|
Ngày 11 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Thông tin từ Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 cho biết, vào chiều 6-10, tại khu vực dãy núi Nham Biền thuộc xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) xảy ra cháy rừng. Sau khi phát hiện đám cháy, chính quyền địa phương đã sử dụng lực lượng tại chỗ chữa cháy song không hiệu quả, lửa càng lúc càng to, lan ra diện rộng, diễn biến hết sức phức tạp và nguy hiểm.
Đến 20 giờ 30 phút, được địa phương thông báo tình hình, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động gần 200 cán bộ, học viên, chiến sĩ Trường Quân sự Quân đoàn 2 cơ động vào tham gia chữa cháy. Lãnh đạo nhà trường và Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 đã trực tiếp xuống hiện trường phối hợp cùng các ban, ngành địa phương chỉ đạo chữa cháy. Đến 22 giờ 50 phút, các đám cháy tại triền đồi thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn hoàn toàn được khống chế.
Nhưng ngay sau đó, tại khu vực Ao Câu, xã Đồng Sơn (cách điểm cháy đầu khoảng 3km) xảy ra nhiều đám cháy lớn. Đơn vị tiếp tục tổ chức lực lượng nhanh chóng tiếp cận, phối hợp cùng các lực lượng chữa cháy.
Đây là khu vực rất phức tạp, nhiều dốc đứng, khe sâu, cây cối rậm rạp, lại có đến 5 điểm cháy, nhưng cán bộ, học viên đã không quản hiểm nguy, gian khổ, chia thành các mũi, hướng căng mình chữa cháy. Đến 2 giờ ngày 7-10, các đám cháy rừng được dập tắt hoàn toàn. (Quân Đội Nhân Dân 9/10) đầu trang(
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 bắt đầu được khởi động việc sửa đổi, bổ sung và dự kiến sẽ làm thay đổi diện mạo của ngành lâm nghiệp trong thời gian tới.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn đã chia sẻ với phóng viên xung quanh dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) sửa đổi, bổ sung.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: Luật BVPTR được ban hành từ năm 1991. Thời điểm đó, vấn đề BVPTR đặt ra rất bức bách khi độ che phủ rừng trên cả nước chỉ đạt 28%. Đến năm 2004, Quốc hội phê chuẩn Luật BVPTR 2004 thay thế luật năm 1991.
Những quy định trong luật về cơ bản rất tốt, thể hiện được tư tưởng xã hội hóa nghề rừng. Từ đógiúp hình thành thể chế, các văn bản dưới luật rất đầy đủ. Từ việc hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan đã tác động rất lớn đến ngành lâm nghiệp. Do đó độ che phủ rừng đến nay đã đạt tới 40,8%.
Cùng với đó việc sản xuất chế biến lâm nghiệp đã có những bước tăng trưởng vượt bậc: Năm 2000 chúng ta mới xuất khẩu được 200 triệu USD sản phẩm gỗ và lâm sản thì đến nay, ngành hàng này đã xuất khẩu trên 7,2 tỷ USD. Trước đây, sản xuất các sản phẩm lâm nghiệp trong nước phụ thuộc đến 80% nguyên liệu nhập khẩu thì đến nay dù đã đóng cửa rừng tự nhiên, nhưng hơn 70% nguyên liệu chúng ta đã chủ động được mà không phải nhập khẩu.
Ngành lâm nghiệp đã có rất nhiều thay đổi từ sau Luật BVPTR 2004. Cụ thể là Luật năm 2004 chưa chú trọng đến quản lý rừng theo chuỗi và vai trò của rừng đối với biến đổi khí hậu. Cùng với đó, hiện nay toàn ngành lâm nghiệp cũng đang tập trung thực hiện tái cơ cấu nên cần có luật song hành thì mới đạt được hiệu quả thiết thực.
So với năm 2004, hiện nay lĩnh vực lâm nghiệp cũng đã áp dụng nhiều chính sách mới. Ví dụ như chính sách Red+ đo đếm và giám sát lượng phát thải CO2 từ mất rừng và suy thoái rừng trong phạm vi biên giới mỗi nước. Sau một giai đoạn nhất định, các nước sẽ tính toán lượng giảm phát thải và nhận được số lượng tín chỉ carbon rừng có thể trao đổi trên thị trường dựa trên sự giảm thiểu này. Các tín chỉ sau đó có thể được đem bán trên thị trường carbon toàn cầu hoặc chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng...
Như vậy, chúng ta cần có luật mới để thích ứng và tạo cơ chế liên kết chuỗi trong quản lý rừng bền vững. Luật cũ có 88 điều nhưng dự kiến luật đang soạn thảo sẽ có hơn 130 điều quy định chi tiết về nhiều lĩnh vực trong ngành lâm nghiệp.
Có thể nói đây là việc chỉnh sửa toàn diện. Bộ NN&PTNT cũng sẽ đề xuất đổi tên thành Luật Lâm nghiệp để phù hợp với phạm vi của Luật BVPTR.
Trên cơ sở tổng kết 12 năm thực hiện Luật BVPTR (2004-2016), luật mới sẽ kế thừa những thành quả được đánh giá là phù hợp với thực tiễn và xu hướng của quốc tế như xã hội hóa lâm nghiệp, làm cho rừng có chủ thực sự.
Luật BVPTR cũng sẽ phù hợp với các chủ trương của Đảng đã định hướng và có những chỉ tiêu cơ bản; đồng bộ với các bộ luật liên quan mới sửa đổi, đặc biệt là thay đổi về chế định sở hữu rừng trong Hiến pháp năm 2013. Nếu trước đó, Hiến pháp quy định rừng núi thuộc sở hữu Nhà nước thì Hiến pháp 2013 quy định rõ hơn rừng là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản của quốc gia. Việc thể chế hóa nội dung này rất quan trọng để đảm bảo quyền của chủ rừng.
Luật BVPTR sửa đổi cũng hướng đến việc quản lý ngành lâm nghiệp theo chuỗi, tức là không chỉ dừng ở BVPTR mà quy định cả việc sở hữu rừng bền vững để hướng tới chế biến và tiêu thụ được các sản phẩm lâm nghiệp. Lâm nghiệp đã trở thành nền sản xuất hàng hóa thì phải có luật để hài hòa với pháp luật quốc tế được quy định rõ ràng ở các hiệp định, hiệp ước quốc tế...
Ngoài tư tưởng quy định việc sở hữu rừng được thể hiện rõ trong toàn bộ nội dung của Luật, trong dự thảo nội dung của Luật mới, Ban soạn thảo có bổ sung một mục về vấn đề này.
Dù những đối tượng chủ rừng được xác định giữ nguyên như luật cũ nhưng quyền và sở hữu rừng được quy định khác đi. Đối với rừng trồng, chủ rừng có 3 quyền là quyền định đoạt, quyền sử dụng và quyền chiếm hữu rừng. Từ “chiếm hữu” ở đây là dùng tương đồng với Điều 104 Bộ luật Dân sự khi quy định về “sở hữu”.
Có thể hiểu nôm na là với 3 quyền này, chủ rừng sẽ được “cởi trói” so với trước đây. Nếu trước đây thì dù rừng là của mình nhưng khi khai thác vẫn phải xin phép chính quyền, thì nay chủ rừng có toàn quyền sử dụng đất rừng và lâm sản miễn là nằm trong quy hoạch của địa phương từ trước...
Trong cuộc họp đầu tiên của Ban soạn thảo Luật BVPTR tuần qua, nhiều ý kiến lo ngại thời gian xây dựng khá gấp có thể ảnh hưởng đến chất lượng của Luật?
Thứ trưởng Hà Công Tuấn: Thời gian xây dựng Luật từ khi Chính phủ giao là ngày 29/9/2016 và dự kiến phải gửi Bộ Tư pháp thẩm định dự kiến ngày 20/12/2016; sau đó trình Chính phủ hồ sơ dự án Luật vào 25/1/2017.
Tuy nhiên, không phải bây giờ Bộ NN&PTNT mới bắt đầu triển khai, nhiều công việc đã tiến hành cách đây 1-2 năm như: Tổng kết Luật BVPTR 2004, bao gồm cả đánh giá của quốc tế; các đánh giá tác động và đề xuất đề cương cũng đã được xây dựng trước...
Cùng với nhóm tư vấn, tổ soạn thảo xác định tinh thần làm việc “bao phủ” thời gian, lấy các mốc thời gian đã ấn định để trừ lùi.
Dự kiến, sang tuần tới, Bộ NN&PTNT sẽ gửi đăng tải dự thảo Luật BVPTR sửa đổi trên Cổng TTĐT Chính phủ để lấy ý kiến chuyên gia, người dân, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan. Hy vọng chúng tôi sẽ nhận được nhiều phản hồi để hoàn thiện, bảo đảm chất lượng, tiến độ của bộ luật này. (Chính Phủ 11/10) đầu trang(
Theo số liệu thống kê và kiểm kê rừng, Quảng Ngãi có tổng diện tích tự nhiên gần 515.250ha, với độ che phủ rừng 51,06%. Thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004, thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, sở ngành, đơn vị hữu quan thực hiện. Tuy nhiên, thực tế công tác bảo vệ rừng vẫn còn nhiều hạn chế.
Kể từ khi triển khai thực hiện Luật BV&PTR năm 2004 đến nay, tỉnh ta đã kiện toàn, củng cố tổ chức bảo vệ rừng, PCCCR từ tỉnh đến cơ sở. Lực lượng PCCCR ở cơ sở cũng không ngừng phát triển. Đến nay, toàn tỉnh đã thành lập được 779 tổ, đội/8.273 người và đã ký hợp đồng bảo vệ rừng 6 tháng mùa khô với 123 người/123 xã trọng điểm cháy rừng.
Hiện nay, lực lượng Kiểm lâm tỉnh đã được trang bị 199 phương tiện máy móc, thiết bị các loại, gồm 4 xe ô tô bán tải chở người và thiết bị chữa cháy, 16 xe mô tô tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng, PCCCR, 15 máy bơm chuyên dùng có lưu lượng từ 600-950 lít/phút, 29 loa phóng thanh cầm tay, 15 máy định vị GPS, 997 dụng cụ chữa cháy thô sơ như bàn đập lửa, rựa, bình bơm nước chữa cháy đeo vai. Ngoài ra, xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả 1 trạm dự báo chữa cháy rừng, 96 bảng cấp dự báo cháy rừng, mua sắm 1.196 máy móc, thiết bị, dụng cụ chữa cháy các loại.
Hằng năm, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với Cảnh sát PCCC tỉnh tổ chức huấn luyện nghiệp vụ và diễn tập PCCCR trên địa bàn các huyện. Qua đó đã giúp cho các cấp chính quyền địa phương và các chủ rừng nâng cao nhận thức, kinh nghiệm trong công tác chữa cháy rừng, thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn các địa phương và chủ rừng xây dựng phương án PCCCR để triển khai thực hiện.
Tuy vậy, số vụ cháy rừng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, như từ năm 2005 - 2010 đã xảy ra 46 vụ cháy rừng/172,73ha và từ năm 2011- 2015 đã xảy ra 75 vụ/209,78ha. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân đốt nương làm rẫy, đốt ruộng ven rừng và xử lý thực bì sau khai thác do bất cẩn để cháy lan, gây cháy rừng.
Các hành vi vi phạm Luật BV&PTR còn diễn ra nhiều, trong 10 năm qua (2005 - 2015) đã phát hiện 6.332 vụ vi phạm, gây thiệt hại hơn 658ha rừng, lực lượng chức năng đã tịch thu trên 3.770m3 gỗ các loại, thu nộp vào ngân sách 26,3 tỷ đồng. Trong đó nhiều nhất là vi phạm trên các lĩnh vực như: Phá rừng 681 vụ; mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 1.359 vụ; vi phạm quy định về khai thác gỗ 68 vụ; vi phạm quy định về chế biến gỗ 17 vụ...
Tình trạng cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, cất giữ, vận chuyển gỗ trái pháp luật xảy ra nhiều một phần là do nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân. Khi xảy ra cháy rừng, mặc dù đã huy động rất nhiều người tham gia chữa cháy song hiệu quả chữa cháy rừng đạt thấp và còn lúng túng, bị động khi có cháy lớn.
Nhiều vụ cháy rừng xảy ra không xác định được đối tượng gây ra, nên việc răn đe, giáo dục chưa cao. Việc thực hiện phương châm 4 tại chỗ “chỉ huy, lực lượng, phương tiện và hậu cần tại chỗ” trong công tác chữa cháy rừng đã phát huy được hiệu quả, nhưng còn gặp nhiều khó khăn, do nguồn kinh phí đầu tư cho công tác PCCCR chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Mặt khác, trong những năm gần đây, hệ thống đường giao thông được mở rộng, nhất là các huyện miền núi, tạo điều kiện lưu thông hàng hóa. Nhưng đây cũng là điều kiện cho các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép hoạt động mạnh.
Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi trong việc khai thác, vận chuyển lâm sản như vận chuyển vào ban đêm, cất giấu, sẵn sàng cản trở lực lượng chức năng, trong khi đó việc tổ chức, nắm bắt thông tin về khai thác, mua bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản tại các địa phương còn hạn chế, nên rất khó để phát hiện và xử lý vi phạm. (Báo Quảng Ngãi 11/10) đầu trang(
Sáng 7/10, ông Phạm Văn Nam- Phó Chủ tịch UBND tỉnh vừa chủ trì hội nghị trực tuyến với các thành viên Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, giai đoạn 2011-2020. Hội nghị nhằm tổng kết công tác thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.
Qua tổng hợp trên địa bàn tỉnh về công tác chuyển đổi mục đích rừng, từ năm 2004 đến nay có 4.985 ha diện tích rừng đã được chuyển đổi sang các công trình thủy điện, an ninh quốc phòng, đường giao thông, khu tái định cư, dự án chuyển sang mục đích kinh doanh trồng cao su và các công trình khác.
Về chuyển mục đích sử dụng rừng, có 39 công trình, dự án sử dụng diện tích đất lâm nghiệp có rừng được UBND tỉnh Quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác từ khi Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ có hiệu lực với tổng diện tích là 4.985ha. Số liệu hiện trạng rừng năm 2015 qua kiểm kê (tính đến ngày 31/12/2015) gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh là 365.689,2 ha, trong đó diện tích đất có rừng 310.841,30 ha (rừng tự nhiên 286.998,77ha và rừng trồng 23.842,53 ha); Diện tích đất chưa có rừng 54.847,87 ha.
Qua hơn 12 năm thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, UBND tỉnh và cấp huyện đã cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; ban hành nhiều văn bản quan trọng để triển khai, hướng dẫn thi hành Luật nghiêm túc.
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra việc thực hiện Luật được quan tâm, chỉ đạo sâu sát; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đã được triển khai bằng nhiều hình thức; công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng được triển khai quyết liệt; công tác phát triển rừng, sử dụng rừng được tổ chức thực hiện nghiêm túc và từng bước huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội tham gia.
Theo các thành viên Ban chỉ đạo, song song những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, hiện tỉnh còn có những khó khăn, vướng mắc như việc phân cấp quản lý rừng ở cấp xã khó thực hiện do cán bộ xã năng lực chưa cao, không có chuyên môn và kinh phí để thực hiện; việc giao rừng, cho thuê rừng, nhất là giao và cho thuê đất lâm nghiệp để phát triển rừng vẫn có trường hợp chủ rừng, chủ dự án không đủ năng lực về tài chính, nhân lực để thực hiện…
Sau khi nghe ý kiến của các địa phương, sở, ngành, ông Phạm Văn Nam yêu cầu các sở, ngành liên quan, chính quyền địa phương, các chủ rừng và lực lượng kiểm lâm cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái tạo rừng của các chủ rừng; đảm bảo trồng rừng tập trung, trồng rừng thay thế theo kế hoạch đề ra.
Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện có kế hoạch kiểm tra định kỳ việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các cấp theo quy định.
Trước mắt, trong năm 2016 tổ chức kiểm tra thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng gắn với kiểm tra thực hiện phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng đối với cấp huyện và các xã có rừng; xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nào không triển khai và có biện pháp chỉ đạo khắc phục ngay trong năm 2016.
Hoàn thiện lại dự án đầu tư, bảo vệ, phát triển rừng và nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2017-2020 theo kết quả thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối ngân sách Trung ương hỗ trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý, thu hồi đất lấn chiếm trái phép tại Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông… (Báo Bình Thuận 10/10) đầu trang(
Hơn 9 tháng qua, các Hạt Kiểm lâm, các Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1, số 2 của tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện, chính quyền địa phương có rừng phát hiện, lập biên bản xử lý 807 vụ vi phạm về lâm luật.
Qua tuần tra, nắm địa bàn, cơ quan chức năng phát hiện 64 vụ phá rừng trái pháp luật; 52 vụ khai thác rừng trái phép. Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh còn phát hiện lập biên bản hàng trăm vụ vận chuyển lâm sản, mua, bán cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép. Tang vật được trên 1.000 m3 gỗ các loại.
Diện tích rừng bị thiệt hại trên 100 ha. Đến nay, Chi cục Kiểm lâm, Công an tỉnh đã khởi tố 31 vụ án hình sự để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật; thu nộp ngân sách Nhà nước từ xử lý vi phạm lâm luật trên 9,5 tỷ đồng. Theo đánh giá, dù 9 tháng qua số vụ vi phạm giảm (giảm 72 vụ) so với cùng kỳ nhưng nhiều vụ phá rừng có quy mô lớn, khó phát hiện, tình trạng dùng xe chuyên dụng vận chuyển gỗ lậu nhằm qua mắt cơ quan chức năng vẫn liên tục xảy ra.
Bên cạnh đó, thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các ngành liên quan và chính quyền địa phương có rừng tổ chức gần 800 lượt tuần tra, truy quét về khai thác khoáng sản trái phép có xâm hại đến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Qua các đợt truy quét đã đẩy đuổi 50 đối tượng vào rừng trái phép và thu giữ, phá hủy nhiều phương tiện, vật dụng, lán trại phục vụ cho khai thác khoáng sản trái phép. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình 10/10) đầu trang(
Tình trạng khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản, phát rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại huyện Sông Hinh vẫn diễn biến phức tạp. Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả hơn, huyện Sông Hinh kiến nghị tỉnh cho thành lập các chốt kiểm tra và tăng cường lực lượng.
Theo Hạt Kiểm lâm Sông Hinh, từ đầu năm đến nay, tình trạng khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản, phát rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện vẫn xảy ra ở các xã Sông Hinh, Ea Trol, Ea Bar và khu vực lòng hồ các thủy điện Sông Hinh, Sông Ba Hạ. Qua kiểm tra, truy quét, lực lượng chức năng đã lập biên bản 64 vụ, trong đó khai thác rừng trái phép 17 vụ; vận chuyển, mua bán, cất giữ lâm sản trái phép 46 vụ và 1 vụ vi phạm về quản lý rừng.
Các đơn vị chức năng đã tịch thu hơn 138m3 gỗ các loại, phạt tiền hơn 40 triệu đồng và tiền bán lâm sản tịch thu hơn 875 triệu đồng. Theo ông Phạm Long Hiếu, Phó Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Sông Hinh, ngoài tình trạng phát rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép thì việc khai thác, vận chuyển, mua bán, cất giữ lâm sản trái phép vẫn diễn ra rất phức tạp. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm mỏng, địa bàn quản lý rộng, một số xã còn thiếu kiên quyết trong kiểm tra, xử lý vi phạm.
Ngoài ra, Sông Hinh là huyện miền núi tiếp giáp với một số tỉnh Tây Nguyên, nhưng do không có trạm kiểm soát lâm sản trên đường bộ nên tình hình vận chuyển gỗ, động vật hoang dã từ Tây Nguyên qua địa bàn huyện rất khó phát hiện để ngăn chặn. Hoạt động bảo vệ rừng chủ yếu tập trung vận động người dân, kiểm tra, kiểm soát lâm sản trái phép chứ chưa có giải pháp lâu dài. Sự phối hợp xử lý vi phạm giữa các ngành, UBND xã với lực lượng kiểm lâm chưa thường xuyên, đôi khi còn lúng túng, nhất là những vụ việc nghiêm trọng.
Theo UBND huyện Sông Hinh, địa phương này đã thành lập Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Ngoài ra, 11 xã, thị trấn của huyện cũng thành lập các ban chỉ huy với lực lượng hơn 200 người và 68 tổ bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng với hơn 420 người tham gia.
Từ đầu năm đến nay, huyện Sông Hinh đã tổ chức gần 80 đợt tuyên truyền, đồng thời tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng với khoảng 150 hộ dân. Ông Đinh Ngọc Dạn, Phó Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, cho biết: Huyện sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị liên quan và chính quyền địa phương đẩy mạnh phổ biến Luật Bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức của người dân.
Địa phương sẽ chỉ đạo tăng cường lực lượng tại các khu vực thường xảy ra phá rừng và mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, đồng thời duy trì các tổ công tác chốt chặn tại các cửa rừng. UBND huyện đã chỉ đạo các phòng TN-MT, NN-PTNT và UBND các xã, thị trấn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện thanh tra các tổ chức, cá nhân được giao đất, giao rừng và kiên quyết xử lý các chủ rừng thiếu trách nhiệm, không chủ động ngăn chặn kịp thời để xảy ra cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác gỗ, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép.
Theo UBND huyện Sông Hinh, địa phương này hiện có khoảng 19.630ha rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý và khoảng 6.900ha rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Hinh quản lý. Tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng phòng hộ vẫn còn xảy ra và khá phức tạp, đặc biệt số lượng gỗ được vận chuyển qua khu vực các lòng hồ thủy điện chưa được ngăn chặn triệt để.
Ông Đinh Ngọc Dạn cho rằng, muốn ngăn chặn tình trạng phá rừng thì cần phải đảm bảo lực lượng và phải bảo vệ cây còn đứng trong rừng thì mới hiệu quả. Tuy nhiên, hiện bình quân mỗi người tại các ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn huyện quản lý trực tiếp và chịu trách nhiệm tuần tra khoảng 1.000ha rừng, trong khi địa hình hiểm trở nên khó hoàn thành nhiệm vụ. Nhà nước có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhưng các đơn vị còn lúng túng trong việc sử dụng kinh phí này để tăng cường lực lượng bảo vệ rừng.
UBND huyện Sông Hinhh đã đề nghị tỉnh có hướng dẫn sử dụng kinh phí dịch vụ môi trường rừng để tăng cường, bổ sung lực lượng, phương tiện. Đồng thời, địa phương cũng kiến nghị tỉnh cho thành lập chốt kiểm tra lâm sản tại khu vực giáp ranh giữa xã Sông Hinh với huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) nhằm ngăn chặn việc mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Ông Nguyễn Lý Nguyên, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: Tổng biên chế của ban quản lý rừng phòng hộ bao gồm cả viên chức, lực lượng kiểm lâm (nếu có) và người lao động được xác định trên cơ sở tối đa 700ha rừng có 1 biên chế (trước đây bình quân 1.000ha/người). Đối với Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh hiện quản lý 19.631ha rừng nhưng tổng biên chế là 29 người, vượt quy định 1 người nên đề nghị Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh điều chuyển, bố trí lực lượng, tăng cường khu vực quản lý bảo vệ rừng cho phù hợp.
Riêng Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Hinh (thuộc Bộ CHQS tỉnh) thực hiện theo quy định của pháp luật về an ninh, quốc phòng. Sở NN-PTNT thống nhất việc thành lập thêm chốt kiểm tra lâm sản tại khu vực giáp ranh giữa xã Sông Hinh với xã Chư M’Dóa, huyện M’Đrắk (Đắk Lắk). Sở NN-PTNT đã có tờ trình đề nghị thành lập và ban hành quy chế tổ chức, hoạt động của tổ kiểm tra liên ngành bảo vệ rừng Sông Hinh. Hiện Sở Nội vụ đã thẩm định xong và trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.
Theo UBND tỉnh, việc bảo vệ các rừng phòng hộ hiện nay trên địa bàn tỉnh là rất cấp thiết, do đó cần phải tổ chức lực lượng để bảo vệ, đặc biệt phải có đủ thẩm quyền để kịp thời phát hiện, xử lý đối với các hành vi vi phạm. Theo quy định, việc thành lập các hạt kiểm lâm rừng phòng hộ tại các ban quản lý rừng phòng hộ theo đề nghị của Sở NN-PTNT là không đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định về diện tích rừng phòng hộ, cũng như việc bổ sung biên chế hành chính gặp khó khăn.
Để tổ chức lực lượng bảo vệ các rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh hợp với các quy định hiện hành, UBND tỉnh thống nhất về mặt chủ trương thành lập các tổ kiểm tra liên ngành để kiểm tra, bảo vệ các rừng phòng hộ. Lưu ý, tổ kiểm tra liên ngành do lãnh đạo Hạt Kiểm lâm làm tổ trưởng, chọn các điểm đặt chốt trạm kiểm tra cho phù hợp, xác định rõ nguồn kinh phí để thực hiện. (Báo Phú Yên 11/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tình trạng khai thác, chế biến, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Ia Pa (Gia Lai) diễn biến khá phức tạp.
Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, truy quét, ngành chức năng huyện Ia Pa đã phát hiện và xử lý 38 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 24 vụ so với cùng kỳ.
Qua đó, ngành chức năng đã tịch thu 57,6 m3 và 14,5 ster gỗ các loại, phạt tiền và bán lâm sản, tang vật tịch thu nộp ngân sách nhà nước 368,6 triệu đồng, đã tiến hành khởi tố 1 vụ phá rừng làm nương rẫy. (Báo Gia Lai 8/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã liên tiếp xảy ra 2 vụ phá rừng với khối lượng gỗ lớn tại huyện M’Drăk và huyện Ea Kar.
Cả hai vụ việc đều đã bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ người và tang vật vi phạm để điều tra, xử lý. Nhưng điều mà dư luận quan tâm là tại sao, Thủ tướng Chính phủ đã có lệnh đóng cửa rừng tự nhiên mà rừng ở những nơi vốn được bảo vệ nghiêm ngặt vẫn bị lâm tặc tàn phá?
Ngày 3/10, Đại tá Trần Duy Trường - Trưởng Công an huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk cho biết, ngày 1/10, công an huyện đã có lệnh bắt tạm giam các đối tượng gồm: La O Y Lem (SN 1999), Ha Ra Y Trang (SN 1993) và Lê Mô Y Cường (SN 1980), đều thường trú tại buôn Zô, xã Ea Ly, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên để điều tra, làm rõ hành vi chặt phá rừng xảy ra tại tiểu khu 622, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đắk Lắk.
Trước đó, vào khoảng 9h ngày 28/9/2016, trong lúc tuần tra tại tiểu khu 622, lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn đã phát hiện một số đối tượng đang có hành vi kéo gỗ trong rừng. Bị phát hiện ngay lập tức các đối tượng đã bỏ chạy còn lại La O Y Lem, Ha Ra Y Trang và Lê Mô Y Cường đã bị bắt giữ.
Tại hiện trường, theo lời khai của các nghi phạm và xác định ban đầu của Hạt Kiểm lâm Ea Sô thì nhóm đối tượng đã chặt hạ 26 cây giáng hương (nhóm IIA) và đã xẻ thành 23 hộp gỗ, có khối lượng là 1,452 m3; 8 lóng gỗ xẻ thành hình lục giác, khối lượng 0,665 m3; khối lượng gỗ còn lại chưa xẻ là 5,714 m3. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại (quy tròn) tại hiện trường là 8,702 m3.
Ngay sau đó, toàn bộ hồ sơ vụ việc và các đối tượng bị bắt giữ đã được Hạt Kiểm lâm bàn giao cho cơ quan công an tiến hành điều tra, làm rõ theo quy định của pháp luật.
Theo tìm hiểu, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (xã Ea Sô, huyện Ea Kar) có tổng diện tích 26.600 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là hơn 15.000 ha; phân khu phục hồi sinh thái hơn 9.000 ha; phân khu dịch vụ hành chính là 2.000 ha. Trong khu bảo tồn có nhiều loại gỗ quý, như: Giáng Hương, Cẩm Lai, Cà Te, Trắc… và nhiều động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Thế nhưng, thời gian gần đây, khu rừng này đã bị nhiều nhóm lâm tặc “tấn công” đốn hạ bất kể ngày đêm. Nhiều nơi, rừng bị chặt phá chỉ cách Quốc lộ 29 và cách các trạm kiểm lâm của khu bảo tồn này vài trăm mét. Điều này không chỉ cho thấy sự ngang nhiên, táo tợn của lâm tặc mà còn đặt dấu chấm hỏi về vai trò và trách nhiệm của các cơ quan chức năng.
Đáng chú ý vào tháng 3/2016, tại tiểu khu 637 của khu bảo tồn, 29 cây gỗ giáng hương quý hiếm có đường kính từ 20 đến 30 cm cũng bị lâm tặc chặt hạ chỉ cách quốc lộ 29 khoảng 30 mét và cách Trạm Kiểm lâm số 1, thuộc Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô chừng 500 mét nhưng lực lượng kiểm lâm ở đây không hề hay biết. Đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra được đối tượng trong vụ phá rừng trên (!?)
Chỉ trong 2 ngày cuối tháng 9 năm 2016, các cơ quan chức năng của tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện 2 vụ chặt phá rừng tự nhiên với khối lượng gỗ khá lớn, ngoài vụ phá rừng tại Khu bảo tồn Ea Sô nói trên còn có vụ phá rừng tại tiểu khu 718 thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu.
Tang vật thu giữ gồm 65 lóng gỗ, khối lượng 35 m3 từ nhóm III đến nhóm IV, cùng 4 đối tượng là: Nguyễn Kiệp, Đỗ Ngọc Khoa, Trần Khánh Linh và Hồ Văn Hùng (cùng trú tại tỉnh Phú Yên) đã bị Phòng An ninh kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk cùng với Công an huyện M’Drăk (tỉnh Đắk Lắk) phối hợp bắt giữ vào chiều tối ngày 30/9. Hiện cả 2 vụ chặt phá rừng đang được các cơ quan chức năng điều tra, xử lý.
Điều đáng nói, ngày 20/6/2016, tại hội nghị các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016- 2020 tổ chức tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Thượng tướng Tô Lâm - Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát chủ trì, Thủ tướng Chính Phủ đã chỉ đạo lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên đóng tất cả rừng tự nhiên.
Người đúng đầu Chính phủ cũng đồng thời yêu cầu cấp ủy, chính quyền địa phương nâng cao trách nhiệm được giao, ngăn chặn tình trạng tàn phá rừng đang xảy ra. Thủ tướng cũng đã yêu cầu làm rõ trách nhiệm từng diện tích, từng địa bàn rừng bị mất, xử lý nghiêm các doanh nghiệp sử dụng gỗ không có giấy phép hợp lệ. Nhưng đáng tiếc là từ đó đến nay, rừng tự nhiên ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn bị lâm tặc tàn phá.
Đối với công tác quản lý bảo vệ rừng thiên nhiên Ea Sô, ông Trần Lê Trinh, phó giám đốc ban quản lý khu bảo tồn cho biết, những năm qua lực lượng kiểm lâm đã ký kết quy chế phối hợp lực lượng kiểm lâm của các tỉnh, huyện giáp ranh với khu bảo tồn, nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng ở đây.
Theo đó, lực lượng kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã truy quét, bắt và xử lý lâm tặc tại các vùng rừng giáp ranh thuộc địa bàn huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên) và huyện Krông Pa (tỉnh Gia Lai).
Đồng thời, khu bảo tồn đã thành lập 9 Trạm Kiểm lâm địa bàn để tiến hành quản lý, bảo vệ rừng và kiểm soát lâm sản tại những vùng giáp ranh với các tỉnh Phú Yên, Gia Lai và những điểm nóng trong khu bảo tồn.
“Tuy nhiên, do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các đối tượng phá rừng ngày càng liều lĩnh, manh động và sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi khi chặt phá rừng, săn bắn động vật rừng trái phép, nên rừng ở những khu vực giáp ranh vẫn bị tàn phá nặng nề”, ông Trinh thừa nhận. (Pháp Luật Việt Nam 11/10; Tiền Phong 10/10) đầu trang(
Chiều 10-10, UBND huyện Ia Grai (Gia Lai) có công văn báo cáo tỉnh kết quả xác minh, xử lý vụ vận chuyển gỗ trái phép tại xã Ia Chia vào ngày 6-10 vừa qua.
Theo đó, Công an huyện Ia Grai đã ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra, xử lý theo quy định.
Trước đó, chiều 6-10, tại xã Ia Chia, cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng phát hiện năm xe tải chở gỗ nên yêu cầu dừng xe. Biên phòng kiểm tra, phát hiện số gỗ trên không có giấy tờ hợp pháp nên đã huy động người bắt giữ lô gỗ.
Theo Trung úy Lê Văn Lưu, Đội trưởng Đội Phòng, chống ma túy và tội phạm Đồn biên phòng xã Ia Chia, khi lực lượng chức năng có mặt, lâm tặc bỏ các xe gỗ chạy tán loạn. Khoảng 17 giờ cùng ngày, hàng chục người bất ngờ đến hiện trường xin lại gỗ lậu. Xin không được, những người này lên ba xe tải nổ máy.
Dù các chiến sĩ nổ súng cảnh cáo nhưng nhóm người này vẫn cho xe lao thẳng vào các chiến sĩ. May là những người thi hành công vụ kịp tránh nhưng ba xe máy của trưởng Công an xã Ia Chia và cán bộ đồn biên phòng bị xe tải cán hỏng.
Lực lượng chức năng bố ráp toàn bộ các ngả đường, giữ lại tang vật, còn nhóm người này bỏ trốn.
Kiểm lâm và công an xác định có hơn 75 m3 gỗ các loại bị thu giữ, còn năm ô tô không biển số, số khung, số máy bị đục chưa rõ chủ sở hữu. (Pháp Luật TP.HCM 11/10) đầu trang(
Ngày 7/10, ông Trịnh Xuân Long- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Hà cho biết lực lượng chức năng của huyện đang phối hợp điều tra, xác minh nguồn gốc, đối tượng khai thác, cất giữ 3,3m3 gỗ vô chủ.
Trước đó, đêm 5/10, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với UBND xã Đăk Psi và Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1 tổ chức tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã Đăk Psi và phát hiện tại khoảnh 7, tiểu khu 328, thuộc lâm phần Ban trồng rừng nguyên liệu giấy Đăk Hà (tọa độ X = 550005, Y = 1624094) 26 hộp gỗ dổi (nhóm III)
Tại thời điểm kiểm tra, toàn bộ số gỗ trên không có dấu búa kiểm lâm và chưa phát hiện được đối tượng vi phạm. Qua đo đếm cụ thể, 26 hộp gỗ này có khối lượng 3,302m3.
Đoàn kiểm tra đã lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ trên đưa về Hạt Kiểm lâm để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Kon Tum 8/10; Thanh Niên 10/10) đầu trang(
Ngày 7-10, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Hà Nội khởi tố bị can, bắt tạm giam ổ nhóm gồm năm đối tượng: Nguyễn Xuân Tuấn (SN 1986), Đào Trọng Sơn (SN 1990), Nguyễn Đăng Hải (SN 1986), về tội trộm cắp tài sản; Nguyễn Trọng Tranh và Lê Quang Diễn về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Tất cả các đối tượng trên đều trú tại huyện Thanh Oai (Hà Nội). Để có tiền tiêu xài, nhóm đối tượng này bàn nhau đi trộm cắp gỗ sưa tại các đền, đình, chùa, trụ sở hợp tác xã có kết cấu bên trong bằng gỗ sưa và các khu vực trồng gỗ sưa.
Từ tháng 5 đến tháng 10-2016, các đối tượng gây ra sáu vụ trộm cắp gỗ sưa, tổng giá trị tài sản đã bán thu được gần một tỷ đồng. (Nhân Dân 8/10) đầu trang(
Đứng trước thực tế rừng bị lâm tặc tàn phá từng ngày, bản sự làng Hà Ri triệu tập họp dân, đưa việc giữ rừng vào quy ước của làng, đồng thời lấy ý kiến lập chốt bảo vệ rừng. Đại diện 142 hộ dân biểu quyết đồng ý 100%. Tất cả 142 hộ dân ở Hà Ri đều cung cấp cho làng 1 lao động chính...
Làng Hà Ri hiện có 142 hộ dân gồm 4 dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Bana với hơn 510 nhân khẩu. Người đông nhưng ruộng lúa nước không có, chỉ 14 ha. Cuộc sống người dân ở đây hoàn toàn nương tựa vào nguồn thu từ 300 ha cây điều và khoản hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng hàng năm.
Theo Trưởng làng Hà Ri Đinh Thái, hiện nay, ngoài 668 ha rừng cộng đồng được Nhà nước giao cho tập thể làng Hà Ri quản lý bảo vệ, 142 hộ dân ở đây còn được giao khoán 1.000 ha rừng nguyên sinh tại khu vực Nước Tấn, 98 ha tại Tà Má, 300 ha rừng mô hình do kiểm lâm giao và hơn 625 ha rừng đầu nguồn suối Tà Má giáp ranh với huyện Hoài Ân.
“Nguồn thu chủ yếu của người dân làng Hà Ri là từ cây lâm nghiệp và rừng. Bình quân mỗi nhân khẩu được nhận khoán quản lý bảo vệ khoảng 15 ha rừng. Với mức hỗ trợ 400.000đ/ha/năm, mỗi nhân khẩu có thêm khoản thu 6 triệu đồng/năm cùng các khoản thu từ khai thác lâm sản phụ dưới tán rừng như song mây, mật ong, cây thuốc chữa bệnh”, ông Thái cho hay.
Tuy nhiên, do rừng ở Hà Ri còn nhiều gỗ quý nên lâm tặc chọn làm chốn làm ăn mầu mỡ. Anh Đinh Văn Giang (38 tuổi), Bí thư Chi đoàn làng Hà Ri, cho biết: “Ít ở đâu còn nhiều diện tích rừng nguyên sinh còn gỗ quý như ở Hà Ri. Rừng ở đây còn nhiều gỗ cà te, hương, chò, gõ, trắc… nên nhiều lâm tặc vào khai thác trái phép”.
Anh Giang nhớ lại: “Trước đây, bình quân mỗi tuần lâm tặc vận chuyển 2 xe độ chế chở gỗ khai thác lậu ngang qua làng Hà Ri để về xuôi tiêu thụ, mỗi chuyến khoảng 3-4 khối. Dân nhìn bức xúc lắm, rừng do mình quản lý, họ vào khai thác lậu cứ như lấy trộm đồ trong nhà mình mà không có cách gì ngăn chặn được”.
Trưởng làng Đinh Thái nối tiếp câu chuyện: “Lâm tặc thường chở gỗ từ rừng về xuôi vào ban đêm. Vì quá bức xúc, có nhiều người dân thức cả đêm canh xe chở gỗ lậu, dù chẳng được ai giao nhiệm vụ. Khi thấy xe chở gỗ lậu từ rừng xuống, đi ngang qua làng là gọi điện báo cho các cơ quan chức năng. Nhưng có lẽ do cán bộ không tin mấy vào nguồn tin dân báo nên thì họ trả lời không có lực lượng, khi thì bảo đang bận chuyện này chuyện nọ không xử lý được. Thế là những xe chở gỗ lậu cứ ung dung về xuôi trước những đôi mắt xót xa của dân làng”.
Theo người dân làng Hà Ri, ngoài mang lại lợi ích kinh tế, rừng ở đây còn được bà con xem như là “gia tài” mà Giàng (trời) ban cho dân làng. Bởi thế, ý thức giữ rừng của họ rất cao.
Đứng trước thực tế rừng bị lâm tặc tàn phá từng ngày, bản sự làng Hà Ri triệu tập họp dân, đưa việc giữ rừng vào quy ước của làng, đồng thời lấy ý kiến lập chốt bảo vệ rừng. Đại diện 142 hộ dân biểu quyết đồng ý 100%. Nguyện vọng này được trình lên xã, lên huyện, cấp nào cũng ủng hộ. Thế là vào tháng 5/2015, chốt giữ rừng dân lập đầu tiên trên địa bàn tỉnh Bình Định được lập tại làng Hà Ri.
Chốt giữ rừng làng Hà Ri được dựng ngay con đường độc đạo từ rừng về xuôi, mà người dân gọi là “con đường mạch” của làng. Chốt giữ rừng được làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào Bana, rộng chỉ chừng 9 mét vuông nhưng “uy lực” khôn lường.
“Uy lực” muốn nói ở đây chính là lực lượng trực chốt rất hùng hậu. Tất cả 142 hộ dân ở Hà Ri đều cung cấp cho làng 1 lao động chính tham gia vào lực lượng bảo vệ rừng. Riêng lực lượng trực chốt được thành lập 30 tổ, mỗi tổ 3 người phụ trách 1 ca trực. Mỗi ca trực được chia từ 7 giờ tối đến 7 giờ sáng hôm sau, rồi thay ca từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối, cứ thế xoay vòng đủ tháng.
Thú vị nhất là từ khi lập chốt bảo vệ rừng, bản sự làng Hà Ri còn kêu gọi khoảng 45 thanh niên trong làng từng đi làm thuê cho lâm tặc hoặc trực tiếp khai thác gỗ trái phép từ bỏ chuyện làm ăn bất chính, quay về tham gia vào lực lượng bảo vệ rừng của làng và làm ăn chân chính.
“Những thanh niên trước đây có tham gia vào chuyện phá rừng hiện nay đã chăm chỉ làm ăn, cùng gia đình trồng rừng sản xuất hoặc chăm vườn điều đang cho thu hoạch để kiếm thu nhập chính đáng”, ông Đinh Xuân Hằng cho biết.
Không chỉ trực chốt, mỗi tuần, làng Hà Ri còn tổ chức 2 đợt đi vào rừng truy quét, mỗi đợt có 45 người tham gia. “Sau khi lập chốt bảo vệ rừng, lâm tặc không dám ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu đi qua làng.
Chúng tôi hiểu, như thế không có nghĩa là lâm tặc không còn hoạt động, mà chúng vẫn đang lén lút khai thác xong giấu gỗ trong rừng, đợi đêm đến vận chuyển nhỏ lẻ về xuôi. Do đó, chúng tôi quyết định mở những đợt vào rừng truy quét”, anh Đinh Thái kể. Từ khi thành lập đến nay dân làng đã phát hiện, ngăn chặn khoảng 20 vụ vi phạm.
“Trong những đợt truy quét, mỗi thành viên tham gia phải tự mang cơm theo để ăn trưa, đi hết ngày mới về. Dù không được bồi dưỡng bồi diếc gì, nhưng ai nấy đều hăng hái tham gia. Từ khi lập chốt, mỗi lần phát hiện hoạt động của lâm tặc, chúng tôi gọi điện báo cho UBND xã hoặc kiểm lâm địa bàn bất cứ lúc nào là họ lập tức có mặt ngay. Đến nay lực lượng bảo vệ rừng của làng Hà Ri đã bắt và giao cho UBND xã Vĩnh Hiệp 4 khối gỗ”, trưởng làng Hà Ri cho biết thêm.
Tôi hỏi: “Lâm tặc thường hung hăng, khi đối mặt với họ các anh có thấy sợ không?”. Ông Đinh A Lưng, một thành viên trong lực lượng bảo vệ rừng của làng Hà Ri nói cứng: “Mình làm việc đúng mà sao phải sợ. Lường trước là chúng hung hăng nên mỗi đợt truy quét chúng tôi đi đến 40-50 người, dù thấy chúng tôi tay không nhưng chúng không dám manh động đâu, thường là bỏ chạy... mất dép”.
Ông Phạm Văn Thơm, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hiệp, ghi nhận: “Từ khi làng Hà Ri thành lập lực lượng bảo vệ rừng, những cánh rừng trên địa bàn được bình yên hơn, nạn phá rừng và cháy rừng được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Đây là điều rất đáng ghi nhận của người dân làng Hà Ri”. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/10) đầu trang(
Ngày 09/10, Ban quản lý chương trình UN-REDD II tỉnh Cà Mau phối hợp với Trường THPT Viên An, huyện Ngọc Hiển tổ chức hội thi vẽ tranh với chủ đề về REDD+, biến đổi khí hậu, bảo vệ và phát triển rừng.
Sau gần 3 giờ thi, 40 thí sinh của Trường THPT Viên An đã hoàn thành những bức tranh đẹp, nội dung sinh động, có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục về công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường tại địa phương. Việc tổ chức hội thi đã giúp cho các em học sinh nâng cao kiến thức bảo vệ rừng cho học sinh là mục đích chính của hội thi vẽ tranh .
Kết thúc hội thi, Ban tổ chức đã trao 16 giải thưởng. Em Tô Văn Phúc, học sinh lớp 9A2 đoạt giải nhất, với bức tranh mang tên “Hãy bảo vệ cây để cây bảo vệ bạn”. (Tài Nguyên Và Môi Trường 10/10) đầu trang(
UBND huyện Định Quán vừa tổ chức lễ ký kết quy chế phối hợp về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản với UBND huyện xuân Lộc và UBND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Huyện Định Quán có khoảng 35.000 ha rừng, chiếm 20% diện tích rừng của toàn tỉnh. Trong đó, lâm phận quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú là trên 13.000 ha.
Với diện tích rừng lớn lại nằm tại các khu vực giáp ranh với huyện xuân Lộc và huyện Đức Linh, trong khi đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú lại ít. Chính vì vậy, các đối tượng xâm hại rừng đã lợi dụng địa hình giáp ranh thực hiện các hành vi trộm cắp lâm sản, tẩu tán, trốn tránh sự truy bắt của các lực lượng chức năng nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp.
Trong năm 2015 đã xảy ra 50 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng. Riêng 9 tháng đầu năm nay, số vụ vi phạm tuy có giảm song vẫn còn xảy ra 18 vụ. Việc ký kết quy chế phối hợp về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhằm đẩy mạnh công tác phối hợp, đấu tranh với các hành vi phá rừng, nhất là tại các vùng giáp ranh. (Báo Đà Nẵng 10/10) đầu trang(
Ngày 10/10, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đã gửi thư khen ngợi Cục Hải quan TPHCM vì đã bắt giữ thành công vụ vận chuyển trái phép 2.052 kg ngà voi qua biên giới.
Dưới đây là nội dung thư khen của Phó Thủ tướng Thường trực:
Tôi vui mừng được biết, ngày 1 tháng 10 năm 2016, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1, Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức đấu tranh, bắt giữ thành công vụ vận chuyển trái phép qua biên giới 2.052 kg bước đầu xác định là ngà voi, được cất giấu tinh vi trong hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1.
Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, tôi ghi nhận và biểu dương thành tích xuất sắc của các đồng chí. Chiến công của các đồng chí đã góp phần tích cực trong việc tổ chức triển khai, thực hiện Nghị Quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới và Chỉ thị số 28-CT-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài động vật hoang dã trái pháp luật.
Tôi yêu cầu Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan phối hợp với các cơ quan chức năng để tiếp tục tiến hành điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật, bảo đảm thực hiện nghiêm các cam kết của Việt Nam trong thực thi các công ước quốc tế và các hiệp định song phương, đa phương về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm mà Việt Nam tham gia.
Chúc các đồng chí mạnh khoẻ và tiếp tục giành được nhiều thành tích xuất sắc trong thời gian tới. (Chính Phủ Chính Phủ 10/10) đầu trang(
Trong những nhà nghiên cứu về voọc xám Đông Dương, ông là người đầu tiên tại Việt Nam chụp được ảnh đàn voọc một cách cận cảnh, sinh động nhất, đó là khẳng định của ông Nguyễn Đình Hải, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
Trong Khu BTTN Xuân Liên hiện có quần thể voọc xám lớn nhất Việt Nam đến thời điểm hiện nay. Voọc xám trong Khu BTTN Xuân Liên đã được ghi nhận từ những năm 1998, nhưng chưa có các nghiên cứu chi tiết về tình trạng quần thể và vùng cư trú của loài này.
Hiện ông Hải đang trực tiếp làm nghiên cứu sinh với đề tài “nghiên cứu sinh thái học và bảo tồn loài voọc xám Khu BTTN Xuân Liên”.
Trong quá trình gắn bó với Khu bảo tồn và làm nghiên cứu sinh, ông đã trực tiếp vào rừng ăn ở nhiều ngày để ghi lại những hình ảnh voọc xám. Để gần gũi được voọc xám, ông phải mất nhiều ngày ăn ở trong rừng để làm quen, gần gũi mới chụp được ảnh voọc xám.
Theo kết quả điều tra thực địa và phỏng vấn người dân địa phương và các kiểm lâm viên, trong thời gian từ 2013 - 2015 đã ghi nhận được 7 đàn voọc xám tại Khu BTTN Xuân Liên. Trong quá trình bảo tồn, tổng số voọc xám ước tính khoảng 100 - 200 cá thể, mỗi đàn có khoảng 30 - 35 cá thể. Các đàn có ít nhất 1 cá thể đực trưởng thành, nhiều cá thể cái trưởng thành và cá thể gần trưởng thành. Có 4 đàn đã quan sát có con non.
Số cá thể voọc xám Đông Dương nêu trên phân bố, sinh sống tại bốn dạng sinh cảnh là: rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng thường xanh á nhiệt đới, rừng thường xanh nhiệt đới ít bị tác động, rừng hỗn giao giữa gỗ và cây giang, nứa tại Khu BTTN Xuân Liên.
Hiện voọc xám Đông Dương có vùng phân bố lịch sử thuộc 11 tỉnh gồm: Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Phú Thọ, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh và Quảng Bình. Hiện nay, loài voọc này chỉ còn ghi nhận ở một số khu vực thuộc các tỉnh Điện Biên, Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, với kích thước quần thể nhỏ và rất nhỏ. Quần thể voọc xám tại Khu BTTN Xuân Liên là một trong số ít quần thể lớn nhất của loài này còn sót lại ở Việt Nam.
Nguyễn Đình Hải, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên cho biết: Sau khi phát hiện đàn voọc xám tôi tìm cách tiếp cận, làm quen 3 tháng sau đó mới chụp ảnh được chúng. Để bảo vệ loại voọc xám này, Khu BTTN Xuân Liên đã có nhiều nỗ lực bảo vệ nên hoạt động săn bắt động vật hoang dã được hạn chế. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, khảo sát, cán bộ Khu bảo tồn đã bắt gặp nhiều lán săn và các dàn bẫy động vật được cài trong rừng.
Khu Bảo tồn đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó chú trọng đến việc tăng cường tuần tra, kiểm soát tình trạng săn bắt động vật hoang dã; ngăn chặn, nghiêm cấm khai thác trộm gỗ, chăn thả gia súc tự do, xâm nhập trái phép vào khu bảo tồn; thực hiện các biện pháp lâm sinh thúc đẩy tái sinh tự nhiên rừng; đẩy mạnh việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân vùng đệm... (Gia Đình Và Xã Hội 10/10) đầu trang(
Việc Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 (TP Hồ Chí Minh) phối hợp cùng cơ quan chức năng phát hiện vụ buôn lậu tinh vi hơn 2 tấn ngà voi châu Phi được cất giấu trong 12 khúc gỗ bị đục rỗng và hàn kín 2 đầu bằng đinh vít được xem là vụ buôn lậu ngà voi lớn nhất từ trước đến nay bị phát hiện.
Không chỉ vụ việc trên, thời gian gần đây tình trạng tiêu thụ, mua bán bất hợp pháp động vật hoang dã diễn biến khá phức tạp.
Thế nhưng, báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) TP Hồ Chí Minh cho thấy, hiện công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự về động vật hoang dã không hề dễ dàng, nhiều vụ án, vụ việc Cơ quan điều tra (CQĐT) không xử lý được đành phải tạm đình chỉ điều tra do đối tượng vận chuyển thuê và hàng phạm pháp không định giá được.
Vụ Vũ Trùng Dương vận chuyển 2 kiện hành lý chứa 35 khoanh ngà voi cắt khúc, trọng lượng 22,9kg nhập cảnh vào Việt Nam trên chuyến bay từ Milan - Việt Nam qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất.
Ngày 17-3-2015, Cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án "Vận chuyển hàng cấm", sau đó ra quyết định tạm đình chỉ vụ án vào ngày 29-9-2015. Hay như vụ Đinh Văn Sơn vận chuyển 6 khúc sừng tê giác châu Phi có trọng lượng gần 5kg nhập cảnh từ Paris về Việt Nam. Ngày 24-5-2015, CQĐT đã khởi tố vụ án "Vận chuyển hàng cấm" nhưng sau đó cũng đình chỉ điều tra.
Ngoài vụ việc trên, hàng loạt vụ việc trước đó bị bắt giữ nhưng CQĐT không thể khởi tố vụ án để chờ kết quả định giá hàng phạm pháp.
Điển hình như vụ Nguyễn Thế Hùng vận chuyển trên 1,1kg sừng tê giác; vụ Nguyễn Văn Hiền có hành vi vận chuyển 24,3kg ngà voi châu Phi vào Việt Nam; vụ Nguyễn Đức Minh vận chuyển trái phép hơn 23kg ngà voi và Trương Việt Cường vận chuyển 14,5kg ngà voi được chế tác thành sản phẩm vào Việt Nam qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Theo VKSND, để xử lý tội "Buôn lậu" hoặc "Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới", Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hàng hóa phải có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên mới xử lý hình sự được; hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định tại các điều khoản này hoặc một trong các Điều 155, 161 của BLHS. Do đó, kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự sẽ là căn cứ để xử lý đối với các hành vi vi phạm nêu trên.
Ngoài các lý do trên, một số vụ CQĐT chỉ khởi tố được vụ án mà không khởi tố được bị can, vì sau khi vụ việc bị phát hiện không một đơn vị, cá nhân nào đứng ra nhận là chủ hàng hoặc có mở tờ khai nhưng cũng viện lý do từ chối nhận lô hàng.
Giải thích lý do dẫn đến hàng loạt vụ án liên quan đến động vật hoang dã phải đình chỉ hoặc tạm đình chỉ trong thời gian vừa qua, VKS cho rằng nguyên nhân là do hành lang pháp lý về quản lý cũng như xử lý vi phạm về bảo vệ động vật hoang dã chưa đồng bộ, thống nhất.
Cụ thể, như Điều 190 BLHS quy định về việc cấm các hành vi buôn bán, vận chuyển, săn, bắt, nuôi, nhốt, giết mổ trái phép động vật hoang dã quý, hiếm; hoặc vận chuyển buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó nhưng lại không quy định xử lý hành vi tàng trữ các bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó nên nhiều trường hợp tàng trữ CQĐT không xử lý được.
Hiện tại, một số văn bản cho phép gây nuôi các loại động vật hoang dã quý, hiếm nhưng biện pháp quản lý kinh doanh thương mại các loại động vật này lại không cụ thể, rõ ràng.
Tại khoản 2 Điều 7, Nghị định 157/2013/NĐ-CP có quy định những hành vi vi phạm (trừ hành vi nuôi động vật rừng nhóm IB) được xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự... tạo sơ hở để các đối tượng lợi dụng hợp pháp hóa nguồn gốc các loài động vật hoang dã mà có đối tượng thu, mua gom trái phép để kinh doanh trái phép.
Điển hình là vụ Nguyễn Thế Hùng vận chuyển ngà voi đã chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ, sừng tê giác loại tê giác 2 sừng mới cắt khúc chưa rõ mục đích sử dụng như đã nêu trên.
Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì tại Danh mục động vật, không có quy định về loài tê giác 2 sừng châu Phi và voi châu Phi. Theo hướng dẫn của Công văn 3762 ngày 23-9-2015 của VKSND Tối cao, nếu có tên trong danh mục loài thuộc Nhóm IB tại Nghị định trên thì bị xử lý theo Điều 190 BLHS chỉ áp dụng được đối với hàng hóa thu trong nước.
Ngoài ra, BLHS năm 2015 đang bị cho là sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi thực hiện, xử lý trường hợp động vật thuộc nhóm IB khi quy định: động vật quý hiếm nhóm IIB có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng thì bị xử phạt. Cạnh đó, công tác định giá hàng hóa là sản phẩm đã được chế tác từ các loài động vật này gặp rất nhiều khó khăn do đây là hàng hóa cấm kinh doanh, mua bán trên thị trường nên không có giá tham khảo, không trưng cầu giám định được.
Với những khó khăn, vướng mắc vừa nêu, được biết mới đây VKSND TP Hồ Chí Minh đã có văn bản kiến nghị VKSND TC cần có những văn bản hướng dẫn tạo sự thống nhất trong việc xử lý vi phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan hữu quan.
Không nên định giá trị tiền đối với các loài động vật hoang dã cũng như sản phẩm của chúng mà chỉ quy định theo hình thức cá thể, vì nhiều loài có giá trị rất lớn đối với bảo tồn nhưng lại có giá rất rẻ trong buôn bán.
Cần nghiên cứu, sửa đổi bổ sung các Điều 7, 12, Nghị định 26/2005 của Chính phủ và mục 1, mục 2 phần II Thông tư 55/2006 của Bộ tài chính cụ thể hơn, rõ ràng hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng định giá tài sản khi có yêu cầu trưng cầu định giá trong các vụ án hình sự... (Công An Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa phát hiện 2 loài cua nước ngọt mới ở vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Loài thứ nhất có tên Indochinamon chuahuong Do, Nguyen & Le, được phát hiện ở Chùa Hương, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Loài này tách biệt với các loài đã biết khác trong giống bởi một loạt các đặc điểm như mai có chiều rộng dài hơn chiều dài, cạnh bên trước lồi, khía răng cưa trông rõ; vùng mang hơi lồi khi nhìn từ mặt lưng; các chân bò tương đối dài. Đốt cuối của G1 cong ra phía ngoài, với một mào ở lưng rất thấp. Bài báo mô tả loài này được đăng trên tạp chí quốc tế Raffles Bulletin of Zoology.
Loài cua thứ 2 được phát hiện có tên Tiwaripotamon pluviosum, được tìm thấy ở Bản Coóng, xã Đức Quang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng của Việt Nam và Khu bảo tồn thiên nhiên Nonggang, huyện Long Châu, thành phố Sùng Tả, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc.
Loài này được phân biệt với các loài khác trong giống qua một số đặc điểm như mai tương đối phẳng, các chân bò tương đối mảnh và có mào lưng ở đốt ngọn G1 con đực. Loài mới này cũng được đăng trên tạp chí Raffles Bulletin of Zoology, số 64, trang 213-219, tháng 08.2016.
Theo các nhà khoa học, hai loài cua mới này phân bố ở các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam và khu vực biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Đây là một trong những sinh cảnh rất đặc trưng và các loài sống trong đó đa số là các loài đặc hữu và có khu vực phân bố rất giới hạn.
Việc phát hiện các loài cua nước ngọt mới này càng cho thấy tiềm năng và giá trị đa dạng sinh học của các vùng núi đá vôi ở Việt Nam. (Một Thế Giới 10/10) đầu trang(
Ông Nguyễn Hữu Vĩnh, Chủ tịch UBND xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương (Nghệ An) cho biết, từ ngày 6 đến 8/10, đàn voi rừng 6 con liên tục xuất hiện ở thôn 15/7, dẫm đạp hỏng nhiều diện tích cây trồng của người dân.
Theo ông Vĩnh, ngày 9/10, đàn voi tiếp tục xuất hiện ở khu rừng già nơi giáp ranh với vườn dân. Để giúp dân đẩy đuổi đàn voi, nhà chức trách địa phương đã tổ chức lực lượng hàng chục người gồm công an, kiểm lâm..., túc trực từ đêm 9 đến rạng sáng 10/10 ở khu vực bìa rừng.
"Mục đích tập trung nhiều người là đề phòng voi quay lại, xem có quậy phá, đe dọa người dân hay không. Nếu phát hiện voi, lực lượng túc trực sẽ kêu gọi bà con hỗ trợ đuổi voi đi", ông Vĩnh nói và cho hay biện pháp đẩy đuổi voi là đánh trống, mõ, chiêng, đốt lửa, tuyệt đối không dùng vũ khí tấn công, kích động đàn voi.
Trước đó, đầu tháng 10, đàn voi 6 con đã về làng phá hoại cây trồng trong khu vườn rộng khoảng 5 ha của ông Nguyễn Công Dân (trú xóm 15/7). (VnExpress 10/10) đầu trang(
Chương trình “Hãy lên tiếng, hãy bảo vệ tê giác!” đã chính thức được công bố với sự tham gia của nhiều doanh nhân, chính trị gia, bác sĩ và người nhà các bệnh nhân.
Đây là hoạt động chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê” do CHANGE phối hợp cùng WildAid và African Wildlife Foundation thực hiện, nhằm huy động tiếng nói từ các cộng đồng để cùng ngăn chặn thực trạng buôn bán và sử dụng sừng tê giác trái phép tại Việt Nam.
Các bác sĩ và những người nhà của bệnh nhân cũng đã chia sẻ các câu chuyện thật liên quan đến những niềm tin vào các lời đồn thổi vô căn cứ. Sự thật là sừng tê giác không phải là thần dược, các bác sĩ uy tín đã khẳng định chúng chẳng có công dụng thần kỳ nào vì bản thân những người bệnh đã dùng và đều qua đời.
Giờ đây, những người nhà của bệnh nhân này trở thành những minh chứng sống cụ thể nhất, họ đại diện những người trong cuộc lên tiếng mạnh mẽ khuyến cáo tới những người đã, đang và sẽ tin vào những lời đồn đại, đừng lãng phí tiền một cách vô ích để mua sừng tê giác. (Người Lao Động 10/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND huyện Phú Lộc cho biết, Chủ tịch UBND tỉnh vừa có quyết định số về việc phê duyệt dự án đầu tư Đường nối từ Quốc lộ 1A vào vườn quốc gia Bạch Mã, huyện Phú Lộ, tỉnh Thừa Thiên Huế với tổng mức đầu tư là 82,7 tỷ đồng đồng.
Dự án do Ban Đầu tư và Xây dựng huyện Phú Lộc làm chủ đầu tư, thời gian thực hiện dự án 5 năm kể từ ngày khởi công.
Theo đó, Đường nối từ Quốc lộ 1A vào vườn quốc gia Bạch Mã có điểm đầu giao Quốc lộ 1A tại Km865+540, điểm cuối kết thúc tại cổng vào vườn quốc gia Bạch Mã. Tổng chiều dài tuyến 2,5 km. Đoạn từ Km0+0,00 đến Km1+359,83 có mặt cắt ngang đường là Bn=4,5m+15m+4,5m=24m (Thiết kế vỉa hè, bố trí thoát nước dọc, cây xanh và điện chiếu sáng). Đoạn từ Km1+359,83 đến Km2+578,3 có mặt cắt ngang đường là Bn=1,0m+7,0m+1,0m=9,0m.
Theo UBND huyện Phú Lộc, Dự án được thực hiện nhằm mục tiêu hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, chỉnh trang khu vực thị trấn, giảm ùn tắc giao thông và đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong khu vực, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế - xã hội.
Ông Phan Công Mẫn, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc cho biết:“ Dự án mới được phê duyệt, đến thời điểm nào Tỉnh bố trí nguồn vốn khi đó dự án mới triển khai. Vì dự án này có kinh phí đầu tư trên 1 tỷ đồng nên sẽ được tiến hành đấu thầu công khai chọn nhà thầu thực hiện dự án.” (Đầu Tư 8/10; Công An Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Theo thống kê của UBND huyện Đakrông (Quảng Trị), thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, đến nay địa phương đã thực hiện giao 9.650 ha rừng cho 728 hộ gia đình nhận khoán chăm sóc và bảo vệ.
Trong đó, Hạt Kiểm lâm huyện giao khoán 3.090 ha; Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông giao 3.730 ha; Ban Quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông giao 2.830 ha.
Diện tích được giao khoán chăm sóc, bảo vệ đều là rừng tự nhiên đặc dụng có nguy cơ xâm hại cao, dễ bị lấn chiếm, khai thác trái phép gỗ và cần thiết được bảo vệ nghiêm ngặt. Việc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của rừng; chuyển đổi phương thức canh tác, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân; rừng được giao khoán có chất lượng cao, độ che phủ rừng tăng, tính đa dạng sinh học của rừng được bảo vệ và ngày càng phát triển.
Bên cạnh giao khoán rừng cho nhân dân chăm sóc, bảo vệ, huyện Đakrông cũng tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1.500 hộ gia đình với tổng diện tích 2.484 ha để trồng rừng sản xuất. (Báo Quảng Trị 11/10) đầu trang(
Việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su đã góp phần xóa đói giảm nghèo ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, việc làm này còn những bất cập, biến tướng...
Chủ trương cho phép các tỉnh ở Tây Nguyên (chủ yếu là Gia Lai và Kon Tum) chuyển đổi 100.000 ha rừng sang trồng cao su để giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội đã thực hiện được gần 10 năm. Những vườn cao su trồng năm 2008-2009 nay bắt đầu khai thác, các khu dân cư ở vùng biên giới với hệ thống giao thông, trường học, trạm y tế, lưới điện đã tạo ra thế trận an ninh quốc phòng vững chắc. Tuy nhiên việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su còn những bất cập, biến tướng trục lợi. Điều đó càng rõ hơn khi cao su rớt giá.
Nhóm PV Đài TNVN tại Tây Nguyên đã đến các vùng trồng cao su từ việc chyển đổi rừng, tiếp xúc với công nhân, doanh nghiệp, chính quyền và có loạt bài -“Được – mất khi chuyển đổi 100.000 ha rừng sang trồng cao su”.
Người dân ở làng Giang Lố và Đăk Mốt xã Sa Long, (huyện biên giới Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) tự đặt tên cho con đường bê tông dài gần 5 km từ làng đến rẫy là đường A- Tâm. A- Tâm là tên gọi thân mật của bà con Sê Đăng dành cho trung tá Trịnh Hà Tâm, Giám đốc Công ty 732 thuộc Binh đoàn 15.
Già làng A Sem, ở làng Giang Lố cho biết: Nhờ có A Tâm, mùa thu hoạch sắn, ngô, lúa ở vùng rẫy có diện tích gần 1.500 ha của bà con được vận chuyển về làng dễ dàng. Sản phẩm làm ra không còn sợ bị mốc hay nước cuốn trôi, không bị tư thương ép giá như trước kia nữa.
“Trước đây, đường này bà con đi rất khó khăn. Công ty 732 thấy bà con khổ quá, đi có người té, người bị thương cũng có. Giám đốc quan tâm dân làng, mua vật liệu để cùng bà con xây con đường này. Bà con rất phấn khởi, già rất cảm ơn Công ty 732” – già làng A Sem nói.
Tỉnh Kon Tum và Gia Lai có trên 200 km biên giới với nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Trước đây đoạn biên giới phía nam huyện Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) kéo dài đến 50 km nhưng không một nhà dân sinh sống. Nhờ các đơn vị quân đội làm kinh tế của Binh đoàn 15 mà bà con các dân tộc thiểu số trên 210 điểm dân cư dọc tuyến biên giới Gia Lai- Kon Tum đã biết trồng cây công nghiệp như hồ tiêu, cà phê, cao su nên kinh tế của từng gia đình thay đổi. Đặc biệt nhờ chuyển đổi trên 37 nghìn ha rừng sang trồng cao su ở vùng nam Sa Thầy, một huyện mới vừa được thành lập. Đó là huyện Ia H’Drai.
A Vuông, dân tộc Sê Đăng, quê ở huyện Kon Plông (Kon Tum) đến huyện Ia H’Drai làm công nhân cao su đã được 6 năm. A Vuông kể: lúc đầu, anh đã định bỏ về làng cũ làm rẫy chứ không thể gắn bó lâu dài. Ở đây mọi thứ còn khó khăn hơn nơi anh sinh ra, và cách xa làng đến hơn trăm km, muốn về nhà phải mất cả ngày đường. Nhưng nay A Vuông thấy quyết định vào làm công nhân của mình là đúng. Sống với bộ đội, làm cùng bộ đội, có thu nhập ổn định, lại có tương lai vững chắc bởi hơn 3 ha cao su của anh đã ở vào tuổi thứ 6, vườn cây đã khép tán, chuẩn bị vào kỳ khai thác.
“Tôi làm công nhân ở đây có cuộc sống ổn định. Cán bộ giúp đỡ mình rất nhiều trong việc trồng cao su và trồng các cây khác. Tôi sẽ gắn bó với đơn vị, với công ty để xây dựng cuộc sống ngày càng tốt hơn”- anh A Vuông bày tỏ.
Năm 2009, Cầm Bá Thức người dân tộc Thái ở tỉnh Thanh Hóa, đến huyện Ia H’Drai làm công nhân thuộc Công ty 716. Từ hai bàn tay trắng, nay anh đã cưới vợ cũng là công nhân cùng công ty, và đã có hai đứa con. Nhờ sự hỗ trợ của đơn vị, hai vợ chồng anh đã xây dựng được căn nhà vững chắc cùng khu rẫy 2 ha để tăng gia, mỗi năm thu nhập hơn 150 triệu đồng. Hai vợ chồng anh Thức yên tâm lao động khi hai đứa con nhỏ được đơn vị hỗ trợ nuôi ăn học ở trường mẫu giáo của công ty.
Anh Thức nói: “Được ban chỉ huy đơn vị cũng như chi nhánh tạo điều kiện giúp đỡ, gia đình tôi cũng có cái ăn cái để, thu nhập cũng ổn. Đã bước chân vào đây thì mình phải cố gắng, mỗi năm tăng gia thêm một chút để sau này con cái lớn lên chúng đỡ khổ”.
Công ty TNHH MTV 716 được Binh đoàn 15 thành lập vào tháng 3 năm 2014. Công ty 716 hiện có 3.200 ha cao su, với hơn 600 công nhân, tất cả là người dân tộc thiểu số. Xác định đặc thù của đơn vị ở vùng biên giới, chưa có khu dân cư nên từ lãnh đạo Công ty đến các đội sản xuất đều có những giải pháp hỗ trợ để công nhân yên tâm gắn bó với vườn cây, với đội sản xuất, tạo dựng một vùng quê mới. Cùng với việc đảm bảo tiền lương, đơn vị còn chăm lo đời sống cho công nhân như cấp đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ tiền làm nhà, xây dựng trường học, trạm y tế, nhà trẻ, hệ thống điện...
Thượng úy Phạm Văn Uy, đội trưởng đội sản xuất số 6, Công ty 716 nói: “Anh em công nhân toàn là thanh niên, mới tuyển dụng vào thì còn bỡ ngỡ, khó khăn. Chúng tôi đi sâu, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng rồi có biện pháp giúp đỡ. Mới đầu vào, anh em công nhân toàn độc thân. Bây giờ thì đã xây dựng gia đình, có gia đình có 2 con rồi nên cũng yên tâm công tác, thực hiện nhiệm vụ của đơn vị”.
Đào tạo đội ngũ công nhân vững về tay nghề, tạo điều kiện để họ an cư lạc nghiệp, Công ty 716 đang xây dựng một nền tảng vững chãi về an ninh- quốc phòng trên vùng biên giới Ia H’Drai.
Thiếu tướng Đặng Anh Dũng - Tư lệnh Binh đoàn 15 cho biết: “Binh đoàn có chủ trương vườn cây đến đâu thì phát triển cụm dân cư đến đó. Hiện Binh đoàn đã xây dựng 6 cụm dân cư, với 216 điểm dọc theo tuyến biên giới trên 200 km của hai tỉnh Gia Lai- Kon Tum. Chúng tôi đã khai hoang trồng mới trên 42.000 ha cao su, bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho trên 17.000 lao động, trong đó có gần 7.000 lao động là người dân tộc thiểu số. Chúng tôi luôn luôn quán triệt tinh thần giúp dân chính là làm quốc phòng”.
Từ việc chuyển đổi 37.000 ha rừng sang trồng cao su, các doanh nghiệp đã đầu tư vào huyện mới IaH’Drai trên 6.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho gần 4.000 lao động, trong đó có gần 1.500 lao động là người dân tộc thiểu số. Huyện IaH’Drai đã được xây dựng 560 km đường giao thông, 70 km đường điện, hơn 1.300 nhà ở cho công nhân, 30 nhà trẻ, trạm y tế… tạo nên thế trận vững chắc về kinh tế - an ninh quốc phòng ở vùng phên dậu đất nước.
Ông Nguyễn Kim Phương, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum khẳng định: “Khu vực quy hoạch là phù hợp với sự phát triển của cây cao su. Cây cao su ở đó được các đơn vị trong đó có Tổng công ty cao su Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định cây cao su ở đó là rất tốt, năng suất đảm bảo bằng và cao hơn ở những vùng khác. Thứ hai nữa là hình thành nên một khu vực cụm cây công nghiệp, hình thành vùng dân cư, hình thành ra huyện Ia HDrai. Chắc chắn sẽ hình thành cụm công nghiệp và những nhà máy chế biến mủ cao su ở khu vực đó. Qua bước đi của tỉnh, tôi thấy là chuyển đổi rừng sang trồng cao su thì trước mắt có hiệu quả ổn định và tốt”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 11/10) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 6310/UBND-NLN2 ngày 6/10/2016 về việc rà soát, xây dựng kế hoạch trồng rừng thay thế vào quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ các công trình hồ chứa nước trên địa bàn năm 2017.
Để chủ động trong kế hoạch trồng rừng thay thế vào diện tích quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ các hồ chứa nước trên địa bàn năm 2017, UBND tỉnh yêu cầu:
UBND các địa phương rà soát các diện tích quy hoạch rừng phòng hộ bảo vệ các công trình hồ chứa nước trên địa bàn (diện tích đất còn trống, diện tích rừng cần nâng cấp để đảm bảo chức năng phòng hộ bền vững, lâu dài) có nhu cầu trồng rừng phòng hộ để đăng ký kế hoạch trồng rừng phòng hộ vào năm 2017 và các năm tiếp theo từ nguồn vốn trồng rừng thay thế của các đơn vị không có điều kiện trồng rừng nộp vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh, báo cáo đăng ký gửi về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong tháng 10/2016 để tổng hợp.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đôn đốc, hướng dẫn các địa phương và tổng hợp, kiểm tra, rà soát lại, lấy ý liến tham gia của các ngành chức năng của tỉnh có liên quan; báo cáo, trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt trong tháng 10/2016. (Báo Quảng Ninh 10/10) đầu trang(
Cơ quan chức năng TP.HCM sẽ đưa ra nhiều phương án để thực hiện dự án trồng cây cách ly bãi rác Đa Phước trên phương châm phải đảm bảo lợi ích của người dân.
Chiều 10/10, Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM đã có buổi làm việc với UBND huyện Bình Chánh (TP.HCM) bàn giải pháp đền bù, giải tỏa mặt bằng dự án khu vành đai xanh cách ly thuộc Khu liên hợp xử lý chất thải và nghĩa trang Đa Phước.
Theo báo cáo của UBND huyện Bình Chánh, Dự án Khu vành đai cách ly có tổng diện tích thu hồi hơn 268 ha gồm 2 xã Phong Phú, Đa Phước (huyện Bình Chánh). Trong đó tổng số hộ dân bị ảnh hưởng khoảng 590 hộ. Dự án do Ban quản lý các khu liên hợp Xử lý Chất thải thành phố làm chủ đầu tư.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, cho rằng dự án trồng cây cách ly cần phải thực hiện nhanh, sớm nhằm đảm bảo đúng theo quy hoạch Khu liên hợp Xử lý Chất thải Đa Phước. Dù vậy khi thực hiện dự án, chủ đầu tư cần thực hiện phương án hạn chế di dời dân, tổ chức sắp xếp ổn định chỗ ở mới cho người dân.
Tại buổi họp, Ban quản lý các khu liên hợp Xử lý Chất thải TP kiến nghị UBND TP.HCM có thể khoán lại đất cho người dân trồng rừng. Khi ấy người dân sẽ có thêm một khoản thu nhập ổn định, vừa không phải di dời đi nơi khác, giảm kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng.
Theo ông Nguyễn Văn Hồng, Phó chủ tịch UBND huyện Bình Chánh, qua những ý kiến của đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường cũng như chủ đầu tư dự án, huyện sẽ sớm làm phiếu khảo sát, thăm dò ý kiến của người dân trước khi kết luận phương án thực hiện trình UBND TP.
"Chúng ta phải đảm bảo quyền lợi, lợi nhuận của người dân trên hết khi đưa ra phương án thực hiện dự án. Có thể giao đất khoán cho người dân hoặc là nhà nước sẽ thuê đất trồng rừng sản xuất. Đến năm 2024, Khu liên hiệp dừng hoạt động thì người dân sẽ tự quản lý khu đất của mình", ông Hồng nói.
Dự kiến cuối tháng 10, Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM sẽ trình phương án thực hiện dự án khu cách ly thuộc Khu liên hiệp Xử lý Chất thải và nghĩa trang Đa Phước. Trong báo cáo gửi Thủ tướng về mùi hôi ở khu nam Sài Gòn, UBND TP.HCM cho biết sẽ sớm trồng khu rừng cây cách ly ở Khu liên hiệp xử lý chất thải Đa Phước.
Trong khi đó, ngày 10/10 là thời hạn Công ty Xử lý Chất thải Việt Nam đề nghị ngưng tiếp nhận 2.000 tấn rác của TP. (Zing News 10/10) đầu trang(
Đất nông lâm trường (NLT) bị buông lỏng quản lý trong thời gian dài, gây lãng phí, thất thoát.
Trong cảnh “tranh tối tranh sáng” đó, nhiều diện tích đất NLT bị “nhóm lợi thế” về chức quyền, kinh tế thâu tóm “chỗ ngon” để đầu cơ, trong khi nhiều nơi người dân, doanh nghiệp cần đất sản xuất thật sự nhưng không có.
Trong khi việc quản lý đất NTL còn nhiều bất cập, nhiều người dân, doanh nghiệp đang thiếu đất sản xuất, thực tế đã có nhiều quan chức, người giàu lợi dụng mua bán, thâu tóm nhiều diện tích đất NLT.
Ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký Đất đai (Tổng cục Quản lý Đất đai, Bộ TN&MT) cho biết, việc rà soát đất đai NLT trước đây chỉ thực hiện trên giấy, vì thế, khó nắm được tình hình trên. Trường hợp khi có thanh, kiểm tra theo khiếu nại tố cáo… mới biết có việc đó hay không.
Tuy nhiên, ông Chiến cho rằng: “Trong sự quản lý lỏng lẻo đó, không có sự lợi dụng mới là lạ”. Theo ông, việc trục lợi ở nhiều góc độ. Chẳng hạn người được giao khoán có thể mua bán trao tay với người khác, nên người có tiền hoặc quan chức lợi dụng để tranh thủ ôm đất.
Chẳng hạn, đất NLT nằm ở các vị trí gần trục đường giao thông, đất tốt để trồng cây có giá trị như cam, cao su, cà phê… rất dễ lọt vào tay các đại gia, quan chức, nhưng vì mua bán, chuyển nhượng ngầm, rất khó phát hiện. Theo ông Chiến, sau này, khi hoàn thành hồ sơ kỹ thuật-pháp lý, hệ thống thanh tra vào cuộc, mới rõ miếng đất đó của ai.
Việc mua bán, chuyển nhượng trên, ông Bùi Khắc Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Doanh nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho rằng: “Giống như thời kỳ sốt giá đất ở Hà Nội, một miếng đất hay căn hộ sang tay hàng chục người, nhưng đứng tên vẫn là người ban đầu”.
Theo ông Hiền, việc thao túng trên có thể hiểu là của “nhóm lợi thế”, về thông tin, kinh tế, chức quyền. Còn bảo “ông quan” nào đó thâu tóm, có lẽ chắc ông ta cũng không đứng tên, nhưng có thể con cháu, thân hữu của họ.
Ông Hiền cho biết, hiện Bộ NN&PTNT đang chuẩn bị sửa đổi Nghị định 135 về khoán, trong đó, sẽ tìm cách hạn chế việc này, chỉ có người lao động sản xuất thực sự mới được khoán. Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể khai thác đất NLT sản xuất, kinh doanh, Nghị định 118 đã tính đến khâu này.
Theo đó, có 2 mô hình công ty NLT có thể thu hút đầu tư về tài chính, kỹ thuật, quản lý để nâng cao hiệu quả, là công ty cổ phần và công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Khi các công ty hoạt động họ vẫn sử dụng lao động tại chỗ, tất nhiên vấn đề là tối đa hoá và phân chia lợi tức thế nào.
Nhìn lại câu chuyện quản lý, sử dụng đất NLT thời gian qua, ông Nguyễn Văn Chiến cho rằng, vấn đề đất NLT không thể “gỡ” một sớm một chiều. Theo ông, khi có Luật Đất đai (năm 1993), đất đai được mua bán chuyển nhượng, cùng đó, Nghị định 01 (năm 1995) về giao khoán (thời gian tới 50 năm) dù hiệu quả của NLT tăng lên, nhưng vấn đề minh bạch quản lý đất vẫn nổi cộm.
Đến năm 2003, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 28 về sắp xếp đổi mới NLT, trong đó có sắp xếp nguồn lực đất đai. Khi đó, những đơn vị kinh doanh sẽ chuyển thành công ty, hoặc hoạt động theo doanh nghiệp; tiến hành cổ phần hóa.
Một phần NLT chuyển sang đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công ích (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, vườn quốc gia, trạm trại, trung tâm…). Dẫu vậy, vấn đề về quản lý đất đai NLT vẫn chưa đạt yêu cầu, những vướng mắc cơ bản chưa được giải quyết. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ra NQ 30 (tháng 3/2014), tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động các công ty nông lâm nghiệp (NLN).
Theo ông Chiến, NQ 30 sẽ nhắm vào những công ty được thành lập theo NQ 28, nhưng chưa cổ phẩn hoá, sẽ tiếp tục sắp xếp. Theo đó, sẽ bóc tách những gì chưa rõ ràng về tài sản, tài chính, hạ tầng, đất đai … từ đó, làm cơ sở đánh giá giá trị doanh nghiệp, cổ phần hoá.
Để thể chế hoá NQ 30, Chính phủ có chương trình 686 và Nghị định 118 về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả công ty NLN. Tuy nhiên, với NQ 28, cả NQ 30 cũng như các nghị định, đất đai NLT chỉ là một nội dung, chưa phải là chuyên đề riêng. Vì thế, những bức xúc về vấn đề đất đai, nhất là “gói” mà các NLT trả về địa phương (phần tranh chấp, chồng lấn, vi phạm…) vẫn nóng.
Nhìn thấy vấn đề trên, sau một cuộc giám sát tối cao về đất đai NLT giai đoạn 2004-2014, Quốc hội ra NQ 112 (tháng 11/2015) và Chính phủ có Chỉ thị 11 (tháng 4/2016) để thực hiện NQ về NLT.
Theo ông Chiến, đây là một nội dung lớn, gần như bao trùm, tích hợp toàn bộ những vấn đề thuộc về đất đai NLT từ khi triển khai NQ 28. Theo đó, ngoài phần đất đai do các công ty NLN đang quản lý, lần này sẽ “quét” đến các phần đất đai có nguồn gốc từ NLT trước đây, hiện do các ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng; kể cả phần đất NLT trả về địa phương “nguyên khối” trong 10 năm qua.
Theo lãnh đạo Cục Đăng ký Đất đai, để “tổng rà soát” về đất của các công ty NLT, cũng như các đơn vị, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc NLT, trước tiên phải điều tra, khảo sát, lập hồ sơ kỹ thuật-pháp lý. Tiếp đó là điều chỉnh lại chế độ quản lý đất đai và khâu cuối là xử lý vi phạm.
Theo đó, khi lập hồ sơ kỹ thuật-pháp lý, phải đo đạc, điều tra ranh giới xác lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Dựa trên hồ sơ kỹ thuật- pháp lý đó mới biết cá nhân, tổ chức nào làm đúng- sai, mua bán, chuyển nhượng... thế nào; lúc đó đến phần thanh, kiểm tra xử lý sai phạm. Tuy nhiên, hiện việc triển khai các khâu ở các địa phương rất chậm theo yêu cầu.
Đánh giá của Đoàn giám sát (Ủy ban Thường vụ Quốc hội) năm 2015, về thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị trong việc sắp xếp, đổi mới NLT quốc doanh (giai đoạn 2004-2014) cho thấy, dù có chuyển biến, nhưng vấn đề quản lý, sử dụng đất NLT còn nhiều bất cập. Trong 10 năm đó, tổng nộp ngân sách của các NLT chỉ khoảng 1.800 tỷ đồng (tính ra mỗi năm 180 tỷ đồng). Hầu hết các NLT chuyển đổi tên gọi thành công ty, ban quản lý nhưng chỉ “bình mới, rượu cũ”.
Đoàn giám sát đánh giá, việc rà soát hiện trạng đất cũng chỉ mới thực hiện trên giấy tờ, sổ sách, không đo đạc, cắm mốc ranh giới. Phần lớn các NLT khi đổi thành doanh nghiệp không làm thủ tục chuyển giao đất có thu tiền sử dụng đất, hoặc thuê đất theo Luật Đất đai.
Tại một số công ty sau khi được cổ phần hóa, quản lý đất đai tiếp tục lỏng lẻo. Một số NLT phần lớn diện tích đất trước đây giao khoán cho người lao động nhưng bị chuyển đổi mục đích sử dụng, chuyển nhượng trái phép trước khi cổ phần hóa, nên không thu hồi được. Đoàn giám sát của Quốc hội cũng chỉ ra, trong việc giao khoán đất NLT có nhiều sai phạm, khoán không đúng đối tượng trực tiếp sản xuất. (Tiền Phong 11/10) đầu trang(
Từng được coi là “ngôi sao” sáng của ngành xuất khẩu với thành tích về đích sớm trước 5 năm, nhưng tới đây, khi Việt Nam bắt đầu thực thi các cam kết đã ký trong các Hiệp định thương mại thì ngành xuất khẩu gỗ cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn.
Tại hội thảo Tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa như ngành xuất khẩu gỗ và ngành bán lẻ được VCCI tổ chức cuối tuần qua tại TP. HCM, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập -VCCI cho biết, khi tham khảo các ý kiến để tận dụng không gian chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa cũng có ý kiến cho rằng, ngành xuất khẩu gỗ không có khó khăn gì vì nhiều năm nay xuất khẩu vẫn rất tốt.
Theo kế hoạch đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 7 tỷ USD nhưng năm 2015, toàn ngành đã đạt hơn 6,9 tỷ USD và có kỷ lục xuất khẩu 10 năm tăng 6 lần.
Tuy nhiên, bà Trang nhấn mạnh, có thể trong quá khứ ngành gỗ phát triển tốt khi các đạo luật về nguồn gốc gỗ ở những nước nhập khẩu như Mỹ, Úc… đã được ban hành nhưng chưa đến thời hạn thực thi. Hơn nữa, ngành gỗ Việt Nam trước giờ chỉ xuất khẩu FOB, muốn trở thành một ngành xuất khẩu bền vững thì phải chuyển sang xuất CIF và tất cả các doanh nghiệp gỗ đều phải thực hiện đúng các yêu cầu về nguồn gốc xuất khẩu… được thể hiện trong các đạo luật của các quốc gia nhập khẩu gỗ.
Trong khi đó, ông Tô Xuân Phúc - Chuyên gia phân tích chính sách thuộc Tổ chức Forest Trends cho biết, khó khăn mà ngành xuất khẩu gỗ sẽ phải đối mặt là chính sách kiểm soát việc sử dụng lao động trong các doanh nghiệp xuất khẩu, nhận thức của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu về các quy định tại thị trường các nước nhập hàng vào...
Ví dụ, tại Hoa Kỳ (thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt 2,64 tỷ USD năm 2015, chiếm 38%/tổng kim ngạch xuất khẩu), đã quy định các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ phải khai báo tên và nguồn gốc xuất xứ gỗ. Tại EU (thị trường đứng thứ 4 về xuất khẩu gỗ với kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD) quy định cấm khai thác gỗ trái phép; các doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm giải trình thông tin về toàn bộ chuỗi cung ứng, đánh giá rủi ro, giảm thiểu rủi ro…; phải lưu trữ thông tin về người mua và người bán; có hệ thống giám sát độc lập…. Tại Úc (thị trường lớn thứ 6 về xuất khẩu gỗ) cũng đã có Luật cấm khai thác gỗ lậu và quy định trách nhiệm giải trình từ doanh nghiệp…
Ông Tô Xuân Phúc cho rằng, để không vi phạm các quy chuẩn nguồn gốc gỗ nhập khẩu tại các thị trường trên, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam cũng cần giám sát chặt chẽ nguồn gốc gỗ nguyên liệu của mình. Tuy nhiên, hiện chúng ta vẫn còn thiếu một số quy định cụ thể. Chẳng hạn, đối với nguồn gỗ cao su thiếu quy định cụ thể gỗ thế nào được coi là gỗ cao su hợp pháp được đưa vào xuất khẩu; hay với gỗ vườn rừng hoặc gỗ vườn thì tính pháp nhân của hộ gia đình này cũng chưa rõ ràng.
“Còn nhiều hộ gia đình chưa có giấy chứng nhận sử dụng đất nên còn thiếu bằng chứng chứng minh gỗ hợp pháp. Hiện nay, tỷ lệ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình chỉ chiếm khoảng 70%, còn 30% hộ gia đình trồng rừng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vẫn có những rủi ro từ nguồn gốc gỗ từ những hộ này”, ông Phúc nói.
Cũng theo ông Phúc, hiện Chính phủ đang cấm khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, tuy nhiên vẫn có 1 số sản phẩm gỗ từ rừng được khai thác hợp pháp để làm đường xá cầu cống…
Theo ông Phúc, nguồn nguyên liệu gỗ này có rủi ro rất cao nên không xuất khẩu mà chỉ sử dụng cho các công trình nội địa. Ngoài ra, gỗ rừng tự nhiên nhập khẩu cũng có một số rủi ro về mặt pháp lý ngay từ đầu nguồn nguyên liệu.
Vì vậy, doanh nghiệp nhập khẩu phải yêu cầu doanh nghiệp bán gỗ thô có bằng chứng gỗ họ mua là hợp pháp, còn cơ quan hải quan khi kiểm dịch nhập khẩu cũng đề nghị các doanh nghiệp nhập khẩu phải xuất đủ các giấy tờ chứng minh sự minh bạch của nguồn gốc, tránh sản xuất gỗ từ những nguồn gỗ nhập khẩu có rủi ro cao. (Đầu Tư Chứng Khoán 10/10) đầu trang(
Ngành chế biến xuất khẩu gỗ và ngành bán lẻ hiện là các ngành kinh tế xuất khẩu, dịch vụ quan trọng có mức phát triển và tăng trưởng cao trong những năm vừa qua. Song việc tận dụng các chính sách để phát triển hai ngành này còn thiếu và đối mặt với nhiều thách thức rủi ro trong quá trình hội nhập.
Đây cũng là ý kiến của nhiều nhà quản lý, chuyên gia tại hội thảo “Tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa - Trường hợp ngành gỗ và bán lẻ” diễn ra sáng nay (7/10), tại TP.HCM do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hợp với Quỹ Châu Á, Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam tổ chức.
Hiện ngành gỗ và bán lẻ Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong quá trình hội nhập. Cụ thể, với ngành chế biến gỗ, tính đến cuối năm 2015 cả nước có 3.900 doanh nghiệp (DN), 340 làng nghề, thu hút hơn 300.000 lao động.
Với nhiều yếu tố cung cầu thuận lợi cho ngành gỗ trong năm 2016, dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sẽ đạt khoảng 7,6 tỷ USD, tăng 10,2% so với năm 2015. Đối với ngành bán lẻ, hiện có 50% DN Việt Nam và 1.735 dự án FDI, 2 triệu cơ sở kinh doanh cá thể (hộ kinh doanh) hoạt động trong ngành bán lẻ.
Tuy nhiên, hai ngành này đang đứng trước một số thách thức. Cụ thể, với ngành chế biến gỗ sẽ gặp rủi ro pháp lý ở thị trường xuất khẩu. Ngành bán lẻ đối mặt với các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư ồ ạt vào các kênh bán lẻ hiện đại, trong khi kênh bán lẻ truyền thống cạnh tranh yếu, thiếu chuyên nghiệp, sản xuất nội địa mất đầu ra.
Đề cập về những chính sách hỗ trợ ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, theo bà Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, ngành bán lẻ đang đứng trước một số khó khăn như bất cập trong lưu thông hàng hóa từ nhà sản xuất nội địa đến bán lẻ, thiếu lao động có năng lực, khó khăn về mặt bằng kinh doanh và về vốn.
Theo bà Loan, để ngành bán lẻ trong nước cạnh tranh với các DN FDI cần có các chính sách hỗ trợ. Cụ thể như thúc đẩy hình thành các trung tâm giao dịch kết nối các nhà bán lẻ, nhà sản xuất. Tăng cường kiểm soát nhà nước về chất lượng hàng hóa. Ưu đãi đầu tư đối với DN ngành bán lẻ, khuyến khích cho vay tín dụng cho các nhà bán lẻ nhỏ và vừa, thực thi chặt chẽ các cam kết mở cửa thị trường bán lẻ...
Ông Tô Xuân Phúc - Chuyên gia Dự án nghiên cứu các rủi ro chính sách của ngành chế biến xuất khẩu gỗ - cho biết, không những ngành bán lẻ mà đối với ngành gỗ cũng đang đối mặt với một số rủi ro trong quá trình hội nhập. Đó là tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu, thiếu hệ thống kiểm soát chuỗi cung hiệu quả, thiếu hiểu biết về quy định của thị trường xuất khẩu.
Để loại bỏ rủi ro đòi hỏi các DN ngành gỗ hội nhập chủ động, cần tuân thủ các quy định về xuất khẩu, tìm hiểu và nắm rõ thông tin thị trường xuất khẩu. Hiệp hội ngành gỗ là đầu mối thông tin, đặc biệt thông tin xác định rủi ro và kiến nghị các biện pháp hỗ trợ cần thiết đối với DN và cơ quan quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro. Với cơ quan quản lý cần hỗ trợ DN về thông tin thị trường và hỗ trợ DN áp dụng hệ thống quản lý chuỗi cung - ông Phúc khuyến nghị.
Nhận định về chính sách hiện nay, TS Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP.HCM - cho rằng, không gian chính sách của Việt Nam bị giới hạn bởi những cam kết quốc tế, từ WTO đến các hiệp định thương mại tự do, các cam kết khu vực mà Việt Nam tham gia.
Tuy nhiên, đối với thị trường trong nước, không gian chính sách cho nền kinh tế do chính chúng ta giới hạn. Khi chúng ta dành nguồn lực ưu tiên cho lĩnh vực này, thì tiềm lực dành cho lĩnh vực khác sẽ bị hạn chế. Nguồn lực của Nhà nước là hạn chế, chính vì vậy, khi dành nguồn lực ưu tiên cho ngành nào thì cần tính toán một cách cụ thể hiệu quả mà nó mang lại, nhằm tránh lãng phí nguồn lực đầu tư. (Công Thương 7/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, giá trị hàng xuất khẩu gỗ ở Bình Dương đã có dấu hiệu tăng trưởng. Hầu hết doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh đã có đơn hàng xuất khẩu hết quý 4 năm 2016.
Các thị trường xuất gỗ khẩu truyền thống như châu Âu và châu Mỹ ngày càng được mở rộng.
Theo ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương, từ đầu năm đến nay, giá trị xuất khẩu gỗ ở Bình Dương đạt 2,7 tỷ USD tăng 10% so với năm 2015, đạt gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Bình Dương.
Khả năng giá trị xuất khẩu của ngành gỗ Bình Dương trong năm 2016 đạt khoảng 3,6 tỷ USD, tăng gần 1 tỷ USD so năm 2015.
Tuy nhiên, cũng theo ông Huỳnh Thanh Quang, các doanh nghiệp ngành gỗ vẫn còn không ít khó khăn và chịu nhiều áp lực.
Trong đó, nguyên liệu nhập khẩu khá cao chiếm hơn 50% giá thành sản phẩm.
Nhưng điều đáng mừng là hầu hết doanh nghiệp tại Bình Dương đều chủ động chinh phục thị trường toàn cầu; trong đó việc ưu tiên hiện đại hóa công nghệ sản xuất đã giúp sản phẩm gỗ của doanh nghiệp Bình Dương ngày càng chất lượng, giảm giá thành, chi phí nhân công, qua đó đủ sức cạnh tranh khi tham gia thị trường xuất khẩu.
Trong 9 tháng năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Dương ước thực hiện hơn 16,3 tỷ USD, tăng 16,2% so cùng kỳ, chiếm khoảng 12,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, tỉnh này hiện có trên 500 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ. Trong đó, doanh nghiệp trong nước chiếm 70%, 5% là doanh nghiệp Nhà nước, phần còn lại thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). (Bnews 9/10) đầu trang(./.
|
|||