|
Ngày 13 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trong khi thu hồi hơn 90ha đất ruộng của người dân xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh để giao cho Cty TNHH tư vấn và chuyển giao công nghệ Việt Anh nuôi tôm vừa bị phá sản, nhưng UBND tỉnh vẫn ra quyết định chỉ đạo cấp 114ha đất ngay tại xã Kỳ Nam cho một doanh nghiệp khác để tiếp tục chinh phục giấc mơ... tôm.
Ai có dịp đi qua xã Kỳ Nam sẽ dễ dàng nhận thấy một cánh đồng rộng lớn hàng chục hécta hồ nuôi tôm nằm ngay bên cạnh QL1A bị bỏ hoang mà chua xót. Trong khi đó, quỹ đất ruộng của xã này rất hạn hẹp.
Ông Nguyễn Đình Vin - Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam - cho biết, toàn bộ diện tích 90ha từ đất ruộng của người dân 6 thôn trong xã được giao cho Cty TNHH tư vấn chuyển giao công nghệ Việt Anh thực hiện dự án nuôi tôm từ năm 2000. Tuy nhiên, việc nuôi tôm không hiệu quả, số lượng hồ nuôi giảm dần rồi bỏ hoang hẳn, không nuôi từ năm 2012 đến nay. Dự án này đã thu hồi đất ruộng của 384 hộ dân.
Theo cam kết, mỗi năm phía Cty Việt Anh sẽ đền bù cho dân 175kg/sào với đất 2 vụ. Cách thức đền bù là trả tiền mặt. Cứ vào cuối tháng 6 hằng năm, Cty sẽ trả tiền cho dân. Tuy nhiên, đến thời điểm này, dù đã muộn hơn 2 tháng nhưng phía Cty Việt Anh vẫn chưa trả tiền cho dân.
Nguyên nhân của việc chậm này là do dự án nuôi tôm của Cty Việt Anh đã bị UBND tỉnh Hà Tĩnh có quyết định thu hồi ngày 29.5.2014. "Người dân bức xúc, có ý kiến về việc Cty Việt Anh chậm trả tiền, nên vừa rồi tôi có ra tỉnh hỏi ai sẽ trả tiền cho dân trong năm nay, khi nào sẽ trả, nhưng tỉnh vẫn chưa trả lời" - Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam nói.
Mặc dù hệ lụy nhãn tiền của hàng loạt dự án nuôi tôm bị phá sản trên đất Hà Tĩnh ai cũng thấy, nhưng ngày 10.4.2014, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã ký văn bản số 1390, đồng ý cho Cty TNHH Grobest Việt Nam (trụ sở ở TPHCM) triển khai dự án nuôi tôm trên cát theo công nghệ sạch, với diện tích 40ha ở thôn Ba Đồng (xã Kỳ Phương) và 114ha ở xã Kỳ Nam.
Sự việc khiến rừng phòng hộ hàng chục năm tuổi ở thôn Ba Đồng bị chặt phá trắng để triển khai dự án. Người dân địa phương vô cùng bức xúc và hoang mang, khi mùa mưa bão về, làng mạc sẽ bị bão tố tàn phá vì không còn rừng che chắn. Theo nội dung văn bản 1390, trong 114ha đất ở xã Kỳ Nam gồm đất tổ hợp dịch vụ du lịch, đô thị và dịch vụ mật độ cao, bãi đỗ xe, giao thông, cây xanh, bãi cát.
Thời điểm này, dù chưa công bố rõ quy hoạch 114ha đất dành nuôi tôm này cụ thể ở đâu, nhưng người dân địa phương đã hoang mang lo ngại dự án sẽ cạo trắng rừng phi lao phòng hộ ven biển của xã như ở Kỳ Phương. Phóng viên đã có mặt tại rừng phi lao ven biển này và chứng kiến những cây phi lao đường kính một người ôm không xuể.
Bà Nguyễn Thị Xoan (50 tuổi, thôn Minh Đức) cho biết, rừng phi lao ven biển của xã được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Người dân địa phương chỉ cần chặt một cành nhỏ đã bị bắt phạt nặng. "Người dân chúng tôi không thể thiếu rừng phi lao đó được. Nếu chặt phá để nuôi tôm thì chúng tôi phải bỏ làng mà đi thôi" - bà Xoan nói.
Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam cho biết, hiện chúng tôi chưa nắm rõ dự án nuôi tôm 114ha có lấy rừng phòng hộ của xã như ở Kỳ Phương hay không. Nhưng vụ phá rừng ở thôn Ba Đồng (xã Kỳ Phương) để nuôi tôm thì anh em cán bộ xã có đến xem. "Nếu chặt phá rừng phi lao ở ven biển của xã để nuôi tôm như ở Kỳ Phương thì chắc chắn người dân sẽ phản đối. Ngay cả đại diện chính quyền xã chúng tôi cũng phản đối" - ông Vin nói.
Việc Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh ủy quyền cho BQL Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh quyết định điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế Vũng Áng và triển khai cấp đất cho Cty Grobest Việt Nam nuôi tôm đã tạo cơ hội cho BQL này bỏ qua nhiều thủ tục, không thông báo rộng rãi thăm dò ý kiến của người dân.
Vì vậy, người dân nơi đây thật sự lo ngại nếu sự việc tái diễn kiểu bất thường chặt trắng rừng phòng hộ như ở thôn Ba Đồng, xã Kỳ Phương. (Lao Động 13/8, tr3) đầu trang(
Chiều 12-8, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46), Công an tỉnh đang tạm giữ chín đối tượng liên quan đến vụ vận chuyển một cá thể hổ từ phía bắc vào TP Biên Hòa để nấu cao.
Trước đó, vào khoảng 22 giờ ngày 11-8, lực lượng PC46 đã bất ngờ kiểm tra quán thịt cầy Ninh Bình tại tổ 2, khu phố 1, phường Thống Nhất, TP Biên Hòa do Nguyễn Văn Nghị (38 tuổi) làm chủ.
Qua kiểm tra, PC46 phát hiện hai đối tượng Lê Xuân Xanh (45 tuổi) và Cao Xuân Hồng (34 tuổi), cả hai cùng ngụ tỉnh Nghệ An đang vận chuyển một cá thể hổ bằng xe ô-tô loại 12 chỗ ngồi biển số 30M – 2454 đến quán thịt cầy Ninh Bình.
Cá thể hổ này dài khoảng 2 m đã bị xẻ lấy hết thịt, còn lại bộ xương và da có trọng lượng gần 70 kg. Ngoài ra, PC46 còn phát hiện một bộ xương khác có trọng lượng khoảng 20 kg.
Bước đầu, cơ quan công an xác định hai đối tượng Xanh và Hồng vận chuyển cá thể hổ trên từ phía bắc vào Đồng Nai bán cho các đối tượng khác nấu cao. Ngoài tạm giữ ba đối tượng trên, ngay trong tối 11-8, cơ quan công an còn triệu tập sáu đối tượng khác để điều tra vụ việc. (Nhân Dân 13/8, tr8; Lao Động 13/8, tr7; Thanh Niên 13/8, tr2) đầu trang(
Một sát thủ chim trời nức tiếng đến mức GS. Võ Quý, nhà điểu học, từng phải thốt lên mà rằng: "Ông Thắng ơi là ông Thắng! Ông cứ bắt như thế này chẳng mấy chốc mà hết chim mất". Thế mà đột nhiên ông bỏ nghề, bỏ lưới chuyển sang bảo vệ chim…
Ông Hoàng Văn Thắng sinh ra trong một gia đình bẫy chim gia truyền đã bốn thế hệ. Chừng hai mươi năm trước, có đoàn chuyên gia Úc do GS. Võ Quý dẫn đầu đến Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) bắt chim để đeo vòng khảo sát. Cả một tuần vật lộn nhưng họ chỉ giăng lưới bẫy được sáu, bảy con trong khi nhu cầu cần đến hai trăm con.
Bí quá GS. Võ Quý đành tìm đến dân bản địa để cầu cứu. Lời đến tai hai sát thủ chim nổi tiếng đất Giao Thủy cũng là hai anh em ruột Hoàng Văn Thắng và Hoàng Văn Thế. Ông Thắng thủng thỉnh: “Nhà nước yêu cầu thì chúng tôi đánh thôi, 200 con thì chỉ một đêm là có đủ”. Mấy người xung quanh mới nghe thấy thế liền nhao nhao: “Ông nói khoác nó vừa vừa thôi chứ!”.
Đêm ấy các chuyên gia Úc cũng bủa lưới cùng một khu vực với hai anh em ông Thắng. Lưới của anh em ông dài 400 m còn lưới của chuyên gia Úc tuy chỉ dài 300 m nhưng lại là lưới ba tầng chứ không phải lưới đơn.
Cao tay hơn, ông Thắng để cho họ toàn quyền đánh trước. Ba bốn giờ chiều, bắt đầu nước ròng, chim trời ăn theo mép nước cứ lùi dần, lùi dần xuống bãi. Chừng sáu giờ tối, lưới bủa xong, thuyền hai anh em ông rút ra xa. Ba giờ sau họ quay lại. Những tiếng chim kêu “oác oác” váng trời như một chiếc phản lực cất cánh. Chim mắc đen lưới, lắm đoạn kéo sà sát cả đất.
Thấy cảnh dân lân cận túa ra xem. Họ đếm được gần 700 con chim trong lưới của anh em ông Thắng và bảy con chim trong lưới của chuyên gia.
Một lều bạt được dựng ngay trên bờ. Các chuyên gia chọn ra 200 con chim để đeo vòng rồi thả tất về trời. Phủi phủi lông chim lúc bấy giờ vẫn dính đầy người, GS. Võ Quý cầm tay hai anh em ông Thắng bái phục mà ánh mắt đầy lo ngại.
Hồi ấy ở Giao Xuân có năm thuyền chuyên đi đánh chim, mỗi chuyến đi hai ba ngày rồi dừng lại lấy đồ tiếp tế, chuyển chim về bán. Lắm khi thực phẩm chưa đến, thợ săn toàn phải ăn chim thay rau. Chim nhiều vô kể. Các đàn chim bay đen như những đám mây, còn dưới rặng phi lao, trứng vịt trời trắng, xanh lấp loáng nắng.
Trong cuốn sách dày cộp “500 loài chim Việt Nam”, hỏi về 300 loại chim biển, ông Thắng không lạ bất kỳ con nào, từ hình dáng, màu sắc lông, tiếng kêu đặc trưng đến hương vị… thịt. Cứ như lời ông, cú mèo nổi tiếng là hôi nhưng đã qua lửa lại rất dậy mùi từ xào, nấu, nướng hay quay đều thơm tưng bừng, thơm nức mũi. Đã thế xương cú mèo lại giòn tan, nhai cứ gọi là rau ráu.
Bà Trần Thị Thuận, vợ ông Thắng, kể hồi ấy thuyền bẫy chim thường đi dọc các bãi cửa sông Hồng, từ cồn Lu sang cồn Ngạn, cồn Mờ. Mỗi thuyền phiên chế bốn năm người, lưới của anh nào anh ấy đánh nhưng chim thì nhốt chung một khoang rồi chia.
Chỉ những con to như vịt, ngỗng, mòng mới chia, còn con nhỏ ăn thay rau hoặc nhiều quá thì vứt. Thịt chim ê hề nhiều lúc chẳng buồn động đũa mà mồm miệng chỉ thèm quay thèm quắt một vài ngọn rau muống...
Buổi chia, các bà vợ lội bộ đội thúng chim về. Lắm buổi bà Thuận tay cắp 5-7 đôi ngỗng trời, đầu đội một cái thúng chứa 23 đôi mòng từ bến Giao An về nhà độ hơn một cây số mà phải nghỉ dăm bảy chặng.
Chim mang về, con chết vặt lông, thui rồi bán sáng, con sống cứ quây vào cót chiều mang đi chợ huyện. Vàng lúc ấy 400-500 nghìn đồng/chỉ mà một buổi bán chim được trên 1 triệu đồng.
Một lần về thăm ông Thắng, GS. Võ Quý vui miệng hỏi rằng có bao giờ bắt được chim đã đeo vòng chưa. Ông Thắng hồn nhiên: “Đợi em tí nhé”, rồi lật đật chạy vào trong buồng lúc sau khệ nệ ôm một… vốc vòng đủ loại, đủ mã của các quốc gia, các tổ chức bảo tồn chim khiến vị GS phải rên lên mà rằng: “Ông Thắng ơi là ông Thắng. Ông bắt như vậy là hết chim của Việt Nam, của thế giới mất”.
Sát thủ chim cười: “Chừng nào nhà nước còn chưa cấm thì chúng em vẫn còn bắt bác ạ”. Vị GS trầm ngâm một hồi rồi bất ngờ hỏi: “Hay là Thắng làm bảo vệ chim cho Nhà nước đi, cái tài bắt chim sẽ có tác dụng đấy”. “Bảo vệ chim là như thế nào hả bác?”, ông Thắng hỏi. “Là theo dõi lượng chim đến, chim đi, hằng tháng báo về cho tôi”. "Thế thì quá dễ", ông Thắng reo lên rồi nhận lời.
Rừng ngập mặn có hàng trăm đàn chim, hàng vạn con nhưng con nào mới, con nào cũ khó mà qua được cặp mắt sắc như ưng, như cắt của ông. Chim mới thường gầy, xấu, xác xơ còn chim cũ trơn lông, đỏ da. Chim mới lớ nga lớ ngớ rất dễ bẫy còn chim cũ sau dăm bảy lần thoát lưới đã khôn hơn rất nhiều…
Ngày hôm nay nhìn chúng ăn ở đâu ông phán đoán được mai di chuyển đến bãi nào. Thường một khu vực chim chỉ ăn ba ngày, đến ngày thứ tư là chuyển. Trước khi chuyển, con đầu đàn mang theo ít bộ hạ thân cận sẽ do thám bãi mới. Hôm sau y như rằng cả đàn bỏ đi sạch.
Ông Thắng là người đầu tiên tự nguyện bỏ nghề bẫy chim ở vùng đất ngập nước này. Thu nhập từ bẫy chim quá lớn trong khi công theo dõi đàn chim chỉ ba cọc ba đồng nên trước quyết định của chồng, bà Thuận cứ gọi là tiếc hùi hụi…
Không chỉ bỏ bẫy, ông còn lân la ra mấy thuyền săn chim ở Vườn quốc gia Xuân Thủy để thuyết khách. Toàn anh em, họ hàng cả, nể ông một phần, nể luật pháp một phần, dần dà họ bỏ nghề tàn sát chim trời.
Dõi theo những cánh chim trời được độ ba năm, vết thương sọ não một thời ông đi bộ đội bỗng tái phát. Tình hình trầm trọng đến nỗi ông nằm bệnh viện mà người nhà đã bàn tính chuyện đóng hòm, lo hậu sự. Thoát chết trong gang tấc, việc đầu tiên ông làm sau khi rời phòng cấp cứu về nhà là rút cánh cửa lồng phóng sinh cho hai con chim khiếu bởi ông thấm lắm cái cảnh cá chậu, chim lồng.
Từ bỏ nghề săn chim, vết thương trong đầu ông dần lành lại. Không còn bị ám ảnh bởi những cánh chim mắc lưới đập liên hồi, những mắt chim đen nháy như hạt đậu ươn ướt nhìn người bắt, những tiếng kêu “oác oác” đầy oán thán, tâm hồn ông thấy thanh thản.
Khi HTX Du lịch Giao Xuân được thành lập, ông Thắng trở thành tình nguyện viên dẫn khách chuyên về mảng chim. Đi trên đê biển lộng gió, một con chim nhỏ như ngón chân cái bay vù qua.
Khách hỏi: “Ông ơi, chim gì đấy?”. “Chim chích cháu ạ”. Đi đoạn nữa lại một con chim tương tự bay qua, khách hỏi, ông bảo: “Chim vành khuyên cháu ạ”. Người khách trẻ tuổi bắt bẻ: “Vẫn chim đấy mà sao khi thì ông bảo chim chích, khi lại là vành khuyên?”.
Ông chỉ cười hiền: “Chúng có hình dáng giống nhau nhưng vành khuyên có vành ở mắt còn chim chích thì không. Vành khuyên thường bay dưới một mét là là mặt đất để tìm mồi còn chim khuyên bay cao hơn…”. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/8, tr5) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Xuất hiện nhiều đối tượng vào Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc) săn bắt kỳ đà trái phép. (Nhân Dân 13/8, tr7) đầu trang(
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định, cho biết thời gian gần đây, Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn đã bị nhiều đối tượng khai thác gỗ quý và săn bắt trái phép.
Khu bảo tồn có tổng diện tích khoảng hơn 22.000ha với nhiều loại gỗ quý từ nhóm 1-3, nay chỉ còn nguyên vẹn khoảng 8.000ha.
Tình trạng trên xảy ra do công tác quản lý, bảo vệ rừng yếu kém. Diện tích rừng lớn, lại xa các trung tâm và khu vực dân cư, con đường bêtông dài 45km nối từ xã An Hòa đến xã An Toàn thuận lợi nên các đối tượng dễ dàng khai thác gỗ quý trái phép.
Điển hình là tháng Năm, các đối tượng khai thác trái phép đã vào sâu tại tiểu khu 58 thuộc địa phận xã An Nghĩa. Lực lượng Kiểm lâm chỉ có 2-3 người, kiểm tra kiểm soát 24 giờ/ngày nhưng không thể quản lý hết diện tích rừng trong khu bảo tồn.
Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, lực lượng kiểm lâm cần được tăng cường để nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ khu bảo tồn.
Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Đông giáp các xã An Vinh, An Quang và An Nghĩa (huyện An Lão) và huyện Hoài Ân, phía Nam giáp huyện Vĩnh Thạnh và phía Tây giáp khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng (tỉnh Gia Lai).
Khu bảo tồn bao gồm 24 tiểu khu nằm trong quy hoạch các khu rừng đặc dụng đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt. Khu bảo tồn được quy hoạch xây dựng với ba phân khu chức năng phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; phân khu phục hồi sinh thái và phân khu hành chính dịch vụ. (VietnamPlus 12/8; Tin Tức 13/8, tr13) đầu trang(
Chiều 12-8, hàng trăm người dân và lực lượng bộ đội, kiểm lâm huyện Nam Đàn (Nghệ An) vẫn đang ra sức dập tắt đám cháy rừng tại xã Khánh Sơn.
Ghi nhận của PV, đám cháy rừng ở xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn (Nghệ An) chiều 12-8 vẫn bốc cao thành từng cột khói lớn có thể nhìn thấy được từ cách xa hàng chục km.
Khói đen từ vụ cháy theo gió bao phủ vùng trời rộng lan từ huyện Nam Đàn xuống huyện Hưng Nguyên, TP Vinh.
Ông Đặng Văn Việt - chủ tịch UBND xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn (Nghệ An) - cho hay, đám cháy buổi sáng đã khống chế đang bùng phát trở lại rất mạnh từ suốt chiều 12-8.
“Từ khu vực rừng thông xóm 16 đã cháy lan sang xóm 3 của xã. Đồi núi dốc lại xa nguồn nước nên việc dập lửa chỉ dùng bằng biện pháp thủ công như phát đường băng cản lửa, dùng cành cây”, ông Việt nói.
Nhiều người dân từ thanh niên, phụ nữ, đàn ông trong làng hối hả mang theo cành cây, xô nước lao lên vùng rừng đang cháy ngùn ngụt.
Cạnh đó, hàng chục cán bộ chiến sĩ của Đội kiểm lâm cơ động số 1, Đội kiểm lâm cơ động số 2 Nghệ An chuẩn bị máy thổi, dao phát để ngăn đám cháy. Sức nóng từ đám cháy bốc cao ngùn ngụt khiến không ai dám tiếp cận gần.
Một tay phát đường băng cản lửa, bác Phạm Viết Sơn (48 tuổi, xóm 3, xã Khánh Sơn) - cho biết: “Từ 19g30 tối 11-8 đến 1g30 sáng nay chúng tôi cũng vắt kiệt sức để dập tắt được mảnh rừng. Đến trưa nay vừa ăn cơm xong thì lại nghe mọi người báo cháy nên cả nhà lại phải chạy lên đồi dập lửa tiếp”.
Đến 18g30 chiều 12-8, tiếng còi báo động liên tục vang lên để huy động người dân vào rừng chữa cháy. Đám cháy vẫn đang bùng phát dữ dội khiến công tác dập tắt đám cháy rất khó khăn.
Trước đó, vụ cháy rừng tại xã Khánh Sơn từ sáng 11-8 đến sáng 12-8 đã làm thiệt hại khoảng 5,5ha rừng thông, bạch đàn, keo sắp đến kỳ thu hoạch. (Tuổi Trẻ 13/8; Tiền Phong 13/8; Tin Tức 13/8; Nông Nghiệp Việt Nam 13/8, tr2) đầu trang(
Những cánh rừng đại ngàn ở H. Kbang được xem như khá đặc hữu ở tỉnh Gia Lai với nhiều loại cây gỗ quý, có tuổi thọ hàng trăm năm.
Song những cánh rừng như thế đang dần rỗng ruột khi lâm tặc dùng đủ mọi cách để triệt hạ và dễ dàng “qua mặt” lực lượng bảo vệ rừng hay được sự tiếp tay của một số cán bộ Kiểm lâm biến chất.
Từ sau Tết Nguyên đán đến nay, những cánh rừng đại ngàn của H. Kbang lại rền tiếng cưa máy, tiếng cây đổ, nhất là các khu rừng thuộc các xã phía Bắc của huyện như Sơn Lang, Kroong, Đăk Rong... Đặc biệt trong nhóm gỗ quý, gỗ Hương (nhóm I) trở thành mục tiêu khai thác và săn lùng hàng đầu của các nhóm mua bán, khai thác gỗ trái phép.
Từ đầu năm 2013 đến nay, riêng đối với gỗ Hương đã xảy ra 66 vụ vi phạm, trong đó khai thác trái phép 29 vụ, vận chuyển, cất giấu, mua bán trái phép 37 vụ. Với 300 cây gỗ Hương có đường kính từ 35cm đến hơn 1m được tỉnh Gia Lai thống kê nhằm bảo tồn gene, thế nhưng từ đầu năm đến nay đã có 47 cây gỗ Hương với khối lượng gần 140m3 thuộc lâm phần Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa đã bị lâm tặc đốn hạ.
Điều đáng chú ý là từ đầu tháng 3-2014 đến đầu tháng 4-2014, ròng rã một tháng trời, mỗi ngày lâm tặc chặt hạ từ 2-3 cây gỗ Hương khu vực gần đường đi nhưng bảo vệ rừng của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa, Kiểm lâm địa bàn, Kiểm lâm cơ động tỉnh thường xuyên có mặt tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã Kroong không hay biết.
Chỉ đến khi kiểm tra, hàng chục cây Hương cổ thụ đã bị đốn hạ trơ gốc, có cây đã bị lâm tặc xẻ thành phách, có cây vẫn chưa kịp xẻ còn ứa nhựa. Tình trạng vận chuyển gỗ Hương cũng nóng bỏng hơn bao giờ hết nhưng lực lượng Kiểm lâm, bảo vệ rừng phát hiện chỉ nhỏ giọt.
Nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép đều được cơ quan CAH phát hiện, xử lý. Đầu tháng 7-2014, CQCSĐT CAH Kbang vừa kết luận điều tra vụ án đối với Nguyễn Công Cường (1994, trú tại TT Kbang, H. Kbang) vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và chuyển hồ sơ, vật chứng vụ án, bị can qua VKSND huyện khởi tố.
Trước đó, vào ngày 11-4-2014, Cường được một đối tượng (nói giọng Quảng Bình) thuê chở 59 hộp gỗ Hương từ làng Klư (thôn 5, xã Kroong) về thị trấn Kbang với giá 7 triệu đồng. Tuy nhiên, khi đến địa bàn làng Tăng (thôn 5, xã Lơ Ku, H. Kbang) thì bị lực lượng tuần tra của CAH Kbang phát hiện, bắt giữ, thu giữ trên xe tổng khối lượng gần 6m3 gỗ Hương (qui ra gỗ tròn gần 9,5m3).
Đầu tháng 7, CAH Kbang cũng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Hồ Như Khôi (1982, trú thôn 7, xã Đông), Nguyễn Ngọc Quýnh (1963, trú tổ dân phố 18, TT Kbang), Hồ Văn Vĩnh (1974, trú thôn 5, xã Đông), Văn Hoàng Tùng (1991, trú xã Đông), Nguyễn Cảnh Dinh (1971, trú TT Kbang) và Phạm Văn Đạt (1983, trú TT Kang) cùng H. Kbang về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Sự việc khiến dư luận xôn xao bởi Khôi chính là cán bộ của Hạt kiểm lâm H. Kbang, phụ trách địa bàn xã Kon Pne nhưng đã trực tiếp đi hộ tống cho chiếc xe chở gần 21m3 gỗ lậu gồm các loại gỗ Bách Xanh (nhóm IIA), gỗ Sao Cát (nhóm III) và gỗ Tô Hạp (nhóm V).
Qua điều tra, xác định Nguyễn Ngọc Quýnh sau khi xẻ hộp cây gỗ Sao Cát (bị đối tượng lâm tặc khác cắt hạ trước đó) tại xã Kon Pne (H. Kbang) thì gặp Khôi và “ngỏ ý” nhờ Khôi chuyển giúp số gỗ đã xẻ ra các trạm bảo vệ rừng để ra thị trấn Kbang tiêu thụ.
Không những không ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của Quýnh mà Khôi còn đồng ý “giúp đỡ” và “đề nghị” Quýnh tới gặp anh ruột mình là Hồ Văn Vĩnh để thuê xe BKS 81C-01628 của Vĩnh chở số gỗ trên ra với giá 30 triệu đồng. Sau khi Quýnh thuê Dinh, Đạt bốc gỗ cho Quýnh, còn Vĩnh thuê thêm Tùng lái xe cho mình rồi chở cả bọn được Khôi “bảo kê” đi vào khu vực tập kết gỗ tại xã Kon Pne.
Do có sự thống nhất từ trước giữa Quýnh và Khôi, việc đưa xe chở gỗ qua trạm gác cửa rừng là do Khôi chịu trách nhiệm. Về phần Quýnh, sau khi chất số gỗ Sao Cát lên thì tiếp tục cho 2 người khác đưa lên xe 9 hộp gỗ xẻ và 2 lóng gỗ tròn (gỗ Bách Xanh) và 15 hộp gỗ xẻ (gỗ Bách Xanh). Sau đó, Quýnh nhờ người đi mua 4 tấn củ mỳ tươi bốc đổ phủ lên toàn bộ gỗ trên xe để ngụy trang và đưa 14 cây gỗ xẻ (6x12cm) loại gỗ Tô Hạp để lên phía trên nhằm lấy cớ “anh Khôi nhờ đưa 14 cây gỗ xẻ này về để làm nhà”.
Chiều ngày 13-6, Khôi mặc đồng phục kiểm lâm rồi dùng xe máy chạy trước dẫn đường cho chiếc xe tải trên. Khi qua trạm gác cửa rừng của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Rong, Khôi đã vào xin qua trạm và được nhân viên ở đây cho đi. Đến khoảng 18 giờ khi đến trạm gác cửa rừng Cây Đa của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa, Khôi tiếp tục vào xin cho xe qua với lý do “tranh thủ xe chở mỳ ra nên có bỏ thêm 14 cây gỗ xẻ về làm nhà”. Tuy nhiên, nghi ngờ thái độ của Khôi, nhân viên trạm đã kiểm tra lại và phát hiện một số lượng gỗ lớn phía dưới đống củ mỳ nên không đồng ý cho qua và chặn xe lại.
Điều đáng nói là sau khi nhận được tin báo của nhân viên trạm gác cửa rừng nhưng về phía lãnh đạo Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa và một số cán bộ kiểm lâm của Hạt kiểm lâm H. Kbang có mặt tại hiện trường nhưng không có hướng xử lý nào. Vài tiếng sau, chỉ đến khi tổ công tác của CAH Kbang có mặt tại hiện trường mới kiên quyết xử lý vụ việc, lập biên bản và đưa ô-tô BKS 81C-01628 cùng toàn bộ tang vật, các bên liên quan về trụ sở xử lý.
Liên quan đến việc 47 cây Hương với gần 140m3 bị đốn hạ nhưng không có một đối tượng nào bị xử lý, các cơ quan chức năng chỉ giải thích: do phát hiện lẻ tẻ từng vụ nên không thể khởi tố, truy tìm đối tượng.
Điều đó khiến dư luận nghi ngờ rừng Hương bảo tồn gene ở Kbang mấy chốc sẽ không còn, bởi lâm tặc cứ chặt phá rồi để đấy, cơ quan chức năng lại phát hiện, lại tịch thu, lại thuê phương tiện đưa ra và lâm tặc chỉ chờ... đấu giá rồi mua lại một cách hợp pháp. (Công An TP Đà Nẵng 13/8) đầu trang(
11-13/8, cảnh báo cháy rừng các khu vực tỉnh Nghệ An cấp IV (cấp nguy hiểm), đặc biệt là một số khu vực đồng bằng, có diện tích rừng thông dễ cháy như Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Đô Lương, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu.
Do chịu ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía Tây, kết hợp với hiệu ứng phơn Tây Nam nên từ ngày 11 đến 13 tháng 8 nên ở Nghệ An xảy ra nắng nóng với nền nhiệt độ cao nhất trong ngày phổ biến 35 đến 38 độ C, có nơi trên 38 độ .
Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An yêu cầu chính quyền địa phương, chủ rừng, hạt kiểm lâm thực hiện nghiêm các biện pháp cấp bách trong phòng chống chữa cháy rừng.
Thực hiện chế độ trực 24/24h hàng ngày để phát hiện sớm, phản ứng nhanh với các tình huống cháy rừng xảy ra.
Phân công cán bộ đến các khu rừng trọng điểm dễ cháy, nơi tập trung đông người đi lại, thực hiện tuần tra, canh phòng lửa rừng, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng, việc sử dụng lửa, chất nổ, chất dễ cháy trong rừng, ven rừng.
Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện kỹ thuật, phương tiện hậu cần ứng trực sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi có cháy rừng xảy ra.
Khi phát hiện cháy rừng xẩy ra thì chủ rừng, chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm phải nhanh chóng huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ, hậu cần cơ động nhanh đến hiện trường tổ chức chữa cháy, không để xảy ra cháy lớn. (Đài PTTH Nghệ An 12/8) đầu trang(
Cũng như nhiều loài động vật hoang dã khác tại Việt Nam, linh trưởng đang có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng do nạn săn bắn bất hợp pháp, buôn bán trái phép, sinh cảnh sống bị thu hẹp. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác đang đối mặt với những thách thức bảo tồn linh trưởng.
Đó là một trong những nội dung chính của Hội nghị linh trưởng quốc tế do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Hiệp hội Hội linh trưởng quốc tế tổ chức sáng 12/8, tại Hà Nội.
Với điều kiện về địa lý và khí hậu thuận lợi, Việt Nam là nơi cư trú bản địa của 26 loài và phân loài linh trưởng trong tổng số 612 loài và phân loài được Tổ chức Bảo tồn thiên quốc tế (IUCN) công nhận. Trong số đó, có 5 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam gồm: voọc mũi hếch, voọc mông trắng, voọc Cát Bà, Chà Vá chân xám và khỉ đuôi dài Côn Đảo.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn cho biết công tác bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Trong đó, nguyên nhân cụ thể là các khu bảo tồn không có rừng ở vùng đệm, các khu bảo tồn có diện tích nhỏ và bị cô lâp; thiếu vốn đầu tư, thiếu sự đồng thuận giữa lực lượng kiểm lâm và người dân địa phương; năng lực quản lý kém, thực thi luật không hiệu quả và thiếu lực lượng kiểm lâm chuyên trách...
Đặc biệt, hiện nay, độ che phủ rừng ở Việt Nam đã giảm đáng kể và hiện chỉ còn khoảng 41% năm và diện tích dành cho sinh cảnh của các loài linh trưởng cũng rất hạn chế.Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết, trong hơn 50 năm qua, Việt Nam đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo tồn thiên nhiên và thiết lập một hệ thống rừng đặc dụng với diện tích trên 2,2 triệu ha với hệ thống gồm: 30 Vườn quốc gia, 114 khu bảo tồn loài và sinh cảnh. Chính phủ Việt Nam ngày càng tăng đầu tư, xây dựng và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học trong đó có các loài linh trưởng.
Những nỗ lực bảo tồn chuyển vị các loài linh trưởng ở Việt Nam đạt được những kết quả đáng ghi nhận thông qua việc thành lập Trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng tại Vườn quốc gia Cúc Phương vào năm 1993. Trung tâm này đã cứu hộ hơn 260 cá thể, cho sinh sản thành công 240 cá thể của 12 loài, thả trên 50 cá thể về sinh cảnh tự nhiên. Hiện tại, Trung tâm đang cứu hộ, chăm sóc trên 150 cá thể.
Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Hiệp hội Linh trưởng quốc tế (IPS) TS. Tetsuro Matsuzawa cũng cho rằng, để bảo tồn các loài linh trưởng cần sự cam kết, tham gia và hợp tác của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như người dân ở nhiều châu lục. (VietnamPlus 12/8; Đại Đoàn Kết 13/8, tr12; Nông Nghiệp Việt Nam 13/8, tr2) đầu trang(
Trên địa bàn thị xã Bắc Kạn hiện có khoảng 30ha rừng mỡ bị sâu ong gây hại, tập trung ở các thôn Bản Rạo (xã Xuất Hóa); thôn Nà Ỏi, Bản Bung (xã Dương Quang); Nà Chom, Khau Pút (xã Nông Thượng) và gần đây nhất là ở tổ 18, phường Sông Cầu.
Thị xã Bắc Kạn đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn tổ chức hướng dẫn, triển khai các biện pháp phòng trừ sâu ong đến các địa phương có rừng bị hại. Tuy nhiên, do tốc độ gây hại của sâu ong khá nhanh nên thời gian qua các địa phương trên địa bàn mới tiến hành rắc thuốc được 8/30ha.
Hiện nay sâu ong đang trong giai đoạn nhộng, mật độ sâu phổ biến 8 -15 con/m2, cao 20 -25 con/m2, cá biệt 30 – 35 con/m2, cơ quan chuyên môn đã chỉ đạo các địa phương tiếp tục theo dõi diễn biến để chủ động phòng trừ.
Biện pháp thực hiện chủ yếu là tiến hành xới đất đều và sâu 5 - 10cm, xới rộng hơn tán lá từ 20 - 50cm, tìm và diệt nhộng kết hợp rắc thuốc để diệt trừ sâu ong. (Báo Bắc Kạn 12/8) đầu trang(
Nắng hạn vẫn đang tiếp tục hoành hành tại Phú Yên, khiến hàng nghìn héc-ta cây trồng chết, thiếu nước.
Trong khi đó, đã có ít nhất hơn 1.400ha rừng bị khô, chết, dẫn đến liên tục xảy ra cháy rừng. Trước tình hình trên, UBND tỉnh Phú Yên đang tích cực chỉ đạo các địa phương tăng cường chống hạn, hạn chế tối đa cháy rừng.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 14 vụ cháy rừng, tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm 2013, làm thiệt hại gần 250ha rừng trồng. Ngoài ra, ước đã có hơn 1.460ha rừng trồng bị chết khô do nắng nóng, chủ yếu tại huyện Đồng Xuân, Tuy An và TX Sông Cầu.
Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Phú Yên Lê Văn Trúc cho biết, đã cấp bổ sung dự toán ngân sách năm 2014 cho hai huyện Tuy An, Đồng Xuân và mới đây, Thủ tướng Chính phủ cũng đã quyết định hỗ trợ tỉnh Phú Yên 10,9 tỷ đồng chống hạn, khắc phục hậu quả thiệt hại. Hiện UBND tỉnh đang chỉ đạo Sở Tài chính phân bổ nguồn kinh phí trên cho các địa phương thực hiện công tác chống hạn.
Theo phản ánh của các địa phương, thời tiết khô hạn kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây trồng, nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân, là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ cháy rừng, nhiều nhất là huyện Đồng Xuân (ước gần 1.000ha).
Vì vậy, UBND tỉnh cần tiếp tục hỗ trợ kinh phí để gia cố hệ thống kênh mương, tăng cường máy bơm, nạo vét ao hồ cung cấp nước tưới cho cây trồng và đào thêm các giếng, bổ sung nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân. Ngành nông nghiệp tích cực triển khai công tác phòng, chống cháy và chăm sóc rừng trồng…(Công An TP Đà Nẵng 13/8) đầu trang(
Rừng chắn sóng không chỉ được xem như là tấm bình phong vững chãi chở che con người trước cơn thịnh nộ của thiên tai mà còn góp phần cải thiện môi trường, chống biến đổi khí hậu.
Thế nhưng khoảng hơn chục năm trở lại đây, nhiều cánh rừng chắn sóng trên địa bàn tỉnh ta đang dần bị thu hẹp, nếu không muốn nói là có nguy cơ biến mất. Làm thế nào để “cứu sống” những vành đai xanh chắn sóng này, đó vẫn là “bài toán” nan giải đối với các cơ quan chức năng.
“Bữa nay người ta không còn gọi là “rừng” nữa, vì diện tích còn lại ít quá, chẳng đáng kể gì!” - Anh Đặng Xuân Thạnh, một người dân xã Quảng Kim, huyện Quảng Trạch đã trả lời như vậy khi nghe chúng tôi hỏi về diện tích rừng ngập mặn của địa phương.
Anh Thạnh cho biết thêm: Do bị kẹp giữa hai nhánh của con sông Roòn, mỗi mùa mưa bão, nước thượng nguồn đổ về cộng với việc hồ chứa nước Vực Tròn và sông Thai xả lũ, người dân vùng giữa xã Quảng Kim thường xuyên phải chịu cảnh lũ lụt.
Trước đây khi những tuyến đê đi qua địa bàn xã chưa được kiên cố hóa, bê tông hóa, những cánh rừng chắn sóng với các loại cây như đước, vẹt... chính là trợ thủ đắc lực của người dân địa phương khi chống chọi với lũ lụt. Thời điểm cao nhất, toàn xã có khoảng gần chục ha diện tích rừng ngập mặn. Thế nhưng đến nay chỉ còn lèo tèo khoảng 5-6m2.
Cùng với xã Quảng Lộc (thị xã Ba Đồn), xã Quảng Tùng (huyện Quảng Trạch), phường Quảng Phong (thị xã Ba Đồn) được xem là một trong những địa phương có diện tích rừng ngập mặn khá đẹp đến nay vẫn còn giữ được. Anh Nguyễn Thái Sơn, Chủ nhiệm Hợp tác xã sản xuất dịch vụ tổng hợp Quảng Phong cho biết: Năm 2012, phường có 13 ha diện tích rừng ngập mặn, bao gồm cả cây lâu năm và cây mới trồng. Tuy nhiên đến nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, số cây đước, vẹt, mắm... mới trồng trên địa bàn bị chết dần khiến diện tích rừng ngập mặn của phường suy giảm nghiêm trọng, hiện chỉ còn khoảng 6 ha.
Theo khảo sát của phóng viên, tại hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, rừng ngập mặn đang bị thu hẹp rất nhiều về diện tích. Số liệu báo cáo từ Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT cho thấy, hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng 120 ha diện tích rừng ngập mặn, chủ yếu là các loại cây như đước, sú, vẹt...
Nguyên nhân khiến diện tích rừng ngập mặn bị suy thoái là do nhiều nguyên nhân khác nhau như sâu bệnh, quá trình lão hóa của cây trồng, bão lụt, tự chết do không được đầu tư chăm sóc, bảo vệ, sự bất hợp lý về quy hoạch ở một số nơi trong chuyển đổi diện tích nuôi trồng thủy sản...
Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng đối với đời sống con người. Bởi ngoài tác dụng điều hòa môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước ngọt, chống sự nhiễm mặn, bảo vệ đất đai khỏi xói mòn dưới sự tác động của sóng, gió...; rừng ngập mặn còn góp phần ổn định bãi triều, cố định phù sa, bờ biển.
Có lẽ sẽ là không quá nếu ví rừng ngập mặn như tấm lá chắn “khổng lồ” bảo vệ tài sản, cuộc sống của cộng đồng cư dân ven sông, ven biển. Và so với các giải pháp công trình như bê tông hóa, nguồn vốn đầu tư để trồng các loại cây chắn sóng là không nhiều trong khi hiệu quả phòng hộ rõ ràng lại rất cao.
Đây được xem như là một giải pháp phi công trình hữu hiệu, nâng cao “tuổi thọ” của các tuyến đê, góp phần hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản cho nhân dân vùng ven sông, ven biển. Tuy nhiên thời gian qua, trong khi hệ thống đê đã được cải tạo, đầu tư xây dựng khá nhiều thì việc trồng rừng tạo vành đai phòng hộ lại hầu như vẫn chưa nhận được quan tâm thỏa đáng, việc phục hồi còn nhiều hạn chế.
Ông Võ Thanh Xuân, Chủ tịch UBND xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch cho biết: Từ trước đến nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng chắn sóng chủ yếu giao cho chính quyền cấp xã và hộ dân nên chưa có sự quan tâm nhằm đầu tư thỏa đáng cho việc bảo vệ và phát triển diện tích rừng.
Năm 2013, được sự hỗ trợ từ Ban quản lý rừng phòng hộ, xã đã trồng mới 1ha cây bần, đước để chắn sóng. Tuy nhiên, việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng chắn sóng đối với địa phương cũng chưa đủ nguồn lực và kiến thức kỹ thuật; xã rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan hữu quan trong việc giữ và khôi phục diện tích rừng ngập mặn.
Theo khảo sát của các ngành chức năng, hiện nay diện tích có thể trồng rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh ta là 136 ha. Tuy nhiên, việc phục hồi các diện tích rừng ngập mặn lại vấp phải không ít khó khăn do đất ngập mặn trước đây đã bị biến đổi khiến cây giống mới khó thích nghi.
Cùng với đó là tác động của con người như phá rừng ngập mặn, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, xây dựng các công trình dân sinh...; trong khi mô hình trồng và quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng còn ít; thiếu quy trình, biện pháp, nguồn giống và đặc biệt là chưa tạo được động lực cho người dân đầu tư...
Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh có triển khai một số dự án trồng và khôi phục lại rừng ngập mặn, tuy nhiên, tỷ lệ cây ngập mặn sống và phát triển đạt khá thấp, chỉ từ 50-60%, có nơi từ 10-20%. Ở một số khu vực trồng cây ngập mặn, người dân vẫn tiến hành nhiều hoạt động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Để bảo vệ, khôi phục diện tích rừng đã mất và phát triển thêm những cánh rừng phòng hộ, về lâu dài rất cần sự vào cuộc của giới chuyên môn để nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật về chọn loại cây trồng phù hợp về mật độ, thời vụ, kỹ thuật trồng, phòng chống sâu bệnh...
Tuy nhiên, theo như ông Nguyễn Văn Long, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp chia sẻ thì khó khăn lớn nhất mà cơ quan chức năng hiện đang gặp phải chính là suất đầu tư để khôi phục diện tích rừng ngập mặn quá thấp với định mức 15 triệu đồng/1ha.
Thiết nghĩ, việc “cứu” rừng ngập mặn trước hết phải đi từ sự quan tâm chỉ đạo và tập trung nguồn lực từ chính quyền các cấp, cùng với đó là một cơ chế quản lý chặt chẽ và hiệu quả. Đã đến lúc cần sự tập trung, thống nhất đầu mối các cơ quan quản lý nhà nước đối với rừng ngập mặn để có sự kết hợp hài hòa giữa chính sách lâm nghiệp với chính sách của các ngành nông nghiệp, thủy sản.
Giải pháp bền vững là phải tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích thiết thực của rừng chắn sóng; vận động và hỗ trợ người dân tích cực tham gia bảo vệ, khôi phục diện tích rừng; tạo sinh kế cho người dân trên những cánh rừng ngập mặn. Có như thế họ mới gắn bó, giữ gìn rừng ngập mặn một cách hiệu quả. (Báo Quảng Bình 11/8) đầu trang(
Mới đây, Trạm Kiểm lâm phường Nhà Mát (TP. Bạc Liêu) đã phát hiện một đối tượng có hành vi phá rừng.
Đó là Lâm Văn Phúc (ấp 12, xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình) nhổ cây đước tái sinh trong rừng phòng hộ. Diện tích cây đước bị thiệt hại là 260m2.
Trong vòng chưa đầy một năm, tên Phúc đã thực hiện hành vi phá rừng đến 2 lần. Trạm Kiểm lâm phường Nhà Mát đã lập biên bản, phạt hành chính 3 triệu đồng. (Báo Bạc Liêu 11/8) đầu trang(
Khoảng 13 giờ ngày 11/8, người dân phát hiện ngọn lửa phát ra từ khu vực rừng trồng trên đồi Trẹo Vọng, sau đó lan sang đồi Đá Chẽ, thuộc thôn Trà Sơn, xã Phú Lộc (Can Lộc), giáp với địa bàn xã Tân Hương (Đức Thọ).
Lực lượng kiểm lâm huyện Can Lộc cùng cán bộ địa phương đã có mặt huy động chủ rừng và gần 100 người dân tập trung dập lửa. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao, gió Lào thổi mạnh nên phải nhiều giờ sau, ngọn lửa mới được khống chế.
Ước tính đã có hơn 10 ha rừng trồng keo lá tràm từ 1 đến 3 tuổi bị lửa thiêu rụi.
Trước đó vào ngày 8/8, tại xã Đức An (Đức Thọ), lửa đã thiêu rụi 2,5 ha rừng thông đang ở thời kỳ khai thác; vào chiều 10/8, nhiều hecta rừng thông thuộc địa phận xóm Đại Đồng, xã Mỹ Lộc, huyện Can Lộc cũng bị thiệt hại do cháy rừng. (Báo Hà Tĩnh 12/8) đầu trang(
Chiều 11/8, ông Phùng Quang Hùng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị họp Ban chỉ đạo diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn huyện Lập Thạch và diễn tập khu vực phòng thủ huyện Sông Lô, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên đoàn lao động tỉnh năm 2014.
Diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn huyện Lập Thạch dự kiến sẽ diễn ra vào cuối tháng 9/2014 tại rừng phòng hộ thôn Nghệ Oản, xã Ngọc Mỹ với 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 - tổ chức ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn; giai đoạn 2 – thực hành chữa cháy rừng.
Kết luận nội dung này, ông Phùng Quang Hùng yêu cầu huyện Lập Thạch rút ngắn thời gian họp bàn chuẩn bị phương án; việc nắm bắt tình hình, báo cáo, chỉ đạo trực tiếp chủ yếu bằng các phương tiện liên lạc; phát huy tốt phương châm bốn tại chỗ, huy động tối đa số người tham gia chữa cháy, nhất là chủ rừng và nhân dân; dự trù, chuẩn bị các lực lượng, đơn vị sẽ phối hợp tham gia chữa cháy và tìm kiếm cứu nạn. Đồng thời, chỉnh sửa kịch bản phù hợp, sát với tình hình thực tế, đảm bảo yếu tố chủ động, sẵn sàng khi có sự cố xảy ra.
Diễn tập khu vực phòng thủ huyện Sông Lô, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên đoàn lao động tỉnh năm 2014 gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 – chuyển lực lượng vũ trang vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuyển địa phương vào các trạng thái quốc phòng; giai đoạn 2 – chuyển địa phương, đơn vị từ trình trạng khẩn cấp về quốc phòng sang thời chiến và thực hành di chuyển một phần cơ quan vào căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương; giai đoạn 3 – thực hành và tham quan thực binh bắn chiến đấu phòng thủ. Dự kiến diễn tập sẽ diễn ra vào trung tuần tháng 10.
Chủ tịch UBND tỉnh Phùng Quang Hùng yêu cầu ba đơn vị xây dựng phương án diễn tập đảm bảo an toàn, tiết kiệm; cắt giảm bớt những hạng mục rườm rà, không cần thiết và không sát với tình hình thực tế; rút ngắn thời gian, nội dung các cuộc họp.
Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý, huyện Sông Lô cần bổ sung nội dung tình huống mất trật tự trị an do khai thác cát trái phép trên dòng sông Lô hoặc từ lễ hội chọi trâu Hải Lựu trong phần thực binh, xử trí tình huống A2; xây dựng phương án những phần tử quá khích lợi dụng, theo các tuyến đường giao thông từ các tỉnh lân cận tràn sang.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung phương án dự trù các giống cây trồng, vật nuôi và tăng cường cán bộ Sở truyền đạt kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi cho các địa phương khi chuyển sang thời chiến. Liên đoàn lao động tỉnh xây dựng phương án phân công, vận động công nhân trực chiến bảo vệ nhà máy, bảo vệ công xưởng; phương án chống biểu tình, đập phá các nhà máy trong và ngoài khu công nghiệp.
Các ngành, các cấp chủ động phối hợp, hiệp đồng, chuẩn bị tốt cho các cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn và diễn tập khu vực phòng thủ sẽ diễn ra trong thời gian tới. (Vinhphuc.gov.vn 11/8) đầu trang(
Thành phố Hà Nội có hơn 10.140ha đất rừng và đất lâm nghiệp của 6 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức và Sóc Sơn giáp ranh với các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình, Thái Nguyên và Vĩnh Phúc.
Trong thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội và chi cục kiểm lâm 4 tỉnh đã có nhiều chương trình phối hợp trong việc quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Các hạt kiểm lâm quản lý địa bàn giáp ranh đã thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình cháy rừng, chặt phá rừng và buôn bán vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái phép để có phương án phối hợp xử lý.
Trong mùa khô 2013-2014, chi cục kiểm lâm các tỉnh, thành phố đã phối hợp chữa cháy kịp thờii hàng chục vụ cháy rừng, tiêu biểu như: Hạt kiểm lâm Sóc Sơn và xã Minh Trí (Sóc Sơn) đã huy động lực lượng chữa cháy tại chỗ hổ trợ chữa cháy rừng cho xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc); Hạt kiểm lâm Lưong Sơn (Hòa Bình) và Hạt kiểm lâm Chương Mỹ dập tắt một vụ cháy rừng trên địa bàn xã Hòa Thạch (Quốc Oai) và xã Hoa Sơn (Lương Sơn, Hòa Bình)...(Hà Nội Mới 11/8, tr3) đầu trang(
Việt Nam đã mang tiếng là quốc gia sử dụng sừng tê giác nhiều nhất thế giói”, ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc cơ quan Quản lý Cites Việt Nam đã thốt lên ngao ngán như thế khi mở đầu bài phát biểu tại hội thảo “Giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác tại Việt Nam”, do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức.
Theo GS-NGND Nguyễn Lân Dũng, chuyện người Việt mua và sử dụng sừng tê giác nhiều đến nỗi mang tiếng khắp thế giới thật sự rất đáng xấu hổ. “Có thông tin cho rằng, sừng tê giác đắt tiền như thế nên người ta mua để hối lộ cho quan chức”, GS. Dũng đề cập và cho rằng những thông tin dạng như thế này có thể gây tổn hại đến danh dự quốc gia.
Song GS. Dũng cũng “đính chính” rằng, Việt Nam có thể là quốc gia mua sừng tê giác nhiều nhất thế giới nhưng sử dụng sừng tê giác thì không bằng Trung Quốc. “Có nhiều người Việt mua sừng tê giác để bán sang Trung Quốc. Đây là thị trường tiêu thụ sừng tê giác rất mạnh”, GS. Dũng giải thích.
Ông nói, trước đây người Việt chẳng biết gì về sừng tê giác. Song do giới Đông y Trung Quốc đồn thổi rằng sừng tê giác có thể chữa được bệnh ung thư nên người Việt cũng tin theo. “Thật ra sừng tê giác chẳng có tác dụng gì cả nhưng lại rất đắt tiền. Việc sử dụng sừng tê giác là vứt tiền qua cửa sổ”, GS. Nguyễn Lân Dũng lập luận.
Ông dẫn chứng: “Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về sừng tê giác nhưmg chẳng ai tìm ra được tác dụng chữa hay phòng ngừa ung thư của nó. Trong khi đó, đã có rất nhiều trường họp sử dụng sừng tê giác để chữa ung thư nhưng vẫn tử vong nhanh chóng”, về thông tin cho rằng sừng tê giác có thể giải rượu, cường dương..
Bà Teresa Telecky - Giám đốc Bộ phận loài hoang dã, thuộc tổ chức Humane Society International cảnh báo: “Để bảo vệ tê giác, người ta đã tiêm thuốc độc vào sừng của chúng. Do đó, có thể đã có trường họp người Việt Nam mua phải sừng tê giác tiêm thuốc độc”. Theo bà Teresa, thuốc độc tiêm vào sừng tê giác không gây độc cho loài thú này nhưng lại gây độc hại cho người sử dụng.
GS, Nguyễn Lân Dũng cũng nhấn mạnh, việc sử dụng sừng tê giác đã bị tiêm thuốc độc là rất nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc sử dụng sừng tê giác lấy cắp tại các bảo tàng cũng có nguy cơ nhiễm độc do chúng đã được sử dụng nhiều hóa chất để bảo quản. (Người Đưa Tin 12/8, tr10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công an, vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam 4 tháng đối với trưởng trạm kiểm lâm Lê Đức Hải.
Lê Đức Hải (35 tuổi) nguyên Trạm tưởng Trạm kiểm lâm của Đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hoá bị khởi tố vì hành vi “nhận hối lộ” theo Điều 279 BLHS.
Các quyết định và lệnh trên đều đã được viện KSND tối cao phê chuẩn. Trước đó, ngày 1-8, lực lượng công an thuộc Cục cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng đã bắt quả tang ông Hải nhận hối lộ số tiền 100 triệu đồng.
Được biết, vào sáng 1-8, tổ công tác của đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 Thanh Hóa do ông Hải làm tổ trưởng tuần tra, kiểm soát trên quốc lộ 1 và phát hiện ôtô 37C-060.12 đang chở 22m3 gỗ cẩm lai theo hướng từ Nam ra Bắc.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện ngoài số gỗ cẩm lai theo hồ sơ, trên ôtô này còn có gỗ xẻ giáng hương (nhóm I) không có thủ tục vận chuyển theo quy định của pháp luật nên yêu cầu tài xế đưa xe và hàng về trụ sở đội tại số 305 Bà Triệu, P.Hàm Rồng, TP Thanh Hóa để xử lý.
Đến buổi chiều cùng ngày, chủ hàng đến làm việc và ông Hải đã đòi chủ hàng phải chi 100 triệu đồng cho tổ công tác để cho qua lỗi vi phạm.
Đến khoảng 18g cùng ngày, khi ông Hải đang nhận số tiền 100 triệu đồng thì lực lượng công an ập vào bắt quả tang. Ông Hải khi đó đã bỏ chạy lên tầng 2 trụ sở, vừa chạy vừa vứt số tiền nhận hối lộ để thủ tiêu chứng cứ. Tuy nhiên, cơ quan công an đã thu giữ toàn bộ số tiền trên. (Tuổi Trẻ 13/8) đầu trang(
Mặc dù Gia Lai là địa phương có số vụ vi phạm luật Bảo vệ và Phát triển rừng khá cao, năm sau tăng hơn so với năm trước, thế nhưng công tác trồng rừng phòng hộ lại chưa được địa phương này quan tâm với lý do thiếu kinh phí.
6 tháng đầu năm 2014, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra hơn 600 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mặc dù tỉnh Gia Lai không còn chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên, nhưng hiện nay trên địa bàn vẫn còn rất nhiều cơ sở chế biến gỗ được cấp phép hoạt động.
Trong đợt kiểm tra giám sát mới đây của Ban chỉ đạo Tây Nguyên cho thấy, Gia Lai là tỉnh có nhiều cơ sở chế biến gỗ nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên với gần 300 cơ sở chế biến lấy gỗ từ rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên.
Trong khi đó, diện tích rừng trồng của tỉnh Gia Lai lại thấp nhất trong khu vực. Đáng nói, hơn 1 năm nay, tỉnh Gia Lai không thực hiện trồng rừng phòng hộ, với lý do là thiếu kinh phí. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương có diện tích rừng đứng thứ hai cả nước. (VTV 12/8) đầu trang(
Rạng sáng 12-8, hỏa hoạn đã thiêu trụi tầng 2 xưởng gỗ của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Phương Thịnh đóng trên địa bàn quận Cẩm Lệ.
Vào lúc 5 giờ sáng, người dân phát hiện xưởng gỗ của công ty nằm ở giao lộ Đặng Đức Siêu – Đoàn Nguyễn Tuấn (phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ) phát ra tiếng nổ, trên tầng 2 của xưởng khói phủ mù mịt nên điện báo lực lượng PCCC.
Phòng Cảnh sát PCCC số 5 điều động 5 xe cùng 15 cán bộ chiến sĩ đến hiện trường và sau đó tăng cường thêm 2 xe chữa cháy của Phòng Cảnh sát PCCC số 1 đến ứng cứu dập lửa, đồng thời khống chế được ngọn lửa không để cho cháy lan sang nhà lân cận.
Đám cháy đã thiêu rụi toàn bộ số gỗ trong xưởng và nhiều máy móc gia công cùng nhà xưởng. (Sài Gòn Giải Phóng 12/8; Công An Nhân Dân 12/8) đầu trang(
Rạng sáng 12-8, một vụ hỏa hoạn xảy ra tại đường Ama Khê (TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) đã thiêu rụi hoàn toàn 2 xưởng gỗ.
Theo một số người dân cho biết, ngọn lửa xuất phát từ giữa xưởng gỗ của gia đình ông Hoàng Đức Hòa (43 tuổi, ở số 147/1/21 đường Ama Khê), sau đó nhanh chóng lan rộng rồi bắt sang nhà ông Trương Quang Hiện (42 tuổi, cũng mở tiệm đóng đồ mỹ nghệ) nằm ngay phía sau xưởng gỗ.
Do toàn bộ vật dụng trong xưởng đều là những vật dụng dễ bắt lửa, nên chỉ sau ít phút, đám cháy đã lan rộng và bùng phát dữ dội.
Sau khi nhận được tin báo, lực lượng Cảnh sát PCCC Công an tỉnh Đắk Lắk đã điều động 6 xe cứu hỏa cùng 40 cán bộ, chiến sỹ đến hiện trường, trong khi ngọn lửa đã cháy lan sang một số nhà dân cận kề.
Đến 6 giờ sáng cùng ngày, đám cháy mới được khống chế, hầu hết tài sản trong các xưởng gỗ đã bị thiêu rụi với thiệt hại ước tính hơn 700 triệu đồng. Hiện nguyên nhân vụ việc đang được cơ quan chức năng tiến hành điều tra làm rõ. (Sài Gòn Giải Phóng 12/8) đầu trang(
Cùng một lúc, có 2 cơ sở chế biến lâm sản hoạt động trên địa bàn đã làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của hàng chục hộ dân thuộc xóm Thuận Đức 4 (thị trấn Bắc Sơn, huyện Phổ Yên).
Theo nhiều người dân, 2 cơ sở băm gỗ là cơ sở Tuấn Tùng và Tuấn Hoàn, chính thức hoạt động tại địa bàn xóm Thuận Đức 4 từ tháng 6/2013. Khi hoạt động, nó gây tiếng ồn quá lớn suốt ngày đêm làm ảnh hưởng đến đời sống, bà con đã nhiều lần có ý kiến.
Ông Nguyễn Thanh Sơn (một người dân) bức xúc: Cùng là hàng xóm với nhau nhưng vì chủ cơ sở quá coi thường ý kiến của dân, vẫn SX vào ban đêm, nên ông đến tận nơi yêu cầu dừng hoạt động. Chẳng những không nghe, chủ cơ sở còn dọa ném ông vào máy băm gỗ. Ông Sơn đã phải kêu chính quyền thị trấn đến can thiệp. Biên bản được lập và yêu cầu 2 cơ sở không được tổ chức SX vào ban đêm.
Ông Phạm Văn Phòng, người dân sống ở khu vực đó cho biết, kể từ khi 2 cơ sở không tổ chức SX về đêm, thì việc bóc vỏ thân cây và các phế phụ phẩm lại không được xử lý mà chất thành đống. Qua thời gian, những phế phẩm đó bị phân hủy gây mùi hôi nồng nặc.
Cứ mỗi trận mưa thì nguồn nước thải từ những đống phế phẩm trôi ra, làm xú uế toàn bộ khu vực. Nguồn nước đen ngòm từ đống thối rữa tràn ra lênh láng đã làm đảo lộn đời sống, sinh hoạt của bà con.
Đưa PV đến thửa ruộng của gia đình, ông Nguyễn Thanh Sơn chỉ tay nói: "Các anh xem, ruộng nhà tôi cách đống chất thải kia một đoạn xa mà nước thải còn đen đặc thế này thì hỏi những ruộng gần đó canh tác thế nào được? Nếu không có biện pháp ngăn chặn thì dòng nước ô nhiễm sẽ tràn xuống cả cánh đồng Gốc Nhội".
Ông Sơn khẳng định, năng suất của các loại hoa màu trong xóm ở gần với 2 cơ sở bị tụt giảm nhiều trong vụ vừa qua. Đặc biệt, theo phản ánh của các hộ dân, dòng nước ô nhiễm tràn ra còn ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước ngầm.
Một số hộ gia đình đã không thể dùng nước giếng khoan, giếng khơi được nữa. Điển hình là hộ ông Phạm Mậu Nghĩa, hộ bà Trần Thị Đào…Nguồn nước giếng của các hộ gia đình bị ô nhiễm khi bơm lên đều có mùi thối khẳm, rất khó chịu. Các hộ trên đã phải xin nước sinh hoạt từ hàng xóm.
Toàn bộ nội dung nói trên đã được ông Nguyễn Văn Sinh (trưởng xóm Thuận Đức 4) kiểm tra, thẩm định thực tế và xác nhận là đúng sự thật. Điều đáng nói là các hộ dân tỏ ra rất bức xúc, bởi rất nhiều lần làm đơn kiến nghị nhưng vẫn không được các cấp có thẩm quyền giải quyết.
Khi trao đổi với PV, ông Nguyễn Duy Phụng (Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND thị trấn Bắc Sơn) cho biết, trước đây UBND thị trấn yêu cầu 2 cơ sở không được sản xuất ban đêm. Còn về tình trạng ô nhiễm thì UBND thị trấn mới nhận được đơn thư. Hiện đang giao cán bộ kiểm tra và xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/8, tr20) đầu trang(
12-8, Ðoàn cán bộ liên ngành của tỉnh, gồm đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, Công an, Biên phòng, Hải quan và Sở Giao thông vận tải tỉnh đã khảo sát thực địa tại khu vực cửa khẩu quốc tế La Lay, xã A Ngo và A Bung, huyện Ða Krông để xử lý xe chở gỗ quá khổ, quá tải, bị mắc kẹt tại cửa khẩu quốc tế La Lay trong nhiều ngày qua.
Theo đó, đoàn thống nhất chọn một bãi đất ở khu vực cửa khẩu phía nước bạn Lào để san ủi tạo mặt bằng, đổ đá dăm cho các xe chở gỗ quá khổ, quá tải hạ tải. Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Trị mở một đoạn đường phụ bên cạnh tuyến quốc lộ 15 D đủ điều kiện để lập trạm cân lưu động đưa xe vào cân nhằm kiểm tra, xử lý nghiêm các xe chở quá khổ, quá tải trọng theo đúng quy định.
Ðược biết, hiện nay tại cửa khẩu quốc tế La Lay còn lại 73 xe chở gỗ quá khổ, quá tải mắc kẹt tại đây buộc phải hạ tải; hơn 30 chiếc đã thông quan, trong đó có 12 xe chở gỗ quá khổ, quá tải chạy về hướng nam theo đường Hồ Chí Minh và rẽ xuống quốc lộ 49 để về TP Huế bị các lực lượng chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế và Chi cục Quản lý đường bộ 6 (thuộc Cục Quản lý đường bộ 2) phát hiện và bắt giữ. (Nhân Dân 13/8, tr2; Lao Động 13/8, tr7) đầu trang(
Theo Quyết định số 2163/QĐ của UBND tỉnh vừa được ban hành, danh mục dự án thuộc ngành nghề ưu tiên thu hút đầu tư, thu hút đầu tư có điều kiện và tạm dừng thu hút đầu tư trong tỉnh, các dự án chế biến gỗ, dăm ván gỗ công nghiệp vị trí lập dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch của tỉnh đã ban hành.
Đối với các dự án ngành nghề này khi đầu tư tại TP.Biên Hòa, phải hạn chế số lượng lao động dưới 1 ngàn lao động/dự án. Các dự án chỉ được đầu tư tại các khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp đã quy hoạch ngành nghề phù hợp.
Những dự án có số lượng lao động đông trên 1 ngàn công nhân đầu tư tại các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom thì chủ đầu tư phải phối hợp với công ty kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp để xây dựng nhà ở cho công nhân.
Các huyện còn lại không hạn chế số lao động và không yêu cầu bắt buộc phải có sản xuất nguyên phụ liệu khi thu hút các dự án chế biến gỗ. (Báo Đồng Nai 12/8) đầu trang(
Rừng tràm U Minh Hạ vốn có tiềm năng kinh tế dồi dào, ngành chức năng và những nông dân nơi đây đã biết phát huy thế mạnh về tiềm năng kinh tế, đồng thời còn góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên được thiên nhiên ưu đãi này.
Huyện U Minh có hơn 30.000ha rừng, đây là loại hình sinh thái rừng đặc thù, bảo tồn tính đa dạng sinh học. Ngoài những giá trị về các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dưới tán rừng, rừng tràm U Minh còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Vì vậy, việc quản lý, bảo vệ không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của người dân. Hiện nay, rừng tràm U Minh Hạ đang trong cao điểm của mùa khai thác và trồng mới.
Thời điểm này, đến đâu ở xứ U Minh chúng ta cũng nhận thấy sinh khí nhộn nhịp, vui tươi của một mùa khai thác mới, hứa hẹn một mùa thu hoạch đạt cao cả về năng suất cũng như sản lượng gỗ. (Báo Ảnh Đất Mũi 11/8) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lào Cai vừa có báo cáo số 264/BC-SNN về kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp tỉnh tuần từ 2/8 đến 7/8.
Công tác phát triển rừng, lũy kế đạt 20.620 nghìn cây giống và 10,8 tấn hạt giống. Đảm bảo đủ giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2014.
Diện tích trồng rừng 1.931,36 ha (trong tuần 124,66 ha), đạt 29,2% kế hoạch, bằng 50,2% so với cùng kỳ. Rừng sản xuất 1.720,7 ha (trong tuần 124,7 ha), đạt 30,2% kế hoạch.
Trồng rừng thay thế nương rẫy 10,66 ha, đạt 100% kế hoạch. Hiện nay các huyện đang tranh thủ thời tiết đẩy nhanh tiến độ trồng rừng để đảm bảo hoàn thành kế hoạch và khung thời vụ. (Đảng Cộng Sản VN 10/8) đầu trang(
Hưởng ứng “Năm thanh niên tình nguyện 2014”, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn đã thành lập 4 đội hình thanh niên tình nguyện gồm 200 cán bộ, đoàn viên, thanh niên của các đơn vị, trường đại học trên địa bàn tỉnh tham gia hoạt động tình nguyện các xã: Trung Lý, Nhi Sơn, Pù Nhi và Tam Chung.
Phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, đông đảo đoàn viên thanh niên và bà con nhân dân đã tham gia trồng mới được 54 ha rừng; cải tạo vườn tạp, xây dựng hơn 2 km hàng rào ngăn cách giữa các hộ dân, dọc đường giao thông; phát quang và tu sửa hơn 5 km đường giao thông liên thôn, bản; làm mới 8 nhà tiêu hợp vệ sinh; đào 25 hố rác công cộng; tu sửa và làm mới 2 sân bóng đá, 3 sân bóng chuyền; sửa chữa và thay mới đường dây điện, bóng điện cho 20 hộ gia đình...
Đồng thời, tuyên truyền cho bà con về trách nhiệm trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; bảo vệ rừng; xóa bỏ tập tục du canh, du cư, đốt rừng làm nương rẫy; tổ chức thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách; gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; giao lưu văn hóa - văn nghệ. (Báo Thanh Hóa 11/8) đầu trang(
12/8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012-2014.
Tham dự hội nghị có ông Đinh Văn Khiết – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Trang Quang Thành – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng đại diện lãnh đạo các Sở, ngành, đơn vị có liên quan trong tỉnh.
Chính sách chi trả DVMTR ban hành kèm theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 của Chính phủ nhằm huy động các nguồn lực của xã hội, đặc biệt từ các tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ môi trường rừng để tạo nguồn tài chính đảm bảo ổn định, lâu dài, phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần xã hội hóa nghề rừng, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho những người trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Trong 3 năm qua, việc thực hiện chính sách đã góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững, tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thuỷ điện cũng như sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trên địa bàn tỉnh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển KT-XH của từng địa phương.
Đến nay, Đắk Lắk đã hoàn thành công tác ký kết hợp đồng ủy thác với 21/22 đơn vị có sử dụng DVMTR, thu được gần 93 tỷ đồng DVMTR, giải ngân DVMTR gần 62 tỷ đồng, trong đó chi trả trên 49 tỷ đồng cho các chủ rừng nhận khoán bảo vệ rừng.Việc giao khoán bảo vệ rừng được ưu tiên cho các hộ đồng bào dân tộc tại chỗ, các hộ có vườn liền kề, sinh sống gần rừng nhằm thuận lợi cho việc tuần tra quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương.
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận và thống nhất cần thực hiện nghiêm túc việc rà soát thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh; tăng kinh phí chi trả DVMTR bởi mức chi trả DVMTR cho chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng bình quân toàn tỉnh hiện nay còn thấp so với các tỉnh trong khu vực (bình quân chỉ 150.000 đồng/ha/năm); đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả DVMTR sâu rộng trong nhân dân…
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Đinh Văn Khiết – Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.
Để chính sách chi trả DVMTR tiếp tục phát huy được hiệu quả, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị trong thời gian tới cần kiện toàn bộ máy hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác chi trả DVMTR; tiến hành xem xét, đề xuất ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh; nhanh chóng hoàn tất việc ký hợp đồng ủy thác với các đơn vị sử dụng DVMTR; tiếp tục chi trả và giám sát việc chi trả DVMTR đảm bảo sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích và hiệu quả; tăng cường tuyên truyền sâu rộng để nhân dân hiểu và thực hiện đúng chính sách, góp phần đem lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ và phát triển rừng…(Daklak.gov.vn 12/8) đầu trang(
Với phương châm lấy rừng nuôi rừng, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được triển khai trên địa bàn huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) đã tạo ra những hiệu ứng tích cực góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Nếu Mù Cang Chải là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước thì xã Chế Tạo là xã đặc biệt khó khăn của huyện. Toàn xã có 326 hộ với 2.282 nhân khẩu. Chế Tạo được thiên nhiên ưu đãi cho tài nguyên rừng phong phú với 17.341ha rừng, chiếm 73,3% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 3.057ha, trên 14.284ha nằm trong Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải.
Cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông- lâm nghiệp. Từ khi chính sách chi trả DVMTR được thực hiện đã làm thay đổi một phần cuộc sống của người dân, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo. Nhiều hộ dân đã có tiền mua lương thực dự trữ lúc giáp hạt, mua sắm được những vật dụng, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình.
Ông Sùng A Tủa - Chủ tịch UBND xã Chế Tạo phấn khởi cho biết: "Tổng số tiền xã nhận được từ dịch vụ môi trường rừng là 7 tỷ đồng, trung bình mỗi người được nhận trên 3 triệu đồng/năm. Số tiền được chi tận tay các hộ dân. Bà con trong xã rất phấn khởi vì việc giữ rừng đã được hưởng lợi. Giờ đây, hầu hết các hộ gia đình tích cực tham gia bảo vệ tài nguyên, tuần tra canh gác nên rừng được bảo vệ tốt, 3 năm nay, trên địa bàn không xảy ra cháy rừng”.
Gia đình anh Sùng Pua Sào thôn Chế Tạo được nhận trên 30 triệu đồng phí dịch vụ môi trường rừng, đây là số tiền trước đây có nằm mơ anh cũng không có được. Sùng Pua Sào cho biết: “Bà con trong thôn phấn khởi lắm, bảo nhau giữ rừng là có nguồn nước cung cấp cho nhà máy thủy điện sẽ có tiền trang trải cuộc sống”.
Huyện Mù Cang Chải có hơn 69.464ha rừng nằm trong khu vực thượng lưu sông Hồng và sông Đà. Đây là tiềm năng về nguồn thu DVMTR từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn. Trong 2 năm triển khai, các chủ rừng nhận được trên 40 tỷ đồng tiền dịch vụ cung ứng bảo vệ rừng.
Cụ thể, theo số liệu của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng thì từ nguồn DVMTR, thu nhập của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng hàng năm tăng lên đáng kể. Năm 2012, có 8.170 hộ gia đình được thụ hưởng chính sách với tổng số tiền trên 18 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu hộ đạt trên 2 triệu đồng/năm. Năm 2013 có 9.543 lượt hộ gia đình được thụ hưởng với tổng số tiền trên 23.494 triệu đồng.
Ông Lê Văn Hùng - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mù Cang Chải cho biết: “Qua 3 năm triển khai thực hiện Chính sách DVMTR đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của chính quyền các xã và người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. Người dân đã nhiệt tình hơn trong công tác trồng, chăm sóc rừng, tình trạng xâm lấn, chặt phá rừng từng bước được hạn chế”.
Ông Lê Trọng Khang - Phó Chủ tịch UBND huyện Mù Cang Chải cho biết: “Nhờ triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tích cực, đến nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Mù Cang Chải đã dần đi vào cuộc sống, đem lại hiệu quả đáng khích lệ cả về vấn đề môi trường, kinh tế và góp phần xóa đói giảm nghèo; hiệu quả, thiết thực nhất là từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, huy động được nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng”.
Sau 3 năm triển khai, chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Mù Cang Chải đã tạo hiệu ứng tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao đời sống cho người dân, góp phần xã hội hóa nghề rừng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Đơn giá chi trả trên phạm vi một huyện nhưng không đồng đều do sự chênh lệch giữa các lưu vực lớn.
Cụ thể, huyện Mù Cang Chải đơn giá chi trả theo đầu nguồn sông Hồng là 20.100 đồng/ha; đầu nguồn sông Đà là 473.200 đồng/ha dẫn đến nhiều thắc mắc, kiến nghị của người dân. Việc giải ngân tiền chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn chậm, chưa kịp thời động viên được người trồng, bảo vệ rừng, nguyên nhân chủ yếu do các đơn vị sử dụng tài nguyên nợ đọng, chậm thực hiện việc chuyển tiền về quỹ.
Cùng với đó, vì nhiều lý do khác nhau nên việc chi trả tiền DVMTR ở nhiều xã đang thực hiện chia bình quân theo nhân khẩu, cụm thôn bản chưa tạo ra sự công bằng dẫn đến chưa khuyến khích được những người có ý thức, trách nhiệm cao trong công tác này, chưa gắn được lợi ích và trách nhiệm của từng chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng.
Ngoài ra, đối với toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, rừng được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ và Ban Quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh quản lý. Tuy nhiên, chưa có cơ chế tài chính phù hợp cho loại hình ban quản lý hoạt động kiêm nhiệm nên việc thẩm định, phê duyệt dự toán kinh phí hoạt động nghiệp vụ còn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, do nhu cầu sinh hoạt như làm nhà ở, củi đun, người dân vẫn còn tập quán sản xuất nương rẫy dẫn đến sức ép về rừng còn lớn, còn xảy ra tình trạng cháy rừng, chặt cây tươi làm củi ảnh hưởng đến chất lượng rừng.
Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả DVMTR, các bộ, ngành Trung ương cần sớm xây dựng chế tài và cách thức xử phạt nghiêm khắc đối với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng chưa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình; kiện toàn bộ máy của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng sang hoạt động chuyên trách, tránh mô hình hoạt động theo chế độ cán bộ kiêm nhiệm như hiện nay, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chuyên môn của Quỹ; đồng thời cần tăng cường tính minh bạch trong việc thu và chi giúp tăng cường tính trách nhiệm giải trình của quỹ đối với các bên liên quan, đặc biệt là giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ môi trường rừng.
Công tác rà soát diện tích, lập danh sách, tiến hành giao khoán ngoài thực địa cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng thôn bản phải công khai, minh bạch; số tiền chi trả phải rõ ràng, được niêm yết tại trụ sở UBND xã cho nhân dân biết; tham gia kiểm tra, giám sát, không để xảy ra sai sót, tiêu cực trong quá trình thực hiện.
Đặc biệt, cần tăng cường công tác tuyên truyền với nhiều hình thức nhằm nâng cao hơn nữa công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng để người dân hiểu rõ bảo vệ rừng tốt đồng nghĩa với việc có dịch vụ cung ứng tốt thì có thêm nguồn thu.
Có như vậy, việc triển khai thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng mới đạt hiệu quả, khuyến khích người dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, để người dân có cuộc sống ổn định từ nghề rừng. (Báo Yên Bái 12/8) đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh có Văn bản số: 1969/UBND-KTN về việc Thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh nước sạch sinh hoạt.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh có ý kiến như sau: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng:
Dự kiến số tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch có thể thu được từ các cơ sở sản xuất nước sạch, phương án phân bổ số tiền trên cho các đơn vị cung ứng dịch vụ môi trường rừng trình UBND tỉnh xem xét.
Tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh Quyết định số 242/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 Quy định thực hiện thu tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ cho phù hợp.
Ủy ban nhân dân tỉnh báo cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các đơn vị liên quan biết, thực hiện; hoàn thành báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 30/8. (Kontum.gov.vn 12/8) đầu trang(
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Trung tâm khuyến nông Khuyến ngư Hòa Bình tổ chức lớp tập huấn nhân rộng mô hình trồng rừng cây gỗ lớn thâm canh (cây giổi xanh) tại thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc.
Tham gia lớp tập huấn có 35 học viên là các hộ dân có khả năng trồng rừng cây gỗ lớn trên địa bàn hai xã Phú Cường và Quy Hậu, huyện Tân Lạc.
Trong thời gian tập huấn các học viên được hướng dẫn các nội dung về kỹ thuật trồng rừng thâm canh nói chung và kỹ thuật trồng thâm canh cây giổi xanh nói riêng. Theo đó, giảng viên đã cung cấp cho học viên kỹ thuật chọn giống, kỹ thuật gieo ươm, làm đất, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng giổi xanh.
Học viên được thực hành cơ bản ngay trên lớp học về giống, kỹ thuật chọn đất, đánh giá, lựa chọn đất phù hợp để trồng cây giổi xanh, xác định và lựa chọn một số tiêu chí để chọn phương thức trồng phù hợp như trồng thuần, trồng xen, trồng theo phương thức nông lâm kết hợp...
Tại lớp tập huấn, học viên được giải đáp những thắc mắc xoay quanh về nguồn cây giống và đầu ra của sản phẩm…Ngoài ra lớp tập huấn còn tổ chức cho học viên đi tham quan mô hình trồng cây giổi xanh tại huyện Tân Lạc, Hòa Bình.
Sau lớp tập huấn các học viên đã nắm vững kiến thức trồng thâm canh cây giổi xanh để vận dụng trong sản xuất nhằm đạt năng suất, chất lượng cao. (Khuyến Nông VN 11/8) đầu trang(
Dự án “Phục hồi và quản lý rừng bền vững” (Dự án KFW6) được sự tài trợ của Chính phủ CHLB Đức được thực hiện từ năm 2006 như một “điểm sáng” trong chiến dịch phục hồi rừng, ứng phó BĐKH của địa phương.
Năm 2006, Ban Điều hành và Ban Quản lý (BQL) dự án KFW6 Trung ương đã chọn các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Đức Phổ để thực hiện thí điểm mô hình quản lý rừng cộng đồng của dự án KFW6.
Tính đến nay, mô hình nhiều địa phương đã thực hiện tốt chương trình mà BQL đề ra, Theo đó, huyện Đức Phổ đã trồng gần 1.264 ha, Nghĩa Hành trồng trên 999 ha và Tư Nghĩa trồng được 935 ha. Đồng thời, các địa phương này còn giữ vững được những khu rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn.
Công tác quản lý rừng ngày càng được tăng cường, không còn xảy ra hiện tượng cháy rừng, phá rừng, khai thác gỗ trái phép. Việc phân chia, cấp quyền sử dụng đất, cũng như mở tài khoản cho mỗi người dân trồng rừng đều được BQL dự án kiểm tra theo dõi.
Mặt khác, người dân còn được Ban Thực thi các xã tuyên truyền và tổ chức các đợt tập huấn nhằm tăng khả năng hiểu biết cũng như nắm rõ hơn về cách thức thực hiện mô hình trồng rừng cộng đồng. Sau đó tiến hành cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho từng hộ gia đình.
Đến nay, huyện Nghĩa Hành cấp 729 GCNQSDĐ, Tư Nghĩa 800 giấy và Đức Phổ 897 giấy cho các hộ dân. Từ đó người dân được nhận cây giống từ BQL để tiến hành trồng và bảo vệ rừng. Hiện tại, các khu rừng ở các huyện này đều phát triển rất tốt. Có địa phương như Hành Tín Đông (Nghĩa Hành) đã và đang thực hiện rất tốt về việc trồng rừng theo mô hình cộng đồng. Đây là xã được xem là điển hình nhất của dự án KFW6 trong tỉnh.
Ông Đào Thanh Công - Chủ tịch UBND xã Hành Tín Đông cho biết: “Tất cả các cánh rừng trong xã đều phát triển rất tốt, đặc biệt là hai thôn Khánh Giang và Trường Lệ. Hai thôn này từ chăm sóc đến việc bảo vệ, bà con đều được tập huấn và hướng dẫn cụ thể. Những hộ dân được cấp GCNQSDĐ và trồng rừng có ý thức cao trong việc bảo vệ cũng như chống lâm tặc, phòng chống cháy rừng. Từ đó đến nay đã không còn hiện tượng phá rừng, đốt rừng nữa”.
Hiện nay, nhiều cánh rừng của các hộ dân tại các địa phương đang trong giai đoạn phát triển, hứa hẹn sẽ cho thu nhập cao trong thời gian tới. Bên cạnh đó, theo mô hình này, mỗi diện tích rừng của các hộ dân sẽ được phân chia ranh giới. Họ còn được phép trồng các loại cây trồng khác để tăng thêm thu nhập, nhưng vẫn đảm bảo được diện tích rừng theo quy hoạch của BQL dự án đề ra.
Trong những năm gần đây, khi trồng rừng theo Dự án KFW6, kinh tế nhiều hộ dân ở xã Nghĩa Sơn (Tư Nghĩa) có nhiều khởi sắc và ý thức bảo vệ rừng của đồng bào ở đây được nâng cao một cách đáng kể.
Ông Phạm Văn Đại - Phó Chủ tịch UBND xã Nghĩa Sơn cho biết: “Toàn xã có hơn 200 hộ dân trồng rừng theo dự án, mỗi năm các hộ dân còn biết trồng xen vào các loại cây như bắp, đậu, mì... ở các sườn núi để tăng thêm thu nhập. Ngoài ra bà con còn tự giác bảo vệ rừng. Nếu thấy rừng mình bị xâm hại, bị phá là họ báo với chính quyền địa phương để cùng kịp thời giải quyết. Vì thế nên toàn bộ cánh rừng ở xã này xanh tốt, giữ được nguồn nước trong nhiều mùa khô”.
Đối với huyện Nghĩa Hành, hơn 1.000 ha rừng cộng đồng của hai thôn Khánh Giang và Trường Lệ đã đảm bảo được nguồn nước tưới cho hơn 400 ha ruộng lúa, hoa màu của người dân trong các đợt nắng nóng kéo dài. Bà con ở các địa phương này càng thấy rõ hơn về lợi ích của việc trồng rừng không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cho gia đình, mà còn góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp...
Hiện phương thức quản lý rừng cộng đồng đang được chính quyền địa phương ở các huyện quan tâm. Nhất là việc giao đất rừng đến từng hộ gia đình và cấp GCNQSDĐ cho họ. Việc thành lập các nhóm hộ sử dụng rừng cùng tham gia vào quản lý và bảo vệ rừng được xem là chìa khóa cho sự phát triển rừng bền vững. (Tài Nguyên & Môi Trường 12/8, tr8) đầu trang(
Trong những năm qua, nhất là từ khi quả bưởi Đoan Hùng được khôi phục trở lại, có chỗ đứng ổn định, vững chắc trên thị trường, trạm Khuyến nông Đoan Hùng đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông; Chi cục Bảo vệ thực vật... mở nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật với các nội dung như trồng, chăm sóc, thụ phấn bổ sung... cho cây bưởi đặc sản; trồng và thâm canh cây bưởi Diễn... ở các xã trên địa bàn huyện, giúp các gia đình nâng cao kỹ thuật chăm sóc, tỷ lệ đậu quả cao mang lại nguồn thu nhập hiệu quả.
Ông Nguyễn Đức Hoạch ở thôn Chí 2, xã Chí Đám cho biết: Ngày trước, bưởi chưa được giá như bây giờ nên hầu như mọi người chỉ trồng xong rồi bỏ đấy, có chăm sóc cũng không đúng kỹ thuật, đặc biệt là không để ý đến việc thụ phấn bổ sung, diệt các loại sâu hại nên có khi đầu mùa hoa, quả non rất sai nhưng đến cuối vụ lại chẳng thu được bao nhiêu.
Từ khi có chương trình phục hồi và mở rộng diện tích trồng bưởi, được cán bộ khuyến nông và bảo vệ thực vật hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật, chăm sóc, các gia đình trong thôn chúng tôi làm theo và đã mang lại hiệu quả hơn hẳn. Bây giờ cứ hộ nào có tầm 50 gốc bưởi trở lên là mỗi năm ăn chắc lãi hơn trăm triệu đồng, gấp cả trăm lần trồng lúa.
Bên cạnh cây bưởi là các loại cây lâm nghiệp cũng được hệ thống khuyến nông Đoan Hùng quan tâm, mở các lớp tập huấn kỹ thuật hướng dẫn trồng, chăm sóc, thâm canh, nhất là đối với giống keo hạt ngoại. Lợi thế của người trồng rừng ở Đoan Hùng là huyện có hệ thống cơ sở chế biến, kinh doanh lâm nghiệp phát triển khiến người trồng rừng bớt được khá nhiều chi phí, nhất là phí vận chuyển đường dài nên mang lại hiệu quả cao.
Ông Hoàng Quang Minh, khu 2, xã Phúc Lai cho biết: Từ khi có chủ trương giao đất rừng cho người dân, nhiều hộ đã mạnh dạn nhận, cuộc sống được nâng lên rõ ràng. Trước đây chúng tôi trồng giống keo nội, năng suất thấp, chu kỳ sinh trưởng kéo dài nên chưa khai thác hết thế mạnh trồng rừng. Bây giờ nhờ sự hướng dẫn của cán bộ khuyến nông huyện, chúng tôi chuyển sang trồng giống keo ngoại, thay đổi kỹ thuật chăm sóc, chú trọng đầu tư thâm canh nên năng suất tăng lên, thu nhập ngày càng được cải thiện.
Trong 6 tháng đầu năm, Trạm đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn xây dựng 5 mô hình trồng lúa, ngô giống mới; 2 lớp tập huấn nuôi trồng thủy sản; cải tạo và trồng mới diện tích luồng; chăm sóc và thu hoạch chè an toàn; xây dựng mô hình nuôi chim trĩ cổ đỏ... Các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, các mô hình đã được đông đảo bà con nông dân ủng hộ, mạnh dạn ứng dụng vào thực tế, đem lại hiệu quả cao.
Trong thời gian tới, Trạm Khuyến nông huyện Đoan Hùng tiếp tục tập trung xây dựng các mô hình mà địa phương có lợi thế, có thể mang lại thu nhập cao cho người nông dân. Ông Nguyễn Song Toàn, Trưởng trạm Khuyến nông khẳng định: Để khẳng định vai trò của ngành khuyến nông, chúng tôi sẽ tập trung vào hướng dẫn kỹ thuật để giúp bà con tiếp tục nâng cao năng suất của cây bưởi, cây lâm nghiệp; cây chè; thay thế giống cũ; xây dựng và nhân rộng các mô hình lúa, ngô, cây màu, chăn nuôi... đã có hiệu quả, tránh đầu tư mô hình dàn trải, vừa lãng phí, vừa không mang lại hiệu quả thiết thực.
Tuy nhiên, để công tác khuyến nông ở Đoan Hùng có thể mang lại hiệu quả cao hơn nữa thì Trạm Khuyến nông vẫn cần khuyến khích đội ngũ cán bộ tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường thêm cán bộ chuyên môn ở các lĩnh vực khác ngoài trồng trọt, chăn nuôi.
Chính quyền các cấp cần quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện để cán bộ khuyến nông và khuyến nông cơ sở có thể hoạt động được tốt hơn. (Báo Phú Thọ 12/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Công viên động vật hoang dã Chimelong ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc vừa giới thiệu hình ảnh về những chú gấu trúc sinh ba mới chào đời tại vườn thú.
Đây là trường hợp gấu trúc sinh ba đầu tiên trên thế giới sống sót và được xem như một "phép màu" do loài động vật này có tỷ lệ sinh rất thấp.
Hiện Trung Quốc có khoảng 1.600 con gấu trúc đang sống trong điều kiện hoang dã. (VietnamPlus 13/8) đầu trang(
Trong báo cáo công bố ngày 11/8, Viện Nghiên cứu Mexico về khả năng cạnh tranh (IMCO) cho biết hơn 30% diện tích rừng của nước này đã bị tàn phá trong 30 năm qua, chủ yếu do công tác quản lý yếu kém của các chính quyền địa phương.
Báo cáo của IMCO nêu rõ thủ đô Mexico City và bang Morelos là hai địa phương có diện tích rừng bị cháy cao nhất cả nước, trong khi các bang Tabasco, Chiapas và Campeche là nơi có nạn chặt, phá rừng nhiều nhất.
Các chuyên gia IMCO nhấn mạnh Mexico có diện tích rừng lớn gấp ba lần diện tích rừng của Phần Lan, nhưng sản lượng khai thác tài nguyên rừng của quốc gia Bắc Trung Mỹ này vẫn ít hơn 10 lần so với quốc gia Bắc Âu. Ngoài ra, các bang phía Bắc Mexico cũng có khả năng khai thác cao hơn tới 2,5 lần so với các bang Đông Nam.
Mexico là quốc gia giàu tài nguyên rừng với khoảng 60 triệu hécta rừng trên cả nước. Tuy nhiên, quốc gia Bắc Trung Mỹ này bị đánh giá là vẫn chưa biết cách khai thác nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả.
Theo Viện Thống kê và địa lý quốc gia Mexico (INEGI), hơn 90% dân số sinh sống tại các vùng giàu tài nguyên rừng thuộc diện nghèo, thiếu các dịch vụ cơ bản và mù chữ. (VietnamPlus 12/8) đầu trang(
Báo cáo State of the World’s Forests 2014 (Hiện trạng Rừng Thế giới 2014) của FAO mới công bố cho thấy một tỷ lệ đáng kể dân số thế giới hiện đang phụ thuộc vào lâm sản nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về năng lượng, nhà ở và chăm sóc sức khỏe.
Đồng thời, Báo cáo cũng cho thấy sự cần thiết phải đưa ra những chính sách chú trọng hơn việc duy trì và nâng cao vai trò của rừng trong duy trì sinh kế, cung cấp lương thực, dược liệu và năng lượng.
Hiện trạng Rừng Thế giới 2014 chỉ ra rằng những lợi ích kinh tế xã hội thường không được giải quyết thỏa đáng trong các chính sách lâm nghiệp và chính sách có liên quan khác, mặc dù rừng có tiềm năng to lớn góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và xanh hóa nền kinh tế. Vai trò của rừng trong đảm bảo an ninh lương thực cũng thường bị coi nhẹ.
“Hiện trạng Rừng Thế giới 2014 tập trung phân tích những lợi ích kinh tế xã hội thu được từ rừng. Đóng góp của rừng cho những nhu cầu cơ bản và sinh kế nông thôn thật ấn tượng. Rừng cũng là bể chứa cácbon và nơi bảo tồn đa dạng sinh học. Chúng ta không thể đảm bảo an ninh lương thực hoặc phát triển bền vững mà không bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng một cách có trách nhiệm.” – Ông José Graziano da Silva, Tổng Giám đốc FAO nhấn mạnh.
Ở nhiều nước đang phát triển, gỗ củi là loại nhiên liệu giá rẻ duy nhất mà đa số người dân có thể tiếp cận. Theo thống kê, 1/3 số hộ gia đình ở các nước đang phát triển sử dụng củi làm nhiên liệu chính để nấu ăn. Gỗ củi cung cấp hơn một nửa tổng nguồn cung năng lượng tại 29 quốc gia, trong đó có 22 quốc gia châu Phi. Điển hình như ở Tanzania, năng lượng từ gỗ chiếm khoảng 90% tổng năng lượng tiêu thụ của quốc gia này.
Năng lượng gỗ củi cần thiết cho an ninh lương thực của hàng tỷ người, tuy nhiên, các chính sách lâm nghiệp, năng lượng và an toàn thực phẩm lại không đề cập đầy đủ điều này. Do vậy, cần có nhiều hành động hơn để cải thiện sản lượng năng lượng gỗ củi, biến nó trở thành nguồn cung năng lượng bền vững hơn, đồng thời giảm gánh nặng tìm kiếm nguồn cung cho phụ nữ và trẻ em – những người phải thu thập khoảng 85% củi đốt trong gia đình.
Cũng theo báo cáo, có ít nhất 1,3 tỷ người, tương đương 18% dân số thế giới, hiện đang sống trong những căn nhà gỗ. Loại vật liệu xây dựng này đặc biệt quan trọng ở các nước kém phát triển, nơi gỗ rẻ hơn nhiều so với các loại vật liệu khác. Việc khai thác vật liệu xây dựng, năng lượng từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ hiện sử dụng ít nhất 41 triệu lao động dưới hình thức phi chính thức, gấp ba lần số lượng người làm việc trong khu vực lâm nghiệp chính thức.
Thêm vào đó, rừng cũng thực hiện nhiều dịch vụ môi trường thiết yếu như kiểm soát xói mòn, thụ phấn, kiểm soát sâu bệnh tự nhiên và giảm nhẹ rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu, cũng như cung cấp hàng loạt các dịch vụ văn hóa, xã hội và thực phẩm quanh năm cho cộng đồng địa phương.
Hiện trạng Rừng Thế giới 2014 nhấn mạnh, việc cho phép cộng đồng và các gia đình tại địa phương quyền tiếp cận các khu rừng, xâm nhập vào các thị trường và tăng cường quyền sở hữu rừng là những biện pháp hữu hiệu để tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội của rừng cũng như hỗ trợ giảm nghèo ở các vùng nông thôn.
Báo cáo còn khẳng định sự cần thiết phải cải thiện năng suất của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả các nhà sản xuất không chính thức và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý bền vững các nguồn tài nguyên mà các doanh nghiệp lâm nghiệp đang phụ thuộc. Ghi nhận vai trò của dịch vụ môi trường của rừng, có các cơ chế thanh toán để đảm bảo duy trì các dịch vụ này là việc làm cần thiết.
Dựa theo những dữ liệu và phân tích trong báo cáo, FAO khẳng định chính sách của nhiều quốc gia cần phải định hướng lại. “Các quốc gia cần thay đổi quan điểm của họ, cả trong thu thập dữ liệu và hoạch định chính sách, từ sản xuất đến lợi ích – nói cách khác là từ cây tới người.
Các chính sách và các chương trình, không chỉ trong lĩnh vực lâm nghiệp, phải khẳng định một cách rõ ràng vai trò của rừng trong việc cung cấp thực phẩm, năng lượng và nhà ở. Với một khái niệm mới, toàn diện sẽ làm rừng hấp dẫn hơn trong mắt các nhà tài trợ, các nhà đầu tư và đảm bảo rằng rừng có lợi cho tất cả người, đặc biệt là những người cần nó nhất.” – Trợ lý Tổng giám đốc Lâm nghiệp FAO, Eduardo Rojas-Briales nói.
FAO đã ký một thỏa thuận 4 năm với AgriCord – Mạng lưới toàn cầu của các cơ quan phát triển nông nghiệp do các tổ chức nông dân chuyên nghiệp và các doanh nghiệp nông dân điều hành – để cộng tác với Ban Rừng và Cơ sở vật chất chuồng trại (FFF) – liên minh giữa FAO, Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế (IIED) và Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), để hỗ trợ cho các tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp.
FAO và Chính phủ Hàn Quốc cũng ký một biên bản ghi nhớ nhằm hỗ trợ Cơ chế Phục hồi Cảnh quan Rừng – cơ chế được thiết kế để hỗ trợ việc thực hiện, giám sát và báo cáo việc phục hồi cảnh quan rừng cấp quốc gia. (Con Người & Thiên Nhiên 13/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||