Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
13/11, đoàn công tác liên ngành của huyện Hòa Vang (TP Nẵng) đã kết thúc chuyến tuần tra, kiểm soát dài ngày tại rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa, khu vực Cà Nhông, giáp ranh với lâm phận tỉnh Quảng Nam.
Qua đó, đã phát hiện thêm 61 phách gỗ kiền kiền, lâm tặc khai thác trái phép đang cất giấu tại lâm phận xã Tư, huyện Đông Giang. Số gỗ trên được xác định lâm tặc khai thác trái phép tại các tiểu khu 31 và 33 rừng Đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa của TP.Đà Nẵng, bởi tại đó ngoài 38 cây kiền kiền chỉ còn trơ gốc được phát hiện cách đây gần 1 tháng, còn có 68 cây khác, đường kính từ 30 đến 95 cm, bị chặt hạ, gỗ đã chuyển đi hết.
Như vậy, qua 2 đợt tuần tra kiểm soát, lực lượng kiểm lâm và đoàn công tác liên ngành huyện Hòa Vang đã phát hiện tại rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa, khu vực giáp ranh với lâm phận tỉnh Quảng Nam 106 cây kiền kiền và hàng chục cây gỗ khác bị chặt hạ.
Theo ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa, nhiều khả năng số gỗ do lâm tặc khai thác trái phép chưa dừng lại ở con số nêu trên. Sau đợt tuần tra, kiểm soát này, hạt sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành mở các đợt tuần tra tiếp theo. Khu vực tuần tra kiểm soát sẽ mở rộng về hướng giáp ranh với lâm phận tỉnh Thừa Thiên- Huế.
Với số cây gỗ quý bị chặt hạ trái phép vừa phát hiện đủ cơ sở để khởi tố vụ phá rừng nghiêm trọng này, hạt sẽ hoàn tất hồ sơ khởi tố và phối hợp cùng cơ quan công an tiếp tục điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11) đầu trang(
Chiều 13/11, tại Đà Nẵng, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Huỳnh Khánh Toàn cùng đại diện các ngành chức năng của hai địa phương đã có buổi làm việc về vấn đề quản lý rừng và đất rừng ở khu vực giáp ranh giữa hai địa phương sau khi xảy ra vụ phá rừng Cà Nhông.
Tại buổi làm việc, phía Quảng Nam nhất mực yêu cầu TP Đà Nẵng di dời Trạm quản lý bảo vệ (QLBV) rừng Cà Nhông (thuộc BQL rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa) ra khỏi lâm phận của huyện Đông Giang (Quảng Nam) và tuyên bố sẽ phá bỏ tuyến đường độc đạo ngang qua trạm này.
Theo ông Nguyễn Bằng, Bí thư Huyện ủy Đông Giang, trạm QLBV rừng Cà Nhông nằm trên tuyến đường độc đạo đi vào khu vực rừng Bà Nà – Núi Chúa nằm ở vùng giáp ranh giữa hai địa phương. Đây cũng là con đường duy nhất để có thể đưa gỗ ra khỏi rừng. Qua vụ khai thác và cất giấu trái phép gỗ rừng tự nhiên ở khu vực rừng Cà Nhông cho thấy gỗ lậu đã được vận chuyển công khai qua trạm này chứ không hề lén lút.
Đặc biệt, tỉnh Quảng Nam công bố, Sở NN-PTNT Đà Nẵng đã buông lỏng quản lý khi giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ gia đình theo Nghị định 01/CP của Chính phủ. Do vậy, BQL rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa đã tự ý cấp phép chuyển đổi diện tích trồng keo sang trồng cây cao su ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn. Hiện có hai cá nhân đang trồng cao su ngay trong lõi rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và cần phải trục xuất ngay.
“Rừng ở khu vực thượng nguồn sông Nam của Đà Nẵng đang bị phá tơi bời. Không giải quyết được tình trạng này thì rừng đầu nguồn của Đà Nẵng sẽ còn bị băm nát. Rõ ràng là có bảo kê, chống lưng cho việc phá rừng ở khu vực giáp ranh giữa Đà Nẵng với Quảng Nam. Nếu Đà Nẵng không di dời Trạm QLBV rừng Cà Nhông ra khỏi lâm phận Đông Giang thì chúng tôi buộc lòng phải phá con đường độc đạo ngang qua trạm này để bảo vệ các diện tích rừng còn lại” – ông Nguyễn Bằng tuyên bố.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Huỳnh Khánh Toàn nêu rõ, tỉnh này đưa ra những yêu cầu quyết liệt nêu trên không ngoài mục đích cùng với Đà Nẵng quản lý tốt rừng phòng hộ đầu nguồn, phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý rừng của mỗi bên đối với một khu vực mà nạn phá rừng, khai thác vàng trái phép đang diễn ra rất nóng.
Theo ông, đất rừng tại khu vực rừng giáp ranh Bà Nà - Núi Chúa phải do các cơ quan chức năng của hai địa phương quản lý chứ không nên giao cho bất kỳ cá nhân nào. Ông cũng đề nghị ngành chức năng hai địa phương cần phân chia cụ thể và có sự phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý và tái tạo diện tích rừng ở vùng giáp ranh vốn đã chồng lấn và bị lâm tặc triệt hạ gỗ quý.
Trước các đề xuất của tỉnh Quảng Nam, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết chỉ đạo Sở NN-PTNT TP đến tháng 6/2015 phải di dời xong trạm QLBV rừng Cà Nhông về phần đất của Đà Nẵng. Trước mắt, đến cuối tháng 12 này phải làm rõ thông tin phản ánh của phía Quảng Nam và báo cáo kết quả xử lý trách nhiệm cán bộ lãnh đạo BQL rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đã tự ý cấp phép chuyển đổi diện tích trồng keo sang trồng cây cao su ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn.
Ông Phùng Tấn Viết khẳng định sẽ xử lý thích đáng các tập thể, cá nhân vi phạm trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Ông cho hay, quan điểm của lãnh đạo Đà Nẵng là thống nhất bàn giao nguyên trạng khu vực rừng huyện Đông Giang mà trạm QLBV rừng Cà Nhông đang đứng chân cho tỉnh Quảng Nam; nếu đối tượng, cá nhân nào sử dụng sai mục đích sẽ xử lý nghiêm. Đồng thời khẳng định sẽ phối hợp với Quảng Nam quản lý tốt vùng rừng giáp ranh giữa 2 địa phương, không để tiếp tục xảy ra hiện tượng phá rừng, tự ý chuyển đổi cây trồng không phù hợp...
Trước đó, như đã đưa tin, Sở NN-PTNT Đà Nẵng đã tạm đình chỉ công tác đối 5 cán bộ thuộc Trạm QLBV rừng Cà Nhông (thuộc BQL rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa) và 2 kiểm lâm viên địa bàn để làm rõ trách nhiệm liên quan đến vụ phá rừng Cà Nhông. Hiện Công an huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) đang trực tiếp điều tra làm rõ vụ việc nhiều tai tiếng này.
Trao đổi với PV, ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cho hay: “Về công tác quản lý nhà nước thì BQL rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa chịu trách nhiệm trước Sở NN-PTNT. Kiểm lâm địa bàn ở đó cũng phải chịu trách nhiệm trước Chi cục Kiểm lâm. Hiện chúng tôi đang điều tra thủ phạm. Ai là người phá rừng đó? Người đó ở đâu? Mọi việc sẽ được làm rõ.
Chúng tôi đã báo cáo và nhờ Công an TP Đà Nẵng. Công an TP cũng đã chỉ đạo Công an huyện Hòa Vang. Ở Chi cục Kiểm lâm, chúng tôi cũng đã chỉ đạo Phòng Quản lý rừng, Phòng Pháp chế và các phòng chức năng cử các cán bộ có chuyên môn vào cuộc làm một cách đồng bộ để tìm ra thủ phạm sớn nhất!”. (InfoNet 14/11; Phụ Nữ TP HCM 14/11) đầu trang(
Như một căn bệnh kinh niên, mùa khô năm nào cũng vậy lửa cháy rừng ngùn ngụt khắp các huyện phía Tây tỉnh Yên Bái, ít thì vài trăm ha, nhiều thì hàng ngàn ha. Với rất nhiều biện pháp để bảo vệ rừng, mùa khô 2014-2015 Yên Bái còn để cháy rừng? Đó là câu hỏi không dễ trả lời được...
Tỉnh Yên Bái hiện có 416.145 ha rừng có độ che phủ, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 240.976 ha, rừng trồng 175.169 ha, ngoài ra diện tích rừng mới trồng là 11.992 ha, tỷ lệ che phủ đạt 60,43%. So với vài chục năm trước đây, diện tích rừng đang được hồi phục, đó là nhờ Yên Bái đã đẩy mạnh việc giao đất giao rừng để người dân tự bỏ vốn trồng rừng.
Với diện tích 164.708 ha rừng phòng hộ, đặc dụng thuộc dự án 5 triệu ha rừng, đây là diện tích rừng có trữ lượng gỗ lớn nên dễ bị xâm hại nhất, các huyện có rừng đã lập hồ sơ giao khoán bảo vệ cho 12.000 hộ và nhóm hộ nhận khoán 39.000 ha, đơn giá 50.000 đồng/ha.
Với mức khoán quá thấp như vậy nhưng cũng tạo cho người dân có nguồn thu nhập từ rừng, để họ có ý thức bảo vệ rừng (BVR) tốt hơn. Các địa phương đã triển khai nhiều biện pháp BVR, nhưng tình trạng khai thác lâm sản, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ lâm sản và động vật rừng trái phép trên địa bàn vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi.
Tính đến cuối tháng 10/2014 lực lượng kiểm lâm và các ngành có liên quan đã lập biên bản 195 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng, thu giữ 46m3 gỗ xẻ các loại, trong đó có 31m3 pơ mu; vận chuyển lâm sản trái phép 79 vụ, khai thác lâm sản 13 vụ... số vụ xử lý 185 vụ, khởi tố hình sự 3 vụ, thu nộp ngân sách 546.616.000 đồng.
Điều tỉnh Yên Bái lo ngại nhất mỗi khi mùa khô tới là nạn đốt phá rừng làm nương rẫy, đốt các bãi chăn thả gia súc... để lửa lan vào các khu rừng, khiến hàng trăm ha rừng bị huỷ hoại, biến khỏi mặt đất chỉ sau vài giờ.
Mùa khô 2013-2014, Yên Bái để xảy ra 9 vụ cháy rừng, tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 692,2 ha, trong đó rừng trồng bị cháy nhiều nhất thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Trạm Tấu 585,7 ha, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mù Cang Chải là 100,8 ha.
Vụ cháy rừng ngày 15/2/2014 đã khiến anh Giàng Cháng Mua, sinh năm 1970, trú tại tổ 1, thị trấn Mù Cang Chải do ngủ trong lều nương khi cháy rừng không chạy kịp đã bị lửa thiêu chết cháy, ngoài ra còn 5 người khác bị thương.
Công an tỉnh Yên Bái đã khởi tố ông Giàng A Tống, sinh năm 1966, trú tại thôn Khấu Ly, xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu gây ra vụ cháy rừng ngày 18/3/2014 làm thiệt hại 31,2 ha.
Một điều đáng quan tâm là từ nhiều năm nay rừng Yên Bái bị cháy đều do người gây ra, tập trung ở hai Ban Quản lý rừng phòng hộ, số tiền thiệt hại do cháy rừng nếu tính bằng số tiền đầu tư thì giá trị thiệt hại là nhiều tỷ đồng.
Sau khi tìm hiểu diện tích rừng bị cháy, thấy phần lớn diện tích rừng nằm ở độ cao từ 1.800m trở lên, do trồng ở độ cao như vậy gió núi mạnh cây bị lay gốc, gãy ngọn nên không phát triển được, mặc dù rừng trồng 3-4 năm tuổi nhưng chỉ cao hơn 1m, thấp hơn cỏ, nên cháy xảy ra khó cứu chữa.
Diện tích rừng bị cháy thường nằm ở các khu vực giáp ranh giữa các địa phương, gần các đồng cỏ chăn thả gia súc tự nhiên của người dân. Vào mùa khô người dân thường đốt các bãi chăn thả để mùa xuân cây cỏ mọc lên cho gia súc ăn, chính vì thế nên lửa đã lan vào các khu rừng trồng.
Từ đó, đặt ra việc quy hoạch rừng trồng của Yên Bái phải phù hợp với điều kiện sinh trưởng của từng loại cây rừng trồng, nhất là không nên trồng rừng vào các bãi chăn thả gia súc của người dân. Nếu không việc trồng rừng chẳng khác gì ném tiền qua cửa sổ.
Để ngăn chặn việc đốt phá rừng làm nương rẫy lan ra các khu rừng nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã in ấn phát 10.000 tờ rơi, áp phích tuyên truyền tới tận người dân và trong các trường học, tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tới 75.000 lượt người dân.
Xây dựng 310 tổ xung kích chữa cháy rừng với 3.214 người tham gia. Tổ chức 10 lớp tập huấn về phòng cháy, chữa cháy rừng cho các tổ xung kích và các chủ rừng tham gia.
Thực hiện việc “cưỡng chế” đốt nương rẫy vào ban ngày có sự giám sát của trưởng thôn, bản và kiểm lâm để lửa không lan ra các khu rừng bên cạnh. Xây dựng mới 20 km đường băng cản lửa, phát dọn 97,6 km đường băng cản lửa cũ tại các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ở các huyện có nguy cơ cháy rừng cao, như: Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên và Yên Bình.
Từ tất cả những cố gắng đó, nhưng chưa hẳn công tác phòng chống cháy rừng ở Yên Bái đã yên tâm. Câu hỏi đặt ra là: Mùa khô năm nay rừng Yên Bái có tiếp tục bị cháy?
Ông Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái: Nhằm giảm các vụ cháy rừng vào mùa khô năm 2014-2015 cũng như diện tích rừng bị cháy ở mức thấp nhất Chi cục Kiểm lâm Yên Bái đã điều động 15 cán bộ kiểm lâm địa bàn từ vùng thấp lên vùng cao trong mùa khô hanh tới những xã có nguy cơ cháy rừng cao giúp chính quyền địa phương triển khai các biện pháp BVR và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Thành lập đường dây nóng ở hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải để kịp thời nắm bắt diễn biến cháy rừng để có biện pháp chữa cháy hiệu quả nhất. Với phương châm phòng là chính, các cấp chính quyền và kiểm lâm tích cực vận động mọi người dân tham gia phòng cháy chữa cháy rừng... (Nông Nghiệp Việt Nam 14/11, tr14) đầu trang(
Theo Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ huyện Tây Trà (Quảng Ngãi), rừng Nà Trút rộng ước khoảng 150ha. Rừng Nà Trút chỉ là một phần trong số diện tích gần 700ha nằm trong Tiểu khu rừng phòng hộ 104, thuộc xã Trà Trung, huyện Tây Trà.
Toàn bộ diện tích rừng này được BQL hợp đồng giao cho 15 hộ dân ở thôn Xanh quản lý. Trong đó, riêng phần diện tích rừng Nà Trút, dù nằm cách đường giao thông Di Lăng nối xã Sơn Hà - Trà Trung, huyện Tây Trà nhưng được người dân nơi đây trông giữ rất tốt. Cho nên, trong khoảng 10 năm trở lại đây, số trường hợp xâm nhập trái phép để đốn chặt gỗ tại Nà Trút chỉ khoảng 5 vụ. Chưa có trường hợp nào gỗ bị đốn hạ đưa được ra khỏi rừng.
Điều đáng quí là dù trông giữ khu rừng đầy gỗ quí như lim, táu, sến... suốt từ nhiều năm qua, nhưng chưa bao giờ các hộ dân ở tổ 4, nằm ngay bìa rừng này vào đốn chặt cây để lấy gỗ làm nhà mà chỉ sử dụng gỗ tạp.
Với sự nguyên vẹn đó, rừng Nà Trút được ví là một trong những "mỏ vàng xanh” hiếm hoi ở Quảng Ngãi còn khá nguyên vẹn nằm cạnh khu dân cư. (Phụ Nữ TP HCM 13/11) đầu trang(
Liên tục trong thời gian dài, những khoảnh rừng ở Nam Giang (Quảng Nam) bị tư nhân bạt xẻ tan hoang với mục đích tìm múc đất, cao lanh mà chính quyền địa phương vẫn bình chân như vại.
Nhận được tin báo của người dân thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang), PV đã tìm đến tận nơi, chứng kiến khung cảnh rừng đầu nguồn bị chặt phá chỉ cách thị trấn chưa đầy 3km…
Từ Đại Lộc đi lên thị trấn Thạnh Mỹ, cách khoảng 5km, bắt gặp một chiếc xe tải DongFeng màu vàng, gắn chữ TS trước kính, chở đất che bạt chạy rầm rập về xuôi. “Đó là xe chở đất, cao lanh của một đơn vị tư nhân lên bạt rừng khai thác trái phép ở Nam Giang” – một người dẫn đường cho biết.
Cách thị trấn Thạnh Mỹ chừng 3km, trên đường Hồ Chí Minh đi về hướng Đông Giang, đứng bên lề đường quan sát, có thể thấy một khoảnh rừng lớn bị xé tan hoang. Tiếng máy xúc rì rầm cả một góc rừng. Con đường mới mở lầy lội, dốc dựng đứng như oằn lên bởi xe DongFeng nới thùng chở đầy đất.
Vào tận sâu trong hiện trường mới chứng kiến hết thực tế rừng bị phá nhiều đến mức kinh hoàng bởi đội quân khai thác đất tìm cao lanh. Cây cối bị đốn hạ thành đồi trọc, tầng phủ bị bóc, từng lớp đất sét được 2 xe múc liên tục đổ lên xe DongFeng. Nơi đây là rừng phòng hộ, một số là rẫy sản xuất của dân, hầu như đã bị bóc dỡ. Có nơi hố sâu hơn chục mét. Hiện trạng rừng đã thay đổi. Gần chục nhân công tập trung làm việc. Không khí khẩn trương. Tận mắt chứng kiến hiện trường cũng như theo nguồn tin của PV, đội quân này đã khai thác đất ở đây được gần 1 năm.
Khi đi qua con đường độc đạo vào hiện trường chụp ảnh, quay phim và bị một “chim lợn” (đối tượng canh gác lực lượng chức năng) ngồi ngoài bìa rừng phát hiện, mọi hoạt động mới dừng hẳn lại. Một thanh niên dân tộc Cơ Tu phi xe máy vội vàng từ ngoài vào nói: “Mấy anh ở đâu? Bọn tui làm thuê cho anh Hùng, có chi đâu mà quay phim chụp ảnh?”. Tuy nhiên, khi PV hỏi anh làm cho Hùng nào thì thanh niên này không trả lời, rút điện thoại gọi tới tấp. Trước khi vội vàng lên xe chạy, anh ta ngoái lại: “Để em nói sếp nói chuyện với mấy anh, em chỉ làm thuê”.
Chủ tịch huyện Nam Giang Alăng Mai có vẻ không bất ngờ khi PV đề cập đến chuyện này: Họ làm trái phép đó, quản khó lắm. Sắp tới chúng tôi sẽ lập đoàn liên ngành truy quét, dứt điểm chuyện này. Vị chủ tịch huyện này cho rằng, đây là “chuyện nhỏ” nên các nhà báo có việc gì cứ gặp phó chủ tịch hoặc ban ngành huyện sẽ nắm kỹ hơn. “Họ tự thỏa thuận với dân rồi mua đất, đưa máy vào múc trộm” - ông Alăng Mai nói.
Theo tìm hiểu, những ngày nắng bình thường, đội quân khai thác đất, cao lanh trái phép này xúc đi hàng ngàn khối đất, bán cho nhà máy gạch ở Đại Lộc, thu về siêu lợi nhuận. Theo tính toán, một xe DongFeng bình thường chở 15 khối đất, khi cơi nới có thể chở lên đến 18 - 20 khối.
Mỗi khối đất bán tại nhà máy trên dưới 150 ngàn đồng. Nếu là cao lanh giá còn cao hơn. Như vậy mỗi chuyến xe thu về gần 2 triệu đồng, mỗi xe chạy khoảng 15 lượt/ngày đêm. Mỗi ngày, có hàng trăm lượt xe chở đất từ Nam Giang xuống Đại Lộc. “Các anh thử tính, khai thác trái phép, không phải nộp thuế, mỗi tháng họ thu về hàng tỷ đồng ngon ơ” - người dẫn đường khẳng định.
Trở lại với chuyến thực tế vào hiện trường, khi vừa ra khỏi rừng thì nhận được điện thoại của một người xưng là Nguyễn Thành Trung, đề nghị gặp PV để “nói chuyện, mong mấy anh nghiên cứu giúp đỡ”. Nguyễn Thành Trung chính là người đứng đầu tổ chức khai thác đất trái phép. Anh ta cũng chính là giám đốc Cty TNHH Thành Trung (nay đã giải thể) liên quan đến vụ lùm xùm quản lý đất đai ở huyện Đại Lộc. Hiện ông Bùi Đức Lợi (nguyên Trưởng phòng TN-MT huyện, đã bị kỷ luật cách chức) đã gửi đơn kiện UBND huyện Đại Lộc ra tòa.
Năm 2011, trong loạt bài viết về nạn khai thác than ở mỏ An Điềm (Đại Hưng) trên Tiền Phong, nhân vật T. nhắc trong bài viết về việc “bảo kê”, khai thác trái phép sau đấu giá than trên mỏ chính là Nguyễn Thành Trung. Trung về tận Hòa Vang để tìm gặp PV. Ngoài việc đề nghị, xin được “mấy anh nghiên cứu giúp đỡ”, Trung ngỏ ý muốn PV nhận quà và bỏ qua sự việc. Tuy nhiên, PV đã từ chối.
Vì sao những khoảnh rừng ở Nam Giang tan hoang, vì sao gần 1 năm trời tư nhân xẻ núi lộ thiên lấy đất, tìm cao lanh, chở rầm rập về miền xuôi mà chính quyền địa phương dù biết trái phép vẫn làm ngơ?
Theo tính toán, một xe DongFeng bình thường chở 15 khối đất, khi cơi nới có thể chở lên đến 18 - 20 khối. Mỗi khối đất bán tại nhà máy trên dưới 150 ngàn đồng. Nếu là cao lanh giá còn cao hơn. Như vậy mỗi chuyến xe thu về gần 2 triệu đồng, mỗi xe chạy khoảng 15 lượt/ngày đêm. (Tiền Phong 14/11) đầu trang(
13/11, tin từ Công an huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông cho biết cơ quan CSĐT đang tiến hành xác minh điều tra làm rõ vụ hủy hoại rừng xảy ra tại địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long.
Trước đó,  lực lượng Kiểm lâm huyện Đắk G’Long tiến hành kiểm tra và phát hiện tại lô 6,  tiểu khu  1658,  thuộc địa phận  xã Quảng Sơn do  Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý có hàng trăm cây thông đang bị rủ lá, héo khô và chết dần một cách bất thường.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng thống kê có 400 cây thông (có độ tuổi từ 25 – 30 năm) đã bị các đối tượng vạc vỏ, khoét vào thân gốc cây rồi đổ hóa chất vào, khiến cây chết từ từ, trong đó có có 25 cây đã bị đốn hạ, cưa gốc. Hầu hết các cây thông đều có chiều cao từ 20-25m, đường kính 25 – 30cm.
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện tại tiểu khu 1646, thuộc xã Quảng Sơn cũng có hơn 100 cây thông  đã bị “hạ độc” với thủ đoạn tương tự. Tại hầu hết các vị trí thông bị đốn hạ các đối tượng đã san ủi mặt bằng chuẩn bị dựng nhà ở và lều lán trại.
Được biết thời gian qua, tại khu vực rừng thông  sản xuất  dọc tuyến tỉnh lộ 4 thuộc địa phận xã Quảng Sơn huyện Đắk G’Long đã xảy ra nhiều vụ hủy hoại rừng thông bằng thủ đoạn đầu đọc bằng  hóa chất để chiếm đất.
Trong khi đó lực lượng chức năng vẫn chưa bắt giữ xử lý được đối tượng nào. Nếu không có biện pháp ngăn chặn, xử lý triệt để thì những diện tích rừng thông còn lại tại khu vực này sẽ đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. (Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
13-11, Ông Lê Thanh Tịnh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), xác nhận vừa ký quyết định khởi tố và chuyển giao hồ sơ cùng toàn bộ tang vật cho Công an huyện Bố Trạch để tiếp tục làm rõ hành vi của 2 đối tượng vận chuyển trái phép động vật hoang dã.
Thông tin được cung cấp cho biết, khoảng đầu tháng 10-2014, trong quá trình tuần tra kiểm soát tại vùng Vực Trô – Bai Bai, lực lượng Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng người địa phương chạy xe máy chở 2 bao tải nặng có nhiều dấu hiệu nghi vấn. Khi bị tuýt còi, 2 đối tượng bất ngờ rú ga bỏ chạy để lại 2 bao tải nặng.
Tiến hành kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện bên trong 2 bao tải chứa 12 cá thể linh trưởng thuộc 3 loài quý hiếm gồm 10 con voọc chà vá chân nâu, 1 vượn siki và 1 khỉ mặt đỏ đã bị giết chết rồi sấy khô. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn thu giữ thêm 19 viên đạn thể thao mà các đối tượng bỏ lại.
Theo nhận định của các cơ quan chức năng, có thể các đối tượng đã dùng súng thể thao để săn bắn nhiều loại linh trưởng quý hiếm dài ngày trong rừng rồi tiến hành sấy khô sau đó mới vận chuyển đi tiêu thụ. (Người Lao Động 13/11) đầu trang(
Vườn quốc gia Yok Đôn có tổng diện tích hơn 115 nghìn héc-ta, nhiều nhóm gỗ quý hiếm. Vì thế lâu nay lâm tặc từ tứ xứ luôn đổ về trộm lâm sản. Thời gian gần đây, đã phát hiện lâm tặc mở đường vào Tiểu khu 471 của vườn để khai thác gỗ.
Ngày 9-11, nhóm PV lội rừng tại Tiểu khu 471, thuộc Phân khu phục hồi sinh thái (do Đội kiểm lâm cơ động số 1 và Trạm kiểm lâm số 6 quản lý bảo vệ), đã phát hiện hàng chục cây gỗ cà chít, căm xe, sao, chiu liu có đường kính gốc từ 30 - 50cm2 mới bị lâm tặc cưa cắt, vết tích còn mới.
Các cây gỗ bị lâm tặc cắt trộm đều chưa có dấu vết kiểm tra của lực lượng kiểm lâm. Nhiều cây lâm tặc đã lấy hết phần thân, chỉ để lại cành, lá, ngọn; nhưng cũng còn một số cây lâm tặc mới đốn hạ, chưa kịp tẩu tán gỗ ra khỏi rừng. Điều đáng nói là địa điểm lâm tặc “lộng hành” khá gần vị trí của Đội kiểm lâm cơ động số 1, Trạm kiểm lâm số 6 và sát bên Tỉnh lộ 1.
Trong khi đó, Tiểu khu 471 nằm trọn trên ngọn đồi cao, địa hình dốc. Để đưa được gỗ xuống chân đồi, lâm tặc phải cưa cắt gỗ thành từng khúc dài chừng 2m rồi thả cho gỗ lăn từ trên xuống. Sau đó chúng dùng xe máy, xe cày, hoặc ôtô vận chuyển ra khỏi rừng.
Với hàng chục mét khối gỗ đã bị khai thác theo phương pháp trên tại Tiểu khu 471, mà lực lượng kiểm lâm không hay biết là điều rất khó hiểu (!?). Rất may các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk sớm làm rõ, xử lý nghiêm việc này. (Công An TPHCM 13/11, tr6) đầu trang(
Trăn trở với câu hỏi đó nên PV tìm về thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh. Nơi ấy cách đây hơn chục năm về trước là cánh rừng ngập mặn với hàng trăm cây bần cổ thụ lớn nhất Việt Nam với độ tuổi trên 200 năm, còn bây giờ diện tích rừng bần không chỉ bị thu hẹp dần mà số cây cổ thụ chỉ còn vài chục.
Dừng chân bên tuyến đường giao thông Cổ Mã - Đầm Môn qua địa phận Tuần Lễ, PV dò hỏi một phụ nữ họ Lê trạc ngoài năm mươi tuổi đã từng gắn bó với vùng đất này từ thời thơ ấu tới giờ. Chị nhớ lại: “Trước kia màu xanh của rừng bần ở đây vươn ra trên diện rộng, rễ cây mọc dày trên đồng nước mặn và bám sâu dưới lòng đất. Rừng bần không chỉ là nơi hội tụ của nhiều loại chim, cò trên những tầng lá mà dưới rễ còn là nơi sinh trưởng của nhiều loại hải sản tự nhiên như tôm, cua, cá, ốc, sò…”.
Vậy mà giờ đây nhiều khoảnh rừng bần đã biến thành ao đìa nuôi tôm, những đồi cát bên này đường lộ bị đào xới loang lổ, lấy cát san lấp rừng ngập mặn ở phía bên kia để xâm chiếm...
Ông Lê Công Đường - quê ở Hà Nam vào Tuần Lễ sinh sống gần ba chục năm đã thản nhiên kể với đồng nghiệp của PV rằng, khi thấy một số người hàng xóm lấn chiếm rừng ngập mặn xây nhà, làm vườn được, gia đình ông cũng thuê xe tải chở đất đá san lấp và chiếm dụng khoảng 500m2. Rừng ngập mặn bị cắt xẻ thành nhiều mảnh, nơi này bị san lấp không còn nước mặn, nơi kia trũng thấp nhưng môi trường ô nhiễm do nguồn nước thải từ những ao đìa tôm nên một số cây bần chết dần.
Một lão ngư cả đời sinh sống ở Tuần Lễ cho biết, vùng đất này là dải đồi cát nằm bên vịnh Vân Phong, trải dài từ phía nam chân đèo Cổ Mã đến bán đảo Hòn Gốm. Mùa đông, những trận cuồng phong từ phía biển xô cuốn ầm ào vào vòng cung dãy núi phía nam Đại Lãnh rồi dội ngược trở ra, tạo nên những vòng xoáy khủng khiếp, chỉ có cây bần mới đủ sức chống chọi và sinh tồn hàng trăm năm tại Tuần Lễ, nên ngoài tác dụng ngăn mặn xâm thực, giữ nguồn nước ngọt rừng bần ở đây còn có khả năng chắn sóng gió, góp phần ngăn chặn biến đổi khí hậu.
Nhận thức tầm quan trọng của rừng ngập mặn, cách đây gần 14 năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND huyện Vạn Ninh triển khai các biện pháp khoanh vùng kiểm đếm, bảo vệ và phát triển cây bần ở Tuần Lễ. Một bản đồ quy hoạch 20ha rừng ngập mặn đã xác lập, lúc đó vẫn còn 455 cây bần cổ thụ trên 200 tuổi đang sinh trưởng tốt và được đánh số, đóng biển bảo vệ.
Những con đường đất tự phát dẫn vào ao đìa nuôi tôm chắn dòng thủy triều đã được tháo dỡ để cây bần có nguồn nước mặn, mỗi hộ gia đình ở đây cũng được giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ 0,5 ha rừng ngập mặn với mức hỗ trợ mỗi tháng 40.000 đồng. 6 tổ bảo vệ rừng ngập mặn gồm 30 người được chính quyền xã Vạn Thọ thành lập với tổng kinh phí hoạt động mỗi năm 18 triệu đồng. Thế nhưng, báo cáo gần đây của UBND xã Vạn Thọ cho thấy, đến thời điểm này có hơn 50 hộ gia đình xâm chiếm rừng ngập mặn để xây nhà, trồng dừa, đào đắp ao đìa nuôi tôm, đường đi.
Làm gì để bảo vệ rừng ngập mặn trước nguy cơ biến đổi khí hậu đang là vấn đề cần phải được quan tâm? Câu hỏi đó xin nhường lại cho chính quyền huyện Vạn Ninh cùng các cơ quan chức trách có liên quan. Xin hãy cứu lấy những cây bần hàng trăm năm tuổi còn sót lại trước khi quá muộn. (Công An Nhân Dân 13/11, tr7) đầu trang(
Ngày 13-11, một lãnh đạo Công an tỉnh Kon Tum cho biết cảnh sát đặc nhiệm được triển khai thực hiện ba nhiệm vụ chính là tổ chức trinh sát nắm tình hình liên quan đến an ninh trật tự, thực hiện công tác quản lý hành chính xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tổ chức tuần tra vũ trang ngăn chặn các hoạt động liên quan đến tội phạm, công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ngoài việc tuần tra vũ trang, lực lượng này cũng đóng chốt lập trại tại các cửa rừng, tuần tra trên lòng hồ và các khu vực nhạy cảm. Theo Công an tỉnh Kon Tum, thời gian qua địa bàn Nam Sa Thầy nóng tình trạng chặt phá rừng.
Nhiều đối tượng “đầu nậu” đứng ra trang bị phương tiện, thuê người dân vào khai thác gỗ trái phép, các “trùm” xã hội đen cũng bỏ tiền thuê người nghiện, thanh niên tham gia hút chích vào rừng chặt gỗ về bán cho đầu nậu, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung. (Tuổi Trẻ 14/11, tr5) đầu trang(
Không có sự ngộ nhận nào là không phải trả giá, với những người thích dùng sừng tê giác cũng vậy. Hậu quả của việc lạm dụng sừng tê giác, bất chấp công dụng của nó dẫn đến những hậu quả thảm thương.
Qua tìm hiểu, được biết một đại gia đã yêu quý con chó cưng của mình đến mức mua sừng tê giác để mài cho chó uống khi nó bị liệt. Kết quả con chó uống sừng tê xong sùi bọt mép chết. Nhiều người khuyên anh này không nên dùng sừng tê giác nữa vì loài tê giác rất “linh” có thể báo oán. Hẳn người ta chỉ thương loài tê giác mà nói với anh ta như vậy thôi. Gia đình có người bị bệnh đau đầu, anh ta tiếp tục mài sừng tê cho uống, người nhà cũng sùi bọt mép mà chết.
Theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng: “Có nhiều nghiên cứu nhưng chưa từng tìm ra được tác dụng chữa hay phòng ngừa ung thư của sừng tê giác. Trong khi đó rất nhiều trường hợp dùng sừng tê giác để chữa ung thư nhưng vẫn tử vong nhanh chóng”.
Giáo sư cũng cho biết sừng tê không làm cường dương mà ngược lại: “Dùng nhiều tê giác lạnh có thể gây mất năng lượng tự nhiên, mất hỏa tự nhiên trong người, gây liệt dương”. Có trường hợp bệnh nhân tên Hoa ở Hà Nội nghe tin sừng tê giác “chữa bách bệnh” mua về mài uống, kết quả phải vào viện nằm vì nhiễm độc gan.
Theo giáo sư, ở Nam Phi đã bắt đầu tiêm chất độc vào sừng tê giác để ngăn ngừa người sử dụng, cụ thể là chất ectoparasitisides. Chất này không gây độc cho con tê giác nhưng lại khiến người dùng sừng tê giác bị co giật.
“Ở Nam Phi đã bắt đầu tiêm chất độc vào sừng tê giác để ngăn ngừa người sử dụng, cụ thể là chất ectoparasitisides. Chất này không gây độc cho con tê giác nhưng lại khiến người dùng sừng tê giác bị co giật”- Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho biết.
Nhiều người buôn sừng tê giác cũng là dân buôn đồ cổ, thường loan tin với nhau rằng sừng tê giác cũng “hại chủ” như đồ cổ, nghĩa là nếu sưu tầm giới thiệu và lưu trữ bảo tồn thì đem lại phúc đức, còn buôn bán làm giàu sẽ khiến người ta tiêu tán.
Một người buôn sừng tê giác ở Tây Bắc đã bị sạt nghiệp vì mua phải sừng giả, đem sừng đến giữa cầu để bán, bị cướp mất vì cho là sừng giả, lại bị đập đầu vào cột nhà sàn, trở thành người tàn phế. Đấy là những câu chuyện mà người ta nói với nhau về tác hại của việc buôn sừng loại thú quý được thư tịch cổ xem là chúa tể của mọi loài mà vua chúa xưa thậm chí chỉ dám nuôi để chiêm bái.
Thời gian vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình quyết liệt chống nạn buôn bán sừng tê giác. Ngày 24/1/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật tê giác trắng và mẫu vật tê giác đen.
Ngày 20/2/2014 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện việc kiểm soát bảo tồn các động vật hoang dã tăng cường đấu tranh, triệt phá các đường dây mua bán tiêu thụ động vật quý hiếm từ châu Phi, đặc biệt là mẫu vật tê giác và voi.
Đề nghị Viện kiểm sát và Tòa án “đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật trong việc mua bán, vận chuyển mẫu vật tê giác, voi và mẫu vật của các loại động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm khác”.
Chỉ riêng trong năm 2013 Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất đã phát hiện 4 vụ vận chuyển sừng tê giác. Ngày 6/1/2013 bắt đối tượng Hà Thân Chỉnh, quốc tịch Việt Nam mang theo 9 sừng tê giác không khai báo, trọng lượng 16,26kg. Ngày 4/5/2013 bắt một đối tượng đem 2 khúc sừng tê giác trọng lượng 7,28kg.
Ngày 20/5/2013 bắt tiếp đối tượng Đinh Văn Sơn quốc tịch Việt Nam nhập cảnh đem trái phép 6 khúc sừng nặng 5,07kg. Ngày 10/6/2013 bắt Tạ Đình Tiến quốc tịch Việt Nam đem 10 khúc sừng tê giác trọng lượng 6,89 kg.
Sau hàng loạt vụ bắt giữ, tình hình buôn bán có giảm. Năm 2014, tính đến nay mới phát hiện một vụ vào ngày 1/8/2014, phát hiện 5 khúc sừng tê giác trọng lượng 13,2 kg của đối tượng Vòng Cóng Lần.
Ngành hải quan cho biết các vụ việc đang được điều tra mở rộng, nhưng rõ ràng các đối tượng vận chuyển đều là người Việt Nam chứ không phải người Nam Phi và sừng tê giác đều từ châu Phi, đúng như cảnh báo của các tổ chức quốc tế.
Từ năm 2013 đến nay, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Cites Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động truyên truyền, giúp cộng đồng hiểu rõ phải trái trong tiêu thụ sừng tê giác. Những kẻ săn bắn buôn bán trộm sẽ không còn đất sống nếu người dân không bị cuốn theo những lời hoa mỹ “sừng tê giác chữa bách bệnh” nhằm vào các đối tượng đang bị bệnh nan y và nhà giàu.
Theo kết quả nghiên cứu thì sau các đợt truyền thông của Cites phối hợp với các tổ chức quốc tế khác, tỷ lệ số người tham gia dự án tin sừng tê giác chữa được bách bệnh ở Hà Nội đã giảm 67% và số người các tỉnh cũng giảm 53%. Điều này cho thấy người dân sẽ sớm thoát được khỏi những ngộ nhận của mình rằng sừng tê giác là “thần dược” nếu được tiếp cận những thông tin khoa học, xác thực và thuyết phục.
Theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng, việc tiêu thụ sừng tê giác chỉ ồ ạt ở Việt Nam phải có căn nguyên và cơ sở của nó. Ông đặt ra câu hỏi: “Những lời đồn đại về sừng tê giác như chữa được ung thư, giải rượu… chỉ mới xuất hiện trong chưa tới 10 năm gần đây và chỉ có ở Việt Nam. Tại sao lại như vậy? Phải chăng vì một số đại gia giàu lên bất thường hoặc vì số bệnh nhân ung thư đang tăng nhanh” (Tài liệu truyền thông từ Cites).
Sự phát triển kinh tế không cân xứng với sự phát triển của nền tảng tri thức, nhận thức đã dẫn tới việc tiêu tiền vô tội vạ và giới giàu có trở thành mảnh đất màu mỡ cho những trò hưởng lạc cũng như những ám ảnh về cái chết, về sự trường sinh bất lão ngự trị. Sừng tê giác được “tô vẽ” lên để đáp ứng những nhu cầu đó: Trường sinh (chống ung thư), hưởng lạc (cường dương). Bởi vậy mà nó dĩ nhiên thành thứ “quý hơn vàng”.
Sự bùng nổ dùng sừng tê giác cũng cho thấy kiến thức về đông y trong xã hội Việt Nam mai một nhiều. Người ta sử dụng dược liệu mà hầu như không có kiến thức gì về chúng. Một lương y ẩn danh ở Bình Định, sở hữu một kho sách cổ nói: “Những công dụng của sừng tê giác như sách vở ghi chép, không thực sự đặc biệt, đồng thời ta có thể thay bằng các loại dược liệu khác vừa dễ kiếm vừa rẻ tiền mà công dụng không hề thua kém”.
Vị lương y này còn nói: “Trong nghề y, đoạt tính mạng của loài khác để mưu cầu tính mạng của mình được dài lâu là việc tối kỵ và ít công hiệu, cho nên truyền thống dùng thuốc Nam ta ngàn năm qua là chỉ dùng thảo dược để cứu người”.
Hiện các vụ buôn bán vận chuyển sừng tê giác vào Việt Nam chủ yếu qua đường hàng không, tuy nhiên các đối tượng thường thay đổi hành trình và quá cảnh nhiều nơi để đánh lạc hướng các cơ quan chức năng. Điều đáng nói là các đường dây buôn bán của người Việt bị các nước trên thế giới phát hiện bắt giữ trên địa bàn của họ.
Tháng 6/2012, Thái Lan đã bắt một người Việt có tên Doan Minh, 41 tuổi, buôn lậu 7 chiếc sừng tê giác và 3 chiếc vòng ngà voi tại phòng chờ khi đang chuẩn bị lên chuyến bay về Hà Nội quá cảnh qua Bangkok. 7 chiếc sừng này được nghi là của những con tê giác bị giết ở Vườn Quốc gia Kruger và các khu bảo tồn xuyên biên giới của Nam Phi.
Ngày 7/1/2013, một người Việt khác bị phát hiện mang 27kg sừng tê giác trong hành lý và cũng bị bắt tại sân bay Bangkok (Thái Lan). Giá trị lô hàng bị bắt lên tới 1,4 triệu USD (khoảng 30 tỷ đồng).
Đầu tháng 11/2014 hai người Việt Nam đã bị bắt ngay tại sân bay quốc tế thủ đô Johannesburg của Nam Phi cùng với hơn 41 kg sừng tê giác. Được tin là có nguồn gốc từ các công viên ở Nam Phi.
Cảnh sát nước này thông báo: “Đây là số sừng tê lớn nhất bị tịch thu trong một chiến dịch ở Nam Phi” và các người Việt sẽ bị đưa ra tòa án Nam Phi để xét xử. (Tiền Phong 13/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Trên trục đường chính thuộc các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, thành phố Móng Cái nhiều người giăng lưới để săn bắt các loại chim hoang dã. (Nhân Dân 14/11, tr7) đầu trang(
Với mô hình quản lý rừng tự nhiên dựa vào cộng đồng, nhiều khu rừng ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Giang... đã được bảo tồn và khai thác bền vững, đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân.
Bài học kinh nghiệm được rút ra từ những địa phương trên là khi người dân được trao quyền thực sự thì rừng mới được bảo tồn và phát triển bền vững. Rừng cộng đồng đã tồn tại như là một phần của truyền thống địa phương. Nó gắn các lợi ích của người dân với tín ngưỡng tâm linh, tôn giáo của cộng đồng và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống, văn hóa của các nhóm dân tộc thiểu số.
Để thúc đẩy lợi ích của cộng đồng và vai trò của người dân trong quản lý bền vững rừng, từ những năm 1990, Nhà nước đã triển khai giao rừng cho cộng đồng quản lý và sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, quá trình thể chế hóa và thực hiện các chính sách có nhiều khó khăn như địa vị pháp lý của cộng đồng chưa rõ ràng, các quyền lợi và trách nhiệm pháp lý của cộng đồng như một chủ rừng thực sự vẫn chưa được Nhà nước thừa nhận.
Hệ thống chính sách về quyền của người dân được tiếp cận, quản lý và sử dụng rừng tự nhiên vẫn còn khác biệt so với thực tiễn nên những chính sách này mới chỉ dừng lại ở văn bản. Trong khi đó, hoạt động bảo vệ rừng, hay bảo tồn đa dạng sinh học chỉ có hiệu quả khi có sự tham gia một cách đầy đủ của người dân. Bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác giao đất, giao rừng hiệu quả.
Theo bà Bùi Thị Thanh Thủy, Trung tâm Phát triển sáng kiến cộng đồng và Môi trường (C&E), phát huy quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư là một trong những vấn đề quan trọng để góp phần quản lý rừng bền vững tại địa phương. Bà Thủy nhấn mạnh: "Khi cộng đồng cảm thấy họ là chủ rừng thực sự thì rừng chắc chắn sẽ được quản lý bền vững hơn".
Cùng với quan điểm này, từ năm 2011 đến nay, Viện Rô-da Lúc-xem-bua vùng Đông Nam châu Á đã hỗ trợ Trung tâm C&E và các đối tác địa phương ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam thực hiện dự án thí điểm "Quản lý bền vững rừng tự nhiên thông qua nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực để sử dụng quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân tộc thiểu số đối với rừng tự nhiên ở miền Trung Việt Nam". Trong quá trình thực hiện dự án, cộng đồng được tham gia tất cả các hoạt động từ chia sẻ quan điểm, chính kiến tới xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ và khai thác rừng hằng năm.
Cũng theo bà Thủy, khi triển khai dự án, người dân được tập huấn kỹ năng, kiến thức về quản lý, bảo vệ rừng, được tham quan học tập kinh nghiệm, hỗ trợ phương tiện, vật tư, xây dựng các câu lạc bộ sử dụng rừng thân thiện.
Đánh giá về kết quả dự án, bà Thủy cho biết: "Cộng đồng dân cư đã hiểu và thực hiện các thông tư, chính sách liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng, biết được các quyền của mình khi quản lý rừng cộng đồng. Họ mạnh dạn hơn trong việc chia sẻ hoạt động, những khó khăn trong quá trình quản lý, bảo vệ rừng. Họ cũng đã biết cách lập kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và sản xuất theo năm, quý. Họ tự xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của thôn, bản. Quy ước này mang tính pháp lý cao, được UBND huyện công nhận.
Do đó, cộng đồng dân cư thôn được giao đất giao rừng, có trách nhiệm hơn trong việc tổ chức các hoạt động như đã thống nhất trong quy ước và thường xuyên báo cáo với cán bộ địa phương. Trách nhiệm của cộng đồng cũng được phát huy thông qua các hoạt đồng tuần tra bảo vệ rừng; thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; báo cáo vi phạm cho kiểm lâm địa bàn hoặc chính quyền địa phương, phát triển rừng và khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ".
Để phát huy quyền làm chủ của người dân, ông Nguyễn Văn Tình, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho rằng, phải xây dựng được cơ chế, chính sách hợp lý. Theo ông, rừng tự nhiên phải có chủ quản lý thực sự và không ai tốt hơn là giao cho người dân địa phương quản lý, bảo vệ.
"Tuy nhiên, chỉ nên giao rừng ở những nơi người dân thực sự có nhu cầu. Vì vậy, khi được giao rừng, người dân cũng cần xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển rừng. Ngoài ra, cần thực hiện điều tra, xác định trạng thái, trữ lượng rừng trước khi giao cho dân để làm cơ sở tính toán tỉ lệ hưởng lợi lượng tăng trưởng từ rừng. Sau khi giao đất, giao rừng cần tiếp tục hỗ trợ cộng đồng củng cố các quyền đã được xác lập. Xây dựng quy ước bảo vệ rừng, tổ chức giám sát, kiểm tra và xử lý những trường hợp vi phạm. Đồng thời, cần có những hỗ trợ từ bên ngoài cho người dân đầu tư vào rừng, nhất là cho những hộ thiếu vốn và nhân lực" - Ông Tình đề xuất.
Thực tế, đồng bào dân tộc thiểu số hằng ngày gắn bó với rừng, lấy rừng là nguồn sống thông qua các hoạt động canh tác nương rẫy, khai thác và săn bắt. Điều này gây áp lực đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng. Một trong những kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình quản lý rừng bền vững và hiệu quả là phải gây dựng được các hoạt động sinh kế cho người dân.
Với phương thức phát triển các sinh kế cho người dân, chính quyền huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam đang giúp cộng đồng người Cơ Tu thay đổi dần thói quen khai thác tài nguyên rừng một cách bừa bãi. Từ tháng 1-2012 đến tháng 12-2015, dự án "Khuyến khích bảo tồn và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại huyện Tây Giang" đã được thực hiện tại 5/10 xã của huyện.
Từng nhóm cộng đồng nhỏ có cùng sở thích được đầu tư nguồn lực để phát triển các sinh kế thay thế thông qua các dự án quy mô nhỏ như: Chăn nuôi bò, gà, ngan, dê... Mỗi hộ được hỗ trợ tối đa 5 triệu đồng để mua giống, vật liệu, thức ăn, dịch vụ chăm sóc thú y ban đầu. Với mô hình này, nhận thức của người dân thụ hưởng dự án có thay đổi rõ rệt.
Theo ông Trần Cảnh Thắng, Tổ chức Malteser International (đơn vị hỗ trợ thực hiện dự án) thì người dân đã coi dự án là của mình nên mạnh dạn đầu tư tiền mua thức ăn cho vật nuôi. Thậm chí họ còn lo lắng mất ăn mất ngủ và tìm đến nhân viên thú y khi vật nuôi bị bệnh... Trước đây, điều này chưa từng xảy ra.
Ông Thắng nhận xét: "Nếu như trước đây, người dân chăn nuôi không chuồng trại, không cho ăn thêm dẫn tới hiệu quả sản xuất không cao thì hiện nay, trên 95% số hộ đã xây dựng chuồng trại theo hướng dẫn. Trên 80% số hộ nuôi gà, heo... đã phối trộn tốt các khẩu phần thứ ăn. Kết quả, đàn gia súc, gia cầm phát triển nhanh. Có hộ sau 3 tháng nuôi gà có thu nhập trên 3,5 triệu đồng. Người dân cũng đã biết chọn mua con giống, vật tư sản xuất sau khi dự án kết thúc. Họ cũng biết cách bán sản phẩm đã nuôi với giá cả hợp lý. Những hoạt động của dự án đã giúp người dân có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng".
Một công cụ được cho là hữu hiệu khác trong việc phát huy quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý, bảo vệ rừng là chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Theo số liệu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, trên địa bàn tỉnh có 178.000ha rừng tự nhiên được bảo vệ.
15.911 hộ dân đã ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR. Qua việc thực hiện DVMTR, các hộ dân và nhóm hộ đã nhận thức được rõ vị trí, ranh giới, diện tích khu rừng được bảo vệ; nguồn tiền chi trả DVMTR được nhận từ đâu; cơ chế giữa nghĩa vụ bảo vệ rừng và lợi ích được hưởng là rõ ràng. (Biên Phòng 12/11) đầu trang(
Sau gần 4 giờ đồng hồ vượt quãng đường xa hơn 200 km, PV đã có mặt tại xã Bản Công, thuộc huyện Trạm Tấu (Yên Bái). Bản Công nằm chênh vênh bên sườn núi, trong màn sương giăng kín lối là những ngôi nhà nhỏ rải rác giữa đại ngàn bao la và khúc khuỷu đường vào.
Nơi đây, có một rừng cây mà người dân huyện Trạm Tấu gọi là "Rừng cây Bác Hồ". Bằng tấm lòng kính trọng vị lãnh tụ của dân tộc, đồng bào Mông nơi đây luôn gắng sức bảo vệ rừng cây này như một kỷ vật thiêng liêng về Bác cho các thế hệ con cháu sau này.
Theo lời kể của những người già trong bản, rừng cây ở thôn Tà Xùa, xã Bản Công, đã có từ rất lâu. Những năm 70-80, một số cán bộ chủ chốt của xã Bản Công về thăm lăng Bác được trực tiếp nhìn thấy vườn cây của Bác ở Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Khi trở về địa phương thấy vạt rừng ở Tà Xùa có địa thế đẹp, với hàng trăm cây gỗ to, thẳng tắp đứng sừng sững giữa đại ngàn xanh, nên đã đặt tên là "Rừng cây Bác Hồ" để thể hiện tấm lòng kính trọng của đồng bào vùng cao đối với Bác, vừa mong muốn bảo vệ rừng cây này cho đến thế hệ sau.
Từ đó, bà con ở đây không ai bảo ai cùng nhau gọi đó là "Rừng cây Bác Hồ". Hiện, rừng cây này rộng khoảng 3 ha với nhiều loại cây, trong đó chủ yếu là cây gỗ Tô Hạp đỏ (một loại gỗ thường được sử dụng để làm nhà và các công trình kiên cố khác), cây to nhất có đường kính gần 1m.
Từ khi được quy hoạch là "Rừng cây Bác Hồ", xã Bản Công đã giao cho 6 hộ dân ở gần khu rừng trực tiếp bảo vệ, đồng thời đưa việc quản lý, bảo vệ rừng cây vào quy ước của thôn, bản. Bằng tấm lòng kính trọng đối với Bác Hồ và trách nhiệm được giao, những người dân trong thôn, đặc biệt là các hộ dân trực tiếp quản lý, bảo vệ khu rừng đã luôn cố gắng gìn giữ nơi này, coi đó là một kỷ vật thiêng liêng của đồng bào vùng cao.
Chị Giàng Thị Tồng, 1 trong 6 hộ gia đình trực tiếp bảo vệ "Rừng cây Bác Hồ" cho biết: “Là người trực tiếp tham gia bảo vệ rừng cây này, gia đình mình luôn bảo nhau không được chặt cây bừa bãi, không được để lửa cháy lan vào rừng... Mình nghĩ đã là rừng cây mang tên Bác thì phải bảo vệ cho thật tốt”.
Dù không trực tiếp quản lý, bảo vệ khu rừng này, nhưng tất cả người dân thôn Tà Xùa cũng luôn ý thức được là phải bảo vệ khu rừng này như một thứ tài sản chung của cả thôn. Hàng năm, người dân nơi đây đều tự nguyện bảo nhau lên rừng chăm sóc cây như: Phát quang, chặt bỏ dây leo, tỉa bớt những lớp cây hoang dại để bảo vệ cây. Đặc biệt, công tác phòng cháy chữa cháy tại khu rừng này luôn được thực hiện tốt, nên nhiều năm nay tại đây không xảy ra cháy rừng.
Anh Giàng A Sình, người dân thôn Tà Xùa chia sẻ: “Mình rất tự hào khi trong thôn có một rừng cây mang tên Bác, dù không trực tiếp quản lý, bảo vệ, nhưng mình luôn ý thức phải bảo vệ rừng cây thật tốt để đời mình, đời con cháu mình luôn được biết đến rừng cây này”.
Về công tác tuyên truyền vận động bà con trong thôn bảo vệ "Rừng cây Bác Hồ", anh Phàng A Phà, Truởng thôn Tà Xùa, xã Bản Công, cho biết: Để giữ cho "Rừng cây Bác Hồ" được nguyên vẹn và đẹp, thôn đã tuyên truyền vận động nhân dân không được chặt phá cây, vứt rác bừa bãi và phải nâng cao ý thức phòng chống cháy rừng. Nếu ai không thực hiện thì chúng tôi sẽ xử phạt theo quy ước, hương ước của thôn, bản.
Cùng với thời gian và do ảnh hưởng của thiên tai nên phần nào "Rừng cây Bác Hồ" ở Tà Xùa đã không còn nguyên vẹn như trước, nhất là hiện nay nhu cầu về nhà ở, về đất canh tác đang ngày càng cao. Với một địa thế đẹp, khá bằng phẳng lại gần đường giao thông "Rừng cây Bác Hồ" ở Tà Xùa luôn có nguy cơ bị xâm lấn.
Vì vậy, chính quyền địa phương cần có những biện pháp hữu hiệu hơn nữa để bảo vệ rừng cây này như sự mong mỏi của đồng bào. Bởi trong lòng người dân Trạm Tấu nói chung và đồng bào Mông Tà Xùa nói riêng, rừng cây này luôn là kỷ vật thân thiết, như hình ảnh của Bác trong lòng mỗi người con đất Việt. (Đảng Cộng Sản VN 13/11) đầu trang(
Từ tháng 9/2014 tới nay, sâu róm đã xuất hiện trên hàng nghìn héc-ta rừng thông ở các huyện Ngân Sơn và Bạch Thông. Ngành chức năng của tỉnh đã khẩn trương vào cuộc, tuy nhiên các chủ rừng vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Thông là loài cây gỗ lớn đã được trồng ở Bắc Kạn nhiều năm qua. Có những rừng thông trên dưới 30 năm tuổi. Theo Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn, hiện toàn tỉnh có hơn 5.000 héc-ta thông, tạp trung chủ yếu ở các huyện như Ngân Sơn, Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn.
Rừng thông mang lại giá trị kinh tế cao, cho thu hoạch cả nhựa và gỗ. Tuy nhiên, rừng thông rất dễ bị nhiễm dịch sâu róm và thường chịu thiệt hại nặng nếu không có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Nếu sâu róm thông phát sinh thành dịch sẽ ăn trụi lá thông, nếu kéo dài sẽ gây chết hàng loạt rừng thông.
Thời gian qua, dịch sâu róm hại rừng thông đã xuất hiện tại các xã Vân Tùng, Đức Vân, Bằng Vân (Ngân Sơn) và khu vực Đèo Giàng (Bạch Thông). Có khoảng 4.100 héc-ta thông từ 10 - 20 năm tuổi bị sâu gây hại. Trong đó có 700 héc-ta nhiễm nhẹ và trung bình. Mật độ nhộng phổ biến 10 - 20 con/cây; cao ở mức 60 con/cây; cá biệt 80 - 100 con/cây.
Trước diễn biến đó, UBND tỉnh đã phê duyệt Phương án dập dịch sâu róm hại thông tại Bạch Thông và Ngân Sơn. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã áp dụng biện pháp bẫy đèn để diệt sâu trưởng thành. Đơn vị đã treo 20 bẫy đèn tại rừng thông ở Phương Linh, Sỹ Bình (Bạch Thông) và 50 bẫy tại Vân Tùng, Bằng Vân, Đức Vân (Ngân Sơn).
Qua hơn một tháng triển khai, tại Bạch Thông sau khi treo bẫy đèn 10 đêm, trung bình mỗi đêm bẫy được 70 - 80 sâu róm trưởng thành/đèn; tổng lượng sâu thu được hơn 20kg. Tại Ngân Sơn, sau khi treo bẫy 23 đêm, trung bình mỗi đêm bẫy được 120 - 130 sâu róm trưởng thành/đèn; tổng lượng sâu thu được khoảng 260kg.
Theo bà Phạm Thị Thu - Trưởng phòng Bảo vệ Thực vật (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Bắc Kạn), việc bẫy đèn đã giúp diệt cơ bản sâu trưởng thành, góp phần bảo vệ an toàn rừng thông 10 - 20 năm tuổi. Tuy nhiên, tại các rừng thông này vẫn còn có sâu trưởng thành đã đẻ trứng. Dự kiến, qua vụ đông năm nay, bước vào mùa xuân số trứng này sẽ nở, sâu sẽ phát triển hại cây. Do đó người dân cần chú ý kiểm tra rừng thường xuyên để kịp thời có biện pháp phòng trừ.
Diệt sâu róm có thể thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong vòng đời của sâu. Tuy nhiên, thuận lợi hơn cả là trong giai đoạn sâu trưởng thành vũ hóa và giai đoạn nhộng dưới đất. Trước đây, huyện Ngân Sơn đã huy động các lực lượng tập trung diệt sâu giai đoạn nhộng hiệu quả.
Tuy nhiên, toàn bộ nhộng chỉ xuống đất khi các rừng thông đã bị “cháy”; nếu thông còn lá thì nhiều sâu sẽ làm nhộng trên đọt lá, gây khó khăn cho việc diệt trừ. Bắt diệt bằng thủ công và phun trừ bằng hóa chất, đòi hỏi chi phí rất lớn trong khi hiệu quả không cao- nhất là với những diện tích thông đã nhiều năm tuổi.
Điều đáng nói là ý thức bảo vệ rừng thông của người dân còn thấp. Được hỗ trợ kinh phí thì thực hiện, nếu không có kinh phí thì người dân lại dừng. Tại Bắc Kạn, hầu như chưa có diện tích thông bị “cháy” vì sâu róm, do vậy nảy sinh tâm lý chủ quan trong một số hộ dân. Việc không kiểm tra thường xuyên nên đến khi dịch bùng phát mạnh mới tiến hành dập sẽ không đạt hiệu quả cao.
Về lâu dài, các địa phương và hộ dân cần xây dựng kế hoạch thực hiện các biện pháp lâm sinh tổng hợp như: Tỉa thưa rừng, trồng thêm băng cây xanh bằng các loài cây lá rộng dưới tán rừng thông, tạo đai cách ly sâu, nâng cao sức chống chịu sâu, bệnh của các cá thể và lâm phần rừng; kết hợp xây dựng môi trường cho các thiên địch tồn tại và phát triển.
Đặc biệt, khi phát hiện có ổ trứng sâu róm tại rừng thông, bà con nên chủ động mua thuốc phun ngay, không thụ động chờ được cấp thuốc mới phun. Phun sớm, việc tiêu diệt sâu sẽ hiệu quả hơn. (Báo Bắc Kạn 13/11) đầu trang(
Nhiều ngày qua, người dân ở xã Phổ Hoà và xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ lo lắng mỗi khi lên nương, rẫy vì sợ bị heo rừng tấn công.
Trước đó, ngày 28.10 gần đập Hồ Liệt Sơn, thuộc thôn Hiển Văn đã xảy ra vụ việc 1 người bị lợn rừng cắn tử vong.
Đến nay, vẫn chưa bắt được con heo rừng này. Nhiều người lo sợ con heo sẽ quay lại và tiếp tục tấn công người. Vì mùa này không sạ lúa, cánh đồng ở đây rất vắng vẻ, lúc đông người thì không sao, chứ một thân một mình gặp heo dữ sẽ rất nguy hiểm.
Thời gian qua tình trạng săn bắn, bẫy thú rừng vẫn lén lút diễn ra các địa bàn miền núi. Mặc dù ngành chức năng tập trung vận động, thu hồi vũ khí, súng độ chế nhưng tình trạng này vẫn không giảm.
Ngoài việc thú rừng, động vật hoang dã, quí hiếm ngày càng cạn kiệt thì việc tấn công thú rừng đã làm một số thú rừng trở nên dữ tợn hơn, sẵn sàng tấn công con người.
Để không còn những vụ việc thương tâm trên, cũng như bảo tồn các loài động vật hoang dã, qúi hiếm, ngành chức năng cần xử lý nghiêm tình trạng săn bắn, bẫy thú rừng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân trong việc bảo vệ các loại động vật hoang dã, qúi hiếm. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 13/11) đầu trang(
Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng từ Trung ương đến địa phương; đặc biệt là lực lượng chuyên ngành để có đủ khả năng kiểm soát cháy rừng, giảm nguy cơ cháy rừng, chữa cháy rừng kịp thời, có hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Đây là mục tiêu Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1938/QĐ-TTg.
Theo đó, đề án đặt ra mục tiêu cụ thể là nâng cao khả năng cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng; tổ chức phát hiện sớm và thông báo kịp thời, chính xác điểm cháy rừng thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám; tăng cường, củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành từ trung ương đến địa phương.
Đồng thời, tăng cường đầu tư phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp, ưu tiên xây dựng lực lượng chữa cháy rừng đủ mạnh để ứng phó với thảm họa cháy rừng cấp quốc gia.
Quyết định cũng nêu rõ, sẽ tiến hành nâng cấp hệ thống cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng tại Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) và kết nối thành hệ thống đến từng địa phương, nâng cấp hệ thống phát hiện sớm lửa rừng; cùng với đó là củng cố, kiện toàn tổ chức cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành của Kiểm lâm, tổ chức trực ban theo dõi tình hình phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho cán bộ quản lý, kỹ thuật; cán bộ phụ trách công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của chính quyền các cấp, các ngành có liên quan; xây dựng mô hình quản lý lửa rừng thống nhất và hiệu quả. (Longan.gov.vn 13/11) đầu trang(
13/11, Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2013 – 2014 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ mùa khô năm 2014 – 2015.
Ông Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai chủ trì hội nghị.
Theo báo cáo tại hội nghị, mùa hanh khô 2013 – 2014, toàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy rừng, gây thiệt hại trên 40 ha. Các vụ cháy rừng xảy ra chủ yếu trên diện tích rừng tự nhiên tái sinh chưa có trữ lượng và rừng trồng, nhưng các vụ cháy đều được phát hiện, khống chế kịp thời, nên không lan ra diện rộng. Tuy nhiên, trong số các vụ cháy xảy ra, cơ quan chức năng mới truy tìm được 2 vụ có đương sự ở huyện Bắc Hà.
10 tháng năm 2014, toàn tỉnh đã tổ chức được 290 cuộc kiểm tra công tác bảo vệ rừng, 3 cuộc diễn tập PCCCR với gần 1.000 người tham gia. Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng và PCCCR các cấp đã thực hiện chế độ trực 24/24h trong những ngày thời tiết hanh khô kéo dài; nắm bắt chặt chẽ các thông tin về tình hình cháy rừng, vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Từ đầu năm đến nay, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 289 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 61 vụ so với năm 2013.
Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai đã triển khai các giải pháp nhằm bảo vệ rừng mùa hanh khô 2014 – 2015. Đó là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường trách nhiệm quản lý rừng và đất lâm nghiệp của cấp xã và các chủ rừng; đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và quản lý chặt chẽ người dân khi canh tác nương nhằm hạn chế cháy rừng xảy ra.
Kết luận hội nghị, ông Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận những nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của các địa phương; đồng thời yêu cầu các cấp, các ngành cần tăng cường các biện pháp, trong đó chú trọng đến công tác tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức cho người dân; tổ chức giao khoán và gắn trách nhiệm cho từng địa phương nếu để xảy ra cháy rừng; xây dựng nội quy bảo vệ rừng, rà soát các biển báo cấp cháy rừng ở cửa rừng trước mùa hanh khô; rà soát lại xây dựng cơ chế điều hành, chỉ huy, phối hợp với các lực lượng tham gia bảo vệ rừng và lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp; quan tâm đầu tư, bổ sung trang -thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng.
Hội nghị cũng đã giới thiệu bản đồ phân vùng trọng điểm cháy rừng và kế hoạch điều chỉnh bổ sung phương án bảo vệ rừng và PCCCR của Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn. (Báo Lào Cai 13/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hội nghị này là sáng kiến quan trọng của Chính phủ Australia nhằm góp phần bảo vệ và quản lý bền vững tài nguyên rừng khu vực trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ngài Greg Hunt, Bộ trưởng Bộ Môi trường Australia chủ trì Hội nghị với sự tham dự của Phó Tổng thống Brazil, các Bộ trưởng Lào, Papua New Ghi Nê, và cấp Bộ, đại diện của nhiều nước, Tổ chức quốc tế.
Hội nghị đã thảo luận về vai trò của rừng mưa khu vực châu Á Thái bình dương, các nỗ lực bảo vệ, bảo tồn và giảm việc mất rừng. Các biện pháp tăng cường giám sát và kiểm kê rừng, vai trò bảo tồn đa dạng sinh học của rừng và sinh kế cho cộng đồng dân địa phương cũng như vai trò của họ trong bảo tồn ,…các thảo luận cũng bàn giải pháp chấm dứt việc mất rừng và suy thái rừng.
Dự và phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đã nêu rõ những kết quả nổi bật về bảo vệ, phát triển rừng của Việt Nam những năm gần đây, là một trong số ít quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái bình Dương tăng trưởng về độ che phủ rừng (từ 28% năm 1993 lên gần 41% vào năm 2014).
Thứ trưởng cũng nhấn mạnh cam kết của Việt Nam thực thi chương trình thiên niên kỷ; ban hành Hệ thống pháp luật, chính sách thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng, thu hút sự tham gia của cộng đồng, người dân và các thành phần kinh tế.
Thứ trưởng cũng chia xẻ kinh nghiệm của Việt Nam về hoạch định và thực thi cơ chế tài chính bảo vệ, phát triển rừng bền vững trên nền tảng cơ chế dịch vụ Môi trường rừng; khẳng định Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác thực hiện có trách nhiệm các cam kết song phương, đa phương, đặc biệt là với các nước láng giềng và cộng đồng ASEAN; đồng thời ủng hộ sáng kiến của Úc và sẽ tham gia để tiếp tục xây dựng Kế hoạch hành động khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về bảo vệ và quản lý rừng bền vững.
Bài phát biểu của Việt Nam đã thu hút sự chú ý của nhiều đối tác quốc tế, các đại biểu và được đánh giá cao. Bên lề Hội nghị, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đã có cuộc họp song phương với Bộ trưởng Bộ Môi trường Úc ; trao đổi với Bộ trưởng Tài nguyên môi trường Lào, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Căm Pu chia, và một số tổ chức phi chính phủ.
Tại cuộc họp với Bộ trưởng Bộ Môi trường Úc, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đã cám ơn sự hợp tác, hỗ trợ có hiệu của Úc đối với  nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua và nêu những lĩnh vực ưu tiên hợp tác với Úc trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng thời gian tới là: Khôi phục rừng ngập mặn ven biển, rừng đầu nguồn để thích ứng với biến đổi khí hậu; thực thi REDD+, bảo tồn tài nguyên rừng, đa dạng sinh học; kiểm soát buôn bán quốc tế các loài hoang dã.
Bộ trưởng Greg Hunt đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam, đồng thời khẳng định những ưu tiên này hoàn toàn phù hợp với những ưu tiên hợp tác, tài trợ của Úc với Việt Nam. Bộ trưởng cũng đề nghị Việt Nam thông tin về các đề xuất chuyển cho phía Úc thống nhất hành động hợp tác và hỗ trợ. (Bộ NNPTNT 13/11) đầu trang(
Chỉ còn khoảng 1 tháng nữa mùa vụ trồng rừng năm 2014 kết thúc. Tuy nhiên, công tác trồng rừng năm nay tại tỉnh Đăk Lăk sẽ khó đạt được kế hoạch đề ra như ban đầu là 4.600 ha.
Qua thống kê của Chi cục phát triển Lâm nghiệp Đăk Lăk, đến nay toàn tỉnh trồng được hơn 3.350 ha rừng sản xuất, 20 ha rừng đặc dụng và 20 ha rừng phòng hộ. Trong khi đó, mùa mưa cũng là mùa trồng rừng tại Đăk Lăk sắp kết thúc, điều này đồng nghĩa với việc khó hoàn thành kế hoạch trồng 4.600 ha rừng trong năm 2014.
Nguyên nhân khiến công tác trồng rừng không đạt là do diện tích dự kiến trồng rừng của các công ty lâm nghiệp đang tranh chấp với các hộ dân vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Bên cạnh đó, nhiều đơn vị thiếu nguồn lực tài chính, khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, hoạt động sản xuất kinh doanh cầm chừng, nên triển khai trồng rừng gặp khó khăn.
Hiện ngành lâm nghiệp tỉnh Đăk Lăk đang cố gắng đôn đốc các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tiếp tục trồng rừng, phấn đấu đến cuối năm đạt khoảng 4.000 ha, bằng 85% kế hoạch đề ra. (VTV 14/11) đầu trang(
Theo lãnh đạo xã Lộc Trì (huyện Phú Lộc), sở dĩ Xí nghiệp Lâm nghiệp Long Phụng ngang nhiên tàn phá nhiều diện tích đất rừng để lấy vật liệu san lấp cung cấp cho các công trình xây dựng là do có sự “chống lưng” của một lãnh đạo tỉnh.
Cách đây 27 năm, gia đình ông Ngô Minh ở thôn Trung Phước, xã Lộc Trì khai hoang hơn 1ha đất ở khu vực núi Khe Trầu để phát triển sản xuất. Diện tích đất này được ông Minh dùng để trồng rừng keo, đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình. Nhưng từ đầu năm 2014 đến nay, ông Minh không thể tiếp tục trồng rừng do đất đã bị biến thành mỏ vật liệu san lấp phục vụ các công trình xây dựng.
Ông Minh kể, đầu năm 2014, một lãnh đạo UBND xã Lộc Trì thông báo diện tích đất trồng rừng của gia đình ông sẽ được giao cho Xí nghiệp Lâm nghiệp Long Phụng (đóng tại xã Lộc Sơn, huyện Phú Lộc) khai thác đất san lấp phục vụ xây dựng khu tái định cư ở xã.
Sau đó, Xí nghiệp Long Phụng đền bù cho gia đình ông 70 triệu đồng tiền cây cối trên đất. “Lúc đó, họ không đưa cho tôi bất cứ giấy tờ nào chứng minh việc khai thác đất đã được cấp phép. Nhưng vì sợ bị gây khó dễ sau này nên tôi phải đau khổ chấp nhận mất đất”- ông Minh cho biết.
Sau khi chi trả đền bù cho gia đình ông Minh, Xí nghiệp Long Phụng huy động lượng lớn máy móc khai thác diện tích đất này để lấy vật liệu san lấp. Đến thời điểm hiện tại, phần lớn diện tích đất rừng của gia đình ông Minh đã bị đào bới tan hoang. Nhiều nơi đất bị khai thác sâu xuống cả chục mét so với nền đất cũ và tạo thành những vực sâu khiến núi có thể bị sạt lở bất cứ lúc nào trong mùa mưa bão.
Tương tự, hộ ông Huỳnh Bé có khoảng 1ha đất trồng rừng ở núi Khe Trầu cũng đã bị Xí nghiệp Long Phụng sử dụng khai thác vật liệu san lấp từ đầu năm đến nay.
Theo tìm hiểu của PV, đến thời điểm hiện tại, UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế chưa có văn bản nào cấp phép khai thác đất ở núi Khe Trầu cũng như những khu vực khác ở Lộc Trì để làm vật liệu san lấp. Trong khi đó, theo quy định, chính quyền huyện Phú Lộc và xã Lộc Trì không có quyền cấp phép cho hoạt động trên. Vì vậy, việc khai thác đất tại núi Khe Trầu của Xí nghiệp Long Phụng là hành vi khai thác khoáng sản trái phép.
Trao đổi với PV, ông Cái Trọng Như - Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Trì thừa nhận việc xã để Xí nghiệp Long Phụng khai thác đất rừng của dân làm vật liệu san lấp là việc làm sai trái. Ông Như cho rằng, do doanh nghiệp cần đất san lấp mặt bằng khu tái định cư Lộc Trì nên xã làm tờ trình xin huyện cho cải tạo đất ở núi Khe Trầu để doanh nghiệp có nơi lấy đất. Trên cơ sở đó, xã để Xí nghiệp Long Phụng khai thác đất rừng của dân để phục vụ xây dựng khu tái định cư.
Tuy nhiên, sau đó khi PV chất vấn tới cùng, ông Như thừa nhận việc xã để Xí nghiệp Long Phụng khai thác đất là do bị sức ép từ cấp trên. Theo tiết lộ của một lãnh đạo UBND xã Lộc Trì, sở dĩ Xí nghiệp Long Phụng ngang nhiên khai thác đất rừng của dân khi chưa được cấp phép là do doanh nghiệp này được sự “chống lưng” của một lãnh đạo tỉnh.
Cán bộ này cho biết, một vị lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo chính quyền huyện Phú Lộc tạo điều kiện để Xí nghiệp Long Phụng khai thác đất tại núi Khe Trầu. Sức ép từ cấp trên khiến chính quyền huyện và xã phải giúp đỡ doanh nghiệp.
Theo nhiều người dân xã Lộc Trì, trên thực tế, ngoài khai thác đất tại núi Khe Trầu để san lấp khu tái định cư, Xí nghiệp Long Phụng còn lấy đất tại khu vực này cung cấp cho nhiều công trình xây dựng trên địa bàn. Do đó, việc khai thác đất trái phép của Xí nghiệp Long Phụng không chỉ gây thiệt hại cho người dân, mà còn khiến Nhà nước thất thu một khoản tiền thuế lớn. (Nông Thôn Ngày Nay 14/11) đầu trang(
Theo Nghị quyết quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Quảng Trị vừa được Chính phủ ban hành, đến năm 2020 diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 413.692 ha, chiếm 87,28% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Trong cơ cấu đất nông nghiệp, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là đất rừng sản xuất với 141.498 ha, tương đương 34,2% diện tích đất nông nghiệp; ngoài ra là 87.370 ha đất rừng phòng hộ; diện tích đất trồng cây lâu năm 70.439 ha và 24.740 ha là đất trồng lúa.
Theo Quy hoạch đến 2020, diện tích đất phi nông nghiệp của tỉnh là 54.861 ha. Cả thời kỳ 2011-2020 sẽ có 12.087 ha đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp.
Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt; việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp xã; có giải pháp cụ thể để huy động vốn và các nguồn lực khác để thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh.
Bên cạnh đó, xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm bù lại phần diện tích đất nông nghiệp do bị chuyển mục đích sử dụng.
Chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất, trong đó cần chú trọng thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
UBND tỉnh Quảng Trị quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng đất; giám sát chặt chẽ quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất trên địa bàn tỉnh. (Chính Phủ 13/11) đầu trang(
Với những chuyển biến lạc quan từ thị trường và doanh nghiệp, ngành gỗ được dự báo có thể đạt mức xuất khẩu 6,5 tỷ USD trong năm nay và 15-20 tỷ USD trong vòng 10 năm tới.
Nhiều nhà máy chế biến gỗ tại Ý, Đức, Mỹ đã đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế; đồ gỗ Trung Quốc đang bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá cao nhất, làm mất lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, ngành gỗ Việt Nam càng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường trị giá 300 tỷ USD mỗi năm.
Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, 9 tháng năm 2014, xuất khẩu (XK) gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt 4,45 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2013. Tại hầu hết các thị trường, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm gỗ đều có sự tăng trưởng, trong đó Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường dẫn đầu về kim ngạch với 1,6 tỷ USD, chiếm 36,1% tổng kim ngạch.
Nhật Bản là thị trường XK lớn thứ 2, đạt 0,7 tỷ USD, tăng 22,0% so với cùng kỳ, chiếm 15,9% tổng kim ngạch. Thị trường Trung Quốc dù có sự sụt giảm 10,2% so với cùng kỳ 2013 nhưng lại là thị trường lớn thứ 3 với tổng trị giá xuất khẩu trong 9 tháng năm 2014 đạt 0,6 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của gỗ.
Gỗ và các sản phẩm từ gỗ hiện xếp thứ 7 trong 10 mặt hàng XK lớn nhất hiện nay của Việt Nam. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), với tốc độ phát triển bình quân 2 chữ số liên tục nhiều năm, ngành chế biến XK gỗ Việt Nam đang chạm đích mục tiêu 6,5 tỷ USD cho năm 2014.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch VIFORES, tiết lộ thêm, tới thời điểm này các doanh nghiệp (DN) đều có hợp đồng hết năm 2014, nhiều đơn vị đang đàm phán đơn hàng cho năm 2015. Đặc biệt, 3 tháng cuối năm luôn là cao điểm làm hàng XK của ngành gỗ nên DN phải làm việc liên tục, hết công suất mới kịp giao những đơn hàng đã ký với các đối tác.
Thực tế, từ nhiều năm qua, ngành chế biến và XK sản phẩm gỗ đã có những bước phát triển vượt bậc. Nếu như năm 2000, giá trị XK các sản phẩm gỗ của Việt Nam mới ở mức khiêm tốn là 214 triệu USD thì đến năm 2004, kim ngạch đã lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD (1,154 tỷ USD).
Suốt giai đoạn 2001-2012, kim ngạch XK các sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục tăng theo hướng năm sau luôn cao hơn năm trước (trừ năm 2009). Năm 2013, kim ngạch XK gỗ tiếp tục tăng 19,2%, đạt 5,7 tỷ USD, chiếm khoảng 1,5% thị phần toàn cầu. Với thị phần này, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 6 thế giới, đứng thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Cùng với sự tăng trưởng về kim ngạch XK, thị trường XK các sản phẩm gỗ cũng không ngừng được mở rộng. Nếu năm 2003, sản phẩm gỗ Việt Nam chỉ XK vào hơn 6 quốc gia và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có mặt tại trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ngoài Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là 3 thị trường chính đang chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch XK, đồ gỗ Việt Nam còn được xuất khẩu mạnh sang các nước Hàn Quốc, Úc và Canada...
Sở dĩ đồ gỗ Việt Nam có thể đạt tăng trưởng nhanh và xâm nhập được vào các thị trường lớn là do có chất lượng tốt, mẫu mã cải tiến, giá cả hấp dẫn. Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ thế giới luôn cao. Hiện tại, quy mô thị trường đồ gỗ thế giới đang ở mức 300 tỷ USD/năm. Trong khi đó, kim ngạch XK đồ gỗ và gỗ của Việt Nam vẫn ở mức thị phần khiêm tốn 1 - 1,5%.
"Nếu có chính sách ưu tiên phát triển, Việt Nam có thể nâng thị phần xuất khẩu đồ gỗ hằng năm từ 1,5% lên 5%, tương đương 15 tỷ USD trong 5 - 7 năm tới", ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (Hawa) chia sẻ.
Theo ông Hạnh, trong bối cảnh nhiều nhà máy chế biến gỗ tại Ý, Đức, Mỹ đã đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đồ gỗ XK của một số nước như Trung Quốc đang bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá cao nhất, làm mất lợi thế cạnh tranh thì ngành gỗ Việt Nam càng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường, thị phần.
Thời cơ vàng cho XK đồ gỗ cũng đến khi Việt Nam chuẩn bị ký kết hàng loạt những hiệp định quan trọng như Hiệp định Đối tác tự nguyện Việt Nam - EU (VPA/FLEGT), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA Việt Nam - EU... Dự kiến, việc ký kết VPA/FLEGT sẽ diễn ra vào nửa đầu năm 2015.
Khi đó, theo ông Nguyễn Tôn Quyền, các DN XK gỗ Việt Nam sẽ phải tuân thủ những yêu cầu kỹ thuật liên quan đến nguồn gốc gỗ hợp pháp theo chương trình Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT).
Đổi lại, sản phẩm gỗ sẽ được xuất đi nhiều nước trong khối EU hơn, được bán với giá cao hơn và giảm tình trạng chế biến gỗ bất hợp pháp. Với TPP, sau ký kết, thuế suất cắt giảm sẽ mở ra nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam thâm nhập vào các quốc gia cùng ký hiệp định này.
DN gỗ Việt Nam sẽ tạo ra lợi thế vượt trội nếu có thể xây dựng thương hiệu sản phẩm, biết cách tiếp thị và phân phối, đồng thời tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp với từng thị trường.
Để khắc phục những tồn tại của ngành gỗ và đón thời cơ mới, ông Phan Chí Dũng, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ - Bộ Công Thương, kiến nghị Nhà nước cần xây dựng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và vùng nguyên liệu để làm căn cứ cho các DN định hướng trong đầu tư phát triển.
Nhà nước cần tạo điều kiện cho DN, làng nghề, hộ gia đình chế biến gỗ được tiếp cận với nguồn vốn vay để đầu tư thiết bị hiện đại và đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Có biện pháp để giảm chi phí cho các DN nhất là điện, nước, vận tải và phí xuất nhập khẩu...
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa, nhấn mạnh đến khía cạnh ngành gỗ phải tìm cách giải quyết hàng loạt vấn đề như: Nâng cao tỷ lệ sử dụng hiệu quả gỗ và giảm chi phí vận chuyển bằng thúc đẩy khâu sản xuất trung gian (các loại ván nhân tạo, gỗ ghép...) ngay tại các vùng trồng rừng tập trung; giải trình nguồn gốc gỗ hợp pháp, kiểm soát hàng tạm nhập và tái xuất để lấy xuất xứ sau khi Việt Nam ký TPP...
Đặc biệt, theo các chuyên gia, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội nâng cấp máy móc hiện đại với giá rẻ trong bối cảnh nhiều công ty gỗ ở Mỹ, Canada, Ý, Đức đóng cửa đang rao bán máy móc thiết bị tuy đã qua sử dụng nhưng còn giá trị.
DN gỗ Việt Nam sẽ tạo ra lợi thế vượt trội nếu có thể xây dựng thương hiệu sản phẩm, biết cách tiếp thị và phân phối, đồng thời tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp với từng thị trường. AA là một điển hình.
Trong 2 năm qua, dù thị trường khó khăn nhưng nhờ thương hiệu tốt, AA vẫn trúng thầu 2 dự án lớn là InterContinential Đà Nẵng và JWMariot ở Hà Nội. Nhiều chuyên gia cho rằng, DN cần tập trung phát triển các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời và đồ mộc mỹ nghệ,...
Đồng thời, tăng cường trồng rừng để từng bước đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho chế biến, giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và nâng giá trị gia tăng của các sản phẩm chế biến.
Về phía DN, mỗi công ty tập trung khắc phục các điểm yếu và nhìn xa trông rộng về các cơ hội sẽ đến trong tương lai. Cụ thể, năm 2014, Gỗ Trường Thành (TTF) dành ưu tiên cho tái cấu trúc tài chính vì trong năm 2013, chính những khó khăn tài chính khiến TTF không thể thực hiện các đơn hàng, bỏ mất nhiều khách hàng và giảm sút uy tín.
Đến tháng 6/2014, Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC) đã mua 543 tỷ đồng khoản nợ của TTF tại Vietcombank, đồng thời có kế hoạch mua thêm 350 tỷ đồng. Song hành đó, TTF cũng đã tăng vốn, nhờ đó đòn bẩy nợ của Công ty có sự thay đổi đáng kể. TTF cũng được Ngân hàng Việt Á cam kết bơm 250 tỷ đồng nên quý III vừa qua, sản xuất của Công ty đã khởi sắc.
Với những động thái tái cấu trúc mạnh mẽ, ông Võ Trường Thành cho biết, 2 tháng gần đây, công suất hoạt động của các nhà máy của TTF đã tăng trở lại, từ 30 - 35% lên 60% và kỳ vọng đạt 70% trong quý IV này. Đến nay, TTF đã đi được 2/3 chặng đường tái cấu trúc, dự kiến hoàn thành chậm nhất vào cuối quý I/2015.
Song song nhiệm vụ tái cấu trúc tài chính, TTF còn đặt mục tiêu chủ động hơn về vùng nguyên liệu để đón đầu các cơ hội mới. Từ tháng 3 năm nay, hơn 11.000ha rừng trồng từ 10 tuổi trở lên của TTF đã được đưa vào kế hoạch khai thác luân kỳ. Dự kiến đến cuối năm sẽ khai thác được khoảng 500ha, thu về 30 - 40 tỷ đồng.
Từ năm 2015, mỗi năm công ty sẽ khai thác 1.000ha, giúp đem lại lợi nhuận khoảng 80 tỷ đồng. Đặc biệt, với diện tích rừng vào độ tuổi khai thác như trên, TTF có thể chủ động được 90% nguyên liệu sản xuất và cung cấp gỗ cho các xưởng veneer trong nước hoặc XK sang Hoa Kỳ, Nhật Bản.
Mặc dù có những tăng trưởng ấn tượng về kim ngạch XK nhưng theo các chuyên gia, XK gỗ và đồ gỗ vẫn chưa thực sự bền vững. Đặc biệt, để vươn tới con số xuất khẩu 15 - 20 tỷ USD, Nhà nước lẫn DN phải cùng đưa ra những giải pháp hiệu quả để thu hẹp các rào cản trong ngành gỗ.
Hiện tại, trong hơn 3.000 DN tham gia vào ngành gỗ, chỉ một số ít DN như Công ty AA là có thể chủ động đầu tư công nghệ, thiết bị và có khả năng tự sản xuất theo thiết kế, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng. Còn lại, đa số DN vẫn sử dụng thiết bị lạc hậu, quản lý hạn chế, thiếu chiến lược kinh doanh... Kết quả, sản phẩm làm ra có giá thành cao, khó cạnh tranh.
Một điểm yếu phải kể đến của ngành gỗ Việt Nam hiện nay là chưa tìm được sự gắn kết chặt chẽ giữa các công ty lâm nghiệp với DN chế biến gỗ. Vì thế, sản phẩm gỗ Việt Nam vẫn dựa nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu.
Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Phòng Chế biến, Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhận định, việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu không chỉ khiến DN chế biến gỗ gặp rủi ro và khá bị động trong sản xuất, kinh doanh mà còn đẩy chi phí sản phẩm lên cao. Theo tính toán từ các DN, nguyên liệu nhập khẩu chiếm tới 35 - 45% giá thành sản phẩm.
Các chuyên gia phân tích thêm, do đặc thù ngành sản xuất, chế biến gỗ cần vốn lớn trong khi quy mô các đơn vị chủ yếu là vừa và nhỏ nên ngành gỗ rất nhạy cảm với sự thay đổi của thị trường. Thậm chí, ngay cả DN tên tuổi như Gỗ Trường Thành (TTF) cũng đã lao đao không ít vì nợ.
Tính đến cuối tháng 6/2014, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của TTF là 230%, tương đương cuối năm 2013. Ông Võ Trường Thành, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc TTF, cho biết, trung bình mỗi năm TTF trả lãi 230 tỷ đồng. Nợ nần khiến nguồn vốn lưu động của TTF bị bế tắc và kinh doanh có lúc tưởng phải ngưng lại. Năng suất lao động thấp cũng là lý do đẩy chi phí sản xuất tăng lên. Hiện tại, năng suất sản lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/3 năng suất của Trung Quốc.
Với những hạn chế kể trên, VIFORES đã khuyến cáo các DN nên tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước, giảm nhập khẩu gỗ, tính toán lại dây chuyền sản xuất, nâng cao năng suất lao động, xây dựng quá trình làm việc hiệu quả và tiết kiệm tối đa chi phí.
Đối với những biến chuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế, đi cùng cơ hội là không ít thách thức. Đạo luật Lacey của Mỹ đặt ra vấn đề kiểm soát nguồn gốc gỗ nguyên liệu. Riêng quy định VPA/FLEGT một khi được thực thi, không những buộc DN phải nói không với gỗ bất hợp pháp mà dự kiến sẽ tác động khá lớn đến chu trình kinh doanh của DN.
Theo đại diện của Forest Trend, một tổ chức phi lợi nhuận, định nghĩa gỗ bất hợp pháp rất rộng, dựa trên nhiều tiêu chí. Ví dụ xét về tiêu chí xã hội thì gỗ trồng trên đất đang có xung đột, tranh chấp là gỗ không hợp pháp. Tiêu chí kinh tế là người tham gia khai thác, vận chuyển phải tham gia đầy đủ yêu cầu về thuế, phí.
Tiêu chí môi trường là các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi sản xuất phải cùng tuân thủ yêu cầu, tiêu chí về môi trường. Đây là một thách thức rất lớn cho thị trường gỗ Việt Nam, nơi mà người trồng rừng đa số là các chủ hộ chưa được trang bị kiến thức hay những kỹ năng cần thiết về bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí. (Doanh Nhân Sài Gòn 14/11) đầu trang(
Hội đồng nghiệm thu huyện Hà Quảng vừa kiểm tra thực địa và hồ sơ trồng rừng cộng đồng tại xóm Khuổi Pàng, thị trấn Xuân Hòa (Hà Quảng).
Xóm Khuổi Pàng trồng 37,9 ha cây keo tai tượng, trong đó, rừng cải tạo 20,5 ha, rừng trồng mới 17,4 ha. UBND Huyện giao cho Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Thành Phương khai thác tận thu gỗ và cùng với người dân xóm Khuổi Pàng có trách nhiệm trồng lại rừng theo Quyết định số 847/QĐ-UBND, ngày 6/6/2013 của UBND huyện về phê duyệt hồ sơ cấp phép khai thác, tận thu gỗ do chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng mới rừng sản xuất tại xóm Khuổi Pàng.
Qua gần 2 năm thực hiện, Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Thành Phương đã hoàn thành công việc khai thác và trồng lại rừng theo nội dung thiết kế. Kết quả, năm 2013 trồng được 17,4 ha, tỷ lệ cây sống đạt 96%, cây sinh trưởng phát triển cao nhất đạt 3m. Năm 2014, trồng được 20,5 ha, tỷ lệ cây sống đạt 88%. (Báo Cao Bằng 13/11) đầu trang(
Ngay sau khi dự án trồng mới 5 triệu ha rừng kết thúc, Chính phủ đã phê  duyệt Kế hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu bảo vệ tốt hơn 13 triệu ha rừng hiện có, cả nước sẽ  trồng mới 2,6 triệu  ha rừng và có  Kết luận về việc thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015.
UBND tỉnh cũng đã có Quyết định thành lập Ban điều hành, Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015; ban hành quyết định về việc thành lập Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015, giao cho Chi cục Kiểm lâm là cơ quan thường trực giúp Ban chỉ đạo cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện Chương trình dự án. Sau 4 năm thực hiện dự án bảo vệ và phát triển rừng đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn cần được tháo gỡ.
Theo dự án được duyệt kế hoạch trồng rừng sản xuất của tỉnh giai đoạn 2011-2015 là 16.461,5ha được triển khai trên địa bàn 10 huyện. Suất đầu tư cho trồng rừng sản xuất tại các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Yên Lập là 3,7 triệu đồng/ha và các huyện còn lại là 2 triệu đồng/ha.
Các dự án rừng phòng hộ, trong giai đoạn 2011-2015 UBND tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt 3 dự án bảo vệ và phát triển rừng tại các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Yên Lập với tổng diện tích trồng rừng phòng hộ giai đoạn 2011-2015 là 646,4ha, trong đó giai đoạn 2011-2014 là 473,7ha. Suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ là 15 triệu đồng/ha.
Được sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh nên các suất đầu tư trồng rừng, cây giống, nguồn vốn được bố trí kịp thời đúng tiến độ. Chính sách đầu tư phát triển rừng phòng hộ và chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất của tỉnh giai đoạn 2011-2014 đã được 10 dự án triển khai đồng bộ.
Công tác chuẩn bị hiện trường, giao nhận cây giống, phân bón cho các hộ gia đình, cá nhân tham gia dự án đúng theo kế hoạch đề ra. Tính đến nay, chương trình dự án trồng rừng sản xuất giai đoạn 2011-2014 đã trồng được 12.886ha đạt 97,4% so với kế hoạch. Nhờ vậy, diện tích trồng rừng sản xuất tăng nhanh, chất lượng rừng được nâng cao, tỷ lệ cây sống đạt trên 90%; rừng sinh trưởng phát triển tốt; cơ cấu cây trồng có bước chuyển đổi tích cực, góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, môi trường sinh thái được cải thiện.
Đối với rừng phòng hộ, giai đoạn 2011-2014 các dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Yên Lập đã trồng được 473ha đạt 100% so với kế hoạch giao, cây sinh trưởng phát triển khá, tỷ lệ cây sống đạt trên 90%. Những kết quả đạt được của công tác trồng rừng đã đưa độ che phủ của rừng năm 2011 là 49,9%, đến năm 2014 đạt 50,6%. Các vùng đất trống, đồi núi trọc được phủ xanh, góp phần hạn chế lũ lụt, xói mòn đất, điều tiết nguồn nước. Môi trường sinh thái được nâng lên, nguồn sinh thuỷ được cải thiện đáng kể.
Đến Đoan Hùng là địa phương thực hiện có hiệu quả Dự án bảo vệ và phát triển rừng tận mắt nhìn những vạt keo xanh ngút ngàn thay thế bạch đàn chồi cằn cỗi khi xưa. Ông Nguyễn Hữu Huân - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đoan Hùng cho biết: “4 năm qua huyện trồng mới hơn 2.000ha rừng theo dự án bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh về cây giống, huyện còn hỗ trợ phân bón để trồng keo thay thế bạch đàn kém hiệu quả. Nhờ vậy đã thay đổi tập quán trồng rừng của người dân, từ chỗ trồng rừng manh mún, nhỏ lẻ, người dân đã chuyển sang trồng rừng tập trung biết áp dụng tiến bộ KHKT vào đầu tư thâm canh nâng cao năng suất rừng trồng”.
Tuy nhiên, công tác tổ chức trồng rừng phòng hộ gặp nhiều khó khăn, người dân không mặn mà với cơ chế chính sách đầu tư, phát triển rừng phòng hộ do suất đầu tư trồng rừng thấp, quy chế khai thác còn nhiều bất cập… vì vậy ở 3 dự án bảo vệ và phát triển rừng Yên Lập, Tân Sơn và Thanh Sơn rất khó khăn trong tổ chức thực hiện. Mức hỗ trợ cho trồng rừng sản xuất còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế tại địa phương.
Anh Trần Ngọc Sơn ở xã Thục Luyện (huyện Thanh Sơn) cho biết: “Mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất hiện nay còn thấp, chúng tôi phải tự xoay xở thêm nguồn vốn để đầu tư trồng rừng. Tuy nhiên việc tiếp cận các ngân hàng không dễ dàng nên còn khó khăn khi muốn đầu tư thâm canh, năng suất rừng”.
Trong khi đó thu hút đầu tư vào sản xuất lâm nghiệp còn thấp, cơ cấu sản phẩm còn hạn chế, mới chỉ có sản phẩm cho nguyên liệu giấy, vật liệu xây dựng, chưa có sản phẩm gỗ lớn sản xuất đồ gia dụng. Ứng dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật như công nghệ sinh học, giống, các biện pháp và kỹ thuật canh tác chưa làm chuyển biến căn bản hiệu quả kinh tế của nghề rừng; mặt khác việc chuyển đổi tập quán canh tác còn hạn chế.
Đã có quy hoạch phát triển lâm nghiệp nhưng việc quản lý đất lâm nghiệp chưa chặt chẽ, vẫn còn xảy ra tình trạng chồng lấn, tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với các nông lâm trường. Mô hình khuyến lâm còn ít, chưa được nhân rộng, nguồn vốn đầu tư trồng rừng, kể cả vốn tín dụng trong dân còn hạn hẹp.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do nguồn kinh phí hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương thiếu, ngân sách tỉnh lại khó khăn, cộng với thời gian cấp vốn muộn dẫn tới không chủ động trong sản xuất cây giống và khung lịch thời vụ trồng rừng đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất chất lượng rừng. Các văn bản triển khai chương trình bảo vệ và phát triển rừng của Trung ương và các bộ, ngành còn chưa có hướng dẫn cụ thể do vậy trong quá trình thực hiện còn nhiều lúng túng, nhất là các dự án cơ sở.
Nhằm triển khai thực hiện hiệu quả tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp, góp phần phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bền vững, tăng tính đa dạng sinh học và năng lực cạnh tranh, mục tiêu giai đoạn 2015-2020 đặt ra là: Nâng cao năng suất chất lượng rừng, giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 3,5 - 4,0%.
Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới. Trồng và chăm sóc rừng: 41.281ha, bao gồm: Rừng sản xuất; rừng phòng hộ; khoán bảo vệ rừng tự nhiên; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên. Sản lượng khai thác rừng trồng bình quân hàng năm trên 350.000m3. Độ che phủ rừng đạt 51%.
Để đạt mục tiêu đã đề ra cần giải quyết những khó khăn bất cập hiện nay bằng các giải pháp đó là: Tăng mức hỗ trợ đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, sản xuất. Có chính sách cụ thể cho trồng rừng sản xuất cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ. Áp dụng đầy đủ chính sách trợ cước, trợ giá của Nhà nước về hàng hóa sản phẩm đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật lâm sinh, cán bộ khuyến lâm cho huyện, xã để chỉ đạo công tác trồng rừng, công tác chọn tạo và sản xuất cây giống; đồng thời quản lý, giám sát kế hoạch và chất lượng trồng rừng. Áp dụng và nhân rộng các mô hình tiên tiến điển hình, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đưa những giống mới có năng suất cao, khả năng kháng bệnh vào trồng rừng.
Khuyến khích mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại hóa công nghệ tạo sự ổn định cho đầu ra sản phẩm. (Báo Phú Thọ 14/11) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 3679/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ công tác kiểm kê rừng tỉnh Bình Định.
Theo đó, Tổ công tác kiểm kê rừng do ông Nguyễn Hiếu Hòa, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm Tổ trưởng; ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm Tổ phó trực.
Tổ có nhiệm vụ tham mưu cho Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng tổ chức, triển khai, thực hiện công tác kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh; thực hiện việc kiểm tra, giám sát và đôn đốc công tác kiểm kê rừng của Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng của 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; tham mưu cho Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng xây dựng Phương án kiểm kê rừng, lập dự toán kinh phí kiểm kê rừng của tỉnh; tổng hợp kết quả kiểm kê rừng của tỉnh để tham mưu cho Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng báo cáo UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ương và tham mưu cho cấp thẩm quyền công bố kết quả kiểm kê rừng của tỉnh.
Trước đó, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 3137/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng, do bà Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó ban. (Binhdinh.gov.vn 12/11) đầu trang(
Đầu tháng 10/2014 đến nay, bà con Bana sinh sống ở 2 xã Vĩnh Kim và Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Thạnh) lại có thêm khoảng thu nhập tương đối, nhờ vào việc hái trái cứt chuột, một loại cây dược liệu mọc hoang trên rẫy.
Niềm vui được nhân lên, bởi số tiền thu được từ việc bán trái cứt chuột đã giúp bà con đồng bào có thêm “nguồn vốn” để tăng gia, phát triển sản xuất. Qua tìm hiểu, trong chuyến công tác mới đây, từ lời kể người dân PV biết được cây cứt chuột là loại cây mọc, xuất hiện nhiều nhất ở thôn O5.
Thời kháng chiến chống Pháp, Mỹ quả của cây này thường dùng để trị sốt rét rừng. Vì không được thu mua nên cứ đến mùa phát rẫy là cây bị đốt hoặc chặt bỏ. Song khoảng 5 năm gần đây, khi nhiều thương lái tới nhiều bản làng thu mua trái với giá cao, bà con thôn O5 mới chú ý đến nó và giữ gìn, chăm sóc để thu hoạch trái.
Theo ông Đinh Mun, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Kim, 2 năm nay trở lại đây, trái cứt chuột mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho bà con. Thậm chí, ở thôn O5 có gia đình thu nhập 30-35 triệu đồng/năm nhờ vào việc thu hái trái cứt chuột này.
“Đáng chú ý, cây cứt chuột có trái quanh năm, việc khai thác không ảnh hưởng lớn đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nên địa phương đã tiến hành khảo sát nhằm mục đích nhân rộng, giúp bà con ổn định nguồn thu nhập từ cây cứt chuột. Đồng thời, vận động bà con giữ lại loại cây này để phát triển sản xuất. Thời gian tới, địa phương sẽ phối hợp ngành chức năng tiếp tục nghiên cứu để nhân rộng loại cây này”, ông Mun cho biết thêm.
Còn ông Đinh Phin - Trưởng thôn O5 khoe: “Cùng với cây chuối, cây cứt chuột không bao giờ lỗi thời. Mười mấy năm trở lại đây, nó đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo cho gia đình ông cũng như nhiều người dân ở nơi vùng cao này. Cũng theo ông Phin, người dân gom được bao nhiêu thương lái cũng sẵn sàng mua hết và tiền bạc rất sòng phẳng, thậm chí họ còn cho dân ứng trước để tìm hái. Giá mỗi kg trái cứt chuột tươi có giá từ 30-35 ngàn đồng”.
Tâm trạng phấn khởi của vị Phó Chủ tịch xã Vĩnh Kim ông Đinh Mun hay Trưởng thôn O5 Đinh Phin là có cơ sở. Bởi về các thôn bản O3, O5 hay Kon Trú vào dịp này, chúng tôi thường xuyên bắt gặp hình ảnh người già, người trẻ mang những chiếc gùi chứa đựng trái cứt chuột trên lưng hối hả nhau về bản, sau một ngày rong rả khắp nương rẫy để thu hái trái.
Trên khuôn mặt mọi người, PV dễ dàng nhận ra sự tươi vui, hồ hởi sau ngày lao động “ngọt”. Xen lẫn vào đó, khung cảnh những chiếc cà tăng vờn trải trước hiên nhà, được thương lái sử dụng để phơi trái cứt chuột, chuẩn bị xuất bán ra thị trường các tỉnh phía Bắc.
Cõng bao trái cứt chuột mới thu được qua bên kia sông, anh Đinh Văn Có, 24 tuổi, ở làng O3, nở nụ cười rạng rỡ. Kể về khoảng 35kg trái trên lưng, anh cho biết: “Trái cứt chuột tập trung trên rẫy O3 cao, mình đi làm rẫy rồi thu về luôn. Sau đợt này, mình phải đợi thêm 3 tuần nữa để trái non già đi, mới thu về tiếp. Mấy năm nay có được số tiền kha khá này, mình và vợ con cũng thấy mừng. Lúc trước, mình chẳng để ý đến loài cây này, nay thấy ở Đăk Tra, O5 bán trái có lời nên bà con O3 cũng làm theo”.
Đang hì hục hốt trái cứt chuột sau một ngày phơi nắng, anh Võ Văn Tiến, 34 tuổi, người dân ở thôn bản O3, hồ hởi: “Tôi quê gốc ở thị trấn Vĩnh Thạnh, sau khi lập gia đình, rồi “ra riêng” thì về thôn bản O5 dựng nhà, sinh sống. Các năm trước, tôi cùng vợ thu mua chuối, lá chuối bỏ mối cho các thương lái dưới thị trấn. Gần hai năm nay, thu mua thêm trái cứt chuột cung cấp cho các thương lái, tăng thêm thu nhập cho gia đình và có điều kiện chăm sóc cho các con tốt hơn”. (Công An Nhân Dân 14/11, tr7) đầu trang(
Ông Phan Tấn Lân, cán bộ địa chính - xây dựng xã Tân Bình, đã kết hợp với người dân cố tình tẩy xóa hồ sơ đất để xin cấp sổ đỏ. Việc làm này vi phạm quy định của pháp luật nhưng UBND xã và UBND huyện Đak Đoa đưa ra hình thức kỷ luật: Khiển trách. Điều này đang gây ra nhiều bức xúc trong dư luận.
Tháng 4/2011, ông Lân đã nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của hộ ông Nguyễn Hữu Trí. Theo hồ sơ, hộ ông Trí có nhận chuyển nhượng của ba hộ dân cư trú ở thôn 2 xã Tân Bình, giấy chuyển nhượng viết tay từ năm 2000, diện tích đất 3.213 m2 (loại đất rau màu, trồng cây hằng năm).
Sau khi nhận hồ sơ xin cấp đất, với vai trò là cơ quan chuyên môn, ông Phan Tấn Lân đã tham mưu cho UBND xã mời Hội đồng Xét cấp GCNQSDĐ của xã họp xét cấp cho hộ ông Trí và một số hộ khác trong xã.
Sau khi hoàn thiện các thủ tục, Chủ tịch UBND huyện Đak Đoa Nguyễn Đức Hoàng đã chính thức cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Trí vào tháng 10/2011. Tuy vậy, đến khi có kiến nghị của người dân về những dấu hiệu sai phạm trong việc cấp GCNQSDĐ của ông Trí thì mọi việc mới bị lộ diện.
Tại Bản kiểm điểm của ông Phan Tấn Lân, trong hồ sơ đất đai của ông Trí (đã ký các ngày 20, 26, 28/11/2000) có xác nhận của ông Thiều Tâm Cần - Trưởng thôn 2. Thế nhưng, trên thực tế, năm 2005 ông Cần mới làm Trưởng thôn. Đặc biệt nghiêm trọng là trong giấy viết tay do ông Cần xác nhận đã bị hộ ông Trí sửa chữa, tẩy xóa (từ năm 2010 được sửa thành năm 2000).
Có thể khẳng định, việc làm giả hồ sơ, tài liệu để xin cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Nguyễn Hữu Trí là hành vi vi phạm Điều 267 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, việc xác nhận này đã trái với quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 84/2007/NĐ-CP về quy định cấp GCNQSDĐ. Mặt khác, việc làm giả hồ sơ, tài liệu nhằm vụ lợi này đã và đang gây ra hậu quả nghiêm trọng như gây thiệt hại về tiền cho Nhà nước và nhờ có được GCNQSDĐ, ông Trí đã xây dựng nhà kiên cố trên mảnh đất được cấp trái phép đó tạo nên tiền lệ và dư luận xấu trong đông đảo nhân dân.
Theo xác nhận của ông Cao Văn Nông, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đak Đoa, với trường hợp đất của ông Trí đã được cấp GCNQSDĐ, vào thời điểm năm 2011 thì khung giá đất được UBND tỉnh Gia Lai quy định là 400 nghìn đồng/m2. Theo ông Nông, trường hợp mua bán giấy tay sau khi Luật Đất đai năm 2003 chính thức có hiệu lực thì khi đăng ký làm GCNQSDĐ phải áp dụng mức nộp cho Nhà nước 1/2 khung giá được UBND tỉnh quy định và những trường hợp mua bán giấy tay trước đó chỉ phải nộp thuế sử dụng đất thông thường.
Như vậy, với việc sửa chữa, tẩy xóa và được xác nhận trước thời hạn trong việc xin cấp GCNQSDĐ 3.213 m2 cho ông Trí đã gây thất thoát cho Nhà nước hơn 642 triệu đồng.
Sai phạm nghiêm trọng là vậy, nhưng ông Phan Tấn Lân chỉ cho là lỗi sơ suất trong khi hoàn thiện hồ sơ và xin nhận khuyết điểm trước Hội đồng Kỷ luật của UBND xã Tân Bình, UBND huyện Đăk Đoa.
Điều đáng nói là, ngày 25/3/2014, Hội đồng Kỷ luật huyện Đak Đoa đã họp, xử lý kỷ luật ông Phan Tấn Lân bằng hình thức khiển trách và Chủ tịch UBND xã Tân Bình Bùi Thị Mỹ Dung chỉ bị kiểm điểm… rút kinh nghiệm.
Trở lại xã Tân Bình vào cuối tháng 10, sự kiện huyện Đak Đoa tổ chức cưỡng chế việc ba hộ dân chiếm 2,5 ha đất tại khu vực Hố Ruông đã trôi qua hơn một năm nhưng khi chúng tôi đề cập, nhiều người dân vẫn còn bức xúc. Khu vực Hố Ruông có tổng diện tích 5ha đất rừng, sau khi được khai hoang chính quyền nơi đây có ý định sẽ phân cho những hộ gia đình trong xã bị thiếu đất trồng trọt hoặc bán đấu giá. Nhưng đã nhiều năm qua, một phần diện tích này đã bị ba hộ gia đình là anh, em trai của ông Phan Tấn Lân chiếm dụng trồng keo, bạch đàn, cây gỗ…
Sau nhiều lần vận động tuyên truyền nhưng những người này vẫn không chịu trả lại đất công và đến cuối năm 2013 UBND huyện Đak Đoa đã phải tổ chức đội liên ngành và UBND xã Tân Bình cưỡng chế thu hồi lại toàn bộ số đất bị chiếm dụng trên.
Không dừng lại ở đó, người dân xã Tân Bình còn rất bức xúc về việc anh, em nhà ông Lân hiện đang chiếm dụng hàng chục ha đất thuộc thôn 1 chạy dọc theo khu vực ven rừng thông để trồng cà phê. Theo tính toán của người dân xã Tân Bình, vào thời điểm những năm 2007, 2008 khoảng 20 hộ dân đã khai thác, chiếm khoảng hơn 20ha đất rừng và trong đó người nhà ông Lân đi đầu trong “phong trào” chiếm dụng đất rừng thông với khoảng gần một nửa diện tích, rồi người dân trong xã mới dám làm theo. Giá đất chiếm dụng này được người dân mua đi bán lại khoảng 300 triệu đồng/ha. Đến nay, cả dãy đất chạy dọc ven rừng thông này mới chỉ có một vài hộ là anh, em nhà ông Lân đã được cấp GCNQSDĐ.
Từ những kiểu chiếm dụng đất công của người nhà ông Lân, nhiều người dân tại xã Tân Bình không ngần ngại cho rằng: Đúng là “một người làm quan, cả họ được nhờ”. Phải chăng, với việc chiếm hàng chục ha đất rừng thông và để sau thời gian kiểm hóa đất rừng lại là cơ hội để anh, em nhà ông Lân hợp thức hóa đất công chuyển thành đất tư một cách hợp pháp?
Liên quan đến diện tích đất rừng thông đã bị người nhà ông Lân và một số hộ dân đã lấn chiếm tại thôn 1, xã Tân Bình chúng tôi đã có cuộc làm việc với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đak Đoa. Cán bộ phụ trách địa bàn xã Tân Bình đã đưa ra bản vẽ với hàng chục thửa đất chạy dọc đồi thông lấn chiếm đã được vẽ trên bản đồ nhưng chưa có sổ hồng.
Nhưng đến khi hỏi danh sách tên của những thửa đất này, người cán bộ này nói: “Danh sách này chỉ có ông Lân mới nắm được. Nếu cần liên hệ xuống xã gặp ông Lân là rõ nhất…”. Như vậy, có thể thấy được toàn bộ số diện tích đất rừng thông đang bị các hộ dân lấn chiếm tại xã Tân Bình đang nằm trong tầm kiểm soát của ông Lân?
Theo chỉ dẫn, PV đã nhờ Phó Chánh Văn phòng UBND huyện Đak Đoa đăng ký làm việc và nhiều lần điện thoại đăng ký làm việc trực tiếp với bà Bùi Thị Mỹ Dung, Chủ tịch UBND xã Tân Bình nhưng đều bất thành.
Với những gì đang diễn ra tại xã Tân Bình và cá nhân ông Lân thì không khỏi băn khoăn khi đặt ra câu hỏi: Liệu đang có người “chống lưng” hay bao che để cho ông Lân tự tung, tự tác như vậy? Ở đây có thể thấy được việc chứng nhận cho hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của hộ nhà ông Trí là dấu hiệu hình sự rõ ràng và đã để lại hậu quả nghiêm trọng nhưng về cá nhân ông Lân cũng chỉ xử lý kỷ luật “khiển trách”.
Trong khi đó, để tìm hiểu về công tác quản lý và xử lý cán bộ công chức vi phạm kỷ luật PV đã được ông Nguyễn Thành Quang, Phó phòng Nội vụ huyện Đak Đoa cho biết: “Đối với trường hợp ông Lân, huyện đã có kế hoạch luân chuyển cán bộ sẽ điều chuyển đi xã khác”. Một trong những lý do để điều động ông Lân là do làm việc tại xã vướng vào anh em, người nhà quá nhiều không xử lý được nên chuyển xã khác.
Ở đây, có thể dễ dàng nhận thấy là UBND huyện Đăk Đoa đang hợp lý hóa những sai phạm và để “né” dư luận về những kiểu chiếm dụng đất công của người nhà ông Lân gây ra bằng việc thuyên chuyển cán bộ công chức giữa chừng? Quan trọng hơn nữa, liệu với những cách sai phạm của ông Lân lại được tái áp dụng ở nơi công tác mới? (Thanh Tra 14/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhà nghiên cứu hàng đầu của Viện Bảo tồn Sinh học Washington, John Seidensticker cho biết việc xác định được quy mô quần thể hổ trong tự nhiên là rất cần thiết để cải thiện chính sách bảo vệ loài thú quý hiếm đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng này.
Mặc dù số lượng hổ hoang dã trên thế giới được cho là đã ổn định trong vòng 4 năm qua, song hơn 140 đại biểu đến từ 13 nước có hổ sinh sống, bao gồm Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nga, Thái Lan và Việt Nam và một số tổ chức quốc tế tham dự một hội nghị quốc tế mới đây về bảo vệ loài hổ hoang dã tại Dhaka, Bangladesh cũng cho rằng việc thiếu con số chính xác về số lượng hổ là một trong những cản trở lớn nhất cho việc đưa ra được một chính sách bảo vệ.
Hội nghị cũng nhất trí xác định số lượng hổ thực tế trong tự nhiên trong vòng 2 năm, tức là sẽ hoàn thành vào năm 2016 để thay thế cho những con số cho đến nay đuợc đưa ra dựa chủ yếu vào ước đoán.
Trong khi đó, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế cho biết số lượng hổ hoang dã trên thế giới đã giảm mạnh xuống còn chưa đầy 3.200 con năm 2010 từ mức khoảng 100.000 trước đó một thập kỷ, và săn bắt, xâm lấn làm thu hẹp môi trường sống, ô nhiễm môi trường và buôn bán bất hợp pháp những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đối mặt nguy cơ tuyệt chủng của loài động vật quý hiếm này.
Trong năm 2010, 13 quốc gia nói trên đã thông qua một kế hoạch hành động chung nhằm tăng gấp đôi quy mô đàn hổ hoang dã vào năm 2022. Với nỗ lực này, số lượng hổ được ghi nhận đã tăng lên ở một số nước như Ấn Độ, Nepal và Nga, song săn bắt trộm vẫn tiếp tục là một vấn đề lớn.
Theo thống kê của Traffic - mạng lưới giám sát buôn bán động vật hoang dã, có ít nhất 1.590 con hổ, hay trung bình 2 con một tuần, đã bị các cơ quan chức năng của các nước thu giữ từ tháng 1/2000 đến tháng 4/2014.
Ông Mik Blatzer, một quan chức thuộc cấp cao của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) lưu ý rằng săn bắt trộm vẫn là mối đe dọa số một đối với loài hổ, song chính phủ nhiều nước vẫn chưa đưa ra và thực hiện một cam kết thực sự đủ mạnh trong việc chống lại nạn săn bắt bất hợp pháp.
Hơn nữa, môi trường sống tự nhiên của các loài, trong đó có loài hổ cũng bị xâm lấn, thu hẹp, giảm chất lượng và chịu nhiều tác động tiêu cực, kể cả tại các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia trong 10 năm qua.
Mới đây nhất, Bangladesh đã bị chỉ trích vì xây dựng một nhà máy nhiệt điện công suất lớn chạy bằng than đá sát ngay khu rừng ngập mặn Sundarbans – nơi sinh sống chủ yếu của đàn hổ ở quốc gia Nam Á này.
Các chuyên gia lo ngại rằng nhà máy điện 1.320 MW đang được xây dựng, chỉ cách Sundarbans 14 km sẽ gây ô nhiễm nước của khu rừng ngập mặn lớn nhất thế giới, đe dọa cả đa dạng sinh học lẫn cuộc sống của đàn hổ hoang dã tại đây. (VietnamPlus 13/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng