|
Ngày 12 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chiều tối ngày 10/10, hơn 50 người đã cùng nhau chống lại ngọn lửa đang muốn thiêu rụi cả rừng keo khu vực đường tránh Cửa Ông, TP. Cẩm Phả, Quảng Ninh.
Tin từ Phòng Cảnh sát PCCC số 2 - Cảnh sát PCCC tỉnh, ngay khi nhận được tin báo cháy rừng tại đường tránh Cửa Ông, thuộc địa phận phường Cẩm Thịnh, TP. Cẩm Phả, đơn vị đã lập tức huy động xe chữa cháy và hơn 10 cán bộ chiến sỹ đến hiện trường, phối hợp với hơn 40 người thuộc các lực lượng: dân quân tự vệ phường Cẩm Thịnh, công an phường, kiểm lâm, quân đội để dập lửa.
Tại hiện trường, khu vực cháy là rừng keo, ở vị trí lưng đồi, phía bên dưới là khu vực dân cư.
Sau 3 giờ nỗ lực triển khai các biện pháp nghiệp vụ trong chữa cháy rừng như tạo đường băng cản lửa, dùng cây dập lửa, đám cháy đã bị dập tắt hoàn toàn. Ước tính 1000m2 rừng keo đã cháy rụi.
Thời điểm này đang là mùa hanh khô, vì thế, việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, phòng chống cháy nổ, đặc biệt là cháy rừng là hết sức quan trọng.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, TP Móng Cái; huyện Vân Đồn, TP Cẩm Phả; huyện Hoành Bồ, thành phố Hạ Long đang ở cấp IV, cấp rất nguy hiểm, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Vì thế, các cơ quan chức năng và chủ rừng cần thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt trong mùa hanh khô. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 11/10) đầu trang(
Trong hoạt động chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15-10-1956 - 15-10-2016), ngày 10-10, Huyện đoàn phối hợp Hạt kiểm lâm huyện Bù Đốp tổ chức hội thi thanh niên tuyên truyền bảo vệ rừng năm 2016.
Dự thi có 9 đội gồm 7 xã, thị trấn và 2 trường THPT: Thanh Hòa và cấp 2-3 Tân Tiến. Hội thi diễn ra trong không khí sôi nổi, hào hứng. Các đội thi trải qua 4 phần: tự giới thiệu, kiến thức, tiểu phẩm và hùng biện. Các đội đã đầu tư rất công phu khi tham gia hội thi.
Ở hai phần kiến thức và hùng biện, đoàn viên, thanh niên các đội đã thể hiện quan điểm và trách nhiệm của bản thân về những vấn đề như: tình hình khai thác, vận chuyển, kinh doanh, chế biến lâm sản; trồng rừng, chăm sóc rừng; tình hình biến đổi khí hậu do mất rừng tự nhiên cũng như các quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Phần thi tiểu phẩm có nhiều kịch bản được đầu tư, tập luyện công phu thể hiện bằng ca kịch, tấu hài... phản ánh trung thực, khách quan, đúng thực trạng tình hình cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất rừng, tác hại do mất rừng tự nhiên gây ra, các giải pháp để bảo vệ và phát triển rừng bền vững...
Kết thúc hội thi, ban tổ chức đã trao giải nhất cho đội xã Phước Thiện, giải nhì đội thị trấn Thanh Bình, giải ba xã Thanh Hòa, giải khuyến khích xã Tân Tiến. Tiểu phẩm hay nhất thuộc về đơn vị thị trấn Thanh Bình, hùng biện hay nhất thuộc đơn vị xã Phước Thiện. (Báo Bình Phước 11/10) đầu trang(
Ngày 11/10, tại TP Vinh, Sở NN-PTNT các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An phối hợp BQL chương trình UN-REDD giai đoạn II tổ chức hội thảo đánh giá kết quả thực hiện quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An.
Theo báo cáo, sau một năm thực hiện quy chế phối hợp, lực lượng Kiểm lâm 2 tỉnh đã bắt giữ 5 vụ vi phạm lâm luật; tịch thu gần 15m3 gỗ; xử lý vi phạm, nộp ngân sách 35 triệu đồng.
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Hạt Kiểm lâm huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) phối hợp Hạt Kiểm lâm các huyện Thanh Chương, Nam Đàn (Nghệ An) đã kiểm tra thực địa, xác định xong vùng trọng điểm khu vực giáp ranh để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là thời điểm nắng nóng.
Tại hội thảo, Sở NN-PTNT Hà Tĩnh và Nghệ An tiếp tục ký quy chế phối hợp bảo vệ rừng giáp ranh năm 2017 với những giải pháp chính như tăng cường trao đổi thông tin về diễn biến tình hình phá rừng; kiểm lâm, chủ rừng và chính quyền cấp huyện, xã kịp thời phối hợp, xử lý nghiêm các vụ chống người thi hành công vụ; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng và quản lý đất lâm nghiệp... (Nông Nghiệp Việt Nam 12/10) đầu trang(
Mặc dù lệnh đóng cửa rừng đã được quán triệt sâu sát đến tận cơ sở trên toàn vùng Tây Nguyên nhưng tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép vẫn còn “nóng” từng ngày. Hình như ở đâu còn gỗ quý thì ở đó vẫn còn lâm tặc rình rập nên cuộc chiến giữ rừng Tây Nguyên còn nhiều cam go, phức tạp...
Thêm 2 cây gỗ hương trăm tuổi ở rừng Kbang, Gia Lai bị cưa hạ trong lúc các nhân viên bảo vệ rừng rời các chốt canh giữ về công ty làm việc đã cho thấy sức “nóng” của việc giữ rừng Tây Nguyên hiện nay.
Quá trình điều tra bước đầu, Công an huyện Kbang (Gia Lai) đã bắt giữ và vận động một số đối tượng liên quan vụ cưa trộm 2 cây gỗ hương tại khoảnh 6, Tiểu khu 90 thuộc lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa ra đầu thú.
Theo các đối tượng khai nhận, lợi dụng đêm tối, nhóm lâm tặc bố trí lực lượng đột nhập vào rừng dùng cưa xăng để cắt hạ, “xẻ thịt” 2 cây gỗ hương trái phép. Tại hiện trường cho thấy, khối lượng 2 cây gỗ hương bị thiệt hại 30,166m³ nhưng chỉ còn lại hiện trường khoảng 20m³.
Các đối tượng khai nhận, chỉ khoảng 20 phút, cây hương có đường kính 1,2m được cưa hạ nhưng do ở địa hình dốc núi, không thể xẻ hộp để vận chuyển ra khỏi rừng nên các đối tượng tiếp tục cưa hạ cây gỗ hương thứ 2 cách đó khoảng 100m, rồi xẻ thành từng hộp vận chuyển ra khu vực xã Sơn Lang cất giấu...
Phía chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm trường Krông Pa cho rằng, lâm tặc thường lợi dụng sơ hở của các nhân viên bảo vệ rừng lúc vắng để cưa gỗ. Trong khi đó, diện tích rừng rộng hơn 8.000ha, hàng trăm cây gỗ hương nằm rải rác trong địa hình phức tạp nhưng công ty chỉ có 16 người (trung bình 1 người bảo vệ 500ha) nên không thể giám sát hết. Năm 2015, đã có hơn 100 cây gỗ hương ở đây bị mất, hiện còn hơn 300 cây hương cổ thụ sót lại vẫn có nguy cơ bị “xẻ thịt” không biết lúc nào.
Trong khi vụ khai thác gỗ hương ở Gia Lai chưa kết thúc điều tra thì rạng sáng 6-10, một đoàn xe tải 5 chiếc vận chuyển gỗ trái phép đã chống trả lực lượng chức năng để tẩu thoát khi bị bắt giữ. Nhóm đối tượng này bất chấp lệnh bắn chỉ thiên của cơ quan chức năng đã cho xe tháo chạy và tông hư hỏng 3 xe máy của lực lượng Công an xã và Đồn Biên phòng Ia Chía (Ia Grai, Gia Lai).
Khi thấy không thể giải vây được các xe gỗ, nhóm đối tượng đành bỏ xe và gỗ lại hiện trường để thoát thân. Hơn 70m³ gỗ, gồm các loại: bằng lăng, sến, sao được xác định vận chuyển trong 5 xe ôtô tạm giữ cho thấy nhóm lâm tặc này hoạt động có tổ chức và quy mô lớn.
Đáng chú ý là tất cả các xe ôtô chở gỗ đều bị tháo biển số, đục phá số máy, số khung nên sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra. Việc không truy tìm ra chủ xe, lái xe chở gỗ thì khó xác định số gỗ trên được lấy từ khu rừng nào. Phía các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai cho rằng gỗ xuất phát từ tỉnh Kon Tum, ngược lại phía tỉnh Kon Tum thì cho rằng gỗ có thể khai thác ở nơi khác. Vậy kết luận cuối cùng phải chờ cơ quan thẩm quyền điều tra, làm rõ.
Cùng với Gia Lai và Kon Tum, rừng ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn, rừng phòng hộ thuộc các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông và Lâm Đồng cũng “nóng” lên từng ngày. Vụ phá rừng phòng hộ đầu nguồn khu vực thủy điện Đồng Nai 5 do băng nhóm Hà “đen” tổ chức đang được điều tra mở rộng, làm rõ trách nhiệm của chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc và các cơ quan thẩm quyền ở địa phương.
Mới đây, Công an huyện Ea Kar, Đắk Lắk cũng đã bắt giữ nhóm đối tượng La O Y Lem (17 tuổi), Ha Ra Y Trang (23 tuổi) và Lê Mô Y Cường (36 tuổi), trú ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên lên phá rừng tại Tiểu khu 622, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đắk Lắk. Các đối tượng đã “xẻ thịt” 26 cây gỗ giáng hương (nhóm IIA) vận chuyển ra khỏi rừng, khối lượng gỗ còn lại chưa xẻ chỉ hơn 5,7m³...
Tại huyện MDrăk, tỉnh Đắk Lắk, nhóm đối tượng Nguyễn Kiệp, Đỗ Ngọc Khoa, Trần Khánh Linh, Hồ Văn Hùng... đều trú ở tỉnh Phú Yên cũng đã triệt hạ hàng chục cây gỗ quý ở Tiểu khu 718 của BQL Rừng phòng hộ núi Vọng Phu. Tại các bãi tập kết gỗ, bước đầu cơ quan chức năng thu giữ 65 lóng gỗ, khối lượng 35m3...
Ở địa bàn Đắk Nông, sau vụ lực lượng chức năng phát hiện hàng trăm mét khối gỗ vắng chủ ở Quảng Sơn, Đắk Glong thì rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, huyện Đắk Song lại bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng.
Nhiều cây gỗ du sam (nhóm IA), gỗ dầu... đã bị triệt hạ tại Tiểu khu 1133, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Đắk Nông đã xảy ra trên 300 vụ phá rừng, làm thiệt hại gần 120ha rừng. Trong khi đó, 8 tháng đầu năm 2016, toàn vùng Tây Nguyên đã phát hiện và xử lý 3.858 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng nhưng chỉ xử lý hình sự 108 vụ, còn lại xử lý hành chính 3.227 vụ.
Con số đáng báo động là tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện đang bị lấn chiếm trái phép lên tới 282.896ha, chiếm 8,43%, trong đó diện tích đất lâm nghiệp đã giao quyền sử dụng đất là 197.365ha, chiếm 70% và diện tích chưa giao quyền sử dụng đất là 85.261ha, chiếm 30%.
Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm tập trung chủ yếu tại các BQL rừng phòng hộ: 56.456ha, các doanh nghiệp nhà nước: 51.750ha; rừng do UBND cấp xã quản lý: 164.90ha... Trong khi đó, tình trạng lâm tặc chống người thi hành công vụ tại các tỉnh Tây Nguyên có chiều hướng gia tăng, nhiều cơ sở chế biến gỗ và lâm sản tại 5 tỉnh Tây Nguyên chủ yếu tồn tại để tiêu thụ gỗ trái phép nhưng được núp bóng, đối phó tinh vi rất khó phát hiện và xử lý.
Từ thực trạng trên cho thấy, công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại 5 tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hạn chế, bất cập. Muốn giữ rừng không chỉ hô hào mà phải có chính sách phù hợp, đúng đắn, làm sao cho rừng phải có chủ thực sự để quản lý và chịu trách nhiệm cụ thể. Mặt khác, cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng... (Công An Nhân Dân 12/10) đầu trang(
Chiều ngày 11.10, có mặt tại hiện trường, chúng tôi chứng kiến cả cánh rừng thông hơn 50 năm tuổi, rộng hàng chục héc ta bị xâm hại nghiêm trọng.
Tại các khoảnh 2, 3 (do Công ty nhựa Khang Thịnh quản lý) và 4, 5, 6 (do Công ty Hà Phong quản lý) đang có nhiều vạt rừng, với hàng trăm cây thông trên 50 năm tuổi đang chết đứng vì bị ken gốc, đốt gốc, khoan lỗ đổ hóa chất.
Ông Nguyễn Đình Gắn, Chủ tịch UBND, Trưởng Ban lâm nghiệp xã Lộc Ngãi, cho biết tình trạng ken đổ hóa chất để lấn rừng lấy đất sản xuất tại khu vực nói trên diễn ra âm ỉ từ nhiều năm qua và từ đầu tháng 9.2016 đến nay, khu vực này lại trở thành “điểm nóng” phá rừng. Đến thời điểm hiện tại, Công ty Hà Phong chưa cung cấp đầy đủ diện tích rừng bị lấn chiếm.
Tuy nhiên, trong tháng 9.2016, UBND xã đã phát hiện một vụ ken thông đổ hóa chất với diện tích rừng bị xâm hại là 7.078 m2, có trữ lượng gỗ là 71,292 m3. Đến nay, Công ty Hà Phong cũng chưa cung cấp được các phương án sản xuất, kinh doanh, trồng rừng, PCCC và thực hiện dự án. Tình trạng lấn chiếm đất rừng cũng đang diễn ra hết sức phức tạp tại lâm phần do Công ty nhựa Khang Thịnh quản lý, bảo vệ. Phần lớn diện tích rừng, đất rừng bị lấn chiếm đều do người dân trồng cà phê, bơ… thực hiện.
Cũng theo ông Gắn, khu rừng trên là rừng trồng đã được Công ty Hà Phong và Công ty Nhựa Khang Thịnh nhận quản lý, bảo vệ và trồng rừng. Mặc dù xã đã nhiều lần kiến nghị, đề xuất với UBND huyện có những biện pháp mạnh buộc các công ty tăng cường công tác quản lý nhưng các công ty này vẫn không chấp hành.
Các vụ vi phạm xảy ra vào ban đêm nên rất khó để ngăn chặn. Ngoài tiểu khu 614, tình trạng ken, đốt, khoan thân đổ hóa chất để cây chết dần còn diễn ra tại nhiều tiểu khu khác trên địa bàn như các tiểu khu 444, 445, 460.
Hiện UBND xã Lộc Ngãi đã báo cáo, đề nghị UBND huyện Bảo Lâm, Hạt Kiểm lâm huyện xem xét kiến nghị UBND tỉnh thu hồi giấy phép của Công ty nhựa Khang Thịnh với lý do không thực hiện các phương án mà UBND tỉnh đã phê duyệt và để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép. Đề nghị UBND huyện Bảo Lâm, Hạt Kiểm lâm huyện xem xét xử lý Công ty Cổ phần Hà Phong đã không thực hiện dự án, buông lỏng quản lý và để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng, phá rừng thường xuyên… (Thanh Niên 11/10) đầu trang(
Ngày 4 và 5.6.2016, Báo Lao Động đã đăng loạt bài điều tra: “Vụ án “hủy hoại rừng” kỳ quặc ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng: Dao phát cỏ hạ được cây rừng… lâu năm (?)”. Bài báo phản ánh vụ án có dấu hiệu oan sai, khi các cơ quan luật pháp huyện Lâm Hà đã khởi tố, bắt giam Phạm Văn Tài (sinh 1991)…
Ngay sau phản ánh của Báo Lao Động, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Nguyễn Xuân Tiến đã có chỉ đạo xác minh làm rõ… Và, mới đây, ngày 11.10, nguồn tin từ tỉnh Lâm Đồng cho biết, Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an huyện Lâm Hà đã khởi tố thêm 8 bị can về tội “hủy hoại rừng” trong vụ án này…
Trở lại vụ án “hủy hoại rừng” kỳ quặc ở huyện Lâm Hà, sau loạt bài trên Báo Lao Động, vào cuối tháng 6.2016 vừa qua, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Lâm Hà đã chuyển trả toàn bộ hồ sơ về Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) và Công an huyện Lâm Hà để điều tra bổ sung, vì không đủ chứng cứ xét xử. Đồng thời, sau việc chuyển trả hồ sơ, bị can Phạm Văn Tài cũng được Công an huyện Lâm Hà cho phép tại ngoại, sau 8 tháng bị bắt tạm giam.
Ngày 8.8.2016, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Hà đã ra quyết định khởi tố bị can đối với 8 đương sự người dân tộc Cờ Ho là K’Bốt, K’Binh, K’Bé, K’Brối, K’Mến, K’Sỏi, K’Ngọc và K’Briểu, về tội “hủy hoại rừng” theo quy định tại Điều 189 - Bộ Luật Hình sự.
Ngày 8.9 vừa qua, Viện KSND huyện Lâm Hà đã hoàn tất cáo trạng số 71/VKS-KT, truy tố Phạm Văn Tài và 8 bị can người dân tộc trên ra trước tòa. Dự kiến sẽ được TAND huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm vào ngày hôm nay (12.10). Đối chiếu với cáo trạng số 22/VKS-KT, ngày 16.3.2016, vốn đã bị TAND huyện Lâm Hà trả lại, thì cáo trạng số 71/VKS-KT ngày 8.9.2016 của Viện KSND huyện Lâm Hà đã có sự sửa đổi chút ít.
Cáo trạng số 22 kết luận nhóm phá rừng trên gây thiệt hại về lâm sản là 97,08m3, thiệt hại về giá trị là 151.564.000 đồng. Phạm Văn Tài phải bồi thường dân sự toàn bộ giá trị thiệt hại bằng tiền nêu trên. Và 8 người dân tộc thiểu số không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, sang cáo trạng số 71, thiệt hại về lâm sản được rút xuống… 39,1m3, giá trị thiệt hại chỉ còn 32.513.504 đồng. Nhưng Viện KSND huyện Lâm Hà lại bổ sung giá trị môi trường bị thiệt hại là 97.540.512 đồng. Lần này, không chỉ một bị can Tài chịu trách nhiệm bồi thường, mà thêm 8 bị can người dân tộc cùng với Tài, phải bồi thường số tiền 130.054.016 đồng.
Điều kỳ lạ, cáo trạng số 71 hoàn toàn không đề cập một dòng nào đến dấu hiệu ngoại phạm của bị can Phạm Văn Tài trong buổi sáng 24.4.2015 (tức ngày Cơ quan CSĐT kết tội Tài có hành vi phá rừng cùng 8 người dân tộc). Ít nhất có 5 nhân chứng đã đứng ra lên tiếng xác nhận, trong buổi sáng hôm đó, Tài đã phụ giúp lợp mái tôn nhà ông Phạm Văn Tam và ăn trưa tại nhà ông Tam.
Song, không hiểu tại sao, đại úy Vũ Xuân Quyết - người chịu trách nhiệm chính điều tra vụ án - không đưa lời khai từ các nhân chứng này vào hồ sơ vụ án? Trong lúc đó, đại úy Vũ Xuân Quyết chỉ ngả theo các lời khai giống nhau như đúc một khuôn của 8 thủ phạm phá rừng, là người dân tộc thiểu số, rằng Tài đã “chủ mưu”, có hành vi “phá rừng bằng cưa tay, dao phát” (?!). (Lao Động 12/10) đầu trang(
Cả con đường dài liên thôn của xã An Hải, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, những lò hầm than tự phát mọc lên nhưng không có cơ quan quản lý nào ngăn chặn.
Được đưa vào quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng khi rừng chỉ mới được 5-6 năm tuổi, thậm chí là thấp hơn, người dân lại phát trắng bán để hầm than. Tình trạng này đang diễn ra ở xã An Hải, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, nhưng chính quyền lại không thể ngăn chặn. Điều gì đã khiến cơ quan chức năng không thể ngăn chặn tình trạng này? (Đài Truyền Hình Việt Nam 11/10) đầu trang(
Ngày 19-10 tới, TAND tỉnh Kiên Giang sẽ xử phúc thẩm vụ vợ chồng ông Trần Kiều Hưng (nguyên phó bí thư Đảng ủy xã Cửa Cạn, Phú Quốc) bị truy tố về tội hủy hoại rừng. Trước đó, tháng 11-2015, TAND huyện Phú Quốc xử sơ thẩm lần ba đã tuyên bố vợ chồng ông Hưng không phạm tội nhưng bản án này bị VKSND huyện kháng nghị phúc thẩm.
Theo hồ sơ, tháng 9-2012, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia (VQG) Phú Quốc đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy hoại rừng. Sau đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Quốc đã ra quyết định khởi tố vợ chồng ông Hưng về tội này.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm VQG Phú Quốc, khi đang thuê người chặt hạ cây rừng trên đất rừng đặc dụng tại tiểu khu 8, phân khu phục hồi sinh thái VQG Phú Quốc (thuộc ấp 3, xã Cửa Cạn) thì vợ chồng ông Hưng bị Trạm Kiểm lâm xã Cửa Cạn phát hiện, lập bốn biên bản đình chỉ từ ngày 2-11-2011 đến ngày 23-12-2011. Sau đó vợ chồng ông Hưng không chấp hành mà vẫn tiếp tục thuê người vào gom đốt các cây rừng đã chặt hạ để trồng cây ăn trái.
Sau đó các cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra, khám nghiệm hiện trường diện tích rừng bị hủy hoại là 4.042 m2, làm chết 179 cây rừng các loại, trong đó 87 cây có trữ lượng gỗ 10,721 m3.
Trong quá trình tố tụng, vợ chồng ông Hưng không thừa nhận hủy hoại đất rừng đặc dụng của VQG Phú Quốc. Họ khai năm 1987, cha vợ ông Hưng cho vợ chồng ông phần đất có diện tích 17.441 m2. Năm 2010, vợ chồng ông Hưng làm thủ tục xin cấp giấy đỏ. Tháng 1-2010, hội đồng tư vấn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Cửa Cạn do chính ông Hưng làm chủ tịch hội đồng đã đề nghị cấp giấy và được UBND huyện Phú Quốc cấp giấy đỏ với diện tích 6.750,5 m2, phần đất còn lại do nằm trong ranh giới VQG nên không được cấp. Vợ chồng ông Hưng cho rằng thửa đất 4.042 m2 bị chặt hạ cây nói trên nằm trong thửa đất 6.750,5 m2 mà họ được UBND huyện Phú Quốc cấp nên họ không phạm tội.
Trong khi đó, VKSND huyện Phú Quốc vẫn xác định phần đất 4.042 m2 bị chặt hạ cây nằm trong ranh giới VQG Phú Quốc nên truy tố vợ chồng ông Hưng về tội hủy hoại rừng theo điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS (hủy hoại rừng đặc dụng). Đến nay, vụ án đã trải qua bốn phiên xử, trong đó có một lần tòa tuyên vợ chồng ông Hưng có tội, một lần tòa tuyên họ không phạm tội.
Cụ thể, tháng 5-2013, TAND huyện Phú Quốc xử sơ thẩm lần đầu, phạt ông Hưng hai năm tù, vợ ông Hưng ba năm tù treo... Tháng 3-2014, TAND tỉnh Kiên Giang xử phúc thẩm lần đầu đã hủy bản án này, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại vì có vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
Tháng 3-2015, TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xử sơ thẩm lần 2 nhưng tuyên trả hồ sơ để điều tra bổ sung. VKSND huyện không đồng tình, giữ nguyên quan điểm truy tố và chuyển lại hồ sơ đến tòa.
Tháng 11-2015, TAND huyện Phú Quốc xử sơ thẩm lần ba. Tại phiên tòa này, theo đại diện VKS, vợ chồng ông Hưng vào năm 2006 còn có hành vi phá 7.010 m2 đất rừng VQG tại ấp 3 (xã Cửa Cạn), đã bị xử phạt hành chính hơn 19 triệu đồng nhưng đến nay vẫn chưa nộp phạt. Đại diện VKS đã đề nghị HĐXX phạt ông Hưng 3-4 năm tù, vợ ông Hưng 2-3 năm tù treo.
Sau hai ngày xét xử, HĐXX tuyên bố vợ chồng ông Hưng không phạm tội hủy hoại rừng như VKS truy tố. Theo HĐXX, thửa đất 4.042 m2 vợ chồng ông Hưng bị cáo buộc hủy hoại rừng không nằm trong ranh giới VQG mà nằm trong thửa đất 6.750,5 m2 mà vợ chồng ông Hưng được UBND huyện Phú Quốc cấp giấy đỏ. Mặt khác, các cột mốc do cơ quan chức năng đi cắm mốc ngoài thực địa dùng để xác định vị trí thửa đất 4.042 m2này chưa được chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt nên không có giá trị pháp lý.
Ngay sau đó, VKSND huyện Phú Quốc kháng nghị, đề nghị tòa phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng có tội. Theo VKS, bản án sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm hủy hoại rừng đang có dấu hiệu gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng...
Theo VKSND huyện Phú Quốc, CQĐT, VKS, Trung tâm Kỹ thuật và phát triển quỹ đất - Sở TN&MT tỉnh, Sở NN&PTNT tỉnh, Phòng TN&MT huyện Phú Quốc, Hạt Kiểm lâm VQG Phú Quốc, Phòng Nghiên cứu khoa học môi trường - VQG Phú Quốc và chính quyền xã Cửa Cạn đã khám nghiệm, kiểm tra hiện trường tổng cộng tám lần bằng máy định vị GPS 76 CSX sử dụng hệ tọa độ VN-2000 để xác định thửa đất vi phạm. Tám lần này đều có ông Hưng trực tiếp đi cùng để chỉ dẫn (có ghi hình) từ thời điểm rừng bị chặt hạ, bị đốt...
Qua tám lần kiểm tra hiện trường, các cơ quan chức năng xác định hai thửa đất (thửa đất 4.042 m2 bị chặt hạ cây rừng và thửa đất 6.750,5 m2 được cấp giấy đỏ của vợ chồng ông Hưng) có vị trí riêng biệt, không trùng nhau; thửa 4.042 m2 bị chặt hạ cây rừng nằm trong ranh giới VQG Phú Quốc. (Pháp Luật TP.HCM 12/10) đầu trang(
Ngày 11/10, Công an huyện Quế Phong cho biết, đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vi Văn Hoài trú tại bản Hủa Mương, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Theo kết quả điều tra, trong khoảng thời gian tháng 6 đến tháng 7/2016, các đối tượng Vi Văn Hoài (SN 1989), Vi Văn Hải (SN 1993), Lô Văn Phong (SN 1986), Lô Văn Páo (SN 1990) đều trú tại bản Hủa Mương, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong đã 3 lần rủ nhau đi đến khoảnh 10, 11 tiểu khu 60 Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt thuộc xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, cưa hạ 4 cây gỗ Pơ Mu, sau đó xẻ thành các tấm gỗ Pơ Mu với nhiều kích thước khác nhau đem về sử dụng.
Cơ quan chức năng đã triệu tập và dẫn giải các đối tượng trên đến hiện trường. Các đối tượng đều xác định hiện trường nơi tiến hành thực nghiệm điều tra là các vị trí đã cưa hạ cây Pơ mu, đồng thời dùng cưa xăng diễn lại hành vi phạm tội của mình.
Kết quả thực nghiệm phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường bổ sung và tài liệu điều tra đã thu thập được.
Tổng khối lượng gỗ bị khai thác là 6,22m3, trong đó Vi Văn Hoài đã trực tiếp cưa hạ 4 cây gỗ Pơ mu còn 3 đối tượng Hải, Phong, Páo cùng tham gia. Ngoài ra, các đối tượng còn khai nhận đã nhiều lần dùng cưa xăng xẻ một số thân cây và ngọn cây gỗ Pơ mu; một số bị cưa hạ đã lâu còn sót lại gần khu vực đã cưa hạ 4 cây gỗ Pơ mu trên. Nhưng do thời gian khai thác đã lâu, số gỗ khai thác được một phần đã đem bán, số ít còn lại đã sử dụng nên không xác định được khối lượng gỗ bị khai thác trái phép trong những lần này.
Công an huyện Quế Phong đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vi Văn Hoài về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự. Đồng thời ra quyết định xử lý hành chính đối với Lô Văn Phong, Lô Văn Páo và Vi Văn Hải. (Báo Nghệ An 12/10) đầu trang(
Khoảng 4 giờ 00 ngày 11/10/2016, tại Buôn Cư Đrăm, xã Cư Đrăm, huyệnKrông Bông, Đắk Lắk, lực lượng An ninh kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an huyện Krông Bông đã bắt và áp tải 02 xe ô tô tải đang vận chuyển gỗ không có giấy tờ về trụ sở Công an huyện để làm việc.
Trước đó vào rạng sáng ngày 11/10/2016 tại Buôn Cư Đrăm, xã Cư Đrăm, huyện Krông Bông, lực lượng An ninh kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an huyện Krông Bông đã phát hiện 02 xe ô tô tải 47C – 068.32 do Nguyễn An Toàn sinh năm 1969 trú tại thôn 6, Khuê Ngọc Điền, Krông Bông, Đắk Lắk điều khiển, và xe 77C – 109.61 do Nguyễn Duy Hiền sinh năm 1983 trú tại thôn 8, Hòa Lễ điều khiển đang vận chuyển gỗ trên đường.
Qua kiểm tra thì cả 02 xe chở gỗ đều không xuất trình được giấy tờ hợp lệ, gỗ không có búa kiểm lâm (ước tính tổng cộng khoảng 30m3 gỗ các loại) nên đã áp giải 02 xe trên về trụ sở Công an huyện để làm việc.
Vụ việc hiện lực lượng An ninh kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk đang phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Krông Bông tiến hành điều tra làm rõ. (Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Đắk Lắk 11/10) đầu trang(
Sáng 12/10, nguồn tin từ Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh TT-Huế cho biết, lực lượng Đồn Biên phòng Hương Nguyên (huyện miền núi A Lưới) vừa phát hiện vụ vận chuyển 79 phách gỗ lậu trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua địa bàn xã A Roàng. Một tài xế đã bị tạm giữa để điều tra về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Trước đó, Đồn Biên phòng Hương Nguyên nhận được tin báo có xe ô tô chở gỗ lậu trong đêm, nên tổ chức lực lượng tuần tra, mật phục.
Đến khoảng 3h sáng 8/10, lực lượng biên phòng phát hiện xe tải mang BKS 75K - 3923, do Nguyễn Ngọc Phan (sinh năm 1994, thị trấn A Lưới, huyện A Lưới) điều khiển trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua xã A Roàng hướng về phía thị trấn A Lưới, có dấu hiệu khả nghi.
Tiến hành dừng phương tiện kiểm tra tại vị trí km H4-370 đường Hồ Chí Minh, lực lượng biên phòng phát hiện 79 phách gỗ Chò có khối lượng 6,3m3. Toàn bộ số gỗ này không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có những giấy tờ hợp pháp.
Làm việc với cơ quan chức năng, Phan khai nhận chở thuê số gỗ kể trên cho bà Phan Thị Huyền (SN 1979, xã Hương Lâm, huyện A Lưới). Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Tiền Phong 12/10) đầu trang(
Chiều 11/10, ông Nguyễn Anh Đức, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp - dịch vụ - thương mại Hợp Tiến, xã Quảng Sơn (huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) cho biết: Vào lúc 19 giờ tối 10/10, tại chốt quản lý, bảo vệ rừng số 4, tiểu khu 1644, xã Quảng Sơn, thuộc lâm phần do HTX quản lý đã xảy ra một vụ hỏa hoạn nghi do một nhóm người dùng xăng cố tình đốt.
Tại thời điểm này, trong chốt có 4 nhân viên của HTX đang làm nhiệm vụ trực quản lý, bảo vệ rừng và đã nhìn thấy một nhóm người đến ném xăng đốt chốt. Do bị tấn công bất ngờ, nên 1 nhân viên bị dính xăng, bén lửa và bị bỏng nặng, đã được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. 3 nhân viên còn lại may mắn chạy ra khỏi vùng lửa, không bị ảnh hưởng gì nghiêm trọng.
Ngay sau khi xảy ra vụ việc, HTX đã báo cáo với chính quyền, cơ quan chức năng địa phương. Hiện cơ quan công an và các đơn vị liên quan đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Báo Đắk Nông 11/10) đầu trang(
Tại sao lại bảo vệ rừng bằng cách thay đổi cây thông núi Ngự, mà không bằng sự thay đổi khác? Nếu nguy cơ cháy rừng chính là do việc thắp hương, đốt vàng mã từ nghĩa địa dưới chân núi thì cũng nên nghĩ đến việc di dời nghĩa địa. Bởi vì, cây thông đã có mặt ở núi Ngự trước khi nghĩa địa này ra đời.
Con đường từ nhà tôi đến công sở đi qua đàn Nam Giao và rừng thông núi Ngự luôn là khoảng xanh tươi an lành mở ra chào đón ngày mới. Mỗi buổi sáng đi làm, qua rừng thông đàn Nam Giao nhìn lên rừng thông núi Ngự, thấy như mình được nạp một nguồn năng lượng xanh tươi của trời đất. Vậy mà cả tháng nay không dám nhìn lên phía ngọn núi ấy nữa. Ở đó vừa xuất hiện một vạc rừng thông bị cháy vào buổi trưa 21.8 do một ai đó viếng mộ thắp hương và lửa bén vào lá khô cháy lan vào rừng.
Cả khu rừng thông cháy khô và chết đứng giữa trời nắng. Một tuần sau thì cái vạc cháy vàng úa ấy rõ dần và càng xót lòng hơn khi cạnh nó là mảng màu xanh mướt của những cây thông may mắn được cứu. Đứa con trai tôi ồ lên khi phát hiện rừng thông trở nên vàng một cách nhanh chóng và ngây ngô hỏi có phải rừng cây chuyển sang thu nên lá vàng vậy không. Tôi bật cười mà thấy lòng đau nhói như có những mũi kim đâm trong ruột gan.
Những ngọn lá thông núi Ngự đang đâm trong lòng tôi và bất giác câu thơ của người xưa vọng về: “Đau xót lá gan cây đỉnh Ngự/ Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương”.
Câu thơ trong bài “Khuê phụ thán” diễn tả nỗi lòng của bà hoàng phi Nguyễn Thị Định - vợ vua Thành Thái và là mẹ của vua Duy Tân - khóc chồng con bị đày biệt xứ, mà sao nghe như đang khóc cho thông núi Ngự!
Tôi khóc mà anh bạn tôi lại cười: không đủ nước mắt mà khóc thông núi Ngự mô chàng ơi. Cứ vô Google mà “sợt” sẽ ra ngay, mới từ năm 2010 đến nay đã có năm vụ cháy rừng thông núi Ngự. Hầu như năm mô cũng cháy, cứ hễ mùa hè có người lên nghĩa địa dưới chân núi thắp hương là thế nào cũng xảy ra cháy rừng.
Một chuyên gia trồng rừng cho rằng nếu núi Ngự vẫn còn trồng thông thì vẫn còn cháy, vì thảm lá thông rụng dưới mặt đất tiếp giáp với nghĩa địa, chỉ một tàn hương bay vào đó là bùng phát ngay đám cháy. Anh ấy cho rằng nên thay thông bằng một loại cây lá rộng thường xanh sẽ đẹp và hoành tráng hơn, khắc phục được tình trạng cháy rừng nham nhở. Có nên không, khi mà “thông núi Ngự” đã là “cây di sản”?
Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn chép rằng: “núi bằng phẳng vuông vức, đột ngột nổi lên như hình bức bình phong, làm lớp án thứ nhất chính giữa trước kinh thành Huế, tục gọi là núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên là Ngự Bình. Đỉnh núi bằng phẳng, trồng toàn cây thông”. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, từ thời Gia Long, quan lại triều đình không phân biệt phẩm trật lớn nhỏ, mỗi người phải trồng ở Ngự Bình một cây thông. Vì vậy, qua các đời vua Nguyễn, núi Ngự Bình trở thành một rừng thông. Trang thông tin điện tử của thành phố Huế cũng ghi: “Ngày xưa cũng như bây giờ, núi Ngự Bình rợp bóng thông xanh, là nơi thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời”.
“Thông reo núi Ngự” đã là thành ngữ của Huế, nó đi vào và ở lại mãi mãi trong thi ca nhạc họa. “Huế ơi muôn đời vẫn Huế thôi/ Dòng sông Hương đó êm đềm trôi/ Cành thông núi Ngự reo trong gió/ Giọng Huế còn nghe ấm cuộc đời” (Rất Huế - thơ của Phong Sơn). Vậy nên, không phải người Huế bảo thủ khi cứ khăng khăng núi Ngự phải trồng thông, mà lịch sử đã ấn định rằng ngày nào “vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương” thì ngày đó vẫn còn thông trên núi Ngự!
Vậy thì tại sao lại bảo vệ rừng bằng cách thay đổi cây thông núi Ngự, mà không bằng sự thay đổi khác? Nếu nguy cơ cháy rừng chính là do việc thắp hương, đốt vàng mã từ nghĩa địa dưới chân núi thì cũng nên nghĩ đến việc di dời nghĩa địa. Bởi vì, cây thông đã có mặt ở núi Ngự trước khi nghĩa địa này ra đời. Núi Ngự Bình đã là tiền án của kinh thành Huế từ thời chúa Nguyễn Phúc Thái (năm 1687), đến thời Gia Long sử cũng ghi lại rằng vua chọn ngọn Bằng Sơn (tên dân gian) này làm tiền án (bình phong) cho kinh thành.
Thời vua chúa thì ai dám đem người chết đến chôn dưới chân tiền án. Mồ mã dưới chân núi chỉ bắt đầu xuất hiện từ sau năm 1945, khi triều Nguyễn chấm dứt, kinh thành Huế trở thành di tích. Núi Ngự không còn được bảo vệ như là bức bình phong che chắn cho Huế và nói rộng ra là cho mệnh hệ nước nhà.
Trải qua hai cuộc chiến tranh cùng mấy mươi năm hòa bình, ngoảnh lại đã thấy mồ mả dày đặc dưới chân núi, đến nỗi không còn chỗ để chôn và người ta đã lén lút lấn chiếm từng mét đất dưới chân rừng thông để lập mồ mả. Ngọn núi của vua (cái gì của vua thì được gọi tên có chữ “ngự”) năm xưa giờ vẫn xanh rì rừng thông và đã được xếp loại là “rừng đặc dụng” với một quy chế nghiêm ngặt nhằm bảo vệ thắng cảnh. Khu rừng cảnh quan đặc dụng này có chủ nhân hẳn hoi, đó là Công ty lâm nghiệp Tiền Phong.
Đơn vị này cũng là chủ nhân của các rừng thông Thiên An được mệnh danh là “Đà Lạt thu nhỏ”. Vậy thì sao rừng thông Thiên An chưa bao giờ bị cháy mà rừng thông núi Ngự thì năm nào cũng cháy, có năm cháy hai ba lần? Câu trả lời của một vị kiểm lâm và có lẽ ai cũng thấy như vậy: vì Thiên An không có nghĩa địa dưới rừng thông!
Hai mươi năm trước, núi Ngự vẫn còn nằm ở ngoại ô. Lúc đó, nhìn về núi Ngự là nghĩ về một vùng hoang vắng dành cho cõi vĩnh hằng. Con đường với cái tên rất đẹp Ngự Bình đã trở thành một nỗi sợ của nhiều người khi phải đi qua một bãi tha ma. Nhưng đến lúc này, đô thị Huế đã phát triển về đến tận Phú Bài và núi Ngự lẫn nghĩa địa ấy đã nằm lọt thỏm vào trong nội ô. Đứng trên tầng cao khách sạn Tân Hoàng Cung bên bờ sông Hương phóng tầm mắt về phía núi Ngự, không du khách nào mà không ngạc nhiên: sao mồ mã lại chôn trong thành phố?
Các nhà quy hoạch đô thị Huế và chính quyền địa phương hoàn toàn có thể trả lời câu hỏi đó!
“Khó lắm bạn ơi. Người Huế mình rất coi trọng mồ mả, thử hỏi ai dám đụng vô lăng mộ, lãnh đạo mô dám di dời cái nghĩa địa dưới chân núi Ngự Bình? Mà có muốn cũng không được, vì tiền mô ra để giải tỏa hàng vạn ngôi mộ?”. Người bạn kiểm lâm chia sẻ với tôi điều đó một cách rất khó nhọc. Tôi không tin rằng việc làm tốt đẹp ấy lại khó đến mức như vậy!
Vì còn một điều khó hơn cho Huế khi tiền án là một nghĩa địa, và một khu rừng năm nào cũng phát hỏa. Hãy hình dung, nếu nghĩa địa ấy được đưa về an nghỉ vĩnh hằng trong nghĩa trang phía nam đã được quy hoạch ở vùng đồi núi Dạ Lê - Hương Thủy, thì nơi mồ mả chen chúc dưới chân núi sẽ mọc lên một khu rừng thông xanh tươi từ chân núi lên đỉnh Ngự. Khu rừng tiền án này nằm cạnh ngọn núi Bân - nơi Nguyễn Huệ đăng quang hoàng đế - có quảng trường và tượng đài Quang Trung đã xây dựng hoành tráng, sẽ là một cảnh quan đặc sắc, một điểm đến không chỉ của du khách mà cả người dân Huế.
Người đã khuất chắc hẳn sẽ vui khi chỗ nằm của họ đã dành cho một khu rừng thông xanh mát mọc lên, làm đẹp cho Huế và làm vui cho bao người! (Một Thế Giới 12/10) đầu trang(
Đa dạng sinh học rất cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực và nguồn sống cho cả mọi loài trên trái đất.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự đa dạng của các hệ sinh thái, cộng đồng tự nhiên và môi trường sống. Chúng rất cần thiết nhằm đảm bảo an ninh lương thực và nguồn sống cho cả mọi loài trên trái đất này. Tuy nhiên, tác động của khí hậu, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, ý thức con người… khiến ĐDSH đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng.
Theo thông tin từ Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), trong số 8.800 giống loài vật thì có 7% loài đã tuyệt chủng và 17% có nguy cơ tuyệt chủng. Trong số hơn 80.000 loài cây, chỉ dưới 1% loài có tiềm năng được nghiên cứu để sử dụng cho các mục đích khác nhau. Cá cung cấp 20% lượng protein động vật cho khoảng 3 tỷ người; chỉ có 10 loài cung cấp khoảng 30% lượng thủy sản khai thác biển và 10 loài cung cấp khoảng 50% sản lượng nuôi trồng thủy sản.
Hơn 80% trong chế độ ăn của con người được cung cấp từ các nhà máy, từ 20 chủng loại cây trồng. Đối với nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống, ĐDSH cũng đóng vai trò quan trọng nghiên cứu thuốc, các nguồn tài nguyên dược liệu; cung cấp nhiều nguyên liệu công nghiệp bao gồm chất xơ, dầu, thuốc nhuộm, cao su, nước, gỗ, giấy…
Được hưởng nhiều lợi ích từ ĐDSH nhưng con người được xem là nguyên nhân gây ảnh hưởng nặng nề đến ĐDSH. Điều này gây ra bởi nạn phá rừng, ô nhiễm, sự nóng lên toàn cầu, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên quá mức… Theo ước tính của một số chuyên gia, khoảng 30% tất cả các loài trên trái đất sẽ bị tuyệt chủng vào năm 2050.
Còn thông tin từ Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), khoảng 1/3 các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thậm chí người ta ước tính rằng 25% của tất cả các động vật có vú sẽ bị tuyệt chủng trong vòng 20 năm.
Cùng nằm trong chương trình đảm bảo ĐDSH, Trung tâm Hành động và Liên kết vì Môi trường và Phát triển (CHANGE) phối hợp cùng WildAid và African Wildlife Foundation đã công bố loạt phỏng vấn Hãy lên tiếng, hãy bảo vệ tê giác! với sự tham gia của nhiều doanh nhân, chính trị gia, bác sĩ… Chương trình nhằm huy động tiếng nói từ cộng đồng để cùng ngăn chặn thực trạng buôn bán và sử dụng sừng tê giác trái phép tại Việt Nam.
Chẳng biết tự bao giờ nhiều người cho rằng sở hữu sừng tê thể hiện sự giàu có, quyền lực, địa vị xã hội. Bên cạnh đó, làm việc trong môi trường thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều đối tác, các doanh nhân có thể trở thành đối tượng dễ bị ảnh hưởng hoặc bị cuốn theo tư tưởng sai lầm về sử dụng sừng tê.
Từng là người mua sừng tê giác để chữa bệnh cho gia đình, ông Trần Song Hải, Tổng giám đốc công ty Greenlines DP – DP Consulting, kể lại “Thực tế tôi thấy rằng bà của tôi đã qua đời sau đó cho dù cũng đã sử dụng rất nhiều sừng tê, bà của tôi bệnh tình cũng là như thế. Cá nhân tôi thấy sừng tê không có những tác dụng như người ta đồn thổi”.
Tham gia phỏng vấn, bác sĩ và những người nhà của bệnh nhân cũng đã chia sẻ các câu chuyện thật với hy vọng có thể giúp chữa bệnh từ sừng tê. Tuy nhiên, sự thật là sừng tê giác không phải là thần dược, các bác sĩ khẳng định chúng chẳng có công dụng thần kỳ nào. Với mong muốn chữa bệnh ung thư gan giai đoạn ba cho bố, ông Nguyễn Hải Thanh (quận 2, TP.HCM) đã mua sừng tê.
Song, ông chia sẻ “Sừng tê không có một tác dụng gì, thậm chí người bệnh có thể hưởng các phương thức khác để chữa bệnh với cùng số tiền như thế. Người bệnh thì vẫn mất, gia đình tốn số tiền lớn, thiên nhiên môi trường và các loài động vật hoang dã lại bị ảnh hưởng”.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở TN&MT TP.HCM, cho biết “Tôi mong rằng mỗi người dân chúng ta đều có thể góp phần làm thay đổi sâu sắc những vấn đề về môi trường bằng những hành động đơn giản và thiết thực như tăng diện tích cây xanh tại mỗi gia đình, các khu vực công cộng, tạo môi trường cư trú cho động vật. Không săn bắt, buôn bán và tiêu thụ các loài động, thực vật hoang dã trái phép. Kêu gọi mọi người cùng tham gia làm sạch đường phố, khu phố, khơi thông cống rãnh, thu gom và tái chế rác thải”. (Pháp Luật TP.HCM 12/10) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa có công văn yêu cầu các Sở, ngành liên quan tăng cường công tác quản lý các cơ sở nuôi nhốt gấu trên địa bàn TP.
Thực hiện chỉ đạo của UBND TP Hà Nội về tăng cường quản lý gấu trên địa bàn, từ ngày 8-9 đến 16-9, Chi cục Kiểm lâm TP Hà Nội đã phối hợp cùng Tổ chức bảo vệ động vật thế giới (World Animal Protection) thực hiện chương trình gắn chíp điện tử mới cho 99 cá thể gấu trên địa bàn huyện Phúc Thọ.
Đây là khởi đầu của kế hoạch 2 năm tiến hành kiểm tra và gắn chíp điện tử mới cho toàn bộ gấu nuôi nhốt tại các cơ sở trên toàn Hà Nội.
Theo đó, toàn bộ số chíp được gắn cho các cá thể gấu từ năm 2005 đã được thay thế bởi loại chíp điện tử mới, cho phép cán bộ kiểm lâm có thể đọc mã số chíp từ xa mà không cần gây mê. Kĩ thuật mới này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, giám sát số lượng các cá thể gấu tại các trang trại trong thời gian sắp tới.
Trong quá trình kiểm tra và gắn chíp vừa diễn ra, các cán bộ kiểm lâm đã phát hiện một cá thể gấu không gắn chíp (không có nguồn gốc hợp pháp) tại một cơ sở nuôi nhốt gấu trên địa bàn xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ và đã chuyển giao cá thể này cho Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã Hà Nội.
Sau sự việc trên, UBND TP giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chỉ đạo rà soát, kiểm tra công tác quản lý các cơ sở nuôi gấu nhốt theo quy định. (Công An Nhân Dân 12/10) đầu trang(
Tại Việt Nam, trong nỗ lực bảo tồn sao la - một trong những loài động vật quý hiếm và bí hiểm nhất thế giới, được mệnh danh “kỳ lân châu Á”, các chuyên gia đã sử dụng từ các phương pháp thủ công truyền thống đến công nghệ tiên tiến nhất.
Sao la là loài thú lớn cổ đại được phát hiện gần đây nhất. Từ lần đầu tiên được nhìn thấy tại Vườn quốc gia Vũ Quang (Nghệ An) vào tháng 5/1992 đến nay, loài vật này chỉ xuất hiện thêm vài lần. Năm 2006, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xác định tình trạng loài sao la ở mức “cực kỳ nguy cấp”.
“Số lượng cá thể sao la còn lại hiện vẫn chưa được xác định chính xác, nhưng chắc chắn là rất ít” - thạc sỹ (ThS) Lương Việt Hùng - quản lý hợp phần các khu bảo tồn sao la ở Trung Trường Sơn, dự án CarBi của Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam - cho biết.
Với dải phân bố hẹp như dãy Trường Sơn, môi trường gần quốc lộ, đông dân cư khiến sao la bị nạn săn trộm đe dọa. “Tuy không phải mục tiêu chính của bọn săn trộm nhưng sao la vô tình trở thành nạn nhân khi mắc bẫy dùng để bắt các loài động vật khác ở vùng Trung Trường Sơn” - TS Văn Ngọc Thịnh - Giám đốc WWF Việt Nam - khẳng định.
TS Thịnh và ThS Hùng là những người may mắn được tận mắt trông thấy sao la, nhưng kỷ niệm đó đều là nốt buồn của người làm bảo tồn. “Sao la mẹ mắc bẫy chết, chúng tôi được giao nhiệm vụ chăm sóc sao la non. Không biết sao la ăn lá gì nên chúng tôi hái rất nhiều loại lá rừng. Khi đó, sao la non chỉ ăn lá môn thục. Tuy nhiên, nó bị chết sau đó một thời gian” - TS Thịnh nhớ lại.
Sau khi loài sao la được IUCN đánh giá ở tình trạng “cực kỳ nguy cấp”, các chuyên gia bảo tồn xác định việc cấp bách nhất là trả lại hệ sinh thái tự nhiên và loại bỏ nguy cơ săn trộm. Năm 2006-2007, dự án “Hành lang xanh” ra đời nhằm đánh giá tài nguyên rừng, xây dựng cảnh quan ưu tiên bảo tồn sao la.
Năm 2011, mô hình đồng quản lý giữa WWF và Ban quản lý các khu bảo tồn sao la ra đời với các đội bảo vệ rừng có nòng cốt là dân bản địa. Tiếp đó, 4 trạm kiểm lâm, 2 trại bảo vệ rừng được thiết lập. “Hằng ngày chúng tôi tuần rừng, phá bẫy thú, đặt bẫy ảnh; mỗi đợt băng 50km đường rừng, không quản nắng, mưa” - ThS Hùng cho biết. Tháng 7/2013, bẫy ảnh đặt tại vùng núi Quảng Nam đã phát hiện một cá thể sao la.
“Mục tiêu của chúng tôi là rừng lõi khu bảo tồn sao la không còn một dây bẫy, một bóng thợ săn, không còn nạn phá rừng trái phép, khi đó mới trả lại hệ sinh thái tự nhiên cho sao la” - TS Thịnh cho biết.Trong 5 năm tuần tra bảo vệ rừng, 84.000 bẫy thú và hơn 1.000 trại bất hợp pháp đã được các đội bảo vệ rừng thu giữ và phá huỷ. Hiện tại, Khu bảo tồn quốc gia Xê sáp (Lào), Khu bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế, Khu bảo tồn sao la Quảng Nam và Vườn quốc gia Bạch Mã mở rộng đã tạo nên một khu vực phức hợp rừng, xác lập được “ngôi nhà chung” của sao la ở Trung Trường Sơn và Nam Lào.
Các chuyên gia dự án WWF - CarBi đang triển khai giám sát đa dạng sinh học bằng cách dùng bẫy ảnh và phân tích DNA mẫu vắt (mẫu máu mà vắt hút từ động vật khác) thu thập tại rừng lõi 2 khu bảo tồn Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. “Đây là 2 phương pháp được chúng tôi thực hiện song song, hỗ trợ nhau để xác định quần thể sao la có đủ khả năng sinh sản trong tự nhiên không” - TS Thịnh nói.
Phương pháp phân tích DNA qua mẫu vắt được triển khai từ năm 2013. Mẫu được các đội bảo vệ rừng thu thập và lưu trữ trong ống nghiệm với hóa chất cố định DNA kèm thông tin hiện trường. WWF đã gửi mẫu sang Trung Quốc và phát hiện dấu hiệu nghi ngờ của 2 cá thể sao la ở 2 mẫu vắt. Hai mẫu này tiếp tục được gửi đi phân tích DNA tại Đại học Gottingen (Đức), Đại học Copenhagen (Đan Mạch), cho cùng kết quả.
Tuy nhiên theo TS Thịnh, vẫn chưa thể kết luận đó chính là DNA của sao la vì các loài thú có những đoạn gene tương đồng. “Sao la là loài mới phát hiện, chưa có nghiên cứu đầy đủ nên ngân hàng gene chưa có bộ gene mẫu. WWF đang tiếp tục cho thu thêm mẫu vắt. Chúng tôi đã thu được thêm 600 mẫu và đang làm thủ tục chuyển đi, dự kiến sẽ xét nghiệm ở Đại học Berlin, hy vọng sẽ khớp được đoạn gene còn lại” - TS Thịnh bày tỏ.
Trong trường hợp quần thể sao la ngoài tự nhiên không đủ khả năng tái tạo (dưới 4-6 cá thể cái, 1 cá thể đực trong một quần thể), phương pháp bảo tồn gây nuôi sinh sản sẽ được áp dụng. Theo TS Thịnh, các chuyên gia về bảo tồn sao la và về gây nuôi sinh sản, chăm sóc động vật hoang dã hàng đầu thế giới sẽ được tuyển chọn nhằm đảm bảo các cá thể sao la trong môi trường gây nuôi có cơ hội tốt nhất để tồn tại, sinh sản.
“Gây nuôi sinh sản là phương pháp bảo tồn sao la triệt để nhất. Khi triển khai, dự án sẽ được hỗ trợ bởi các vườn thú Frankfurt (Đức), San Francisco (Mỹ)” - TS Thịnh tiết lộ.
WWF vừa chọn ngày 9/7 là Ngày Quốc tế sao la, chính thức công bố dự án “Cứu sao la - đứa em cùng Đất Mẹ” - một chiến dịch cộng đồng giúp nâng cao nhận thức và sự tham gia sâu rộng của xã hội nhằm bảo tồn sao la. (Khoa Học Phát Triển/ Infonet 12/10) đầu trang(
Với bộ sưu tầm hàng trăm cá thể động vật hoang dã quý hiếm từ khắp châu lục cho đến những loài động vật sống ở rừng U Minh Hạ, khu sưu tập, chăm sóc và bảo tồn động vật Khu du lịch sinh thái Sông Trẹm được xem là vườn thú bán hoang dã đầu tiên và duy nhất tại Cà Mau.
Nằm cách TP. Cà Mau khoảng 55km theo hướng đường Hành lang ven biển phía Nam, Khu du lịch sinh thái Sông Trẹm nằm giữa rừng U Minh Hạ (thuộc Ấp 17, xã Khánh Thuận, huyện U Minh) với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, yên tĩnh, rất phù hợp cho du khách thư giãn, nghỉ ngơi vào những ngày cuối tuần, lễ, tết. Đặc biệt, nơi này có một trang trại với cái tên “Vườn sưu tập động thực vật hệ sinh thái rừng tràm”.
Theo thiết kế, khu bảo tồn có tổng diện tích gần 4ha, được xây dựng theo mô hình bán hoang dã, với các loài động vật quý hiếm, với hàng trăm cá thể động vật thuộc loài đặc hữu: Linh dương sừng xoắn, vượn, gấu, đà điểu; những loài động vật quý hiếm hàng đầu Việt Nam: Rái cá, cá sấu, heo rừng, khỉ, trăn gấm, rắn hổ, chồn mướp và các loài: Giang sen, gà đãi, còng cọc, diệc lửa, le le, trích cồ... để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu khoa học và tham quan, giải trí. (Báo Đất Mũi 11/10) đầu trang(
Đến nay Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên của Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa \) đã tiếp nhận và cứu hộ thành công 140 cá thể các loại gồm 86 cá thể động vật cứu hộ, bảo tồn thuộc 36 loài và 54 cá thể động vật kinh tế thuộc 2 loài.
Riêng 9 tháng đầu năm 2016, Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) đã tiếp nhận, cứu hộ 18 vụ với 40 cá thể động vật thuộc 18 loài và 1 tiêu bản, trong đó cứu hộ thành công 39 cá thể động vật của 18 loài, đạt 95% tổng số động vật cứu hộ, chỉ có 1 cá thể động vật cầy vòi mốc bị chết do bị thương quá năng.
Kết quả ghép đôi cùng loài cho sinh sản đã sinh sản thành công 1 hươu sao cá thể, 2 cá thể nhím bờm, 1 cá thể khỉ mốc.
Hưởng ứng Ngày môi trường thế giới 5/6/2016 Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) đã mời đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Lào Cai tổ chức thả ra môi trường tự nhiên của núi Hoàng Liên 7 loài động vật với 27 cá thể động vật hoang dã gồm 1 cá thể cầy vòi mốc, 1 cá thể mèo rừng, 5 cá thể gà so núi, 15 cá thể rắn sọc đuôi, 2 cá thể rắn ráo xanh, 2 cá thể rắn sọc quan, 1 cá thể rắn ráo thường.
Từ nay đến hết năm 2016 Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên trực thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) sẽ tổ chức ghép đôi sinh sản rùa đầu to, khỉ mốc và tiếp tục tái thả động vật hoang dã vào rừng Hoàng Liên 1 cá thể rùa đầu to, khỉ mặt đỏ.
Đồng thời tiếp tục chăm sóc, bảo vệ các cá thể động vật hoang dã đang nuôi tại trung tâm và tiếp nhận các loài động vật hoang dã khác do cơ quan nhà nước và cá nhân bàn giao cứu hộ, nuôi dưỡng theo quy định. (Tài Nguyên Và Môi Trường 11/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Qua hơn 5 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh đã mang lại những tác động tích cực, công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến tích cực.
Chỉ tính riêng trong năm 2015, diện tích rừng được hưởng từ chính sách chi trả DVMTR của tỉnh là hơn 172.000 ha, chiếm 67% diện tích rừng của tỉnh, góp phần nâng cao nhận thức và thu nhập cho các chủ rừng, cũng như người dân nhận khoán bảo vệ rừng. Các chủ rừng đã chủ động, tích cực tuần tra bảo vệ rừng, còn người dân được giao khoán rừng đã có ý thức hơn, chủ động tuần tra bảo vệ diện tích rừng được giao quản lý.
Từ khi Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR đến nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng tại đây được thực hiện tốt hơn. Nguồn kinh phí phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng thu hút được sự tham gia của người dân.
Nếu như năm 2011 khi chưa triển khai chính sách chi trả DVMTR, các tổ nhận giao khoán tham gia vào công tác tuần tra, kiểm soát rừng được 823 lượt người thì đến năm 2015, hoạt động này đã thu hút được 6.157 lượt người tham gia. Thông qua đó, đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời nhiều vụ khai thác rừng trái phép. Công tác phòng cháy, chữa cháy được thực hiện tốt, không để xảy ra vụ cháy nào.
Ông Khương Thanh Long, Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng cho biết: “Qua nguồn kinh phí chi trả DVMTR, đơn vị đã ký giao khoán cho gần 200 hộ dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, từ đó rừng được bảo vệ tốt hơn, cụ thể từ đầu năm 2015 đến nay không xảy ra vụ phá rừng nào. Bên cạnh đó, kinh phí đã góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho hộ nhận khoán, nhận thức của người dân được nâng lên".
Từ nguồn kinh phí chi trả DVMTR, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên đã đề ra những hoạt động thiết thực, công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được chú trọng hàng đầu. Công ty đã thành lập 5 trạm quản lý, bảo vệ rừng và 1 đội cơ động quản lý, bảo vệ rừng, các trạm nằm phân bố trên toàn bộ lâm phận của công ty.
Các đơn vị thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, trang bị thêm phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác tuần tra, bảo vệ rừng, đồng thời ký 300 biên bản với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số cam kết không phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Số vụ phá rừng trái phép giảm đáng kể hằng năm. Nếu năm 2011, số vụ vi phạm là 9 vụ, năm 2012 giảm xuống còn 7 vụ thì đến năm 2015 giảm xuống còn 2 vụ.
Trong điều kiện hiện nay, nguồn tiền DVMTR đã góp phần không nhỏ trong việc giảm gánh nặng của ngân sách nhà nước đầu tư bảo vệ phát triển rừng. Nguồn thu từ DVMTR trở thành nguồn thu nhập quan trọng của các công ty lâm nghiệp, bù đắp một phần kinh phí thiếu hụt cho ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2011-2015, tổng kinh phí bố trí cho các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh là 225 tỷ đồng, trong đó có từ 167 tỷ đồng từ DVMTR.
Hiện bình quân mỗi năm kinh phí DVMTR đóng góp cho công tác bảo vệ và phát triển rừng hơn 40 tỷ đồng, được chi trả cho 30 chủ rừng là các tổ chức nhà nước, 27 chủ rừng tổ chức nhà nước được thuê đất, 10 chủ rừng là cộng đồng dân cư và 1.052 hộ gia đình nhận khoán. Sau 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, toàn tỉnh đã chi trả cho hơn 1.050 hộ gia đình với số tiền 35 tỷ đồng. Tổng mức thu nhập hộ gia đình, cá nhân tham gia nhận khoán rừng là 45 đến 80 triệu đồng/hộ/năm. (Báo Đắk Nông 11/10) đầu trang(
Những năm gần đây, xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao Ngư Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã khắc phục khó khăn, cách trở về địa hình, khai thác có hiệu quả thế mạnh về đất đai để phát triển trồng rừng kết hợp chăn nuôi. Hướng đi này đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân ở xã khó khăn đầu nguồn sông Gianh.
Xã Ngư Hóa vốn biệt lập với thị trấn huyện lỵ Đồng Lê. Muốn đến Ngư Hóa, bất cứ ai cũng phải chọn một trong bốn cách: thứ nhất, ngược ra đất Hà Tĩnh rồi vòng lại; thứ hai, cắt rừng trèo núi từ phía xã Quảng Hợp, Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch để đi bộ vào; thứ ba, đi thuyền máy từ phía chân cầu Minh Cầm ngược lên phía thượng nguồn ngọn Rào Trổ lắm thác, nhiều ghềnh; thứ tư, từ quốc lộ 12A men theo ngọn Rào Trổ, ngược nguồn sông Gianh rẽ vào. Nói chung, tuyến đường nào đến Ngư Hóa cũng xa xôi, gập ghềnh và gian khó.
Cách trở chính là một trong những nguyên nhân khiến cho Ngư Hóa chưa tiến kịp các địa phương khác, là một trong số ít các xã nằm trong tốp nghèo nhất ở Tuyên Hóa... Có thời điểm, nhiều hộ dân trong xã đã tứ tán kéo nhau vào miền nam kiếm sống. Số bám trụ ở lại cũng loay hoay với mấy sào lúa và đất màu ít ỏi, bấp bênh, buộc phải sang tận đất Hà Tĩnh làm thuê. Thế nhưng, năm năm gần đây, Ngư Hóa đã có nhiều khởi sắc.
Điều đáng nói là Ngư Hóa đã biến sự bất lợi về địa hình, đất đai thành lợi thế để phát triển kinh tế, đó là đẩy mạnh việc trồng rừng. Chủ trương, chính sách phát triển kinh tế này đã nhận được sự đồng thuận rất cao của người dân. Xã tổ chức rà soát lại toàn bộ quỹ đất và các triền núi có thể trồng rừng kinh tế để giao cho người dân. Từ những cánh rừng trồng ban đầu, các hộ dân Ngư Hóa học tập kinh nghiệm lẫn nhau và bắt đầu nhân rộng mô hình này. Đến nay, xã Ngư Hóa đã trồng được gần 1.000 ha rừng keo lai, bạch đàn và cao-su, dẫn đầu huyện Tuyên Hóa về diện tích rừng trồng. Trong số diện tích rừng trồng nói trên, có hơn nửa diện tích đã cho thu hoạch với giá trị hàng chục tỷ đồng.
Chúng tôi đến thăm gia đình anh Hà Văn Cảnh ở thôn 5, xã Ngư Hóa, một hộ nghèo đã biết vươn lên làm giàu nhờ trồng rừng. Anh Cảnh cho biết, trước đó đã xa nhà đi làm ăn tận các tỉnh phía nam nhưng thu nhập cũng bấp bênh. Đi rồi mới biết, tiềm năng để phát triển kinh tế ở địa phương là rất lớn nhưng người dân chưa biết phát huy. Nghĩ vậy, nên anh Cảnh quyết định vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng rừng nguyên liệu và chăn nuôi bò sinh sản.
Đến nay, gia đình anh có tới 20 ha rừng keo, tràm và các loại cây khác; đàn bò sinh sản có sáu con, giải quyết việc làm cho nhiều thành viên trong gia đình và lao động ở địa phương. Rừng cây của gia đình anh bắt đầu cho thu hoạch, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Không chỉ gia đình anh Cảnh, Ngư Hóa hiện nay còn có rất nhiều hộ trồng rừng với diện tích từ 10 ha trở lên, như các hộ anh Lê Viết Cường ở thôn 4 (15 ha), anh Thái Văn Thế ở thôn 3 (15 ha), anh Trương Văn Nhỏ ở thôn 1 (12 ha)...
Theo Chủ tịch UBND xã Ngư Hóa Nguyễn Thanh Phong, xã có gần 150 hộ và hơn 500 nhân khẩu. Tính bình quân mỗi hộ có hơn 3 ha rừng trồng kinh tế. Thu nhập từ trồng rừng đã giúp người dân xây được nhà ở kiên cố, mua sắm được nhiều vật dụng sinh hoạt đắt tiền...
Từ khi đẩy mạnh nghề rừng, nhu cầu về việc làm tại xã Ngư Hóa khó khăn đã cơ bản được giải quyết. Ngoài gần 200 lao động chính của xã tập trung cho việc chăm sóc gần 1.000 ha rừng và trang trại, gia trại chăn nuôi, hàng trăm lao động cũng được thuê mướn từ các xã khác đến Ngư Hóa để thu hoạch rừng. Từ chỗ hầu hết các hộ dân ở Ngư Hóa đều nằm trong diện đói nghèo thì nay cả xã chỉ còn khoảng 30% số hộ nghèo.
Điều quan trọng là nguồn thu từ rừng đã tạo ra tiền đề, nội lực để góp sức cùng chính quyền xây dựng nông thôn mới. Từ địa phương đứng “đội sổ” về xây dựng nông thôn mới, đến nay, Ngư Hóa đã thoát khỏi diện xã có dưới năm tiêu chí trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Trước đây do địa hình cách trở, cho nên chi phí vận chuyển gỗ tăng cao, việc tiêu thụ sản phẩm rừng trồng gặp khó dẫn đến ảnh hưởng hiệu quả nghề trồng rừng tại Ngư Hóa. Trong năm nay, tuyến đường Mai Hóa - Ngư Hóa hoàn thành, nối trung tâm huyện Tuyên Hóa gần hơn với xã vùng cao này, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thương.
Chủ tịch UBND xã Ngư Hóa Nguyễn Thanh Phong cho biết: “Cùng với chăn nuôi, trồng rừng đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2015-2020 xác định là mũi nhọn trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nay có đường giao thông, tiềm năng đất đai của địa phương sẽ tiếp tục được khai thác. Trong thời gian tới, xã Ngư Hóa đề nghị cấp trên cho phép chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt, tận dụng quỹ đất để trồng rừng kinh tế. Cùng với các loại cây lấy gỗ, xã vận động người dân phát triển cây cao-su bởi bước đầu cho thấy loại cây công nghiệp này phù hợp với đất Ngư Hóa. Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển trang trại chăn nuôi gia súc, nuôi ong mật dưới tán rừng để tận dụng mặt bằng và có thêm nguồn thu".
Có thể nói, khi người dân đã thấy được lợi ích của việc trồng rừng thì họ rất mạnh dạn đầu tư phát triển diện tích rừng. Đây là hướng đi đúng, phù hợp với lòng dân và đang phát huy hiệu quả ở xã vùng cao Ngư Hóa. (Nhân Dân 12/10) đầu trang(
Dư luận Thủ đô hiện đang quan tâm đến khả năng sống sót của một số cây xà cừ cổ thụ trên đường Kim Mã bị đánh chuyển trong ngày 11/10 để phục vụ việc thi công tuyến đường sắt Nhổn – Ga Hà Nội.
Về việc này, đại diện công ty Beepro, đơn vị thực hiện di chuyển 24 cây xà cừ cổ thụ trên đường Kim Mã cho biết, sau khi tham khảo các ý kiến của chuyên gia về lâm nghiệp, cũng như kinh nghiệm của công ty, phấn đấu 80% số cây xà cừ sau khi đánh chuyển sẽ sống sót.
Để đảm bảo tỷ lệ này, công ty sẽ tiến hành cắt tỉa cành, sau đó đào đất quanh gốc, chặt một số dễ cây cho cây quen với việc hạn chế hút dưỡng chất rồi mới đánh chuyển.
Ngay trong ngày 11/10, đơn vị chính thức huy động khoảng 20 công nhân, bắt đầu cắt cành một số cây xà cừ đoạn đường Kim Mã. Việc hạ tán sẽ tiến hành trong vòng 7-10 ngày, quá trình đào gốc sẽ diễn ra trong vòng 20-25 ngày.
Theo đại diện công ty, sở dĩ mất nhiều thời gian, là công việc đào và vận chuyển gốc cây, không thể thực hiện vào ban ngày mà phải thực hiện vào ban đêm để không ảnh hưởng đến giao thông đi lại của người dân Thủ đô.
Trước đó, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết đã cấp phép cho ban quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội được phép cắt tỉa, chặt hạ và đánh chuyển tổng cộng 109 cây xanh đoạn Kim Mã - Liễu Giai. Trong số này có 103 cây phát triển bình thường nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng và 3 cây có dấu hiệu sâu mục sẽ được dịch chuyển về vườn ươm để chữa trị. Riêng 24 cây xà cừ cổ thụ, có đường kính từ 40cm đến trên 1m sẽ được đánh chuyển để tái sử dụng.
Sở Xây dựng yêu cầu, theo phương án được duyệt, toàn bộ số cây xà cừ trên được đánh chuyển về vườn ươm thuộc huyện Văn Giang (Hưng Yên), chăm sóc cho sống tốt, sau đó sẽ được trồng ở một số tuyến đường khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Như Phóng viên TTXVN đưa tin, để phục vụ cho việc thi công xây dựng hạ ngầm tuyến đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội, đoạn từ cổng đền Voi Phục đến ngã tư Kim Mã – Liễu Giai, Ban quản lý đường sắt đô thị Hà Nội sẽ tiến hành cắt tỉa, đánh chuyển, di dời nhiều cây xanh trên phố Kim Mã. (Bnews 11/10) đầu trang(
Được giao quản lý bảo vệ rừng, nhưng nhiều cán bộ lâm nghiệp huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) lại mua bán, chiếm dụng đất rừng để canh tác. Có nơi, cán bộ công ty lâm nghiệp còn ép người dân đã phá rừng phải bán lại đất cho họ với giá rẻ mạt.
Dọc theo quốc lộ 14C (đoạn qua các xã Thuận Hạnh và Thuận Hà, huyện Đắk Song) là bạt ngàn vườn tiêu, cà phê và nhà ở mọc lên san sát trên đất rừng của Công ty TNHH Lâm nghiệp Thuận Tân (viết tắt Công ty Thuận Tân). Bên cạnh đó còn có hàng chục ngàn trụ gỗ được dựng lên để chuẩn bị trồng tiêu. Cơn mưa rừng tầm tã, đất bazan nhão nhoẹt cũng không ngăn được hàng đoàn xe tải, máy múc, máy phun thuốc đang ầm ầm hoạt động.
Một người dân đang làm rẫy cạnh đó cho hay, nơi đây có khoảng 70ha đất rừng do Công ty Thuận Tân quản lý nhưng đã giao khoán cho nhiều cán bộ huyện. Trong đó, có ông Lê Ân Tình (nguyên Trưởng Công an huyện Đắk Song), ông Nguyễn Văn Lũy và ông Đặng Đình Văn (hiện là Phó Công an xã Thuận Hạnh). Không chỉ cán bộ mà người nhà của họ cũng được giao cả chục hécta đất rừng.
Theo kết luận thanh tra của UBND tỉnh Đắk Nông, vào năm 2010, Công ty Thuận Tân đã ký hợp đồng giao khoán 28ha đất rừng (trái Nghị định 135 của Chính phủ) tại khoảnh 6, tiểu khu 1124, thuộc lâm phần xã Thuận Hà, huyện Đắk Song cho ông Lê Ân Tình, trong đó có tới 22ha rừng tự nhiên.
Sau đó, ông Tình liên kết trồng tiêu và cây muồng với bà Nguyễn Thị Thu Anh (nguyên Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Đắk Mil) trên diện tích 11,6ha. Trong số đất rừng còn lại, ông Tình cho ông Đinh Văn Đức (người làm thuê cho ông Tình) 2,3ha; sau đó ông Đức bán lại cho ông Phan Cảnh Trọng lấy 430 triệu đồng. Ngoài diện tích liên kết với ông Tình, bà Thu Anh còn tự ý sử dụng 1ha đất trống (đất rừng của Công ty Thuận Tân quản lý bị phá năm 2013-2014) để trồng tiêu và muồng.
Trong khi đó, 2 phó công an xã Thuận Hạnh nhận đất rừng bằng… tên vợ. Trong đó, ông Nguyễn Văn Lũy (vợ tên Hoàng Thị Hợi, được Công ty Thuận Tân giao khoán 8,8ha rừng tự nhiên), ông Đặng Đình Văn (vợ tên Phạm Thị Mai, được giao khoán 15ha). Thậm chí, em vợ Phó Công an xã Đặng Đình Văn là ông Phạm Văn Quyết cũng được giao khoán 17ha rừng. Cả 3 người này đều được giao đất rừng từ năm 2011 và 2012. Trong diện tích giao khoán này có 26ha rừng tự nhiên cần phải bảo vệ, nhưng đến thời điểm hiện tại đã… sạch bóng cây rừng.
Khi ông Đặng Đình Văn dẫn đi xem các khu rừng nhận khoán dọc quốc lộ 14C, chúng tôi thấy trên đất rừng do vợ ông Văn đứng tên nhận khoán có 3,5ha hồ tiêu, 2ha cà phê, gần 10ha đã phát dọn để chuẩn bị trồng cây, 4 nhà tạm bằng gỗ trên đất rừng… Hỏi ai trồng cây, làm nhà trên đất này, ông Văn nói: “Do gia đình tôi nhận khoán nhưng không bảo vệ được nên người dân đến phá rừng, chiếm đất rồi tự làm”. Còn trên diện tích 11ha đất rừng giao cho ông Nguyễn Văn Lũy cũng đang hiện hữu 3ha hồ tiêu, 5ha cà phê và 2,5ha đất mới phát dọn.
Trong vai người đi mua đất rẫy trồng tiêu, chúng tôi tìm đến tiểu khu 1124 hỏi mua diện tích đất rừng mà bà Nguyễn Thị Thu Anh đang canh tác. Nằm trải dài hơn 100m mặt tiền quốc lộ 14C, khu đất này có địa thế rất đẹp. Cách đây 5 năm, khi chúng tôi qua đây vẫn thấy nhiều cây rừng xanh tốt, nhưng bây giờ tuyệt nhiên không còn bóng dáng cây rừng nào cả, thay vào đó là khoai lang, tiêu, muồng… đã được trồng lên.
Từ quốc lộ bộ hành theo đường đất vào 20m, chúng tôi gặp bà Thu Anh trong căn nhà gỗ được dựng trên đất rừng. Nghe chúng tôi hỏi mua đất, bà Thu Anh mừng ra mặt và mời vào uống nước bàn chuyện. Khi chúng tôi hỏi diện tích đất này giờ thuộc sở hữu của ai, bà Thu Anh bảo rằng là của bà vì đã mua lại từ ông Tình.
“Tôi và ông Tình làm hợp đồng giao khoán chỉ là giấy tờ giả thôi, còn thực chất ông Tình đã bán cho tôi bằng giấy viết tay với giá 3 tỷ đồng rồi. Đất này chưa được cấp sổ đỏ, nhưng Công ty Thuận Tân đã giải thể rồi nên sau này sẽ trả đất về cho huyện để làm sổ đỏ cho dân, các anh yên tâm đi”, bà Thu Anh trấn an.
Không đề cập giá bán cụ thể nhưng bà Thu Anh cho biết, giá chung ở khu vực này từ 400 - 500 triệu đồng/ha đất trống, còn 300m mặt tiền dọc quốc lộ 14C thì tính giá thổ cư, mỗi mét ngang 10 triệu đồng. Trong khi đó, ông Lê Ân Tình cho biết chỉ liên kết trồng rừng với bà Thu Anh chứ chưa hề bán? “Vào năm 2010, tôi nhận khoán diện tích nói trên và giao cho mấy đứa cháu trông giữ để trồng rừng nhưng không giữ được. Sau đó, tôi làm hợp đồng liên kết với chị Thu Anh để trồng rừng, ăn chia lợi nhuận. Hiện đất ấy vẫn là của tôi chứ chưa hề bán cho ai vì tôi biết mua bán đất rừng là vi phạm pháp luật”, ông Tình cho hay.
Đến các xã Đắk Mol, Đắk Hòa và Nam Bình (thuộc huyện Đắk Song), chúng tôi nghe nhiều người dân tố cáo cán bộ bảo vệ rừng của Công ty TNHH Lâm nghiệp Đức Hòa (Công ty Đức Hòa) bao chiếm, mua bán đất rừng, thậm chí còn đi phá rừng.
Ông L.V.H. (một người dân ở xã Đắk Mol) cho biết: “Dân đụng đến đất rừng là bị cán bộ Công ty Đức Hòa đến chặt cây, phá nhà và trục xuất, nhưng chính những cán bộ này lại sở hữu nhiều đất đai do phá rừng mà có, họ đang ngang nhiên trồng cà phê”. Từ thông tin đó, chúng tôi đã vào tiểu khu 1098 (do Công ty Đức Hòa quản lý) và phát hiện 0,5ha đất trồng cà phê của ông Nguyễn Trường Nhật (cán bộ bảo vệ rừng của công ty) đang cho thu hoạch. Được biết, năm 2013, ông Nhật mua lại 0,5ha đất này chỉ với giá 3 triệu đồng.
Cùng năm đó, ông Hoàng Văn Đại (nguyên Giám đốc Lâm trường Đức Hòa, hiện là cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa) mua lại của ông H. (trú tại bon Blân, xã Đắk Mol) 0,5ha đất rừng cũng với giá… 3 triệu đồng. Ông Đại thừa nhận có mua lại đất rừng của người dân để trồng cà phê. Điều trái khoáy là đất này lại thuộc lâm phần được giao cho Công ty Đức Hòa quản lý, bảo vệ. Ông Đại nói: “Khi nhận trồng rừng cho công ty, tôi thấy diện tích đất liền kề phía dưới bị người dân chặt phá nên hỏi mua để tiện… quản lý(?)”.
Còn ông Nguyễn Chí Cường (cán bộ bảo vệ rừng công ty) không mua đất trống mà mua hẳn 1,5ha cà phê đang kinh doanh (cũng do Công ty Đức Hòa quản lý) của ông L. (ở thôn Rừng Lạnh, xã Đắk Hòa). Không chỉ vậy, có cán bộ của Công ty Đức Hòa còn “tự khai phá” đất rừng làm của riêng. Trong đó, ông Nguyễn Minh Thùy (cán bộ văn phòng công ty) đã “khai phá” 1,2ha tại tiểu khu 1107 để trồng cà phê và đang cho thu hoạch.
Về việc một số cán bộ công ty mua bán đất rừng, ông Phạm Đình Dũng (Giám đốc Công ty Đức Hòa) cho biết: “Bước đầu công ty xác định có 13 cán bộ đã tự khai phá, mua lại đất rừng của người dân để trồng cà phê với diện tích 13,3ha. Trong đó, một số người đã mua trước khi vào làm việc tại công ty, một số khác mua trong quá trình công tác tại đây. Thời gian tới, công ty sẽ thu lại diện tích đất rừng nói trên, đồng thời xử lý trách nhiệm những cán bộ này”.
Theo kết luận thanh tra số 02/KL-UBND ban hành ngày 23-8-2016 của UBND tỉnh Đắk Nông, qua thanh tra công tác quản lý đất đai và bảo vệ rừng tại Công ty lâm nghiệp Thuận Tân đã phát hiện gần 2.500ha đất rừng bị người dân xâm chiếm, chuyển đổi thành đất nông nghiệp trồng cây công nghiệp và cây ngắn ngày.
Nhưng công ty chỉ theo dõi được hơn 139ha đất rừng bị xâm chiếm, chiếm tỷ lệ 5,6%. Trong việc quản lý đất rừng bị phá, còn có tình trạng cán bộ quản lý bảo vệ rừng của công ty mua bán đất rừng trái phép. Qua xác minh, phát hiện 4 quản lý bảo vệ rừng của công ty gồm các ông Bùi Văn Sỹ, Nguyễn Văn Sâm, Đỗ Viết Đàn và Nguyễn Văn Hùng đã có hành vi mua bán trái phép 6,5ha đất rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 12/10) đầu trang(
Từ trụ sở UBND xã Ia Kreng (huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) cho tới phần lớn nhà ở và đất sản xuất của 434 hộ dân, với gần 1.900 nhân khẩu (đa phần là lao động nông nghiệp), đều đang tọa lạc và canh tác trên đất đã có chủ, thậm chí là đất cấm xây dựng nhà ở và khai thác nông nghiệp.
Gần như toàn bộ xã bị liệt vào diện xâm chiếm đất rừng phòng hộ, nghĩa là vi phạm pháp luật nếu chiếu theo quy định. Thế nhưng, ngoài đơn vị quản lý phần đất bị xâm lấn đó thì hầu như không ai quan tâm đến việc vi phạm này.
Hầu hết địa bàn xã Ia Kreng, nơi người dân sinh sống và canh tác lâu nay, thuộc về phần đất sở hữu của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly. Thậm chí, theo đại diện Ban Quản lý, ngay cả trụ sở UBND xã Ia Kreng, từ khi thành lập cũng xây trên phần đất không phải thuộc về xã.
Điều lạ là, mặc dù các hộ dân sử dụng, canh tác trên phần đất được cho là lấn chiếm này nhưng rất ít người biết. Dĩ nhiên là họ không hề có một giấy tờ gì chứng minh mảnh đất bao đời mình sử dụng là của mình.
Trải qua nhiều thế hệ thừa kế, hiện ông Siu Đir (trú tại làng Dóch 1, xã Ia Kreng) có 2 ha đất rẫy và vườn. Năm nay đã gần 50 tuổi, ông Siu Đir cũng không thể nhớ nổi 2 ha đất trên, gia đình có từ bao giờ.
Khi chúng tôi hỏi về nguồn gốc mảnh đất này, ông đều khẳng định đó là đất gia đình do cha ông để lại, trước như thế nào nay vẫn vậy, không hề lấy đất của ai nên càng không có chuyện đang vi phạm pháp luật. Tuy nhiên khi được hỏi về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ có giá trị tương tự, ông Siu Đir thừa nhận là chưa có.
Ông cũng khẳng định không chỉ riêng gia đình ông mà mọi gia đình khác trong làng đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dù một số người cũng đã lên xã hỏi nhiều lần.
Khi được cho biết phần đất đang được sử dụng là thuộc về đất rừng phòng hộ, có đơn vị quản lý cụ thể, ông Siu Đir và một số người dân trong làng Dóch 1 đều khẳng định điều đó chưa được ai thông tin và bao đời người dân sinh sống ở đây cũng không có cơ quan quản lý nào đến để chứng minh đất này thuộc họ sở hữu.
Điều đáng nói hơn, việc mua bán đất đai, nhà cửa của người dân vẫn diễn ra thường xuyên, theo hình thức tự lập giấy tờ thỏa thuận mua bán đôi bên. Bà Trần Thị Lệ Thu (trú làng Dóch 2, xã Ia Kreng) - người khá am hiểu về lịch sử đất đai ở đây cho biết, phần lớn người dân xã này là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu biết về đất đai còn hạn chế.
Khi mua bán đất ở trong xã, phần lớn người mua hỏi bìa đỏ của đất, dân ở đây vẫn rất bình thản trả lời: Đất của ông bà, cha mẹ mình để lại. Ai dám vào lấy, bìa đỏ làm gì nữa?
Không riêng gì các hộ gia đình ở làng Dóch 1, Dóch 2, mà gần như các hộ dân trong xã Ia Kreng cũng rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật mà không hay biết.
Trao đổi với chúng tôi, hầu hết người dân đều khẳng định đất đai do cha mẹ để lại, đã sinh sống và canh tác ổn định qua nhiều đời. Thậm chí nhiều người khi nghe nói về rừng phòng hộ, về Ban Quản lý rừng, còn hỏi lại: Đó là cái gì vậy?(!)
Việc người dân sinh sống và canh tác trong khu vực rừng phòng hộ như ở Ia Kreng cũng là điều dễ hiểu nếu tìm hiểu ngược về lịch sử vùng đất và thói quen sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây.
Có điều, thay vì làm rõ để người dân hiểu và có kế hoạch di dân hoặc phương án bảo tồn rừng phòng hộ để tránh việc bị xâm phạm thêm, chính công tác quy hoạch của địa phương lại làm rối thêm vấn đề này.
Cụ thể vào đầu năm 2009, UBND xã Ia Kreng được thành lập, thế nhưng lại không có sự xác định ranh giới hành chính, chỉ có nhiệm vụ quản lý dân. Toàn bộ địa bàn dân sinh sống mà xã Ia Kreng được giao quản lý ấy, với diện tích khoảng hơn 11.000 ha, đều thuộc quyền quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly.
Nhìn thấy bất cập này, ngay trong tháng 3/2009, UBND tỉnh Gia Lai đã có quyết định thu hồi 55 ha đất của Ban Quản lý rừng phòng hộ và cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất để giải quyết đất sản xuất cho người dân.
Đến tháng 5/2010, UBND tỉnh tiếp tục thu hồi 175,3 ha, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất để giải quyết đất sản xuất cho người dân làng Díp.
Do vậy, sau khi được giao đất, hiện xã chỉ quản lý phần diện tích ít ỏi này, phần đất còn lại (trong tổng số diện tích 11.000ha) là đất lâm nghiệp và đất khác vẫn thuộc sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly.
Do không có một quy hoạch rõ ràng và không bố trí được khu vực cấp đất sản xuất cho người dân nên trong những năm qua, UBND xã Ia Kreng nhiều lần đề nghị UBND tỉnh phân định rõ đất giữa xã và Ban Quản lý rừng phòng hộ để thuận tiện trong việc quản lý và đáp ứng nhu cầu sử dụng đất lâu dài, ổn định của người dân địa phương. Thế nhưng, đến nay vẫn chỉ mới có hơn 230,3 ha trong tổng số hơn 11.000 ha được phép chuyển mục đích sử dụng theo đề xuất.
Ông Rơ Chăm Tâm - Chủ tịch UBND xã Ia Kreng không khỏi trăn trở khi trao đổi với chúng tôi: UBND xã nhiều lần có văn bản đề nghị huyện sớm phân định ranh giới giữa đất lâm nghiệp và nông nghiệp để xã quản lý, thế nhưng từ năm 2009 đến nay mà vẫn chưa có kết quả.
Do vậy, ngay cả trung tâm xã với 434 hộ dân, gần 1.900 khẩu đều “nương nhờ” trên phần đất lâm nghiệp thuộc sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly. Xét về luật là sai, nhưng quả thực không có cách nào khác. (Giáo Dục Và Thời Đại 11/10) đầu trang(
Theo tài liệu của Tổ chức Bảo tồn và quản lý rừng bền vững Hoa Kỳ (Forest Trend), từ năm 2011, Việt Nam đã vượt qua Úc để trở thành nước cung cấp dăm gỗ lớn nhất thế giới. Ngành công nghiệp dăm gỗ của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.
Khối lượng xuất khẩu dăm gỗ tăng từ 400.000 tấn trong năm 2001 lên đến 6.200.000 tấn trong năm 2012. Điều này khiến cho giá trị xuất khẩu gỗ dăm của Việt Nam chiếm tỷ trọng 20% tổng giá trị xuất khẩu dăm gỗ toàn cầu và đạt khoảng 800 triệu USD. Và hiện nay các nhà máy chế biến gỗ dăm xuất khẩu vẫn liên tục được thành lập tại các tỉnh thành.
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa, tính đến tháng 4/2016, toàn tỉnh có 39 cơ sở sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu trái phép tại 10 huyện. Tại Phú Yên thì ngày 31/7 đã khánh thành Nhà máy sản xuất dăm gỗ với vốn đầu tư lên đến 45 tỉ đồng và thị trường xuất khẩu là Nhật, Hàn Quốc, Mỷ.
Tuy nhiên, theo cá nhân người viết thì đó không phải là điều đáng mừng cho kinh tế Việt Nam, cho công nghiệp gỗ Việt Nam. Có thể nhận diện, phát triển công nghiệp dăm gỗ thành một ngành công nghiệp độc lập là kéo lùi sự phát triển, trên phương diện giá trị lẫn cơ cấu kinh tế.
Nên chăng Việt Nam hạn chế phát triển độc lập công nghiệp dăm gỗ xuất khẩu. Bởi lẽ, nếu tập trung nguồn lực phát triển ngành công nghiệp này sẽ đối diện với nhiều hệ luỵ và khó tránh được hậu quả “sớm nở tối tàn”. Tại sao vậy?
Bản chất của gỗ dăm là gỗ vụn, là những thải loại cuối cùng của dây chuyền chế biến sản phẩm gố. Có thể hiểu nôm na là gỗ dăm không thể sản xuất ra những sản phẩm gọi là đồ gỗ mà chỉ có thể sử dụng làm nguyên liệu cho những ngành công nghiệp khác, trong đó có cả việc chế biến những sản phẩm từ gỗ, giả gỗ như MDF hay Okal.
Như vậy, dăm gỗ là sản phẩm có thể tận dụng từ những loại gỗ không còn đáp ứng quy cách và chất lượng cho công nghiệp chế biến gỗ. Việc tận dụng gỗ dăm và tạo ra thương phẩm là một trong những nghiệp vụ kinh tế phát sinh khai thác được tối đa lợi ích, kiểu như giá trị gia tăng, trong ngành chế biến gỗ.
Do vậy, giá trị của gỗ dăm luôn thấp hơn những sản phẩm được tạo ra từ những nguyên liệu chính phẩm cùng loại trong ngành gỗ. Điều đó cho thấy việc phát triển ngành gỗ dăm luôn phải đi sau, luôn đi kèm với công nghiệp chế biến gỗ chính phẩm. Nếu phát triển đơn lẻ công nghiệp gỗ dăm thì đó có thể là hướng phát triển mạo hiểm.
Bởi lẽ, khi phát triển một ngành sản xuất mà sản phẩm được tạo ra là thứ phẩm thì điều đó sẽ khiến cho ngành sản xuất đó luôn đối mặt với nguy cơ phải bán sản phẩm với giá phế phẩm, khi quy luật cung cầu bất lợi cho nhà sản xuất.
Khi phát triển độc lập công nghiệp dăm gỗ thì đầu vào luôn là chính phẩm vì không thể có thứ phẩm thải loại để dùng làm nguyên liệu cho sản xuất. Thế là quy trình kinh tế nguy hại : dùng chính phẩm chế biến thành thứ phẩm để bán giá phế phẩm có thể được lập bất cứ lúc nào.
Tại các nhà máy chế biến gỗ dăm ở Việt Nam, hàng loạt những chính phẩm từ các loại gỗ tràm bông vàng, keo lá tràm hay bạch đàn…đều trở thành thứ phẩm mang tên dăm gỗ sau khi kết thúc một chu trình sản xuất. Trong khi những chính phẩm ấy có thể sử dụng cho công nghiệp chế biễn gỗ, cho ra những thương phẩm có giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều.
Cùng với đó là khối lượng công ăn việc làm, bao gồm cả lao động phổ thống và lao động có tay nghể được tạo ra lớn hơn rất nhiều so với sản xuất gỗ dăm, có cùng công suất. Việc phát triển ồ ạt công nghiệp dăm gỗ sẽ dẫn đến tình trạng các nhà máy chế biến gỗ tinh chế phải cạnh tranh với nhà máy chế biến dăm gỗ về giá cả nguyên liệu, thậm chí thiếu nguyên liệu cho sản xuất.
Như vậy, chỉ vì phát triển ngành công nghiệp gỗ dăm với đầu ra là thứ phẩm mà có thể gây thiệt hại cho ngành chế biến gỗ với đầu ra là thương phẩm có giá trị kinh tế cao hơn. Điều đó chẳng khác gì “ta làm hại mình”. Và hậu quả là sau 5 năm chiếm lĩnh và thống lĩnh thị trường dăm gỗ thế giới, ngành công nghiệp dăm gỗ Việt Nam nhanh chóng rơi vào cảnh khốn khó.
"Hiện mỗi tấn dăm gỗ xuất sang Trung Quốc giá 128 USD, thấp hơn 7 USD so với năm 2015. Chi phí vận chuyển, sản xuất, nhân công ngày càng tăng nhưng giá sản phẩm dăm gỗ xuất khẩu tuột dốc khiến nhiều doanh nghiệp lâm cảnh khốn khó", Ông Vi Nhất Trường - Giám đốc Công ty TNHH Kim Thành Lưu, Quảng Ngãi đã từng than thở như vậy.
Trong bối cảnh công nghiệp gỗ dăm Việt Nam gặp khó khăn, đặc biệt là cung vượt cầu khiến giá giảm và thua lỗ, đã đặt ra yêu cầu phải quy hoạch triệt để công nghiệp dăm gỗ. Việc làm sao để ngành chế biến gỗ, trong đó có gỗ dăm, đã được nhiều người, nhiều cơ quan đề xuất giải pháp, biện pháp trong thời gian qua.
Người viết xin không đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật của các cơ chế và chính sách của nhà nước. Tuy nhiên, theo cá nhân người viết, để tránh được nguy hại cho công nghiệp dăm gỗ thì việc quy hoạch phải đáp ứng được 2 yêu cầu sau đây.
Thứ nhất, quy hoạch công nghiệp dăm gỗ phải đặt trong quy hoạch tổng thể công nghiệp chế biến gỗ, bởi quy trình kinh tế rất nguy hại nếu phát triển độc lập công nghiệp dăm gỗ. Đây có thể nhận diện là con đường đưa doanh nghiệp tới phá sản nhanh nhất, gây thiệt hại cho kinh tế đất nước nhanh nhất và lớn nhất.
Trước thực tế phát triển nóng nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu tại Quảng Ngãi, tỉnh đã nhiều lần yêu cầu các địa phương, sở ngành cần cân nhắc và hạn chế cấp phép mới cho các dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến dăm gỗ nhưng xem ra vẫn chưa dễ giải nhiệt.
Hậu quả là thiếu nguyên liệu sản xuất và một số nhà máy tranh mua keo non hoặc cây gỗ tạp, xay cả vỏ cây nên gỗ dăm xuất khẩu kém chất lượng. Đây là điều tất yếu khó tránh khỏi, dù có mở rộng thị trường xuất khẩu thì cũng phải là phương án lâu dài. Bởi lẽ, việc “ta làm hại mình” luôn tồn tại như một hằng số khi phát triển độc lập công nghiệp dăm gỗ.
Thứ hai, tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp đảo ngược quy trình kinh tế nguy hại - Biến phế phẩm thành thứ phẩm bán giá chính phẩm. Điều này thể hiện phát triển đồng bộ và đảm bảo an toàn vốn cho nhà đầu tư, đảm bảo công ăn việc làm ổn định cho người lao động và tối thiểu hoá thiệt hại trong sản xuất.
Trong ngành chế biến gỗ, đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện thành công việc đảo ngược quy trình kinh tế nguy hại, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp, giúp ổn định kinh tế xã hội. Trong bài viết tiếp theo, tác giả sẽ giới thiệu mô hình kinh tế hiệu quả này.
Như vậy, việc quy hoạch lại ngành chế biến gỗ tại Việt nam là một yêu cầu cấp bách, chứ không chỉ là công nghiệp gỗ dăm xuất khẩu. Và yêu cầu quan trọng nhất đối với việc lập quy hoạch là phải làm sao tránh được nghịch lý “ta làm hại mình” – đó là biện pháp phòng vệ tốt nhất với những nguy hại có thể xảy ra bất cứ lúc nào. (Đất Việt 12/10) đầu trang(
Các doanh nghiệp ngành gỗ đang gặp khó khăn kép khi phải đối mặt với những khó khăn nội tại của doanh nghiệp cũng như nguy cơ rủi ro và thách thức lớn khi Việt Nam mở cửa thị trường sâu rộng theo các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.
Khuyến cáo trên một lần nữa vừa được hàng loạt doanh nghiệp, hiệp hội nghề, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) cùng nhiều chuyên gia mạnh mẽ lên tiếng trong nỗ lực tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ phát triển trong giai đoạn tới.
Ông Phạm Trung Trực, Giám đốc CTCP 27/7 Hải Hậu cho biết, từ mục tiêu mở rộng xuất khẩu các sản phẩm chế biến gỗ, đến nay Công ty buộc phải tập trung vào thị trường nội địa để đảm bảo “được đồng nào chắc đồng ấy”, tránh gặp phải rủi ro phát sinh ngày càng nhiều trong hoạt động xuất khẩu. Ngoài việc bị đối tác chậm thanh toán thì đáng lo ngại hơn cả là các quy định ngày càng chặt chẽ của các thị trường nhập khẩu về nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu cho chế biến gỗ. Chỉ cần bị nghi ngờ có dính líu nhỏ tới nguồn gốc nguyên liệu bất hợp pháp là tất cả lô sản phẩm gỗ xuất khẩu có thể bị đối tác từ chối ngay lập tức, hệ quả đối với doanh nghiệp rất nặng nề.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là những rủi ro mang tính phát sinh. Vấn đề khó khăn nổi cộm nhất mà nhiều doanh nghiệp ngành gỗ thuộc diện nhỏ và vừa luôn phải đối mặt đó là thiếu vốn. Ông Trực chia sẻ, có những đơn hàng sản xuất trong nước và xuất khẩu, song do thiếu nguồn lực, đặc biệt là thiếu vốn nên Công ty hầu như không thể và không dám nhận các đơn hàng lớn, ổn định vì đòi hỏi doanh nghiệp phải có quy mô đầu tư lớn nhằm đảm bảo duy trì nguồn cung cho đối tác.
“Doanh nghiệp gỗ chúng tôi chủ yếu có quy mô nhỏ, thuộc các hiệp hội làng nghề nên nguồn lực vốn rất eo hẹp. Trong điều kiện thực hiện các đơn hàng xuất khẩu lớn, điều khoản thanh toán thường chậm khiến chúng tôi càng khó khăn về quay vòng vốn để đầu tư cho sản xuất. Chính vì vậy, rất mong Nhà nước sớm có chính sách hỗ trợ vay vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để có nguồn lực cho đầu tư phát triển”, ông Trực kiến nghị và cho biết, đây cũng là lý do khiến Công ty phải từ chối, cắt giảm không ít đơn hàng xuất khẩu và quay sang tập trung sản xuất tiêu thụ nội địa.
Nỗi lo lắng buộc phải chuyển hướng kinh doanh sản phẩm gỗ như trên của ông Trực giờ đây đang trở thành mối lo chung của nhiều doanh nghiệp ngành gỗ trong bối cảnh vốn kinh doanh luôn thiếu, trong khi có những rủi ro lớn luôn treo lơ lửng có thể xảy đến bất cứ lúc nào khiến doanh nghiệp tiêu tan toàn bộ công sức, lợi nhuận và thậm chí là âm vốn.
Theo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. HCM (HAWA), mặc dù ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ có nhiều tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 6,9 tỷ USD trong khi kế hoạch năm 2020 của ngành là 7 tỷ USD, thuộc danh mục các ngành xuất khẩu mũi nhọn của quốc gia, song phần lớn các doanh nghiệp trong ngành có quy mô nhỏ và vừa, với điểm yếu chung là thiếu vốn.
“Hơn 93% doanh nghiệp gỗ tại Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa nên hầu hết các doanh nghiệp này đều thiếu và yếu về nguồn lực, đặc biệt là vốn, thông tin thị trường, cũng như khả năng tiếp cận thông tin, quy định luật pháp, đặc biệt là các quy định về cam kết hội nhập và cơ hội thị trường, từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh và khả năng mở rộng phát triển ngành gỗ thành ngành xuất khẩu chủ lực”, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch HAWA nói.
Theo ông Hạnh, để giải quyết bài toán khó này, vấn đề cấp bách hiện nay là cần có các cơ chế, chính sách hỗ trợ ngành gỗ, đặc biệt là chính sách về đầu tư, tín dụng cho doanh nghiệp, xúc tiến thương mại và các chính sách liên quan đến bảo vệ, phát triển rừng, cung cấp thông tin để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong xuất khẩu.
Về dài hạn, HAWA kiến nghị sớm ban hành Luật Doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó tạo khung pháp lý thuận lợi cho hoạt động hỗ trợ khu vực doanh nghiệp này cũng như tạo cơ hội tiếp cận các hỗ trợ cho doanh nghiệp ngành gỗ.
Liên quan đến các cam kết hội nhập, ông Tô Xuân Phúc, đại diện Tổ chức Forest Trends, người có nhiều năm nghiên cứu về ngành chế biến và xuất khẩu gỗ cho rằng, cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường.
“Bộ Công thương cần hỗ trợ các hiệp hội hình thành đầu mối cập nhật thông tin về các quy định của thị trường. Ví dụ, sử dụng kênh tham tán thương mại, xúc tiến thương mại, tiếp cận/dịch các thông tin/chính sách có liên quan và chia sẻ rộng rãi với cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ hỗ trợ các hiệp hội tiếp cận các cơ quan truyền thông để phổ cập những quy định, cam kết hội nhập, đặc biệt liên quan đến nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu cho chế biến gỗ đến doanh nghiệp nhằm tránh rủi ro trong xuất khẩu”, ông Phúc nói. (Đầu Tư Chứng Khoán 11/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hiện tượng nóng lên toàn cầu đã làm cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi cháy rừng ở miền Tây Hoa Kỳ đã tăng lên gấp đôi trong vòng 30 năm qua – và vấn đề sẽ tiếp tục tồi tệ hơn cho đến khi cây cối cháy sạch.
Nhiệt độ không khí cao hơn đã sấy khô thảm thực vật và làm nó dễ cháy hơn. Trong khi 1 số vùng trên thế giới trở nên ẩm ướt hơn do khí hậu ấm lên, thì cháy rừng đã tăng mạnh ở các khu vực như Amazon, Indonesia và các khu rừng ở phía Bắc của Canada, đặc biệt các đám cháy ở bang California và Oregon (Mỹ) đã gia tăng dữ dội. .
Một nghiên cứu mới công bố ngày 10/10 trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences đã chỉ ra mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu với việc gia tăng các vụ cháy rừng trong những thập kỷ gần đây.
Nghiên cứu này được thực hiện bởi các nhà khoa học ở Đài quan sát Trái đất Lamont – Doherty của Đại học Columbia. Nghiên cứu cho thấy rằng, kể từ năm 1984 đến 2015, nhiệt độ cao và dẫn đến sự khô cằn đã làm đám cháy lan rộng thêm 41.000 km2 so với dự tính. Diện tích này lớn hơn cả 2 tiểu bang Massachusetts và Connecticut gộp lại và tương đương với diện tích của Đan Mạch. Các nhà khoa học cho rằng diện tích tăng thêm này gần gấp đôi so với diện tích sẽ bị cháy trong trường hợp nhiệt độ không tăng lên.
Có 8 hệ thống khác nhau đánh giá về độ khô cằn của rừng mà các tác giả đã sử dụng, trong đó có: chỉ số Khắc nghiệt hạn (Palmer Drought Severity Index – PDSI), Chỉ số cảnh báo cháy rừng Mac Arthurs (MacArthur Forest Fire Danger Index – FFDI) và Hệ thống đánh giá nguy cơ cháy của Canada (Canadian Forest Fire Danger Rating System). Sau đó, họ đã so sánh các hệ số đo này với các quan sát cháy rừng thực tế và các mô hình khí hậu quy mô lớn để ước tính ảnh hưởng của con người đến đến sự nóng lên của khí hậu.
Các dữ liệu cho thấy, 55% của sự gia tăng khô cằn dự kiến sẽ dẫn đến cháy rừng có thể là do con người làm ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu.
Đồng tác giả của nghiên cứu này, A. Park Williams – 1 nhà sinh khí hậu học làm việc tại Lamont – Doherty – nhận xét: Cho dù chúng ta cố gắng như thế nào, các đám cháy vẫn sẽ lớn hơn, và lý do thực sự rõ ràng. Khí hậu đang chạy 1 chương trình đã lập trình sẵn về cháy rừng. Chúng ta nên chuẩn bị sẵn sàng cho năm tới với các vụ cháy rừng còn lớn hơn trước đây.
Tuyên bố của các nhà khoa học cho biết các vụ cháy rừng ở các khu rừng phía tây bắt đầu tăng đột ngột trong những năm 1980, được đo bởi khu vực bị cháy, số đám cháy lớn, và độ dài của mùa cháy rừng.
Khí hậu ấm hơn đã gây ra các trân cháy rừng bằng cách làm khô đất. Không khí ấm hơn cũng có thể giữ ẩm hơn, vì vậy không khí hút hết độ ẩm của cây xanh, thảm thực vật, xác thực vật trên đất, và đất. Theo các nhà khoa học, từ năm 1970, nhiệt độ trung bình ở các khu rừng ở miền Tây nước Mỹ đã tăng khoảng 1,5 độ C và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng. Kết quả hiển nhiên là sẽ còn xảy ra nhiều vụ cháy hơn nữa.
Tác giả của nghiên cứu này cho rằng, về mặt tổng thế, các vụ cháy rừng từ những năm 1980 tới nay đã tăng gấp đôi do biến đổi khí hậu và một số nhân tố khác. Một trong số đó là sự dao động khí hậu tự nhiên kéo dài trên Thái Bình Dương đã làm các cơn bão tránh xa khỏi miền Tây nước Mỹ. Một nhân tố còn lại là: chính bản thân các cuộc chữa cháy. Các nhà nghiên cứu cho rằng bằng việc chữa cháy liên tục, chính quyền đã làm cho các khu vực được chữa cháy giữ lại các nhiên liệu khô hơn, và sau này khi bị cháy thì sẽ trở thành nhiên liệu cho các đám cháy thảm khốc hơn.
Các nhà nghiên cứu cũng bổ sung rằng họ không tính đến 1 số nhân tố có thể là 1 phần của biến đổi khí hậu, ví dụ như hàng triệu cây bị chết do bọ cánh cứng ở miền Tây nước Mỹ, và giảm độ ẩm trong đất làm cho tuyết tan sớm hơn. Ngoài ra còn có các bằng chứng về việc thắp sáng – các tia lửa bất thường gây ra đám cháy - có thể gia tăng khí hậu ấm hơn.
Họ chỉ ra rằng, mọi thể loại cháy rừng đều đang gia tăng không chỉ trong nước Mỹ mà trên quy mô toàn cầu.
Và nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này tin rằng, các đám cháy rừng ở miền Tây nước Mỹ còn tiếp tục gia tăng trong nhiều năm.Williams và những người khác còn cho rằng thậm chí, nhiều cánh rừng ở miền Tây sẽ bị cháy rụi, và chúng sẽ làm cho các đám cháy dễ lan rộng hơn.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng không hề có dấu hiệu nào cho biết chúng ta dã đến gần sự kiện đó. Tôi nghĩ rằng việc gia tăng các đám cháy theo cấp số nhân vẫn còn tiếp tục ít nhất là trong vài thập kỷ tới.
Đồng thời, ông cũng cho biết điều đó có nghĩa là người dân nên rời khỏi đường đi của các đám cháy. Ông hoàn toàn lo lắng về việc sống trong các khu rừng chỉ có 1 còn đường vào và ra duy nhất.
Trong tháng 5 vừa rồi, một cơn bão lửa đã tàn phá 1 phần của Fort McMurray ở Alberta, Canada và khu vực quanh đó, buộc 80.000 người phải rời bỏ nhà cửa.
Will Ashley – Cantello, cố vấn trưởng về rừng của WWF – Anh quốc, phát biểu: nghiên cứu này đã nhấn mạnh sự cần thiết phải ngừng sử dụng các nhiên liệu hóa thạnh và giảm việc chặt phá rừng. “Trừ phi chúng ta có hành động, nếu không xu hướng này vẫn sẽ tiếp tục, và có thể cùng với biến đổi khí hậu hình thành nên 1 vòng lặp phản ứng lại: cháy rừng làm gia tăng biến đổi khí hậu, biến đổi khí hậu làm cháy rừng nhiều hơn” (Dân Trí 12/10) đầu trang(./.
|
|||