|
Ngày 13 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng lợi dụng việc được giao thực hiện dự án cải tạo rừng tự nhiên để nhập nhèm phá, bán hơn 20ha rừng trên địa bàn xã Bồng Am - Sơn Ðộng, UBND tỉnh đã có quyết định số 1783/QĐ-UBND ngày 3/11/2014 do ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh ký kỷ luật đối với ông Chu Bá Nghĩa - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Sơn Động.
Theo quyết định của UBND tỉnh Bắc Giang, ông Chu Bá Nghĩa bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Lý do kỷ luật: chấp hành chưa nghiêm túc các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khi chỉ đạo công ty cải tạo, khai thác và lấn chiếm ra ngoài diện tích được phê duyệt 48,4 ha.
Cùng với việc kỷ luật cá nhân ông Nghĩa, UBND tỉnh Bắc Giang cũng quyết định kỷ luật cả hội đồng thành viên của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sơn Động với hình thức khiển trách.
Làm việc với PV Dân trí về hình thức kỷ luật với vị giám đốc công ty lâm nghiệp mở đường phá rừng chỉ ở mức cảnh cáo, ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang cho biết: Xét tính chấp và mức độ của hành vi vi phạm của ông Nghĩa phải áp dụng đến hình thức cách chức.
Tuy nhiên, Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang cho rằng sau khi xem xét nhận thấy cá nhân ông Nghĩa không có biểu hiện trục lợi cá nhân, không có mục đích hủy hoại rừng. Cá nhân ông Nghĩa đã nghiêm túc kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật "cảnh cáo", được tập thể lãnh đạo chủ chốt của công ty nhất trí nên Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang đã đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang xét mức kỷ luật cảnh cáo với ông Nghĩa.
Như Dân trí thông tin, theo Kết luận nội dung tố cáo của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang, năm 2008, Công ty Lâm nghiệp Sơn Ðộng được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt dự án cải tạo rừng tự nhiên giai đoạn 2008-2012, với tổng diện tích 390 ha.
Đến hết năm 2012, Công ty này đã thực hiện cải tạo, khai thác được 351,7 ha trên tổng số 390,6 ha được cấp phép. Tuy nhiên, kết quả thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang đã khẳng định ngoài việc cải tạo diện tích rừng trên, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn...tiện thể phá luôn 23 ha rừng tự nhiên với thủ đoạn chuyển sang trồng rừng kinh tế. Diện tích Công ty này phá rừng nằm tại khu vực Khe Rào (xã Bồng Am) và khoảnh 19, đội Ðá Bờ 2, đều nằm trên diện tích Công ty được giao quản lý, khai thác và bảo vệ.
Đặc biệt, cùng với việc phá một diện tích rừng tự nhiên rộng lớn như vậy, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn lén lút mở hẳn một con đường dài gần 4km chạy xuyên rừng để tẩu tán lâm sản chặt phá núp dưới lí do lấy đường để trồng rừng trên khu núi trọc. Công ty này cũng rất "chuyên nghiệp" khi ký hẳn hợp đồng thuê 2 xe tải để đưa lâm sản khỏi rừng.
Kết luận thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc sở ký đã khẳng định: Đơn tố cáo giám đốc Công ty Lâm nghiệp Sơn Động lợi dụng cải tạo rừng tự nhiên để phá rừng hợp pháp là có cơ sở. Việc giám đốc công ty tự ý chỉ đạo phá 23ha rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế và mở đường qua rừng tự nhiên nhưng chưa được cấp có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Xét về mức độ nghiêm trọng là rất nghiêm trọng.
Trong vụ việc nghiêm trọng này, trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cũng đã được UBND tỉnh Bắc Giang xác định và xử lý. (Dân Trí 13/11) đầu trang(
12/11, lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể anh Voòng Coón Mủ (19 tuổi, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông), là một trong 3 nạn nhân của vụ chìm xuồng xảy ra vào chiều ngày 8/11.
Trước đó, thi thể anh Phạm Ngọc Kiên (33 tuổi) và anh Đỗ Văn Nam (24 tuổi), là cán bộ Công ty TNHH MTV lâm trường Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm cũng đã được lực lượng chức năng tìm thấy, bàn giao về cho gia đình lo hậu sự.
Trước đó, ngày 8/11, Công ty TNHH MTV lâm trường Lộc Bắc đã phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm tiến hành truy quét lâm tặc tại các tiểu khu 372 và 375. Khi phát hiện lực lượng chức năng, các đối tượng chặt phá rừng đã bỏ chạy, lực lượng bảo vệ rừng chỉ bắt giữ được 2 “lâm tặc”, trong đó có Voòng Coón Mủ.
Chiều cùng ngày, trên đường áp tải những đối tượng chặt phá rừng cùng các tang vật thu được tại hiện trường về trung tâm huyện Bảo Lâm, khi còn cách bờ thủy điện Đồng Nai 4 khoảng 40m thì xảy ra chìm xuồng. Hậu quả làm anh Phạm Ngọc Kiên, Đỗ Văn Nam và Voòng Coón Mủ bị nước nhấn chìm.
Sau khi tai nạn xảy ra, UBND huyện Bảo Lâm đã phối hợp với công an tỉnh Lâm Đồng huy động khoảng 200 người tiến hành tìm kiếm các nạn nhân. (Công An Nhân Dân 13/11) đầu trang(
Đó là ý kiến của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố tại buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng sáng 12-11, khi đề cập việc lâm tặc tập kết gỗ lậu quy mô lớn ở khu vực rừng Cà Nhông, được các cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam phát hiện trong những ngày đầu tháng 10 vừa qua.
Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố cho biết, sau khi phát hiện vụ phá rừng, tập kết 40m3 gỗ lậu trái phép ở rừng Cà Nhông, Chi cục Kiểm lâm thành phố đã đến hiện trường, cũng như chỉ đạo Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa phối hợp với các cơ quan chức năng huyện Hòa Vang, Công an huyện Hòa Vang vào cuộc điều tra.
Đoàn công tác liên ngành huyện Hòa Vang đang tiến hành các bước điều tra tại hiện trường, thu thập các chứng cứ làm cơ sở khởi tố vụ án. Sau khi xảy ra vụ việc, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đã xử lý kỷ luật hình thức khiển trách 2 kiểm lâm địa bàn, đồng thời đình chỉ công tác để phục vụ công tác điều tra. Chi cục Kiểm lâm thành phố đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa điều động 3 kiểm lâm cơ động đến phụ trách ở khu vực này.
Ông Mai Đức Lộc, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách nêu ra các câu hỏi: Nếu báo chí không phát hiện phản ánh, lực lượng kiểm lâm có biết vụ phá rừng, tập kết gỗ lậu ở Cà Nhông hay không? Vì sao cán bộ quản lý, bảo vệ rừng, kiểm lâm địa bàn ở Trạm quản lý, bảo vệ rừng Cà Nhông không phát hiện vụ tập kết gỗ, chặt phá rừng này?
Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho hay, trước khi xảy ra vụ tập kết gỗ lậu này, tháng nào các cán bộ quản lý, bảo vệ rừng, kiểm lâm địa bàn ở Trạm quản lý, bảo vệ rừng Cà Nhông cũng báo cáo là tình hình tốt, không có chi. Thế nhưng, “đùng một cái” phát hiện vụ phá rừng, tập kết gỗ lậu quy mô lớn ở Cà Nhông.
Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa là chủ rừng, đơn vị sự nghiệp được Nhà nước giao quản lý hơn 26.000 hecta rừng, nhưng để xảy ra tình trạng phá rừng, tập kết gỗ lậu trên địa bàn quản lý thì phải chịu trách nhiệm chính, trong đó trực tiếp là cán bộ, nhân viên Trạm quản lý, bảo vệ rừng Cà Nhông.
Ông Mai Đức Lộc nói thêm, Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa là chủ rừng, được Nhà nước giao quản lý rừng. Còn kiểm lâm là cơ quan kiểm tra, xử lý khai thác gỗ trái phép. Thế nhưng, để xảy ra vụ khai thác, tập kết gỗ lậu ở Cà Nhông cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng, sự phối hợp giữa hai đơn vị có vấn đề.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, trên địa bàn thành phố, diện tích có rừng trong quy hoạch 3 loại rừng hiện nay hơn 52.000 hecta, trong đó rừng tự nhiên hơn 40.000 hecta và rừng trồng gần 12.000 hecta. Độ che phủ của rừng 41,6%. Thành phố Đà Nẵng có 3 khu rừng đặc dụng gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và khu bảo vệ cảnh quan Nam Hải Vân.
Ông Mai Đức Lộc đánh giá độ che phủ của rừng tự nhiên của thành phố như hiện nay thuộc vào loại tốt. Tuy nhiên, ngành chức năng phải phân tích những bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng hiện nay, từ đó có biện pháp bảo vệ tốt.
Theo ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, dù diện tích rừng ở Đà Nẵng so với các tỉnh, thành ở miền Trung thấp, nhưng lại có giá trị rất quý, là “lá phổi xanh” của thành phố. Không chỉ có chức năng che chắn, bảo vệ môi trường, rừng ở Đà Nẵng còn là nơi thu hút các nhà đầu tư đến xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, là nơi để người dân làm ăn, phát triển kinh tế.
Và dĩ nhiên, trong quá trình quản lý, bảo vệ, đôi lúc đôi nơi còn xảy ra tình trạng chặt phá rừng, nhưng không đến nỗi rừng Đà Nẵng thê thảm như nhiều người nghĩ. Độ che phủ, phát triển rừng hiện nay khá tốt.
Cũng theo ông Trần Viết Phương, Sở NN&PTNT sẽ tổ chức lại bộ máy lực lượng kiểm lâm, quản lý, bảo vệ rừng. Theo đó, sáp nhập Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, củng cố lực lựng lượng kiểm lâm, xây dựng thêm trạm quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài ra, với những cán bộ, nhân viên quản lý, bảo vệ rừng, kiểm lâm địa bàn làm việc ở khu vực cửa rừng, các ngành chức năng thành phố cần có cơ chế đặc thù để hỗ trợ, nhằm động viên tinh thần cho họ.
Sau 5 ngày ra quân, chiều 12-11 đoàn công tác liên ngành của huyện Hòa Vang gồm lực lượng công an, kiểm lâm, viện kiểm sát… đã kết thúc việc kiểm tra hiện trường tại khu vực xảy ra vụ tập kết gỗ lậu, phá rừng ở địa bàn rừng Cà Nhông, thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa.
Trao đổi với phóng viên Báo Đà Nẵng qua điện thoại tối 12-11, ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, Trưởng đoàn công tác cho biết, qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện thêm 61 phách gỗ kiền kiền lâm tặc cất giấu trong rừng thuộc địa phận xã Tư, huyện Đông Giang (Quảng Nam).
Ngoài ra, lực lượng chức năng phát hiện tại tiểu khu 31, 33 rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa có thêm 68 gốc gỗ kiền kiền đã bị đốn hạ, trong đó gốc to nhất có đường kính 95 cm, gốc nhỏ nhất đường kính 30 cm. Như vậy, qua hai đợt kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện có 104 gốc gỗ kiền kiền bị đốn hạ ở rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa.
Cũng theo ông Đặng Phương Trung, sau khi phát hiện số gỗ kiền kiền nói trên, đoàn công tác đã báo Hạt Kiểm lâm huyện Đông Giang xử lý. Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa hiện đang tập hợp số liệu để tiến hành khởi tố vụ án theo quy định pháp luật. (Báo Đà Nẵng 13/11) đầu trang(
Ước tính sơ bộ, chỉ tính riêng tại tỉnh Quảng Nam, mỗi ngày có hàng chục mét khối gỗ vận chuyển từ các huyện miền núi về đồng bằng dưới nhiều hình thức khác nhau. Không những vậy, hiện nay, các cơ sở sản xuất đồ gồ mọc lên như nấm.
Sau nhiều ngày mật phục, kiểm lâm cơ động tỉnh Quảng Nam đã phát hiện một bãi gỗ lậu rất lớn được chôn sâu dưới đất tại xã Trà Mai, thuộc trung tâm hành chính huyện Nam Trà My. Phải cần đến xe xúc mới đưa được hàng chục mét khối gỗ lên khỏi mặt đất. Đây được xem là thủ đoạn cất giấu gỗ kiểu mới của bọn lâm tặc. Lượng gỗ lớn vô chủ này được chôn gần các xưởng mộc, rõ ràng không phải là sự ngẫu nhiên?
Ông Nguyễn tấn Thành – Chánh Văn phòng UBND huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam cho biết, Trên địa bàn huyện đã có trường hợp trại mộc khai thác gỗ trái phép. Hiện nay, UBND huyện đang chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiến hành xem xét và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi vụ việc được phát hiện, ngay trong đêm, hàng chục xưởng mộc khác đã đưa gỗ đi cất giấu ở nhiều địa điểm. Điều này cho thấy, hầu hết gỗ tại các xưởng mộc là gỗ lậu. Mất đến cả ngày, nhưng lực lượng kiểm lâm vẫn chưa vận chuyển hết số gỗ này về hạt kiểm lâm huyện. Điều đáng nói là lâm tặc đã vận chuyển những tấm phản đường kính gần 1 mét, tập kết sát trạm bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ sông Tranh 2, nhưng, kiểm lâm huyện và cả chủ rừng vẫn không hề hay biết, ngoại trừ kiểm lâm cơ động tỉnh.
Ông Nguyễn Văn Trị – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam thì bức xúc cho rằng, việc này không thể quy hết trách nhiệm cho kiểm lâm. Hiện nay, trên địa bàn Nam Trà My có BQL Rừng phòng hộ Sông Tranh 2 ở đứng đó và có cái trạm nằm sát luôn trại luôn. Gần trại luôn mà trạm đó không biết thì cái hạt Kiểm lâm ở dưới này trái, không bao giờ biết được.
Bởi vì trạm bảo vệ rừng mà chúng lấy gỗ là lấy trên rừng, trạm thì hằng ngày ở đó thì có biết hay không? Lấy gỗ thì chúng đi qua đi lại, còn thực ra, nếu mà dân họ biết họ báo cho Kiểm lâm, kiểm lâm không làm thì sẽ chịu trách nhiệm trước Pháp luật.
Theo ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam thì chi cục đã đề nghị cơ quan chức năng điều tra vụ việc này. Đồng thời sẽ mở rộng truy quét toàn diện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, kiểm tra ráo riết các xưởng mộc, ông cho biết, "cũng có hiện tượng ở dưới đồng bằng người ta lên miền núi và đã ra đóng đồ mộc loại dân dụng. Của ai thì phải quản lý cho được cái cơ sở này, cái nguồn gỗ nhập vào đây đóng đồ mộc và chắc chắn là đối với trường hợp mà dưới đồng bằng mà lên miền núi đóng trên này thì chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý".
Tỉnh Quảng Nam có 4 cánh rừng phòng hộ quy mô lớn. Hiện nay, khu vực rừng phòng hộ thường xuyên bị xâm hại dưới nhiều hình thức. Riêng tại huyện Nam Trà My, diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng hơn 80.000 ha.
Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, địa phương này đã phát hiện và xử lý nhiều vụ phá rừng quy mô lớn. Các loại gỗ quý ở địa bàn này đã cạn kiệt. Bảo vệ rừng, ngoài chốt chặn hay truy quét thì không thể xem nhẹ công tác quản lý các cơ sở sản xuất đồ mộc. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 12/11) đầu trang(
Sáng 12-11, UBND huyện Vĩnh Cửu đã làm việc với các cơ quan liên quan về việc giải phóng mặt bằng xây dựng hàng rào điện tử bảo vệ đàn voi.
Dự án xây dựng có chiều dài hơn 30km tại những vùng voi hay ra nhất, thuộc các xã: Phú Lý, Mã Đà. Trong năm 2013 và 9 tháng của năm 2014, voi đã ra 254 lần, phá hủy gần 100 hécta mía, hơn 55 hécta mì, 14 hécta điều, 25 hécta xoài... Để chấm dứt xung đột giữa người và voi, việc thực hiện hàng rào điện tử cũng là một phần trong dự án bảo tồn voi của Đồng Nai đến năm 2020.
Về cơ bản, dân của hai xã nằm trong dự án đã đồng thuận các phương án giải phóng mặt bằng. Chi cục Kiểm lâm sẽ xem xét lại thiết kế từng tuyến điện tử cho phù hợp với thực tế.
Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai phối hợp với huyện từ ngày 15-11 đến 15-12 sẽ tuyên truyền đến các hộ dân trên các địa bàn có hàng rào điện tử đi qua, sau đó sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết khác trong việc giải phóng mặt bằng và tiến tới xây dựng hàng rào điện tử trong thời gian sớm nhất. (Báo Đồng Nai 12/11) đầu trang(
“Ở đây chỉ có cán bộ và trẻ con là dám gọi đó là “con voi”, còn người dân khi nói chuyện với nhau đều gọi “Bà Voi”. Bà ấy có tài nghe được tiếng người, biết cả nương vườn của nhà ai dám chửi, nói xấu bà ấy để về phá nương, cảnh cáo” - Chị Lò Thị Yên, dân bản Nậm Pù, xã Huổi Một, huyện Sông Mã (Sơn La) bảo vậy với nét mặt đầy vẻ nghiêm trọng.
Có mặt tại huyện Sông Mã tỉnh Sơn La vào những ngày đầu tháng 10, đúng thời điểm con voi rừng cô độc lại về quấy phá đời sống và sản xuất của người dân nơi đây, trong phòng làm việc của Hạt kiểm lâm huyện, anh Đào Văn Tưởng, hạt trưởng đang chỉ đạo các kiểm lâm viên xuống bám nắm địa bàn, cùng với xã lên kế hoạch bảo vệ voi, tuyên truyền người dân không trêu đùa, tránh xa voi dữ; đồng thời báo cáo tình hình thiệt hại do voi gây ra.
Thấy PV, anh Tưởng lắc đầu: Mệt lắm bác ạ. Liên tục mấy năm nay rồi, cứ đến hẹn lại lên, đúng mùa sản xuất của bà con là voi lại về quấy phá. Địa bàn thì rộng, dân trí còn hạn chế nên việc bảo vệ voi và người dân thật vất vả bởi con voi này không chịu ẩn trong rừng sâu mà cứ nhằm khu quanh dân cư để mưu sinh. Nó chính là con voi mà hơn 10 năm trước đã quật chết người ở xã Phiêng Cằm. Khi ấy em đang là kiểm lâm phụ trách địa bàn, đã đưa bác và phóng viên báo Lao Động đi săn tìm trên dãy núi Huổi Nhả…
PV “à” lên một tiếng, đầu thoáng hiện lại cảnh lần theo dấu voi rừng ở xã Phiêng Cằm vào mùa hè năm 2003. Khi ấy con voi này còn bé, chỉ nặng khoảng hơn 2 tấn – theo cách ước tính của cán bộ kiểm lâm khi đo chiều cao cành cây mà lưng voi quệt vào khi di chuyển. Đó là một con voi cái nhưng mức độ hung dữ và tinh khôn thì đã vào bậc có thứ hạng.
Người Mông, người Thái ở xã Phiêng Cằm vốn đều là những thợ săn thú rừng lão luyện và bản lĩnh rất cao. Cuộc sống nơi rừng sâu, núi thẳm cũng tạo ra cho người dân vùng này một sự bấp chấp mạnh mẽ trước những hiểm nguy của tự nhiên, của thú dữ.
Với họ, thú càng dữ, thú càng to thì đơn giản là càng nhiều người săn và được nhiều thịt. Mà voi thì lại càng quý bởi dẫu không có ngà thì lông đuôi, nước đái, răng voi, da voi… đều là vật hiếm và có giá, còn thịt voi thì ít ra cũng đủ cho cả họ ăn uống no say cả tuần.
Đấy là chưa nói đến chuyện con thú nào gây thù chuốc oán với dân bản. Nhưng con voi này đã quật chết một người Mông trước sự chứng kiến nhiều người, nếu không tìm và chụp được ảnh nó sớm thì dễ xảy ra trường hợp nó biến mất vĩnh viễn mà không ai biết lý do – tôi đã nghĩ vậy.
Ấy vậy nhưng chỉ sau mấy ngày con voi về đây, bản lĩnh “độc lập tác chiến” với bề dày kinh nghiệm săn bắt bao đời truyền lại của các thợ săn biến mất, thay vào đó là vẻ sợ sệt, lo âu bởi “bà voi này tinh khôn lắm. Hễ ai chửi hoặc nói xấu bà là không bị truy sát thì cũng về tận nương, tận vườn phá nát để trả thù” – câu nói này khi ấy thành tiếng nói chung của người dân Phiêng Cằm chứ không còn của riêng ai nữa. Mà khi nói câu này với PV, hầu hết người dân chỉ dám nói thì thào chứ ít ai dám nói to như sợ gió đưa lời tới tai “bà” thì khốn.
Với sự giúp sức của 2 kiểm lâm viên, 7 dân quân xã với đầy đủ súng ống đi theo hỗ trợ để tìm gặp voi rừng. Nhưng đến đâu cũng chỉ thấy dấu chân voi, may mắn hơn thì gặp đống phân voi to như cái chum kiệu chứ bóng dáng voi chả thấy đâu cả. Người dân Phiêng Cằm bảo: “Bà ấy khôn lắm. Biết nhà báo đến tìm nên trốn trong rừng, đêm mới mò về quanh bản kiếm ăn”.
Khi ấy PV cũng thấy hoang mang: Chả biết con voi có thiêng thật không nhưng mình săn nó ráo riết vậy, con voi to thế, dấu chân ở khắp nơi mà sao mình tìm mãi không gặp? Sang chiều ngày thứ 2, khi lên đến gần đỉnh dãy núi Huổi Trạng (Núi Voi), đang ngồi nghỉ ngơi thì thấy có tiếng cây gãy ào ào phía trên đồi; nhìn mấy anh dân quân mặt tái mét, PV biết mình đã gặp voi, vội hô cả đoàn bám theo. Khi con voi phát hiện thấy người lạ đuổi bám, nó quay lại phục PV. Thật may mà phát hiện được cái vòi voi thò ra từ sau bụi cây nên cả đoàn kịp dừng lại, không ai bị voi túm sống.
Phục bắt PV không được, con voi thủng thẳng bỏ đi ngược lên đỉnh núi, chỉ kịp giơ máy ảnh bấm vội vài kiểu từ phía sau lưng voi. Thấy tiếng nổ cò máy ảnh (máy cơ), con voi quay ngoắt lại đối phó làm cả đoàn phải nằm bẹp xuống tránh sau những lùm cây thấp.
Thế rồi phốc một cái, nó nhảy phắt vào một lùm cây, biến mất. Nhưng chỉ dăm phút sau đã nghe tiếng cây đổ bên sườn núi phía bên phải, một dân quân bản Huổi Nhả hét lớn: “Nó đi vòng thúng đón đầu mình đấy, chạy đi…”. Thế là tất cả lao xuống núi, mạnh ai nấy chạy, chẳng còn ai bảo vệ ai, đến đêm mới tập hợp đủ người. Tất cả thở phào, giải tán.
Đêm ấy ngủ nhờ một gia đình ở bản Noong Tàu Thái, PV chẳng dám nói to, lòng thắc thỏm không tài nào ngủ được. Mỗi tiếng động ngoài vườn đều làm tôi giật mình, căng mắt ngó ra, tư thế sẵn sàng phóng ra cửa tháo thân. Quá nửa đêm, thấy tiếng động bên phía giường chủ nhà, thì ra cả 2 vợ chồng họ cũng không dám ngủ. Thế là cùng thức.
Ông chủ nhà thì thào kể: Sau khi bà voi quật chết người, có anh cán bộ xã đội của xã này chẳng biết nghe ai xui đi lấy nước đái của “bà” về sẽ bán được tiền, liền mang xô đi tìm “bà”. Thấy “bà”, hứng được nước đái nhưng sau đó “bà” đuổi cho chạy về tới ủy ban xã mà quần áo rách nát như mặc vỏ cây. Hàng chục hộ ở đây vì lúc đầu chưa biết cứ chửi mắng, hò hét giết bà, thế là hôm sau lên nương, thấy nương nhà mình bị dẫm nát hết. Người nọ bảo người kia, thế là ai cũng nể sợ “bà”…
Sáng hôm sau chia tay chủ nhà sớm bởi biết họ chỉ vì nể mình mà cho nghỉ trọ chứ lòng họ rất hoang mang, sợ bà voi về trả thù thì tai bay vạ gió. Hôm ấy mua được 1 con khỉ vàng còn nhỏ tẹo như nắm tay. Trên đường ra thành phố phải đi qua gần 100km đường rừng. Phóng viên Lê Anh Tuấn cứ nài nỉ thả bỏ con khỉ.
Nài chán rồi lại ngọt nhạt: “Thôi anh cứ thả con khỉ đi. Về Hà Nội em sẽ kiếm cho anh mấy con khỉ khác, gửi lên bù cho anh”. Khi về tới thành phố Sơn La an toàn, mới biết thì ra Anh Tuấn sợ mang theo con khỉ sẽ gặp vận đen, có thể bị voi truy sát dọc đường nên vận động tôi thả khỉ. Thoắt cái, vậy mà cuộc săn tìm voi độc hôm nào giờ đã qua hơn 10 năm, không ngờ chuyến đi này là được nghe chuyện về nó.
Trưa hôm ấy, ra đến quán cơm đầu thị trấn Sông Mã, hỏi chuyện bà chủ quán về con voi rừng, bà chủ trợn mắt: Chú ở đâu ra mà không biết chuyện "bà" voi, còn phải hỏi? Thỉnh thoảng bà ấy vẫn về đây, có khi ngủ ngay bên ngoài hiên nhà dân nhưng chẳng làm hại ai cả. Chỉ những ai dám hỗn láo thì bà mới trị cho thôi. Nghe đâu như dịp này "bà ấy" nghỉ lại bên xã Nà Nghịu, cách đây mấy cây số.
Năm ngoái, bà về đây, có người nói hỗn với bà, thế là bà ấy quật cho sắp chết…Bán tín, bán nghi, tìm gặp kiểm lâm viên phụ trách địa bàn-Hoàng Văn Thử, anh Thử gật đầu: Thật đấy. Khi ấy vào đầu tháng 9.2012, buổi đêm con voi vượt sông Mã, sang bên tả ngạn thuộc đất Chiềng Khoong kiếm ăn. Khi trở về thì trời đã sáng. Người dân thấy voi kéo nhau đến xem đông tới mấy trăm người.
Kiểm lâm chúng em phải cử người mang súng ra canh bảo vệ dân, hướng dẫn dân không được lại gần, không được làm voi đau hay sợ vì nó sẽ trả thù. Cả người già, con trẻ cứ vây quanh voi xem và hò hét nhưng chẳng làm sao.
Đến lúc ông Nguyễn Văn Hưng ở bản Quyết Tiến, xã Nà Nghịu đến, miệng bô bô: “Con voi này mà đánh tiết canh thì ngon lắm đây”. Nào ngờ, con voi như hiểu được tiếng người, nó cứ nhằm ông Hưng mà truy đuổi. Bắt được, nó lấy chân giày, lấy vòi quật. Nhưng hình như nó không định giết thêm người nên chỉ làm ông ấy gãy 9 cái xương sườn và tới hộp sọ là dừng lại. Mọi người kịp đưa ông Hưng đi cấp cứu. Tuy chẳng chết nhưng bây giờ thành tật suốt đời.
Không phải chỉ mỗi anh Hưng mà ở Sông Mã đã có thêm 1 số nạn nhân khác bị con voi này tấn công khi cố tình “làm điều không tốt với nó”. Đó là một người Mông bên bản Huổi Vàng xã Mường Cai, khi thấy voi đi qua nương nhà mình đã cầm đèn pin đuổi theo, vừa chửi vừa lia đèn pin nhấp nháy dọa bắn voi. Không ngờ con voi đang đủng đỉnh trên đường bất ngờ quay lại “đối đáp” dù chỉ ở mức độ “cảnh cáo nhẹ”. Kết quả là ông kia bị gãy chân phải đi bó bột và từ đó đến nay bụng luôn thấp thỏm khi nghe thấy voi về.
Những câu chuyện về sự linh thiêng mang sắc màu huyền bí của con voi độc ở đất Sông Mã vẫn làm không ít người bán tín, bán nghi, trong đó có ông Hặc ở bản Hải Sơn xã Chiềng Khoong. Khi thấy hàng xóm than thở về việc con voi đêm qua đi qua nương ngô đã “lỡ vòi” quấn mấy chục khóm ngô, ông Hặc bảo: “Cứ vào nương nhà tôi xem, tôi trị cho là biết điều hết, chả có linh thiêng gì cả”.
Chiều hôm sau, đang ngồi nhà thấy nóng ruột, ông Hặc liền rủ hàng xóm cùng đi thăm nương ngô. Nương nhà ông có 2 mảnh nằm trên sườn đồi, xen vào giữa là một nương của hàng xóm. Chả hiểu con voi có bị vòng kiềng hay đi đứng thế nào mà nó đã xéo vào đám nương bên này rồi lại vòng qua nương nhà hàng xóm để xéo đám nương bên kia của nhà ông Hặc. Từ hôm ấy, chẳng ai thấy ông Hặc tuyên bố điều gì về chuyện “trị voi” nữa. (Dân Việt 12/11) đầu trang(
Chiều ngày 11-11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh cho biết, đã bắt tạm giam 2 đối tượng chặt phá gần nghìn cây keo của người dân ở địa phương.
2 đối tượng bị bắt về hành vi hủy hoại tài sản là Tôn Long Trường (Sn 1976) và Đặng Đông Hải (Sn 1970) cùng trú tại xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh. Trưa ngày 15-10, 2 đối tượng Trường và Hải dùng rựa chặt phá gần nghìn cây keo xấp xỉ 2 năm tuổi tại xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Số keo này là của ông Huỳnh Tấn Đô ở phường Trương Quang Trọng (TP Quảng Ngãi), tổng thiệt hại về tài sản trên 25 triệu đồng.
Nguyên nhân của vụ việc là do đối tượng tranh giành đất để trồng keo. Trước đó, trên địa bàn xã Tịnh Sơn cũng đã xảy ra vụ đốt keo số lượng lớn. Vụ việc đang tiếp tục điều tra mở rộng. (An Ninh Thủ Đô 13/11) đầu trang(
14 đối tượng nam từ 20- 40 tuổi, cùng ngụ thôn K’Long C, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, vừa bị UBND tỉnh Lâm Đồng ra quyết định phạt tổng cộng 700 triệu đồng về hành vi "khai thác rừng trái phép".
Đó là các đối tượng: K’Đức (sinh năm 1974), Ya Mận (1989), Ya Tham (1976), Rô Đa Ya El (1989), K’Tánh (1995), K’Luýt (1980), K’Phụng (1994), K’Lượng (1992), K’Khen (1988), K’Khiêm (1975), K’Doan (1982), K’Hoàng (1990), K’Huy (1994) và K’Duynh (1994), cùng làm nghề nông tại địa phương.
Trước đó, vào tháng 9 vừa qua, các đối tượng trên đã bị lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản vi phạm đối với hành vi khai thác rừng trái phép 4,881 m3 gỗ tròn, chủng loại gỗ du sam (nhóm IIA).
Theo các quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vừa được UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành, 14 đối tượng trên bị áp dụng hình thức xử phạt tiền với mức 50 triệu đồng mỗi người.
Huyện Đức Trọng là một trong những điểm “nóng” của tỉnh Lâm Đồng về tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt ở các khu vực giáp ranh với các huyện Đơn Dương, Di Linh và giáp ranh tỉnh Bình Thuận.
Trong thời gian gần đây, lực lượng Kiểm lâm phối hợp chính quyền địa phương và các ngành chức năng có liên quan giữa các huyện và hai tỉnh đã tăng cường công tác tuần tra, quản lý, bảo vệ rừng cũng như phát hiện và xử phạt các trường hợp phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. (Tin Môi Trường 12/11) đầu trang(
Trong khi mật độ cây xanh ở các đô thị hiện nay đang ở mức độ thấp, báo động so với các nước trên thế giới thì để phục vụ cho các dự án giao thông những cây xanh này vốn dĩ đã ít ỏi nay lại đang bị đốn chặt.
Tỷ lệ cây xanh ở các đô thị Việt Nam thấp và phân bố không đều, chỉ tiêu về diện tích cây xanh trên các đô thị Việt Nam trung bình chỉ đạt 0,5m2/người, thấp hơn hàng chục lần so với các thành phố hiện đại trên thế giới.
Cụ thể, hiện trạng cây xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội có tổng số 44.641 cây thuộc 172 loài, được trồng trên các tuyến phố cho bóng mát. Theo tiêu chuẩn đô thị xanh, mỗi người phải có 10m2 cây xanh để hấp thụ lượng khí do họ thải ra. Tuy nhiên, tại Hà Nội, chỉ tiêu này chỉ đạt được 1/5. Trong khi đó, nhiều cây cổ thụ của thành phố lại đang bị chặt đi.
Hay quy hoạch tổng thể Tp.HCM đến năm 2020, đất cây xanh phải đạt bình quân 10 - 15m2/người nhưng hiện nay mới chỉ đạt 1,6m2/người. Tp.HCM hiện có 58.457 ha diện tích cây xanh các loại, bình quân diện tích m2 mảng xanh đầu người là 15,4 nhưng trong đó nội thành chỉ là 3,3m2.
Cùng là đô thị loại I nhưng tỷ lệ này ở Đà Nẵng mới chỉ đạt 5m2/người, Huế đạt 10,2m2/người; đặc biệt Hải Phòng diện tích cây xanh chỉ đạt 1,83m2/người.
Kiến trúc sư Lê Văn Lân, người thiết kế Cung thiếu nhi Hà Nội, cho rằng Đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đã định rõ những vành đai xanh, những nêm xanh, với đặc tính là những khu vực có mật độ xây dựng thấp, không xây nhà cao tầng, đô thị tổ chức theo hướng sinh thái, hoặc là làng xã nông nghiệp đang có…
Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hóa quá nhanh, “ở ngay cả những nơi mà nhiều năm trước được coi là lá phổi của đô thị thì giờ đây bờ tre đã hết, ao đầm chẳng còn, nhà cao dần lên, đất trống khan hiếm và Hà Nội ngày càng ít “xanh” hơn”, ông Lân nói.
Theo Ts.KTs. Đỗ Trần Tín, Khoa Quy hoạch Kiến trúc trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, chưa kể xu thế trong thời gian gần đây, với tốc độ đầu tư xây dựng lớn, đặc biệt khu vực dân tự xây, do đất đai có giá trị lớn nên nhiều đô thị tận dụng quá mức, lấp ao hồ, xây chen, xây lấn, diện tích xanh bị giảm dần, hiện tượng “bê tông hóa” ngày càng gia tăng làm cho môi trường đô thị ngày càng xấu đi trong khi dân số đô thị tăng nhanh, mật độ xây dựng càng lớn, chỉ tiêu cây xanh càng thấp.
Trong khi đó, hai năm qua, khi Hà Nội rầm rộ làm những cây cầu vượt để giảm ùn tắc giao thông, cũng là lúc rất nhiều cây xanh bắt đầu bị chặt hạ. Gần đây nhất là việc chặt hạ gần 200 cây không đúng chủng loại, cong nghiêng sâu mọt trên đường Nguyễn Trãi, Hà Nội tiếp tục cấp giấy phép chặt hạ hàng trăm cây xà cừ cổ thụ khác trên tuyến này để phục vụ việc xây dựng hầm chui Thanh Xuân.
Bên cạnh đó, theo kế hoạch tuyến đường sắt đô thị số 3, đoạn Nhổn - Ga Hà Nội dài 12,5 km sẽ có 8,5 km đi trên cao, 4 km đi ngầm với 12 nhà ga (8 ga trên cao, 4 ga ngầm đi qua địa bàn các quận Bắc và Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Ba Đình, Đống Đa và Hoàn Kiếm.
Để thi công ga nổi và đường sắt trên cao, nhiều cây xanh trên các khu vực này sẽ bị đốn bỏ, đồng thời tháo dỡ cả cầu vượt bộ hành lẫn trạm trung chuyển xe buýt trước cửa Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội.
Thừa nhận việc chặt cây đã được sự đồng ý của thành phố và trước khi thực hiện đã có thông báo cho các phường, ông Trần Trọng Hiếu, Trưởng phòng quản lý Hạ tầng, môi trường và công trình ngầm - Sở Xây dựng Hà Nội, vẫn than phiền rằng “chưa phối hợp tốt với cơ quan truyền thông để đăng tải thông tin cho người dân nắm rõ, tránh bị bất ngờ và hụt hẫng”.
Ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt Nam, cho rằng “Thay vì chúng ta chặt bỏ xây xanh thì nên chuyển cây đó đi, hoặc trồng ở nơi mới. Chỗ nào cần chặt bỏ để xây dựng công trình hạ tầng mà không còn phương án nào khác thì chúng ta mới phải hy sinh. Đó là phương pháp trong quá trình triển khai dự án nhưng sự hy sinh đó chúng ta có thể bù đắp bằng cách trồng cây mới, ươm mới”.
Thực tế, ở Việt Nam, việc chuyển cây xanh tới nơi trồng mới còn gặp rất nhiều trở ngại mà trước hết là kinh phí. Suất đầu tư trồng cây xanh còn quá chênh lệch giữa ngoại thành và nội thành, giữa nguồn vốn địa phương và trung ương, nên chưa thực sự khuyến khích người dân tham gia trồng cây nhất là ở khu vực ngoại thành.
Dưới góc độ của người kiến trúc sư, KTs.Trần Huy Ánh, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, cũng đã nêu cảm nhận của ông như sau: “Thừa cảm xúc mà thiếu chuyên nghiệp, đó là điều mà tôi có thể khẳng định. Tôi đã đi vài hội thảo do ngành cây xanh tổ chức, phần lớn là những nội dung đâu đâu mà thiếu sự chuyển biến về kỹ thuật quản lý tiên tiến hay những nghiên cứu phát triển về kỹ thuật, nghệ thuật cây xanh đô thị có tính đột phá”. (Thời Báo Kinh Doanh 12/11, tr11) đầu trang(
Lúc còn sống, giáo sư dược học Đỗ Tất Lợi đã nhiều lần xem giúp người ta sừng tê giác thật - giả và ông từng phát biểu khẳng định giá trị dược học của sừng tê giác là hạn chế, nhưng những lời đồn thổi về tác dụng phi thường của sừng tê giác vẫn khiến món hàng này được săn lùng bằng mọi giá.
Một cán bộ của cơ quan kiểm soát việc mua bán động vật hoang dã quý hiếm Cites nói rằng: “Sừng tê giác hiện nay đắt hơn vàng”. Những năm gần đây, mặc dù sừng tê đã được vận chuyển trái phép về Việt Nam “giải tỏa” phần nào cơn khát của người tiêu dùng nhưng giá cả vẫn tăng chóng mặt, bởi vô tình nó tạo ra một thú chơi.
Dăm năm trước, giá sừng tê giác chỉ khoảng 500 triệu/kg thì hiện giá vào khoảng 1 tỷ đồng/kg (50.000 USD/kg). Với trọng lượng lên tới hơn 10kg mỗi chiếc sừng, việc sở hữu sừng loài thú cực kỳ quý hiếm dĩ nhiên chỉ thuộc giới giàu có và nó cũng phải xuất phát từ tâm lý sính sừng tê giác.
Một luồng dư luận, không biết từ đâu ra, nhưng theo các nhà nghiên cứu đông y thì chắc chắn chỉ xuất hiện trong khoảng chục năm trở lại đây, khi đời sống được cải thiện và xuất hiện một lớp đại gia, họ cho rằng sừng tê giác “chữa được ba căn bệnh thời đại đó là ung thư, liệt dương và tâm thần”.
Các cán bộ Cites tại TPHCM cho biết: “Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới chưa tìm thấy công dụng nào từ sừng tê giác chữa ung thư và liệt dương”. Nhà thơ Phạm Thiên Thư, sinh trưởng trong gia đình đông y và nghiên cứu về thuốc ta cũng nói: “Sừng tê giác công dụng không hơn gì sừng trâu”.
Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng, trong một tài liệu khẳng định ở Trung Quốc nghiên cứu 3.270 ca, thấy “sử dụng sừng trâu và sừng tê giác cho kết quả điều trị cơ bản như nhau”.
Trong cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” cố giáo sư Đỗ Tất Lợi dẫn theo tài liệu của Pháp, từ 1900-1930 ở Đông Dương bắn được 30 con tê giác. Năm 1939 phát hiện tê giác một sừng ở Sơn La.
Giáo sư khẳng định trong sách cổ nói sừng tê giác vị đắng mặn, tính hàn, vào 3 kinh tâm, can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, định kinh, thường dùng trong trường hợp sốt quá cao hóa điên cuồng, sốt vàng da, thổ huyết…
Con tê giác cuối cùng của Việt Nam đã bị bắn chết tại Cát Tiên và bị cưa mất sừng vào năm 2010 đánh dấu sự tuyệt chủng của loài này tại Việt Nam, mảnh đất được sử sách Trung Hoa ghi chép là nhiều tê giác và vẫn thường phải cống cho Trung Hoa. Sau 4 năm, thủ phạm của vụ giết chết tê giác tại rừng Cát Tiên vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Trong khi đó, thú chơi sừng tê giác ngày càng phổ biến hơn.
Một cán bộ của cơ quan kiểm soát việc mua bán động vật hoang dã quý hiếm Cites nói rằng: “Sừng tê giác hiện nay đắt hơn vàng”. Những năm gần đây, mặc dù sừng tê đã được vận chuyển trái phép về Việt Nam “giải tỏa” phần nào cơn khát của người tiêu dùng nhưng giá cả vẫn tăng chóng mặt, bởi vô tình nó tạo ra một thú chơi.
Dăm năm trước, giá sừng tê giác chỉ khoảng 500 triệu/kg thì hiện giá vào khoảng 1 tỷ đồng/kg (50.000 USD/kg). Với trọng lượng lên tới hơn 10kg mỗi chiếc sừng, việc sở hữu sừng loài thú cực kỳ quý hiếm dĩ nhiên chỉ thuộc giới giàu có và nó cũng phải xuất phát từ tâm lý sính sừng tê giác.
Một luồng dư luận, không biết từ đâu ra, nhưng theo các nhà nghiên cứu đông y thì chắc chắn chỉ xuất hiện trong khoảng chục năm trở lại đây, khi đời sống được cải thiện và xuất hiện một lớp đại gia, họ cho rằng sừng tê giác “chữa được ba căn bệnh thời đại đó là ung thư, liệt dương và tâm thần”.
Các cán bộ Cites tại TPHCM cho biết: “Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới chưa tìm thấy công dụng nào từ sừng tê giác chữa ung thư và liệt dương”. Nhà thơ Phạm Thiên Thư, sinh trưởng trong gia đình đông y và nghiên cứu về thuốc ta cũng nói: “Sừng tê giác công dụng không hơn gì sừng trâu”.
Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng, trong một tài liệu khẳng định ở Trung Quốc nghiên cứu 3.270 ca, thấy “sử dụng sừng trâu và sừng tê giác cho kết quả điều trị cơ bản như nhau”.
Trong cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” cố giáo sư Đỗ Tất Lợi dẫn theo tài liệu của Pháp, từ 1900-1930 ở Đông Dương bắn được 30 con tê giác. Năm 1939 phát hiện tê giác một sừng ở Sơn La.
Giáo sư khẳng định trong sách cổ nói sừng tê giác vị đắng mặn, tính hàn, vào 3 kinh tâm, can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, định kinh, thường dùng trong trường hợp sốt quá cao hóa điên cuồng, sốt vàng da, thổ huyết…
Con tê giác cuối cùng của Việt Nam đã bị bắn chết tại Cát Tiên và bị cưa mất sừng vào năm 2010 đánh dấu sự tuyệt chủng của loài này tại Việt Nam, mảnh đất được sử sách Trung Hoa ghi chép là nhiều tê giác và vẫn thường phải cống cho Trung Hoa. Sau 4 năm, thủ phạm của vụ giết chết tê giác tại rừng Cát Tiên vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Trong khi đó, thú chơi sừng tê giác ngày càng phổ biến hơn.
Theo tài liệu của giáo sư Nguyễn Lân Dũng thì từ năm 2010 đến nay, mỗi ngày có 2 con tê giác Nam Phi bị săn bắn và chỉ từ đầu năm 2013 đến nay hơn 580 con tê giác bị bắn trộm ở Nam Phi để lấy sừng.
Đại diện Cites ở TPHCM: “Trong một hội thảo quốc tế toàn thế giới, người ta đã chỉ đích danh Trung Quốc và Việt Nam chính là hai nước săn bắn, mua bán và vận chuyển sừng tê giác lớn nhất thế giới, đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của loài vật quý hiếm của nhân loại”.
Vị này nói: “Uy tín của Việt Nam bị ảnh hưởng rất nhiều sau các hội nghị khoa học như thế”. Thực tế, chưa có thống kê nào về thị trường tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam, do đây là thị trường chợ đen. Vậy làm sao thế giới cực lực lên án? Một cán bộ quản lý ngành hải quan nói: “Họ phản đối vì số tội phạm săn bắn, buôn bán, thu gom sừng tê giác tại Nam Phi bị bắt … đa số là người Trung Quốc và người Việt Nam. Các nguồn tin báo về cũng như vậy”.
Đầu năm nay, hoàng tử Anh đã nói bằng tiếng Việt. Tại hội nghị về bảo vệ động vật hoang dã tổ chức ở London ngày 12/2/2014, hoàng tử William phát đi thông điệp qua đoạn băng ghi hình bằng tiếng Việt kêu gọi sự đoàn kết để bảo vệ động vật hoang dã. “Trung bình cứ 11 giờ có một con tê giác bị giết hại” - thái tử Charles cũng cảnh báo như vậy.
Các chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã cho biết ở Nam Phi vẫn còn một số người bảo lưu ý kiến nên cho phép săn bắn trong chừng mực, để đáp ứng nguồn cầu (chủ yếu từ Việt Nam và Trung Quốc) còn hơn là để nạn săn bắt trộm tràn lan.
Ý kiến khác cho rằng săn trộm hay săn có phép cũng đều dẫn đến việc suy giảm các cá thể như nhau, cần cấm hẳn. Một số người kể: “Không ít dân du lịch Việt Nam đi Nam Phi là tìm cơ hội mua giấy phép vào rừng săn tê giác, để được mang sừng ra khỏi Nam Phi hợp pháp. Họ sẽ thuê những kẻ dẫn đường, thậm chí những tên săn chuyên nghiệp, đưa họ vào rừng để cùng nhau thoải mái giết tê giác rồi lấy sừng đem về”.
Thời gian gần đây các ngành chức năng Việt Nam đã và đang quyết liệt ngăn chặn hành vi mua bán vận chuyển trái phép sừng tê giác bằng đường hàng không ở cả Hà Nội và TPHCM. Ngày 27/10/2014, Hải quan sân bay Nội Bài đã thu giữ được 6kg sừng tê giác của đối tượng Nguyễn Thị Ngọc Tứ (sinh năm 1985).
Tiếp theo, ngày 1/11/2014, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài tiếp tục phát hiện, bắt giữ 1 vụ vận chuyển sừng tê giác trong hành lý của các hành khách Vương Minh Thu, sinh năm 1990, quốc tịch Việt Nam; Dương Thị Thúy Hiền, sinh năm 1979, quốc tịch Việt Nam và Bùi Thị Xiển, sinh năm 1966, quốc tịch Việt Nam. Số sừng tê giác thu được cũng có trọng lượng là 7 kg.
Hành khách Nguyễn Thị Ngọc Tứ khai nhận vận chuyển thuê số sừng tê giác trên cho một đối tượng từ Bangkok về Hà Nội. Sừng tê giác là hàng hóa cấm nhập khẩu, nằm trong danh mục các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites). Theo một số chuyên gia thì giá sừng tê giác tại Việt Nam xấp xỉ khoảng 1 tỷ đồng/kg. (Tiền Phong 12/11) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh, tình trạng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép gia tăng so với cùng kỳ.
Trong 10 tháng qua, lực lượng kiểm lâm phối hợp các ngành hữu quan đã phát hiện và lập biên bản hơn 100 vụ vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã trái pháp luật- tăng gần 20 vụ so cùng kỳ. Kiểm lâm cũng đã tháo gỡ gần 3.000 cần bẫy động vật rừng các loại- tăng hơn 160 cần so cùng kỳ, chủ yếu xảy ra ở khu rừng Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm phát hiện và lập biên bản 42 vụ vi phạm quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, xảy ra chủ yếu khu vực phòng hộ Dầu Tiếng, khu rừng Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát; 14 vụ khai thác lâm sản trái phép và 17 vụ phá rừng.
Các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng được kiểm lâm điều tra, xác minh xử lý. Trong đó có 5 vụ chuyển xử lý hình sự; phạt tiền gần 800 triệu đồng, tịch thu hơn 77 m3 gỗ, thả về môi trường tự nhiên 33 con rắn các loại. (Báo Tây Ninh 12/11) đầu trang(
Để hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng, UBND tỉnh Yên Bái đã có Chỉ thị 16/CT-UBND về việc triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô hanh 2014 - 2015. nội dung như sau:
Trong thời gian qua, các cấp, các ngành, chủ rừng và nhân dân đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Các biện pháp PCCCR từ tỉnh đến cơ sở được triển khai một cách đồng bộ; các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị chủ rừng đã chủ động thực hiện phương án quản lý, bảo vệ nên các vụ cháy rừng đã được phát hiện sớm, chữa cháy kịp thời, do vậy không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, trong thời gian từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã để xảy ra 09 vụ cháy trên tổng diện tích 692,2 ha chủ yếu là rừng khoanh tái sinh thuộc 02 ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải.
Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương, mùa khô năm 2014 - 2015 thời tiết khô hanh, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất lâm nghiệp và đời sống của nhân dân. Để chủ động phòng, chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường thiên nhiên, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
1. Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm: Chỉ đạo các cơ quan chức năng liên quan trên địa bàn và UBND xã thực hiện nghiêm túc các quy định trong công tác PCCCR; phải xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong mùa khô 2014-2015, đặc biệt đối với các vùng có nguy cơ cháy rừng cao thuộc các xã, các huyện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc bảo vệ rừng, PCCCR.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các biện pháp kỹ thuật để phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức, tăng cường tổ, đội quần chúng tham gia PCCCR ở các cộng đồng dân cư thôn, bản nơi có rừng.
Chỉ đạo các lực lượng liên ngành (kiểm lâm, công an, quân đội) thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR và các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm, chính quyền các xã tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị PCCCR đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng.
Đối với các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy; chỉ đạo tốt công tác quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho đồng bào để ổn định sản xuất. Quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; thường xuyên kiểm tra việc đốt nương làm rẫy trên địa bàn.
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo triển khai những nhiệm vụ sau: Chỉ đạo, kiểm tra các địa phương thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trách nhiệm về công tác PCCCR; chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn; kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm thường xuyên nắm diễn biến tình hình về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời tham mưu, đề xuất chủ trương và các giải pháp về PCCCR; theo dõi, tổ chức dự báo cháy rừng để thông tin kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Phối hợp với các ngành công an, quân đội rà soát quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng lớn có thể xảy ra.
Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR; đồng thời xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với các hành vi để xảy ra cháy rừng.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm, chính quyền các cấp tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện để hỗ trợ các địa phương trong việc chữa cháy rừng.
4. Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Yên Bái có trách nhiệm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về PCCCR; tăng thời lượng phát sóng, kịp thời đưa thông tin về cảnh báo và dự báo nguy cơ cháy rừng.
5. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính bảo đảm kinh phí cho các ngành và các địa phương tổ chức thực hiện Chỉ thị này. (Báo Yên Bái 12/11) đầu trang(
Theo đó, mục tiêu của Đề án nhằm nâng cao khả năng cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng; tổ chức phát hiện sớm và thông báo kịp thời, chính xác điểm cháy rừng thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám; tăng cường, củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng PCCC rừng chuyên ngành từ trung ương đến địa phương; tăng cường đầu tư phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất cho lực lượng PCCC các cấp, ưu tiên xây dựng lực lượng chữa cháy rừng đủ mạnh để ứng phó với thảm họa cháy rừng cấp quốc gia.
Để triển khai thực hiện Đề án có hiệu quả, các giải pháp thực hiện gồm: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về công tác PCCC rừng, trong đó, rà soát, xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể quốc gia và địa phương về PCCC rừng theo phương châm bốn tại chỗ; xây dựng cơ chế chỉ đạo, điều hành, chỉ huy, phối hợp lực lượng bảo vệ rừng thống nhất, quy chế hoạt động và chia sẻ nghĩa vụ, quyền lợi của các lực lượng tham gia bảo vệ rừng, PCCC rừng các cấp; xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức về phương tiện, trang thiết bị và công cụ PCCC rừng, quy định về thiết kế các công trình phòng cháy rừng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh rừng và dự trữ trang thiết bị trong PCCC rừng, xây dựng và hoàn thiện chính sách toàn diện.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác PCCC rừng; tiến hành ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, viễn thám trong quản lý lửa rừng và chuyển giao các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phương tiện, thiết bị và công cụ PCCC rừng tiên tiến phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng; quy hoạch và quản lý các công trình PCCC rừng như: Hệ thống đường xá; kênh mương, bể chứa, hồ đập; hệ thống chòi canh lửa; hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống các trạm đo mưa, trạm khí tượng phục vụ dự báo cháy rừng.
Về trách nhiệm thực hiện, Bộ Nông nghiệp và PTNT có trách nhiệm trong việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực PCCC rừng giai đoạn 2014 - 2020; chủ trì tổ chức và chỉ đạo thực hiện Đề án thống nhất toàn quốc, giám sát, kiểm tra tiến độ, nội dung và chất lượng Đề án của các ngành, các cấp; chỉ đạo, đôn đốc và hướng dẫn các địa phương xây dựng dự án nâng cao năng lực PCCC rừng, đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung và tiến độ dự án. Các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT xử lý các vấn đề có liên quan trong qua trình thực hiện Quyết định.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện dự án đầu tư nâng cao năng lực PCCC rừng thuộc địa phương. (Bacgiang.gov.vn 10/11) đầu trang(
Để tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn, đẩy lùi việc khai thác lâm sản trái phép, xâm lấn đất lâm nghiệp trên địa bàn, phát huy được hiệu quả, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn huyện Ba Chẽ đã bắt giữ, xử lý 22 vụ vi phạm trong khai thác, quản lý và bảo vệ rừng; thu hồi trên 11.600m3 gỗ các loại; 18 tấn củi; 728kg nhựa thông, tổng giá trị thu hồi trên 61 triệu đồng. (Báo Quảng Ninh 12/11) đầu trang(
Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có tổng diện tích đất tự nhiên 29.399 ha. Trong đó đất lâm nghiệp giao cho BQL rừng đặc dụng Nam Đàn trực tiếp quản lý là 5.639,92 ha.
Địa phương có khí hậu chuyển tiếp vừa mang đặc tính cả mùa đông lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính khí hậu nóng của miền Nam cùng với khí hậu khắc nghiệt gió Tây khô nóng, độ ẩm thấp và chủ yếu là rừng thông nhựa và giáp ranh với các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Do vậy trong công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.
Các khu vực ven rừng có đông các hộ dân sinh sống và sản xuất chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp, canh tác theo truyền thống, đời sống khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Trong thời gian nông nhàn, người dân thường vào rừng khai thác lâm sản trái phép, chặt củi khiến cho công tác PCCCR luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức.
Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cho người dân luôn được đề cao và triển khai thường xuyên với nhiều hình thức thích hợp, đồng thời xây dựng các phương án PCCCR, trong đó tập trung mọi lực lượng, phương tiện cho mùa nắng nóng.
Với tầm quan trọng của rừng nên từ khi thành lập, BQL rừng đặc dụng Nam Đàn rất chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ, đặc biệt là PCCCR nên trong thời gian qua đã hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng lớn trên phần diện tích quản lý. Tuy nhiên, vào những thời điểm nắng nóng đỉnh điểm, nhiệt độ tăng cao cộng với gió phơn Tây Nam thổi mạnh khiến nguy cơ cháy rừng luôn ở cấp cảnh báo cực kỳ nguy hiểm.
Căn cứ vào các vụ cháy rừng xảy ra trong thời gian qua trên địa bàn huyện cho thấy chủ yếu là rừng thông lấy nhựa. Bên dưới diện tích rừng này là thảm thực vật chủ yếu là lá thông, lau lách, sim mua rất dễ bén lửa vào mùa khô nóng. Trong khi đó, bằng nhiều con đường, người dân thường xuyên vào rừng nên rất khó kiểm soát. Chính vì vậy, việc triển khai các biện pháp PCCCR được triển khai mạnh từ tháng 4 đến cuối tháng 9 hàng năm, đặc biệt trong giai đoạn đỉnh điểm của mùa khô.
Các phương án PCCCR với phương châm 4 tại chỗ gồm lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ luôn sẵn sàng. Đối với các tiểu ban quản lý bảo vệ rừng ở các xã, là lực lượng nòng cốt, phải cử lượng bảo vệ rừng tuần tra liên tục 24/24 giờ trên các chòi canh, đồng thời theo sát và nhắc nhở người dân khi vào rừng cẩn thận khi sử dụng lửa trong sinh hoạt, đồng thời hướng dẫn người dân về PCCCR, báo cháy.
Khi phát hiện ngọn lửa bùng phát phải trực tiếp dập tắt, đồng thời báo cháy cho các lực lượng khác để được hỗ trợ. Tổ chức phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, cá nhân sinh sống trong rừng và ven rừng hỗ trợ lực lượng ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra.
Các phương tiện chữa cháy được tập kết theo từng điểm cố định sẵn sàng ứng cứu, đồng thời đã tiến hành huy động các phương tiện tại chỗ trong nhân dân như máy thổi, máy phát thực bì, cuốc, xẻng, bao tải, thùng gánh nước, cành cây để tham gia dập lửa. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên lạc luôn thông suốt, hạ tầng PCCCR đã được đầu tư, nâng cấp như máy móc, thiết bị, hệ thống đường ranh cản lửa, các biển báo cấm, quy ước bảo vệ rừng…
Công tác bảo vệ, PCCCR rất được quan tâm, đặc biệt đối với rừng đặc dụng. Tuy nhiên thời gian qua trên địa bàn cả nước vẫn thường xảy ra những vụ cháy rừng đặc dụng, rừng phòng hộ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với rừng đặc dụng Nam Đàn trong 9 tháng đầu năm 2014 đã xảy ra 5 vụ cháy và nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng luôn hiện hữu.
Như đã nói ở trên, nguyên nhân tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng xuất phát từ việc người dân vào rừng khai thác lâm sản sử dụng lửa bất cẩn nên hiểm họa cháy rừng vẫn thường xảy ra.
Để công tác PCCCR đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng đối với ban quản lý rừng cần phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của người dân về bảo vệ rừng. Đây là một nhiệm vụ quan trọng và lâu dài cần phải được đặc biệt coi trọng, trong đó cần có sự tham gia tích cực của các cấp, ngành và toàn xã hội ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Quan tâm về nhân lực, thiết bị phương tiện cho lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Hiện nay Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn gặp không ít khó khăn do phương tiện, trang thiết bị quản lý, bảo vệ và PCCCR còn thiếu đã ảnh hưởng đến công tác tuần tra, bảo vệ và đối phó khi tình huống cháy rừng xảy ra. Các công trình phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng đã xuống cấp như các chòi canh, hệ thống đường ranh cản lửa đã xuống cấp…
Công tác bảo vệ, PCCCR là việc làm thường xuyên và lâu dài, đặc biệt đối với những cánh rừng phòng hộ cần phải được coi trọng. Những khó khăn kể trên cần phải được quan tâm tháo gỡ kịp thời... (Phuongnam.net – Chuyên Trang Của Tạp Chí Điện Tử Văn Hiến VN 11/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Vụ tranh chấp đất rừng giữa một số hộ dân với gia đình CCB Phan Văn Hiến ở xóm 4, xã Hòa Hải kéo dài hơn 15 năm qua, nhưng chính quyền các cấp không giải quyết dứt điểm. Báo chí cũng đã tốn khá nhiều giấy mực nhưng vẫn bị làm ngơ…
Sự việc trở nên gay gắt, dai dẳng, kéo dài và trở thành “cuộc chiến” mà cao điểm là hai vụ “hỗn chiến” bằng dao, kiếm giữa hai gia đình ông Đặng Hữu Thìn (cùng thôn) và ông Phạm Văn Hiến khiến một số người dân phải chịu vào tù…Thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, năm 1998, UBND huyện Hương Khê ban hành Quyết định số 91/QĐ/1998 giao 19ha đất rừng thuộc lô số 6 và 7 tại xã Hòa Hải cho CCB Phan Văn Hiến.
Việc giao đất được tiến hành đúng trình tự quy định của pháp luật, có ranh giới rõ ràng và được “ban bệ” từ xã tới huyện bàn giao trên thực địa, kí xác nhận… Nhưng đến năm 2000, một số hộ dân sống cùng thôn, có đất liền kề với đất được giao của gia đình ông Hiến đã mở rộng “bờ cõi”, trồng cây, làm đường chiếm giữ gần 7ha đất mà ông Hiến cho rằng đó là đất đã được cấp sổ đỏ. UBND xã Hòa Hải tổ chức hòa giải không thành nên ông phải viết đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND huyện.
Ngày 13/11/2006, UBND huyện Hương Khê có Quyết định số 1776 nêu: “Khi giao đất, gia đình ông Hiến không trồng rừng đúng như quy định nên thu hồi lại Quyết định số 91”, đồng nghĩa với việc không chấp nhận diện tích đất đã được giao cho gia đình ông Hiến, bỏ mặc cho các hộ tranh chấp?
Không đồng tình với Quyết định 1776, ông Hiến tiếp tục làm đơn khiếu nại lên UBND tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 19/11/2007, UBND tỉnh Hà Tĩnh kí Quyết định số 3012 thu hồi, hủy bỏ Quyết định 1776 của UBND huyện Hương Khê, yêu cầu “Xử lí nghiêm các hộ lấn chiếm đất rừng và phá rừng”, thế nhưng các cấp chính quyền từ xã tới huyện không xử lí dứt điểm.
Đến tháng 7/2013, có 7 hộ liền kề lấn chiếm đất được giao của gia đình ông Hiến. Hộ ông Đặng Hữu Thìn và ông Đặng Xuân được cấp 0,2ha tại thửa 371, nhưng ông Thìn đã “trồng rộng ra” 2,8ha nằm trong phạm vi ranh giới đất lâm nghiệp đã được giao cho gia đình ông Hiến (bl 92, 98, 99), khiến nhiều cuộc “đấu khẩu” không thành, mâu thuẫn ngày càng gay gắt làm “tiền đề” cho hai cuộc “hỗn chiến” bằng dao, kiếm…
Ngày 7/2/2010, bà Đặng Thị Hoài (vợ ông Hiến) và anh Phan Văn Lĩnh (con trai ông Hiến) đi làm rừng gặp Thái Văn Sỹ và Thái Văn Loan là người cùng xã đang chặt keo, chiếm rừng thuộc khu vực đất được giao theo Quyết định số 91. Bà Hoài, anh Lĩnh ra can ngăn thì bị Sỹ dùng dao chém gây thương tích cho bà 30,37%, anh Lĩnh bị Loan chém vào tay gây thương tích 17,2%. Sỹ và Loan bị Công an huyện Hương Khê ra quyết định khởi tố và TAND huyện Hương Khê xử phạt Sỹ 24 tháng tù giam còn Loan vô tội?
Ngày 18/1/2011, TAND huyện Hương Khê ra Quyết định số 01/2011/HSST-QĐ trả hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo Thái Văn Sỹ cho Viện KSND huyện Hương Khê điều tra bổ sung ai là người gây thương tích với tỉ lệ 17,2% đối với Phan Văn Lĩnh. Thế mà vẫn bị “bỏ qua”?
Sự việc đau lòng trên, tưởng chừng sẽ được chính quyền các cấp quan tâm giải quyết dứt điểm, thế nhưng họ bị bỏ mặc để các bên “tự xử” với nhau. Trong khi đất rừng của gia đình bà Hoài, ông Hiến vẫn tiếp tục bị lấn chiếm…
Ngày 7/7/2013, ông Đặng Hữu Thìn thuê máy ủi làm đường trên đất được giao của gia đình bà Hoài. Sáng hôm sau, ông Thìn tiếp tục cho máy ủi đào đất lên khu vực đồi keo. Gia đình bà Hoài ra can ngăn không được, xã Hòa Hải cũng chẳng quan tâm nên bà gọi điện trình báo Chủ tịch UBND huyện Hương Khê và được hẹn “chờ có cán bộ đến giải quyết”.
Trong lúc gia đình bà đang đứng chờ trên khu đất được giao, ông Trương Quốc Hiến, Trưởng Công an xã Hòa Hải và ông Nguyễn Tất Thắng, cán bộ địa chính xã đến nhà ông Thìn, cùng ông Thìn, Quyết và Tâm đến địa điểm máy ủi đất. Một trận “mưa dao” xảy ra bất ngờ, xuất phát từ gia đình ông Thìn. 7 đối tượng bị thương: Phan Văn Lĩnh 26,53%, Phan Văn Cát 7,8%, Đặng Văn Long 40,16%, Đặng Văn Nam không đi viện nên không giám định được thương tật. Về phía gia đình ông Thìn có Đặng Hữu Tâm 37,18%, Đặng Hữu Quyết 8,74% và Đặng Hữu Thìn 6,98%.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Phan Văn Lĩnh 10 tháng 3 ngày, Phan Văn Cát 7 tháng 5 ngày, Đặng Hữu Tâm 2 tháng 26 ngày, Đặng Văn Nam 32 ngày (Nam bị u tuyến yên đã được Bệnh viện Quân y 103 hẹn ngày 6 mổ nhưng ngày 4 vẫn bị tạm giam sau 30 ngày mới được tại ngoại), còn ông Thìn và Quyết thì được “quan tha”?
“Tâm tay cầm mác dài chạy xuống đường, lúc này Lĩnh đứng dựa vào cây keo ở trên bờ cao, Tâm quay lại dùng mác chém một nhát vào chân Lĩnh. Tôi thấy rõ Tâm chém và Lĩnh kêu “trời ơi” nên tôi chạy lại kéo Tâm ra. Tâm thả mác xuống đường và đi ra phía nhà Quyết”… Đó là lời khai của ông Trương Quốc Hiến, Trưởng Công an xã Hòa Hải tại bl 292.
Cũng là lời khai của ông Hiến tại bl 288: Tuy “có ai đó tung vôi bột mù mịt, nhưng tôi thấy Tâm và Lĩnh đứng gần nhau… Lĩnh cầm một thanh kiếm và một con rựa mồng, Tâm cũng cầm rựa mồng. Khi Lĩnh đi xuống gần con đường đang làm trên dãy ta-luy thì tôi thấy Tâm ở phía dưới dùng rựa chém vào chân của Lĩnh và thấy Lĩnh ôm chân kêu “trời ơi”. Cách đó khoảng 6m, Quyết và Cát cũng đang đánh nhau”.
Tại bl 530, Đặng Hữu Tâm khẳng định: “Vết thương ở gần vai trái tôi, không biết là do ai chém… Tôi (Tâm) khẳng định điều đó vì sự việc xảy ra vào ban ngày. Lúc bị chém, tôi đứng cách Lĩnh gần 1m”?
Ngày 15/8/3013, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê lấy lời khai bổ sung, Đặng Hữu Tâm nói: “Vết thương tại bả vai trái gây đứt cánh vai của tôi, thì tôi khẳng định là anh Linh con bà Hoài (em anh Lĩnh) gây ra… Tôi muốn bổ sung điều này, vì trước đây tôi nhớ chưa chi tiết các nội dung trên, nay tôi đã nhớ lại đầy đủ” (bl 542)… Linh gây thương tích cho tôi (Tâm) bằng “một loại dao màu trắng dài khoảng 80cm hình như là mã tấu hay kiếm gì đó… Tôi khẳng định anh Linh chém vào bả vai tôi” (bl 544).
Tại bl 319, ông Trần Kim Tuấn, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Hòa Hải khai: “Hôm đó không xử lí nội dung gì. Tình trạng vết thương lúc đó do tôi trực tiếp khám: Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình, mạch 90 lần/phút. Huyết áp 110/70mm thủy ngân. Nhịp thở 20 lần/phút. Khám thương tích trên cơ thể phát hiện 1 vết thương ở góc trán phải bầm đỏ; 2 vết thương ở cánh mũi phải trầy xước da dài 1,5cm; 1 vết thương ở vai trái chầy xước da dài 2cm, rộng 0,5cm; 1 vết thương ở cẳng chân trái chầy xước dài 1,5cm, rộng 0,5cm có chảy máu nhẹ. Bệnh nhân kêu đau ở hai cánh tay, vận động khó nhưng khám ngoài không phát hiện gì khác thường. Các bộ phận khác không có gì khác thường. Sau khi khám xong thì ông Thìn ra về”.
Lời khai của Trưởng Công an xã Hòa Hải và người bị hại là Đặng Hữu Tâm đều khẳng định Lĩnh không chém Tâm. Tuy vậy, không ai nói rõ là người nào đã chém. Còn người bị hại là Đặng Văn Long viết đơn gửi Báo Người cao tuổi có đoạn nêu: “Đặng Hữu Tâm cầm rạ mồng chém tôi rồi nhảy vào ôm tôi để ông Thìn và anh Quyết lao vào chém… khi Quyết chém, tôi xoay người Tâm nên Quyết đã chém vào vai Tâm…”.
Vậy nhưng, không hiểu vì sao mà các cơ quan tố tụng huyện Hương Khê lại không xem xét, điều tra làm rõ mà còn kết tội Phan Văn Lĩnh gây thương tích cho Đặng Hữu Tâm với tỉ lệ 37,18%? Đặng Văn Nam gây thương tích cho Đặng Hữu Thìn với tỉ lệ sức khỏe 6,98%?
Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc cho bị cáo Lĩnh và Nam không thừa nhận hành vi cố ý gây thương tích. Luật sư Hà Đạm, nguyên Thẩm phán TAND tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra những chứng cứ sát thực chứng minh cho bị cáo Lĩnh và Nam không phạm tội như đã nêu trên nhưng đều bị Tòa bác bỏ. Rốt cục, Phan Văn Lĩnh bị kết án 5 năm 6 tháng tù vì tội chém Tâm. Đặng Văn Nam bị tù 9 tháng vì tội “cố ý gây thương tích đối với ông Thìn”? Phan Văn Lĩnh và Đặng Văn Nam không chỉ viết đơn kháng án mà còn tố cáo kiểm sát viên và cán bộ điều tra đã có hành vi đe dọa và răn đe, ép cung buộc tội…
Dư luận cho rằng hậu quả của vụ “xung đột” do tranh chấp đất rừng tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê phần nhiều trách nhiệm thuộc về chính quyền các cấp. Tòa kết tội cho Phan Văn Lĩnh và Đặng Văn Nam với mức án như trên là chưa đủ cơ sở, oan sai và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm… (Người Cao Tuổi 12/11) đầu trang(
Sáng 12-11, BQL rừng phòng hộ Thạch Thành tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập và đón nhận bằng công nhận cơ quan văn hóa cấp huyện.
Tiền thân của BQL rừng phòng hộ Thạch Thành là Lâm trường Thạch Thành, được thành lập ngày 10-2-1964. Năm 1992, được đổi tên thành Doanh nghiệp Lâm trường Thạch Thành; năm 2006 chuyển đổi thành BQL rừng phòng hộ Thạch Thành.
BQL rừng phòng hộ Thạch Thành có nhiệm vụ quản lý, BV&PTR trên địa bàn 10 xã, thị trấn thuộc các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Vĩnh Lộc; trong đó có hơn 2.000 ha rừng phòng hộ, gần 2.000 ha rừng và đất rừng sản xuất . Từ năm 1992 đến nay, BQL đã tổ chức cho nhân dân các xã thực hiện các dự án lâm nghiệp như trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất; chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng...
Đồng thời hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng cây giống, tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trồng mới rừng. Đến nay, độ che phủ của rừng thuộc BQL đạt 55%. Đặc biệt, từ năm 2006, BQL đã đưa vào trồng khảo nghiệm và nhân rộng trên 34 ha cây mắc ca mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Cùng với làm tốt công tác BV&PTR hiệu quả, BQL đã củng cố, sắp xếp lại lao động theo hướng gọn nhẹ, tăng năng suất lao động; tổ chức tuyên truyền cho 340 hộ nhận khoán đất lâm nghiệp tham gia các dự án trồng và bảo vệ rừng, ký các cam kết không vi phạm Luật BV&PTR; tăng cường dịch vụ kỹ thuật, cây giống, tổ chức tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp cho đồng bào địa phương.
Xây dựng dự án phát triển giống cây đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao. Công tác nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất luôn được đơn vị quan tâm, nhiều mô hình nghiên cứu đã có kết quả tác động tích cực đến phát triển nghề rừng.
Với những thành tích đã đạt được, BQL rừng phòng hộ Thạch Thành được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tặng Bằng khen và đón nhận bằng cơ quan đạt chuẩn văn hoá cấp huyện. (Báo Thanh Hóa 12/11) đầu trang(
Thương vụ Việt Nam tại Australia (Bộ Công thương) cho biết, từ ngày 30 tháng 11 năm 2014, doanh nghiệp nhập khẩu vào Úc sẽ phải khảo sát tính hợp pháp bằng cách thu thập thông tin, đánh giá mức nguy cơ và nếu mức nguy cơ không phải là thấp, doanh nghiệp phải giảm thiểu nguy cơ sản phẩm gỗ bị khai thác bất hợp pháp khi nhập khẩu vào Úc.
Những luật này sẽ được áp dụng công bằng đối với nhà chế biến gỗ thô khai thác tại Úc. Các luật này không giám sát các đối tác thương mại của Úc mà chỉ áp đặt những yêu cầu lên các doanh nghiệp nhập khẩu vào Úc và tìm cách giảm thiểu nguy cơ gỗ khai thác lậu đang được đưa vào thị trường Úc.
Theo đó, doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Úc có thể phải cung cấp thêm thông tin về sản phẩm của họ để giúp doanh nghiệp nhập khẩu vào Úc làm đúng các yêu cầu về việc khảo sát tính hợp pháp.
Luật này nhằm hỗ trợ việc buôn bán gỗ khai thác hợp pháp, thông áp đặt yêu cầu nào lên đối tác thương mại của Úc hoặc các nhà xuất khẩu của họ. Thiết lập cách đối xử bình đẳng đối với nhà cung cấp gỗ bất kể nguồn gốc quốc gia. Áp dụng công bằng cho cả gỗ trồng tại Úc và gỗ nhập khẩu. Phù hợp với các nghĩa vụ thương mại của Úc.
Hiện, Chính phủ Úc đang cùng với các Chính phủ liên quan soạn thảo những Hướng dẫn chi tiết theo từng nước khác nhau. Nhờ những hướng dẫn này các nhà nhập khẩu sẽ có thêm thông tin về các luật về gỗ hiện nay của các đối tác thương mại quan trọng của Úc và có thể dễ thực hiện việc khảo sát tính hợp pháp. Tại trang mạng daff.gov.au/illegallogging sẽ đăng tải những hướng dẫn này.
Theo thống kê đến tháng 9/2014, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt 4,6 tỷ USD. Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 3,05 tỷ USD. Riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 110,2 triệu USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2013. (BizLive 11/11; Thời Báo Kinh Doanh 12/11, tr5) đầu trang(
Sau khi 7 lâm trường quốc doanh trên đất Sơn La được sắp xếp, đổi mới, sáp nhập, giải thể, chuyển hình thức quản lý (trước năm 2012) thì đến nay, tỉnh Sơn La còn lại 5 lâm trường dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên (TNHH NN).
Thời gian gần đây, các doanh nghiệp này đang rất chật vật tồn tại và luôn trong tư thế sẵn sàng… phá sản.
Mấy lần tìm đến Công ty TNHH NN một thành viên Sông Mã (huyện Sông Mã, Sơn La) nhưng giám đốc công ty đều đi vắng. Anh Đào Mạnh Tưởng - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sông Mã bảo: Bây giờ các giám đốc công ty lâm nghiệp chẳng mấy khi có nhà đâu. Vì mưu sinh, các vị ấy chạy tìm việc khắp nơi. Nhiều đơn vị phải làm thêm các nghề như: Làm chậu hoa, ươm cây cảnh… để lấy nguồn thu cho công nhân.
Nói về hiện tại và tương lai của đơn vị mình, ông Sa Văn Tiên - Giám đốc Công ty TNHH NN một thành viên Mộc Châu (huyện Mộc Châu), thật thà: Hàng chục năm gắn bó với nghề rừng, tôi coi đó như một phần quan trọng trong sự nghiệp của mình. Thời điểm huy hoàng, hàng chục công nhân và hàng trăm lao động. Nhưng giờ thì lo lắm, chúng tôi phải tìm việc cho công nhân, phải hạn chế những chi phí không cấp thiết. May mà vừa rồi, Hạt Kiểm lâm huyện đã có kế hoạch trồng mới mấy trăm ha rừng và công ty của tôi nhận được một ít việc trong khảo sát, thiết kế, ươm giống...
Theo ông Tiên, hiện các doanh nghiệp nghề rừng ở Sơn La đang bước vào giai đoạn khủng hoảng. “Dự án trồng rừng không có thì ươm giống cho ai? Khảo sát, thiết kế cái gì? Các cửa rừng đều đóng cửa thì lấy gì mà khai thác, chế biến? Mỗi khi đến công ty, thấy anh em chào mình là giám đốc mà thấy ngượng vì chưa lo được đời sống cho anh em đến nơi, đến chốn” – ông Tiên bảo vậy.
Ông Vũ Đức Thuận - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Sơn La cũng than rằng: Việc tạo thu nhập ổn định từ rừng cho các doanh nghiệp và người dân ở Sơn La là bài toán rất nan giải. Kinh phí để trồng rừng trong tỉnh hàng năm rất hạn hẹp, rất khó để tạo việc làm cho doanh nghiệp.
Còn sơ chế biến lâm nghiệp để tạo sinh kế cho người dân thì càng khó khăn hơn. Chúng tôi đang tính tới những phương án sản xuất mới cho nghề rừng ở Sơn La nhưng thật ra cũng chưa thuận lợi, chưa đủ sức hút với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh… (Nông Thôn Ngày Nay 11/11, tr13) đầu trang(
Thương mại lâm sản là một trong những lĩnh vực thương mại lớn và quan trọng trên thế giới, nhất là đối với những quốc gia đang phát triển và có thế mạnh về rừng. Thống kê thương mại lâm sản trong lĩnh vực lâm nghiệp sẽ là một công cụ hữu ích giúp cho thị trường lâm sản phát triển một cách bền vững và minh bạch.
Theo nhiều tổ chức nghiên cứu khác nhau trên thế giới như: Center for industrial studies, Prosperity Initiative… thì tổng giá trị thị trường lâm sản thế giới đạt 300-450 tỷ USD/năm, trong đó giá trị thương mại đồ gỗ toàn cầu dao động trong khoảng 130-150 tỷ USD/năm (năm 2013 giá trị này đạt trên 130 tỷ USD) và vẫn đang trong xu hướng tăng.
Tuy nhiên, việc phát triển mạnh mẽ thị trường lâm sản thường đi đôi với xu thế khai thác rừng quá mức và làm ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến môi trường toàn cầu. Chính vì vậy, phát triển thị trường lâm sản một cách bền vững là mối quan tâm hàng đầu đối với toàn nhân loại hiện nay.
Việc hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô của mỗi quốc gia, của các tổ chức liên chính phủ, tổ chức xã hội… cũng như việc hoạch định chiến lược phát triển ở tầm vi mô của các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh lâm sản một cách phù hợp, đảm bảo lợi ích của các bên là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững này.
Đối với các nhà hoạch định chính sách, thống kê về thị trường lâm sản sẽ giúp định hướng trong việc xây dựng các quy hoạch về thị trường, quy hoạch phát triển chế biến, phát triển thị trường, quy hoạch phát triển rừng sản xuất làm nguyên liệu phục vụ chế biến… Việc không hoặc ít quan tâm đến các số liệu thống kê thì sẽ dẫn đến chính sách đưa ra thiếu thực tế và không phát huy được tác dụng.
Đối với các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh lâm sản: Dựa trên các số liệu thống kê về thị trường lâm sản và dòng chảy của các loại sản phẩm chính trên những thị trường lớn sẽ giúp xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình… Các doanh nghiệp hoạch định chiến lược dựa trên các số liệu thống kê không chính xác thì việc làm ăn thua lỗ, công nhân mất việc và sự phá sản của doanh nghiệp cũng chỉ là chuyện của thời gian.
Nhận thức được tầm quan trọng của thống kê lâm sản trong phát triển bền vững, ngay từ những năm 40 của thế kỷ XX, nhiều chương trình thống kê thương mại lâm sản đã được thực hiện như: Chương trình đánh giá tài nguyên rừng và Chương trình thống kê lâm sản của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), chương trình thống kê lâm nghiệp củaTổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO), chương trình phục hồi và quản lý rừng bền vững của Mạng lưới châu Á -Thái Bình Dương (APFNet)… đều chỉ ra những vấn đề thống kê cần được quan tâm hàng đầu chính là những thông tin về sản xuất, sản lượng và thương mại các loại sản phẩm lâm nghiệp như gỗ tròn (roundwood), gỗ củi, than (fuelwood, charcoal), dăm mảnh (wood chips), gỗ xẻ (sawnwood), gỗ nhân tạo (wood-based panels), đầu cành, phoi gỗ và mùn cưa (particles and residues), gỗ làm giấy và phế thải của chúng (pulp and waste paper), cũng như các loại giấy và các tông (paper and paperboard)…
Đồng thời, các tổ chức quốc tế nói trên đều có những nỗ lực cần thiết để hướng đến việc sử dụng các thống kê này trong các hoạt động sản xuất, chế biến và kinh doanh lâm sản hướng đến việc sử dụng ngày càng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên rừng.
Từ năm 1947 đến nay nhiều hoạt động phổ biến kết quả thống kê đến người sử dụng như FAO Yearbook of Forest Products (từ năm 1947), FAOSTAT-Forestry online database (từ năm 1961), Pulp and paper capacity assessments (từ năm 1968), Statistical capacity development workshops (từ năm 1984)... cũng đã được tổ chức đáng kể. Các thống kê này đều có thể truy cập trên mạng theo địa chỉ http://www.fao.org/forestry/statistics.
Hiện tại có khoảng 250 lượt người truy cập mỗi ngày và 90.000 lượt truy cập mỗi năm đến từ 190 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đối với trang này. Mặc dù vậy, tính xác thực của các số liệu thống kê thương mại lâm sản là một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay. Trên bình diện quốc tế, nhiều số liệu thống kê là rất khó lý giải và sử dụng một cách hợp lý.
Ở Việt Nam, hiện không có một cơ quan, tổ chức nào nắm được chính xác lượng gỗ tròn, gỗ xẻ... nhập khẩu hàng năm. Các loại gỗ và sản phẩm gỗ như gỗ củi, than (fuelwood, charcoal), dăm mảnh (wood chips), gỗ xẻ (sawnwood), gỗ nhân tạo (wood-based panels), đầu cành, phoi gỗ và mùn cưa (particles and residues)... được sản xuất trong nước, sử dụng trong chế biến và kinh doanh trên thị trường cũng không có con số thống kê chính xác.
Ngay trong thống kê của Hải quan công bố hàng tháng cũng chỉ có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ mà thôi. Các đơn vị, tổ chức, cá nhân muốn có được các số liệu cụ thể liên quan đến kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu các loại gỗ và sản phẩm gỗ theo mã HS để hoạch định chính sách phát triển, chính sách hỗ trợ chế biến, thương mại... đều rất khó khăn, ngay cả khi phải bỏ ra một khoản kinh phí khá lớn để mua được các số liệu này thì việc theo dõi và phân tích cũng gặp nhiều trở ngại.
Điều trớ trêu là các số liệu như khối lượng gỗ tròn, gỗ xẻ, dăm gỗ, gỗ nhân tạo, mùn cưa... của Việt Nam cũng như của nhiều nước khác lại được công bố hàng năm trên thống kê của FAO (http://www.fao.org/forestry/statistics/84922/en/).
Việc không thống nhất số liệu trong thống kê thương mại lâm sản có rất nhiều nguyên nhân chi phối, có thể kể ra một số nguyên nhân chính như sau:
Một là, thiếu một hệ thống thống kê lâm sản lâm sản đủ mạnh để có thể thu thập và xử lý số liệu thống kê một cách hợp lý và chính xác. Nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển chưa có hệ thống kê lâm sản riêng biệt mà sử dụng các nguồn các thông tin khác nhau cho công tác thống kê nên thông tin thu được có độ chính xác không cao. Người làm công tác thống kê lâm sản thường là kiêm nhiệm và thiếu các kỹ năng thống kê cần thiết.
Hai là, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan thống kê trong và ngoài nước trong thực hiện thống kê lâm nghiệp nói chung và thống kê thương mại lâm sản nói riêng. Các số liệu thống kê của Hải quan, của Tổng cục thống kê và cơ quan chuyên ngành thường chưa được liên thông với nhau tạo ra sự thống nhất và hợp lý chung.
Ba là, các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh lâm sản chưa quan tâm nhiều đến thống kê thương mại lâm sản nên chưa có được những thống kê chính xác của chính đơn vị mình và cung cấp cho các cơ quan có trách nhiệm để thực hiện thống kê trong bình diện quốc gia và quốc tế dẫn đến có sự thiếu chính xác về số liệu thống kê. Mặt khác, nhu cầu sử dụng thống kê của các doanh nghiệp chưa cao nên chưa đòi hỏi những sự cải thiện cần thiết, phù hợp thực tế từ các cơ quan thực hiện thống kê.
Bốn là, các đơn vị đo sử dụng trong thống kê chưa hài hòa, thống nhất giữa các doanh nghiệp, các quốc gia. Chẳng hạn như ở Việt Nam tất cả đều sử dụng đơn vị BDMT trong giao dịch và thống kê dăm gỗ, song thống kê của FAO lại chỉ sử dụng duy nhất đơn vị là m3 cho mặt hàng này. Như vậy số liệu dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam trong thống kê của FAO chỉ có thể là số liệu quy đổi mà thôi.
Để giải quyết những bất cập trên đòi hỏi cần phải xem xét và xác định rõ các nguồn thông tin phù hợp trong thống kê thương mại lâm sản, thống nhất và chuẩn hóa các phương pháp thống kê được sử dụng. Đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị thực hiện thống kê lâm sản cả ở trong nước và ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, nâng cao năng lực và kỹ năng cho người làm công tác thông kê lâm sản cũng như đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và sử dụng thống kê lâm sản trong và ngoài nước, tạo nên nhu cầu lành mạnh trong sử dụng các thống kê này. (Bộ NNPTNT 13/11) đầu trang(
Dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát (DATRPHVC) của tỉnh TT-Huế được thực hiện theo Quyết định 661 của Thủ tướng Chính phủ về trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó xã Phong Hiền (H. Phong Điền, TT-Huế) là một địa phương được chọn triển khai dự án (DA) từ năm 2000- 2006 với tổng nguồn vốn hơn 2,3 tỷ đồng.
Mục tiêu của DA là phủ xanh đất trống đồi trọc, chắn gió, chắn cát và quan trọng nhất là tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người dân vùng DA. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện DA, hàng loạt cán bộ chủ chốt của xã Phong Hiền đã lợi dụng quyền hạn ký khống; cấp đất rừng cho người thân gây thất thoát tiền của của Nhà nước.
Ngay sau khi nhận được đơn tố cáo của người dân về khuất tất trong quá trình thực hiện DATRPHVC, Ủy ban kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy TT-Huế đã vào cuộc xác minh. Theo tố cáo của người dân, tình trạng RPHVC liên tiếp cháy tại xã Phong Hiền với diện tích gần 100ha là do sự phá hoại của một số đối tượng.
Ngoài ra, có 35 ha rừng phòng hộ bị khai thác trái phép. Theo UBKT, thời điểm triển khai dự án, ông Trần Văn Vĩnh, nguyên Chủ tịch UBND xã (hiện là cán bộ Hội Nông dân H. Phong Điền) lợi dụng quyền, giao cán bộ địa chính dẫn cán bộ Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tiến hành đo đạc lập thiết kế dự án.
Sau đó, BQLDA hợp đồng với ông Hoàng Bằng (Giám đốc Cty CP 1-5) triển khai trồng rừng. Để hoàn thành hồ sơ và các thủ tục thanh quyết toán thực hiện DA, ông Vĩnh đã chỉ đạo một số cán bộ xã và Cty CP 1-5 tự ý lập khống danh sách các hộ, cá nhân tham gia dự án, gồm cả nhận khoán trồng và chăm sóc bảo vệ. Có 41 trường hợp ghi khống tên hoặc không đúng đối tượng được cấp với diện tích hơn 221ha. Trong đó, có 24 trường hợp là cán bộ xã; số còn lại là cán bộ huyện và một số đối tượng trong dự án và ngoài dự án; có người đến từ địa bàn khác...
Điều đáng nói, chỉ có một người, nhưng trong danh sách cố tình ghi họ tên, chữ lót, năm sinh, địa chỉ khác nhau để thành nhiều người. Có trường hợp một hộ nhưng tách ra nhiều khẩu; nhiều cá nhân có tên trong danh sách trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nhiều năm liên tục.
Ví như chỉ với cái tên Trịnh Hữu Phước (cán bộ xã), nhưng được nhân bản thành 4 hộ, hay hộ ông Hoàng Bằng được "nhân bản" thành nhiều tên để được nhận chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng vùng cát xã Phong Hiền. Cùng với Hoàng Bằng, vợ của ông là Phạm Thị Chi, em ruột là Hoàng Nho cũng được "hưởng lợi" từ dự án này...
Theo UBKT Tỉnh ủy, việc triển khai DA đã không thực hiện đầy đủ mục tiêu, nguyên tắc và quy trình, thủ tục của DA như: không công khai, minh bạch về chủ trương trồng rừng của UBND tỉnh; trong lúc thực hiện không đưa ra bàn bạc trước chính quyền nhân dân, để nhiều cán bộ và người ngoài địa bàn tham gia DA (theo quy định là ưu tiên cho người trong vùng DA); tự ý lập hồ sơ để thanh quyết toán với BQLDA của tỉnh (một người ghi thành nhiều người, nhiều địa chỉ khác nhau để hợp đồng nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng.
Quá trình kiểm tra của UBKT Tỉnh ủy TT-Huế cho thấy, không chỉ ông Vĩnh sai phạm nghiêm trọng mà một số cán bộ chủ chốt của UBND xã Phong Hiền làm sai nguyên tắc, trình tự thủ tục trong tổ chức thực hiện DATRPHVC tại địa phương như các ông: Trương Bình Phương, nguyên Bí thư Đảng ủy xã (nay là Chủ tịch Hội Nông dân xã); Trịnh Hữu Phước, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã (nay là Phó Bí thư Thường trực, Chủ tịch HĐND xã) và Hoàng Văn Thủy, nguyên cán bộ địa chính xã (nay Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã).
Kết luận ngày 15-10-2014 của UBKT Tỉnh ủy cho biết, ông Hoàng Văn Thủy đã thực hiện sai quy trình thủ tục của DA trên địa bàn xã. Trong đó, ông Thủy đã bàn bạc, lập khống hồ sơ nhận khoán trồng và chăm sóc bảo vệ RPHVC để thanh, quyết toán với BQLDA tỉnh sai quy định. Ông Thủy còn "phù phép" ghi tên vợ là Phan Thị Lanh, con trai Hoàng Ngọc Thành trong hồ sơ nhận khoán trồng 42,5 ha và chăm sóc bảo vệ 26,7 ha rừng. Trung bình, mỗi héc-ta được DA chi trả hơn 2,9 triệu đồng.
Tương tự, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trương Bình Phương đã "hô biến" hơn 20 ha đất của DATRPHVC để cấp cho vợ là Hồ Thị Mộng Điệp. Ngoài ra, trong danh sách còn tên "khống" Hồ Thị Điệp, đây là tên "rút gọn" của vợ ông Phương ghi thêm vào để trục lợi từ DA. Ngoài ra, nguyên Chủ tịch UBND xã Trần Văn Vĩnh cũng đã đưa tên vợ Nguyễn Thị Loan nhận khoán trồng hơn 20 ha nhằm "moi" tiền của DA.
Ngoài việc quyết định xử lý kỷ luật cảnh cáo về Đảng đối với các cán bộ sai phạm, Tỉnh ủy TT-Huế chỉ đạo UBND H. Phong Điền rà soát, thu hồi diện tích giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ không đúng quy định hoặc chưa giao khoán để có phương án chuyển giao cho người dân có nhu cầu.
Ông Trương Diên Hùng, Chủ tịch UBND xã Phong Hiền cho biết, huyện đang tiến hành thu hồi toàn bộ diện tích 710ha của DA (trong đó có diện tích cấp đúng và diện tích cấp sai), sau đó bàn giao cho xã để lên phương án, thông báo công khai rộng rãi cho những hộ dân trên địa bàn xã có nhu cầu nhận khoán theo đúng quy định. (Công An TP Đà Nẵng 12/11) đầu trang(
Huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Ông Lê Tiến Phương – Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý giải pháp này trong cuộc họp thảo luận điều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020, diễn ra vào chiều 11/11.
Ngày 4/5/2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 59 về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm đầu kỳ (2011-2015) tỉnh Bình Thuận. Nghị quyết này đã điều chỉnh diện tích quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 là 333.579 ha.
Như vậy, tổng diện tích đất lâm nghiệp ở địa phương dự kiến đến năm 2020 chênh lệch giảm so với Quyết định 714 ngày 22/3/2011 của UBND tỉnh gần 12.700 ha. Hơn nữa, quá trình thực hiện từ sau khi quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt đến nay đã có sự thay đổi về một số chỉ tiêu bảo vệ và phát triển rừng như trồng mới, khoanh nuôi, cải tạo rừng nghèo kiệt. Do vậy, việc điều chỉnh quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 – 2020 là cần thiết.
Theo tính toán của các cơ quan chuyên môn, sau khi điều chỉnh, diện tích rừng đặc dụng của tỉnh tăng lên gần 1.200 ha. So với Nghị quyết 59 của Chính phủ diện tích rừng phòng hộ cũng tăng xấp xỉ 350 ha. Tính đến tháng 10 năm 2014, tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh gần 352.000 ha.
Dự án điều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận đã vạch ra những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ để quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng theo hướng lâm nghiệp hóa xã hội toàn dân. Trong giải pháp thực hiện, ông Lê Tiến Phương – Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý các ngành và địa phương việc huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Dự án điều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận là cơ sở định hướng cho các hoạt động bảo vệ phát triển rừng của tỉnh trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Dự án này sau khi được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt sẽ mang yếu tố pháp lý, khoa học để trở thành văn bản quan trọng trong việc quản lý đất đai và tài nguyên rừng trong phạm vi đất quy hoạch cho lâm nghiệp.
Việc bảo vệ tốt diện tích rừng, cây lâm nghiệp trồng phân tán góp phần làm tăng độ che phủ của rừng, lượng nước ngầm, chống xói mòn, rửa trôi đất, ngăn chặn lũ lụt, hạn chế tình trạng sa mạc hóa… ổn định sản xuất nông nghiệp cho nhân dân vùng đồng bằng. Việc khai thác cây phù trợ, cây trồng xen làm tăng sản phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp giấy, đồ mộc dân dụng. (Đài PTTH Bình Thuận 12/11) đầu trang(
Đến cuối tháng 10, huyện Bảo Thắng đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng được giao. Hiện, huyện Bảo Thắng đã trồng xong 700 ha rừng sản xuất theo kế hoạch giao. Diện tích rừng trồng được phân bổ tại 12 xã, trong đó tập trung chủ yếu ở các xã: Sơn Hà 136 ha, Gia Phú 100 ha, Xuân Quang 96 ha, Phong Niên 86 ha...
Năm nay, huyện Bảo Thắng trồng chủ yếu 3 loại cây: Quế 393,8 ha, mỡ 276 ha, keo 30,2 ha. Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đã cung ứng cho các xã gần 1,5 triệu cây giống đảm bảo chất lượng.
Sau khi hoàn thành công tác trồng rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bảo Thắng tập trung tuyên truyền, vận động người dân tích cực chăm sóc rừng trồng, đồng thời xây dựng kế hoạch, chuẩn bị quỹ đất và cây giống cho vụ trồng rừng năm 2015. (Báo Lào Cai 12/11) đầu trang(
Vì lan rừng là loài hoa khó trồng, nên cách đây hơn 10 năm, ý tưởng trồng lan rừng để phát triển kinh tế của anh Phạm Đức Tố (42 tuổi, ngụ tại thôn 6, xã Mađaguôi, huyện Đạ Huoai) được nhiều người cho là “thần kinh”.
Vậy mà, giờ đây anh đã trở thành ông chủ của một vườn lan rừng (giống Ngọc Điểm) gần như lớn nhất ở huyện Đạ Huoai và mỗi năm cho thu nhập trên cả tỷ đồng.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đông con, nghèo khó tại vùng “chiêm trũng” Hà Nam, năm 1999, anh Phạm Đức Tố khăn gói rời nơi “chôn nhau cắt rốn” vào vùng đất Đạ Huoai lập nghiệp. Lúc đầu, tại vùng đất hoang sơ này, anh mua được 0,5ha đất để cất nhà và làm kế sinh nhai.
Trong những năm đầu mới vào lập nghiệp, anh đã chọn nhiều loại cây ăn quả như mít, chôm chôm và sầu riêng để trồng thử; đồng thời, còn làm thuê, làm mướn để kiếm thêm thu nhập lo cuộc sống. Năm 2002, khi anh đang loay hoay tìm hướng đi khác để phát triển kinh tế, thì tình cờ anh được một người bạn ở TP Hồ Chí Minh giới thiệu về nghề trồng lan rừng.
Anh Tố tâm sự: “Ngày ấy, khi được nghe bạn bè nói nhiều về việc làm giàu bằng nghề trồng lan rừng, nên tôi mê lắm. Thế là, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã chọn giống lan rừng Ngọc Điểm (còn gọi là lan Tai Trâu hay Nghinh Xuân) để trồng thử 50 trụ”.
Thế nhưng, do mới tiếp cận với cây lan rừng, nên ngày qua ngày, anh dường như bất lực nhìn những trụ lan mình trồng cứ chết dần. Từ đó, anh nhận ra thiếu sót lớn nhất của mình chính là việc không hiểu biết về kỹ thuật trồng, chăm sóc lan. Dám nghĩ, dám làm, trong 2 năm đầu trôi qua, anh tìm hiểu nguyên nhân tại sao cây lan không thể phát triển được.
Và rồi anh nhận ra rằng, lan Ngọc Điểm thích hợp khi trồng trên cây vú sữa. Cùng với đó, việc điều tiết độ ẩm, nhiệt độ, nước và ánh sáng cho lan là vô cùng quan trọng và cần thiết. Từ đó, anh vay mượn để đầu tư làm nhà lưới, săn tìm nơi mua cây vú sữa và mày mò kỹ thuật chăm sóc lan.
Anh Tố chia sẻ: “Lan Ngọc Điểm là một trong những loại lan rừng có nguồn gốc từ Campuchia và Thái Lan. Loài lan này chỉ nở vào mùa xuân (nở đúng dịp tết) và rất quý, hiếm, nên được gọi là lan Nghinh Xuân. Để trồng được, đòi hỏi phải nắm vững kỹ thuật điều tiết độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng và nước tưới phù hợp.
Thông thường, lan Ngọc Điểm thích hợp với nhiệt độ khoảng 20 – 320C và độ ẩm từ 55 – 60%. Loài lan này ưa nước, nên vào mùa khô cần phải tưới nước thường xuyên để kích thích lan ra rễ; đồng thời, cần điều tiết ánh sáng ở mức từ 60 – 70% là đủ cho lan phát triển. Đặc biệt, người trồng lan cần phải thường xuyên “bám” vườn, theo dõi để kịp thời xịt thuốc, bón phân và phát hiện sâu bệnh để xử lý, không cho lây lan”.
Đến nay, vườn lan Ngọc Điểm của anh Tố đã có diện tích 2.000m2, được trồng trên 1.000 trụ bằng cây vú sữa cao từ 1,5 – 2m. Điều đặc biệt, lan của anh chỉ thu hoạch để bán giống và được tính theo kg. Hiện, mỗi trụ lan của anh cho năng suất từ 5 – 7 kg/năm. Lan giống chủ yếu được xuất bán tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Với giá bán từ 250 – 300 ngàn đồng/kg, mỗi năm mang lại cho gia đình anh nguồn thu nhập trên 1 tỷ đồng.
Cùng với anh Tố, hiện nay, trên địa bàn huyện Đạ Huoai đang có khoảng 15 hộ đầu tư trồng lan Ngọc Điểm. Hiện, các hộ trồng lan chủ yếu tập trung tại thị trấn Mađaguôi, xã Mađaguôi và xã Đạ Oai. Trong đó, anh Tố đang nhận hướng dẫn kỹ thuật cho 6 hộ.
Anh Tố niềm nở: “Mình là người đi trước và có hiểu biết được chút ít, nên ai cần tư vấn về những vấn đề liên quan đến lan rừng thì mình luôn sẵn sàng. Nhưng, trồng loại lan này vốn đầu tư rất lớn và đòi hỏi người trồng phải có tâm huyết với cây lan. Ngoài những yếu tố cần thiết về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và nguồn nước, thì phải chú ý đến môi trường xung quanh. Lan rừng không thích nghi với không khí ô nhiễm, nên cần trồng trong môi trường trong sạch, thoáng mát”.
Anh Phạm Quốc Thuần (ngụ tại tổ 11, thị trấn Mađaguôi), người được anh Tố giúp đỡ về kỹ thuật trồng lan, cho biết: “Thấy cây lan rừng phù hợp với vùng đất này, nên tôi đã đầu tư trồng để phát triển kinh tế. Hiện, tôi đang đầu tư trồng với diện tích 300m2 lan Ngọc Điểm. Tôi thật may mắn và yên tâm khi được một người am hiểu về cây lan rừng như anh Tố giúp đỡ về kỹ thuật. Dù công việc bận rộn, nhưng khi tôi cần, anh Tố luôn sẵn sàng tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm với tôi”.
Anh Nguyễn Trọng Thái, một người trồng lan khác (ngụ tại thôn 2, xã Mađaguôi), chia sẻ: “Chúng tôi là những người đi sau, không những được anh Tố hướng dẫn về kỹ thuật trồng, chăm sóc lan mà còn được anh giới thiệu cả thị trường xuất bán. Được sự giúp đỡ của anh Tố, chúng tôi rất yên tâm khi đầu tư trồng lan để phát triển kinh tế gia đình”. (Tin Tây Nguyên 12/11) đầu trang(
Thử làm một phép tính, bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng mới 4.000 ha rừng, nếu chỉ cần năng suất tăng 50m3/ha thì trong một chu kỳ trồng rừng với giá bán bình quân 1m3 cây keo lai thành phẩm là 750 ngàn đồng, thì có thể thu lợi gần 150 tỷ đồng.
Hiện, một số doanh nghiệp và chủ rừng đã đầu tư lựa chọn keo giống nuôi cấy mô, bởi đây là một điều cần thiết cho chiến lược trồng rừng đem lại giá trị kinh tế cao và bền vững.
Từ năm 2008, được dự án Nord-Pas de Calais của Pháp tài trợ cùng vốn tự có, Công ty TNHH NN MTV Lâm nghiệp Tiền Phong (Công ty LN Tiền Phong) đã bắt tay thực hiện mô hình nghiên cứu sản xuất keo giống nuôi cấy mô phục vụ trồng rừng. Nhiều ưu điểm vượt trội.
Được chọn từ cây bố là keo lưỡi liềm và cây mẹ là keo lá tràm, cho ra keo lai F1, rồi dùng cây F1 này cho sinh sản vô tính bằng nuôi cấy mô. Chị Lê Thị Thúy Nga, Đội trưởng Đội Thiên An, Công ty LN Tiền Phong cho hay, nhờ dùng giống đầu dòng, cây mô có những ưu điểm vượt trội: Sạch bệnh, nhân hàng loạt với mức độ đồng đều và được “trẻ hóa”.
Cây keo nuôi cấy mô có thân thường lên thẳng, ít phân cành, có rễ cọc chắc chắn, chịu được gió mạnh. Do đó, giống cây mô chỉ cần trồng thưa, lợi về nhiều mặt. Mặt khác, giống keo nuôi cấy mô có thể trồng thành cây lâu năm lấy gỗ với thời gian chừng 10 đến 12 năm, đem lại giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều.
Theo chị Lê Thị Thúy Nga, chính những ưu điểm vượt trội của cây mô nên hiện nay nhiều đơn vị và hộ tư nhân sử dụng để làm giống cây mẹ. Giống cây mô làm cây mẹ có tỷ lệ sống từ 90% đến 100% tại vườn ươm, trong khi cây lai hom dùng làm cây mẹ có tỷ lệ sống tại vườn ươm khoảng 70%.
Tốc độ phát triển ở ngoài rừng của 2 loại giống này cũng chênh lệch rõ rệt. So sánh với diện tích trồng rừng bằng cây mô của Công ty LN Tiền Phong từ năm 2012 đến nay, cây ngoài rừng đối với giống keo lai hom có tốc độ sinh trưởng từ 20 đến 25m3/ha/năm, nhưng với giống cấy mô có tốc độ sinh trưởng trên 35m3/ha/năm.
Để sản xuất giống keo nuôi cấy mô phải có đầu tư về công nghệ, con người, cần thời gian dài hơn, nên chi phí đầu vào về cây giống thường cao hơn. Nhưng ngược lại, keo lai từ nuôi cấy mô lại cho ra giống đồng loạt, số lượng lớn, tỷ lệ sống cao, phát triển tốt, đầu ra tăng cao gấp nhiều lần. Đây lại là vấn đề được nhà đầu tư, người trồng rừng quan tâm nhất để thu lợi lớn nhất.
Từ khi vào mẫu ban đầu đến khi ra vườn ươm, cây mô mất 7 đến 8 tháng. Giai đoạn từ vườn ươm để đưa vào trồng rừng mất thêm 4 đến 5 tháng. Nếu so về mặt thời gian thì tạo giống theo phương pháp giâm hom ngắn hơn cây mô, về mặt kỹ thuật cũng đỡ vất vả hơn và giá thành thấp hơn. Nhưng về lâu dài, nuôi cấy mô đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, như chống thoái hóa giống, độ đồng đều cây trồng cao và tạo ra sản phẩm hàng loạt, từ đó có thể hạ giá thành sản phẩm cây mô.
Theo lãnh đạo Công ty LN Tiền Phong, nếu đưa giống cây mô vào trồng rừng đại trà thì đây sẽ là một cuộc đại cách mạng về năng suất. Tuy nhiên, do việc nhìn nhận chưa đúng mức, nên đến nay giống cây mô vẫn chưa được các chủ rừng, đơn vị sử dụng nhiều.
Mặc dù chênh lệch về giá giữa giống cây mô khoảng 1.500 đồng/cây so với cây giâm hom, tức 1ha chỉ tăng thêm khoảng 2 đến 3 triệu tiền giống, nhưng khi thu hoạch thành phẩm lại tăng gần cả 100 triệu đồng/ha. Đây có lẽ cũng là lý do mà đến nay các đơn vị, chủ rừng còn đắn đo lựa chọn.
Thấy được hiệu quả vượt trội, đơn vị đã đặt vấn đề với nhiều địa phương nên đưa giống keo nuôi cấy mô vào trồng rừng, thậm chí chấp nhận hỗ trợ để làm mô hình trồng thử nghiệm. Song dường như các địa phương cũng như các ban ngành chức năng chưa quan tâm, nên đến nay loại giống này vẫn chưa được ứng dụng trồng rừng đại trà, mà chỉ được dùng để làm vườn giống cây mẹ.
Ở các nước phát triển, cây giống từ nuôi cấy mô đã sớm đưa vào nuôi trồng lâm nghiệp, nông nghiệp và đã trở thành ưu tiên số một cho nền công nghiệp nông nghiệp và công nghiệp lâm nghiệp. Ở nước ta, mô hình nuôi cấy mô đã có hơn 10 năm nay.
Một số địa phương đã sớm áp dụng mô hình này và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài keo lai nuôi cấy mô, Công ty LN Tiền Phong sắp đưa ra thị trường giống cây gừng, chuối bằng nuôi cấy mô để phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. (Báo Thừa Thiên Huế 12/11) đầu trang(
Chiều 12/11, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn chủ trì buổi làm việc nghe báo cáo tiến độ đo vẽ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và giao đất gắn với giao rừng, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo của Sở TN&MT, toàn tỉnh hiện đã triển khai đo vẽ trên 234/237 xã, đạt 98,7%. Trong đó, số xã đã nghiệm thu hoàn thành là 186/234, còn 48 xã đang tiến hành triển khai thực hiện. Về công tác đo đạc bản đồ đất lâm nghiệp, đến nay toàn tỉnh đã triển khai đo tại 126/168 xã với tổng diện tích 36.782ha, đạt 65%.
Trong công tác giao giấy chứng nhận cho người sử dụng đất, toàn tỉnh đã tiến hành bàn giao 9.372/9.619 GCNQSDĐ do cấp sai thẩm quyền, ký 62.912/66.925 GCNQSDĐ lần đầu và trao 55.203/62.912 GCNQSDĐ cho hộ gia đình, bàn giao 140.689 GCNQSDĐ cấp đổi cho người sử dụng đất.
Về kết quả giao đất, giao rừng, cấp giấy GCNQSDĐ lâm nghiệp, toàn tỉnh hiện có 147/147 xã đã hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án giao đất, giao rừng với tổng diện tích 55.842ha/21.553 hộ gia đình. Công tác thẩm định kết quả đo vẽ bản đồ địa chính cũng đã thực hiện được trên 11.248ha/24 xã.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn cho rằng, tiến độ đo vẽ địa chính, cấp GCNQSDĐ và giao đất gắn với giao rừng, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn chậm.
Qua đó cho thấy, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao, không bao quát, quán xuyến điều hành một cách quyết liệt; một số xã vẫn còn trì trệ trong triển khai thực hiện; sự phối hợp giữa tư vấn và huyện, xã vẫn còn nhiều vướng mắc.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Không thay đổi kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ vào ngày 31/12/2014; gắn với hoàn chỉnh hồ sơ đo vẽ, hồ sơ cấp là phải hoàn thành hồ sơ hoàn công lưu trữ; phải thực hiện thu tiền ngay sau khi trao hồ sơ; thực hiện cấp đất, cấp đổi, hoàn chỉnh các hồ sơ để phục vụ cho công tác thu hồi giao đất, cho thuê đất; soát xét lại số liệu để báo cáo một cách chính xác…
Về giải pháp thực hiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn yêu cầu: Đối với công tác đo vẽ, các địa phương chưa hoàn thành phải dồn sức làm một cách quyết liệt; cán bộ ngành Kiểm lâm bám sát, cùng với xã để việc đo vẽ đất lâm nghiệp được chính xác.
Về cấp giấy, ký giấy GCNQSDĐ, huyện cần chỉ đạo xã phối hợp với tư vấn hoàn chỉnh để sớm chuyển bìa, tổ chức các cuộc họp với các xã để cùng nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. (Báo Hà Tĩnh 12/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Công viên Virunga là công viên quốc gia lâu đời nhất của châu Phi. Suốt bảy năm qua, Andre Bauma – một kiểm lâm viên đã làm công việc chăm sóc những chú khỉ đột núi mồ côi tại đây. Ông nói rằng ông yêu thương những chú khỉ như những đứa con của mình.
Nằm trải dài từ bờ biển Địa Trung Hải đến các nước Đông Phi là Burundi, Rwanda, Trung Phi là nơi sinh sống của khỉ đột núi và các loài linh trưởng khác trong rừng mưa nhiệt đới.
Theo một báo cáo của quỹ bảo vệ động vật hoang dã, vấn đề buôn lậu động vật hoang dã và hủy hoại sinh thái nghiêm trọng ở châu Phi từ lâu đã là đề tài "đau đầu" đối với những người bảo vệ môi trường tự nhiên. Ngay cả chính quyền địa phương ở một số khu vực còn tuyên bố bất lực trước nạn săn bắn, buôn lậu các loài thú quý hiếm.
Ông Bauma đã giải cứu một chú khỉ đột núi - Ndakasi trong một hoàn cảnh thật đặc biệt khi mẹ của Ndakasi bị bắn ở cự li gần và Ndakasi vẫn bám chặt vào người mẹ “Tôi đã bế Ndakasi để đưa về trung tâm chăm sóc, lúc đó nó mới khoảng hai tháng tuổi và cân nặng chỉ một vài kilogram”, ông Bauma kể. Mỗi chú khỉ đột là một cá thể đặc biệt bởi vì nó là một loài sắp tuyệt chủng nên những kiểm lâm ở đây cần phải chăm sóc và bảo vệ chúng khỏi bọn thợ săn.
Ngay từ khi cứu sống Ndakasi, ông Bauma đã muốn dành cuộc sống của mình cho chú khỉ đột này “Tôi thấy những chú khỉ đột rất thông minh. Tôi có thể hiểu được giọng nói của chúng khi chúng sợ hãi một điều gì đó”, ông chia sẻ.
Ndakasi được sinh ra trong một gia đình khỉ đột núi gọi là Rugendo. Trong hai cuộc tấn công của thợ săn năm 2007, 7 chú khỉ đột núi trong số những thành viên đã bị giết hại.
Luật pháp quy định, cấm các hoạt động xâm phạm của con người vào hệ sinh thái của công viên. Tuy nhiên, săn bắt và buôn lậu các loài thú quý hiếm đang là vấn nạn ở đây. Bauma cho biết, kiểm lâm tại Công viên Virunga phải đối mặt với những mối nguy hiểm từ bọn thợ săn và người dân địa phương bởi cuộc sống nghèo đói, nên để có thể tồn tại họ sẵn sàng khai thác tài nguyên của công viên một cách bất hợp pháp. Từ năm 1996, đã có hơn 130 cán bộ kiểm lâm bị những kẻ săn trộm sát hại khi đang làm nhiệm vụ.
Bauma hiện đang phụ trách việc chăm sóc những chú khỉ đột núi mồ côi tại Trung tâm Gorilla, đặt tại trụ sở chính tại công viên ở Rumangabo. Ndakasi là chú khỉ đột đầu tiên được mang về đó chăm sóc nhưng chú khỉ đã sớm hòa nhập với Ndeze, một thành viên khác của gia đình Rugendo.
Trong năm 2010, hai chú khỉ khác là Maisha và Kaboko đã được giải cứu khỏi những tên săn trộm. Kaboko đã bị dính bẫy và mất một bàn tay. Nó qua đời vào năm 2012. Kể từ đó có thêm những chú khỉ mồ côi khác cũng được đưa về trung tâm để chăm sóc. Matabishi là một chú khỉ bị bỏ rơi bên ngoài công viên.
Không ai tin rằng Ndakasi có thể tồn tại, nhưng chú khỉ đã phát triển được 65kg và rất khỏe mạnh. “Nó như một đứa trẻ, bất cứ khi nào nó nhìn thấy tôi nó đều trèo lên lưng tôi như thể tôi là mẹ nó vậy” Bauma nói. Ở đây, các kiểm lâm viên giao tiếp với khỉ đột bằng sự kết hợp của cử chỉ và giọng nói.
Trong thực tế, giao tiếp không phải là vấn đề quan trọng, Bauma nói."Tôi thấy chúng rất thông minh và tôi có thể hiểu được bất cứ điều gì. Tôi có thể nghe bằng giọng nói của chúng nếu chúng đang sợ hãi điều gì đó, nếu chúng đang lo lắng, nếu chúng không thích thức ăn, nếu chúng cảm thấy đang gặp nguy hiểm ... Thì sẽ có những âm thanh khác nhau để ra hiệu cho chúng tôi hiểu. Chúng tôi đã chăm sóc chúng hàng ngày nên tôi có thể hiểu được tâm trạng của chúng”.
Công viên quốc gia Virunga là một trong những khu bảo tồn đa dạng sinh học lớn nhất trên hành tinh. Nó được thành lập năm 1925 chủ yếu để bảo vệ khỉ đột núi. Theo Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF), công viên này là nơi sinh sống của hơn 3.000 loài động vật, trong đó có loài khỉ đột núi đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo cảnh báo của giới quan chức bảo vệ đời sống hoang dã, loài khỉ đột núi Châu Phi đang bị đe dọa nghiêm trọng. Bên cạnh đó, nạn buôn lậu khỉ đột núi con- mỗi con có giá đến 40.000USD ( khoảng 830 triệu VNĐ) cũng đang gia tăng và nếu không có biện pháp ngăn chặn loài vật này sẽ sớm bị tuyệt chủng.
Theo số liệu thống kê, trên thế giới hiện nay chỉ còn lại khoảng 790 cá thể khỉ đột núi – trong đó khoảng 480 con sống trong khu Công viên Quốc gia bảo tồn động vật hoang dã Virunga (thuộc lãnh thổ của 3 quốc gia – Cộng hòa Dân chủ Côngô, Rwanda và Uganda). (Công Lý 12/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||