Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 15 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết, đơn vị đang phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn điều tra, xử lí vụ hàng trăm mét khối gỗ Pơ mu thuộc rừng phòng hộ trên địa bàn xã Tam Hợp, huyện Tương Dương bị lâm tặc đốn hạ trong thời gian gần đây.
Theo đó, từ cuối tháng 7 trên địa phận giáp ranh biên giới Việt – Lào thuộc xã Tam Hợp, một số lượng lớn lâm tặc đã lợi dụng sự sở hở của các cơ quan chức năng để đốn hạ không thương tiếc hàng trăm mét khối gỗ Pơ mu giá trị.
Điều đáng nói, lâm tặc chủ yếu là người dân tộc Mông, hiện đang sinh sống trên địa bàn xã. Sau khi đốn hạ hàng loạt cây pơ mu cổ thụ, lâm tặc tẩu tán gỗ bằng cách cho lên các xe vận chuyển gỗ Lào từ biên giới về để ngụy trang nhằm qua mặt các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, ý định của chúng đã bị lực lượng chức năng phanh phui.
14/ 8, trao đổi với PV, ông Võ Sỹ Lâm, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Tương Dương, cho biết: “ Sau khi nhận được tin báo của kiểm lâm về việc hàng loạt cây cổ thụ Pơmu bị đốn hạ không thương tiếc, chỉ còn trơ lại gốc tại vùng biên giới Việt – Lào thuộc xã Tam Hợp, chúng tôi đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo giao cho lực lượng công an vào cuộc điều tra làm rõ. Sau khi có kết luận từ cơ quan điều tra, chúng tôi sẽ tiến hành vận chuyển tang vật ra khỏi rừng để xử lí theoq uy định”.
Cũng theo ông Lâm, điều quan trọng bây giờ là phải khéo léo bí mật, tránh đánh động vì lâm tặc ở đây chủ yếu là người dân tộc Mông, họ rất manh động và có thể bỏ trốn sang biên giới Lào nên phương pháp điều tra mềm dẻo được ưu tiên.
Hiện, ban quản lí rừng đang phối hợp cùng bộ đội biên phòng tiến hành bảo vệ hiện trường và số lâm sản để cơ quan công an điều tra làm rõ vụ việc. (Đời Sống & Pháp Luật 15/8) đầu trang(
Hơn 2ha diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn Thủy điện Trị An tại ấp Mít Nài (xã La Ngà, Định Quán) đã bị đốn hạ, triệt phá một cách không thương tiếc. Người dân địa phương đã nhiều lần trình báo vụ việc lên các cấp chính quyền nhưng tình trạng phá rừng vẫn tiếp diễn.
Theo phản ảnh của người dân ấp Mít Nài, rừng phòng hộ gần 20 năm tuổi tại đây bị những người lạ mặt ngang nhiên chặt phá. Ông Hoàng Trung Biên (64 tuổi, ngụ ấp Mít Nài) cho biết: “Từ đầu năm đến nay có khoảng 600 cây gỗ có đường kính từ 30-80cm bị cưa tận gốc. Những người lạ chặt gỗ cả ngày lẫn đêm rồi dùng ô tô chở ra khỏi rừng như ở chốn không người”.
Ông Biên cho biết thêm, rừng phòng hộ bị chặt phá chủ yếu là rừng trồng các loại cây giá trị (gỗ tếch), săng lẻ, lún xanh... với mục đích che chắn, bảo vệ vùng đầu nguồn hồ Thủy điện Trị An. Để “mục sở thị” cảnh hoang tàn, PV theo chân người dân địa phương tiếp cận vùng rừng bị đốn hạ. Tại đây, hàng trăm cây gỗ có đường kính từ 30cm trở lên đều bị đốn hạ còn lại gốc, những cây gỗ nhỏ hơn thì bị chặt cành, chặt ngọn, đứng trơ trụi chờ ngày “hành hình”. Điều đặc biệt, những gốc cây bị đốn hạ còn sót lại đều bị lấp đất dày khoảng 10-20cm hoặc bị chất củi khô đốt cháy để che mắt thiên hạ.
Theo tìm hiểu, khoảng 44ha rừng phòng hộ tại xã La Ngà, Định Quán được Nhà nước giao khoán cho chính quyền xã này trông coi từ năm 1994. Trong đó diện tích rừng giao khoán tại ấp Mít Nài chiếm gần 14ha và được giao cho các gia đình cán bộ xã bảo vệ, phòng chống cháy và được trả thù lao theo quy định. Năm 2006, khi rừng phòng hộ tại xã La Ngà bắt đầu xuất hiện các vấn đề tiêu cực, người dân “vào cuộc” truy nguồn gốc thì được UBND xã này trả lời bằng văn bản: “Do thời gian lâu năm nên việc quản lý hồ sơ bị thất lạc. Hơn nữa, mỗi nhiệm kỳ UBND đểu thay đổi cán bộ lãnh đạo và chuyên môn nên hồ sơ giao đất không có tại UBND xã”.
Nạn chặt phá rừng phòng hộ bị người dân phát giác, phản ánh lên chính quyển các cấp song đến nay sự việc vẫn chưa được giải quyết và có dấu hiệu né tránh trách nhiệm, ông Hoàng Văn Trọng - Chi hội trưởng Người cao tuổi ấp Mít Nài bức xúc: “Mới đây, chúng tôi bắt quả tang một số đối tượng đang chặt phá rừng, đưa họ về trụ sở UBND xã La Ngà giao cho chính quyền nhưng cũng chẳng thấy họ xử lý. Sau vụ đó, chúng tôi vẫn thấy người lạ ngang nhiên chặt phá rừng việc như chưa hề xảy ra".
“Chúng tôi phản ánh lên chính quyền nhưng đến nay vẫn không thấy ai về kiểm tra. Hơn nữa, chúng tôi từng đề nghị UBND xã công khai tình hình khai thác, quản lý rừng tại ấp Mít Nài cho người dân được rõ nhưng cán bộ không chịu trả lời cụ thể” - ông Nguyễn Văn Đức - Trưởng ấp Mít Nài cho biết.
Khi được đề cập đến vấn đề trên nhiều lần, bà Vũ Thị Thơ - Chủ tịch UBND xã La Ngà (Định Quán) trả lời: “Tôi bận công tác, chưa thể trả lời”. Còn bà Nguyễn Thị Thanh Yên Chủ tịch UBND huyện Định Quán thì trả lời thẳng thừng: “Vấn đề trên không thể nói ngay được mà cần phải có thời gian”.
Rõ ràng, với sự thờ ơ như hiện nay của chính quyền La Ngà (Định Quán), việc rừng đầu nguồn không bị chặt phá mới là điều lạ! (Nông Thôn Ngày Nay 15/8, tr6) đầu trang(
Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đác Nông, các ngành chức năng của của tỉnh đã tiến hành thanh tra toàn diện tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân, thuộc địa bàn huyện Đác Song.
Kết quả, đã phát hiện tại nhiều sai phạm liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp trong thời gian dài. Cụ thể, trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, chỉ tính từ tháng 9-2008 đến hết năm 2013, công ty này đã để mất hơn 3.510 ha rừng tự nhiên.
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng diễn ra liên tục và trong một thời gian dài với số lượng rất lớn nhưng Công ty lâm nghiệp Trường Xuân cũng như Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song báo cáo không đúng thực tế. Vì vậy, chính quyền địa phương cũng như các cơ quan chức năng không theo dõi được thực tế mất rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp hàng năm của công ty này.
Điều đáng nói là mặc dù trong thời gian qua, UBND tỉnh Đác Nông đã có nhiều văn bản chỉ đạo các chủ rừng tăng cường lực lượng quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) nhưng nhiều năm qua, Công ty lâm nghiệp Trường Xuân không tăng cường lực lượng QLBVR mà ngược lại ngày càng giảm quân số, không đủ lực lượng tuần tra, kiểm soát thực hiện cắm chốt tại những địa bàn, địa điểm xung yếu.
Công ty thành lập hai trạm QLBVR nhưng lực lượng mỏng, các trạm ở cách xa nhau hàng chục km, khi xảy ra vụ việc không được phối hợp kịp thời, lực lượng cơ động chỉ có ba, bốn cán bộ không đủ lực lượng tuần tra, kiểm soát một cách thường xuyên. Chính điều này đã để mất rừng với diện tích lớn.
Qua thanh tra cũng cho thấy, phần lớn diện tích rừng tự nhiên bị mất do người dân lấn chiếm sản xuất, nhưng công ty cũng không có biện pháp ngăn chặn và báo cáo không trung thực.
Điều khó hiểu là Công ty lâm nghiệp Trường Xuân để mất một diện tích rừng lớn như vậy và hàng năm cả lãnh đạo công ty và Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song đều báo cáo không trung thực về diện tích rừng bị mất cũng như không có biện pháp ngăn chặn nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng... nhưng cả ban lãnh đạo công ty này lẫn Hạt Kiểm lâm huyện vẫn không có ai bị xử lý, kỷ luật?
Không chỉ riêng Công ty lâm nghiệp Trường Xuân mà nhiều công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đác Nông cũng để xảy ra tình trạng phá rừng, mất rừng và lấn chiếm đất rừng với diện tích lớn, nhưng không có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
Nguyên nhân là trong những năm gần đây, phần lớn các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đác Nông gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động do đóng cửa rừng, không có chỉ tiêu khai thác gỗ. Chủ các công ty lâm nghiệp cũng thiếu năng động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh... nên toàn bộ hoạt động chỉ dựa vào nguồn kinh phí QLBVR do nhà nước cấp hàng năm.
Vì vậy, nếu không sớm thay đổi mô hình hoạt động cũng như công tác QLBVR của các công ty lâm nghiệp hiện nay thì những diện tích rừng tự nhiên còn lại do các công ty lâm nghiệp quản lý khó mà giữ được. (Nhân Dân 14/8) đầu trang(
14-8, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, hiện các tỉnh Tây Nguyên đã rà soát, thống kê danh sách các "đầu nậu", chủ đường dây chuyên khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép.
Theo đó, các địa phương đã "điểm mặt" được 230 "đầu nậu", trong đó, tại tỉnh Đắc Nông có 110 "đầu nậu", Đắc Lắc có 59 "đầu nậu", Gia Lai có 36 "đầu nậu" và Lâm Đồng có 25 "đầu nậu". Tuy nhiên, các tỉnh chưa chỉ đạo quyết liệt các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý các đối tượng này.
Thậm chí, có lúc, có nơi, các đối tượng "đầu nậu", đường dây, băng nhóm chuyên khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật còn coi thường pháp luật. Từ đầu năm 2014 đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện 2.397 vụ khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật, tịch thu gần 3.040m3 gỗ các loại.
Một số điểm nóng về khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, nhất là ở các khu vực biên giới, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên... vẫn chưa được hạn chế. (Công An TP Đà Nẵng 15/8) đầu trang(
13.8, ông Lê Tuấn Bình - Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan chuyển phát nhanh, Cục Hải quan TPHCM - cho biết, liên quan đến lô hàng quà biếu chứa 14,6kg ngà voi Châu Phi, chủ hàng vẫn biệt tăm, nên đơn vị đang làm các thủ tục xác minh để xử lý theo quy định.
Trước đó, ngày 1.8, Chi cục Hải quan chuyển phát nhanh phát hiện nghi vấn từ lô hàng quà biếu thuộc tuyến trọng điểm từ Pháp gửi về TPHCM qua đường chuyển phát nhanh cho người nhận ngụ tại đường Lý Thường Kiệt, TP.Đà Nẵng, nên đơn vị đã tiến hành kiểm tra trọng điểm.
Trên chứng từ, lô hàng này thể hiện là hàng mẫu, nhưng bên trong chứa 3 khúc ngà màu trắng có hình dáng ngà voi, trọng lượng 14,6kg (ảnh). Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ VN giám định kết quả cho thấy đây là 3 khúc ngà voi Châu Phi nằm trong sách Đỏ thế giới 2014. Trị giá hàng vi phạm ước gần 3 tỉ đồng.
Theo Điều 1,Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg ngày 24.1.2013 của Thủ tướng Chính phủ thì mặt hàng này thuộc diện cấm xuất khẩu, nhập khẩu. (Lao Động 15/8, tr7) đầu trang(
Trong khuôn khổ hội trại "Chung tay bảo vệ khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ", nhóm bạn trẻ TP.HCM cùng hơn 10 thanh niên là tình nguyện viên đến từ các nước khác nhau trên thế giới đã cùng nhau trồng cây trong rừng ngập mặn của huyện Cần Giờ.
Đây là hoạt động nhằm nâng cao ý thức bảo về rừng ngập mặn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới.
Rừng ngập mặn Cần Giờ hiện có tổng diện tích gần 35.000ha, chiếm 50% diện tích huyện Cần Giờ. Đây được xem là lá phổi xanh của thành phố. Rừng ngập mặn Cần Giờ cũng được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Mặt khác, theo các số liệu thống kê cho biết, Việt Nam từng là nước có diện tích rừng ngập mặn đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau rừng Amazon, tuy nhiên hiện nay diện tích này chỉ còn khoảng trên 155.000ha.
Vì vậy, cần tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động nâng cao ý thức bảo vệ rừng ngập mặn, cũng như các hoạt động trồng rừng góp phần bảo vệ môi trường sống. (Đài PTTH TP.HCM 14/8) đầu trang(
Ông Cao Minh Thi, Chủ tịch UBND xã Phước Mỹ, TP Quy Nhơn cho biết, từ đầu năm đến nay, nắng nóng gay gắt kéo dài nên đã có khoảng 150 ha rừng WB3 bị chết và cháy.
Từ năm 2008 – 2013, xã Phước Mỹ đã triển khai thực hiện dự án chương tình phát triển ngành lâm nghiệp (WB3). Trong sáu năm qua, toàn xã đã có 582 hộ dân tham gia dự án trồng rừng WB3, với tổng diện tích hơn 1.283 ha, trong đó có 316 hộ đã được UBND TP. Quy Nhơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với tổng diện tích hơn 720 ha.
Tuy nhiên, việc 150 ha rừng bị chết do nắng hạn kéo dài đã gây thiệt hại không nhỏ cho bà con tham gia dự án. UBND xã Phước Mỹ đã thống kê và báo cáo lên Ban quản lý dự án WB3 tỉnh Bình Định và TP. Quy Nhơn để có biện pháp tháo gỡ khó khăn cho bà con như: khoanh vùng đối với diện tích rừng bị chết và cháy để trồng tái sinh, khoanh vốn vay và ưu đãi lãi suất để bà con có điều kiện chăm sóc trở lại rừng trồng mới. (Nhân Dân 14/8) đầu trang(
Khẳng định với PV, ông Lê Anh Tuấn-Phó trưởng Phòng Thanh tra, pháp chế Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết, ngay sau khi phát hiện rừng phi lao ở thôn Ba Đồng, thuộc xã Kỳ Phương (Kỳ Anh-Hà Tĩnh) bị chặt phá, Hạt Kiểm lâm Kỳ Anh đã đến hiện trường kiểm tra và đình chỉ việc khai thác vì phía Công ty Grobest Việt Nam không xuất trình được giấy tờ, thủ tục hợp lệ. Qua kiểm tra tại chỗ, diện tích bị khai thác là 1,57ha, với mật độ 350 cây/ha.
“Phía công ty có xuất trình được một số giấy tờ thủ tục pháp lý, nhưng không có quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng rừng phòng hộ ven biển sang nuôi tôm trên cát, không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, cũng như dự án đầu tư trên rừng chuyển đổi mục đích sử dụng...”- ông Tuấn Anh nói.
Mặc dù đã bị Hạt Kiểm lâm Kỳ Anh đình chỉ việc chặt phá rừng do chưa hoàn thiện thủ tục, nhưng những ngày sau đó, đơn vị thi công vẫn bất chấp, tiếp tục triệt hạ rừng phi lao phòng hộ ven biển. Đến ngày 1/8, đại diện Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh vào kiểm tra hiện trường, đã xác định có khoảng 9ha rừng phi lao thuộc rừng phòng hộ ven biển ở thôn Ba Đồng bị chặt phá.
Theo khẳng định của ông Hán Duy Anh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Hà Tĩhh thì diện tích rừng phi lao ở thôn Ba Đồng là rừng phòng hộ, bởi “đến thời điểm này (ngày 8/8) phía Công ty nuôi tôm chưa gửi một thủ tục nào đế xin chuyển đổi rừng phòng hộ ở thôn Ba Đồng sang nuôi tôm trên cát”.
Về việc chặt phá rừng phi lao phòng hộ này, ông Lê Anh Tuấn khẳng định, phía Công ty Grobest đã sai phạm nghiêm trọng khi chặt phá rừng phòng hộ mà chưa có thủ tục chuyển đổi. Ông Tuấn cũng cho biết thêm, theo Nghị định 157 ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi phá rừng phòng hộ từ 2.000m2 đến 3.000m2. Nếu phá rừng phòng hộ trên 0,3 ha sẽ bị khởi tố xử lý hình sự.
Trong khi lực lượng kiểm lâm, lâm nghiệp bị “qua mặt”, thì lực lượng bảo vệ môi trường cũng không được doanh nghiệp trình dự án xin ý kiến, mặc dù đây là dự án nuôi tôm trên cát sạch, có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và môi trường sinh thái xung quanh dự án.
Theo ông Phạm Văn Bình-Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường – Sở TNMT tỉnh, thì phía Công ty Grobest Việt Nam chưa có đánh giá tác động môi trường mà vẫn tiến hành thi công, triển khai dự án là sai phạm hoàn toàn. Ông Bình nói: “Rõ ràng Công ty đã sai về nguyên tắc vì khi chưa được phép mà đã chặt phá rừng. Như thế là sai hoàn toàn rồi”.
Tìm hiểu thêm, PV được biết, ngày 6/8, đoàn công tác do Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh chủ trì cùng với Chi cục Bảo vệ môi trường, Phòng TNMT huyện Kỳ Anh đã vào thôn Ba Đồng để kiểm tra và xác định vùng đất của dự án nuôi tôm cách mặt nước biển khoảng 200m. Lúc này, dự án đang thi công san ủi, đào hồ nuôi tôm. Đoàn công tác đã yêu cầu đại diện Công ty Grobest Việt Nam cung cấp hồ sơ thủ tục, nhưng vị cán bộ này không cung cấp được văn bản nào.
Lời cầu cứu thảm thiết không chỉ của những người dân ở thôn Ba Đồng, xã Kỳ Phương mà còn của những người dân xã Kỳ Nam ở liền kề ngay đó. Bới người dân nơi đây cũng đang sắp bị mất rừng phòng hộ ven biển bởi dự án nuôi tôm sau quyết định cấp 114 ha đất của UBND tỉnh Hà Tĩnh cho Công ty Grobest Việt Nam.
Trong lúc đó, từ năm 2000, tại xã Kỳ Nam cũng đã có một công ty được UBND tỉnh cấp cho 90 ha đất đế thực hiện dự án nuôi tôm, nhưng sau hơn 10 năm triển khai không hiệu quả, đã lâm vào tình trạng phá sản, vậy mà đến nay, UBND tỉnh lại tiếp tục “ưu ái” cho một doanh nghiệp khác vào nuôi tôm bằng được trên địa bàn, bằng Văn bản số 1390/UBND-NL ngày 10/4/2014 đồng ý cho Công ty TNHH Grobest Việt Nam triển khai dự án nuôi tôm trên cát theo công nghệ sạch với diện tích 40 ha ở thôn Ba Đồng, xã Kỳ Phương và 114 ha ở xã Kỳ Nam.
Để làm được điều này, UBND tỉnh đã phải có công văn điều chỉnh quy hoạch cục bộ Khu kinh tế Vũng Áng, điều chỉnh khu đất khoảng 40ha tại thôn Ba Đồng (nơi có rừng phi lao cổ thụ phòng hộ) từ cây xanh sinh thái tự nhiên sang nuôi trồng thủy sản; điều chỉnh 114 ha tại xã Kỳ Nam từ đất tổ hợp dịch vụ du lịch đô thị và dịch vụ mật độ cao, bãi đỗ xe, giao thông; cây xanh; bãi cát sang đất nuôi trồng thủy sản.
Nói về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Vin-Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam cho biết, hiện xã chưa nắm rõ dự án nuôi tôm 114 ha đó có lấy rừng phòng hộ của xã như ở Kỳ Phương hay không. “Nhưng nếu chặt phá rừng phi lao ở ven biển của xã để nuôi tôm như ở Kỳ Phương thì chắc chắn người dân sẽ phản đối. Ngay cả đại diện chính quyền xã chúng tôi cũng phản đối”- ông Vin cho biết.
Xin chuyển tâm tư, nguyện vọng của người dân đến chính quyền tỉnh, để giữ lại dải rừng phòng hộ ít ỏi còn sót lại vùng ven biển này. Cũng như kiến nghị cơ quan chức năng, chính quyền tỉnh phải làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc để rừng phòng hộ ở thôn Ba Đồng bị triệt hạ, khi chưa có quyết định chuyển đổi mục đích, cũng như chưa hoàn thành thủ tục theo pháp luật quy định. (Bảo Vệ Pháp Luật 15/8, tr3) đầu trang(
Từ năm 1997, Quảng Ninh là 1 trong 10 tỉnh của cả nước thực hiện dự án “Rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro, thảm hoạ” do Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam triển khai bằng nguồn tài trợ của Hội CTĐ Nhật Bản thông qua Hiệp hội CTĐ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
Năm 2014 là năm đầu tiên Hội CTĐ thực hiện pha 4 của dự án này. Thực hiện dự án, những năm trước Hội CTĐ tỉnh đã trồng được 1.670ha rừng ngập mặn (RNM) tại 22 xã thuộc 8 huyện, thị xã, thành phố có diện tích đất, bãi bồi ven sông, biển của tỉnh.
6 tháng đầu năm 2014, Hội CTĐ thường xuyên tổ chức các chuyến đi kiểm tra, đánh giá, cập nhật dữ liệu về RNM và công tác bảo vệ rừng tại các xã, phường thực hiện dự án (Hải Yên, Hải Đông của TP Móng Cái; Yên Thanh của TP Uông Bí; Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Phong của huyện Hải Hà; Hoàng Tân, Hà An của TX Quảng Yên).
Qua kiểm tra cho thấy, diện tích RNM tại các địa phương phát triển tương đối tốt, tỷ lệ cây sống đạt cao. Riêng ở TP Uông Bí, diện tích RNM phát triển nhanh, đã lan rộng thêm 20ha. RNM phát triển tốt, nhiều sinh vật thuỷ hải sản có giá trị cao cũng tăng trưởng theo, giúp tạo thêm việc làm cho người dân địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Ngoài trồng và bảo vệ rừng, Hội CTĐ tỉnh còn tập trung nâng cao năng lực trong phòng ngừa thảm hoạ, thích ứng với biến đổi khí hậu; diễn tập ứng phó thiên tai và thực hiện đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương. Toàn tỉnh đã thành lập được 6 đội tình nguyện viên (10 người/đội) bảo vệ RNM tại phường Hà An, xã Hoàng Tân (TX Quảng Yên); các xã Quảng Thắng, Quảng Phong, Quảng Minh (Hải Hà); phường Hải Yên (TP Móng Cái).
Các tình nguyện viên được tập huấn kỹ năng quản lý và bảo vệ rừng, các hoạt động ứng phó với thiên tai, thảm hoạ, cách sơ cấp cứu ban đầu, cứu hộ, cứu nạn v.v.. Hiện có 4 đội hoạt động tốt, thường xuyên xây dựng kế hoạch đi kiểm tra, tuyên truyền bảo vệ RNM; riêng 2 đội tại Hải Hà hoạt động còn hạn chế, ít thành viên của đội tham gia các hoạt động bảo vệ RNM. Hội đã tổ chức 1 lớp tập huấn quản lý rủi ro, thảm hoạ - biến đổi khí hậu cho cán bộ chủ chốt và hội viên CTĐ xã Đầm Hà (huyện Đầm Hà).
Thông qua đó, chính quyền địa phương nhận thức rõ hơn vai trò, vị trí của Hội CTĐ các cấp trong các hoạt động, đặc biệt là hoạt động cứu trợ xã hội và phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ. Trong tháng 7-2014, Hội tiếp tục mở 1 lớp tập huấn tương tự tại phường Hà An (TX Quảng Yên), thu hút đông đảo cán bộ, hội viên CTĐ tham gia.
Nhằm góp phần thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro, thảm hoạ, Hội đã xây dựng 2 tiểu dự án: Xây dựng hệ thống thoát nước thải tại xã Bình Dương (Đông Triều) và xây dựng hệ thống nước sạch tại phường Hải Đông (Móng Cái). Dự kiến, kinh phí cho 2 tiểu dự án là 100 triệu đồng, còn lại là huy động đối ứng của địa phương.
Từ nay đến hết năm, Hội sẽ thành lập mới 2 đội ứng phó cấp cộng đồng và hỗ trợ tập huấn 2 lớp cộng đồng ứng phó với thảm hoạ cho đội thanh niên xung kích phường Hải Yên (TP Móng Cái) và phường Tuần Châu (TP Hạ Long); tổ chức 1 cuộc diễn tập thực tế ứng phó với thiên tai, thảm hoạ tại phường Hải Yên (TP Móng Cái) v.v..
Ông Trần Thái Tuấn, Phó Chủ tịch Hội CTĐ tỉnh cho biết: “RNM có vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường; tạo nguồn lợi thuỷ hải sản cho người dân vùng ven biển. Thực hiện dự án, ngoài trồng và phát triển diện tích RNM, Hội CTĐ còn đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao kiến thức, kỹ năng của cộng đồng về giảm thiểu rủi ro và các tác động của biến đổi khí hậu.
Thực tế cho thấy, thông qua các hoạt động của dự án, chính quyền và người dân vùng dự án đã hiểu được vai trò to lớn của RNM, từ chỗ chỉ biết khai thác lợi ích từ RNM đã chuyển sang hoạt động trồng, bảo vệ, khai thác đúng mức nguồn lợi thuỷ sản và có kỹ năng tự bảo vệ, ứng phó khi có thiên tai xảy ra”. (Báo Quảng Ninh 14/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép lâm sản trên địa bàn.
Các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 209 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong đó chủ yếu là phá rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản và động vật rừng trái phép.
Các cơ quan chức năng đã tịch thu 120,98 m3 gỗ các loại, 17 xe máy, 57,6 kg động vật rừng, thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và bán đấu giá lâm sản nộp ngân sách nhà nước trên 1,4 tỷ đồng. (Báo Lào Cai 14/8) đầu trang(
Cất công lên tận rừng già La Hiên, Suối Mun, Chín Cụm, Trại Tôn thuộc xã vùng cao Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân), cưa, hạ cây xay để hái trái nhưng thương lái mua trái với giá rẻ nên người hái xay không bán, chờ đến nay cũng không ai mua.
Bà N.T.T ở xã Xuân Quang 3 (huyện Đồng Xuân) loay hoay mở mấy bao tải đựng xay cho thoát hơi khỏi ẩm mốc, miệng than: Con trai tôi cùng mấy người trong xóm rủ nhau lên La Hiên hái xay nhưng giá xay hiện nay chỉ còn 25.000 đồng/kg nên gia đình tôi không bán. Đến nay đã qua gần 5 ngày nhưng không có người nào đến hỏi mua.
Còn ông N.V.T, cũng ở xã Xuân Quang 3 thì cho biết: Tốp của tôi gồm 3 người, mang theo gạo, cá mặn lên ăn ngủ tại rừng sâu Suối Mun. Ở đó 3 ngày hái được 12 bao xay, trong đó có 7 bao xay mõ (xay chín) và 5 bao xay vàng mơ (ruột màu xanh). Say mõ thương lái đến hỏi mua 35.000 đồng/kg, còn xay vàng mơ thì 30.000 đồng/kg. Tôi không bán riêng mà đem phơi xay vàng mơ 3 nắng thì thành xay mõ trộn lại để bán chung, thế nhưng khi xay khô thì không ai hỏi mua”.
Giá xay hạ lại bán không ai mua nên mấy ngày nay, ông B.V.B ở xã Xuân Phước (huyện Đồng Xuân) lo cắt cỏ voi nuôi bò, không lội rừng hái xay như trước nữa. “Tôi gắng sức cắt cỏ “thúc” bò mau mập bán kiếm đồng lời cho chắc ăn, chứ đi hái xay về để mãi trong nhà không ai mua, trong khi đó để có được vài chục ký xay thì hàng loạt cây xay bị cưa đứt gốc”, ông B nói.
Đến bây giờ ông B vẫn chưa khỏi rùng mình khi nhớ lại lúc cưa, hạ cây xay. Ông B kể “tốp người chúng tôi lội suối, trườn dốc lên các khu rừng Suối Mun, Trại Tôn tìm được cây xay thì đưa máy cưa vào cưa. Cây xay đứt gốc nhưng chỉ nghiêng qua một bên vì vướng vào cây rừng to cao cạnh đó, vì vậy phải cưa cây bị vướng, cây xay mới ngã. Có lúc cưa cây thứ 2 vẫn chưa ngã vì tiếp tục vướng cây thứ 3, người hái xay phải cưa tiếp cây này. Lúc cả 3 cây ngã cùng lúc, cành nhánh đổ ập xuống, người không nhanh chân chạy đi thì rất dễ gặp nguy hiểm. Cũng chính vì cây vướng cây mà nhiều cây rừng khác “chết oan” theo cây xay”.
Ông N.V.S ở xã Xuân Phước bị nhánh cây xay đập trúng vai, ngã sấp, về nhà ho ra máu, phải chạy chữa nhiều nơi mới khỏi bệnh. Ông Nguyễn Lộc, Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Đồng Xuân, cho biết: Cách đây 1 tuần, nhiều người vào rừng phòng hộ Đồng Xuân cưa xay hái trái, lực lượng kiểm lâm tổ chức ngăn chặn, bắt giữ. Có một số đối tượng “liều mạng” chạy xe máy tông thẳng vào những người làm nhiệm vụ, rất may cán bộ kiểm lâm tránh kịp nên chỉ bị thương nhẹ.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm cũng tổ chức truy quét, tịch thu trái xay từ các “đầu nậu”, ngăn chặn việc mua bán sản phẩm từ rừng trái phép. Trái xay có giá trị thấp hơn trái ươi, giá lại hạ so với ban đầu, vì vậy người đi hái xay đã giảm nhiều. (Báo Phú Yên 14/8) đầu trang(
14.8, TAND huyện Phù Mỹ tuyên phạt Nguyễn Thành Ngung (55 tuổi, trú thôn 8 Tây, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ) 3 năm tù về tội hủy hoại rừng và buộc bồi thường hơn 42 triệu đồng.
Từ tháng 6 đến 12.2013, Ngung đến khu vực rừng phòng hộ ven biển ở thôn 8 Tây do Ban quản lý rừng phòng hộ Phù Mỹ quản lý, chặt phá, đốt cháy tổng diện tích 26.300 m2 cây phi lao để trồng cây keo và bạch đàn thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ.
Kết quả giám định của các cơ quan chức năng xác định diện tích rừng bị Ngung đốt phá ước tính hơn 42 triệu đồng. (Thanh Niên 14/8) đầu trang(
Việc mất dần những diện tích rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển... khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ cùng những biểu hiện cực đoan về thời tiết ở hai khu vực đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của người dân, đến các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đánh giá của Trung tâm Khoa học công nghệ Khí tượng Thủy văn và Môi trường, nhiệt độ tại Tây Nguyên và Nam Bộ trong các năm sắp tới sẽ cao hơn nền chung của các thập kỷ vừa qua. Từ kịch bản biến đổi khí hậu, so với năm 1990, năm 2050 nhiệt độ trung bình năm ở hai khu vực này sẽ tăng thêm 0,8°C - 1°C; đến năm 2100 tăng 1,6°C - 2°C. Nhiều khả năng một số địa phương sẽ ghi nhận được kỷ lục mới về nhiệt độ cao, nhất là các vùng núi thấp, trung lưu, hạ lưu các con sông lớn.
Lượng mưa ở Tây Nguyên trong các thập kỷ sắp tới có thể tăng lên ở vùng này và giảm đi ở vùng khác, song không sai lệch nhiều so với trước. Có điều trong tương lai xa hơn, lượng mưa mùa mưa sẽ nhiều lên và lượng mưa mùa khô sẽ dao động mạnh. Các kỷ lục lượng mưa ngày, lượng mưa tháng, lượng mưa năm tiếp tục tăng, trong khi các đợt hạn hán về những tháng mùa khô càng gay gắt hơn.
Dòng chảy năm trên các sông ở Nam Bộ giảm so với thập kỷ trước. Lũ lụt, nhất là lũ quét vẫn là mối đe dọa thường xuyên trong mùa mưa ở trung lưu và hạ lưu các con sông. Ngược lại, vào mùa khô nguồn nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất cho hầu hết các vùng sẽ rất khan hiếm. Sản xuất nông nghiệp buộc phải thay đổi để thích nghi với thời tiết biến đổi; sản xuất cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao sẽ đối mặt với việc gia tăng chi phí đầu vào, tức là giá thành sản phẩm sẽ cao hơn.
Với xu thế tăng nhiệt độ và diễn biến mưa như vậy, mùa nóng ở các vùng núi vừa và thấp sẽ kéo dài và mùa lạnh bị rút ngắn, ranh giới các vành đai nhiệt độ sẽ lùi về vùng núi cao hơn. Hệ sinh thái thay đổi khiến cho nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật tăng lên, làm mất nhiều nguồn gen quý hiếm.
Khi ấy, một số loài thực vật quan trọng như: Trầm hương, hoàng đàn, gõ đỏ, lát hoa, gụ mật… có thể bị suy kiệt; rừng nửa nhiệt đới của Tây Nguyên như thông, pơ mu… và các loài ưa lạnh khác sẽ mất đi một phần diện tích đáng kể vì không thể thích nghi được với sự biến đổi khí hậu. Việc gia tăng nhiệt độ và mức độ khô hạn cũng kéo theo làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh phá hoại cây rừng.
Trong khi đó tại Nam Bộ, dòng chảy sông Mê Kông có xu thế giảm đi. Từ nay đến năm 2070, dòng chảy lũ thiên về biến đổi dương và dòng chảy kiệt thiên về biến đổi âm. Lượng mưa không thay đổi nhiều, nhưng do ảnh hưởng của chế độ mưa thất thường nên nguồn nước mùa khô sẽ trở nên khan hiếm hơn. Hạn hán không những tăng cường trong mùa khô mà còn có khả năng phát sinh trong một số thời điểm nhất định của mùa mưa.
Nguy cơ đã hiện hữu khi tình hình nước biển dâng, xói lở bờ biển đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nước biển dâng làm hẹp diện tích rừng ngập mặn và tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất phèn. Xâm nhập mặn sẽ tiến sâu vào nội đồng và sạt lở sẽ diễn ra nhiều hơn. Thảm rừng ngập mặn có độ che phủ cao sẽ trở nên trơ trọi, bị chia cắt; môi trường đất bị ô nhiễm do quá trình phèn hóa bị gia tăng ở quy mô lớn; giảm quá trình bồi tụ phù sa do mất rừng, đa dạng sinh học bị suy giảm nhanh chóng; mất cân bằng sinh thái.
Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch rừng, trong tổng số 768 km bờ biển tại vùng ĐBSCL có 310,6 km bị xói lở, tập trung nhiều ở hai tỉnh Cà Mau (111,6 km), Kiên Giang (87,9 km) và các tỉnh ven biển khác.Riêng tỉnh Cà Mau có tổng diện tích rừng lên đến hơn 114 ngàn ha, trong đó rừng ngập mặn chiếm hơn 72,9 ngàn ha. Rừng ngập mặn Cà Mau nổi tiếng phát triển phong phú đa dạng.
Tuy nhiên, những năm gần đây do xói lở bờ biển ngày càng tăng ở cả bờ biển phía Đông và biển phía Tây nên diện tích rừng ngập mặn đang bị thu hẹp lại. Tình hình xói lở bờ biển diễn ra nhanh từ năm 2007 đến nay. Bình quân từ 15 m/năm, cá biệt có những nơi lên đến 50 m/năm.
Theo thống kê có khoảng 3.810 ha rừng phòng hộ biển Tây đã bị mất.Trong tương lai, khi nước biển dâng sẽ gây ngập mặn trên diện rộng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Mê Kông, ước tính diện tích ngập mặn vào nửa cuối thể kỉ XXI sẽ tăng lên đáng kể so với nửa đầu thế kỷ.
Trước những vấn đề đang hiện hữu, Chính phủ đã có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm giảm tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường nói chung và thảm thực vật rừng nói riêng. Trong đó, quan trọng nhất vẫn là nâng cao ý thức của con người, đặc biệt là người dân sinh sống ở gần khu vực có rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 14/8, tr8) đầu trang(
Lão nông Nguyễn Văn Lực, 62 tuổi ở xã Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu) đã có lần định ôm can xăng 5 lít quyết sống chết cùng voi. Bởi, sau những đợt voi về, hoa màu của ông bị phá hoại, nợ nần chất chồng, khu đất của ông giờ bán cũng không ai mua…
Từ năm 2006, vấn đề bảo tồn voi đã được tỉnh Đồng Nai đặt ra với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Sau nhiều năm đùn qua, đẩy lại việc ai sẽ chi tiền, cuối cùng đến tháng 5-2013, dự án bảo tồn voi ở Đồng Nai cũng được Chính phủ phê duyệt với kinh phí 74 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến nay, dự án vẫn còn nằm trên giấy, vì kinh phí... chưa về!
Trong căn nhà nhỏ, ông Lực trầm ngâm với cái nhìn xa vắng.  Ông nói: “Gia đình tui chẳng còn gì từ ngày mấy “ông bồ” liên tục về đây. Vợ con tui phải về thành phố kiếm việc khác. Tui ở lại rẫy để giữ đất và chăm sóc phần mộ ông bà. Tháng 5 năm ngoái, ba  “ông bồ” về một lượt đã quần xéo hết cả vườn cây ăn trái đang độ thu hoạch, lại còn giật sập cả một chái bếp. Có lần, hai mẹ con “ông bồ” sục vào tận bếp tìm muối và thức ăn, giận quá tui tính mua can xăng quyết sống chết với “ổng” một phen. Tui muốn bán đất đi nơi khác làm ăn cho yên ổn, nhưng cũng chẳng ai mua”.
Được biết, chỉ riêng xã Thanh Sơn, trong 2 năm: 2012-2013, 4 lần đàn voi về, đã có gần 100 hộ dân bị voi tàn phá hoa màu, nhà cửa. Nhiều hộ bị mất trắng mùa vụ sau những chuyến “viếng thăm” này. Hai hộ Tô Văn Tùng và Nguyễn Văn Cao bị đàn voi về phá tới 3–4 lần, thiệt hại gần 70.000m2 mía trồng năm thứ hai, phải mang nợ ngân hàng lên đến 64 triệu đồng.
Tháng 5-2013, Hiệp Hội bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam (WCS) đã có chuyến khảo sát về công tác bảo tồn động vật hoang dã tại Đồng Nai. Nhận định về tình trạng voi thường xuyên về xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), cũng như một số xã khác ở huyện Vĩnh Cửu, bà Dương Việt Hồng, cán bộ phụ trách truyền thông của cơ quan này cho biết: “Voi là loài động vật có trí nhớ rất tốt và gắn bó với môi trường sống của nó. Thực chất, đàn voi rừng trở lại xã Thanh Sơn nhiều lần thời gian qua chỉ là việc “trở về nhà”, bởi toàn bộ diện tích xã này trước đây là rừng và là địa bàn sinh sống của đàn voi”.
Bà Hồng giải thích thêm, WCS đã có nhiều nghiên cứu về khu bảo tồn và thấy việc dân lấn rừng để làm nương, làm rẫy đã gây xáo trộn, thậm chí mất môi trường sống của voi, buộc voi phải di chuyển vào rừng sâu tìm nơi sinh tồn mới. Khi khan hiếm thức ăn, hoặc thấy “nhớ nhà”, đàn voi đi ngược trở ra, tìm về chốn cũ..., cũng là tập tính của loài này. Tình trạng xung đột kéo dài, sự tồn tại và phát triển bầy đàn của voi sẽ bị đe dọa, cuộc sống người dân cũng không yên.
Cũng theo bà Hồng, khi bị xua đuổi bằng những âm thanh lớn, hoặc bằng lửa, gài điện…, voi sẽ bị hoảng loạn. Những ức chế tâm lý sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của loài này. Theo nghiên cứu của WCS, nếu bị ức chế tâm lý kéo dài, voi có nguy cơ giảm 30% khả năng sinh sản.
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, nhiều vụ voi về tàn phá mùa màng ở các: xã Tà Lài (huyện Tân Phú), Phú Lý, Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu), Thanh Sơn, Gia Canh (huyện Định Quán)...đã xảy ra. Trong 5 năm: 2008 - 2013, UBND các huyện: Vĩnh Cửu, Định Quán phải chi hơn 12 tỷ đồng hỗ trợ thiệt hại cho dân trong vùng xung đột.
Sự xung đột này càng đến mức đáng báo động hơn, khi trong 2 năm: 2009 và 2013 đã có 1 người chết, 3 người bị thương và 9 con voi bị chết. Từ đầu năm 2014 đến nay, theo người dân ở những địa phương nói trên, voi vẫn ra, nhưng không nguy hiểm như những năm trước.
Chỉ trong 15 năm, hơn 50% số cá thể voi đã chết do sinh cảnh sống bị tác động và thu hẹp, thiếu nguồn thức ăn, thiếu vùng hoạt động, thiếu mặt bằng di chuyển, đối mặt với nguy cơ bị săn bắn, đầu độc và thường xuyên xung đột với con người... Voi ở Đồng Nai vì thế đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Ông Tôn Hà Quốc Dũng, Trưởng phòng bảo tồn Chi Cục kiểm lâm Đồng Nai cho biết: “Tình trạng chậm kinh phí này càng gây bất lợi cho công tác bảo tồn voi. Chỉ lo khi tiền về đến địa phương, voi đã chẳng còn để bảo tồn”.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai nói: “So với những đàn voi ở các tỉnh, thành khác, voi ở Đồng Nai chính xác là voi Việt Nam, không có sự qua lại biên giới như voi các tỉnh khác. Đây cũng là động vật hoang dã nằm trong sách đỏ Việt Nam cần bảo tồn”.
Song, cũng theo ông Mùi, đến nay chiến lược quan trọng này chưa được thực hiện, trong khi quần thể voi của Đồng Nai đang bị sức ép về môi trường, sinh cảnh sống, do diện tích rừng bị thu hẹp. Nếu dự án bảo tồn voi được triển khai kịp thời thì đàn voi đã không bị suy giảm, đây là điều rất đáng tiếc. Hiện tình trạng của đàn voi rất nguy cấp, nếu dự án kéo dài đến năm 2020, e rằng voi đợi không nổi. Cần nói thêm rằng, Đồng Nai ra sức làm tốt công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo  vệ sự đa dạng sinh học là đem lại lợi ích chung cho cả các tỉnh, thành phố trong khu vực.
Trước tình trạng voi chết, cũng như xung đột giữa người và voi ngày càng căng thẳng, tháng 3-2013, UBND tỉnh quyết định chi tạm ứng 6 tỷ đồng trong số 9 tỷ đồng vốn đối ứng 20% của tỉnh để triển khai trước dự án xây dựng hàng rào lưới điện, nhằm kịp thời ngăn cản, hạn chế xung đột và kéo dài nguy cơ bị tuyệt chủng của voi. Theo ông Mùi, biện pháp bảo tồn voi bằng hàng rào lưới điện là an toàn cho cả voi, người và các loài động vật khác.
Tuy nhiên, qua trao đổi, TS. Vật lý Nguyễn Văn Khải, nguyên Trưởng phòng Quang dẫn Viện Kỹ thuật quân sự cho rằng: “Xây dựng hàng rào lưới điện trong bảo tồn voi là một biện pháp rất sai lầm. Người hay động vật, chỉ cần chạm phải dòng điện 200 mA là tim đã bị tác động. Có thể hàng rào điện không làm chết voi hay người, nhưng sẽ gây những phản ứng rất không có lợi cho loài động vật này”.
Theo giải thích của TS. Khải, cũng như con người, khi voi đụng vào hàng rào điện, phản ứng đầu tiên là giật mình, sau đó là đau đớn. Tình trạng bị đau đớn và ức chế đó làm cho voi hoảng loạn và tức giận, lúc đó nó sẽ trở nên hung hãn hơn, dễ xung đột hơn khi gặp vật cản, kể cả con người. Lúc đó, việc bảo tồn sẽ có tác dụng ngược: voi bị phản ứng, chạy hoảng loạn sẽ bị tai nạn thương tích, hoặc theo bản năng, nó sẽ tìm mọi cách phá hàng rào. Cả hai kết quả đều có hại.
Cũng theo TS. Khải, nếu lãnh đạo tỉnh Đồng Nai quyết tâm muốn bảo tồn voi, cần phải hy sinh một số nguồn lợi để dành cho voi một diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, không cho dân lấn chiếm môi trường, cũng như tác động vào sinh cảnh của voi. Đồng thời, phải nghiên cứu tập tính của loài voi để có cách bảo tồn phù hợp.
Vốn là động vật hoang dã, có tập tính thường xuyên di chuyển, nên tạo ra môi trường hoang dã phù hợp với sinh cảnh để voi có thể ăn uống, nghỉ ngơi, tìm bạn tình, di chuyển cùng bầy đàn…là việc làm hết sức cần thiết.
Còn làm hàng rào lưới điện, có thể voi không chết, nhưng chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến tâm – sinh lý của voi. Với cường độ dòng điện 800-1.000V/10mA là nhỏ, nhưng khi mưa gió hay cây cối ngã đổ làm dòng điện rò rỉ, chập mạch, sẽ tạo ra hiệu điện thế rất cao. Lúc đó sẽ có thể gây chết người và các động vật khác. (Báo Đồng Nai 13/8) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, mỡ là loại cây được trồng phổ biến nhất. Tuy nhiên thời gian gần đây, nạn sâu ong ăn cây mỡ phát triển, lan rộng, nhanh tới mức chóng mặt, khiến các đơn vị chức năng gần như “bó tay”.
Theo tìm hiểu, toàn bộ 7 huyện và 1 thị xã của Bắc Kạn đều xảy ra nạn sâu ong ăn cây mỡ. Tại H.Chợ Đồn, sâu ong khiến nhiều hộ gia đình khốn đốn. Tại đây, mỗi hộ dân trồng từ 4-6 hecta mỡ, khi thu hoạch sẽ cho ngót 100 triệu đồng nên nếu mất là mất rất nhiều.
Ông Hạ Văn Hinh, Phó chủ tịch UBND xã Phong Huân, H.Chợ Đồn cho hay: để đối phó với sâu ong ăn cây mỡ, ngay từ đầu vụ xã đã chỉ đạo thống kê diện tích trồng mỡ trong dân và sau đó cấp thuốc phun nhưng thiệt hại cũng chỉ giảm được phần nào. Hiện trên địa bàn xã đã có tới hơn 100 hecta cây mỡ bị thiệt hại do sâu ong ăn.
Tại H.Bạch Thông, diện tích mỡ bị thiệt hại do sâu ong ăn là hơn 300 hecta. Có nhiều thôn, bản trong xã, toàn bộ diện tích cây mỡ bị sâu ong tàn phá. Tại thôn Bản Mới thuộc xã Tú Trí, toàn bộ 20 hecta cây mỡ của bà con bị sâu ong xâm hại, tàn phá, gây thiệt hại nặng.
Tại H.Ba Bể, bà Đặng Thị Anh Thơ, Trưởng phòng NN-PTNT cho hay: sâu ong có sức phát triển và lan rất nhanh, mỗi con sâu ong trưởng thành sẽ đẻ được gần 100 trứng, tỉ lệ nở thành sâu rất cao. Có những cây mỡ sâu ong bám dày đặc, người dân bắt được gần 1kg.
Ông Đặng Văn Sơn, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Bắc Kạn thừa nhận: nguyên nhân chính trong nạn sâu ong bùng phát nhanh là vấn đề quy hoạch trồng rừng. Thay vì trồng hỗn giao cây mỡ với các loại cây khác như keo thì người dân chỉ trồng cây mỡ.
Trong khi đó con sâu ong chỉ thích ăn cây mỡ nên cứ phát triển một cách tự nhiên. Theo ông Sơn, diện tích cây mỡ được trồng trên toàn tỉnh Bắc Kạn lên tới 40.000 hecta. Hiện đã có trên 1.800 hecta ta mỡ bị sâu ong tàn phá.
“Mọi phương pháp diệt sâu ong đều vô hiệu. Hiện chúng tôi đã liên hệ phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, để sớmnghiên cứu thành công phương pháp diệt trừ sâu ong hữu hiệu”, ông Sơn chia sẻ. (Thanh Niên 15/8) đầu trang(
12-8, Chi đoàn Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập phối hợp hội từ thiện quận Bình Thạnh (TP. Hồ Chí Minh) trao quà cho các hộ nghèo nhận khoán bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập hiện đang gặp nhiều khó khăn (Báo Bình Phước đã phản ánh trên các số báo gần đây) và hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở xã Bù Gia Mập.
250 phần quà, trị giá 250 ngàn đồng/phần gồm gạo, mì gói, chà bông, nước tương, bột ngọt, muối, dầu ăn, tập vở, quần áo... được trao tận tay người nghèo. Đây là những món quà thiết thực giúp những hộ nghèo tại Bù Gia Mập bớt khó khăn trong cuộc sống. (Báo Bình Phước 13/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đó là con số được Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Phạm S báo cáo với Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, do ông Lữ Ngọc Cư - Ủy viên chuyên trách làm trưởng đoàn về vấn đề thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Đà Lạt sáng 13/8.
Báo cáo tại cuộc họp cho biết, trong giai đoạn 2009 - 2013, toàn tỉnh đã trồng rừng, cải tạo rừng nghèo được 26.500ha (bình quân trồng 5.300ha/năm), trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách là 11.930ha, chiếm 45%; nguồn vốn ngoài ngân sách trên 14.500ha, chiếm 55%. Riêng trong năm 2014, dự kiến sẽ trồng gần 5.300ha. Cũng theo kế hoạch, trong năm 2014, 2015, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế là 787ha (đã phân bổ kế hoạch năm 2014 là 130ha, hiện các đơn vị chủ rừng đang triển khai thực hiện); diện tích còn lại sẽ được tiến hành trồng trong năm 2015.
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp Lâm Đồng, hoạt động trồng rừng của tỉnh đã đa dạng về loài cây trồng, đối tượng tham gia trồng rừng; phát triển trồng rừng trên 3 đối tượng rừng: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất theo quy hoạch; trồng lại rừng trên diện tích thu hồi sau giải tỏa do lấn chiếm đất rừng trái phép.
Trong công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, năm 2009 đã chi trả bằng tiền trên 316.000ha và đến năm 2014 là 397.797ha (bình quân gần 356.000ha/năm), trong đó ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu từ nguồn thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tính đến ngày 10/7, toàn tỉnh hiện có 441 dự án thuê rừng, đất rừng đang triển khai thực hiện dự án với tổng diện tích là 47.357ha. Trong đó: Du lịch sinh thái có 118 dự án, với trên 10.700ha; trồng cao su 62 dự án, diện tích 13.439ha (bao gồm diện tích chuyển rừng tự nhiên để trồng cao su và diện tích quản lý bảo vệ); trồng rừng kinh tế 154 dự án, diện tích gần 14.300ha, hiện đã triển khai trồng được 7.250ha; còn lại gần 10.000ha cho các dự án nuôi cá nước lạnh, nông lâm kết hợp và các mục tiêu khác.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác trồng, bảo vệ rừng ở Lâm Đồng vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Trong giai đoạn từ 2009 - 2013, toàn tỉnh đã xảy ra trên 11.200 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó: mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 4.950 vụ; khai thác lâm sản trái phép 2.152 vụ; phá rừng gần 3.000 vụ … các lực lượng chức năng cũng đã xử lý trên 10.500 vụ; tịch thu gần 3.000 phương tiện, dụng cụ các loại; thu 16.386m3gỗ; thu nộp ngân sách 71,738 tỷ đồng.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: Lâm Đồng vẫn đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện, quản lý, bảo vệ rừng. Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại các huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và các vùng rừng giáp ranh với Bình Thuận vẫn còn diễn ra phức tạp.
Mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý nhưng tình hình vi phạm vẫn chưa được giải quyết triệt để. Một số dự án đầu tư liên quan đến rừng và đất rừng triển khai chậm, không đảm bảo tiến độ; thiếu lực lượng QLBV rừng, vẫn còn để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép mà không kịp thời phát hiện.
Theo ông Lữ Ngọc Cư, Lâm Đồng là một trong những địa phương tích cực trong việc thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; đồng thời triển khai có hiệu quả các hoạt động liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp, thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo cho các địa phương khẩn trương khắc phục những hạn chế, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động phát triển, quản lý, bảo vệ rừng gắn với việc bảo đảm sinh kế cho người dân.
Hiện tại, Lâm Đồng vẫn là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước với tỷ lệ che phủ lên tới 60,3% diện tích đất lâm nghiệp (tính cả diện tích cây cao su, cây ăn trái). (Báo Lâm Đồng 13/8) đầu trang(
Trong số 9 nghi phạm bị công an bắt giữ từ vụ đột kích tối 13-8, có Nguyễn Ngọc Minh (Minh Sâm), Giám đốc Công ty TNHH Đại An và Nguyễn Thành Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Thành Hưng.
Hai công ty này đều có trụ sở tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 14-8, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự “Cưỡng đoạt tài sản” liên quan đến 2 công ty này, đối tượng thứ 10 cũng bị bắt là Nguyễn Thanh Thắng (tức Thắng “mậu”, ngụ Bắc Ninh).
Minh Sâm và Hưng là 2 đối tượng cầm đầu băng nhóm xã hội đen tại thị xã Từ Sơn. Minh có tiền án sử dụng vũ khí quân dụng, còn Hưng từng nhiều lần vào tù vì trộm cắp và cướp tài sản. Hai công ty nêu trên đều do Minh điều khiển, chi phối. Do trong quá trình ở tù trước đó, Minh được Hưng bảo vệ nên khi ra tù, gã kết hợp làm ăn để “trả nghĩa”.
Minh Sâm buôn gỗ tại Bắc Ninh và là nhà cung cấp hàng đầu về gỗ nguyên liệu cao cấp cho nhiều làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Gã được tô vẽ là một doanh nhân vượt khó vươn lên, trong sự nghiệp kinh doanh đã gặp không ít lần thất bại, trắng tay song đầy ý chí...
Năm 2000, Công ty TNHH Đại An được thành lập với 400 triệu đồng vốn kinh doanh, sau hơn 10 năm vốn đã lên đến hàng trăm tỉ đồng. Nhiều năm liền, công ty được tỉnh Bắc Ninh công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, được Cục Thuế tặng nhiều bằng khen… Đại An còn được cho là đi đầu tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo; hằng năm dành hàng tỉ đồng ủng hộ các cuộc vận động: Nối vòng tay nhân ái, xây nhà tình nghĩa, giúp nạn nhân chất độc da cam, học sinh nghèo vượt khó…
Minh Sâm còn là võ sư Aikido và là người đầu tiên truyền thụ môn võ này tại Bắc Ninh. Võ đường Đại An được xây dựng trong Công ty TNHH Đại An. Minh cũng được giới chơi xế hộp trầm trồ khi mua chiếc xe siêu sang Maybach 57S - 1 trong 2 dòng xe triệu đô ở Việt Nam.
Với vỏ bọc hào nhoáng như vậy, Minh Sâm mặc sức tung hoành ở tỉnh Bắc Ninh. Gã là người giữ kỷ lục về việc giải phóng mặt bằng nhanh nhất.
Năm 2011,  UBND tỉnh Bắc Ninh giao cho Công ty TNHH Đại An thi công Tỉnh lộ 277 (đoạn từ cầu Tấn Bào đến khu lưu niệm ở xã Phù Khê) dài 2,2 km, mặt cắt đường rộng 33-35 m theo tiêu chuẩn đường đô thị, vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng. Công trình đi qua khu dân cư làng nghề với nhiều cửa hàng mà “mỗi tấc đất là một tấc vàng” nên rất khó khăn trong giải phóng mặt bằng.
Thế nhưng, chỉ trong 2 ngày, toàn bộ hộ dân diện đền bù, giải phóng mặt bằng đã tự nguyện nhận tiền và tháo dỡ phần diện tích giải tỏa. Có thông tin lan truyền rằng Minh ép các hộ dân, ai không đồng tình sẽ bị “xử” nên không người nào chống lại.
Minh Sâm cũng dùng ảnh hưởng của mình để ép các nhà sản xuất đồ gỗ khi họ muốn đưa sản phẩm về những làng nghề nổi tiếng Phù Khê, Đồng Kỵ chế tác hoặc xuất khẩu. Thậm chí, người ta còn rỉ tai nhau rằng ở Từ Sơn, cứ có việc gì rắc rối thì trước hết nên tìm đến Minh.
Để chi phối toàn bộ hoạt động buôn bán gỗ, khi hộ dân nào ở thị xã Từ Sơn có nhu cầu chuyển sang nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ mà thiếu vốn, Minh Sâm sẵn sàng cho vay rồi nhận bao tiêu sản phẩm.
Minh lập Công ty TNHH Thành Hưng để quản lý chợ gỗ Phù Khê, nơi có hơn 400 ki-ốt, mỗi năm thu hàng chục tỉ đồng. Khu chợ này không bao giờ xảy ra trộm cắp bởi không nhóm giang hồ nào dám qua mặt trùm Minh. Ai muốn kinh doanh, buôn bán ở chợ này đều phải được Minh đồng ý. (Người Lao Động 15/8, tr5; Thanh Niên 15/8, tr5) đầu trang(
Hàng chục hộ dân xã Cửu An (TX. An Khê, tỉnh Gia Lai) ngang nhiên lấn, chiếm đất của Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (Cty Sông Kôn) tỉnh Bình Định để SX.
Đây không phải lần đầu tiên diễn ra tình trạng người dân cướp đất của DN này để trồng hoa màu, tuy nhiên vụ việc lần này nằm ngoài khả năng giải quyết của chính quyền TX. An Khê bởi vùng đất bị người dân xã Cửu An lấn chiếm thuộc địa phận xã Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) do Cty Sông Kôn quản lý.
Theo báo cáo của Cty Sông Kôn, sau khi khai thác rừng trồng, Cty tiến hành đốt dọn thực bì thì bị người dân chiếm đất ngay ở những vị trí đó để trồng hoa màu, cản phá không cho nhân viên thực hiện trồng mới cây rừng theo kế hoạch.
Trước đó, ngày 19/7, trong khi công nhân của Cty Sông Kôn đang triển khai trồng lại rừng tại lô e, khoảnh 3a, tiểu khu 226 thì có khoảng 60 người dân vào ngăn cản không cho trồng. Chiều cùng ngày, khi đang tiến hành trồng lại rừng tại lô c, khoảnh 3a, tiểu khu 226 thì có khoảng 50 người dân vào ngăn cản, nhổ cây mới trồng, chặt phá công cụ lao động của công nhân Cty Sông Kôn.
Chưa dừng lại ở đó khi mà sáng ngày 20/7, khoảng 30 người dân làng Hòa Bình (xã Tú An, TX. An Khê) vào lô c, khoảnh 7a, tiểu khu 210B chặt phá diện tích rừng trồng năm 2013 của Cty Sông Kôn.
Liên tục các ngày sau đó, người dân thôn An Điền Bắc 1, An Điền Bắc 2 (xã Cửu An) có những hành vi ngăn cản không cho công nhân của Cty trồng lại rừng.
Trước tình hình trên, Cty Sông Kôn đã kiến nghị ngành chức năng TX. An Khê và huyện Vĩnh Thạnh, yêu cầu nhận được sự hỗ trợ và bảo vệ công nhân trong thời gian trồng lại rừng, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Ghi nhận của PV tại hiện trường thì, hầu hết phần đất của Cty Sông Kôn, sau khi khai thác cây rừng đều bị người dân chiếm và đã xuống giống trồng cây sắn. Trong đó, nhiều diện tích cây sắn đã mọc lên cao bằng gang tay, xanh tốt; một phần diện tích khác còn lại cũng đang được người dân tổ chức phát dọn trồng sắn.
Tại phần đất được cho là của mình, ông Nguyễn Văn Chính, thôn An Điền Bắc 2, đang thuê một số người dân khác tiến hành trồng sắn tại tiểu khu 226, thuộc xã Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) - thực ra đây là đất thuộc sở hữu của Cty Sông Kôn.
Hàng chục hộ dân xã Cửu An khác cũng đang tiến hành trồng cây sắn tại các thửa đất quanh mảnh rẫy ông Chính chiếm của Cty Sông Kôn.
Trả lời xung quanh vấn đề này, bà Nguyễn Thị Phúc - Phó Chủ tịch UBND xã Cửu An (TX. An Khê), cho biết: Diện tích đất bị người dân tại địa phương lấn chiếm của Cty Sông Kôn lần này là khoảng 44 ha. Trước đó vào năm 2011 người dân cũng đã có hành vi chiếm đất, đồng thời cản trở khi nhân viên của Cty đang tổ chức trồng rừng.
Trong văn bản gửi UBND xã Cửu An, ông Võ Văn Cường - Giám đốc Cty Sông Kôn khẳng định: “Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân khi thu hồi đất để trồng rừng nguyên liệu giấy của Cty đã được thực hiện theo Quyết định số 825/QĐ-CTUBND của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định. Vì vậy, các hộ dân này cản trở Cty trồng lại rừng là hành động sai trái, nếu người dân tiếp tục phá hoại cây trồng của Cty trên phần đất lấn chiếm trái phép sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật”.
Trong khi đó, về phía người dân, bà Nguyễn Thị Hoa, thôn An Điền Bắc 2, khẳng định: Hơn 0,8 ha đất này bà đã canh tác từ lâu đời.
“Năm 2005, khi Cty Sông Kôn chi trả tiền bồi thường có nói rằng phần diện tích đất này chỉ để trồng rừng đầu nguồn nên chúng tôi đồng ý, nay biết Cty Sông Kôn trồng rừng để SX thì chúng tôi lấy lại. Vì hiện tại người dân chúng tôi đều không có đất SX”, bà Hoa nói.
Ông Nguyễn Hùng Vỹ, Phó Chủ tịch UBND TX. An Khê, cho biết, những người vi phạm đều là người dân xã Cửu An nhưng vị trí đất bị lấn chiếm thuộc địa phận tỉnh Bình Định. Đối với hành vi vi phạm xảy ra tại địa bàn tỉnh nào thì tỉnh đó có trách nhiệm giải quyết. Trong vụ việc này phía chính quyền TX. An Khê cũng như xã Cửu An cũng đã tích cực tuyên truyền, vận động và giải thích cho người dân những hành vi sai trái này.
“Về trách nhiệm xử lý, xác định hiện trạng đất bị lấn chiếm, đối tượng lấn chiếm, xử lý vi phạm hành chính hay khởi tố hình sự… đều do tỉnh Bình Định thực hiện, phía TX. An Khê chỉ là đơn vị phối hợp. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, UBND TX. An Khê vẫn chưa nhận được bất kỳ văn bản nào từ phía chính quyền huyện Vĩnh Thạnh cũng như của tỉnh Bình Định”, ông Vỹ khẳng định.
Bà Nguyễn Thị Phúc, Phó Chủ tịch xã Cửu An, cho biết: Để giải quyết dứt điểm tình trạng này, UBND xã Cửu An đã có kiến nghị thu hồi 40 ha đất của Lâm trường Bắc An Khê giao cho địa phương quản lý, cấp cho người dân thực sự khó khăn, thiếu đất SX.
Ông Nguyễn Hùng Vỹ, Phó Chủ tịch UBND TX. An Khê cho hay: Trước đề xuất này, TX cũng đã trình lên UBND tỉnh Gia Lai xin ý kiến Trung ương để xử lý dứt điểm. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/8) đầu trang(
Nậm Nhùn là huyện miền núi được đánh giá là thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ rừng (CSCTDVR). Chinh sách này đã giúp bà con DTTS có một nguồn thu nhập đáng kể từ rừng.
Quan trọng hơn, CSCTDVR đã giúp bà con nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng. Nhờ đó, độ che phủ rừng của huyện ngày một tăng. Từ trung tâm huyện Nậm Nhùn phải mất hơn 1 giờ đi xe máy, PV mới đến được xã Pú Đao, nơi có độ che phủ rừng đạt hơn 42,5% (năm 2013). Theo chân tổ đội xung kích tuần tra rừng bản Nậm Đoong và được chứng kiến những cây rừng xanh tốt, với tán lá xum xuê, thực bì được phát sạch sẽ.
Chủ tịch xã Pú Đao, Chá A Thứ chia sẻ: Từ ngày có nguồn thu từ CSCTDVR (năm 2012) tương đương với thu nhập hằng năm của bà con từ nương rẫy (7-12 triệu đồng/năm/hộ), bà con trong bản đã coi rừng như diện tích nương rẫy của nhà mình mà chăm sóc thường xuyên. Là một xã vùng cao, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm hơn 52%, thu nhập bình quân của bà con từ ngô, sắn trung bình chỉ đạt mức 10 triệu/năm, thì nguồn thu từ dịch vụ rừng là một khoản tiền khá lớn đối với bà con.
Nếu như làm một phép so sánh thì làm nương rẫy, ngoài việc mất công sức phát dọn thực bì, chọc lỗ, tra hạt..., bà con còn mất rất nhiều tiền bạc để mua giống, phân bón... mà năng suất lại phụ thuộc vào thời tiết. Còn với việc trồng rừng thì khác, bởi rừng có sẵn trong tự nhiên, bà con chỉ việc phát dọn cỏ, tuần tra theo từng tháng mà có thu nhập tương đương từ nương rẫy.
Vì thế, từ ngày có nguồn tiền này, bà con trong bản không còn ai phá rừng làm nương rẫy nữa, mà coi rừng như máu thịt của mình vậy. Vì thế, 100% các hộ dân trong xã ký cam kết bảo vệ rừng. Đều đặn hằng tháng, 4 tổ đội xung kích (mỗi tổ có từ 10-12 người)/4 bản đi tuần tra rừng, phát dọn cỏ dại, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những nguy cơ gây hại đến rừng.
Anh Ly Giá Chừ, bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum cho biết: Năm 2013, gia đình anh nhận được khoản tiền từ CSCTDVR là 47 triệu đồng. Nhờ đó, gia đình anh có vốn để xây dựng chuồng trại, mua giống lợn, gà, trâu, bò. Có thể nhận thấy rõ, từ CSCTD-VR không chỉ giúp gia đình anh Lử thoát nghèo mà còn giúp nhiều hộ khác trong huyện, xã có vốn để làm ăn, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống và hạn chế tối đa diện tích rừng bị xâm hại.
Bên cạnh đó, việc bảo vệ tốt các khu rừng phòng hộ ở Nậm Nhùn nói riêng và Lai Châu nói chung có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước cho các công trình trọng điểm của quốc gia như: Thủy điện Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình và điều tiết nước sản xuất cho vùng châu thổ sông Hồng.
Ông Nguyễn Văn Triệu, Phó Ban quản lý rừng phòng hộ cho biết: Toàn huyện Nậm Nhùn hiện có 4.176 hộ nhận khoán bảo vệ rừng/73.682 ha. Từ 2012 đến nay, huyện đã tổ chức được 21 hội nghị tuyên truyền cấp xã cho trên 500 lượt cán bộ xã; 187 cuộc họp thôn bản cho trên 4.500 lượt hộ dân; xây dựng được 39 biển tuyên truyền khu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng ở các khu rừng các xã, thị trấn; phát tờ tranh tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tới các bản, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm của các hộ trong việc tuần tra, để kịp thời phát hiện và ngăn chặn mọi hành vi gây hại đến rừng.
Nhờ đó, độ che phủ rừng ngày một tăng ở Nậm Nhùn. Năm 2011, độ che phủ rừng của huyện là gần 40% thì đến cuối năm 2013, con số này đã tăng lên hơn 42,5%. Mục tiêu đến cuối năm 2014, độ che phủ rừng của huyện Nậm Nhùn đạt 44,1%. (Dân Tộc & Phát Triển 13/8, tr9) đầu trang(
13.8, UBND tỉnh cho biết vừa có văn bản đồng ý cho Công ty TNHH Khai thác chế biến lâm sàn Đà Lạt thuê hơn 15ha đất thuộc một phần của tiểu khu 359 ở xã vùng sâu Đạ Quyn (huyện Đức Trọng) để trồng rừng thông ba lá.
Mục tiêu của dự án đặt ra là "Trồng rừng thông ba lá để nâng cao năng suất chất lượng rừng thông, góp phần cải tạo môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến lâu dài tại doanh nghiệp, tạo việc làm cho nhân dân đia phương".
Theo đó, toàn bộ hơn 15ha này sẽ được doanh nghiệp trồng thông ba lá với tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ đồng và thời hạn thuê đất là 50 năm. Dự kiến ngay trong những ngày còn lại của tháng 8 này, Công ty TNHH Khai thác chế biến lâm sản Đà Lạt sẽ tiến hành xuống cây giống trên thực địa. (Nông Thôn Ngày Nay 15/8, tr10) đầu trang(
13.8, tại buổi làm việc với Đoàn công tác của Bộ Công Thương, lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, tính đến nay diện tích trồng rừng thay thế của các dự án thủy điện chỉ đạt chưa đến 25%.
Đắk Lắk có 26 dự án thủy điện đã được cấp thẩm quyền đồng ý chủ trương đầu tư với tổng công suất 948,41MW. Hiện đã có 18 dự án đi vào hoạt động.
Trong đó, có 5 dự án khi đi vào vận hành phải thực hiện trồng rừng thay thế với diện tích hơn 262ha. Tuy nhiên đến nay các dự án này chỉ mới trồng được 70ha. (Nông Thôn Ngày Nay 14/8, tr2) đầu trang(
Xuất khẩu đứng đầu thế giới, nhưng ngành gỗ Việt Nam lại đang thua đau ở thị trường nội địa, bởi ngay các cơ quan nhà nước cũng đang dùng hàng nội thất nhập khẩu.
Lướt qua nhiều phố nội thất ở Hà Nội, thật không dễ để tìm được những sản phẩm “made in Việt Nam”, mà đa phần là hàng Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia… Tại Melinh Plaza, một trong những siêu thị nội thất lớn tại Hà Nội, có tới 80 - 90% sản phẩm nội thất được bày bán là hàng ngoại nhập, từ bàn ăn, bàn làm việc, ghế sofa, giường ngủ, bàn ghế văn phòng….
Nhân viên tư vấn của siêu thị Melinh Plaza cho hay, trong nước cũng có nhiều sản phẩm nội thất có chất lượng tốt của Xuân Hòa, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai… Tuy nhiên, sản phẩm trong nước thường không đa dạng mẫu mã, hình thức cũng không đẹp bằng hàng nhập khẩu, trong khi giá cả còn đắt hơn, nên nguời tiêu dùng không ưa chuộng.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam, Việt Nam nằm trong 6 nước xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới. Các doanh nghiệp (DN) gỗ tự hào bởi gỗ là một trong những mặt hàng nông lâm sản không bị phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, chinh phục được nhiều thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản… Tuy nhiên, trong khi mải mê “đem chiêng đi đánh xứ người”, họ lại để trống thị trường nội địa cho DN nước ngoài thỏa sức tung hoành.
Tại Hội thảo nâng cao năng lực cung cấp thông tin về FLECT - VPA, bà Nguyễn Tường Vân, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ ra một thực tế đáng quan ngại: “Hiện nay, thị trường gỗ nội địa đang bị bỏ trống cho các DN Trung Quốc, Đài Loan… Rất nhiều công sở, ngay cả phòng họp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng toàn hàng Đài Loan, Trung Quốc. Đây là điều đáng xấu hổ cho một quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu gỗ”.
Đồng tình với ý kiến này, ông Phan Chí Dũng, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công thương) cũng cho biết, trên 80% thị phần đồ gỗ, nội thất trong nước là của các công ty đa quốc gia, công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Thị trường gỗ trong nước đang bị lấn át bởi sản phẩm nhập khẩu hay được sản xuất theo mẫu mã nhập từ nước ngoài.
Lý giải thực tế trên, bà Vân cho rằng, dù xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới, nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu ở dạng dăm gỗ, xuất khẩu nguyên liệu thô, chứ ít xuất khẩu sản phẩm nội thất có giá trị gia tăng cao (chỉ chiếm 4% thị phần nội thất xuất khẩu thế giới).
Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam cũng thừa nhận, trong tổng giá trị hàng tỷ USD gỗ xuất khẩu mỗi năm, tỷ lệ những sản phẩm do chính doanh nghiệp Việt thiết kế chiếm rất khiêm tốn, chưa đến 10 triệu USD.
Một nhân viên của Công ty Kiến trúc và Nội thất N.A.N cho biết, sản phẩm nội thất trong nước tập trung vào số ít DN và phân rõ thị phần hai miền Nam – Bắc. Thị trường miền Bắc chủ yếu thiên về sản xuất hàng nội thất bình dân, phục vụ trường học, các công ty nhà nước với giá cả chấp nhận được như Hòa Phát, Nội thất 190... Trong khi đó, các công ty nội thất ở phía Nam tập trung sản xuất hàng cao cấp cho các showroom, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, căn hộ cao cấp… như AA corporation, Công ty AHD - Phố xinh…
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam cho hay, thị trường gỗ nội thất trong nước có tiềm năng tăng trưởng rất mạnh, vì nhu cầu sắm đồ gỗ của các hộ gia đình tương đối lớn (6 triệu đồng/hộ/năm). Bên cạnh đó, nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu hướng tăng nhanh.
Dù vậy, ông Quyền cũng thừa nhận, sản phẩm trong nước chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu ở mảng bán lẻ, mà chỉ mới đi được vào một số công ty, công trình, dự án. Trên thực tế, hầu như chỉ có các làng nghề, các DN nhỏ mới tham gia sản xuất hàng nội thất với quy mô nhỏ, còn các DN gỗ có quy lớn thường chỉ chú trọng khâu xuất khẩu.
“Chỉ cần có vài hợp đồng xuất khẩu là đủ để doanh nghiệp sản xuất nửa năm trời, lại không phải lo đầu ra hay lo thiết kế. Trong khi nếu sản xuất hàng bán trong nước thì số lượng nhỏ mà chưa biết có bán được không. Hơn nữa, mạng lưới phân phối của DN gỗ trong nước không có, nên cạnh tranh bán lẻ là rất khó”, giám đốc một DN gỗ cho biết.
Ngoài ra, việc phụ thuộc tới 80% nguyên liệu và gần như 100% phụ liệu nhập khẩu cũng là lý do khiến đồ gỗ nội thất không thể cạnh tranh trên sân nhà. Hiện hầu hết các linh phụ kiện sản xuất đồ gỗ nội thất như mâm xoay, tay nắm, vít pát, bản lề, thanh trượt, bánh xe, chân bàn, khung sắt… đều được nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trước tình hình trên, bà Nguyễn Tường Vân cho rằng, đã đến lúc DN ngành gỗ cần đánh giá đúng tầm quan trọng của thị trường nội địa để lấy lại thị trường này. Còn ông Nguyễn Tôn Quyền kỳ vọng, với phong trào "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đang được đẩy mạnh, ngành gỗ sẽ dần chiếm lĩnh sân nhà. (Đầu Tư 15/8) đầu trang(
Hai năm trở lại đây, phong trào mở xưởng bóc gỗ xuất hiện ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Nguyên liệu chính để chế biến là các loại gỗ rừng trồng, chủ yếu là gỗ mỡ và keo. Lợi ích kinh tế trước mắt thì đã thấy, nhưng trong thực tế về lâu dài không phải là không tiềm ẩn những rủi ro cần quan tâm.
Với nguồn vốn đầu tư ban đầu trên dưới 500 triệu đồng cho một dây chuyền chế biến, hiện nay rất nhiều xưởng bóc gỗ tư nhân đã phát triển ở khắp các huyện trên địa bàn tỉnh. Một xưởng gỗ đầu tư với quy mô khá, vận hành hết công suất có thể tiêu thụ khoảng 10 m3 gỗ nguyên liệu/ ngày.
Tại thời điểm này, lợi nhuận từ việc chế biến ván bóc là tương đối khá. Tuy nhiên, để tiêu thụ sản phẩm, hầu hết tất cả các chủ xưởng đều tự liên hệ thông qua các mối lái làm ăn. Không có hợp đồng tiêu thụ lâu dài, nên việc mua và bán đều dựa trên yếu tố tin cậy, nhiều chủ xưởng bán xong cũng không biết thư thương họ mua rồi mang đi đâu.
Theo một số chủ xưởng, vấn đề đầu ra cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do theo biến động của thị trường. Tại nhiều địa phương khác, thời gian qua tình trạng ép giá của thương lái, nhất là thương lái Trung Quốc đã từng xảy ra. Do đó bài toán đầu ra ổn định đối với loại sản phẩm này cũng là vấn đề rất đáng quan tâm trước khi quyết định đầu tư.
Theo thông tin từ Sở Công Thương Bắc Kạn, hiện nay hoạt động khuyến công của tỉnh không có dự án hỗ trợ mua máy móc để mở xưởng chế biến dưới dạng này. Trung tâm khuyến công mới chỉ lập dự án hỗ trợ duy nhất có một doanh nghiệp đã được chấp thuận chủ trương đầu tư tại huyện Ngân Sơn. (Đài PTTH Bắc Kạn 12/8) đầu trang(
14/8, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (2011 - 1013). Ông Đào Xuân Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Trong 3 năm (2011 - 2013), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã chi trả hơn 103 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng là tổ chức nhà nước, UBND cấp xã và cộng đồng dân cư thôn.
Nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng đã hỗ trợ tích cực cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại các đơn vị lâm nghiệp, bổ sung nguồn lực quan trọng cho UBND cấp xã trong quản lý bảo vệ rừng. Đặc biệt chính sách này đã góp phần nâng cao thu nhập, từng bước cải thiện đời sống cho hộ nhận khoán bảo vệ rừng và cộng đồng dân cư thôn, làng.
Đến nay độ che phủ của rừng được duy trì ở mức 45,4%. Toàn tỉnh hiện có hơn 3.000 hộ nhận khoán bảo vệ rừng với diện tích gần 64 ngàn hecta. Hộ nhận khoán thuộc lưu vực các dòng sông Sê San, Sêrêpôk được chi trả 200.000đ/ha/năm và lưu vực sông Ba là 265.000đ/ha/năm.
Tại hội nghị, đại diện các chủ rừng, các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã nêu nhiều ý kiến và đề xuất giải pháp tháo gỡ những tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách hiện nay.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Đào Xuân Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao kết quả chi trả dịch vụ môi trường 3 năm qua. Đồng thời chỉ đạo một số nội dung trọng tâm trong thời gian tới đó là: đề xuất điều chỉnh mức thu của các cơ sở hưởng dịch vụ môi trường rừng; lưu ý thu hồi nợ, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế; các công ty thủy điện phải thực hiện nghiêm túc hợp đồng ký kết với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Song song với đó tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Đài PTTH Gia Lai 14/8) đầu trang(
Thời gian qua, một số xã ở huyện Quỳ Hợp trở thành vùng đệm thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, người dân được nhà nước hỗ trợ vốn, giống cây, kỹ thuật trồng rừng... đặc biệt là chính sách hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất giai đoạn 2007 -2015 (Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg) phát huy rất hiệu quả...
Do phần lớn diện tích đất rừng nơi đây là đất trống đồi núi trọc, đất kém hiệu quả nên việc quy hoạch và đầu tư trồng rừng nguyên liệu gặp rất nhiều thuận lợi. Trong quá trình trồng rừng theo Quyết định 147, bà con được hỗ trợ cây giống và phân bón, ngoài ra còn được cán bộ Khu bảo tồn hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, thâm canh, phòng trừ sâu bệnh... nên rừng trồng sinh trưởng, phát triển rất tốt.
Điển hình là xã Châu Thành, có 645 ha rừng trồng nguyên liệu phát huy hiệu quả, các xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Châu Cường, Châu Thái... diện tích rừng trồng nguyên liệu đều tăng dân hàng năm.
Bà Lương Thị Nhung, ở bản Na Bon, xã Châu Thành cho hay: “Năm 2008, gia đình bắt đầu nhận đất trồng rừng của dự án 147 và được Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống hỗ trợ về giống, vật tư phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, nên 5 ha gỗ keo phát triển rất tốt. Hiện nay, toàn bộ diện tích đang bắt đầu vào chu kỳ khai thác, sản lượng gỗ dự kiến đạt từ 75 - 80 tấn/ha”.
Với sản lượng khai thác bình quân trên 80 tấn gỗ nguyên liệu/ha, sẽ có thu nhập gần 100 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí sản xuất, người trồng rừng còn lãi từ 60-70 triệu đồng/ha, cao hơn 30% so với diện tích rừng trồng ngoài dự án.
Một điều rất dễ nhận thấy ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống là cuộc sống của người dân nơi đây đã thay đổi rất rõ nét. Ở vùng sâu Nam Sơn, Bắc Sơn bà con có thu nhập khá ổn định từ việc trồng rừng nguyên liệu và từ đó dựng nhà khang trang, mua sắm nhiều tiện nghi đắt tiền...
Từ chỗ chỉ quen vào rừng khai thác lâm sản, săn bẫy động vật rừng trái phép, nay lại tích cực trồng, bảo vệ, phát triển rừng. Bắt đầu triển khai việc trồng rừng nguyên liệu theo Quyết định 147 từ năm 2008, đến nay tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có 1.076 hộ dân tham gia trồng rừng với tổng diện tích là 1.800 ha rừng, trong đó có những gia đình nhận trồng 5,6 ha (mật độ trồng khoảng 1.600 đến 2.000 cây/ha).
Việc thực hiện dự án trồng rừng theo Quyết định 147 tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống đã biến những vùng đất trống, đồi núi trọc trở thành những cánh rừng keo bạt ngàn màu xanh, và đây trở thành một trong những việc làm thiết thực góp phần bảo tồn đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống...
Chương trình trồng rừng theo Quyết định 147, ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thực sự giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên trong Khu bảo tồn và giúp người dân có cuộc sống ổn định từ nghề trồng rừng nguyên liệu, nhất là tại Quỳ Hợp đã hình thành được vùng nguyên liệu khá ổn định, cung cấp cho các nhà máy chế biến gỗ trong tỉnh.
Kế hoạch năm 2015, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống sẽ trồng mới 500 ha rừng, tuy nhiên, ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, sẽ gặp nhiều khó khăn do phần lớn diện tích đất còn lại để trồng rừng nguyên liệu đều nằm ở những vùng rừng núi cao, giao thông đi lại khó khăn. Đáng nói, là một số hộ dân hiện vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đủ điều kiện tham dự trồng rừng nguyên liệu.
Thời gian tới, các cấp ngành chức năng cần tích cực thực hiện dự án phát triển đường lâm nghiệp, để tạo điều kiện thuận lợi phát triển diện tích trồng rừng, đồng thời đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm mở rộng thêm nhiều hộ dân được hưởng lợi chương trình trồng rừng 147. (Báo Nghệ An 14/8) đầu trang(
Dưới tán cây rừng tại huyện Đại Từ (Thái Nguyên), Viện Khoa học Sự sống (ĐH Thái Nguyên) đã triển khai trồng thử nghiệm cây lan Kim tuyến.
Dự án có kinh phí được trích từ nguồn sự nghiệp khoa học các năm 2014, 2015 và 2016 của tỉnh, khoảng 200 triệu đồng.
Cây lan Kim tuyến thuộc họ Lan (Orchidaceae), tên khoa học là Anoechilus roxburglihayata, hay còn gọi là Kim tuyến liên, lá gấm, mộc sơn thạch tùng. Đây là cây dược liệu quý, có công dụng tăng cường sức khỏe, bổ máu, giải nhiệt; chủ trị bệnh phổi, trị các vết thương do rắn cắn…
Lan Kim tuyến có tính kháng khuẩn, chữa bệnh viêm gan mãn tính, viêm khí quản, trị thần kinh suy nhược, đau lưng, phong thấp, cao huyết áp, suy thận, tiêu đờm, giải độc, giải nhiệt...
Loại cây này đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu có thể phù hợp trồng lan Kim tuyến, huyện Đại Từ được lựa chọn là địa điểm lý tưởng thực hiện dự án (sẽ kết thúc vào tháng 7/2016). (Nông Nghiệp Việt Nam 15/8, tr17) đầu trang(
12/8, Đoàn giám sát Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh đã tiến hành làm việc tại Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên, xem xét kết quả thực hiện công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Kết quả, huyện Tịnh Biên có tổng diện tích đất quy hoạch là 8.259,56 ha, là huyện miền núi có 2 dân tộc chiếm đa số là Kinh và dân tộc Khmer, đặc điểm dân sinh kinh tế khu vực đồi núi ngườ i dân sống rải rác trong rừng và ven rừng, không tập trung, chỉ tập hợp sống theo từng cụm, người dân tộc Khmer sống chủ yếu theo các phum sóc, vào mùa mưa họ làm lúa ruộng trên, kết hợp lên núi làm rẫy, trồng hoa màu như đậu, bắp … đồng thời họ tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng.
Qua giám sát, nhận thấy tình hình bảo vệ rừng, PCCCR trong thời gian qua trên địa bàn huyện Tịnh Biên đã đạt được mục tiêu đề ra, trên địa bàn không xảy ra vụ cháy rừng nào, chỉ xảy ra các vụ vi phạm sử dụng lửa trong phạm vi đất lâm nghiệp, không gây thiệt hại đến rừng, về chặt phá rừng không xảy ra vụ nào nổi cộm. Tuy nhiên tình hình lén lút chặt hạ cây rừng, phát dọn làm rẩy cũng còn xảy ra một vài nơi…
Bên cạnh đó, việc quản lý, cấp chứng nhận trại nuôi động vật rừng thông thường trên địa bàn được kịp thời, trên địa bàn huyện Tịnh Biên có 14 trại gây nuôi động vật rừng, do Chi cục Kiểm lâm cấp chứng nhận gây nuôi, đã cấp 14 giấy chứng nhận gây nuôi động vật rừng cho 14 hộ tương đương với số lượng 1.676 cá thể, gồm các loài động vật như Heo rừng, Rắn, Nhím, Cầy, Khỉ, Cua đinh, Cá sấu nước ngọt, Le le, Rùa …
Đồng thời, kiểm tra tại cơ sở chế biến, kinh doanh, nơi cất giữ gây nuôi động vật rừng: Hạt kết hợp với phòng Bảo vệ rừng và BTTN cũng thường xuyên kiểm tra theo định kỳ và kiểm tra đột xuất đối với các cơ sở gây nuôi về việc thực hiện theo qui định như chuồng trại nuôi, vệ sinh môi trường, ghi chép theo dõi sổ sách số lượng xuất, nhập …Qua kiểm tra các trại nuôi trên địa bàn chấp hành tốt các quy định pháp luật của nhà nước.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên thì tình trạng vi phạm về há rừng trái phép vẫn còn xảy ra, và đa số các diện tích chặt phá rừng để làm nương rẩy, lập vườn như trồng hoa màu Sắn, đậu xanh, mì, bắp, trồng xoài, măng cầu … nguyên nhân phá rừng: Do đời sống hộ nhận khoán rừng có đời sống khó khăn, đa số đối tượng vi phạm là người dân tộc Khmer, mặt khác diện tích giao khoán cho hộ còn nhỏ lẽ, giá trị của rừng mang lại không bảo đảm cuộc sống người làm rừng, chính sách hỗ trợ vốn cho hộ để tăng gia sản xuất còn hạn chế, khi cây rừng khép tán, không sản xuất kết hợp dưới tán rừng được, không được vay vốn ... nên đời sống hộ nhận giao khoán rừng gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy đã xảy ra tình trạng phá rừng, phát dọn làm rẩy, chặt cây rừng làm củi, đốt than bán để sinh sống. Theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên, trong thời gian qua đối với các chế độ, chính sách đầu tư hỗ trợ chính diện của Nhà nước đã được thực hiện chính xác, minh bạch.
Hàng năm các định suất đầu tư đều được công bố công khai và được ghi cụ thể rõ ràng trên hợp đồng giao khoán, tiền vốn cấp phát cho dân có danh sách do dân ký nhận, có sổ cấp phát tiền cấp cho dân để tiện theo dõi. Định suất đầu tư ( đồng/ha ) nếu tính trên khối lượng diện tích lớn, vốn đầu tư không phải là nhỏ.
Tuy nhiên đặc thù đất đai của dân là manh mún, nhỏ lẽ từ 0,05ha đến 0,70ha chiếm khoảng 70% trên tổng diện tích rừng trồng, thậm chí có những lô chỉ đến vài ba trăm mét vuông, nên vốn đầu tư gần như không có gì. Hơn nữa vốn đầu tư chỉ khép kín trong vòng 09 năm của 03 giai đoạn: trồng rừng năm thứ 1, chăm sóc rừng 03 năm, bảo vệ rừng 05 năm là chấm dứt, vì vậy các năm sau trở đi là không có gì. Công tác chống chặt phá rừng đạt được hiệu quả cao, từ năm 2013 đến nay đã xóa được hết các điểm nóng về chặt phá rừng.
Tuy nhiên, tình hình dân sinh kinh tế xung quanh rừng còn nhiều khó khăn, nhiều gia đình không có việc làm thu nhập ổn định; dân trí hạn chế nên việc chấp hành pháp luật chưa triệt để, vì vậy việc chặt phá rừng khó kiểm soát.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tại buổi giám sát, các thành viên tham dự cũng đã thảo luận chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế mà Hạt Kiểm lâm huyện cần khắc phục trong thời gian tới. Phát biểu kết luận tại buổi giám sát, ông Phan Thanh Tùng – Trưởng Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND tỉnh, ghi nhận và đánh giá cao công tác quản lý bảo vệ rừng của Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên
Đồng thời mong muốn thời gian tới đơn vị cần tập trung các giải pháp vào công tác quản lý, bảo vệ, phát triển sản xuất từ rừng; xây dựng tốt phương án phòng, chống cháy rừng… ghi nhận những khó khăn, kiến nghị của đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để bổ sung vào báo cáo trình Hội đồng nhân dân tỉnh trong thời gian tới. (Sở Khoa Học & Công Nghệ An Giang 13/8) đầu trang(
Cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp công nghệ cao chủ yếu bằng phương pháp nuôi cấy mô, có công suất dự kiến 8-9 triệu cây giống/năm.
Theo dự kiến, vào quí III/2014, Quảng Ngãi sẽ khởi công xây dựng cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp công nghệ cao đầu tiên, do doanh nghiệp tư nhân Tài Nguyên làm chủ đầu tư.
Dự án được triển khai trên diện tích 30.000 m2 tại xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa, với tổng vốn đầu tư hơn 7,8 tỷ đồng. Trong đó, vốn của doanh nghiệp khoảng 2,8 tỷ đồng và vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ 5 tỷ đồng.
Cây giống được sản xuất theo công nghệ bầu treo, là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Các loại giống được sản xuất chủ yếu là keo và bạch đàn với nhiều dòng và nguồn gốc khác nhau.
Ngoài ra, dự án còn nghiên cứu sản xuất một số cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, Ba kích, hoa phong lan, quế Trà Bồng…
Dự án nhằm nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, đưa năng suất rừng trồng từ 20 tấn/ha/năm lên 30 tấn/ha/năm. Bên cạnh đó, rút ngắn thời gian khai thác gỗ rừng còn 4-5 năm.
Dự kiến, cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp công nghệ cao này sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động ngay từ quý I năm 2015. (Chính Phủ 14/8) đầu trang(
Tin từ Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn cho biết, từ đầu mùa mưa đến nay các đơn vị chủ rừng trong tỉnh đã trồng được gần 500 hécta rừng, trong đó gồm có 83 hécta rừng đặc dụng, 180 hécta rừng phòng hộ và hơn 232 hécta rừng sản xuất.
Dự kiến từ nay đến cuối mùa mưa, các chủ rừng ở Đồng Nai trồng thêm hơn 200 hécta rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Bên cạnh đó, các chủ rừng trong tỉnh còn khoanh nuôi và chăm sóc gần 6 ngàn hécta rừng các loại.
Ngoài ra, từ đầu năm đến nay, các huyện, thị, thành đã tham gia trồng trên 392 ngàn cây phân tán, như: keo, sao, dầu. (Báo Đồng Nai 14/8) đầu trang(
Không nằm ở vị trí đầu nguồn, nhưng có nhiều khu công nghiệp lớn tập trung nên việc duy trì, phát triển diện tích rừng đối với Tp Biên Hòa là điều quan trọng.
Mùa mưa năm nay, Biên Hòa phân bổ 95.325 cây giống Sao, Dầu, Keo lai cho các đơn vị trên địa bàn trồng phân tán và đã trồng 1,5 ha cây dầu trong lễ phát động Tết trồng cây nhớ Bác.
Điểm nổi bật trong công tác quản lý bảo vệ rừng của Biên Hòa là không để xảy ra vụ cháy nào trong nhiều mùa khô liên tiếp. Bởi rừng cháy giữa lòng thành phố loại II sẽ gây ra thảm họa lớn như thế nào. Vì vậy những việc liên quan đến phòng chống cháy rừng được các đơn vị chủ rừng tiến hành ngay cuối mùa mưa; đồng thời tuyên truyền phổ biến sâu rộng và tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư, nhất là những hộ dân sống gần rừng để cùng tham gia bảo vệ phát triển rừng.
Bên cạnh đó, UBND thành phố đã ban hành Quy chế phối hợp hoạt động về quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, quản lý lâm sản…giữa các đơn vị chủ rừng với Hạt Kiểm lâm và các UBND xã phường có rừng. Riêng lực lượng Kiểm lâm thành phố thì tập huấn nâng cao năng lực chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng.
Với sự năng động của một thành phố công nghiệp, việc kinh doanh chế biến gỗ phát triển cũng là xu thế tất yếu. Điều này gây ra áp lực mạnh trong việc quản lý rừng cho tỉnh Đồng Nai nói chung và Biên Hòa nói riêng. Toàn thành phố hiện có 576 cơ sở (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ cá thể) kinh doanh, chế biến lâm sản được phân bố tập trung tại các phường xã: An Bình, Bửu Long, Tân Hòa, Tân Hiệp, Tân Biên, Long Bình Tân, Tam Phước, Phước Tân và các khu công nghiệp.
Theo con số thống kê năm ngoái, hơn 94% gỗ nguyên liệu để chế biến ra sản phẩm mộc dân dụng có nguồn gốc ngoại nhập, nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng tự nhiên trong nước chiếm trên 5%, gỗ tịch thu là 0,06%.
Sau khi tiếp nhận thêm một số địa phương được tách ra từ huyện Long Thành, hiện nay trên địa bàn Tp Biên Hòa có hơn 2.588 ha tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Trong số này, 255 ha được quy hoạch 3 loại rừng gồm 198,30 ha rừng phòng hộ, 56,80 ha rừng sản xuất do Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành quản lý và diện tích rừng này cũng nằm trong diện tích rừng giao khoán bảo vệ.
Đến thời điểm này, Trung tâm Lâm nghiệp còn 27 hợp đồng giao khoán 32,04 ha, Ban Quản lý rừng Long Thành có 42 hộ nhận khoán nhưng diện tích giao khoán này sẽ được thu hồi bàn giao cho địa phương quản lý.
Nỗ lực như thế, nhưng 6 tháng đầu năm nay Biên Hòa đã phát hiện 9 vụ lấn chiếm xây dựng nhà trái phép trên đất quy hoạch lâm nghiệp, lập biên bản 3 vụ vi phạm bảo vệ rừng - bảo vệ động vật hoang dã và phạt 34.000.000 đồng, tịch thu 3,3 m3 gỗ xoan đào, thả về thiên nhiên 25 kg rắn hổ mang. (Bienhoa-dongnai.gov.vn 13/8) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ nước ngầm cho hồ Dầu Tiếng nên công tác quản lý rừng ở đây được các địa phương chú trọng.
Bên cạnh đó, khu vực hồ Dầu Tiếng có tiềm năng về du lịch nhưng chưa được khai thác hiệu quả, rất cần sự quan tâm của các ngành, địa phương và nhất là các nhà đầu tư.
Rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng (huyện Dầu Tiếng) có diện tích trên 3.653 ha, nhưng phải đến năm 2010 Ban Quản lý rừng mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động tháng 2-2011.
Trước đó, do chưa có đơn vị quản lý trực tiếp nên nhiều hoạt động khai thác lâm sản, phá rừng trồng diễn ra phức tạp. Một số hộ dân còn chiếm giữ đất rừng, xâm canh gây mất an ninh trật tự, đe dọa sự ổn định của rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng.
Kể từ khi được thành lập, Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng (Ban quản lý) dần đưa công tác quản lý, bảo vệ rừng đi vào nề nếp, ổn định. Dù mới thành lập, chưa có trụ sở, công cụ làm việc còn thiếu thốn nhưng Ban quản lý vẫn kiên trì giữ vững công tác, thực thi nhiệm vụ tuyên truyền và quản lý rừng hiệu quả.
Hiện Ban quản lý trực tiếp quản lý 651,45 ha, giao khoán 2.333,46 ha cho các hộ gia đình quản lý, số còn lại là diện tích đất xâm canh của các gia đình sống trong khu vực. Chỉ trong một thời gian ngắn Ban quản lý đã giao đất cho hàng trăm hộ dân, giúp họ cùng Nhà nước giữ rừng, khai thác nguồn lợi bền vững của rừng. Đây được xem là hướng đi hợp lý trong công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng hiện nay.
Để tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, Ban quản lý đã kiến nghị và được tỉnh cho phép kiểm tra, rà soát, xây dựng thêm nhiều tuyến đường tuần tra, bảo vệ rừng; xem xét hỗ trợ thêm phụ cấp cho cán bộ bảo vệ rừng và lập phương án tái định cư cho 45 hộ dân đang sống ở ấp Tha La, xã Định Thành, huyện Dầu Tiếng…
Khu vực núi Cậu nằm bên hồ Dầu Tiếng có vị trí xung yếu của rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng; bên cạnh đó, phong cảnh bên rừng, bên hồ hữu tình phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái. Quyền Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Tấn Bình cho biết tiềm năng du lịch ở khu vực hồ Dầu Tiếng rất lớn, cần phải kêu gọi doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch sinh thái ở đây.
Ông Phạm Quốc Thái, Giám đốc Công ty Xây dựng - Thương mại Đông Hưng, một trong những doanh nghiệp địa phương đang có ý định đầu tư khu du lịch sinh thái tại đây, cho biết Khu du lịch sinh thái núi Cậu - hồ Dầu Tiếng cách trung tâm huyện Dầu Tiếng khoảng 5km, cách TP.Thủ Dầu Một 50km và trung tâm TP.HCM khoảng 80km. Đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nhất là khi các tuyến đường nối đến trung tâm huyện Dầu Tiếng hoàn thành.
Cũng theo ông Thái, với bán kính khoảng 40km từ trung tâm huyện Dầu Tiếng đến các điểm du lịch nổi tiếng khác trong vùng như Khu du lịch Đại Nam, Địa đạo Củ Chi, Khu du lịch Một Thoáng Việt Nam, Khu du lịch núi Bà Tây Ninh... nếu Khu du lịch sinh thái núi Cậu - hồ Dầu Tiếng hình thành sẽ tạo thành một quần thể du lịch, rất thuận lợi trong việc hình thành các tour, tuyến du lịch cho khách trong và ngoài nước vào dịp cuối tuần, nghỉ dài ngày.
Thực ra, từ nhiều năm qua, nhiều diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng đã được giao cho các hộ dân quản lý, chăm sóc. Cũng đã có vài điểm du lịch nhỏ được người dân thuê đất, mở khu du lịch nhưng vẫn chưa khai thác được tiềm năng sẵn có.
Chính vì thế, để phát triển bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng, Ban quản lý không chỉ xúc tiến giao đất, giao rừng cho dân cùng quản lý mà xa hơn nữa cần kêu gọi nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển du lịch, để vừa bảo đảm nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách, vừa bảo vệ rừng đầu nguồn bền vững. (Báo Bình Dương 14/8) đầu trang(
Ông Mùa Ngọc Tú, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa cho biết: Là huyện nghèo, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn nên khó huy động các nguồn lực đầu tư để trồng, phát triển rừng.
Trong giai đoạn 2012 - 2014 nguồn kinh phí thực hiện các hạng mục lâm sinh chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấp. Sau hơn 2 năm thực hiện Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững, bước đầu tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của người dân trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển rừng.
Huyện đã triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho trên 21.800 lượt người tham gia; phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức 16 cuộc tuyên truyền; cấp phát 448 tờ rơi, 12 áp phích phổ biến nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ - CP của Chính phủ tới các thôn, bản, tổ dân phố…
Người dân đã tích cực, chủ động tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng phát triển kinh tế. Với nguồn kinh phí đã được bố trí thực hiện dự án trong 2 năm (2012 - 2013) gần 7,3 tỷ đồng, huyện ưu tiên tập trung chăm sóc diện tích rừng phòng hộ tại các xã: Mường Báng, Mường Đun, Trung Thu và Lao Xả Phình; chăm sóc rừng khoanh nuôi tái sinh tự nhiên chuyển tiếp tại các xã Mường Đun, Tả Sìn Thàng, Tả Phìn, Tủa Thàng và Huổi Só; bảo vệ rừng trồng chuyển tiếp tại xã Mường Báng và hỗ trợ gạo cho các hộ gia đình chăm sóc rừng trồng chuyển tiếp...
Tranh thủ các chương trình, dự án, huyện chú trọng trồng rừng mới bằng nhiều hình thức: trồng cây phân tán, trồng tập trung. Được Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ vốn, KHKT, huyện đã trồng mới 32ha rừng bạch đàn mô tại xã Mường Báng và thị trấn Tủa Chùa; dự án Danida (Đan Mạch) hỗ trợ trồng 2.250 cây phong trào, 35.000 cây phân tán.
Trong năm 2014, dự án Danida hỗ trợ trồng trên 7 vạn cây sơn tra tại các xã phía Bắc của huyện; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ trồng 7.200 cây phân tán gồm các loại sấu và bạch đàn tại xã Mường Báng.
Chủ động ứng phó với cháy rừng, từ năm 2012 đến nay, huyện Tủa Chùa đã chỉ đạo các lực lượng chức năng tổ chức 6 cuộc diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng tại các xã có nguy cơ cao về cháy rừng; giúp chính quyền cơ sở xây dựng kế hoạch, phương án quản lý bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng đến từng tổ, đội, thôn, bản; củng cố, kiện toàn 12 ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cấp xã.
Huyện thành lập và duy trì hoạt động 253 tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng tại các thôn, bản có rừng với trên 1.800 thành viên tham gia; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng với các chủ rừng. Các tổ, đội tích cực tuần tra, kiểm soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng và hướng dẫn nhân dân đốt, dọn nương bãi đúng quy định.
Nhờ đó, tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật dần được hạn chế, tăng diện tích rừng giao cho cộng đồng thôn, bản; khuyến khích người dân tích cực bảo vệ diện tích rừng hiện có. (Báo Điện Biên Phủ 13/8) đầu trang(
13-8, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm và Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi cùng đoàn cán bộ của tỉnh đi kiểm tra thực địa dự án của công ty TNHH sản xuất, thương mại, dịch vụ B58 và công ty cổ phần thương mại dịch vụ Rạng Đông trên địa bàn huyện Đồng Phú.
Báo cáo tại thực địa, ông Nguyễn Văn Cao, Hạt trưởng kiểm lâm huyện Đồng Phú cho biết: Hiện tại diện tích rừng thuộc hai dự án này được giữ vững, không xảy ra tình trạng chặt, phá rừng. Hạt kiểm lâm thường xuyên tổ chức tuần tra và có phương án quản lý, bảo vệ rừng nghiêm ngặt.
Băng qua đường mòn dẫn vào rừng, đoàn đã đến kiểm tra tại các khu vực rừng nguyên sinh và một số chốt canh giữ rừng.
Qua kiểm tra thực tế, Chủ tịch Nguyễn Văn Trăm và Phó chủ tịch Nguyễn Văn Lợi yêu cầu: Hạt kiểm lâm Đồng Phú phải chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tuần tra, canh giữ để quản lý, bảo vệ rừng; đoạn nào xung yếu thì xin ý kiến lãnh đạo tỉnh để làm đường, cải tạo và gìn giữ, không thực hiện chuyển đổi thành trồng cao su. Rừng giữ vai trò quan trọng, là lá phổi xanh bảo vệ môi trường, cuộc sống.
Vì vậy, các ngành chức năng phối hợp làm tốt công tác bảo vệ, về lâu dài dự kiến sẽ làm khu du lịch sinh thái, vừa khai thác tiềm năng du lịch thiên nhiên vừa giữ rừng. (Báo Bình Phước 13/8) đầu trang(
12/8, tại xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát, Chi cục Lâm nghiệp Lào Cai phối hợp với Viện nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm trong giao đất, giao rừng cho các hộ dân.
Theo thống kế, toàn xã Phìn Ngan có 3.579 ha đất rừng, trong đó có 1.842 ha rừng phòng hộ, 240 ha rừng của hộ gia đình, số còn lại là đất rừng phục vụ tín ngưỡng và đất do UBND xã quản lý. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng có sự chồng lấn ranh giới giữa các loại đất, hồ sơ quản lý đất còn nhiều bất cập nên người dân chưa khai thác được hết hiệu quả kinh tế rừng…
Tại hội nghị, cán bộ địa phương, đại diện các hộ dân được học tập kinh nghiệm triển khai mô hình giao đất, giao rừng gắn với đất lâm nghiệp dựa vào cộng đồng đã được triển khai thành công tại thôn Lùng Sán, xã Lùng Sui thuộc huyện Si Ma Cai từ năm 2011.
Cũng tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận về một số nội dung: thực trạng công tác giao đất, giao rừng, cũng như quản lý rừng, đất rừng sau giao đất, giao rừng tại địa phương; phương pháp và tiến trình của công tác giao đất, giao rừng dựa vào cộng đồng. Từ đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp phù hợp để triển khai mô hình này. (Báo Lào Cai 13/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng