Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng ban hành quyết định cấm nhập khẩu tất cả các mẫu vật tê giác vào Việt Nam trong năm
Ông Cao Đức Phát, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, công bố thông tin trên trong lễ ký biên bản ghi nhớ nhằm cải thiện hợp tác giữa Việt Nam và Nam Phi về bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học tại Hà Nội hôm qua. Bà Edna Molewa, Bộ Tài nguyên Nước và Môi trường Nam Phi, đã đại diện chính phủ Nam Phi ký biên bản trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam.
Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (WWF), cho biết, các lĩnh vực hợp tác quan trọng đã được ghi rõ trong Biên bản ghi nhớ bao gồm: quản lý, bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, thực thi pháp luật, tuân thủ Công ước CITES và các qui định pháp lý cũng như các Công ước Quốc tế liên quan khác. Trên cơ sở bình đẳng và hai bên cùng có lợi, Biên bản ghi nhớ sẽ có hiệu lực ngay sau khi ký, đặc biệt trong bối cảnh nạn buôn bán các loài hoang dã vẫn đang là một thách thức toàn cầu.
Phát biểu tại lễ ký kết, Bộ trưởng Edna Molewa nói: “Các cơ quan chức năng của Nam Phi rất mong các đối tác phía Việt Nam phối hợp chặt chẽ để sớm ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép sừng tê giác từ Nam Phi về Việt Nam".
“Đấu tranh với các tội phạm vi phạm chế độ quản lý động vật, thực vật hoang dã, đặc biệt là những loài nguy cấp, quý, hiếm trong đó có tê giác và các sản phẩm của chúng luôn được các cơ quan chức năng của Việt Nam quan tâm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trình Thủ tướng ban hành quyết định cấm nhập khẩu tất cả các mẫu vật tê giác vào Việt Nam trong năm 2012", ông cho biết.
Mặc dù Biên bản ghi nhớ giữa Nam Phi và Việt Nam chỉ đề cập chung chung việc giải quyết vấn nạn buôn bán các loài hoang dã bất hợp pháp, nhưng nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác sẽ là vấn đề ưu tiên nhất trong chương trình nghị sự mới về hợp tác giữa hai quốc gia, WWF nhận định.
Hàng trăm con tê giác bị săn trộm mỗi năm ở Nam Phi. Bọn săn trộm cắt sừng của chúng và buôn lậu để đáp ứng nhu cầu mua sừng tê giác tại châu Á - nơi một bộ phận người dân nghĩ rằng sừng tê giác là một loại thuốc thần kỳ dù không có bằng chứng y học để chứng minh. Các nhà khoa học khẳng định sừng tê giác không phải thần dược.
Giới chức nhận định các tập đoàn tội phạm châu Á đứng sau những vụ săn trộm và những kẻ vận chuyển được trả tiền để buôn lậu sừng tê giác từ châu Phi sang châu Á. Báo cáo của Mạng lưới kiểm soát buôn bán các loài động, thực vật hoang dã (TRAFFIC) vào tháng 8/2012 chỉ ra rằng Việt Nam là một điểm đến của sừng tê giác bất hợp pháp.
Số lượng tê giác bị săn trộm tại Nam Phi đã tăng từ 13 cá thể trong năm 2007 lên đến hơn 600 cá thể trong năm 2012. Riêng trong năm 2012, giới chức đã bắt 246 người liên quan tới săn trộm tê giác và buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác ở Nam Phi. (Vnexpress.net 12/12)đầu trang(
Từ ngày 9 đến 11-12, HĐND tỉnh Kon Tum đã tiến hành kỳ họp lần thứ 5 (khóa X).
Tại kỳ họp, điều cử tri quan tâm nhất và cũng khiến nghị trường “nóng” lên đó là tình trạng lâm tặc lộng hành, vi phạm lâm luật ngày càng tăng, diện tích rừng liên tục bị tàn phá. Theo báo cáo của UBND tỉnh, từ đầu năm đến nay, tại địa bàn tỉnh đã xảy ra 522 vụ phá rừng trái phép với diện tích thiệt hại trên 100 ha, 68 vụ khai thác rừng trái phép…
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Hùng, rất nhiều vụ khai thác lâm sản trái phép do người dân tố giác chứ không phải do lực lượng chức năng phát hiện, nhiều vụ vi phạm lâm luật nhưng các huyện xử lý chưa mạnh tay, còn có hiện tượng bắt tay với lâm tặc. “Thời gian tới sẽ huy động cả hệ thống chính trị, toàn dân tham gia ngăn chặn khai thác lâm sản trái phép” - ông Hùng nhấn mạnh. (Pháp Luật TPHCM 12/12)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Trong khi một số diện tích rừng thuộc sự quản lý của các công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp tư nhân đang ngày bị xâm chiếm thì nhiều khu rừng do cộng đồng nhận bảo vệ vẫn phủ một màu xanh.
Năm 2000, bà con bon Bu Nơr, xã Quảng Tâm được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ gần 1.100 ha rừng. Để công tác bảo vệ rừng hiệu quả, bon Bu Nơr đã xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng do cộng đồng tham gia. Nội dung của quy ước quy định rõ vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên khi tham gia vào Ban quản lý rừng cộng đồng.
Được biết, hiện nay Ban quản lý rừng cộng đồng bon Bu Nơr thu hút được 46 thành viên tham gia và chia làm 2 tổ. Hầu hết các hộ gia đình trong bon đều cử đại diện tham gia với tinh thần tự nguyện và trách nhiệm cao. Mặc dù lực lượng mỏng, địa bàn quản lý rộng nhưng các thành viên không quản ngại khó khăn thường xuyên tuần tra trên những diện tích rừng giao quản lý. Nhờ đó tình trạng phá rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật hoặc khai thác tài nguyên rừng trái phép trên địa bàn ngày càng giảm dần.
Ngoài nhiệm vụ chính tổ chức tuần tra trên các diện tích rừng được giao quản lý, các thành viên trong Ban quản lý rừng cộng đồng bon Bu Nơr còn tuyên truyền, vận động bà con thực hiện đầy đủ các quy định bảo vệ, phát triển rừng.
Việc tham gia tích cực trong công tác bảo vệ rừng, người được hưởng lợi đầu tiên chính là người dân. Các hộ gia đình được canh tác trên những diện tích đất trống; được khai thác gổ theo khối lượng nhất định để làm nhà. Nghĩa vụ, trách nhiệm đi đôi với lợi ích từ rừng càng tiếp thêm niềm tin giúp bà con nơi đây cùng với các cấp chính quyền bảo vệ tốt những cánh rừng của bon, làng.
Có thể nói, việc người dân cùng tham gia bảo vệ rừng đã góp phần tích cực vào công tác bảo vệ rừng trên địa bàn xã Quảng Tâm. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, ngoài mô hình quản lý rừng cộng đồng tại bon Bu Nơr còn rất nhiều các địa phương khác cũng triển khai có hiệu quả mô hình này. Thiết nghĩ, nếu như ở đâu có rừng đều được quản lý với mô hình như trên thì số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh sẽ giảm hẳn. (Theo Đài PT – TH Đăk Nông 12/12)đầu trang(
Với 25.460 ha tổng diện tích rừng hiện có, huyện Cao Phong có 17.680 ha đất lâm nghiệp, hơn 8.647 ha đất có rừng. Năm 2012, nhân dân trong huyện đã tích cực trồng, chăm sóc 473 ha rừng trồng mới, góp phần nâng độ che phủ rừng lên hơn 40%.
Xác định tuyên truyền là nhiệm vụ quan trọng, có tính xuyên suốt, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã phối hợp chặt chẽ với UBND xã, thị trấn, các thôn, bản có rừng và gần rừng tuyên truyền bằng nhiều biện pháp như: mở cuộc họp, lồng ghép với các cuộc họp khác, nhất là họp các dự án...
Trong năm đã tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các văn bản có liên quan khác, các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với công tác lâm nghiệp để nhân dân tự giác chấp hành với tổng số 5.754 lượt người. ý thức bảo vệ rừng (BVR) của người dân chuyển biến tích cực làm giảm đi tác động xấu đến tài nguyên rừng, công tác bảo vệ, phát triển được coi trọng.
Vào mùa khô hanh, Ban Chỉ huy những vấn đề cấp bách trong BVR & PCCCR chủ động tham mưu cho UBND huyện ra chỉ thị PCCCR và kiện toàn Ban chỉ huy cấp huyện, lập phương án, kế hoạch PCCCR. Cấp xã, thị trấn cũng nhanh chóng kiện toàn Ban chỉ huy, củng cố các tổ, đội quần chúng BVR. Hiện nay, trên địa bàn duy trì hoạt động của 123 tổ, đội quần chúng BVR với 653 thành viên tham gia. Trong mùa canh tác nương rẫy, kiểm lâm địa bàn phối hợp với xã, xóm và cán bộ hợp đồng PCCCR hướng dẫn nhân dân, các chủ rừng phát dọn, xử lý thực bì và đốt đúng quy định, không để xảy ra cháy lan vào rừng.
Ông Nguyễn Thượng Hiền, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện cho biết: Ngoài những lợi ích về môi trường sinh thái, đất, nước, thu nhập có được từ bảo vệ rừng, trồng rừng không nhỏ. Do vậy, nhiều tổ chức, cá nhân đã đầu tư tiền, của, công sức tham gia trồng, BVR. Đáng kể, 11 thôn, xóm đã xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ, phát triển rừng trong cộng đồng dân cư, góp phần nâng cao ý thức, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ xâm hại rừng.
Nhân dân đã có ý thức trồng, khoanh nuôi, BVR. Không ít diện tích nương, rẫy đã chuyển sang trồng rừng hoặc mô hình nông - lâm kết hợp. Thu nhập từ rừng của các hộ gia đình (tận thu từ rừng trồng và rừng khoanh, nuôi bảo vệ) từ đầu năm đến nay đạt trên 1,7 tỷ đồng.
Huyện đã xây dựng được đường băng trắng cản lửa ở xã Thu Phong. Các xã có diện tích rừng trồng lớn và được quản lý, bảo vệ tốt là: Yên Lập, Yên Thượng, Xuân Phong, Thung Nai... Trong năm, toàn địa bàn chỉ xảy ra 1 vụ cháy 0,7 ha lau lách ở xóm Bằng, xã Tây Phong. Lực lượng phối hợp đã nhanh chóng được huy động chữa cháy rừng. Lực lượng chức năng phát hiện và xử lý 8 vụ vi phạm lâm luật, thu hơn 3 m3 gỗ tạp, 1.320 kg củi, thu nộp ngân sách 65 triệu đồng. Số vụ cháy và vi phạm đều giảm so với các năm 2010, 2011. (Báo Hòa Bình 11/12)đầu trang(
7/12, tỉnh Khánh Hòa có văn bản yêu cầu Sở Y tế chủ trì, cùng Sở NN&PTNT, Hội Đông y tỉnh, thị xã Ninh Hòa, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh khảo sát, khoanh vùng để quản lý, bảo tồn và phát triển cây xáo tam phân.
Theo kết quả nghiên cứu trên chuột bạch của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), cây xáo tam phân (tên khoa học là Paramignya trimera) có tác dụng ức chế bệnh viêm gan cấp và tác dụng độc (ức chế, tiêu diệt) đối với 5 dòng tế bào ung thư: ung thư gan, ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, vẫn chưa có kết luận cuối cùng về tác dụng điều trị bệnh của xáo tam phân đối với người.
Trước đó, theo tin đồn về tác dụng “chữa bá bệnh” của cây xáo tâm phân, nhiều người đổ xô lên rừng Hòn Hèo (xã Ninh Vân, thị xã Ninh Hòa) tìm cây xáo tam phân, giá mỗi ký xáo tam phân khô từ vài chục ngàn đồng đã tăng lên 500 - 600 ngàn đồng. Nguồn xáo tam phân tự nhiên ở rừng Hòn Hèo có nguy cơ cạn kiệt. (Tiền Phong 8/12; Tuổi Trẻ 10/12) đầu trang(
Làm Kiểm lâm ở nơi “nóng” về tình trạng phá rừng, anh không nề hà nguy hiểm dấn thân để hoàn thành nhiệm vụ.
Làng Cát thuộc xã Đakrông, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, là một thôn nghèo, đời sống của hơn 200 hộ dân phụ thuộc chủ yếu vào vụ lúa rẫy và sắn khoai trên nương. Dù chỉ cách quốc lộ 9- con đường xuyên Á mang nhiều tiềm năng về kinh tế, du lịch- nhưng Làng Cát vẫn còn những nét hoang sơ, làng vẫn giữ những phong tục tập quán từ ngàn xưa.
Hôm tôi cùng anh Nguyễn Văn Tráng (SN 1972) đang công tác tại Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa về thăm bản Làng Cát, ban đầu cứ ngỡ là đi thăm cho biết vậy thôi. Hành trang anh Tráng mang theo là bánh kẹo và ít quần áo cũ. Anh Tráng bảo cứ đôi tuần, vào ngày nghỉ là anh cùng đứa con út mang quà về bản, chỉ có tấm lòng và ít “kẹo để em thơ, áo cũ tặng già” thôi, nhưng bà con quý lắm.
Chiếc xe gắn máy chở thêm ít đồ lỉnh kỉnh, mấy cái áo mưa đã rách vài ba chỗ và cái tivi đời nảo đời nao mà “họ không dùng đến, mình sửa lại thấy còn tốt nên đem về cho bà con”. Bản gần, chỉ đi chừng 3 km từ nhà anh Tráng là đã thấy những nóc nhà sàn bên cạnh suối Pa Ly uốn lượn quanh dưới chân núi.
Vào bản, vừa ngạc nhiên, vừa nể phục khi chứng kiến cảnh con nít kéo từng đoàn vây quanh anh Tráng. “Pả ơi, doan Tráng về” (Bố mẹ ơi, Tráng người Kinh về - PV). Người già, chân đã yếu, mắt đã mờ cũng gọi nhau đến chào. Những cái ôm thắm thiết, bắt tay, hỏi han, cứ như người thân đã lâu không gặp. Chọn địa điểm rộng rãi, chúng tôi cùng chia số bánh kẹo và những đồ anh Tráng gom góp được cho bà con. Ai cũng có phần, và dường như đây là công việc anh Tráng đã làm nhiều, đã thành lệ vào những ngày nghỉ đôi tuần một lần của cán bộ Kiểm lâm.
Mẹ Hồ Thị Xê lớp già hiếm hoi của bản năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn còn minh mẫn ghé tai tôi thủ thỉ: Tráng là người tốt, ngày trước lúc còn nghèo khó, nó thường theo bố về Làng Cát làm ăn, gắn bó với dân làng như ruột thịt. Giờ làm cán bộ rồi, nó cưu mang những gia đình nghèo, hướng dẫn họ làm kinh tế, vận động con em đến trường. Ngày tết, ngày lễ nó còn mua quà thăm tặng lớp già như tôi nữa. Câu chuyện của chúng tôi bị cắt ngang khi anh Hồ Pả Đinh nhiệt tình mời vào nhà uống nước, trò chuyện.
Anh Đinh cho biết: “Cách đây 2 năm, nhà mình nghèo, không biết làm gì để có cái ăn vì rẫy ít lắm. Rồi mình nhận được sự giúp đỡ của anh Tráng, ban đầu mình nhận được cây giống tràm, bời lời để trồng rừng, sau đó là giống dê, bò. Được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình nên gia đình mình giờ không còn lo đói nữa, biết cách làm ăn rồi, giờ phấn đấu là có của ăn của để thôi”.
Trò chuyện với anh Đinh, với bà con Làng Cát mới biết công việc thầm lặng của anh Tráng đã thực hiện được hơn 10 năm nay. Nhận thấy đời sống của bà con gặp nhiều khó khăn, anh phải tự chăm chút cho mình những kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi để rồi “truyền nghề” lại cho dân bản. Bắt đầu từ những công việc nhỏ, anh vận động làm chuồng để nuôi lợn, gà chứ không nuôi thả.
Anh hướng dẫn mọi người đào ao thả cá, cá giống anh cho một ít, mọi người mua một ít để thí nghiệm. Rồi anh lại kiếm giống dê, giống bò để nuôi chung, rồi mô hình trồng rừng, trồng cây lương thực đều có bàn tay của anh chỉ dẫn. Trong hơn 10 năm sát cánh cùng dân bản, tính sơ sơ anh đã giúp trên 10 hộ thoát nghèo bền vững. Chính vì vậy, mỗi lần thấy anh về, người dân Làng Cát luôn nở nụ cười mà rằng: Người của bản!
Anh được mọi người trong đơn vị gọi là “Tráng thợ lặn” bởi làm Kiểm lâm ở miền núi, nhưng trong những lần ra quân trấn áp lâm tặc không hiếm lúc anh phải lặn suối để tịch thu tang vật. Gần gũi, gắn bó với nhân dân nên anh luôn tuyên truyền để nâng cao ý thức giữ rừng, từ đó công tác bảo vệ và phát triển rừng được thuận lợi hơn.
Sống với đồng bào, anh được xem như “người của bản”, được mọi người tin tưởng nên có cây thuốc nào tốt, cách chữa bệnh hay đều truyền lại cho anh. Hiện ở vườn nhà, anh có rất nhiều loại cây thuốc, có thể chữa được nhiều bệnh thông thường. Đặc biệt có một loại cây không rõ tên, có thể chữa được nọc độc của nhiều loại động vật”.
Anh Tráng cho biết: “Cũng như một cơ duyên, tôi được truyền một bài thuốc chuyên chữa trị nọc độc của rắn, rết, ong... rất hiệu nghiệm. Chỉ cần dùng củ của cây ngâm với rượu, chẳng may ai đi rừng, đi rẫy bị rắn, ong, rít cắn thì bôi thuốc vào, thuốc sẽ hút chất độc ra khỏi cơ thể. Tôi đã chữa rất nhiều trường hợp và thấy hiệu quả”. Hàng xóm của anh Tráng kể: “Cách đây không lâu, có hai mẹ con ở thị trấn bị nhiều ong vò vẽ cắn, sốt rất cao. Nhưng khi bôi thuốc của anh Tráng và lá của cây thuốc giã nhuyễn đắp vào vết cắn thì ít giờ sau đã bình thường. Gia đình đó trả tiền thuốc nhưng anh Tráng từ chối”.
Sở hữu được bài thuốc quý, cũng có rất nhiều người ngỏ ý mua lại nhưng anh từ chối. Song bất kì ai cần giúp đỡ, anh đều nhiệt tình cứu chữa mà không bao giờ nhận lấy một đồng thù lao.
Dường như ở con người này, giúp đỡ người khác và hướng về dân bản đã thành một lẽ sống của đời. Rời bản Làng Cát, trở về ngôi nhà giản dị của anh, đứa con trai đầu đã đứng đợi bố từ lúc nào. Nó tỏ vẻ tiếc nuối vì hôm nay không được cùng bố về bản, nó ríu rít hỏi bố sức khỏe của Pả Đinh, Mẹ Xê, Pả Rai... Chia tay gia đình anh khi trời đã nhá nhem tối, tôi nhớ mãi câu nói của anh: “Làm việc cho Đảng cũng như cho đời, đừng vì đồng tiền”. (Hải Quan 11/12)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Vườn quốc gia (VQG) mũi Cà Mau sẽ chính thức được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng về sinh học, bảo tồn) mới của thế giới.
Theo kế hoạch, trong tháng 12.2012, Vườn quốc gia (VQG) mũi Cà Mau sẽ chính thức được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng về sinh học, bảo tồn) mới của thế giới.
VQG Mũi Cà Mau thuộc địa bàn huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) có diện tích gần 42.000ha. Đây là vùng đất rừng ngập mặn có 93 loài chim, 26 loài thú, 43 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư, trong đó có nhiều loài quý hiếm cư trú. Việc trở thành khu Ramsar thế giới sẽ tạo cơ hội để bảo tồn tốt các nguồn động, thực vật vùng ngập nước ven biển, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, đồng thời là cơ hội để Cà Mau phát triển du lịch. (Nông Thôn Ngày Nay 12/12)đầu trang(
Phòng Kinh tế TP.Hội An cho biết đã triển khai trồng thử nghiệm 4.200 cây xanh tại Cù Lao Chàm, trong đó có 2.100 cây sao đen và 2.100 cây huỳnh đàn.
Đến nay đã hơn một tháng, qua kiểm tra, lượng cây sống trên 80%, đặc biệt là cây huỳnh đàn rất thích nghi với thổ nhưỡng ở đảo. Phòng Kinh tế TP.Hội An đang nghiên cứu để đề xuất hướng nhân rộng loại cây này trồng ở các đồi trên đảo. (Báo Quảng Nam 12/12)đầu trang(
Trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi, ngành lâm nghiệp Thanh Hóa đã có bước phát triển và trưởng thành với nhiều thành tích và bề dày đáng ghi nhận. Đến nay toàn tỉnh đã thiết lập hệ thống lâm phần với tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 602.000 ha, trong đó diện tích đất có rừng hơn 500.000 ha, độ che phủ của rừng đạt 50%.
Nhiều năm qua nhận thức của các cán bộ, nhân viên các cơ quan quản lý rừng, có rừng và đặc biệt là nhận thức của người dân được giao đất, giao rừng đã từng bước chuyển biến, thực sự xem rừng là tài sản quí liên quan thiết thực đến đời sống của chính mình.
Bên cạnh việc bảo vệ rừng tốt, bình quân hàng năm toàn tỉnh còn tổ chức trồng trên 5.000 ha rừng tập trung, 770 ha rừng phân tán phục vụ cho công tác phòng hộ rừng đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhu cầu sử dụng của người dân.
Lâm nghiệp Thanh Hóa đã có bước phát triển lớn, nghề rừng đã và đem lại xã hội hoá. Tuy nhiên thực tế cho thấy, chất lượng và tính đa dạng sinh học rừng tự nhiên có nơi vẫn tiếp tục bị suy giảm, nạn phá rừng làm rẫy, chặt cây rừng trái phép vẫn xảy ra trên một số địa bàn với diễn biến phức tạp, giá trị sản xuất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế chưa tương xứng với tài nguyên rừng, công nghiệp chế biến lâm sản tuy phát triển nhanh song chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược. Phát triển lâm nghiệp với cuộc vận động xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra nhiều việc làm và thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn định.
Trước những thách thức đó, định hướng của ngành lâm nghiệp trong thời gian tới là sẽ đổi mới công tác quản lý, đẩy mạnh giao đất, khoán rừng đảm bảo sao cho mỗi khu rừng đều có chủ quản lý; tích cực triển khai các giải pháp phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hoá, thu hút đầu tư cho phát triển rừng, khai thác sử dụng hợp lý có hiệu qủa tài nguyên rừng theo hướng bền vững.
Phát triển lâm nghiệp gắn liền với cải thiện đời sống người lao động bằng nghề rừng, nhất là người dân sốg bằng nghề rừng. Có như vậy mới phát huy và động viên toàn dân đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng và phát triển lâm nghiệp theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh “rừng là vàng nếu mình biết vảo vệ và xây dựng thì rừngrất quý”. (Theo Khuyến Nông 11/12)đầu trang(
Đến Phú Yên hôm nay, người ta sẽ không chỉ nhắc đến những dải rừng bạt ngàn cao su và keo lai, những mùa chim yến làm tổ, mà còn không quên những đồi cây sa nhân tím, những vựa mía phủ xanh một cánh rừng… Nhờ tận dụng lợi thế kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ mà bà con nông dân nơi đây, nhất là bà con vùng sâu vùng xa đang vươn lên cuộc sống khấm khá hơn.
Vài năm trở lại đây, người dân tại cao nguyên Vân Hòa, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên đang “ăn nên làm ra”, sau khi được Trung tâm Ứng dụng và chuyển giao công nghệ Phú Yên triển khai dự án “Phát triển mô hình trồng cây sa nhân tím (một loại dược liệu quý) phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa” từ giữa năm 2008 trên diện tích 40ha tại các xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân.
Với 3 mô hình trồng cây sa nhân tím: trồng dưới tán rừng keo, trồng dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt và mô hình khoanh nuôi tái sinh dưới tán rừng tự nhiên. Mô hình đã mang lại lợi nhuận cho 22 hộ trực tiếp tham gia trên 1,2 tỷ đồng và tạo việc làm cho lực lượng lao động tại vùng dự án, với số lượng trên 18.000 công.
Tính bình quân, sau khi trừ chi phí, mỗi hộ sẽ thu được khoảng 30 triệu đồng/ha, nhưng từ năm thứ 4 đến năm thứ 10, cây ra quả rộ hơn lãi ròng bình quân dự kiến sẽ tăng lên ở mức 42 triệu đồng/ha/năm. Số tiền lãi trên là nguồn thu nhập hấp dẫn đối với người dân miền núi, đồng thời góp phần quan trọng trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Theo Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên, khả năng nhân rộng mô hình cây sa nhân tím vào khoảng 600ha, lợi nhuận mang lại khoảng 18,2 tỷ đồng/năm.
Bằng việc đầu tư giống và chuyển giao kỹ thuật trồng mía kết hợp với trồng rừng, đặc biệt áp dụng phương pháp nuôi cấy mô mía, tại Phú Yên đã hình thành những vùng chuyên canh mía tại các huyện miền núi Sơn Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân…
Hiện toàn tỉnh đã có hơn 20.000ha trồng mía, sản lượng đạt gần một triệu tấn, năng suất bình quân đạt 59,6 tấn/ha đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy. Mía trở thành cây trồng có diện tích lớn chỉ sau cây lúa, tạo việc làm cho gần 8.000 hộ nông dân miền núi và thu hút hàng nghìn lao động khi đến vụ thu hoạch. Mỗi vụ mía khi được mùa và được giá có thể cho người dân thu nhập lên tới cả trăm triệu đồng.
Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, Trung tâm Ứng dụng và chuyển giao công nghệ Phú Yên còn đẩy mạnh chuyển giao cho các nông hộ về quy trình trồng hoa cũng như cách chủ động sản xuất các giống hoa cúc,hoa lily…Nhờ đó, người dân không phải đặt cây giống từ các tỉnh khác mà còn có thêm thu nhập đáng kể từ việc sản xuất giống. Theo thống kê, lãi ròng của những hộ sản xuất giống cúc là hơn 16 triệu đồng/vụ/sào (1 sào = 500m2). Còn với hoa lily, với 100 chậu hoa người dân có lãi khoảng 5 triệu đồng…
Chia sẻ về kinh nghiệm ứng dụng chuyển giao công nghệ, ông Trần Minh Châu, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên cho biết, cần thiết đẩy mạnh hợp tác với các đơn vị có khả năng cung cấp công nghệ trên toàn quốc, trong đó các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ sẽ đóng vai trò triển khai kết nối cung cầu cho các đơn vị có nhu cầu. Đồng thời, Phòng kinh tế và hạ tầng các địa phương phải tiến hành khảo sát, xác định nhu cầu công nghệ của địa phương mình. Bên cạnh đó, với mỗi dự án triển khai, không chỉ cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho người dân, mà phải cử các cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn việc trồng và chăm sóc…
Theo thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm khu vực miền núi Phú Yên đạt 11,5%. Tỉnh Phú Yên đang phấn đấu, đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người/năm ở khu vực nông thôn đạt 1.200 USD, đến năm 2020 đạt 2.400 USD. Có thể những kết quả chuyển giao KHCN trên chưa thực sự đem lại một cuộc sống sung túc cho người dân, nhưng nó đã mở ra những hướng đi mới góp phần đổi thay diện mạo của những vùng quê nghèo… (Kinh tế Việt Nam 11/12)đầu trang(
Tại buổi họp Hội đồng Thẩm định đánh giá báo cáo tác động môi trường (ĐTM) dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A (ngày 28-11). Ông Lê Đức Chương - Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ VH-TT&DL tham dự với tư cách là thành viên hội đồng, đại diện Bộ VH-TT&DL. Mới đây ông Chương đã có văn bản đề nghị Hội đồng Thẩm định sớm thông qua ĐTM của dự án.
Bản nhận xét của ông Chương nêu rõ: Trong nhiều năm dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã chuẩn bị tốt các thủ tục để trình và giải trình cho nhiều cấp. “Chúng tôi trân trọng đề nghị Hội đồng Thẩm định thông qua báo cáo tác động môi trường của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A để dự án sớm được triển khai” - ông Chương nêu quan điểm trong báo cáo.
Theo TS Đào Trọng Tứ, thành viên Hội đồng Thẩm định, các ý kiến trái chiều trong hội đồng là lẽ bình thường. Ủng hộ hay phản đối dự án là quyền mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong bản nhận xét, đại diện Bộ VH-TT&DL lại không đề cập đến những ảnh hưởng của dự án đến di sản. Trong khi đây là trách nhiệm chính của Bộ VH-TT&DL.
Đồng quan điểm, TS Tô Văn Trường, thành viên Hội đồng Thẩm định, cho rằng kết luận của đại diện Bộ VH-TT&DL khiến ông rất bất ngờ. “Tuy là cơ quan đánh giá về xã hội, di sản của dự án nhưng hầu hết những luận cứ được đại diện Bộ VH-TT&DL đưa vào nhận xét chỉ căn cứ theo nội dung chủ đầu tư cung cấp. Không có tính độc lập trong đánh giá tác động di sản một cách cụ thể, khoa học” - ông Trường nhận xét.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Đức Chương cho biết Vụ đã phối hợp với Cục Di sản văn hóa xem xét toàn bộ dự án. Không đúng như nhiều báo chí đã đăng tải, hai thủy điện này không nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên. Ngoài ra, dự án này nằm trong quy hoạch điện của Chính phủ và chủ đầu tư cũng đã điều chỉnh chiều cao hai thân đập xuống còn 48 m và 36m.
“Nếu tác động về văn hóa không ảnh hưởng nhiều so với mặt tích cực của dự án thì cũng cần khuyến khích. Cục Di sản văn hóa cho biết là hai dự án không có vấn đề gì. Bởi theo mô tả trên bản ĐTM của chủ đầu tư, dự án không ăn vào vùng lõi mà chỉ nằm ở phía Nam Vườn quốc gia Cát Tiên” - ông Chương cho hay.
Chúng tôi đặt câu hỏi: Bộ VH-TT&DL chưa đến tận nơi kiểm tra, vậy nhận định trên liệu có chính xác và khách quan? Ông Chương trả lời: “Chúng tôi chưa đến đó nhưng có thể đưa ra nhận xét với tư cách là một nhà khoa học và trên cơ sở ĐTM của chủ đầu tư!”. (Pháp Luật TPHCM 12/12)đầu trang(
"Đầu voi đuôi chuột" là thực trạng hoạt động của các trại nuôi nhím của nhiều hộ nông dân ở khắp các tỉnh miền Bắc: Bắc Ninh, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Dương...Nơi mà hàng trăm hộ nông dân đang ngày đêm "đỏ mắt" ngóng người mua. Trong khi đầu ra rớt giá thê thảm, giá nhím giống chỉ bằng 10% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh ba năm về trước nhiều hộ hồ hởi rủ nhau làm trại nuôi nhím. Vì lúc đó nhím thương phẩm có giá trị cao, mang lợi nhuận bình quân mỗi năm cho mỗi hộ nuôi từ vài chục đến vài trăm triệu đồng, tùy thuộc quy mô nuôi. Nhưng một năm trở lại đây, cảnh bán mua nhím trở nên đìu hiu. Giá nhím rớt "thê thảm", khiến nhiều nông dân lao đao. Thái Bảo từ chỗ có hơn hai chục hộ nuôi nhím, giờ chỉ còn lác đác hai, ba nhà cố cầm cự, với hy vọng mong cho mau qua giai đoạn khó khăn.
Anh Hoàng Văn Hoạt, thôn Tân Hương, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh – một trong những hộ có trại nhím còn sót lại – buồn rầu: "Gia đình tôi nuôi nhím được 10 năm, trước đây trại của tôi nuôi 30-40 cặp, nhưng hiện tại không dám nuôi nhiều, chỉ để lại 10 cặp, vì giờ càng nuôi càng lỗ. Thời điểm trước, có những năm gia đình tôi thu lãi từ nuôi nhím lên tới gần 200 triệu/năm. Hiện tại giá nhím rớt "thê thảm" mà chẳng
Năm 2010, nhím thịt thương phẩm có giá bán 800.000 đồng/kg, nay giá chỉ còn xấp xỉ 200.000 đồng/kg. Giá nhím giống còn rớt mạnh hơn. Thời điểm này năm ngoái, một cặp giống có giá 14-16 triệu đồng, nay chỉ còn 1,5 triệu đồng/con. Hầu hết các hộ chăn nuôi nay chuyển sang bán thịt thương phẩm, nhím giống không có người mua.
Cách đây vài năm, tại nhiều địa phương, nông dân rầm rộ lập trại nuôi nhím. hàng loạt trại nhím "mọc" lên với đủ quy mô. Trong đó, mục đích chính của các chủ trại là cung cấp nhím giống.
Hiện nay, thị trường nhím cung đã vượt xa cầu. Những hộ từng kinh doanh nhím giống đành chuyển con giống thành nhím thịt, rao bán với giá rẻ mạt, nhưng vẫn cứ ế, trong khi thức ăn hàng ngày vẫn tiêu tốn lớn.
Ông Nguyễn Văn Long, một nông dân nuôi nhím ở Hải Dương cho biết, từ ngày nuôi nhím đến nay, đây là lần đầu tiên nhím giảm giá như vậy. Giá xuống mạnh quá, nhím đã đến ngày xuất bán, nhưng tình hình này cũng chẳng muốn bán. Ông sẽ chờ thêm một thời gian nữa, mỗi ngày chi phí tiền ăn cho nhím ngót nghét cũng lên đến 100.000 đồng.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện giữ hàng chờ giá lên như nhà ông Long. Nhiều hộ nuôi nhím bằng vốn vay ngân hàng, buộc phải bán tống, bán tháo nhím thương phẩm để thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng.
Vào năm 2008, anh Nguyễn Văn Thành, xã Lâm Giang, huyện Văn Yên, Yên Bái, vay hơn 400 triệu đồng để mua 5 cặp nhím cha mẹ và xây dựng chuồng trại. "Thời điểm đó, một con nhím mẹ có giá không dưới 60 triệu đồng, nhím con 2 tuần tuổi có giá 13 triệu đồng/con. Thế nhưng đến nay, hàng loạt người nuôi nhím phá bỏ chuồng trại", anh Thành than thở. Anh Thành vừa mới thanh lý toàn bộ đàn nhím 500 con, với giá 200 triệu đồng (50.000 đồng/kg), phải chịu lỗ hàng trăm triệu đồng.
Theo Ts. Võ Văn Sự, Chủ tịch Hiệp hội Bảo tồn Động vật quý hiếm Việt Nam, việc thua lỗ của nhiều hộ nuôi nhím trên khắp miền Bắc là thực trạng đã được cảnh báo nhiều lần, nhưng vẫn lặp đi lặp lại. Thực tế cho thấy, việc nuôi nhím ồ ạt mà không tính đến đầu ra đã tạo nên giá trị ảo của những con nhím. Khi giá con giống trở về giá trị thực thì những người nuôi phải chịu thiệt thòi.
Bài học này cũng tương tự như những đổ vỡ từ nhiều mô hình nuôi kỳ đà, kỳ nhông, ốc sên, kiến đen, rết, bò cạp đến dế… của nông dân miền Bắc những năm trước. Anh Nguyễn Văn Tuyên, ở xã Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương từng khốn đốn với nghề nuôi dế nhớ lại: khi mới bắt đầu nuôi dế, các thương lái khắp nơi đổ xô về lấy dế giống để bán cho nông dân với giá cao ngất ngưởng. Sau một thời gian có quá nhiều người nuôi nên dế đổ cho lợn, lợn cũng chẳng ăn, đành phải đào hố chôn, hủy hết tài sản bạc tỷ của mình.
Theo anh Tuyên, những vật nuôi đặc biệt có thị trường tiêu thụ rất hẹp. Như dế chỉ dành cho một số quán nhậu chuyên về món côn trùng. Vì thế, khi nhiều hộ nông dân nuôi sẽ khiến cung vượt cầu, từ đó dẫn đến dư thừa, thua lỗ. "Các sản phẩm mới xuất hiện thường là những mặt hàng độc, có thế mạnh khi cạnh tranh. Nếu nhiều hộ nuôi thì không còn tính cạnh tranh nữa", anh Tuyên thừa nhận.
Theo một chuyên gia trong ngành chăn nuôi, để phát triển ổn định một giống vật nuôi điều cơ bản là chúng ta cần "khống chế" được giá con giống, đồng thời cần nghiên cứu kỹ thị trường và đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo các sản phẩm. Trong đó phải đặc biệt chú ý đến sự hợp tác sản xuất và tiêu thụ giữa doanh nghiệp và người dân. (Thời Báo Kinh Doanh 7/12)đầu trang(
Việt Nam không phải là thị trường chính tiêu thụ sừng tê giác, nhưng đang bị “mang tiếng” vì là nơi trung chuyển cho thị trường Trung Quốc.
Đặc biệt, có đến 70% số sừng tê giác ở Việt Nam được kiểm tra là giả. Đó là những thông tin được đưa ra sau buổi làm việc giữa Bộ trưởng Bộ Môi trường và nguồn nước Nam Phi và Bộ trưởng Bộ NNPTNT Việt Nam.
Tại cuộc làm việc, Bộ trưởng Môi trường và nguồn nước Nam Phi, bà Bomo Edna Molewa và Bộ trưởng NNPTNT Việt Nam Cao Đức Phát đại diện Chính phủ 2 nước ký Thỏa thuận hợp tác về bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học và trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác giữa 2 nước. Một trong những nội dung hợp tác quan trọng nhất được thảo luận chính là việc ngăn chặn tình trạng buôn bán mẫu vật, sừng tê giác từ Nam Phi về Việt Nam.
CITES Việt Nam - cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp cho biết, trước năm 2012, có khoảng 30-50 người Việt sinh sống tại Nam Phi, trong đó có một số nhóm chuyên xin giấy phép bắn tê giác hợp pháp.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2012, phía Nam Phi cấm người Việt Nam săn bắn tê giác hợp pháp. Bà Bomo Edna Molewa cho biết, năm 2009 có 85 giấy phép săn tê giác được cấp cho người Việt Nam, 2010 có 91 giấy phép, 2011 lên đến 140 giấy phép; năm 2012 chỉ có 8 giấy phép được cấp.
Tuy không được phép săn bắn nhưng lượng sừng tê giác nhập khẩu về Việt Nam đang gia tăng, năm 2009 là 14 sừng, 2010 là 16 sừng, 2011 là 32 và 8 tháng đầu năm 2012 là 36 chiếc.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là quốc gia có nhiều người buôn bán sừng tê giác trái phép. Tới nay, có 20 người Việt bị bắt giữ, 11 người đang bị giam giữ, 4 người bị kết án 7-12 năm tù tại Nam Phi. Đặc biệt, vụ việc cán bộ đại sứ quán bị bắt tại sân bay Mozambic vì vận chuyển trái phép tê giác; năm 2008, một cán bộ ngoại giao bị ghi hình khi đang mua sừng tê giác ngay trước cửa đại sứ quán Việt Nam ở Nam Phi càng làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong công tác bảo tồn loài tê giác.
Tuy nhiên, đại diện Bộ NNPTNT cho rằng, Việt Nam không phải là địa bàn tiêu thụ chính mà chỉ là nơi trung chuyển sang Trung Quốc. “Thị trường sử dụng sử dụng sừng tê giác chủ yếu là Trung Quốc, nhưng Việt Nam cũng là nước bị mang tiếng” – báo cáo của CITES Việt Nam nêu. CITES Việt Nam cũng cho rằng, chỉ một bộ phận rất nhỏ ở Việt Nam sử dụng sừng tê giác để mài uống theo phương thức thủ công nên sức tiêu thụ không lớn; trong khi đó, Trung Quốc đang có công nghệ bào chế thuốc từ sừng tê giác.
Đặc biệt, cơ quan này dẫn số liệu của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, cơ quan chuyên giám định mẫu vật thì 70% mẫu vật sừng tê giác ở Việt Nam là giả.
Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn cho biết, Việt Nam đang tiến hành nhiều biện pháp ngăn chặn tình trạng sử dụng sừng tê giác như tăng cường tuyên truyền, đề xuất Chính phủ quy định cấm nhập khẩu sừng tê giác, tăng cường điều tra, xử lý các vụ vi phạm… Tại buổi làm việc, bà Bomo Edna Molewa bày tỏ sự hài lòng về sự quyết liệt của Việt Nam nhằm bảo vệ loài tê giác ở Nam Phi. (Nông Thôn Ngày Nay 11/12)đầu trang(
Bản nhận xét của đại diện Bộ Văn hóa Thể thao&Du lịch ủng hộ hoàn toàn dự án thủy điện Đồng Nai (ĐN) 6&6A cách đây hai tuần khiến đại diện Ủy ban UNESCO ngạc nhiên và cho là bất thường và thiếu cơ sở khoa học.
Trong Công văn Số 45/TTg-KTN ngày 31-8-2011 về việc chuyển mục đích sử dụng rừng khu vực Cát Tiên sang xây dựng dự án thủy điện ĐN 6&6A, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo: “Trường hợp diện tích rừng và đất cần cho dự án có thể chuyển mục đích sử dụng mà ảnh hưởng tới tiêu chí, mục tiêu và nội dung xác lập Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên và Khu rừng Phòng hộ Nam Cát Tiên thì dừng xây dựng dự án và thông báo cho chủ đầu tư biết”.
Để thực hiện yêu cầu đó của Phó Thủ tướng, đến thời điểm này, chưa ai - từ chủ đầu tư đến các bộ ngành liên quan, chỉ ra được đâu là “tiêu chí, mục tiêu và nội dung” cụ thể giúp “xác lập VQG Cát Tiên và Khu rừng Phòng hộ Nam Cát Tiên”.
Không biết có phải vì thế mà, trong tất cả các quá trình, người ta gần như phớt lờ các đánh giá tác động xã hội, văn hóa, và giá trị di sản mà dự án có thể gây ra.
Về báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), dù chủ đầu tư đã thay một tư vấn khác làm lại ĐTM gần như từ đầu, báo cáo ĐTM mới vẫn để lại lỗ hổng lớn.
Nhóm chuyên gia Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN) nhận xét bằng văn bản: “Danh sách 17 thành viên của đoàn tư vấn ĐTM không có chuyên gia nào có chuyên môn về khoa học xã hội… Chính vì sự yếu kém này của nhóm tư vấn ĐTM,… họ đã kết luận sai lầm về tính khả thi của dự án”.
Thành phần hội đồng thẩm định do Bộ TN&MT lập cũng không khá hơn. Trong danh sách 13 thành viên ban đầu của hội đồng, cũng thấy thiếu khuyết thành viên là chuyên gia về lĩnh vực văn hóa, xã hội, chuyên gia về di sản.
Không biết có phải nhận ra sự thiếu khuyết nghiêm trọng ấy không mà cuộc họp của hội đồng thẩm định bị trì hoãn nhiểu lần.
“Chúng tôi chưa tổ chức được cuộc họp hội đồng thẩm định là bởi còn chờ ý kiến của Bộ Văn hóa Thể thao&Du lịch”, TS Mai Thanh Dung, Cục trưởng Cục Thẩm định&ĐTM kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng Thẩm định, có lần nói với phóng viên Tiền Phong.
Không chỉ thế, Bộ TN&MT còn mời hẳn một đại diện của Bộ Văn hóa TT&DL vào hội đồng thẩm định gần như vào những ngày chót.
Những động thái tuy muộn như thế khiến hầu hết những người khó tính đều thở phào. Đại diện Yêu quý&Bảo vệ Cát Tiên, một trong những nhóm tự phát với hàng nghìn thành viên trên cộng đồng mạng có quan điểm bảo vệ VQG Cát Tiên mạnh mẽ nhất, phải thốt lên: “Như thế tạm hài lòng”.
Những ai quan tâm đến số phận VQG Cát Tiên đều không khỏi ngỡ ngàng trước ý kiến nhận xét của Bộ VH TT&DL như phản ánh sơ bộ trong bài “Phải làm cho rõ” đăng trên Tiền Phong (số 339, thứ ba 4-12-2012).
Không một chữ, một dòng nào đánh giá tác động của hai dự án ĐN 6&6A đến di sản được tìm thấy trong bản nhận xét. Không một thông tin nào được xem là riêng có của Bộ VH-TT&DL về thực địa nơi định làm dự án, về thực trạng di sản.
Tịnh không thấy đánh giá nào về các rủi ro có thể có của thủy điện ĐN 6&6A tác động lên di sản. Hầu hết chỉ là các chương hồi về những “căn cứ pháp lý”, “vị trí, diện tích và công xuất của hai thủy điện”, và “đánh tác tác động môi trường” gần như y chang từ báo cáo của chủ đầu tư.
Vậy mà, TS Lê Đức Chương, người viết bản nhận xét, kết luận thủy điện ĐN 6&6A “là hai công trình thủy điện đã chuẩn bị tốt các thủ tục để trình và giải trình nhiều cấp trong nhiều năm giúp cho Chính phủ xem xét và quyết định phê duyệt”.
Ông Chương là Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ&Môi trường, Bộ VH-TT&DL. Ông chính là đại diện của Bộ VH-TT&DL trong hội đồng thẩm định.
Một thành viên hội đồng thẩm định đề nghị giấu tên nói “Ủng hộ hay phản đối dự án là quyền của ông ấy. Nhưng chí ít trong bản nhận xét cũng phải chỉ ra dự án không ảnh hưởng đến di sản ở chỗ nào.
Chứ không thể không nói gì rồi bỗng nhiên “Tôi trân trọng đề nghị hội đồng thẩm định thông qua cho dự án công trình thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A để sớm được triển khai”.
Bộ VH-TT&DL chốt hạ như thế, ai dám lên tiếng nữa đây? Tất cả các thành viên còn lại trong hội đồng, trong đó có tôi, đều không phải là chuyên gia về di sản.
Chúng tôi không có tư cách đánh giá tác động của dự án đến di sản. Vậy mà cơ quan chịu gác cổng cho Chính phủ về di sản lại nhận xét như thế ư?”.
GS.TS Nguyễn Hoàng Trí, Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người&Sinh quyển (MAB) Việt Nam thuộc UBQG UNESCO Việt Nam, cũng chia sẻ: “Nhận xét mang quan điểm cá nhân, mình cần tôn trọng. Nhưng ủng hộ hay không ủng hộ, cần có lập luận khoa học, chặt chẽ và có sức thuyết phục cao. Việc ảnh hưởng đến danh hiệu di sản cần phân tích dựa trên các tiêu chí mà UNESCO đã hướng dẫn. Điều này cần được phân tích sâu, có lập luận khoa học. Tôi chưa thấy những ý này”. (Nông Thôn Ngày Nay 11/12)đầu trang(
Dự án nhà máy thủy điện Đrăng Phốk (ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) sẽ được xây dựng trên sông Srêpốk và nằm ngay trong vùng lõi Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn. Nhưng không hiểu sao, Bộ NN-PTNT và tỉnh Đắk Lắk vẫn cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO (TPHCM) chuyển đổi rừng đặc dụng của vườn để xây dựng thủy điện này?
Năm 2009, tỉnh Đắk Lắk đồng ý cho TECCO lập dự án Nhà máy thủy điện (NMTĐ) Đrăng Phốk tại tiểu khu 430, 431 và 451 của VQG Yok Đôn và bổ sung vào quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Srêpốk. Theo dự án ban đầu, nhà máy có tổng vốn đầu tư 742 tỷ đồng với công suất khoảng 28 MW và sản xuất điện hơn 100 KWh/năm. Diện tích rừng phải chuyển đổi làm NMTĐ này là 63ha, trong đó diện tích chuyển đổi vĩnh viễn 53ha trải dài 9km theo dòng sông Srêpốk và diện tích chuyển đổi tạm thời 10ha.
Sau khi có đề xuất của UBND tỉnh Đắk Lắk và Bộ NN-PTNT, ngày 25-8-2009, Chính phủ đã có công văn số 1479/TTg-KTN đồng ý để TECCO chuyển đổi rừng đặc dụng VQG Yok Đôn xây dựng NMTĐ Đrăng Phốk. Đến ngày 4-5-2012, TECCO xin điều chỉnh diện tích rừng phải chuyển đổi từ 63ha xuống còn 59,88ha, trong đó diện tích chuyển đổi vĩnh viễn 49,88ha và diện tích chuyển đổi tạm thời 10ha và được VQG Yok Đôn đồng ý.
Theo ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc VQG Yok Đôn, nếu dự án NMTĐ Đrăng Phốk được thực hiện sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của VQG. Sau khi nhà máy vận hành, nước hồ dâng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển lâm sản bằng đường thủy. Ngoài ra, trong quá trình thi công có nổ mìn phá đá sẽ gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn từ nổ mìn sẽ làm động vật hoang dã của vườn bỏ đi nơi khác.
Khi nhà máy chặn dòng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, sinh sản, môi trường sống của các loài thủy sinh trên dòng sông Srêpốk. “Hiện nay báo cáo đánh giá tác môi trường của dự án thủy điện này đang thực hiện để Bộ TN-MT phê duyệt. Khi có báo cáo đánh giá tác động môi trường, VQG sẽ có ý kiến cụ thể những vấn đề liên quan đến tác động môi trường và công tác quản lý”, ông Thành cho biết.
Theo kết quả điều tra hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp dự án đầu tư xây dựng NMTĐ Đrăng Phốk của Trung tâm Quy hoạch, khảo sát, thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Lắk vào năm 2010, trong 63ha rừng chuyển đổi làm thủy điện có 16ha rừng trung bình và rừng giàu, 47ha còn lại là rừng nghèo. Diện tích này nằm tại 9 khoảnh của 3 tiểu khu 430, 431 và 451, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Yok Đôn. Nhưng thực tế, 47ha rừng nói trên có phải rừng nghèo? Ngày 6-12, chúng tôi cùng 2 kiểm lâm viên VQG Yok Đôn là anh Trần Bá Hoàn và anh Nguyễn Văn Thức lặn lội vào khu vực rừng làm NMTĐ.
Từ chốt kiểm soát của Trạm kiểm lâm số 9 VQG Yok Đôn, chúng tôi chạy xe máy vào tiểu khu 430 và 431, nơi đặt nhà máy thủy điện. Trên máy định vị GPS của anh Nguyễn Văn Thức, thủy điện Đrăng Phốk còn có tên thủy điện Srêpốk 7. Bỏ xe máy lại bên đường tuần tra nội bộ, chúng tôi cùng đi bộ xuống khu vực làm thủy điện theo máy định vị GPS. Đi giữa cánh rừng khộp mênh mông, chúng tôi thấy có rất nhiều loại gỗ quý như hương, căm xe, cà chít... Nhiều cây có đường kính lớn một người ôm không xuể. Càng đi xuống gần xuống sông Srêpốk, cây cối càng dày đặc hơn. Lâu lâu, phải nghỉ chờ đồng đội kẻo lạc giữa rừng khộp.
Sau hành trình lội bộ gian nan, chúng tôi cũng đến được vị trí làm NMTĐ trên sông Srêpốk. Hai bên bờ sông nơi NMTĐ sẽ làm ngập là những cánh rừng khộp rậm rạp với nhiều cây gỗ lớn. Hệ thực vật quần thể rừng ở đây rất đa dạng và phong phú. Còn dưới sông Srêpốk cũng có nhiều loài thủy sinh và nhiều loại cá quý, nhất là cá lăng. Nhìn bằng mắt thường cũng sẽ thấy đây chẳng phải là rừng nghèo. Không hiểu Trung tâm Quy hoạch, khảo sát, thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Lắk đánh giá thế nào mà cho rằng có 47ha khu vực này là rừng nghèo?
VQG Yok Đôn với diện tích 115.000ha là VQG lớn nhất Việt Nam, giàu có về tài nguyên và đa dạng sinh học. Ngày 19-5-2012, Bộ NN-PTNT đã cho khởi công xây dựng công trình thủy lợi Buôn Trí. Để làm công trình này, VQG buộc phải hy sinh 31,11ha rừng đặc dụng tại các tiểu khu 485, 503, 507, 511 và 521. Trong khi đó, NMTĐ Srêpốk 4A (công suất 64 MW, đang được xây dựng tại xã Krông Na) đi vào hoạt động cũng sẽ làm khô cạn khoảng 20km sông Srêpốk chảy qua VQG và mất rào chắn lâm tặc từ phía Đông. Tỉnh Đắk Lắk cũng đang có ý định chuyển đổi 163ha rừng đặc dụng của VQG Yok Đôn ở tiểu khu 501 để xây dựng trung tâm bảo tồn voi.
PGS-TS Bảo Huy (Phó Trưởng khoa Nông lâm Đại học Tây Nguyên) cảnh báo: “VQG Yok Đôn là quần thể sinh thái phong phú và đa dạng về sinh học, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của vùng đất Tây Nguyên. Vì thế, chúng ta không nên có những tác động tiêu cực vào đây. Nếu cứ đánh đổi rừng đặc dụng để xây dựng công trình như thế, không bao lâu nữa chúng ta sẽ chẳng còn VQG nữa”. Vì thế, nếu dự án NMTĐ Đrăng Phốk được thực hiện, VQG Yok Đôn sẽ tiếp tục bị nghèo tài nguyên và lâm nguy trong một ngày không xa. (Sài Gòn Giải Phóng 12/12)đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh Đắk Lắk đã chấp thuận cho Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (TECCO-TP HCM) lập dự án khảo sát xây dựng Nhà máy thủy điện Đrang Phốk ngay trong vùng lõi Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn.
Dư luận cho rằng, cần phải suy nghĩ, cân nhắc, quyết định nên hay không nên cho xây dựng nhà máy vì khi dự án đi vào hoạt động sẽ gây ra tác hại lớn về môi trường.
Theo thiết kế dự án đầu tư, Nhà máy thủy điện Đrang Phốk sẽ được xây dựng trên sông Sêrêpốk (xã Krông Ana, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) thuộc các tiểu khu 430, 431 và 451, là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Yok Đôn. Nhà máy có công suất dự kiến khoảng 26MW, điện lượng bình quân năm trên 100 triệu Kwh, với tổng vốn đầu tư gần 900 tỉ đồng. Tổng diện tích ảnh hưởng của công trình khoảng 320ha, trong đó diện tích lòng hồ chiếm hơn 276ha dâng theo lòng sông và 59,88ha rừng sẽ bị đốn hạ để xây dựng các hạng mục liên quan.
Cũng theo báo cáo kết quả điều tra hiện trạng của Trung tâm Quy hoạch, Khảo sát, Thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Lắk (nay là Công ty cổ phần NN&PTNT Đắk Lắk) trực thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk thì phần lớn diện tích trong tổng số 59,88ha rừng bị đốn hạ này thì có tới 50ha thuộc dạng rừng nghèo, gần 3ha rừng trung bình và chỉ có 7,14 ha rừng tự nhiên còn nguyên sinh, có trữ lượng cây đứng rất lớn, chưa được khai thác, cấu trúc rừng ổn định nhiều tầng tán với nhiều loại cây quý hiếm như chiêu liêu đen, căm xe… với trữ lượng gỗ bình quân khoảng 300m3/ha.
Mới đây, nhóm phóng viên chúng tôi đã được kiểm lâm VQG Yok Đôn dẫn đi thực tế tại các tiểu khu 430, 431 và 451, vị trí sẽ xây dựng nhà máy. Theo chỉ giới địa chính thì vị trí này nằm cạnh ranh giới khu vực biên giới thuộc xã Krông Ana, huyện Buôn Đôn được điều chỉnh bởi Nghị định 34/2000/NĐ-CP của Chính phủ thì vị trí nhà máy chỉ nằm cách Tỉnh lộ 1 - ranh giới phía Đông của vườn khoảng 30km, cách khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia chưa đầy 10km.
Theo quan sát của phóng viên, khu vực này rừng còn khá nguyên vẹn, nhiều tầng tán. Dọc theo sông Sêrêpốk cây cối mọc um tùm, trữ lượng gỗ khá lớn với nhiều cây gỗ quý hiếm, đường kính cả mét như hương, căm xe… Đặc biệt, khu vực này rất nhiều loài động vật sinh sống, chằng chịt những dấu chân các loài thú móng guốc, đặc trưng của hệ sinh thái rừng khộp.
Trong cuộc họp mới đây, đại diện các Sở, ban, ngành của tỉnh Đắk Lắk cho rằng, địa điểm xây dựng nhà máy có diện tích rừng bị chiếm dụng không lớn, hiện trạng rừng nghèo đã bị khai thác cạn kiệt, là khu vực rừng đặc dụng nên việc giải phóng mặt bằng không phức tạp, chi phí đầu tư thấp, phương án đầu tư của Công ty TECCO có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội nên chủ trương cho đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia cho rằng, giá trị của rừng đặc dụng trong khu bảo tồn, VQG thì trữ lượng gỗ giàu hay nghèo, nhiều hay ít thì điều đó ai cũng biết(!).
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc VQG Yok Đôn cho biết: “Việc cho phép xây dựng thủy điện trong VQG Yok Đôn là do các cơ quan chức năng quyết định, vườn không đủ thẩm quyền cho hay không cho xây dựng. Tuy nhiên, nếu dự án Nhà máy thủy điện Đrang Phốk được xây dựng sẽ gây ra nguy cơ phá vỡ hệ sinh thái trong khu vực, ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ vườn quốc gia là điều khó tránh khỏi”.
Bởi khu vực xây dựng nằm ngay trong vùng lõi VQG Yok Đôn, trong quá trình xây dựng, máy móc, thiết bị và con người gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn sẽ làm cho các loài động vật quý hiếm trong vùng bỏ đi nơi khác. Khi chặn dòng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, môi trường sống của các loài thủy sinh trên sông Sêrêpốk. Ngoài ra, sau khi nhà máy vận hành, nước sông sẽ dâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông…
“Hiện nay, chủ đầu tư đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đánh giá tác động môi trường trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Chúng tôi sẽ có những ý kiến cụ thể về tác động môi trường và khó khăn cho công tác quản lý với cơ quan chức năng” - ông Thành cho biết thêm. (Công An Nhân Dân 11/12)đầu trang(
Sau gần 4 năm điều tra, vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn... xảy ra tại Cty công nghiệp rừng Tây Nguyên (Đắk Lắk) vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Viện KSND Tối cao, TAND tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần trả hồ sơ do căn cứ đánh giá thiệt hại thiếu vững chắc, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm... (Lao Động đã có loạt bài phản ánh trong tháng 6.2012). Mới đây, Cơ quan CSĐT- Bộ Công an đã ban hành kết luận điều tra lần thứ năm, song vụ án vẫn chưa hết uẩn khúc.
Liên quan đến vụ Cty công nghiệp rừng Tây Nguyên bán trên 154.000m3 gỗ tròn thuộc chương trình đóng tàu đánh bắt xa bờ và khắc phục hậu quả thiên tai không đúng đối tượng, mới đây Cơ quan CSĐT- Bộ Công an đã khởi tố thêm 4 đối tượng nguyên là lãnh đạo TCty Lâm nghiệp VN và 4 tư thương mua bán gỗ, kết luận điều tra bổ sung. Đây là bước tiến mới trong quá trình điều tra vụ án này.
Như Lao Động đã phản ánh, năm 2009, Cơ quan CSĐT- Bộ Công an đã khởi tố 8 bị can là cán bộ Cty công nghiệp rừng Tây Nguyên (Cty CNR Tây Nguyên) về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Đó là Võ Hồng Huỳnh (nguyên GĐ, nguyên chủ tịch HĐQT), Trần Quốc Trí (nguyên GĐ), Vũ Thị Lệ Quỳnh (nguyên PGĐ), Phạm Trọng Thi (nguyên PGĐ), Phạm Thị Hồng Liên (nguyên PGĐ), Đào Thị Mai (nguyên phó phòng kế hoạch), Hồ Thị Thanh Hà (nguyên kế toán trưởng), Trần Thị Hà (nguyên thủ quỹ). Riêng Trần Thị Hà về sau được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo kết quả điều tra, từ năm 1998 - 2006, các bị can đã lợi dụng chủ trương cung ứng gỗ tròn phục vụ chương trình đóng tàu đánh bắt xa bờ và khắc phục hậu quả thiên tai của Chính phủ để bán quyền mua gỗ cho tư thương, thu lợi cho Cty CNR Tây Nguyên 12,530 tỉ đồng. Cụ thể, Cty đã ký các hợp đồng mua 154.855,825m3 gỗ tròn của các lâm trường quốc doanh tại Tây Nguyên, rồi ký hợp đồng bán cho các DN và cá nhân nằm ngoài chương trình, thu chênh lệch 40.000 - 120.000 đồng/m3. Tuy nhiên, TAND tỉnh Đắc Lắc, Viện KSND Tối cao đã nhiều lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Ngày 1.11.2012, Cơ quan CSĐT- Bộ Công an đã khởi tố thêm 8 bị can. Trong đó, 4 đối tượng là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo TCty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) bị khởi tố về tội thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng, bao gồm các ông: Lê Bá - nguyên TGĐ, Trần Đức Sinh - nguyên TGĐ, Hà Xuân Hạnh - nguyên phó TGĐ, Phạm Trọng Minh - phó TGĐ.
Theo kết luận điều tra bổ sung, các bị can này không thẩm định các tờ trình của Cty CNR Tây Nguyên, mà chỉ căn cứ vào đó để soạn thảo văn bản đề nghị Bộ NNPTNT cấp chỉ tiêu gỗ tròn. Sau đó, những người này không kiểm tra, giám sát hoạt động thu mua và cung ứng gỗ, để Cty CNR Tây Nguyên bán chỉ tiêu 154.855m3 gỗ tròn sai đối tượng, thu lợi cho Cty hơn 12 tỉ đồng.
Cũng theo kết luận điều tra bổ sung, 4 bị can khác là Bùi Văn Tài, Mai Trung Tâm, Nguyễn Minh Đông, Nguyễn Quang Vinh đã có hành vi lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ. Đây là những người làm nghề buôn bán tự do, đã giúp Võ Hồng Huỳnh - nguyên TGĐ, nguyên Chủ tịch HĐQT Cty CNR Tây Nguyên - mua gỗ của các lâm trường, bán cho các đối tượng ngoài chương trình.
Các ông Tài, Tâm, Đông được hưởng tổng cộng trên 766,5 triệu đồng- là khoản tiền thu thêm của các doanh nghiệp mua gỗ, riêng ông Vinh không lấy tiền của các doanh nghiệp mà chỉ được khai thác gỗ thuê. Theo cơ quan điều tra, tuy các bị can này không có chức vụ, không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thi hành công vụ, nhưng đã giúp sức cho Võ Hồng Huỳnh bán chỉ tiêu gỗ tròn sai đối tượng. Vì vậy, các bị can cũng phạm vào tội lợi dụng chức vụ... với vai trò đồng phạm. (Lao Động 11/12)đầu trang(
Đến chiều 11-12, lực lượng kiểm lâm Vườn Quốc gia Yok Đôn - Đắk Lắk vẫn đang trục vớt hàng chục phách gỗ do lâm tặc giấu dưới lòng sông Sêrêpốk (đoạn chảy qua buôn Đrăng Phốk, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn).
Trong khi tuần tra trên sông Sêrêpốk, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện những phách gỗ giấu dưới lòng sông Sêrêpốk thuộc tiểu khu 417, 419 của VQG Yok Đôn. (Sài Gòn Giải Phóng 12/12)đầu trang(
11-12, ông Vũ Đình Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Đà Lạt, cho biết đã chuyển hồ sơ vụ chặt hạ thông hàng loạt xảy ra tại tiểu khu 156, lâm phần do Ban quản lý rừng Lâm Viên quản lý (nằm ngay phía sau Dinh I) sang cơ quan điều tra Công an TP Đà Lạt để điều tra, xử lý.
Theo ông Cường, do số thông bị chặt hạ nói trên chưa đủ tiêu chí thành rừng nên Hạt Kiểm lâm chưa thể khởi tố vụ án phá rừng, mà phải chuyển cho Công an điều tra xác định đối tượng chặt phá, động cơ chặt phá thông để chiếm đất hay là phá hoại tài sản. (Pháp Luật TPHCM 12/12) đầu trang(
11.12, tại Km 4 thuộc địa phận thôn Địch Lễ (xã Nam Giang, H.Nam Trực, Nam Định), lực lượng Cảnh sát môi trường Công an Nam Định đã kiểm tra, bắt giữ xe tải mang BKS 98H-0229 chở trên 4 m3 gỗ, trong đó có khoảng 2 m3 gỗ nghiến. Tại hiện trường, lái xe kiêm chủ hàng Hoàng Văn Giang (29 tuổi), trú tại xã Vũ Sơn, H.Bắc Sơn, Lạng Sơn đã không xuất trình được hóa đơn, chứng từ của toàn bộ lô hàng trên.
Theo thượng tá Hoàng Thọ Tùng, Phó trưởng phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Nam Định, lực lượng chức năng tỉnh Nam Định đã phối hợp với công an các tỉnh biên giới phía Bắc tiến hành theo dõi các hành vi buôn bán gỗ lậu trung chuyển qua Nam Định, trong suốt hơn 3 tháng qua, trong đó có lô hàng của Giang.
Vụ việc đang được tiếp tục làm rõ. (Thanh Niên 11/12)đầu trang(
11-12, Thượng tá Nguyễn Văn Tư – Trưởng Công an huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông cho biết, Cơ quan CSĐT đang khẩn trương điều tra, truy bắt nhóm đối tượng dùng dao, gậy gộc khống chế, uy hiếp lực lượng quản lý bảo vệ rừng để cướp 3 xe gỗ vật chứng.
Trước đó, 23-11, trong lúc đang làm nhiệm vụ tại Tiểu khu 1534 thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, anh Nguyễn Văn Giáp và Dương Văn Lam là nhân viên Trạm Quản lý bảo vệ rừng thuộc Công ty Kiến Trúc Mới phát hiện 3 đối tượng (chưa rõ lai lịch) điều khiển 3 xe độ chế chở gỗ trái phép.
Anh Giáp và Lam đã yêu cầu 3 đối tượng dừng xe kiểm tra rồi đưa 3 đối tượng cùng 3 xe gỗ về trạm để xử lý. Do trời tối, 3 đối tượng xin ở lại để sáng hôm sau về nhà lấy giấy tờ lên làm việc. Đến 23h30 cùng ngày, lợi dụng sự sơ hở, 3 đối tượng đã điều khiển 3 xe chở gỗ nói trên bỏ trốn thì bị 2 anh giáp và Lam phát hiện, ngăn cản.
Liền đó 3 đối tượng đã dùng dao, gậy khống chế, uy hiếp 2 anh Nguyễn Văn Giáp, Dương Văn Lam và cướp 3 xe gỗ tang vật rồi bỏ trốn. (An Ninh Thủ Đô 11/12)đầu trang(
Bắc Kạn: Rừng nghiến Ba Bể lại bị đốn chặt
15 cây nghiến hàng trăm năm tuổi vừa được Kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể phát hiện bị lâm tặc cưa hạ ngày 20.11 tại cánh rừng nghiến núi đá ở bản Lồm, xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), thuộc khu vực cột mốc 50, 51 Vườn quốc gia Ba Bể.
Theo Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia, lâm tặc đã sử dụng cưa xăng để triệt hạ 15 cây gỗ nghiến này. Tổng khối lượng số gỗ này ước tính khoảng 40m3. Bước đầu nhận định, 15 cây nghiến trên bị chặt vào 2 ngày (17 và 18.11).
Ngày 29.11, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Nông Văn Chí cùng các lực lượng chức năng của Chi cục Kiểm lâm, Công an, lãnh đạo huyện Ba Bể và các lực lượng chức năng của huyện, Vườn quốc gia đã đến hiện trường của vụ phá rừng với quy mô khá lớn này để kiểm tra thực tế, xác định chính xác khối lượng rừng nghiến núi đá bị thiệt hại.
Khu vực 15 cây nghiến lớn hàng trăm năm tuổi bị chặt hạ nằm rải rác ở khu vực các Trạm Kiểm lâm Quảng Khê và Trạm Kiểm lâm Bản Quá quản lý, trên địa bàn giáp ranh các xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ, Nam Cường nằm trong Vườn quốc gia. Gỗ quý hiếm nằm ngổn ngang trên hiện trường, một số ít đã được xẻ thành thớt, thành tấm để chuẩn bị vận chuyển đi tiêu thụ. Tại hiện trường, 15 cây nghiến mới bị triệt hạ vẫn còn nguyên, lâm tặc chưa vận chuyển đi được.
Theo nhận định ban đầu của đoàn kiểm tra và lực lượng chức năng, nhiều khả năng thủ phạm là người dân địa phương trong khu vực, có mối liên kết với đầu nậu bên ngoài để phá rừng, xẻ thớt. Địa hình khu vực rừng quý hiếm bị phá đi lại rất khó khăn, hiểm trở. Tuy nhiên, vì lợi nhuận, một số đối tượng đã bất chấp pháp luật vẫn lén lút phá hoại rừng. Bởi gỗ nghiến giá trị kinh tế rất cao, nên đây không phải là vụ đầu tiên lâm tặc thâm nhập Vườn quốc gia Ba Bể để thực hiện hành vi phá rừng. Công an tỉnh Bắc Kạn đề nghị lực lượng kiểm lâm xác định rõ thời điểm phá rừng, khoanh vùng để xác định đường vận chuyển gỗ đi tiêu thụ của các đối tượng.
Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn coi đây là vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra vào thời điểm Chỉ thị 08/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường đang được các địa phương triển khai có hiệu quả trong một thời gian dài.
Ngày 28.11, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn Nguyễn Xuân Cường đã chủ trì cuộc họp khẩn để phân tích nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị liên quan, những người đứng đầu và bàn các giải pháp để ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại Vườn quốc gia Ba Bể. (Nông Thôn Ngày Nay 12/12)đầu trang(
Nạn “săn” chè cổ đang diễn ra ráo riết và trầm trọng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Bởi lẽ, thời gian gần đây phong trào trưng bày cây chè cổ thụ như một bonsai trong sân nhà hay cơ quan được phát triển rầm rộ như một thú chơi đại gia.
Một hiện tượng đáng báo động ở Lâm Đồng và nhiều địa phương khác là nạn dùng gốc chè cổ thụ làm bonsai đã thực sự trở thành thú chơi thời thượng. Không ít đại gia và kể cả các cơ quan nhà nước sẵn sàng bỏ ra từ vài triệu đến vài chục triệu đồng để “săn” cho bằng được một gốc chè cổ thụ mang về nhà mình hoặc cơ quan mình trưng bày như một “mặt tiền” thể hiện “tiềm lực” kinh tế và cả sự “tao nhã” của chủ nhân.
“Chưa bao giờ giá chè cổ ở Lâm Đồng lại cao như thế này. Năm trước, một gốc chè khoảng 50 năm tuổi của tôi có giá chỉ 10 triệu đồng thì nay đã tăng lên không dưới 30 triệu đồng” - ông Hoàng Trọng Nghĩa - chủ hàng buôn bán chè cổ ở thị trấn Di Linh (huyện Di Linh) - không giấu.
Trước nạn săn lùng chè cổ ráo riết khiến cho giá của thứ “hàng hóa” này đội lên mây xanh, một chủ hàng buôn bán chè cổ ở Lộc An (huyện Bảo Lâm) tỏ ra tiếc nuối: “Mấy năm trước, một người ở tận miền Bắc vào năn nỉ, cầm lòng không đặng nên tôi đã nhượng lại cho ông ấy một gốc chè cổ thụ những hơn 80 năm với giá hơn 80 triệu đồng. Giờ thì thấy tiếc! Nếu còn, gốc ấy nằm giá không dưới 130 triệu đồng!”. Nghe nói, để đưa gốc chè cổ thụ ấy về miền Bắc, ông chủ mới đã bỏ ra không dưới 20 triệu đồng thuê riêng một chiếc xe tải lớn.
Dọc theo tuyến quốc lộ 27 Đà Lạt - TPHCM, trên địa bàn huyện Di Linh và TP.Bảo Lộc cứ nhan nhản điểm mua bán chè cổ. “Họ bán mua công khai, ai mà chẳng biết. Nhưng nếu xét về luật thì làm gì có điều khoản nào cấm đoán họ đâu! Cây chè đâu nằm trong danh mục cây lâm nghiệp. Còn nếu là đào trộm chè cổ ở đâu đó mà bị “bắt tận tay” thì mới kết tội họ được chứ” - một cán bộ kiểm lâm nói.
Ông Hoàng Trọng Nghĩa cho biết thêm: “Hầu như điểm bán “chuyên nghiệp” chè cổ nào cũng có một đội quân chuyên đi săn lùng “mặt hàng” này. Nhất là trong vài tháng gần đây, khi Tuần văn hóa trà Lâm Đồng lần IV - 2012 sắp khai mạc, đội quân “săn” chè cổ ở Lâm Đồng không chỉ có địa bàn hoạt động gói gọn trong phạm vi của tỉnh, mà còn được mở rộng ra nhiều tỉnh khác, kể cả tỉnh Thái Nguyên - một trong những cái nôi của cây chè VN”.
Ở Lâm Đồng, tính ra, kể từ lúc cây chè lần đầu tiên có mặt đến nay cũng đã trên dưới 80 năm rồi. Theo sử sách ghi lại thì người Pháp lần đầu tiên đưa giống cây này sang cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt) của VN để trồng ở Cầu Đất là vào năm 1927. Sau đó, “chè Cầu Đất” (Đà Lạt) lan xuống vùng Di Linh, Bảo Lộc...; và đến những năm 30, nhiều đồn điền trồng chè của người Pháp và người Việt đã được thiết lập ở Bảo Lộc, Di Linh. Đặc biệt, hiện trên địa bàn TP.Đà Lạt, vườn chè 40ha có tuổi hơn 80 năm tại Cầu Đất đang được quản lý, bảo vệ một cách khá nghiêm ngặt hẳn là một thông tin khiến không ít người quan tâm.
“Vườn chè cổ của nhà máy chè Cầu Đất đã được quy hoạch thành điểm tham quan du lịch và là nơi để phục vụ cho công tác nghiên cứu, là nơi lưu giữ nguồn gene... Nhưng trong thời gian gần đây, nạn đào trộm chè cổ để mang đi bán cho các đầu nậu tại vườn chè cổ Cầu Đất khiến cho chúng tôi khá... đau đầu!” – một cán bộ có trách nhiệm của cơ quan quản lý vườn chè cổ Cầu Đất tỏ ra bức xúc. Không chỉ riêng vùng chè Cầu Đất mà hiện nay, cả vùng chè “già cỗi” ở Di Linh, Bảo Lộc... cũng đang bị các “vệ tinh” của những cơ sở buôn bán chè cổ Lâm Đồng “săn lùng” một cách ráo riết.
Hầu như không có một cơ sở pháp lý để đưa ra chế tài nhằm quản lý nạn săn lùng chè cổ là thực trạng cần được các cơ quan hữu trách quan tâm trong lúc này! (Lao Động 12/12)đầu trang(
Mặc dầu chỉ là xe loại có tải trọng 1,2 tấn nhưng khối lượng gỗ trên xe lên đến khoảng 3-4 tấn khiến cả xe và gỗ lật nhào xuống đường, tài xế bị thương.
11/12, tại km445, trên QL1A đoạn đi qua xóm 2, xã Nghi Long, Nghi Lộc, Nghệ An đã xảy ra vụ tai nạn nói trên. Chiếc xe tải loại nhỏ mang BKS: 37C-049.50 có tải trọng 1,2 tấn, chủ xe là Hoàng Văn Minh chở một khối lượng gỗ lớn đã xẻ, lưu thông theo hướng từ thị trấn Quán Hành (Nghi Lộc) đi Diễn Châu.
Khi đến đoạn đường trên, chiếc xe chạy với tốc độ khá nhanh rồi bất ngờ mất lái, gỗ trên xe (khoảng 40 tấm) lao xuống, chiếc xe cũng lật nhào xuống đường. Hậu quả, toàn bộ gỗ trên xe nằm lăn lóc bên đường, xe bị hư hỏng nặng, nhiều cọc tiêu bên đường bị nhổ lên.
Sau khi xảy ra tai nạn, lực lượng CSGT CA huyện Nghi Lộc đã có mặt tại hiện trường để điều tiết tránh ùn tắc giao thông, đồng thời điều tra nguyên nhân xảy ra tai nạn và làm rõ nguồn gốc số gỗ nói trên. Công an huyện Nghi Lộc cho biết, chiếc tải thùng loại nhỏ đăng ký chỉ chở được 1,2 tấn trong khi đó lái xe lại chở với số lượng gỗ trên là quá lớn có thể lên đến từ 3-4 tấn. (Pháp Luật&Xã Hội 12/12)đầu trang(
Sau hai tháng thực hiện Chỉ thị số 08 ngày 02/7/2012 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh, công tác bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Trước tình khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép trong Khu bảo tồn trong những tháng mùa khô năm nay có những diễn biến phức tạp. Chỉ tính riêng trong tháng 10, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn đã tiến hành lập biên bản 05 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nâng tổng số vụ vi phạm từ đầu năm đến nay lên 90 vụ (trong đó, 15 vụ khai thác, 73 vụ vận chuyển, mua bán, cất giữ, 01 vụ cháy rừng và 01 vụ sử dụng súng săn trái phép).
Để thực hiện tốt công tác quản lý lâm, khoáng sản tại Khu bảo tồn, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn đã chủ động tham mưu cho UBND huyện Na Rì ra Quyết định thành lập thêm 03 tổ chốt liên ngành gồm kiểm lâm, công an, quân sự, quản lý thị trường và cán bộ cấp xã, các tổ chốt được bố trí tại các thôn Kim Vân, Nà Mò thuộc xã Kim Hỷ và tổ chốt Vằng Khít, xã Lương Thượng- những điểm nóng về khai thác gỗ, vàng trái phép. Các tổ chốt liên ngành này có chức năng nhiệm vụ kiểm tra, ngăn chặn, xử lý nghiêm đối với các trường hợp khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép hoặc đưa các chất gây cháy, dụng cụ phục vụ khai thác vàng trái phép vào Khu bảo tồn.
Từ khi đi vào hoạt động, 03 tổ chốt liên ngành đã phát huy tối đa hiệu quả, các tổ chốt thường xuyên trực 24/24 giờ, tiến hành kiểm tra, ngăn chặn các tuyến đường chính, một số đường mòn lên rừng... Không cho các đối tượng vận chuyển xăng dầu, máy móc vào phục vụ khai thác vàng trái phép tại các khu vực Vằng Khít, Nà Mò, Kim Vân, thuộc hai xã Lương Thượng và Kim Hỷ. Đồng thời, tổ công tác còn phối hợp với chính quyền địa phương, tổ liên ngành của huyện và các trạm kiểm lâm Khu bảo tồn tuần tra, kiểm tra, truy quét trên rừng, các lũng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các tổ chức, cá nhân khai thác, vận chuyển lâm sản, khai thác vàng trái phép trong Khu bảo tồn.
Ông Nguyễn Tiến Dũng- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ cho biết: Song song với việc chốt chặn không cho vận chuyển máy móc, nhiên liệu vào khu bảo tồn, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng của huyện, tỉnh tiến hành kiểm tra, truy quét tại 14 điểm khai thác vàng trái phép, phá bỏ 61 lán trại, tiêu hủy 57 máy móc các loại, 4 xe rùa, 150 lít dầu, cắt đứt 6.250 mét vòi dẫn nước, trục xuất ra khỏi khu vực khai thác trên 300 người và tạm giữ 1 máy khoan, 1 cưa xăng, 2 xe máy, 80 lít dầu...
Tuy nhiên, do địa hình hiểm trở, nhân lực thiếu nên việc kiểm tra, truy quét tại các lũng trên rừng chưa được toàn diện, hiện nay còn khoảng 20 địa điểm chưa tổ chức kiểm tra, truy quét được. Tại các địa điểm ở khu vực Tốc Lù, Lũng Quang vẫn còn một số đối tượng nghiện hút cố tình bám trụ khai thác thủ công, trốn trong hang, trên núi mỗi khi có đoàn kiểm tra đến truy quét, làm cho tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội cũng như bảo vệ môi trường trong Khu bảo tồn vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Do đó, việc duy trì các tổ chốt liên ngành đặt tại các điểm lên núi trong Khu bảo tồn sẽ hạn chế tối đa việc vận chuyển xăng dầu, máy móc, phương tiện vào khai thác lâm, khoáng sản trái phép.
Cũng theo ông Nguyễn Tiến Dũng, do lợi nhuận từ việc khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép quá lớn, nhiều đối tượng đã khai thác vàng ở trong Khu bảo tồn đã coi đây là một nghề để kiếm sống nên cố tình bám trụ. Đối tượng vi phạm rất nhiều, chủ yếu là người địa phương kết hợp với người ở các tỉnh khác, hình thức hoạt động tinh vi như: Cử người theo dõi mọi hoạt động của Tổ chốt khi đi kiểm tra, truy quét ở các tuyến đường lên rừng, sử dụng điện thoại di động, dùng các tín hiệu riêng để thông tin báo hiệu cho nhau, đặt bẫy đinh ở các vũng nước...
Do đó, trong thời gian tới Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ rất cần có sự quan tâm thường xuyên của lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong việc cấp bổ sung kinh phí để duy trì hoạt động lâu dài các tổ chốt liên ngành. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể trong việc xử lý vận chuyển máy móc, xăng dầu, phương tiện vào hai xã Kim hỷ và Lương Thượng, vì đây là đầu mối duy nhất của các đối tượng trong việc khai thác trái phép lâm, khoáng sản ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ. (Báo Bắc Kạn 12/12)đầu trang(
Tối 11.12, hơn 100 người dân vẫn vây TAND huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận, nằm vạ tại hội trường tòa án, yêu cầu tòa phải xét xử hai kiểm lâm liên quan đến vụ án phá rừng.
Được biết, sau hai ngày xét xử, cuối giờ chiều 11.12, TAND huyện đã tuyên án đối với 13 bị cáo trong vụ án phá rừng tại xã La Dạ. Theo hồ sơ, cuối năm 2010, Bùi Văn Phượng đã tổ chức cho các đối tượng vào khu vực rừng xã La Dạ khai thác trái phép hàng trăm mét khối gỗ bằng lăng, vận chuyển về Biên Hòa (Đồng Nai) tiêu thụ.
Cơ quan CSĐT CA huyện Hàm Thuận Bắc đã khởi tố vụ án, khởi tố các bị can. Quá trình điều tra, các lâm tặc khai, tố cáo hai kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Bắc đã nhận tiền “bôi trơn” để gỗ được khai thác, vận chuyển trót lọt. Tuy nhiên, việc liên quan đến hai kiểm lâm hiện cơ quan điều tra đã tách ra thành một vụ khác. Cho rằng HĐXX thiếu công bằng, người thân của các bị cáo đã phản ứng và hành xử như trên. (Lao Động 12/12)đầu trang(
Gần đây có một số thông tin phản ánh tình trạng người dân lén lút tổ chức đào mộ tại các nghĩa địa ở các buôn làng dân tộc trên địa bàn huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai để tìm gỗ sưa từ các quan tài chôn người chết.
Những người đào mộ này chủ yếu là thanh niên người dân tộc thiểu số, họ không đào hết cả mộ mà chỉ đào một góc để kiểm tra, nếu quan tài đúng là gỗ sưa thì đào hết cả phần mộ để lấy đem bán.
Ông Hồ Kỳ Trọng - Trưởng Công an huyện Đăk Pơ - cho biết: Sau khi nhận được thông tin, đơn vị đã khẩn trương triển khai lực lượng, tiến hành kiểm tra đến tận các buôn làng dân tộc trên địa bàn.
Ông Trọng khẳng định: Chuyện đào mộ để tìm gỗ sưa trên địa bàn là hoàn toàn không có, thông tin này sai sự thật. Từ đầu năm 2012 đến nay, các nghĩa địa ở các buôn làng đều yên tĩnh, không có sự xáo trộn nào.
Trước đây, khoảng năm 2011 trở về trước đã từng có một số trường hợp người dân lén đào mộ nhưng không phải tìm gỗ sưa mà là tìm những đồ vật dụng bằng đồng, sành sứ chôn theo người chết để đem bán. Việc làm này đã được lực lượng công an và các cấp chính quyền địa phương ngăn chặn có kết quả, hơn nữa việc chôn các loại vật dụng có giá trị theo người chết trong các vùng đồng bào dân tộc cũng không còn nhiều, tập tục lạc hậu này đang dần được xóa bỏ. (Theo TTXVN 12/12; Dân Trí 12/12; Pháp Luật Việt Nam 12/12)đầu trang(
Ngày 17-10-2012 tại hội trường lớn của Hội nghị COP11 (Liên Hiệp Quốc) ở Hyderabad (Ấn Độ) có ba nhà khoa học được nhận giải thưởng MIDORI về Đa dạng sinh học năm 2012. Đó là GS Võ Quý (Việt Nam), GS. Juan Carlos Castilla (Chile) và GS. Rodrigo Gamez-Lobo (Costa Rica). Phần thưởng này được ông B.F de Souza Dias- Trưởng ban Thư ký của Công ước Đa dạng sinh học- đánh giá là "Giải Nobel về Đa dạng sinh học".
Ba nhà khoa học này được chọn ra từ danh sách 145 nhà khoa học được cân nhắc từ 50 quốc gia khác nhau. Mỗi người không chỉ nhận được số tiền 100.000 USD và một Cup mà còn làm rạng danh quốc gia mà họ là người đại diện.
Trước hàng trăm chính khách, các quan chức cao cấp và các nhà khoa học, GS Võ Quý đã chia sẻ: "Tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào đa dạng sinh học để tồn tại. Nhưng ngày nay, tốc độ các loài mất đi nhanh chóng song hành với mức tăng dân số và tiêu thụ tài nguyên lại đặt gánh nặng lên môi trường sống và các loài động thực vật hoang dã. Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có thành công để tìm ra một cách thức để tồn tại và phát triển trong giới hạn vốn có của tự nhiên hay không.
Đây là lúc phải hành động ngay lập tức. Chậm trễ sẽ làm tăng mức độ suy thoái đa dạng sinh học... Không có giải pháp duy nhất để giải quyết vấn đề. Mỗi thành viên của cộng đồng toàn cầu đều có một vai trò: một số làm những việc lớn, một số làm những việc nhỏ, nhưng mỗi người đều đóng góp phần mình vào giải quyết toàn bộ vấn đề. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều cần hợp tác để giải quyết vấn đề này, nếu không tất cả chúng ta sẽ bị ảnh hưởng bởi vì tất cả chúng ta đều chia sẻ một hành tinh – Trái đất”.
Cả ba nhà khoa học này sau đó được mời đến Tokyo để tham gia diễn đàn về Đa dạng sinh học tổ chức tại hội trường U Thant của ĐH Liên Hợp Quốc. Tại đây GS Võ Quý đã có buổi nói chuyện trước 300 nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách về việc Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
GS Võ Quý sinh năm 1929 tại vùng đất giàu truyền thống hiếu học xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Từ thuở nhỏ ông đã có duyên với thiên nhiên, thích quan sát, khám phá, tìm tòi những bí ẩn ở xung quanh. Năm 1946, ông thi vào Trường Quốc học Huế và là một trong bốn học sinh người Nghệ - Tĩnh đã đỗ vào trường khoá ấy. Tuy học 4 lớp khác nhau, song 4 anh em đều nhắc nhở nhau phải học làm sao để đứng đầu lớp. Nhưng chỉ học được vài tháng thì thực dân Pháp đánh vào Huế, ông phải về quê làm ruộng. Một năm sau, Trường chuyển ra Hà Tĩnh, ông được đi học trở lại và thế là ước mơ của ông lại được chắp cánh.
Ông đến với nghề sư phạm như một định mệnh. Ông kể: "Lúc đầu tôi thích ngành Y lắm. Ba lần toan từ bỏ nghề "gõ đầu trẻ" nhưng không thành. Cực chẳng đã, nghĩ mình không thể thoát khỏi nghề "gõ đầu trẻ" thì phải làm thật tốt. Rồi mình trở nên yêu nghề thật sự. Thế mà lại hay".
Năm 1949, ông bắt đầu sự nghiệp cầm phấn ở trường cấp II Liên Việt tại xã nhà (nay là trường THCS Nguyễn Biểu, Hà Tĩnh). Năm 1950, ông được Tỉnh uỷ Hà Tĩnh điều sang dạy tại trường cấp III Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh). Tiếp đó, ông được chuyển đến Trường Sư phạm trung cấp Liên khu IV (Nghệ An), trường cấp III Lam Sơn (Thanh Hóa), rồi Nha Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục).
Năm 1951 ông được chọn sang học tại Khu Học xá trung ương (Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc) và ông đã là 1 trong số 7 sinh viên Sinh học đầu tiên được đào tạo ở Trường Sư phạm Cao cấp tại Khu Học xá Trung ương và sau đó là người gắn bó trên nửa thế kỷ với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu tại Khoa Sinh học Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (sau là ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội). Ông đã từng làm Chủ nhiệm Khoa Sinh học (1980-1990) và ông đã xây dựng nên Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (1985) và hiện là Chủ tịch danh dự của Trung tâm này, (nay trực thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội).
Ông là chuyên gia số 1 về Điểu học và sau đó là chuyên gia hàng đầu về Đa dạng sinh học ở nước ta. Bằng những nghiên cứu xuất sắc của mình và các cộng sự, GS.TS.NGND Võ Quý đã lần lượt được trao tặng rất nhiều phần thưởng quý giá: Huy chương Vàng về thành tích bảo vệ động vật hoang dã và xây dựng khu bảo vệ thiên nhiên do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) trao tặng (1988); là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất cho đến ngày hôm nay nhận Bằng Danh dự Global 500 của Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc.(1992);
Nhận Huy chương John Philipps của Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) và Giải thưởng hạng Nhất của Đức về bảo vệ môi trường sinh thái (1994); Nhận Giải thưởng về môi trường của Trường ĐH Michigan , Hoa Kỳ (1995); Nhận Giải thưởng "Hành tinh Xanh" do Tổ chức ASAHI Nhật Bản trao tặng do có những giải pháp cải tạo môi trường thế giới và dự báo về sự phát triển môi trường trong tương lai.
Trị giá Giải thưởng này là 50 triệu yên, tương đương 6 tỷ đồng Việt Nam (2003)- đây là một giải thưởng quốc tế lớn nhất về môi trường, có giá trị tương đương với Giải thưởng Nobel (vì Nobel không có phần thưởng dành cho môi trường) được trao cho những cá nhân và tổ chức đã có thành tích nổi bật trong lĩnh vực này; là một trong 35 nhà khoa học được bầu chọn là Anh hùng môi trường theo Tạp chí Time, Hoa Kỳ (2008).
Với một cuộc sống thanh bạch, giản dị, GS Võ Quý đã tặng toàn bộ giải thưởng Pew Scholars 150.000 USD của ĐH Michigan (Hoa Kỳ) để phục vụ cho việc nghiên cứu bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Hà Tĩnh. Ông cũng đã dành toàn bộ Giải thưởng Hành tinh Xanh trị giá 50 triệu yên cho việc nghiên cứu và bồi dưỡng cán bộ ngành môi trường. Ông đang dành nhiều học bổng để cho các cán bộ trẻ được đi đào tạo tại nước ngoài , nhằm kế tục sự nghiệp mà ông đã dày công xây dựng và gắn bó. (Đại Đoàn Kết 12/12)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TS Lê Đức Chương được Bộ Tài nguyên&Môi trường đưa vào hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A (ĐN 6&6A) vài tuần trước khi diễn ra cuộc họp đầu tiên của hội đồng ở Hà Nội ngày 28-11.
Sẽ không có gì để bàn nếu ông không phải là Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ & Môi trường, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (gọi tắt là Bộ Văn hóa).
Ngày 31-10, đúng ngày UBND tỉnh Đồng Nai kiến nghị Thủ tướng Chính phủ “không đầu tư dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A”, phóng viên Tiền Phong cũng gửi đăng ký làm việc đến Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa.
TS Chương liên lạc với phóng viên nói ông được giao trả lời. Ông cho biết Bộ Văn hóa chưa thực địa gì về thủy điện ĐN 6&6A nên chưa thể trả lời về ảnh hưởng của chúng đối với các giá trị di sản của Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Ngay từ đó, người viết bài này đã thắc mắc, tại sao việc lại được ban chuyền tréo ngoe như vậy.
Theo Quyết định số 27/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 31-3-2008 của Bộ Văn hóa, Cục Di sản Văn hóa “có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa”.
Còn theo Quyết định số 29/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 31-3-2008, đơn vị mà ông Chương phụ trách chỉ có nhiệm vụ “Tham gia kiểm tra, đánh giá tác động môi trường, cảnh báo môi trường của các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững trong lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch”.
Thế thì chả nhẽ hai dự án thủy điện ĐN 6&6A thuộc về “các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch”? Y như rằng ông Chương có bản nhận xét mà ít ai tin đấy là sản phẩm của cơ quan đang thực hiện “chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa”.
Sau bài bình luận “Phải làm cho rõ” trên Tiền Phong (số 339, thứ ba 4-12-2012), người viết bài này tiếp tục cố gắng liên lạc với ông để làm rõ những vấn đề nêu trong bài.
Ông vẫn chưa chịu tiếp phóng viên. Thay vào đó, ông hồi âm qua email rằng ông “xin phép không trả lời và hãy nghiên cứu kỹ bài “Nhận xét báo cáo tác động môi trường” của ông bởi ông “có tư duy độc lập”.
Tiếp đó, ông còn trấn an “Đừng sợ thủy điện nó như là con ngáo ộp tàn phá môi trường, tàn phá Rừng Quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Sao chúng ta không làm những việc tích cực để bảo tồn Rừng Cát Tiên tươi tốt hơn!”.
Nhiều người hỏi tại sao Bộ TN&MT lại mời một người chưa tường tận nguồn cơn về thủy điện vào hội đồng? (Tiền Phong 11/12)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Tờ Guardian (Anh) ngày 11-12 đưa tin Costa Rica trở thành quốc gia đầu tiên của Mỹ Latin ban hành luật cấm săn bắn giải trí vừa được quốc hội nước này thông qua.
Costa Rica có dân số 4,5 triệu người, là một trong những quốc gia trên thế giới có mức đa dạng sinh học cao với 25% diện tích đất được thành lập các khu bảo tồn và công viên quốc gia.
Theo luật mới ban hành, những người săn bắn giải trí - không phải vì mục đích nghiên cứu khoa học - nếu vi phạm luật sẽ đối mặt với hình phạt 4 tháng tù giam hoặc xử phạt hành chính lên đến 3.000 USD.
Ngoài ra, nếu người dân có hành vi bắt trộm động vật hoang dã hoặc nuôi bất hợp pháp các loài động vật quý hiếm của Costa Rica như báo đốm châu Mỹ, báo sư tử hay rùa biển khi phát hiện sẽ bị đưa đi cải tạo.
“Chúng tôi điều tra được tại Costa Rica xuất hiện dịch vụ các tour du lịch săn bắn bí mật với chi phí khoảng 5.000 USD/người. Do đó, việc quốc hội thông qua luật cấm săn bắn giải trí là rất cần thiết trong công tác bảo vệ động vật hoang dã”, phó giám đốc Arturo Carballo của Tố chức môi trường Apreflofas (tại Costa Rica) nói.
Trước khi được quốc hội thông qua luật mới trên, cách đây 2 năm đã có 177.000 chữ ký kêu gọi ủng hộ ban hành luật cấm săn băn giải trí. (Tuổi Trẻ 12/12)đầu trang(
11/12, lực lượng hải quan Malaysia vừa tịch thu lượng lớn ngà voi châu Phi trị giá gần 20 triệu USD và bắt giữ nhiều đối tượng liên quan. Đây là vụ bắt giữ ngà voi lớn nhất của nước này kể từ đầu năm nay.
Vụ bắt giữ xảy ra tại cảng Klang gần Kuala Lumpur, khi chuyến hàng lậu chở 24 tấn ngà voi xuất phát từ cảng Lome ở Togo đang trên đường tới Trung Quốc.
Qua khám xét, lực lượng chức năng phát hiện số hàng cấm này được dấu trong hai container chứa gỗ lát sàn.
Nhiều năm qua, Malaysia trở thành điểm trung chuyển ngà voi bất hợp pháp sang nhiều thị trường ở châu Á.
Theo luật pháp Malaysia và Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã, người buôn lậu sẽ bị phạt tù 5 năm và nộp phạt khoảng 500.000 ringit. (Vov.vn 12/12)đầu trang(
Một người đàn ông bang Miami của Mỹ có thể đối mặt với mức án 20 năm tù vì tội buôn lậu chim quý từ Cuba.
Ông Alberto Diaz Gonzalez mới thú nhận việc buôn lậu động vật hoang dã từ Cuba. Ông đã bị bắt cùng với tang vật là 16 con chim được giấu trong những chiếc túi nhỏ khâu bên trong quần.
Dự kiến Diaz bị tuyên án vào tháng 2 năm tới, ông có thể phải đối mặt với mức án tối đa là 20 năm tù, 3 năm quản thúc và phạt tiền 250.000 USD.
Theo hồ sơ tòa án, hoạt động buôn lậu của Diaz bị vỡ lở khi ông từ Havana, Cuba đến Miami vào ngày 20/10.
Diaz viết trên tờ khai hải quan rằng ông ta không mang theo động vật hoang dã và ông cũng trả lời các nhân viên hải quan như vậy.
Tuy nhiên, khi nhân viên hải quan kiểm tra người Diaz, họ đã phát hiện được những con chim giấu trong những chiếc túi nhỏ ở phía bên trong quần của người đàn ông này. (Pháp Luật Việt Nam 12/12; Dân Trí 12/12)đầu trang(
Cộng đồng khoa học tìm ra một cách đặc biệt để tôn vinh Tổng thống Mỹ Barack Obama khi họ dùng tên ông để gọi một loài thằn lằn đã biến mất.
Obamadon gracilis là tên của một loài thằn lằn cỡ nhỏ từng tồn tại cách đây khoảng 65 triệu năm. Chúng ăn côn trùng và có chiều dài thân khoảng 30 cm, Boston Globe đưa tin. Các nhà khoa học của Đại học Yale và Đại học Harvard đã nghiên cứu những mẫu hóa thạch của chúng để tìm hiểu nguyên nhân khiến chúng tuyệt chủng cùng thời với khủng long. Sau đó họ quyết định gọi chúng là Obamadon gracilis.
Trước đây giới chuyên môn tin rằng vụ va chạm giữa một thiên thạch với địa cầu khiến khủng long tuyệt chủng, song các loài thằn lằn cỡ nhỏ vẫn sống sót. Nhưng nhóm nghiên cứu của Đại học Yale và Đại học Harvard khẳng định rằng tất cả những loài có trọng lượng trên 450 g, bao gồm thằn lằn, đều diệt vong.
Nicholas Longrich, một nhà cổ sinh vật học của Đại học Yale, khẳng định rằng những loài thằn lằn ngày nay bắt đầu xuất hiện sau khi khủng long tuyệt chủng.
Đây là lần thứ ba người ta dùng tên ông Obama để gọi các loài. Trước đó tên của ông được đặt cho một loài cá (Etheostoma obama) và một loài địa y (Caloplaca obamae). (Vnexpress.net 11/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa