khi tiếp xúc với NNVN, ông Nguyễn Ngọc Lâm, Trưởng phòng TN-MT huyện Quế Phong khẳng định, việc cấp sổ đỏ cho cộng đồng bản Pỏm Om là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật vì diện tích trên không nằm trong quy hoạch trồng cao su của tỉnh Nghệ An.
UBND huyện Quế Phong đã có văn bản rất rõ ràng về vấn đề này, nội dung như sau: “Theo quy hoạch trồng cao su được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 thì trên địa bàn xã Hạnh Dịch chỉ có 48,9 ha tại tiểu khu 82, không quy hoạch trồng cao su tại tiểu khu 85.
Ngoài ra, diện tích đất đai được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch nhưng chưa có Quyết định giao đất cho Cty cao su Nghệ An thuê đất, chưa có quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, chưa có đánh giá tác động môi trường được cấp thẩm quyền phê duyệt. Cty cao su Nghệ An chưa có các điều kiện trên đã tổ chức chỉ đạo và thực hiện trồng cây cao su tại tiểu khu 85, xã Hạnh Dịch là vi phạm pháp luật”.
Trong công văn của UBND huyện Quế Phong cũng nói rằng, họ rất tạo điều kiện cho dự án trồng cây cao su trên địa bàn, nhưng “phải tuân thủ pháp luật”. Việc Nông trường Cao su Quế Phong lấn chiếm rừng cộng đồng, trồng cao su tại tiểu khu 85 thì “huyện Quế Phong chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở, phê bình và tìm biện pháp tháo gỡ khắc phục nhưng nông truờng không tiếp thu”.
Để có thông tin đa chiều, PV đã liên hệ làm việc với lãnh đạo Cty cao su Nghệ An. Họ cũng đã có những giải thích nhưng nội dung hết sức mập mờ.
Cụ thể, theo biên bản ghi chép về cuộc thảo luận việc Nông trường Cao su Quế Phong lấn chiếm rừng cộng đồng ngày 6/3/2014, ông Lê Hữu Huy, Phó Giám đốc Cty cao su Nghệ An có thừa nhận: "Qua phản ánh, chúng tôi đã đi thực tế và đúng là chúng tôi có trồng lấn sang phần đất của Hạnh Dịch".
Tuy nhiên, tại buổi tiếp xúc với PV mới đây, ông Huy lại quay ngoắt trả lời: "Toàn bộ diện tích tại tiểu khu 85 mặc dù không đuợc quy hoạch trồng cây cao su nhưng lại nằm trong phần diện tích Cty cao su Nghệ An được UBND tỉnh Nghệ An cho phép khảo sát".
Như được lập trình sẵn, ông Huy tiếp tục đổ lỗi cho UBND huyện Quế Phong cấp sổ đỏ cho dân bản Pỏm Om sai qui định, trong khi theo PV, qui trình này không có bất cứ vấn đề. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/8, tr15) đầu trang(
13-8, tại TP Đồng Hới, Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt và Chi cục kiểm lâm tỉnh chính thức công bố đã phát hiện loài Sao La qua những bức ảnh chụp được từ năm 2012 và năm 2013 bằng phương pháp bẫy ảnh ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn Động Châu - Khe Nước Trong (Lệ Thủy).
Thông cáo báo chí cho biết; Sao La có tên khoa học là Pseudoryx nghetinhensis, là một loài thú lớn đặc hữu của Việt Nam và Lào, tình trạng bảo tồn rất nguy cấp trên toàn cầu. Trong nỗ lực tìm kiếm các loài động vật quý hiếm ở Khu vực Khe Nước Trong bằng phương pháp bẫy ảnh, hai cá thể Sao La đã được chụp vào hai thời điểm khác nhau của hai năm 2012 và 2013.
Một cá thể Sao La trưởng thành đã được chụp vào ngày 14-7-2012 với 9 kiểu ảnh; một cá thể Sao La khác khoảng chừng hơn một năm tuổi đã được chụp vào ngày 8-6-2013 với duy nhất một kiểu ảnh. Cả hai cá thể đều được chụp vào ban đêm lúc gần 21 giờ tối và gần 2 giờ sáng.
Các nhà khoa học khẳng định, Khe Nước Trong là 1 trong 2 khu vực duy nhất ở Việt Nam đã có sự hiện diện của loài thú cực kỳ quý hiếm trên thế giới (bị đe dọa trên toàn cầu ở mức độ rất nguy cấp). (Sài Gòn Giải Phóng 14/8, tr6) đầu trang(
Dù được xác định là “địa bàn trọng điểm” cần bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng trung bình mỗi năm, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc) vẫn mất hàng chục ha rừng. Trong đó, nguyên nhân không đơn thuần chỉ là do “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ…
Liên tục trong các năm từ 2011 đến nay, tình trạng phá rừng ở Bình Châu - Phước Bửu đã trở thành nỗi nhức nhối của người dân địa phương cũng như chính quyền các cấp. Tính chất nghiêm trọng, sự liều lĩnh của các đối tượng, cùng hậu quả để lại ngày một nặng nề khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm vốn đã vất vả lại càng thêm vất vả.
Năm 2012, chỉ trong một thời gian ngắn, từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5, gần 50 ha rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đã bị chặt phá nghiêm trọng. Hàng trăm m3 gỗ quý bị “làm thịt”. Nhiều cây gỗ có đường kính gần hai người ôm cũng bị đốn hạ, cưa thành từng khúc để vận chuyển ra khỏi rừng. Ngay sau đó, Giám đốc Khu Bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu Võ Văn Sung đã bị xử lý kỷ luật với hình thức cách chức.
Tiếp đó, trong các năm 2013 và những tháng đầu năm 2014, tình trạng phá rừng tại khu vực này vẫn diễn biến phức tạp. Tháng 9-2013, tại khoảnh 5, tiểu khu 24 lâm phần Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, hàng nghìn m2 rừng đã bị tàn phá không thương tiếc. Tháng 1-2014, 1,7 ha rừng cũng đã bị cưa hạ hoàn toàn.
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn địa phương, riêng trong tháng 5-2014 lực lượng kiểm lâm đã tuần tra, phát hiện 26 vụ vi phạm, chặt phá rừng, tập trung chủ yếu ở Bình Châu - Phước Bửu. Nếu tính tổng cả năm tháng đầu năm nay thì số vụ vi phạm đã lên tới 110 vụ, chủ yếu vẫn là khai thác rừng trái phép, phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép…
Qua tìm hiểu, được biết, “lâm tặc” phá rừng không đơn thuần chỉ để lấy gỗ. Việc cưa hạ cây rừng của các đối tượng này chủ yếu để bao chiếm diện tích, lấy đất trồng mì (sắn) và các loại cây trồng khác. Một số người dân còn cho biết, không loại trừ trường hợp người dân thiếu đất làm rẫy nên bắt tay cùng “lâm tặc”, hướng dẫn, tổ chức cho “lâm tặc” phá rừng?
Sau hơn ba giờ đi bộ dưới cái nắng gay gắt, PV có mặt tại khoảnh 6 và 11, thuộc tiểu khu 23. Trước mặt PV là hàng trăm cây dầu, trâm, tràm nước… có đường kính trên dưới 40 cm, bị cưa hạ một cách tàn nhẫn.
Anh Phạm Văn Bằng, cán bộ Hạt Kiểm lâm Bình Châu - Phước Bửu, cho biết: “Khi chúng tôi có mặt tại hiện trường, các đối tượng phá rừng được mật báo đã kịp thời tẩu thoát. Ngay lập tức chúng tôi phong tỏa hiện trường và tiến hành điều tra. Chỉ chậm một chút thôi là nhiều ha rừng tại đây sẽ bị tàn phá không thương tiếc”.
Trao đổi với PV, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bình Châu - Phước Bửu Lê Văn Khanh cũng cho biết: “Hạt Kiểm lâm đã tiến hành khởi tố hai vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay vẫn chưa xác định được đối tượng cụ thể. Vụ việc đã được chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuyên Mộc tiến hành thụ lý”.
Trong suốt quá trình làm việc và tìm hiểu thực tế cùng các cán bộ kiểm lâm ở đây, PV nhận thấy có rất nhiều bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn, nổi lên vẫn là việc đất rừng và đất rẫy của người dân đan xen, chồng lấn; vấn đề các hộ được giao nhận khoán rừng lại tiếp tục cho người khác thuê lại nên thiếu quản lý sâu sát, dẫn đến hiện tượng lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, đồng thời sự phối hợp trong công tác giữa cơ quan quản lý rừng và chính quyền địa phương vẫn chưa thật nhịp nhàng…
Với gần 11 nghìn ha, nằm trải dài trên địa phận ba xã Bình Châu, Bông Trang, Bưng Riềng và thị trấn Phước Bửu của huyện Xuyên Mộc, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu là một trong những hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tuy nhiên, trách nhiệm quản lý và bảo vệ gần 11 nghìn ha rừng này lại đặt hết lên vai 13 cán bộ của Hạt Kiểm lâm Bình Châu - Phước Bửu. Tính trung bình, mỗi cán bộ kiểm lâm phải phụ trách gần 1.000 ha rừng, nên không thể bao quát và sát sao trong công tác quản lý.
Trong khi “lâm tặc” lại ngày càng liều lĩnh và manh động. Đây chính là nguyên nhân khiến trình trạng phá rừng tại khu vực này vẫn đang ngày đêm tiếp diễn và hầu hết các vụ “hủy hoại rừng” bị khởi tố đều không xác định được đối tượng phá rừng cụ thể. Và mầu xanh của những cánh rừng ở Bình Châu - Phước Bửu vẫn đang hằng ngày bị thu hẹp. (Nhân Dân 13/8) đầu trang(
13/8, tại Bình Định, rừng lại tiếp tục cháy. Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Cát, Lương Ngọc Anh cho biết: Khu vực cháy là rừng đầu nguồn Hóc Nhà thờ thuộc thôn Phú Dõng, xã Cát Khánh.
Vụ cháy xảy ra từ sáng 13/8 và được dập tắt vào trưa cùng ngày, thiệt hại khoảng 5ha rừng trồng thuộc dự án WB3 của người dân. Trước đó, vào ngày 8/8, cũng tại khu vực Hóc Nhà thờ, 36 ha rừng đã bị cháy rụi. Nguyên nhân là do công nhân của Xí nghiệp Lâm nghiệp Pisico đốt thực bì gây cháy lan.
Liên quan tới vụ cháy rừng trên núi Bà Hỏa, bà Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết: Sau khi đo đạc trên thực địa, Chi cục Kiểm lâm Bình Định đã xác định diện tích rừng bị cháy trên núi Bà Hỏa, thuộc thành phố Quy Nhơn từ sáng 9/8 đến rạng sáng 10/8 lên tới 57,8 ha chứ không phải 20 ha như thông tin ban đầu. Đây cũng là vụ cháy gây thiệt hại lớn nhất tại Bình Định tính từ đầu năm đến nay.
Theo số liệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm Bình Định, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 52 vụ cháy rừng trồng làm thiệt hại 378,02ha. Đặc biệt, chỉ trong nửa đầu tháng 8 này, toàn tỉnh Bình Định xảy ra 13 vụ cháy gây thiệt hại 191,77 ha rừng trồng. Riêng ngày 10/8, trên địa bàn tỉnh Bình Định xảy ra 6 vụ cháy thiêu rụi 52,97 ha rừng.
Huyện Phù Cát hiện là địa phương có diện tích cháy rừng gây thiệt hại lớn nhất tỉnh Bình Định, hơn 118 ha; tiếp đến là thành phố Quy Nhơn (76,31ha), huyện miền núi Vân Canh (67,99 ha), huyện trung du Tây Sơn (58,84 ha).
Hiện tại, Bình Định vẫn đang chịu đợt nắng nóng lịch sử, nhiệt độ lên tới 38,5 o C, độ ẩm nhiều nơi chỉ 50%. Đã có hơn 1.600 ha rừng trồng bị chết khô. Hầu hết diện tích rừng tại Bình Định đang ở mức độ báo cháy cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm nên khả năng tiếp tục xảy ra cháy rừng trên địa tỉnh là rất cao.
Trước tình hình đó, tỉnh yêu cầu Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng các ngành, lực lượng chức năng tăng cường tối đa khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng và áp dụng phương châm "4 tại chỗ" cho đến tháng 10/2014. (Tin Tức 14/8) đầu trang(
13.8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã phối hợp với Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt tổ chức hội thảo khởi động dự án Bảo vệ đa dạng sinh học và tăng cường các dịch vụ sinh thái của rừng Động Châu - khe Nước Trong (huyện Lệ Thủy).
Dự án trên dự kiến kéo dài 30 năm với nguồn vốn đã huy động được cho 5 năm đầu tiên (2014-2019) là gần 1,5 triệu USD từ nhà tài trợ là các tổ chức phi chính phủ quốc tế.
Mục tiêu của dự án nhằm bảo vệ và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học độc đáo và phát huy các giá trị dịch vụ hệ sinh thái của dải rừng lá rộng thường xanh trên đất thấp của khu vực phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình và Tây Bắc tỉnh Quảng Trị với tổng diện tích vùng lõi của dự án là gần 20.000ha.
Đồng thời qua đó sẽ tăng cường năng lực quản lý bảo vệ rừng đa dạng sinh học. Đặc biệt, điểm mới và tiên tiến của dự án là lần đầu tiên ở Việt Nam nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác quản lý bảo vệ rừng dài hạn đã được huy động từ nguồn tài chính carbon tự nguyện từ khu vực tư nhân, thông qua chương trình cân bằng carbon của tổ chức World Land Trust (Anh). (Lao Động 14/8; Nhân Dân 14/8, tr8) đầu trang(
Tin từ VQG Phong Nha - Kẻ Bàng ngày 12/8 cho biết: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cử các chuyên gia bảo tồn động thực vật hoang dã thế giới đến Phong Nha-Kẻ Bàng để thẩm định hồ sơ về tiêu chí đa dạng sinh học.
Đoàn thẩm định sẽ làm việc tại Quảng Bình từ ngày 12 đến 16/8 để nghiên cứu, xem xét các lĩnh vực về sinh thái, các loại hình đa dạng sinh học của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng ở 15 kiểu rừng và những dạng sống trong hang động.
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003 và được đề cử UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học vào năm 2011. (Tiền Phong 13/8) đầu trang(
12/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh - Huỳnh Văn Quang đã ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai đối tượng với mức phạt mỗi người 100 triệu đồng; đồng thời tịch thu toàn bộ tang vật (1,0294m3 gỗ trắc) về hành vi nhập lậu, kinh doanh gỗ trái phép.
Hai đối tượng gồm ông Nguyễn Thanh Vũ (sinh năm 1982) và Đinh Văn Thuận (sinh năm 1990) cùng cư ngụ ấp Đông Tiến, xã Tân Đông, huyện Tân Châu (Tây Ninh).
Trước đó, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 11/12, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế, Công an tỉnh Tây Ninh tiến hành khám xét 2 địa điểm cất giấu gỗ lậu tại ấp Đông Tiến, xã Tân Đông, huyện Tân Châu. Qua kiểm tra đã phát hiện trong nhà bếp và chuồng lợn nhà bà Giao Thị Ngờ, có 108 khúc gỗ trắc (0,4265 m3) và trong nhà bếp của bà Trương Thị Hòa cũng có 107 khúc gỗ trắc.
Theo lời khai của chủ nhà, số gỗ trên là của Nguyễn Thanh Vũ (con rể bà Ngờ) và Đinh Văn Thuận (cháu nội bà Ngờ) nhờ cất giấu giùm. Qua đấu tranh, Nguyễn Thanh Vũ và Đinh Văn Thuận khai nhận nguồn gốc số gỗ trên là do nhập lậu nhiều lần (vận chuyển bằng xe gắn máy) từ Campuchia về để kinh doanh bán lại.
Hai bà Giao Thị Ngờ và Trương Thị Hòa chỉ cho Vũ, Thuận gửi gỗ, không nhận tiền, nên Công an tỉnh đề xuất không xử phạt 2 người này. (Tin Tức 13/8, tr13; Gia Đình & Xã Hội 13/8, tr6) đầu trang(
Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu về đa dạng côn trùng giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Viện Smithsonian, Bảo tàng lịch sử tự nhiên, Washington, Hoa Kỳ, các nhà khoa học vừa công bố 7 loài cánh cứng mới cho khoa học ở miền Bắc Việt Nam.
Mẫu vật của 7 loài mới này được các nhà khoa học thu thập ở miền Bắc Việt Nam vào tháng 4-5 năm 2012. Với việc mô tả thêm 7 loài mới trên đây đưa tổng số loài thuộc giống Coomaniella hiện nay là 31 loài. Trong số đó 19 loài được ghi nhận có phân bố ở Việt Nam.
Các loài cánh cứng mới này thuộc giống Coomaniella Bourgoin, 1924, họ Đầu bằng – Buprestidae, bộ Cánh cứng - Coleoptera và được đặt tên khoa học như sau: Coomaniella lingafelteri Jendek & Pham, 2013; Coomaniella tarsalis Jendek & Pham, 2013; Coomaniella communis Jendek & Pham, 2013; Coomaniella copipes Jendek & Pham, 2013; Coomaniella calcarata Jendek & Pham, 2013; Coomaniella simulatrix Jendek & Pham, 2013; Coomaniella brevicornis Jendek & Pham, 2013. (Khám Phá 13/8) đầu trang(
Tại Hà Nội, Bộ TT - TT phối hợp với Bộ NN và PTNT vừa tổ chức Lễ phát hành bộ tem bưu chính Thú linh trưởng Việt Nam.
Bộ tem gồm 4 mẫu tem và 1 blốc do họa sỹ Đỗ Lệnh Tuấn thiết kế, giới thiệu 5 loài linh trưởng đặc hữu, quý hiếm của Việt Nam, có nguy cơ tuyệt chủng. Bộ tem được thiết kế tràn lề, khuôn khổ 31x46mm; bloc có khuôn khổ 65x100mm.
Bộ tem thông điệp gửi đến người Việt Nam cũng như cộng đồng thế giới: “hãy chung tay bảo tồn linh trưởng trước khi chúng có thể bị tuyệt chủng”. (Đại Biểu Nhân Dân 13/8, tr4) đầu trang(
Trong chuyến công tác về thôn Tre, xã Trà Thọ (Tây Trà), tình cờ PV nghe người dân “khoe” họ kiếm được bộn tiền nhờ cây cứt chuột.
Thương lái rất chuộng loại cây này, vài lạng, một ký, hai ký… bao nhiêu cũng tiêu thụ. Mới những ngày đầu có giá chỉ vài nghìn đồng thì nay đã lên đến 20.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm khan hàng lên đến 27.000 đồng/kg.
Bà Hồ Thị Sương, một người dân ở thôn Tre thật thà: “Hôm nào rảnh rỗi lên núi hái một buổi cũng kiếm được từ 120.000 đến 140.000 đồng. Quanh năm suốt tháng, thương lái ngày nào cũng mua. Bao nhiêu cũng mua, họ còn đặt hàng trước mà không có bán”.
Ông Hồ Minh Trí - Bí thư Chi bộ thôn Tre khoe: Cùng với cây chuối, cây cứt chuột không bao giờ lỗi thời. Mười mấy năm trở lại đây, nó đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo cho gia đình ông cũng như nhiều người dân ở nơi vùng cao này.
Cũng theo ông Trí, người dân gom được bao nhiêu thương lái cũng sẵn sàng mua hết và tiền bạc rất sòng phẳng, thậm chí họ còn cho dân ứng trước để tìm hái. Cây thường trổ hoa và cho quả từ tháng 5 đến tháng 8 âm lịch. Mỗi ngày như thế, nếu gặp may trúng rẫy có nhiều cây cứt chuột, mỗi người có thể kiếm được từ 240.000 - 300.000 đồng. Số tiền này với nhiều người, không hẳn là quá lớn nhưng với người dân ở vùng sâu, vùng xa, bấy nhiêu là “khủng” hơn việc làm nương rẫy gấp nhiều lần.Chiều lại, các thương lái đi dạo bằng xe máy vào tận các bìa rừng, tận các gia đình để thu gom. Người dân ở đây cũng không ai biết chính xác loại cây này có tác dụng chữa bệnh gì, chỉ biết các thương lái bỏ tiền ra thu mua thì họ kéo nhau đi hái về bán. Và cũng do săn lùng quá mức nên cây cứt chuột ngày càng ít và số lượng thu mua hàng ngày cũng ít dần.
“Tôi không biết họ mua để làm gì chỉ nghe phong phanh là bán sang Trung Quốc để làm thuốc trị bệnh đau bụng nên mỗi khi bị đau bụng, tiêu chảy, tôi ăn vài hạt vào chặp lát là khỏi ngay”, ông Trí nói.
Tò mò, PV theo chân ông Trí lên rẫy tìm cây cứt chuột. Sau 15 phút men theo con dốc dựng đứng lên núi Tà Áng, PV được tận mắt quan sát cây này. Cây cứt chuột là loại cây thấp, cao chừng 1,5 m, lá hình mũi, đầu nhọn. Hai mặt lá có lông mịn, hoa nhỏ trắng mọc thành chùm ở nách lá hoặc đầu cành. Hạt nhìn giống như phân con chuột nên bà con gọi là cây cứt chuột. Khi nếm, cây có vị rất đắng.
Theo ông Vũ Văn Anh - Chủ tịch Hội Đông y TP. Quảng Ngãi, cây mà bà con gọi là cây cứt chuột trong y học có tên gọi là khổ sâm. Đây là loại dược liệu quý chữa các bệnh đường ruột như tiêu chảy, kiết lỵ, viêm loét dạ dày- tá tràng, đau bụng, tiêu hoá kém…
Ngoài ra nó cũng có tác dụng chữa sốt rét. Loại cây này mọc nhiều ở những khu rừng mát mẻ, ẩm ướt thích hợp khí hậu ở huyện Trà Bồng và Tây Trà. Với đặc tính hữu dụng của mình, cả thị trường nội địa và Trung Quốc đều chuộng loại cây này. Tuy nhiên, với việc tận thu của thương lái bán sang Trung Quốc ồ ạt như hiện nay, cây khổ sâm đang dần cạn kiệt và có khả năng tuyệt chủng.
“Từ sâm Ngọc Linh, cây hoàng đằng, cây thiên niên kiện, cây phổ phục linh, trái ươi… thì đến nay là cây khổ sâm. Cứ thương lái tìm mua loại thảo dược gì thì lên rừng tìm thứ đó để bán, cứ cái đà này, dược liệu quý chẳng còn”- ông Nguyễn Ngọc Lư- Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đông y TP. Quảng Ngãi trăn trở.
Cũng theo ông Lư, khí hậu đặc thù của khu vực miền Trung là nhiệt đới gió mùa, nên các loại dược liệu cho hàm lượng tinh bột và tinh dầu đạt chuẩn nhất so với các vùng khí hậu khác. Vì thế, Trung Quốc rất ưa chuộng các cây dược liệu từ khu vực này nên họ cho thương lái về tận vùng sâu, vùng xa kích thích giá để tận thu.
Sau khi thu mua, họ sẽ cho vào các nhà máy để tinh chế để làm thuốc hộp, còn lại xác khô sẽ tẩm hóa chất lên màu rất đẹp rồi xuất bán lại thị trường Việt Nam. Lúc này chúng chỉ là xác khô, ít tác dụng chữa bệnh. Không phải ngành Đông y bây giờ mới biết mà tình trạng này đã xảy ra từ chục năm trở lại đây.
Trước tình trạng dược liệu quý “đội nón” sang Trung Quốc, ông Lư cho rằng, ngành y tế và chính quyền các địa phương cần vào tuyên truyền, quán triệt, đồng thời có cơ chế và kinh phí bảo tồn và phát triển chúng. Nếu cứ thờ ơ như thế này thì không biết sau sâm Ngọc Linh, cây hoàng đằng, cây thiên niên kiện, cây phổ phục linh, trái ươi, khổ sâm,… cây gì sẽ tiếp tục bị tận diệt? (Báo Quảng Ngãi 12/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Luật sư Vũ Thái Hà, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Luật TNHH YouMe cho rằng, cán bộ kiểm lâm nhận hối lộ 100 triệu đồng có thể bị phạt tù từ 15-20 năm.
Theo đó, khoảng 21h ngày 31/7, đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy số 1 (Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa) nhận được tin báo xe ôtô 37C-06012 đang vận chuyển gỗ quý hiếm trái phép từ Nghệ An qua Thanh Hóa, lưu thông trên Quốc lộ 1A.
Không lâu sau đó, ông Lê Đức Hải làm tổ trưởng cùng 5 cán bộ khác gồm Nguyễn Xuân Vịnh, Lê Chí Thanh, Nguyễn Thế Vinh, Đỗ Đình Chung, Hà Lê Minh (lái xe) được phân nhiệm vụ theo dõi chiếc xe ô tô nói trên.
Đến 9 giờ 30 phút ngày 1/8, Tổ công tác do ông Lê Đức Hải làm Tổ trưởng phát hiện và yêu cầu chủ phương tiện điều khiển xe xe ôtô 37C-06012 dừng xe để kiểm tra ngay tại khu vực cầu sông Lý (huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa).
Quá trình kiểm tra, tổ tuần tra phát hiện ngoài có khoảng 1.5 m3 gỗ Giáng Hương không có trong hồ sơ lâm sản được phép vận chuyển. Tại thời điểm trên, ông Lê Đức Hải đã chỉ đạo lập biên bản hành vi vận chuyển gỗ trái phép đối với số gỗ Giáng Hương nói trên, đồng thời phân công cán bộ áp giải xe gỗ lậu đưa về đội kiểm lâm cơ động số 1. Tại đây, số gỗ Giáng Hương không rõ nguồn gốc đã được đưa vào kho chứa hàng để xử lý theo quy định.
Cùng thời điểm trên sau lập biên bản số gỗ nói trên, ông Lê Đức Hải đã đòi chủ hàng phải đưa 100 triệu đồng cho tổ công tác để “bỏ qua” lỗi vi phạm. Khi Hải đang nhận tiền của chủ hàng thì bị lực lượng Công an ập vào bắt quả tang.
Trước đó, ngày 12/8, cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công an vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 ông Lê Đức Hải (trạm trưởng kiểm lâm thuộc đội kiểm lâm cơ động số 1 – Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa về hành vi nhận hối lộ.
Cũng liên quan đến vụ việc nói trên, Tiến sĩ – Luật sư Vũ Thái Hà, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Luật TNHH YouMe (trụ sở Hà Nội) đã đưa ra những nhận định góc độ pháp lý.
Theo đó, khi được hỏi về những căn cứ để cơ quan chức năng đưa ra quyết định khởi tố trạm trưởng kiểm lâm nhận hối lộ 100 triệu đồng từ chủ gỗ lậu, Tiến sĩ – Luật sư Vũ Thái Hà viện dẫn; Theo điều 279 Bộ luật Hình sự quy định: Tội nhận hối lộ là hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp theo luật định để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Như vậy, căn cứ theo quy định nói trên, có thể thấy, trạm trưởng trạm kiểm lâm thuộc đội kiểm lâm cơ động số 1 - Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa là người có chức vụ, quyền hạn và trực tiếp tham gia quá trình kiểm tra xe gỗ lậu đã có hành vi nhận 100 triệu đồng từ chủ xe với mục đích để tổ công tác “bỏ qua” lỗi vi phạm của chủ gỗ lậu. Đây có thể coi là hành vi cấu thành tội nhận hối lộ theo quy định của Điều 279 Bộ luật Hình sự.
Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Như vậy, trong vụ việc nói trên, cơ quan chức năng hoàn toàn có đủ cơ sở để khởi tố vụ án hình sự.
Như vậy, hành vi đưa, nhận hối lộ trong trường hợp nêu trên sẽ bị xử lý thế nào? Trao đổi về vấn đề này, Tiến sĩ – Luật sư Vũ Thái Hà cho biết; Điểm a khoản 3 Điều 279 Bộ luật Hình sự quy định người nhận hối lộ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm trong trường hợp: a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng”. Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 5 Điều 279, người phạm tội nhận hối lộ còn bị: “cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Đối với hành vi đưa hối lộ, theo quy định tại Điểm a khoản 3 Điều 289 Bộ luật Hình sự thì: Người đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm. Ngoài ra người đưa hôí lộ còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ theo quy định tại Khoản 5 Điều 289 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ việc nói trên, hành vi “đưa tiền” của chủ xe cần phải được làm rõ, trong trường hợp chủ xe bị ép buộc đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Trong trường hợp người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. (Giáo Dục VN 14/8) đầu trang(
Sau 10 năm, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 và những chính sách liên quan đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số quy định hiện không còn phù hợp với thực tế, qua đó làm nảy sinh nhiều tiêu cực.
Đây là kết quả nghiên cứu gần đây do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, Đại học Nông Lâm Huế phối hợp với Đại học Tây Nguyên và Mạng lưới Đất rừng (FORLAND) thực hiện tại tỉnh Đắk Lắk.
Nghiên cứu được thực hiện ở 4 buôn gần rừng, thuộc xã Ea Sol, huyện Ea H’leo và xã Yang Mao, huyện Krông Bông. Ở 4 buôn này, bất cập rõ nét nhất là trong việc xử lý lâm tặc xâm hại rừng cộng đồng, với nhiều biểu hiện tiêu cực.
Ông Nay Pá, dân tộc Ja Rai, đại diện cho cộng đồng buôn Taly, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo nói: “Ở buôn, nhiều lúc muốn thông báo cho kiểm lâm hoặc người của UBND xã đến bắt giữ xe vi phạm, xâm hại rừng cộng đồng và các loại rừng khác nhưng không có ai đến. Sau khi xe đã đi rồi thì mới có người tới. Ở buôn cũng không có công cụ hỗ trợ nào khác nên không dám giữ xe người ta lâu. Trong khi đó, từ ủy ban về buôn Taly chỉ khoảng 3km”.
Cùng với việc xử lý vi phạm không quyết liệt, có dấu hiệu tiêu cực, việc giao quyền cho cộng đồng cũng không phù hợp với thực tế. Trong khi đời sống kinh tế của các buôn còn khó khăn, cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng lại không cụ thể nên không khuyến khích được người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm.
Ở một số cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, vì bà con còn đói nghèo, thiếu đất sản xuất, nên đã xảy ra tình trạng phát rừng làm rẫy. Anh Y Phối, dân tộc Ê Đê, ở buôn Hàng Năm, xã Yang Mao, huyện Krông Bông cho biết: “Buôn của tôi nằm chân núi Chư Yang Sin. Buôn làng tôi thật sự còn nghèo. Ông bà tôi ngày xưa có nhiều đất, nhưng bây giờ, đối những người vừa tách hộ như tôi lại không còn đất để canh tác. Tôi vẫn biết Luật của nhà nước đề ra quản lý và bảo vệ rừng nhưng mà tình hình hiện tại khiến tôi gặp khó khăn, thiếu thốn, không đủ điều kiện để nuôi nấng con cái, gia đình. Tôi phải làm ít để có lúa, tôi xâm lấn đất rừng của lâm trường cũng là để trồng lúa khô”.
Ở khía cạnh khác, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra có dấu hiệu mập mờ khi một số doanh nghiệp được chính quyền tạo điều kiện để liên kết với người dân, cộng đồng để phát triển rừng, nhưng doanh nghiệp đã không thực hiện theo cam kết, khiến người dân lo lắng.
Ông Nay Nhoen, dân tộc Ja Rai, ở buôn Chăm, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo cho biết: “Công ty Hoàng Việt (Đắk Lắk) đã liên kết với buôn, hứa với buôn nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Năm 2014, công ty này trồng rừng mà không thông báo cho bà con trong buôn. Công ty trồng cây trong rẫy của bà con nhưng thuê người ở Phú Bổn chứ không thuê đồng bào buôn Chăm. Mặt khác, công ty cam kết, bà con góp 1ha là 4 triệu, 4 triệu là ngày công đi trồng và chăm sóc rừng. Sau này chia tỷ lệ phần trăm lợi nhuận. Hai bên đã thỏa thuận, cam kết với nhau nhưng công ty đã không thực hiện cam kết.”
Song song với việc nêu ra những tồn tại, hạn chế và bất cập trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề mà cơ chế, chính sách còn bỏ ngỏ. Điển hình như việc, làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng thông qua một đơn vị chuyên trách, song hành với cộng đồng, cầm tay chỉ việc.
Tiến sĩ Cao Thị Lý, Bộ môn Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên phân tích: “Điều quan trọng đối với cộng đồng là phải làm sao có những người song hành, đơn vị song hành. Thực ra, ban bảo vệ phát triển rừng hiện nay đến xã thì chỉ có kiểm lâm địa bàn, xã đội, công an, tất cả đều tập trung cho bảo vệ rừng. Quản lý rừng bền vững mà chỉ bảo vệ rừng là chưa đủ, mà cần làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng. Đây là những câu chuyện còn bỏ ngỏ, chính sách rất cần.”
Tổng hợp thông tin từ các địa phương được lấy mẫu tại Đắk Lắk, nhóm nghiên cứu cho rằng điểm cốt lõi trong bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng là vấn đề hưởng lợi.
Trách nhiệm giữ rừng phải gắn với lợi ích kinh tế từ rừng. Đây là vấn đề quan trọng nhất mà Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các chính sách liên quan cần phải được sửa đổi cho phù hợp, đồng bộ trong thời gian tới. (VOV 13/8) đầu trang(
Như đã đưa tin, tối 8-8, cơ quan chức năng huyện A Lưới và tỉnh Thừa Thiên- Huế đã bắt giữ một đoàn xe gồm 12 chiếc chở gỗ "siêu khủng” lưu thông trên Quốc lộ 9 thuộc tỉnh Thừa Thiên- Huế.
Qua cân tải trọng, cơ quan chức năng phát hiện hầu hết các xe trên đều chở gỗ quá khổ quá tải, vượt từ 170-370% so với tải trọng cho phép.
Ban đầu, thông tin cho rằng, đoàn xe trên xuất phát từ Cửa khẩu Quốc tế La Lay về đến ngã ba La Lay, xã A Ngo thì rẽ theo đường Hồ Chí Minh vào A Lưới và Quốc lộ 49 về TP Huế.
Nhưng theo tìm hiểu của PV, đoàn xe trên thực chất chở gỗ từ các bãi gỗ của Công ty TNHH TM Thông Ý và Xí nghiệp xuất nhập khẩu tư nhân Vân Hà tại xã A Ngo và thị trấn Tà Rụt, huyện Đakrông (Quảng Trị) được doanh nghiệp vận chuyển về tập kết tại hai bãi gỗ trên từ thời điểm trước rồi vận chuyển đi nơi khác chứ không phải từ Cửa khẩu Quốc tế La Lay về A Lưới và Quốc lộ 49 thuộc tỉnh Thừa Thiên- Huế trong những ngày vừa qua.
Ngày 13-8, ông Trương Quang Long, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế La Lay khẳng định: "Từ ngày 28-7 đến 11-8-2014, không có doanh nghiệp nào làm thủ tục nhập khẩu gỗ tròn qua Cửa khẩu Quốc tế La Lay và đơn vị không làm thủ tục và giải quyết thông quan cho các phương tiện vận chuyển gỗ tròn”.
Theo ghi nhận của PV, ngày 13-8 vẫn còn 73 xe chở gỗ tròn "siêu khủng” của Công ty TNHH TM và Dịch vụ Diệp Minh Quân (Hương Khê, Hà Tĩnh) đang ùn tắc tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế La Lay (phía Lào) do doanh nghiệp này không chịu hạ tải theo đúng quy định để thông quan. (Đại Đoàn Kết 14/8, tr11) đầu trang(
Báo Nghệ An số 9894, ra ngày 3/7 có bài "Xử lý khai thác rừng trái phép ở xã Quỳnh Văn chưa thỏa đáng". Ngày 1/8/2014, Sở NN&PTNT có Công văn số 276/BC.SNN.VP trả lời vấn đề báo nêu, nội dung sau:
Qua bài báo phản ánh, theo đơn tố cáo của người dân xóm 13, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu đối với ông Lê Đức Ái, trú cùng thôn, vi phạm lâm luật nghiêm trọng trong việc khai thác tỉa thưa tận thu rừng thông, tận thu lâm sản tại đồi Động Cao; đồng thời, phản ảnh cấp chính quyền xã Quỳnh Văn rất thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát trước khi cấp phép và giám sát việc thực hiện giấy phép đã cấp, nhưng cơ quan kiểm lâm chưa hoàn thành nhiệm vụ trong việc điều tra thực tế và chưa báo cáo đầy đủ lên Chủ tịch UBND tỉnh, do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Đức Ái là chưa thỏa đáng, trong khi đó vi phạm trong khai thác rừng.trái phép của ông Lê Đức Ái nghiêm trọng hơn nhiều.
Khi người dân làm đơn tố cáo thì cơ quan chức năng chậm xử lý, hoặc xử lý không triệt để, có dấu hiệu bao che sai phạm.
Vụ việc đã xảy ra từ năm 2013, ngày 4/10/2013, Chi cục Kiểm lâm đã nhận được đơn kiến nghị, tố cáo của 4 công dân thường trú tại thôn 13, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu về ông Lê Đức Ái, 51 tuổi, trú tại: Thôn 13, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu đã vi phạm nghiêm trọng trong khai thác, tỉa thưa rừng thông tại Lô 1, 2, 3, 4, Khoảnh 2, Tiểu khu 344C tại đồi Động Cao, xã Quỳnh Văn.
Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với UBND huyện Quỳnh Lưu, Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu, đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp và chính quyền xã Quỳnh Văn tiến hành kiểm tra xác minh theo đơn tố cáo, kết quả như sau:
Về quyết định cấp phép khai thác: UBND xã Quỳnh Văn cấp phép cho ông Lê Đức Ái khai thác tỉa thưa rừng thông, tận thu lâm sản và làm đường băng cản lửa tại Lô 1, 2, 3, 4, Khoảnh 2, Tiểu khu 344C là đúng quy định của pháp luật.
Về sai phạm của ông Lê Đức Ái: Ông Ái đã khai thác trái phép 140 cây thông nhựa ngoài hồ sơ cấp phép và khai thác trái phép 155 cây thông nhựa nằm ngoài đường băng cản lửa, khai thác vượt 17,45 m3 gỗ thông nhựa.
Hành vi vi phạm của ông Lê Đức Ái, Chi cục Kiểm lâm đã căn cứ các quy định của pháp luật hiện hành thấy vụ việc vượt thẩm quyền xử lý của Chi cục Kiểm lâm, phải đề xuất UBND tỉnh xử lý. Chi cục Kiểm lâm đã có Công văn số 486/KL-TTPC ngày 19/11/2013 về việc tham mưu đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lê Đức Ái theo pháp luật.
Căn cứ đề xuất của Chi cục Kiểm lâm, Chủ tịch UBND tỉnh đã ra Quyết định số 5622/QĐ-UBND.KT ngày 27/11/2013 xử phạt hành chính ông Lê Đức Ái 50 triệu đồng về hành vi khai thác rừng trái phép (được quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 18, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 của Chính phủ), buộc ông Lê Đức Ái phải trồng lại rừng trên diện tích đã bị khai thác.
Vụ việc đã được xác minh công khai, kết quả đã được công bố cho chính quyền địa phương, người dân biết quyết định xử phạt của Chủ tịch UBND tỉnh đối với ông Ái là đúng người, đúng hành vi vi phạm, đúng pháp luật.
Qua phản ánh của Báo Nghệ An số 9894 ra ngày 3/7/2014, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã có Công văn số 2098/SNN-VP ngày 8/7/2014 chỉ đạo giao Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thành lập đoàn kiểm tra, xác minh lại vụ việc, nếu đúng như báo phản ánh thì đề xuất biện pháp xử lý đúng quy định của pháp luật.
Chi cục Kiểm lâm đã cử đoàn công tác phối hợp với UBND huyện Quỳnh Lưu, Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu và UBND xã Quỳnh Văn tiến hành kiểm tra, xác minh lại toàn bộ vụ việc, kết quả như sau:
Về hành vi vi phạm của ông Lê Đức Ái trong việc khai thác, tỉa thưa lâm sản ở đồi Động Cao, xã Quỳnh Văn là đúng.
Việc Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lê Đức Ái về hành vi vi phạm lâm luật nghiêm trọng trong việc khai thác tỉa thưa tận thu rừng thông, tận thu lâm sản tại đồi Động Cao là thỏa đáng, nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật.
Việc xử lý những kiến nghị, tố cáo của người dân đã được các cơ quan chức năng tiến hành đúng thẩm quyền, kịp thời, đúng quy định của Luật Khiếu nại tố cáo, không có dấu hiệu bao che sai phạm đối với ông Lê Đức Ái.
Sở Nông Nghiệp và PTNT xin tiếp thu và cảm ơn Báo Nghệ An đã quan tâm phản ánh và đưa tin về vụ việc trên. Sở Nông nghiệp và PTNT và các đơn vị trong ngành xác định thông tin mà báo phản ảnh là rất quan trọng, giúp cho ngành Nông nghiệp có thêm bài học trong công tác chỉ đạo điều hành, xử lý những vụ việc liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng được tốt hơn. (Báo Nghệ An 12/8) đầu trang(
Thực hiện chương trình công tác chuyên đề về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại các tỉnh Tây Nguyên, tiếp sau Kon Tum và Gia Lai, ngày 13/8 Đoàn giám sát Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã làm việc với tỉnh Lâm Đồng, xem xét, giám sát việc thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Báo cáo tại buổi làm việc của UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết: Từ năm 2009- 2013, tỉnh Lâm Đồng đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Tỉnh ủy đã ban hành chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
UBND tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng 2011- 2020; ban hành chỉ thị phòng cháy, chữa cháy rừng vào đầu mùa khô; xác định mục tiêu năm 2014 phấn đấu giảm 20% số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Các huyện, thành phố trong tỉnh cũng xây dựng các chương trình công tác và tăng cường kiểm tra, giám sát các địa phương, đơn vị chủ rừng thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Là tỉnh có diện tích đất có rừng khá lớn với 597.669 ha; trong đó, rừng tự nhiên chiếm 527.566 ha, rừng trồng khoảng 70.103 ha. Trong những năm qua, công tác phát triển rừng tiếp tục được Lâm Đồng quan tâm, từ 2009- 2013 toàn tỉnh đã trồng và cải tạo rừng nghèo 26.500 ha, bình quân trồng 5.300 ha/năm, riêng năm 2014 dự kiến trồng 5.275 ha rừng.
Hoạt động trồng rừng đã đa dạng hóa về loài cây trồng, đối tượng tham gia trồng rừng; phát triển trồng rừng trên 3 đối tượng rừng: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất theo quy hoạch; triển khai trồng lại rừng trên diện tích thu hồi sau giải tỏa do lấn chiếm phá rừng trái phép. Đến nay, tỷ lệ che phủ của rừng Lâm Đồng đạt 60,3% (tính cả diện tích cây cao su, cây đặc sản).
Tỉnh đã giao khoán quản lý, bảo vệ rừng chi trả bằng tiền năm 2009 được 316.116 ha và đến năm 2014 đạt 397.797 ha, trong đó ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu từ nguồn thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay Lâm Đồng cũng phát triển trồng cây cao su tại các huyện phía nam với khoảng 26.804 ha, trong đó cao su tiểu điền là 6.544 ha và cao su đại điền có diện tích 20.260 ha.
Tại buổi làm việc, Đoàn giám sát và các sở, ngành hữu quan tỉnh Lâm Đồng cũng đã phân tích, chia sẻ, làm rõ nhiều nội dung và kết quả đạt được, đồng thời cũng đã chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn Lâm Đồng.
Theo đánh giá chung, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản tại khu vực các huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm; khai thác lâm sản trái phép tại khu vực giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận vẫn còn diễn ra phức tạp; mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường thực hiện nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý nhưng tình hình vi phạm vẫn chưa ngăn chặn được triệt để.
Tỉnh còn thiếu lực lượng quản lý, bảo vệ rừng; còn để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép mà không kịp thời phát hiện, ngăn chặn và báo cáo cơ quan chức năng xử lý; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng chưa được triển khai tốt.
Ông Lữ Ngọc Cư, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Trưởng Đoàn giám sát, ghi nhận những kết quả đạt được của Lâm Đồng trong thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; khẳng định Lâm Đồng đã có nhiều nỗ lực khá toàn diện, từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đến thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt đã xử lý kiên quyết, kịp thời các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Theo ông Lữ Ngọc Cư, những tồn tại, hạn chế và vướng mắc của Lâm Đồng cũng là của chung các tỉnh Tây Nguyên mà tới đây qua tổng hợp kết quả giám sát toàn vùng, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên sẽ báo cáo, tham mưu với Trung ương để có hướng giải quyết, cũng như có cơ chế, chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc thù cho Tây Nguyên. (Tin Tức 14/8; Công An TP Đà Nẵng 14/8) đầu trang(
13/8, Phó Chủ tịch UBND TP Trần Xuân Việt đã làm việc với Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã (ĐVHD) và Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội về kết quả thực hiện nhiệm vụ 7 tháng đầu năm và triển khai kế hoạch 5 tháng cuối năm 2014. Đây là hai đơn vị mới thành lập của Sở NN&PTNT Hà Nội.
Được thành lập từ cuối tháng 6/2013, tổng số động vật đến 31/7/2014 tại Trung tâm Cứu hộ ĐVHD là 302 cá thể và 235kg rắn các loại. Trong 7 tháng đầu năm, Trung tâm đã tiếp nhận, cứu hộ tổng số 32 vụ với 207 cá thể và 57,3kg rắn. Đồng thời, tổ chức điều trị 95 đợt cho 600 lượt cá thể ĐVHD bị thương, bị các bệnh viêm đường hô hấp, viêm phổi, viêm đường tiêu hóa…
Trung tâm cũng đã tổ chức thả về môi trường tự nhiên 50 cá thể ĐVHD. Trong khi đó, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp được thành lập từ giữa tháng 11/2013 của UBND TP trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển nông lâm nghiệp Sóc Sơn.
Hiện nay, Trung tâm được giao quản lý 2.095ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trên địa bàn 8 xã của huyện Sóc Sơn. Trong 7 tháng đầu năm, Trung tâm đã triển khai quyết liệt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Do đó, số vụ cháy rừng giảm so với năm ngoái với 6 vụ và 3 điểm cháy, diện tích 5,9ha, tập trung chủ yếu vào tháng 1 và tháng 2 trước Tết Âm lịch.
Còn khoảng 5 tháng gần đây không xảy ra cháy rừng.Tại buổi làm việc, lãnh đạo hai Trung tâm kiến nghị Sở NN&PTNT, các sở, ngành và UBND TP có cơ chế hỗ trợ mở rộng diện tích, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng để đảm bảo điều kiện thực hiện nhiệm vụ. Cùng với đó, đảm bảo kinh phí cho trang bị phương tiện vận chuyển, bảo hộ lao động, phòng trừ dịch bệnh cũng như chế độ chính sách cho người lao động…
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TP Trần Xuân Việt biểu dương những kết quả của hai Trung tâm đã đạt được dù là đơn vị mới thành lập và còn nhiều khó khăn. Phó Chủ tịch đề nghị, thời gian tới, Trung tâm Cứu hộ ĐVHD lựa chọn những nội dung công việc cần thiết, quan trọng để xây dựng kế hoạch thực hiện, tập trung vào các việc như bảo tồn, cứu hộ, nhân nuôi ĐVHD, đào tạo đội ngũ cán bộ…
Trung tâm cần có chương trình mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế để tăng cường nguồn lực và năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó, tổ chức thông tin tuyên truyền pháp luật về bảo vệ ĐVHD và quan tâm tới vấn đề an toàn lao động, kiểm soát dịch bệnh…
Đối với Trung tâm Phát triển lâm nghiệp, Phó Chủ tịch Trần Xuân Việt đề nghị tiếp tục làm tốt nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp, không chỉ trên địa bàn huyện Sóc Sơn mà trên quy mô toàn TP. Đồng thời, tổ chức tốt việc bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Trong đó, phối hợp tốt với các đơn vị liên quan và có hợp đồng chi tiết, phân rõ trách nhiệm với các hộ trồng rừng. Đặc biệt, kiện toàn bộ máy và tổ chức liên doanh, liên kết với các đơn vị, tổ chức để vừa phát triển rừng bền vững, vừa nâng cao đời sống cho cán bộ, nhân viên Trung tâm. (Kinh Tế & Đô Thị 14/8, tr5) đầu trang(
Hàng trăm chiến sĩ công an C47 cùng các lực lượng khác đã tiến hành khám xét Công ty TNHH Đại An và Công ty TNHH Thành Hưng Bắc Ninh, đồng thời bắt giữ hai giám đốc của hai công ty này.
Trong đó có cha con ông Nguyễn Ngọc Minh (hay còn gọi là Minh Sâm), Giám đốc Công ty Đại An – người được coi là trùm buôn gỗ…Việc khám xét và bắt giữ được Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C47), lực lượng cảnh sát cơ động, Bộ Công an phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành từ 14 giờ 30 đến 23 giờ ngày 13.8.
Lực lượng chức năng đã thực hiện phong tỏa, khám xét Công ty TNHH Đại An do ông Nguyễn Ngọc Minh làm giám đốc và Công ty TNHH Thành Hưng Bắc Ninh do ông Nguyễn Thành Hưng làm giám đốc (cả hai công ty này đều có trụ sở tại Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh).
Cơ quan điều tra Bộ Công an đồng thời bắt giữ ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Nguyễn Thành Hưng cùng 7 đối tượng khác đều là thành viên của hai công ty này. 9 đối tượng này thuộc các thành phần khác nhau trong đó có con của giám đốc Minh.
Khám xét tại trụ sở công ty, lực lượng chức năng đã phát hiện và thu giữ 6 khẩu súng các loại, trong đó có 4 khẩu súng dài, 2 khẩu súng ngắn và 1 quả lựu đạn. Theo thiếu tướng Lại Anh Tuấn - Cục trưởng C47, ông Minh nổi tiếng là một "trùm" buôn gỗ.
Tham gia khám xét, ngoài lực lượng công an còn có cả lực lượng Kiểm lâm tham gia kiểm đếm gỗ. Theo tướng Tuấn, lực lượng Kiểm lâm có mặt kiểm đếm nhằm xác định chủng loại, số lượng gỗ, đồng thời sẽ làm rõ xem trong đó có gỗ quý, loại cấm buôn bán hoặc gỗ lậu hay không.
Cũng theo tướng Tuấn, Công ty TNHH Thành Hưng Bắc Ninh là một công ty con của Công ty TNHH Đại An, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ngọc Minh và cũng là những tay chân đắc lực trong hoạt động tội phạm.
Theo lãnh đạo Bộ Công an, trước tiên các đối tượng này bị bắt để điều tra hành vi Cưỡng đoạt tài sản và sẽ tiến hành điều tra về một số hành vi khác.
Công ty TNHH Đại An được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2000. Công ty TNHH Đại An kinh doanh trong lĩnh vực: Đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp; Bất động sản và Xây dựng.
Công ty TNHH Đại An nhiều năm liền được UBND tỉnh công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”. Công ty này cũng nhận được nhiều bằng khen của Chi cục thuế tỉnh Bắc Ninh; Bằng khen công ty tiêu biểu trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội…
Ngoài ra, cơ quan điều tra Bộ Công an còn thực hiện khám xét Công ty TNHH Thành Hưng do ông Minh làm chủ. Năm 2013, tập thể và cá nhân Giám đốc Công ty TNHH Đại An được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. (Một Thế Giới 14/8; Người Lao Động 14/8, tr13) đầu trang(
12-8, Hạt kiểm lâm T.P Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị phổ biến các nội dung quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, chế biến lâm sản và gây nuôi phát triển, kinh doanh, giết mổ động vật hoang dã.
Tham dự Hội nghị có hơn 100 hộ kinh doanh, chế biến lâm sản và chăn nuôi, phát triển động vật hoang dã trên địa bàn. Tại Hội nghị, các đại biểu đã được Hạt Kiểm lâm Thành phố phổ biến các nội dung cơ bản như: Một số điều, khoản của Luật Bảo vệ rừng năm 2004; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Chỉ thị số 18 ngày 24-10-2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên về tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và chống người thi hành công vụ; Quản lý, gây nuôi, vận chuyển và quy trình kỹ thuật chuồng trại chăn nuôi động vật hoang dã và quy định về xử lý vi phạm….
Hội nghị đã cung cấp các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tuân thủ đúng các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chế biến lâm sản và chăn nuôi động vật hoang dã. Được biết, hiện nay, trên địa bàn T.P Thái Nguyên có 145 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản và 32 cơ sở chăn nuôi, phát triển động vật hoang dã. (Báo Thái Nguyên 13/8) đầu trang(
Biết H., một tay chơi đồ gỗ có tiếng đất Đà thành có chuyến đi mua gỗ về dùng, PV xin theo. H. đồng ý, với điều kiện PV phải học nhanh một vài điều sơ lược về gỗ, để khỏi lớ ngớ, làm hỏng chuyến đi "buôn" của mình.
Trực chỉ thị trấn Prao (H. Đông Giang, Quảng Nam), ghé vào nhà một người dân Cơ Tu, chủ gỗ là một người khá trẻ, bảo: "Gỗ thì sẵn đó, muốn đốt nào thì lấy đốt đó. Nhưng nói trước ở đây ra giá phát một, chứ kỳ kèo thì thôi. Vận chuyển thì tự lo, nếu lấy được thì mua về mà làm, không được thì thôi".
Nói đoạn, vị chủ trẻ cười khách khí: "Đã mất công lên đây rồi thì phải mang về xuôi được thứ gì đó rừng rú một tí chứ. Không có cái máu này thì chơi đồ gốm, sành, sứ cho nó lành". Một, hai, ba... đốt gỗ nằm sau xó nhà, đã mọc rêu, chủ gỗ thẳng thừng ra giá: "Kiền kiền này đốt tiện được lục bình giá 2,5 triệu, một cặp 5 triệu. Xoan thì rẻ hơn, đốt nào triệu đó. Sao huyết thì tùy vào kích cỡ, to thì to tiền, nhỏ thì nhỏ tiền. Nhưng muốn hàng tốt hơn thì phải chờ vài ngày, chắc chắn sẽ có".
H. bảo: "Gỗ cũng tạm được nhưng giá cứng quá, mềm một tí không được hay sao?". PV chêm vào: "Mua với số lượng lớn, có không?". Chủ gỗ không ngần ngại: "Đặt bao nhiêu có bấy nhiêu, nhưng số lượng lớn thì vận chuyển khó lắm, chắc chắn bị sờ gáy. Các loại quý như giáng hương, lim, sến, táu... thì các anh sang Lào mà mua, đây làm gì có".
H. không mua ngay mà hẹn sẽ quay lại và đi tìm những mối gỗ khác. Nhiều chủ gỗ khác ở Prao cũng có một lượng gỗ cất giữ bên hông nhà, đang chờ mối bán. Lần xe chừng 10 cây số nữa, đến xã Zà Hung, đây mới đúng là thiên đường của gỗ. Gỗ chất hai bên vệ đường, sát nách nhà. Hai bên ta-luy những mảnh gỗ thừa sót lại từ những mảnh gỗ xẻ khối hộp.
Những đứa trẻ Cơ Tu nhỏ nghịch ngợm trượt trên những máng gỗ nằm nghiêng ngả. Ghé vào nhà của một gia đình Cơ Tu, vợ bảo chồng đi rẫy chưa về, lại không biết số điện thoại chồng. Phải chạy sang nhà hàng xóm có điện thoại để lục lọi danh bạ tra tìm. Đầu dây bên kia bắt máy, tiếng một người đàn ông trạc tuổi, giọng lơ lớ: "Bán. Mấy cũng bán, bán tất. Quan trọng gì thứ đó. 15 phút nữa sẽ về".
Đúng như dự định, 15 phút sau, chiếc xe máy cà tàng thồ theo một mảng rau lớn. Từ trong mớ rau, giọng nói lúc nãy vang ra: "Mua gỗ à?. Kiểu gỗ gì? Tiện lục bình, đẽo tượng, đồ thờ cúng hay làm nhà?". PV mạnh miệng nói mua hết với số lượng lớn. Người đàn ông lom lom nhìn chỉ đống gỗ sau nhà nói: "Đây chỉ là một số ít, số còn lại đang nằm trong những bãi sâu hơn, chỉ cần một cú điện thoại thì gọi xe tải đến đây mà chở".
Có một thực tế rằng, nơi nào phá rừng một cách ồ ạt thì nơi đó sẽ bị truy quét gắt gao. Còn những nơi âm ỉ, phá rừng theo kiểu chọc tiết, phá ngày này qua tháng nọ, khó phát hiện, ngăn chặn lắm. Prao của Đông Giang "đánh" theo kiểu sau. Hôm gặp Hạt trưởng Kiểm lâm Đông Giang Đinh Viết Khánh, PV đã đặt vấn đề với anh rằng ở Đông Giang có nạn lâm tặc hoành hành không?.
Anh thẳng thắn, không che đậy rồi vắt tay lên trán bảo rằng, nạn phá rừng ở đây nhức nhối lắm, hầu hết đều phá theo cách nhỏ lẻ, nghĩa là "phang" một cây nào thì tiêu thụ hết cây đó mới "phang" tiếp. Đây chính là điều khó nhất trong công tác bảo vệ và tuần tra rừng. Anh em trong Hạt nhiều lúc rơi vào thế bị động, vì vậy phải tăng cường kiểm tra kiểm soát thường xuyên.
Có một câu chuyện mà dân gian truyền tai nhau, thiết nghĩ nó cũng có phần đúng khi nói về rừng Đông Giang. Đó là chuyện về cái ao cá đầy nước, chủ nhân của nó vẫn an tâm rằng lượng nước trong hồ không thay đổi nhưng một thời gian sau mới tá hỏa vì cá tôm dưới hồ đã hết sạch, đáy hồ nứt nẻ. Qua tìm hiểu mới thấy có con cua nhỏ đào một cái hang xuyên bờ đê ao cá, nước thấm ra nhỏ giọt ngày này qua năm nọ, đến khi ao không còn là ao nữa. Vậy mới có câu "nước chảy ào ào không bằng hao lỗ mội". Rừng ở Đông Giang, nhìn ngoài thì rừng xanh là chốn đây nhưng vào trong mới thấy rằng rừng đã "về phố" hết, rỗng ruột.
H. đã mua được hai súc gỗ kiền cỡ lớn, mang về xuôi tiện khối lục bình. Mua thì dễ, nhưng vận chuyển thì không phải thế. Chủ gỗ người Cơ Tu mách nước: "Có hai cách để đưa về, một là gửi theo xe gỗ keo lai (tràm). Liên hệ với nhà xe, cho một cái giá đáng mặt đồng tiền, chất gỗ vào trước, sau đó đậy keo lên, thế là thong dong về xuôi. Cách thứ hai là nhờ xe vận chuyển nông sản đưa về, ở đây là xe chở chuối, nhưng phải thương lượng với bác tài".
Chọn cách thứ nhất, người lái xe đồng ý nhưng bảo rằng bị lục lọi là mất, đừng oán gì ai. Đến chiều, chuyến xe tải lăn bánh, bám theo, tay tài xế đạp phanh, nhảy xuống xe, nổi cáu: "Đồ ngu. Bây cứ chạy rì rì theo sau xe vậy thì ai mà chả biết trong xe có cái không đáng phải chở. Chạy về trước đi, khi nào gỗ về tau chở đến tận nhà".
Trời bắt đầu tối. Chuông điện thoại reo, bên kia đầu dây bảo an toàn. Còn dặn rằng "nếu có chuyến sau thì nhớ xe của anh nghe chú". (Công An TP Đà Nẵng 14/8) đầu trang(
Lâm sản ngoài gỗ (mây nếp) là loài cây đã được gây trồng từ lâu đời và quen thuộc với người dân Việt Nam.
Cùng với sự phát triển nhanh của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm từ mây đã và đang được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Nhiều địa phương đã tận dụng đất đai để đưa cây mây nếp vào trồng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tăng thu nhập cho người lao động.
Đối với rừng Yên Bái, ngoài thành phần các loài cây gỗ còn có rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ. Khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ đã gắn liền với cuộc sống hàng ngày của dân cư sống gần rừng.
Tuy nhiên, nguy cơ cạn kiệt lâm sản ngoài gỗ đang ở mức báo động. Việc khai thác tự phát, việc tổ chức quản lý từ khâu quy hoạch đến tổ chức bảo vệ và phát triển trồng mới chưa đồng bộ đã khiến cho nguồn hàng hóa này nhanh chóng suy giảm kể cả về diện tích và chất lượng.
Nhận thức được tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong phục vụ các nhu cầu của người dân cũng như trong xã hội, UBND tỉnh Yên Bái giao cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn từng bước khảo sát, xây dựng chương trình hoạt động để bảo vệ và phát triển rừng, trong đó đặc biệt quan tâm bảo vệ và phát triển lâm sản ngoài gỗ.
Qua đó phát huy tiềm năng sẵn có của rừng và đất rừng, từng bước tạo vùng nguyên liệu cung cấp cho chế biến xuất khẩu và khôi phục làng nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Năm 2011, được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Yên Bái đã phối hợp với UBND xã Hồng Ca (Trấn Yên) triển khai mô hình "Trồng cây lâm sản ngoài gỗ làm nguyên liệu (mây nếp)" giai đoạn 2011 - 2013 với quy mô 43ha tại 2 điểm thôn Khuôn Bổ và Nam Hồng cho 32 hộ nông dân tham gia.
Trong quá trình triển khai, Trung tâm Khuyến nông Yên Bái đã cử cán bộ kỹ thuật bám sát cơ sở, lựa chọn hộ có đủ điều kiện tham gia, xây dựng kế hoạch tổ chức mở lớp tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ cây giống, phân bón. Sau 3 năm thực hiện, cây mây nếp sinh trưởng và phát triển tốt trên đất rừng tại xã Hồng Ca, tỷ lệ sống đạt trên 80%, đẻ nhánh khỏe, bình quân đạt 6 - 8 cây/bụi, chiều dài dây mây trung bình 2 - 3m và điển hình như hộ ông Kim, ông Hòa - thôn Nam Hồng; ông Vang, ông Ca - thôn Khuôn Bổ.
Hàng năm, Trung tâm Khuyến nông Yên Bái phối hợp với chính quyền xã, trưởng nhóm hộ thường xuyên kiểm tra tình hình sinh trưởng và phát triển của cây mây nếp đồng thời tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện và tổ chức hội thảo nhằm tuyên truyền nhân rộng mô hình. Vào thời điểm hiện tại, nhiều cây đã ra hoa và cho quả, đây thực sự là niềm vui của mỗi hộ tham gia mô hình bởi đó sẽ là nguồn hạt giống tốt để bà con nhân giống tại chỗ, phục vụ cho việc mở rộng diện tích trồng mây tại địa phương.
Với những kết quả bước đầu đạt được có thể khẳng định, việc triển khai mô hình thực sự phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh và địa phương, từng bước giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận khoa học kỹ thuật trong sản xuất lâm nghiệp và biết tận dụng đất đai, lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương. (Báo Yên Bái 12/8) đầu trang(
13/8, tin từ UBND tỉnh cho biết, vừa có văn bản đề nghị Qũy bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam nhằm xác định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu, ban điều hành các công ty cổ phần sản xuất thủy điện đóng trên địa bàn tỉnh sử dụng lưu vực chung hai tỉnh Bình Phước và Đắk Nông trong việc chưa thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng của Nhà nước.
Đồng thời đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chính phủ có giải pháp quyết liệt, qui định chế tài xử lý để chính sách của Nhà nước được thực hiện nghiêm, đầy đủ. Văn bản cũng yêu cầu các công ty cổ phần thủy điện Thác Mơ, Srok Phu Miêng IDICO, Cần Đơn, Đắk Glun khẩn trương nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng còn nợ đọng vế Qũy bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam theo qui định.
Cùng ngày ông Bùi Việt Hà – Phó giám đốc Qũy bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Phước cho biết qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra 736 trực thuộc UBND tỉnh Bình Phước xác định các nhà máy thủy điện đang hoạt động trên địa bàn còn nợ đọng trên 18,7 tỉ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, trong đó đáng chú ý Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ còn nợ trên 11,9 tỉ đồng, Công ty cổ phần thủy điện Srok Phu Miêng IDICO còn nợ trên 5,5 tỉ đồng. “Vì chưa có chế tài xử lý vi phạm đối với các nhà máy thủy điện không nộp hoặc chậm nộp tiền dịch vụ môi trường rừng theo qui định nên các đơn vị cứ chây ỳ, phớt lờ trách nhiệm và nợ đọng cứ tồn từ năm này sang năm khác” – ông Hà nói.
Theo tìm hiểu của phóng viên, hiện 152 hộ đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng thuộc hai xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước) nhận khoán bảo vệ rừng thuộc Vườn quốc gia Bù Gia Mập gần 5 tháng qua vẫn chưa nhận được lương khiến cuộc sống rất khó khăn.
Trao đổi về vấn đề này, ông Bùi Việt Hà cho biết, trước tình hình khó khăn của các hộ nhận khoán, Qũy sẽ giải quyết tạm ứng gấp tiền quý II/2014 (tương đương 1,4 tỉ đồng, từ nguồn ngân sách) cho Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập để chi trả lương cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng theo đúng qui định.
Hiện đơn vị đang hoàn thiện các hồ sơ thủ tục, dự kiến từ ngày 15 đến 20/8, tất cả các hộ (152 hộ) sẽ được nhận lương các tháng còn nợ đọng. Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng được chi trả trung bình 2 triệu đồng/tháng/hộ. Thế nhưng từ tháng 3 đến nay các hộ chưa nhận được tiền.
Cũng theo ông Hà, hàng năm cơ quan điều hành Qũy bảo vệ phát triển rừng tỉnh chi trả cho chủ rừng (Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập – PV) 2 lần/1năm trên cơ sở kết qủa kiểm tra, nghiệm thu của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Nguyên nhân các hộ nhận khoán bảo vệ rừng bị chậm chi trả lương bởi chưa thu được tiền dịch vụ môi trường rừng do các đơn vị sử dụng còn nợ đọng, chưa đóng cho quỹ.
Liên quan vấn đề, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có văn bản yêu cầu các tổng công ty phát điện 1, 2, 3 (GENCO 1, 2, 3) khẩn trương chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng còn nợ đọng và thực hiện đúng qui định việc này trong các năm tiếp theo. (Công An Nhân Dân 14/8) đầu trang(
Nhờ thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mà đời sống của người dân bản Tà Ẻn, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu đang có những bước đổi thay từng ngày.
Nhận thức của người dân trong việc bảo vệ rừng được nâng cao, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép đã không còn xảy ra, người dân có thêm việc làm, thu nhập ổn định góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn mới.
Tà Ẻn là một bản của người dân tộc Xinh Mun ở vùng biên giới Việt - Lào nằm cách trung tâm huyện Yên Châu gần 50 km. Bản có 106 hộ với 386 nhân khẩu, đây là bản đặc biệt khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới hơn 60%. Những năm trước đây, do nhận thức của người dân trong việc bảo vệ rừng chưa được nâng cao, người dân trong bản thường hay vào rừng chặt củi, phá rừng lấn chiếm đất làm nương làm cho rừng ngày một cằn cội. Từ năm 2009, bản Tà Ẻn được thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân trong bản đã dần có ý thức hơn trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ông Vì Văn Vầu, Bí thư chi bộ bản Tà Ẻn cho biết: nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mà người dân trong bản có thêm việc làm, tăng thu nhập, người dân cũng có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng. Hàng năm bản đã sử dụng một phần số tiền được chi trả từ dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng để sửa chữa nhà văn hóa, nâng cấp hệ thống kênh mương, xây dựng tuyến đường trong bản…
Đến nay phần lớn tuyến đường trong bản đã được nâng cấp đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, nhà văn hóa bản đã được tu sửa lại khang trang, bộ mặt nông thôn mới đang dần được hình thành.
Tổng diện tích rừng của bản Tà Ẻn được chi trả dịch vụ môi trường rừng là 539,55 ha, gồm 66 chủ rừng là hộ gia đình, 1 chủ rừng là cộng đồng bản. Tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng bản Tà Ẻn được chi trả từ năm 2011-2013 là hơn 254.000.000 đồng, trong đó số tiền của cộng đồng bản là gần 130.000.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền từ dịch vụ chi trả môi trường rừng cho cộng đồng bản, bản Tà Ẻn đã họp bàn và quyết định dùng số tiền trên để sửa chữa, nâng cấp các công trình công cộng phục vụ dân sinh trong bản.
Ông Vì Văn Vầu nhớ lại: "Sau khi bản nhận được số tiền từ dịch vụ chi trả môi trường rừng, cái khó khăn nhất đối với bản là sử dụng số tiền ấy như thế nào, sau khi bàn đi tính lại và nhận được sự nhất trí cao của các hộ dân trong bản, chúng tôi quyết phương án là sử dụng số tiền trên để tu bổ, xây dựng các công trình công cộng để phục vụ bà con trong bản. Mọi người trong bản đều bỏ công ra để cùng nhau tu sửa hệ thống đường trong bản, đường nội đồng, xây dựng các công trình vệ sinh sử lý rác thải…".
Anh Vì Văn Dũng, một người dân trong bản chia sẻ: "Trước kia đường sá ở đây đi lại khó khăn lắm, người dân trong bản ngoài đi làm nương ra cũng chẳng biết làm gì nên cái đói cứ bám đuổi quanh năm, suốt tháng. Từ ngày có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hộ dân trong bản cũng có thêm nhiều việc làm tăng thêm thu nhập, ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng được nâng cao, không tự ý vào rừng chặt phá như trước kia nữa. Người dân trong bản đang tập chung phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa mới".
Theo trưởng bản Tà Ẻn Vì Văn Thắm, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước, không chỉ giải quyết việc làm, thu nhập cho người dân sở tại, mà còn giúp cho rừng được bảo vệ, nạn chặt phá rừng làm nương, nạn săn bắn động vật bừa bãi đã không còn. Đặc biệt, chính nhờ số tiền từ dịch vụ chi trả môi trường rừng, bản Tà Ẻn đã nâng cấp, cải tạo lại hệ thống các công trình phục vụ dân sinh, 100% số trẻ trong độ tuổi đều được đến trường, người dân yên tâm phát triển kinh tế từng bước xây dựng nông thôn mới.
Ông Phan Văn Tình, Chủ tịch UBND xã Phiêng Khoài, cho biết: Nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mà người dân trong xã đã có thêm thu nhập để cải thiện cuộc sống góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, bản Tà Ẻn đã sử dụng rất tốt số tiền từ dịch vụ môi trường rừng của cộng đồng bản để xây dựng, tu sửa các hệ thống kết cấu hạ tầng phục mục đích dân sinh.
Thời gian tới UBND xã sẽ sớm có kế hoạch để nhân rộng mô hình của bản Tà Ẻn ra các bản khác trong xã để Phiêng Khoài sớm cơ bản hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. (Bộ NN&PTNT 13/8) đầu trang(
Nằm trong chuỗi kế hoạch hoạt động nhằm hỗ trợ xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thông qua các chương trình nâng cao năng lực, phân bổ lợi ích công bằng và giám sát chất lượng dịch vụ môi trường, Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An phối hợp với Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam (VFD) tổ chức hội thảo “Báo cáo kết quả rà soát đánh giá 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh Nghệ An” tại thành phố Vinh.
Hội thảo đã quy tụ gần 70 đại biểu đến từ các cơ quan, ban ngành và tổ chức: Đại diện cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ- USAID; Các Sở: Sở Nông nghiệp &PTNT, Tài chính, Công thương; Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam- VFD; Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Nghệ An; Các đơn vị: Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp; Các phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên & Môi trường, Hạt Kiểm lâm các huyện Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn; Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Pù Huống; UBND các xã Huồi Tụ, Mỹ Lý (Kỳ Sơn); Yên Na (Tương Dương); Nậm Giải, Hạnh Dịch, Thông Thụ, Đồng Văn (Quế Phong); Nhà máy Thuỷ điện Bản Vẽ, Hủa Na, Tổng đội thanh niên xung phong 8- XDKT Nghệ An.
Đặc biệt, Hội thảo có sự tham gia của Tiến sỹ Nguyễn Chí Thành- Một trong những thành viên chủ chốt xây dựng Nghị định 99, là Trưởng nhóm chuyên gia tư vấn độc lập, người trực tiếp viết “Báo cáo đánh giá việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Nghệ An từ năm 2011 đến tháng 6/2014”.
Tại hội thảo, các đại biểu được nghe báo cáo đánh giá 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Nghệ An do Tiến sỹ Nguyễn Chí Thanh trình bày. Sau đó, các đại biểu được chia thành 3 nhóm để thảo luận, nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong việc triển khai chính sách chi trả DVMTR.
Hội thảo đã ghi nhận nhiều ý kiến xác đáng về 4 nhóm vấn đề lớn gồm: Hệ thống văn bản; Hình thức giao khoán; Cơ chế thực hiện chi trả, nghiệm thu; và xung quanh công tác tuyên truyền. Sau khi thảo luận các nhóm đã đưa ra một số vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung: Nguồn thu nhập mà người dân và các chủ rừng khác nhận được từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường này sẽ là nguồn thu khá khiêm tốn.
Vì vậy cần tuyên truyền về bản chất của việc chi trả DVMTR đến người dân và các chủ rừng để họ hiểu rằng nguồn thu từ chính sách này chỉ đóng vai trò như nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ rừng và phát triển sinh kế. Việc gắn kết việc chi trả DVMTR với các chương trình phát triển sinh kế khác là hết sức cần thiết nhằm tạo thêm thu nhập bền vững cho các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng.
Mức thu phí dịch vụ môi trường rừng từ các công ty Thủy Điện và đơn vị sử dụng nước nên tăng theo tỷ lệ thuận với giá bán điện và nước nhằm cải thiện mức chi trả cho người cung cấp dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt là các cộng đồng người dân tham gia bảo vệ rừng đầu nguồn.
Quyền quản lý và sử dụng đất/rừng là điều kiện tiên quyết cho việc thực thi chính sách chi trả DVMTR. Vì vậy, nên giao khoán theo chia sẻ lợi ích từ DVMTR cho cả cộng đồng để phù hợp với phong tục tập quán nhằm phát huy được tính cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng.
Cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành để hỗ trợ nhau trong việc thực thi chính sách chi trả DVMTR cũng như có cơ chế để các bên giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cần phối hợp và đề nghị UBND tỉnh, UBND huyện để ban hành chế tài và cách thức xử phạt nghiêm khắc đối với các đơn vị sử dụng DVMTR (nhà máy thuỷ điện, nhà máy cung cấp nước) chưa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An nên thành lập Ban chi trả DVMTR đối với huyện, xã phù hợp với điều kiện địa phương.
Chi trả DVMTR là một chính sách mới, không những đối với Việt Nam và cả thế giới, đòi hỏi phải vừa làm, vừa thử nghiệm, rút ra bài học, giải quyết vấn đề phát sinh. Hội thảo đã giúp Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An, các Sở ban ngành, tổ chức, cá nhân có liên quan nắm vững chính sách chi trả DVMTR để vận dụng chỉ đạo, thực thi hợp lý, hiểu quả. (Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An 12/8) đầu trang(
Thống kê 3 năm qua, thu nhập từ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng của người dân huyện Đạ Tẻh tăng từ 6-8 triệu đồng/hộ/năm lên 10-12 triệu đồng/hộ/năm.
Đơn giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho người dân bảo vệ rừng từ 100.000 đồng/ha năm 2011 tăng lên 300.000 đồng/ha năm 2012, 2013 và 400.000 đồng/ha năm 2014.
Những chủ rừng chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm các đơn vị: Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đạ Tẻh, Vườn Quốc gia Cát Tiên, Công ty cổ phần Cao su An Lợi, Công ty TNHH Lâm Thành.
Trong đó, mỗi năm đơn vị có mức chi trả nhiều nhất lên đến 4,5 tỷ đồng cho hơn 680 hộ (nhận khoán hơn 15.000ha rừng), ít nhất là hơn 41,5 triệu đồng cho 4 hộ (nhận khoán hơn 138ha rừng). Riêng chủ rừng là hộ gia đình có năm chi trả đến hơn 560 triệu đồng (cho gần 540 hộ nhận khoán 2.042ha rừng)...
Mọi hoạt động giao khoán, nghiệm thu bảo vệ rừng nêu trên đều được sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên của Ban Kiểm tra giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng của huyện Đạ Tẻh. (Báo Lâm Đồng 13/8) đầu trang(
Hiện nay, ngành Nông nghiệp tỉnh đang tích cực triển khai thực hiện Dự án (DA) Phục hồi và quản lý rừng bền vững do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ vốn vay ODA (gọi tắt là DA JICA 2) thực hiện.
PV Báo Bình Định đã phỏng vấn ông Nguyễn Rê, Phó Giám đốc Ban quản lý (BQL) DA JICA 2 (thuộc Sở NN-PTNT) về việc thực hiện DA này.
DA JICA 2 nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản về lĩnh vực lâm nghiệp. DA tài trợ thông qua hình thức cho vay vốn ODA ưu đãi để trồng, khoanh nuôi, chăm sóc rừng phòng hộ. JICA phối hợp với Bộ NN-PTNT, các bộ, ngành liên quan và chính quyền các địa phương xây dựng DA thực hiện trên địa bàn 11 tỉnh duyên hải miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận.
Tại Bình Định, DA được thực hiện trên địa bàn 9 xã của 5 huyện, gồm: Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn); Bok Tới, Ân Nghĩa, Ân Sơn (huyện Hoài Ân); Mỹ An, Mỹ Hiệp, Mỹ Phong (huyện Phù Mỹ); Vĩnh An (huyện Tây Sơn); Vĩnh Kim (huyện Vĩnh Thạnh). Diện tích rừng thực hiện thuộc lâm phận của 5 BQL rừng phòng hộ: Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Tây Sơn và Vĩnh Thạnh. Tổng diện tích thực hiện DA là 8.239 ha.
Trong đó, trồng rừng phòng hộ trên 2.101 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 3.452 ha; bảo vệ rừng phòng hộ 2.686 ha; xây dựng đường ranh cản lửa 49,5 km, đường lâm nghiệp 39,7 km, 8 chòi canh lửa, 4 trạm bảo vệ rừng, 10 bảng thông tin tuyên truyền, 4 vườn ươm và 22,5 km đường giao thông nông thôn.
Tổng vốn thực hiện DA trên địa bàn tỉnh là 1.020 triệu yên Nhật, tương đương 275,8 tỉ đồng, trong đó: vốn vay ODA Nhật Bản: 867 triệu yên Nhật, tương đương 234,27 tỉ đồng; vốn đối ứng của tỉnh 41,53 tỉ đồng, tương đương 153 triệu yên Nhật. DA có các hợp phần: Dịch vụ tư vấn; rà phá bom mìn và tẩy rửa chất độc; phát triển, cải thiện rừng phòng hộ; hỗ trợ phát triển sinh kế; phát triển cơ sở hạ tầng sinh kế, cơ sở hạ tầng lâm sinh; kiểm soát, phòng chống cháy rừng.
Với mục tiêu chung của DA là quản lý và bảo vệ bền vững rừng phòng hộ; phục hồi và bảo tồn đa dạng sinh học; xóa đói giảm nghèo ở khu vực miền núi; hỗ trợ cải thiện sinh kế cho người dân các xã vùng DA, trong quá trình thực hiện, DA sẽ hỗ trợ để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tại các địa bàn khó khăn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Qua đó, sẽ góp phần giải quyết việc làm cho người dân trong việc tham gia trồng, chăm sóc rừng trồng; xây dựng các mô hình kinh tế dưới tán rừng để tăng thu nhập. Việc thực hiện DA JICA 2 cũng sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng độ che phủ rừng, đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.
Sau thời gian thực hiện các bước chuẩn bị, trong năm 2014 này, chính thức đi vào thực hiện DA với các hoạt động cụ thể, gồm: Trồng rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh rừng; chăm sóc rừng phòng hộ…
Theo chỉ đạo của Bộ NN-PTNT, UBND tỉnh, kế hoạch trồng rừng năm 2014 này cần phải đẩy nhanh so với kế hoạch ban đầu (diện tích trồng rừng năm nay là 800 ha, tăng 200% so với kế hoạch), nên công tác chuẩn bị giống cây bản địa cho DA rất bị động, thiếu cây giống để trồng rừng.
BQL DA tỉnh đã chủ động xin điều chỉnh đơn giá cây giống bản địa và đề nghị các BQL rừng phòng hộ các địa phương liên hệ với các đơn vị sản xuất cây giống trong và ngoài tỉnh để tìm mua cây giống. Tuy nhiên, có khả năng sẽ thiếu cây giống bản địa đủ tiêu chuẩn phục vụ cho trồng rừng năm nay .
Bên cạnh đó, công tác quy hoạch sử dụng đất rừng phòng hộ tham gia DA có sự thay đổi, một số diện tích đất trống đã quy hoạch cho trồng rừng bị người dân lấn chiếm để sản xuất. Vì vậy, trong công tác thiết kế chi tiết cần có sự phối hợp với chính quyền địa phương để vận động người dân giao trả lại diện tích đã lấn chiếm, đồng thời với việc vận động người dân tham gia vào các hoạt động DA trước mắt và góp phần việc quản lý bảo vệ rừng lâu dài…
Để đảm bảo hoàn thành kế hoạch đúng thời gian quy định, BQL DA JICA 2 đang tăng cường công tác kiểm tra và phối hợp với các đơn vị tư vấn, các nhà thầu để thực hiện các hạng mục của DA. (Báo Bình Định 12/8) đầu trang(
Đó là phát biểu chỉ đạo của Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Mai Thế Trung trong chuyến đi khảo sát, kiểm tra rừng phòng hộ Dầu Tiếng.
Theo báo cáo tóm tắt của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng chính thức đi vào hoạt động tháng 2-2011, hiện đang quản lý với tổng diện tích 3.652,47 ha rừng thuộc hai xã Minh Hòa và Định Thành.
Trong đó, Ban Quản lý trực tiếp quản lý 651,45 ha, giao khoán 2.333,46 ha cho các hộ gia đình quản lý. Số còn lại là diện tích đất xâm canh bởi các gia đình sống trong khu vực.
Dù phải quản lý một diện tích rất lớn đất rừng nhưng hiện Ban Quản lý chưa có trụ sở, phải thuê nhà của dân để làm việc. Bên cạnh đó, công cụ hỗ trợ cho công việc còn thiếu rất nhiều.
Chính vì thế, Ban Quản lý rừng phòng hộ rừng đầu nguồn Dầu Tiếng kiến nghị được tỉnh cho phép kiểm tra, rà soát, xây dựng thêm nhiều tuyến đường tuần tra, bảo vệ rừng; xin có chủ trương liên kết, liên doanh với các công ty du lịch sinh thái để nâng cao hiệu quả sử dụng rừng, góp phần bảo vệ rừng; xem xét hỗ trợ thêm phụ cấp bảo vệ rừng cho cán bộ bảo vệ rừng và lập phương án tái định cư cho 45 hộ dân đang sống ở ấp Tha La, xã Định Thành với diện tích 24 ha…
Sau khi nghe báo cáo của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bí thư Tỉnh ủy Mai Thế Trung giao cho các sở, ngành có liên quan tiếp tục nghiên cứu, thực hiện dưới sự chủ trì của UBND tỉnh, sao cho các nông dân, người trồng rừng tiếp tục gắn bó với rừng để bảo vệ rừng bền vững. (Báo Bình Dương 12/8) đầu trang(
12/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Phước Thanh quyết định thu hồi chủ trương cho phép Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Lý Châu Giang chuyển đổi gần 35ha diện tích đất lâm nghiệp thuộc khoảnh 1, 2, 3, 5, 7 tiểu khu 683, xã Phước Chánh (huyện Phước Sơn) sang trồng cây cao su tại Công văn số 222/UBND-KTN ngày 17/01/2013 của UBND tỉnh và giao cho địa phương quản lý, sử dụng.
Lý do thu hồi vì kể từ khi có chủ trương của UBND tỉnh đến nay, Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Lý Châu Giang không lập các hồ sơ, thủ tục để xúc tiến việc triển khai trồng cao su theo đúng quy định.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường theo dõi và xử lý các vấn đề có liên quan thuộc phạm vi quản lý của ngành. (Báo Quảng Nam 12/8) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp - PTNT, để phát triển rừng, bên cạnh trồng mới rừng hàng năm, hiện Nhà nước cũng đã có chủ trương trồng rừng thay thế nhằm khắc phục hậu quả do để mất rừng. Tuy nhiên, công tác trồng rừng thời gian qua diễn ra còn chậm, hiệu quả mang lại chưa cao.
Điển hình như thực hiện Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, giai đoạn 2005-2010, toàn tỉnh đã giao kế hoạch trồng mới 7.900 ha rừng. Kết thúc giai đoạn này, tổng diện tích rừng đã trồng, được nghiệm thu quyết toán từ các dự án nằm trong chương trình cũng chỉ được 4.768 ha, đạt 60,2% kế hoạch.
Không chỉ không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra về diện tích trồng mới rừng theo dự án, quá trình thực hiện, vì nhiều nguyên nhân mà các đơn vị trồng rừng còn để xảy ra tình trạng mất rừng trồng mới với diện tích tương đối lớn, gây lãng phí kinh phí đầu tư của Nhà nước.
Cụ thể như trong dự án trồng và chăm sóc rừng phòng hộ theo Quyết định 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, toàn tỉnh đã để mất 62,26 ha, thiệt hại số vốn đầu tư trên 321 triệu đồng. Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán, các đơn vị chủ rừng đã để mất 1.223 ha (chiếm trên 56% diện tích đã nghiệm thu) với giá trị vốn đầu tư thiệt hại ước tính 2,4 tỷ đồng.
Đối với Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015 do các hạt kiểm lâm làm chủ đầu tư thì toàn tỉnh có 127 ha diện tích rừng trồng không đạt yêu cầu vì tỷ lệ cây chết vượt quá quy định; 27,2 ha rừng trồng đã mất, với giá trị vốn đầu tư ước tính 524 triệu đồng. Đối với Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư, toàn tỉnh cũng đã để mất hơn 25 ha, với số tiền thiệt hại trên 283 triệu đồng.
Ngoài kế hoạch trồng mới, theo quy định, các đơn vị, địa phương để mất rừng thì phải trồng bù rừng thay thế. Tuy nhiên, xem ra tiến độ này thời gian qua thực hiện chưa được là bao. Trong năm 2014, toàn tỉnh có tất cả 13 đơn vị tham gia chương trình trồng rừng thay thế với tổng diện tích dự kiến khoảng 2.246 ha.
Hiện nay, UBND tỉnh đã giao 1.581 ha cho chủ các dự án thủy điện để tiến hành trồng rừng. Thế nhưng quá trình triển khai lại gặp khó khăn vì đa phần diện tích nằm trong kế hoạch trồng lại rừng đã và đang bị người dân lấn chiếm, sử dụng.
Chưa kể đến, theo số liệu điều tra, công bố 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh năm 2013, toàn tỉnh hiện có 319.513 ha rừng, đất rừng, trong đó đất có rừng là 263.837 ha, còn 55.676 ha đất không có rừng được đưa vào kế hoạch trồng rừng trong thời gian tới. Diện tích trên phần lớn là do các doanh nghiệp, địa phương được giao quản lý, bảo vệ rừng nhưng đã để người dân chặt phá, lấn chiếm.
Điều đáng nói là mặc dù số doanh nghiệp, địa phương để mất rừng thời gian qua là khá lớn nhưng việc khắc phục hậu quả thì đến nay chưa được là bao. Điển hình như thời gian qua, tỉnh đã có 13 dự án bị thu hồi do để mất rừng với diện tích lớn hoặc triển khai không hiệu quả, trong đó 8 dự án thu hồi toàn bộ và 5 dự án thu hồi một phần với diện tích rừng, đất rừng là 9.026 ha.
Trong khi đó, hiện UBND tỉnh mới ra quyết định xử phạt hành chính đối với 4 chủ dự án với số tiền trên 1 tỷ đồng và cũng mới chỉ có 2 đơn vị thực hiện trồng lại rừng với diện tích gần 2 ha. Cũng theo Sở Nông nghiệp-PTNT, tỉnh hiện đang tiếp tục rà soát và dự kiến sẽ tham mưu cho UBND tỉnh xử lý thu hồi 10 dự án nông-lâm nghiệp với diện tích 1.020 ha rừng, đất rừng, số tiền phạt hơn 80 tỷ đồng. Số tiền này sẽ được đầu tư trồng lại rừng trên diện tích rừng đã bị mất.
Một thực tế là mặc dù vấn đề rà soát, xác định diện tích rừng để mất đối với các đơn vị, địa phương để xử lý trách nhiệm là không khó nhưng cái khó là khắc phục hậu quả bằng việc trồng rừng thay thế theo chỉ đạo của Chính phủ. Bởi vì, hầu hết các diện tích rừng, đất rừng mà các đơn vị để mất hiện nay đều đã bị người dân lấn chiếm, canh tác.
Để trồng lại rừng, Nhà nước lại phải tổ chức giải tỏa, thu hồi nên sẽ mất nhiều thời gian, công sức. Chưa kể đến, sau khi đã trồng rừng, công tác bảo vệ diện tích này cũng cần phải được triển khai một cách quyết liệt, hiệu quả, nếu không sẽ tiếp tục để xảy ra tình trạng người dân tái phá, lấn chiếm rừng trồng như thời gian qua. (Báo Đắc Nông 13/8) đầu trang(
12/8, Đoàn ĐBQH tỉnh do bà Đặng Thị Kim Chi (Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh) làm trưởng đoàn đã kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau các đợt giám sát, khảo sát của đoàn đối với các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh.
Đoàn đã làm việc với lãnh đạo huyện Sơn Hòa, Sông Hinh và Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, Công ty cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh về kết quả giải quyết các tồn đọng đối với dự án thủy điện.
Tại buổi làm việc, ông Trần Lý, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, cho biết, đến nay công ty chỉ mới trồng được 12,9ha trong tổng số 204,3ha rừng phải trồng bù, do xây dựng Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ. Số diện tích rừng phải trồng, công ty đang lập hồ sơ thiết kế, khi nào được phê duyệt thì mới tiến hành trồng.
Đối với Công ty cổ phần Vĩnh Sơn - Sông Hinh chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Sông Hinh, đến nay vẫn không biết đã trồng bao nhiêu hécta rừng phải trồng để bù lại số rừng bị mất do xây dựng nhà máy.
Sau khi làm việc với các địa phương và đại diện các công ty thủy điện, bà Đặng Thị Kim Chi đề nghị các công ty phải trồng đủ diện tích rừng, bù lại diện tích rừng đã mất do xây dựng các nhà máy thủy điện; phối hợp với chính quyền các địa phương quan tâm đến đời sống của người dân tại các khu tái định cư, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số để họ có cuộc sống ổn định...(Báo Phú Yên 13/8) đầu trang(
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai có hiệu quả Dự án “Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên” (dự án FLITCH), góp phần làm tốt hơn công tác quản lý bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế cho đồng bào các dân tộc trong vùng dự án.
Cụ thể, các tỉnh đã trồng được gần 25.000/44.000 ha rừng, đạt 55% mục tiêu, khoán bảo vệ rừng gần 60.000 ha, tạo việc làm, tăng thu nhập cho trên 33.000 hộ dân, với 6 triệu ngày công lao động cho đồng bào trong vùng dự án.
Dự án FLITCH do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Uỷ thác ngành Lâm nghiệp TFF (Hà Lan, Phần Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ) tài trợ với tổng kinh phí trên 91,26 triệu USD. Dự án được thực hiện từ năm 2007-2015 tại 22 huyện, 97 xã của 6 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Phú Yên.
Mục tiêu của dự án là giảm tỷ lệ hộ nghèo đói, thu hẹp khoảng cách về thu nhập của các hộ nghèo so với các hộ trung bình ở các địa bàn phải sống dựa vào rừng của 6 tỉnh được thụ hưởng dự án, trong đó, đặc biệt quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời tăng cường năng lực quản lý, sử dụng rừng đất rừng trong vùng dự án, nhất là năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất lâm nghiệp cho cộng đồng và hộ gia đình, quản lý bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, với sự tham gia của cộng đồng, các chủ thể Nhà nước, tư nhân.
Ngoài ra, dự án cũng phát triển trồng rừng sản xuất có năng suất cao, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, các hoạt động lâm sinh khác nhằm tăng khả năng cung cấp gỗ, lâm sản, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng….
Theo đánh giá của Đoàn công tác ADB, dự án cơ bản đạt mục tiêu đề ra đáp ứng và phù hợp với nguyện vọng của các địa phương vùng Tây Nguyên và tỉnh Phú Yên. Khi kết thúc, dự án sẽ trồng được trên 40.000 ha rừng các loại, đạt khoảng 90% mục tiêu thiết kế ban đầu, tạo việc làm cho 50.000 hộ dân, với khoảng 9 triệu ngày công lao động cho vùng dự án. Dự án cũng hỗ trợ cho trên 60 công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ và các doanh nghiệp nhỏ ngoài khu vực nhà nước trồng được gần 15.000 ha rừng tập trung….
Ngoài ra, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên còn có các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA khác hỗ trợ cho bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên như dự án do GIZ hỗ trợ kỹ thuật về giao đất, giao rừng, dự án PARK hỗ trợ Vườn Quốc gia Yok Don, các dự án hỗ trợ kỹ thuật của JICA, Chương trình UN-REDD…
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang hoàn thành thủ tục phê duyệt Dự án “Bảo vệ và Quản lý tổng hợp các hệ sinh thái” do Ngân hàng Tái thiết Đức - KFW tài trợ, thực hiện tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam với tổng kinh phí trên 15 triệu USD.
Mục tiêu của dự án là hỗ trợ quản lý và phục hồi hiệu quả những diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo kiệt thông qua việc giao rừng cho cộng đồng và phát triển sinh kế cho người dân trong vùng dự án…(Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn 12/8) đầu trang(
Là vùng kinh tế mới thành lập sau 1975, xã Bình Thành (Hương Trà) có nhiều tiềm năng và lợi thế của vùng gò đồi, nhưng đời sống người dân vẫn rất khó khăn.
Đến thôn Bình Tân, được biết, trong 70 hộ dân (với 169 người trong độ tuổi lao động), có đến 1/2 theo nghề sông nước, số còn lại đa phần đi khai thác gỗ thuê cho các chủ rừng. Bác Nguyễn Thanh, 71 tuổi, người thôn Bình Tân cho biết: “Từ khi theo chủ trương đi kinh tế mới lên đây rồi được cấp đất tái định cư, đến chừ vẫn chưa có đất để sản xuất, ổn định cuộc sống”.
Anh Nguyễn Hùng, Trưởng thôn Bình Tân nói: “Chúng tôi đã đề xuất từ nhiều năm nay nhưng chưa được. Ai cũng mong mỏi được cấp ít nhiều ha đất để có tương lai lâu dài”.
Trong khi lâm nghiệp được xác định là nguồn thu nhập chính của địa phương, nhưng thực tế việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp còn rất chồng chéo. Theo đó, số hộ gia đình, cá nhân của xã có đất rừng trồng sản xuất chỉ chiếm gần 18% đất lâm nghiệp.
Là xã có địa bàn rộng với 6.362 ha, trong đó trên 70% diện tích đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, có 3.700/4.600 ha rừng tại địa phương là của các lâm trường và công ty quản lý. Xã chỉ có 118 ha cao su và trên 700 ha rừng kinh tế. Tỷ lệ bình quân đất nông nghiệp và đất rừng so với gần 1.000 hộ dân là rất thấp, bình quân chỉ đạt 0,79ha/hộ.
Mặt khác, 5/11 thôn của xã gồm: Bình Tân, Bồ Hòn, Hòa Bình, Hòa Thành và Bình Dương đều là các thôn tái định cư đặc biệt khó khăn. Người dân đang thiếu đất sản xuất, diện tích đất chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng nên thu nhập thấp, không ổn định.
Đề cập đến giải pháp tháo gỡ những khó khăn nêu trên, Chủ tịch UBND xã Bình Thành, Hồ Văn Sanh cho biết: “UBND xã đã hợp đồng giao khoán trồng 60 ha rừng kinh tế với Công ty TNHH NN MTV Lâm nghiệp Tiền Phong và giao cho người dân thôn Thọ Bình chăm sóc và hưởng lợi theo quy chế.
Dự kiến, đến cuối năm 2014 sẽ triển khai chương trình này. Xã cũng tiếp tục kiến nghị các cấp có thẩm quyền tiếp tục giao lại một số diện tích đất thuộc các công ty, BQL, các tổ chức đang quản lý để giao cho các hộ tái định cư, dân thủy diện, hộ dân tộc thiểu số có đất phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống. Đồng thời, địa phương cũng sẽ đề ra các biện pháp, chính sách để khai thác triệt để số diện tích đất gần 71ha chưa sử dụng hiện có”.
Tuy nhiên, theo Chủ tịch UBND xã Bình Thành, giải pháp cốt lõi hiện nay để giải bài toán tạo thu nhập ổn định cho người dân là cần đảm bảo giao và cấp đủ đất sản xuất cho bà con ở các thôn tái định cư; đồng thời tổ chức đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động trẻ.
Hiện, Bình Thành có trên 2.200 người trong độ tuổi lao động, trong đó, lao động nông nghiệp chiếm trên 80%. Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, Bình Thành đã và đang tích cực đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ KHKT để nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế rừng trồng; chuyển đổi một số diện tích rừng không hiệu quả sang trồng rừng sản xuất kinh doanh.
Chuyển giao một số diện tích đất lâm nghiệp cho hộ dân quản lý. Phấn đấu đưa diện tích rừng trồng tập trung khoảng 1.000 ha, cây cao su 150 ha... Khuyến khích người dân đầu tư xây dựng các mô hình vườn rừng, vườn nhà, khu du lịch sinh thái. Quy hoạch một số trang trại gia súc - hoa quả sạch, điểm thu mua cao su tại các thôn Thọ Bình, Bình Tân, Hòa Cát, Hòa Bình trên tổng diện tích gần 30 ha...
Để đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động, Bình Thành nên phối hợp triển khai một số lớp đào tạo nghề may, cung cấp lao động cho doanh nghiệp may tại địa phương. Đồng thời, phát triển một số ngành nghề phụ mà Bình Thành có thế mạnh như: cưa xẻ gỗ, sản xuất kinh doanh mộc mỹ nghệ...
Khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, nhất là dịch vụ mua bán, chế biến nông sản, thương mại, làm trung gian thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp của địa phương. Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và gia trại. Hiện, Bình Thành có 2 trang trại... (Báo Thừa Thiên Huế 12/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhân viên kiểm lâm Rana Mori ở khu bảo tồn Gir, bang Gujarat - Ấn Độ nhìn thấy chú sư tử con trong một bụi cây. Ông đi theo con vật và phát hiện sư tử mẹ nằm chết trên đỉnh một ngọn đồi gần đó.
Trao đổi với đài BBC (Anh), ông Mori cho hay: “Chiều 9-8, tôi tuần tra phạm vi khu vực Tulsi-Shyam trong khu bảo tồn thì nhìn thấy một chú sư tử con trong bụi cây. Vì sư tử con ít khi ra ngoài mà không có mẹ đi kèm nên tôi quyết định tìm con sư tử cái. Tôi bám theo con sư tử đến một gò đất nhỏ. Sư tử mẹ nằm đó, giống như đang ngủ. Khi lại gần, tôi phát hiện nó đã chết”.
Chú sư tử con nằm phục bên xác mẹ, dường như có ý bảo vệ để mẹ khỏi sự đe dọa của các loài thú khác. Các quan chức kiểm lâm sau khi được thông báo sự việc đã cùng cảnh sát tới đưa thi thể sư tử mẹ ra khỏi ngọn đồi.
Khám nghiệm ban đầu cho thấy con vật (khoảng 11 tuổi) bị giết chết trong một cuộc chiến với động vật khác, có thể là một đàn trâu nước. Xương sườn của nó bị gãy nát, nội tạng tổn thương và chết vì mất nhiều máu.
Đội phó kiểm lâm khu bảo tồn Gir, ông Anshuman Sharma cho biết hành động của chú sư tử con là rất hiếm gặp và hết sức đặc biệt.
Chuyên gia về sư tử Yadvendra Dev Jhala của Viện Động vật Hoang dã Ấn Độ (WII) nói rằng ông chưa bao giờ chứng kiến trường hợp một con sư tử con bảo vệ xác mẹ như vậy.
Do mới chỉ 15 tháng tuổi nên chú sư tử con sẽ được các cán bộ kiểm lâm giám sát đặc biệt. Thời gian một sư tử con có thể tách mẹ ở vào khoảng hai năm rưỡi. Tại ở khu bảo tồn Gir – nơi tập trung chủ yếu loài sư tử châu Á, người ta thống kê được có khoảng 411 cá thể đang sinh sống. (Người Lao Động 13/8) đầu trang(
Lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận họ cho phép buôn bán da hổ nuôi nhốt. Thông báo này được đại diện của Trung Quốc, phát biểu tại một nghị quốc tế về bảo vệ động vật có nguy cơ tuyệt chủng ở Geneve.
Đại biểu này thừa nhận tại hội nghị: "Chúng tôi chưa bao giờ cấm buôn da hổ nhưng có cấm buôn bán xương hổ". Việc thừa nhận này được công khai tại hội nghị, thực tình đã gây sốc. Vị đại diện của Bắc Kinh còn đưa ra một bản báo cáo quy mô về việc Chính phủ Trung Quốc cho phép buôn bán da hổ nuôi nhốt cho mục đích thương mại.
Giới chuyên gia tin rằng "nuôi hổ trong trại" tại Trung Quốc đã và đang châm ngòi cho nhu cầu săn trộm và buôn lậu hổ từ những nơi khác. Trong khi Trung Quốc được xem là thị trường chính tiêu thụ các sản phẩm từ hổ, thì giới chuyên gia động vật hoang dã nói Thái Lan, Lào, Philippines, Malaysia và Indonesia cũng đang gia tăng "nuôi hổ trong trại".
Mặc dù thế, việc vận chuyển da hổ và cao hổ cốt tại Trung Quốc xem ra khá nhạy cảm: nhân viên bảo vệ luật pháp có thể bắt giữ bất kỳ người nào vi phạm hai điều mà họ cho là cấm kị này.
Trong vòng 2 năm qua, đã có gần 90 con hổ bị bắt hoặc vận chuyển qua các cơ sở nuôi nhốt ở Đông Nam Á và Trung Quốc. Theo SSN - Liên minh gồm hơn 100 tổ chức bảo tồn sinh vật, những nỗ lực làm giảm nhu cầu sử dụng và các hoạt động chống buôn bán sản phẩm từ hổ bị suy yếu, bởi các cơ sở nhân giống hổ cho mục đích thương mại, có thể bị bắt giữ. Tuy vậy vẫn thiếu các biện pháp ngăn chặn các cơ sở này hoạt động.
Việc Trung Quốc thử nghiệm cho phép bán da hổ nuôi nhốt không có tác dụng gì trong việc giảm áp lực lên loài hổ hoang dã. Bằng chứng là vẫn tiếp tục có hiện tượng săn bắn hổ.
"Nếu Chính phủ Trung Quốc thừa nhận việc buôn bán da hổ, tôi nghĩ đó là một bước tiến tiếp theo để cắt giảm việc buôn bán sản phẩm bất hợp pháp từ hổ" - SP Yadav, Phó tổng thanh tra Cơ quan Bảo tồn hổ Quốc gia của Ấn Độ, nói.
Da hổ, báo và báo tuyết được các chính trị gia, quan chức quân đội, và giới doanh nhân ở Trung Quốc ưa chuộng để trang trí nội thất, và kết quả của các vụ tham nhũng gần đây ở Trung Quốc khẳng định rằng sản phẩm từ hổ là các "món quà" được dùng thay tiền trong các vụ đưa hối lộ. (Công An Nhân Dân 11/8) đầu trang(
Một thành phố ở Trung Quốc bỏ ra 817.000 USD (tương đương 1,7 tỷ đồng) xây cầu treo chỉ để phục vụ nhu cầu đi lại của đàn khỉ.
Chính quyền thành phố Tế Nguyên, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) quyết định đầu tư hơn 800.000 USD để xây cầu treo chỉ dành cho khỉ, sống dọc bờ sông Qin, để chúng tiện "đi lại, giao lưu, sinh sống" với nhau.
Cây cầu dài khoảng 250m, rộng 1,5m, có thể chịu được tải trọng của khoảng 150 con khỉ. Công trình này được khởi công từ tháng 6 và dự kiến hoàn thành vào tháng 10 năm nay.
Trước đó, hồi đầu năm nay, để phòng tránh bão lụt, thành phố này mở rộng con đập bắc qua sông Qin, một nhánh của sông Hoàng Hà, làm thay đổi môi trường sinh sống tự nhiên của những con khỉ núi sống trong khu vực. Hiện có khoảng 500 con khỉ, thuộc 5 loài khác nhau sống dọc theo 2 bờ sông Qin.
Dự án xây cây cầu treo cho khỉ của chính quyền thành phố Tế Nguyên, nhận được vô số lời khen từ cộng đồng, đặc biệt là những nhà bảo vệ động vật hoang dã.
Đây cũng là trường hợp đầu tiên ở Trung Quốc, chính quyền tự bỏ tiền túi ra xây dựng một công trình chuyên biệt để bảo vệ một loài động vật hoang dã.
Cư dân mạng Trung Quốc lại bày tỏ sự thích thú với sáng kiến "hay ho" trên vì cho rằng, đây sẽ là điểm hút khách du lịch tới thỏa sức ngắm nhìn những chú khỉ đi lại trên chiếc câu treo riêng đầu tiên dành cho chúng. (Dân Việt 13/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||