Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm, các khu vực đang có cảnh báo cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm, gồm: Cao Bằng, Lạng Sơn (khu vực Cao Lộc, Chi Lăng, Hữu Lũng, Lộc Bình, Văn Quan, Đình Lập), Phú Thọ (khu vực Thanh Sơn), Quảng Ninh (khu vực Hải Hà, thị xã Móng Cái).
Các khu vực ở cấp IV, cấp nguy hiểm, gồm: Bắc Cạn, Bắc Giang (khu vực Sơn Động), Điện Biên (khu vực thị xã Mường Lay, Tủa Chùa), Hòa Bình, Lào Cai (khu vực Bảo Thắng, Bảo Yên, TP Lào Cai, Văn Bàn), Lai Châu (khu vực thị xã Lai Châu, Than Uyên), Thái Nguyên. UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Nhân Dân 9/10) đầu trang(
Tối 3/10, tại phường Hùng Thắng, TP Hạ Long đã xảy ra cháy khoảng 6ha rừng, trước vụ việc này, UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu các đơn vị liên quan điều tra, xác định nguyên nhân và xử lý trách nhiệm rõ ràng.
UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm chủ trì, phối hợp với công an, các ngành chức năng có liên quan và UBND TP Hạ Long điều tra làm rõ, xác định nguyên nhân gây ra cháy rừng, xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân liên quan đã để xảy ra vụ việc theo quy định của pháp luật; báo cáo kết quả về UBND tỉnh trong tháng 10/2016. (Báo Quảng Ninh 7/10) đầu trang(
Nói về rừng và đất rừng Tây Nguyên không thể không nói tới một cái mốc mang tính lịch sử trong việc quản lý và bảo vệ rừng, đất rừng theo pháp luật. Đó là nghị định số 17-HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật Bảo vệ rừng.
Theo nghị định này, vấn đề phát triển rừng bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng cũng như đất lâm nghiệp đã được quản lý theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Nhà nước thống nhất quản lý rừng, đất trồng bằng luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các chế độ, thể lệ.
Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế để quản lý, bảo vệ, xây dựng và sản xuất, kinh doanh ổn định lâu dài. Đặc biệt, nghị định này thừa nhận “rừng làng, rừng bản thuộc quyền sở hữu công cộng của làng, bản theo quy định của pháp luật”.
Để Tây Nguyên phát triển bền vững thì Nhà nước không chỉ thừa nhận “rừng làng, rừng bản thuộc quyền sở hữu công cộng của làng” mà còn phải tạo mọi điều kiện cho mỗi làng đều có rừng để thực hiện quyền sở hữu công cộng như luật tục bao đời nay của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Đặc biệt cần nghiêm cấm việc mua bán, sang nhượng đất nông nghiệp, đất rừng. Thực tế là trong hàng chục năm qua, do di dân ồ ạt nên nhu cầu về đất sản xuất lớn, người dân mọi miền di cư lên Tây Nguyên đã tìm mọi cách mua, sang nhượng đất thổ cư, đất canh tác của đồng bào dân tộc bản địa.
Hệ quả là đồng bào phải đi sâu vào trong rừng, tiếp tục phá rừng làm nương rẫy, không những làm cho đời sống đồng bào khó khăn hơn mà việc giữ rừng ngày càng khó kiểm soát. Cùng với chủ trương đóng cửa rừng của Thủ tướng Chính phủ thì cần phải có một chiến lược trồng và bảo vệ rừng; coi đó là trách nhiệm của mỗi người dân, doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị.
Chỉ có như vậy thì mới khôi phục và giữ được rừng cho Tây Nguyên. Mặt khác cũng cần phải xem xét lại đất của các nông lâm trường, nếu làm ăn không hiệu quả thì phải giao lại cho người dân bản địa để họ canh tác và trồng rừng; vừa hạn chế được tình trạng tranh chấp, khiếu kiện đất đai vừa làm yên lòng dân, tạo dựng cho dân tư liệu sản xuất để vượt khó mưu sinh, xóa đói, giảm nghèo.
Để phát triển Tây Nguyên bền vững cũng cần phải nhìn từ góc độ văn hóa. Đã có nhiều ý kiến thể hiện sự hiểu biết sâu sắc và đầy trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Tựu chung lại vẫn là làm sao bảo vệ được rừng; xây dựng các chính sách đặc thù để đưa văn hóa Tây Nguyên vào các chương trình giáo dục, nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Nhiều ý kiến đề cập đến những cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển du lịch văn hóa bản làng, du lịch sinh thái, đưa việc giữ gìn và phát triển bền vững văn hóa Tây Nguyên, nhất là văn hóa cồng chiêng vào cuộc sống…Nhiều ý kiến nhấn mạnh đến vai trò chủ thể là người dân trong việc phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên.
Nhìn dưới góc độ văn hóa, muốn phát triển Tây Nguyên bền vững phải bắt đầu từ văn hóa và mục tiêu cuối cùng cũng là văn hóa - văn hóa của đại ngàn Tây Nguyên. Bởi vì suy cho cùng, một khi Nhà nước triển khai nhiều chính sách ưu tiên thì đồng bào Tây Nguyên có thể sẽ giảm những lo toan về sinh kế.
Nhưng nếu không có một chính sách phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, thì dù người dân không thiếu ăn, thiếu mặc mà vẫn bị phai nhạt bản sắc dân tộc, dân không còn là người của làng, làng không còn cho dân, cái nôi sinh tồn, cái nôi văn hóa không còn thì không thể nói sự phát triển đó là bền vững.
Do vậy, bảo tồn và phát triển văn hóa là một yếu tố trọng yếu, là một sự nghiệp lâu dài, luôn phải được đặt lên vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên. Trước mắt cần phải phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, buôn và người có uy tín trong cộng đồng, phối hợp với chính quyền khôi phục lại sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Một khi không gian văn hóa được khôi phục, các hoạt động văn hóa cộng đồng diễn ra thường xuyên, mọi thuần phong, mỹ tục được thể hiện trong đời sống thường ngày thì người dân sẽ gắn bó với làng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và tình yêu với quê hương, đất nước.
Dân phải bám làng, sống cùng làng, cùng chung tay góp sức xây dựng, bảo vệ làng – rừng; làng – rừng phải thật sự là không gian sinh tồn và phát triển cho cả cộng đồng, đó là căn nguyên để Tây Nguyên phát triển bền vững từ trong lòng người. (Tin Tức 7/10) đầu trang(
Những năm qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã quan tâm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng (BVR) ở thôn, bản nhằm bảo đảm lực lượng tại chỗ kịp thời đối phó với các hành vi xâm hại rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Thôn Phâng Khánh, xã Cẩm Thành (Cẩm Thủy) có  tổng diện tích rừng 371,5 ha; trong đó, rừng sản xuất 341,5 ha do các hộ dân quản lý, 30 ha rừng phòng hộ (rừng lim xanh). Những năm trước đây, tình trạng khai thác rừng và lâm sản diễn biến phức tạp, cháy rừng thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng, nhất là rừng lim xanh (nhóm IIA) thuộc loại quý hiếm.
Để bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có trên địa bàn, thôn Phâng Khánh đã thành lập tổ BVR, lấy lực lượng cựu chiến binh làm nòng cốt, gồm 12 thành viên và ban hành quy chế hoạt động của tổ. Sau khi thành lập, tổ đã phối hợp với ban liên cán thôn tiến hành rà soát quy ước BVR, sửa đổi bổ sung một số nội dung liên quan đến công tác BVR lim xanh, quyền lợi được hưởng và nghĩa vụ của mọi người dân trong thôn đối với công tác BVR.
Đồng thời, tổ chức cho người dân trong thôn ký cam kết không sử dụng cưa xăng, khai thác rừng trái phép; tuyệt đối không sử dụng súng săn, bắn động vật hoang dã. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về BVR, phát triển rừng và PCCCR cho người dân  thông qua các cuộc họp thôn, trên hệ thống loa đài... Qua đó, giúp người dân hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng trong cuộc sống và từ đó nâng cao trách nhiệm của người dân trong công tác BVR.
Ông Đinh Văn Tốn, tổ trưởng tổ BVR, thôn Phâng Khánh, cho biết: Để công tác BVR  hiệu quả, tổ đã phân thành 3 nhóm, mỗi nhóm 4 người để luân phiên thường trực, tuần tra, kiểm tra rừng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng. Nhất là, vào thời điểm thời tiết nắng nóng, khô hanh, tổ thường xuyên phân công lực lượng tuần tra trong rừng, ven rừng để nhắc nhở người dân thực hiện nghiêm các quy định về PCCCR.
Trong những năm qua, nhiều địa phương nhờ duy trì, thực hiện tốt mô hình này đã giúp người dân trên địa bàn làm chủ những cánh rừng nơi mình sinh sống; phát huy được vai trò của nhân dân trong công tác BVR; hạn chế tối đa việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; nhiều năm không xảy ra cháy rừng; tỉ lệ che phủ rừng ngày càng tăng cả về diện tích và chất lượng.
Nhờ tích cực thực hiện, triển khai vận động thành lập các tổ, đội BVR, đến nay, toàn tỉnh đã thành lập được 1.287 tổ, đội BVR thôn, bản với 13.557 người tham gia. Các tổ, đội địa bàn giáp ranh luân phiên tuần tra, ngăn chặn các đối tượng vào rừng khai thác lâm sản, săn bắt trái phép động vật trái phép; khoanh vùng những nơi có nguy cơ cháy cao; đồng thời, tham mưu cho UBND  các xã và cán bộ kiểm lâm địa bàn xây dựng các phương án BVR, PCCCR có hiệu quả, phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân, góp phần  ngăn chặn những hành vi làm thiệt hại đến rừng trên địa bàn. (Báo Thanh Hóa 8/10) đầu trang(
Tình trạng cưa trộm cây rừng đã xuất hiện ở nhiều nơi, với số lượng gỗ “bốc hơi” không nhỏ- nhất là khu vực rừng gần đường xe.
“Theo dấu vết từ hiện trường để lại cho thấy, không ít cây bị cưa trong thời gian gần đây, thậm chí có cây mới bị “hạ sát”, vết cắt vẫn còn đang chảy nhựa, cành lá bỏ lại chưa kịp héo”- một người dân địa phương nhận định.
Cách nay khoảng 5 tháng, Báo Tây Ninh đã đăng bài “Rừng phòng hộ Dầu Tiếng tiếp tục bị tàn phá”, phản ánh tình trạng lâm tặc lộng hành tàn phá rừng tự nhiên tại tiểu khu 59 (tổ 19, ấp Suối Bà Chiêm, xã Tân Hoà, huyện Tân Châu). Ngày 30.9 vừa qua, lâm tặc chuyển địa bàn hoạt động ra những khu rừng trồng hàng chục năm tuổi...
Khu rừng mà chúng tôi muốn đề cập trước tiên là khu rừng trồng thuộc tổ 13, ấp Suối Bà Chiêm. Theo một cán bộ địa phương, khu rừng này có diện tích hơn 60 ha, trồng hai loại cây chính là keo và dầu từ trước năm 1990. Do được trồng đã khá lâu nên cây rừng to và suôn đẹp, đa phần có đường kính trên 30cm. Trên toàn tỉnh hiện nay không còn nhiều khu rừng trồng có giá trị như vậy.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, sự xâm phạm tài nguyên rừng đang từng ngày diễn ra tại đây. Tình trạng cưa trộm cây rừng đã xuất hiện ở nhiều nơi, với số lượng gỗ “bốc hơi” không nhỏ- nhất là khu vực rừng gần đường xe. “Theo dấu vết từ hiện trường để lại cho thấy, không ít cây bị cưa trong thời gian gần đây, thậm chí có cây mới bị “hạ sát”, vết cắt vẫn còn đang chảy nhựa, cành lá bỏ lại chưa kịp héo”- một người dân địa phương nhận định.
Trong khi đó, tứ cận của khu rừng trồng này đều là vườn cao su của người dân đang trong quá trình khai thác mủ; hằng ngày bốn phía khu rừng luôn có người ra vào để đi cạo mủ. Hơn nữa, lâm tặc muốn vận chuyển gỗ ra ngoài tiêu thụ phải đi qua nhiều dãy nhà dân cặp đường từ huyện lộ 244 đến bến đò Ba Học; theo đường lớn về tỉnh lộ 794 thì phải đi ngang qua chốt bảo vệ rừng Suối Bà Chiêm; theo đường 244 về hướng P25 giáp với hồ Dầu Tiếng thì cũng sẽ dễ dàng bị phát hiện, bởi phải ngang khu vực có nhà dân sinh sống, có chốt bảo vệ rừng. Thế nhưng, lâm tặc vẫn ngang nhiên “khai thác” cây rừng và vận chuyển trót lọt như chỗ không người. Sự lộng hành của lâm tặc thể hiện rõ qua việc đưa cả máy cày vào rừng kéo gỗ, sử dụng cưa máy để hạ cây.
Không chỉ có khu rừng trồng ở tổ 13, ấp Suối Bà Chiêm bị tàn phá mà khu rừng trồng ở tổ 9, ấp Suối Bà Chiêm cũng xảy ra tình hình tương tự. Khu rừng này được trồng từ năm 1993, cây trồng chủ lực là sao, dầu và keo. Vì là rừng trồng theo hợp đồng nên ở đây cây rừng được chăm sóc khá kỹ, trong đó có nhiều cây dầu có đường kính trên 40cm. Thế nhưng hiện tại đã có nhiều cây bị hạ. Theo dấu vết tại hiện trường, nhiều cây dầu trong khu rừng hợp đồng này mới bị bức tử gần đây, cành lá bỏ lại chỉ vừa héo, không ít gốc cây vẫn còn đang chảy nhựa, dấu bánh xe vận chuyển gỗ vẫn còn mới nguyên.
Theo hiện trường cho thấy, bọn lâm tặc chỉ chọn cây nguyên lành vận chuyển đi, còn cây rỗng ruột thì vứt lại. Một số người dân địa phương vào rừng, gặp những cây bị vứt lại thì cũng “hôi” chở về. Trong quá trình tác nghiệp, chúng tôi đã bắt gặp một người dân chạy xe lôi vào rừng “mót” gỗ.
Tuy chưa có con số thống kê chính thức về mức độ thiệt hại rừng trồng do lâm tặc gây ra trong thời gian gần đây, nhưng với thực trạng đã và đang diễn ra, nếu ngành chức năng và chính quyền địa phương không sớm có giải pháp ngăn chặn hiệu quả, thì chẳng bao lâu nữa những cánh rừng trồng chỉ còn lại loại gỗ không có giá trị cao. (Tây Ninh 8/10) đầu trang(
Sự phối hợp không thực sự chặt chẽ giữa chủ rừng, kiểm lâm với chính quyền địa phương và cộng đồng thôn bản, dẫn đến việc rừng bị tàn phá trong một thời gian dài.
Rừng đặc dụng Phong Quang, tỉnh Hà Giang hiện có hơn 8.000 ha. Tại đây vẫn còn 4 thôn bản, đa phần của người Dao cùng chung sống. Đến thời điểm này, chưa có bất kỳ hộ dân nào được di dời ra khỏi vùng lõi của rừng đặc dụng. Cuộc sống của người dân khó khăn, đó là nguyên nhân chính được các cơ quan chức năng Hà Giang nhận định trong các vụ phá rừng trái phép vừa qua. Thời điểm cao nhất, kiểm lâm đã thu được gần 1.000 cưa xăng tại xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên.
Hiện nay, công tác bảo vệ rừng ở Hà Giang có một bất cập, cụ thể là ở ngay khu rừng đặc dụng Phong Quang, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang lại không trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, mà trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang. Vì vậy, nhiều vụ phá rừng, dù Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang phát hiện nhưng báo cáo đơn vị nào là cả vấn đề .
Theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, trách nhiệm để xảy ra các vụ phá rừng trái phép đầu tiên thuộc về chủ rừng, sau đó là vai trò của chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm. Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, nếu không có những cơ chế phối hợp hiệu quả và việc quy trách nhiệm rõ ràng giữa các lực lượng liên quan, thì việc bảo vệ rừng sẽ còn rất khó khăn. (Đài Truyền Hình Việt Nam 8/10) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (huyện Đắk Song - Đắk Nông), có tổng diện tích rừng nguyên sinh, rừng tự nhiên gần 22 nghìn ha, được các cơ quan chức năng bảo vệ, quản lý nhiều tầng lớp rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên trên thực tế khu bảo tồn này đang bị lâm tặc tàn phá hết sức nghiêm trọng, rừng liên tục bị chảy máu. Đặc biệt quần thể gỗ “Du Sam” (nhóm IA) quý hiểm nơi đỉnh trời này đang bị triệt hạ không thương tiếc.
Những ngày cuối tháng 9, nhóm PV đã có cuộc đột nhập vào tiểu khu 1133 thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung tại đây chúng tôi hết sức bàng hoàng trước cảnh tượng hàng trăm cây Du Sam bị lâm tặc đốn hạ để lấy gỗ.
Rất bài bản đó là từ mà chúng tôi dùng ám chỉ việc khai thác gỗ lậu ở đây được lập trình rất chặt chẽ, Lâm tặc mở đường, dựng lán trại, khai thác gỗ và tập kết công khai tràn lan ngay giữa đường đi.
Hàng trăm cây gỗ Du Sam đường kính từ 90cm -1,8m bị lâm tặc khai thác và đã chuyển ra khỏi rừng tiêu thụ, hiện trường chỉ còn trơ gốc, một số hộp gỗ nhỏ, bìa gỗ và phần cành ngọn tận thu.
Ngoài Du Sam, hàng chục cây gỗ dầu gió có đường kính từ 60cm - 75cm cũng bị lâm tặc đốn hạ, xẻ hộp tập kết thành nhiều bãi chưa kịp chuyển đi.
Được biết hiện nay chỉ có đỉnh Nâm Nung mới có gỗ Du Sam, hàng trăm năm mới được một cây lớn như trên và đây là quần thể Du Sam gần như có 1 không ở Tây Nguyên.
Theo tìm hiểu của PV, mỗi phiến gỗ Du Sam có chiều rộng 1,8m, chiều dài 3,4m và bề dày là 35cm. không có tì vết, với nhiều đường vân uốn lượn, được rao giá lên tới 200 triệu đồng/bộ…có những cây lên tới hàng chục phiến, như vậy 1 cây Du Sam có thể có giá trị từ vài tỉ đến 5-7 tỉ đồng.
Cũng chính vì nguồn lợi khổng lồ mà lâm lâm tặc đã bất chấp tất cả cho dù đó là khu bảo tồn và gỗ Du Sam quý hiếm thuộc nhóm IA chúng vẫn triệt hạ không thương tiếc. (Tầm Nhìn 8/10) đầu trang(
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ năm 2011 đến nay lực lương chức năng của tỉnh phát hiện 6.845 vụ vi phạm lâm luật.
Theo đó, tịch thu hơn 10 nghìn mét khối gỗ các loại; gần 400 ô tô, xe máy vận chuyển gỗ trái phép. Đã khởi tố 129 vụ án hình sự và thu nộp ngân sách từ bán gỗ, tang vật vi phạm hơn 66 tỷ đồng. Riêng từ đầu năm đến nay, cơ quan kiểm lâm khởi tố 59 vụ chuyển giao công an điều tra nhưng chỉ mới điều tra xử lý được 6 vụ. (Báo Quảng Nam 7/1) đầu trang(
Mường Nhé là địa phương có tỷ lệ che phủ rừng lớn nhất toàn tỉnh. Toàn bộ rừng của Mường Nhé đều thuộc rừng phòng hộ xung yếu cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng dân di cư tự do vào Mường Nhé nhiều, đã dẫn đến những cánh rừng đang bị bức tử, thay vào đó là những nương lúa, nương ngô...
Tình trạng phá rừng làm nương của dân di cư tự do diễn biến phức tạp, có tổ chức, có khi đến hàng trăm người dân cùng phá rừng trước sự bất lực của các cơ quan chức năng. Việc phá rừng đã diễn ra trong một thời gian dài, nhưng hầu hết các vụ phá rừng đều rơi vào quên lãng, những cánh rừng vẫn biến mất ngay trước mắt các cấp chính quyền từ xã đến huyện. Họ vẫn coi việc giữ rừng là của lực lượng kiểm lâm và chủ rừng, nhưng thực tế công việc này đã trở nên quá sức đối với lực lượng kiểm lâm cũng như chủ rừng.
Đúng như lời ông Bí thư Huyện ủy Nguyễn Quang Sáng, phần lớn diện tích rừng của các xã: Chung Chải, Leng Su Sìn, Mường Nhé, Nậm Kè... đã bị phá tan hoang. Những điểm còn sót lại là những vạt rừng mà chính những chủ rừng và lực lượng kiểm lâm phải chịu bao vất vả, thậm chí đổ cả máu để bảo vệ.
Địa bàn có tình trạng phá rừng nhiều nhất là các xã: Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé. Trước đây, đến Mường Nhé có thể thấy bạt ngàn màu xanh của rừng, nhưng chỉ trong thời gian chưa đầy 6 năm, hàng nghìn ha rừng của Mường Nhé đã bị chặt phá không thương tiếc. Điểm phá rừng nhiều nhất là bản Cà Là Pá, xã Leng Su Sìn; từ năm 2011 đến nay có trên 400 hộ dân di cư vào đây, họ đã phá hàng nghìn ha rừng để làm nương trước sự bất lực của huyện. Những cánh rừng xanh trước kia chỉ sau 3 năm giờ đã thành đồi trọc thế này; những ngôi nhà tạm bợ của dân di cư tự do vẫn thản nhiên mọc lên; tiếng cưa máy vẫn gầm vang, những cánh rừng vẫn biến mất trong đêm…
Xã Mường Nhé cũng là địa bàn trọng điểm của tình trạng phá rừng. Chỉ trong một thời gian ngắn chưa đầy 1 năm, hơn 25 hộ dân bản Nà Pán đã khai tử trên 200ha rừng để làm nương. Lực lượng kiểm lâm, chủ rừng vào cuộc để bảo vệ rừng thì họ bị chính những kẻ phá rừng tấn công, đe dọa. Trước sự việc trên, chính quyền xã, lực lượng kiểm lâm đã báo cáo với UBND huyện, đề nghị tăng cương lực lượng giúp sức để cứu những cánh rừng trước sự tàn phá của những người di cư tự do. Nhưng cái họ nhận được là những lời hứa, những văn bản... còn những cánh rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá.
Trước sự hung hãn của những kẻ phá rừng, tấn công lại lực lượng kiểm lâm và chủ rừng nên người dân không dám đi tuần tra, bảo vệ rừng. Do các vụ xô sát giữa người bảo vệ rừng và lâm tặc chưa được các cơ quan thực thi pháp luật xử lý nghiêm, dẫn đến tâm lý hoang mang của người dân.
Theo con số thống kê từ năm 2013 đến nay, trên địa bàn Mường Nhé đã có trên 500ha rừng bị chặt hạ. Cụ thể, năm 2013 có 210ha rừng bị phá, năm 2014 có trên 200ha rừng bị phá. Tuy nhiên, con số này chưa đúng với tình hình thực tế phá rừng tại địa phương. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, theo thống kê của huyện Mường Nhé thì đã có 157 vụ phá rừng, làm thiệt hại trên 153ha rừng. Có những cánh rừng hôm qua còn xanh tốt, nhưng chỉ qua một đêm đã bị chặt hạ hoang tàn. Với cưa máy, đèn pin buộc trên đầu, hàng chục thanh niên lực lưỡng chặt hạ những cánh rừng một cách không thương tiếc và họ sẵn sàng tấn công lực lượng bảo vệ rừng nếu bị phát hiện.
Dọc theo Quốc lộ 4H từ xã Chung Chải đến địa điểm giáp ranh xã Mù Cả (tỉnh Lai Châu) khoảng 15km, rừng hai bên đường đi đã biến mất, thay vào đó là những nương lúa, ngô, đất trống, đồi trọc. Trong khi đó, những cánh rừng bên phía tỉnh Lai Châu được bảo vệ rất tốt, không có tình trạng phá rừng, dân di cư của Mường Nhé cũng không dám sang phá rừng. Phải chăng công tác bảo vệ rừng của chính quyền huyện Mường Nhé đang có vấn đề.
Theo ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé, huyện có biết tình trạng phá rừng, nhưng việc xử lý các vụ phá rừng, chính quyền huyện vẫn còn lúng túng, chưa biết xử lý thế nào?
Để rừng Mường Nhé xanh trở lại, rất cần sự vào cuộc khẩn trương của các cơ quan chức năng, xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng, không để tình trạng phá rừng tái diễn kéo dài. (Báo Điện Biên Phủ 7/10) đầu trang(
Chỉ trong 4 tháng, một huyện ở tỉnh Phú Yên đã mất trắng hơn 120 ha rừng tự nhiên, nghi có sự tiếp tay của một số cán bộ huyện và xã
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên cho hay Cơ quan CSĐT đang điều tra, làm rõ 2 vụ phá rừng trái phép nghiêm trọng xảy ra ở huyện Đồng Xuân.
Giữa tháng 7-2016, chỉ đến khi người dân quá bức xúc, báo cho các cơ quan báo chí tới hiện trường, đồng thời thông tin đến chính quyền huyện Đồng Xuân và tỉnh Phú Yên để lập đoàn kiểm tra thì cơ quan chức năng mới phát hiện gần 59 ha rừng tự nhiên thuộc 2 tiểu khu 110 và 120 ở xã Xuân Long, Xuân Quang 2 đã bị phát trắng. Trong đó, phần lớn bị đốt sạch, gỗ đã bị lấy đi và đốt than. Tại hiện trường, đoàn công tác đã tạm giữ 6 xe tải, nhiều cưa máy, gỗ.
Qua xác minh của UBND huyện Đồng Xuân và Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Phú Yên, đây là diện tích rừng được UBND huyện Đồng Xuân giao cho người dân ở xã Xuân Quang 2 phát triển lâm nghiệp từ năm 2002. Sau đó, những hộ này chuyển nhượng. Ông Nguyễn Chí Công (ngụ xã Xuân Sơn Nam), ông Nguyễn Văn Tự và ông Dương Văn Hiếu đã mua lại rồi thuê người phát trắng. Ông Tự và ông Hiếu khai đều nhờ 1 người tên là La Mo Trung mua bán, chuyển nhượng và làm đơn xin phát dọn thực bì.
Trước đó, tháng 5-2016, lực lượng chức năng cũng phát hiện mỗi ngày có hơn 30 người mang rựa, cưa máy vào 2 tiểu khu 83 và 90 của xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân để triệt hạ sạch cây rừng. Sau khi kiểm đếm, đã có gần 110 ha rừng và đất lâm nghiệp bị phát dọn sạch. Xác minh ban đầu cho thấy ông Phạm Xuân Trình (trú xã Xuân Quang 1, là cháu của nguyên bí thư Huyện ủy Đồng Xuân) đã thuê nhiều nhóm đốn hạ, phát trắng hơn 53 ha rừng tại 2 tiểu khu 83 và 90.
Làm việc với đoàn kiểm tra, ông Trình đã xuất trình 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 3 hộ dân La Lan Dư, La Mo Mang, La O Đấu (trú xã Phú Mỡ) với tổng diện tích hơn 43 ha cùng giấy chuyển nhượng đất cho ông, có xác nhận của UBND xã Phú Mỡ. Hiện ông Trình đã bị Cơ quan CSĐT bắt giữ.
Trong vụ phá rừng ở xã Xuân Long và Xuân Quang 2, Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên cho rằng việc chặt phá có tổ chức, thực hiện với quy mô lớn, có nhiều người cùng tham gia nhưng chính quyền địa phương buông lỏng quản lý. Kiểm lâm và chính quyền phối hợp chưa tốt, có biểu hiện thông đồng, bao che cho các đối tượng vi phạm.
“UBND xã Xuân Long biết việc mua bán, chuyển nhượng đất lâm nghiệp là bất hợp pháp nhưng không kiểm tra hiện trạng, xác định ranh giới vẫn ký xác nhận vào đơn xin phát dọn thực bì. Khi phát hiện, xã không báo cáo, không tổ chức lực lượng kiểm tra, ngăn chặn, xử lý vi phạm, để người dân tiếp tục chặt phá rừng” - ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên, cho biết.
Trong báo cáo gửi UBND tỉnh, ông Tùng cũng yêu cầu Hạt Kiểm lâm Đồng Xuân tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép; kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, bao che, tiếp tay cho các đối tượng vi phạm.
Liên quan đến vụ phá rừng ở xã Phú Mỡ, ngày 5-10, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên đã ra thông báo kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với một số cán bộ, lãnh đạo ở huyện Đồng Xuân. Theo đó, ông Cao Thanh Lương - Huyện ủy viên, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) - bị Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét xử lý nghiêm. Ông Nguyễn Hồng Đức, nguyên Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Xuân, bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo.
Ông So Bếp, Bí thư Đảng ủy xã Phú Mỡ, cũng bị kỷ luật Đảng với hình thức cảnh cáo. Riêng ông Đặng Văn Trọng - Phó Ban Tổ chức Huyện ủy, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân - không bị kỷ luật nhưng yêu cầu kiểm điểm, rút kinh nghiệm khi thiếu trách nhiệm, không kiểm tra kỹ hồ sơ, không phát hiện hồ sơ khống, không đúng quy định.
Các đối tượng này đã lập khống 7 hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), tham mưu cho UBND huyện Đồng Xuân cấp GCNQSDĐ với diện tích hơn 126 ha trong tiểu khu 83, 90 đã được Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân giao UBND xã Phú Mỡ quản lý.
“Các vụ phá rừng này còn liên quan một số cán bộ cấp dưới ở Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, Phòng TN-MT huyện hay như chủ tịch UBND xã Phú Mỡ, phó chủ tịch UBND xã Xuân Long. Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đồng Xuân đang kiểm tra dấu hiệu vi phạm và sẽ có hình thức kỷ luật trong nay mai” - ông Đặng Ngọc Anh, Chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân, khẳng định.
Trong khi đó, ông Phan Văn Công, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên, thanh minh: “Tất cả các vụ phá rừng ở huyện Đồng Xuân chỗ nào cũng có giấy chứng nhận hết, có xã ký hết. Vì vậy, anh em kiểm lâm nghĩ là xã cho phát rồi. Anh em ỷ lại việc ấy”.
Về việc mỗi vụ phá rừng đều kéo dài hàng tháng trời nhưng kiểm lâm không thấy đâu, ông Công cho rằng vì đường sá khó đi nên kiểm lâm không đến được. Trong khi đó, vụ phá rừng ở Phú Mỡ chỉ cách trung tâm xã khoảng 6 km. Về trách nhiệm của kiểm lâm, ông Công cho biết chỉ kiểm điểm và luân chuyển địa bàn. (Người Lao Động 7/10) đầu trang(
Ông Phạm Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân, cho biết: Đầu tháng 9.2016 đến nay, Hạt đã thành lập 3 chốt chặn kiểm soát việc mua bán, vận chuyển lâm sản tại các thôn Nghĩa Điền (xã Ân Nghĩa), thôn T2 (xã Bok Tới) và thôn T6  (xã Đắc Mang).
Mỗi chốt chặn có 5 thành viên, gồm các lực lượng: Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện, dân quân tự vệ xã, hoạt động 24/24 giờ để kiểm soát và xử lý các trường hợp vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn. Một tháng qua, các chốt này đã phát hiện 6 trường hợp vận chuyển gỗ trái phép, tịch thu hơn 1m3 gỗ các loại.
Trong 9 tháng đầu năm 2016, Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân đã phát hiện, lập biên bản xử phạt hành chính 28 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép với số tiền gần 412 triệu đồng. (Báo Bình Định 9/10) đầu trang(
Ngày 7/10, ông Lê Thanh Tịnh (Giám đốc Ban quản lý, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) cho biết, đơn vị vừa bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ lậu trên xe Toyota biển xanh loại 16 chỗ, theotin tức trên báo Người Lao Động.
Khoảng 15h30 ngày 610, tại khu vực vùng đệm của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Hóa Sơn (huyện Minh Hóa), tổ kiểm lâm cơ động số 2 phối hợp với trạm kiểm lâm Hóa Sơn phát hiện xe ô tô loại 16 chỗ mang biển số xanh 74B - 0050 do Đinh Xuân Duẩn (SN 1987, trú tại xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa) điều khiển, có hành vi vận chuyển gỗ lậu trái phép.
Lực lượng kiểm lâm ra tín hiệu đón dừng phương tiện, lái xe không chấp hành mà cố tình điều khiển phương tiện tẩu thoát. Để khống chế, kiểm lâm buộc phải dùng súng bắn cảnh cáo. Khi xe dừng lại, lái xe Duẩn không những không chấp hành lệnh kiểm tra mà còn tiếp tục chửi bới, đe dọa lực lượng chức năng.
Tiến hành kiểm tra xe, lực lượng chức năng phát hiện bên trong xe có chứa 6 hộp gỗ bời lời (loại gỗ thuộc nhóm IV), có tổng khối lượng 0,5 m3, theo báo Công An TP. HCM.
Hiện Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Đinh Xuân Duẩn, đồng thời mời đại diện chính quyền địa phương, Công an xã, Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa, Đồn Biên phòng Cà Xèng phối hợp xử lý vụ việc, tạm giữ tang vật cùng phương tiện. (Doanh Nghiệp Việt Nam 8/10) đầu trang(
Sau khi dừng và kiểm tra một xe ô tô chở khách, Tổ công tác tuần tra kiểm soát của Phòng CSGT tỉnh Bắc Giang đã phát hiện số lượng lớn gỗ được bọc bông và cuốn kín bằng băng dính nghì là là gỗ sưa đỏ.
Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 7/10, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông của Phòng CSGT tỉnh Bắc Giang đang làm nhiệm vụ tại Km 99+300 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, Bắc Giang; tiến hành kiểm tra chiếc xe ô tô khách loại 16 chỗ ngồi, nhãn hiệu Mercedes-Benz BKS 29B - 083.19 đi hướng Hà Nội - Lạng Sơn. Lái xe được xác định là Nguyễn Đình Thọ (SN 1977, trú tại xã Thái Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc).
Tiến hành kiểm tra nhanh, Tổ công tác phát hiện trong khoang chở khách của phương tiện chở nhiều bao tải, vải bông được quấn chặt bằng băng dính, lái xe trình bày là đồ nội thất của gia đình mang về quê.
Trong quá trình kiểm tra, lái xe luôn tỏ thái độ lo lắng, đáng chú ý số hàng hóa trên có nhiều kiểu dáng, hình dạng khác nhau không giống như đồ nội thất.
Do đó, lực lượng CSGT yêu cầu kiểm tra cụ thể phát hiện nhiều đoạn gỗ với chiều dài khác nhau có đoạn dài gần 2,5m kiểu dạng gỗ sưa. Lái xe quanh co không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ trên.
Trước những nghi vấn đó, tổ công tác điện báo cáo lãnh đạo phòng và được chỉ đạo đưa xe, lái xe về đơn vị để làm rõ.
Tại trụ sở Phòng CSGT, đơn vị tiến hành kiểm tra phát hiện 45 đoạn gỗ có tổng trọng lượng 594,2kg, lái xe khai nhận là gỗ sưa đỏ.
Hiện đơn vị bàn giao đối tượng, phương tiện và toàn bộ gỗ cho Phòng Cảnh sát kinh tế, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Giang và Chi cục kiểm lâm thụ lý giải quyết. (Thanh Tra 8/10) đầu trang(
Trước những phản ánh của Báo điện tử Tài nguyên & Môi trường về hoạt động vận chuyển gỗ lậu diễn ra công khai tại rừng phòng hộ Sông Tiêm diễn ra trong thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã vào cuộc và có văn bản xác nhận vụ việc.
Báo cáo số 543/BC-KL, ngày 6/10, của Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh phản hồi thông tin phản ánh nêu rõ, ngày 19/9/2016 và ngày 20/9/2016, Báo Tài nguyên và Môi trường có đăng bài: “Gỗ lậu tuồn ra khỏi rừng phòng hộ sông Tiêm”; và bài “Vì sao chưa chặn được dòng gỗ lậu tại rừng phòng hộ sông Tiêm”.
Ngay sau khi nhận được phản ánh, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Hương Khê phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng, Ban QL rừng phòng hộ Sông Tiêm kiểm tra, ngăn chặn và xử lý.
Theo đó, kết quả 9 tháng đầu năm 2016, đã tổ chức tuần tra, kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại gốc 30 lần trên lâm phần rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm, phát hiện, bắt giữ và xử lý 17 vụ vi phạm, tịch thu 25, 67m3 gỗ các loại, 02 xe bò lốp; riêng từ đầu tháng 8 đến nay, trên tuyến đường mà Báo TN&MT phản ánh, đã bắt giữ, xử lý 9 vụ vi phạm Luật bảo vệ rừng.
Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cũng thừa nhận, trên địa bàn có tuyến đường được mở đi xuyên qua rừng phòng hộ Sông Tiêm đây cũng là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng lợi dụng để khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Do đó, có rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát người, phương tiện, người ra vào rừng và công tác bảo vệ rừng trên địa bàn.
Báo cáo xác nhận, thời gian qua, trên tuyến đường từ xã Hương Vĩnh đến Bản Giàng thuộc địa bàn hai xã Phú Gia, Hương Vĩnh, có tình trạng người dân sử dụng trâu kéo, xe lôi, xe lai vận chuyển lâm sản trái phép.
Để xảy ra sự việc trên, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã có đề nghị làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan để xử lý theo quy định.
Nhằm có giải pháp ngăn chặn, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đưa ra những biện pháp, cụ thể: Yêu cầu Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm tăng cường tuần tra, truy quét tại gốc để phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác lâm sản trái phép trong lâm phần quản lý; Hạt Kiểm lâm Hương Khê tiếp tục phối hợp có hiệu quả với các Đồn Biên phòng, các xã Phú Gia, Hương Vĩnh và Hương Xuân tiếp tục rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật tình trạng khai thác, cất giữ, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn.
Trước những thông tin được phản ánh kịp thời, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã gửi lời cảm ơn Ban biên tập Báo Tài nguyên và Môi trường, các phóng viên, trong thời gian qua đã có sự đồng hành với đơn vị, phản ánh kịp thời các hành vi vi phạm Luật bảo vệ rừng, góp phần vào công tác bảo vệ rừng ngày một tốt hơn, nâng cao độ che phủ rừng Hà Tĩnh.
Như Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường đã phản ánh trước đó, tình trạng lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu tuồn ra khỏi rừng phòng hộ Sông Tiêm trước sự thờ ơ của chủ rừng và quản lý buông lỏng của lực lượng bảo vệ rừng. Ngay sau khi nhận được phản ánh, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã vào cuộc kiểm tra, xử lý vụ việc.
Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường hoan nghênh tinh thần phối hợp, kịp thời xử lý nội dung báo phản ánh của Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh. (Tài Nguyên Và Môi Trường 9/0) đầu trang(
Tin từ UBND H.Ia Grai (Gia Lai) ngày 9.10 cho biết: Các cơ quan chức năng gồm biên phòng, kiểm lâm và công an đã xác định xong khối lượng gỗ lậu được chở trên 5 xe tải khủng, bị chặn bắt vào khoảng 3 giờ sáng ngày 6.10 tại các xã Ia O, Ia Chía, H.Ia Grai, Báo Thanh Niên đã thông tin.
Số gỗ trên gồm các các chủng loại như sến mủ, bằng lăng, kiền kiền, sao cát với số lượng lên đến hàng trăm lóng gỗ, với chiều dài trung bình từ 3 - 4 m. Trong đó, có nhiều khúc gỗ lớn với đường kính 60 - 70 cm. Tổng cộng, số gỗ này có khối lượng hơn 70 m3.
Toàn bộ gỗ còn khá tươi, chứng tỏ bị khai thác lậu chưa lâu. Theo nhận định ban đầu của cơ quan chức năng, nhiều khả năng gỗ lậu có nguồn gốc từ địa phương khác, được vận chuyển trái phép trên tuyến đường liên huyện để tuồn về Gia Lai.
Hiện toàn bộ tang vật như xe, gỗ đang được tạm giữ tại Hạt kiểm lâm H.Ia Grai. Cơ quan chức năng đang hoàn thiện các thủ tục liên quan để khởi tố vụ án, tiến hành xác minh, truy tìm những đối tượng chuyên chở cũng như khai thác lậu, nguồn gốc số gỗ này.
Trước đó, UBND tỉnh Gia Lai cũng chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra, làm rõ và xử lý theo pháp luật vụ việc nghiêm trọng này. (Thanh Niên 9/10) đầu trang(
Lâm tặc tại Tây nguyên vẫn lộng hành, tàn phá rừng, công khai vận chuyển gỗ. Vụ 5 xe tải chở 50m3 gỗ, Gia Lai kiểm đếm, phát hiện số gỗ vi phạm trên 70m3. Đáng nói, Gia Lai khẳng định lâm tặc xuất phát từ Kon Tum, ngược lại Kon Tum kiên định ý kiến - đường đi của gỗ lậu là phía Campuchia tràn sang.
Huyện Ia Grai (Gia Lai) giáp ranh với huyện Ia H’Drai (tách huyện Sa Thầy, Kon Tum) được lâm tặc lợi dụng đường sông và bộ để trung chuyển gỗ lậu. Xuồng máy, xe tải rầm rập chở gỗ lậu bất kể ngày đêm. Dọc đường, luôn có đồng bọn “tháp tùng”, cảnh giới; súng, dao, mã tấu sẵn sàng cướp gỗ khi bị vây bắt.
Vì sát huyện Ia H’Drai, chỉ trong 10 tháng đầu năm, Đồn biên phòng (ĐBP) Ia O (huyện Ia Grai) đã bắt 10 vụ, tịch thu 83,3m3 gỗ lậu cùng 5 xe ôtô, 6 thuyền. Xa hơn, ĐBP Ia Chía (huyện Ia Grai) cũng bắt 7 vụ với 12 đối tượng; tịch thu 5,48m3 gỗ cùng xe máy, cưa xăng. Việc bắt giữ 5 xe tải cùng 50m3 gỗ rạng ngày 6.10 là đỉnh điểm báo động nạn lâm tặc cát cứ Tây Nguyên.
Đồn trưởng ĐBP Ia O - Đinh Công Thông cho biết, lúc 1h30, nhận được tin báo, có đoàn xe tải biểu hiện bất thường đi qua. Đơn vị họp khẩn, cử 1 tổ tuần tra kiểm soát chốt chặn, đón lõng. Bị phát hiện, đoàn xe bỏ chạy theo QL 14C hướng về xã Ia Chía (huyện Ia Grai). Lực lượng truy đuổi, thông báo cho các ĐBP xung quanh hỗ trợ truy bắt. Cuộc rượt đuổi diễn ra kịch tính khi lâm tặc bị giữ lại ở trục đường liên xã, đội 12, làng Kom Ngó, xã Ia Chía. Lâm tặc vứt xe tải bỏ chạy, trốn vào vườn caosu. Sau, hơn 20 đối tượng đi trên xe bán tải, quay lại hiện trường cướp xe và gỗ.
Phó Đồn trưởng nghiệp vụ ĐBP Ia Chía - Dương Ngọc Sơn mô tả: “Lúc đó có CA xã, dân quân xã, KL địa bàn tổng gần 20 người nhưng các đối tượng rất manh động, chúng xô đẩy lực lượng nhảy lên xe, nổ máy bỏ chạy. Mà xe ôtô tải thì quá to, chúng tôi không thể nhảy ra mà chặn được. Anh em nổ súng yêu cầu dừng lại, chúng lao xe vào người, cán nát 3 xe máy”. Ông Sơn nói, lúc ấy không thể bắn vào lốp xe tải vì khu vực xung quanh đông dân cư.
5 xe chở gỗ, lâm tặc cướp 3 xe, sau đó lần lượt bị bắt lại cách 3km. Tất cả xe tải đều không có biển số; số khung, số máy đã bị đục phá. Tỉnh Gia Lai không bắt được đối tượng nào, cũng chưa thể khẳng định lâm tặc là người tỉnh Kon Tum hay Gia Lai? Cuối ngày 9.10, Chủ tịch UBND huyện Ia Grai - Dương Mah Tiệp - cho biết, số gỗ vi phạm qua kiểm đếm là 70,4m3.
Biên giới tuyến QL 14C, nối Gia Lai có chốt gác tổng hợp của lực lượng huyện Ia H’Drai (Kon Tum) gồm: Biên phòng, kiểm lâm, dân quân xã, CA xã đóng tại xã Ia Tơi. Xã này lại giáp xã Ia O (huyện Ia Grai) - nơi ĐBP Ia O - nhận tin báo có đoàn xe gỗ chạy qua. Một lãnh đạo KL Gia Lai - giấu tên - nói: “Đa số nguồn gỗ là từ Kon Tum xuống. Đường sông dài như thế, đường bộ hở như thế, kiểu như “thả gà ra đuổi”, Gia Lai chặn bắt bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu, giờ nói bắt hết 100% thì không có. Kon Tum sơ hở nhiều quá, lâm tặc tràn sang Gia Lai cũng là dễ hiểu”.
Ngược lại, lãnh đạo huyện Ia H’Drai nói: “Ngay cả biên giới Campuchia, dân họ xách gỗ ra bán tùm lum, không biết mấy ông (lâm tặc - PV) có mua không (!?). Nghi là bên Campuchia khai thác rồi bán qua”.
Theo điều tra của PV, gỗ từ Campuchia về Gia Lai buộc đi qua Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh (huyện Đức Cơ), xuôi theo hướng QL19, từ các huyện Đức Cơ, Chư Prông rồi về TP. Pleiku. Còn từ Cửa khẩu Lệ Thanh về huyện Ia Grai, buộc đi thẳng đến xã Ia Chía, xuyên tỉnh lộ 664 lên TP. Pleiku. Trong khi đoàn xe tải 5 chiếc bị bắt ngày 6.10, hướng đi từ xã Ia O về xã Ia Chía, mà xã Ia O lại giáp ranh xã Ia Tơi (huyện Ia H’Drai).
Trước nghi vấn đường đi gỗ lậu từ huyện Ia H’Drai, Chủ tịch huyện Ia H’Drai - Nguyễn Văn Lộc - thẳng thắn: “Vụ việc xảy ra, huyện đã chỉ đạo kiểm chốt gác xã Ia Tơi, ngày hôm đó thuộc ca nào, ai trực đề phòng trường hợp xấu nhất (tiêu cực) xảy ra. Người và phương tiện qua biên giới thì biên phòng chịu trách nhiệm, còn gỗ đi ra khỏi địa bàn thì KL chịu trách nhiệm, đó là nội quy của chốt”.
Ông cho rằng, để khẳng định gỗ từ Kon Tum hay Campuchia thì phải chờ câu trả lời từ CA Gia Lai. Tại Tây Nguyên, Gia Lai được xem là tỉnh quyết liệt đứng đầu về việc chống lâm tặc. Từ vụ 50m3 gỗ bị bắt, Gia Lai “chống đỡ” thế nào, khi các tỉnh lân cận buông lỏng quản lý, có dấu hiệu của tiêu cực (!).  (Lao Động 10/10) đầu trang(
Do lợi nhuận cao, hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. “Lâm tặc” thường dùng xe chở gỗ lậu không biển số. Khi bị bắt giữ, bọn chúng đã chống đối quyết liệt để cướp hàng hoặc bỏ hàng, bỏ xe không số chạy tháo thân, gây khó khăn cho việc điều tra, khởi tố.
Những năm qua, cuộc chiến chống buôn lậu gỗ luôn nóng bỏng. “Lâm tặc” luôn tìm mọi cách để vận chuyển hàng lậu như dùng “xe bò vàng”, xe tải lớn không biển kiểm soát chở hàng hay ngụy trang gỗ lậu một cách tinh vi giấu trên xe khách, xe tải, giấu gỗ dưới sông, hồ.
Trung tá Nguyễn Thế Bất (Phó Trưởng phòng Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Gia Lai) cho biết: “Các đối tượng thường lợi dụng các ngày lễ, Tết, thứ bảy, chủ nhật hay khoảng thời gian từ 21h đêm hôm trước đến 5h sáng hôm sau để khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ, các đối tượng thường bỏ lại tang vật, phương tiện vi phạm rồi bỏ chạy hoặc tìm cách chống đối, đánh tháo”.
2h sáng ngày 6/10/2016, Đồn BP Ia Chia (huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) nhận được tin báo có 5 xe tải loại lớn không biển số đang vận chuyển gỗ đi từ xã Ia O đến làng Kom Ngo 2 (xã Ia Chia). Khi bị lực lượng BP Đồn BP Ia Chia phát hiện, yêu cầu dừng xe, kiểm tra, các tài xế xe không số đã nhanh chóng đồng loạt mở cửa xe, lẩn vào đêm tối bỏ trốn.
Khoảng 2 tiếng sau, nhóm lái xe tải chở gỗ lậu hùng hổ quay trở lại với hơn 20 đối tượng khác. Lợi dụng đêm tối, lực lượng BĐBP mỏng, bọn chúng quay trở lại để cướp số gỗ bị tạm giữ. Các đối tượng này đã chống đối lực lượng chức năng rồi cướp lại 3 xe gỗ lậu, bỏ chạy theo các hướng khác nhau.
Trước đó, Bộ Chỉ huy BĐBP Gia Lai đã chỉ đạo cho các Đồn BP Ia Chia, Đồn BP Ia O, Đồn BPCKQT Lệ Thanh phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn chặn các ngã rẽ, quyết tâm truy bắt không cho các đối tượng chạy thoát. Quá trình truy đuổi các xe gỗ lậu trong đêm tối rất quyết liệt. Khi bị truy đuổi, một đối tượng lái xe tải đã lao thẳng xe vào 3 xe mô tô của lực lượng BP khiến 3 xe mô tô bị hư hỏng nặng.
Trước thái độ hung hãn của các đối tượng cướp gỗ, lực lượng BĐBP buộc phải nổ súng bắn chỉ thiên, kiên quyết không để bọn chúng cướp tang vật. Kết quả, 1 xe tải chở gỗ lậu lao xuống vệ đường. 2 chiếc còn lại quay đầu chạy ngược về xã Ia O thì bị bắt. 1 xe bỏ chạy hơn 20km vẫn không thoát. Chiếc xe cuối cùng bị bắt giữ tại lô cao su số 149 (thuộc Đội 20, Công ty 74, Tổng Công ty 15). Tuy nhiên, các lái xe đã tẩu thoát, số gỗ trên thành gỗ vô chủ.
Tổng số gỗ trên 5 xe tải khoảng 100m3 gỗ không rõ nguồn gốc, đường kính từ 40-70cm, gồm các loại gỗ: kate, sến mủ, bằng lăng, dầu… Cơ quan chức năng đã lập biên bản tạm giữ và đưa phương tiện cùng tang vật về Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai để tiến hành xử lý. Đây là vụ vận chuyển gỗ lớn nhất bị phát hiện trong năm nay trên địa bàn huyện Ia Grai như trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Ngoài xe không biển số, có “lâm tặc” còn ngang nhiên dùng xe biển xanh chở gỗ lậu. 15h30 ngày 6/10/2016, trên đường vào xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Đồn BP Cà Xèng, BĐBP Quảng Bình và lực lượng kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã phát hiện xe ô tô 16 chỗ mang biển số xanh 74B-0050 do Đinh Xuân Duẩn (SN 1987, trú tại xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa) điều khiển có hành vi vận chuyển gỗ lậu với số lượng lớn.
Khi lực lượng chức năng ra tín hiệu dừng phương tiện, Duẩn không chấp hành mà cố tình tăng tốc bỏ chạy. Lực lượng chức năng buộc phải dùng súng bắn cảnh cáo để dừng phương tiện. Sau khi dừng lại, Duẩn dùng nhiều lời lẽ đe dọa và xúc phạm đến lực lượng thực thi pháp luật. Kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trong xe chứa 6 hộp gỗ bời lời (loại gỗ thuộc nhóm IV) có khối lượng 0,516m3.
Lực lượng chức năng đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Đinh Xuân Duẩn, đồng thời tạm giữ tang vật và phương tiện. Duẩn là đối tượng thường xuyên vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn xã Hóa Sơn, đã nhiều lần bị Kiểm lâm tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ngăn chặn, vây bắt nhưng Duẩn vẫn cố tình điều khiển phương tiện đâm vào người và phương tiện của lực lượng công tác để chạy thoát và tẩu tán tang vật. Xe biển số xanh 74B-0050 đã từng đâm vào phương tiện của lực lượng kiểm lâm để chở gỗ lậu tẩu thoát cách đây không lâu. Hiện lực lượng chức năng đang tiến hành xác minh nguồn gốc của chiếc xe này.
Trước tình hình buôn lậu gỗ ngày càng nóng bỏng, Bộ Tư lệnh BĐBP đã triển khai quyết liệt Kế hoạch 963/KH-BTL ngày 4/4/2016 về đấu tranh chống buôn lậu gỗ tại một số địa bàn trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên và Bình Phước. Sau gần 4 tháng triển khai thực hiện, các đơn vị BĐBP đã độc lập, chủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ, xử lý 112 vụ/98 đối tượng, tạm giữ trên 2.123m3 gỗ các loại (tăng 97,2% so với khi chưa thực hiện kế hoạch) và nhiều phương tiện các loại, trị giá tang vật khoảng 18,2 tỷ đồng.
Trong đó, BĐBP chủ trì bắt giữ 70 vụ/84 đối tượng và phối hợp bắt giữ 42 vụ/14 đối tượng. Số vụ buôn lậu gỗ từ nước ngoài về là 63 vụ/51 đối tượng/132m3. Số vụ bắt giữ trong khu vực biên giới (không xác định rõ nguồn gốc gỗ) và số vụ bắt giữ từ việc phá rừng trong nước là 49 vụ/44 đối tượng/2.177m3.
Đến nay, các lực lượng chức năng đã xử lý vi phạm hành chính 54 vụ/51 đối tượng (16 vụ vô chủ), phạt tiền trên 151 triệu đồng, số tiền bán tang vật khoảng 950 triệu đồng, bàn giao cơ quan chức năng xử lý 48 vụ/29 đối tượng và đang điều tra xác minh 7 vụ/23 đối tượng.
Theo đánh giá của Bộ Tư lệnh BĐBP, hoạt động khai thác, buôn lậu, vận chuyển trái phép gỗ trên địa bàn biên giới sẽ còn diễn biến phức tạp vì nhu cầu, thị hiếu dùng gỗ tự nhiên của người dân tăng cao và hoạt động này vẫn đem lại lợi nhuận cao. Hơn nữa, gỗ còn tồn ứ, tập kết với số lượng lớn ở ngoại biên đối diện và không loại trừ một lượng lớn có thể còn cất giấu trong rừng…
Kết quả đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển gỗ trái phép qua biên giới chưa cao, chưa tương xứng với tình hình, chưa đánh đúng, đánh trúng đầu nậu, các đường dây buôn lậu, vận chuyển trái phép gỗ qua biên giới. Khi có vụ việc vi phạm xảy ra, việc xử lý còn lúng túng, không nhạy bén, không kiểm soát được thông tin, làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn. Việc kiểm soát các lối mở, kho bãi tập kết, cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ còn nhiều hạn chế, thiếu chặt chẽ nên khó phát hiện để ngăn chặn kịp thời các hoạt động vi phạm pháp luật của các cơ sở này.
Do đó, thời gian tới, lực lượng chức năng ở các địa phương cần tiếp tục triển khai các kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu gỗ, trong đó, tập trung vào địa bàn trọng điểm, những địa bàn mà việc vận chuyển gỗ ít bị ảnh hưởng trong mùa mưa, rà soát địa bàn, phát hiện những điểm khai thác, cất giấu gỗ. (Pháp Luật Việt Nam 10/10) đầu trang(
Nhằm hạn chế tác động xấu của việc khai thác tài nguyên và bảo vệ rừng hiệu quả tại vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy, hơn 10 năm qua, VQG đã cùng chính quyền địa phương thực hiện thành công cơ chế chia sẻ lợi ích nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Người dân ổn định cuộc sống nhờ phát triển nhiều mô hình kinh tế dưới tán rừng ngập mặn như: Nuôi ngao, tôm, nuôi ong lấy mật, trồng nấm, khai thác rau câu...
VQG Xuân Thủy (Nam Định) là vùng đất ngập nước rộng lớn, trong đó diện tích vùng lõi khoảng 7.100 ha, và 8.000 ha vùng đệm, thuộc 5 xã của huyện Giao Thủy. Những năm gần đây, tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái của VQG, gây thiệt hại đến sản xuất, sinh hoạt của người dân khu vực này, xâm nhập mặn đã vào sâu nội đồng hơn 50 km. Chính quyền các cấp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó chú trọng khôi phục và mở rộng hệ sinh thái rừng ngập mặn nhằm tạo tấm lá chắn xanh cho vùng ven biển.
Ông Nguyễn Phúc Hội, Phó giám đốc VQG Xuân Thủy cho biết, thời gian trước đây, kinh tế biển là một nguồn thu nhập chính đối với nhiều hộ gia đình ở gần VQG. Chính vì thế, các biện pháp khai thác tận thu và hủy diệt phát triển rầm rộ bất chấp sự ngăn cấm của Ban quản lý vườn cũng như chính quyền địa phương.
Cùng với đó, việc giải tỏa đàn gia súc chăn thả trong vùng lõi của VQG nhiều năm vẫn rất khó khăn. Trước tình hình đó, VQG phối hợp cùng các dự án và chính quyền địa phương triển khai và khuyến khích người dân thực hiện những mô hình kinh tế mới, ổn định và bền vững về thu nhập, lại vừa bảo vệ tài nguyên như: nuôi giun quế, trồng nấm, nuôi ong...
Cùng với đó, mô hình du lịch sinh thái cộng đồng cũng được phát triển. Người dân địa phương tham gia các khóa đào tạo, tập huấn, được trang bị những kĩ năng cơ bản, hỗ trợ cải tạo nhà để đón khách du lịch và phát triển các đặc sản địa phương. Họ đã dần làm chủ được mô hình và có thu nhập thay thế cho canh tác lúa, hoa màu, khai thác hải sản thủ công như trước.
Song song phát triển kinh tế, VQG cũng tuyên truyền, giáo dục về môi trường cho cộng đồng địa phương. Người dân có ý thức giữ gìn rừng ngập mặn và sử dụng, bền vững nguồn tài nguyên đất ngập nước.
Việc chuyển đổi sinh kế cho người dân dựa trên sự chia sẻ lợi ích và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Nam Định đã đem lại hiệu quả kinh tế. Đơn cử như tại xã Giao An, là một trong những xã vùng đệm của VQG Xuân Thủy có tới 70% hộ làm nghề nông, sau khi được hỗ trợ kỹ thuật trồng nấm đã giúp thay đổi đời sống người dân. Trồng nấm giúp cho nguồn rơm rạ được tận thu, tạo điều kiện cho các hộ gia đình làm việc trong nội đồng cũng như hạn chế tình trạng khai thác tài nguyên vùng bờ biển một cách bừa bãi của người dân khi lúc nông nhàn với mức thu nhập bình quân gần 30 triệu đồng/năm.
Đặc biệt, mô hình nuôi ngao quảng canh ở khu vực VQG theo cơ chế “đồng quản lý và chia sẻ lợi ích”, sản lượng nuôi ngao ở đây được xếp loại hàng đầu cả nước. Với mô hình này các bên tham gia thực hiện gồm VQG Xuân Thủy, chính quyền (xã, huyện) và cộng đồng địa phương. VQG Xuân Thủy được huyện Giao Thủy ủy quyền triển khai ký hợp đồng chia sẻ lợi ích thông qua việc cho phép các đối tượng trong cộng đồng sử dụng đất mặt nước để nuôi ngao quảng canh ở khu vực; đồng thời thu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo thỏa thuận.
Tổng số tiền thu được từ 2 - 3 tỷ đồng/năm tùy vào tình hình giá cả và sản lượng ngao thu hoạch được sử dụng chi cho công tác quản lý khu nuôi ngao quảng canh, bảo tồn thiên nhiên và phát triển cộng đồng quỹ phúc lợi của UBND các xã vùng đệm tham gia đề án và của UBND huyện Giao Thủy. Dự án đồng quản lý và chia sẻ lợi ích cộng đồng này đã được Bộ TN&MT ủng hộ được đánh giá là giải pháp khắc phục trở ngại nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.
Là một trong những hộ đang thực hiện nuôi ngao quảng canh tại đây, ông Nguyễn Văn Quang cho biết, gia đình ông nhận nuôi với diện tích gần 10 ha, với thu nhập 100 triệu/năm. “So với việc trước đây sống phụ thuộc vào đánh bắt tự nhiên thì việc nuôi ngao đã đem lại lợi nhuận cao hơn và đời sống gia đình tôi ổn định hơn”, ông Quang cho biết.
Đại diện Ban quản lý VQG Xuân Thủy cho biết, với những phương thức quản lý mới cùng với những mô hình sinh kế người dân gắn với bảo tồn đã đem lại hiệu quả cao, hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn và phát triển. Đồng thời, giúp cho Chính phủ hiện thực hóa cam kết quốc tế ở VQG - Khu Ramsar quốc tế Xuân Thủy và Khu dự trữ sinh quyển thế giới đất ngập nước liên tỉnh ven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng. Bài học về cơ chế quản lý mới ở Xuân Thủy sẽ góp phần cho cơ quan quản lý Trung ương xây dựng chính sách bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước của quốc gia hiệu quả và khả thi hơn trong tương lai.
Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có trên 3.110 ha rừng; trong đó rừng phòng hộ là 1.955 ha, tập trung ở các xã vùng đệm VQG Xuân Thủy (Giao Thủy) gần 585 ha, các xã của Nghĩa Hưng: Nam Điền 186 ha, Nghĩa Lâm 275 ha, Nghĩa Hải 221 ha, Nghĩa Thành 282 ha... và rải rác tại các xã, thị trấn ven biển. Tại khu vực VQG Xuân Thủy, đã tạo được bức tường rừng ngập mặn dày khoảng 1 - 2 km tính từ đê biển đến rìa của khu rừng. (Tin Tức 8/10) đầu trang(
Ngày 9.10, Công an tỉnh Gia Lai cho biết đã phối hợp với các ngành liên quan tổ chức thả 8 con rắn thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ về rừng.
8 con rắn gồm: 5 con rắn hổ chúa (tên khoa học là Ophiophagus), 2 con rắn hổ mang (tên khoa học là Naja Naja) và 1 con rắn ráo trâu (tên khoa học là Ptyas mucosus) với tổng trọng lượng hơn 15 kg.
Trước đó, Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai phát hiện Nguyễn Phạm Tuân (30 tuổi, trú làng Ngó, xã Chư Á, TP.Pleiku) mua bán trái phép 8 con rắn trên.
Dịp này, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Vườn quốc gia Chư Mom Ray phối hợp Hạt kiểm lâm H.Sa Thầy (Kon Tum) cũng vừa thả con khỉ mặt đỏ về rừng.
Con khỉ này có trọng lượng 9 kg, được ông Nguyễn Văn Nam (ở đường Nguyễn Đình Chiểu, TP.Kon Tum) tự nguyện giao nộp cho Hạt kiểm lâm TP.Kon Tum.
Loài khỉ này có tên khoa học là Macaca arctoides, thuộc động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc nhóm I2B. (Thanh Niên 10/10) đầu trang(
Người dân các xã Huổi Một, Chiềng Khoong và Mường Cai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đang canh cánh với nỗi lo bị voi rừng tấn công.
Cá thể voi  này xuất hiện ở huyện từ mấy năm trước, song gần đây  trở nên hung hãn, đe dọa sự an toàn tính mạng và tài sản của người dân.
Theo nhiều người dân Sông Mã, họ đã từng nhìn thấy cá thể voi  xuất hiện quanh khu vực bà con sinh sống từ 4 – 5 năm trước. Song, lúc bấy giờ có vẻ hiền lành và ít phá phách. Đây là voi cái, có trọng lượng khoảng 5 tấn.
Gần đây, voi xuất hiện thường xuyên hơn và phá phách nhiều hơn, nhất là tại khu vực giáp ranh 3 xã của huyện gồm: Chiềng Khoong, Huổi Một và Mường Cai. Thống kê trong 2 năm lại đây, cá thể voi này đã phá hoại tổng cộng 156 lần, giết chết 6 con trâu bò, hủy hoại 1 nhà ở, một số công cụ sản xuất gồm máy cắt cỏ, máy thái sắn, nhiều đường ống nước và trên 25 ha ruộng nước, nương ngô, sắn, tổng giá trị thiệt hại khoảng 450 triệu đồng. Ngoài ra, 6 người dân ở bản Kéo, xã Huổi Một còn bị voi đuổi, may mắn chạy thoát.
Sau khi phát hiện sự xuất hiện của voi rừng, cấp ủy, chính quyền các xã đã báo cáo huyện và ngành chức năng. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền để người dân chủ động triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản. Bện canh đó là huy động các ban, ngành, đoàn thể xã, bản giúp đỡ nhân dân trong việc khắc phục hậu quả do voi phá hoại.
Ông Lò Văn Long, Bí thư Đảng ủy xã Huổi Một nói: “Con voi này đang ở khu vực Hải Sơn – nơi giáp ranh Chiềng Không với Huổi Một. Nó hay xuất hiện vào ban đêm trên lán nương, hoặc buổi sáng sớm, sợ nó làm hại đến người. Giết nó thì không được vì như vậy là vi phạm pháp luật”.
Về phía huyện Sông Mã đã có văn bản thông báo đến nhân dân và hướng dẫn nhân dân áp dụng các biện pháp xua đuổi voi ra khỏi khu vực dân cư; đồng thời nhắc nhở nhân dân chú ý bảo vệ, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của voi.
Cuối năm ngoái, huyện đã có buổi làm việc với Tổng Cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm Sơn La và Thường trực UBND các xã nơi có voi rừng thường xuyên xuất hiện.
Tại buổi làm việc, sau khi báo cáo  tình hình liên quan, huyện đã đề xuất, kiến nghị với đoàn công tác của Tổng cục Lâm  nghiệp là di chuyển voi đến nơi có điều kiện phù hợp; nếu không di chuyển được thì cần có biện pháp phòng tránh và hỗ trợ về thiệt hại do voi gây ra...Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có biện pháp giải quyết nào được đưa ra.
Bà Cầm Thị Ngọc Yến, Phó Chủ tịch UBND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cho biết: “Trước mắt, huyện chỉ đạo các xã và các vùng lân cận khi voi xuất hiện thì xua đuổi theo phương pháp thủ công. Còn để di chuyển con voi này ra khỏi khu vực này hay đưa vào những khu bảo tồn thì rất mong các cấp các ngành tiếp tục quan tâm có ý kiến chỉ đạo để huyện sẽ phối hợp trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện”.
Sớm đưa voi rừng về các khu bảo tồn thiên nhiên là mong ước lớn nhất của người dân Sông Mã hiện nay, bởi như vậy, bà con mới không còn nơm nớp lo sợ đối mặt với voi rừng. Và loài động vật hoang dã, quý hiếm này mới có thể được bảo tồn một cách tốt nhất. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 8/10) đầu trang(
Sáng 8.10, ông Võ Văn Hải - Chánh văn phòng UBND huyện Thanh Chương (Nghệ An) cho biết, trên địa bàn từ đầu năm đến nay xuất hiện liên tiếp 6 lần đàn voi rừng về phá hoại cây trồng, hoa màu của người dân.
Theo thông tin từ ông Hải, tối 6.10, một đàn voi rừng khoảng 3 con về khu vực vườn của ông Nguyễn Công Dân (trú tại xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương) phá hoại cây rễ hương và một số cây ăn quả lâu năm. Được biết, khu vườn của ông Dân có diện tích khoảng 5ha, gần khu vực khe suối, từ đầu năm đến nay khoảng 5 lần đàn voi rừng vào khu vườn của ông phá phách.
Sau khi nhận được thông tin của người dân, UBND huyện Thanh Chương đã chỉ đạo chính quyền địa phương và người dân cách phòng tránh voi rừng tấn công, đồng thời lên phương án bảo vệ đàn voi rừng này.
Cụ thể, UBND huyện Thanh Chương đã yêu cầu các xã Thanh Đức, Hạnh Lâm và kiểm lâm địa bàn thường xuyên tuần tra, khi phát hiện đàn voi xuất hiện tại khu vực dân cư, phối hợp với người dân thực hiện các biện pháp đẩy đuổi đàn voi bằng cách đánh trống, mõ, chiêng, đốt lửa...
Đồng thời, dựng biển cảnh báo nguy hiểm tại khu vực có đàn voi xuất hiện, tuyệt đối không được sử dụng công cụ, vũ khí tấn công, xung đột trực tiếp hoặc gây nguy hiểm, kích động đàn voi. (Dân Việt 8/10) đầu trang(
Gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD), đặc biệt tại các thành phố lớn cũng ngày một gia tăng. Đây chính là một trong những nguyên nhân gây đe dọa đa dạng sinh học tại Việt Nam.
Theo khảo sát gần đây của ENV , tình trạng nhập lậu ĐVHD tại các cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD ở Việt Nam, việc chủ cơ sở  lợi dụng kẽ hở của pháp luật và cơ chế quản lý lỏng lẻo để kiếm lời bất chính là những hiện tượng phổ biến.
Kết quả khảo sát của ENV tại 26 cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD tại Việt Nam cho thấy: 26/26 cơ sở gây nuôi được khảo sát có các dấu hiệu nhập lậu ĐVHD, 16/26 chủ cơ sở gây nuôi cho biết cơ sở của họ đã nhập lậu ĐVHD, 18/18 chủ cơ sở gây nuôi cho biết họ mua ĐVHD không kèm giấy phép vận chuyển; 14/14 chủ cơ sở gây nuôi cho biết họ bán ĐVHD không kèm giấy phép vận chuyển.
Cùng với đó, nhu cầu tiêu thụ đối với các sản phẩm ĐVHD có khả năng gia tăng sau khi các sản phẩm nuôi nhốt được phép lưu thông trên thị trường.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng từ tháng 1-8/2016, nhiều vụ việc về buôn bán, vận chuyển ĐVHD trái phép đã bị bắt và xử lý từ đầu năm đến nay. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 18/1/2016, sau khi nhận được thông tin từ một du khách  qua  đường  dây  nóng  của  ENV,  Đội  quản  lý  thị trường tỉnh đã kiểm tra và tịch thu 09 tiêu bản rùa biển được bày bán tại một cửa hàng đồ lưu niệm.
Chủ cửa hàng đã bị xử phạt 5 triệu đồng. Ngày 3/6/2016, sau khi nhận được thông tin từ cán bộ Quỹ bảo  vệ  thiên  nhiên  quốc  tế  (WWF)  về  trường  hợp  nuôi nhốt một số cá thể vích tại một nhà hàng ở  thành  phố  Vũng Tàu,  ENV  ngay  lập  tức  chuyển  giao thông tin cho Chi cục quản lý nguồn lợi Thủy sản tình Bà Rịa - Vũng Tàu. Cơ quan này sau đó đã tịch thu và thả về biển 03 cá thể vích.
Tại Bắc Giang, ngày 21/5/2016, Công an tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông tỉnh, đã bắt giữ một chiếc xe bán tải vận chuyển 553 kg ngà voi tại Yên Lãng. Số ngà voi này (107 khúc) được giấu trong 17 bao tải. Theo thông tin ban đầu, đối tượng đang trên đường vận chuyển ngà voi cho một người đàn ông ở Lạng Sơn
Tại Bình Dương, tháng 12/2014, ENV nhận được thông tin từ người dân về một đối tượng có hành vi quảng cáo bán ĐVHD trên mạng xã hội như:  cu  li, mèo  rừng,  khỉ và  nhiều  loài ĐVHD khác. Vào thời điểm đó, đối tượng đang kinh doanh ĐVHD tại Hồ Chí Minh. ENV đã phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường (CSMT) – Công an thành phố Hồ Chí Minh tiến hành bắt giữ đối tượng, tịch thu 01 cá thể khỉ đuôi lợn và 01 cá thể mèo rừng. Tuy nhiên, sau đó, đối tượng vẫn tiếp tục buôn bán trái phép ĐVHD tại tỉnh Bình Dương. Ngày  4/1/2016,  đối tượng đã bị bắt giữ với tang vật là 02 cá thể cu li. Cơ quan chức năng hiện đang hoàn thiện hồ sơ khởi tố đối tượng  theo quy định pháp luật.
Không chỉ dừng ở hình thức trên, các cơ quan thực thi pháp luật cho rằng, tính chất nghiêm trọng của việc sử dụng internet  như  thị  trường  buôn  bán,  tiêu  thụ  ĐVHD,  cũng như sự cần thiết phải theo dõi, xử lý triệt để loại hình tội phạm mới mẻ này. Cuối năm 2015, một đối tượng khác cũng  bị  bắt  trong  một  vụ  việc  tương  tự  xảy  ra  tại  Bình Dương. Sau khi nhận được thông báo về một đối tượng thường xuyên buôn bán cu li bằng tài khoản cá nhân trên mạng xã hội. ENV đã ngay lập tức chuyển giao đến cơ quan chức  năng địa phương. Đối tượng này và kẻ cung cấp ĐVHD cho đối tượng ngay sau đó đã bị bắt giữ.
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, việc cho phép gây nuôi và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm trên thị trường sẽ cản trở những nỗ  lực  bảo  tồn  các  loài  này  trong  tự  nhiên.  Các nỗ lực bảo tồn luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ đa dạng sinh học vì một xã hội phát triển bền vững. Trong khi đó, gây nuôi thương mại là hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận. Để có được lợi nhuận, các chủ cơ sở gây nuôi phải lựa chọn những loài có đặc tính sinh sản và sinh trưởng tốt trong môi trường nuôi nhốt để đem lại lợi nhuận cao.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất ít chủ cơ sở gây nuôi am hiểu về các loài được gây nuôi hay chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết để gây dựng một cơ sở gây nuôi và buôn bán hợp pháp ĐVHD. Tình trạng giao phối cận huyết và lai tạp nguồn gen diễn ra phổ biến do các cơ sở thiếu kiến thức và cơ sở vật chất cần  thiết.
Chính vì vậy, các cá thể ĐVHD được sinh ra tại các cơ sở gây nuôi ở Việt Nam không có giá trị bảo tồn. Nếu được thả về tự nhiên, chúng sẽ khó sống sót do mất bản năng sinh tồn để tồn tại trong tự nhiên. Hiện nay, hầu hết các cơ sở gây nuôi ĐVHD, đặc biệt là các cơ sở có quy mô lớn, thường tối đa hóa lợi nhuận bằng cách nhập lậu toàn bộ hoặc thường xuyên bổ sung đàn giống bằng nguồn ĐVHD săn bắt trái phép từ tự nhiên.
Trước thực trạng trên, các chuyên gia cũng cho rằng, các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm phải được bảo vệ tuyệt đối và không cho phép gây nuôi thương mại dưới bất kỳ hình thức nào. Số lượng cá thể của các loài này trong tự nhiên còn lại rất ít; do đó chỉ riêng hoạt động khai thác để nghiên cứu tạo nguồn giống ban đầu cũng có thể khiến các loài này bị tuyệt chủng trong tự nhiên.
Hơn nữa, hoạt động gây nuôi nhằm mục đích bảo tồn các loài ĐVHD  nguy  cấp,  quý,  hiếm  chỉ  được  thực  hiện  bởi các chuyên gia và nhà khoa học tại cơ sở nghiên cứu hoặc theo dự án bảo tồn do Nhà nước quản lý. Các cơ sở bảo tồn này không được phép kinh doanh thương mại ĐVHD nguy  cấp,  quý,  hiếm cũng như  bộ  phận, dẫn xuất của chúng dưới bất kỳ hình thức nào.
Nhằm hạn chế vấn nạn trên, các nhà bảo tồn cũng cho rằng, cần có sự khuyến  cáo  mạnh mẽ đến người  dân  không  nên  mua hoặc  nuôi  nhốt  ĐVHD  làm  cảnh  bởi  hành  vi  này  không những là vi phạm pháp luật mà còn tiếp tay cho nạn săn bắt ĐVHD trái phép trong tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thị trường. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 7/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Phương án tổng thể số 182/PA-UBND về sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn thành phố.
Theo đó, về phương án sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp, cả ba xí nghiệp (Xí nghiệp Chè Lương Mỹ, Xí nghiệp Dứa Suối Hai, Xí nghiệp Nông lâm nghiệp Sông Đà) đều là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Phát triển nông nghiệp hoạt động sản xuất của ba xí nghiệp đều nằm trong kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty và là một bộ phận trong một quy trình sản xuất khép kín. Mỗi Xí nghiệp có một vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Chính vì vậy, phương án lựa chọn cổ phần hóa cùng Công ty là hợp lý.
Liên quan đến phương án sử dụng đất, diện tích đất giữ lại cho Công ty thuê 12,46ha, diện tích đất trả lại địa phương quản lý 259,94ha. Diện tích đất sản xuất tạm bàn giao về địa phương quản lý là 1.424,08ha, (Sau cổ phần hóa, Công ty lập dự án thuê đất sản xuất kinh doanh, UBND thành phố sẽ xem xét và giải quyết giao Công ty thuê đất theo đúng quy định của pháp luật).
Về phương án quản lý, sử dụng tài sản: Tài sản trên phần diện tích đất tự tổ chức sản xuất 9,5ha tiếp tục giao cho Công ty quản lý, sử dụng. Đối với đường giao thông nội bộ, hệ thống điện, bàn giao về địa phương quản lý để cải tạo nâng cấp phục vụ mục đích công cộng. Đối với nhà xưởng, kho bãi 9.729m2, Công ty cải tạo phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, trụ sở, nhà làm việc 2.108m2, Công ty sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với các công trình công cộng trả về địa phương quản lý.
Phương án về quản lý, sử dụng rừng và nhiệm vụ công ích, toàn bộ diện tích rừng trồng hiện tại ba xí nghiệp đang quản lý là 104,5974ha. Sau khi ba xí nghiệp cùng Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội hoàn thành việc cổ phần hóa sẽ tiến hành lập dự án cải tạo lại toàn bộ phần diện tích rừng này.
Phương án tài chính và đầu tư: Vốn điều lệ, cả ba xí nghiệp hiện tại là đơn vị hạch toán phụ, do đó cả ba xí nghiệp này không có vốn điều lệ. Các kinh phí thực hiện khác, chi phí đo đạc cắm mốc giới gần 6 tỷ đồng được ngân sách hỗ trợ theo quy định.
Phương án về lao động, giữ lại số lao động có hưởng lương tại các xí nghiệp là 58 người (đã trừ 5 lao động về hưu theo Luật Lao động) để thực hiện quy trình sắp xếp theo đúng quy định. Đối với lao động có nhận khoán không đóng bảo hiểm xã hội (số lượng là 1.860 người) và lao động nhận khoán, có ký hợp đồng lao động với Xí nghiệp trả lương khoán sản phẩm và đóng bảo hiểm xã hội (184 lao động) vẫn thực hiện nghĩa vụ sản xuất kinh doanh đối với xí nghiệp.
Các chế độ, quyền lợi đối với lao động sẽ được giải quyết theo chế độ hiện hành sau khi Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội cùng ba Xí nghiệp hoàn thành việc cổ phần hóa.
Phương án về khoa học công nghệ sẽ xây dựng cùng với tiến trình cổ phần hóa Công ty mẹ cùng các xí nghiệp trực thuộc. (Pháp Luật Và Xã Hội 7/10) đầu trang(
Sau gần 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương.
Hiện trên địa bàn tỉnh ta có trên 198,150ha đất lâm nghiệp. Trong đó, đất rừng đặc dụng 42,185ha, rừng phòng hộ 115,529ha và rừng sản xuất 40,436ha. Với vốn rừng hiện có, thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn đã được các cấp, ngành, chính quyền đặc biệt quan tâm.
Trong đó, việc thành lập và vận hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã có tác động rất lớn làm thay đổi nhận thức, hành động của người dân đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, đã ngăn chặn hiệu quả tình trạng đốt, phá rừng, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm đáng kể.
Ông Dương Đình Sơn, Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Đến nay, đã có 8 đơn vị ký kết hợp đồng chi trả DVMTR, với số tiền hàng năm trên 4 tỷ đồng. Qua đó, đã tháo gỡ khó khăn về tài chính cho các đơn vị chủ rừng, nhờ đó nhiều đơn vị chủ rừng đã tăng diện tích giao rừng khoán quản cho các tổ cộng đồng.
Tính đến thời điểm này, các chủ rừng đã giao khoán cho hộ dân, tổ cộng đồng, các đơn vị lực lượng công an, quân sự...nhận bảo vệ rừng, với diện tích 67.112ha, với mức chi trả bình quân từ 200-300 ngàn đồng/ha/năm, góp phần cải thiện đời sống cho người dân.
Được biết, trước đây công tác bảo vệ rừng ở các địa phương gặp nhiều khó khăn, nhưng từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, người dân ngày càng tham gia nhiều vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Nhiều tổ cộng đồng nhận khoán quản đã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng.
Ông Đoàn Ngọc Anh, Tổ trưởng Tổ Cộng đồng, thôn Gòn 2 (xã Lâm Sơn, Ninh Sơn), chia sẻ: Được hưởng chính sách chi trả DVMTR, đời sống của người dân trong thôn được cải thiện, người dân rất tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Cứ 3-5 ngày, chúng tôi thay phiên nhau đi kiểm tra khu vực rừng nhận khoán, kịp thời phát hiện những đối tượng vi phạm để báo ngay cho chủ rừng.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Krông Pha là một trong những đơn vị điển hình làm tốt công tác bảo vệ rừng, đến nay đơn vị đã giao khoán, khoanh nuôi, bảo vệ 10.662 ha rừng. Trong đó, đã giao 4.587ha rừng cho 7 tổ cộng đồng thôn và 2 đơn vị lực lượng công an, quân sự nhận khoán bảo vệ rừng. Bình quân mỗi năm đơn vi đã chi trả khoảng 1 tỷ đồng tiền DVMTR cho các tổ cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Văn Quang, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Krông Pha, cho biết: Chính sách chi trả DVMTR đã giúp các đơn vị có nguồn thu để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, số vụ vi phạm về rừng và cháy rừng trên địa bàn giảm đáng kể, đời sống của người dân được hưởng lợi từ rừng cũng được ổn định hơn. Nhờ đó, tình trạng chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép đã giảm hẳn; những cánh rừng tự nhiên và rừng trồng luôn được bảo vệ và phát triển tốt.
Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR không chỉ làm thay đổi nhận thức của người dân về công tác bảo vệ rừng, mà còn làm tăng khả năng phòng hộ, giảm thiểu tình trạng mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, chống biến đổi khí hậu…góp phần đáng kể vào việc làm tăng độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh lên 44,1%.
Số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng giảm rõ rệt, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm đáng kể. Nhiều đơn vị chủ rừng đã sử dụng nguồn kinh phí để chi trả cho các tổ cộng đồng trong việc tuần tra, phát dọn thực bì…Qua đó, từng bước nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, tạo động lực vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Để chính sách chi trả DVMTR tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa, theo ông Dương Đình Sơn, thời gian tới, Chi cục tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, chính quyền địa phương và các đơn vị chủ rừng đẩy mạnh công tác xã hội hóa chính sách chi trả DVMTR; tăng cường việc kiểm tra, giám sát các đơn vị được chi trả DVMTR; tập trung tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến người dân, đặc biệt là các hộ dân nhận giao khoán bảo vệ rừng để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Ninh Thuận 7/10) đầu trang(
Ông Lê Minh Thuần- Giám đốc quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tây Ninh cho biết, qua gần 2 năm (kể từ năm 2015 đến cuối tháng 9.2016) đi vào hoạt động, quỹ đã thu được trên 12,6 tỷ đồng phí dịch vụ môi trường rừng.
Trong đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ ban đầu 1 tỷ đồng (để bảo tồn vốn), thu ủy thác từ các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng 9,166 tỷ đồng, thu trồng rừng thay thế từ Công ty Cổ phần Xi măng Fico Tây Ninh trên 2,5 tỷ đồng.
Đến nay, quỹ của tỉnh đã ký kết được 10/10 hợp đồng ủy thác với các đơn vị trong tỉnh có sử dụng dịch vụ môi trường rừng (sản xuất kinh doanh nước sạch, dịch vụ kinh doanh du lịch...), với diện tích được chi trả là 35.710 ha rừng, chiếm 73,16% so với diện tích cung cấp dịch vụ môi trường rừng trong tỉnh.
Từ nguồn quỹ dịch vụ môi trường rừng có được, năm 2016 UBND tỉnh Tây Ninh đã phê duyệt chi gần 4,6 tỷ đồng, trong đó chi trả cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng trên 3,5 tỷ đồng, số còn lại chi quản lý cho Quỹ (10%), các chủ rừng (10%) và kinh phí dự phòng (5%).
Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống cho người lao động tham gia làm nghề rừng, đảm bảo các nguồn lực cho việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn.
Theo Giám đốc quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Tây Ninh, hiện trên địa bàn tỉnh còn các nguồn thu dịch vụ môi trường rừng rất lớn (khoảng 4,5 tỷ/năm), nằm trong danh mục phải thu theo quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, như: Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon (khói thải của các nhà máy công nghiệp), dịch vụ cung ứng bãi đẻ (nuôi trồng thủy sản), sử dụng nước hồ Dầu Tiếng để sản xuất công nghiệp... nhưng chưa được hướng dẫn để triển khai thực hiện, đã hạn chế rất lớn đến việc thu, lập quỹ để chi trả dịch vụ môi trường rừng trong tỉnh. (Báo Tây Ninh 9/10) đầu trang(
Sau gần 5 năm thực hiện chính sách chi trả Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ, trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã, đang tạo sự chuyển biến tích cực về ý thức bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân vùng có rừng tại địa phương.
Xác định ý nghĩa thiết thực của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, UBND huyện chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn của huyện phối hợp với các xã, thị trấn rà soát, lập danh sách đối với những diện tích rừng có cung ứng DVMTR; công tác tuyên truyền được triển khai với nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của người dân về chính sách chi trả DVMTR và trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng (BVR).
Cùng với đó, chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác quản lý, thực hiện chi trả DVMTR theo đúng quy định từ huyện tới xã; hàng năm nguồn kinh phí đã được giải ngân theo kế hoạch tới các chủ rừng, hộ nhận khoán BVR. Đồng chí Hoàng Văn Nội, Trưởng thôn 1 Lê Hồng Phong, xã Nam Sơn chia sẻ: Mỗi năm thôn nhận được trên 10 triệu đồng tiền từ DVMTR.
Qua họp thôn, các chủ rừng đã thống nhất sử dụng số tiền đó để làm quỹ thôn. Hàng năm, chúng tôi sử dụng nguồn quỹ này để hỗ trợ các hộ gia đình khó khăn vay vốn phát triển sản xuất. Nhận thức và trách nhiệm của người dân trong thôn về công tác bảo vệ, phát triển rừng đã được nâng lên rõ rệt; các hộ nhận khoán BVR thường xuyên vào rừng kiểm tra, phát cỏ để rừng lên xanh tốt, không đốt lửa bừa bãi trong rừng như trước nữa.
Theo thống kê của huyện, hiện nay diện tích đất lâm nghiệp của huyện là gần 43 nghìn ha; diện tích rừng là gần 34 nghìn ha, trong đó: Rừng phòng hộ 17.262 ha, rừng đặc dụng 1.481 ha, rừng sản xuất 15.220 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt 58%. Quan trọng và ý nghĩa hơn là không chỉ rừng và chất lượng rừng nâng lên mà còn giữ vững hệ sinh thái, nhất là diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn.
Đồng chí Trương Việt Thơ, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện cho biết: Sau khi lập danh sách những diện tích có cung ứng DVMTR được UBND huyện phê duyệt, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện đã họp quân dân chính tại các xã, thị trấn lấy ý kiến thành lập các Tổ chuyên trách bảo vệ rừng và phòng, chống chữa cháy rừng. Qua đó, thống nhất người làm Tổ trưởng là Trưởng, phó các thôn, bản hoặc người có uy tín để đứng tên đại diện ký hợp đồng có diện tích rừng cung ứng DVMTR cho thôn, bản và là người trực tiếp thực hiện việc chi trả đến các chủ rừng.
Trong năm 2016, toàn huyện có gần 77 nghìn ha rừng thuộc lưu vực có cung ứng DVMTR. Toàn bộ diện tích rừng này do chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn, bản nhận khoán bảo vệ rừng thuộc 3 lưu vực chi trả là: Thủy điện Thác Bà, thủy điện Sông Bạc, trung tâm cấp nước huyện. Chỉ tính riêng trong năm 2015 số tiền chi trả phí DVMTR là gần 3 tỷ đồng, qua đó góp phần cải thiện cuộc sống của người dân tại địa phương.
Đánh giá về tính hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR, anh Thơ chia sẻ: Công tác quản lý, BVR ở Hoàng Su Phì trong những năm qua được thực hiện một cách đồng bộ, rộng khắp trên địa bàn các xã, thị trấn; người dân và các tổ chức đã gắn bó hơn với rừng. Đặc biệt, từ khi triển khai thực hiện chi trả phí DVMTR đã bổ sung thêm nguồn lực tài chính để chi cho công tác BVR, giảm thiểu nguy cơ xâm hại vào rừng, hạn chế cháy rừng, nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương. Đồng thời, từng bước nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng...
Có thể nói, hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, là tiền đề cho người dân có rừng tiếp tục phát triển các nguồn lợi từ rừng, qua đó góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện. (Báo Hà Giang 8/10) đầu trang(
Qua 5 năm triển khai, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã mang lại một số kết quả đáng khích lệ, huy động được nguồn lực xã hội cho việc bảo vệ phát triển rừng (BVPTR).
Tuy nhiên, theo đánh giá của các đơn vị chủ rừng, mức chi trả DVMTR còn thấp, chưa tương xứng với công sức của người tham gia giữ rừng và tiến độ chi trả còn chậm trễ.
Năm 2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông được các cấp có thẩm quyền thẩm định chi trả DVMTR diện tích hơn 24,8 nghìn héc-ta trong tổng số hơn 28,2 nghìn héc-ta được nhà nước giao quản lý. Từ sau khi nhận kế hoạch thu, chi tiền DVMTR năm 2016, đơn vị đã tiến hành triển khai họp dân tại 11 thôn, buôn trên địa bàn các xã Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao (huyện Krông Bông) và Cư San (huyện M’Đrắk) nhằm triển khai công tác QLBVR các diện tích được giao khoán. Qua đó, những người tham gia nhận khoán nắm bắt được chính sách của Nhà nước và cùng đơn vị thực hiện.
Qua kiểm tra, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông đánh giá toàn bộ diện tích được giao khoán cho người dân trong 4 năm (từ 2013 - 2016) được người dân và cán bộ QLBVR của đơn vị bảo vệ tương đối tốt. Tuy nhiên vẫn còn một số diện tích gần khu dân cư, gần nương rẫy cũ bị phá, xâm lấn (năm 2013 khoảng 0,79ha; năm 2014 là 20,96ha; năm 2015 là 14,29ha và trong năm 2016 là hơn 11ha).
Còn tại Vườn Quốc gia (VQG) Cư Yang Sin, toàn bộ diện tích gần 59.000ha của vườn đều được chi trả chính sách DVMTR. Hàng năm, sau khi được giao kinh phí từ Quỹ BVPTR tỉnh, đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương các xã vùng đệm trên địa bàn triển khai công tác khoán bảo vệ rừng cho người dân. VQG Cư Yang Sin còn thường xuyên tổ chức phối kết hợp với các đơn vị liên quan như: công an, quân sự huyện, hạt kiểm lâm huyện, lực lượng dân quân và các chủ rừng tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét mọi hành vi xâm hại rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Qua 3 năm, đơn vị đã phối kết hợp được 165 đợt tuần tra dài ngày với gần 1.500 công với các xã vùng đệm, kết hợp với công tác tuần tra của kiểm lâm và các hộ nhận khoán đuổi hơn 2.062 đối tượng ra khỏi rừng, phá huỷ 82 lán trại trái phép trong rừng, thu giữ 43 súng săn, hơn 4.000 bẫy các loại và nhiều phương tiện vi phạm khác. Nhờ sự tham gia tích cực của người dân vào công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng; khai thác săn bắt động vật rừng trái phép... nên qua 3 năm triển khai, toàn bộ diện tích rừng khoán cho các hộ dân được quản lý bảo vệ tốt.
Theo ông Võ Minh Quân - Phó Giám đốc Quỹ BVPTR Đắk Lắk, toàn tỉnh có tổng diện tích rừng tự nhiên là hơn 1,3 triệu héc-ta, trong đó diện tích có rừng là hơn 510.000ha.
Diện tích rừng có cung ứng DVMTR trong lưu vực các nhà máy thủy điện là gần 260.000ha, chiếm trên 50% diện tích rừng của toàn tỉnh. Sau 5 năm triển khai, chính sách chi trả DVMTR đã đem lại những hiệu quả cả về môi trường, kinh tế và hiệu ứng xã hội. Các chủ rừng từng bước được nâng cao ý thức, trách nhiệm và tham gia tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ phá rừng.
Ông Quân đánh giá: “Ở những khu vực người dân được hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khai thác lâm sản trái phép giảm rõ rệt”.
Theo ông Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch UBND xã Cư Klông (huyện Krông Năng, Đắk Lắk), từ năm 2013, toàn xã có hơn 400ha được chi trả DVMTR. Mặc dù diện tích QLBVR không lớn nhưng nằm trên địa bàn các xã vùng III, giáp ranh với tỉnh Gia Lai, xa khu dân cư, đường xá đi lại khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, điều kiện kinh tế khó khăn... nên sức ép lên tài nguyên rừng là rất lớn. Không những vậy, người nhận khoán QLBVR còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm rình rập như bị lâm tặc đe doạ, tấn công; tai nạn khi tham gia giữ rừng...
Mặc dù vậy, việc giao khoán cho các hộ dân làm công tác QLBVR đã phần nào giúp cho người dân tham gia giữ rừng có thêm thu nhập, cải thiện đời sống, làm thay đổi nhận thức giữ rừng. Chính sách chi trả DVMTR đã góp phần giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vừ giữ rừng vừa ổn định sinh kế lâu dài cho người dân. Việc huy động được nguồn lực xã hội cho việc BVPTR đã góp phần cải thiện đời sống cho người làm nghề rừng và thúc đẩy công cuộc xã hội hoá nghề rừng gắn với việc xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền núi.
Theo ông Võ Minh Quân - Phó Giám đốc Quỹ BVPTR Đắk Lắk, trong tình hình khó khăn của tỉnh hiện tại, nguồn tiền DVMTR đã góp phần không nhỏ trong việc giảm gánh nặng của ngân sách nhà nước trong đầu tư BVPTR. Đặc biệt là trong thời điểm “đóng cửa rừng” tự nhiên, các công ty lâm nghiệp không còn nguồn thu nào khác để trang trải cho công tác QLBVR thì nguồn tiền này sẽ góp phần giải quyết khó khăn cho các công ty ổn định hoạt động.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch UBND xã Cư Klông, mức chi trả DVMTR trên địa bàn còn thấp, chưa đảm bảo được sinh kế những người sống gần rừng. “Theo quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk đầu năm 2016, đơn giá chi trả tiền DVMTR đối với hệ thống lưu vực sông Ba là hơn 120.000 đồng/ha/năm. Mức chi trả này còn khá thấp nên chúng tôi rất mong UBND tỉnh Đắk Lắk xem xét tăng đơn giá để xã có thêm nguồn thu phục vụ công tác QLBVR” - ông Thắng bày tỏ.
Đại diện lãnh đạo VQG Cư Yang Sin và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông cũng cho rằng mức chi trả hiện nay (khoảng 162.000 đồng/ha/năm) là quá thấp, chưa thu hút được đông đảo người dân trên địa bàn tham gia vào khoán bảo vệ rừng. Do đó, các đơn vị đề xuất Quỹ BVPTR tỉnh nên có trích lập quỹ dự phòng trên mức thu hàng năm để bình ổn mức khoán.
Ngoài ra, các cấp có thẩm quyền cũng nên đề nghị nhà nước kết hợp các quy định hưởng lợi khác (theo Quyết định 178 đối với hộ nhận khoán QLBVR từ 5 năm trở lên) tạo điều kiện cho người dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống. Để thực hiện được từ nguồn chi trả DVMTR cho kịp thời thì một số hạng mục được phép chi trả cũng cần cụ thể, rõ ràng hơn.
Theo ông Võ Minh Quân - Phó Giám đốc Quỹ BVPTR tỉnh Đắk Lắk, qua kiểm tra, Quỹ BVPTR nhận thấy các chủ rừng chưa quan tâm đến người dân sống gần rừng. Diện tích rừng được giao khoán QLBVR trong tổng diện tích được chi trả DVMTR mới chỉ thực hiện được hơn 40%. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người dân và ảnh hưởng đến sinh kế của người làm nghề rừng.
Trong khi đó, diện tích rừng cung ứng DVMTR tại các lưu vực sông lớn trên địa bàn bình quân chưa đạt 200.000 đồng/ha/năm. Trong thời gian tới, Quỹ BVPTR sẽ đề xuất các cấp có thẩm quyền tăng cường các biện pháp thu từ những nguồn khác được hưởng lợi từ rừng như: du lịch sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản...
Ngoài ra, Quỹ sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành xử phạt chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các đơn vị thuỷ điện chậm hoặc cố tình chây ì nộp tiền DVMTR.
Cũng theo ông Quân, các văn bản hướng dẫn của bộ, ngành trung ương còn thiếu cụ thể, nguồn nhân lực của một số đơn vị cung ứng DVMTR còn yếu trong việc xây dựng hồ sơ, kế hoạch đã làm cho tiến độ giải ngân bị ảnh hưởng. Thời gian tới, ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền đến các cấp cơ sở nhằm nâng cao nhận thức giữ rừng cho người dân, Quỹ BVPTR cũng sẽ tăng cường giám sát các đơn vị chủ rừng để đảm bảo tiền được chi trả đến tận tay người dân; đảm bảo chính sách chi trả DVMTR được triển khai một cách minh bạch, công bằng.
Hiện tỉnh Đắk Lắk đang triển khai thu tiền DVMTR đối với 2 đối tượng là: các cơ sở sản xuất thuỷ điện (22 nhà máy, mức thu bình quân 42 - 45 tỷ đồng/năm) và các đơn vị kinh doanh nước sạch (2 đơn vị, mức thu trung bình 680 triệu đồng/năm). Tính đến hết tháng 7/2016, toàn tỉnh đã huy động được hơn 195 tỷ đồng tiền DVMTR và chi hơn 158,6 tỷ đồng (đạt 77,5% kế hoạch chi). (Tài Nguyên Và Môi Trường 7/10) đầu trang(
“Nhìn rừng núi bạt ngàn vây quanh xã rứa chớ dân ở đây được mấy hộ có đất để sản xuất mô chú. Ngay cả trụ sở ủy ban xã đây này, rừng nằm sát hàng rào nhưng xã cũng không có quyền quản lí. Đất đai, rừng núi ở đây đa số là của nông, lâm trường, của cán bộ dưới xuôi hết đó” - ông Trần Văn Mừng, Phó Bí thư Đảng ủy xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) đứng ở tầng 2 trụ sở xã, khoát tay một vòng, nói.
Trước thực trạng sống giữa rừng núi bạt ngàn nhưng đồng bào lại thiếu đất sản xuất, từ năm 2012, tỉnh Quảng Bình có chủ trương thu hồi một số diện tích đất kinh doanh không hiệu quả của các nông, lâm trường quốc doanh để giao cho người dân bản địa. Tuy nhiên, chủ trương này đang gặp một số vướng mắc, nên người dân vẫn dài cổ chờ đất sản xuất để ổn định cuộc sống.
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình, từ năm 2012 đến nay, sở này đã trình UBND tỉnh thu hồi hơn 8.300 ha đất của các nông, lâm trường giao về địa phương quản lí và xét giao đất sản xuất ổn định lâu dài cho các hộ dân thiếu đất sản xuất. Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần 5 năm thực hiện, toàn tỉnh Quảng Bình chỉ giao được hơn 2.800 ha cho các hộ (bằng 1/3 số diện tích đất thu hồi).
Cũng theo sở này, việc giao đất, giao rừng cho người dân thực tế là bài toán khó, bởi tỉ lệ diện tích đất giao cho người dân sử dụng còn thấp so với diện tích thu hồi.
Nguyên nhân của thực trạng trên do: Một số diện tích đất thu hồi có vị trí không thuận lợi, xa khu dân cư. Có một số khu vực rừng có trữ lượng và núi đá, nên không giao được cho dân; phần lớn diện tích thu hồi là đất rừng tự nhiên sản xuất chưa được chuyển đổi sang rừng trồng nên theo Luật Đất đai 2013 không thể giao cho dân.
Một số diện tích đất thu hồi còn có tài sản của các nông, lâm trường (rừng trồng) chưa được xử lí, nên các địa phương chưa lập phương án giao đất đến hộ được. Thêm vào đó chính quyền địa phương một số nơi chưa thực sự quyết liệt trong việc giải quyết các vướng mắc, xây dựng, xét duyệt phương án và tổ chức giao đất cho dân.
Để tránh tình trạng “giao đất trên giấy”, theo Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình: Các địa phương cần tập trung hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đã giao để người dân yên tâm sản xuất...
Theo điều tra của PV Tiền Phong, mặc dù được giao quản lí hàng trăm nghìn ha đất rừng, nhưng việc quản lí đất đai các nông, lâm trường trên địa bàn Quảng Bình còn hạn chế, yếu kém. Thậm chí một số đơn vị buông lỏng quản lí để xảy ra lấn chiếm, tranh chấp, cho thuê, cho mượn đất trái pháp luật.
Đơn cử, như xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, là địa phương vùng biên giới Việt - Lào, đa số đồng bào người Vân Kiều, sống giữa bạt ngàn rừng núi nhưng người dân ở đây lại thiếu đất sản xuất. Theo ông Trần Văn Mừng, Phó Bí thư Đảng ủy xã Kim Thủy cho biết: Địa giới hành chính xã có 48.000 ha nhưng đa phần là đất của các lâm trường, công ty và Ban quản lí rừng phòng hộ. Trên danh nghĩa, xã quản lí 4.000 héc ta, nhưng thực chất hơn 1/2 diện tích bị người ta xâm canh, hậu quả của thời lâm nông trường để lại.
Theo ông Mừng, khoảng chục năm lại đây đã có 3 đợt, các lâm trường thuộc Công ty Lâm công nghiệp Long Đại cắt đất giao về cho xã để chia cho dân, nhưng đến nay vẫn chưa giao được mét vuông nào. Đợt đầu tiên cắt hơn 100 ha đất ngay sau lưng trụ sở xã, nhưng đất đó, các lâm trường đã cho các cán bộ dưới xuôi mượn, thuê, nhận khoán thời hạn đến 45 năm, nên họ không chịu trả lại vì chưa hết thời hạn.
Đợt thứ 2, tiếp tục cắt 7 ha để giao cho 3 bản gần biên giới nhưng cũng vướng mắc. Nguyên nhân trước đây Công ty Long Đại thiết kế trồng cao su, sau đó cắt về cho xã, nhưng diện tích này toàn là rừng già, kiểm lâm không dám ký, nên xã cũng không thể giao cho dân.
Đợt thứ 3 mới đây nhất, Công ty Long Đại tiếp tục cắt về cho xã 90 ha ở vùng Khe Khế, nhưng cũng không thể giao cho dân vì quá xa khu dân cư, không ai đủ sức để khai hoang, sản xuất và quản lí.
Theo ông Mừng, đất ở Kim Thủy hiện nay đa số do cán bộ dưới xuôi sử dụng, quản lí. Có người đứng tên, có người giấu tên, rồi mua đi bán lại, nhưng họ đang thu nhập cao trên diện tích đất đáng ra là của người dân Kim Thủy. “Cách đây hơn 1 năm, xảy ra tranh chấp giữa người mua bạch đàn với người bán bạch đàn. Được  biết năm, sáu cán bộ kiểm lâm bán trên 100 ha bạch đàn, nhưng người ta chưa chặt đủ thì chấm dứt hợp đồng nên xảy ra kiện tụng” – ông Mừng kể.
Ông Mừng bày tỏ: “Về nguyên tắc, khi chặt bạch đàn xong (tài sản trên đất đã được thu hồi), thì đất đó thuộc quyền quản lí của xã để chia cho dân, nhưng họ nói là đã thuê 45 năm nên phải làm đủ thời gian đó mới trả. Tui nói với lãnh đạo lâm trường: Các anh giao đất cho xã thì các anh xóa hợp đồng với họ để xã còn biết đường mà tính. Nhưng họ nói, đã giao về cho xã rồi, họ hết trách nhiệm”.
Thực tế xã Kim Thủy có hơn 1.000 hộ dân, hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó có 180 hộ không có đất sản xuất, các hộ còn lại có nhưng nhỏ lẻ, chưa thể nuôi sống họ ngay trên chính mảnh đất của mình. “Theo quy định, mỗi hộ dân miền núi có 0,5 ha đất là đủ định mức. Nhưng, nếu từng đó diện tích là đất trồng rừng thì không đủ sống. Người dân ở đây có rừng cũng như không đều đi làm thuê, làm mướn, nhưng công việc cũng không có thường xuyên” - ông Mừng cho biết.
Bà Lê Thị Mến, cư dân trong vùng cho hay: Mặc dù là con dân của Kim Thủy, nhưng gia đình bà không có một khoảnh đất rừng nào. Bà mở quán nước cạnh khu du lịch suối nóng Bang với hi vọng đắp đổi qua ngày. Nhưng từ khi suối Bang được UBND tỉnh Quảng Bình cấp phép đầu tư khu du lịch sinh thái cho Công ty Đông Dương, họ phá nát dòng suối, nên chẳng ai đến suối Bang.
Lãnh đạo Công ty Lâm công nghiệp Long Đại, thừa nhận có cho thuê, nhận khoán 45 năm đối với một số diện tích rừng, nhưng đúng luật. Việc tỉnh thu hồi diện tích đất rừng của công ty để giao lại cho dân, thì nghiễm nhiên các hợp đồng đó hết hiệu lực. Việc lấy lại đất từ các hộ đang sử dụng là trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Quảng Bình hiện có hơn 400.000 ha rừng giao cho các công ty, nông, lâm trường, Ban quản lí rừng phòng hộ… quản lí. Tuy nhiên, hiệu quả về mặt kinh tế, cũng như xã hội còn rất hạn chế. Ngay như Công ty Lâm công nghiệp Long Đại, được xem là công ty lâm nghiệp lớn nhất miền Trung, quản lí gần 100.000 ha rừng, trong đó có lâm trường Trường Sơn được khai thác rừng theo chứng chỉ rừng bền vững, nhưng nộp ngân sách năm 2015 chỉ hơn 3 tỷ đồng. (Tiền Phong 8/10) đầu trang(
Được giao quản lý bảo vệ rừng, nhưng nhiều cán bộ công ty lâm nghiệp, cán bộ huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) lại đi mua bán, chiếm dụng đất rừng để canh tác. Có nơi cán bộ công ty lâm nghiệp còn ép người dân đã phá rừng bán lại đất rừng cho họ với giá rẻ mạt.
Theo kết luận thanh tra số 02 ngày 23/8/2016 do ông Cao Huy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông ký: Vào năm 2010, Công ty TNHH lâm nghiệp Thuận Tân ký hợp đồng giao khoán sai đối tượng theo Nghị định 135 của Chính phủ cho ông Lê Ân Tình (nguyên Trưởng Công an huyện Đắk Song) với diện tích 28 ha đất rừng tại khoảnh 6, tiểu khu 1124, thuộc lâm phần xã Thuận Hà, huyện Đắk Song.
Sau một thời gian nhận giao khoán, ông Tình liên kết trồng tiêu, trồng cây muồng với bà Nguyễn Thị Thu Anh (nguyên Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Đắk Mil, vợ ông Bùi Bàng - Phó Bí thư Huyện ủy Đắk Song) trên diện tích 11,6ha. Ông Tình còn cho ông Đinh Văn Đức (người làm thuê cho ông Tình) 2,3 ha, ông Đức bán lại cho ông Phan Cảnh Trọng lấy 430 triệu đồng. Ngoài diện tích nhận liên kết với ông Tình, bà Thu Anh còn sử dụng 1 ha đất trống (đất rừng bị phá năm 2013 - 2014 của Công ty lâm nghiệp Thuận Tân quản lý) để trồng tiêu và trồng muồng.
Trong vai người đi mua đất rẫy trồng tiêu, chúng tôi tìm đến tiểu khu 1124 để hỏi mua diện tích đất rừng mà bà Thu Anh đang canh tác. Trải dài hơn 100m mặt tiền quốc lộ 14C, khu đất này có địa thế rất đẹp. Cách đây 5 năm, nhiều cây rừng tươi tốt vẫn phủ xanh trên đất này. Nhưng nay, tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng cây rừng nào cả, tại đây chỉ còn thấy khoai lang, tiêu, muồng mới trồng…. Từ quốc lộ lội bộ theo đường đất vào 20m, chúng tôi gặp bà Thu Anh trong căn nhà gỗ cấp 4 dựng trên đất rừng. Thấy chúng tôi hỏi mua đất, bà mời vào uống nước.
Theo bà Thu Anh, trước đây bà nhận giao khoán lại từ ông Tình với diện tích 28 ha, nhưng nay chỉ còn khoảng 15 ha vì bị người dân xâm chiếm. Trên diện tích đó, bà trồng được 4 ha tiêu và khoảng 3ha cây muồng. Chúng tôi hỏi diện tích đất này giờ thuộc sở hữu của ai, bà Thu Anh khẳng định bà đã mua lại từ ông Tình. “Tôi và ông Tình làm hợp đồng giao khoán chỉ là giấy tờ giả thôi, còn thực chất ông Tình đã bán cho tôi bằng giấy viết tay với giá 3 tỷ đồng rồi. Đất này chưa được cấp sổ đỏ, nhưng công ty giải thể rồi nên mai mốt họ sẽ trả đất về cho huyện để làm sổ đỏ cho dân. Các anh yên chí đi!”, bà Thu Anh trấn an.
Chúng tôi đem chuyện bà Thu Anh mua bán đất rừng hỏi ông Bùi Bàng, ông Bàng phủ nhận: “Tôi chỉ biết vợ tôi cùng một người trong huyện nhận giao khoán đất rừng với ông Tình cách đây mấy năm rồi. Có mấy lần tôi cản bà ấy đừng dính dáng gì đến chuyện nhận giao khoán đất rừng nhưng bà ấy không nghe”- ông Bàng nói.
Còn ông Lê Ân Tình thì nói: “Năm 2010, tôi nhận khoán diện tích nói trên và giao cho mấy đứa cháu trông giữ để trồng rừng nhưng không giữ được. Sau đó, tôi làm hợp đồng liên kết với chị Thu Anh để trồng rừng, ăn chia lợi nhuận. Hiện đất ấy vẫn là đất của tôi, chứ tôi chưa hề bán cho chị Thu Anh, vì tôi biết việc mua bán đất rừng là vi phạm pháp luật”. Về trách nhiệm đền bù diện tích rừng bị mất, ông Tình cho biết: “Ngay khi nhận giao khoán, tôi đã làm mọi cách để giữ rừng nhưng không giữ được vì người dân đua nhau xâm chiếm. Trách nhiệm làm mất rừng của tôi đến đâu thì tôi chịu đến đó!”.
Đến các xã Đắk Mol, Đắk Hòa và Nam Bình (thuộc huyện Đắk Song), chúng tôi nghe nhiều người dân tố cáo cán bộ bảo vệ rừng Công ty TNHH lâm nghiệp Đức Hòa bao chiếm, mua bán đất rừng, thậm chí còn đi phá rừng. Ông L.V.H (một người dân ở xã Đắk Mol) cho biết: “Dân đụng đến đất rừng là bị cán bộ Công ty lâm nghiệp Đức Hòa đến chặt cây, phá nhà, trục xuất. Nhưng chính cán bộ công ty này lại sở hữu nhiều đất đai do phá rừng mà có, họ đang ngang nhiên trồng cà phê”. Từ thông tin đó, chúng tôi đã đi vào tiểu khu 1098 (do Công ty lâm nghiệp Đức Hòa quản lý) và phát hiện 0,5 ha đất trồng cà phê của ông Nguyễn Trường Nhật (cán bộ bảo vệ rừng của công ty) đang cho thu hoạch. Được biết, năm 2013, ông Nhật mua lại của ông Bàn Văn Chẹ với giá... 3 triệu đồng.
Trong năm đó, ông Hoàng Văn Đại (nguyên Giám đốc Lâm trường Đức Hòa, hiện là cán bộ văn phòng Công ty lâm nghiệp Đức Hòa) mua lại của ông H. (trú tại bon Blân, xã Đắk Mol) 0,5ha đất rừng cũng với giá… 3 triệu đồng. Còn ông Nguyễn Chí Cường (cán bộ bảo vệ rừng công ty) không mua đất trống, mà mua hẳn 1,5 ha cà phê đang kinh doanh do công ty đang quản lý của ông L. (ở thôn Rừng Lạnh, xã Đắk Hòa). Không chỉ vậy, có cán bộ Công ty lâm nghiệp Đức Hòa còn “tự khai phá” đất rừng. Riêng ông Nguyễn Minh Thùy (cán bộ văn phòng công ty) “khai phá” 1,2 ha tại tiểu khu 1107 để trồng cà phê, đã cho thu hoạch.
Ông Hoàng Văn Đại thừa nhận có mua lại đất rừng của người dân để trồng cà phê. Ông Đại nói: “Khi mình nhận trồng rừng cho công ty, thấy diện tích đất liền kề phía dưới bị người dân chặt phá, nên mua để tiện quản lý (?)”…
Ông Phạm Đình Dũng (Giám đốc Công ty lâm nghiệp Đức Hòa) cho biết: “Bước đầu công ty xác định có 13 cán bộ đã tự khai phá, mua lại đất rừng của người dân để trồng cà phê với diện tích 13,3 ha. Trong đó, một số người đã mua trước khi vào làm việc tại công ty, một số người mua trong quá trình công tác tại công ty. Trong thời gian tới, công ty sẽ thu lại diện tích nói trên, đồng thời xử lý trách nhiệm những cán bộ này”. (Tiền Phong 10/10) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh đã có công văn chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng sang các cây trồng khác trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến nay.
Trong đó, UBND tỉnh yêu cầu phải kiểm tra, thống kê cụ thể diện tích đất lâm nghiệp, diện tích rừng tại các địa phương do các chủ rừng quản lý trên địa bàn tỉnh thời điểm hiện nay. Đồng thời, nêu cụ thể số liệu liên quan về tổng diện tích rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp hiện đang bị lấn chiếm trái phép, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm do các ban quản lý rừng phòng hộ, các doanh nghiệp nhà nước, UBND xã đang quản lý…
Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, chủ rừng về các mặt hạn chế, khuyết điểm tồn tại, đồng thời đề xuất UBND tỉnh hướng xử lý trách nhiệm đối với cá nhân, tập thể tại các địa phương liên quan. (Báo Gia Lai 7/10) đầu trang(
Các dự án phát triển ngành lâm nghiệp bền vững thời gian qua đã giúp người dân vùng cao phục hồi sinh kế, từng bước giảm nghèo bền vững. Việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng như thế nào để vừa bảo vệ hệ sinh thái vừa tạo quỹ đất để người dân trồng rừng vẫn đang là câu hỏi bỏ ngỏ.
Tại các huyện Nông Sơn, Đại Lộc, Hiệp Đức..., sau hơn 10 năm trồng rừng từ dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững (KFW6) đã bắt đầu hình thành hàng nghìn héc ta rừng sản xuất gỗ lớn. Cá biệt trước đây huyện Nông Sơn giao chỉ tiêu trồng 1.600ha, nhưng thực tế trồng hơn 1.709ha, vượt gần 110ha. Thời điểm này, các địa phương đã hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Theo đánh giá của ngành lâm nghiệp, dự án này thực sự phục hồi rừng nghèo ở miền núi. “Lợi ích kép” của khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên ở lưu vực đầu nguồn sông là người dân vừa có thu nhập ổn định, vừa điều hòa tiểu khí hậu vùng và tăng đa dạng sinh học.
Đáng nói hơn, dự án KFW6 còn đóng góp vào sự ổn định trong khâu sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài, tránh tình trạng xâm lấn đất rừng. Thực tế, ở những vùng trồng rừng chưa ổn định, thường xảy ra việc tranh chấp đất rừng dai dẳng.
Hầu hết khoảnh rừng của người dân trồng đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh mốc và cơ chế hưởng lợi rõ ràng nên không có trường hợp khiếu nại xảy ra. Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định, dự KFW6 tuy kết thúc giai đoạn đầu tư nhưng lại mở ra tầm nhìn mới, định hướng về phát triển cánh rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
“Nếu trồng rừng mà “ăn non” thì rất lãng phí, các nhà máy chế biến nguyên liệu liên tục “làm giá” với nông dân, trong khi chu kỳ trồng rừng hơn 10 năm trở lên mới thu hoạch hiệu quả kinh tế cao, khai thác được hiệu quả sử dụng đất” - ông Đức khẳng định.
Hiện nay, Ngân hàng Thế giới cùng Tổng cục Lâm nghiệp giúp các địa phương miền núi áp dụng tài chính ưu đãi cho các mô hình sản xuất lâm nghiệp, giúp người dân vay vốn ngân hàng để trồng rừng gỗ lớn và nâng cao sinh kế nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ cắm mốc ngoài thực địa 3 loại rừng (rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất); phân loại đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, đưa vào áp dụng cơ chế cấp vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho cộng đồng và hộ nông dân; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế ngành lâm nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp mua gỗ theo giá thị trường từ các hộ gia đình đầu tư vào trồng rừng.
Sở NN&PTNT đang tái cấu trúc toàn diện ngành lâm nghiệp, trong đó đang trồng thử nghiệm những loài cây có giá trị kinh tế có thể kết hợp canh tác dưới tán rừng hoặc những loại cây ngắn ngày trồng xen trong giai đoạn vườn rừng chưa khép tán như các loại cây dược liệu. Nhân rộng mô hình nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng; xem xét tăng phí để tăng thêm mức thu nhập cho người dân quản lý, bảo vệ rừng; đầu tư, quy hoạch và xây dựng hệ thống đường giao thông để thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản sau khai thác từ rừng trồng, giảm chi phí cho vận chuyển.
Ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, hiện nay, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh phát triển rừng; ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu phát triển về giống cây trồng; quy hoạch khu vực chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các làng nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Mở rộng diện tích rừng sản xuất đạt chứng chỉ quốc tế. Ông Hồ Quang Bửu - Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My khẳng định, vùng cao muốn giảm nghèo bền vững không có sự lựa chọn nào tốt hơn là Nhà nước cần có chính sách khuyến lâm mạnh mẽ hơn, đầu tư và hỗ trợ nguồn lực giúp đồng bào mở rộng diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng theo đề án của địa phương.
Ở Quảng Nam, việc quy hoạch 3 loại rừng có khoa học và phù hợp hay không đến nay vẫn còn là mối băn khoăn. Thực tế thì đã có hàng nghìn héc ta rừng phòng hộ đã bị người dân lén lút xâm lấn trái phép  rồi chuyển thành rừng sản xuất. Trước đây, chính quyền địa phương từng đề xuất cắt giảm diện tích quy hoạch cho Khu bảo tồn voi Nông Sơn bàn giao cho dân sản xuất, nhưng nhiều năm vẫn chưa thực hiện do chậm điều chỉnh quy hoạch chi tiết 3 loại rừng. Vừa qua  Bộ NN&PTNT đề xuất giao 1,1 triệu héc ta quy hoạch rừng phòng hộ nhưng nghèo kiệt, không xung yếu và chưa có rừng về cho người dân sản xuất.
Theo TS.Nguyễn Văn Hà - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), ở nước ta phân chia làm 3 loại đất rừng chỉ mang tính tương đối, bởi nếu căn cứ theo cách phân chia của thế giới thì chỉ cần có 2 loại phòng hộ và sản xuất. Nếu cắt giảm chia cho người dân thâm canh, thì ngoài giảm chi phí đầu tư, bảo vệ, mỗi năm có hơn 10 nghìn tỷ đồng để phát triển lâm nghiệp hiệu quả hơn.
“Điều quan trọng khi chuyển đổi phải có quy hoạch, cái nào chuyển đổi không ảnh hưởng đến tác động môi trường, vẫn giữ được nguồn nước thì cho chuyển đổi và khi chuyển đổi thì diện tích chuyển đổi phải thực sự phục vụ sản xuất cho người dân, giúp họ sinh sống. Quy hoạch khu vực được phép chuyển đổi tập trung chủ yếu khu vực rừng phòng hộ ít xung yếu. Đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ, tránh việc tạo ra các kẽ hở nhằm lợi dụng vào chủ trương đúng để phá rừng” - ông Hà phân tích.
Còn GS-TSKH.Nguyễn Ngọc Lung - Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tự nhiên Việt Nam, chuyển đổi hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự đa dạng từ các góc nhìn kinh tế, môi trường. Về nguyên tắc phải trả lời cho được câu hỏi chuyển đổi ở đâu, lô khoảnh nào, đồng thời phải có phương án phê duyệt cụ thể. (Báo Quảng Nam 7/10) đầu trang(
Theo phòng NN &PTNT huyện Lương Sơn, trong 9 tháng qua, toàn huyện đã trồng được 40.950 cây phân tán; trồng mới 769, 4 ha rừng sản xuất, đạt 110% kế hoạch. Diện tích khai thác rừng trồng 440,7 ha, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 17.600 m3, giá trị thu nhập ước đạt trên 22 tỷ đồng.
Cùng với trồng mới, huyện quan tâm chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên trong 9 tháng, trên địa bàn huyện đã xảy ra 3 vụ cháy rừng tại 3 xã: Cư Yên, Cao Răm, Hợp Hòa với diện tích 20,8 ha, chủ yếu là lau lách, tràng cỏ. Khi phát hiện cháy, huyện đã chỉ đạo và huy động lực lượng tham gia chữa cháy không để lan ra diện tích có rừng tự nhiên và rừng trồng. Theo báo cáo của các xã,  trong 3 vụ cháy không có thiệt hại về người và tài sản. (Báo Hòa Bình 7/10) đầu trang(
Hoa Kỳ và Nhật Bản hiện là hai thị trường XK gỗ và sản phẩm gỗ hàng đầu của Việt Nam với khả năng thúc đẩy XK khá rộng mở. Tuy nhiên, “bức tranh” không chỉ có màu hồng, bởi muốn tận dụng tốt cơ hội, các DN trong ngành chế biến, XK gỗ còn nhiều việc phải làm, đặc biệt là đảm bảo tính hợp pháp trong nguồn gốc gỗ nguyên liệu.
Theo nghiên cứu được công bố mới đây do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, Tổ chức Forest Trends và Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM phối hợp cùng thực hiện: Hoa Kỳ là thị trường XK quan trọng nhất của ngành gỗ, với kim ngạch hàng năm lên tới trên 2 tỉ USD, chiếm trên 30% trong tổng kim ngạch XK các mặt hàng gỗ của Việt Nam.
Hiện, kim ngạch XK các mặt hàng gỗ của Việt Nam vào thị trường này tiếp tục được mở rộng, với mức tăng trưởng bình quân 10-15%/năm. Ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends đánh giá: Đây là những tín hiệu khá tích cực cho ngành chế biến gỗ XK của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kim ngạch XK các mặt hàng gỗ vào thị trường lớn EU có dấu hiệu chững lại, thậm chí tụt giảm tại một số quốc gia thành viên trong khối.
Đi sâu phân tích các mặt hàng có thể thấy: Hàng năm, Việt Nam XK khoảng 20 loại mặt hàng thuộc nhóm gỗ HS 44 sang Hoa Kỳ, với kim ngạch XK thu được khoảng trên dưới 100 triệu USD, chiếm khoảng dưới 5% trong tổng kim ngạch XK.
Các mặt hàng thuộc nhóm sản phẩm gỗ HS 94 được XK sang Hoa Kỳ đa dạng hơn nhiều so với các sản phẩm thuộc nhóm HS 44. Cụ thể, kim ngạch XK đạt được từ nhóm sản phẩm gỗ HS 94 cao hơn khoảng 10 lần kim ngạch của các mặt hàng nhóm gỗ HS 44, chiếm trên 95% trong tổng kim ngạch XK các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ.
Điểm chung của các mặt hàng XK này là, hầu hết các loài gỗ trong các sản phẩm XK là gỗ có nguồn gốc từ NK từ các nguồn có tính hợp pháp rõ ràng như từ Hoa Kỳ, EU và một số nước châu Mỹ La Tinh. Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm được làm từ gỗ có nguồn gốc từ các khu vực rừng tự nhiên nhiệt đới.
Theo ông Tô Xuân Phúc, việc Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết mà Việt Nam và Hoa Kỳ là thành viên tiếp tục mở ra cơ hội hợp tác cho cả hai quốc gia trong thương mại gỗ trong thời gian tới.
Tại thị trường Nhật Bản, tình hình cũng khá khả quan khi tốc độ tăng trưởng về kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015 đạt bình quân khoảng 13%/năm. Các mặt hàng XK quan trọng nhất của Việt Nam vào Nhật Bản bao gồm dăm gỗ, đồ nội thất phòng ngủ, đồ gỗ ngoài trời, ghế gỗ và đồ nội thất văn phòng.
Một số chuyên gia nhìn nhận: Hiệp định TPP, trong đó Nhật Bản là một trong những quốc gia thành viên sẽ tạo cơ hội lớn cho các DN ngành gỗ gia tăng thị phần tiêu thụ các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ. Bên cạnh đó, những thay đổi về chính sách có liên quan đến sản phẩm gỗ tại Nhật Bản gần đây cũng đang tạo ra những cơ hội lớn cho ngành công nghiệp chế biến gỗ XK của Việt Nam.
Mặc dù nhìn nhận còn nhiều cơ hội thúc đẩy XK gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, tuy nhiên theo ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành gỗ Việt không nên quá lạc quan.
“Hoa Kỳ là thị trường lớn nhưng phải nhìn rõ bản chất vấn đề vì sao XK lại tăng. Thực tế là, những năm gần đây Hoa Kỳ đánh thuế chống bán phá giá rất cao đối với các sản phẩm gỗ của Trung Quốc XK vào Hoa Kỳ nên nhiều DN Trung Quốc đã dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam, tranh thủ cơ hội XK. Ngoài ra, cũng phải nhấn mạnh rằng, XK sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ nhiều quá cũng giống như bỏ nhiều trứng vào cùng một giỏ. Điều này có thể khiến nảy sinh nguy cơ, một ngày nào đó Hoa Kỳ sẽ áp thuế chống bán phá giá với gỗ Việt nhằm bảo vệ ngành gỗ trong nước”, ông Hoài nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ có hiệu lực năm 2008 quy định các hoạt động buôn bán các sản phẩm gỗ được khai thác, vận chuyển hoặc thương mại trái phép tại quốc gia XK vào Hoa Kỳ được coi là hoạt động phạm pháp. Để tránh rủi ro về pháp lý trong việc tiêu thụ các sản phẩm gỗ tại Hoa Kỳ, DN cần đảm bảo các sản phẩm gỗ, bao gồm cả nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào là hợp pháp.
Trong khi nguồn gỗ nguyên liệu được NK từ các nước trong khối EU, Hoa Kỳ và Mỹ la tinh thông thường có rủi ro rất thấp và đáp ứng được các yêu cầu về nguồn gỗ nguyên liệu từ thị trường Hoa Kỳ thì các sản phẩm được làm từ các loài gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng nhiệt đới như căm xe, tếch, xà cừ được khai thác từ các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mê Kông lại khó có khả năng đáp ứng được với các yêu cầu của Đạo luật Lacey. Đây là các rủi ro mà các DN trực tiếp tham gia XK gỗ và sản phẩm gỗ nói riêng và cả ngành gỗ nói chung phải đối mặt.
Tương tự như vậy, ở thị trường Nhật Bản, Chính phủ Nhật bản cũng có những quy định nhằm đảm bảo các sản phẩm gỗ được tiêu thụ tại thị trường này là hợp pháp. Trên thực tế, các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam XK sang Nhật Bản nhìn chung đều đáp ứng được các yêu cầu và quy định của thị trường này.
Tuy nhiên, hiện vẫn còn tồn tại một số vấn đề có liên quan đến tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu trong sản phẩm XK như một số DN chưa khai báo nguồn gốc và loài gỗ sử dụng trong sản phẩm XK, hoặc sử dụng một số loài gỗ từ các nguồn được cho là có tính rủi ro cao.
“Cơ hội XK vào thị trường Nhật Bản không chỉ dành riêng cho DN Việt Nam mà được chia đều cho DN của các quốc gia như Trung Quốc, EU, Malaysia, Philippines… hiện đang trực tiếp tham gia vào thị trường Nhật Bản. Bên cạnh đó, các DN của Việt Nam cũng phải cạnh tranh với các đối thủ tiềm năng như Thái Lan và Myanmar. Điều này đòi hỏi các DN Việt Nam phải tiếp tục duy trì hình ảnh sản phẩm gỗ hợp pháp, bền vững và đáng tin cậy khi tham gia thị trường. Ngoài sự nỗ lực của bản thân DN, các hiệp hội gỗ cần tiếp tục xác định những vấn đề cụ thể về cơ hội và rủi ro, từ đó đưa ra các kiến nghị chính sách và các cơ chế cụ thể cho DN, đảm bảo sản phẩm XK sang thị trường Nhật Bản sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào hợp pháp và bền vững”, ông Phúc đề xuất. (Hải Quan 9/10) đầu trang(
Từng được coi là “ngôi sao” sáng của ngành xuất khẩu với thành tích về đích sớm trước 5 năm, nhưng tới đây, khi Việt Nam bắt đầu thực thi các cam kết đã ký trong các Hiệp định thương mại thì ngành xuất khẩu gỗ cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn.
Tại hội thảo Tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa như ngành xuất khẩu gỗ và ngành bán lẻ được VCCI tổ chức cuối tuần qua tại TP. HCM, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập -VCCI cho biết, khi tham khảo các ý kiến để tận dụng không gian chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa cũng có ý kiến cho rằng, ngành xuất khẩu gỗ không có khó khăn gì vì nhiều năm nay xuất khẩu vẫn rất tốt.
Theo kế hoạch đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 7 tỷ USD nhưng năm 2015, toàn ngành đã đạt hơn 6,9 tỷ USD và có kỷ lục xuất khẩu 10 năm tăng 6 lần.
Tuy nhiên, bà Trang nhấn mạnh, có thể trong quá khứ ngành gỗ phát triển tốt khi các đạo luật về nguồn gốc gỗ ở những nước nhập khẩu như Mỹ, Úc… đã được ban hành nhưng chưa đến thời hạn thực thi. Hơn nữa, ngành gỗ Việt Nam trước giờ chỉ xuất khẩu FOB, muốn trở thành một ngành xuất khẩu bền vững thì phải chuyển sang xuất CIF và tất cả các doanh nghiệp gỗ đều phải thực hiện đúng các yêu cầu về nguồn gốc xuất khẩu… được thể hiện trong các đạo luật của các quốc gia nhập khẩu gỗ.
Trong khi đó, ông Tô Xuân Phúc - Chuyên gia phân tích chính sách thuộc Tổ chức Forest Trends cho biết, khó khăn mà ngành xuất khẩu gỗ sẽ phải đối mặt là chính sách kiểm soát việc sử dụng lao động trong các doanh nghiệp xuất khẩu, nhận thức của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu về các quy định tại thị trường các nước nhập hàng vào...
Ví dụ, tại Hoa Kỳ (thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt 2,64 tỷ USD năm 2015, chiếm 38%/tổng kim ngạch xuất khẩu), đã quy định các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ phải khai báo tên và nguồn gốc xuất xứ gỗ. Tại EU (thị trường đứng thứ 4 về xuất khẩu gỗ với kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD) quy định cấm khai thác gỗ trái phép; các doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm giải trình thông tin về toàn bộ chuỗi cung ứng, đánh giá rủi ro, giảm thiểu rủi ro…; phải lưu trữ thông tin về người mua và người bán; có hệ thống giám sát độc lập…. Tại Úc (thị trường lớn thứ 6 về xuất khẩu gỗ) cũng đã có Luật cấm khai thác gỗ lậu và quy định trách nhiệm giải trình từ doanh nghiệp…
Ông Tô Xuân Phúc cho rằng, để không vi phạm các quy chuẩn nguồn gốc gỗ nhập khẩu tại các thị trường trên, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam cũng cần giám sát chặt chẽ nguồn gốc gỗ nguyên liệu của mình. Tuy nhiên, hiện chúng ta vẫn còn thiếu một số quy định cụ thể. Chẳng hạn, đối với nguồn gỗ cao su thiếu quy định cụ thể gỗ thế nào được coi là gỗ cao su hợp pháp được đưa vào xuất khẩu; hay với gỗ vườn rừng hoặc gỗ vườn thì tính pháp nhân của hộ gia đình này cũng chưa rõ ràng.
“Còn nhiều hộ gia đình chưa có giấy chứng nhận sử dụng đất nên còn thiếu bằng chứng chứng minh gỗ hợp pháp. Hiện nay, tỷ lệ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình chỉ chiếm khoảng 70%, còn 30% hộ gia đình trồng rừng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vẫn có những rủi ro từ nguồn gốc gỗ từ những hộ này”, ông Phúc nói.
Cũng theo ông Phúc, hiện Chính phủ đang cấm khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, tuy nhiên vẫn có 1 số sản phẩm gỗ từ rừng được khai thác hợp pháp để làm đường xá cầu cống…
Theo ông Phúc, nguồn nguyên liệu gỗ này có rủi ro rất cao nên không xuất khẩu mà chỉ sử dụng cho các công trình nội địa. Ngoài ra, gỗ rừng tự nhiên nhập khẩu cũng có một số rủi ro về mặt pháp lý ngay từ đầu nguồn nguyên liệu. Vì vậy, doanh nghiệp nhập khẩu phải yêu cầu doanh nghiệp bán gỗ thô có bằng chứng gỗ họ mua là hợp pháp, còn cơ quan hải quan khi kiểm dịch nhập khẩu cũng đề nghị các doanh nghiệp nhập khẩu phải xuất đủ các giấy tờ chứng minh sự minh bạch của nguồn gốc, tránh sản xuất gỗ từ những nguồn gỗ nhập khẩu có rủi ro cao. (Đầu Tư Chứng Khoán 10/10) đầu trang(
UBND tỉnh vừa quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng nhà máy chế biến dăm gỗ và sản xuất viên nén sinh học xuất khẩu tại thôn Đàn Trung (xã Tam Dân, Phú Ninh).
Nhà máy chế biến dăm gỗ và sản xuất viên nén sinh học xuất khẩu do Công ty TNHH MTV Trường Phú Xanh đầu tư xây dựng, có quy mô khoảng 3,88ha. Theo phân bố quy hoạch, phía đông giáp đất lúa, phía tây và nam giáp đất trồng cây lâu năm, phía bắc giáp hành lang an toàn quốc lộ 40B.
Toàn bộ khu quy hoạch nhà máy được chia thành 5 phân khu chức năng, bao gồm: khu hành chính, phụ trợ (nhà bảo vệ, nhà để xe, trạm cân, khu hành chính, bể nước ngầm, trạm điện, khu xử lý nước thải); khu nhà xưởng băm gỗ và xưởng viên gỗ nén; khu sân bãi (bãi nguyên liệu và bãi thành phẩm) và khu cây xanh… (Báo Quảng Nam 7/10) đầu trang(./.