Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 10/12, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức họp báo thông báo về việc Ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nam Phi, về hợp tác Bảo tồn và Bảo vệ đa dạng sinh học.
Bản ghi nhớ được xây dựng dựa trên mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia và các mục tiêu, nguyên tắc của Công ước Đa dạng sinh học và Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) mà 2 nước là thành viên.
Mục tiêu của bản ghi nhớ là nhằm tăng cường sự hợp tác giữa Việt Nam và Nam Phi trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, thực thi pháp luật và tuân thủ CITES cũng như các văn bản pháp lý và Công ước liên quan khác.
Việc thực hiện Biên bản ghi nhớ sẽ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Tài nguyên nước và Môi trường Nam Phi chịu trách nhiệm, với sự hỗ trợ của các cơ quan thực thi pháp luật hai nước, sự tham gia của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các cơ quan ngôn luận.
Ngay sau khi ký kết Biên bản ghi nhớ, đoàn công tác của Nam Phi và Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để thực thi cam kết của hai Chính phủ, trong đó tập trung vào tăng cường hợp tác trong việc phòng chống nạn buôn lậu mẫu vật tê giác và thực thi các quy định của CITES, đồng thời thảo luận thúc đẩy hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên.
Tại buổi họp báo, bà Edna Molewa, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên nước và Môi trường Nam Phi cho biết các cơ quan chức năng của Nam Phi rất mong muốn nhận được sự phối hợp của các đối tác phía Việt Nam, để sớm ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép sừng tê giác đồng thời khẳng định Nam Phi cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát khẳng định Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các Công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ đa dạng sinh học. Bộ đã chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp tăng cường kiểm tra, kiểm soát để ngăn chặn tình trình buôn bán, vận chuyển trái phép mẫu vật sừng tê giác và các loại thuộc Phụ lục CITES qua cửa khẩu đường bộ, đường không và đường biển, đặc biệt là đối với các chuyển hàng từ châu Phi.
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định cấm nhập khẩu tất cả các mẫu vật tê giác vào Việt Nam trong năm 2012. Từ năm 2004 tới nay, các cơ quan chức năng đã bắt giữ và xử lý 12 vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác từ cChâu Phi.
Theo thống kê, năm 2011 có 448 cá thể tê giác trắng bị săn bắn trái phép tại Nam Phi. Do lo ngại tình trạng săn bắn trộm diễn ra ngày càng tăng, từ tháng 2/2012, Chính phủ Nam Phi đã cấm không cho người Việt Nam được săn bắn thể thao hợp pháp tại Nam Phi, nhưng tính đến ngày 27/11/2012, số tê giác bị giết trái phép đã lên tới 588 cá thể. Dự đoán đến hết năm 2012 sẽ có hơn 600 cá thể tê giác bị săn bắn trái phép. (Tin Tức 11/12; VietnamPlus.vn 10/12; Vnmedia 10/12; An Ninh Thủ Đô 10/12; VTV 10/12; Tuổi Trẻ 11/12) đầu trang(
“Đóng cửa rừng”, về lý thuyết hẳn nhiên là diện tích rừng sẽ không còn bị thu hẹp. Thế nhưng căn cứ thực tế, nhiều ý kiến cho rằng “không chắc như vậy”, thậm chí còn dẫn tới những hệ lụy “lợi bất cập hại”.
Trong khu vực Duyên hải miền Trung, Quảng Ngãi là tỉnh đi tiên phong trong việc đóng cửa rừng (năm 2002). Sau 10 năm “đóng cửa”, thực tế cho thấy những cánh rừng tự nhiên ở đây không những đã không được bình yên mà còn bị “bỏ ngỏ”, mặc sức cho lâm tặc quấy phá.
Theo ông Trần Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi, từ khi đóng cửa rừng, những Cty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh này bỗng lâm vào thế bí. Bởi sau khi không còn khai thác rừng tự nhiên, chỉ còn làm nhiệm vụ trồng và kinh doanh rừng sản xuất, nhưng vẫn còn phải “lãnh” trách nhiệm bảo vệ những diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn, họ không biết lấy đâu ra kinh phí để thực hiện công tác bảo vệ. “Nguồn thu từ khai thác rừng SX chỉ đủ tái SX, trả lương cho CBCNV.
Còn những diện tích rừng tự nhiên tuy có trách nhiệm phải bảo vệ nhưng lại không được cấp kinh phí. Nếu vì không có kinh phí mà không lo bảo vệ, để xảy ra nạn phá rừng trái phép trên địa bàn thì doanh nghiệp sẽ bị quy trách nhiệm. Trước những bất cập này, các doanh nghiệp lâm nghiệp đã báo cáo lên UBND tỉnh nhiều lần nhưng tỉnh cũng... bí”, ông Dũng nói.
Khi còn khai thác rừng tự nhiên, những đơn vị chủ rừng dốc sức đầu tư giao thông để vận chuyển lâm sản, CBCNV của các chủ rừng thường xuyên có mặt trong rừng, nên dẫu lâm tặc có lăm le khai thác trái phép cũng không dám liều. Từ khi “đóng cửa”, rừng vắng bóng lực lượng BVR, lập tức diễn ra cảnh “vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm”. Rừng vắng, sẵn đường giao thông của các chủ rừng để lại, lâm tặc ung dung phá phách.
Ông Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi, cho biết thêm: “Những diện tích rừng tự nhiên mà các Cty lâm nghiệp có trách nhiệm bảo vệ thường nằm giáp ranh với nhiều huyện miền núi khác trong tỉnh, thậm chí có địa bàn giáp ranh với cả huyện An Lão (Bình Định). Nếu không được bảo vệ tốt thì đó là “vùng đất hứa” của lâm tặc. Khi còn khai thác, các chủ rừng có kinh phí trồng lại rừng, tổ chức tuần tra, bảo vệ và thực hiện công tác PCCC rừng.
Thế nhưng trong thời gian gần đây, chúng tôi nhận thấy xảy ra hiện tượng các chủ rừng rất ngại đi kiểm tra rừng vì không có kinh phí chi cho anh em làm công tác này. Và nếu phát hiện được những vụ khai thác lậu của lâm tặc, họ cũng chỉ xua đuổi chứ không vây bắt như trước đây. Bởi khi bắt, phải lập biên bản, vận chuyển lâm sản về cơ quan, rồi phải mời đoàn này đoàn kia (công an, kiểm lâm, thuế...) đến hiện trường thì lấy nguồn tiền đâu ra mà chi phí”.
Theo quan điểm của ông Trần Dũng, nếu đối tượng rừng đưa vào khai thác là rừng có trữ lượng trung bình (từ 101 - 200 m3/ha) trở lên, quần thể cây rừng đã đạt tuổi thành thục công nghệ. Nếu không khai thác cây rừng sẽ dần chuyển sang giai đoạn già cỗi (thành thục tự nhiên), dễ bị bọng, sầu, rỗng ruột, chết khô... không chỉ gây lãng phí về tài nguyên mà còn làm ảnh hưởng xấu đến môi trường rừng. “Khi còn khai thác, trong 1 ha rừng, các đơn vị chỉ chọn khai thác có mười mấy cây, mà toàn những cây đã bị sâu bệnh và mục ruỗng, những cây tốt để lại để gây giống.
Theo nguyên tắc lâm sinh, đây cũng là 1 cách làm sạch rừng và làm giàu thêm cho rừng. Trong khi đó, nếu rừng bị bỏ ngỏ, lâm tặc sẽ lén lút khai thác trái phép theo những cách ngược lại là khai thác trọc hoặc chỉ chọn những cây tốt”, ông Dũng nói.
Tham khảo thêm tình hình khai thác rừng tự nhiên tại địa bàn Bình Định trong thời gian qua, ông Nguyễn Văn Nghĩa, GĐ Cty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh (Vân Canh), cho biết thêm: “Cây gỗ mà chúng tôi đưa vào khai thác phải đạt được các chỉ tiêu về lâm học và phân bố tương đối đều trên diện tích khai thác. Cường độ khai thác không quá 35% trữ lượng rừng. Trong quá trình khai thác, chúng tôi còn chặt hạ, loại bỏ những cây cong queo, sâu mục, cụt ngọn; cây phi mục đích, chèn ép, thắt nghẹt cây gỗ khác; cải thiện chất lượng rừng, tạo điều kiện cho thế hệ cây tái sinh tầng dưới phát triển. Sau khai thác, rừng được đưa vào nuôi dưỡng, quản lý bảo vệ”.
Từ hoạt động khai thác và các hoạt động lâm sinh khác, các đơn vị chủ rừng ở Bình Định ngoài giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động của công ty, còn tạo được công việc cho hàng ngàn lao động địa phương khi tham gia nghề rừng. Cuộc sống của những hộ dân sống gần rừng được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, hàng năm, các đơn vị chủ rừng còn trích từ lợi nhuận kinh doanh hỗ trợ người nghèo, giúp địa phương phát triển kinh tế và xây dựng một số công trình phúc lợi.
Nếu Bình Định “đóng cửa rừng”, tổ chức giao khoán rừng tự nhiên, chỉ tính với mức 200.000 đồng/ha/năm như hiện nay thì với 24.469 ha rừng tự nhiên trên địa bàn 2 huyện Vân Canh và Vĩnh Thạnh, hàng năm Bình Định phải chi ra 4.894 triệu đồng cho công tác giao khoán BVR. Trong khi đó, việc nhận khoán BVR hiện đang được đánh giá là kém hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu do mức khoán BVR thấp, người nhận khoán không nhiệt tình, không thường xuyên đi thăm, kiểm tra rừng; lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách quá mỏng và nguồn kinh phí chi cho các hoạt động còn eo hẹp, khó khăn. Đơn cử, hàng chục ha rừng tự nhiên ở huyện Vân Canh mặc dù đã được BQL Rừng phòng hộ huyện này giao khoán cho người dân địa phương nhưng trong thời gian qua vẫn liên tục bị tàn phá.
Không chỉ vậy, rừng tự nhiên ở Vân Canh và Vĩnh Thạnh chủ yếu nằm ở vùng giáp ranh với tỉnh Gia Lai. Tiếp cận rừng từ phía Bình Định thì phải leo dốc, đường đi hiểm trở. Thế nhưng tiếp cận từ phía tỉnh Gia Lai thì rất thong dong vì đường đi bằng phẳng. Do vậy, nếu công tác quản lý bảo vệ rừng không tốt, thì rừng rất dễ bị xâm hại từ phía Gia Lai. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/12)đầu trang(
Thời gian qua, Chính phủ, Bộ NN&PTNT đã có nhiều hội thảo về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên toàn quốc. Vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay là nên hay không nên đóng cửa rừng.
Trong cuộc họp trung tuần tháng 11 vừa qua, có nhiều ý kiến cho rằng: Vấn đề quan trọng là ở công tác quản lý khai thác chứ không phải đóng cửa rừng, hơn nữa rừng đang “sống” mà không khai thác thì sẽ trở thành rừng “chết”. Hiện, cả nước còn khoảng 10,3 triệu hecta rừng, tổng trữ lượng 862 triệu mét khối gỗ, trong đó có 4,3 triệu hecta rừng tự nhiên với trữ lượng 350 triệu mét khối gỗ nhưng mỗi năm chỉ khai thác 110.000m3.
Theo ông Nguyễn Ngọc Lung, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, việc cắt giảm khai thác hoặc không khai thác gỗ là trái với nguyên lý khoa học về lâm sinh, làm tăng chênh lệch giá, tăng khan hiếm gỗ tự nhiên, tất yếu làm bùng phát nạn buôn lậu, khai thác gỗ trái phép. Nhưng việc khai thác phải gắn với phát triển rừng bền vững, bởi có khai thác thì mới điều chỉnh được cấu trúc lâm học, mật độ, trẻ hóa lâm phần (thế hệ cây già cỗi, sâu bệnh phải được khai thác nhằm tăng chất lượng rừng).
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang xây dựng thủy điện là một trong những nguyên nhân khiến diện tích rừng bị thu hẹp. Từ năm 2006 đến nay, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.792ha. Trong đó, rừng đặc dụng hơn 3.000ha, rừng phòng hộ 4.400ha, rừng sản xuất hơn 12.300ha. Trên thực tế, số diện tích đất rừng chuyển đổi sang làm thủy điện còn lớn hơn con số nêu trên do quá trình xây dựng thủy điện sẽ kèm theo nhu cầu về đất tái định cư, đất sản xuất của người dân bù vào diện tích rừng bị ngập nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này, mới có 8/29 tỉnh thực hiện việc trồng lại rừng sau chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang làm thủy điện với 735ha, bằng 3,7% diện tích chuyển đổi.
Hiện, một số công ty lâm nghiệp thực hiện phương án quản lý sử dụng rừng bền vững và đã được Bộ NN&PTNT phê duyệt, theo chu kỳ 35 năm. Sau khi được cấp phép, họ đầu tư xây dựng phương án phát triển và khai thác rừng theo một quy trình chặt chẽ theo từng giai đoạn, khai thác rừng đi đôi với đầu tư phát triển vốn rừng.
Từ thực tế này, nhiều ý kiến cho rằng, việc đóng cửa rừng chưa phải là giải pháp tốt nhất để hạn chế việc mất rừng. Muốn làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, kết hợp với tuyên truyền ý thức pháp luật trong việc quản lý và bảo vệ rừng, ngăn ngừa, xử lý nghiêm những vụ vi phạm lâm luật, và có chế tài đối với chủ đầu tư thủy điện trong việc trồng lại rừng bù vào số đã chuyển mục đích.
Để quản lý, bảo vệ rừng một cách bền vững, phải tuân thủ sự phát triển tự nhiên của rừng, khai thác rừng phải gắn với việc phát triển vốn rừng, gắn trách nhiệm với lợi ích của doanh nghiệp và cộng đồng cư dân sống gần rừng, tạo cơ hội cho cộng đồng tiếp cận kiểm soát tài nguyên rừng, bảo tồn và phát triển rừng, từng bước xã hội hóa hoạt động quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên. (Kinh Tế Nông Thôn 10/12)đầu trang(
Sau khi sắp xếp, chuyển đổi các lâm trường quốc doanh thành các công ty TNHH một thành viên, đến nay tỉnh Đắk Nông chỉ còn lại 14 công ty lâm nghiệp (CTLN). Tuy nhiên, hầu hết các CTLN đều lâm vào tình cảnh thiếu vốn, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, hoạt động cầm chừng, đời sống cán bộ công nhân khó khăn, thậm chí còn không hoàn thành nhiệm vụ chính là quản lý, bảo vệ rừng...
Sau khi sắp xếp chuyển đổi, về cơ bản các CTLN được mang tên mới, nhưng vẫn chưa có nhiều sự khác biệt cả về bộ máy quản lý cũng như phương thức hoạt động so với thời còn mang tên lâm trường là bao.
Một ví dụ điển hình là trước đây, ông Trần Quyết Tâm là Giám đốc Lâm trường Trường Xuân (huyện Đắk Song), sau khi lâm trường được chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trường Xuân thì ông Tâm vẫn giữ chức Giám đốc công ty. Tương tự, ông Phạm Minh Chính, từng là Giám đốc Lâm trường Đắk Wil (huyện Cư Jút) và sau khi lâm trường được chuyển đổi, ông Chính vẫn là Giám đốc…
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Nông thì thời gian qua, việc sắp xếp tổ chức bộ máy cán bộ quản lý của các CTLN còn chưa xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp mà chỉ làm theo lộ trình chung chung. Do vậy, bộ máy tổ chức mới của các CTLN đều do các lâm trường chuyển qua chứ chưa có sự thay đổi về “chất”. Hầu hết giám đốc, phó giám đốc, cán bộ ở những phòng, ban chuyên môn đều từng là lãnh đạo các lâm trường trước kia. Ngoài ra, công tác sắp xếp, bố trí cán bộ cũng mới chỉ dừng lại ở bước luân chuyển cơ học mà chưa có sự đào tạo, chuẩn bị kỹ lưỡng.
Việc không có sự đổi mới về con người dẫn đến trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tại các CTLN cũng đang “giậm chân tại chỗ”.
Theo chủ trương chung, việc sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốc doanh là nhằm đạt tới 3 mục tiêu: “Sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng”; “nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các CTLN”; “tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội”. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hầu hết các CTLN đều chưa biết cách tận dụng lợi thế về tư liệu sản xuất để đạt được 3 mục tiêu trên mà còn để mất rừng và lãng phí đất đai…
Điển hình như Công ty TNHH Lâm nghiệp Quảng Tín được giao quản lý hơn 9.800ha rừng. Thế nhưng, trong giai đoạn từ 2007-2009, do việc thực hiện dự án liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp không hiệu quả, công ty đã để mất trắng hơn 1.000ha rừng. Một trường hợp khác đó là Công ty Lâm nghiệp Đắk Song (nay là Công ty Lâm nghiệp Thuận Tân). Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, bình quân mỗi năm, có khoảng từ 15 - 20ha rừng thuộc lâm phận của công ty quản lý bị người dân chặt phá, biến thành rừng nghèo kiệt hoặc đất trống, đồi núi trọc.
Không chỉ để mất rừng, các CTLN còn để đất hoang hóa, dẫn đến việc lãng phí tư liệu sản xuất một cách vô tội vạ. Nếu như vào thời điểm năm 2007, tổng diện tích rừng tự nhiên mà 14 CTLN quản lý là 189.497ha thì đến nay chỉ còn 148.458ha. Đồng nghĩa với việc sau gần 6 năm chuyển đổi, các CTLN để mất hơn 41.000ha rừng. Cũng từ năm 2007 đến nay, các CTLN chỉ trồng được vỏn vẹn hơn 5.000ha rừng, cộng với các doanh nghiệp thuê đất trồng được gần 7.000ha rừng thì diện tích đất không có rừng còn lại là hơn 29.000ha hầu như đang bị bỏ trống hoặc bị người dân xâm canh, chiếm dụng.
Sau khi chuyển đổi, diện tích đất lâm nghiệp mà các CTLN được Nhà nước giao quản lý và sử dụng là 210.347ha (chiếm 32,3% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh). Tính bình quân, mỗi CTLN đang quản lý, sử dụng hơn 15.000ha đất lâm nghiệp mà không phải trả tiền thuê đất. Thế nhưng, theo kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong các CTLN mà UBND tỉnh Đắk Nông vừa công bố thì trung bình 1ha đất lâm nghiệp chỉ đem lại lợi nhuận 51.000 đồng/1năm.
Trong khi đó, theo Quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 30/12/2010 của UBND tỉnh Đắk Nông thì giá cho thuê 1ha đất lâm nghiệp là 75.000 đồng/năm. Như vậy, so với việc cho thuê và việc giao cho các CTLN quản lý, sử dụng 210.347ha đất lâm nghiệp, mỗi năm tỉnh này sẽ bị thất thu hàng chục tỷ đồng.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Đắk Nông, nguồn thu chủ yếu của các CTLN hiện nay đều lệ thuộc vào chỉ tiêu khai thác gỗ được giao hàng năm, nên doanh thu vừa thấp, vừa không ổn định. Biên độ giao động giữa tăng hoặc giảm doanh thu năm sau so với năm trước tại các CTLN là tương đối lớn và đều vượt xa so với tiêu chí xếp hạng doanh nghiệp Nhà nước theo hướng dẫn tại Thông tư số 115/TT-BTC của Bộ Tài chính. Mặt khác, mặc dù đến nay đã được Nhà nước đầu tư tổng cộng hơn 194 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận hàng năm mà các CTLN thu được lại rất thấp, chỉ đạt bình quân dưới 6%.
Chỉ tính riêng giai đoạn từ 2009-2011, tổng bình quân lợi nhuận của 14 CTLN chỉ là hơn 9 tỷ đồng/năm. Điều đáng nói là lợi nhuận mà các CTLN có được không phải là từ kết quả sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là từ việc khai thác gỗ sẵn có. Bên cạnh đó, chỉ số trung bình về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của 14 CTLN chỉ đạt 1,84%/năm. Nghĩa là trong 1 năm, 1 CTLN đầu tư 1 triệu đồng thì chỉ thu về chưa được 20.000 đồng lợi nhuận. Trong khi đó, chỉ số trung bình về hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực khác trên địa bàn tỉnh là 20%.
Nói về hiệu quả đầu tư vào các CTLN, ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN&PTNT đánh giá: “Mặc dù Nhà nước đã đầu tư vào các CTLN với số tiến rất lớn, nhưng hiệu quả đạt được lại chưa tương xứng với những gì đã bỏ ra. Tuy nhiên, việc duy trì sự tồn tại của các CTLN là điều bắt buộc, nên trong tương lai, cần phải có biện pháp để việc đầu tư không bị lãng phí, giúp các CTLN khởi sắc hơn”.
Theo ông Trần Xuân Hải, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Nông thì thay vì để các CTLN phải tự “bơi” như hiện nay, Nhà nước cần định hướng rõ mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển các CTLN, đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể về đất đai; quản lý, sử dụng rừng; khai thác, chế biến lâm sản; tài chính, đầu tư; khoa học công nghệ và tổ chức hoạt động. (Công An Nhân Dân 10/12)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Tin từ văn phòng chương trình REDD+ Việt Nam (chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng) cho hay Chính phủ Na Uy đã đồng ý tài trợ cho Việt Nam 30 triệu USD để tiếp tục thực hiện chương trình.
Trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 18 (COP18) các bên tham gia công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Doha, Qatar, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Na Uy đã ký tuyên bố chung về “Hợp tác thực hiện sáng kiến giảm phát thải thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển REDD+”.
Tuyên bố chung nhằm thúc đẩy hợp tác cấp Chính phủ giữa hai nước góp phần giúp Việt Nam thực hiện thành công chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu thông qua việc quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói giảm nghèo.
Đồng thời, Na Uy cam kết tài trợ cho chương trình REDD+ Việt Nam giai đoạn từ 2012-2015 nhằm tiếp tục nâng cao năng lực về tổ chức, thể chế và kỹ thuật thực hiện REDD+ tại 6 tỉnh, với khoản kinh phí viện trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD.
Năm 2009, Na Uy đã tài trợ cho việc chuẩn bị thực hiện REDD+ tại Việt Nam với tổng số kinh phí gần 4,4 triệu USD. (Người Lao Động 11/12)đầu trang(
9/12, Cục kiểm lâm cho biết, tính đến 9/12, khu vực Krông Pa, thị xã Ayun Pa đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ngoài ra, ở các khu vực: Long Điền, Tân Thành, Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu); khu vực Long Thành, Nhơn Trạch, Xuân Lộc (Đồng Nai); khu vực Sa Thầy, thị xã Kon Tum (Kon Tum); khu vực Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) nguy cơ cháy rừng cũng đang ở cấp IV, cấp nguy hiểm.
Ban chỉ đạo Trung ương phòng cháy chữa cháy rừng yêu cầu chính quyền và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 10/12)đầu trang(
10/12, tại Hội trường Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai diễn ra Hội nghị đánh giá công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2012 – 2013, điều chỉnh bổ sung phương án bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (BVR – PCCCR) Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn).
Tại hội nghị, lãnh đạo Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn) đưa kế hoạch điều chỉnh bổ sung phương án BVR – PCCCR mùa hanh khô năm 2012 – 2013, thông qua việc đánh giá những yếu tố bất lợi trong công tác BVR – PCCCR tại địa bàn.
Tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, đơn vị đã triển khai công tác và 12 chốt trực BVR – PCCCR tại các khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng thuộc vùng lõi vườn quốc gia; kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại các xã, củng cố các tổ ứng cứu nhanh, tổ, đội PCCCR ở thôn, xóm; xây dựng kế hoạch phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội theo quy chế phối hợp đã được ký kết; tổ chức tuyên truyền về công tác PCCCR đến người dân trên địa bàn như tuyên truyền lưu động, ký cam kết bảo vệ rừng; xác định vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên thuộc xã Tả Van, Bản Hồ, Lao Chải, San Sả Hồ và thị trấn Tân Uyên (Lai Châu); lập kế hoạch huy động lực lượng, dụng cụ, phương tiện chỉ huy chữa cháy và các biện pháp cụ thể khác.
Hội nghị đưa ra một số tình huống cháy rừng giả định và các biện pháp xử lý tại khu vực trọng điểm thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn); bàn điều chỉnh và bổ sung các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng hiệu quả nhất.
Phát biểu tại hội nghị, ông Doãn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách về BVR và PCCCR yêu cầu các cấp, ngành có liên quan đề cao các phương án bổ sung mà các đại biểu nêu tại hội nghị. Trong công tác PCCCR ở khu vực Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn) cần xác định bổ sung điểm chốt, vị trí đặt chốt, nhiệm vụ của các chốt chặn trong việc quan sát cảnh báo và khảo sát địa hình. Tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, vai trò của trưởng thôn, chủ tịch xã trong quản lý tổ, đội.
Phối hợp với các lực lượng tại Lai Châu trong công tác BVR-PCCCR và chú trọng công tác chỉ huy, hậu cần phục vụ PCCCR. Phương án đưa ra với khu vực rừng trúc thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên là dọn khu vực rừng thường xuyên có mặt người dân, hoàn thành việc kiểm tra phương án để đưa ra các biện pháp hiệu quả nhất.
Việc điều chỉnh, bổ sung các phương án PCCCR tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn) là căn cứ quan trọng cho việc chỉ huy, tuyên truyền PCCCR trong mùa hanh khô 2012-2013. (Thiên Nhiên 11/12)đầu trang(
Theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Lâm Đồng từ nay đến năm 2020, tổng nhu cầu vốn của cả tỉnh là 7.178 tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách nhà nước chiếm hơn 3.526 tỷ đồng (49,1%), vốn của các doanh nghiệp chiếm hơn 1.424 tỷ đồng (19,8%), số còn lại thuộc các nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, vốn tín dụng thương mại và vốn ODA.
Hiện tại, cả tỉnh có 598.192ha đất có rừng, trong đó có 590.504ha được dùng để tính độ che phủ - đạt 60,4%. Trong diện tích đất có rừng, diện tích rừng tự nhiên chiếm 532.598ha (chiếm tỷ lệ 89%), còn lại là rừng trồng. Cũng theo quy hoạch này, Lâm Đồng phấn đấu đến năm 2015 đạt tỷ lệ che phủ của rừng là 61% và đến năm 2020 đạt 61,6%. (Báo Lâm Đồng 10/12)đầu trang(
Trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho mạng lưới khu bảo tồn VN”, ngày 8/12, tại thị trấn Cái Bà (huyện Cát Hải, TP Hải Phòng), Cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (Tổng cục Thủy sản) phối hợp với Chi cục khai thác và bảo vệ nông lâm thuỷ sản (KT&BVNLTS) Hải Phòng; huyện Cát Hải tổ chức cuộc thi “Rung chuông vàng” nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về khu bảo tồn biển Cát Bà và Bạch Long Vĩ.
Tại cuộc thi, ông Nguyễn Việt Cường, GĐ dự án phát biểu: “Cuộc thi nhằm cung cấp thông tin về sự đa dạng, phong phú của hệ động vật, thực vật thuỷ sinh khu vực biển đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ, cũng như các hoạt động khai thác của cộng đồng dân cư đang làm ảnh hưởng tới nguồn lợi sinh vật biển khu vực này. Kêu gọi sự tham gia của lãnh đạo các cấp, cộng đồng dân cư và ngư dân khu vực biển đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ thực hiện nghiêm túc các quy định liên quan đến KT&BVNLTS, tiến tới thành lập khu bảo tồn biển".
Bà Vũ Thị Kim Bích, Phó Chủ tịch huyện Cát Hải cho biết: “Năm 2002, Thủ tướng đã quyết định công nhận quần đảo Cát Bà là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. TP Hải Phòng đang trình hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu Cát Bà trở thành di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học. Để đạt được, mỗi người dân trên đảo, đặc biệt là các em học sinh - chủ nhân tương lai của huyện đảo, cùng đồng hành chung tay bảo vệ môi trường”.
Cuộc thi gồm giáo viên và học sinh trường THCS Thị trấn Cát Bà, trường Tiểu học và THCS Xuân Đám, trường Tiểu học và THCS Phù Long thuộc huyện Cát Hải. Các đội thi phải trải qua 3 phần phần gồm: Văn nghệ chào mừng; phần thi thời trang “Sinh vật biển Cát Bà” và phần đặc biệt quan trọng nhất là thi “Rung chuông vàng” tìm hiểu về khu bảo tồn biển Cát Bà.
Mỗi đội thi có 20 thí sinh. Hình thức thi: Các thành viên đội thi cùng trả lời các câu hỏi liên quan liên quan đến biển, đảo, khu bảo tồn biển, KT&BVNLTS, sự đa dạng của các loài sinh vật biển. Kết thúc cuộc thi, giải Nhất thuộc về đội trường THCS Thị trấn Cát Bà. Trước đó, ngày 4/11/2012, Cục KT&BVNLTS đã tổ chức cuộc thi “Rung chuông vàng” tìm hiểu về khu bảo tồn biển Hòn Mê, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/12)đầu trang(
Trong sáu năm trở lại đây, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (số 50, tỉnh lộ 15, ngã tư An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TPHCM) đã cứu hộ được khoảng 3.000 cá thể. Hàng năm có trên dưới 1.000 con thú được thả về rừng hoặc chuyển đi các nơi khác sau khi chúng được kiểm tra sức khỏe, chăm sóc và phục hồi bản năng hoang dã.
Hiện trung tâm có 13 người, nhưng công việc cần phải giải quyết có thể là một “núi”. Một con vật được cứu, trả về môi trường tự nhiên là một nỗ lực trả về cho biển sâu rừng thẳm một báu vật.
Ở Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi không bao giờ có một phút tĩnh lặng. Khi chúng tôi đến vào buổi trưa oi nồng, tiếng gió lao xao rít qua những rặng tre, là tiếng hót bất kể giờ giấc của loài vượn đen má vàng. Đặc tính của loài vượn này là dậy sớm hót từ 4 đến 5 giờ sáng, gần đến giờ cho ăn hoặc khi có khách. Ban đầu thì người dân quanh đây cũng rất khó chịu vì tiếng hót của chúng nhưng dần dà họ cũng quen, ngày nào vắng tiếng hót của chúng thì họ cảm thấy buồn!
Trong số các cán bộ cứu hộ ở đây, người có cách nói chuyện dí dỏm khiến chúng tôi phải bật cười nhiều lần là anh Võ A Ly, 33 tuổi. Anh bảo ở đây hàng ngày nghe tiếng chim hót, vượn kêu riết nên tinh thần trẻ trung. Ngày thường, anh A Ly tiếp nhận hồ sơ của các con thú, làm những thủ tục hành chính. Tuy Chi cục Kiểm lâm TP mới điều anh về trung tâm hơn nửa năm nay, nhưng anh rất yêu công việc và coi nơi đây như ngôi nhà thứ hai luôn ấm cúng và đầy ắp tiếng cười.
Ngoài kia, bầy vượn vẫn hót vang trời. Con gấu chó vẫn đi đi lại lại trong không gian rậm rạp như cánh rừng nhỏ. Anh A Ly trải lòng với chúng tôi về những lần đi cứu hộ gặp chuyện dở khóc dở cười. Như cách đây 5 tháng, A Ly cùng anh em về Bình Dương tiếp nhận 27 cá thể là kỳ đà vân do Chi cục Kiểm lâm Bình Dương tịch thu được trong dân. Bà con gia đình đó tụ tập rất đông, họ xỏ xiên, nói những lời rất khó nghe, chỉ đến khi chính quyền địa phương xuống can thiệp thì sự việc mới êm xuôi.
Lần khác, các anh đi cứu hộ một con hổ nuôi nhốt trong nhà dân. Khi các anh xuống tận nhà thì người ta năm lần bảy lượt từ chối với lý do chủ đi vắng. Đến khi gia chủ đồng ý gặp thì họ lại đặt vấn đề tiền nong, hỏi có hỗ trợ phần nào không khi tịch thu thú quý của họ. Ở quận 10, có người nuôi công, trĩ, các loài chim quý để làm thú tiêu khiển. Họ rất xót khi giao nộp toàn bộ cho trung tâm vì các loài này rất đắt tiền. Các anh cũng rất khó xử vì xưa nay Nhà nước không có chính sách, khoản hỗ trợ nào cho người nuôi nhốt động vật quý hiếm, dù họ đã tốn rất nhiều công sức, tiền bạc để mua nuôi chúng.
Ông Lê Xuân Lâm, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi tâm sự: “Có lúc anh em phải ra tới Quảng Ngãi, Nha Trang hoặc đến các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên để cứu hộ”. Khi chúng tôi liên lạc thực hiện bài viết này thì ông Lâm đang ở Kon Tum để cứu hộ một con vượn đen má vàng ở vườn quốc gia Chumơrây, tỉnh Kon Tum, vận động được từ dân.
Ông Lâm lý giải, sở dĩ đi xa như vậy là vì TPHCM có đủ những điều kiện, khả năng cứu hộ một cách tốt nhất. Tuy diện tích ở đây chỉ khoảng 4.000m2 nhưng hoạt động cứ như một trung tâm vùng, cứu hộ tất cả các nơi. Có điều muốn cứu hộ những cá thể lớn như voi, gấu... thì cần những không gian lớn, nguồn đầu tư cho trung tâm phải ổn định, chứ hiện nay mọi chi phí cho công tác cứu hộ của trung tâm chỉ dựa vào nguồn tài trợ của Anh.
Khi PV đề cập đến vấn đề xử lý những cá thể chết, ông Lâm nói chắc nịch: “Chúng tôi tuân thủ theo quy trình thiêu hủy rất nghiêm ngặt, có đại diện chứng kiến và ghi biên bản. Đối với những con thú bệnh quá nặng có thể phải nuôi vĩnh viễn. Như con gấu ngựa bị cụt chân đang nằm lim dim trong chuồng, chân đã bị hoại tử, con nhím cũng bị cụt chân...”.
Anh em ở đây từng cứu hộ thành công nhiều loài động vật quý hiếm như con báo Hoa Mai cứu hộ từ hộ gia đình ở Long An. Nó được gia đình này mua, nuôi nhốt lâu năm. Báo Hoa Mai là loài cực kỳ quý hiếm, được xếp vào loài gần như tuyệt chủng, nằm trong nhóm 1B - Nghị định 32 của Chính phủ, có trong sách đỏ VN và sách đỏ thế giới. Sau khi cứu hộ hai năm, trung tâm đã trả nó về với thiên nhiên ở vườn quốc gia Cát Tiên - nơi có nhiều loài báo khác sinh sống.
Ở trung tâm, anh em hay nhắc mãi câu chuyện về con vật có cái tên ngộ nghĩnh: “Tớ đã về với biển”. Đó là con rùa biển được các anh bên Chi cục kiểm tra chất lượng quản lý thị trường ở Tân Bình cứu hộ chuyển về. Sau khi sức khỏe của con rùa được ổn định và phục hồi hoàn toàn, anh em quyết định trả nó về lại biển. Bình thường, những con vật khác sau khi được cứu hộ xong thả về rừng, về biển thì chúng đi luôn và đi rất nhanh. Riêng chú rùa này khi bò ra đến sát mé biển vẫn ngóc đầu quay lại nhìn mọi người một cách quyến luyến.
Những ngày từ trung tâm trở về, chúng tôi rất ít đụng đến thịt động vật. Mỗi lần ngồi vào bàn ăn, chúng tôi lại nhớ đến ánh mắt đỏ vằn của con vượn bị mất một tai, vẻ mặt ngây ngô của mấy chú rái cá cứ nhao nhao bu quanh chuồng sắt khi thấy có người lạ và nỗi buồn cô quạnh của những con gấu ngựa nằm co ro trong không gian chật chội, tù túng.
Giá như ai cũng biết yêu quý và ra sức bảo vệ các con thú như các anh em cứu hộ ở đây thì có lẽ loài tê giác một sừng Việt Nam tại vườn quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai đã không tuyệt chủng và ra đi vĩnh viễn; cá thể cuối cùng của loài cá sấu nước ngọt Sông Hinh không phải chết tức tưởi khi bị người ta lấy sợi dây siết cổ cho đến chết. Nếu cứ tiếp tục săn bắt, sát hại động vật hoang dã, tàn phá thiên nhiên thì những loài thú quý hiếm sẽ dần biến mất khỏi các khu rừng Việt Nam. (Công An TPHCM 11/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
10.12, Ban giám đốc Thảo Cầm viên (TCV) cho biết, TCV Sài Gòn vừa nhập thêm 4 loại thú mới. Đó là cò đỏ Nam Mỹ (8 con), khỉ râu trắng Châu Phi (2 con), vượn cáo ở đảo Madagascar (4 con) và khỉ sóc Nam Mỹ (6 con).
Hiện TCV Sài Gòn đã có 124 loài thú với gần 1.000 con; 2.700 cây thân gỗ và 997 loài thực vật. Để du khách dễ dàng tiếp cận với các loài thú hơn, cách trưng bày động vật ở TCV đã có nhiều thay đổi sang phong cách hiện đại, dùng kính cường lực thay cho song sắt ở một số chuồng thú và một số loài được thả tự do trong khu vực.
Đặc biệt, từ ngày 21-23.12 tới, TCV Sài Gòn sẽ tổ chức lễ hội Giáng sinh với nhiều hoạt động mới lạ, riêng biệt. Lần đầu tiên, TCV sẽ tổ chức các trò chơi mùa đông trong 3 ngày diễn ra lễ hội như: Đi trên tuyết, người cụt đội nón Noel, twiss, khiêu vũ bong bóng, tô tranh Santa, đưa bóng về gold bằng quả cà tím, hóa trang ông già Noel…
Ngoài ra, lễ hội còn tràn ngập quà tặng từ ông già Noel và công chúa Tuyết cùng muông thú hội tụ trong phần diễu hành của cậu bé rừng xanh và xiếc voi độc đáo. (Lao Động 11/12; Sài Gòn Giải Phóng 11/12)đầu trang(
Được xếp vào danh sách các nhà sản xuất đồ gỗ lớn nhất thế giới (đứng thứ 6 thế giới), Việt Nam đã xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ tới gần 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp (DN) sản xuất đồ gỗ xuất khẩu cũng gặp không ít khó khăn.
Hiện nay, đa phần các DN sản xuất đồ gỗ phải dựa vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, bởi nguyên liệu gỗ rừng trồng và rừng tự nhiên trong nước ngày càng hạn hẹp, không đủ nguồn cung cho sản xuất.
Theo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA), đa số DN đều sử dụng nguồn gỗ nhập khẩu hợp pháp, tuy nhiên, để giảm giá thành, tiết kiệm chi phí sản xuất, vẫn có một số DN lựa chọn phương án sử dụng gỗ chưa đạt chứng chỉ rừng, bao gồm cả gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên trong nước và gỗ nhập khẩu. Điều này không chỉ làm thay đổi cơ cấu của rừng tự nhiên mà còn đồng nghĩa với việc DN tự thu hẹp thị trường xuất khẩu. Do đó, vai trò của việc quản lý rừng bền vững rất quan trọng đối với DN.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đồ gỗ ở trong nước ngày càng tăng, đồng thời người tiêu dùng cũng đòi hỏi ngày càng cao về kỹ thuật, mỹ thuật. Nhận thấy điều này, các DN sản xuất đồ gỗ ở nước ngoài đã tràn vào Việt Nam, chủ yếu sản xuất đồ gỗ trang trí nội - ngoại thất. Điều này cho thấy, các DN Việt Nam đã kém năng động, làm mất ưu thế của mình tại “sân nhà”. Và điều đáng buồn là, các DN của chúng ta xuất nhiều ra nước ngoài, nhưng lại không có thiết kế riêng cho thị trường trong nước, để các DN ngoại tha hồ hưởng trọn “miếng bánh” này.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch HAWA nhận định: Ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam đang có nhiều cơ hội. Hiện, chúng ta đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu đồ gỗ, đứng thứ 2 ở châu Á (sau Trung Quốc) và đứng thứ nhất tại Đông Nam Á. Mặc dù tình trạng suy thoái kinh tế vẫn còn ảnh hưởng nhưng đây lại là cơ hội hiếm có nếu DN ngành gỗ biết nắm bắt tình hình.
Cụ thể, theo ông Thắng, hiện Trung Quốc không còn khuyến khích chế biến gỗ ở vùng ven biển mà đẩy vào sâu nội địa, làm tăng giá thành sản phẩm, do đó các nước nhập khẩu chuyển sang Việt Nam với giá cạnh tranh hơn. Các nước trong khu vực Đông Nam Á đang khan hiếm lao động ngành gỗ và nhân công cao nên Việt Nam trở thành đối tác lớn, tin cậy của bạn hàng, và đây là lý do để DN giành thị phần. Ngoài ra, thị trường nội địa có nhu cầu về đồ gỗ rất lớn, nhưng các DN gỗ đang “bỏ ngỏ”.
“Áp lực cạnh tranh cao nhất mà DN gỗ Việt Nam phải vượt qua là chứng minh được nguồn gốc sản phẩm gỗ, có chứng chỉ chứng minh gỗ hợp pháp. Vì vậy, áp lực giá cả đầu vào ngày một tăng, dẫn đến giá gỗ nguyên liệu có xu hướng tăng”, ông Thắng cảnh báo.
Hiện, tổng giá trị sản xuất đồ gỗ của Việt Nam đạt 5,17 tỉ USD (chiếm 2% thế giới) và để đạt 15-20 tỉ USD trong vòng 15 năm tới, ngành chế biến gỗ cần phải có vùng nguyên liệu ổn định. Đặc biệt, để chế biến gỗ trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, chúng ta cần có những chính sách dài hơi như: cho nông dân vay vốn đầu tư trồng rừng dài hạn; đầu tư hệ thống máy móc đồng bộ, tăng cường tự động hóa để tăng tính cạnh tranh.
Điều quan trọng là chúng ta cần cơ cấu lại ngành chế biến gỗ, bởi lâu nay đa phần các DN chỉ phát triển tự phát, “ôm đồm”, muốn làm từ A đến Z nên không đủ sức quản lý, dẫn đến hao hụt trong sản xuất, phân phối. Nếu làm tốt những điều này thì khi “cơn bão” khủng hoảng đi qua, Việt Nam sẽ chiếm lĩnh được thị trường châu Âu - nơi người dân chuộng đồ gỗ trong nhà. (Kinh Tế Nông Thôn 10/12) đầu trang(
Vườn quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) đang bị đe dọa nghiêm trọng khi thủy điện thứ 8 - thủy điện Đrăng Phốk - được xây dựng trên dòng Sêrêpốk ...
Theo thống kê của Sở Công thương Đắk Lắk, đến nay trên sông Sêrêpốk có bảy nhà máy thủy điện đã và đang xây dựng gồm: Buôn Tuôr Sar, Buôn Kuôp, Hòa Phú, Đray H’ling, Sêrêpốk 3, Sêrêpốk 4 và Sêrêpốk 4A. Sắp tới, thủy điện thứ tám trên dòng sông này là Đrăng Phốk (xã Krông Na, Buôn Đôn) sẽ được xây dựng. Điều đáng nói là vị trí xây thủy điện Đrăng Phốk nằm giữa vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn và đây sẽ là mối đe dọa trực tiếp đến môi trường và công tác bảo vệ rừng...
Thủy điện Đrăng Phốk có công suất 26MW, nằm trong khu vực biên giới và là đoạn cuối cùng của dòng sông Sêrêpốk trước khi nó ra khỏi lãnh thổ VN. Chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và ứng dụng công nghệ mới (Tecco - TP.HCM). Để xây dựng thủy điện Đrăng Phốk sẽ có gần 53ha rừng đặc dụng vườn quốc gia Yok Đôn bị đốn hạ, chiếm dụng vĩnh viễn và 10ha bị chiếm dụng tạm thời.
Chiều 10-12, sau hơn hai giờ lội rừng, chúng tôi đến được tiểu khu 430, 431 và 451 thuộc lâm phần vườn quốc gia Yok Đôn. Tại đây, chúng tôi ghi nhận rừng còn khá dày với nhiều cây gỗ dầu, cà chít, bằng lăng, căm xe với đường kính 20-50cm. Các cây gỗ lớn nằm cách nhau khoảng 5-7m, có cây chu vi bằng một người ôm. Theo hai cán bộ kiểm lâm vườn quốc gia Yok Đôn, khu vực này nằm trong vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt của vườn.
“Nếu nói khu rừng nơi đặt nhà máy thủy điện là rừng nghèo kiệt cũng không hẳn đúng vì rừng ở vườn quốc gia Yok Đôn hầu hết đều có hiện trạng tương tự thế này. Hơn nữa, khu vực rừng giải tỏa để sử dụng tạm thời là 10ha nên sau khi xây dựng xong nhà máy sẽ hoàn trả lại rừng cũng không khả thi, bởi vườn quốc gia Yok Đôn tất cả đều là rừng khộp, thời tiết sáu tháng mùa khô nên không thể chặt cây rồi tái sinh được” - một kiểm lâm viên nói.
Ngoài việc ô nhiễm môi trường, tác động đến hệ sinh thái thì việc dâng nước lòng hồ của thủy điện Đrăng Phốk sẽ tạo điều kiện cho lâm tặc xâm nhập và vận chuyển gỗ lậu bằng đường thủy... Ông Trần Văn Thành, quyền giám đốc vườn quốc gia Yok Đôn, cho biết việc xây dựng thủy điện Đrăng Phốk trong vùng lõi sẽ ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của vườn quốc gia Yok Đôn về lâu dài. Trong quá trình thi công, xe máy và các thiết bị khác, đặc biệt là việc nổ mìn phá đá, sẽ gây ô nhiễm môi trường sinh thái, gây tiếng ồn làm động vật hoang dã bỏ đi nơi khác. Ngoài ra, chặn dòng Sêrêpốk là chặn đường di cư, sinh sản, thay đổi môi trường sống của các loài thủy sinh.
Việc thủy điện Đrăng Phốk đe dọa hệ sinh thái, công tác bảo vệ rừng của vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn chỉ là tương lai xa, trong khi thủy điện Sêrêpốk 4A đe dọa hệ sinh thái 20km sông và hệ sinh thái khu vực này là điều có thể thấy ngày một, ngày hai.
Dự án thủy điện Sêrêpốk 4A (công suất 64MW), do Công ty cổ phần Thủy điện Buôn Đôn làm chủ đầu tư, sẽ đắp đập ngăn dòng Sêrêpốk, tận thu nguồn nước từ thủy điện Sêrêpốk 4, dẫn bằng kênh trên 9km vào Nhà máy thủy điện Sêrêpốk 4A, rồi thêm 4km kênh dẫn nữa nước mới trở lại sông Sêrêpốk. Từ trên cao nhìn xuống, sông Sêrêpốk như có thêm một nhánh, tuy nhiên nó sẽ sớm cạn kiệt nhánh chính khi thủy điện Sêrêpốk 4A đi vào hoạt động. Theo ước tính, 20km sông Sêrêpốk đi ngang vườn quốc gia sẽ “chết” khi công trình thủy điện Sêrêpốk 4A đi vào hoạt động.
Khi dự án thủy điện Sêrêpốk 4A có chủ trương xây dựng, vườn quốc gia Yok Đôn đã có ý kiến, gửi công văn yêu cầu xem xét không xây dựng thủy điện bằng phương án làm kênh dẫn nước. Theo vườn quốc gia Yok Đôn, đoạn kênh dài hơn 9km dẫn nước từ Nhà máy thủy điện Sêrêpốk 4 về Sêrêpốk 4A sẽ khiến 20km sông Sêrêpốk mất dòng. Với mực nước quá thấp quanh năm như vậy ảnh hưởng vô cùng lớn đến chế độ dòng chảy, đến hệ sinh thái khu vực sông này và khu du lịch sinh thái Bản Đôn cũng sẽ “chết” theo.
Ông Trần Văn Thành lo lắng: “Sông cạn nước sẽ tạo điều kiện cho lâm tặc càng thuận lợi xâm nhập vùng lõi vườn quốc gia để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép. Ngay cả Tổng cục Lâm nghiệp đã có ý kiến đề nghị ngưng xây dựng thủy điện Sêrêpốk 4A nhưng dự án vẫn được thực hiện...”.
Hiện công trình kênh dẫn nước đang được xây dựng rầm rộ tại các xã Ea Wer, Ea Huar, Krông Na (huyện Buôn Đôn). Chủ đầu tư vẫn thuyết phục người dân rằng kênh dẫn nước sẽ tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Tuy nhiên, sắp tới khi dòng sông chính bị đắp chặn, toàn bộ nước sẽ được dồn về để chạy máy tại thủy điện Sêrêpốk 4A. (Tuổi Trẻ 11/12)đầu trang(
Ông Nguyễn Thanh Luận, Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau cho biết, tỉnh sẽ lấy ngày truyền thống khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 tới đây làm ngày ký kết công nhận Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính thức trở thành Khu Ramsar mới của thế giới.
Ramsar là công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý ở các vùng đất ngập nước, với mục đích công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng.
Tỉnh Cà Mau sẽ chọn ngày thích hợp để làm lễ đón bằng công nhận Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau-Khu Ramsar mới của thế giới, đánh dấu mốc sư kiện đầy ý nghĩa nơi vùng đất cuối trời cực Nam Tổ quốc.
Nằm trên địa xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có diện tích hơn 41.800 ha, là vùng đất ngập mặn ven biển. Nơi đây có nhiều loại động vật quý hiếm như Bồ Nông chân xám, Giang Sen, Rái Cá, Cầy Giông đốm lớn, các loại rùa quý và hàng trăm loài thủy sản, thực vật, lưỡng cư đang được bảo tồn.
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là khu Ramsar thứ năm của Việt Nam được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là Khu Ramsar mới của thế giới; đứng sau danh sách công nhận Khu Ramsar Vườn Quốc Xuân Thủy ở tỉnh Nam Định, Bàu Sấu thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên của Đồng Nai, Hồ Ba Bể ở tỉnh Bắc Kạn và Vườn Quốc gia Tràm Chim của tỉnh Đồng Tháp.
Đây là cơ hội để tỉnh Cà Mau đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng đất ngập nước phục vụ phát triển du lịch sinh thái; đồng thời bảo tồn nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới. (Tài Nguyên&Môi Trường 9/12; Công An Nhân Dân 10/12)đầu trang(
7/12, huyện Ninh Sơn tổ chức cuộc họp bàn về các giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và ngăn chặn việc sử dụng xe độ, chế vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện.
Trong năm 2012 mặc dù công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và quản lý, kinh doanh lâm sản tại địa phương đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên tình hình vi phạm lâm luật vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt nạn sử dụng xe mô tô độ, chế, tình hình các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản không có giấy phép vẫn còn rất nhiều.
Trong năm 2012 có đến 97 vụ sử dụng xe mô tô độ chế vận chuyển lâm sản bị các lực lượng chức năng ngăn chặn và xử lý; 71 vụ vi phạm về lĩnh vực kinh doanh, chế biến lâm sản…
Trước thực trạng trên, UBND huyện đề nghị các ngành chức năng, chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ, mạnh tay hơn nữa trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Toàn huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, duy trì Đoàn kiểm tra liên ngành thường xuyên tiến hành kiểm tra, truy quét trên các tuyến đường trọng điểm.
Các cơ sở kinh doanh, chế biến không đủ điều kiện sản xuất hoặc nhỏ lẻ trên địa bàn huyện sẽ tiến hành đình chỉ hoạt động, xóa bỏ nếu vi phạm. Với các đối tượng sử dụng xe chế độ, các cơ sở sửa chữa xe chế độ cần lập danh sách rõ tiến hành cam kết, xử phạt mạnh nếu vi phạm; lãnh đạo chính quyền các xã, thị trấn cũng cần có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý các đối tượng sử dụng xe độ chế tại địa phương.
Tại cuộc họp, các ngành chức năng huyện cũng đề ra các giải pháp, kế hoạch nhằm tăng cường công tác chống phá rừng trong đợt cao điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán Qúy Tỵ năm 2013. (Báo Ninh Thuận 10/12)đầu trang(
Sau hơn 2 năm đưa Nghị quyết 14-NQ/TU ngày 4.6.2010 của Tỉnh ủy về tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng (gọi tắt Nghị quyết 14) vào cuộc sống, nhiều địa phương đã kiểm soát được tình trạng khai thác, vận chuyển và tiêu thụ lâm sản trái phép.
Đặc biệt các cấp ủy đảng và chính quyền gắn khâu bảo vệ rừng (BVR) với công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, để phân loại tổ chức đảng và đảng viên hàng năm. Nơi nào xảy ra “điểm nóng” phá rừng thì không thể đạt danh hiệu tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Các trường hợp vi phạm lâm luật có tính chất phức tạp, ngang nhiên như thời gian trước ít xảy ra; số vụ chống người thi hành công vụ giảm.
Trên tuyến quốc lộ 14B, quốc lộ 14E, đường Hồ Chí Minh… ít xuất hiện cảnh “lâm tặc” trắng trợn chở gỗ lậu ban ngày. Những xưởng cưa “trá hình” dọc các tuyến sông Vu Gia, Thu Bồn, sông Bung và các cửa rừng đã được kiểm soát. Hai năm trước, khi các nhà máy thủy điện lần lượt ngăn dòng tích nước phát điện, rừng đầu nguồn của các công trình thủy điện trở thành “miền đất hứa” với mức độ tàn phá ghê gớm. Thế nhưng, nhờ quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 14, bây giờ các phương tiện ghe thuyền tham gia chở gỗ lậu không còn hoạt động công khai trong các lòng hồ thủy điện.
Chuyển biến rõ nét ở một số địa phương miền núi, trung du là công tác BVR được xem như nhiệm vụ sống còn, quyết định sự phát triển bền vững, làm xuất hiện nhiều điểm sáng. Đơn cử ở Tiên Phước, tinh thần của nghị quyết được quán triệt sâu rộng đến gần 1.000 hộ dân và họ đã ký cam kết BVR.
Thêm nữa, tăng cường quyền lực, vai trò trách nhiệm cho chính quyền cơ sở. Mỗi năm, chủ tịch UBND xã xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức lực lượng phối hợp với kiểm lâm tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép trên địa bàn. Những con đường vận chuyển gỗ lậu như ĐT 616, từ xã Tiên An đi Tiên Lập, Tiên Lãnh - Tiên Ngọc, Tiên Kỳ - Tiên Phong luôn đặt trong tình huống cảnh giới. Nhờ thế mà chặn đứng kịp thời nhiều vụ đưa gỗ đi tiêu thụ. Đơn cử 2 năm 2011 - 2012, lực lượng chức năng của huyện chỉ xử lý 4 vụ vận chuyển gỗ...
Ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Sở NN&PTNT ví von rằng, Nghị quyết 14 là “bàn tay sắt” trong cuộc đấu tranh với lâm tặc để giữ vành đai xanh cho miền núi. Không thể hô theo khẩu hiệu mà phải hành động bằng chế tài đủ mạnh thì mới mong những cánh rừng được bình yên.
Theo dõi cuộc chiến giữ rừng ở các huyện miền núi thời gian qua, thấy rằng dù một số nơi rừng tạm yên, nhưng vẫn có thời điểm báo động về độ tàn phá. Các thủ đoạn, hình thức phá rừng càng tinh vi. Tình trạng phá rừng để lấy đất sản xuất, lấy đất trồng rừng với quy mô lớn và diễn biến khá phức tạp. Sự thật đau lòng ở chỗ, chính người dân lại là chủ thể phá rừng. Đây là vấn nạn cho các cơ quan quản lý, BVR bởi khó triệt tận gốc vì còn liên quan đến vấn đề giải quyết sinh kế lâu dài cho người dân.
Thống kê của ngành kiểm lâm cho thấy, trong năm 2012, có hàng trăm héc ta rừng bị xâm hại. Chẳng hạn, Núi Thành thiệt hại 75ha rừng, khu vực rừng phòng hộ hồ chứa nước Đông Tiển (Thăng Bình) 49ha, rừng phòng hộ A Vương (Đông Giang) thiệt hại 47ha, rừng phòng hộ Sông Tranh (Bắc Trà My) 42ha…
Quan ngại hơn, chính quyền huyện Nam Giang đã cấp phép sai thẩm quyền việc khai thác gỗ làm nhà ở các khu tái định cư thủy điện với khối lượng hơn 1.000m3 gỗ. Có nơi khai thác gỗ Chương trình 167 không đúng quy định, dẫn đến hậu quả cán bộ phải bị khởi tố trước pháp luật. Các tội phạm liên quan đến xâm hại rừng có xu hướng tăng ở các huyện miền núi.
Thực tế, cơ quan quản lý nhà nước, ngành chuyên môn của tỉnh đã xây dựng chiến lược giữ rừng gắn với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết 3 loại rừng. Thế nhưng, để người dân thực sự làm chủ rừng, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác giao đất giao rừng, giảm tối đa diện tích đất lâm nghiệp hiện do chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang, nhiệm vụ trước mắt lẫn lâu dài là sớm hoàn tất chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư. Quy hoạch và cụ thể hóa các chính sách hưởng lợi để người dân có thu nhập từ sản xuất, giảm bớt phụ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái phép. Cạnh đó, các địa phương có rừng phải xác định BVR là cuộc chiến dài lâu, không thể lơ là, chủ quan.
“Kiện toàn, củng cố lại lực lượng kiểm lâm địa bàn với phương châm BVR tận gốc. Làm trong sạch đội ngũ kiểm lâm bằng cách loại ra khỏi ngành những công chức vi phạm đạo đức nghề nghiệp” - ông Quang thẳng thắn. (Báo Quảng Nam 10/12)đầu trang(
9-12, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam trao bằng độc quyền sáng chế Quy trình trồng cây sâm Ngọc Linh nuôi cấy mô cho Thượng tọa Thích Huệ Đăng, Giám đốc Cty TNHH Hoa lan Thanh Quang ở phường 3, TP Đà Lạt.
Từ năm 2008, Thượng tọa cùng cộng sự mang cây sâm từ núi Ngọc Linh (Kon Tum) về TP Đà Lạt (Lâm Đồng) để nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, sau đó trồng thực nghiệm tại một số địa phương.
Đến nay, cây sâm do Cty TNHH Hoa lan Thanh Quang nhân giống có khả năng di thực và tỉ lệ cây sống khá cao. (Tiền Phong 10/12)đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT tỉnh, năm 2012 toàn tỉnh trồng mới được 248.720 cây cùng 152ha rừng phân tán trên đất nông nghiệp bạc màu và 4.125ha rừng tập trung (trong đó có 1,208ha cao su) trên đất lâm nghiệp.
Trong diện tích rừng trồng tập trung này có 988ha do ngân sách tỉnh đầu tư, 636ha thuộc Chương trình 30a, nguồn vốn ODA đầu tư trồng trên 784ha, các nguồn vốn khác đầu tư 508ha và 1.208ha cao su. Đến thời điểm này, các chủ rừng và các địa phương trong tỉnh đang tiếp tục giao khoán quản lý bảo vệ 377.718ha rừng cho các hộ nông dân. Trong đó 16.397 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số; 2.625 hộ người Kinh và 89 tập thể. (Đại Biểu Nhân Dân 9/12)đầu trang(
Khu vực rừng Ya Hoa (xã Ka Đô, Đơn Dương, Lâm Đồng) thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương vốn là rừng nguyên sinh, nay không còn rừng.
Rừng ở đây sau khi bị phá thành rừng tái sinh phục hồi nhưng giờ cũng không còn rừng. Ông Mẫn - người dẫn đường cho biết trước đây con đường dẫn lên Ya Hoa đủ để chạy xe máy thì nay đã mở rộng cho xe reo, xe tải ra vào chở gỗ.
Theo ghi nhận tại tiểu khu 329 Ka Đô, cả ngàn hecta rừng bị tàn phá, giờ cây rừng đang tái sinh, cao chừng năm, ba mét. Bên trong, hàng ngàn cây rừng bị đốn hạ còn trơ gốc, hàng trăm lóng gỗ tròn bỏ lại hiện trường.
Giữa năm 2005, tỉnh Lâm Đồng thu hồi hơn 1.000 ha tại tiểu khu 321 và 329 thuộc hai xã Lạc Xuân và Ka Đô (huyện Đơn Dương) do Ban Quản lý rừng Ya Hoa (nay là Trạm Phân trường 4) quản lý để giao cho một công ty quản lý, bảo vệ, trồng rừng kết hợp chăn nuôi. Tuy nhiên, gần cuối năm tỉnh lại giao số rừng này cho ba công ty khác. Báo cáo kết quả kiểm kê tài nguyên rừng tại hai tiểu khu trên thì hơn 99% ha là đất có rừng. Trong đó trạng thái rừng cần khoanh nuôi, cấm xâm hại chiếm gần 58%. Thế nhưng sau khi giao rừng cho ba công ty thì toàn bộ diện tích rừng đã bị cạo trọc!
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lâm Đồng, ngoài số rừng đã giao nêu trên, tỉnh còn giao khoảng 1.000 ha khác tại khu vực rừng Ya Hoa cho sáu công ty.
Theo số liệu từ kiểm kê tài nguyên rừng, hơn 1.000 ha rừng ở hai tiểu khu 321 và 329 có trữ lượng trên 22.000 m3 gỗ quý các loại như: cẩm liên, cà chí, cà chắc, gân gai, móng bì, mã tiền và trên 200.000 tấn lồ ô, le, tre nứa. Theo người dân, sau khi giao rừng cho các công ty, hàng ngàn khối gỗ tuồn về huyện Ninh Sơn, Ninh Phước (Ninh Thuận).
Tổng trữ lượng gỗ này bị “bốc hơi” ra khỏi rừng theo chủ trương lập dự án quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng đến nay chưa có cơ quan chức năng nào của tỉnh Lâm Đồng xác minh, kiểm tra theo đơn tố cáo của một số hộ dân.
Giám đốc một công ty từng được giao rừng làm dự án cho biết: Từng xảy ra việc lập dự án tại khu vực rừng Ya Hoa để được giao rừng, thuê rừng. Sau khi khai thác gỗ, công ty sẽ sang bán lại dự án.
Vùng giáp ranh giữa Ninh Thuận và Lâm Đồng tập trung nhiều gỗ hương (thuộc nhóm I) nên rất nhiều lâm tặc đến nhòm ngó. Các cơ quan chức năng (kiểm lâm, công an) liên tục truy quét, bắt giữ nhiều vụ khai thác, vận chuyển gỗ lậu nhưng nạn khai thác trộm không giảm.
Đầu tháng 11, lực lượng kiểm lâm tuần tra, phát hiện tại khu vực rừng tự nhiên Tà Nôi thuộc huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận) tiếp giáp với rừng Tà Năng (Đơn Dương, Lâm Đồng) hàng chục cây gỗ hương bị lâm tặc đốn hạ. Tại hiện trường, ngổn ngang hàng trăm gỗ lóng thành phẩm, gỗ bìa chưa kịp đưa ra khỏi rừng.
Tối 16-10, xe chở gỗ của Tổ kiểm lâm cơ động và Phòng chống chữa cháy rừng, thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Ninh Sơn mang gần 3 m3 gỗ hương thu giữ đến gửi ở trạm cửa rừng Ma Nới nhưng không lập biên bản giao nhận nhóm gỗ, khối lượng gỗ. Việc thu giữ trong khu vực quản lý của Trạm bảo vệ rừng Tà Nôi nhưng tổ kiểm lâm không báo cho trạm này. Việc gửi gỗ có nhiều khuất tất này đang được Sở NN&PTNT chỉ đạo Phòng Thanh tra phối hợp Phòng Tổ chức cán bộ (thuộc Sở) thanh tra, làm rõ để báo cáo cho tỉnh. (Pháp Luật TPHCM 10/12)đầu trang(
Chiều 7/12, nguồn tin từ UBND tỉnh Phú Yên cho biết, vừa có quyết định xử phạt 75 triệu đồng đối với ông Nguyễn Trọng Thái (SN 1943) làm Giám đốc Công ty TNHH Hiền Thái ở TP Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk) do có hành vi vi phạm pháp luật, mua lâm sản trái với các quy định của Nhà nước. Đồng thời, tịch thu 8 khúc gỗ hộp (khối lượng hơn 4,2 m3) chủng loại gỗ hương, có nguồn gốc trái phép để sung vào công quỹ Nhà nước.
Trước đó, vào ngày 25/11, trong lúc tuần tra trên tuyến tránh quốc lộ 1A đoạn qua TP Tuy Hòa, lực lượng công an và kiểm lâm tỉnh đã phát hiện ô tô TH-7843 rơmoóc BM-083 chạy hướng Gia Lai – Phú Yên, có đấu hiệu khả nghi. Lực lượng chức năng ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra nhưng tài xế chở gỗ lậu mở cửa xe bỏ chạy. Hòng trốn thoát, lực lượng đã tích cực bám đuổi và đối tượng bị bắt ngay sau đó.
Qua kiểm tra, cơ quan kiểm lâm phát hiện xe ô tô TH-7843 rơmoóc BM-083 do Trần Ngọc Thanh (SN 1986, trú Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) điều khiển chở 54m3 gỗ từ nhóm 1 đến nhóm 6, trong đó có 8 khúc gỗ hương và gõ với khối lượng hơn 4,2 m3 chủng loại gỗ hương, gõ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, không có giấy tờ hợp pháp
Tại cơ quan điều tra, Trần Ngọc Thanh khai nhận, số gỗ trên chở cho Công ty TNHH Hiền Thái nhưng lại không chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm trong vận chuyển gỗ trái phép.
Được biết, thời gian trở lại đây, tình hình vận chuyển buôn bán gỗ trái phép từ các tỉnh khu vực Tây Nguyên đi qua địa phận tỉnh Phú Yên để ra các tỉnh phía Bắc-Nam để tiêu thụ ngày càng tinh vi và diễn biến phức tạp, đề nghị các cơ quan chức năng cần tăng cường trong công tác bảo vệ rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 7/12)đầu trang(
10/12, tin từ Hạt kiểm lâm Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, 2 kiểm lâm Trạm Trộ Mợng, trong khi gửi xe ở nhà dân để tuần rừng liền bị một nhóm lâm tặc 15 tên lao vào tấn công bằng dao nhíp và vỏ chai khiến cả hai phải nhập viện do bị thương nặng.
Cụ thể, kiểm lâm Hồ Công Thanh bị dao nhíp đâm sâu vào gáy, bất tỉnh phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Nam-Cu Ba (Đồng Hới), kiểm lâm Trần Thanh Quang bị đánh xước khắp người bởi nhiều chai bia.
Hiện cơ quan chức năng đã bước đầu xác định tên tuổi 2 đối tượng của nhóm 15 người đánh kiểm lâm. (Sài Gòn Giải Phóng 11/12)đầu trang(
Ngày 10/12, ông Lê Văn Hiền, Bí thư Đảng ủy xã Ea Lâm (huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên) cho biết, lực lượng chức năng địa phương vừa bắt giữ hơn 8m3 gỗ hương, cà-te và bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, chiều 7/12, nhận được tin báo từ quần chúng, lực lượng phối hợp thuộc xã Ea Lâm đã có mặt tại khu vực lòng hồ thủy điện Sông Ba Hạ (thuộc địa phận buôn Học), phát hiện 3 chiếc ghe chở gỗ lậu.
Khi phát hiện lực lượng chức năng, các đối tượng đã tuồn gỗ xuống sông rồi nhảy xuống sông bơi tẩu thoát. Sau đó, lực lượng chức năng phải lặn vớt và thu được hơn 8m3 gỗ hương, cà te thuộc nhóm 2 quý hiếm. (Dân Trí 11/12; Pháp Luật TPHCM 11/12) đầu trang(
Năm 2012, ngành NN&PTNT chú trọng đã tổ chức tuyên truyền các nội dung quy định về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng đến hơn 152.600 lượt người; củng cố, tu sửa 32,5 km đường băng cản lửa tập tung tại các vùng giáp ranh có nguy cơ cháy lan cao và các vùng xác định là trọng điểm cháy.
Bên cạnh đó, ngành tích cực phối hợp với cơ quan hữu quan kiểm tra, thanh tra, truy quét các tổ chức, cá nhân khai thác, cất giữ, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Qua đó phát hiện xử lý, bắt giữ 175 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, chủ yếu là vận chuyển lâm sản trái phép. Tổng số lâm sản tịch thu 16,9 m3 gỗ tròn, 51,3 m3 gỗ sẻ, 14,11 ste củi; tịch thu 51 xe máy. Tổng số tiền thu nộp ngân sách trên 897 triệu đồng. (Báo Hòa Bình 11/12) đầu trang(
Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa tỏ vẻ bực dọc với những bài báo Người đưa tin phản ánh. Tuy nhiên, ngay sau đó, vị này đề nghị “ủng hộ anh em kiểm lâm”.
Trước đó, Người đưa tin đăng tải bài viết phản ánh, sau khi kiểm tra và phát hiện có 03 cá thể tê tê Java nằm trong một túi xách cá nhân và trong hộp giấy cát-tông ở trên xe ô tô khách mang Biển kiểm soát 72B-000.26 của Cty TNHH Minh Phúc, Đội kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 (Đội Kiểm lâm cơ động số 1), thuộc Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã yêu cầu lái xe Phạm Duy Hưng đưa xe về trụ sở để xử lý.
Đến ngày 25/11/2012, Đội kiểm lâm cơ động số 1 đã lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với ông Hưng về hành vi “vận chuyển lâm sản trái pháp luật”, mặc dù trong quá trình lấy lời khai, ông Hưng đã khẳng định: Cái túi xách và hộp giấy cát-tông đựng Tê tê Java đó là hành lý cá nhân của hành khách, nhưng bây giờ không thể xác định được của hành khách nào nữa, vì khi kiểm tra, tổ công tác của Đội Kiểm lâm cơ động số 1 Thanh Hóa đã không đóng cửa xe, không yêu cầu khách ngồi yên tại chỗ và nhận lấy hành lý của mình, mà để hành khách xuống xe tự do, rất lộn xộn.
Ngay sau đó, ông Hưng và người được Cty TNHH Minh Phúc giao phụ trách xe một mực kêu oan. Theo ông Hưng: Trong khi Đội kiểm lâm cơ động số 1 Thanh Hóa chưa xác định được 03 cá thể Tê tê nằm trong túi hành lý của khách đi trên xe có phải là hàng hóa của một ai đó, mà nhà xe hay lái xe nhận chở hay không, nhưng đã “vội vàng” lập biên bản vi phạm hành chính đối với lái xe và ban hành quyết định “Tạm giữ phương tiện” là chưa đủ cơ sở, quá oan ức cho họ.
Ngoài ra, họ còn nghi nghờ trong vụ việc này, họ bị cài bẫy. Bởi thế, Cty TNHH Minh Phúc và lái xe Phạm Duy Hưng đã gửi đơn tới các cơ quan có thẩm quyền, để kiến nghị những vấn đề then chốt của vụ việc, mà họ cho rằng Đội Kiểm lâm cơ động số 1 Thanh Hóa đã “bỏ quên” trong quá trình xử lý.
Sau khi được ông Lê Thế Long, chi cục trưởng Chị cục Kiểm lâm Thanh Hóa giao làm việc với phóng viên báo Người đưa tin về vụ việc trên, ông Lê Quốc Việt, phó chi cục trưởng Kiểm lâm Thanh Hóa cho hay: “Việc xử lý vi phạm hành chính về hành vi “vận chuyển lâm sản trái pháp luật” và tạm giữ phương tiện trong trường hợp này để xác minh là đúng với Nghị định 99 của Chính phủ”.
“Chúng tôi không xử lý hành vi “mua lâm sản trái với các quy định của Nhà nước” theo Điều 21 Nghị định 99 là đã khoan hồng lắm rồi. Anh (lái xe) không thể nói những con tê tê đó nằm ở dưới đất được. Qua kiểm tra, phát hiện có lâm sản trên xe mà không có thủ tục, giấy tờ theo quy định là xử lý vi phạm hành chính về hành vi “vận chuyển lâm sản trái pháp luật” theo điều 20 Nghị định 99/CP”.
Tuy 3 cá thể Tê tê khi kiểm tra được phát hiện nằm trong túi xách và trong hộp giấy cát-tông ở trên xe, thì lái xe phải bị xử lý hành chính về hành vi “vận chuyển lâm sản trái pháp luật”, dù lái xe có vô ý hoặc cố ý vi phạm. Chúng tôi là người thừa hành pháp luật, mà Nghị định 99 quy định như vậy, thì chúng tôi áp dụng để thực hiện”.
“Chúng tôi xử lý vụ việc không chỉ đúng pháp luật, mà còn phải đảm bảo tính pháp chế. Chẳng hạn, một người nhét một cục thuốc phiện ở trong người, thì chúng tôi không thể biết được, nhưng khi kiểm tra thấy trên xe anh chở thuốc phiện thì xử lý, cho nên chúng ta đừng lý luận theo kiểu cách đấy. Nếu có cơ sở để xác minh là cái hàng đó (những con Tê tê) là của anh (lái xe), thì còn bị xử lý hành vi mua nữa. Nói thật, để chứng minh được hành vi mua không phải dễ. Ngay cả tôi đây cũng không có cơ sở để chứng minh hành vi mua trong trường hợp này đâu”.
Trong quá trình trao đổi với phóng viên về vụ việc, ông Việt không chỉ không trả lời vào trọng tâm những vấn đề mà còn tỏ thái độ bực dọc với báo chí bằng những câu nói “ngoài luồng và giáo huấn”: “Nói thật với anh thông cảm, chứ bây giờ báo chí có nhiều cái viết không đúng sự thật, không khách quan, phiến diện, không có cái nhìn đa chiều. Tôi rất bực mình khi nghe anh Hùng, đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số 1, thuộc Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa nói, vừa rồi có bài viết về vụ này đăng ở trên một cái báo nói khó chịu quá.
Anh Hùng nói là bài báo đó nói có mấy cái rất là không bình thường. Sau đó anh Long, chi cục trưởng gọi điện cho tôi. Thật sự tôi rất bực mình và phê phán cái bài báo đó. Trước đây, chỉ có việc một cây cổ thụ, mà báo chí lại viết “cây cổ thụ nghìn năm tuổi”. Lấy cơ sở nào mà người viết xác định cái cây đó có tuổi nghìn năm. Tôi học lâm nghiệp mà cũng tính chưa ra, huống hồ chi là người viết bài về cái cây đó”.
“Nói thật, những lãnh đạo khác, khi làm việc với báo chí, thì sẽ có trợ lý là những cán bộ chuyện trách về lĩnh vực mà báo chí đặt vấn đề, nhưng với tôi, vì đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nên tôi không cần trợ lý, tôi vẫn nói được, vì cái này nó thuộc về nghiệp vụ và chuyên môn bình thường của tôi rồi. Tuy tôi đã nói rồi, nhưng để tôi gọi thêm một đồng chí bên phòng pháp chế sang trao đổi với anh (PV) nữa cho khách quan hơn, vì nói đến pháp luật thì đồng chí này là thạc sỹ luật.
Trước khi về đây, tôi đã từng là đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số 1, sau đó làm bên pháp chế. Những vụ việc như thế này không phải một mình anh (PV) bây giờ mới hỏi đâu, mà rất nhiều người đã hỏi. Chúng tôi đã xử lý bao nhiều trường hợp như thế này rồi. Tôi là phát ngôn báo chí trong ngành này, chẳng hạn khi đi cơ sở thì phải phát ngôn từ đâu đến đâu, chứ phát ngôn bừa bãi là không được”.
“Hiện này, hồ sơ vụ việc này chưa chuyển lên đây, đang ở dưới Đội kiểm lâm cơ động số 1. Nếu chuyển hồ sơ lên đây thì thuộc thẩm quyền của tỉnh. Khi chuyển lên đây, chúng tôi phải thẩm định đã. Nếu hồ sơ đúng rồi, chúng tôi sẽ làm công văn để trình với tỉnh, chứ Đội kiểm lâm cơ động không được phép trình với tỉnh. Nếu như hồ sơ không chuẩn, thì phòng thanh tra pháp chế người ta sẽ bác.
Chứ anh (PV) cứ nghĩ rằng vụ việc này được giải quyết độc lập lắm à. Chúng tôi không dung túng cái đó. Làm việc độc lập, nếu như anh có đơn kiện, mà chúng tôi làm rõ được là chúng tôi kỷ luật cái anh Đội kiểm lâm cơ động. Không có chuyện nhân nhượng, mà phải kỷ luật nghiêm túc. Thôi, có gì thì anh (PV) cũng chia sẻ với anh em chúng tôi tý. Tôi nói thật, anh em chúng tôi cũng chịu nhiều sức ép lắm, anh (PV) ủng hộ chúng tôi tý” – ông Việt phân trần.
Ông Nguyễn Phúc, giám đốc Cty TNHH Minh Phúc bức xúc: “Chúng tôi với tư cách là chủ sở hữu chiếc xe mang biển kiểm soát 72B- 00.... đã và đang đề nghị các cơ quan chức năng xác minh, làm rõ ai là chủ sở hữu của 03 cá thể Tê tê ấy. Khi không đủ cơ sở để khẳng định số Tê tê ấy là hàng hóa, mà nhà xe hoặc lái xe nhận chở, thì cơ quan chức năng không nên vội vàng lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành quyết định tạm giữ phương tiện.
Vụ việc này nên xử lý theo hướng chỉ tịch thu tang vật là 03 cá thể Tê tê để bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước. Hiện chúng tôi đang chờ kết quả và sự phúc đáp của các cơ quan có thẩm quyền ở Thanh Hóa". (Người Đưa Tin 10/12)đầu trang(
Rừng ngập mặn là “lá chắn” an toàn, là “lá phổi xanh” đang cần một cơ chế phù hợp để hồi sinh. Đời sống của cư dân dưới tán rừng, ven biển đang cần một bước ngoặt thay đổi cho phù hợp để theo đó rừng được bảo vệ và phát triển bền vững.
Rừng ngập mặn (RNM) Cà Mau từng được mệnh danh là “rừng vàng”. Ngày nay, trước biến đổi khí hậu, RNM như là “lá chắn” an toàn để bảo vệ cuộc sống và sản xuất của người dân ở một tỉnh có 3 mặt giáp biển như Cà Mau. Bảo vệ RNM là bảo vệ sự sống, bảo vệ sự phát triển bền vững.
Thế nhưng, sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), nhân dân trở lại địa phương, bắt tay vào sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, trong đó, có việc khai thác RNM. Từ sự khai thác quá mức, thiếu quản lý chặt chẽ của ngành chức năng, diện tích RNM ở Cà Mau ngày càng bị teo tóp.
Theo thống kê của ngành chức năng, đến nay diện tích RNM toàn tỉnh còn khoảng trên 64.000 ha so với 100.000 ha đất có rừng trước ngày đất nước thống nhất, nghĩa là giảm từ 30-40%. Ông Năm Phong (Nguyễn Tấn Phong), ấp Láng Tròn, xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển, nhớ lại: “Gần 60 năm gắn bó với vùng đất này, tôi đã chứng kiến bao đổi thay. Trước đây, ở vùng này rừng đước bạt ngàn, nhưng nay, nhiều nơi chỉ còn vài khóm đước le hoe. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “máu” rừng chảy đến cạn kiệt, nhưng cốt lõi vì cuộc sống nghèo khó, vì “chén cơm manh áo” nên “lâm dân” mới phá rừng”.
Hiện nay, tình hình phá rừng, hầm than trái phép vẫn còn diễn ra ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau và một số khu vực thuộc rừng phòng hộ ven biển. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, từ đầu năm đến nay đơn vị đã phát hiện và xử lý 393 vụ vi phạm quản lý và bảo vệ rừng, tăng 103 vụ so cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, con số này thực tế còn cao hơn rất nhiều, bởi đằng sau những thảm rừng san sát là bao phận người chỉ biết sống bám vào biển, vào rừng. Họ xem rừng là “nồi cơm”, là mảnh đất “mưu sinh” màu mỡ.
Diện tích RNM suy giảm nghiêm trọng kéo theo hệ lụy “vựa” thuỷ hải sản cũng rơi vào tình trạng cạn kiệt. Ông Năm Phong chua xót: “Hồi đó cá tôm vùng này nhiều vô số kể. Chỉ cần quăng một chài, giăng một tay lưới, đặt một cái đó, cái lú là năm bảy người ăn không hết. Còn bây giờ, mọi thứ đều cạn kiệt, tôm tép nước có, nước không, cá mắm kiếm đủ ăn hằng ngày còn khó”.
Minh chứng cho việc diện tích RNM suy giảm nghiêm trọng nên nguồn lợi hải sản tự nhiên cũng không còn dồi dào như trước kia, ông Lê Công Uẩn, Thư ký Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển, khẳng định, do diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp nên môi trường sinh thái suy thoái dẫn đến nguồn lợi thuỷ hải sản cũng cạn kiệt.
Năm 1994, vùng này xảy ra dịch bệnh trên tôm do môi trường thay đổi. Từ đó, nguồn thuỷ hải sản tự nhiên bắt đầu khan hiếm, không được tái sinh như trước. Từ năm 1995 đến nay, dân nuôi tôm vùng này phải thả tôm cua giống vào vuông mới mong có thu hoạch.
Những năm qua, thiên tai, nước biển dâng, biến đổi khí hậu gây ra nhiều tổn thất nặng nề đối với tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân sâu xa của những tổn thất này được xác định do diện tích RNM bị suy giảm nghiêm trọng.
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tại hội thảo khoa học “Xây dựng nông thôn mới - ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực ven biển ĐBSCL” diễn ra cuối tháng 11 năm nay cho thấy, trong vòng 11 năm qua (2001-2011), có đến 88 cơn bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên địa bàn tỉnh, làm 167 người thiệt mạng, 183 người bị thương, 82 người mất tích. Thiên tai làm cho trên 2.400 căn nhà bị sập, trên 4.300 căn nhà bị tốc mái, 165 căn nhà sụp lở.
Hiện có khoảng 6,4 km đê biển Tây bị sạt lở nghiêm trọng. Trước đây, rừng ven đê biển Tây có chiều rộng 200 m trở lên. Nhưng nay do ảnh hưởng của quá trình sạt lở chỉ còn khoảng 80 m, có đoạn bị sạt lở sâu còn 30 m. Vấn nạn hạn hán, xâm nhập mặn năm sau luôn cao hơn năm trước, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của người dân.
Hằng năm, nạn xâm thực vào đất liền cuốn đi rừng cây ven đê, đe doạ trên 400 ha đất sản xuất của người dân. Ước tính toàn tỉnh mỗi năm có khoảng 120 ha đất ven biển bị sạt lở. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có 8 cửa biển và hàng chục cửa sông có nguy cơ sạt lở cao và đe doạ trực tiếp đến 3.600 hộ dân đang sinh sống.
Từ những tác động tiêu cực của thiên tai, nước biển dâng, biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra cho thấy, việc bảo vệ đê biển và các vùng ven biển là vấn đề cấp thiết nhất đối với một tỉnh có 3 mặt giáp biển như Cà Mau.
Theo các nhà nghiên cứu, để ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại bởi những tác động tiêu cực trên, giải pháp căn cơ nhất là khôi phục diện tích rừng, trong đó RNM đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Bởi theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, RNM có vai trò bảo vệ đê biển, đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn và góp phần điều hoà môi trường sinh thái.
Thế nhưng thời gian qua, việc khôi phục diện tích RNM của tỉnh chưa đạt yêu cầu, chưa thật sự tìm ra cơ chế khôi phục rừng một cách phù hợp, còn người dân thì thờ ơ với chuyện trồng rừng. Anh Võ Thành Trung, ấp Bông Súng, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, thừa nhận, thời gian gần đây, cây đước có giá nên nhiều người có ý định trồng.
Nhưng trước đây, bắt buộc trồng thì dân phải trồng nhưng không chăm sóc nên tỷ lệ sống không cao. Hiện theo quy định tỷ lệ 60% diện tích đất rừng, 40% diện tích đất nuôi tôm người dân khó lòng thực hiện, nhất là đối với những hộ có diện tích đất nhỏ.
Về vấn đề này, ông Lê Công Uẩn lo lắng: tỷ lệ 60% rừng, 40% tôm đối với hộ có diện tích đất từ 5 ha trở lên thì phù hợp, còn từ 5 ha trở xuống thì không phù hợp, dân sẽ phá rừng để nuôi tôm, nhưng đối tượng này lại chiếm số đông.
Còn nếu giao đất rừng cho dân quản lý thì tin chắc một điều rừng sẽ không còn. Ngược lại, duy trì cách quản lý như trước đây rừng cũng sẽ không khôi phục lại được bao nhiêu, đời sống người dân dưới tán rừng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tế đó, Nhà nước cần phải tính toán lại tỷ lệ rừng - tôm, phân định rạch ròi đâu là rừng cần được bảo vệ nghiêm ngặt, đâu là rừng khai thác… Và theo đó, cần nhiều cơ chế, chính sách phù hợp hơn nữa thì mới mong khôi phục lại diện tích RNM như trước kia, cuộc sống của người dân dưới tán rừng mới phát triển ổn định. (Báo Cà Mau 6/12)đầu trang(
Chúng ta thường quan niệm “rừng vàng, biển bạc” và cứ tưởng đây là nguồn tài nguyên vô tận. Thế nhưng, những năm qua, với sự tác động của con người bằng cách khai thác tuỳ tiện, những cánh rừng đước bạt ngàn ngày một thu hẹp dần, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nếu không có chính sách bảo tồn và phát triển kịp thời, hiệu quả thì hậu quả nhãn tiền sẽ diễn ra bởi tình trạng biến đổi khí hậu đã được dự báo truớc.
Những lò hầm than đang mọc lên như nấm sau mưa trong những cánh rừng đước thuộc địa bàn các huyện: Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi và ngay cả Khu dự trữ sinh quyển Vườn Quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau là một “bức tranh sinh động” nhất phản ánh những gì con người đang đối xử với rừng.
VQG Mũi Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên trên 41.000 ha. Đây là “lá phổi xanh” không chỉ đối với Cà Mau, đất nước mà có giá trị toàn cầu. VQG là nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, các ngành chức năng huy động toàn lực để bảo vệ.
Thế nhưng, “sức khoẻ” của “lá phổi” này cũng suy giảm nghiêm trọng bởi hàng trăm con người ngày đêm lén lút chặt hạ cây rừng phục vụ cho nhu cầu trước mắt: cái ăn.
Anh Nguyễn Xuân Lữ, Trạm phó Trạm kiểm lâm Cái Đôi, nhìn nhận: “Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài thì thấy cây rừng còn nhiều, nhưng phần lớn đều là cây nhỏ, đước lớn bị chặt phá rất nhiều. Mỗi ngày chúng tôi phát hiện và phá hàng chục lò hầm than”.
Cũng theo anh Lữ, tình trạng chặt phá rừng hầm than diễn ra từ rất lâu nhưng không thể triệt phá tận gốc bởi quanh khu vực VQG dân di cư rất đông. Phần lớn họ không có tư liệu sản xuất, sống chủ yếu bằng làm thuê, khai thác đánh bắt thủy sản ven bờ nên khi biển động không đi biển được họ lại vào rừng chặt đước hầm than bán kiếm sống.
Ông Huỳnh Thanh Xinh, Hạt Phó Hạt kiểm lâm Mũi Cà Mau, nhận định, việc tuần tra, bảo vệ rừng ở đây gặp rất nhiều khó khăn. Bởi không chỉ địa bàn rộng, lực lượng mỏng mà còn một nguyên nhân lớn hơn là rừng ở đây có 3 mặt giáp biển nên người dân ra vào rất dễ dàng.
Không những vậy, việc xử phạt cũng không mấy hiệu quả bởi thủ đoạn chặt phá và vận chuyển gỗ, than ra khỏi rừng rất tinh vi. Khi vào rừng chặt cây, họ không dùng phương tiện lớn, giá trị cao mà chỉ dùng bè để vận chuyển. Khi phát hiện lực lượng tuần tra, họ bỏ lại bè nên việc tịch thu phương tiện và xử phạt không đủ sức răn đe.
Tình trạng rừng bị xâm hại không chỉ để hầm than trái phép mà còn nhiều nguyên nhân khác là phục vụ cho khai thác thủy sản ven bờ. Mỗi mùa khai thác nghêu, cua, cá kèo giống đến là cây rừng lại thưa đi bởi khi đó người dân lại vào rừng chặt cây làm dụng cụ khai thác.
Ông Huỳnh Thanh Xinh cho biết thêm, việc phá rừng phục vụ khai thác hải sản ven bờ, đăng bắt giống hải sản hằng năm cũng là một nguyên nhân lớn làm cho số lượng cây rừng ngày một ít đi. Mỗi năm có hàng trăm người về đây để đăng bắt con giống. Họ cứ lén lút vào rừng chặt cây để đăng bắt, lực lượng kiểm lâm không thể kiểm soát.
Ông Nguyễn Văn Bốn, sống bằng nghề đăng cua giống ven sông ấp Rạch Thọ, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tâm sự, do không có đất sản xuất nên cứ đến mùa nghêu, cua giống là đi khai thác. Nhà không có đất canh tác nên chỉ còn cách vào rừng chặt cây đi đăng bắt giống, bán kiếm tiền sống qua ngày. Biết làm thế là vi phạm nhưng do nghèo nên làm liều để kiếm cái ăn truớc mắt.
Rừng đước đang cạn kiệt bởi bất cứ nguồn tài nguyên nào có được từ rừng họ đều không bỏ sót. Ông Trần Thanh Lâm, quê Bạc Liêu, lang bạt đến vùng Mũi Cà Mau kiếm sống, cho biết, vì nghèo, không có nghề nghiệp nên coi việc khai thác thủy sản ven bờ, mò cua, bắt ốc là nghề kiếm sống chính. Khi nào không đi biển được thì vào rừng đào sâm đất để bán kiếm tiền, túng quá chặt đước hầm than.
Tại địa bàn các huyện ven biển có rừng phòng hộ như: Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển có hàng trăm, thậm chí có lúc lên đến hàng ngàn người tứ xứ tập trung về. Chỉ cần một phần trong số họ vào rừng khai thác, phá hại thì khó có thể hình dung mỗi năm diện tích rừng ngập mặn của tỉnh bị thu hẹp đến mức nào.
Ông Huỳnh Thanh Xinh nhận định: “Khi nào chúng ta giải quyết được dứt điểm tình trạng di dân tự do tập trung về các khu vực rừng phòng hộ thì khi ấy bức tranh bảo vệ rừng mới sáng sủa hơn”.
Để làm được điều đó cần có sự nỗ lực từ nhiều phía, cả về quy hoạch dân cư, vùng khai thác cũng như có bước đột phá về chủ trương, chính sách bảo vệ và phát triển rừng cho những vùng rừng đặc thù như Mũi Cà Mau. (Báo Cà Mau 6/12)đầu trang(
Nhiều năm qua luôn tồn tại một nghịch lý giữa phát triển kinh tế và bảo vệ rừng. Đây là hai vấn đề gần như không thể cùng chung sống hòa bình với nhau. Tuy nhiên, thực tế nhiều hộ dân định cư tại các địa phương có rừng ngập mặn đang từng bước vươn lên làm giàu nhờ trồng rừng, bảo vệ rừng. Với họ, rừng chính là cuộc sống.
Anh Lê Minh Thảo, ấp Bông Súng, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, phấn khởi: “Rừng mới trồng lại sau này thôi nhưng phát triển rất nhanh. Thời gian gần đây, dân mê trồng rừng lắm, bởi mình được quyền khai thác, hưởng tới 95% giá trị chứ không còn thông qua công ty quản lý rừng như trước. Mình tự trồng, được hưởng lợi nên không còn ai phá rừng nữa”.
Những ngôi nhà tường khang trang mọc lên ngày một nhiều dưới những tán rừng đước thuộc địa bàn các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn. Cây đước ngày càng được giá, nhưng để “sống được” với cây đước, người dân phải tìm và thực hiện nhiều mô hình nuôi trồng, sản xuất theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài”. Những mô hình phụ ở vùng giao khoán đất rừng giờ đây gần như đã trở thành nguồn thu nhập chính của người dân.
Anh Lê Minh Thảo cho biết: “Tôi bắt đầu nuôi tôm sinh thái từ năm 2005 đến nay năm nào cũng hiệu quả, bình quân mỗi tháng thu được 40 triệu đồng/4 ha mặt nước”.
Anh Thảo có tất cả 12 ha đất. Do nuôi tôm sinh thái nên bắt buộc phải có một nửa diện tích dành cho trồng rừng, còn lại là diện tích mặt nước dành cho nuôi tôm. Nếu không đáp ứng yêu cầu này thì không được công nhận nuôi tôm sinh thái, vì vậy diện tích rừng luôn được duy trì.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là người dân nơi đây muốn trồng rừng, họ tự nguyện trồng bởi nguồn thu từ rừng mang lại cho họ là không nhỏ.
Ông Nguyễn Văn Lợi, kinh Chủ Điền, ấp Nhà Hội, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, cho biết, ông có 6 ha đất rừng, trồng cây trong vòng 10 năm là có thể khai thác. Vừa rồi ông mới khai thác đợt một được trên 30 triệu đồng. Tính ra với thời giá hiện nay thì đến khi khai thác hết diện tích này sẽ thu được từ 600-700 triệu đồng.
Đây là nguồn thu “bỏ ống” của gia đình ông bởi rừng sau khi trồng thì không tốn chi phí chăm sóc lớn, chỉ đợi thu hoạch. Trong khi đó, diện tích mặt nước dưới tán rừng được ông tận dụng nuôi tôm. Ông Lợi cho biết, năm vừa rồi tổng số tiền thu được từ mô hình nuôi tôm sinh thái của gia đình trên 300 triệu đồng.
Hiện tại có rất nhiều hộ thực hiện mô hình nuôi tôm sinh thái trên địa bàn huyện Năm Căn, Ngọc Hiển. Thực tế cho thấy, đây là mô hình hiệu quả không chỉ mang tới nguồn lợi trước mắt mà còn phát huy việc trồng và bảo vệ rừng.
Ông Lê Trung Nghĩa, điều phối viên của dự án nuôi tôm sinh thái địa bàn Lâm phần 184 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển, cho biết, hiện Năm Căn và Ngọc hiển có khoảng 1.200 hộ nuôi tôm sinh thái được công nhận. Nuôi tôm sinh thái không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn tăng diện tích rừng lên bởi người dân phải bảo đảm chỉ tiêu 50% diện tích là rừng.
Không chỉ nuôi tôm sinh thái, người dân sống dưới tán rừng ngập mặn giờ đây có thể kết hợp nhiều mô hình để phát triển kinh tế hiệu quả cao.
Ông Ba Sang (Nguyễn Văn Sang), ấp Xẻo Lá, xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển hợp đồng giao khoán đất rừng khoảng 6 ha. Ông trồng đước đạt tỷ lệ theo quy định, diện tích đất còn lại (khoảng trên 2 ha), ông nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi heo, trồng trên 100 cây mít, 200 gốc dừa, trên 300 gốc thanh long ruột đỏ và hoa màu…
Đặc biệt, vườn cây thuốc cá của ông trở thành điểm cung ứng cây giống và thành phẩm thuốc cá cho bà con ở địa phương. Dưới tán rừng đước, ông thả nuôi tôm sú và cua. Với mô hình này, mỗi năm gia đình ông Ba Sang thu nhập trên 400 triệu đồng.
Ông Ba Sang chia sẻ: “Giá trị kinh tế của cây đước không còn gì phải bàn cãi nữa, nhưng chu kỳ khai thác cây đước phải mất từ 7 năm trở lên. Vì thế, người dân không thể bó gối ngồi chờ được, mà phải xem đây là “của để dành”, là “tài sản tiết kiệm”.
Để bảo đảm đời sống, người dân phải chịu khó, sáng tạo, siêng năng lao động, tìm tòi những mô hình nuôi trồng, sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của vùng đất này. Thực tế cho thấy, chỉ cần nông dân kiên trì, sáng tạo thì các mô hình sản xuất ở vùng nước ngọt sẽ được thực hiện thành công, sáng tạo trên vùng đất mặn.
Ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng ấp Xẻo Lá, thông tin, 296 hộ dân trong ấp (đa phần thuộc đối tượng giao khoán đất rừng) hầu hết đều có cuộc sống khá ổn định. Tất cả bà con đều bảo đảm việc trồng rừng theo đúng tỷ lệ quy định kết hợp với nuôi tôm quảng canh cải tiến, chăn nuôi, trồng hoa màu, cây ăn trái… cho thu nhập khá ổn định. Đến nay, ấp Xẻo Lá chỉ còn 12 hộ nghèo (chiếm 4,05%). Hiện có thêm 8 hộ đang làm đơn xin thoát nghèo. Dự kiến đến cuối năm toàn ấp chỉ còn 4 hộ nghèo.
Điển hình trong cách làm mới, hiệu quả kinh tế cao còn có hộ ông Năm Tiến (Trần Văn Tiến), ấp Xẻo Mắm, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Điều đặc biệt là ở vùng đất mặn này, chỉ duy nhất một mình ông nuôi tôm sú nước lợ và cũng một mình ông là người tạo ấn tượng mạnh với các thương lái khi đều đặn từng con nước bán tôm sú thương phẩm loại 20 con/kg.
Ông Năm Tiến cho rằng, nguồn nước nuôi trồng thủy sản hiện tại đã và đang bị ô nhiễm, vì thế phải mạnh dạn đóng cống giữ nước ngọt vào mùa mưa để thuần thành nguồn nước lợ. Không ngờ, tôm sú giống sau khi thả nuôi ở môi trường nước này đạt tỷ lệ đầu con rất cao, mau lớn, ít dịch bệnh do không bị tác động từ môi trường nước bên ngoài.
Trên bờ bao đất rừng và vuông tôm (trên 4 ha), ông Năm Tiến trồng một số loại cây ăn trái như: chuối, xoài, mận, táo, sơ ri… cho thu nhập trên 80 triệu đồng/năm. Cùng với tôm sú nước lợ, nuôi cua, sò huyết… gia đình ông thu nhập trên 450 triệu đồng/năm.
Ông Bùi Minh Hòa, Chủ tịch UBND xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển cho biết, sắp tới sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bà con tăng gia sản xuất gắn với tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm nhiều mô hình sản xuất đa cây, đa con và ứng dụng hiệu quả ngay trên lâm phần của mình.
Rõ ràng, nhờ có những chính sách, chủ trương hợp lý mà người dân một số nơi biết dung hòa bài toán kinh tế và bảo vệ rừng. Cách bảo vệ rừng tốt nhất chính là để cho người dân tự nguyện bảo vệ. (Báo Cà Mau 7/12)đầu trang(
Lâm nghiệp có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau; là yếu tố cơ bản bảo đảm sự ổn định môi trường, nhất là trong giai đoạn biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang diễn biến phức tạp như hiện nay. Để bảo vệ và phát triển bền vững vốn rừng, cả đơn vị quản lý rừng và người dân sống dưới tán rừng đang thắt lòng chờ đợi những cơ chế, chính sách mới, đặc thù cho rừng.
Cà Mau có hai hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng ngập lợ, với tổng diện tích ổn định khoảng 105.000 ha, gồm 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Hiện tại, tỉnh có 7 ban quản lý rừng phòng hộ và 2 vườn quốc gia. Cứ 600 ha rừng được tỉnh phân bổ cho ban quản lý rừng 1 biên chế.
Theo chỉ tiêu phân bổ, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên, huyện Ngọc Hiển có 46 biên chế. Trong đó, có khoảng 23 cán bộ lãnh đạo, bộ phận văn phòng, kế toán, kỹ thuật… không trực tiếp tuần tra, bảo vệ rừng. Còn lại 23 cán bộ, nhân viên được bố trí tại các tiểu khu và tuần tra lưu động trên diện tích 12.723 ha.
Bình quân mỗi cán bộ phải giữ khoảng 553 ha rừng trong điều kiện địa hình sông nước, ven biển, thiếu phương tiện, dụng cụ hỗ trợ... Để “kham” nổi trọng trách này, không cách nào khác chủ rừng phải thuê thêm lao động ngoài biên chế được giao.
Ông Trần Văn Duy, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên, cho biết: “Ngoài lương, cán bộ của Ban quản lý rừng không còn chế độ, chính sách gì thêm. Công việc thì nhiều, với lực lượng như thế chắc chắn sẽ khó bảo đảm thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chúng tôi phải hợp đồng thêm lao động và trả lương cho họ từ nguồn kinh phí khoán vốn rất eo hẹp của mình”.
“Cũng là đơn vị quản lý, bảo vệ rừng như nhau, nhưng hạt kiểm lâm thì được hưởng các chế độ ngoài lương, như phụ cấp thâm niên, ưu đãi nghề, phụ cấp lưu động, độc hại… còn các ban quản lý rừng phòng hộ và vườn quốc gia thì không. Đó là điều bất hợp lý cần sớm được Chính phủ và bộ, ngành Trung ương điều chỉnh”, ông Duy kiến nghị.
Ông Huỳnh Văn Xê, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng, chia sẻ: “Diện tích rừng sản xuất và rừng phòng hộ do đơn vị quản lý khá lớn, địa hình phức tạp, có nhiều cửa sông thông ra biển. Trong khi đó, cán bộ tuần tra vừa mỏng về lực lượng, lại thiếu phương tiện, nhất là phương tiện chuyên dụng trên biển, thiếu dụng cụ hỗ trợ, một số phương tiện được cấp trước đây nay đã xuống cấp, hư hỏng…
Bên cạnh đó, trên địa bàn có nhiều khu tái định cư, hộ nghèo đông, không có công ăn việc làm nên phần đông bà con vào rừng bắt sâm đất, ốc len, ba khía, kể cả chặt phá cây rừng hầm than để mưu sinh… Vì thế, công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn, thách thức”.
Những năm gần đây, hộ dân nhận khoán đất rừng sản xuất khu vực rừng ngập mặn “thiết tha” trồng rừng là do giá trị kinh tế của cây đước đã được khẳng định. Bên cạnh đó, UBND tỉnh ban hành một số cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng đã khuyến khích người dân hăng hái trồng rừng. Theo đó, trường hợp rừng do bên nhận khoán tự đầu tư trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ thì lợi nhuận sau thuế bên nhận khoán sẽ được hưởng 95%. Đó là mức hưởng lợi cao nhất từ trước đến nay.
Ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết, căn cứ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 19/2010/QĐ-UB trên tinh thần kế thừa Quyết định số 24/2002/QĐ-UB của UBND tỉnh vừa hết hiệu lực. Quyết định này ban hành quy định về thực hiện một số chính sách bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Để khuyến khích hộ dân quan tâm công tác bảo vệ, quản lý rừng, vừa đảm bảo nâng cao đời sống của bà con nhận khoán đất rừng, UBND tỉnh đã nâng mức hưởng lợi từ rừng cho bà con cao hơn nhiều so với quy định chung của cả nước.
Vì thế đời sống của bà con nhận khoán đất rừng khu vực rừng ngập mặn được cải thiện một bước. Tuy nhiên, để có cây giống, nguồn vốn, mặt bằng trồng rừng không phải hộ dân nào cũng có đủ điều kiện thực hiện. Đó là chưa kể tới nhu cầu đầu tư về hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh, khu tái định cư, đặc biệt là nhu cầu đê ngăn triều cường nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân trước biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao.
Ông Nguyễn Văn Lợi, ấp Nhà Hội, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, cho rằng, đa phần hộ dân nhận khoán đất rừng gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư trồng rừng. Điển hình như gia đình ông nhận khoán 6 ha, phải bảo đảm trồng rừng đúng theo tỷ lệ 60% thì cần khoản chi phí đầu tư trên 50 triệu đồng.
Chính từ việc các ngân hàng “đóng cửa, cùng sự huy động nguồn vốn bên ngoài gặp khó dẫn đến hệ lụy là tiến độ trồng rừng chậm, manh mún, không đồng bộ theo kiểu “da beo”.
Rừng ở khu vực ĐBSCL đang rất cần Trung ương quan tâm hỗ trợ cơ chế đặc thù trước tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đó là kiến nghị mà UBND tỉnh, Ban Giám đốc Sở NN&PTNT nhiều lần đặt lên bàn nghị sự với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương trong thời gian qua.
Gần đây nhất là kiến nghị với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhân chuyến Chủ tịch nước khảo sát tuyến đê biển các tỉnh ĐBSCL.
Ông Trần Văn Thức tâm huyết: “Tất cả chúng ta đều biết, một trong những giải pháp tối ưu để ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng là tạo “lá chắn”, “vành đai” rừng khu vực ven biển. Để làm được điều này không chỉ một vài đơn vị quản lý, bảo vệ rừng là đủ, mà phải có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng.
Trong đó, vai trò quyết định vẫn là đơn vị chủ rừng và hộ dân nhận khoán đất rừng. Vì thế, để bảo vệ và phát triển rừng, chúng tôi kiến nghị Chính phủ cần sớm ban hành, điều chỉnh, bổ sung một số cơ chế, chính sách về rừng không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, nhằm bảo đảm phục vụ điều kiện công tác và nâng cao đời sống của chủ rừng và hộ dân nhận khoán đất rừng. Đặc biệt, quan tâm xây dựng cơ chế đặc thù đối với rừng khu vực ĐBSCL” (Báo Cà Mau 9/12)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Mặc dù người dân lo lắng, các nhà khoa học phản ứng nhưng các địa phương vẫn thoải mái chấp thuận cho xây dựng thủy điện trong vùng rừng quốc gia. Tại sao ? có vấn đề gì ở đây ?
Thông tin sẽ có gần 60 ha rừng trong vùng lõi Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) sẽ bị xóa sổ khi Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk xây dựng đã làm nhiều bạn bạn đọc bức xúc. Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên đang bị Thủy điện Đồng Nai 6, 6A đe doạn thì nay lại đến Vườn Quốc gia Yok Đôn.
Nhiều bạn đọc bức xúc đặt câu hỏi: tại sao nơi nào nhiều rừng, nhiều gỗ quý thí các nhà đầu tư lại chọn làm thủy điện ? Và đặc biệt hơn nữa là các cấp chính quyền, ngành sở địa phương lại rất ủng hộ. Có phải vì điện không hay vì cái gì ở trong rừng ?
Bạn đọc Nguyễn Tuấn, cho biết: “Các nước tiên tiến đã ngừng xây dựng thủy điện vì lợi thì ít mà hại quá nhiều: phá vỡ hệ thống sinh thái tự nhiên, hủy diệt rừng, hủy diệt lá chắn bão lũ... Vậy mà không hiểu sao Việt Nam lại hăng hái hủy diệt rừng để làm thủy điện vậy?”
Buồn bã trước thông tin trên, một bạn đọc lấy nichname Cao Nguyên Không Còn Xanh, đặt vấn đề: “Lại phá rừng. Nơi nào có nhiều gỗ quý thì nơi đó sẽ được xây đập thủy điện, một cái cớ hợp lý, hợp pháp để phá rừng lấy gỗ, rồi những khối gỗ quý kia sẽ đi đâu? VQG Yok Đôn là sỡ hữu của toàn dân, không của riêng ai, vậy toàn dân phải cùng được chiêm ngưỡng, dạo chơi trong cánh rừng của mình, toàn dân phải được hỏi ý kiến khi một nhóm lợi ích định biến nó thành công cụ kiếm tiền của riêng mình chứ”.
Bạn đọc tên Dũng bày tỏ: “Phải viết lại chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh thôi. Tình thế lúc này Thủy Tinh đang gặp thời hay sao ấy. Thủy Tinh đang dùng nhiều chiêu len lỏi vào những vùng quan trọng để xây dựng cơ sở nhằm cát cứ lâu dài, tiêu diệt đuổi dần quân Sơn Tinh. Khi có bất thường thì Thủy Tinh ra tay tàn phá tiêu diệt nhiều hơn... Hình như phía sau Thủy Tinh có một "Chằn Tinh" đầy phép thuật luôn ủng hộ”. Còn bạn đọc Hai Nhách nói thẳng: “Phá rừng hợp pháp, tiền bán gỗ chia nhau là đủ giàu rồi!”
Bạn đọc Lệ Hoa, phân tích: “Khi giải trình một dự án khả thi để rồi thực thi vẫn có thể khác xa nhiều lắm. Để làm được thủy điện thì số lượng rừng bị hủy diệt rừng luôn nhiều hơn so với thực tế là điều chắc chắn. Bao nhiêu thủy điện vừa xây đã cho thấy thực tế này nên không thể tin vào những con số trên dự án của nhà đầu tư nữa rồi. Ai nói chỉ phá rừng trong điều kiện cho phép hay đúng như dự án thì hãy cam đoan rồi mới làm. Còn tôi không tin”.
Bạn đọc Cát Tiên, bày tỏ: “Nghe đến phá rừng là mất cảm tình rồi. Việt Nam nổi tiếng là rừng vàng nhưng bây giờ thấy không còn được bao nhiêu nữa. Họ dùng mọi cách để phá rừng, nhỏ thì lén lút chặt cây, săn bắn; lớn thì móc nối cán bộ đưa xe tải, máy cứ vào. Còn lậy dự án thủy điện thì phải gọi là tận diệt hợp pháp”.
Bạn đọc Nguyễn Tuấn muốn trao đổi thẳng vấn đề này với Bộ Tài nguyên - Môi trường: “Đã nằm trong phạm vi bảo vệ nghiêm nghặt của vườn quốc gia sao lại cho xây dựng thủy điện để hủy diệt rừng? Tôi còn nhớ một vị giáo sư đã nói: "Chủ đầu tư chỉ trồng lại được cây, chứ không thể trồng lại rừng, vì rừng là cả một hệ sinh thái động vật thực vật phải trải qua hàng trăm năm mới hình thành". Ông Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường chắc phải hiểu rõ điều này hơn ai hết ! Phá rừng là phá hoại môi trường, thưa ông. Lá chắn bão tố lụt lội sẽ không còn một khi các ông ký giấy duyệt cho họ hủy diệt rừng, hủy diệt hệ sinh thái. Chỉ tội là bà con sẽ lãnh đủ sự trả thù của thiên nhiên mà thôi”.
Cảm khái với những vẻ đẹp của thiên nhiên Đăk Lăk, bạn đọc Sao Mai, tiếc rẻ: “Thật tội nghiệp cho Đăk Lăk, bao nhiêu con thác đẹp như mơ, niềm hãnh diện của người dân Tây Nguyên, nguồn cảm hứng của khách du lịch, đã bị bóp chết vì thủy điện; nay lại đến vườn Quốc Gia Yok Đôn, vì lợi nhuận của một nhóm, các người cứ tận diệt, xẻ thịt không thương tiếc hết cánh rừng này đến cánh rừng khác. Đã là vườn quốc gia vẫn không được bảo vệ và tôn trọng thì dần dà nó sẽ trở thành vườn của một số đại gia và những cán bộ chấp thuận cho xây dựng thủy điện”.
Cùng cảm xúc, bạn đọc Tiếng xưa chân thành bày tỏ: “nhỏ những giọt nước mắt ngậm ngùi thương tiếc cho một cánh rừng thiêng sắp bị khai tử. Thủy điện chỉ là cái cớ, lợi ích của một nhóm người mới là chính, có khóc có thương thì cũng không ngăn được những kẻ đã dùng tiền bạc và quyền lực dẫm đạp lên tiếng nói từ lương tâm, từ con tim yêu thiên nhiên của bao người. Rừng thiêng Yok Đôn ơi, xin cho ta thắp một nén nhang để tiễn biệt người. Từ nay ta và nhiều người sẽ không còn đặt chân đến đây nữa, vì ta không muốn nhìn thấy cảnh hoang tàn, đìu hiu khi rừng bị xé nát một cách không thương tiếc”.
Đồng quan điểm trên, bạn đọc lấy nickname Rừng Xưa Đã Khép, chia sẻ: “Du khách đến với Tây Nguyên vì những ngọn thác đẹp, hùng vĩ, những cánh rừng nguyên sinh hoang sơ đại ngàn che bóng. Giờ đây, những thứ đó đã mất đi, voi Bản Đôn cũng đã bị những kẻ dã man giết hại, có nghĩa là ngành du lịch Đăk Lăk cũng sẽ chết, người dân Tây Nguyên cũng không còn gì để mà tự hào nữa. Ôi, thời đại mà của thì nặng hơn người”.
Kết luận ngắn gọn, bạn đọc Ánh Hồng, nói: “Nếu Vường Quốc gia Yok Đôn không mang trong lòng nhiều gỗ quý thì có lẽ nó sẽ không chết vì đập thủy điện”. (Người Lao Động 10/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Một con cá sấu dài 1,2 m đã được tìm thấy trong bể cá tại một điểm thu gom rác ở Hồng Kông khiến nhiều người dân trong vùng hoảng loạn.
Con cá sấu bị người chơi thú bỏ rơi, vứt giữa bể cá được phát hiện vào ngày 9-12 tại quận Tai Po, Hồng Kông. Hiện nó đang được chăm sóc tại một trung tâm động vật ở quận Bắc.
Phát ngôn viên của Bộ Bảo tồn Nông nghiệp - Thủy sản cho biết hiện vẫn chưa có quyết định về việc liệu con cá sấu này có được chuyển đến công viên Wetland Park hay không. Đây là nơi Pui Pui –một con cá sấu gặp hoàn cảnh tương tự - đã từng được chuyển đến sống vào năm 2006.
Phát ngôn viên này cho biết con cá sấu nặng 5 kg, không trầy xước và rất khỏe mạnh. Hiện các chuyên gia vẫn chưa xác định được tuổi của nó. Bà nói: “Con cá sấu này có được chuyển đến công viên nơi Pui Pui ở hay không đều phụ thuộc vào kết quả kiểm tra của nó”.
Tại địa phương này, người dân thường chọn cá sấu cùng nhiều động vật hoang dã khác như nhện, rắn, thằn lằn làm vật nuôi cảnh. Tuy nhiên, một chủ cửa hàng vật cưng cho biết rất ít người kiên trì đến cùng sở thích này.
Dio Chan - chủ cửa hàng vật nuôi New Equator - cho biết ông đã từng nghe về việc nhiều người nhập khẩu cá sấu để chơi, dù ở Hồng Kông cấm việc này. Ông nhận xét: “Mọi người nghĩ nuôi một con cá sấu là điều đơn giản. Nhưng khi nó lớn, họ sẽ phải bỏ tiền mua một cái lồng to, nhiều thức ăn, thiết bị khác và cuối cùng lại vứt nó đi”.
Trong khi đó, một tổ chức bảo vệ động vật ở Hồng Kông đã kêu gọi thành lập đội cảnh sát điều tra về những trường hợp tương tự. (Người Lao Động 11/12)đầu trang(
Người dân ở Florida đang cố gắng bảo vệ hệ thống sinh thái ở vườn quốc gia Everglades bằng nhiều cách trước sự hoành hành của một con trăn Miến Điện khổng lồ.
Nhiều người đã tham gia chiến dịch truy đuổi kéo dài tới cả tháng đối với sinh vật nêu trên, vốn đã tấn công nhiều con chim và thú vật khác trong vườn quốc gia.
Giải thưởng được đưa ra là 1.500 USD cho ai bắt được con trăn nêu trên, thời hạn là 12/1/2013.
Thông báo về giải thưởng nêu trên khẳng định: “Chúng ta cần nâng cao nhận thức của mọi người về loài trăn Miến Điện và đây là loại động vật gây ra nhiều nguy hiểm cho hệ thống sinh thái ở vườn quốc gia Everglades.”
Loài trăn Miến Điện (tên khoa học là Python molurus bivittatus) được phát hiện lần đầu năm 1979 tại đầm lầy ở vườn quốc gia Everglades, nơi mà có thể nó được một người nào đó nuôi làm cảnh.
Chỉ trong vòng 21 năm qua, loài này đã thích nghi được với điều kiện tại quê hương mới.
Giờ đây, với khả năng sinh đẻ của loài này, giới khoa học ước tính có hàng nghìn con trăn Miến Điện ở phía Nam bang Florida.
Hồi tháng Tám vừa qua, các giáo sư ở trường Đại học Florida đã kiểm tra một con trăn Miến Điện có độ dài kỷ lục, 5,36m, nặng 74,5 kg và có 87 quả trứng. (VietnamPlus.vn 10/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa