|
Ngày 11 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Những tiếng kêu như gào thét xé toang một vùng rừng im lặng sau cơn mưa chiều bất ngờ đổ xuống, khiến cho nhiều thành viên trong đoàn chúng tôi cảm thấy lo sợ.
Bởi lẽ hiếm khi họ được nghe một thứ âm thanh thảng thốt chói tai đến thế và họ vẫn bước tiếp để vượt qua các vách núi dựng đứng, cùng lũ vắt khát máu đang bám đầy lên đôi giày lấm lem để kịp trở về lán trại trước khi trời tối.
Nhưng với kinh nghiệm nhiều năm làm nghiên cứu, đã nhận ra rằng đó là tiếng kêu ai oán của một con thú sắp chết đang cần sự cứu giúp của bầy đàn, đang cần bàn tay giúp đỡ của PV và đang cần những trái tim quả cảm, nhân hậu của con người.
Nếu không được cứu vớt có lẽ tiếng kêu cứu ấy là những âm thanh cuối cùng được truyền đi yếu ớt trong khu rừng nguyên sinh và đáp lại bằng sự tuyệt vọng của muôn loài.
Đem lại những hiểu biết cho mọi người về thiên nhiên hoang dã là trách nhiệm không phải của riêng ai mà nó là những nỗ lực không mệt mỏi của cả cộng đồng. Nhằm nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên bảo vệ cuộc sống, nhất là trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều tổ chức trong nước và quốc tế nỗ lực kêu gọi nhân loại cùng nhau chung sức.
Đối với PV, một người nghiên cứu đa dạng sinh học thì việc giúp đỡ các bạn trẻ hiểu biết về thiên nhiên Việt Nam luôn là ước mơ cháy bỏng và khao khát. Đó cũng là lý do tại sao "Hội những người chinh phục độ cao" được ra đời với tiêu chí “Đồng hành bảo vệ thiên nhiên hoang dã”.
Cùng với vài trăm thành viên chủ yếu là công chức, viên chức, những bạn trẻ sinh viên muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc bảo vệ đa dạng sinh học Việt Nam. Sau nhiều chuyến đi tới các vườn quốc gia như Bù Gia Mập, Bi Đúp - Núi Bà, Chư Yang Sin, lần này PV quyết định đến thăm và chinh phục độ cao 1.800 m thuộc VQG Konkakinh với sự hướng dẫn nhiệt tình của các nhân viên kiểm lâm vườn.
Sau hai ngày trèo đèo vượt suối, ngủ rừng và vượt qua nhiều những đỉnh núi và vách đá cheo leo dựng đứng. Đúng 1 giờ 20 phút người cuối cùng trong đoàn đã leo lên đến đỉnh trong sự mệt nhoài và chiếc áo ướt đẫm mồ hôi. Ai cũng đều hân hoan vui sướng vì đã vượt qua chính mình mặc dù đoạn đường về nghĩ đến mà kinh, vì phải đi xuống những con dốc gần như thẳng đứng, chỉ nghĩ đến 200 m độ cao vượt đá mà leo lên, giờ phải lết xuống chẳng ai nói với ai một lời.
Nhưng không sao, niềm vui cứ hưởng trọn còn khó khăn sẽ tính sau, vì PV là những thành viên đầu tiên của "Hội những người chinh phục độ cao" đã chinh phục được nóc nhà của Gia Lai - đỉnh Konkakinh 1.778 m so với mực nước biển.
Hân hoan trong niềm vui chinh phục đỉnh cao, PV cùng nhau rời đỉnh trở về nơi đoàn cắm trại. Bỗng những tiếng kêu xé lòng trong không gian yên tĩnh của một loài thú lạ. Nghe tiếng kêu thét biết rằng có chuyện chẳng lành xảy ra và cả đoàn chia nhau tìm kiếm. Mọi người vô cùng xót thương khi tận mắt chứng kiến một con vọc chà vá chân xám cái Pygathrix nemaeus - loài động vật linh trưởng đặc hữu của Việt Nam và cũng là loài đang được bảo tồn với một dự án rất lớn ở VQG Konkakinh đang bị mắc bẫy.
Sợi dây cáp bằng thép thít chặt bàn tay phải của nó khiến nó vô cùng đau đớn, vết thương lâu ngày đã sưng tấy. Nhìn thấy nhiều người lạ con vọc càng gào thét thảm thiết trong đau đớn và cố vùng vẫy thoát ra không được... giờ này cả bầy voọc và những đứa con non của nó đã đi di chuyển đi rất xa vì biết rằng không có cách nào cứu được người mẹ, người vợ của chúng trong một hoàn cảnh gần như vô vọng ấy.
Cả đoàn lặng đi trong giây lát như cảm nhận được sự đau đớn của chính bản thân mình và cùng nhau bàn kế hoạch giải cứu chú voọc chà vá chân xám cái Pygathrix nemaeus tội nghiệp. PV quyết định chia làm 2 nhóm, một nhóm dụ đỗ và gây chú ý, một nhóm tìm cách tiếp cận giữ chặt lấy chú voọc để nó không còn khả năng tấn công. Hù dọa, la hét, kêu gào vang cả một góc rừng, con voọc tội nghiệp cố gắng không muốn PV tiếp cận và dường như đây là lúc nó trở nên nguy hiểm nhất trong những nỗ lực trốn thoát tuyệt vọng.
Bằng một kinh nghiệm nhỏ PV thừa biết nó đang đói lả và chỉ cần một cành lá sung quả to (một loài cây mà loài voọc chà vá chân xám rất thích ăn) xanh non mới làm nó hiền lại. Đưa ra trước mặt món khoái khẩu con voọc tỏ ra ngoan ngoãn đưa tay bứt từng chiếc lá nhai ngấu nghiến vì đói.
Chỉ cần có vậy ngay lập tức chiếc áo kiểm lâm được chùm vào đầu nó và mọi người lao vào giữ chặt. Anh Toàn, nhân viên kiểm lâm người Kơsor nhanh nhẹn dùng con dao đi rừng chặt đứt sợi dây cáp trên cánh tay bị thương của nó và cố gắng gỡ sợi dây cáp dẻo chết người ấy khỏi cánh tay đầy máu và một phần đã bị hoại tử.
Con voọc có lẽ cũng hiểu được là nó đang được sự giúp đỡ của PV thoát khỏi lưỡi hái của tử thần nên nó cũng không còn la hét và gồng mình trốn thoát mà chỉ rên rỉ trong đau đớn. Để tránh làm nó bị phấn khích trước khi bỏ chiếc áo ra, những bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve lên cơ thể và nhẹ nhàng đặt nó lên một cành cây thấp.
Sau khi được giải thoát, con voọc lao mình vút lên ngọn cây như tên bắn và chỉ kịp quay lại nhìn PV một cách đầy giận giữ và hú dọa, rồi lao thẳng lên những cây cao ngút trong rừng sâu để tìm kiếm bầy đàn và những đứa con thân yêu của nó.
Số phận của nó còn đầy đau thương và hiểm họa ở phía trước. Liệu nó có sống nổi với vết thương đang bị hoại tử trên bàn tay? Liệu nó có tìm thấy bầy đàn cùng những đứa con để cùng nhau chung sống và tìm kiếm thức ăn? Liệu vết thương kia có mau lành để nó tồn tại? Và liệu nó có bị dính bẫy một lần nữa?
Những câu hỏi xuất hiện trong đầu các thành viên của "Hội những người chinh phục độ cao" và nhân viên kiểm lâm VQG Konkakinh, dù không ai nói với ai một lời nào. Chúng tôi chỉ hy vọng với khả năng sinh tồn và trải qua hàng triệu năm để tồn tại, những di truyền từ đời cha ông sẽ giúp nó kiếm được những chiếc lá thuốc của rừng để thoát khỏi thần chết và có cơ hội quay về gặp lại bầy đàn...
Chia tay đỉnh núi với những làn sương hơi nước đang kéo đến bao phủ những ngọn cây. Hành trình khám phá VQG Konkakinh đã thành công tốt đẹp. Các thành viên đã vượt lên được độ cao 1.778 m và khi về đến lán trại đồng hồ đã chỉ 8 giờ tối. Mặc dù bụng đói cồn cào, lả đi vì mệt nhưng chúng tôi đã vượt lên bao nhiêu gian nan và cực nhọc với những giọt mồ hôi ướt đẫm chiếc áo màu xanh và những tiếc thở dốc không ngừng.
Chiến công của "Hội những người chinh phục độ cao" cùng các nhân viên kiểm lâm VQG Konkakinh giải cứu thành công một con voọc chà vá chân xám thoát khỏi một chiếc bẫy thú oan nghiệt sau hơn 1 giờ đồng hồ. Chiến công đầu của các thành viên khoác trên mình chiếc áo mới và logo mới "Đồng hành cùng thiên nhiên hoang dã".
Có thể chà vá chân xám cùng sống trong một khu vực với chà vá chân đen. Đây là loài đặc hữu chỉ tìm thấy ở Việt Nam và phân bố Quảng Nam, Kon Tum, Bình Định. Là loài hiếm, phân bố hẹp, có giá trị khoa học lớn. Mới phát hiện chà vá chân xám trong những năm gần đây nên được các tổ chức quốc tế quan tâm điều tra nghiên cứu.
Hiện nay do bị săn bắn nên quần thể chà vá chân xám có số lượng ít, ước tính khoảng dưới 200 cá thể. Dự đoán sự suy giảm của chà vá chân xám liên tục, ít nhất 80% từ năm 1995 trở lại đây, do chặt phá rừng nơi chúng sinh sống. Loài này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32 của Chính phủ. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/11, tr19) đầu trang(
Ngày 10/11, lực lượng chức năng tỉnh Đồng Nai vẫn đang tích cực tìm kiếm các nạn nhân bị mất tích dưới lòng hồ thủy điện Đồng Nai 4, có thêm 20 chiến sĩ là thợ năn trong lực lượng cứu hộ Công an TP.HCM lên hỗ trợ. Tuy nhiên do nước quá sâu, khu vực thuyền lật có thể sâu đến 80m, nên việc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả.
Ông Vương Khả Kim, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) cho biết: Anh Kiên đã công tác lâu năm trong ngành lâm nghiêp, đã có gia đình; còn anh Nam, 24 tuổi, chưa lập gia đình.
Các cơ quan ban ngành trong huyện đã về chia buồn thăm hỏi gia đình anh Kiên, đồng thời hỗ trợ mọi thủ tục chi phí chôn cất anh Kiên. Chúng tôi đang xem xét các văn bản để nếu được thì đề nghị nên tỉnh và TƯ, phong tặng tăng hiệu cho 2 liệt sĩ, ông Kim cho biết.
Trước đó, khoảng 15h00 ngày 8/11, tổ công tác gồm ông Cao Văn Tuấn - cán bộ Hạt kiểm lâm Bảo Lâm; Phạm Ngọc Kiên, Nguyễn Văn Lâm, Đỗ Văn Nam và Giang Quang Minh - các cán bộ Công ty lâm nghiệp Lộc Bắc, tỉnh Lâm Đồng, tổ chức truy quét lâm tặc tại tiểu khu 376, thuộc lòng hồ thủy điện Đồng Nai 4.
Quá trình làm nhiệm vụ, tổ công tác phát hiện 6 đối tượng đang tập kết gỗ tại khe suối. Khi nhìn thấy tổ công tác, 6 đối tượng bỏ chạy tán loạn. Tổ công tác đã đuổi bắt được 1 đối tượng (Voòng Coón Mủ (19 tuổi, ở xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông), thu giữ 39 thanh gỗ dầu, 2 hộp gỗ dổi, 1 cưa máy và 1 xuồng máy.
Đến 19h00 cùng ngày, tổ công tác áp giải đối tượng cùng tang vật lên xuồng máy đã thu giữ để về. Khi đi qua lòng hồ thủy điện Đồng Nai 4 thì xuồng bị lật.
Vụ tai nạn đã khiến 2 cán bộ Công ty lâm nghiệp Lộc Bắc là Đỗ Văn Nam (24 tuổi) và Phạm Ngọc Kiên (33 tuổi), cùng đối tượng bị bắt giữ mất tích. Những người còn lại trên xuồng may mắn thoát nạn.
Tới chiều 9/11, lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể anh Phạm Ngọc Kiên. Hiện Công an tỉnh Lâm Đồng đang chỉ đạo các đơn vị chức năng tìm kiếm nạn nhân còn lại và điều tra, xử lý vụ việc. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/11, tr2; VTC News 11/11) đầu trang(
Đó là việc hàng trăm hộ dân của xã An Lạc thuộc huyện Sơn Động (Bắc Giang) đồng loạt tàn phá những cánh rừng ở sườn Tây của dãy Yên Tử, là khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó huyện Sơn Động có hơn 10.000 ha rừng thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt, 7.000 ha rừng đặc dụng cực kỳ quan trọng. Mà mục đích của việc phá rừng này là để… trồng keo.
Dân phá đã đành. Nhưng điều đau đớn hơn là việc phá rừng ở đây lại do cán bộ làm trước. Chủ tịch UBND xã An Lạc cho báo chí biết, gia đình ông có phá khoảng… vài ha. Rồi các gia đình phó chủ tịch, cán bộ mặt trận tổ quốc, tư pháp, trưởng phó thôn, cựu lãnh đạo xã, đảng viên… cũng phá.
Con trai và em trai chủ tịch xã Trần Dìn là những người phá rừng đầu tiên, phá cả rừng gỗ lim. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động phải dùng cụm từ “toàn dân phá rừng” để chỉ hiện tượng này. Chưa bao giờ câu nói “cán bộ đi trước, làng nước theo sau”, đúng theo nghĩa đen của nó, lại được thể hiện một cách sinh động đến thế qua vụ “phá rừng tập thể”, phá rừng có “đầu tàu gương mẫu” ở Sơn Động này.
Theo phản ánh của dân, phần lớn là những người được giao giữ rừng hàng chục năm nay, và họ đã giữ rất tốt, dù chẳng được một xu nào, cứ thấy cán bộ phá rừng trong khu bảo tồn đi để trồng keo, thì mình cũng phá, vì tưởng chính sách đã thay đổi. Trước đây phải giữ rừng nay được phá để trồng cây khác. Và “Chúng tôi không tin cán bộ địa phương thì tin ai?”.
Cán bộ xã, thôn là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức chính quyền, là những người đưa đường lối, chính sách cũng như pháp luật của đảng và nhà nước đến trực tiếp với từng người dân. Lời nói của họ được dân tin. Việc làm của họ hiện hữu rành rành trước dân, nên có tác dụng rất lớn trong việc lôi kéo, thúc đẩy dân làm theo.
Nhất là ở những địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, dân trí còn thấp, thì người dân thường gửi lòng tin vào nhà nước, vào chế độ một cách rất chất phác qua những cán bộ, những đảng viên mà họ thường tiếp xúc hằng ngày, bằng cách “cứ theo cán bộ, đảng viên mà làm”.
Chính vì thế mà một khi đội ngũ cán bộ lãnh đạo địa phương trở nên tha hóa, biến chất, có những việc làm trái pháp luật, thì chúng gây tác hại cực kỳ khủng khiếp, mà vụ “toàn dân phá rừng” nói trên là một dẫn chứng. Hiện tượng đó phản ánh điều gì, nếu không phải là việc lâu nay, những tiêu chuẩn và trình độ bắt buộc phải có của cán bộ xã còn bị xem nhẹ?
Vi phạm pháp luật đương nhiên phải bị xử lý, bất kể người đó là ai. Hàng chục người phá rừng ở Sơn Động đã bị các cơ quan chức năng xử lý bằng các hình thức từ xử phạt đến truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng, cũng theo phản ánh của dân, thì việc xử lý ở đây rất không công bằng. Những người dân phá rừng ít lại phải chịu mức phạt rất cao. Trong khi cán bộ phá nhiều hơn lại “được” hưởng mức phạt rất nhẹ. Cán bộ kiểm lâm hay đưa quyết định phạt cho dân vào… ban đêm. Có người còn gạ gẫm dân đưa tiền cho họ để được hưởng mức phạt nhẹ…
Những khu rừng bị phá đã mất rồi. Vấn đề là hãy vào cuộc quyết liệt hơn, công bằng hơn, để giữ lại những cánh rừng còn lại. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/11) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), ông Phạm Triều vừa ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lơmu Ha Bang ở thôn 4, xã Đạ Sar vì đã có hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Theo biên bản của Hạt Kiểm lâm Lạc Dương ngày 13/10, ông Lơmu Ha Bang đã vận chuyển gần 2,4m3 gỗ xẻ (quy thành gỗ tròn gần 3,8m3), loại gỗ thông ba lá nhóm 4, trên một chiếc xe máy cày nên đã bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Không những không dừng xe theo hiệu lệnh mà ông Lơmu Ha tiếp tục cho máy cày húc thẳng vào xe máy của lực lượng chức năng (xe của Trạm Quản lý bảo vệ rừng Đạ Sar).
Hành vi này của ông Lơmu Ha Bang cũng đã bị cơ quan Công an huyện Lạc Dương khỏi tố cùng với việc ra quyết định xử phạt hành chính ông Lơmu Ha Bang 25 triệu đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/11) đầu trang(
10.11, Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Nam (Đội 3) thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) tiến hành kiểm tra 5 container gỗ đang chuẩn bị được vận chuyển từ cảng Cát Lái TPHCM ra phía bắc tiêu thụ.
Đại diện Đội 3 cho biết, do có nghi vấn gỗ không rõ nguồn gốc xuất xứ nên sau khi chủ hàng làm thủ tục chuyển các container xuống cảng, đơn vị đã yêu cầu phong tỏa lô hàng vào ngày 16.10. Sau đó, Đội 3 đã yêu cầu chủ hàng xuất trình hồ sơ chứng từ và phát hiện nhiều dấu hiệu không hợp lệ với hàng hóa nên đã thực hiện mở kiểm tra…
Bước đầu, đại diện chủ hàng đã thừa nhận sai phạm khi tìm cách hợp thức hóa lô hàng bằng Biên bản kiểm tra lâm sản ngày 17.10 của Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm TPHCM. Trước đó, Đội 3 cũng đã bắt giữ 6 container gỗ có nguồn gốc nhập lậu tại cảng Tân Thuận. Tổng cộng 11 container gỗ này có trị giá khoảng trên 15 tỉ đồng… (Lao Động 11/11) đầu trang(
Xã Sơn Bao, huyện Sơn Hà là nơi được lâm tặc chọn làm điểm tập kết gỗ sau khi khai thác từ lòng hồ Nước Trong, huyện Tây Trà . Lợi dụng tuyến đường thủy này, sau khi khai thác gỗ trái phép, lâm tặc cưa gỗ thành phách thả trôi sông đến Sơn Bao vớt đưa đi tiêu thụ.
Ông Đinh Văn Phèn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Bao, huyện Sơn Hà cho biết, địa phương vận động bà con trong xã không được tiếp tay cho những người phá rừng.
"Chúng tôi sẽ tiếp tục thường xuyên tuần tra truy quét và canh gác ngay ở khu vực này với kiểm lâm viên. Ngoài ra, chúng tôi sẽ kiểm tra các hộ có ghe máy thường xuyên làm ăn ở nơi này.Chúng tôi cho những hộ đó viết bản cam kết không cho vận chuyển gỗ từ trên hồ về đây. Chúng tôi nắm được số lượng những người thường xuyên khai thác gỗ” - Ông Đinh Văn Phèn cho biết.
Ông Tạ Tiến, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Hà cho biết, đây là vùng giáp ranh giữa 2 huyện Sơn Hà và Tây Trà. Do đó việc tổ chức tuần tra kiểm soát của 2 lực lượng hết sức khó khăn; đặc biệt là phương tiện đường thủy không có. Thủ đoạn của lâm tặc khi phát hiện lực lượng kiểm lâm là dìm gỗ xuống lòng hồ, đợi đi qua thì lại vớt lên đưa đi tiêu thụ
'Về lâu về dài chúng tôi phải có phương án túc trực ngăn chặn ngay nạn phá rừng các địa phương khác về đây. Thứ nhất, tuyên truyền học tập cho nhân dân ở đây. Thứ hécta,i xây dựng trạm tổ đây mới chốt chặn được” - Ông Tạ Tiến nói.
Thời gian gần đây, nạn khai thác gỗ trái phép ở hồ chứa nước Nước Trong, huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi có giảm nhưng khi chuẩn bị vào mùa mưa thì tình trạng này lại tiếp diễn, phức tạp hơn. (RadioVN 9/11) đầu trang(
Từ thông tin người dân tố cáo tình trạng phá rừng có quy mô lớn, diễn ra trong một thời gian dài tại các khu rừng thuộc địa bàn xã Hàm Cần, Hàm Thạnh (huyện Hàm Thuận Nam), qua chỉ dẫn của người dân địa phương chúng tôi đã tiếp cận được cửa rừng Nà Giệt thuộc thôn Ba Bàu, xã Hàm Thạnh.
Theo quan sát của PV, một diện tích rừng lên đến nhiều hecta chỉ còn lại cây gỗ trơ gốc. Nhiều cây gỗ quý như lim, dầu, căm xe, căm liên, cà chí, gáo,... bị đốn hạ. Riêng những cây gỗ to nhưng rỗng ruột thì vứt lại.
Các gốc cây đã được đoàn kiểm tra của Sở Nông Nghiệp & phát triển nông thôn Bình Thuận, cách đây vài ngày đã vào kiểm tra theo phản ánh của người dân và đánh số thứ tự các gốc cây bị triệt hạ lên đến con số hàng trăm.
Theo tìm hiểu của PV, khu vực rừng bị phá chỉ còn cây bụi thuộc lâm phần quản lý của Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam nằm giáp với rừng thuộc lâm phần của BQL rừng phòng hộ Sông Móng - Ca Pét chỉ một hàng ranh.
Và hậu quả của khu vực rừng bị tàn phá là tình trạng sạt lở, xói lở đất trên một diện tích rộng. Còn tại khu vực rừng Tà Nớ thuộc thôn 1, thôn 2 xã Hàm Cần PV cũng ghi nhận có hàng trăm cây gỗ quý như lim, dầu, căm xe, căm liên,... bị tàn phá đến nay chồi non đã ra phủ kín gốc.
Đây là vị trí bãi tập kết gỗ của lâm tặc trước khi vận chuyển ra khỏi rừng Tà Nớ. Từ một khu rừng nguyên sinh, giờ rừng Tà Nớ chỉ toàn là chồi non và cây bụi phủ kín hàng trăm gốc cây đã bị đốn hạ.
Tại sao một số lượng lớn cây gỗ quý được khai thác và đưa ra khỏi rừng trong khoảng thời gian dài từ năm 2012 đến tháng 5 - 2014 mà chủ rừng là Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam và lực lượng kiểm lâm không hề hay biết? Ông Nguyễn Minh Phúc, người dân tại thôn Ba Bàu, xã Hàm Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam đã không ngần ngại tố cáo với PV.
Thực tế có đúng như những gì tố cáo của người dân hay không, PV chờ kết quả kiểm tra xác minh của Sở NN&PTNT và các ngành chức năng của tỉnh Bình Thuận. (VTV9 8/11) đầu trang(
PV đến thôn Xóm Nương, xã Tiên Lãng, huyện miền núi Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Người đầu tiên PV gặp là cụ Hoàng Văn Pẩu, người dân tộc Tày.
Cụ cho biết: “Ngày 20/01/1995, cụ đã được Lâm trường Tiên Yên(Lâm trường) giao cho 26 ha rừng tự nhiên, thời hạn 50 năm, việc giao nhận đã được ký kết, tại hợp đồng số: 74, V/v Giao đất khoán rừng thực hiện dự án 327, của Lâm trường. Trong hợp đồng có cam kết chung: Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng. Nếu bên nào vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho nhau, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Ông lục tìm trong chiếc gùi cũ kỹ, đưa cho chúng tôi xem bản hợp đồng gốc, có dấu đỏ của Lâm trường và chữ ký của ông Mai Quang Ý, giám đốc Lâm trường thời đó.
Bà Trần Thị Chương, người Sán Chỉ, vợ ông Pẩu, than thở, nói: “Rừng Lâm trường giao cho gia đình chúng tôi, là rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn, có lớp thực bì rất dày. Mặt khác, ông Pẩu là thầy thuốc của thôn, gia đình tôi trồng các loại cây dược liệu, như: ba kích, sâm cau, hà thủ ô…dưới tán rừng, để mưu sinh, nên, đã xóa được đói nghèo.
Năm 2009, chúng tôi thấy, nhiều đoàn người ồ ạt phát, đốt toàn bộ hàng trăm ha rừng Hồ Đá Lạn, trong đó, có rừng của gia đình tôi. Chúng tôi ra ngăn cản và hỏi họ, họ trả lời: “phát theo lệnh của Lâm trường…Từ đó, gia đình tôi mất rừng, mất cả nguồn dược liệu được nuôi trồng. Giờ chúng tôi phải đi thuyền ra đảo xa, để tìm kiếm dược liệu, vẫn không đủ sống”.
Tiếp đó, đến gia đình ông Ngô Xuân Long, dân tộc Tày, con trai của liệt sĩ Ngô Đình Phương. Gia đình anh có 11 khẩu, ở chung ngôi nhà ba gian, hai trái, lợp ngói “âm dương” tềnh toàng, không có tài sản gì đáng kể.
Anh cho biết: Những năm trước, như cụ Pẩu, gia đình anh cũng ký hợp đồng với Lâm trường, nhận bảo vệ chăm sóc 19ha rừng đầu nguồn hồ Đá Lạn. Cả gia đình nuôi trồng, thu hái dược liệu dưới tán rừng để mưu sinh, cũng thoát được đói nghèo. Gia đình thân nhân liệt sĩ Mã Tiến Đạt, ở liền kề nhà anh Long cũng tương tự như vậy. Gia đình anh ký hợp đồng giao đất khoán rừng với Lâm trường, tại lô C, khoảnh 6, tiểu khu 256, diện tích khoanh nuôi rừng tự nhiên là 26,5ha.
Gia đình anh Bế Văn Lưu cũng ký hợp đồng nhận 26ha. Thời kì đầu các anh Ngô Xuân Long, Mã Tiến Đạt và Bế Văn Lưu, còn được nhận tiền hợp đồng sản xuất lâm nghiệp của Lâm trường. Cuối năm 1996, ông Lã Văn Phật và ông Trần Minh Tào, lúc đó là cán bộ Lâm trường, đã vào nhà các anh mượn hợp đồng, nói là để đi hộ lĩnh tiền, rồi biển thủ luôn ba cuốn hợp đồng của các anh. Sau đó, một thời gian, không rõ lý do gì, ông Trần Minh Tào bị đột tử...
Khi rừng phòng hộ hồ Đá Lạn bị chặt phá, các anh Long, Đạt và Lưu gặp ông Lã Văn Phật, nay là cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tiên Yên, để hỏi hợp đồng. Ông này ngơ ngác trả lời: Lâu quá rồi tôi không nhớ nữa, hình như ông Trần Minh Tào(đã chết) cầm sổ của các anh... Vì vậy, hộ gia đình các anh Đạt, Long, Lưu, bị mất bản hợp đồng gốc.
Anh Ngô Xuân Long sót xa, chia sẻ: Khi Lâm trường nổi lửa đốt hàng trăm ha rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn, trong đó, có hàng vạn cây dược liệu quí của gia đình bà con các dân tộc, lòng chúng tôi như lửa đốt. Bởi nguy cơ tái nghèo đang rình dập ngay trước cửa nhà, mà, không có cách nào…
Cựu chiến binh Hà Văn Bảo, Trưởng thôn Xóm Nương, xã Tiên Lãng, cho biết: Rừng Hồ Đá Lạn được huyện Tiên Yên giao cho xã Tiên Lãng, quản lý từ năm 1959, với nhiệm vụ: Bảo vệ, giữ rừng đầu nguồn, sinh thủy cho Hồ Đá Lạn, cung cấp nước tưới tiêu cho trên 500 ha đất nông nghiệp của xã.
Năm 1995, thực hiện chủ trương giao đất rừng cho từng hộ bảo vệ, chăm sóc, tu bổ và trồng rừng bổ xung, gia đình các ông Hoàng Văn Pẩu, nhận 26ha; Ngô Xuân Long 19ha; Mã Tiến Đạt 26,5ha và Bế Văn Lưu 26ha. Họ đã chăm sóc rừng được giao rất tốt, an toàn tuyệt đối, bảo đảm nguồn nước cho Hồ Đá Lạn.
Tháng 12/2009, Lâm trường thuê người ồ ạt phát rừng đầu nguồn. Trưởng thôn báo cáo với xã. Xã đã làm công văn gửi UBND huyện và Lâm trường, yêu cầu Lâm trường dừng việc phát rừng. Nhưng, Lâm trường vẫn cố tình triệt hạ rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn.
Ông Vũ Nhâm, Phó Chủ tịch UBND xã Tiên Lãng, chuyển cho PV biên bản “V/v xác minh loại rừng, hiện trạng rừng tại khu vực hồ Đá Lạn, thuộc tiểu khu 256, khoảnh 3 và 5 thuộc xã Tiên Lạng, huyện Tiên Yên, lập ngày 15/01/2010”.
Biên bản này ghi: “Tại thời điểm kiểm tra, Công ty đã phát trắng thực bì 45ha rừng đầu nguồn hồ Đá Lạn, còn khoảng 30ha chưa phát. Đề nghị Công ty giữ nguyên hiện trường, chờ chỉ đạo của cấp trên”. Nhưng, Lâm trường đã phớt lờ ý kiến chỉ đạo của đoàn kiểm tra liên ngành UBND huyện Tiên Yên, phá sạch rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn. Nên, mực nước trong hồ đã bị hao hụt, ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn nước thủy lợi phục vụ sản xuất của xã – Ông Vũ Nhâm, buồn rầu chia sẻ.
PV còn được biết, cụ Hoàng Văn Pẩu có đơn gửi các cơ quan chức năng, báo chí, kiến nghị V/v Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp huyện Tiên Yên vi phạm hợp đồng giao khoán đất rừng, xâm hại quyền lợi của người trồng rừng. Đơn kiến nghị cũng nêu rõ: “Gia đình đã ký hợp đồng quản lý bảo vệ, trồng rừng mới với Lâm trường, tại lô C, khoảnh 3, tiểu khu 256, thời hạn giao đất khoán rừng là 50 năm. Khi Lâm trường phá rừng phòng hộ, biến thành rừng sản xuất không thông báo cho gia đình, không có quyết định thu hồi, không thanh lý, thanh toán hợp đồng, là trái với quy định của pháp luật. Gia đình có nguyện vọng nhận lại đất rừng để phát triển kinh tế ổn định cuộc sống”.
Ông Nguyễn Văn Lý, Chánh Thanh tra huyện Tiên Yên cho biết: Để giúp bà con các dân tộc thiểu số nghèo ở miền núi xóa đói, giảm nghèo, ngày 27/7/2004, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số: 134/2004/QĐ – TTg, “V/v một số chính sách hỗ trợ sản xuất đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” và ngày 15/6/2005, Thủ Tướng Chính phủ lại ban hành quyết định số: 146/2005/QĐ – TTg, “V/v chính sách thu hồi đất của các nông trường, lâm trường để giao cho các hộ bà con dân tộc thiểu số nghèo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo”.
Lâm trường có trên 60 CB, CNV quản lý và sử dụng trên 5000ha rừng, đến nay, chưa hề thực hiện các quyết định của Thủ Tướng. Nay, lại thu hồi, phá rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn, đã giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo bảo vệ, lại không thanh lý, thanh toán hợp đồng, để người dân khiếu kiện, là việc làm cần phải xem xét, xử lý theo đúng qui định của pháp luật. Đã cho Lâm trường tổ chức hòa giải với người dân, nhưng, vẫn chưa có hồi âm!?
Tại buổi đối thoại ngày 18/7/2014, ông Phạm Quốc Diên, Tổng Giám đốc Lâm trường, vẫn trả lời: “Năm 2009, Công ty được cơ quan chức năng cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng (phá rừng đầu nguồn), để đầu tư trồng rừng sản xuất. Khi Công ty tiến hành xử lý thực bì, thì, không có ý kiến của các hộ gia đình. Còn, ý kiến của các hộ đã trồng cây dược liệu trên đất được giao, nay bị đốt, phá thì không có cơ sở…”.
Ông Ngô Xuân Long, đại diện các hộ dân, thì vẫn khẳng định: Việc Lâm trường đốt, phá rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn, là việc làm ồ ạt, khuất tất, nên, người dân ko kịp trở tay. Chẳng biết cơ quan chức năng nào, chỉ vì lợi ích của một nhóm người, lại cho làm cái việc hại “nước”, hại dân như thế? Để giúp người dân tìm câu trả lời, ngày 15/9/2014, Tạp chí Văn hóa Doanh nhân Việt Nam – VPĐD Khu vực Đông Bắc, đã có công văn số: 16/CV – VHDN, gửi Ban Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh, với những câu hỏi:
1/ Cở sở pháp lý để Công ty TNHH MTV Lâm Trường Tiên Yên chuyển đổi hàng trăm ha rừng phòng hộ hồ Đá Lạn thành rừng sản xuất? Việc Công ty TNHH MTV Lâm trường Tiên Yên phát bỏ thực bì làm mất nguồn sinh thủy, đã ảnh hưởng mực nước phục vụ thủy lợi của hồ Đá Lạn, ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân xã Tiên Lãng như thế nào?
2/ Để giúp bà con các dân tộc thiểu số nghèo ở miền núi xóa đói, giảm nghèo, ngày 27/7/2004, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số: 134/2004/QĐ – TTg, “V/v một số chính sách hỗ trợ sản xuất đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” và ngày 15/6/2005, Thủ Tướng Chính phủ lại ban hành quyết định số: 146/2005/QĐ – TTg, “V/v chính sách thu hồi đất của các nông trường, lâm trường để giao cho các hộ bà con dân tộc thiểu số nghèo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo”. Đề nghị Quý Sở cho biết tình hình, kết quả thực hiện các quyết định trên của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Nhưng, đến nay đã gần 2 tháng, mà vẫn chưa có hồi âm, phải chăng, việc phá rừng phòng hộ Hồ Đá Lạn, chuyển thành rừng sản xuất của Lâm trường, là việc làm còn nhiều khuất tất. Rất mong UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan chức năng, sớm vào cuộc và làm rõ, giúp người dân thoát khỏi hoàn cảnh điêu đứng, khó khăn, tái nghèo, ổn định cuộc sống. (Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp VN 10/11) đầu trang(
9/11, ông Vũ Đình Trúc – Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước cho biết, từ kiến nghị của các hộ đồng bào dân tộc Stiêng nuôi voi, Chi cục vừa ký kết bản thỏa thuận về hỗ trợ kinh phí nuôi voi với 4 hộ dân ở xã Đắk Nhau (huyện Bù Đăng) là chủ quản lý sử dụng 4 con voi.
Theo đó từ tháng 11/2014, sẽ hỗ trợ 500.000 đồng/tháng/con, từ nguồn ngân sách của UBND huyện Bù Đăng cấp cho xã Đắk Nhau để chi hỗ trợ, thời gian hỗ trợ từ 1/11/2014 đến 1/11/2015, sau đó xem xét hỗ trợ tiếp, Chi cục cũng đã thống nhất mua lại 4 con voi của hai hộ là ông Điểu Cước – chủ nhiệm Hợp tác xã Phú Tiến và ông Điểu Nhố (cùng ngụ xã Đắk Nhau, cùng dân tộc Stiêng) với kinh phí khoảng 2 tỉ đồng (tương đương 500 triệu đồng/con).
Ông Vũ Đình Trúc cho biết thêm, thời gian qua các hộ nuôi voi gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng voi nên đã đề nghị nhà nước hỗ trợ kinh phí. Hiện tỉnh Bình Phước đang triển khai thực hiện phát triển các dự án phát triển du lịch sinh thái gồm Khu du lịch sinh thái Trảng Cỏ Bù Lạch qui mô gần 5.000ha và Khu du lịch sinh thái Bù Gia Mập qui mô gần 19.000ha.
Do đó việc hỗ trợ kinh phí nhằm mục đích bảo tồn đàn voi sắp tới phục vụ phát triển du lịch sinh thái cho hai khu du lịch này, đặc biệt phục vụ tuần tra rừng. Đặc tính của voi đã được thuần hóa là chỉ tuân theo mệnh lệnh của người đã nuôi dưỡng, chăm sóc nó từ nhỏ, vả lại các “ông voi” đã quen sống môi trường văn hóa với các tập tục của đồng bào dân tộc.
Do đó ông Điểu Cước – đại diện các hộ nuôi voi đã đồng ý chuyển những người chăm sóc, huấn luyện voi thành nài voi hợp đồng để tập cho voi các động tác cơ bản nhằm tiếp cận khách du lịch (ký kết hợp đồng từng năm). Sau khi chuyển các “ông voi” về Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, các nài voi này sẽ chịu sự quản lý của Ban này để huấn luyện voi phục vụ du lịch sinh thái và tuần tra bảo vệ rừng.
Từ trước đến nay các hộ nuôi voi xem các “ông voi” là con vật thiêng liêng trong đời sống tâm linh. Ngoài ra, nuôi voi còn để thể hiện uy quyền trong buôn sóc. Voi được các hộ sử dụng để cày kéo, đi rừng, săn bắt nhưng từ khi bị cấm phá rừng, săn bắt, hàng chục năm qua những “ông voi” trở nên… thất nghiệp thỉnh thoảng mới kéo vài cây cọc phụ giúp hàng xóm dựng nhà, cất chòi.
Suốt thời gian dài phải tự nuôi dưỡng, chăm sóc rất tốn kém nên các hộ gặp khó khăn về kinh phí. Do đó việc hỗ trợ kịp thời các hộ nuôi voi không chỉ phục vụ phát triển du lịch, bảo vệ rừng mà còn giúp bảo tồn và phát triển đàn voi lâu dài ổn định của tỉnh Bình Phước. (Công An Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh Quảng Nam đã phát hiện 968 vụ, khởi tố 27 vụ án hình sự, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 9,7 tỷ đồng.
Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam yêu cầu cơ quan chức năng xử nghiêm những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, thắt chặt quản lý khai thác khoáng sản.
Tổng kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản; tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh việc cấp phép hoạt động đối với các ghe thuyền hoạt động trên các sông, hồ thủy điện. Đặc biệt cần nâng cao trách nhiệm của chính quyền Uỷ ban nhân dân xã, huyện trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện tỉnh đã chuẩn bị 13 triệu cây con giống và chuẩn bị hiện trường trồng rừng, gồm: 367 ha rừng phòng hộ; gần 1.300 ha rừng sản xuất. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Trong 10 tháng năm 2014, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng huyện Hàm Thuận Bắc đã phát hiện và xử lý 62 vụ vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, giảm 18 vụ so cùng kỳ năm trước. Song vẫn còn nhiều vụ phá rừng, khai thác gỗ trái phép xảy ra, có tính chất nghiêm trọng.
Nổi lên là 5 vụ khai thác gỗ trái phép, gây thiệt hại trên 47 m3 gỗ. Tại tiểu khu 197, đối tượng rừng phòng hộ thuộc BQL rừng phòng hộ Sông Quao, giáp ranh xã Sơn Điền, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xảy ra vụ khai thác trái phép 101 cây gỗ căm xe, sắn me, giáng hương, bằng lăng..ước thiệt hại gần 29 m3 gỗ.
Tại tiểu khu 209, đối tượng rừng phòng hộ thuộc BQL rừng phòng hộ Sông Quao xảy ra vụ khai thác trái phép 19 cây gỗ căm liên, căm xe, ước thiệt hại trên 5 m3. Và tại các tiểu khu 214A, 218A, 213 thuộc lâm phần BQL rừng phòng hộ Đông Giang xảy ra 3 vụ khai thác trái phép 14 cây gỗ giáng hương, căm xe, sắn me, ước thiệt hại 13,6 m3.
Mặc dù các lực lượng kiểm lâm, đơn vị chủ rừng và địa phương có cố gắng mở nhiều đợt phối hợp truy quét vào các khu vực trọng điểm phá rừng nêu trên, nhưng do phát hiện chậm, nên biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu kém hiệu quả.
Hầu hết các vụ nêu trên, khi phát hiện tại hiện trường đều không có thủ phạm và số cây gỗ đã tẩu tán gần hết, chỉ còn dấu vết hoặc chỉ còn một số ít gỗ, lúc này lực lượng kiểm lâm mới lập biên bản tịch thu số gỗ còn lại. Riêng tại tiểu khu 213, đối tượng phá rừng đã kịp trốn thoát khi lực lượng kiểm lâm đến, để lại hiện trường toàn bộ số gỗ khai thác trái phép và xe máy, cưa máy.
Vấn đề mà dư luận quan tâm là tại sao đã nhiều năm nay xảy ra nhiều vụ khai thác gỗ có tính chất nghiêm trọng, nhưng việc phát hiện của lực lượng bảo vệ rừng còn chậm, có nơi quá chậm; khi phát hiện chủ yếu để khắc phục hậu quả, chứ không tìm được thủ phạm để truy tố trước pháp luật.
Phải chăng đối tượng phá rừng có nhiều phương thức mới tinh vi và biết rõ hoạt động của lực lượng bảo vệ rừng mà tránh né kịp thời hay lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng, chưa đủ sức bảo vệ rừng, hoạt động còn lộ liễu ? Câu hỏi này thuộc về các cơ quan chức năng và lực lượng bảo vệ rừng.
Người dân mong tăng cường trách nhiệm của các cơ quan chức năng, lực lượng bảo vệ rừng, nhất là các đơn vị chủ rừng cần có biện pháp phát hiện, xử lý sớm vi phạm để tránh thiệt hại về rừng. (Báo Bình Thuận10/11) đầu trang(
Chiều 10-11, ông Lê Thúc Định, Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình), xác nhận ngừng công tác cứu hộ một con voọc quý hiếm sau 5 ngày triển khai bởi địa hình nơi voọc bị mắc kẹt quá nguy hiểm.
Trước đó, ngày 5-11, nhiều người dân sống cạnh khu vực động Phong Nha (thuộc xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch) phát hiện một con voọc Hà Tĩnh bị mắc kẹt giữa thân cây trên vách đá trước cửa vào hang động. Sau khi nhận được tin báo, lực lượng cứu hộ của Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng kết hợp với bà Debbie Limbert (chuyên gia thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Vương quốc Anh) lên phương án phối hợp giải cứu chú voọc nói trên.
Mặc dù 2 bên đã dùng nhiều phương tiện cứu hộ chuyên dụng để đưa con voọc này trở lại môi trường tự nhiên nhưng bất thành vì nơi chú voọc mắc kẹt có địa thế quá hiểm trở (vách đá có chiều cao khoảng 200 m).
Trong quá trình di chuyển với bầy đàn, chú voọc con này bị kẹt đuôi giữa hai thân cây và không tự thoát ra được. Hiện tại, sức khỏe của voọc con vẫn bình thường vì đã có voọc mẹ kề bên chăm sóc và cung cấp thức ăn. Theo các chuyên gia, voọc con có thể tự tìm cách tự giải thoát sau một thời gian nữa. (Người Lao Động 11/11, tr11) đầu trang(
Ngoài chống biến đổi khí hậu, ngăn mặn xâm thực, rừng bần còn có một hệ sinh thái phong phú đa dạng để cho các loại thủy sinh, chim di cư, trú ngụ sinh sản.
Nằm cách trung tâm Thành phố Vinh (Nghệ An) khoảng 8km về phía Đông Bắc, rừng bần Hưng Hòa, hay còn gọi là Tràm Chim như lá phổi xanh bảo vệ cư dân và hệ sinh thái vùng ngập mặn.
Tuy nhiên, các nhà chuyên gia khoa học cho rằng, cần sớm có các giải pháp nhằm bảo tồn hệ sinh học phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, phòng chống thiên tai, chống xói lở, tạo điều kiện cho các loài thủy sinh phát triển...
Rừng bần Hưng Hòa có vai trò rất quan trọng, ngoài chống biến đổi khí hậu, ngăn mặn xâm thực, giữ nước ngọt, chắn sóng, gió bão, rừng bần còn có một hệ sinh thái phong phú đa dạng để cho các loại thủy sinh, chim di cư, trú ngụ sinh sản. (RadioVN 11/11) đầu trang(
Trong 9 tháng qua, toàn huyện phát hiện 20 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng (giảm 130 vụ so với cùng kỳ năm 2013) và 2 vụ phá rừng trái pháp luật với 0,17ha rừng tự nhiên bị phá (giảm 131 vụ so với năm 2013).
Huyện Đăk Glei có tổng diện tích tự nhiên hơn 149.000ha, trong đó diện tích rừng và đất có rừng chiếm hơn 129.000ha. Đây chính là điều kiện để Đăk Glei phát triển kinh tế từ rừng.
Những năm trước đây, huyện Đăk Glei luôn là “điểm nóng” về tình trạng phá rừng làm rẫy, phá rừng trái pháp luật… Nhưng điều đáng mừng là từ đầu năm 2014 đến nay, nhờ sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, cùng với việc siết chặt quản lý…, nên tình trạng này đã giảm mạnh.
Minh chứng là trong 9 tháng qua, toàn huyện phát hiện 20 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, giảm 130 vụ so với cùng kỳ năm 2013. Trong 9 tháng chỉ xảy ra 2 vụ phá rừng trái pháp luật (với 0,17ha rừng tự nhiên bị phá), giảm 131 vụ so với năm 2013.
Nhận xét về sự hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng năm nay, ông Lê Tiến Trung - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Glei cho biết: Có được kết quả đó, trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Huyện uỷ, UBND huyện và sự cố gắng của lực lượng kiểm lâm trong việc triển khai các biện pháp ngăn chặn.
Cùng với đó là việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến tận thôn, làng nên ý thức của người dân đã có chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó, công tác tuần tra kiểm soát, truy quét cũng đã được Hạt phối hợp với cơ quan chức năng, chủ rừng và UBND các xã triển khai quyết liệt, đồng bộ…
Trao đổi với PV, ông Trịnh Xuân Lộc - Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Glei cho biết thêm: Trước tình hình vi phạm về phá rừng trên địa bàn khá phức tạp của những năm trước, huyện đã kiện toàn lại ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Huyện uỷ làm trưởng ban, Chủ tịch UBND huyện làm phó ban trực; thủ trưởng các đơn vị, bí thư các xã làm thành viên, nhằm gắn trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ngoài ra, huyện cũng xác định những “điểm nóng” thường xảy ra tình trạng phá rừng nên đã thành lập 20 chốt liên ngành ngăn chặn tình trạng phá rừng trái pháp luật, do đó đã mang lại hiệu quả rõ rệt.
Để tiếp tục hạn chế tình trạng vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu với huyện thành lập thêm 2 chốt liên ngành để ngăn chặn tình trạng phá rừng.
Huyện cũng đã thực hiện tốt việc quy hoạch nương rẫy; chỉ đạo các xã, thị trấn rà soát, nắm chắc các hộ thiếu đất sản xuất để bố trí; đặc biệt là triển khai mạnh việc giao khoán bảo vệ rừng cho người dân; chỉ đạo lực lượng chức năng bám sát địa bàn, tổ chức trinh sát nắm tình hình và tổ chức truy quét đột xuất tại những “điểm nóng” thường xảy ra tình trạng phá rừng, hoạt động buôn bán lâm sản trái pháp luật…
Với sự quyết tâm và quyết liệt của huyện, tin rằng tình trạng vi phạm về quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện sẽ tiếp tục giảm, góp phần bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho việc phát triển KT-XH của huyện. (Báo Kon Tum 10/11) đầu trang(
Các cây ngô đồng đỏ, cây nánh và cây kén ở Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, Quảng Nam có tuổi trên 100 năm vừa được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, trong tổng số 17 cây cổ thụ được Hội đồng cây di sản VN công nhân đợt này trên toàn quốc. (Thanh Niên 11/11, tr2) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 3679/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ kiểm kê rừng.
Tổ kiểm kê rừng do ông Nguyễn Hiếu Hòa, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm Tổ trưởng; ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm Tổ phó trực.
Tổ có nhiệm vụ tham mưu cho Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng tổ chức, triển khai, thực hiện công tác kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh; thực hiện việc kiểm tra, giám sát và đôn đốc công tác kiểm kê rừng của Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng của 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; tổng hợp kết quả kiểm kê rừng của tỉnh để tham mưu cho Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng báo cáo UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ương và tham mưu cho cấp thẩm quyền công bố kết quả kiểm kê rừng của tỉnh.
Trước đó, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 3137/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng, do bà Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN-PTNT làm Phó ban. (Báo Bình Định 8/11) đầu trang(
Trong 2 năm 2012 - 2013, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh và huyện Tân Châu đã ban hành 117 quyết định (trong đó UBND tỉnh Tây Ninh ban hành 76 quyết định) buộc 117 hộ dân tại ấp Con Trăn, xã Tân Hoà, huyện Tân Châu (Tây Ninh) phải khắc phục ngay hậu quả về hành vi lấn chiếm, phá rừng phòng hộ Dầu Tiếng để làm nương rẫy.
Cụ thể là di dời toàn bộ công trình xây dựng và cây trồng sai mục đích khỏi đất vi phạm để giao Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng quản lý, trồng lại rừng theo đúng quy định. Thế nhưng đến nay sự việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, từ năm 2013 về trước đã xảy ra nhiều trường hợp người dân tại ấp Con Trăn, xã Tân Hoà vào rừng phòng hộ (khu vực đầu nguồn hồ Dầu Tiếng) đốt phá rừng làm rẫy, sau đó lấn dần, mở rộng diện tích để trồng cao su và cây nông nghiệp khác (mì, cây lâu năm).
Theo UBND xã Tân Hoà, có đến 266 ha rừng phòng hộ đã bị 117 hộ dân lấn chiếm để làm nương rẫy. Do thời gian lấn chiếm đã qua nhiều năm, không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, nên chính quyền địa phương huyện, tỉnh chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, nhưng người dân vẫn cố tình không chấp hành.
Trong khi đó chính quyền địa phương chưa kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế, khiến đến nay số diện tích rừng bị phá vẫn còn sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp.
Kết luận tại cuộc họp gần đây với Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng và UBND huyện Tân Châu, ông Tạ Văn Đáo- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, xét thấy hoàn cảnh gia đình người dân ở đây còn rất nhiều khó khăn (hơn phân nửa là đồng bào dân tộc thiểu số), nên tỉnh chủ trương cho mỗi hộ gia đình được hợp đồng trồng rừng khoảng 3 ha/hộ, trên phần diện tích vi phạm theo mô hình sao- dầu- cây phụ trợ khác, không phải là cây cao su, nhằm giúp bà con ổn định cuộc sống.
Theo ông Đáo, trong thời gian tới, khi tỉnh triển khai đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng, những hộ hợp đồng trồng rừng, nhận khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng sẽ được hỗ trợ thêm kinh phí ngoài phần chi của ngân sách Nhà nước theo định mức. Mặt khác, để chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc ấp Con Trăn có hợp đồng trồng rừng, tỉnh còn có chính sách khác như đào tạo nghề, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, hướng dẫn trồng cây dưới tán rừng… để nâng cao thu nhập.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng phối hợp UBND huyện Tân Châu, Đảng uỷ, UBND xã Tân Hoà quán triệt trong nội bộ, tăng cường tuyên truyền, giải thích cho người dân thực hiện nghiêm chủ trương trồng rừng của tỉnh; đồng thời khẩn trương đưa số diện tích đất bị lấn chiếm vào trồng rừng kịp thời vụ năm 2014. (Báo Tây Ninh 9/11) đầu trang(
Năm 2009, bắt đầu triển khai thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380 của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi có văn bản đề nghị, trong 2 năm 2011 và 2012, xã Mường Sang (Mộc Châu) đã được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tuy nhiên, từ năm 2013 đến nay xã lại không được hưởng vì lý do không nằm trong lưu vực sông Đà mà nằm trong lưu vực sông Mã.
Ngày 17-2-2009, UBND tỉnh đã có Quyết định số 376 về việc phê duyệt Đề án thực hiện chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Xã Mường Sang cũng nằm trong diện này. Tuy nhiên, sau khi giao cho các ngành, đơn vị chuyên môn khảo sát, đo đạc thực địa, Mường Sang lại không nằm trong danh sách được hưởng nữa.
Nếu phân chia theo địa giới hành chính, thì Mường Sang tiếp giáp với các xã Đông Sang, Chiềng Hắc, Lóng Sập, Tân Lập, thị trấn Mộc Châu, thị trấn Nông trường và một phần tiếp giáp với xã Chiềng Sơn. Đối chiếu giữa bản đồ và thực địa cho thấy Mường Sang tiếp giáp với 6 xã, thị trấn trên và đều thuộc lưu vực sông Đà.
Ông Nguyễn Văn Cường, Chủ tịch UBND xã Mường Sang, nói: Năm 2009, sau khi các đơn vị chuyên môn cho rằng Mường Sang không nằm trong danh sách được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, UBND xã đã có văn bản kiến nghị với tỉnh, huyện và đến năm 2011-2012 đã được chi trả trên 990 triệu đồng.
Nhưng năm 2013, xã nhận được thông báo của Ban chi trả dịch vụ môi trường huyện là xã không được chi trả nữa vì suối Sập của xã chảy ra sông Mã. Xã chúng tôi, nhất là các chủ rừng rất tâm tư vì các xã lân cận đều được hưởng và Mường Sang nằm giữa các xã đó.
Qua khảo sát năm 2014, xã có tổng diện tích rừng cần được chi trả là 4.665 ha. Rất mong các ngành chuyên môn sớm xem xét để xã tiếp tục được nhận phí chi trả dịch vụ môi trường rừng của năm 2013 và những năm tiếp theo, kịp thời chi trả cho người dân, góp phần động viên nhân dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Mường Sang từng là địa bàn nóng về quản lý và bảo vệ rừng. Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của huyện, các cơ quan chuyên môn và xã nên tình trạng trên đã giảm xuống. Đặc biệt, sau khi được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng thì tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt.
Ông Vì Văn Hạnh, Trưởng bản Lùn nói: Năm 2011 và 2012 bản được chi trả trên 290 triệu đồng. Sau khi chi trả cho các chủ rừng, bản đã trích ra 106 triệu đồng, nhân dân đóng góp 327 triệu đồng xây dựng đường bê tông dài 669m, rộng 3,5m thay cho tuyến đường đất lầy lội trước đây. Hiện tại, quỹ còn 81 triệu đồng. 2 năm nay, bản không để xảy ra cháy rừng. Đề nghị cấp trên xem xét để xã và bản tiếp tục được hưởng hỗ trợ phí dịch vụ môi trường rừng.
Cũng như bản Lùn, sau khi được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, bản Thái Hưng đã có thêm nguồn quỹ cho hoạt động bảo vệ rừng. Theo đó, nơi đây đã không còn các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã bảo vệ, khoanh nuôi được gần 300 ha rừng tái sinh.
Trao đổi với ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, được biết: Ngày 30-10 vừa qua, Sở đã chủ trì, phối hợp với UBND huyện Mộc Châu xem xét vấn đề trên. Qua khảo sát thực địa, xem xét trên bản đồ địa hình và thảo luận cho thấy thực tế xã Mường Sang có trên 90% diện tích rừng thuộc lưu vực sông Đà và có đủ điều kiện được hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Để đảm bảo việc xác định lưu vực và diện tích rừng đủ điều kiện được hưởng chi trả, Sở đã thống nhất với huyện đề nghị UBND tỉnh giao cho Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chủ trì xác định ranh giới lưu vực và diện tích rừng trong lưu vực sông Đà thuộc xã Mường Sang. Sau khi có quyết định phê duyệt, Quỹ sẽ tổ chức chi trả cho các chủ rừng xã Mường Sang.
Hiện tại, việc tìm nguyên nhân hay đơn vị chịu trách nhiệm về việc xã Mường Sang không được hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng không quan trọng bằng việc các đơn vị liên quan nên sớm xác định ranh giới lưu vực và diện tích rừng trong lưc vực sông Đà thuộc xã Mường Sang. Bởi kịp thời làm được việc này sẽ giúp người dân nơi đây yên tâm quản lý bảo vệ rừng, phát triển đi lên từ rừng và được hưởng đúng quyền lợi theo quy định. (Báo Sơn La 10/11) đầu trang(
Việt Nam là nước xuất khẩu đồ gỗ nội thất xếp thứ 2 châu Á, chỉ sau Trung Quốc, thị trường chủ yếu là những nước phát triển với yêu cầu cao mọi mặt. Điều đó khẳng định, chất lượng gỗ nội thất Việt Nam ăn đứt sản phẩm các nước đang có mặt trên “sân nhà”.
Rất tiếc, không phải người tiêu dùng nào cũng có thể tiếp cận sản phẩm do doanh nghiệp (DN) trong nước sản xuất. Theo KTS Trần Cao Hiếu, Giám đốc Công ty cổ phần Kiến trúc CA, một ngôi nhà đẹp, thể hiện phong cách người chủ là nhờ phần nội thất.
Nhưng hiện nay, yếu tố này bị xem nhẹ. Đa số khách hàng vẫn mơ hồ về phong cách, hay đúng hơn là chưa xác định phong cách cho căn nhà. Khi xây dựng xong ngôi nhà, chủ chỉ việc ra cửa hàng thấy sản phẩm nội thất nào ưng ý và vừa túi tiền là mua. Vì vậy, nhiều khi nội thất không phù hợp với kiểu nhà vừa xây.
Các KTS cho rằng, khi trở lại những ngôi nhà do mình thi công, thỉnh thoảng gặp căn nhà với phần nội thất ấn tượng lại là của người nước ngoài. KTS chỉ là người tạo ra không gian ngôi nhà, chủ nhà mới là người sáng tạo nên phần hồn của căn nhà thông qua các sản phẩm nội thất.
Việc người tiêu dùng phần nhiều còn chưa định hình phong cách nội thất có lý do khách quan, do một thời gian dài người dân chỉ cần căn nhà chắc chắn để ở nên nội thất là điều xa xỉ. Khi đã chuyển từ ăn no sang ăn ngon thì nhu cầu nhà đẹp mới xuất hiện. Và nhu cầu này thật ra cũng chỉ mới xuất hiện thời gian gần đây, trong khi người nước ngoài (những nước phát triển), “gu” thẩm mỹ hình thành từ thế hệ này sang thế hệ khác nên phong cách về ngôi nhà như có sẵn trong mỗi con người.
KTS Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần Mỹ thuật (Lavanto home décor) cho biết, năm 2008, khi những anh em trong Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA) quyết định khai phá sân nhà, lúc đó, thị trường gỗ nội thất trong nước hầu hết là từ nước ngoài, nhiều nhất là Trung Quốc, kế đến Malaysia, Thái Lan… nhưng chất lượng kém xa các mặt hàng gỗ nội thất của DN Việt Nam sản xuất để xuất khẩu.
Giờ đây, thị trường sân nhà đã xuất hiện nhiều thương hiệu đồ gỗ do các DN trong nước sản xuất, nhưng nếu nói về lượng và thị phần thì chưa nhiều như mong muốn. Việc trở lại sân nhà chưa như ý có nhiều nguyên nhân như sự “đứt gãy” các khâu, khâu thiết kế và sản xuất, nhưng chủ yếu nhất là khâu phân phối. Do phong cách chưa định hình nên nhà sản xuất hoang mang về xu hướng.
Dù có đủ năng lực sản xuất nhờ đội ngũ lao động tay nghề cao để cung ứng cho nước ngoài, nhưng cái khó của nhà sản xuất là đơn hàng trong nước thường chỉ dừng lại hàng chục (bộ), trong khi đơn hàng nước ngoài tính bằng container. Chính hấp lực đơn hàng nước ngoài quá lớn khi nhu cầu tiêu dùng nước ngoài phục hồi nên có DN bắt đầu “lơ là” thị trường trong nước, không còn nhiều DN chịu gắn bó với nhà phân phối.
Giám đốc Công ty cổ phần Phân phối đồ gỗ D’Furni Vũ Tiến Thập nhận định. D’Furni sẵn sàng đặt đơn hàng với số lượng tối thiểu (vài chục cái, hay bộ) chứa trong kho để phân phối dần giúp DN có thể sản xuất. Tuy nhiên, không phải DN nào cũng chịu thay đổi một số chi tiết cho phù hợp thị hiếu người Việt.
Trong khi một số DN cung ứng và phân phối chủ yếu là những sản phẩm còn lại của đơn hàng xuất khẩu. Có người đặt câu hỏi, phải chăng năm 2008, khi thị trường nước ngoài khó khăn, DN mới nhìn lại sân nhà; còn hiện nay, khi thị trường phục hồi, đơn hàng nước ngoài nhiều trở lại nên sân nhà không còn là ưu tiên cho việc sản xuất?
Với tư cách là người tiêu dùng, KTS Nguyễn Chánh Phương, Giám đốc Công ty TNHH Danh Mộc, Tổng Thư ký HAWA cho biết, khi tìm hàng nội thất cho ngôi nhà mới, qua 2 lần hội chợ, chỉ tìm được khoảng 70% mặt hàng cần mua. Điều đó nói lên mẫu mã sản phẩm nội thất Việt chưa thật sự phong phú để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Đó còn là sự “đứt gãy” khâu nhân viên bán hàng.
Hiện nay, nhân viên tiếp thị nhà đất có thể nói nắm rõ nhiều kỹ năng và kiến thức về xây dựng nên tiếp thị khách hàng một cách chuyên nghiệp, trong khi với nhân viên bán hàng nội thất, tính chuyên nghiệp chưa nhiều. Vì vậy, khi gặp khách hàng có trình độ, gu thẩm mỹ hay cá tính riêng, nếu tiếp xúc với nhân viên tay ngang bán hàng nội thất sẽ làm cho khách hàng cảm thấy mất niềm tin về sản phẩm muốn mua.
Việc trở lại sân nhà của DN chế biến gỗ nội thất 6-7 năm nhưng nhìn chung vẫn còn lúng túng để đưa hàng đến tay người tiêu dùng. Nói như ông Vũ Tiến Thập, không ít DN hô hào hơn là thật sự bắt tay vào việc cùng kết nối để “giữ sân nhà”. Đó cũng là khoảng “đứt gãy” cần phải được hàn gắn để việc kết nối từ nhà thiết kế, sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng trở nên liền lạc. (Sài Gòn Giải Phóng 11/11, tr6) đầu trang(
Nhằm giúp ngành nội thất phát triển, chinh phục thị trường nội địa, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM (HAWA) đã tổ chức buổi đối thoại giữa các kiến trúc sư (KTS) và các nhà sản xuất đồ gỗ.
Tại buổi đối thoại, các nhà sản xuất đã chia sẻ kinh nghiệm và những trăn trở. Với thế mạnh cung cấp đèn, tranh phù điêu và định hướng đi vào dòng đèn được làm thủ công, Công ty Kim Huy Hoàng tìm ra ngách mới trên thị trường và tránh đương đầu với nhiều đối thủ ở thị trường nội địa.
Doanh nghiệp Nguyễn Thanh, thâm nhập thị trường nội địa từ năm 2005 nhưng hiện tại vẫn có nhiều khó khăn trong khâu phân phối và tiếp cận khách hàng vì phải chịu sức ép tài chính và hàng tồn kho.
KTS Trần Cao Hiếu, chia sẻ bản thân KTS chỉ tạo được không gian, còn đồ nội thất mới làm nên hồn cho không gian đó. Tuy nhiên, nhiều KTS đều thừa nhận họ gặp phải rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian trong việc chọn lựa và tìm mua đồ nội thất cho khách hàng, do không có nhiều kênh thông tin, chưa có được mối liên hệ mật thiết với nhà sản xuất. Theo các KTS, thị hiếu của người Việt khi chọn mua sản phẩm là đơn giản, đa năng, vật liệu bền, chuộng giá rẻ và có sẵn trên thị trường.
Để giải quyết vấn đề này, doanh nghiệp cần thiết phải xây dựng trang thông tin về sản phẩm thật tốt và chi tiết để các KTS có thể tìm thấy và đưa vào các thiết kế phối cảnh nhanh chóng. KTS là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng thông qua việc phản hồi những thông tin cần thiết đến nhà sản xuất để có thể cho ra dòng sản phẩm mới.
Ông Nguyễn Chánh Phương, Tổng Thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, cho biết sắp tới với, việc đưa tòa nhà HSC (HAWA Support Center) vào hoạt động, đây sẽ là nơi các KTS có thể đến để tham quan các sản phẩm của các doanh nghiệp hội viên Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM. Dự kiến, trong năm 2015, hội sẽ mở lớp để đào tạo nhân viên bán hàng tại các showroom nội thất nhằm tư vấn tốt hơn cho khách hàng đến mua sắm. (Người Lao Động 11/11, tr8) đầu trang(
Một hộ dân chưa có bìa đỏ sử dụng đất lâm nghiệp lại tự động đem đất "bán" cho các hộ dân khác. Tình trạng khiếu kiện kéo dài nhưng huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) vẫn chưa có động thái gì?
Vụ việc khiếu kiện đất đai tại khu vực rừng tiểu khu 179, thuộc xã Hòa Hải, huyện Hương Khê thời gian gần đây trở thành “điểm nóng”. Kiện tụng kéo dài, gần 40 hộ đòi quyền lợi đất từ 1 hộ dân khác. Cấp trên có thẩm quyền vẫn chưa có giải đáp ổn thỏa cho dân. Hàng chục hộ dân đang rơi vào vòng luẩn quẩn, nhất là khi cả trăm ha rừng keo đang trên đà phát triển mà buộc phải đốn hạ.
Cho rằng có sự thiếu minh bạch, gần 40 hộ dân thuộc xóm 1, 2 và 4, xã Hòa Hải gửi đơn kiến nghị lên UBND huyện Hương Khê về việc ông Thái Xuân Tiến (SN 1963, trú tại xóm 2, xã Hòa Hải) được chính quyền xã giao quá nhiều đất lâm nghiệp (hơn 155ha vào năm 1996) trong khi bản thân họ không có đất rừng để canh tác, sản xuất. Giờ họ đứng trước nguy cơ mất hẳn diện tích đất rừng đã bỏ công sức, tiền của bao năm qua vun trồng.
Việc hộ ông Tiến sử dụng diện tích đất lâm nghiệp “khổng lồ” so với quy định đã được UBND xã Hòa Hải, Hạt kiểm lâm Hương Khê trả lời trong báo cáo ngày 25/09/2014, về thực địa hiện trạng sử dụng đất của ông Thái Xuân Tiến: Năm 1996, ông Tiến được UBND huyện giao đất tại Quyết định số 296/QĐ_UBND ngày 23/12/1996 với tổng diện tích 155,96ha, có biên bản giao đất ngày 24/12/1996 và bản đồ giao đất với ranh giới đất rừng cụ thể. Sau đó, ông Tiến nhất trí chuyển nhượng lại cho 40 hộ dân với số diện tích khoảng 44,18ha.
Tuy nhiên, 40 hộ dân lại cho rằng, việc nhà nước giao đất cho hộ gia đình ông Tiến thì phải liên tục tác nghiệp, quản lý và xây dựng. Đằng này, ông Tiến đã bỏ bê gần chục năm ròng (1996 đến 2005) cho đến khi người dân có nhu cầu xây dựng rừng để làm nên giá trị kinh tế thì ông Tiến lại vào cản trở, cầm theo một bộ hồ sơ giấy tờ cấp đất không phù hợp theo luật đất đai hiện hành vào thời điểm đó.
Theo ông Nguyễn Đăng Lý, xóm 1, xã Hòa Hải phân trần, theo quy định Luật đất đai từ tháng 01/07/2004 người được giao đất nông nghiệp trước năm 1999 thì phải làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hạn mức, số đất mà hộ gia đình làm vượt hạn mức thì phải làm thủ tục thuê đất. Vậy ông Tiến không tiến hành các bước theo quy định lại không hề tác nghiệp được diện tích đất đáng kể nào, việc đó có đúng theo quy định của pháp luật không?
Theo đơn thư tố cáo và kiến nghị của 40 hộ dân gửi huyện Hương Khê, những năm 2005 đến 2007 nhân dân các xóm 1, 2 và 4, thuộc xã Hòa Hải do điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu việc làm đã vào khu rừng lân cận khai hoang trồng rừng, suốt thời gian dài không ai nói gì.
Đến khi cây keo tươi tốt thì tháng 7/2009 đột nhiên có ông Thái Xuân Tiến (SN 1963), trú tại thôn 2, xã Hòa Hải cầm một bản hợp đồng soạn sẵn ghi là năm 2006 đến từng hộ dân nói rằng: Đây là đất của ông Tiến, buộc các gia đình trên phải ký nhận vào, nếu không sẽ không cho thu hoạch. Trong khi diện tích cây keo đã có tuổi đời trên 2 năm tuổi, do sợ bị chặt phá diện tích keo, các hộ đồng ý ký.
Người dân lý giải, họ vào khai hoang đất từ năm 2005, nhưng mãi sau này ông Thái Xuân Tiến mới đem một bản hợp đồng chứng nhận diện tích đất trên là của ông, bản hợp đồng ghi năm 2006. Tuy nhiên, do dân cần đất để canh tác, học vấn và sự hiểu biết có hạn nên đã nhắm mắt cùng ký vào bản hợp đồng.
Người dân bức xúc vì tại sao khi lên rừng khai hoang đất đai để trồng rừng thì ông Tiến không có ý kiến, chỉ đến khi cây keo tốt tươi thì bất thình lình nhận được bản hợp đồng đất đang sử dụng là của một chủ hộ khác. "Thấy thế, chúng tôi mới kí kết vào bản hợp đồng. Trả tiền phần trăm theo diện tích đất sử dụng cho gia đình ông Tiến".
“Sau khi tìm hiểu, một vài hộ dân đã phản kháng, không ký vào bản hợp đồng với nghi hoặc là bản hợp đồng “giả” mà ông Tiến tự ý soạn ra để hù dọa nhân dân, buộc dân phải tin và đóng tiền “thuế” cho ông. Điều đáng nói, toàn bộ diện tích rừng ông Tiến “sở hữu” lại không có bìa đỏ (giấy phép sử dụng đất) mà ông Tiến lại tự làm hợp đồng cho dân thuê lại?”, anh Nguyễn Văn Cường, xóm 1, xã Hòa Hải phân trần.
Cũng theo người dân, ông Tiến dọa không ký thì sẽ cho người đến chặt cây, gây khó dễ với dân. Hợp đồng dân sự giữa ông Thái Xuân Tiến và nhiều hộ dân khác có nội dung là các hộ trồng rừng nguyên liệu keo tai tượng trên đất “được” giao cho ông Tiến với chu kỳ 6 năm, sau khi thu hoạch thì trả cho ông Tiến mức phí quản lý 2%.
Trong hàng loạt đơn thư kiến nghị của người dân gửi cho Báo Infonet đều cho rằng, hợp đồng nhận đất trồng rừng mà ông Thái Xuân Tiến ký với các hộ dân có sự “hậu thuẫn” của chính quyền địa phương. Theo đó, người dân cho rằng, bản hợp đồng nhận đất trồng rừng mà ông Tiến ký với các hộ là lừa đảo, gian lận, ép buộc...
Theo tìm hiểu của PV, hợp đồng nhận đất trồng rừng mà các hộ đã ký với ông Tiến là hợp đồng dân sự, được các bên thỏa thuận, thống nhất và cùng ký tên. Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố tranh chấp đất giữa hộ ông Tiến và 40 hộ gia đình khác thì phía lãnh đạo UBND xã Hòa Hải đã họp và cho rằng thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc về TAND cấp huyện. Nếu các hộ cho rằng ông Tiến có dấu hiệu “gian lận” thì có thể gửi đơn lên tòa án huyện Hương Khê yêu cầu tuyên bố hợp đồng và vô hiệu theo quy định của Bộ luật hình sự.
Như vậy, diện tích mà 40 hộ dân canh tác, trồng keo trên đã được thu hoạch 1 vụ, các bên đã thanh tóan xong hợp đồng đã ký với nhau. Hiện nay, các hộ đã đi vào trồng tiếp keo vụ 2, cây đã tốt gần 8-10m, tuổi đời trên 3 năm. Bất ngờ, ông Tiến đề nghị phải giao toàn bộ diện tích keo trên cho ông. Dân cương quyết không đồng ý, ông Tiến đưa ra 2 phương án lựa chọn: Một, nếu dân không thực hiện, ông sẽ cho người đến “đốn hạ” toàn bộ. Hai, nếu dân muốn tiếp tục canh tác đất thì ông bán lại với giá 15 triệu đồng/ha.
Vì diện tích đất trồng keo đang trên đà phát triển, một số hộ dân sợ bị đốn hạ, nên đã thanh toán số tiền mặt cho ông Tiến theo đề xuất của ông. Cụ thể, hộ anh Thái Quang Nhật (xóm 1) đóng số tiền 1,5 triệu đồng/2ha; Trần Văn Oánh, Trần Văn Cửu, Lê Văn Đức (đều trú xóm 1) đóng số tiền 4,8 triệu đồng/4ha… Tổng 40 hộ dân phải chi trả cho ông Tiến trên 40 triệu đồng để tiếp tục sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong nhiều đơn thư khiếu kiện gửi lên UBND huyện Hương Khê và Báo Infonet, các hộ dân mong muốn các cấp, ngành liên quan khẩn trương thanh tra việc quản lý, sử dụng đất của hộ ông Thái Văn Tiến từ khi được giao đất đến nay và trả lại quyền lợi chính đáng cho 40 hộ dân tại xã Hoà Hải.
Ông Phan Quốc Lập, Trưởng phòng TNMT huyện Hương Khê cho biết, đến thời điểm hiện nay, toàn bộ diện tích hơn 155ha đất lâm nghiệp của hộ ông Thái Xuân Tiến là chưa được cấp bìa đỏ vì chưa có quyết định giao đất. Phía huyện đang hướng dẫn người dân làm đơn khởi kiện lên TAND huyện để xử lý tranh chấp đất rừng theo luật pháp.
“Bản thân tôi cũng thấy lạ, việc giao đất, giao rừng cho một hộ dân đứng chủ trên 155ha là vượt mức quy định theo luật đất đai năm 2003. Nếu ông Tiến tự động bán đất rừng cho các hộ dân là không được, vi phạm pháp luật. Vì huyện không bao giờ làm thủ tục trái quy định”, ông Lập khẳng định. (InfoNet 10/11) đầu trang(
Khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu, núi rừng Kà Te, thuộc xã Canh Thuận (huyện Vân Canh) như thay da đổi thịt, cây cối đâm chồi nảy lộc, cỏ mọc xanh um che kín những vạt đồi bạc thếch cũng là lúc bà con trong làng bắt đầu chuẩn bị cái cuốc, cái dao, cây giống bắt đầu vào mùa trồng rừng.
Kà Te là một làng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn nên những năm gần đây, ngoài thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước giúp người dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống; UBND xã Canh Thuận còn khuyến khích trồng rừng, vừa phủ xanh đất trống, đồi trọc bảo vệ môi trường vừa tạo điều kiện giúp họ có thêm thu nhập.
Những ngày đi trồng rừng, không khí trong làng nhộn nhịp hẳn lên, bếp lửa của các gia đình được nhóm sớm hơn vào buổi sáng, muộn hơn vào buổi tối để tranh thủ thời gian gấp gáp cho việc trồng rừng. Đây được xem là một công việc chung của cả làng nên từ thanh niên trai tráng đến người lớn tuổi, phụ nữ đều tham gia. Theo kế hoạch, mùa trồng rừng năm nay cả làng trồng khoảng 8ha đất rừng.
Chị Đinh Thị Gửi vui vẻ cho biết: “Mình tham gia trồng rừng đã nhiều năm rồi. Năm nào cũng vậy, khi ông trời cho nước xuống là các gia đình trong làng thu xếp công việc để đi trồng rừng. Nhà nào rảnh rỗi thì đi cả nhà, còn gia đình nào có công việc riêng thì cử ít nhất một thành viên tham gia, vì đây là việc chung của làng mà”.
Còn anh Đinh Văn Lịch chia sẻ: “Việc trồng rừng đem lại thu nhập đáng kể cho bà con làng Kà Te. Hàng năm, vào mùa thu hoạch cứ 1 ha cây keo nguyên liệu bán được trên 70 triệu đồng. Số tiền bán keo bà con trích một ít làm quỹ làng, phục vụ việc sinh hoạt cộng đồng trong các dịp lễ tết, ma chay, cưới hỏi… còn lại chia đều cho 70 hộ dân. Thông qua việc trồng rừng, tình cảm của bà con trong làng ngày càng gắn kết hơn, đời sống cũng đỡ khó khăn hơn trước”. (Báo Bình Định 8/11) đầu trang(
Sau 5 năm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng theo Nghị quyết 30a của Chính phủ người dân thuộc 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm đã được giao gần 30.000 ha đất rừng để nhận khoán chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ.
Các hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng ở 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm đã được hưởng tiền khoán chăm sóc, bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ ha/ năm; Hộ gia đình được giao rừng sản xuất và giao đất để trồng rừng sản xuất được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp từ 2- 5 triệu đồng/ ha; Đối với hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, được giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất còn được trợ cấp 15 kg gạo/ khẩu/ tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực…
Tính đến nay, đã có trên 800 hộ nghèo ở 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm được hỗ trợ trên 167 kg gạo theo chính sách trên. 5 năm qua, nhờ thực hiện tốt chính sách giao đất, giao rừng, giao khoán chăm sóc, và bảo vệ rừng theo Nghị quyết 30a của Chính phủ mà người dân thuộc 2 huyện nghèo trên địa bàn tỉnh đã chú trọng hơn đến công tác trồng rừng, tích cực phát triển kinh tế từ rừng, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững. (Đài PTTH Bắc Kạn 9/11) đầu trang(
Ông Huỳnh Pô Pin, Phó giám đốc Ban quản lý dự án Flitch huyện Đồng Xuân cho biết, mùa mưa năm 2014, toàn huyện trồng 1.733ha rừng.
Trong đó, các xã Xuân Lãnh trồng 708ha, Xuân Quang 1 trồng trên 600ha, Xuân Quang 2 trồng gần 132ha, Phú Mỡ trồng trên 104ha, Xuân Quang 3 trồng trên 97,6ha, Xuân Phước trồng 90,6ha…
Người dân tham gia trồng rừng được dự án hỗ trợ 500 USD/ha (tương đương 10,5 triệu đồng). Số tiền trên để đầu tư mua cây giống trồng 2.000 cây/ha và 1 tấn phân vi sinh, còn lại là công chăm sóc…
Thực hiện từ năm 2009, đến nay, dự án Flitch đã đầu tư cho việc trồng rừng sản xuất, cải tạo vườn hộ, quản lý bảo vệ trên 3.200ha rừng. (Báo Phú Yên 11/11) đầu trang(
10/11, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư cho phép Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai (Đồng Nai) trồng rừng nguyên liệu tại tỉnh Lâm Đồng với quy mô diện tích hơn 3.600ha.
Trong đó gần 1.312ha rừng phòng hộ, hơn 2.100ha rừng sản xuất; diện tích còn lại gần 170ha là đất quy hoạch ngoài lâm nghiệp. Theo dự án này, Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai sẽ trồng diện tích rừng nói trên tại các huyện Đức Trọng, Đam Rông, Lâm Hà và Di Linh.
Dự án có tổng vốn đầu tư gần 198 tỷ đồng và thời gian thực hiện từ nay đến năm 2054. (Nông Thôn Ngày Nay 11/11, tr12) đầu trang(
Tỉnh Quảng Ninh đã trao giấy chứng nhận đầu tư cho dự án trồng rừng, bảo tồn, phát triển cây cổ thụ, cây quý hiếm, cây cảnh quan đô thị và cây xanh xuất khẩu tại huyện Hoành Bồ với tổng vốn đầu tư hơn 25 tỷ đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 11/11, tr2) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2015, toàn tỉnh có kế hoạch trồng mới 8.000ha rừng. Để hoàn thành mục tiêu này, ngay từ tháng 11/2014, ngành nông nghiệp đã khuyến cáo các địa phương tranh thủ thời tiết thuận lợi để xử lý thực bì phục vụ công tác trồng rừng.
Hiện nay, cùng với việc khuyến khích người dân hoàn thành đăng ký trồng rừng, chính quyền 8 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh cũng khuyến cáo bà con tranh thủ thời tiết hanh khô để xử lý thực bì. Tại các huyện như: Chợ Mới, Bạch Thông người dân đã chủ động đăng ký trồng rừng và tích cực khai thác trắng gỗ rừng trồng đến tuổi, phát dọn cây cỏ dại để chuẩn bị hiện trường cho vụ trồng rừng năm 2015.
Theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, việc xử lý thực bì cần bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau và phải hoàn thành trước khi trồng rừng khoảng 2 tháng. Trong khi đó bước vào đầu năm, thời tiết thường có mưa ẩm kéo dài gây khó khăn cho việc xử lý thực bì.
Vì vậy, người dân không nên chủ quan, mà cần chủ động chuẩn bị hiện trường để trồng rừng đúng tiến độ. Cùng với đó, giống cây trồng và vật tư cũng cần được các địa phương chuẩn bị tốt để công tác trồng thành công. (Đài PTTH Bắc Kạn 10/11) đầu trang(
Chỉ còn khoảng 1 tháng nữa là mùa vụ trồng rừng năm 2014 kết thúc, tuy nhiên, năm nay công tác trồng rừng của tỉnh khó có thể đạt kế hoạch đề ra do gặp khá nhiều khó khăn.
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp cho biết, năm 2014, kế hoạch trồng rừng toàn tỉnh là 4.680 ha, trong đó, trồng rừng đặc dụng 50 ha, rừng phòng hộ 250 ha, rừng sản xuất 4.380 ha (rừng sản xuất của doanh nghiệp (DN) có vốn dự án Flitch hỗ trợ 4.015 ha, trồng rừng sản xuất vốn DN 365 ha).
Đến nay, toàn tỉnh chỉ mới trồng 3.408 ha, trong đó, trồng rừng đặc dụng 20 ha, trồng rừng phòng hộ 20 ha, rừng sản xuất 3.358 ha. Hiện các đơn vị đang nỗ lực phấn đấu để đạt kế hoạch đề ra, tuy nhiên khó có thể về đích như mong muốn. Đối với kế hoạch trồng rừng đặc dụng và phòng hộ, khả năng phấn đấu cũng chỉ đạt khoảng 70/300 ha, nguyên nhân chủ yếu là do diện tích dự kiến trồng rừng của các công ty lâm nghiệp hiện nay đang còn tranh chấp với các hộ dân.
Cụ thể, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Ma Lanh mới chỉ thực hiện 12 /120 ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Phả thực hiện 8/40 ha, còn Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy do quỹ đất trồng rừng phòng hộ ở địa hình đồi núi cao, hiểm trở, khó vận chuyển cây giống, trong khi kinh phí đầu tư trồng rừng thấp nên không thực hiện được diện tích 50 ha kế hoạch đã giao.
Hay như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar dự kiến trồng 40 ha trên đất rừng sau khai thác, nhưng thủ tục khai thác rừng phòng hộ chưa xong nên đơn vị này cũng không có quỹ đất để trồng. Ông Nguyễn Hồng Mạnh, Giám đốc Công ty cho biết, hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị những năm gần đây gặp khá nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch trồng rừng.
Diện tích 40 ha rừng phòng hộ như kế hoạch đề ra mà đơn vị không thực hiện được ngoài nguyên nhân chưa có quỹ đất, còn do thiếu vốn. Sự hỗ trợ của Dự án Flitch cũng chỉ được trong năm đầu, những năm tiếp theo của chu kỳ trồng rừng, DN phải tự bỏ vốn để chăm sóc, quản lý, bảo vệ, cho nên ngay cả khi có quỹ đất, DN cũng không dám đăng ký trồng thêm. Còn đối với rừng sản xuất, hiện nay đơn vị đã trồng được 240/300 ha, đang nỗ lực phấn đấu khi kết thúc mùa vụ sẽ hoàn thành kế hoạch đề ra.
Những năm gần đây, mặc dù có sự hỗ trợ của Dự án Flitch, nhưng các công ty lâm nghiệp vẫn không mấy mặn mà với trồng rừng sản xuất. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Phả đăng ký trồng 100 ha, nhưng chỉ trồng được 40 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Thuần Mẫn chỉ thực hiện 25/40 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Drak chỉ trồng 150 /190 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng chỉ đăng ký trồng 40 ha, nhưng đến nay cũng không thực hiện được...
Ngoài nguyên nhân tranh chấp đất với người dân ở một số đơn vị vẫn chưa được giải quyết triệt để, còn có nguyên nhân do các đơn vị này đều thiếu nguồn lực tài chính, khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng; hoạt động sản xuất kinh doanh hầu hết đều đang trong tình trạng “giật gấu vá vai”.
Như chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Hưng, mặc dù năm 2014, tiến độ trồng rừng được đánh giá là nhanh hơn so với các năm trước, nhưng diện tích lại không đạt. Ngành lâm nghiệp tỉnh cũng đang cố gắng đôn đốc các đơn vị lâm nghiệp đẩy mạnh nhiệm vụ trồng rừng, nhưng khả năng đến cuối năm, toàn tỉnh cũng chỉ trồng được khoảng 4.000/4.680 ha rừng, tương đương với 85% kế hoạch. (Báo Đắc Lắc 11/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||