|
Ngày 13 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 12/10/2016, Dự án hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam tại Quảng Bình phối hợp với Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về đề án thành lập “Quỹ bảo vệ và phát triển rừng” và “Chi trả dịch vụ môi trường rừng”.
Quảng Bình là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp rất lớn, khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam, địa hình dốc, hẹp và bị chia cắt nhiều nên rừng có vai trò rất quan trọng đối với môi trường sinh thái và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Toàn tỉnh có hơn 641.000ha tổng diện tích đất lâm nghiệp, chiếm gần 75% tổng diện tích tự nhiên.
Hiện Quảng Bình đang rất thiếu nguồn kinh phí để bảo vệ và phát triển rừng. Chu kỳ kinh doanh rừng trồng ngắn thiếu tính bền vững,gây xói mòn, rửa trôi đất, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, rất cần có nguồn kinh phí để hỗ trợ đầu tư bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng kèm theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP quy định các địa phương cần có Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Ngoài ra, các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, “Qũy bảo vệ và phát triển rừng” đã thành lập nhưng riêng Quảng Bình thì chưa.
Chính vì vậy, đề án thành lập “Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Bình” sẽ tạo bước ngoặt chính sách đối với nghề rừng, là nguồn lực quan trọng thúc đẩy thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng.
“Quỹ bảo vệ và phát triển rừng” (viết tắt là Quảng Bình FPDF) thành lập nhằm mục đích huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng; tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ từ các chương trình dự án; đồng thời nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp.
Cùng với đó, việc Đề án “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” được triển khai thực hiện nhằm áp dụng vào thực tế những nội dung của Nghị định 99/2010/NĐ-CP để nâng cáo ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sử dụng và những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, huy động các nguồn lực của xã hội phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng; địa phương có thêm nguồn kinh phí để chủ động trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp hoạt động đúng quy luật của nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
Tại hội thảo, các đại biểu đã được cung cấp một số thông tin liên quan đến Đề án thành lập “Quỹ bảo vệ và phát triển rừng” và “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” như: cơ sở pháp lý và sự cần thiết phải thành lập; vấn đề tổ chức, hoạt động; cơ chế thu và chi trả dịch vụ môi trường rừng… Trên cơ sở đó, các đại biểu đã tham gia đóng góp ý kiến trong việc hoàn thiện và kế hoạch triển khai thực hiện 2 Đề án.
Ngay sau hội thảo, các chuyên gia tư vấn của trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Chi cục kiểm lâm Quảng Bình sẽ tổng hợp và hoàn chỉnh các đề án, để trình UBND tỉnh xem xét và phê duyệt. (Tin Tức 12/10) đầu trang(
Tiếp tục đợt giám sát về công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Thường trực HĐND tỉnh do bà Ayun H’Bút – Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi giám sát công tác quản lý, bảo vệ rừng tại huyện Đức Cơ.
Làm việc với UBND huyện Đức Cơ và các đơn vị chủ rừng, đoàn giám sát được nghe địa phương báo cáo cụ thể, chi tiết về công tác quản lý, bảo vệ rừng trong những năm gần đây. Tính đến cuối năm 2015, huyện Đức Cơ có hơn 8.000 ha rừng; trong đó rừng tự nhiên là 6.900 ha và gần 2.000 ha rừng trồng. Từ năm 2011 đến nay, mặc dù huyện đã triển khai quyết liệt các biện pháp để bảo vệ diện tích rừng hiện có nhưng rừng tự nhiên trên địa bàn vẫn giảm đáng kể.
Chỉ tỉnh riêng từ năm 2011 đến 2015, diện tích rừng toàn huyện giảm hơn 50 ha, trong đó có 42 ha do phá rừng. Thực hiện chủ trương của Chính phủ, từ năm 2008 đến nay huyện Đức Cơ đã thực hiện chuyển đổi hơn 100 ha rừng nghèo sang trồng cao su; tuy nhiên, việc chuyển đổi này không đem lại hiệu quả khi cây cao su đã trồng hơn 5 năm nhưng không phát triển được.
Sau khi kiểm tra thực tế, đoàn giám sát Thường trực HĐND tỉnh đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của huyện và đề nghị địa phương cần có những biện pháp tích cực để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, tích cực trồng rừng để nâng cao tỷ lệ che phủ rừng. Đồng thời, địa phương cần có biện pháp phù hợp sử dụng hiệu quả diện tích đất rừng nghèo đã chuyển đổi, tránh lãng phí diện tích đất rừng tự nhiên sẵn có . (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 12/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đã ra lệnh đóng cửa rừng để khôi phục và cứu các cánh rừng trong cả nước, nhưng vì lợi nhuận từ rừng mang lại nhiều đối tượng vẫn ngang nhiên xà xẻo, tổ chức khai thác lâm sản khiến cho rừng Tây Nguyên tiếp tục “chảy máu”.
Đắk Nông là một trong những địa phương xuất hiện nhiều điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán, chế biến lâm sản trái phép.
Tuy UBND tỉnh Đắk Nông đã chỉ đạo các cấp, ngành triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhưng những cố gắng của tỉnh Đắk Nông vẫn chưa thể kiềm chế được tình trạng phá rừng trái phép.
Tại Đắk Nông không chỉ rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, mà ngay cả rừng bảo tồn cũng bị lâm tặc ngang nhiên tàn phá. Cụ thể, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung toàn bộ diện tích gần 22 nghìn ha rừng thuộc khu bảo tồn này được bảo vệ, bao bọc chung quanh bởi hàng chục nghìn ha rừng tự nhiên; với hàng chục chốt kiểm soát, trạm quản lý bảo vệ rừng của 6 công ty lâm nghiệp, lực lượng kiểm lâm của các huyện nhưng, lâm tặc vẫn đột nhập tạo hàng trăm đường mòn, mở lối vào tận vùng lõi để triệt hạ rừng, khai thác gỗ trái phép tràn lan và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Điển hình mới đây, tại tiểu khu 1133 Khu Bảo tồn bước đầu xác định có khoảng hơn 400m3 gỗ du sam nhóm 1A, đường kính từ 90cm -1,8m bị lâm tặc khai thác và đã chuyển ra khỏi rừng.
Dấu vết hiện trường cho thấy rừng bị tàn phá vào nhiều thời điểm, trong thời gian dài nhưng đơn vị chủ rừng vẫn không phát hiện để ngăn chặn.
Gỗ mất, rừng bị tàn phá nhưng trách nhiệm thì các bên đùn đẩy cho nhau. Trao đổi với phóng viên, ông Đặng Xuân Lộc-Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung cho biết: “Diện tích rừng này mới được Khu bảo tồn tiếp quản từ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa, huyện Đắk Song vào đầu tháng 5/2016.
Sau khi nhận bàn giao, tổ chức kiểm tra lại phát hiện rừng bị tàn phá, khai thác chúng tôi đã báo cơ quan chức năng làm rõ, để mất rừng, trách nhiệm thuộc về đơn vị quản lý trước đó”.
Còn ông Phạm Đình Dũng- Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa lại lý giải, khi tiến hành bàn giao rừng cho Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung hai bên đã phối hợp với các cơ quan chức năng trực tiếp đi khảo sát, kiểm tra thực địa nhưng không hề phát hiện rừng bị tàn phá hoặc khai thác gỗ. Trong biên bản ký giao nhận giữa hai đơn vị thể hiện rất rõ việc này.
Ông Lê Công Trường- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cho biết, vụ việc khai thác gỗ du sam trái phép khối lượng lớn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung là rất nghiêm trọng, đơn vị đang chỉ đạo phòng chuyên môn phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh, huyện Đắk Song và đơn vị chủ rừng tiến hành kiểm tra thực tế, khám nghiệm hiện trường, tổ chức thu gom tang vật để điều tra làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan đến vụ việc.
Được biết, 9 tháng đầu năm, qua khảo sát, nắm bắt tình hình, các ngành chức năng đã xác định trên địa bàn tỉnh Đắk Nông tồn tại 11 “điểm nóng” phá rừng. Qua triển khai thực hiện, các cơ quan chức năng đã ngăn chặn được 7 “điểm nóng” về phá rừng. 4 “điểm nóng” còn lại, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng liên quan đang tập trung đấu tranh, ngăn chặn.
Không chỉ ở Đắk Nông, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua cũng ghi nhận các vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. Ông Lê Đắc Ý- Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đắk Lắk) cho biết, thời gian qua tình trạng lâm tặc đột nhập khu bảo tồn triệt hạ gỗ quý thường xuyên diễn ra, đặc biệt là các đối tượng ở tỉnh ngoài.
Cụ thể, ngày 28/9, lực lượng Kiểm lâm Khu Bảo tồn trong khi tuần tra tại Tiểu khu 622 phát hiện một nhóm đối tượng đang vận chuyển gỗ trái phép và đã tiến hành bắt giữ được 3 đối tượng gồm: Lê Mô Y Cường (SN 1980), Ha Ra Y Trang (SN 1993), La Ô Y Em (SN 1999) cùng trú tại buôn Zô (xã Ea Ly, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên).
Qua khám nghiệm hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện có 26 cây gỗ giáng hương (nhóm IIA), đường kính phần gốc từ 20-35 cm bị chặt hạ. Phần lớn gỗ đã bị lấy đi chỉ còn lại cành ngọn và 31 phách gỗ các đối tượng chưa kịp vận chuyển. Ngay sau đó, toàn bộ hồ sơ vụ việc và các đối tượng bị bắt giữ đã được Hạt Kiểm lâm KBTTN Ea Sô bàn giao cho Công an huyện Ea Kar tiến hành điều tra, làm rõ theo quy định của pháp luật.
Ngày 4-10, Công an huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lắk tiến hành bắt tạm giam các đối tượng này phục vụ điều tra.
Trước đó, khoảng giữa tháng 3/2016, lợi dụng lực lượng kiểm lâm mỏng, lâm tặc đã lẻn vào triệt hạ 29 cây gỗ Giáng hương quý hiếm nằm ngay vùng lõi của khu bảo tồn.
Sau khi xảy ra vụ việc, Ban Quản lý Khu Bảo tồn đã báo cáo cho Công an huyện và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar để phối hợp điều tra, xử lý, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra đối tượng phá rừng.
Mới đây, ngày 30-9, tại Tiểu khu 718, thuộc Rừng phòng hộ núi Vọng Phu do Ban quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu (huyện M’Đrắk, Đắk Lắk) quản lý, Phòng An ninh kinh tế (Công an tỉnh Đắk Lắk) phối hợp với Công an huyện M’Đrắk đã phát hiện và bắt giữ 4 đối tượng gồm: Nguyễn Kiệp, Đỗ Ngọc Khoa, Trần Khánh Linh và Hồ Văn Hùng (cùng trú tỉnh Phú Yên) đang vận chuyển gỗ lậu.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng thu giữ 3 xe độ chế dùng để chở gỗ, 65 lóng gỗ với khối lượng hơn 35 m3 thuộc chủng loại từ nhóm III đến nhóm IV. Lực lượng chức năng đã tạm giữ các đối tượng, tang vật để điều tra làm rõ vụ việc.
Để các cánh rừng ở Tây Nguyên được bình yên thiết nghĩ bên cạnh xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng; tăng cường kiểm tra, quản lý của cơ quan chức năng thì cần tăng cường công tác tuyên truyền của chính quyền địa phương đến người dân, để người dân hiểu và chung tay cùng chính quyền thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng. (Đại Đoàn Kết 13/10, Dân Việt 13/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Nậm Pồ có 47 vụ phá rừng và xâm hại rừng, làm thiệt hại hơn 12ha, tăng nhiều lần so với các năm trước.
Trước thực trạng đó, huyện Nậm Pồ đã tăng cường các biện pháp quyết liệt và hữu hiệu hơn nữa nhằm quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có. Trong đó ưu tiên khoanh nuôi tái sinh; dừng việc trồng rừng tốn kém nhưng hiệu quả thấp, để dành kinh phí cho công tác bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh.
Nậm Pồ hiện có gần 59 nghìn héc ta rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 39%. Là địa bàn vùng xa, vùng biên giới, Nậm Pồ có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, nhưng diện tích rừng cần quản lý và bảo vệ rộng. Đời sống của người dân trên địa bàn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp để sản xuất vẫn xảy ra, gây ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn.
Xác định giữ rừng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và thường xuyên nên dù mới thành lập, nhưng Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện thực hiện nhiều giải pháp tăng cường công tác bảo vệ rừng. Đồng thời, ban hành nhiều văn bản về quản lý, bảo vệ rừng, cấm khai thác và thu mua lâm sản trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, tiến hành rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất, giao rừng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện; tiếp tục thực hiện hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng theo Nghị quyết 30a. Lực lượng Kiểm lâm huyện tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn các hành vi khai thác mua bán lâm sản trái phép; phối hợp chặt chẽ với ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các xã xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng trong mùa khô hanh.
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm huyện luôn đề cao vai trò của lực lượng kiểm lâm địa bàn, bởi đây là lực lượng luôn bám sát cơ sở, địa bàn, là nòng cốt trong ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng ở cơ sở. Đồng thời tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng đến người dân; tổ chức thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo ứng trực 24/24 giờ trong những tháng mùa khô hanh.
Chia sẻ với chúng tôi, lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hạt Kiểm lâm huyện, đều cùng chung nhận định: Với huyện Nậm Pồ thì không nên trồng rừng, vì rất tốn kém mà không hiệu quả. Để phát triển vốn rừng, nên tập trung vào việc khoanh nuôi tái sinh; kinh phí trồng rừng nên chuyển sang dùng cho công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng thì sẽ hợp lý, phù hợp thực tế mà hiệu quả cao hơn.
Bởi khoanh nuôi tái sinh hiệu quả cao hơn nhiều so với trồng rừng mới. Trên thực tế, rừng trồng tại Nậm Pồ không đem lại hiệu quả, diện tích rừng trồng hầu như không còn. Năm 2015, huyện trồng gần 29ha rừng, chủ yếu tại xã Phìn Hồ, nhưng đến nay, có đến hơn 22ha phải trồng lại hoàn toàn vì 100% cây rừng trồng bị chết, hoặc bị trâu, bò phá hoại ngay sau khi trồng vài tuần.
Thực hiện Kế hoạch 388/KH-UBND của UBND tỉnh về việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cộng đồng thôn, bản, đến nay, huyện cơ bản hoàn thành việc giao đất giao rừng. Theo phương án và kế hoạch của UBND huyện Nậm Pồ, diện tích rừng giao cho các chủ rừng tại 15/15 xã là gần 53 nghìn héc ta, đến nay đã giao cho gần 130 chủ rừng.
Cùng với việc giao đất giao rừng, UBND huyện đã cấp 180 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng. Việc giao đất, giao rừng là căn cứ, cơ sở để các chủ rừng được nhận tiền từ chính sách dịch vụ môi trường rừng. Đầu năm 2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã chi trả đợt đầu tiên tiền dịch vụ môi trường rừng cho hơn 20 cộng đồng thôn, bản trên địa bàn 3 xã: Nà Khoa, Nậm Nhừ, Nà Hỳ; tổng diện tích được chi trả là trên 5.800ha với số tiền hơn 2 tỷ đồng.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã chi trả hết số tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2015 cho huyện Nậm Pồ, với tổng số tiền gần 15 tỷ đồng. Từ việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đã giúp người dân tăng thu nhập từ rừng và tự giác nâng cao ý thức, trách nhiệm trong bảo vệ rừng.
Thực tế, nhiệm vụ công tác quản lý và bảo vệ rừng ở Nậm Pồ không hề đơn giản, bên cạnh các biện pháp hành chính nhằm xử lý, răn đe các đối tượng xâm hại, chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái phép, thì việc tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng cũng được chính quyền các cấp và lực lượng chức năng huyện Nậm Pồ chú trọng. (Báo Điện Biên Phủ 12/10) đầu trang(
Rừng Tây Ninh có vị trí vô cùng quan trọng quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ biên giới và còn có giá trị rất lớn về cảnh quan môi trường, di tích lịch sử, văn hoá. Do đó, việc bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là vô cùng quan trọng.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tây Ninh hiện quy hoạch 71.400 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm tỷ lệ 17.7% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Trong đó, rừng đặc dụng 31.850 ha; rừng phòng hộ 29.555 ha và rừng sản xuất là 9.995 ha.
Hiện nay, rừng Tây Ninh được giao cho 4 Ban quản lý rừng, gồm Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát, Khu rừng Văn hóa lịch sử Chàng Riệc, Khu rừng Văn hóa lịch sử núi Bà, Khu rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng và một phần đất lâm nghiệp là rừng sản xuất do UBND huyện Châu Thành và UBND huyện Bến Cầu quản lý.
Trước năm 1993, mỗi năm, Tây Ninh khai thác rừng tự nhiên từ 5-10.000 m3, nhưng từ đó đến nay hoàn toàn đóng cửa rừng, không còn khai thác rừng tự nhiên, chỉ khai thác, tỉa cây phụ trợ rừng trồng cho các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng theo chính sách hưởng lợi của nhà nước. Hầu hết các lâm trường đã giải thể, chuyển sang các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ.
Các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ có nhiệm vụ khôi phục, phát triển rừng, trồng rừng theo chương trình 327 phủ xanh đất trống, đồi trọc và chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ.
Theo báo cáo của ông Mang Văn Thới- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh tại hội nghị báo cáo viên do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức vừa qua, Tây Ninh là một trong số rất ít tỉnh trong cả nước còn giữ được diện tích lớn rừng tự nhiên. Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Tây Ninh rất tốt, được trung ương đánh giá cao.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, rừng Tây Ninh hiện nay phần lớn là rừng thứ sinh, bởi do chiến tranh tàn phá và sau giải phóng bị khai thác trong nhiều năm. Hiện nay, chủ yếu là dạng rừng thưa khô, rừng hỗn giao tre nứa và gỗ, phân phối chủ yếu dọc biên giới giáp Campuchia, thượng nguồn sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, rừng phòng hộ Hồ Dầu Tiếng.
Ngoài ra, rừng ở Tây Ninh còn là vùng căn cứ địa cách mạng, có vai trò quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là các căn cứ: Trung ương Cục miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, núi Bà Đen…
Tây Ninh là vùng chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Bắc Tây Ninh và Tây Nguyên với đồng bằng sông Cửu Long, rừng Tây Ninh đa dạng sinh học với nhiều loài động thực vật đặc hữu. Do đó, ngoài vị trí, vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ biên giới, rừng Tây Ninh còn có giá trị rất lớn về cảnh quang môi trường, di tích lịch sử, văn hóa. Vì vậy, công tác bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Ninh, đặc biệt là rừng đặc dụng, phòng hộ là vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, do địa hình bằng phẳng, đường giao thông, đường sông lẫn đường bộ đều thuận lợi, nên các đối tượng xấu đã lợi dụng để xâm nhập vào rừng lấy cắp lâm sản, xâm hại rừng bằng nhiều cách…
Tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu có xu hướng diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở mức cao… cũng là nguyên nhân khiến cho công tác bảo vệ rừng ở Tây Ninh càng khó khăn hơn. Mùa khô 2015-2016 vừa qua, Tây Ninh xảy ra đến 63 vụ cháy rừng, với hơn 199 ha rừng tự nhiên, rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng và trảng cỏ khoanh nuôi. Dù vậy, phần lớn rừng đã phục hồi sau khi có mưa.
Bên cạnh đó, do diện tích tự nhiên đã sử dụng hết, trong khi đó dân số ngày càng tăng… nên nhu cầu về đất sản xuất cao, đã gây sức ép lớn vào rừng. Từ đó, tình trạng phá rừng để làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp sử dụng sai mục đích xảy ra thường xuyên. Chưa khi nào công tác quản lý bảo vệ rừng lại hết sức vất vả như hiện nay, trong khi lực lượng làm công tác bảo vệ rừng mỏng, phương tiện, cơ sở vật chất lại thiếu thốn…
Trong những năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, công tác bảo vệ và phát triển rừng của Tây Ninh, đạt một số kết quả quan trọng, rừng được bảo vệ ổn định và ngày càng phát triển về số lượng lẫn chất lượng.
Tính đến năm 2015, tổng diện tích đất có rừng tỉnh ta là 66.380ha, trong đó rừng tự nhiên 46.000 ha, rừng trồng 20.380 ha, độ che phủ đạt 16,2%.
Thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai doạn 2006-2020 của Chính phủ và Quy hoạch tổng thể của Tây Ninh đến năm 2020, định hướng phát triển của tỉnh là sử dụng hợp lý, hiệu quả quỹ đất dành cho lâm nghiệp khoảng 70.000 ha, đến năm 2020 đất có rừng chiếm 57.000 ha.
Để phát triển rừng bền vững, tỉnh Tây Ninh đã đặt ra các giải pháp thực hiện bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, gồm: tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của của nhân dân về vai trò của rừng để người dân tích cực tham gia vào công tác bảo vệ rừng, trồng rừng, phòng chống cháy rừng; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi phá rừng, lấn chiếm trái pháp luật đất lâm nghiệp;thực hiện nghiêm chủ trương đóng cửa rừng, không chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây cao su, cây công nghiệp; thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo ứng cứu kịp thời và hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra… (Báo Tây Ninh 12/10) đầu trang(
Những năm qua, để lưu lượng nước ở lòng hồ Thủy điện Rào Quán (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) ổn định cho việc khai thác điện năng, có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào Vân Kiều sống nơi thượng nguồn sông Rào Quán. Người dân ở đây đã nỗ lực gìn giữ, bảo vệ màu xanh cho những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn để góp phần điều tiết nguồn nước…
Chúng tôi theo ông Hồ Đình Tào, Chủ tịch UBND xã Hướng Sơn (huyện Hướng Hóa) tìm vào thôn Mới, địa bàn được giao quản lý và bảo vệ hơn 500 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Rào Quán. Trên quãng đường dẫn vào thôn Mới là những cánh rừng nối dài, xanh ngút tầm mắt. Từng nếp nhà sàn của đồng bào Vân Kiều ở thôn Mới dần hiện ra, nép mình dưới tán rừng trùng điệp.
Gặp chúng tôi, anh Hồ Văn Vương, Trưởng thôn Mới cho biết, anh cùng các thành viên trong Tổ quản lý và bảo vệ rừng thôn Mới vừa hoàn thành chuyến thăm rừng dài gần một tuần lễ và trở về nhà ngay chiều hôm qua. Tin vui mà nhóm thăm rừng mang về cho bản làng lần này đó là diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn thôn Mới vẫn sinh trưởng tốt, không có dấu hiệu cho thấy việc xâm phạm, đốn hạ cây cối trong rừng…
Để quản lý tốt diện tích rừng phòng hộ nơi đầu nguồn Rào Quán, năm 2003 Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa tiến hành bàn giao hơn 500 ha rừng cho cộng đồng dân cư thôn Mới quản lý, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng. Theo đánh giá của cơ quan giao rừng thì hơn chục năm qua, người dân thôn Mới đã tích cực gìn giữ, bảo vệ tốt những cánh rừng đầu nguồn. Cho đến thời điểm này, Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa cũng chưa phát hiện vụ phá rừng nào nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn thôn Mới.
Nói về các biện pháp giữ rừng trên địa bàn, Trưởng thôn Mới Hồ Văn Vương cho hay: “Để bảo vệ có hiệu quả diện tích rừng phòng hộ ở đầu nguồn Rào Quán, cộng đồng dân cư thôn Mới đã thành lập tổ quản lý vào bảo vệ rừng gồm 15 thành viên, hầu hết là những người có sức khỏe, thanh niên trai tráng và có trách nhiệm với công việc. Mỗi tháng, chúng tôi tiến hành tuần rừng từ 2- 3 lần, các thành viên trong tổ chia thành 2 nhóm để giúp đỡ, tương trợ cho nhau giữa rừng sâu, núi thẳm. Song song với việc tuần tra, bảo vệ rừng, chúng tôi thường tổ chức các buổi họp thôn để tuyên truyền, vận động người dân không được xâm hại vào rừng và tích cực tố giác những hành vi làm ảnh hưởng đến rừng để có biện pháp răn đe, xử lý”.
Trưởng thôn Vương cho biết thêm, thôn Mới hiện có 48 hộ dân với 210 nhân khẩu. Trước đây ở thôn Mới có tập tục là ai tự ý xâm phạm, đốn hạ cây rừng trái phép thì sẽ bị xử lý theo lệ riêng của làng, cụ thể là nếu chặt một cây nhỏ thì phải cúng cho thôn một con heo. Chặt cây to, gỗ quý thì thôn phạt một con trâu. Cứ thế nhân lên, đốn bao nhiêu cây thì làng phạt bấy nhiêu con. Nhưng đến nay tập tục đó đã không còn được người dân áp dụng nữa. Thay vào đó là khi phát hiện các hành vi xâm phạm vào rừng, người dân thôn Mới sẽ báo cáo chính quyền xã Hướng Sơn và cán bộ kiểm lâm địa bàn để có biện pháp điều tra, xử lý.
Cũng tương tự như cộng đồng dân cư thôn Mới, thôn Làng Hồ (xã Hướng Sơn) được bàn giao quản lý, bảo vệ gần 400 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Rào Quán. Trưởng thôn Làng Hồ Hồ Văn Xanh cho biết, gần 400 ha rừng phòng hộ trên địa bàn được phân thành từng lô nhỏ, chia đều cho 60 hộ dân với 251 nhân khẩu sinh sống trong thôn gìn giữ và quản lý. Để công tác bảo vệ rừng có hiệu quả, thôn Làng Hồ cũng đã thành lập tổ quản lý và bảo vệ rừng gồm 11 thành viên, có nhiệm vụ tuần tra, theo dõi sự phát triển của toàn bộ diện tích rừng được giao.
“Những năm qua, nhờ việc bảo vệ tốt những cánh rừng đầu nguồn nên nguồn nước sinh hoạt ở thôn Làng Hồ luôn được đảm bảo. Không những thế, gần 20 ha lúa nước trên địa bàn luôn đủ nước để canh tác, mỗi năm người dân tiến hành gieo cấy 2 vụ, không để đất trống, đất hoang. Bởi nhận thấy lợi ích, vai trò thiết thực của hệ thống rừng đầu nguồn mang lại, nên hàng chục năm qua, người dân thôn Làng Hồ không ngừng chung tay gìn giữ và bảo vệ”, anh Hồ Văn Xanh chia sẻ.
Đang ngồi chuyện trò với anh Xanh thì già làng Hồ Văn Ngôn (60 tuổi) cùng một số người dân tìm đến. Nghe chúng tôi đề cập đến việc giữ rừng, sống chung với rừng của người dân Làng Hồ, già làng Hồ Văn Ngôn nói: “Trước đây, thông thường mỗi khi muốn làm nhà cửa, chuồng trại người dân Làng Hồ không cần xin phép ai cả, cứ tự nhiên vào rừng đốn hạ những cây gỗ to, vừa ý để mang về xây dựng. Nhưng chuyện đó hiện nay không còn xảy ra nữa. Bây giờ người dân Làng Hồ mỗi khi muốn làm nhà cửa, chuồng trại đều phải viết đơn xin làng. Nếu xét thấy nhu cầu đó là chính đáng, làng sẽ trình đơn lên UBND xã, Hạt Kiểm lâm huyện xin giải quyết. Nếu các cấp đồng ý thì người dân mới được đốn cây và làng sẽ cắt cử người đứng ra giám sát”.
Già làng Ngôn cho biết, cũng nhờ “quy trình” khắt khe đó nên những cánh rừng đầu nguồn Rào Quán được gìn giữ và bảo vệ tốt. Đến bây giờ, nhiều loài gỗ quý to bằng hai, ba vòng tay người lớn vẫn còn tồn tại, sinh trưởng tốt dưới sự bảo vệ của người dân Làng Hồ.
Bên cạnh đó, người đồng bào Vân Kiều nơi đây còn cho biết rất phấn khởi khi 3 năm nay, họ đã được hưởng số tiền khá lớn do Công ty Thủy điện Rào Quán chi trả cho chi phí dịch vụ môi trường rừng. Được biết, tùy theo lượng nước, điện lượng mỗi năm, một héc ta rừng đầu nguồn sông Rào Quán được trả phí từ khoảng 400- 500 ngàn đồng. Đây là nguồn động viên to lớn, giúp người dân làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ những cánh rừng đầu nguồn… (Báo Quảng Trị 12/10) đầu trang(
Liên quan đến vụ “Lâm tặc lột da Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô”( Ea Kar – Đắk Lắk) mà báo Tầm nhìn đã phản ánh.
Theo đó đây là vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng, lâm tặc cắt 29 cây gỗ hương bên nách kiểm lâm, vụ phá rừng đã diễn ra gần 7 tháng nhưng dư luận vẫn chưa hết nóng vì cơ quan chức năng chưa tìm ra đối tượng, trong lúc đó phía chi cục kiểm lâm Đắk Lắk mới đây đã chính thức có phản hồi cho báo chí sau hơn nữa năm rừng Ea Sô bị tàn sát.
Trong cuộc giao ban báo chí ngày 3/10/2016, đại diện báo Tầm Nhìn đã đưa vụ việc ra chất vấn một số vấn đề liên quan đến vụ chặt 29 cây gỗ hương này. Sau đó ông Kiều Thanh Hà (Chi cục phó chi cục kiểm lâm Đắk Lắk) hứa trước cuộc họp trong vòng 10 ngày có phản hồi cho báo.
Đến ngày 7/10, Chi cục kiểm lâm Đắk Lắk có công văn 914/KL-QLBVR-BTTN về việc khai thác gỗ trái phép ở Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô gửi báo Điện tử Tầm Nhìn.
Theo công văn này, vào ngày 22/03/2016, tại tiểu khu 637 thuộc Ban quản lý Khu BTTN Ea Sô phát hiện một vụ khai thác gỗ trái pháp luật. Do tính chất vụ vi phạm là nghiêm trọng; cùng ngày, Ban quản lý Khu BTTN Ea Sô có Công văn số 03/CV-BQL gởi Công an và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đề nghị phối hợp điều tra, xác minh làm rõ đối tượng chặt hạ gỗ trái phép trong rừng đặc dụng; đồng thời có văn bản Trưng cầu giám định Chi cục Kiểm lâm tỉnh về xác định vị trí, khối lượng và chủng loại gỗ bị khai thác trái phép.
Ngày 23/03/2016, Công an và VIện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar phối hợp Ban quản lý Khu BTTN Ea Sô đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định vị trí, số cây, chủng loại gỗ bị chặt hạ. Qua đó xác định có 22 cây gỗ Hương (nhóm IIA) bị chặt hạ trái phép lấy đi phần thân cây, đường kính gốc từ 22 – 23 cm.
Sau đó tổ kiểm tra của Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô tiến hành kiểm tra, mở rộng hiện trường đã phát hiện thêm 09 cây gỗ Hương bị chặt hạ trái phép gần khu vực khám nghiệm hiện trường ngày 23/03/2016 và có báo cáo số 19/BC-BQL ngày 29/03/2016 gởi Công an huyện Ea Kar.
Ngày 04/04/2016, Công an và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tổ chức khám nghiệm hiện trường khu vực phát hiện mới và xác định khu vực này cũng thuộc tiểu khu 637, hiện trường mới có 09 cây gỗ Hương bị chặt hạ, trong đó có 07 cây là chặt mới, 02 cây đã mọc chồi (đã khai thác từ lâu). Như vậy, tại tiểu khu 637 Khu BTTN Ea Sô có tổng số 29 cây gỗ Hương bị chặt hạ trái phép.
Theo Kết luận giám định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk ngày 27/03/2016 thì tại khu vực bị chặt hạ trái phép thuộc khoảnh 1, tiểu khu 637, Khu BTTN Ea Sô; tổng cộng có 29 cây gỗ Hương (nhóm IIA) bị chặt hạ trái phép, khối lượng thiệt hại là 6,065 m3 , trong đó gỗ đã bị lấy đi là 4,162 m3, số gỗ còn lại tại hiện trường khai thác là 1,903 m3.
Ngoài ra trong công văn này cũng cho biết: Sau khi phát hiện vụ việc trên, Khu BTTN Ea Sô chuyển toàn bộ hồ sơ có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đang điều tra xử lý.
Sau khi có kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar, Ban quản lý Khu BTTN Ea Sô sẽ tiến hành xử lý các cá nhân, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật.
Liên quan đến Khu bảo tồn này, Ngày 1/10/2016, Cơ quan công an huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã có lệnh bắt tạm giam khẩn cấp các đối tượng La O Y Lem (sinh 1999), Ha Ra Y Trang (sinh 1993) và Lê Mô Y Cường (sinh 1980), tất cả đều trú tại buôn Zô, xã Ea Ly, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên để điều tra, làm rõ hành vi chặt phá rừng xảy ra tại tiểu khu 622, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đắk Lắk.
Theo đó, vào khoảng 9 giờ, ngày 28/9/2016, trong lúc tuần tra tại tiểu khu 622, lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô(thuộc địa phận Ea Kar) đã phát hiện nhiều đối tượng đang có hành vi cắt, kéo gỗ trong rừng.
Trong lúc đang làm các đối tượng thấy bị phát hiện đã bỏ chạy. Còn lại La O Y Lem, Ha Ra Y Trang và Lê Mô Y Cường đã bị lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn bắt giữ.
Tại hiện trường, có 26 cây Giáng Hương (nhóm IIA) bị chặt hạ, toàn bộ số gỗ này được bóc thành 23 hộp gỗ, có khối lượng là 1,452 m3; 8 lóng gỗ xẻ thành hình lục giác, khối lượng 0,665 m3; khối lượng gỗ còn lại chưa xẻ là 5,714 m3. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại (quy tròn) tại hiện trường là 8,702 mét khối. Sau khi bị bắt giữ, hồ sơ và các đối tượng này đã được bàn giao cho Công an huyện Ea Kar điều tra làm rõ. (Tầm Nhìn 12/10) đầu trang(
Ngày 12-10, Công an huyện Minh Hóa đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đặng Quốc Thướng (SN 1970, ở thôn Đa Thịnh, xã Hóa Hợp, huyện Minh Hóa) về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Trước đó, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21-9, tại thôn Đa Năng, xã Hóa Hợp, huyện Minh Hóa, đối tượng Đinh Tưởng (SN 1983, trú tại xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa) điều khiển xe ô tô BKS 73B-002.01 đang chở gỗ lậu đến thôn Đa Năng thì bị lực lượng Kiểm lâm cơ động số 2 thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng phát hiện và ra tín hiệu đón, dừng xe.
Tuy nhiên, Tưởng không dừng mà nhấn ga bỏ chạy và tông vào đuôi xe của lực lượng Kiểm lâm đang làm nhiệm vụ khiến xe của Tưởng bị nghiêng xuống bờ ruộng. Sau đó, Tưởng đã nhờ đối tượng Đặng Quốc Thướng hô hét người dân làm đồng và các đối tượng khác đến đe dọa lực lượng Kiểm lâm và xả gỗ xuống tẩu tán, đồng thời kéo xe lên khỏi bờ để Tưởng điều khiển xe chạy trốn.
Qua quá trình điều tra bước đầu, Công an huyện Minh Hóa đã xác định 5 đối tượng, gồm: Đinh Tưởng, Đặng Quốc Thướng, Đặng Trung Thông, Đinh Thanh Tâm và Đinh Xuân Hương đã có hành vi cản trở, chống đối lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ.
Với tội danh "Chống người thi hành công vụ", đối tượng Đặng Quốc Thướng đã bị lực lượng chức năng cấm đi khỏi nơi cư trú. Riêng các đối tượng còn lại liên quan đến vụ việc, cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Quảng Bình 12/10) đầu trang(
Ngày 12.10, Công an H.Ngọc Hồi (Kon Tum) bắt khẩn cấp, tạm giam Đỗ Ngọc Hà và Bùi Xuân Lợi để điều tra làm rõ hành vi chặn, chiếm đoạt ô tô tải là tang vật chở gỗ vi phạm.
Theo thông tin ban đầu, ngày 7.10, khi ngành chức năng của huyện này áp tải ô tô 82C-016.12 chở gỗ vi phạm bị phát hiện ở tiểu khu 171 về Hạt kiểm lâm H.Ngọc Hồi để xử lý thì Hà (33 tuổi), Lợi (29 tuổi, cùng ở H.Ngọc Hồi) cùng một số người đã chặn xe và cướp chiếc ô tô tải chở gỗ vi phạm.
Khám xét nhà của 2 nghi phạm, công an phát hiện, thu giữ các loại vũ khí giống như súng, 1 quả lựu đạn, 8 viên đạn cùng 4 gói chất rắn nghi là ma túy. (Thanh Niên 13/10) đầu trang(
Ngày 11/10, Đội Quản lý Thị trường số 8 Yên Châu phối hợp với Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, đã phát hiện một đối tượng vận chuyển lâm sản trái pháp luật, tịch thu 270 khúc gỗ tròn là thớt nghiến, số lượng hơn 0,6m3.
Theo đó, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra xe ô tô khách biển kiểm soát 27B - 00.274 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Xây dựng số 6, địa chỉ tổ 23, phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên, đại diện Công ty là ông Vũ Duy Thắng.
Tại thời điểm kiểm tra, Tổ công tác đã phát hiện trên phương tiện, có vận chuyển 270 khúc gỗ tròn không có hồ sơ lâm sản hợp pháp. Đoàn đã lập biên bản vi phạm và ra Quyết định xử phạt hành chính 10 triệu đồng; đồng thời, tịch thu 270 khúc gỗ tròn là thớt nghiến có số lượng 0,666 m3. (Tài Nguyên Và Môi Trường 12/10) đầu trang(
Chiều 11-10, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị công bố Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh An Giang đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; lãnh đạo các đơn vị thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; lãnh đạo phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện. Đồng chí Võ Hùng Dũng, Phó Giám Đốc Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì hội nghị.
Mục tiêu của quy hoạch tài nguyên nước nhằm phân bổ hài hòa, hợp lý trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước; Phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra góp phần chủ động thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, việc khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kông, bảo đảm an ninh về nước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang theo hướng bền vững; Và mục tiêu của quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học là nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đặc thù hiện có trên địa bàn trước tác động của phát triển kinh tế, xã hội; bảo vệ môi trường sinh sống của các loài động vật hoang dã thông qua việc bảo vệ các sinh vật cảnh, hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên; nâng cao công tác quản lý đa dạng sinh học và an toàn sinh học; bảo tồn các loài thực vật quý hiếm, cây dược liệu và giống cây ăn trái đặc hữu;…
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Võ Hùng Dũng đề nghị đại biểu các địa phương và sở, ngành liên quan tham mưu cấp ủy đảng, chính quyền và thủ trưởng đơn vị phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong quản lý, bảo tồn nguồn nước và đa dạng sinh học và an toàn sinh học. Đồng thời triển khai các nhiệm vụ, giải pháp theo chức năng, nhiệm vụ của từng ngành và địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh An Giang 12/10) đầu trang(
Chiều 11/10/2016, UBND tỉnh, Viện sinh học nhiệt đới (Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Sở Tài nguyên, Môi trường tổ chức hội nghị công bố “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2015- 2020, định hướng đến năm 2030”.
Mục tiêu của quy hoạch là nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đặc thù hiện có trên địa bàn trước tác động của phát triển kinh tế, xã hội; bảo vệ môi trường sinh sống của các loài động vật hoang dã thông qua việc bảo vệ các sinh vật cảnh, hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên; nâng cao công tác quản lý đa dạng sinh học và an toàn sinh học; bảo tồn các loài thực vật quý hiếm, cây dược liệu và giống cây ăn trái đặc hữu;…
Từ nay đến năm 2020, ưu tiên bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững hành lang sông Cổ Chiên, sông Hậu, sông Mang Thít và 3 cù lao (An Bình, Thanh Bình- Qưới Thiện, Lục Sĩ Thành- Phú Thành); bảo vệ cảnh quan và sử dụng bền vững hệ sinh thái cù lao Lục Sĩ Thành- Phú Thành và Thanh Bình- Qưới Thiện; phát triển 2- 3 loài gỗ có giá trị bảo tồn, bảo vệ môi trường ở các kênh rạch nội thi; xây dựng 1 cơ sở bảo tồn cây thuốc, 1 cơ sở bảo tồn chim Vạc; xây dựng 2 khu bảo tồn thuộc loại hình khu bảo tồn oài sinh vật cảnh trên sông Cổ Chiên và sông Hậu…
Đến năm 2030, sẽ hoàn thiện xây dựng 1 cơ sở bảo tồn lúa nước ĐBSCL; 50% diện tích vườn cây ăn trái áp dụng quy trình sản xuất sạch và thân thiện môi trường; thành lập mới 2 khu bảo tồn loài và sinh cảnh cấp tỉnh; giải quyết từng bước kế sinh nhai cho người dân;…
“Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2015- 2020, định hướng đến năm 2030” cũng đưa ra các chương trình, dự án thực hiện với tổng kinh phí trên 48 tỷ đồng. (Báo Vĩnh Long 11/10) đầu trang(
Hàng năm từ tháng 5 đến tháng 10 có trên 400 Rùa mẹ lên các bãi cát thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo làm tổ, đẻ trứng; có trên 150.000 Rùa con được cứu hộ và thả về biển, tỷ lệ trứng nở thành công đạt tới 87%. Vào mùa cao điểm, ở một số bãi biển lớn như Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre lớn mỗi đêm có 10-20 Rùa mẹ lên làm tổ.
Vườn quốc gia Côn Đảo được thành lập năm 1993, thuộc hệ thống rừng đặc dụng, là 1 trong 30 Vườn quốc gia của Việt Nam. Vườn quốc gia Côn Đảo có diện tích gần 20.000 hecta trong đó 6.000 hecta trên cạn và 14.000 hecta biển, có tọa độ địa lý: Từ 106031’ đến 106045’ kinh độ Đông; Từ 8034’ đến 8049’ vĩ độ Bắc. Vườn quốc gia Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách Bà Rịa – Vũng Tàu 97 hải lý về phía Đông Nam.
Các tổ chức khoa học trong và ngoài nước đã đánh giá Vườn quốc gia Côn Đảo là Vườn có tiềm năng đa dạng sinh học cao, các hệ sinh thái phong phú, có nhiều loại động thực, vật quý hiếm, đặc hữu là nơi có ý nghĩa quan trọng toàn cầu về sinh vật biển, sinh cảnh trên cạn. Côn Đảo là khu vực ưu tiên mang tầm quốc gia và quốc tế trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học.
Côn Đảo là 1 trong 16 khu Bảo tồn biển đã được quy hoạch theo Quyết định 45/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Côn Đảo đã được xếp là khu vực ưu tiên để phát triển du lịch của Việt Nam. Vườn quốc gia Côn Đảo được công nhận là khu Ramsar thứ 2203 của thế giới và khu Ramsar biển đầu tiên của Việt Nam.
Tạp chí New York Times (11/2010) đã nhận xét Côn Đảo là một trong những điểm đến ấn tượng nhất Đông Nam Á, hai năm liền (2011 – 2012), tạp chí du lịch nổi tiếng thế giới Lonely Planet (Anh) đã bầu chọn Côn Đảo là 1 trong 10 hòn đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới để hưởng một kỳ nghỉ lãng mạn.
Vườn quốc gia Côn Đảo có 14 bãi biển Rùa lên đẻ trứng với tổng diện tích lên đến hàng chục ngàn m2. Một số bãi đẻ của Rùa có diện tích lớn như: bãi cát lớn đảo Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Tre Lớn, Hòn Tài, bãi Dương Hòn Bảy Cạnh. Hiện tại, 5 bãi lớn này được bố trí 5 Trạm Kiểm lâm để làm nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn Rùa biển. Mỗi Trạm kiểm lâm có từ 5 -8 kiểm lâm viên canh giữ.
Hàng năm từ tháng 5 đến tháng 10 có trên 400 Rùa mẹ lên các bãi cát thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo làm tổ, đẻ trứng; có trên 150.000 Rùa con được cứu hộ và thả về biển, tỷ lệ trứng nở thành công đạt tới 87%. Vào mùa cao điểm, ở một số bãi biển lớn như Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre lớn mỗi đêm có 10-20 Rùa mẹ lên làm tổ.
Để thực hiện công tác quản lý, bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo, BQL Rừng cấm Côn Đảo đã có đề án củng cố xây dựng các Trạm kiểm lâm, đặc biệt ưu tiên thành lập các Trạm kiểm lâm tại các đảo nhỏ có tầm quan trọng về sinh thái, đa dạng sinh học và có rùa biển sinh đẻ.
Việc triển khai các Trạm kiểm lâm ở các đảo nhỏ là một nỗ lực rất lớn của các đơn vị và các kiểm lâm viên với mục tiêu trước hết là ngăn chặn sự xâm nhập bất hợp pháp, khai thác trái phép rùa biển tại các đảo nhỏ, là một định hướng chiến lược có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên nói chung, bảo tồn tài nguyên biển, rùa biển tạo Côn Đảo cho đến ngày nay.
Địa điểm nghiên cứu đầu tiên về rùa biển tại Côn Đảo được diễn ra tại bãi cát lớn Hòn Bảy cạnh vào năm 1990, sau đó tại Hòn Cau, Hòn Tre lớn, Hòn Tài, bãi Dương; được thực hiện bởi các cán bộ khoa học và các kiểm lâm viên tại các đơn vị với phương châm “vừa nghiên cứu, vừa triển khai” trong bối cảnh: không có chuyên môn, không có tư liệu về rùa biển, không có sự hướng dẫn, hỗ trợ của các cơ quan khoa học trong và ngoài nước.
Trong hoàn cảnh như vậy, sự nỗ lực của các cán bộ khoa học và nhân viên kiểm lâm ở các đảo là những đóng góp “thầm lặng” rất đáng được trân trọng trong khoa học và lúc bấy giờ đã thực hiện rất tốt các nhiệm vụ: Ngăn chặn cơ bản tình trạng săn bắt trộm rùa biển tại các đảo nhỏ;Ghi nhận các thông tin quan trọng về: tập tính sinh đẻ, mùa đẻ trứng của rùa mẹ, các hoạt động làm tổ trên bãi cát của rùa biển.
Đến năm 1995, Vườn quốc gia Côn Đảo đã đề xuất và được Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới tại Việt Nam – World Wildlife Fund (WWF) đồng ý tài trợ ngân sách thực hiện dự án “Bảo tồn và cứu hộ rùa biển tại Côn Đảo”; tiếp theo đó vào năm 1996, tổ chức WWF đồng ý đề xuất và tiếp tục tài trợ ngân sách cho 08 cán bộ được tham gia khóa đào tạo và tham quan về bảo tồn biển, bảo tồn rùa biển tại Philippine, Malaisia.
Có thể nói đây là những sáng kiến, dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn các hệ sinh thái biển, bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo mà Vườn quốc gia Côn Đảo đã nỗ lực thực hiện. Từ đó, công tác bảo tồn biển, bảo tồn rùa biển tại Vườn quốc gia Côn Đảo được tổ chức thực hiện một cách khoa học, bài bản hơn và được nhiều tổ chức khoa học, bảo tồn trong nước, quốc tế chú ý, quan tâm hỗ trợ về nhiều mặt.
Một số nghiên cứu đã được thực hiện thời gian qua có thể kể đến như: Đeo thẻ cho rùa mẹ; Cứu hộ trứng rùa biển; Đeo máy theo dõi qua vệ tinh đã được thực hiện năm 2001, 2006 và 2008; Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ trong tổ trứng đến giới tính của rùa con; Triển khai chương trình nghiên cứu sự tác động của biến đổi bờ biển đến sự sinh sản của rùa biển và nghiên cứu cấu trúc ADN của quần thể rùa biển tại Côn Đảo vào năm 2010
Một số hoạt động hỗ trợ cho công tác bảo tồn rùa biển như tuyên truyền giáo dục, tập huấn chuyên môn, quan hệ quốc tế… cũng được tổ chức. Nhờ đó, công tác bảo tồn Rùa biển ở Vườn quốc gia Côn Đảo đã đạt được hiệu quả cao. Hiện nay, số lượng Rùa biển lên bãi đẻ trứng ở Côn Đảo chiếm trên 85% số Rùa về đẻ ở vùng biển Việt Nam. Đặc biệt, quần thể Rùa xanh về đẻ trứng tại Côn Đảo là một trong những quần thể Rùa xanh lớn của khu vực Đông Nam Á.
Qua hơn 20 năm nỗ lực quản lý, nghiên cứu, bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo đã đạt được những thành quả như sau:
Bảo tồn sinh cảnh đẻ trứng của Rùa Xanh – Chelonya mydas), Đồi Mồi (Eremochelys imbricate) tại Côn Đảo. Hiện nay, tại Vườn quốc gia Côn Đảo có 14 bãi biển có Rùa lên đẻ trứng với tổng diện tích các bãi đẻ trên 20.000 m2. Một số bãi đẻ của rùa biển có diện tích lớn như bãi cát lớn đảo Bảy Cạnh, bãi cát lớn Hòn Cau, bãi cát lớn Hòn Tre Lớn, bãi cát Hòn Tài, bãi Dương hòn Bảy Cạnh.
Ban quản lý Vườn quốc gai Côn Đảo đã chia sẻ kinh nghiệm bảo tồn rùa biển cho nhiều địa phương trong cả nước như Phú Quốc (Kiên Giang); Núi Chúa (Ninh Thuận), Phú Quý, Hòn Cau (Bình Thuận); Sơn Trà (Đà Nẵng); Bái Tử Long, Vân Đồn (Quảng Ninh), Cồn Cỏ (Quảng Trị)….
Kết quả các nghiên cứu nói trên là những dữ liệu quan trọng phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn rùa biển không những tại Côn Đảo mà còn có giá trị trong cả nước. Có thể nói Vườn quốc gia Côn Đảo là nơi đầu tiên của Việt Nam thực hiện thành công và hiệu quả nhất về chương trình bảo tồn và cứu hộ rùa biển, đóng góp rất quan trọng trong
Chiến lược hành động đa dạng sinh học của quốc gia và khu vực. Ghi nhận những thành công và đóng góp quan trọng đó, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã hai lần xác lập kỷ lục cho Vườn quốc gia Côn Đảo vào năm 2009: Nơi nuôi ấp và thả về tự nhiên nhiều rùa biển nhất Việt Nam; Vườn quốc gia duy nhất ở Bà Rịa – Vũng Tàu có đầy đủ các dạng sinh thái. (Biên Giới Lãnh Thổ 12/10) đầu trang(
Vườn quốc gia Phước Bình (xã Phước Bình, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận) cách thành phố Phan Rang-Tháp Chàm 65km về phía Tây Bắc.
Ngoài cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, nơi đây còn nổi tiếng với những điểm tham quan du lịch sinh thái như Vườn thực vật, thác Đá Bàn, thác Gia Non, thác Đá Đen, suối Gia Nhông, hầm Xe lửa...
Ông Phạm Ngọc Hoàn, Giám đốc Trung tâm giáo dục Môi trường và Dịch vụ Môi trường rừng Vườn quốc gia Phước Bình, cho biết Vườn quốc gia Phước Bình có sự đa dạng sinh học cao, với 1.321 loài thực vật, trong đó có tới 75 loài thực vật quý hiếm, 36 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 58 loài được ghi trong danh lục đỏ thế giới (IUCN).
Với khoảng 327 loài động vật có xương sống trên cạn, trong đó 50 loài trong sách đỏ Việt Nam và 29 loài ghi trong danh lục đỏ IUCN.
Hiện tại, Vườn quốc gia Phước Bình được công nhận là một trong 63 vùng chim quan trọng của Việt Nam. Ngoài ra, Vườn quốc gia Phước Bình được đánh giá là nơi có số lượng quần thể bò tót, nai lớn nhất Việt Nam.
Năm 2015, Vườn quốc gia Phước Bình đón tiếp 1.100 lượt khách, chủ yếu là các đoàn nghiên cứu trong nước và quốc tế, sinh viên, học sinh tới tham quan, nghiên cứu. “Chúng tôi phát triển du lịch sinh thái dựa trên các thế mạnh về rừng, cộng đồng bản địa kết hợp các tour, tuyến du lịch khác trong tỉnh, đã tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn, mang tính đặc thù riêng của Vườn quốc gia Phước Bình,” ông Hoàn chia sẻ.
Vườn quốc gia Phước Bình hiện tổ chức nhiều hoạt động du lịch sinh thái-cộng đồng thu hút du khách như tham quan rừng nguyên sinh, tắm nước suối trong xanh; du thuyền trên suối ngắm cảnh; đi bộ trong rừng quan sát một số loài linh trưởng, bướm và tìm hiểu nhiều cây thuốc quý, đặc biệt là mật nhân, cao khai, lan rừng với sự hướng dẫn của người dân bản địa.
Sau khi tham quan, du khách có thể lưu trú, nghỉ dưỡng ngay tại cơ sở lưu trú của Vườn quốc gia hoặc có thể ngủ qua đêm tại nhà sàn của đồng bào; thưởng thức các món ăn địa phương đặc sắc như heo đen ống tre, các món mướp đắng rừng, gà nướng, cơm lam, nho Phan Rang nổi tiếng; đồng thời tìm hiểu các hoạt động sản xuất, đời sống văn hóa của hai tộc người Churu và Raglay.
Ông Nguyễn Công Vân, Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình, chia sẻ việc phát triển du lịch luôn phải đi đôi với mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên môi trường.
Chính vì vậy, trong nhiều hoạt động du lịch, Vườn quốc gia luôn chú trọng tạo lập sinh kế cho cộng đồng địa phương, tạo điều kiện để những người dân bản địa tham gia hướng dẫn các tour sinh thái-văn hóa-lịch sử, trải nghiệm văn hóa cộng đồng; đồng thời liên kết với doanh nghiệp tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ của đồng bào Churu và Raglay, bảo tồn và phát triển nghề làm thuốc giúp nâng cao đời sống kinh tế của bà con dân tộc trong vùng đệm của Vườn quốc gia Phước Bình. (Vietnam + 13/10) đầu trang(
Những con bò tót lui vào kiếm ăn trong rừng sâu, thi thoảng lại bất chợt xuất hiện phá rẫy dân làng.
Gần đây, tại khu vực rừng Mã Đà, thuộc huyện Đồng Phú thường có bò tót xuất hiện. Đó là những con bò tót thân hình lực lưỡng, bụng thon, cặp sừng cong đều, nhọn hoắt và sắc bóng. Rất hiếm khi gặp được đàn bò tót, phần vì còn rất ít, phần vì sự can thiệp của con người đã khiến bò lui vào rừng sâu.
Theo anh Trần Đức Lý (SN 1974, ngụ xã Tân Lợi, huyện Đồng Phú): “Tôi sống ở đây đã 20 năm. Trước thì nhiều, sau này lâu mới thấy. Mỗi khi đàn bò xuất hiện thì rẫy bị phá tan tác. Bò rất hung dữ nên chẳng ai dám tới gần. Gặp được chúng cũng rất hiếm nên muốn phải kiên trì theo dõi. Giống bò này rất thính tai, nghe động là di chuyển vào sâu”
Theo chân anh Lý, may mắn trong chuyến công tác mới đây, phóng viên đã tận mắt chứng kiến, chộp được hình ảnh về đàn bò tót này. (Tầm Nhìn 12/10) đầu trang(
Về xã Phước Bình, vùng đất anh hùng của huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, nơi xưa kia từng có những đàn bò tót lên đến vài trăm con, tôi được nghe khá nhiều những giai thoại về con k’vay, tên đồng bào Raglai gọi con bò tót.
Và không khỏi tiếc nuối khi nhân vật làm nên những giai thoại này đã bị giết hại đến 90%. Bây giờ, việc được nhìn thấy bò tót rừng khó vô cùng.
Biết tôi muốn đi Vườn quốc gia Phước Bình, anh bạn tôi ở TP Phan Rang cho biết: “Rất tiếc là tôi đang bận việc, không đưa ông đi được. Ông lấy xe máy của tôi tự đi vậy”. Khi tôi vừa nổ máy xe, anh dặn tiếp: “Đến ngã 3 quốc lộ 27 nhớ đổ đầy xăng, coi chừng hết xăng giữa đường thì chỉ có khóc, không dắt bộ nổi đâu”.
Con đường từ ngã 3 quốc lộ 27B đến xã Phước Bình dài 32 cây số. Mặc dù là đường nhựa, nhưng phần lớn là đèo, dốc, nhiều đoạn cua khuỷu tay khá nguy hiểm. Vì thế, mãi đến lúc mặt trời đứng bóng, tôi mới đến trụ sở Vườn quốc gia Phước Bình, sát bên cạnh là Hạt Kiểm lâm Bác Ái. Khu nhà nằm trên một triền đồi cao. Từ vị trí này, có thể bao quát một vùng rừng khá rộng trước mặt.
Có lẽ đang giờ nghỉ trưa nên dạo hết các phòng ở Hạt Kiểm lâm mà không gặp ai, tôi đành quay quay ra hỏi thăm. Và thật may mắn khi người tôi hỏi thăm, tên Chamale Thu, người bản địa, là một cựu binh, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và khá rành chuyện bò tót.
Ông Chamale Thu kể: “Hồi còn kháng chiến, vùng này nhiều k’vay lắm. Đi vào rừng một hồi là thấy chúng. Nhiều đến mức có thể thấy chúng từ cách xa cả cây số, vì đàn cả trăm con, khi chúng di chuyển là nghe rầm rầm, nguyên đám cây rừng rung chuyển, xào xạc theo.
Chỉ cần một cơn gió thôi là nghe mùi nước tiểu, mùi hôi nồng nặc. Một đàn bò có khi lên đến cả 5 - 7 chục con, chúng đi tời đâu là những cây rừng nhỏ rạp hết. Hồi tôi còn nhỏ, mấy tay thợ săn ai cũng có cây kèn motova làm từ sừng k’vay. Nhưng không phải bắn chúng vô tội vạ như sau này đâu, mà khi già làng cho phép mới vào rừng săn chúng. Sau đó về chia chung cả làng ăn.
Hoặc con nào phá rẫy quá thì mới bắn hạ chúng. Vì chúng rất dữ, nếu không có kinh nghiệm, dễ bị chúng tấn công mất mạng nên làng cấm. Những toán thợ săn giỏi mới dám đối mặt với chúng đương đầu”.
Ngừng giây lát, ông kể tiếp: Cách đây khoảng 30 năm, người ta đổ xô vào phá rừng, săn thú. Riêng thịt k’vay bán tràn lan. Người từ các nơi tìm đến mua mật, sừng, da k'vay. Thế là đàn thu cứ ít dần”.
Tôi hỏi: “Thế còn chuyện con k’vay trả thù người đi săn, có không chú?”. Ông đáp: “Tôi nghe kể là người dân đi rừng, thấy một thợ săn chết trong rừng, trên người chẳng có giấy tờ tùy thân nên không biết ở đâu. Hồi đó việc liên lạc còn khó khăn chứ không phải như bây giờ nên người ta đào mộ chôn ngay tại đó. Mấy ngày sau, đi ngang ngôi mộ thì thấy nấm đất gần như bị san phẳng, cây cối đổ ngả nghiêng, xung quanh chi chít dấu chân k’vay. Người ta bảo do anh ta chuyên đi săn k’vay nên lúc chết bị trả thù. Chuyện này tôi không chứng kiến, chỉ nghe thôi”.
Chamale Thu bảo, k’vay là loài thú không chỉ cực khỏe mà còn hung dữ không kém cọp. Khi bị tấn công, dù gục xuống rồi nhưng nếu còn sống nó sẽ còn phản kháng. Đây chính là lý do người dân bản địa xưa ít săn bắn nó và bị làng cấm.
Chiều muộn, tôi quay ra gặp ông Nguyễn Công Vân, Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình. Là người có mấy chục năm bám rừng, nghe tôi hỏi chuyện bò tót, ông nói giọng buồn buồn: “Hơn 20 năm trước, mỗi sáng đi tuần rừng đều thấy chi chít dấu chân bò.
Thời đó bò tót chưa đưa vô "Sách đỏ", quản lý cũng còn lỏng lẻo nên thợ săn cứ bắn rồi đem ra cửa rừng xẻ thịt bán rẻ như cho. Đến khi Nhà nước làm căng, ráo riết bảo vệ, đàn bò tót không cò bị giết nữa, thì chỉ còn vài chục con”.
Ông Vân bảo, bò tót là loài thú hung dữ nhưng chúng vẫn sợ con người. Dù mạnh đến dâu, dữ đến đâu, nhưng cứ ra khỏi rừng là bị con người diệt.
Bò tót cũng như nhiều loài thú khác, là kiếm ăn vào ban ngày, nhưng bây giờ chúng phải chuyển sang kiếm ăn vào ban đêm. Rừng nguyên sinh đúng nghĩa gần như không còn, đâu đâu cũng có dấu chân người, nên buộc chúng phải thay đổi tập tính.
Trong khi ở khu vực Ninh Thuận, bò tót bị tận diệt vì thợ săn thì ở khu vực rừng Đồng Phú, Bình Phước, đàn bò tót không chỉ từng bị săn bắn, mà số lượng cá thể ít ỏi còn lại bị thu hẹp đất sống.
Con sông Mã Đà nằm giữa rừng Mã Đà, ngăn giữa huyện Đồng Phú, Bình Phước và huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai, đang mùa mưa, dòng nước đục ngầu, cuồn cuộn chảy.
Anh Trần Đức Lý, người dẫn đường cho tôi, giải thích: “Hồi xưa tôi tắm trên con sông này hoài tôi biết, nước rất trong, dù có mưa lũ về hay không. Còn bây giờ cứ mưa xuống là nước có màu đỏ vậy đó. Theo tôi là do diện tích rừng già tự nhiên xưa đã bị khai tử, thay vào đó là cao su. Rừng cao su vốn không làm tốt chức năng giữ và ngăn rửa trôi đất, lại thường được làm vệ sinh, dọn cỏ, cày xới, khiến mỗi khi mưa xuống, phần đất mặt lại cuốn xuống sông”.
Bên cạnh việc thu hẹp diện tích rừng, con người cũng lấn sâu vào những khoảnh rừng đã được chuyển đổi thành đất làm kinh tế. Chính vì thế, ngôi nhà của bò tót đang bị con người chiếm dần.
Một kiểm lâm viên ở Hạt Kiểm lâm Đồng Phú cho biết, xưa kia rừng Mã Đà liền khoảnh giữa Đồng Nai và Bình Phước, giữa 2 bên sông là một khu sinh cảnh rộng và đồng nhất. Bò tót cứ thế vượt sông Mã Đà qua lại.
Còn bây giờ, rừng tự nhiên phía Bình Phước đã bị thay bằng cao su nên bò tót không dám vượt sông nữa. Đàn bò tót bị tách thành 2, sống giữa 2 tỉnh. Đúng như lời anh kiểm lâm viên nói, trong khi rừng bên bờ sông Mã Đà phía Đồng Nai nhìn bên ngoài còn khá thâm u, xanh đều, thì ngược lại, phía Bình Phước là ngút ngàn cao su, rừng tự nhiên chỉ còn lốm đốm da beo xen cao su. Những con đường khá rộng được mở luồn trong lô cao su, ra đến bờ sông để làm nhiệm vụ vận chuyển.
Anh nói: “Hồi xưa riêng địa bàn xã Tân Lợi có hơn 1.000ha rừng tự nhiên, là nơi sinh sống của bò tót, nay rừng này đã được trồng cao su. Số rừng còn lại cũng bị chia nhỏ thành từng khoảnh xen vườn cao su nên bây giờ hiếm lắm mới thấy dấu chân bò tót”. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/10) đầu trang(
Tại xã Chu Trinh, thành phố Cao Bằng, Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh đang làm nhiệm vụ đã bắt quả tang Vũ Quý Bình, trú tại tổ dân phố 9, thị trấn Đắc Hà, huyện Đắc Hà, tỉnh Kom Tum có hành vi vận chuyển xương động vật hoang dã đi tiêu thụ.
Tang vật thu giữ gồm 20 bộ xương động vật đã được xấy khô, bốc mùi hôi thối. Toàn bộ lô hàng trên không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Qua kết quả giám định của cơ quan chức năng kết luận: Đây là loài Voọc trà vá chân xám - loại động vật hoang dã danh mục thuộc loại nguy cấp quý hiếm, ưu tiên bảo vệ, quy định tại Nghị định 160 ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Hiện phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh đã hoàn tất hồ sơ ban đầu chuyển Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh toàn bộ lô hàng xương động vật hoang dã nói trên điều tra và xử lý Vũ Quý Bình theo quy định của pháp luật. (ANTV 12/10) đầu trang(
Chiều 12-10, Phan Anh chia sẻ với Tuổi Trẻ về quyết định xuống tóc tại Châu Phi của mình:
"Trải nghiệm những ngày ở Châu Phi khiến tôi muốn làm một điều gì đó trước tiên là để nhắc nhở chính mình, vì tôi biết rằng, có thể thời gian và bộn bề công việc sẽ khiến đôi lúc mình xao lãng đi những ý nghĩa của hành trình này.
Khi tận mắt được thấy những sợi bong tróc trên sừng chú tê giác, chẳng khác gì móng tay, chẳng khác gì tóc của mình thì hình ảnh những con tê giác bị bắn chết, bị cưa nát mặt để lấy sừng làm tôi thấy đau xót vì sự dã man và mông muội đó.
Đau hơn nữa là có người bản địa đánh đồng rằng Việt Nam là nguyên nhân khiến tê giác thế giới đi đến nguy cơ tuyệt chủng.
Lúc đó, bên cạnh Sudan, cá thể tê giác đực trắng miền Bắc duy nhất còn lại trên thế giới, tôi chỉ như muốn nói "này anh bạn, tôi xin chia sẻ cùng anh, mái tóc này tôi cũng sẵn sàng bỏ đi mãi mãi nếu như nó giúp gì cho đồng loại của anh có cơ hội ở lại cùng với loài người".
MC Phan Anh cho biết thêm phản ứng của người thân khi thấy anh xuống tóc: "Các con tôi rất bất ngờ và cũng thích thú với hình ảnh này. Ở trường, tụi trẻ có được dạy về tê giác nên rất hào hứng, đặc biệt con gái tôi.
Bảo Anh lớn rồi và hiểu chuyện, điều tuyệt vời nhất là tối qua khi tôi đi đón con về từ buổi tập đồng diễn với các bạn, con có thì thào: mấy bạn nam bảo bố biết cắt tóc không đẹp mà vẫn cắt để bảo vệ tê giác.
Đó là điều giá trị nhất! Cho các con tôi! Cho một tương lai với niềm tin và kỳ vọng thật nhiều điều tốt đẹp cho chúng. Chúng xứng đáng được hưởng và có quyền được hưởng".
Trước Phan Anh, ca sĩ Hồng Nhung, Thu Minh, Thanh Bùi, Hà Anh Tuấn... từng có dịp sang Châu Phi và kêu gọi bảo vệ loài động vật hoang dã tê giác.
Tháng 4-2014, ca sĩ Thu Minh và Thanh Bùi có chuyến thăm Nam Phi để chứng kiến nỗ lực bảo tồn tê giác và những tác động của cuộc khủng hoảng săn trộm tê giác ở đây.
Tháng 7-2015, ca sĩ Thanh Bùi có chuyến đi cùng 22 bạn trẻ Việt Nam đến thăm vùng đất Châu Phi để tiếp tục thực hiện chiến dịch tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã.
Tháng 9-2015, trong chuyến đi với vai trò đại sứ bảo vệ tê giác của tổ chức Rhinose Foundation, Hà Anh Tuấn cùng với ca sĩ Hồng Nhung có những trải nghiệm ý nghĩa để tìm hiểu tận mắt cuộc sống nơi hoang dã của những chú tê giác đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, nhằm có những kế hoạch hành động thiết thực hơn trong việc bảo vệ chúng.
Tháng 6-2016, Thu Minh vinh dự được quyền tiếp quản việc đưa chú tê giác cái Eliska từ sở thú Dvur Kralove (CH Czech) đến Vườn quốc gia Mkomazi ở Tanzania. Đây là những hoạt động đầu tiên của nữ ca sĩ sau khi trở thành 1 trong 9 ngôi sao quốc tế được Liên Hợp Quốc và UNEP (United Nations Environment Programme - Chương trình Môi trường của LHQ) lựa chọn cho chiến dịch toàn cầu WildforLife. (Tuổi Trẻ 12/10) đầu trang(
Để thực hiện có hiệu quả chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài động vật hoang dã trái pháp luật, ngày 12/10/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 3836/UBND-NNTNMT về việc triển khai các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành và các địa phương tập trung chỉ đạo, thực hiện một số nội dung sau:
UBND các huyện, thành phố chỉ đạo các phòng chức năng, UBND xã, phường, thị trấn thực hiện rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm, ngà voi, sừng tê giác trái pháp luật. Địa phương nào để xảy ra vi phạm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh.
Công an tỉnh tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động mua bán, vận chuyển, tàng trữ, quảng cáo sử dụng trái phép mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi, sừng tê giác.
Đài PTTH Thái Bình, Báo Thái Bình tăng cường công tác tuyên truyền những điển hình tốt về bảo tồn, kiểm soát buôn bán động vật hoang dã; tích cực phát hiện lên án hành vi, việc làm trái quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế về bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm.
Sở NN&PTNT hướng dẫn thực hiện việc đăng ký gây nuôi các loài động vật hoang dã theo đúng quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động gây nuôi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi buôn bán, kinh doanh, vận chuyển trái phép động vật hoang dã trong dân cư và lưu thông qua địa bàn tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thái Bình 13/10) đầu trang(
Chưa có bất kỳ một công trình y học nào chứng minh được rằng sừng tê giác chữa được ung thư, cũng chưa có một vị nào khẳng định ngà voi khiến “cái ấy” đàn ông trở nên mạnh mẽ.
Thế nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến cuối cùng và là thị trường tiêu thu sừng tê giác, ngà voi thuộc dạng nhất nhì thế giới chỉ sau ông láng giềng to xác Trung Quốc.
Họ đang dùng mọi cách, mọi thủ đoạn để tuồn những thứ hàng bất hợp pháp này qua đường không, đường thủy vào Việt Nam. Đó là những lô hàng cực kỳ giá trị có khi lên đến hàng chục, hàng trăm tỉ đồng. Tất nhiên, thứ đắt tiền như thế chỉ dành cho những khách hàng có rất nhiều tiền.
Vì sao lại là Việt Nam? Người Việt dùng những thứ ấy để làm gì? Đơn giản nó đang được xem là những thứ “tiên dược” chữa được vô số căn bệnh, trong đó có ung thư.
Ung thư, căn bệnh đã khiến người Việt hoang mang, sợ hãi đến cực độ. Và để chống lại nỗi sợ hãi đó, nhiều thập kỷ qua người Việt nghĩ ra trăm phương ngàn cách, vô số những bài thuốc thuộc dạng “bí truyền” được chế ra trong sự ám ảnh nhằm ngăn chặn tế bào ung thư.
Sừng tê giác có chữa khỏi được ung thư hay không thì khoa học hiện đại đã trả lời là không thể. Nhưng đối với những người đang "thần hồn át thần tính" bởi ung thư thì câu trả lời đó không thuyết phục. Cũng tương tự như vậy, người ta tin ngà voi ngoài làm những đồ trang sức trừ ma tà còn có thể cải thiện khả năng giường chiếu của đàn ông.
Cách đây vài năm, vào một buổi sáng đẹp trời, báo chí rộ thông tin người đàn ông ở một tỉnh miền Trung bất ngờ khỏi bệnh ung thư. Ông ta tìm ra vị thuốc độc nhất vô nhị này hết sức tình cờ. Khi đó, trong cơn tuyệt vọng và chán nản khi bị ung thư, người đàn ông ấy có ý định kết thúc nhanh sự sống để thoát khỏi cơn đau thể xác. Ông ta nghĩ đến mật cóc vì đó là chất kịch độc.
Sau khi bắt vài con cóc, moi bụng lấy mật ăn chẳng những ông ta không chết mà lại khỏe khoắn lạ thường. Người đàn ông đã ăn được vài lưng cơm, những cơn đau cũng bắt đầu giảm đi trông thấy.
Báo chí dồn dập đưa tin khiến các nhà khoa học, các giáo sư, bác sĩ đứng ngồi không yên. Mật cóc mà chữa ung thư đúng là hoang đường. Hoa Đà tái thế chắc cũng “sốc” bởi tin ấy.
Mặc dù Bộ Y tế đưa ra khuyến cáo nhưng người đàn ông bỏ ngoài tai. Một số bệnh nhân ung thư khác mừng như bắt được vàng, vội vã đi tìm cóc lấy mật ăn.
Thời gian ngắn sau đó, những người ăn mật cóc để chữa ung thư đều chết. Cái chết không phải do ung thư mà vì chất kịch độc chứa trong mật cóc.
Câu chuyện ấy là minh chứng rõ nhất cho sự mông muội của người Việt. Nhưng vở bi hài kịch tương tự như thế vẫn đang diễn ra.
Sừng tê giác, ngà voi không phải chất kịch độc như mật cóc và tất nhiên cũng không phải “tiên dược”. Người Việt đang vin vào nó để làm chỗ dựa tinh thần, ít nhất cũng có cái bấu víu trong nỗi hoang mang vì bệnh tật.
Sự mông muội ấy là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ xóa sổ những con tê giác cuối cùng trên đồng cỏ châu Phi. Và những đàn voi khổng lồ, mạnh mẽ cũng đang chết dần chết mòn dưới họng súng của những kẻ đi săn. Con vật to xác, hùng dũng bỗng trở nên yếu đuối, bất lực khi bị rút mất cặp ngà.
Ung thư ư? Yếu sinh lý ư? Hãy đọc những thông tin thống kê đại loại như "Người Việt tiêu thụ 80 tỷ điếu thuốc lá mỗi năm"; "Năm 2015 người Việt tiêu thụ 3,4 tỷ lít bia, 70 triệu lít rượu"...Ung thư từ đâu mà ra? Vì sao đàn ông yếu sinh lý? Chính từ những con số kỷ lục tôi vừa nêu.
Sau những kỷ lục "hút và uống" như thế, người Việt lại giành thêm cho mình thành tích hoành tráng về tiêu thụ sừng tê giác và ngà voi bất chấp lời kêu gọi và cảnh báo của các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã. Họ vô cảm với tiếng kêu cứu thảm thiết trong những cánh rừng châu Phi hoặc bất kỳ nơi đâu có bóng dáng của voi, của tê giác.
Có thể do lỗ hổng trong chính sách, có thể là lỗ hổng quản lý nhưng chắc chắn một điều những người hằng đêm ngồi mài sừng tê giác để uống vẫn chưa thoát ra được thời kỳ mông muội của loài người. (Công Lý 13/10) đầu trang(
Sáng 13-10, Hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương (Nghệ An) xác nhận, chiều 12-10, một người dân trên địa bàn sau khi phát hiện một con rùa nặng hơn 13 kg vào nhà đã tự nguyện thả về với tự nhiên.
Lúc 6 giờ ngày 12-10, anh Nguyễn Tiến Dũng, 30 tuổi, trú tại thị tứ Thanh Thủy, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương (Nghệ An) nghe tiếng chó sủa ngoài ngõ liền chạy ra xem thì thấy một con rùa lớn đang bò lổm ngổm từ ngoài đường vào sân nhà anh.
Con rùa có màu đen, mai cứng, dày, trên lưng có nhiều vân với những vệt màu vàng, dưới bụng xen kẽ giữa màu vàng và đen. Rùa có trọng lượng 13,5 kg, dài khoảng 0,7 m, rộng (dưới bụng) gần 0,4 m.
Ngay khi có thông tin, đã có người ở Hải Dương, Hà Nội, Khánh Hòa gọi điện hỏi mua và trả giá cao nhất là 80 triệu đồng. Mặc dù vậy, nhưng anh Dũng quyết không bán mà thả rùa về với rừng.
Đúng 11 giờ ngày 12-10, vợ chồng anh Dũng đã mang rùa ra đập Đồng Đanh cách nhà khoảng vài trăm mét để phóng sinh, trước sự chứng kiến của nhiều người dân địa phương.
Theo người dân địa phương, rùa sống lâu nhất ở khu vực Đồng Danh có tuổi thọ khoảng 100 năm. (Nhân Dân 13/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết chúng ta phải quản lý ngành lâm nghiệp theo chuỗi gắn với tái cơ cấu ngành, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng là hành lang pháp lý góp phần tạo điều kiện cho các địa phương có rừng trong cả nước nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng độ che phủ rừng đạt 40,83% cũng như thúc đẩy sản xuất chế biến lâm nghiệp xuất khẩu, qua đó đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước trên 7 tỷ USD hàng năm.
Nhưng qua quá trình thực hiện, luật này vẫn còn gặp nhiều bất cập và cần được sửa đổi để phù hợp với điều kiện mới.
Theo quy trình, dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sẽ trình Chính phủ vào ngày 25/1/2017 sau đó đưa ra Quốc hội xem xét.
Để tìm hiểu rõ hơn về dự thảo sửa đổi Luật này, phóng viên BNEWS/TTXVN đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đầu tiên được ban hành năm 1991. Khi đó độ che phủ rừng mới chỉ 28% nên việc bảo vệ và phủ nhanh đất trống đồi núi trọc, nâng che phủ rừng trở nên bức bách.
Năm 2004, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng mới thay thế luật năm 1991. Luật này được xây dựng trên Hiến pháp 2002 nên quan điểm về sở hữu rừng đã có thay đổi căn bản.
Trong điều kiện khi đó, độ che phủ rừng thấp, bức thiết lúc đó là tăng diện tích rừng, nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho nên Luật năm 2004 là phân đoạn quan trọng từ bảo vệ đến phát triển rừng.
Phân đoạn từ sử dụng hợp lý tài nguyên để đảm bảo sử dụng bền vững cũng như thương mại đáp ứng theo yêu cầu hiện nay chưa được thể hiện trong Luật năm 2004.
Từ đó đến nay, rất nhiều chủ trương của Đảng, Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng, yêu cầu từ tái cơ cấu ngành lâm nghiệp cần thiết phải xem xét rà soát lại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng để xây dựng luật sửa đổi mới.
Bên cạnh đó, chúng ta phải quản lý theo chuỗi gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 dường như chưa đề cập thích đáng đến vai trò của rừng với biến đổi khí hậu, những chính sách tài chính mới như: tín chỉ phát thải CO2, dịch vụ chi trả môi trường rừng hay chưa tiên lượng được ngành lâm nghiệp mở với thị trường quốc tế như vậy.
Như vậy, Luật cần phải thích ứng với điều kiện mới, tạo cơ chế liên kết bền vững giữa người sản xuất với doanh nghiệp theo tín chỉ rừng. Cùng với đó, điều chỉnh lại hệ thống quản lý nhà nước để đảm bảo thống nhất, hiệu quả, hiệu lực ở các cấp và cải cách hành chính.
: Trên cơ sở tổng kết đánh giá Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật mới sẽ kế thừa những thành quả được đánh giá là phù hợp với thực tiễn và xu hướng của quốc tế như: bảo vệ rừng, khoán giao đất, giao rừng, xã hội hóa lâm nghiệp, làm cho rừng có chủ thực sự hơn.
Luật sửa đổi lần này phù hợp với các chủ trương, quan điểm của Đảng nêu ra trong các Nghị quyết 12 (Đại hội Đảng XII), Nghị quyết 24 (Đại hội Trung ương Đảng XI) về thích ứng với biến đổi khí hậu… và những định hướng, chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp cơ bản đã được ghi trong các nghị quyết.
Bên cạnh việc đảm bảo phù hợp, thống nhất với các luật liên quan, nhất là Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học… Luật sẽ điều chỉnh để phù hợp với Hiến pháp 2013; trong đó, chế định về sở hữu rừng thay đổi.
Chẳng hạn, quy định về sở hữu rừng trong Hiến pháp 2002 quy định rừng núi là sở hữu nhà nước, nhưng Hiến pháp 2013 quy định tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia.
Đây là việc quan trọng để có thể thể chế hóa trong luật và làm tiền đề cho những văn bản dưới luật khi thực hiện xã hội hóa sẽ đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng. Việc thay đổi này sẽ làm thay đổi toàn bộ các chính sách đối với các chủ rừng khác nhau.
Việc điều chỉnh lần này sẽ quản lý ngành lâm nghiệp theo chuỗi. Như vậy, phạm vi điều chỉnh không chỉ bảo vệ và phát triển rừng mà có quy định về xử lý rừng bền vững như khai thác, chế biến, tiêu thụ sản phẩm…
Ngoài ra, khi là nền sản xuất hàng hóa thì cần phải hài hòa với các quy định quốc tế mà Việt Nam là thành viên bao gồm cả hiệp định, hiệp ước quốc tế, hiệp định song phương, đa phương về thương mại… trong các tiêu chuẩn, tiêu chí về quản lý rừng bền vững.
Luật sửa đổi lần này sẽ có bổ sung một mục quy định về sở hữu rừng dựa trên Hiến pháp 2013.
Từ tư tưởng đó sẽ thể hiện trên toàn bộ hệ thống luật như phải điều chỉnh quyền và trách nhiệm của chủ rừng. Mặc dù vẫn là 6 chủ rừng cơ bản nhưng quyền và trách nhiệm sẽ thay đổi.
Chẳng hạn, đối với rừng trồng, người sở hữu rừng sẽ có đủ 3 quyền: định đoạt, sử dụng, chiếm hữu. Với 3 quyền này, chủ rừng sẽ được “cởi trói” so với trước đây.
Trước đây, dù rừng của mình nhưng khi khai thác chủ rừng vẫn phải xin phép chính quyền, sắp tới chủ rừng có toàn quyền sử dụng đất rừng và lâm sản miễn là nằm trong quy hoạch của địa phương.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng hiện nay có 88 điều, nhưng dự kiến luật mới sẽ có trên 130 điều và các nội dung cơ bản là sửa toàn điện. Quan điểm cá nhân tôi với nội hàm như vậy nên sửa thành Luật Lâm nghiệp để tên luật phù hợp với phạm vi điều chỉnh và cũng đồng bộ với quản lý theo ngành. Luật nên theo ngành để quản lý theo chuỗi. Bnews 12/10) đầu trang(
Sáng 12/10, tại TP Hà Tĩnh, Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Phát triển (RED) tổ chức Hội thảo đối thoại về chính sách thực trạng giao đất, giao rừng tại Hà Tĩnh - Những khó khăn, bất cập và giải pháp.
Tham gia hội thảo có GS. TSKH Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ TNMT; TS. Hứa Đức Nhị - nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; đại diện Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam; Tổng cục Lâm Nghiệp; Sở NN&PTNT Hà Tĩnh; Liên hiệp các Hội KH&KT Hà Tĩnh; đại diện các tổ sản xuất, hộ gia đình trồng rừng...
Sau khi nghe ông Trần Ngọc Bình - Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo tổng quan về tình hình giao đất, giao rừng tại Việt Nam, các đại biểu đã tập trung làm rõ các nội dung và thảo luận sôi nổi, thẳng thắn về tổng quản về giao đất, giao rừng tại Việt Nam - những vấn đề đặt ra về xây dựng và thực thi chính sách nhằm triển khai có hiệu quả chương trình giao đất, giao rừng trong giai đoạn hiện nay.
Thực hiện chương trình giao đất, giao rừng tại Hà Tĩnh - những thuận lợi, khó khăn và giải pháp; quá trình phối kết hợp triển khai chỉ đạo và tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương trong công tác giao đất, giao rừng.
Đặc biệt là thực trạng quản lý đất lâm nghiệp và phương án giải quyết nhu cầu thiếu đất sản xuất cho người dân trên địa bàn xã Sơn Kim 2, xã Hương Trạch, xã Kỳ Lạc; những khó khăn, thách thức trong quản lý, bảo vệ rừng của nhóm bảo vệ rừng thôn Khe 5 Hương Sơn và các hộ gia đình cá nhân khác trong tỉnh; phương án quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng quy mô hộ gia đình nhằm đảm bảo sinh kế và duy trì được vốn rừng tự nhiên... (Báo Hà Tĩnh 12/10) đầu trang(
Từ năm 2016 - 2020, tỉnh Bình Định đầu tư hơn 124,7 tỷ đồng để nâng cấp và xây dựng mới 280 km đường lâm nghiệp, phòng cháy chữa cháy rừng kết hợp dân sinh kinh tế trong vùng dự án hỗ trợ đầu tư rừng sản xuất. Đường lâm nghiệp được xây dựng tại 3 huyện Vân Canh 130 km, An Lão 70 km, Tây Sơn 80 km.
Tuyến đường được nâng cấp xây dựng mới là đường lâm nghiệp trong vùng trồng rừng sản xuất tập trung có quy mô từ 500 ha trở lên và ở những vùng chưa có đường xe ô tô để vận chuyển trong mùa mưa; các tuyến đường lâm nghiệp cũ dùng chung cho mục tiêu dân sinh đã bị xuống cấp, không có hệ thống thoát nước, không đi lại được và các tuyến đường lâm nghiệp kết hợp công tác phòng cháy cữa cháy rừng.
Các tuyến đường được thi công theo tiêu chuẩn đường lâm nghiệp cấp III (TCVN 7025-2002); bề rộng nền đường 4,5 m, mặt đường chính rộng 3,5 m, lề đường mỗi bên rộng 0,75 m; độ dốc tối đa từ 10-11% và công trình thoát nước cống bê tông cốt thép hoặc tràn rọ đá. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu thuộc Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững trong giai đoạn 2016-2020.
Bình Định hiện có tổng diện tích rừng 207.370 ha; trong đó rừng tự nhiên trên 154.390 ha và rừng trồng 52.980 ha (rừng sản xuất 34.624 ha). Ngoài ra đất đồi núi chưa sử dụng trên 205.200 ha có thể phát triển rừng nguyên liệu hoặc trồng cây công nghiệp phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản.
Trước đó, để khai thác tiềm năng rừng và đất rừng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã triển khai dự án “Hỗ trợ đầu tư xây dựng đường lâm nghiệp giai đoạn 2013-2015” tại các huyện Hoài Nhơn, Vân Canh, Tây Sơn với tổng mức đầu tư 25 tỷ đồng. Đã có 55 km đường lâm nghiệp được cải tạo và xây dựng mới. Tuy nhiên, các tuyến đường chỉ mới đáp ứng được một phần công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 12/10) đầu trang(
Phần cuối của loạt bài: “Được và mất khi chuyển đổi 100.000 ha rừng sang trồng cao su”.
Như đã đề cập ở 2 bài trước, do giá mủ cao su tụt sâu và không biết đến lúc nào mới phục hồi, nên các doanh nghiệp thực hiện việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su ở hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai đã gặp khó khăn. Có doanh nghiệp buông xuôi phó mặc, có doanh nghiệp lại biến tướng chuyển sang trồng loại cây khác.
Khi lập dự án đầu tư thì giá mủ cao su trên 100 triệu đồng mỗi tấn, nên cao su được trồng ở bất cứ nơi nào không hề quan tâm đến thổ nhưỡng, địa hình có phù hợp hay không. Nay giá cao su sụt xuống dưới 30 triệu đồng mỗi tấn thì một số vườn cao su đã bị chặt hạ để chuyển sang trồng loại cây khác.
Thời điểm năm 2008-2010 giá mủ cao su lên đỉnh điểm, 1 tấn trên 100 triệu đồng. Nhờ cao su mà đã xuất hiện nhiều khu dân cư trù phú với những biệt thự hàng tỷ đồng, hệ thống giao thông, lưới điện, trạm y tế, trường học ở đây được đầu tư xây dựng khang trang. Hầu hết các tiêu chí của việc xây dựng nông thôn mới sẽ có được khi có vườn cao su. Năm 2009, tỉnh Gia Lai mạnh dạn quy hoạch 60 nghìn ha diện tích rừng nghèo, rừng trồng và đất lâm nghiệp để trồng mới 50 nghìn ha cao su. Có 16 doanh nghiệp, với 44 dự án thuê đất trồng cao su được tỉnh phê duyệt.
Ông Mai Ngọc Bình - Phó tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Chư Sê bộc bạch rằng: Đơn vị mừng hơn bắt được vàng khi có được dự án chuyển đổi 3.100 ha rừng ở xã Ia Lâu, huyện Chư Prông sang trồng cao su. Một nông trường mới thuộc Công ty Cao su Chư Sê ra đời, đó là nông trường Cao su Ia Lâu.
Máy móc được huy động để phá rừng khai đất. 300 công nhân được tuyển mộ để lập vườn ươm giống và trồng cây. Công ty Cao su Chư Sê là doanh nghiệp có tiềm lực về kinh tế và có kinh nghiệm dày dặn trong việc trồng, khai thác chế biến cao su. Thế nhưng, với dự án ở Chư Prông, công ty đã chấp nhận thất bại, dừng đầu tư sau 7 năm triển khai.
Ông Mai Ngọc Bình nói: “Về vấn đề dừng đầu tư thì công ty cũng đã cân nhắc và tính toán rất kỹ lưỡng, khoa học. Đến thời điểm này chúng tôi thấy việc làm của chúng tôi là đúng đắn. Phương án tiếp theo, nếu được nhà nước cho phép chuyển các diện tích đất đã trồng cao su không thích hợp, không hiệu quả sang các cây trồng khác, công ty chúng tôi sẽ có giải pháp để sử dụng có hiệu quả diện tích đất đã được giao bằng các cây trồng phù hợp trên diện tích đất này; và đặc biệt chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần số công nhân, đồng bào dân tộc tại chỗ mà chúng tôi đã đưa vào làm công nhân từ năm 2010 đến nay có cuộc sống ổn định”.
Công ty Cao su Chư Sê là doanh nghiệp có uy tín nên họ không biến tướng dự án bằng việc chuyển sang trồng loại cây khác khi chưa được phép.
Anh Trung Văn Đông, công nhân Tổ 2, Nông trường Ia Lâu cho biết, anh trở thành công nhân của nông trường từ năm 2010. Hiện nay cây cao su khắc khoải giữa sống và chết, nên anh và hàng trăm công nhân ở đây không mơ gì đến ngày khai thác mủ. Cuộc sống tất cả công nhân ở đây đều rất khó khăn.
“Em muốn Công ty với tập đoàn tạo điều kiện cải thiện đời sống công nhân để công nhân có thu nhập. Nhìn vườn cây phát triển kém nên công nhân rất chán nản” .
Những lô cao su 6 năm tuổi của Nông trường Ia Lâu khẳng khiu, còi cọc. Đây là vùng rừng khộp, tầng đất mặt rất mỏng, chỉ 20 đến 30 cm, bên dưới là sét và đá. Ông Hồ Phi Hùng, Giám đốc Nông trường Cao su Ia Lâu cho biết: Nhiều diện tích phải trồng đi trồng lại nhưng cây vẫn chết.
Trong số 3.100 ha rừng chuyển đổi, nông trường đã trồng 2.180 ha cao su. Hiện tại đối với 1.540 ha cao su phát triển dưới trung bình, còn 940 ha phát triển kém và chết. Công ty Cao su Chư Sê đã thực hiện nhiều giải pháp, mời những chuyên gia hàng đầu về đất, về cây trồng đến thực địa để khảo sát, tìm hướng xử lý. Nhưng tất cả kết luận cây cao su không thể phát triển ở vùng đất này.
Ông Hùng nói: “Chúng tôi quản lý vườn cây nông trường 2.180 ha trong đó có gần 1 nghìn ha vườn cây phát triển rất kém. Khả năng sinh trưởng quá kém, dẫn đến suất đầu tư của chúng tôi quá thấp, hiện nay chỉ 1 triệu đồng/ha. Do rừng khộp chất đất, tầng đất mặt ngắn, rễ xuống đụng sét nên cây không thể sinh trưởng được”.
Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Gia Lai đã có 44 dự án với tổng diện tích 32.400 ha đất chuyển đổi sang trồng cao su. Tuy nhiên các doanh nghiệp chỉ mới trồng 25.200 ha. Hơn 1/3 số diện tích này cây kém phát triển và chết.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Dũng, Phó viện trưởng Viện Điều tra và Quy hoạch rừng, đánh giá: “Trong quá trình chuyển đổi sử dụng đất có một số chương trình lớn chúng ta chưa nghiên cứu kỹ khả năng thích ứng của loại cây trồng. Ví dụ mở rộng diện tích trồng cao su chẳng hạn. Hiện nay một số vùng, nhất là rừng khộp, rừng phát triển rất thưa, rừng rụng lá, đất rất xấu, một số nơi cho thấy sinh trưởng của cao su kém, không sinh trưởng được và một số phải chặt”.
Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án phát triển 50.000 ha cao su trên đất rừng nghèo ở Gia Lai không đạt mục tiêu đề ra. Không giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng dự án; chưa xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế- xã hội gắn với quốc phòng, an ninh trên tuyến biên giới.
Ông Nguyễn Đức Hoàn phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cho biết: “Tỉnh đã cho rà soát lại, và có đề xuất với hướng: đối với diện tích cây cao su chết hoặc kém phát triển do doanh nghiệp không đầu tư hoặc không có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh loại cây này, phải tiếp tục đầu tư chăm sóc, hoặc là trồng mới, bởi cây cao su là một cây dài ngày và chúng ta phaỉ chấp nhận giá lúc nó trồi, sụt. Riêng đối với diện tích cây cao su chết, kém phát triển do điều kiện đất đai không phù hợp thì lập dự án chuyển đổi sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn”
Thực tế tại Gia Lai, một số doanh nghiệp đã tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phá vỡ quy hoạch, tự ý trồng mía, trồng cỏ, xây dựng trang trại nuôi bò trên diện tích đất được giao để trồng cao su.
Thế nhưng, trong một văn bản trả lời PV Đài TNVN, UBND tỉnh Gia Lai khẳng định: “Tỉnh đang chỉ đạo các doanh nghiệp thuê đơn vị tư vấn, khảo sát, đánh giá cụ thể về nguyên nhân dẫn đến cây cao su kém phát triển và chết. Trường hợp xác định rõ do đất đai không phù hợp sẽ yêu cầu doanh nghiệp trồng lại rừng. Nếu diện tích này không phù hợp với các loài cây trồng rừng hiện nay, doanh nghiệp chủ động chọn lựa loài cây trồng khác, lập dự án đầu tư cụ thể. UBND tỉnh sẽ chỉ đạo các ngành chức năng kiểm tra, tổng hợp; báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo.”
Đã có 44 dự án với tổng diện tích 32.400 ha, trong đó có 29.188 ha rừng nghèo được UBND tỉnh Gia Lai giao cho các doanh nghiệp “cạo trọc” để trồng cao su. Giờ đây UBND tỉnh Gia Lai vạch đường “Doanh nghiệp chủ động chọn lựa loài cây trồng khác, lập dự án đầu tư cụ thể…” Liệu rằng điều đó có làm cho những dự án đã biến tướng rộng đường hơn trong việc hợp thức thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất để trục lợi?. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 13/10) đầu trang(
Chưa bao giờ tình trạng chiếm đất rừng lại xảy ra ngang nhiên, ồ ạt, thách thức pháp luật như những ngày vừa qua tại vùng thượng nguồn sông Hương, tỉnh TT-Huế. Nguyên nhân chính là dân chưa được bố trí đất sản xuất như họ từng được hứa hẹn, sau khi di dời khỏi vùng dự án thủy lợi Tả Trạch cách đây 12 năm.
Từ cuối tháng 9 đến nay, tại tiểu khu 166 trên thượng nguồn sông Hương thuộc xã Dương Hòa (thị xã Hương Thủy), do ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Hương Thủy quản lý xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng công khai trên diện rộng. Dân ở thị xã Hương Trà chiếm đất để trồng rừng. Họ từng di cư khỏi xã Dương Hòa cách đây 12 năm để giao đất cho dự án thủy lợi Tả Trạch. Theo UBND thị xã Hương Thủy, tính đến ngày 10/10, có gần 200 dân ở Bình Thành (thị xã Hương Trà) đã vào tiểu khu 166 lấn chiếm đất rừng.
Ông Trương Ngọc Dũng, Chủ tịch UBND xã Bình Thành, xác nhận: Gần 200 người tham gia lấn chiếm đất rừng thuộc vùng khe Đầy, thị xã Hương Thủy suốt nhiều ngày trở lại đây là dân các thôn tái định cư (TĐC) Hòa Thành, Bình Dương (Bình Thành). “Ngày 28/9, nhận tin báo, dân Bình Thành qua lấn đất rừng ở thị xã Hương Thủy, chính quyền xã kết hợp cơ quan chức năng giải quyết, ngăn chặn, tránh xảy ra xô xát. Nhiều cuộc họp dân tiến hành sau đó, nhưng đến nay, họ chưa chịu rời khỏi rừng”, ông Dũng nói.
Ông Dũng và phía chính quyền thị xã Hương Thủy cùng khẳng định, một trong những nguyên nhân dân bao chiếm khoảng 20ha đất rừng những ngày qua, là nhiều hộ TĐC chưa được bố trí đất sản xuất sau 12 năm di dời khỏi vùng dự án hồ Tả Trạch. “12 năm trước, khi vận động dân di dời, cơ quan chức năng từng hứa bố trí đất sản xuất phục hồi sinh kế. Đó chỉ là lời hứa hão. Dân di cư suốt nhiều năm qua không có đất sản xuất, phải đi làm thuê tứ xứ. Chúng tôi không có đất sản xuất, nên đành làm liều”, một người dân TĐC Bình Thành kể.
Theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, vấn đề dân thiếu đất sản xuất kể từ khi di dời khỏi vùng lòng hồ Tả Trạch từng được báo chí đề cập nhiều năm nay. Các cuộc tiếp xúc cử tri hằng năm cũng luôn “nóng” chuyện chậm bố trí đất sản xuất cho dân lòng hồ Tả Trạch khi dời sang TĐC tại Bình Thành.
Việc dân kéo về quê cũ bao chiếm đất rừng những ngày qua như là “giọt nước tràn ly”. “Các vị lãnh đạo tỉnh thời đó từng động viên rằng, khi dời đến nơi mới chúng tôi được bảo đảm có cuộc sống tốt hơn, hoặc chí ít bằng với nơi ở cũ. Vậy nhưng, kể từ khi sang sống ở Bình Thành, chúng tôi toàn đi làm thuê”, một người dân TĐC từng nói với phóng viên.
Được biết, quá trình làm hồ Tả Trạch từ năm 2001, dự án thủy lợi này được phê duyệt 2 hợp phần: Xây dựng công trình và hợp phần đền bù giải phóng mặt bằng, di dân TĐC. Tuy nhiên, đến nay, tỉnh TT-Huế mới cấp được hơn 324/1.342 ha đất cho dân TĐC các xã, khiến dân khiếu kiện kéo dài. Mới đây, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thu hồi hơn 77 tỷ đồng (vốn trái phiếu Chính phủ không sử dụng hết trong hợp phần xây dựng hồ Tả Trạch) để bố trí cho hợp phần đền bù di dân, TĐC. Tuy nhiên, việc hỗ trợ, bố trí đất sản xuất, hoặc nhận tiền thay cho đất từ gói 77 tỷ đồng này vẫn chưa được triển khai đến dân TĐC Bình Thành.
Theo ông Trương Ngọc Dũng, nếu thực hiện chủ trương đất đổi đất hoặc bù bằng tiền theo gói 77 tỷ kể trên, chỉ có 28 trong hơn 200 hộ dân các thôn TĐC của xã đủ điều kiện nhận hỗ trợ. Điều đó đồng nghĩa, phần lớn những hộ còn lại vẫn “đói” đất sản xuất.
Còn theo ông Nguyễn Đắc Tập, Phó Chủ tịch UBND thị xã Hương Thủy, từ việc dân TĐC Hương Trà kéo sang Hương Thủy bao chiếm đất rừng, chính quyền tiếp tục vận động dừng các hoạt động sai trái. (Tiền Phong 13/10) đầu trang(
Tại huyện Thông Nông, Dự án phát triển cộng đồng Actionaid Việt Nam phối hợp Chi cục kiểm lâm huyện đã tập huấn về sử dụng bản đồ đối với rừng trồng và rừng tự nhiên cho nhóm nòng cốt nằm trong vùng dự án gồm: Cần Yên , Lương Thông , Lương Can , Vị Quang và Bình Lãng.
Trong thời gian 2 ngày các học viên sẽ được các chuyên gia quản trị giới thiệu về: Bản đồ giao đất giao rừng, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng, bản đồ hiện trạng rừng, thực hành sử dụng thiết bị GPS đo đạc diện tích, sử dụng bản đồ thực địa, cách đọc các ký tự trong bản đồ, cách xác định hiện trạng các loại rừng quanh khu vực mình đang sinh sống, cách lập quy hoạch sử dụng đất trong tương lai thông qua việc sử dụng bản đồ trên hệ thống định vị, giới thiệu về trang web của tổng cục lâm nghiệp từ đó tự chia sẻ các dữ liệu của hệ thống Formis, cách truy cập bản đồ trên hệ thống Formis để biết các thông tin về rừng trồng, rừng sản xuất và rừng tự nhiên tại địa phương.
Sau khi tập huấn các học viên sẽ đến các thôn xóm hướng dẫn sử dụng bản đồ lập quy hoạch sử dụng đất và xây dựng hương ước quản lý rừng tại cộng đồng dân cư, góp phần vào công tác quản lý các loại rừng một cách hiệu quả nhất. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cao Bằng 11/10) đầu trang(
9 tháng năm 2016, thị xã Phúc Yên đã trồng mới 80ha rừng tập trung, khoán bảo vệ 750ha rừng phòng hộ và khai thác 180,5m3 gỗ rừng trồng.
Hạt Kiểm lâm thị xã Phúc Yên tham mưu UBND thị xã chỉ đạo các xã, phường trồng 189.500 cây phân tán các loại, đạt 206,1% kế hoạch; trong đó, xã Ngọc Thanh trồng 165.000 cây, xã Cao Minh trên 8.000 cây, phường Đồng Xuân trồng 8.000 cây.
Bên cạnh công tác trồng rừng, thị xã Phúc Yên chỉ đạo UBND các xã, phường tập trung bảo vệ, chăm sóc, phát triển diện tích rừng hiện có; đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân công tác phòng, chống cháy rừng; tăng cường công tác kiểm ra, đấu tranh ngăn chặn các hành vi cố ý, vô ý sử dụng lửa trong rừng và xử lý nghiêm những trường hợp gây cháy rừng. (Báo Vĩnh Phúc 12/10) đầu trang(
Theo kế hoạch, năm 2016 toàn tỉnh trồng 393,1ha rừng; trong đó 340ha rừng phòng hộ và 53,14ha rừng thay thế. Tuy nhiên, kết thúc mùa trồng rừng năm nay, toàn tỉnh mới trồng được 65,58ha, đạt 16,5% kế hoạch, trong đó trồng rừng phòng hộ đạt 51,97ha (đạt 15,21%) và trồng rừng thay thế đạt 13,61ha (đạt 25,14%).
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn), nguyên nhân dẫn đến trồng rừng không đạt kế hoạch là do thiếu quỹ đất; định suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; Chương trình 327, Dự án 661 kéo dài chưa thể thanh, quyết toán dứt điểm gây nhiều khó khăn cho việc quy hoạch, kiến thiết, đầu tư trồng rừng mới... (Báo Điện Biên Phủ 12/10) đầu trang(
Hơn 30 năm qua, ông Phan Hào ở thôn Phú Hòa xã Trà Phú (Trà Bồng) đã bỏ công sức, tiền của để biến khu đất đồi khô cằn sỏi đá thành những khu rừng bạc tỉ. Đầu tháng 10, chúng tôi vượt đoạn dốc hiểm trở từ xã Trà Phú lên xã Trà Sơn để vào trang trại ông Hào.
Lúc này ông cùng chục công nhân đang bận rộn trồng nốt khoảnh rừng còn lại trong tổng số 250 ngàn cây keo lai phải xuống giống trong vụ này. Dù bước sang tuổi 76, song ông Phan Hào luôn được mọi người trong thôn, xã kính nể, bởi đức tính cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động.
Ông bộc bạch: “Ngày còn thanh niên gia đình tôi trồng mì, mía. Nhưng rồi những loại cây đó không phù hợp với đất đainlại cho thu nhập thấp, nên chuyển sang trồng keo nguyên liệu, với quyết tâm đánh thức vùng đồi núi thành những khu rừng kinh tế”.
Tuy nhiên, “vạn sự khởi đầu nan”, ông đã gặp không ít khó khăn trong chặng đường khởi nghiệp. Giống cây lâm nghiệp phải tự mua, tự vận chuyển về, đất đai cằn cỗi nhiều chỗ cỏ tranh khỏa lấp nên cây trồng khó sống được. Cùng với đó là nắng nóng, mưa bão đã ảnh hưởng đến sự phát triển của keo...
Nhưng nhờ sự kiên trì và đất không phụ công người, những khoảnh rừng keo lai đầu tiên cũng vươn lên trên sỏi đá, phát triển xanh tốt. Ông tiếp tục mở rộng thêm quỹ đất để trồng rừng. Nhờ đó, thu nhập hằng năm của gia đình ông từ 500-700 triệu đồng; tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động với mức thu nhập từ 4 - 4,5 triệu đồng/người/tháng và hàng trăm lao động mùa vụ.
Thu nhập từ những năm tháng miệt mài với rừng đã giúp vợ chồng ông nuôi 8 người con ăn học thành tài. Sáu người con của ông đều làm việc ở các cơ quan nhà nước, còn hai người con trai nối nghiệp trồng rừng của ông. Hiện gia đình ông sở hữu 68 ha rừng trồng keo và một trang trại nuôi 100 con bò lai và 60 con dê.
Dẫn chúng tôi tham quan trang trại nằm ngay trong lòng những thửa rừng, ông Hào nói: “Tôi xây dựng hệ thống ao hồ - chuồng trại ở bìa rừng để nuôi thả cá trắm cỏ, nuôi heo rừng... để tăng thêm thu nhập, đồng thời cũng là nơi an dưỡng tuổi già, vì mình cũng đã lớn tuổi rồi còn gì”.
Nói vậy, nhưng hằng ngày ông Phan Hào vẫn dậy sớm lên rừng lao động cùng con cháu. Ông bảo: Trẻ thì làm theo sức trẻ, già thì làm theo sức già. Ông cho biết, dự kiến năm 2017 gia đình ông cùng địa phương bê tông đoạn đường dân sinh của xã Trà Sơn dài 350m đi ngang qua khu trang trại của gia đình, tạo điều kiện cho người dân trong xã đi lại thuận tiện hơn. (Báo Quảng Ngãi 12/10) đầu trang(
Cùng với phát huy tiềm năng, lợi thế về kinh tế đồi rừng, lâm nghiệp, trên địa bàn xã Minh Hòa (huyện Yên Lập) mấy năm trở lại đây xuất hiện những mô hình xưởng sản xuất, chế biến lâm sản mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Xưởng gỗ của gia đình chị Đỗ Lưu Kiệm (thôn Phú Cường, xã Minh Hòa) là một điển hình như vậy.
Xuất thân từ vùng quê cách mạng Minh Hòa, quanh năm bám ruộng vườn, buôn bán nhỏ nhưng gia đình chị Đỗ Lưu Kiệm vẫn rất khó khăn. Vợ chồng chị đã vay vốn mua xe tải để vận chuyển gỗ thuê, song trong quá trình làm vận chuyển, anh chị đã nhận thấy những lợi nhuận trong tiêu thụ sản phẩm từ gỗ sơ chế, trong khi địa phương lại có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển lâm nghiệp.
Do đó, năm 2013 chị cùng bàn bạc với gia đình và quyết định mở xưởng sản xuất, chế biến lâm sản, đầu tư, trang bị các loại máy bóc gỗ, máy cắt, máy xẻ ban đầu trị giá gần 800 triệu đồng, đến nay tổng giá trị đầu tư cho xưởng là trên 1 tỷ đồng. Gia đình chị đã thu mua gỗ keo của các hộ trồng rừng trong địa bàn xã các xã trong huyện, mỗi năm xưởng của chị sản xuất trên 4.000 m3 gỗ, trừ phi phí thu lãi trên 250 triệu đồng.
Chị Đỗ Lưu Kiệm chia sẻ: “Sau 3 năm đi vào hoạt động, xưởng gỗ của gia đình tôi đã sản xuất những sản phẩm có chỗ đứng trong thị trường trong tỉnh và các tỉnh lân cận để phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang nước ngoài. Không chỉ cải thiện cuộc sống gia đình, xưởng gỗ của chúng tôi còn tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động địa phương, với mức lương bình quân 5, 5 triệu đồng/người/tháng”. (Báo Phú Thọ 12/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Người ta đã bắt được con cá sấu khổng lồ dài khoảng 6 mét, được cho là đã tấn công, làm một người đàn ông tử vong vào hôm 6/10 tại sông Langkon, bang Sabah, Malaysia.
Nhân viên Cục Động vật hoang dã Sabah, cùng với sự trợ giúp của dân làng, đã bắt được con cá sấu này vào khoảng 8 giờ 30 sáng 11/10.
Cục trưởng Cục Động vật hoang dã Sabah, ông Augustine Tuuga, cho biết họ đã nhận được một báo cáo khẩn cấp về sự hiện diện của con cá sấu trên sông vào ngày 6/10 trước khi nó tấn công một người đàn ông.
Sau khi được thông báo, họ đã đặt bẫy để bắt giữ con cá sấu khổng lồ này và sau gần 1 tuần, nó đã dính bẫy.
Cũng theo ông Augustine, sau khi khám nghiệm pháp y, người ta đã phát hiện một phần xương và tóc của người đàn ông xấu số ở trong bụng con cá sấu.
"Con cá sấu khổng lồ này sẽ tiếp tục là mối đe dọa đối với người dân sống gần sông. Các hoạt động giám sát và bắt giữ cá sấu sẽ được tiến hành thường xuyên hơn để xoa dịu lo ngại của người dân ở đây," ông cho biết thêm.
Cục Động vật hoang dã đã cảnh báo người dân cẩn thận hơn khi hoạt động trên sông. Trước đó, ngày 6/10, anh Herry Long, 28 tuổi, đã thiệt mạng sau khi bị con cá sấu tấn công lúc đang đánh bắt cá ở sông Langkon.
Lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể nạn nhân tại khu vực Marudu cách nơi được báo cáo mất tích khoảng 1km. (Vietnam + 12/10) đầu trang(./.
|
|||