Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
17 giờ hôm 11.11, ông Vương Khả Kim, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng), cho biết vừa tìm được thi thể anh Đỗ Văn Nam (24 tuổi), cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc bị tai nạn trên hồ thủy điện Đồng Nai 4 vào chiều 8.11.
Trước đó, qua tuần tra tại các tiểu khu 372 và 375, đội công tác của Công ty Lộc Bắc phát hiện chiếc xuồng của Voòng Coón Mủ (19 tuổi), ngụ xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong (Đăk Nông), chở gần 40 khúc gỗ dầu trái phép cùng một số máy móc, phương tiện khai thác rừng.
Sau đó, 4 cán bộ Công ty Lộc Bắc cùng 1 kiểm lâm lên xuồng của Mủ để áp giải tang vật về điểm tập kết. Khi chỉ còn cách bờ khoảng 40 mét thì tai nạn xảy ra khiến anh Phạm Ngọc Kiên (33 tuổi, cán bộ công ty), anh Nam và Mủ mất tích; 3 người khác may mắn thoát nạn.
Do mực nước hồ sâu gần 100 m, nên từ ngày 9.11, Công an tỉnh Lâm Đồng đã nhờ Công an TP.HCM hỗ trợ 17 thợ lặn chuyên nghiệp, cùng các thiết bị định vị, máy rà… đến thủy điện Đồng Nai 4 tìm kiếm các nạn nhân và chiều 9.11 đã tìm được thi thể anh Kiên.
Các cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng, cùng Công an huyện Đắk Glong tiếp tục tìm kiếm Voòng Coón Mủ, nạn nhân cuối cùng trong vụ tai nạn. (Thanh Niên 12/11; Nông Nghiệp Việt Nam 12/11) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều đối tượng lén lút vào rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Núi Một khai thác lâm sản trái phép, xâm hại nghiêm trọng đến hệ thống rừng phòng hộ nơi đây. Trong khi đó, dường như ngành chức năng và chính quyền địa phương chưa tìm ra giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý.
Tìm về khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn (RPH) hồ Núi Một - địa bàn giáp ranh giữa huyện Vân Canh, Tây Sơn và thị xã An Nhơn (Bình Định) để tìm hiểu mức độ xâm hại mà những cánh rừng nơi đây đang phải đối mặt.
Ông Nguyễn Hữu Chiến, Chỉ huy phó Ban Chỉ huy quân sự xã Nhơn Tân (TX.An Nhơn) chia sẻ: “Nhìn bên ngoài, những cánh rừng tại khu vực RPH hồ Núi Một có vẻ “yên”, nhưng vào sâu bên trong thì khá “động”; các đối tượng lâm tặc thường xuyên vào rừng để khai thác gỗ, đặc biệt là khu vực rừng thuộc địa bàn huyện Vân Canh. Do các đối tượng hoạt động lén lút nên việc truy quét tận gốc, ngay tại địa điểm khai thác gặp không ít khó khăn. Hầu hết các vụ phát hiện, bắt giữ tang vật, phương tiện chỉ được ngành chức năng thực hiện khi các đối tượng đang trên đường vận chuyển gỗ bán thành phẩm (gỗ đã được cưa xẻ, sơ chế bước đầu - NV) đi tiêu thụ”.
Còn theo thống kê của Trạm Kiểm lâm (KL) An Trường, Hạt KL TX.Nhơn An: Từ đầu năm đến nay, qua tuần tra, kiểm soát tại khu vực RPH hồ Núi Một - thuộc địa bàn thôn Thọ Tân Bắc và Thọ Tân Nam (xã Nhơn Tân) - Trạm đã phát hiện 7 vụ vận chuyển lâm sản trái phép (trong đó có 3 vụ phát hiện vào tháng 9/2014); qua đó, thu giữ 1,145m3 gỗ (chủ yếu là gỗ Gụ Lau nhóm IIA) và 9 xe mô tô các loại.
Hầu hết các đối tượng vi phạm khi bị lực lượng tuần tra phát hiện đều vứt bỏ tang vật, phương tiện tại hiện trường để thoát thân. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng các đối tượng lâm tặc vẫn âm ỉ xâm hại rừng tại RPH hồ Núi Một. Bởi việc bắt giữ tang vật, phương tiện chỉ là xử lý “phần ngọn”; các đối tượng lâm tặc sau khi thoát thân lại tiếp tục lén lút vào rừng để khai thác, chặt phá gỗ - đây mới chính là “phần gốc” cần ngăn chặn triệt để, nhưng dường như ngành chức năng chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết.
Qua tìm hiểu được biết, sau khi triệt hạ cây gỗ, để vận chuyển ra khỏi rừng và đưa đi tiêu thụ, các đối tượng lâm tặc chủ yếu đi theo các hướng từ hồ Núi Một ra địa bàn thôn Thọ Tân Bắc và Thọ Tân Nam; hướng từ hồ Núi Một qua địa bàn xã Vĩnh An, Tây Xuân (Tây Sơn); hướng từ hồ Núi Một qua địa bàn làng Canh Tiến (xã Canh Liên), rồi sau đó tìm cách vận chuyển về địa bàn thị trấn Vân Canh (Vân Canh).
Tùy vào thời điểm, tình hình mà đối tượng lâm tặc chọn hướng đi sao cho việc vận chuyển gỗ được an toàn; hạn chế thấp nhất việc “đụng mặt” với lực lượng chức năng. Với nhiều biện pháp đối phó tinh vi, việc các đối tượng lâm tặc “vượt ngoài tầm kiểm soát” của lực lượng chức năng là điều không quá hiếm.
Ông Nguyễn Văn Chiến, Trạm trưởng Trạm KL An Trường khẳng định: “Hiện các cánh rừng thuộc RPH hồ Núi Một nằm trên địa bàn TX.An Nhơn không xảy ra tình trạng lâm tặc chặt phá, khai thác cây rừng; tại địa phương chỉ có tình trạng lâm tặc sử dụng đường đi từ hồ Núi Một qua thôn Thọ Tân Nam và Thọ Tân Bắc để vận chuyển lâm sản trái phép.
Trước thực trạng này, Trạm thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và Trạm Quản lý, bảo vệ rừng hồ Núi Một - thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện Vân Canh tăng cường tuần tra, kiểm soát, mật phục để ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng cùng tang vật, phương tiện. Thế nhưng, hầu hết các đối tượng khi bị phát hiện đều tìm cách “bỏ của chạy lấy người” nên khó giải quyết, xử lý triệt để”.
Trong khi đó, ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc BQLRPH huyện Vân Canh cho biết: “BQL thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng của huyện Vân Canh và Tây Sơn lập trạm chốt chặn, kiểm tra tại khu vực giáp ranh giữa 2 địa phương để kiểm soát, truy quét cả bên trong lẫn bên ngoài khu vực RPH hồ Núi Một nhằm ngăn chặn, xử lý các đối tượng lâm tặc.
Tuy nhiên, do các đối tượng lâm tặc hoạt động lén lút, tìm cách né tránh nên công tác tuần tra, xử lý gặp nhiều khó khăn. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục chỉ đạo Trạm Quản lý, bảo vệ rừng hồ Núi Một cũng như phối hợp với lực lượng chức năng tăng cường kiểm soát, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi xâm hại đến RPH hồ Núi Một”. (Pháp Luật VN 12/11) đầu trang(
Không chỉ những khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ bị xâm hại nghiêm trọng, rừng phục vụ du lịch sinh thái ở tỉnh Đắk Lắk cũng đang bị lâm tặc tàn phá, các loại gỗ quý hiếm đang mất dần.
Năm 2005, UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Cty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk (trụ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột) hơn 1.333 ha đất rừng tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn với mục đích quản lý bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường thiên nhiên và phục vụ du lịch sinh thái - văn hóa.
Sau 8 năm tiếp nhận đất rừng, năm 2013, Cty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk bàn giao diện tích rừng trên cho Công ty Cổ phần Thương mại và Du lịch Bản Đôn tiếp tục kinh doanh du lịch. Hiện nay, Cty Cổ phần Thương mại và Du lịch Bản Đôn ngừng hoạt động để tái cơ cấu quản lý nhân sự.
Trong khi các cơ quan chức năng làm thủ tục chuyển giao diện tích đất và rừng nói trên, khu rừng sinh thái bị xâm hại nghiêm trọng, nhiều cây gỗ quý đã bị lâm tặc đốn hạ.
Tại Khu du lịch Văn hóa - Sinh thái Bản Đôn những ngày cuối tháng 10, từ cổng chính vào trung tâm khu du lịch không một bóng người, cỏ mọc quanh các khu nhà.
Một nhân viên bảo vệ tại cổng chính nói: “Khu du lịch đang tạm thời đóng cửa để tu sửa”. Hai bên đường bê tông, đường lát đá xanh dẫn vào rừng sinh thái, nhiều cây gỗ lớn có đường kính khoảng 40cm bị hạ nằm ngổn ngang.
Tiến sâu vào rừng, hàng chục cây gỗ quý như căm xe, giáng hương, lim xẹt đường kính 50 - 60cm, lim đường kính 1,2m bị lâm tặc đốn hạ. Nhiều cây đã bị lấy đi phần lõi, chỉ còn lại ngọn và gốc. Không ít cây mới bị đốn hạ, lá còn xanh, mủ chảy quanh gốc, các lóng gỗ nằm chỏng chơ.
Chị L.T.T.V, một người dân địa phương kể: “Hạ cây xong, lâm tặc dùng cưa máy xẻ cây gỗ thành lóng dài từ 1 - 1,5m rồi vận chuyển ra khỏi rừng bằng xe máy. Những cây gỗ lớn, lâm tặc xẻ bìa thành gỗ hộp vuông vắn rồi mới đưa ra ngoài”.
Ông Y Thông Niê Kđăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na, cho biết, 3 năm qua, lâm tặc chặt phá tan nát khu rừng sinh thái Bản Đôn, những cây gỗ lớn đường kính 50 - 60cm hiện không còn. “Chủ rừng phải có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và báo cáo cơ quan chức năng phối hợp khi phát hiện rừng bị xâm hại, nhưng chủ rừng sinh thái này lại bỏ mặc cho lâm tặc phá rừng”, ông Thông nói.
Ông Bùi Văn Khang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn, UBND huyện Buôn Đôn. cho biết, thời gian qua, lực lượng liên ngành đã xử lý nhiều vụ vi phạm khai thác rừng, phá rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ nhiều tang vật và xử phạt một số lâm tặc. Giữa tháng 10, Hạt Kiểm lâm huyện thu giữ 5 xe máy chế phục vụ khai thác lâm sản trái phép.
“Lực lượng kiểm lâm đang phối hợp với các ban ngành huyện cắt cử người tuần tra canh giữ, bảo vệ rừng sinh thái. Tham mưu UBND huyện kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá năng lực của chủ rừng. Nếu chủ rừng không quản lý, bảo vệ được diện tích rừng đã giao, đề nghị UBND tỉnh thu hồi giao cho đơn vị khác có năng lực quản lý bảo vệ” – ông Khang cho biết thêm. (Tiền Phong 12/11) đầu trang(
11/11 Công an Kon Tum cho biết, qua công tác tuần tra, Đội tăng cường công tác Nam Sa Thầy (Kon Tum) tiếp tục phát hiện thêm vụ khai thác gỗ trái phép tại khoảnh 16, tiểu khu 7 và tiểu khu 40 do Lâm trường Sê San thuộc lâm phần quản lý của công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sa Thầy.
Tại hiện trường có 16,38m3 gỗ hộp gồm các loại bằng lăng, dầu nước, chò xót, các đối tượng chưa kịp vận chuyển.
Trước đó, Đội tăng cường công tác Nam Sa Thầy, Công an Kon Tum cũng đã phát hiện và bắt giữ 5 đối tượng khai thác trái 26 m3 các loại ở tiểu khu 739, xã Ia Tơi do Lâm trường Sê San, thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy, Kon Tum. (Công An Nhân Dân 12/11) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre cho biết, đợt triều cường mới đây đã làm một đoạn rừng phòng hộ xung yếu ở xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri bị sạt lở nghiêm trọng.
Có gần 50m đất rừng với hàng trăm cây dương bị sụp đổ xuống biển, chiều sâu đoạn rừng bị sạt lở khoảng 3m. Hiện tại, trên 65km bờ biển của tỉnh Bến Tre còn có 6 điểm rừng phòng hộ xung yếu có nguy cơ bị sạt lở khi triều cường dâng cao kèm theo sóng lớn. Đó là các điểm thuộc khu vực cồn Bửng (xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú); Cồn Ngoài (xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri); Cồn Nghêu (xã Thừa Đức, huyện Bình Đại).
Đối với các khu vực sạt lở nhẹ, người dân chủ động dùng bao cát gia cố. Riêng những điểm sạt lở “hàm ếch” thì khó khắc phục vì cần nguồn kinh phí lớn.
Ông Nguyễn Quang Kiệt - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng tỉnh Bến Tre cho biết, phải tạo một vành đai chắn sóng để bảo vệ cây rừng bên trong. Hiện tại người dân đã trải bạt, đấp bao cát để bảo vệ đất. Riêng công trình lớn chưa có giải pháp xử lý.
Hiện Ban quản lý chỉ đạo cho các phân khu sử dụng cây bị sạt lở chấn trở lại nhằm bảo vệ số cây rừng bên trong. (VOV 12/11) đầu trang(
Rùa biển đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái biển với những giá trị bất biến, đồng thời cũng là chỉ số cho thấy sự nguyên vẹn của một khu vực nhất định. Nếu không có các biện pháp bảo vệ kịp thời các loài rùa biển sẽ đứng trước bờ vực tuyệt chủng.
Theo nghiên cứu của các nhà bảo tồn động vật biển, rùa biển có tuổi thọ cao (từ 60 - 100 năm) và vòng đời rất phức tạp, mỗi giai đoạn lại yêu cầu một sinh cảnh sống khác nhau như bãi cát, thảm cỏ biển, rạn san hô, rạn đá, vùng nước sâu. Tuy số lượng ổ trứng và số trứng trong một ổ cao nhưng tỷ lệ tử vong ở giai đoạn con non rất lớn (lên đến 60%), nên ước tính chỉ 1/1000 con non có thể sống sót đến giai đoạn trưởng thành. Do đó, nếu rùa trưởng thành bị tận diệt và trứng của chúng bị lấy hết thì quần thể đó sẽ bị tiêu diệt sau một vài thập kỷ.
Tại Việt Nam, rùa biển mới chỉ được đưa vào trong danh mục các loài cấm khai thác từ những năm 90 của thế kỷ trước và hiện tại việc bảo vệ rùa biển ở nhiều địa phương còn nhiều hạn chế. Điều này góp phần làm cho quần thể rùa biển tại Việt Nam bị thu hẹp cả về số loài cũng như số lượng cá thể trong từng loài.
Theo báo cáo về “Công tác bảo tồn rùa biển tại Việt Nam” của TS Chu Thế Cường (Viện Tài nguyên và Môi trường biển), hiện nay các loài rùa biển đang suy giảm nghiêm trọng. Trong đó, vích suy giảm 75%, đồi mồi và đồi mồi dứa suy giảm 95%, rùa da suy giảm 99%. 4 trong số 5 loài rùa biển ở Việt Nam đã từng sinh sản, 1 loài chỉ kiếm ăn không sinh sản tại vùng biển Việt Nam (quản đồng).
Trước năm 1975, rùa biển sinh sản tại 13 trong số 27 tỉnh ven biển. Đơn cử như loài rùa da đã bị suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 1 - 2 con đẻ trứng mỗi năm tại khu vực miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, các khu vực khác hầu như không có. Các địa phương hiện còn ghi nhận loài rùa da sinh sản là Khánh Hòa (tháng 6/2013) và Quảng Trị (tháng 6/2014) .
Nguyên nhân được chỉ ra là do tình trạng đánh bắt trực tiếp bằng các phương tiện đánh bắt như câu kiều, lưới quàng, nghề lặn, bắt rùa mẹ khi lên đẻ, thu nhặt trứng rùa biển. Đáng chú ý là các hoạt động phát triển kinh tế như nuôi tôm trên cát, khai thác cát, phát triển du lịch, rác thải và phát triển cơ sở hạ tầng tại vùng ven biển là những nguyên nhân chính gây nên tác động tiêu cực đến nơi sinh sản của rùa biển.
Ngoài ra, sự gia tăng tiếng ồn và ô nhiễm biển từ dầu thải, chất thải lục địa đã tác động tới các quần thể rùa biển và các loài khác khi chúng ăn, bị vướng phải, bị thương, bị tắc hệ thống tiêu hóa hay làm giảm diện tích nơi kiếm ăn và sinh sản. Những yếu tố này cũng góp phần làm tăng tỷ lệ rùa biển bị tử vong tại Việt Nam.
Có thể thấy, những năm gần đây, các cơ quan Chính phủ và tổ chức quốc tế, phi Chính phủ đã có những nỗ lực rất lớn nhằm ngăn chặn việc sử dụng các phương pháp khai thác hải sản mang tính hủy diệt và đã có các phương án bảo vệ, sử dụng hợp lý các hệ sinh thái biển và vùng ven biển.
Hiện Việt Nam đã xây dựng cơ sở dữ liệu về rùa biển; thiết lập bản đồ vùng rùa biển làm tổ đẻ trứng; cứu hộ, chăm sóc rùa con; theo dõi vùng kiếm ăn, sinh cư của rùa biển...
Công tác  bảo vệ rùa biển được quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia là CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng), Biên bản thỏa thuận về bảo tồn và bảo vệ rùa biển tại khu vực Đông Nam Á tháng 9/1999, Biên bản thỏa thuận về bảo tồn và quản lý rùa biển và nơi sinh sống của chúng tại khu vực Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tháng 7/2001.
Cùng với đó, Luật BVMT đã quy định nghiêm cấm khai thác, kinh doanh các loài thực, động vật quý, hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ, một số điều khoản thuộc Luật Đa dạng sinh học, và Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Như vậy tất cả các hành vi khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến rùa biển và các sản phẩm từ rùa biển đều vi phạm pháp luật, bất kể nó được đánh bắt từ đâu.
Quy định là vậy, nhưng theo các chuyên gia, sự phối hợp liên ngành, phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành và một số quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học còn chồng chéo. Đây được xem là nút thắt trong quản lý và bảo tồn loài sinh vật này.
Theo quy định của Luật ĐDSH (2008), Bộ TN&MT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về ĐDSH (Điều 6 khoản 2). Tuy nhiên, hiện tại, công tác bảo tồn rùa biển tại Việt Nam chủ yếu do các Ban quản lý Vườn quốc gia, Khu bảo tồn biển và các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các địa phương có biển (thuộc Bộ NN&PTNT) thực hiện. Cùng là một đối tượng bảo tồn nhưng các loài rùa biển lại bị chi phối bởi nhiều bộ luật quản lý như Luật Thủy sản, Luật ĐDSH, Luật BVMT... với nhiều cơ quan thực thi khác nhau đã làm cho trong quá trình thực hiện gặp nhiều trở ngại.
Đã đến lúc cần có hành động mạnh mẽ và quyết liệt trong bảo tồn và phát triển loài rùa biển trước những nguy cơ tuyệt chủng đang hiện hữu. (Tài Nguyên & Môi Trường 11/11, tr6) đầu trang(
Chiều 11/11, tại TP Huế, Trung tâm phát triển nông thôn miền trung thuộc Trường Đại học Nông lâm Huế phối hợp cùng mạng lưới đất rừng (Forland) tổ chức hội thảo Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) 2004 tại Thừa Thiên - Huế.
Nhằm góp phần thực hiện đánh giá luật bảo vệ và phát triển rừng sau 10 năm thực hiện, Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung đã phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai đề tài “ đánh giá công tác bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng và hộ gia đình tại 3 tỉnh Đắc Lắc, Hòa Bình và tỉnh Thừa Thiên - Huế”.
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu về tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật BV&PTR 2004, từ năm 2000 - 2011, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao được 19.322 ha rừng cho người dân quản lý bảo vệ. Trong đó, cộng đồng được giao 14.131 ha, nhóm hộ được giao 4.183 ha và hộ gia đình được giao 1.007 ha.
Tại hai địa bàn nghiên cứu, huyện A Lưới tính đến hết năm 2013, huyện này đã giao 15.690 ha rừng tự nhiên cho 50 hộ gia đình, 120 nhóm hộ, 26 cộng đồng cư thôn và 1 tổ chức là đồn biên phòng Nhâm quản lý.
Ngoài ra, huyện còn giao 48.630 ha rừng và đất rừng cho các BQL, khu bảo tồn; tại huyện Nam Đông có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 53.371 ha, trong đó, đã giao cho các BQL rừng phòng hộ Nam Đông và Vườn Quốc gia Bạch Mã là 37.193ha, giao cho hộ gia đình là 7071 ha, cộng đồng quản lý là 4.618 ha, nhóm hộ quản lý là 1.034 ha và UBND các xã quản lý 2.453 ha.
Ở tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện có 73 cộng đồng dân cư thôn được giao 14.131 ha rừng tự nhiên, trong đó huyện A Lưới có 26 cộng đồng và Nam Đông có 32 cộng đồng. Tuy nhiên, kết quả khảo sát ở các điểm tham vấn cho thấy chưa có cộng đồng nào đảm bảo được sự tham gia nhận rừng như luật định.
Đã có những ý kiến trao đổi, thảo luận về những vấn đề thực tế được phát hiện tại địa bàn tham vấn như quy định giao rừng cho cộng đồng dân cư; giao rừng cho nhóm hộ; chậm hoàn tất thủ tục cấp, đổi GCNQSĐ đất, bất cập trong chính sách đền bù, đổi đất lâm nghiệp…
Qua đó, nêu lên đề xuất, kiến nghị trong việc trong thực hiện Luật BV&PTR như: giao rừng phải gắn với giao đất; cần có quy định quyền hạn của chủ rừng… (Giáo Dục & Thời Đại 11/11) đầu trang(
Nhờ có các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nên những năm gần đây nhận thức của người dân huyện Phong Thổ (Lai Châu) trong lĩnh vực này ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Bên cạnh các hình thức tuyên truyền thì nhận thức của bà con nơi đây ngày càng được nâng cao từ ngày được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo ông Nguyễn Đình Hoà, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phong Thổ thì chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách vô cùng ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
“Đây chính là “lối thoát” trong việc huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách Nhà nước cho các chủ rừng là tổ chức. Còn đối với các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân thì số tiền chi trả chính là động lực để họ cải thiện cuộc sống, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng. Bởi với mức hỗ trợ bảo vệ rừng từ ngân sách Nhà nước hiện nay là 300 nghìn đồng/ha/năm còn thấp, không tạo ra động lực, điều kiện thuận lợi cho các hộ dân phát huy khả năng bảo vệ rừng” – ông Hoà nói.
Đến nay trên địa bàn huyện Phong Thổ có hơn 12.000 hộ thuộc 17 xã và 1 thị trấn tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Trong đó, Nậm Xe là xã đứng đầu cả huyện về số tiền dịch vụ môi trường rừng được hưởng. Năm 2013 bà con trong xã được nhận gần 2,2 tỷ đồng với diện tích được chi trả là 6724, 6 ha.
Bà con đã hiểu có rừng là có thảo quả, có táo mèo, có nguồn nước, có mùa màng, có cuộc sống sung túc và hơn thế nữa mỗi năm tất cả các hộ dân trong xã tham gia bảo vệ rừng đều được nhận một khoản tiền đáng kể.
Ông Voòng Cá Lành, thôn Pa So, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ cho biết: “Năm ngoái, nhà tôi được nhận 130 triệu đồng tiền bảo vệ rừng với mức phí gần 318 nghìn đồng/ha và năm nay dự toán là 700 nghìn đồng/ha. Chúng tôi vui lắm và ai cũng tự giác bảo vệ rừng. Bây giờ trong mỗi lần họp thôn, trưởng thôn bao giờ cũng dành ít thời gian tuyên truyền bảo vệ rừng. Mỗi khi trẻ con vào rừng người lớn đều tịch thu máy lửa, diêm… để phòng cháy rừng. Thôn chúng tôi còn đề ra hương ước nếu ai tự ý vào rừng để hái măng, lấy củi, phá rừng, xâm hại rừng… sẽ bị phạt bất kể đó là ai và ở đâu”.
Theo đánh giá của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phong Thổ thì thời gian gần đây ý thức bảo vệ rừng của nhân dân được nâng lên đáng kể. Tính đến năm 2013, toàn huyện đã có 166 tổ, đội xung kích bảo vệ rừng. Khi xảy ra cháy, hoặc có dấu hiệu cháy rừng các thành viên của các tổ, đội xung kích nhanh chóng có mặt để bảo vệ rừng. Nhiều bản, xã liên tiếp nhiều năm liền không để xảy ra cháy rừng, chặt phá rừng bừa bãi.
Theo ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Phong Thổ thì BCĐ- PCCCR huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ban ngành đoàn thể, đài truyền thanh truyền hình tổ chức họp các thôn bản, tuyên truyền di động bằng loa phát thanh, tranh tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR giữa các hộ gia đình với các ông trưởng bản ... Từ kết quả tuyên truyền trên đã làm chuyển biến rõ rệt về ý thức bảo vệ rừng và PCCCR của người dân, từ đó góp phần giảm thiểu các vụ cháy rừng, phá rừng và các vi phạm khác trên địa bàn.
Theo bà Đỗ Thị Liễu, vợ của ông Vòong Cá Lành thì để có được chi phí trang trải cho cuộc sống sinh hoạt gần 7 triệu đồng mỗi tháng của cả gia đình, ông bà phải kết hợp giữa trồng rừng với khoanh nuôi tái sinh và ươm cây trồng rừng.
Mặc dù kinh tế từ trồng rừng mang lại không cao nhưng ông bà vẫn yêu nghề, yêu rừng và muốn gắn bó với nghề, với rừng mãi mãi bởi ông bà hiểu được giá trị và ý nghĩa mà rừng mang lại cho cuộc sống của ông bà cũng như của nhiều gia đình khác trong huyện. (Tài Nguyên & Môi Trường 11/11) đầu trang(
Theo Sở NNPTNT Hà Nội, hiện nay trên địa bàn huyện Sóc Sơn dịch sâu róm hại thông phát triển mạnh.
Trong số hơn 1.800ha rừng do Trung tâm phát triển lâm nghiệp quản lý đã phát hiện gần 190ha rừng thông bị sâu róm gây thiệt hại. Trong đó diện tích nhiễm nặng cần phun thuốc phòng trừ là 85,1ha; diện tích cần tiếp tục theo dõi 104,1ha.
Mật độ sâu trung bình từ 30-70 con/cây, cao 150-300 con/cây. Sở NNPTNT đã mời các cơ quan chức năng, đơn vị chuyên môn và nhà khoa học của Cục Bảo vệ thực vật, Viện Bảo vệ thực vật Trường Đại học lâm nghiệp đánh giá, đề xuất giải pháp xử lý.
Đồng thời đề nghị UBND thành phố cấp bổ sung 494 triệu đồng để phòng trừ và dập dịch. (Hà Nội Mới 10/11, tr3) đầu trang(
Những cánh rừng Tây Nguyên - không gian sinh tồn của loài voi - đã và đang bị con người tàn phá nghiêm trọng, khiến những đàn voi rừng phải sống du cư tứ xứ và đàn voi nhà mai một theo thời gian.
Làng voi Nhơn Hoà từng một thời nổi tiếng ở Tây Nguyên, giờ đã thành hoài niệm, “chú voi con ở bản Đôn…” giờ cũng chỉ nghe trong lời một bài hát, những hoạt động lễ hội liên quan đến voi cũng mất dần. Những chú voi còn lại chỉ “nghẹn ngào” rơi nước mắt giữa đại ngàn bao la…
Đã có một thời, cụm làng voi Nhơn Hoà bao gồm: Plei Lao, Plei Kia, Plei Kly Ful, Plei Thơ Ga, thuộc xã Nhơn Hoà (huyện Chư Sê, Gia Lai) được ví như chiếc nôi của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng ở vùng bắc Tây Nguyên. Nhưng bây giờ chỉ còn là hoài niệm.
Ông Nay Tơr (83 tuổi) ở Nhơn Hoà, buồn buồn: “Cách đây gần thế kỷ, làng voi Nhơn Hoà được coi là một biểu hiện đặc trưng, là chấm son trong đại gia đình voi ở Tây Nguyên. Hồi mình còn lẫm chẫm đi đã thấy nhiều voi lắm rồi. Nhà ai có voi mới sang, mới được làng tôn trọng... Thời Pháp thuộc, cha vợ mình là Kpă Djhông ngày ngày cưỡi voi đi dạy trong cái nhìn ngưỡng mộ của người làng và sự thán phục của các quan thầy người Pháp...”.
Ánh mắt già làng Kpăh Kleng (tuổi 80) ở làng Plei Lao - có cha là người Lào, mẹ là người Jrai - sáng lên khi chúng tôi nói chuyện voi. Ký ức ngày trước ùa về khiến ông trở thành người độc thoại của cuộc trò chuyện. Già Kleng nói rằng, thuở lên năm, ông đã tập tễnh bước vào nghề săn bắt voi rừng. Tuổi 18 -20 ông to khoẻ, nhanh nhẹn và trở thành chàng thợ săn voi dũng mãnh. Ông không nhớ vùng Nhơn Hoà có tất cả bao nhiêu con voi “nó nhiều lắm, có lúc bằng cả đàn bò bây giờ…”.
Riêng nhà ông ngày đó được xem là “nhà sang” vì có đến ba con voi là Păm, Keng, Khăm Plang. Cả 3 con voi này đều bị chết bởi bom đạn Mỹ trong chiến tranh. Những ngày sau hoà bình, Kpăh Kleng hùn vốn với người làng sang Đắc Lắc mua voi và đặt tên là Thoong Răng (một hoài niệm về tổ tiên người Lào) về nuôi. Bọn xấu lợi dụng sự sơ hở của gia đình ông đã hai lần cưa trộm ngà. “Tiếc là thằng Anhót con trai mình đã đưa nó sang Đắc Lắc bán lại cho người ta mất rồi. Voi hết thì nghề thuần dưỡng cũng quên mất thôi”- giọng già Kpă Kleng trầm xuống.
Năm 2000, một tin vui đến, thắp lên hy vọng cho đàn voi nhà. Công ty du lịch Gia Lai phối hợp với những chủ voi ở Nhơn Hoà đưa gần 20 con voi vào sử dụng trong các tour du lịch sinh thái. Nhưng rồi du lịch vắng khách, sự kết hợp đó cũng lụi dần. Voi lần lượt bị bán sang vùng khác.
Trong những nỗ lực cuối cùng, công ty này đã thương lượng mua lại 3 con voi, mỗi con có giá 40 - 50 triệu đồng khi chúng sắp có chủ khác. Sáu nài voi được trả 3 triệu đồng/tháng để giữ voi và phục vụ khi có khách tham quan. Cả đàn voi nhà gần 50 con từng là niềm kiêu hãnh của người dân Nhơn Hoà nay chỉ còn lại là con số 0 (không). Con voi chỉ còn là một hoài niệm buồn trong từng câu chuyện, qua các bưu ảnh ố màu. Huyền thoại về làng voi duy nhất ở vùng bắc Tây Nguyên này gần như biến mất.
Cũng như Gia Lai, theo Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đắc Lắc, trong những năm qua, số lượng voi hoang dã lẫn voi nhà của tỉnh giảm rất nhanh. Đối với voi hoang dã, năm 1980 có trên 550 con thì hiện nay toàn tỉnh chỉ còn khoảng 5 đàn, với số lượng 60-70 cá thể. Từ năm 2009 đến nay đã có 17 con voi rừng bị chết, trong đó có nhiều cá thể voi bị săn bắn trái phép.
Nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống của voi hoang dã bị thu hẹp, chia cắt. Bên cạnh đó, nạn săn bắn trái phép để lấy các sản phẩm có giá trị như ngà, lông, da… cũng đang làm cho số lượng voi hoang dã giảm đi nhanh chóng. Đàn voi nhà ở Đắc Lắc cũng đang sụt giảm nghiêm trọng. So với năm 1980 có 502 con, thì hiện nay chỉ còn 49 con. Như vậy, trong vòng 32 năm, số lượng voi nhà đã tụt giảm tới hơn 90%.
Tính riêng từ năm 2007 đến nay, đã có 21 voi nhà bị chết do bị giết hại; thiếu thức ăn; kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng còn lạc hậu; làm du lịch quá mức dẫn đến kiệt sức... Dự báo, khoảng 20 - 30 năm nữa voi không sinh sản thì đàn voi nhà ởĐắc Lắc sẽ biến mất. Với tốc độ suy giảm như hiện nay, nhiều người đã đặt câu hỏi: Liệu mai này, Đắc Lắc có còn voi?
Gặp PV tại Buôn Đôn, ông Ama Khuông đã ngoài 90 tuổi - người rất am hiểu về đời sống của voi - nói: “Con voi, một đặc ân của tự nhiên ban phát cho núi rừng, cho con người Tây Nguyên vì nhiều lý do khác nhau đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là niềm đau và nỗi buồn lớn nhất của chúng tôi”. Còn ông Ama Thu - già làng ở Bản Đôn - đã gần 90 tuổi tiếc nuối: “Voi ngày ấy nhiều vô kể, sống ở rừng, chúng hung dữ và khoẻ lắm. Còn bây giờ…”.
Già Ama Thu bỏ lửng câu nói, đứng lên cầm chiếc tù và cũ kỹ làm bằng ngà voi đưa lên miệng thổi một hồi dài - hiệu lệnh của những chuyến săn voi ngày ấy, nghe như tiếng rống lên thống thiết giã từ đồng loại vào giây phút sinh tử cảnh báo đàn voi nên tránh xa lũ thợ săn độc ác, dã man.
Voi nhà có tuổi thọ ngắn hơn voi rừng bởi bị tách xa môi trường tự nhiên. Nhưng đó hoàn toàn không phải là nguyên nhân chính dẫn đến điều đau lòng nói trên tại một vùng đất có truyền thống nuôi giữ voi lâu đời như Đắc Lắc - Gia Lai. Vấn đề là con người và cách hành xử của con người. Thực tế voi chết nhiều là do bị cách ly ra khỏi những nơi thuần dưỡng thích hợp.
Chỉ riêng trường hợp voi nhà từ Đắc Lắc bán sang Lâm Đồng, từ năm 1995 đến nay đã lần lượt chết 11 con. Những con voi chết tại các khu du lịch thác Đăm B’Ri (1 con), hồ Tuyền Lâm (8 con) và Nam Qua (2 con) ở tỉnh Lâm Đồng đều vì không chịu được khí hậu lạnh có độ cao chênh lệch với Đắc Lắc hơn 1.000 mét. Ngoài ra còn có các trường hợp bán voi sang biên giới để giết lấy ngà, đem voi đi “triển lãm” nhiều nơi... cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy kiệt nhanh chóng của đàn voi.
Đối với quần thể voi hoang dã, rừng là vấn đề sống còn là duy trì không gian sống của chúng. Thế nhưng, trong những năm qua, hàng chục ngàn hécta rừng ở Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo (Đắc Lắc), Chư Prông (Gia Lai), nơi nhiều voi rừng sinh sống, đã bị khai tử do tình trạng khai thác rừng trái phép, giao đất rừng cho doanh nghiệp để trồng cao su, cà phê...
Từ năm 2005 - 2014, diện tích rừng tự nhiên của các địa phương trên có voi hoang dã sinh sống đã giảm trên 20.000 ha. Không gian sinh tồn của voi đang bị thu hẹp dần và chúng ngày càng trở nên hung dữ hơn. Đây cũng chính là lý do khiến cho xung đột giữa voi và người ngày càng gia tăng.
Bên cạnh đó, việc săn bắn trái phép cũng làm giảm đi quần thể voi hoang dã vốn đã ít ỏi. Thế nhưng tới nay, các vụ voi bị chết, bị bắn giết cơ quan chức năng mới chỉ tiến hành các bước điều tra rồi để đấy; vẫn chưa có nhóm thủ phạm nào bị các cơ quan tư pháp truy tố, xét xử công khai dù chỉ để trấn an dư luận xã hội.
Việc nuôi voi ở một số địa phương cũng trái với sự sinh tồn, phát triển của voi, vì chúng bị buộc riêng lẻ vào một sợi xích, dài khoảng 50m và thả trong rừng. Đôi khi đến phiên mình cho ăn nhưng người chủ ham uống rượu là lập tức... quên ngay. Vậy là voi nhịn đói… Vào độ tháng tư, voi động dục.
Chúng hẳn bắt được “hương tình” của nhau nhưng đành bất lực bởi những sợi dây xích oan nghiệt. Trong quá trình thực hiện bài viết này, chúng tôi đã nhiều lần sởn da gà khi nghe tiếng voi nhà động dục rống lên hằng đêm vẫn vọng về, dội vào núi rừng thâm u, vào mỗi vách nhà một cách bi thiết, bất lực.
Theo già làng Kpăh Kleng, một người có nhiều kinh nghiệm nuôi và thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn, voi là loài khá kín đáo trong chuyện “phòng the”. Nếu không có một sinh cảnh thích hợp và “đức lang quân” vừa ý thì chuyện ấy khó xảy ra. Điều đó giải thích tại sao trong ngần ấy năm, chúng ta chưa ghi nhận một “bé voi” nào chào đời trong điều kiện “nuôi nhốt”.
Đã có ý kiến mạnh dạn đề xuất như thụ tinh nhân tạo cho voi; tạo cho voi một không gian để chúng có thể “gần” nhau... Đặc biệt, chính quyền hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc đã nhiều lần tổ chức hội thảo “về voi” và đã xác định những bước đi đầu tiên trong nỗ lực bảo tồn, phát triển voi, nhưng hiện vẫn còn... chờ! (Lao Động 11/11, tr6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng đã phát hiện 1520 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Trong đó, số trường hợp vi phạm nhiều nhất là vận chuyển lâm sản trái phép với 763 vụ.
Phá rừng trái phép có 281 vụ với 80ha rừng bị thiệt hại; 318 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản; vi phạm về quản lý bảo vệ động vật hoang dã có 5 vụ. Nhìn chung, số lượng vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng giảm 11,6% so với cùng kỳ năm 2013. Các cơ quan hữu quan đã tiến hành xử lý hành chính hơn 1450 vụ và chuyển xử lý hình sự 28 vụ.
Theo chỉ đạo của UBND tỉnh Lâm Đồng trong phiên họp báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng, các cấp ngành liên quan sẽ tiếp tục rà soát lại các diện tích rừng bị tàn phá, nhất là các trường hợp người dân lấn chiếm rừng, phá rừng để mở rộng diện tích đất canh tác Nông nghiệp, đồng thời sẽ tiến hành điều tra và xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật vể quản lý và bảo vệ rừng. (Đài PTTH Lâm Đồng 11/11) đầu trang(
Vườn quốc gia Côn Đảo nằm ở quần đảo Côn Sơn thuộc địa giới hành chính huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 180km về hướng Đông Nam.
Diện tích quản lý bảo vệ trên 19.990ha gồm hợp phần bảo tồn rừng hơn 5.990ha, hợp phần bảo tồn biển 14.000ha và vùng đệm biển 20.500ha. Trước hết phải kể đến đa dạng sinh học rừng của Vườn quốc gia Côn đảo với 2 kiểu rừng chính. Đó là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới , với các hệ sinh thái rừng trên núi thấp, rừng trên đồi cát khô hạn ven biển, rừng tràm ngập phèn.
Các nhà khoa học đã ghi nhận 1.077 loài thực vật rừng thuộc 640 chi của 160 họ thực vật bậc cao có mạch trong 6 ngành thực vật. Trong đó, cây gỗ 420 loài, cây bụi 273 loài, dây leo 137 loài, cây cỏ 137 loài, khuyết thực vật 53 loài và thực vật phụ sinh 20 loài; có 44 loài được các nhà khoa học tìm thấy đầu tiên ở Côn Đảo; 23 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 4 loài có tên trong sách đỏ IUCN và 11 loài ghi trong Nghị định 32/2006 của Chính p hủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; có 11 loài đặc hữu.
Về động vật, vườn quốc gia Côn Đảo ghi nhận 160 loài trong khu hệ động vật có xương sống trên cạn, với 29 loài thú, 85 loài chim, 38 loài bò sát và 8 loài ếch nhái. Trong số này có có 35 loài quý hiếm gồm 13 loài thú, 11 loài chim và 11 loài bò sát và lưỡng cư.
Trong đó có 17 loài (5 loài thú, 8 loài chim, 4 loài bò sát) ghi trong Sách đỏ IUCN; 22 loài (9 loài thú, 2 loài chim, 11 loài bò sát và lưỡng cư) ghi trong Sách đỏ Việt Nam; 16 loài (3 loài thú, 6 loài chim, 7 loài bò sát) ghi trong danh mục công ước CITES và 15 loài (6 loài thú, 3 loài chim, 6 loài bò sát) ghi trong Nghị định 32/2006 của Chính p hủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; có 3 loài đặc hữu.
Biển Côn Đảo có các hệ sinh thái điển hình của một vùng biển nhiệt đới là hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái rạn san hô. Đã ghi nhận 1.725 loài sinh vật biển với 46 loài thực vật ngập mặn, 133 loài rong biển, 11 loài cỏ biển, 226 loài thực vật phù du, 143 loài động vật phù du, 360 loài san hô, 130 loài giun nhiều tơ, 116 loài giáp xác, 187 thân mềm, 115 loài da gai, 205 loài cá rạn san hô, 9 loài bò sát biển, 37 loài chim biển và 7 loài thú biển trong đó 72 loài sinh vật nguy cấp, quý, hiếm bao gồm: T hực vật (04) loài ; thân mềm (16 loài); da gai (06 loài); san hô (12 loài); cá (24 loài); bò sát (02 loài); chim biển (01 loài); thú (07 loài), các loài thú biển lớn như Dugong, Cá heo mõm dài
Ông Trần Đình Huệ, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Côn Đảo cho biết Côn Đảo được tổ chức khoa học trong và ngoài nước đánh giá là Vườn có tiềm năng đa dạng sinh học cao, các hệ sinh thái phong phú, có nhiều loại động thực, vật quý hiếm, đặc hữu là nơi có ý nghĩa quan trọng toàn cầu về sinh vật biển, sinh cảnh trên cạn bởi tiềm năng sinh học và vị trí của nó.
Côn Đảo là khu vực ưu tiên mang tầm quốc gia và quốc tế trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học. Kế hoạch hành động đa dạng sinh học và chiến lược GEF quốc gia Việt Nam được chính phủ phê duyệt năm 1995 xếp Côn Đảo là khu vực ưu tiên hàng đầu.
Trong ấn phẩm xuất bản năm 1995 với tiêu đề “ Một hệ thống các khu bảo tồn biển tiêu biểu toàn cầu” của Ngân hàng thế giới cũng xếp Côn Đảo là khu vực ưu tiên. Côn Đảo là 1 trong 16 khu Bảo tồn biển đã được quy hoạch theo Quyết định 742 của Thủ tướng Chính phủ , được xếp là khu vực ưu tiên để phát triển du lịch của Việt Nam.
Tạp chí New York Times (11/2010) đã nhận xét Côn Đảo là một trong những điểm đến ấn tượng nhất Đông Nam Á, hai năm liền (2011-2012), tạp chí du lịch nổi tiếng thế giới Lonely Planet (Anh) đã bầu chọn Côn Đảo là 1 trong 10 hòn đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới để hưởng một kỳ nghỉ lãng mạn.
Bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học là cơ sở và động lực cho sự phát triển bền vững Côn Đảo. Thảm thực vật và độ che phủ rừng Côn Đảo chiếm 80% tổng diện tích tự nhiên là lá chắn tốt nhất để phòng hộ, bảo vệ môi trường.
Theo đánh giá của các nhà khoa học lượng nước ngầm và nước mặt Côn Đảo có hệ số tương quan tương đối chặt (0,95) và được duy trì, điều tiết, điều hòa hằng năm bởi thảm thực vật rừng ở đây. Địa hình Côn Đảo độ dốc lớn, lớp đất mặt cạn, rừng tạo thành lớp phủ hữu hiệu chống lại xói mòn, rửa trôi, lắng đọng và bồi lấp.
Côn Đảo nằm giữa biển khơi thường xuyên chịu ảnh hưởng gió, bão, áp thấp nhiệt đới vì vậy rừng đóng vai trò quan trọng chắn gió, cát bay, bảo vệ môi trường.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển và hệ sinh thái rạn san hô chứa đựng sự đa dạng cao các loài cá và các loài thủy sinh vật khác. Là sinh cảnh đẻ trứng, ương nuôi ấu trùng, kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển của khu vực biển Đông Nam Việt Nam và của cả khu vực Đông Nam Á. Các hệ sinh thái biển còn có tầm quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng lượng o xy trong nước biển và bảo vệ bờ biển Côn Đảo.
Bảo tồn đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái, đa dạng thành phần loài) nhằm duy trì, lưu giữ nguồn gien và các sinh cảnh đặc trưng của Côn Đảo và của Việt Nam, tạo sự cân bằng sinh thái cho môi trường sống bền vững.
Nhiều loài sinh vật tại Côn Đảo có giá trị cung cấp thực phẩm và dược liệu. Bảo tồn đa dạng sinh học tại Côn Đảo chính là sự bảo tồn và khai thác bền vững kho dược liệu và thực phẩm trong tương lai. Đây là nơi để các nhà khoa học đến nghiên cứu và nhiều sinh viên đến thực tập. Có thể nói rằng đa dạng sinh học Côn Đảo có giá trị cao về giáo dục và khoa học.
Tài nguyên đa dạng sinh học và cảnh quan Côn Đảo đang là tiềm năng và thế mạnh để khai thác và phát triển du lịch sinh thái. Phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ du lịch sinh thái đang tạo ra nghề và thu nhập ổn định, đáng kể cho cộng đồng địa phương. Bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên góp phần bảo tồn và tôn tạo di tích lịch sử đặc biệt của Việt Nam tại Côn Đảo.
Bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, sự đa dạng sinh học và các loài động vật, thực vật bản địa, quý hiếm, các sinh cảnh tự nhiên độc đáo, để Vườn quốc gia Côn Đảo trở thành một trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học có tầm quan trọng của quốc gia và quốc tế.
Bởi vậy, nhiệm vụ trọng yếu của Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo hiện nay là bảo vệ nguyên vẹn và phát triển diện tích rừng để gia tăng độ che phủ rừng đầu nguồn các khe, suối, bảo vệ đất, góp phần duy trì sự sống trên đảo, cung cấp nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và phát triển kinh tế, đồng thời bảo vệ rừng nhằm góp phần củng cố quốc phòng và an ninh vùng hải đảo tiền tiêu phía Đông Nam tổ quốc.
Bên cạnh đó, sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học và các dịch vụ môi trường rừng để phát triển du lịch sinh thái, góp phần xây dựng Côn Đảo trở thành một trung tâm du lịch-dịch vụ chất lượng cao, có tầm cỡ khu vực và quốc tế và tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của huyện Côn Đảo. (VietnamPlus 11/11) đầu trang(
Biên Hòa là thành phố loại II, hiện có trên 1 triệu dân sinh sống tại 30 phường, xã. Trong những năm gần đây Biên Hòa phát triển mạnh về mọi mặt, nhất là về lĩnh vực công nghiệp với 6 KCN và cụm công nghiệp.
Tuy nhiên, hình thành nên một thành phố công nghiệp hiện đại, Biên Hòa lại phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi. Đó là tình trạng khói bụi, khí thải trong các khu công nghiệp và xe cộ đông đúc hàng ngày qua lại thành phố. Rừng Biên Hòa có thể được xem là phao cứu sinh cho tình trạng này.
Cách trung tâm TP.Biên Hòa về hướng bắc chừng 10km, có một khu rừng trồng rộng hơn 250 ha hình thành cách nay hơn 30 năm do Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa quản lý. Đây chính là nét độc đáo, là lá phổi xanh của một đô thị mà không phải thành phố nào cũng có được. Rừng thuộc Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa nằm giáp ranh với các phường, xã: Tân Biên, Tân Hòa, Trảng Dài, Long Bình của TP.Biên Hòa và Hố Nai 3 của huyện Trảng Bom. Sau năm 1975, khu vực này hầu hết là đất trống đồi núi trọc.
Năm 1982, UBND tỉnh chủ trương phủ xanh đất trống đồi núi trọc nên đã thành lập Trạm trồng rừng Biên Hòa, sau này đổi thành Lâm trường Biên Hòa với chức năng trồng và kinh doanh gỗ, chủ yếu là cây tràm bông vàng. Năm 2005, UBND tỉnh quyết định chuyển đổi mục đích rừng Biên Hòa thành rừng phòng hộ môi trường cảnh quan. Từ đây Trung Tâm Lâm nghiệp Biên Hòa được hình thành với chức năng, nhiệm vụ nặng nề hơn khi từng bước thay thế dần các khu rừng tràm bằng các loại cây gỗ quý.
Ông Trần Đình Xướng - Giám đốc Trung tâm lâm nghiêp Biên Hòa cho biết thêm: “Nói về chủng loại cây thì chúng tôi phải đi sưu tầm rất nhiều nới từ nam chí bắc để làm cho rừng phong phú nhiều loại cây và hướng phát triển theo mô phỏng của rừng tự nhiên nhiều tầng tán. Hiện nay chúng tôi cũng có 1 vườn sưu tập với trên 300 loài cây đại diện cho các miền của đất nước ngoài ra chúng tôi còn có vườn ươm khoảng 7 ha để tạo giống”.
Biên Hòa hiện đang thiếu rất nhiều mảng xanh, chính vì vậy, khi đầu tư phát triển các khu công nghiệp, UBND tỉnh đều chỉ đạo các nhà đầu tư dành một diện tích nhất định để trồng cây xanh nhằm hạn chế bớt lượng khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất; đồng thời xây dựng thêm công viên cây xanh tại một số địa phương, cũng với mục đích giảm bớt mức độ ô nhiễm do khí thải của hàng ngàn phương tiện giao thông thải ra mỗi ngày. Điều này cho thấy, vốn rừng ở Biên Hòa là tài sản qúy cần được bảo vệ.
Ông Trịnh Tuấn Liêm- Chủ tịch UBND thành phố Biên Hòa cho biết: “Biên Hòa diện tích không phải là lớn nhưng cũng có được mảng xanh nhất định đặc biệt là mảng xanh của rừng với khoảng 400ha. Lợi thế Biên Hòa hiện nay là đang lập quy hoạch chung đến năm 2030 tầm nhìn 2050 trong đó có gắn với quy hoạch không gian sinh thái xanh. Đây là mục tiêu thành phố đang phấn đấu ”.
Đánh giá về giá trị của khu rừng tập trung ở Biên Hòa, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho rằng, dự án Quy hoạch xây dựng và phát triển rừng phòng hộ môi trường cảnh quan ở Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa mà UBND tỉnh phê duyệt năm 2005 là hướng đi phù hợp với sự phát triển liên tục của TP.Biên Hòa.
Phó giám đốc Sở NN PTNT- Đồng Nai Đặng Hồng Tăng nhấn mạnh: “Biên Hòa là 1 thành phố công nghiệp là thành phố phát triển rất năng động trong thời gian vừa qua. Trong đó việc phát triển công nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến môi trường vì vậy giữa lòng thành phố mà có được 1 cánh rừng tập trung này thật là vốn quý”.
Mai này, rừng ở TP.Biên Hòa không chỉ là “lá phổi xanh” mà sẽ trở thành một khu rừng sinh thái cảnh quan, giống với sinh cảnh của rừng tự nhiên; đồng thời còn phát triển thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
Đây là chủ trương của lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo TP.Biên Hòa trước diễn biến của khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Tuy vậy, để thực hiện được điều này rừng Biên Hòa vẫn còn những bất cập cần được khắc phục. (Bienhoa-dongnai.gov.vn 11/11) đầu trang(
11/11, tại huyện Trấn Yên, Ban chỉ đạo Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng vụ đông xuân năm 2013 – 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2014 – 2015.
Ông Hoàng Xuân Nguyên – Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo về Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chủ trì Hội nghị.
Ngay từ đầu năm 2014, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với UBND các huyện, thị xây dựng kế hoạch bảo vệ gần 160 ngàn ha rừng phòng hộ, đặc dụng thuộc dự án 5 triệu ha rừng và thực hiện ký hợp đồng giao khoán bảo vệ 39 ngàn ha rừng tự nhiên sản xuất sau quy hoạch bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh cho 12 ngàn hộ, nhóm hộ nhận giao khoán bảo vệ. Toàn bộ diện tích này đang được người dân các địa phương nhận trông coi bảo vệ tốt thông qua hợp đồng giao khoán giữa Hạt Kiểm lâm, UBND xã và hộ, nhóm hộ nhận giao khoán.
Để bảo vệ tốt vốn rừng hiện có và phát triển rừng ngay tại cơ sở, lực lượng Kiểm lâm đã bố trí cho toàn bộ 180 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn để tham mưu kịp thời giúp chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương.
Công tác phối hợp giữa các lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân đội và chính quyền địa phương được duy trì thường xuyên. Ba ngành đã ký quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ đó tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển, chế biến, tàng trữ lâm sản và động vật rừng trái phép trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát. Trong 9 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh đã kiểm tra lập biên bản 195 vụ việc vi phạm, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 546 triệu đồng.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cũng được các cấp các ngành đặc biệt quan tâm với việc thường xuyên tăng cường và củng cố lại hệ thống mạng lưới dự báo, cảnh bảo cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Tại các địa phương vẫn tiếp tục duy trì và củng cố 310 tổ xung kích chữa cháy rừng; tổ chức 200 hội nghị tuyên truyền về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại các huyện, thị xã, thành phố; tổ chức các buổi họp với dân, hướng dẫn kỹ thuật đốt nương làm rẫy, làm đường ranh cản lửa, xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng ở cộng đồng thôn, bản.
Tiếp tục duy trì chòi canh lửa đặt ở xã Kim Nọi (huyện Mù Cang Chải), xã Trạm Tấu (huyện Trạm Tấu), xã Sơn Thịnh (huyện Văn Chấn); xây dựng làm mới được 40 bảng tin; 225 biển báo cấm lửa tam giác, 20 biển báo cấp dự báo cháy rừng; tu sửa, quét sơn lại 100 bàng tin và biển báo cấm lửa, cấm chặt phá rừng...
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời cũng nêu lên những sáng kiến kinh nghiệm, cách làm tốt của đơn vị mình trong công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng.
Phát biểu kết luận Hội nghị, ông Hoàng Xuân Nguyên – Phó chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận và biểu dương sự cố gắng nỗ lực của các cấp các ngành trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng những tháng cuối năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Xuân Nguyên nhấn mạnh: Ban chỉ đạo cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cấp bách bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra định kỳ và đột xuất về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại các địa phương, đơn vị, chủ rừng để kịp thời chấn chỉnh, đôn đốc việc thực hiện; thực hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; rà soát, bảo dưỡng các phương tiện, dụng cụ, thiết bị chữa cháy và lắp đặt hệ thống biển báo, biển cấm; UBND các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải cần tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy; chỉ đạo tốt công tác quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho đồng bảo để ổn định sản xuất;
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lực lượng Kiểm lâm cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong từng cộng đồng dân cư; Báo Yên Bái, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của tỉnh làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân các vùng có rừng tự nhiên thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng... (Báo Yên Bái 11/11) đầu trang(
Đó là khẳng định của Chủ tịch UBND tỉnh Trần Công Chánh tại buổi kiểm tra tình hình thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Lung Ngọc Hoàng vào sáng ngày 10-11.
Thời gian gần đây, có thông tin cho rằng Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng đã khai thác cây rừng và cho máy kobe vào đào xới trong khu rừng do mình quản lý một cách trái phép.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo khu bảo tồn, thời gian qua, đơn vị có cho máy kobe vào là để dọn cỏ tại lung sen (tại khoảnh 92, thuộc khu rừng đặc dụng, diện tích khoảng 4ha) do nhiều năm bị bồi lắng cỏ dại mọc um tùm, đồng thời, cũng xử lý nhiều loại cây ngoại lai trong khu đầm này, hoàn toàn không đốn cây rừng nào. Đặc biệt, mục đích chính của việc dọn cỏ lần này là để trữ nước phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); tạo nơi sinh sống cho nhiều loài thủy sản…
Ngoài công tác trên, từ đầu năm đến nay, khu bảo tồn còn thường xuyên đẩy mạnh công tác tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và động vật hoang dã; đảm bảo công tác tuyên truyền, ứng trực PCCCR,… từ đó không để xảy ra tình trạng cháy rừng nào trên địa bàn. Việc quản lý rừng ngày càng chặt chẽ nên tình trạng người dân vào rừng hoặc lấn chiếm đất rừng được hạn chế đến mức thấp nhất. Bên cạnh đó, còn quan tâm đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhiều công trình như: khu tái định cư, dự án đường và cầu vào khu bảo tồn…
Phát biểu tại buổi kiểm tra thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Công Chánh khẳng định: Không có tình trạng khu bảo tồn nạo vét và đốn cây rừng trái phép như thông tin từ dư luận, có thể do bà con không nắm rõ tình hình thực tế nên có những thông tin như trên.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị lãnh đạo khu bảo tồn cần tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tỉnh xem xét phân bổ nguồn vốn để đơn vị sớm triển khai các công trình, dự án; trong đó, tập trung vào khu tái định cư để sớm đưa 120 hộ dân từ khu nghiêm ngặt ra bên ngoài…(Báo Hậu Giang 11/11) đầu trang(
10/11, UBND tỉnh đã ban hành công văn chỉ đạo nhằm tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản và quản lý, bảo vệ rừng, khắc phục tình trạng khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép và yêu cầu Giám đốc và thủ trưởng các Sở, Ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc.
Nội dung công văn nêu rõ: "Xác định trách nhiệm chính trong việc quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản chưa khai thác trong khu vực rừng đã giao cho các Ban quản lý rừng thuộc về chủ rừng, trách nhiệm chính trong việc bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác ngoài khu vực nêu trên thuộc về chính quyền địa phương; các cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện. Quá trình quản lý nếu vượt quá khả năng của các đơn vị và địa phương thì các đơn vị và địa phương phải có báo cáo và đề nghị cấp trên chỉ đạo xử lý hoặc hỗ trợ xử lý".
UBND tỉnh đồng thời yêu cầu các Sở, Ban, ngành và UBND các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 15/4/2011 của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh, Chỉ thị số 20/2012/CT-UBND ngày 21/8/2012 của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp quản lý phương tiện, dụng cụ đưa vào rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
UBND các huyện, thành phố điều tra, thống kê, xem xét cụ thể các hộ gia đình, cá nhân là người địa phương có kinh tế gia đình khó khăn và trong nhiều năm qua sinh sống chủ yếu bằng hoạt động Khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép để vận động và có hướng hỗ trợ hoặc đề xuất UBND tỉnh xem xét, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp. (Đài PTTH Quảng Nam 11/11) đầu trang(
Chi Cục kiểm lâm cho biết: Đã chính thức bước vào mùa khô cần khẩn trương kiện toàn BCH PCCCR các cấp, triển khai các phương án PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ” phù hợp với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCCCR, bảo vệ bền vững tài nguyên rừng.
Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 460.869,1 ha, trong đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó đất có rừng 243.612 ha, rừng tự nhiên là 133.744,9 ha; rừng tre nứa hỗn giao, rừng núi đá, rừng phục hồi, rừng trồng chưa kép tán là các loại rừng dễ cháy, có nguy cơ cháy rừng cao 11.500 ha.
Ngoài ra, địa bàn có rừng tập trung đông đồng bào dân tộc có mức sống còn nghèo, vẫn tồn tại hoạt động đốt nương làm rẫy, kinh tế phụ thuộc vào rừng. Mặt khác, các khu vực, vùng giáp ranh với các tỉnh bạn như Thanh Hóa, Ninh Bình, Sơn La, Phú Thọ thường có thảm thực bì dày, chủ yếu là cỏ tranh, lau lách, tồn tại các hoạt động sản xuất, nương rẫy, nông nghiệp nên cũng rất dễ xảy ra cháy rừng và khó kiểm soát.
Theo đánh giá của ngành chức năng, công tác PCCCR những năm qua có những chuyển biến tích cực, góp phần bảo vệ bền vững tài nguyên rừng, duy trì mật độ che phủ rừng ổn định 49%. Nhưng cháy rừng vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao. Đặc biệt, vẫn còn thực tế là một số cấp ủy, chính quyền địa phương, một số chủ rừng chưa quan tâm đúng mức đến công tác PCCCR.
Nhận thức về PCCCR, bảo vệ tài nguyên rừng của một bộ phận người dân còn hạn chế. Vẫn còn tình trạng đốt nương rẫy, phát dọn thực bì không đúng quy định, hướng dẫn còn phổ biến, theo thống kê có tới 80% vụ cháy rừng trên địa bàn có nguyên nhân chủ quan của con người. Việc phối hợp các lực lượng chức năng triển khai các phương án PCCCR tại cơ sở còn chưa thường xuyên và đạt hiệu quả cao...
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm. Đã chính thức bước vào mùa khô 2014-2015, dự báo thời tiết khô hanh kéo dài, bắt đầu xuất hiện nguy cơ cháy rừng. Lực lượng chức năng đang tích cực tham mưu cho cấp ủy triển khai nghiêm túc các văn bản, chỉ đạo về công tác quản lý và bảo vệ rừng, PCCCR theo sát với thực tế để nâng cao hiệu quả PCCCR, bảo vệ tài nguyên rừng. Đến nay, Chi cục Kiểm lâm đã xây dựng 5 cấp dự báo cháy rừng, hoàn thiện các phương án cụ thể cho từng cấp báo cháy rừng để tham mưu phối hợp triển khai công tác PCCCR.
Năm nay, công tác PCCCR tiếp tục triển khai theo phương châm “4 tại chỗ”, Chi Cục kiểm lâm đang chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương kiện toàn, bổ sung các phương án PCCCR sát với điều kiện thực tế, chú trọng phối hợp giữa ba lực lượng kiểm lâm, dân quân tự vệ và công an.
Ông Lê Minh Thủy, Chi Cục phó Chi cục kiểm lâm cho biết: Thực tế, vào mùa khô là mùa người dân hay đốt nương, làm rẫy, săn bắn, đốt ong lấy mật là các yếu tố nguy hiểm dễ xảy ra cháy rừng. Do đó cần tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân có vai trò đặc biệt quan trọng, chú trọng đề cao ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR, theo phương châm lấy phòng ngừa cháy rừng là chính.
Việc xử lý thực bì cần thực hiện theo đúng hướng dẫn về PCCCR, tuyệt đối không đốt nương, xử lý thực bì trong điều kiện thời tiết hanh khô cao và có gió, hạn chế ở mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng, nhất là ở các khu vực có diện tích rừng tre, nứa, giang, hỗn giao gỗ là những đối tượng dễ gây cháy, cần có biện pháp xử lý các khu vực tre, nứa bị khuy (thời kỳ tre, nứa đạt tuổi thành thục về sinh lý ra hoa và chết hàng loạt).
Cần đặc biệt lưu tâm đối khu vực rừng trên núi đá hiểm trở tại các huyện Mai Châu, Lạc Sơn, Tân Lạc là những nơi địa hình phức tạp, núi đá, độ dốc lớn, nền đất mỏng, mùa khô khó giữ nước, các loại vật liệu dễ cháy rơi vào trạng thái khô nỏ dể phát sinh lửa và khó kiểm soát.
Ngoài ra, diện tích rừng trồng có khoảng 104.972 ha, nhất là các khu rừng mới trồng từ 1-3 tuổi rất nhạy cảm với lửa. Các chủ rừng, người dân trồng rừng cần thực hiện các biện pháp PCCCR như làm đường băng cản lửa giữa các lô, khoảnh, các tiểu khu rừng phù hợp với đặc điểm cháy của từng loại rừng, không để khi phát sinh lửa rừng dễ cháy lan khó kiểm soát.
Cùng với triển khai các biện pháp PCCCR, lực lượng chức năng đang tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các xã có rừng thực hiện các phương án quản lý, bảo vệ rừng, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên rừng bền vững. (Báo Hòa Bình 11/11) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tính từ đầu năm 2014 đến nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) trên địa bàn tỉnh đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực.
Cụ thể, số vụ phá rừng được phát hiện đã giảm 45% và diện tích rừng bị thiệt hại giảm 34% so với cùng kỳ năm 2013. Tuy nhiên, để đảm bảo mục tiêu giảm 50% số vụ vi phạm lâm luật và 45% diện tích rừng bị thiệt hại theo tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy thì đòi hỏi các cấp, ngành, địa phương và đơn vị chủ rừng phải phát huy cao độ tinh thần, trách nhiệm, không thể chủ quan, lơ là trong công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tình hình vi phạm lâm luật.
Thực tế cho thấy, mặc dù, tình trạng vi phạm lâm luật đã có những chuyển biến tích cực nhưng lĩnh vực này vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, một số khu vực rừng hiện đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị xâm hại. Đơn cử như qua khảo sát, đánh giá, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã khoanh vùng nhiều điểm “nóng”, có nguy cơ mất rừng cao.
Các điểm “nóng” về phá rừng tập trung chủ yếu tại các khu vực rừng giáp ranh giữa xã Quảng Trực với xã Quảng Tâm, Đắk Ngo (Tuy Đức) và vùng giáp ranh giữa tỉnh ta với huyện Bù Đăng (Bình Phước); lâm phần thuộc  các công ty lâm nghiệp như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk N’tao; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa …
Chưa kể đến, thời gian gần đây, tình trạng lâm tặc tấn công lực lượng kiểm lâm, lực lượng có chức năng quản lý, bảo vệ rừng đang ngày một gia tăng; hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản rất tinh vi với nhiều hình thức, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn.
Điển hình như từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện, bắt quả tang nhiều vụ vận chuyển lâm sản bằng đường thủy trên lòng hồ thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 (Đắk Glong). Các đối tượng đã lợi dụng mặt nước để giấu lâm sản, dùng ca nô vận chuyển lâm sản về nơi tập kết và chờ thời cơ chuyển lâm sản đến nơi tiêu thụ. Đây là một hình thức vận chuyển mới phát sinh, trong khi phương tiện, trang thiết bị để đấu tranh của cơ quan chức năng còn hạn chế.
Cũng từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã ghi nhận nhiều vụ lâm tặc chống đối, hành hung người thi hành công vụ với mức độ, tính chất rất nghiêm trọng. Mặc dù, các đối tượng vi phạm đã và đang được xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhưng điều này cho thấy công tác đấu tranh, phòng chống với loại tội phạm này đang đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt và đồng bộ của các cấp, ngành chức năng.
Bên cạnh những khó khăn trên, bước vào mùa khô cũng là lúc cao điểm trong nhiệm vụ QLBVR. Đây là thời gian rất dễ phát sinh các vụ cháy rừng, tình trạng người dân phá, đốt rừng làm nương rẫy. Qua công tác QLBVR trên địa bàn tỉnh cho thấy, tình hình vi phạm lâm luật đang có dấu hiệu “nóng” lên hàng ngày, mặc dù mới bước vào thời điểm của đầu mùa khô 2014-2015.
Cụ thể, trong tháng 10, toàn tỉnh đã phát hiện và lập biên bản để xử lý 90 vụ vi phạm lâm luật, tăng 14 vụ so với tháng 9; trong đó, phá rừng trái phép 17 vụ với 8,84 ha rừng thiệt hại; khai thác rừng trái phép 5 vụ; mua bán, vận chuyển động vật rừng 4 vụ; mua bán, vận chuyển trái phép gỗ, lâm sản 62 vụ và 2 vụ vi phạm khác.
Đây là tháng đầu tiên trong năm chúng ta ghi nhận tình trạng vi phạm lâm luật tăng về số vụ. Theo dự báo, con số này sẽ có nguy ngơ tăng lên ở những tháng mùa khô tới đây nếu chúng ta không có biện pháp chủ động phòng ngừa.
Công tác QLBVR là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, hiệu quả và đầy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, ngoài việc tiếp tục triển khai công tác nghiệp vụ được giao, để hoàn thành tốt mục tiêu giảm về số vụ phá rừng và diện tích rừng bị thiệt hại theo tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy, trong thời điểm bước vào mùa khô, ngành kiểm lâm, các địa phương và đơn vị chủ rừng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phá rừng.
Bên cạnh đó, các lực lượng kiểm lâm cũng phải hướng dẫn các đơn vị chủ rừng sớm hoàn thành và triển khai phương án phòng, chống cháy rừng, chủ động dự báo, bám sát diễn biến tình hình để bố trí nguồn lực sẵn sàng ứng phó với những phát sinh xâm hại đến rừng, tài sản từ rừng trên địa bàn toàn tỉnh. (Báo Đắc Nông 12/11) đầu trang(
10/11, Hạt Kiểm Lâm huyện Văn Bàn phối hợp với UBND xã Nậm Tha tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014.
Các lực lượng tham gia diễn tập phối hợp xử lý tình huống giả định nhân dân đốt nương làm lửa cháy lan sang khu rừng thuộc thôn Khe Păn, xã Nậm Tha. Với phương châm 4 tại chỗ, sau hơn một giờ, lực lượng phòng cháy, chữa cháy gồm nhân dân địa phương, công nhân của Công ty Phúc Khánh, dân quân, kiểm lâm và lực lượng vũ trang huyện... đã khống chế và dập tắt khu vực cháy, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, tài sản nhân dân và khu rừng thôn Khe Păn.
Cuộc diễn tập đã góp phần nâng cao khả năng chỉ đạo, điều hành của Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Qua đó, rút kinh nghiệm trong công tác chỉ huy, huy động lực lượng, phương tiện khi có cháy rừng xảy ra, đồng thời, điều chỉnh bổ sung phương án phòng cháy, chữa cháy rừng và nâng cao chất lượng tổ chức diễn tập cho các xã những năm tiếp theo. (Báo Lào Cai 12/11) đầu trang(
Giáp ranh với những địa phương giàu tài nguyên rừng nên thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) được xem như là “cái túi” của nhiều ngả gỗ lậu đổ về tiêu thụ, hoặc làm nơi trung chuyển đi nơi khác.
Trước thực trạng trên, Hạt Kiểm lâm thị xã đã đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, nhờ đó, tình trạng tàng trữ và vận chuyển lâm sản trái phép giảm mạnh. Nhiều người ví Hạt Kiểm lâm thị xã là “hạt không rừng” vì diện tích rừng trên địa bàn chỉ có 878ha, chủ yếu là rừng trồng.
Tuy nhiên, khoảng năm 2011 trở về trước, đây từng là "điểm nóng" về nạn vận chuyển và tiêu thụ gỗ khai thác trái phép từ các huyện Văn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và một số xã vùng thượng huyện Văn Chấn.
Trước thực trạng trên, Hạt đã triển khai nhiều biện pháp ngăn chặn; phối hợp với các xã, phường, chính quyền cơ sở tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR) và buôn bán lâm sản trên địa bàn một cách tích cực; tăng cường cán bộ kiểm lâm xuống các địa bàn trọng yếu, phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức BVR và phòng, chống cháy rừng (PCCR) cho người dân; vận động nhân dân cùng với chính quyền đấu tranh, tố giác, ngăn chặn kịp thời những đối tượng, tụ điểm mua bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép.
Cán bộ kiểm lâm bám sát địa bàn, xây dựng phương án BVR cấp xã, phường cụ thể, thiết thực; xây dựng các quy ước, hương ước bảo vệ và phát triển rừng ở cộng đồng dân cư; tổ chức học tập kí cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng đến các hộ dân. Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể. Đặc biệt, tình trạng lâm tặc vận chuyển gỗ lậu bằng xe gắn máy không còn tái diễn.
Hiện nay, các đối tượng chủ yếu vận chuyển lâm sản trái phép lén lút, nhỏ lẻ nhưng với hình thức tinh vi hơn như: vận chuyển vào ban đêm, chủ yếu vác bộ hoặc vận chuyển qua các con suối nhưng tình trạng này cũng không nhiều. Từ đầu năm tới nay, lực lượng kiểm lâm thị xã đã phát hiện và xử lý 3 vụ vi phạm vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu trên 1,6m3 gỗ xẻ các loại.
Theo thống kê, trên địa bàn thị xã hiện chỉ có 2 cơ sở chế biến gỗ được cấp phép và một vài hộ gia đình chủ yếu sản xuất đồ mộc dân dụng. Do nguồn gỗ tự nhiên ngày một khan hiếm, lực lượng kiểm lâm ở các huyện giáp ranh làm tốt công tác BVR, nên tình trạng buôn bán, vận chuyển lâm sản giảm hẳn.
Ông Vũ Minh Phúc - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã cho biết: “Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường tuần tra, kiểm soát nên tình trạng tàng trữ, vận chuyển lâm sản trên địa bàn giảm đáng kể. Ngoài công tác BVR và PCCR, chúng tôi tập trung thực hiện Đề án Giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuế đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp tại các xã làm điểm, trọng tâm là xã Nghĩa Phúc”.
Tuy tình trạng vận chuyển lâm sản không còn nóng nhưng theo quy luật vào thời điểm cuối năm ,đặc biệt thời điểm giáp tết Nguyên đán, các đầu nậu gỗ, người buôn bán gỗ đổ về các thôn, bản thuê người dân lên rừng khai thác gỗ rừng tự nhiên nhiều hơn.
Do đó, Hạt sẻ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản, PCCR bằng nhiều hình thức; phối hợp với lực lượng liên ngành, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; bố trí tuần tra, kiểm tra các tuyến đường, phương tiện vận chuyển gỗ về thị xã và đi qua thị xã, các cơ sở gia công, chế biến lâm sản trái phép, đặc biệt là gỗ pơ mu không rõ nguồn gốc.
Ngay từ bây giờ, Hạt tập trung vào công tác PCCR, tham mưu cho chính quyền các xã, phường kiện toàn Ban chỉ huy PCCR; tổ chức học tập, ký cam kết với các hộ gia đình về PCCR, BVR; thành lập các tổ đội xung kích PCCR ở các phường và thôn, bản. (Báo Yên Bái 11/11) đầu trang(
Mấy ngày qua, người dân ở 2 thôn An Hà 3 và Phổ Văn, xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa không khỏi lo lắng khi phát hiện nhiều con rắn lục đuôi đỏ. Đã có người bị loài rắn này cắn.
Theo lời bà Nguyễn Thị Cách (xóm 4, thôn An Hà 3), vào buổi chiều cách đây 1 tuần, khi đang cùng con gái là Bùi Thị Hồng Hà đứng trước hiên nhà thì bất ngờ phát hiện 1 con rắn lục to bằng ngón tay giữa, dài khoảng 50cm, đuôi màu đỏ bò trên sân nhà. Sau giây phút trấn tĩnh, mẹ con bà đã lấy cây đập chết con rắn. Còn bà Nguyễn Thị Hương - người sống cùng thôn với bà Cách khẳng định bà cũng phát hiện một rắn có hình dạng và màu đuôi như trên bò vào cửa nhà nên đã dùng cây đánh đuổi.
Ngày 7.11, em Võ Thanh Thật (17 tuổi, ở xóm 5, thôn Phổ Văn) đi học về, vừa bước vào sân, bất ngờ bị một con rắn lục đuôi đỏ không biết nằm sẵn từ bao giờ cắn vào chân trái. Chỉ vài giây sau, chân trái của em sưng to, tím tái; kèm theo triệu chứng đau đầu và ói mửa... Gia đình phải đưa em đi cấp cứu tại bệnh viện tỉnh.
Theo lời của người dân thôn An Hà 3, trước khi rắn lục đuôi đỏ được phát hiện, có thấy một nhóm người đàn ông lạ mặt đến địa phương. Ông Phan Quang Út - hàng xóm nhà bà Cách, nhớ lại: Họ có khoảng 10 người. Khi thấy họ mang bao đi dọc bờ mương, kênh dẫn nước ở trong vùng nên có hỏi thì họ trả lời “đi hái cây cà gai leo về bán”. Tuy nhiên theo người dân thì vùng này cây cà gai leo rất hiếm. Vì vậy dư luận trong vùng hoài nghi chính nhóm người trên mang rắn lục đuôi đỏ đến thả.
Ông Nguyễn Thủy Chí - Trưởng công an xã Nghĩa Trung, cho biết: Có nghe thông tin về việc phát hiện rắn lục đuôi đỏ, đồng thời có nhận tin báo về việc một nhóm người lạ mặt mang bao tải xuất hiện ở 2 thôn trên. Tuy nhiên nhóm người lạ trên đến đây làm gì, có liên quan đến nghi vấn của người dân không thì chúng tôi đang điều tra, xác minh. (Nông Thôn Ngày Nay 12/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
11/11/2014, tại tỉnh Đắk Lắk, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm thế giới (ICRAF) đã tổ chức Hội thảo về “Cách tiếp cận cảnh quan để thực hiện REDD+ cho mục đích phát triển bền vững và giảm thiểu biến đổi khí hậu ở Việt Nam”.
Trước vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các nỗ lực về giảm thiểu biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính. Trong đó cơ chế REED+ (Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và nâng cao trữ lượng Cacbon rừng) được coi là biện pháp hiệu quả về kinh tế trong giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời giúp huy động nguồn hỗ trợ cho việc phát triển, bảo vệ rừng.
Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Nước ta có khoảng 10,5 triệu ha rừng tự nhiên. Tuy nhiên, mới chỉ có 5,5 triệu ha rừng là có tiền để chi trả cho việc quản lý, bảo vệ; số diện tích rừng còn lại hiện vẫn chưa có nguồn kinh phí.
Nếu không có một cách tiếp cận cảnh quan thì sẽ khó để giữ được rừng, và REED+ đang là cách tiếp cận mới. Cách tiếp cận dựa trên cảnh quan sẽ giúp cơ chế REDD+ bền vững và ứng phó tốt hơn với những nguyên nhân gây mất rừng, suy thoái rừng.
“Tuy nhiên, chúng ta cần rà soát các khái niệm về tiếp cận cảnh quan trên cái nhìn rộng về quy mô, số lượng, tác nhân, sự phân bổ nguồn lực… và xây dựng các biện pháp cụ thể để đóng góp hiệu quả cho sự phát triển chung của chương trình REDD+ ở nước ta”, ông Ngãi nhấn mạnh.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Hoài Dương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk cho biết: Chương trình hành động Quốc gia về REDD+ mở ra triển vọng mới cho công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng ở Việt Nam, là cơ hội để huy động các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ phát triển rừng, chống biến đổi khí hậu.
“Với ý nghĩa và tầm quan trọng có quy mô toàn cầu, trong bối cảnh rừng Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực lớn, chúng tôi đề nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các cơ quan, ban ngành, địa phương có những kế hoạch, chính sách, giải pháp cụ thể, mạnh mẽ hơn nữa để chương trình REDD+ theo Quyết định số 799/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sớm được triển khai ở khắp các địa phương có rừng trong cả nước”, ông Dương nói. (Thanh Tra 11/11) đầu trang(
Cả tháng nay, làng trầm huơng Phú Trung (huyện Tân Phú, Đồng Nai) vắng hẳn bóng dáng thương lái đến mua trầm. Nhiều cơ sở làm trầm cũng đóng cửa, nghỉ làm, khiến làng nghề trở nên buồn hơn bao giờ hết...
Nghề làm trầm hương ở xã Phú Trung từ lâu nay vẫn mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các cơ sở hay hộ tư nhân. Thời đỉnh cao, mỗi ký trầm loại tốt có khi lên tới trên chục triệu đồng. Tuy nhiên, khoảng 1 tháng trở lại đây, giá trầm hương rớt thê thảm.
Các cơ sở tồn hàng tấn nguyên liệu, thành phẩm làm ra không dám bán, phải bảo quản cả tháng trời vì giá quá thấp, nếu bán chắc chắn lỗ. Khổ nỗi, nếu trầm để quá lâu sẽ bị phai màu, chất lượng giảm sút, giá bán càng bị ép.
Chạy dọc con đường lộ trải dài trong xã, giờ chỉ lác đác vài cơ sở làm trầm lớn còn những hộ nhỏ thì gần như ngừng hẳn. Nhiều cơ sở gỗ trầm chất cao thành đống trước nhà...
Chị Trần Thị Thu, chủ một cơ sở trầm hương ở ấp Phú Thắng, xã Phú Trung nói: Cách đây mới chỉ 1 tháng thôi, tôi còn bán được loại trầm hương tốt với giá 10 triệu đồng/kg. Thế mà vài ngày nay, thương lái báo giá có 5 triệu đồng/kg, thật sự quá thấp”.
Tuy nhiên, sau một thời gian giữ hàng, chị Thu vẫn phải bán lô hàng vì đây là loại tốt nhất, cả tấn trầm may ra có được 20 kg loại thượng hạng, nếu để lâu sẽ đọng vốn và xuống cấp. Riêng loại nguyên liệu trầm là cây dó bầu, trong kho giờ chất đống. Mấy ngày nay, chị Thu phải cho công nhân nghỉ luân phiên, chờ giá cả tới đây xem thế nào.
Tương tự, chị Hồ Thị Đảm, chủ một cơ sở trầm tại ấp Phú Thắng nói: “Loại trầm trung bình chúng tôi làm trước đây có giá 2 triệu đồng/kg, loại thấp hơn cũng 1,3 triệu đồng/kg, thì nay chỉ còn 600.000 - 700.000đồng/kg”.
Theo chị Đảm, việc giá trầm xuống quá nhanh khiến các chủ cơ sở đều bất ngờ. Tất cả nguyên liệu dó bầu để làm trầm đều được cơ sở thu mua từ năm trước, giá mua cao.
Chị Đảm cho biết, mới bán 2 tấn trầm, trả lương hết cho công nhân, chị lỗ vài trăm triệu. Còn chị Thu, do có nguồn tiêu thụ lớn hơn, giá cả cũng nhỉnh hơn chút đỉnh, nhung cũng chịu cảnh lỗ. Hiện chị Thu đang phải lo thanh lý cho được số hàng tồn lên tới cả tấn trong tháng tới, nếu không trầm hỏng thì mất trắng cả tỷ đồng.
Ông Trương Quốc Thân, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Trung cho biết: Toàn xã có hơn 20 cơ sở làm trầm tập trung ở 2 ấp Phú Thắng và Phú Lợi. Nguồn nguyên liệu chủ yếu từ cây dó bầu, được nhập từ Bình Phước và một số nơi khác ngoài tỉnh. Riêng dân trong xã cũng có nhiều hộ đang trồng dó bầu, nhưng chủ yếu mới xuống giống, chưa thu hoạch.
Đơn cử như hộ anh Nguyễn Văn Nam (ấp Phú Thắng) vừa trồng 100 cây dó bầu, nghe tin giá trầm lao dốc liền tạm ngưng trồng mới để nghe ngóng tình hình. Tương tự, chị Thu Hương (ấp Phú Lợi) cũng trồng vài trăm cây dó bầu. Tuy nhiên, chị Hương cho rằng, còn vài năm nữa cây mới cho thu hoạch, lúc đó giá sẽ khác, không đáng quá lo. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/11, tr7) đầu trang(
Huyện Quế Phong (Nghệ An) là huyện giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), có hơn 73 km đường biên giới Việt Nam - Lào. Trong những năm gần đây, huyện được UBND tỉnh đánh giá là điểm sáng về mô hình giao đất, giao rừng, xây dựng nông thôn mới và phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng biên.
PV lên Hạnh Dịch là xã biên giới của tỉnh Nghệ An, gặp già làng Vi Ðình Văn, nay hơn 80 tuổi, người dân tộc Thái ở bản Chiếng. Già nói: "Từ xưa đến nay, rừng và đất rừng là không gian sinh tồn của người Thái, huyện Quế Phong nói chung, xã Hạnh Dịch nói riêng. Người Thái quan niệm rằng: "Sống rừng nuôi, chết rừng chôn" cho nên cộng đồng người Thái rất quý trọng rừng, sống thân thiện với rừng".
Ngoài ý nghĩa về tâm linh và văn hóa, rừng còn đóng vai trò bảo vệ, nuôi dưỡng nương, ruộng, ao cá và chăn nuôi gia súc; nơi lấy thuốc, thu hái măng, củi, gỗ làm nhà ở và chuồng trại... Từ khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nhà nước, đồng bào ổn định sinh kế, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho bà con sản xuất phát triển kinh tế từ rừng.
Chủ tịch UBND xã Hạnh Dịch Lương Tiến Lê cho biết: Xã biên giới Hạnh Dịch có 95% số dân là người Thái, bà con đoàn kết cùng nhau làm kinh tế và bảo vệ rừng. Từ khi giao đất, giao rừng cho cộng đồng và người dân, xã Hạnh Dịch phát triển kinh tế, nhiều hộ dân còn mở thêm dịch vụ mua bán nông sản, trao đổi hàng hóa, mua thuốc chữa bệnh, mua giống nông sản... giữa các bản, làng quanh vùng.
Từ năm 2012 đến nay, huyện Quế Phong đã phối hợp Viện Nghiên cứu Sinh thái chính sách xã hội (Viện SPERI), UBND xã Hạnh Dịch, Hạt kiểm lâm huyện cùng các cơ quan, đơn vị tiến hành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho năm cộng đồng bản. Ðó là bản Pỏm Om với 426,52 ha; bản Khốm, Pà Cọ, Pà Kỉm với 130,68 ha, bản Chiếng với 56,45 ha.
Ông Kim Văn Dân, dân tộc Thái, là già bản Pà Cọ, xã Hạnh Dịch chia sẻ: Trước đây đời sống của người Thái khổ lắm, chỉ biết trồng cây thuốc phiện, vào rừng khai thác gỗ để bán và đổi lấy muối ăn, dầu thắp sáng, gieo trồng thì lấy cây rừng vót nhọn chọc lỗ để tra hạt, cho nên bà con trong bản thường xuyên bị mất mùa, đời sống đói khổ.
Bây giờ, nhờ có Ðảng, Chính phủ quan tâm giao đất, giao rừng, làm đường giao thông, kéo điện về tận bản, đồng bào mừng lắm. Bây giờ, nhà nào cũng được xem ti-vi, nghe đài; xã có lớp học từ mẫu giáo đến tiểu học, THCS; Trạm y tế bản có nhân viên chăm sóc sức khỏe cho bà con.
Ðến nay, người Thái chúng tôi không còn lạc hậu nữa, nhà nào cũng đủ ăn, có xe máy, nhiều nhà có xe tải nhỏ chở ngô, thóc ra tận huyện bán lấy tiền mua sắm cho gia đình. Cả bản có 100 con trâu, bò và nhiều gia súc, gia cầm lắm, không chỉ phục vụ cày kéo mà còn để bán và cung cấp giống cho các bản quanh vùng.
Bí thư Chi bộ bản Pỏm Om Lô Cẩm Xuyên cho biết, nay bà con ở bản Pỏm Om ấm no, hạnh phúc là được nhận đất, nhận rừng sản xuất. Ngoài ra, Chi bộ còn phân công mỗi đảng viên giúp một hộ nghèo, đồng thời tuyên truyền bà con trong bản thực hiện tốt Quy chế biên giới.
Ngoài việc thành lập các cụm liên gia tự quản đường biên, mốc giới, chi bộ còn giao cho lực lượng thanh niên, dân quân của bản thường xuyên phối hợp Bộ đội Biên phòng xã Hạnh Dịch bảo vệ rừng và tham gia giữ gìn an ninh trật tự vùng biên giới. Từ khi được giao đất, giao rừng, mọi người dân trong cộng đồng bản có ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
Bí thư Chi bộ bản Pỏm Om kiến nghị, các cơ quan chức năng cần vào cuộc giải quyết giúp đồng bào Thái bị Nông trường cao-su Quế Phong lấn chiếm đất rừng đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om và Pà Cọ tại TK82. Cộng đồng bản Pỏm Om được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30-7-2012 với diện tích 426,52 ha.
Tháng 3-2013, Nông trường cao-su Quế Phong, thuộc Công ty cổ phần Ðầu tư phát triển cao-su Nghệ An đã lấn sang diện tích 1,17 ha và sau đó tiếp tục lấn thêm diện tích lên tới 7,6 ha. Không chỉ lấn đất, Nông trường cao-su Quế Phong còn dùng thuốc hóa học phun để bảo vệ cây cao-su non, làm chết hàng loạt cây bản địa mà người dân đang ươm, trồng và gây ô nhiễm đầu nguồn nước sinh hoạt của các bản. Mặc dù UBND huyện và UBND xã Hạnh Dịch đã có các văn bản chỉ đạo giải quyết việc Nông trường cao-su lấn đất của cộng đồng bản Pỏm Om và Pà Cọ, nhưng Nông trường cao-su Quế Phong vẫn không chấp hành và làm ngơ.
Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong Lang Văn Minh cho biết: "Ðể công tác quản lý rừng và đất rừng hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Nghị định 163 về giao đất, thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Ðối với việc Nông trường cao-su Quế Phong cố tình lấn chiếm đất đai của bản Pỏm Om, Pà Cọ, UBND huyện đã có công văn chỉ đạo các ban, ngành chức năng phối hợp với UBND xã Hạnh Dịch xử lý dứt điểm để người dân yên tâm sản xuất, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên mà họ được giao.
Ðáng chú ý, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các cấp cần có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ phát triển nghề rừng cho vùng dân tộc và miền núi, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo bền vững cho bà con dân tộc Thái nói riêng và vùng biên giới Quế Phong nói chung. (Nhân Dân 12/11) đầu trang(
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hiện có 36 dự án thủy điện đã và đang đầu tư xây dựng với tổng công suất 12.737MVV. Trong đó có 29 dự án đã đưa vào vận hành, 7 dự án đang xây dựng.
Tính đến nay, các dự án thủy điện trên địa bàn cả nước mới thực hiện trồng rừng thay thế được khoảng 1.248ha trên tổng số diện tích phải trồng bù là khoảng 19.792ha.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, hệ thống Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã chủ động ký kết với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) như nhà máy thủy điện, cung ứng nước sạch, du lịch... được 281 hợp đồng (tính tới ngày 30/3/2014) với số tiền thu được của năm 2011 và 2012 là 1.172 tỷ đồng, năm 2013 đạt 1.068 tỷ đồng và dự kiến trong năm 2014 là 1.150 tỷ đồng.
Nhiều địa phương có dự án thủy điện (DATĐ) đã thực hiện tốt chính sách chi trả như Lâm Đồng, Quảng Nam, Sơn La, Đắk Lắk... Tuy nhiên, một số nhà máy thủy điện (NMTĐ) nhỏ chưa thực hiện việc chi trả đúng quy định với lý do tình hình tài chính khó khăn.
Nhiều địa phương đề nghị sớm có quy định xử lý những NMTĐ không nộp hoặc nộp chậm phí DVMTR, yêu cầu nhà đầu tư cam kết chi trả khi đăng ký đầu tư. Về việc này, Bộ Công Thương đã có văn bản gửi các chủ đầu tư thủy điện yêu cầu khẩn trương hoàn thành nghĩa vụ chi trả DVMTR, nếu không hoàn thành sẽ xem xét thu hồi hoặc chưa cấp giấy phép hoạt động điện lực. Việc chi trả phí DVMTR còn chậm trễ nói gì đến chuyện trồng rừng thay thế như cam kết lúc đầu của các ông chủ DATĐ.
Ông Lê Trọng Quảng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu - bức xúc: Khó khăn lớn nhất là các DATĐ nhỏ thường của doanh nghiệp tư nhân. Khi xin dự án, doanh nghiệp cam kết đủ thứ nhưng khi làm rồi thì "chây ỳ" với nhiều lý do để không chịu trồng bù lại rừng, không trả phí DVMTR...
Ông Nguyễn Văn Tiến - Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng - cho rằng, vấn đề trồng rừng thay thế rất khó triển khai. Ở Lâm Đồng có 8 đơn vị đăng ký trồng bù rừng, song chỉ 2 đơn vị có đất và 6 đơn vị chấp nhận nộp tiền nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì nhiều lý do, trong đó có khó khăn về tài chính.
Còn theo kế hoạch của UBND tỉnh Đắk Nông, 9 chủ đầu tư thủy điện trên địa bàn tỉnh phải trồng hơn 3.232ha rừng thay thế trong 2 năm 2014 và 2015.Trước tình trạng chậm triển khai việc trồng rừng thay thế của các DATĐ, tỉnh Đắk Nông kiến nghị Chính phủ cho phép các đơn vị vừa lập và hoàn thiện hồ sơ vừa triển khai trồng rừng; cho phép các chủ DATĐ căn cứ vào dự toán kinh phí do tỉnh Đắk Nông xây dựng để xây dựng tổng dự toán kinh phí trồng rừng thay thế và nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Theo Chỉ thị số 02/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác, Thủ tướng yêu cầu, đối với các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác, phải thực hiện trồng rừng thay thế ngay trong năm 2014 và đảm bảo hoàn thành toàn bộ trong năm 2015.
Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ đất để các dự án trồng lại rừng trên địa bàn, trường hợp địa phương không có hoặc không còn đủ quỹ đất thì yêu cầu chủ đầu tư nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng theo quy định tại Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14/1/2008 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) bố trí trồng rừng ở địa phương khác.
Bộ NN&PTNT và các Bộ, ngành, UBND địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác; xử lý nghiêm đối với chủ đầu tư không trồng lại rừng. Thủ tướng yêu cầu vào tháng 1 hàng năm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức đánh giá việc thực hiện trồng rừng mới thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác trên địa bàn, báo cáo Bộ NN&PTNT để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng.
Ông Lê Hùng Nam - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý nguồn nước và nước sạch nông thôn (Tổng cục Thủy lợi, Bộ NN&PTNT) chia sẻ, Bộ NN&PTNT đã ban hành đề án với các quy định cụ thể về việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trong đó quy định rõ những diện tích rừng trồng thay thế và diện tích chuyển sang trồng các loại cây lâu năm cho từng năm, trước mắt là năm 2014- 2015, để các địa phương chủ động thực hiện tùy thuộc vào điều kiện thực tế, bảo đảm phát triển quỹ rừng và sinh kế cho người dân.
Hiện Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức các đoàn kiểm tra việc thực hiện, quản lý, sử dụng chi trả phí DVMTR tại các địa phương để tổng hợp báo cáo Chính phủ. (Pháp Luật VN 10/11, tr12) đầu trang(
Với diện tích rừng tương đối lớn, Việt Nam có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều loài LSNG chưa được khai thác, bảo tồn hiệu quả, thậm chí có nguy cơ biến mất.
Chính vì vậy, tại Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp chuyên đề Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ vùng miền núi phía Bắc, các chuyên gia đã đưa ra nhiều giải pháp cũng như định hướng giúp bà con khai thác, phát triển LSNG một cách hiệu quả.
Với 2.000 loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là cây thân gỗ; 3.000 loài cho dược liệu; 400 loài cho lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc; 500 loài cho tinh dầu, LSNG được coi là lĩnh vực có vị trí quan trọng trong ngành lâm nghiệp (chiếm 20 – 25% giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm).
LSNG gắn liền với cuộc sống của 24 triệu đồng bào miền núi sống trong và gần rừng, có nơi nguồn thu từ LSNG chiếm 10 – 20% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình. Gây trồng LSNG trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc khai thác, thu hái LSNG từ rừng tự nhiên và chế biến LSNG đã thu hút hàng vạn lao động khu vực nông thôn.
Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến năm 2014, có khoảng 36/63 tỉnh gây trồng, thu hái LSNG với diện tích 1,6 triệu hecta, chiếm 13% diện tích đất có rừng trong phạm vi toàn quốc, trong đó diện tích LSNG có khả năng khai thác, thu hái từ rừng tự nhiên là 1,1 triệu hecta; diện tích LSNG được trồng là 469.794ha.
Cơ cấu các loại cây LSNG chủ yếu là tre, nứa, trúc 769.411ha (chiếm 47%); song, mây 381.936ha (22,4%); thông nhựa 255.728ha (15,6%); quế 80.991ha (4,9%). LSNG của Việt Nam xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ.
Hiện, ở Việt Nam có gần 4.000 loài cây có giá trị cung cấp nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho con người, 216 loài tre trúc và 30 loài song mây có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hiện có ít nhất 150 mặt hàng LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại như: mật ong, nấm, các loại hương liệu, song, mây, tre, trúc,… Đây cũng là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế.
Theo PGS.TS.Nguyễn Huy Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên nhiệt đới chiếm chưa tới 50% tổng sinh khối của rừng, còn LSNG có thể chiếm hơn 50% tổng sinh khối.
Vì thế, LSNG có vai trò hết sức quan trọng trong các hệ sinh thái rừng, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Hơn nữa, LSNG rất đa dạng về thành phần loài và dạng sống, từ các loài thực vật đến động vật và vi sinh vật, từ các loài sinh vật có kích thước khổng lồ đến các sinh vật có kích thước rất nhỏ không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chúng tạo nên một cấu trúc không gian hợp lý để chung sống với nhau nhằm cân bằng sinh thái, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất.
Tuy nhiên, ông Sơn nêu một thực tế, do cách khai thác theo kiểu tận diệt, chưa có các biện pháp bảo tồn nguồn gen hiệu quả nên nhiều loài LSNG đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Theo các nhà khoa học, cứ sau 20 phút, trên phạm vi toàn cầu lại có thêm 1 loài động vật hoặc thực vật bị tuyệt chủng.
Trong vòng 50 năm gần đây, tốc độ tuyệt chủng của các loài vi sinh vật đã tăng lên 40 lần so với thời kỳ cách mạng công nghiệp. Tại Việt Nam, ghi nhận trong những năm qua có tới 10 loài quý hiếm đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên; ngoài ra còn có 882 loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng.
Để giúp người dân khai thác hiệu quả các loài LSNG, từ đó góp phần bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập, từ nhiều năm qua, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và hệ thống khuyến nông các địa phương đã xây dựng nhiều mô hình trồng các loài cây LSNG mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, như trồng cây mây K83, mắc-ca, quế, thảo quả, sở, sơn tra,…
Đơn cử như mô hình trồng cây mây K83 được triển khai tại Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh với diện tích 454ha, 420 hộ tham gia; cây sinh trưởng và phát triển tốt, thích nghi với nhiều điều kiện lập địa, dễ trồng, năng suất cao gấp 3 lần mây nếp truyền thống.
Tuy dự án mới triển khai được 2 năm nhưng chiều cao cây trung bình đã đạt 70 - 85cm, đường kính gốc đạt từ 1,5 - 2cm, tỷ lệ sống trung bình đạt 92%. Cây mây K83 trồng 1 lần cho thu hoạch thời gian từ 30 - 40 năm sau, sợi mây K83 bóng trắng tự nhiên, dẻo bền, mịn thớ. Sau 4 - 5 năm có thể thu hoạch được 3 – 4 tấn/ha, với giá thu mua hiện tại là 3,5 triệu đồng/tấn thì 1ha có thể thu được 10 – 14 triệu đồng.
Dự án trồng cây LSNG dược liệu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Giang với các loài như ba kích, kim tiền thảo, sa nhân (diện tích 180ha, 940 hộ tham gia) cũng thu được kết quả khả quan. Tỷ lệ sống đạt trên 85%, cây sinh trưởng, phát triển tốt, không có sâu bệnh hại.
Cụ thể như ba kích, sau năm đầu cây bắt đầu bám giá thể, sang năm thứ hai 100% số cây đã leo giàn. Hiện, 100% số cây trong mô hình đã có củ, tuy nhiên chưa cho thu hoạch vì để đạt năng suất và tính dược liệu tốt nhất thì phải sau 5 năm mới tiến hành thu hoạch.
Theo tính toán sơ bộ, với 1ha cây ba kích, sau 5 năm trồng, người dân sẽ thu được lợi nhuận khoảng 228 triệu đồng; mô hình trồng kim tiền thảo đạt khoảng 79 triệu đồng/ha. Theo TS.Nguyễn Viết Khoa, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, mô hình trồng kim tiền thảo giúp bà con nâng cao thu nhập vì kim tiền thảo được trồng chủ yếu dưới tán vải hoặc diện tích cây ăn quả vườn nhà, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân.
Dự án trồng cây LSNG làm thực phẩm triển khai ở 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái (diện tích 213,6ha, 270 hộ tham gia) với các loại cây thảo quả, măng Bát độ cũng đang phát triển tốt. Với cây thảo quả, tỷ lệ cây sống đạt 88%, cây sinh trưởng phát triển tốt, thân sinh khí to, mập, mỗi khóm có từ 4 – 5 cây, chiều cao trung bình 2,8m, đường kính gốc bình quân 2,5cm, cây không bị sâu bệnh và đã cho quả bói, dự kiến sau 5 năm trồng, năng suất đạt 150kg quả/ha. Với cây măng tre Bát độ, tỷ lệ cây sống đạt 86%, mỗi khóm có 2 – 3 cây tre, chiều cao trung bình 4,5m, đường kính gốc 3cm, năng suất bình quân sau 5 năm dự kiến đạt 70 – 80 tấn/ha.
Từ hiệu quả của những mô hình trên, có thể khẳng định, phát triển LSNG là một trong những hướng đi để khai thác bền vững tài nguyên rừng, vừa góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, vừa là giải pháp thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Vì vậy, theo ông Sơn, việc quản lý tài nguyên LSNG phải được chú trọng tương đương với các loại lâm sản khác và phải được đưa vào Luật Bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, việc khai thác, sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm ngoài gỗ cũng phải được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, cần có phương án đánh giá, phân loại LSNG theo thứ tự ưu tiên, từ những loài có giá trị cao đến thấp theo từng vùng sinh thái hoặc theo từng địa phương để có phương án bảo tồn, phát triển, nhất là những loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chọn tạo giống, gây trồng, khai thác, sơ chế, bảo quản sản phẩm, chuyển giao cho nông dân để bà con gây trồng, khai thác hiệu quả. Đề xuất các cơ chế, chính sách để khuyến khích bảo tồn và phát triển các loài LSNG gắn với bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời nghiên cứu thị trường và tiêu chuẩn chất lượng của từng loại LSNG để đảm bảo giá cả ổn định.
Theo TS. Trần Văn Khởi, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trên cơ sở kết quả của những mô hình đã xây dựng, trong thời gian tới, lực lượng khuyến nông sẽ tăng cường năng lực cho người dân để phát triển một số loài LSNG có giá trị hàng hóa theo các nhóm loài như làm dược liệu, thực phẩm, nguyên liệu chế biến.
Nâng cao năng suất, chất lượng thông qua giới thiệu tiến bộ kỹ thuật về giống mới có năng suất, chất lượng cao, sản xuất bằng phương pháp mô, hom thích ứng với điều kiện kập địa trồng khác nhau, đồng thời giới thiệu các kỹ thuật canh tác để tăng năng suất, chất lượng cây trồng.
Ngoài ra, các địa phương, ngành chức năng cũng cần tạo mối liên kết giữa các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm với nông dân nhằm tạo ra vùng sản xuất hàng hóa ổn định cho một số loài LSNG. Gắn phát triển với bảo tồn LSNG, nâng cao nhận thức cho người dân để bảo tồn các loài LSNG quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam 2006 – 2020, định hướng phát triển LSNG đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm LSNG).
Đến năm 2020, LSNG trở thành một trong những ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng bình quân 15 – 20%, thu hút khoảng 1,5 triệu lao động, thu nhập từ LSNG chiếm 15 – 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn. (Kinh Tế Nông Thôn 11/11) đầu trang(
Hàng trăm nghìn mét khối đất đá tại khu vực núi Khe Trầu (huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế) bị khai thác trái phép trong nhiều ngày nhưng Chủ tịch xã Lộc Trì Nguyễn Xuân Diệu vẫn khẳng định... không biết.
Ngày 30-12-2013, lấy lí do “đất có nhiều sỏi, bạc màu khiến cây rừng chậm phát triển” UBND xã Lộc Trì có tờ trình gửi Chủ tịch huyện Phú Lộc Nguyễn Thanh Hà xin cải tạo đất lâm nghiệp ở khu vực Khe Trầu và được phê duyệt.
Có được “bùa hộ mệnh” này trong tay, ông Nguyễn Xuân Diệu (Chủ tịch UBND xã Lộc Trì) đã để cho doanh nghiệp bên ngoài đưa xe tải, máy móc ngang nhiên xẻ núi, múc đất.
Kết quả, chỉ trong một thời gian ngắn, khu vực Khe Trầu bị đào xới, sạt lở loang lổ, hàng vạn mét khối (m3) đất đã bị bóc dỡ dẫn đến nứt đồi, sạt lở nguy hiểm. Toàn bộ đất đá khai thác, ông Nguyễn Xuân Diệu đã để cho doanh nghiệp bên ngoài đổ “trái phép” vào khu tái định cư liên quan đến việc mở rộng QL 1A.
Tiếp xúc với ông Nguyễn Xuân Diệu, Chủ tịch xã Lộc Trì, phóng viên được biết “việc lập tờ trình xin cải tạo đất đồi, nhằm lấy VLSL phục vụ khu tái định cư Lộc Trì, là theo ý kiến chỉ đạo của trên.” Tuy nhiên, ông Diệu thừa nhận, xã Lộc Trì không nằm trong quy hoạch khai thác đất san lấp của tỉnh và hoạt động khai thác đất đã dừng từ lâu.
Khi phóng viên cung cấp bằng chứng cho thấy khu vực núi Khe Trầu vẫn đang còn tình trạng khai thác đất đá vận chuyển đi nơi khác, ông Diệu nói “tôi thề không biết, nếu biết tôi đã xử lý…” ?
Khu vực khai thác đất nằm không xa so với UBND xã Lộc Trì vậy mà ông chủ tịch xã không hay biết việc khai thác đó, phải chăng là một yếu kém trong khâu quản lý hay chính là hành động “làm ngơ” tiếp tay cho DN khai thác?
Theo tờ trình gửi UBND tỉnh do ông Nguyễn Xuân Diệu, Chủ tịch xã Lộc Trì ký, ghi rõ việc xin cải tạo đất khu vực Khe Trầu là do “UBND xã nhận thấy rừng ở khu vực này chậm phát triển, đất tại đây có nhiều sỏi sạn, bạ màu... cần phải có giải pháp hữu hiệu cải tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng rừng và sự phát triển của cây rừng”.
Nhưng, khi trao đổi với phóng viên, nhiều người dân vùng Khe Trầu cho biết, họ không hề có nhu cầu xin cải tạo đất trồng rừng như tờ trình của xã. Bà Phan Thị Lộc (trú thôn Trung Phước, xã Lộc Trì) nói: “Gia đình tôi không hề có nhu cầu cải tạo khu đất, hơn nửa năm trước, cán bộ xã cùng đại diện doanh nghiệp đến đặt vấn đề nhượng lại khu rừng để lấy đất san lấp, họ nói sẽ đền bù cho 40 triệu đồng”.
“Những người này còn cho rằng, nếu không chấp nhận, đất rừng vẫn bị thu hồi và cũng không có tiền đền bù. Trước áp lực đó gia đình phải giao đất, nhận tiền…” bà Lộc cho biết thêm.
Việc khai thác đất trái phép này không chỉ gây thất thoát tài nguyên, ảnh hưởng đến hoạt động canh tác của các hộ dân mà còn gây nên những hiểm họa đối với cuộc sống cong người khi mùa mưa bão đến.
“Với việc khai thác đất không tuân thủ các quy định này, chắc chắn chỉ một trận mưa vừa thì toàn bộ mái đồi này sẽ bị sạt lở, vùi lấp hết vườn cây dưới chân đồi.” – một người dân xã Lộc Trì cho biết.
Trao đổi với phóng viên Thời báo Đông Nam Á, ông Hồ Trọng Cầu, Phó Chủ tịch huyện Phú Lộc, khẳng định: “Chính quyền xã Lộc Trì cho phép lấy đất san lấp tại vùng này là sai rồi. Đây là địa bàn không thuộc quy hoạch mỏ đất san lấp của tỉnh”.
Ông Cái Văn Vinh, Trưởng Phòng Tài nguyên Khoáng sản (Sở TN&MT) TT-Huế cho biết, trên địa bàn xã Lộc Trì chưa có chủ trương cấp mỏ khai thác đất san lấp. Nếu có “vận dụng” UBND tỉnh sẽ có văn bản gửi Sở nắm bắt để quản lý, hiện vẫn chưa. Phòng không có chức năng xử phạt, khi phát hiện sự việc, chỉ báo cho Thanh tra Sở kiểm tra xử lý. Khai thác, đưa đất san lấp ra ngoài phải hoàn thành các thủ tục theo quy định và đóng thuế cho Nhà nước, khi phát hiện sẽ xử lý về hành vi “khai thác khoáng sản trái phép”.
Ông Vinh cho biết thêm, “muốn khai thác khoáng sản ở đâu, đều phải được UBND tỉnh cấp phép mới cho vận chuyển ra khỏi khu vực. UBND xã, huyện trở xuống không có quyền cho phép doanh nghiệp, người dân khai thác, lấy đất san lấp”. (Thời Báo Đông Nam Á 11/11) đầu trang(
Mới đây, UBND huyện Quỳ Châu đã tổ chức hội nghị sơ kết công tác giao đất lâm nghiệp cụm ba xã vùng trong Châu Phong, Châu Hoàn và Diên Lãm, ông Ngô Đức Thuận, UVBTV, Phó Chủ tịch UBND huyện chủ trì hội nghị.
Từ ngày 2/8/2014 đến ngày 31/10/2014 công ty CP đầu tư và môi trường HQ miền Trung phối hợp với ba xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm đã triển khai công việc giao đất lâm nghiệp:  Tại xã Châu Hoàn công ty đã tiến hành phân chia thửa đất trên bản đồ, giao đất lâm nghiệp tại thực địa xong 9/9 bản.  Đo đạc và lập hồ sơ 170 thửa/ 170 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 831,4 ha.
Tại Châu Phong, đã phân chia thửa đất trên bản đồ và giao đất lâm nghiệp tại thực địa xong của 19/19 bản trên địa bàn với tổng số 752 hộ/ 873 thửa đất. Tổng diện tích được giao 4097,9 ha.
Xã Diên Lãm đã hoàn thành việc giao đất lâm nghiệp tại thực địa của 12/ 12 bản với tổng số 392 hộ/ 392 thửa đất tổng diện tích 1663,9 ha, đã tiến hành thống kê và lập hồ sơ  122 thửa/ 122 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 466,1 ha được giao đất lâm nghiệp tạm thời năm 2003 phục vụ việc kê khai đăng kí cấp chứng nhận quản lí sử dụng đất.
Phát biểu tại hội nghị ông Ngô Đức Thuận UVBTV, Phó Chủ tịch UBND huyện đã biểu dương sự cố gắng của ba xã vùng trong và nhấn mạnh một số nhiệm vụ trong thời gian tới: Nhà tư vấn tiếp tục thu thập biên tập hồ sơ thực địa, phối hợp với chính quyền địa phương quan tâm các hộ dân đến tại thực địa để nhận rừng; cấp xã chính quyền quan tâm chỉ đạo, phối hợp tốt với nhà đầu tư, tuyên truyền cho người dân biết về công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng; thực hiện tốt quy hoạch trồng rừng, định hướng cho người dân xây dựng các mô hình, chọn giống cây trồng để phát triển làm giàu từ rừng.
UBND xã nâng cao chất lượng quản lí bảo vệ rừng, phối hợp các phòng, ban, rừng phòng hộ, kiểm lâm làm tốt công tác quản lí, chăm sóc khoanh nuôi, trồng rừng để người dân thoát nghèo bền vững.
Bên cạnh đó huyện cần quan tâm, chỉ đạo cung cấp vốn, áp dụng khoa học công nghệ áp dụng vào sản xuất trồng rừng cho người dân từ đó giúp người dân thoát nghèo bền vững từ quản lý, bảo vệ và trồng rừng. (Nghean.gov.vn 11/11) đầu trang(
Phương án trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang sử dụng cho mục đích khác đối với Dự án Di dân vùng thiên tai có nguy cơ sạt lở đất núi, xã Văn Lăng (Đồng Hỷ) đã được UBND tỉnh phê duyệt ngày 10-11 và sẽ triển khai trong năm 2015.
Theo đó, tổng diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng sang thành rừng sản xuất là gần 2ha, thuộc xóm Tam Va, xã Văn Lăng và giống cây được đưa vào trồng là cây keo lai.
Dự án Di dân vùng thiên tai có nguy cơ sạt lở đất núi, xã Văn Lăng là dự án xây dựng công trình công cộng, có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Do vậy, kinh phí trồng rừng thay thế được lấy từ ngân sách Nhà nước đầu tư cho Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Sở Nông nghiệp và PTNT đã được tỉnh giao xây dựng kế hoạch trồng rừng thay thế thuộc dự án theo kế hoạch trồng rừng sản xuất năm 2015 của tỉnh. (Báo Thái Nguyên 11/11) đầu trang(
Ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo việc triển khai thực hiện dự án Tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016 trên điạ bàn tỉnh (Tại công văn số 2988/VP – KTN, ngày 10/11/2014 của Văn phòng UBND tỉnh).
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các đơn vị liên quan thống nhất phương án kiểm kê và kế hoạch điều tra rừng tại tỉnh; tạo điều kiện, cung cấp tài liệu, số liệu theo qui định cho đơn vị thực hiện điều tra.
UBND các huyện, thành phố chỉ đạo UBND xã tuyên truyền cho người dân và các chủ rừng về công tác điều tra, kiểm kê rừng và tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện công tác điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn.
Ban Chỉ đạo điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Lạng Sơn có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện công tác điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh. (Langson.gov.vn 11/11) đầu trang(
Đến nay, các đơn vị chức năng của huyện Chợ Mới đã nghiệm thu xong diện tích rừng trồng mới năm 2014 theo Dự án 147 trên địa bàn huyện với tỷ lệ cây sống đạt trên 85%.
Năm 2014, huyện Chợ Mới được giao chỉ tiêu trồng rừng mới 1.600 ha. Kết thúc niên vụ trồng rừng, toàn huyện trồng được hơn 1.600 ha, vượt 6% so với kế hoạch. Trong đó trồng rừng theo Dự án 147 được gần 1.450 đạt 103,36% kế hoạch; Trồng rừng trong nhân dân được hơn 110, đạt 112,6% kế hoạch.
Cơ cấu cây giống chủ yếu là cây keo, lát, quế, hồi... Sau khi kết thúc niên vụ trồng rừng, cán bộ kỹ thuật đã tiến hành nghiệm thu cây trồng mới, đối với diện tích cây trồng bị chết, huyện tiếp tục cấp cây giống bổ sung để người dân trồng dặm.
Đối với những diện tích cây rừng còn sống, cán bộ kỹ thuật hướng dẫn người dân cách chăm sóc nhằm giúp cây phát triển tốt. (Đài PTTH Bắc Kạn 12/11) đầu trang(
Một thời, Nhà nước vận động người dân trồng rừng, đầu tư gần như toàn bộ chi phí, với nhiều biện pháp quản lý, chỉ đạo thúc đẩy, song cả số lượng và chất lượng của phong trào vẫn không đáp ứng yêu cầu.
Chúng ta nêu khẩu hiệu rất đúng là “ Ai trồng cây người ấy hưởng”. Phương châm này gần đây đã được thể chế hóa bằng chính sách hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp (LN) theo Quyết định 178 của Thủ tướng Chính phủ.
Mặc dù vậy, lĩnh vực công tác này vẫn chưa có chuyển biến đáng kể trong các công ty LN, các ban quản lý rừng phòng hộ (PH) đối với khoán cũng như việc giao, cho thuê đối với rừng tự nhiên (RTN), đất quy hoạch PH. Ngược lại, việc mong muốn được giao, được thuê đất LN quy hoạch sản xuất của người dân trên địa bàn đã không thể đáp ứng.
Đối với việc trồng rừng kinh tế, chính sách hưởng lợi đã đáp ứng yêu cầu động lực lợi ích. Nguyên lý sản xuất cái gì thị trường cần chứ không phải sản xuất cái gì chúng ta có đã luôn luôn đúng, khi thị trường gỗ, lâm sản đã đặt yêu cầu khách quan cho người trồng rừng là hãy cung cấp cho nó gỗ keo bất cập phân (nghĩa là không kể lớn hay nhỏ).
Chuỗi giá trị gỗ keo dăm giấy đã hình thành từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ gắn với xuất nhập khẩu. Chính sách ra đời gặp “chuỗi giá trị keo” do thị trường tạo lập đã thật sự tạo được động lực mạnh mẽ, hình thành hàng vạn ha rừng keo đủ các cỡ tuổi đáp ứng thường xuyên nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy sơ chế gỗ keo.
Từ chỗ thời điểm khai thác rừng keo phục vụ nguyên liệu giấy từ 7 - 8 năm, họ đã có các biện pháp kỹ thuật thích hợp để giảm xuống còn chỉ 4 - 5 năm như sử dụng máy múc để đào hố có kích cỡ 80cm x 80cm x 100 cm (quy trình chỉ là 40cm cho cả 3 chiều kích), bón lót và bón thúc phân cho rừng trồng, sử dụng giống chuẩn, trội,…
Tăng trưởng sinh khối rừng keo trung bình là 15m3/ha/ năm, người dân đã tạo được 20 -25m3/ha/ năm. Câu hỏi đặt ra là tại sao người trồng rừng không để rừng keo có độ tuổi 10 -12 năm hoặc lớn hơn để khai thác gỗ lớn bán giá cao hơn so với gỗ dùng làm nguyên liệu dăm giấy?
Lịch sử cho thấy, với chu kỳ dưới 10 năm thường có một cơn bão lớn uy hiếp, đây là điều kiện đặc thù thời tiết và khí hậu của các tỉnh miền Trung, khiến người trồng rừng keo không dám mạo hiểm. Đây chính là khó khăn khách quan dẫn đến người trồng rừng dễ gặp rủi ro khi kéo dài tuổi khai thác gỗ rừng trồng.
Bộ Nông nghiệp &PTNT đã ban hành Quyết định số 774/QĐ -BNN -TCLN ngày 18-4-2014 Phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 -2020, nhằm phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn. Theo đó, sẽ đề xuất Chính phủ ban hành một số chính sách ưu đãi về đất đai, đầu tư tín dụng và các chính sách hỗ trợ khác.
Việc nghiên cứu thí điểm thực hiện chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn cũng được đặt ra. Tuy nhiên, các chính sách này nếu được hiện thực hóa, vẫn chỉ giải quyết vấn đề động lực có tính chất thúc đẩy, hỗ trợ từ vai trò của quản lý Nhà nước; còn động lực mang tính quyết định vẫn phải từ phía sản xuất kinh doanh trong chuỗi giá trị keo kinh doanh gỗ lớn.
Chính vì vậy, nếu những doanh nghiệp chế biến gỗ keo xuất khẩu và dân dụng không đối mặt với hoàn cảnh thực tế khách quan này để giải bài toán động lực lợi ích hài hòa giữa doanh nghiệp và người trồng rừng thì không thể có nguyên liệu đầu vào cung cấp ổn định cho sản xuất. Phải chăng đáp số của nó chính là giải pháp cùng chịu trách nhiệm về những rủi ro của sản phẩm nguyên liệu đầu vào giữa doanh nghiêp và người trồng rừng, trong đó có vai trò hỗ trợ của Nhà nước.
Hiện nay, Thừa Thiên Huế đã giao hơn 30 ngàn ha RTN cho các nhóm hộ, các cộng đồng dân cư quản lý và hưởng lợi; khó có điều kiện vốn để đầu tư quản lý và sản xuất kinh doanh rừng. Không thể đặt yêu cầu người dân phải nghĩ đến lợi ích lâu dài, đến môi trường sinh thái trong khi chuyện “cơm, áo, gạo, tiền” trước mắt vẫn đang là bài toán nan giải.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là chính sách phải thực sự tạo động lực lợi ích khuyến khích người dân. Muốn vậy, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững RTN và rừng PH mà còn phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống của người dân trên địa bàn.
Theo đó, để tạo động lực lợi ích làm cho người dân chủ động và thật sự tự nguyện nhận RTN và đất quy hoạch PH để quản lý, phát triển sản xuất phải có lợi ích cụ thể, trước mắt, có thể bảo đảm thu nhập tương đối đáp ứng yêu cầu trước mắt nhằm tiến tới lợi ích lâu dài từ chính rừng và đất mang lại.
Tuy nhiên, điều kiện đủ để việc quản lý có hiệu quả vẫn là giải quyết bài toán lợi ích trước mắt, người quản lý RTN lấy gì để “đủ sống” vẫn là câu hỏi chưa có lời giải thỏa đáng. (Báo Thừa Thiên Huế 11/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng