|
Ngày 12 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 11.11, bác sĩ Trịnh Hồng Nhựt, Trưởng khoa Hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk, cho biết số người bị rắn cắn, chủ yếu là rắn lục đuôi đỏ, phải vào BV này điều trị tăng đột biến kể từ tháng 10, khi bắt đầu vụ thu hoạch cà phê đến nay.
Bình quân mỗi ngày có 2 - 3 bệnh nhân nhập viện, có ngày tới 5 - 6 bệnh nhân, trước đó mỗi ngày chỉ 1 - 2 ca.
Theo bác sĩ Nhựt, trong số người bị rắn cắn có nhiều phụ nữ, trẻ em, thậm chí có người đang mang thai; phần lớn người bị rắn cắn được điều trị tại BV vài ngày, nhưng có trường hợp kéo dài hơn một tháng như bà Đặng Thị Sự, 80 tuổi, ở H.Krông Pắk (Đắk Lắk), do nhập viện chậm, nọc độc rắn phát tán mạnh trong cơ thể.
Bác sĩ Nhựt nhận định, môi trường rừng tự nhiên bị thu hẹp, các loài như chồn, cáo bị tận diệt nên rắn lục đuôi đỏ sinh sản nhiều, tràn về trú ngụ ở các vườn cà phê, tiêu… Do màu sắc rắn trùng màu lá cây nên khó phát hiện, người hái cà phê cần phải cảnh giác, có biện pháp bảo vệ, phòng ngừa rắn cắn. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
Ông Trương Thanh Sơn, Giám đốc Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (Long An), cho biết khu bảo tồn này vừa chính thức được công nhận là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế về sinh học và bảo tồn) thứ 7 của VN và thứ 2.227 của thế giới.
Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen được thành lập năm 2004. Đến nay, ngoài Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), Láng Sen hiện là khu vực còn lại có hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười.
Với tổng diện tích hơn 4.800 ha, Láng Sen là môi trường sống của hơn 150 loài thực vật, 140 loài chim, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm có tên trong sách đỏ như: sếu đầu đỏ, điên điển, quắm đen...
Dự kiến lễ đón nhận bằng công nhận Khu Ramsar Láng Sen sẽ diễn ra vào ngày 27.11. (Thanh Niên 11/11) đầu trang(
Ngày 11-11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết, đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh Lâm Đồng để chỉ đạo vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà khẩn trương hoàn tất hồ sơ khởi tố vụ khai thác gỗ pơ mu trái phép, đồng thời chuyển hồ sơ cho công an địa phương để điều tra, xử lý theo quy định.
Trước đó, ngày 14 và 15-10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng phối hợp Hạt kiểm lâm Lạc Dương, vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và Công an tỉnh Lâm Đồng kiểm tra hiện trường, phát hiện vụ khai thác trái phép gỗ pơ mu (nhóm IIA) trên quy lớn tại tiểu khu 130, lâm phần do vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà quản lý. Tại hiện trường, cơ quan chức năng ghi nhận, có chín cây pơ mu (hơn 19 m3 gỗ) bị khai thác trái phép.
Ngoài ra, qua phối hợp điều tra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thiện hồ sơ và xử phạt hành chính 28 triệu đồng đối với hai đối tượng trú tại huyện Lạc Dương về hành vi mua, cất giữ lâm sản trái quy định, với hơn 1,6 m3 gỗ pơ mu.
Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục xử lý. (Nhân Dân 11/11; Quân Đội Nhân Dân 11/11) đầu trang(
Trong lúc thực hiện nhiệm vụ trục vớt gỗ do lâm tặc bỏ dưới sông, anh Trần Văn Quý (1987, cán bộ thuộc Đội kiểm lâm cơ động số 2, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam) bị nước cuốn trôi và tử vong.
Anh Quý đã được UBND tỉnh Quảng Nam xem xét và có văn bản đề nghị Bộ LĐ-TB&XH công nhận là liệt sỹ. Thế nhưng nhiều năm qua, nguyện vọng của chính quyền cũng như gia đình nạn nhân vẫn chưa được chấp thuận.
Ngày 15-5-2011, anh Trần Văn Quý đang làm nhiệm vụ trục vớt gỗ do lâm tặc cất giấu dưới lòng sông Vu Gia tại khu vực Mò O (xã Đại Sơn, H. Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) đã bị vòng nước xoáy cuốn trôi và tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh Quý đã được các cơ quan, ban ngành và các cấp chính quyền địa phương tỉnh Quảng Nam nhiệt tình giúp đỡ, Sở NN&PTNT phối hợp với Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Nam lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền công nhận anh Trần Văn Quý là liệt sỹ.
Tại Công văn số 829/LĐTBXH-NCC ngày 5-8-2011 của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Nam gửi Cục Người có công đề nghị cho ý kiến việc xác nhận liệt sĩ đối với Trần Văn Quý. Đến ngày 13-9-2011, Cục Người có công có Văn bản số 811/NCC trả lời với nội dung: "Căn cứ quy định tại Điều 3 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26-5-2006 của Chính phủ, trường hợp chết của Trần Văn Quý chưa thuộc diện xem xét xác nhận liệt sỹ".
Tiếp đến, ngày 4-10-2013, UBND tỉnh Quảng Nam có Công văn số 3862/UBND-VX gửi Bộ LĐ-TB&XH đề nghị công nhận liệt sỹ đối với anh Trần Văn Quý. Đến ngày 4-6-2015, Bộ LĐ-TB&XH có Công văn phản hồi số 2110/LĐTBXH-NCC với nội dung: "Ông Quý trong khi xuống sông tham gia trục vớt gỗ trái phép đang cất giấu dưới lòng sông, không mặc áo phao, lội (bơi) được khoảng 4-5m bị sụp vào hố nước sâu có vòng xoáy nên bị nước cuốn trôi chết. Đây là công tác giải quyết sự vụ của nhân viên kiểm lâm khi được giao, tai nạn xảy ra dẫn đến chết người là yếu tố bất ngờ không thể biết trước.
Trong xác nhận liệt sỹ dũng cảm là hành động xả thân của cá nhân, mặc dù biết trước là nguy hiểm đến tính mạng của bản thân nhưng vẫn hành động để cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân.
Do đó không thể coi trường hợp nêu trên là hành động dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc xả thân để cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân. Vì vậy, ông Trần Văn Quý không đủ điều kiện xác nhận liệt sỹ theo quy định hiện hành".
Trước công văn của Bộ LĐ-TB&XH, ông Trần Đức Dũng (1953, trú thôn Ngọc Mỹ, xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam), cha anh Quý không đồng tình và tiếp tục gửi đơn cầu cứu các ngành chức năng. Qua trao đổi về nội dung vụ việc với Luật sư Phạm Xuân Linh, Văn phòng luật sư Phụng Công (thuộc Đoàn luật sư TP Đà Nẵng), luật sư Phạm Xuân Linh cho rằng: Qua nghiên cứu, nội dung Công văn của Bộ LĐ-TB&XH chưa phù hợp với điểm e khoản 1 Điều 17 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9-4-2013 của Chính phủ quy định điều kiện xác nhận liệt sỹ và chưa phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
Bởi vì, Điểm e khoản 1 Điều này quy định: "Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và của nhân dân" là một trong các điều kiện để được xem xét xác nhận công nhận liệt sỹ.
Vì thế, đối chiếu với trường hợp của anh Trần Văn Quý đang làm nhiệm vụ đã không quản ngại khi lội xuống dòng nước xoáy nguy hiểm của sông Vu Gia để trục vớt gỗ do lâm tặc phá rừng cất giấu, vận chuyển dưới lòng sông và bị nước cuốn chết. Do đó, hành động của anh Quý phải được xem là hành động dũng cảm để cứu tài sản của Nhà nước.
Mặt khác, tại Công văn số 3862/UBND-VX ngày 4-9-2013 của UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã khẳng định: "Việc ông Trần Văn Quý không quản ngại nguy hiểm, hy sinh tính mạng trong lúc trục vớt gỗ đang chìm sâu dưới lòng sông phục vụ cho công tác điều tra, xử lý đối tượng khai thác rừng trái phép là một hành động dũng cảm, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quốc gia".
"Công văn của Bộ LĐ-TB&XH cho rằng anh Trần Văn Quý có lỗi do khi đó không mặc áo phao là chưa phù hợp với thực tế diễn biến của sự việc. Bởi vì, nếu anh Quý mặc áo phao thì người sẽ nổi lên mặt nước không thể lặn xuống đáy lòng sông để trục vớt gỗ được"- luật sư Linh phân tích...
Như vậy, đối chiếu những nội dung lý giải nêu trên cho thấy hành động của anh Trần Văn Quý là dũng cảm, nhưng lại không được Bộ LĐ-TB&XH chấp nhận là chưa thỏa đáng.
Thiết nghĩ, việc đấu tranh bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm nói riêng và của các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bảo vệ rừng nói chung hiện nay rất khó khăn gian khổ và luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng, do đó việc Bộ LĐ-TB&XH đồng ý làm thủ tục công nhận liệt sỹ cho anh Trần Văn Quý sẽ là nguồn động viên, cổ vũ của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ, công chức, cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bảo vệ rừng yên tâm công tác, dám kiên quyết đấu tranh để bảo vệ rừng, đương đầu với hiểm nguy để bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân theo quy định của pháp luật. (Công An TP.Đà Nẵng 11/11) đầu trang(
- Có một ông Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đăk Na (tỉnh Đắk Nông) vừa bị công an bắt giam, bác ạ.
- Lại thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng chứ gì?
- Ông này để mất 12ha đất rừng và 5.609ha bị lấn chiếm.
- Chú có biết sân bay Tân Sơn Nhất máy bay đậu như đàn chim, mà chỉ có 1.500ha thôi đấy nhá. Ông này chắc chắn phải hầu tòa và ăn cơm tù dài dài...
- Chưa chắc đâu, bác ơi!
- Sao?
- Chính phủ vừa có báo cáo cả nước có 39/53 tỉnh, thành có các nông-lâm trường bị lấn chiếm đất đai tới 297.678ha, ngoài ra 24/53 tỉnh có tranh chấp đất đai của nông-lâm trường với diện tích 61.038ha. Ông Đăk Na chưa là cái đinh!
- Ngày xưa có Bộ Nông-Lâm, có Tổng cục Nông trường, hoành tráng lắm, xương sống của kinh tế quốc doanh...
- Còn ngày hôm nay mỗi hecta đất nông-lâm trường trong 10 năm qua chỉ đóng góp cho ngân sách 90.000 đồng, không đủ mua yến gạo thường.
- Có chuẩn không đấy?
- Tin từ Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề đất đai nông-lâm trường mà không chuẩn sao?
- “Rừng vàng biển bạc” - cha mẹ ơi! Một vạn mét vuông đất mà Nhà nước chỉ thu được mỗi năm có 5-7 cân gạo, bằng vài cây ớt hiểm tớ trồng trong gáo dừa, quanh năm không phải mua ớt. Vậy CBCNV nông-lâm trường lấy gì mà sống?
- Họ sống bình thường như chúng ta, không có siêu xe như dân showbiz nhưng cũng cót két xe đạp, xe máy, vẫn có điện để xem tivi.
- Thế sao lâm tặc, lái gỗ lại giàu nứt đố đổ vách nhỉ?
- Ăn trộm gỗ lâm trường, nhưng đó lại thuộc trách nhiệm của kiểm lâm. Còn các nông trường trồng cây công nghiệp thì không biết tình hình, đi qua các vùng này vẫn thấy bà con bày bán nông sản dọc đường như hộ cá thể.
- Chú có nhớ bài hát ngày xưa “Rừng ơi, ta đã về đây!” và bài “Hoàng hôn trên nông trường” không?
- Sao không, toàn bài hay, có điều nay chẳng ai buồn hát nữa, những bài ca đã ra đi cùng năm tháng! (Lao Động 11/11) đầu trang(
Mấy năm nay, người dân ở xã Kim Hóa (huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình) đã tiến hành đốt những khoảng rừng nghèo kiệt để chuyển sang trồng keo, mong muốn có thu nhập cải thiện cuộc sống.
Vì thiếu hiểu biết pháp luật, nên những cây keo của người dân trồng trái phép xong, thì cũng là lúc chính quyền địa phương thành lập tổ để đi nhổ để cưỡng chế. Điệp khúc dân trồng rừng chính quyền đi “xóa” đã tồn tại nhiều năm nay mà chưa có hướng giải quyết dứt điểm.
Xã Kim Hóa là một xã nghèo miền núi của huyện Tuyên Hóa, với diện tích trải rộng chủ yếu là đồi núi hiểm trở và khe suối. Người dân trong xã đa số sống dựa vào rừng và tận thu các lâm sản phụ từ rừng như hái măng, hái lá nón,lấy mật ong rừng…Rừng ngày nay đã nghèo kiệt chỉ còn lại cây bụi, tre, nứa và cây leo chằng chịt không nuôi sống được những người dân nghèo miền núi. Đất canh tác nông nghiệp trồng lúa và trồng hoa màu thì được khai hoang tận dụng hết cũng chỉ hơn 50ha trên toàn xã.
Để cuộc sống người dân được đảm bảo ổn định và phát triển, chính quyền địa phương đã thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp và khoán rừng cho các hộ dân theo chủ trương của nhà nước. Tuy nhiên, công tác chuyển đổi đất lâm nghiệp và giao khoán rừng đang gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, nên người dân chờ lâu, và đã có nhiều hộ tự ý kéo vào phá rừng ngoài quy hoạch để trồng rừng sản xuất.
Năm 2011, khoảng hơn chục hộ dân trên địa bàn thôn Kim Lịch đã tự ý kéo nhau vào khu vực Động Lếch thuộc vùng Đèo Khe Nét sẻ phát rừng thuộc xã quản lý. Đợt sẻ phát này, hộ nhiều thì hơn 4hecta, hộ ít cũng vài hécta. Sau khi sẻ phát xong, năm 2012, các hộ dân đã tiến hành trồng cây keo trên diện tích đã sẻ phát đó.
Chính quyền địa phương đã nắm được thông tin, và thành lập tổ gồm các lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, các đoàn thể, Mặt trận của xã vào cuộc đi cưỡng chế. Lúc chính quyền đi cưỡng chế, những hộ dân không dám đứng ra nhận trách nhiệm, nên xã đã tiến hành nhổ hết cây keo mới trồng trên toàn bộ diện tích đó.
Và từ năm 2012 đến nay, năm nào cũng xảy ra tình trạng dân nghèo vay tiền cả chục triệu để mua cây keo giống và thuê người trồng lên các diện tích đó, và xã cũng lại thành lập tổ để đi cưỡng chế, xóa bỏ các cây keo kia.
Chị Lê Thị Loan người ở thôn Kim Lịch cho biết: “chúng tôi sống gần rừng, nhưng không được giao đất lâm nghiệp để trồng rừng, cũng như không được giao rừng để khoanh nuôi bảo vệ. Trong khi đó các thôn khác, các hộ dân đã được giao đất, nên họ trồng keo đã thu hoạch được nhiều vụ rồi, cuộc sống họ ổn định. Còn chúng tôi chẳng biết làm gì mà sống, đất ruộng thì được sào, vườn thì không có, ngồi chờ nhà nước thì biết bao giờ mới được giao đất mà làm ăn. Biết là trồng khi chưa được giao đất là sai, nhưng đói thì phải làm liều thôi”.
Anh Thoại xót xa tiếc của khi xã đi cưỡng chế nhổ keo “dù chúng tôi có trồng cây trên đất chưa được giao là sai, thì xã cũng không nên nhổ, hay chặt phá như thế. Để trồng được một vạn cây keo thì nhà tôi đã mất 35 triệu đồng tiền cây giống, ngoài ra còn tiền thuê người đi trồng nữa cũng tốn hơn 50 triệu đồng. Nhưng xã đã cho người nhổ hết. Chứng tôi nghĩ dù chúng tôi làm sai, thì xã cũng nên giữ số cây đó lại, sau này chia rừng thì hộ nào nhận, thì họ được hưởng và trả lại tiền cây giống và tiền công trồng cho chúng tôi. Có những đám cây keo trồng từ năm 2012, đường kính thân cây đã gần 20cm thế mà năm 2014 xã đã cho người dùng dao chặt nhiều nhát ngang thân cây. Khi có trận gió là cây gãy hết cả loạt, rất xót của”.
Trao đổi với cúng tôi về vấn đề trên, ông Hoàng Anh Tuấn - chủ tịch UBND xã thừa nhận “Công tác bảo vệ rừng hiện nay ở địa phương đang tồn tại nhiều bất cập. Chính quyền địa phương đã tuyên truyền đến từng thôn xóm công tác bảo vệ rừng, cũng như tuần tra, xử lý ngăn chặn việc phá rừng. Thế nhưng việc người dân trồng keo vi phạm trên đất xã quản lý chưa chuyển đổi vẫn đang diễn ra. Sau khi phát hiện dân trồng keo trái phép, xã đã thành lập tổ để cưỡng chế dứt điểm, để tránh việc người dân này làm được rồi các hộ khác làm theo và kéo nhau vào phá rừng”.
Một nguyên nhân làm cho người dân phá rừng trồng keo vì nguyên nhân họ thiếu tư liệu sản xuất để ổn định cuộc sống. Cụ thể toàn xã Kim Hóa có 1500 hộ dân với trên 5700 nhân khẩu nhưng chỉ có 56 hecta đất sản xuất nông nghiệp. Nên người dân phải sống dựa vào đất lâm nghiệp trồng rừng sản xuất và khai thác các lâm sản phụ từ rừng.
“Toàn xã đã tiến hành giao đất lâm nghiệp được hơn hơn 11500hecta, 280 hecta trồng cây cao su theo quy hoạch của tỉnh, 4200hecta rừng do Ban phong hộ chuyển về cho địa phương thì sắp tới được chia cho dân để chuyển sang rừng sản xuất. Còn những khoảnh đất lâm nghiệp thuộc quản lý của xã mà người dân đã sẻ phát thì địa phương cũng tiến hành làm đề án, thủ tục chuyển đổi để rồi cấp cho người dân, nhưng việc chuyển đổi này còn phụ thuộc vào các ban ngành cấp trên đồng ý” ông Tuấn cho biết.
Điều mà người dân địa phương đang mong chờ sự quan tâm của các cấp, các ngành và địa phương sớm vào cuôc chuyển đổi và cấp đất lâm nghiệp để các hộ dân có tư liệu sản xuất, ổn định đời sống. Điều này cũng giúp địa phương ổn định tình hình an ninh trật tự và quản lý đất lâm nghiệp và đất rừng được tốt hơn, để không còn điệp khúc “dân trồng-xã nhổ” như bấy lâu nay vẫn diễn ra. (Tầm Nhìn 12/11) đầu trang(
Con nưa hay còn gọi là trăn 9 mũi được xem là loài bò sát có nọc độc gây chết người. Ăn thịt nưa có thể bị co giật, rối loạn nhịp tim, đau cơ, nôn ói và nặng có thể bị suy thận, ảnh hưởng đến tính mạng.
Hàng năm tại Việt Nam đều có những vụ ngộ độc do ăn các loại động vật hoang dã, trong đó có ăn tiết canh, thịt con nưa, thậm chí có trường hợp tử vong.
Mới đây nhất, một gia đình 5 người ở Gia Lai và 7 người khác đã phải nhập viện do ăn thịt nưa để theo dõi. Cả 5 người trong gia đình đều có triệu chứng nôn ói, đau bụng, đau cơ.
Năm 2014, 3 bố con trong gia đình ông Lê Văn Hồ ở Đăk Lak bị liệt do uống tiết canh nưa pha rượu mặc dù đã được các bác sĩ chữa trị nhưng không thể chữa dứt điểm do chứng viên đa rễ thần kinh. Các bác sĩ tại Bệnh viện Chợ Rẫy đã không tìm được ký sinh trùng gây ngộ độc và được giải thích do các loại bò sát hoang dã ăn rất nhiều loại thức ăn có thể mang ký sinh lạ mà tại Việt Nam chưa thể phát hiện để định danh.
Cũng trên Vnexpress, vào năm 2013, tại tỉnh Gia Lai có trường hợp người nuôi nhầm nưa và trăn và bị cắn tử vong. Con nưa hay còn gọi là trăn 9 mũi được xem là loài bò sát có nọc độc gây chết người.
Theo dân gian, con nưa nhìn rất giống con trăn nhưng con nưa ngoài 2 lỗ mũi chính còn có 7 lỗ nhỏ xung quanh vùng mũi. Con nưa rất độc. Người bị cắn nếu không được chữa trị vết thương sẽ sưng phù và nhiễm trùng.
Hiện tại, do chưa có huyết thanh kháng độc con nưa nên việc chẩn đoán, chữa trị kéo dài và gặp không ít khó khăn.
Trên Báo Gia Lai, Lương y Bùi Quang Hưng- Phòng khám Bảo Hưng- TP. Pleiku cho biết: Việc ăn bao tử và uống mật các loài động vật ăn thịt là rất nguy hiểm. Các loài này thường tiết ra độc tố để tiêu hủy con mồi, do vậy độc tố này còn đọng lại trong dạ dày con vật và trong mật của chúng.
Ăn thịt nưa có thể bị co giật, rối loạn nhịp tim, đau cơ, nôn ói và nặng có thể bị suy thận, ảnh hưởng đến tính mạng. (Tin Mới 12/11) đầu trang(
Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, Nghệ An đang tích cực triển khai các biện pháp giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu.
Một trong những mô hình tích cực giảm thiểu các thảm họa thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra là trồng rừng ngập mặn ven biển. Để tiếp tục duy trì tính hiệu quả bền vững của mô hình này, các ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là cộng đồng dân cư vùng dự án thấy được lợi ích trước mắt và lâu dài của việc trồng rừng ngập mặn để bảo vệ rừng.
Đã gần trọn cuộc đời gắn bó với sông nước ở ven đê biển An Hòa, Ông Nguyễn Hoa Phượng đã chứng kiến những cơn dận giữ của thiên nhiên. Trước đây, mỗi khi có gió bão cấp 8, cấp 9, gia đình ông cùng những hộ sinh sống ở ven đê đã phải di dời đi nơi khác để tránh bão. Thế nhưng từ ngày rừng ngập mặn phát triển, mọi việc đã thay đổi. Ông Phượng nói: Khi bão về, rộng sông chừng nào thì giao động sóng càng lớn, khi rừng phát triển,hạn chế được sóng đánh, nó sẽ ít thiệt hại hơn, con tôm con cá cũng có môi trường tự nhiên để ẩn nấp…
Trước đây, rừng ngập mặn ở An Hòa bị chính người dân địa phương tàn phá để làm hồ nuôi tôm, nhưng rồi khi rừng mất, các hồ tôm cũng thất bát theo. Không những thế, mất rừng, vùng cửa biển của của xã có chỗ bị bào mòn sâu đến hơn chục mét. Thế nhưng, đến nay, khi rừng được trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển, nó đã giữ lại phù sa, trở thành những bãi bồi rất màu mỡ.
Rừng ngập mặn địa bàn ven biển xã An Hòa đã trở thành ngôi nhà của hàng chục đàn cò, dấu hiệu của việc phục hồi môi trường sinh thái, kết quả của việc trồng rừng ngập mặn, bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường sống của chính mình - Ông Lê Văn Quyết – Phó Chủ tịch UBND xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu cho biết.
Sự hồi sinh những cánh rừng ngập mặn ở Nghệ An là kết quả đáng mừng sau những nỗ lực đáng ghi nhận của dự án “trồng rừng ngập mặn – giảm thiểu rủi ro, thảm họa”. Với tổng diện tích trên 700 ha rừng ngập mặn được trồng tại 27 xã của 9 huyện; hàng nghìn người được hưởng lợi, ổn định được nơi ở và ổn định sản xuất - nhất là những người dân sống trong đê.
Ông Nguyễn Sỹ Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão Nghệ An cho biết: Từ những hiệu quả mà rừng ngập mặn mang lại, chúng tôi đang đề xuất phương án để tiếp tục trồng mới thêm diện tích ở những vùng xung yếu.
Rừng ngập mặn phát triển, cuộc sống người dân ven biển đang dần ổn định. Tuy nhiên, là quốc gia đứng thứ 5 về khả năng dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cuộc sống của hàng chục triệu dân, trong đó có những người dân ven biển tỉnh Nghệ An đang bị đe dọa, đặc biệt là những người dân nghèo và cận nghèo bị ảnh hưởng nhiều nhất vì điều kiện sinh kế của họ gần như phụ thuộc vào thiên nhiên.
Vì vậy, các ban ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân thấy được lợi ích trước mắt và lâu dài của việc trồng rừng ngập mặn, từ đó tham gia bảo vệ rừng; góp sức tạo nên “Bức tường xanh” vững chãi, bảo vệ sự bình yên cho cuộc sống người dân trước những tác động tiêu cực của thiên tai. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 11/11) đầu trang(
Khu rừng săng lẻ nằm dọc hai bên Quốc lộ 7, thuộc địa bàn bản Quang Thịnh, xã Tam Đình (Tương Dương) sẽ được đưa vào quản lý theo hệ thống rừng đặc dụng, có quy hoạch bảo vệ nghiêm ngặt và phát triển bền vững đến năm 2020.
Người dân đi qua, về lại trên Quốc lộ 7, đoạn qua huyện Tương Dương, hẳn không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của khu rừng săng lẻ tăm tắp tốt vượt, không khí trong lành, là một “thung lũng xanh” quyến rũ của miền Tây xứ Nghệ.
Không ai còn nhớ chính xác khu rừng có tự bao giờ, ngay như người dân bản Quang Thịnh (Tam Đình, Tương Dương) cũng chỉ đoán định rằng, dễ đã có hàng trăm năm.
Ông Vi Võ Tuấn - Trưởng bản Quang Thịnh chia sẻ: “Rừng săng lẻ đóng vai trò rất quan trọng với đời sống người dân. Không chỉ có giá trị về cảnh quan, tác dụng hạn chế lũ ống, lũ quét, mà còn là biểu tượng cho đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Thái vốn hài hòa, gần gũi với thiên nhiên”.
Vì lẽ đó, từ những năm 1995, 1996, dân bản Quang Thịnh đã xây dựng hương ước giữ rừng săng lẻ này, với nội quy, chế tài xử phạt chặt chẽ. Rừng săng lẻ là rừng tự nhiên, cơ bản thuần loài, có diện tích hơn 53 ha vùng lõi. Ông Vi Võ Tuấn cho biết, phần lớn diện tích là những cây săng lẻ cao 30 - 40m, chu vi trọn vòng tay người ôm, nhiều phen đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ ý đồ xấu của một bộ phận người dân, chủ yếu là người ngoại bản.
Một trong những nguyên nhân xảy ra tình trạng xâm hại rừng săng lẻ là do khu rừng được quy hoạch nằm trong hệ thống rừng sản xuất, nên cơ chế khoán bảo vệ dành cho các chủ rừng còn nhiều hạn chế.
Ông Vi Văn Thắng - Chủ tịch UBND xã Tam Đình cho biết: “Những năm về trước, công tác bảo vệ rừng săng lẻ chủ yếu dựa vào truyền thống, tâm huyết của người dân bản Quang Thịnh. Tuy nhiên, bản chỉ có 184 hộ dân, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, việc bảo vệ rừng vẫn chưa thể tập trung.
Để nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, năm 1999, chính quyền xã kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền xem xét hỗ trợ kinh phí cho một cán bộ chuyên trách lâm nghiệp xã, tuy nhiên phụ cấp nhận được quá thấp, mỗi tháng chỉ có 150.000 đồng, nên việc toàn tâm, toàn ý cho công tác bảo vệ rừng là rất khó”. Tín hiệu vui là từ năm 2013 đến nay, kinh phí dành cho việc bảo vệ rừng săng lẻ được bố trí thêm; mỗi năm xã Tam Đình nhận được 48 triệu đồng.
Ông Vi Văn Thắng cho biết, số tiền đó dùng để chi trả phụ cấp cho hai người dân bản Quang Thịnh, được dân bản tín nhiệm bầu làm người bảo vệ rừng, có nhiệm vụ canh gác, bảo vệ và phát dọn thảm thực bì.
Bất cập khác của việc quy hoạch rừng săng lẻ Tương Dương trong hệ thống rừng sản xuất là chế tài xử phạt đối với những đối tượng có hành vi lấn chiếm, khai thác trái phép rừng chưa đủ sức răn đe.
Chủ tịch UBND xã Tam Đình cho biết thêm, việc xử phạt được thực hiện theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trên thực tế, trong những lần các cơ quan chức năng tiến hành xử phạt các đối tượng có hành vi xâm hại rừng, khung phạt tiền còn thấp, chưa đủ sức răn đe đối tượng và nguy cơ tái phạm còn cao.
Trăn trở trước thực trạng công tác bảo vệ rừng săng lẻ còn nhiều bất cập, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của người dân địa phương, năm 2014, rừng săng lẻ Tương Dương đã được chuyển đổi quy hoạch từ rừng sản xuất sang rừng đặc dụng. Đồng thời, UBND huyện Tương Dương xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng săng lẻ đến năm 2020, giao cho Hạt Kiểm lâm huyện quản lý.
Ông Võ Sỹ Lâm - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tương Dương cho biết, khác với mục đích của rừng sản xuất, rừng đặc dụng được xác định nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng, nguồn gen thực vật, nghiên cứu khoa học, bảo vệ danh lam, thắng cảnh, phục vụ du lịch; vì vậy, công tác bảo vệ rừng được đặt lên hàng đầu, cùng với đó là việc phát triển diện tích rừng.
Hiện tại, tổng diện tích vùng quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng săng lẻ là hơn 1.300 ha, trong đó, diện tích rừng đặc dụng là 241,6 ha, bao gồm bảo vệ nghiêm ngặt đặc biệt hơn 53 ha rừng săng lẻ thuần loài và phục hồi sinh thái gần 188 ha. Toàn bộ diện tích này đều nằm trong ranh giới hành chính của xã Tam Đình.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương khẳng định, cơ sở để thực hiện thành công các mục tiêu quy hoạch bảo tồn nghiêm ngặt và phát triển bền vững rừng đặc dụng săng lẻ Tương Dương là việc đề ra các giải pháp cụ thể, quyết liệt và đồng bộ. Theo đó, cốt lõi của việc quy hoạch là giữ rừng từ gốc, nghĩa là dựa vào truyền thống, tâm huyết của người dân địa phương đối với việc bảo vệ rừng, từ đó, có những cơ chế hỗ trợ để lan tỏa tinh thần ấy trong toàn cộng đồng.
Khi rừng đặc dụng săng lẻ được quy hoạch bảo tồn và phát triển sẽ xóa đi những bất cập trong công tác bảo vệ rừng lâu nay, đó là khung chế tài xử phạt sẽ tăng lên, có tính nghiêm trị, răn đe cao hơn; cơ chế dành cho việc bảo vệ rừng có nhiều thay đổi tích cực; đặt trạng thái bảo vệ rừng vào diện nghiêm ngặt đặc biệt …
Hy vọng, với những giải pháp rốt ráo nêu trên, khu rừng săng lẻ Tương Dương sẽ được nhân thêm vẻ đẹp thiên nhiên, trở thành biểu tượng sinh thái và điểm đến du lịch đầy hấp dẫn của khu vực miền Tây Nghệ An. (Báo Nghệ An 11/11) đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ Mường Lát được UBND tỉnh giao quản lý, sử dụng 3.900 ha rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức cho nhân dân các xã trên địa bàn thực hiện các dự án lâm nghiệp trên diện tích 3.448 ha.
Từ đầu năm 2015 đến nay, ban đã chủ động phối hợp với chính quyền các cấp và các đơn vị liên quan của huyện Mường Lát tập trung tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng tự giác thực hiện các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng; kiểm tra các khu rừng trọng điểm, kiểm soát nghiêm nguồn lửa đem vào rừng.
Đồng thời, hướng dẫn người dân phát dọn thực bì phục vụ trồng rừng đúng quy định, không để xảy ra cháy rừng. An ninh rừng trên địa bàn được giữ vững, 100% diện tích rừng hiện có được bảo vệ an toàn.
Ngoài ra, trong 10 tháng vừa qua, ban đã cung ứng cây giống lâm nghiệp như lát hoa, xoan, vv... hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn các xã: Pù Nhi, Tén Tằn, Tam Chung, thị trấn Mường Lát trồng mới được 380 ha rừng sản xuất, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2015. Hiện nay, cán bộ, công nhân của ban đang tập trung sản xuất khoảng 500.000 cây giống lâm nghiệp tại vườn ươm phục vụ mở rộng diện tích trồng rừng sản xuất trong năm 2016.
Rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ và phát triển không những phát huy tốt tính năng phòng hộ khu vực đầu nguồn sông Mã, bảo vệ tính đa dạng sinh học mà còn có tác dụng cung cấp nước, giữ nước cho các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nhờ tích cực tham gia trồng và bảo vệ rừng, người dân trong vùng còn có thu nhập từ tiền nhân công và sản phẩm của rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống. (Báo Thanh Hóa 11/11) đầu trang(
Ngày 09/11/2015, xã Thanh Minh tổ chức hội thi "Tuyên truyền về quản lý bảo vệ rừng- Phòng cháy chữa cháy rừng". Tham gia có 10 đội thi với trên 50 thí sinh đại diện cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã.
Hội thi được tổ chức với các nội dung: màn chào hỏi, trả lời kiến thức, năng khiếu. Các đội đã mang đến cho hội thi những màn chào hỏi hay, câu hỏi kiến thức xuất sắc và những tiểu phẩm độc đáo. Qua hội thi sẽ là thông điệp gửi đến toàn thể nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã Thanh Minh: "Quyết tâm tham gia bảo vệ rừng, phát triển rừng, hạn chế để xảy ra phá rừng và cháy rừng".
Kết thúc hội thi, Ban tổ chức đã trao giải cho các đội đạt thành tích cao. Gải nhất: Đội bản Pa Pốm; giải nhì: Đội tổ dân phố 01; đồng giải ba: Đội bản Co Củ, Púng Tôm. (Trang Thông Tin Điện Tử Thành Phố Điện Biên Phủ 10/11) đầu trang(
Nằm trong khuôn khổ “Chương trình hành động REDD+ Việt Nam” với mục tiêu hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, mới đây Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam (VIFA) phối hợp cùng sở Tư pháp tỉnh Lào Cai đã tổ chức hai lớp tập huấn về “Tiến hành các bước khiếu nại, phản hồi liên quan đến kế hoạch hành động bảo vệ và phát triển rừng” tại xã UBND xã Tả Ngải Chồ và UBND huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Theo đó các cán bộ ban, ngành liên quan và đặc biệt là cộng đồng dân cư thôn bản xã Tả Ngải Chồ đã có cơ hội được tiếp cận và hiểu rõ hơn về quy trình áp dụng và thực hiện pháp luật về khiếu nại, nâng cao hơn nữa hiệu quả trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, góp phần quản lý rừng bền vững và sẵn sàng REDD+ cấp tỉnh.
Song song với hoạt động tập huấn VIFA cũng đang tích cực triển khai các mô hình phát triển sinh kế nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng, hỗ trợ thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của xã tốt hơn bao gồm: Mô hình trồng hồi, mô hình trồng loại giống ngô mới Biosed 9698, mô hình trồng giống đậu tương mới, mô hình chăn nuôi lợn Mường Khương, mô hình nuôi gà bản địa.
Nhân chuyến công tác với đoàn, PV. Môi trường và Đời sống đã có dịp tham quan các mô hình kinh tế tại một số hộ gia đình đồng bào Mông và nhận thấy những tín hiệu khả quan trong quá trình triển khai dự án.
Tới thăm gia đình chị Sàng Thị Chin, thôn Sảng Chư Pến, xã Tả Ngải Chồ, một trong những hộ đăng ký tham gia các mô hình sinh kế, chị Chin rất vui mừng và phấn khởi cho biết gia đình mình đã chuẩn bị chuồng trại chu đáo để nhận nuôi lợn và gà từ dự án.
Anh Hoảng Seo Dư, cán bộ khuyến nông xã Tả Ngải Chồ cho hay: Tất cả các hộ dân tham gia dự án đều tin tưởng vào hiệu quả của các mô hình sinh kế và hăng hái tham gia các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật từ phòng Nông nghiệp địa phương.
Cũng theo anh Dư, ngoài hai mô hình chăn nuôi lợn Mường Khương và gà tía bản địa thì mô hình trồng hồi và ngô cũng được người dân hưởng ứng tích cực.
Trong thời gian sắp tới cán bộ và cư dân Tả Ngải Chồ hy vọng VIFA sẽ tiếp tục quan tâm, nghiên cứu để đưa ra những những giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả các mô hình sinh kế trên, đem lại thu nhập ổn định cho bà con.
Việc nâng cao nhận thức bảo vệ và phát triển rừng tại xã Tả Ngải Chồ thông qua các mô hình sinh kế là một trong những ưu tiên hàng đầu của VIFA. Bên cạnh đó, việc lựa chọn địa bàn dự án dựa trên kết quả tham vấn địa phương và Tổng cục Lâm nghiệp, về khả năng sẵn sàng, khởi động nhanh các hoạt động của dự án ở địa phương và cộng đồng.
Tả Ngải Chồ là một trong những xã vùng biên thuộc diện khó khăn của huyện Mường Khương. Với đặc thù 100% người dân bản địa là đồng bào dân tộc Mông, lâu nay vẫn sinh kế gắn bó mật thiết với rừng thì việc nâng cao nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng lại càng phải chú trọng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
Dự án tăng cường năng lực cộng đồng thôn bản trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm hạn chế mất rừng và suy thoái rừng (hay còn gọi là REDD+) được VIFA tổ chức và thực hiện từ tháng 1/2015 tại xã Tả Ngải Chồ được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả tốt, trở thành mô hình điểm để nhân rộng tại nhiều địa phương trên cả nước. (Môi Trường Và Đời Sống 11/11) đầu trang(
Ngày 11/11, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên do đồng chí Nguyễn Đức Phong, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND tỉnh về thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực biên giới tỉnh.
Ðồng chí Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành, các huyện có đường biên giới cùng một số doanh nghiệp trong tỉnh đã làm việc với đoàn.
Theo báo cáo, toàn tỉnh hiện có hơn 651.560 ha đất tự nhiên; trong đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 322.981 ha, chiếm 49,6% diện tích tự nhiên. Toàn tỉnh có 253.962 ha rừng, gồm 220.701 ha rừng tự nhiên và 33.261 ha rừng trồng; đất không có rừng quy hoạch lâm nghiệp là 88.616,3 ha; độ che phủ của rừng đạt 39%.
Tỉnh có 156.268 ha quy hoạch cho lâm nghiệp trên 4 huyện biên giới là Chư Jút, Đắk Mil, Đắk Song và Tuy Đức, chiếm 46,9% diện tích đất tự nhiên. Trong 10 tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh đã xử lý 918 vụ vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, (bao gồm 130 vụ năm 2014 chuyển sang).
Về công tác trồng rừng, thời gian qua, trên địa bàn 4 huyện biên giới đã trồng được hơn 4.771 ha; giao khoán quản lý, bảo vệ rừng được hơn 12.434 ha; cho thuê đất, thuê rừng để triển khai thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp với tổng diện tích 14.005 ha.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo tỉnh, đại diện các sở, ban, ngành đã đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Nguyên kiến nghị Trung ương bố trí kinh phí để sắp xếp dân di cư tự do, giao rừng cộng đồng tại dân cư, hộ gia đình; bổ sung biên chế cho lực lượng Kiểm lâm để nâng cao khả năng thực thi nhiệm vụ. Chính phủ cần bố trí kịp thời kinh phí để tỉnh thực hiện Ðề án “Xây dựng các điểm dân cư tập trung, bố trí việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới; bảo vệ và phát triển rừng vành đai đến năm 2020”.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Đức Phong, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã ghi nhận những ý kiến, kiến nghị của tỉnh. Đồng chí yêu cầu tỉnh thực hiện quyết liệt hơn nữa trong việc xử lý các vi phạm về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Lực lượng kiểm lâm, chính quyền các cấp cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quá trình bảo vệ, phát triển rừng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc khai thác gỗ rừng. Tỉnh cần có chính sách quản lý diện tích rừng còn lại tốt hơn, đẩy nhanh công tác kiểm kê rừng theo tiến độ; gấp rút trồng rừng và trồng bù rừng; giám sát chặt chẽ mục đích và hiệu quả chương trình chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su. (Báo Đắk Nông 12/11) đầu trang(
Tân Sơn là một trong những thôn có diện tích rừng thuộc khu vực rừng đặc dụng Phong Quang nhiều nhất của xã Minh Tân (Vị Xuyên). Trong rừng có nhiều cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi.
Hầu hết người dân đều lao động, sinh sống trong khu vực này; do đo, những năm trước đây, việc xâm hại đến rừng là không tránh khỏi. Trước những diễn biến phức tạp của hành vi khai thác rừng, vận chuyển gỗ trái phép thường xuyên xảy ra, Đảng ủy, UBND xã Minh Tân đã chỉ đạo, triển khai nhiều biện pháp từ vận động, tuyên truyền đến xử lý nghiêm túc các vụ vi phạm Lâm luật xảy ra trên địa bàn. Qua đó, rừng ở Tân Sơn đã được chăm sóc, bảo vệ có hiệu quả; người dân đã nâng cao nhận thức về lợi ích từ rừng cũng như trách nhiệm trong việc giữ rừng.
Có thể nói, trong công tác tuyên truyền, vận động giữ rừng không gì hiệu quả bằng việc người dân trong thôn tự tuyên truyền cho nhau, cùng nhau nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng. “Rừng đổ xuống nhưng tiền không về đến nhà đâu”. “Có người bán trâu, mua xe máy để trở gỗ trái phép bị phát hiện, bị lực lượng chức năng truy đổi sẽ dễ gây tai nạn, hoặc bỏ xe để tẩu thoát, thế là mất xe”.
“Cây cổ thụ cũng như bố mẹ già trong nhà cần được chăm nom, săn sóc cẩn thận. Cây ngã xuống cũng như bố mẹ ngã xuống. Đau lòng lắm”... Đó là những lời chia sẻ mộc mạc của Trưởng thôn Tẩn Tờ Dèn nhưng sâu sắc, dễ hiểu, dễ cảm, giúp người dân trong thôn nhận thức rõ ràng hơn về giá trị của rừng.
Toàn thôn Tân Sơn có tổng số 325,8 ha rừng đặc dụng, 114,8 ha rừng trồng. Những năm qua, cùng với việc trồng rừng mới, nâng cao diện tích rừng trồng thì diện tích rừng đặc dụng của thôn đã được bảo vệ rất tốt, hạn chế đến mức tối đa hiện tượng khai thác, vận chuyển, săn bắt thú rừng và các hành vi xâm hại rừng. Mặc dù là thôn có tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao 123 hộ nghèo, 53 hộ cận nghèo trên tổng số 228 hộ trong thôn.
Nhưng không vì thế mà bà con vì lợi ích trước mắt có những hành động xâm hại rừng để sinh sống. Với công tác tuyên truyên, vận động sâu sát của xã, của thôn, người dân Tân Sơn đã từng bước tiếp cận các tiến bộ khoa học trong lao động sản xuất, xác định những cây trồng, vật nuôi hiệu quả, có giá trị để nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống sinh hoạt.
Bên cạnh đó, bà con còn được Kiểm lâm huyện, lãnh đạo xã và Trưởng thôn truyền đạt các nội dung tuyên truyền về bảo vệ rừng, cũng như đưa ra những hậu quả, nguy hại khi con người chặt phá, hủy hoại rừng. Các hộ trong thôn đã ký cam kết với thôn, xã, Hạt Kiểm lâm huyện những nội dung như: Không phát nương, làm rẫy trái phép; khai thác rừng, chặt phá rừng, đào bới rừng, hủy hoại tài nguyên rừng trái với quy định của Nhà nước.
Việc khai thác gỗ và lâm sản đối với các khu rừng có chủ, rừng cộng đồng, rừng do chính quyền quản lý đều phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Tuyệt đối không đốt lửa trong rừng, đốt lửa để săn bắt động vật rừng. Khi xảy ra cháy rừng có trách nhiệm báo cáo người có thẩm quyền và tham gia chữa cháy kịp thời.
Chăn thả gia súc đúng nơi quy định, không thả rông gia súc phá hoại sản xuất, rừng mới trồng, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường. Khi phát hiện các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng có trách nhiệm tố giác, báo cáo chính quyền và cơ quan chức năng để xử lý...
Cũng trong công tác vận động, tuyên truyền, UBND xã Minh tân đã phối hợp với nhóm tín ngưỡng của Hội Nghệ nhân dân gian xã đã lập miếu thờ thần rừng tại thôn Tân Sơn. Lễ “Cúng thờ thần Rừng” được tổ chức thể hiện sự thành kính của nhân dân dâng lên với thần Rừng, cầu cho rừng luôn luôn xanh tốt chở che con người. Cũng là để bà con nhân dân tin rằng mỗi cây gỗ quý lâu năm đều có thần linh bảo vệ nên không được phép chặt phá.
Miếu thờ được sử dụng tổ chức cúng rừng vào những ngày lễ, ngày rằm để cầu mong thần rừng ban cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt; rừng không bị tàn phá, môi trường sinh thái trong lành.
Song song với công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong việc bảo vệ rừng, công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng chức năng như Công an viên, dân quân, Kiểm lâm được tổ chức thường xuyên, liên tục kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi chặt phá, khai thác rừng trái phép. Các lực lượng đã phối hợp với nhau với người dân một cách chặt chẽ nên đã phát hiện xử lý nhiều vụ liên quan đến xâm hại rừng trên địa bàn của thôn.
Màu xanh của rừng Tân Sơn sẽ ngày càng được mở rộng do ý thức cộng đồng người dân nơi đây đã được nâng lên rất nhiều. Việc người dân tự ý chặt phá rừng đã không còn, nếu có thì rất ít thuộc những thành phần bất hảo nơi khác đến (những đối tượng này cũng đã được người dân và lực lượng chức năng theo dõi, ngăn chặn khi phát hiện có hành vi xâm hại rừng).
Rừng được giữ cũng đồng nghĩa với việc môi trường thiên nhiên được bảo vệ, tạo nên những giá trị to lớn, lâu dài cho sự phát triển bền vững không chỉ riêng cho thôn Tân Sơn mà cả các thôn khác của xã Minh Tân. (Báo Hà Giang 12/11) đầu trang(
Ngày 10/11, Chi cục phó Kiểm lâm Lâm Đồng Nguyễn Bá Lương vừa từ hiện trường trở về cho tôi biết: Tiếp tục phát hiện thêm 3 cây gỗ Pơmu (nhóm IIA) với khối lượng đã bị mang đi 2,8m3 tại lô a, khoảnh 8, tiểu khu 89 thuộc lâm phần Vườn quốc gia (VQG) Biduop - Núi Bà.
Số khối lượng gỗ Pơmu bị “lâm tặc” cưa xẻ cứ tăng lên từng ngày qua việc ngành chức năng mở rộng điều tra. Thật là xót xa khi vùng lõi VQG Biduop - Núi Bà - Khu Dự trữ sinh quyển thế giới mới được UNESCO công nhận chịu cảnh tiếng cưa máy ầm ào của các đối tượng khai thác trái phép hoành hành tàn phá tài nguyên rừng quý giá này!
Sau khi có tham mưu từ Chi cục Kiểm lâm (CCKL), ngày 1/10, Sở NN&PTNT làm văn bản báo cáo UBND tỉnh Lâm Đồng và ngày 8/10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm S đã ký văn bản chỉ đạo Sở NN&PTNT, UBND huyện Lạc Dương, VQG Biduop - Núi Bà “khẩn trương điều tra hoàn thiện hồ sơ để xử lý nghiêm vụ khai thác, cất giấu gỗ Pơmu tại Lạc Dương và VQG Biduop - Núi Bà”.
Với tinh thần này, CCKL Lâm Đồng, Hạt Kiểm lâm Lạc Dương cùng các ngành, đơn vị, địa phương liên quan nhanh chóng vào “cuộc chiến”. Lần lượt hậu quả của vụ vi phạm phá rừng Pơmu hé lộ dần trước ánh sáng của luật pháp.
Ngày 10/10, theo chỉ đạo của CCKL, dựa vào thông tin của quần chúng địa phương cung cấp, Hạt Kiểm lâm Lạc Dương phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim tuần tra, mai phục dọc tuyến đường 723 từ xã Đạ Nhim đến giáp tỉnh Khánh Hòa. Vào lúc 3 giờ sáng, tại địa bàn xã Đạ Nhim, đoàn đã phát hiện 4 xe máy vận chuyển, mỗi xe một lóng gỗ Pơmu có đường kính 35cm, 40cm, dài 1,2m; tổng khối lượng gỗ Pơmu là 0,532m3 đều không có dấu búa.
Ngày 18/10, lúc 4 giờ 30 phút, đoàn kiểm tra tiếp tục phát hiện ô tô tải đang lưu thông tại địa phận xã Đạ Sar vận chuyển 15 hộp gỗ, trong đó có 4 hộp Pơmu với khối lượng 0,258m3 và 11 hộp gỗ kiền kiền (nhóm II) có khối lượng 0,951m3; tất cả cũng đều không có dấu búa kiểm lâm.
Đáng chú ý hơn, 2 vụ bị mai phục trên các đối tượng đều nhanh chóng tẩu thoát, bỏ lại 5 phương tiện và tang vật. Vì vậy, Hạt Kiểm lâm Lạc Dương lập biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ tang vật để điều tra xác minh.
Ngày 20/10, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 tiếp tục phát hiện 2 đối tượng ở thôn Liêng Bông, xã Đạ Nhim cất giữ gỗ Pơmu trái quy định của Nhà nước: ông Cil Yu Ha Srin, sinh ngày 20/9/1988 cất giữ 1,14m3 và ông Nguyễn Vĩnh Tập, sinh ngày 15/8/1979 cất giữ 0,539m3. Đoàn nhanh chóng xác minh và lập biên bản hành vi vi phạm 2 đương sự, ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính và tịch thu toàn bộ gỗ Pơmu cất giữ trái phép, đồng thời phạt tiền ông Cil Yu Ha Srin 25 triệu đồng, ông Nguyễn Vĩnh Tập 3 triệu đồng.
Tiếp tục mở rộng điều tra, ngày 28/10, đoàn kiểm tra liên ngành gồm lực lượng các đơn vị kiểm lâm (Chi cục, VQG Biduop - Núi Bà, Hạt Lạc Dương); đại diện các đơn vị (công an tỉnh, công an và kiểm sát huyện Lạc Dương, UBND xã Đạ Chais và tổ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng) tổ chức khám nghiệm hiện trường. Kết quả, tại lô a4, khoảnh 1, tiểu khu 130 thuộc lâm phần VQG Biduop - Núi Bà quản lý càng cho thấy mức độ xâm phạm tài nguyên rừng hết sức nghiêm trọng.
Trên diện tích 12.271m2 rừng bị cháy (khoảng đầu năm 2015) gồm 34 cây thông 2 lá dẹt (nhóm IIA); 11 cây Pơmu; một số cây gỗ lá rộng và cây bụi (chưa xác định chủng loại và nhóm gỗ). Có 11 cây bị khai thác trái phép với tổng khối lượng thiệt hại 21,776m3. Trong đó, 9 cây Pơmu, đường kính mặt cắt gốc từ 55cm - 105cm, khối lượng thiệt hại là 19,262m3 (còn lại tại hiện trường 4,944m3 và đã lấy đi khỏi hiện trường 14,318m3).
Thời điểm cưa xẻ gỗ Pơmu vào khoảng đầu năm 2015 và khoảng tháng 7/2015. Tại hiện trường, vẫn còn khói lửa vảng vất bên những đống gỗ xếp lại cho thấy có dấu hiệu đốt để phi tang. Mặc dù chưa xác định được đối tượng vi phạm nhưng căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm, đoàn thống nhất đề nghị Hạt Kiểm lâm VQG Biduop - Núi Bà lập thủ tục khởi tố vụ án. Ông Võ Danh Tuyên cho biết: Chi cục đang chỉ đạo Đội Kiểm lâm cơ động số 1 và Hạt Kiểm lâm Lạc Dương hỗ trợ tích cực cho VQG Biduop - Núi Bà tăng cường kiểm tra để chấm dứt tình trạng khai thác trái phép gỗ Pơmu.
Rõ ràng, VQG Biduop - Núi Bà đã bị “tấn công” nghiêm trọng, con số thiệt hại vẫn chưa thể đo đếm hết. Lãnh đạo tỉnh đang đặc biệt quan tâm; các ngành, chính quyền địa phương và đơn vị liên quan bước đầu vào cuộc khá quyết liệt.
Một cán bộ Phòng Thanh tra - Pháp chế của CCKL Lâm Đồng còn cho chúng tôi biết thêm: Qua nghiệp vụ điều tra từ những chi tiết của tang vật đối chiếu với hiện trường, đã xác định được một số lượng gỗ khai thác tại khu vực rừng Hòn Giao thuộc lâm phần VQG Biduop - Núi Bà quản lý.
Tại văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, Phó Chủ tịch Phạm S yêu cầu “Xem xét trách nhiệm của VQG Biduop - Núi Bà trong việc để xảy ra vi phạm khai thác gỗ Pơmu trên diện tích được giao quản lý nhưng chậm phát hiện, lập hồ sơ không đúng quy định, không kịp thời báo cáo các cơ quan chức năng để xử lý; báo cáo, đề xuất UBND tỉnh”. Vâng, phải kiên quyết giữ cho bằng được VQG và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Biduop - Núi Bà là nhiệm vụ tối quan trọng! (Báo Lâm Đồng 11/11) đầu trang(
Yên Bái là tỉnh có diện tích rừng lớn của khu vực miền núi phía Bắc. Năm nào cũng vậy, cứ vào mùa khô, tình trạng đốt nương làm rẫy khiến nhiều héc-ta rừng (chủ yếu là rừng trồng, lau lách) bị thiêu trụi.
Trước thực trạng này, các lực lượng chức năng cùng với chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh đang tăng cường các biện pháp phòng, chống “giặc lửa”, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng.
Ông Đỗ Cường Minh - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Mùa khô hanh năm 2014 - 2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra 7 vụ cháy rừng. Nguyên nhân chính vẫn do ý thức bất cẩn của người dân trong việc đốt nương làm rẫy. Năm nay, tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo bảo vệ rừng (BVR) tận gốc; tăng cường tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện sớm, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tiếp tục quán triệt phương châm “4 tại chỗ”, lấy việc chủ động phòng ngừa là chính, chữa cháy kịp thời, hiệu quả”.
Hiện, toàn tỉnh có trên 428.138 ha rừng; trong đó, rừng tự nhiên 240.976 ha, rừng trồng hơn 187.161 ha... Năm nào cũng vậy, cứ vào mùa khô hanh, nắng nóng khô hạn kéo dài, đẩy nhiều cánh rừng trong tình trạng nguy cơ cháy cao, đặc biệt là các huyện, thị phía Tây của tỉnh. Mùa khô nơi đây kéo dài từ tháng 10 năm trước cho tới tận tháng 4 năm sau, cộng với gió Lào thổi suốt mùa khô, chỉ cần một tàn đóm cũng đủ làm thiêu cháy cả chục đến hàng trăm héc-ta rừng.
Với gần 40.000 ha rừng, huyện Trạm Tấu từ lâu được coi là điểm nóng về cháy rừng. Hầu như năm nào ở đây cũng xảy ra cháy rừng. Tính riêng mùa khô hanh năm 2014 - 2015, trên địa bàn huyện đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và môi trường. Nguyên nhân cháy rừng một phần do thời tiết khô hanh kéo dài; một phần do người dân đốt nương làm rẫy, đốt cỏ bãi chăn thả gia súc, đốt ong lấy mật, săn bắn thú rừng.
Tuy nhiên, có một điều đáng chú ý là từ nhiều năm nay, diện tích rừng bị cháy trên địa bàn huyện đều tập trung ở Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu. Thực tế này cho thấy, vai trò, trách nhiệm của chủ rừng chưa cao; chưa chủ động trọng việc thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); chưa quan tâm đầu tư phương tiện, dụng cụ chữa cháy, tu sửa đường băng cản lửa cũng như chăm sóc rừng.
Trước những biến đổi của khí hậu, nắng mưa bất thường, khô hạn kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở Yên Bái rất cao, để hạn chế thiệt hại do cháy rừng gây ra, ngay từ đầu mùa khô, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai nhiều phương án PCCCR đến các địa phương và chủ rừng trên địa bàn. Với phương châm “phòng là chính”, nếu xảy ra cháy rừng thì các lực lượng tại chỗ sẽ nhanh chóng tiếp cận hiện trường để dập tắt đám cháy nhanh nhất.
Ông Đỗ Cường Minh cho biết: “Ngay trước mùa khô hanh, Chi cục đã triển khai các chỉ thị, công văn về việc thực hiện các biện pháp cấp bách PCCCR nhằm chỉ đạo UBND các cấp, các ngành và các chủ rừng tăng cường thực hiện các biện pháp BVR, PCCCR; tham mưu cho UBND tỉnh thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng thực hiện tốt công tác PCCCR; chuẩn bị phương tiện, dụng cụ sẵn sàng chữa cháy rừng; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVR, tăng cường cán bộ kiểm lâm xuống cơ sở (kể cả các ngày nghỉ); ký cam kết với các hộ dân; mở các lớp tập huấn về PCCCR cho kiểm lâm địa bàn và trưởng nhóm BVR ở các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải.
Đồng thời, lãnh đạo Chi cục trực 24/24 giờ tại đơn vị; phòng chuyên môn mở phần mềm cảnh báo cháy rừng của Chi cục tiếp nhận thông tin cảnh báo cháy rừng, theo dõi và báo cáo lãnh đạo Chi cục để có biện pháp chỉ đạo kịp thời”. (Báo Yên Bái 11/11) đầu trang(
Từ đầu tháng 10.2015 đến nay, trên địa bàn xã Đường Thượng (Yên Minh) “rất nóng” vì tình trạng khai thác lâm sản (KTLS) trái phép gồm 6 đối tượng: Lù Chủ Giàng (sinh 1979) và Vừ Mí Nô (sinh 1993), trú tại thôn Lùng Cáng; Vừ Vả De, (sinh 1977), Hạ Mí Chứ, Hạ Pà Hờ, trú tại thôn Lủng Pủng và Lê Xuân Hữu, chủ cơ sở chế biến lâm sản (CBLS) tại thôn Sủng Pả 1 đã câu kết với 5 cán bộ chủ chốt của xã Đường Thượng và Lũng Hồ là: Giàng Mí Phứ, Phó Bí thư Đảng ủy xã; Hạ Mí Chứ, Phó Chủ tịch Uy ban MTTQ xã; Vàng Mí Vư, Chủ tịch HĐND xã; Sùng Mí Vư, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đường Thượng (nay giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Lũng Hồ); Hạ Mí De, Bí thư Đảng ủy xã Đường Thượng để khai thác, tàng trữ và CBLS trái phép, với một khối lượng gỗ khá lớn.
Theo báo cáo của UBND huyện Yên Minh cho thấy, qua xác minh, thống kê của tổ công tác; đến 29.10.2015, tổng số gỗ đã xác định tại các hộ đang cất giữ, sử dụng và gỗ đã chặt hạ tập kết trong rừng là 120,189 m3. Trong đó, gỗ nghiến nhóm IIA là 89,360 m3; gỗ khác là 17,567 m3; gỗ kê khai theo kế hoạch của tỉnh là 13,262 m3.
Sau khi nắm được thông tin về sự việc KTLS trái phép trên địa bàn xã Đường Thượng, ngày 19.10.2015, Thường trực Huyện ủy Yên Minh đã mời các ngành liên quan tổ chức họp. Tại cuộc họp, Bí thư Huyện ủy đã nghiêm túc phê bình Hạt Kiểm lâm và cấp ủy, chính quyền xã Đường Thượng đã buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng KTLS trái phép trên địa bàn trong một thời gian dài. Đồng thời, giao cho UBND huyện thành lập tổ công tác để giải quyết dứt điểm vụ việc này trong thời gian sớm nhất.
Để giải quyết dứt điểm việc KTLS trái phép trên địa bàn xã Đường Thượng, Thường trực UBND huyện đã tổ chức 4 buổi làm việc với Tổ công tác, ngành chức năng của huyện, cấp ủy, chính quyền xã và kiểm tra trực tiếp tại các điểm KTLS trái phép trên địa bàn xã Đường Thượng để kịp thời chỉ đạo, ngăn chặn và giải quyết dứt điểm vụ việc KTLS trái phép trên.
Hiện, Tổ công tác và ngành chức năng của huyện đang khẩn trương điều tra, xác minh, truy bắt các đối tượng vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật. Tính đến 22.10.2015, tình trạng KTLS trái phép trên địa bàn xã Đường Thượng đã được ngăn chặn; các cá nhân vi phạm, được Tổ công tác của huyện củng cố hồ sơ và giao cho ngành chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 5 trường hợp là cán bộ lãnh đạo xã, Chi cục Kiểm lâm tỉnh lập hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Thường trực Huyện ủy Yên Minh đã giao cho UBKT Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo kiểm điểm tập thể BTV Đảng ủy và các cá nhân, gồm: Bí thư Đảng ủy; Phó bí thư Thường trực Đảng ủy; Phó Bí thư, Chủ tịch UBND xã Đường Thượng và tập thể Chi bộ Hạt Kiểm lâm huyện, cá nhân Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện bị kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 4, khóa XI về trách nhiệm của người đứng đầu và Sùng Mí Vư, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đường Thượng (hiện là Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã Lũng Hồ) có liên quan đến vụ việc sẽ bị kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng. (Báo Hà Giang 11/11) đầu trang(
Những năm gần đây, giá gỗ nguyên liệu tăng cao, hiệu quả trồng rừng cho thu nhập ổn định nên đã xuất hiện tình trạng người dân phá rừng lâm nghiệp để trồng keo lai trên địa bàn huyện Nam Đông. Trong khi lực lượng chức năng vẫn chưa có giải pháp xử lý triệt để thì nhiều diện tích rừng vẫn… chảy máu.
Có mặt tại khu vực giáp ranh thuộc thôn Phú Mậu, xã Hương Phú, chúng tôi chứng kiến cả một khoảng đất rộng hàng chục ngàn mét vuông đã được phát quang chuẩn bị cho việc trồng keo. Một người dân cho biết, lợi dụng đường sá hiểm trở, vắng bóng kiểm lâm nên diện tích đất trên đã bị kẻ xấu vào phát quang nhằm chiếm đất trồng rừng.
Trước đây phát thủ công rất chậm, nhưng nay có máy phát nên lâm tặc phát rất nhanh. Người này còn cho biết, hiện đất trồng rừng được bán 60-80 triệu đồng/ha nên người dân sẽ bất chấp để lấn chiếm. Tại các khu rừng thuộc xã Thượng Nhật, Thượng Quảng, Thượng Long, Hương Hữu… cũng xảy ra tình trạng lâm tặc phá rừng lấy gỗ, còn người dân phá rừng chiếm đất lâm nghiệp trồng cây keo.
Theo người dân cho biết, khoảng 5 năm trở lại đây, khi cây keo lai làm thay đổi kinh tế hộ gia đình, người dân không ngần ngại phá rừng trồng cây keo. Bên cạnh đó, các đối tượng lâm tặc hoành hành cũng góp phần xóa đi những cánh rừng nguyên sinh. Thậm chí, ngay cả những cánh rừng phòng hộ cũng bị triệt hạ.
Ông Nguyễn Viết Trai, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Đông cho biết, so với những năm trước, năm nay việc người dân lấn chiếm đất rừng có giảm những vẫn còn nhức nhối. Cụ thể, năm 2013 người dân lấn chiếm khoảng 36ha, đến năm 2014 giảm xuống còn 8ha và trong năm 2015 còn 7ha. Diện tích bị người dân lấn chiếm nhiều nhất vẫn ở xã Hương Phú.
Đáng chú ý, tháng 5/2015, lợi dụng ngày nghỉ, một nhóm người đã kéo vào Tiểu khu 369 thuộc thôn Phú Mậu, xã Hương Phú phát quang một diện tích lớn 5,3ha. Sau khi phát hiện, lực lượng kiểm lâm đã kiểm tra, lập biên bản vi phạm, đồng thời phối hợp với lực lượng chức năng khởi tố vụ án hình sự hủy hoại rừng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa tìm ra được kẻ phá hoại nói trên.
Ngoài vụ việc kể trên, trước đây ngành chức năng cũng bắt quả tang, xác định được người phá rừng và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Ngoài việc xử phạt hành chính, những vụ có diện tích rừng bị phá lớn đều được khởi tố (phá trên 0,5ha rừng tự nhiên sẽ bị khởi tố - PV), xét xử công khai nhưng khung hình phạt thấp, hoặc chỉ chịu mức án treo nên không đủ sức răn đe.
Một thực tế đang tồn tại ở Nam Đông là do hiện tượng mua bán đất đai trao tay nên trên địa bàn còn hơn 1.000 ha đất không xác định được chủ, gây khó khăn trong việc quản lý quỹ đất. Để ngăn chặn tình trạng phá rừng trồng keo, Kiểm lâm huyện Nam Đông đã cắt cử kiểm lâm viên về tận địa bàn.
Riêng địa bàn “nóng” như Hương Phú cử 2 kiểm lâm viên về phối hợp với công an xã, dân phòng tăng cường tuần tra, phát hiện xử lý kịp thời; đồng thời, về cộng đồng dân cư tuyên truyền cho người dân được rõ và gắn trách nhiệm cụ thể cho những kiểm lâm viên, với địa bàn phụ trách nếu để xảy ra phá rừng.
Ông Nguyễn Viết Trai đề xuất, UBND huyện cần chủ trì thành lập đoàn kiểm tra lại toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn, trong đó có nhiều diện tích rừng không rõ chủ. Tiếp tục làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân để quản lý tốt quỹ đất, nhằm giải quyết căn nguyên tình trạng lấn chiếm đất rừng.
Bên cạnh đó, ngành chức năng tiếp tục chỉ đạo, thu hồi những diện tích đất rừng các lâm trường đang quản lý không hiệu quả, gần với khu dân cư, thuận lợi cho sản xuất, giao lại cho các hộ và cộng đồng quản lý, sử dụng; giải quyết dứt điểm tình trạng tranh chấp, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp giữa người dân với Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn.
Những diện tích rừng bàn giao lại cho cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng hoặc các công ty sử dụng cũng nên có cơ chế giám sát, theo dõi để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong việc giao đất, giao rừng. (Báo Thừa Thiên - Huế 11/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo quy định tại Nghị định 99/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, quy định các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Diện tích rừng nằm trong lưu vực sông Mã trên địa bàn tỉnh có Công ty thủy điện Hoàng Anh, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Từ năm 2013, tỉnh Điện Biên được Quỹ Việt Nam điều phối 314 triệu đồng/59.673ha rừng thuộc 4 huyện: Mường Ảng, Điện Biên Đông, Tuần Giáo, Điện Biên với đơn giá chi trả bình quân 5.854 đồng/ha/năm.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên cho biết: Chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến của người dân các huyện: Mường Ảng, Điện Biên Đông phản ánh kinh phí được phân bổ để chi trả dịch vụ môi trường rừng thuộc lưu vực sông Mã thấp, đề nghị nâng kinh phí khoán bảo vệ rừng đạt 200.000 đồng/ha/năm.
Căn cứ Thông báo số 395/TB-VPCP ngày 3/11/2014 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại hội nghị trực tuyến sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (từ năm 2011 – 2014) yêu cầu UBND tỉnh, thành phố phải lồng ghép thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với thực hiện kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và Chương trình biến đổi khí hậu. Bổ sung ngân sách thông qua các chương trình, dự án, kế hoạch bảo vệ rừng để hỗ trợ, đảm bảo đơn giá tối thiểu đến chủ rừng là 200.000 đồng/ha/năm.
Trao đổi với chúng tôi về đề nghị nâng mức kinh phí khoán bảo vệ rừng thuộc lưu vực sông Mã lên 200.000 đồng/ha/năm, bà Đặng Thị Thu Hiền, Phó Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh chủ động xem xét, cân đối các nguồn lực, nguồn ngân sách địa phương thông qua các chương trình, dự án khác hoặc kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng để bổ sung thêm mức kinh phí khoán bảo vệ rừng đạt 200.000 đồng/ha.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị nâng mức kinh phí khoán bảo vệ rừng đối với những diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng dưới 200.000 đồng/ha/năm vào năm 2016.
Việc nâng kinh phí khoán bảo vệ rừng đối với những diện tích rừng thuộc lưu vực sông Mã đảm bảo đạt mức 200.000 đồng/ha/năm là hợp lý, điều đó đảm bảo quyền lợi cho những hộ dân bảo vệ rừng có thu nhập từ rừng, đồng thời tạo điều kiện cho công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Điện Biên Phủ 11/11) đầu trang(
Xã Phúc Lương (Đại Từ) có trên 1.300ha rừng, trong đó hơn 1.200ha là rừng sản xuất, chiếm gần 65% tổng diện tích đất nông, lâm nghiệp.
Để phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, những năm qua, xã quan tâm hỗ trợ người dân trồng rừng, quản lý chặt chẽ việc khai thác, chế biến lâm sản và khuyến khích phát triển chăn nuôi dưới tán rừng.
Về xóm Cây Hồng, xã Phúc Lương một ngày đầu tháng 11, chúng tôi thấy nằm dưới tán rừng xanh mát có nhiều ngôi nhà 2-3 tầng mới xây khang trang. Một số gia đình trong xóm đang khai thác gỗ, tiếng máy cưa xẻ rộn rã.
Ông Lý Văn Diễn, một người dân trong xóm phấn khởi cho biết: Gia đình tôi có 5ha rừng keo, cuối năm 2014 đã khai thác tỉa 2ha, thu được gần 100 triệu đồng. Nhờ nguồn thu từ rừng mà gia đình tôi đã thoát nghèo, xây được ngôi nhà khang trang và nuôi các con ăn học…
Cây Hồng là một trong những xóm có diện tích rừng lớn nhất ở xã Phúc Lương, với khoảng 300ha rừng sản xuất. Cả 76 hộ dân trong xóm nhà nào cũng có rừng. Những năm qua, nhận thức được nguồn lợi từ rừng, bà con đã tích cực trồng mới, chăm sóc và bảo vệ rừng. Cùng với đó, nhiều gia đình mạnh dạn phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, tăng số lượng đàn trâu, dê, gà thả đồi.
Ông Đào Văn Tân, Trưởng xóm Cây Hồng cho biết: Toàn xóm có khoảng 20 hộ nuôi dê, hơn 10 hộ nuôi lợn, gà, trâu theo hướng gia trại. Hiện nay, tổng đàn dê của xóm khoảng 300 con, tăng hơn 200 con so với năm 2010. Nhờ khai thác thế mạnh từ đất rừng, đời sống của bà con ngày càng được cải thiện, số hộ nghèo chỉ còn 28 hộ, giảm 20 hộ so với năm 2011.
Cũng giống như xóm Cây Hồng, cuộc sống của phần lớn người dân ở xã Phúc Lương đang dần khấm khá nhờ khai thác thế mạnh từ rừng. Ông Đào Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã cho biết: Do địa hình nhiều đồi núi, diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất nông, lâm nghiệp nên nhiều năm qua xã luôn coi phát triển kinh tế rừng là nhiệm vụ trọng tâm.
Để thực hiện tốt chỉ tiêu trồng rừng, hàng năm, xã tập trung rà soát, hướng dẫn người dân sớm đăng ký diện tích rừng trồng mới. Trước mỗi vụ trồng rừng, xã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức tập huấn, chăm sóc, vận động người dân phát dọn thực bì, chuẩn bị tốt cây giống, phân bón để trồng rừng đạt hiệu quả cao nhất. Phúc Lương luôn là một trong những xã đứng đầu huyện về diện tích trồng rừng.
Như năm 2015, xã đã phối hợp cấp 132.800 cây giống, 13.280kg phân bón, trồng được 80ha rừng keo. Nhân dân tự đầu tư trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán ước tính khoảng 35ha.
Bên cạnh đó, xã cũng thường xuyên quan tâm công tác quản lý rừng. Hằng năm, xã đều xây dựng phương án quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, kiện toàn Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng của xã và 17/17 tổ ở xóm, thường xuyên tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại cơ sở. Nhờ tích cực quan tâm mà nhiều năm qua, trên địa bàn xã không xảy ra cháy rừng.
Năm 2015, xã cũng phối hợp bắt giữ, xử lý 1 vụ vận chuyển lâm sản trái phép. Ngoài ra, xã cũng khuyến khích người dân chế biến lâm sản tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn. Hiện nay, toàn xã có hơn 10 cơ sở chế biến lâm sản với các loại hình như: bóc, xẻ, băm gỗ, chế tác đồ mỹ nghệ, gia dụng. Để tạo điều kiện cho người dân phát triển loại hình sản xuất này, xã đã tích cực kết nối các nguồn vốn vay ưu đãi, khuyến công, giảm nghèo hỗ trợ người dân.
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác, xã Phúc Lương vẫn trăn trở trong việc nâng cao giá trị của rừng. Do trồng rừng sản xuất có chu kỳ 7 năm, chế biến thô sơ nên giá trị sản phẩm mới chỉ đạt 80 đến 100 triệu đồng/ha. Người dân vẫn chủ yếu chọn keo để trồng rừng sản xuất, sau đó khai thác trắng rừng gây nguy cơ sói mòn, giảm dinh dưỡng trong đất.
Các cơ sở chế biến lâm sản vẫn ở dạng tự phát, manh mún, nhỏ lẻ chưa có các cơ sở chế biến lâm sản kỹ thuật cao. Ông Đào Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Phúc Lương cho biết: Về phát triển kinh tế rừng, trong thời gian tới, xã tiếp tục tuyên truyền để người dân đa dạng cơ cấu loài và giống cây lâm nghiệp có năng suất cao, tạo điều kiện để nhân rộng các mô hình sản xuất dưới tán rừng, triển khai thực hiện tốt cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời, kêu gọi các nhà đầu tư chế biến lâm sản kỹ thuật cao đến với địa phương… (Báo Thái Nguyên 11/11) đầu trang(
Ngày 11/11/2015, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 1380/UBND-KTN về việc tăng cường công tác trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan xây dựng phương án trồng rừng thay thế theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để trình UBND tỉnh phê duyệt, triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, các sở, ngành và địa phương cần xây dựng định mức trồng rừng phòng hộ bình quân trên địa bàn tỉnh để làm cơ sở phân bổ vốn cho trồng rừng phòng hộ năm 2016 và trồng rừng thay thế; xây dựng định mức đơn giá trồng rừng thay thế đối với các dự án mà chủ dự án không có điều kiện tổ chức trồng rừng thay thế theo quy định...
UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và rừng sang mục đích khác đối với các dự án thực hiện trên diện tích có rừng mà chủ dự án không có phương án trồng rừng thay thế được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc chứng từ nộp tiền trồng rừng thay thế. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Bình 11/11) đầu trang(
Năm 2015, huyện Ngọc Hiển được UBND tỉnh giao chỉ tiêu trồng rừng mới hơn 311 ha rừng đước, trồng rừng sau khai thác hơn 336 ha. Đến thời điểm này, huyện đã trồng đạt 100% diện tích theo kế hoạch.
Để đạt được kết quả này, huyện Ngọc Hiển đã chuẩn bị trước nguồn trái giống và tiến hành dọn vệ sinh, ban liếp từ sớm để có được mặt bằng trồng đước. Đồng thời, do ý thức được lợi ích của cây rừng nên sau khi các đơn vị phát động công tác trồng rừng thì người dân đã đồng thuận và cùng hưởng ứng, thực hiện cao. Hiện huyện đã trồng được 160 ha rừng mới, trồng rừng thay thế trên 56 ha, trồng rừng dự án hơn 98 ha và trồng trên 336 ha rừng sau khai thác.
Thực tế nhiều năm qua, rừng đước không chỉ thực hiện tốt vai trò trong bảo vệ môi trường sống, chống biến đổi khí hậu mà việc phát triển diện tích rừng sản xuất còn giúp hộ dân ổn định kinh tế xóa nghèo, vươn lên làm giàu từ việc khai thác rừng, bán lâm sản. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 11/11) đầu trang(
Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang bước vào chính vụ trồng rừng. So với mọi năm, công tác trồng rừng năm nay được triển khai thuận lợi hơn, do các điều kiện về đất đai, kỹ thuật, cây giống được ngành chức năng, các doanh nghiệp và người dân chuẩn bị khá chu đáo.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở NN&PTNT), cho biết: Đến thời điểm này, các đơn vị, địa phương trong tỉnh đã chuẩn bị đất, xử lý thực bì để trồng 8.500 ha rừng; trong đó, rừng phòng hộ, rừng môi trường cảnh quan 1.015 ha, rừng sản xuất 7.485 ha. Từ đầu tháng 10 đến nay, tranh thủ thời tiết có mưa trên diện rộng, toàn tỉnh đã trồng được 400 ha rừng phòng hộ, 3.400 ha rừng sản xuất.
Để hỗ trợ người dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, Chi cục đã phối hợp với chính quyền các địa phương, các đơn vị trồng rừng tổ chức hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật, tập huấn việc xử lý thực bì, đào hố, chọn cây giống chất lượng cho các hộ trồng rừng; dự kiến đến giữa tháng 12 sẽ kết thúc vụ trồng rừng năm nay với diện tích rừng trồng đạt trên 8.500 ha.
Vụ trồng rừng năm nay, người dân trong tỉnh có xu hướng sử dụng các giống cây lâm nghiệp được sản xuất bằng phương pháp cấy mô để thay cho các giống cây giâm hom. Bà Phan Thị Hạnh, Giám đốc DNTN Dịch vụ giống cây trồng Nguyên Hạnh, có cơ sở sản xuất giống tại xã Phước Thành (huyện Tuy Phước), cho biết: Vài năm trở lại đây, người trồng rừng đã ngày càng chú trọng đến các giống cây lâm nghiệp có chất lượng cao, như các giống keo lai, bạch đàn lai được sản xuất bằng phương pháp cấy mô.
Ưu điểm của cây giống cấy mô là sạch bệnh; cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít bị đổ ngã khi gặp thời tiết bất lợi; chu kỳ khai thác ngắn hơn cây giống giâm hom; hiệu quả kinh tế cao. Năm nay, chúng tôi sản xuất trên 4 triệu cây giống cấy mô mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ông Nguyễn Ngọc Đạo, Phó Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (Vĩnh Thạnh), cho biết: Đến thời điểm này, đơn vị đã hoàn thành việc trồng 400 ha rừng sản xuất trên địa bàn 2 xã Đak Mang và Bok Tới (huyện Hoài Ân). Năm nay, đơn vị đã sử dụng hơn 70% giống lâm nghiệp bằng phương pháp cấy mô để trồng rừng. Hiện diện tích rừng trồng đang sinh trưởng, phát triển tốt, chưa phát hiện bị sâu bệnh.
Toàn tỉnh hiện có 112 đơn vị, cơ sở được ngành chức năng cấp giấy phép sản xuất cây giống. Năm nay, các cơ sở đã sản xuất được trên 213 triệu cây giống các loại, gồm keo lai, bạch đàn, sao đen, thông Cariber, phi lao…; tăng gần 60% so với năm 2014.
Theo đánh giá của ngành chức năng, các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp phát triển mạnh là điều rất đáng mừng. Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận, một số cơ sở sản xuất chưa thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý giống theo quy định của Bộ NN&PTNT; tình trạng xuất bán cây giống nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc vẫn còn xảy ra tại một số địa phương.
Đáng lưu ý, vẫn còn tình trạng thương lái vận chuyển nhiều loại cây giống không rõ nguồn gốc, xuất xứ mang đi tiêu thụ với giá khá rẻ; một số hộ trồng rừng vì ham rẻ nên mua phải cây giống trôi nổi, chất lượng kém, ảnh hưởng đến chất lượng trồng rừng.
Qua kiểm tra của ngành chức năng, trên địa bàn thôn Phú Kim, xã Cát Trinh và xã Cát Hanh (huyện Phù Cát) vẫn còn gần 10 hộ sản xuất cây giống lâm nghiệp không có nguồn gốc, xuất xứ; hộ sản xuất không có giấy phép sản xuất kinh doanh. Theo cơ quan chuyên môn, nếu người trồng rừng mua phải cây giống lâm nghiệp kém chất lượng thì hậu quả mang lại rất lớn, vì cây lâm nghiệp có chu kỳ phát triển khá dài, phải mất từ 4-5 năm sau mới phát hiện được. Việc kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp là vấn đề đáng được quan tâm và phải được duy trì thường xuyên.
Nhằm chấn chỉnh tình trạng trên, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) đã có văn bản đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm soát, nâng cao chất lượng cây giống lâm nghiệp trước khi bước vào vụ trồng rừng mới. Tổng cục Lâm nghiệp đề nghị các Sở NN&PTNT phải tổ chức quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc từ khâu thu hoạch vật liệu giống, cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống, quản lý sản xuất cây con ở vườn ươm, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cây con tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng.
Cơ quan chức năng nghiêm cấm không sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc xuất xứ; đồng thời, phải xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống không rõ nguồn gốc khi phát hiện. Các địa phương phải tăng cường kiểm tra, tái kiểm tra với các cơ sở sản xuất giống quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ; những cơ sở không đủ điều kiện kinh doanh phải bị đình chỉ sản xuất hoặc thu hồi giấy phép.
Ông Nguyễn Thế Dũng cho biết: Để kiểm soát chất lượng cây giống lâm nghiệp, Thanh tra ngành Nông nghiệp đã phối hợp với phòng NN&PTNT các huyện và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra tình hình sản xuất, kinh doanh tại các cơ sở sản xuất giống trong tỉnh; có biện pháp xử lý nghiêm đối với các chủ vườn ươm không thực hiện đúng các quy định về sản xuất giống cây lâm nghiệp.
Ngành chức năng cũng khuyến cáo người dân không mua, không sử dụng các giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng rừng nhằm tránh thiệt hại về kinh tế. (Báo Bình Định 11/11) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký quyết định thành lập Ban Quản lý (BQL) Dự án Trồng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Phú Yên thuộc Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, BQL dự án trồng rừng phòng hộ ven biển tỉnh thuộc BQL các dự án Lâm nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. BQL có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng để hoạt động theo quy định của pháp luật; sử dụng con dấu của BQL các dự án Lâm nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để hoạt động.
Nhiệm vụ của BQL Dự án Trồng rừng phòng hộ ven biển tỉnh là thực hiện Dự án theo đúng mục tiêu, tiến độ, kết quả, chất lượng, địa điểm và nguồn lực đối với công tác trồng mới rừng phòng hộ ven biển, trồng rừng bổ sung, bảo vệ rừng và xây dựng các công trình hỗ trợ lâm sinh của Dự án thuộc Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) giai đoạn 2015-2020 được UBND tỉnh phê duyệt; tuân thủ các quy định của Nhà nước và của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Về cơ cấu tổ chức, BQL Dự án Trồng rừng phòng hộ ven biển tỉnh có Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và cán bộ kỹ thuật. Nhân lực của BQL Dự án này được bố trí từ Ban Quản lý các dự án Lâm nghiệp; công chức, viên chức thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý hoặc tuyển dụng theo quy định của pháp luật do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chủ đầu tư Dự án quyết định. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Phú Yên 11/11) đầu trang(
Những năm gần đây, người dân trên địa bàn huyện Kim Bôi đã tập trung phát triển kinh tế theo hướng trồng rừng sản xuất.
Phát triển kinh tế rừng đã đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế - xã hội, bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ môi trường, tăng độ che phủ rừng và tạo việc làm tại chỗ, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định, góp phần xóa đói - giảm nghèo cho người dân địa phương.
Huyện Kim Bôi có tổng diện tích tự nhiên là 54.950 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 40.562 ha chiếm trên 73% diện tích toàn huyện, riêng rừng sản xuất có diện tích trên 21.000 ha đây là điều kiện thuận lợi cho huyện Kim Bôi đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp. Kim Bôi được đánh giá là địa phương có tổng diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh.
Để hoàn thành khâu đột phá về phát triển kinh tế đồi rừng, Đảng bộ huyện Kim Bôi đã tăng cường sự lãnh đạo của các cấp về trồng rừng, phát triển vốn rừng theo chủ trương kế hoạch của tỉnh; tiếp tục rà soát diện tích rừng, duy trì ổn định độ che phủ rừng từ 49% trở lên.
Công tác tổ chức tuần tra, canh gác bảo vệ rừng và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật được các ngành tiến hành thường xuyên, trong đó ưu tiên khu vực rừng phòng hộ xung yếu; thực hiện cắm mốc phân định ranh giới từng loại rừng để xây dựng phương án chuyển đổi rừng sau rà soát.
Để sản xuất kinh doanh rừng bền vững, huyện thực hiện xã hội hóa nghề rừng, đưa nghề rừng dần trở thành ngành kinh tế chính của huyện. Hầu hết các diện tích đất lâm nghiệp, đất đồi được trồng và khoanh nuôi bảo vệ. Nguồn lợi từ kinh tế đồi rừng tiếp tục trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng khá, nhiều gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ kinh tế đồi rừng.
Thực hiện đề án phát triển trồng rừng kinh tế, huyện tập trung rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp, hỗ trợ và vận động nhân dân trồng rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp. Bình quân mỗi năm huyện Kim Bôi trồng được 1000-2.000 ha rừng chủ yếu là rừng sản xuất và 100-200 ha cây ăn quả các loại.
Năm 2014, toàn huyện đã trồng được 2.001 ha rừng là huyện có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh, nâng độ che phủ rừng lên 49,3%. Năm 2015, huyện Kim Bôi có kế hoạch trồng mới 1.700 ha rừng, chủ yếu là rừng sản xuất và giao trên 37.000 ha rừng cho nhân dân chăm sóc và bảo vệ. Đến hết tháng 9, toàn huyện đã trồng được 1.700 ha.
Ông Lê Đức Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện Kim Bôi cho biết: Thấy được hiệu quả rõ rệt từ trồng rừng nên trồng rừng đã trở thành một phong trào, nhà ít thì 2-5 ha nhà nhiều thì trên chục ha. Rừng Kim Bôi đã tạo thêm việc làm, đem lại thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng số hộ khá giàu ở địa phương. Ngoài ra, còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực khác như tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái, tránh được tình trạng ao hồ cạn kiệt trong mùa khô hạn trước đây.
Từ thành công trong vụ trồng rừng năm 2014, năm nay sau khi được giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng của tỉnh, huyện kịp thời triển khai đến bà con nhân dân các xã. Các cây trồng chủ yếu là keo, sấu, trám. Huyện đã chủ động chuẩn bị giống cây tại vườn ươm lâm trường và các vườn ươm dự án. Chủ trương của huyện vận động người dân tự bỏ vốn ra trồng rừng, diện tích rừng khai thác đến đâu trồng ngay đến đó không để diện tích rừng trống.
Đồng thời tích cực chăm sóc rừng trồng, có biện pháp quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, không xâm hại rừng. Bình quân thu nhập từ rừng đạt 50-70 triệu đồng/ha. Hầu hết các hộ được giao đất lâm nghiệp biết làm giàu từ mô hình trồng rừng kinh tế.
Ngoài diện tích được giao, nhiều hộ còn liên doanh trồng rừng kinh tế với công ty lâm nghiệp, lâm trường trong huyện. Các hộ trồng rừng còn thực hiện các mô hình kinh tế cho hiệu quả cao dưới tán rừng như chăn nuôi lợn, phát triển nuôi gà thả vườn, nuôi ong lấy mật, xây dựng mô hình VACR liên hoàn…
Hướng đi của huyện trong thời gian tới là chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế lâm nghiệp sang trồng rừng và chế biến lâm sản nhằm đem lại thu nhập cao cho người dân. (Báo Hòa Bình 11/11) đầu trang(
Quản lý nhà nước đối với đất nông lâm trường được coi là “kém hiệu quả”. Tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng đất nông lâm trường đang trở nên khó kiểm soát
Trong 10 năm, hàng triệu ha đất nông lâm trường chỉ nộp ngân sách được 1.800 tỉ đồng. Tính ra mỗi ha chỉ có 90.000 đồng, tức là khoảng 10kg gạo. Đó là hiệu quả đáng chua xót mà nguồn lực đất đai đang mang lại cho ngân sách. Lợi ích thật của nó đang chảy vào túi ai?
Vai trò quản lý nhà nước ở đâu và cần giải pháp mạnh mẽ nào để khắc phục những hạn chế, tồn tại được chỉ ra từ nhiều năm nay. Đây là các câu hỏi được nêu ra sau giám sát chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014.
Có 39/53 tỉnh, thành phố có tình trạng các nông, lâm trường bị lấn chiếm đất đai, với tổng diện tích đất bị lấn chiếm là gần 300.000ha. 24/53 tỉnh, thành phố có tranh chấp đất đai của nông, lâm trường, với diện tích hơn 61.000ha. Trong số 13 triệu ha rừng hiện nay, số rừng giao trực tiếp cho các hộ gia đình quản lý chiếm 26%, cộng đồng quản lý 2%.
Ủy ban Nhân dân cấp xã không phải là đơn vị được giao quản lý về đất rừng thì lại được quản lý 2,1 triệu ha trong khi đó nhiều hộ gia đình không có đất sản xuất. Tổng nộp ngân sách nhà nước của các nông, lâm trường trong 10 năm, từ năm 2004-2014 chỉ được 1.809 tỉ đồng.
Đó là những con số đáng lưu ý từ báo cáo giám sát chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và trong báo cáo của các bộ, ngành liên quan. Quản lý nhà nước đối với đất nông lâm trường thể hiện trong nhiều chính sách nhưng tựu trung đó là ba từ “kém hiệu quả”. Vì thế, tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng đất nông lâm trường trở nên phổ biến, khó kiểm soát
Là thành viên trực tiếp tham gia đoàn giám sát, ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình dẫn chứng thực tế khi ông tham gia đoàn giám sát đến Công ty chè Mộc Châu.
“Công ty này đã chuyển đổi 100% đất nông lâm trường, nhà nước không còn giữ, thu ngân sách trên dưới 1 tỷ đồng. Năm 2014 công ty này nộp khoảng 2,4 tỷ, trong đó bao gồm cả tiền thuê đất; trong khi đó công ty này quản lý 4.800 ha”, đại biểu Nguyễn Tiến Sinh cho biết như vậy, đồng thời đặt câu hỏi “vậy khi đề xuất chuyển đổi mô hình thì Nhà nước được gì, phải chăng tài sản của Nhà nước đã bị chuyển sang tay tư nhân?”.
Đại biểu Nguyễn Tiến Sinh nhấn mạnh thêm, trước đây, nông dân nhận khoán đất của nông trường. Nay, nông dân phải nhận khoán của doanh nghiệp và mỗi năm phải trả cho doanh nghiệp 2,8 triệu đồng/ha. Doanh nghiệp ung dung thu về khoảng 5 tỷ đồng/năm. Câu hỏi đặt ra là ai thực sự được hưởng lợi sau khi chuyển đổi đất nông lâm trường? Rõ ràng quyền lợi trực tiếp của các nông trường viên không được đảm bảo, ngân sách bị thất thoát và lợi ích nằm trong tay một nhóm người.
Từ thực trạng giám sát, ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đặt vấn đề về trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý: “Tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, cấp sai đối tượng xảy ra ở rất nhiều nông lâm trường liên quan đến trách nhiệm của các địa phương. Trong báo cáo có nêu chúng ta chưa ban hành chế tài để xử lý vấn đề này, vậy theo bộ trưởng vấn đề này được đề cập như thế nào trong công tác quản lý và bộ đã có tham mưu bằng văn bản để thực hiện vấn đề này như thế nào?”.
Câu trả lời được các vị trưởng ngành chỉ ra bằng hai điểm tắc nghẽn: đây là vấn đề phức tạp, do lịch sử để lại nên việc quản lý rất khó khăn. Bên cạnh đó, do nguồn kinh phí cho việc đo đạc, xác định rõ mốc giới, khoảnh, thửa còn hạn chế nên việc quản lý, giao đất quản lý gặp nhiều vướng mắc. Ngoài ra, trách nhiệm của chính quyền địa phương với vai trò tổ chức thực hiện chưa được đề cao.
Không hài lòng với câu trả lời này, đại biểu Nguyễn Thị Khá, Uỷ viên thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng tình trạng thất thoát, lãng phí, sử dụng sai mục đích đất nông lâm trường quá rõ nhưng trách nhiệm quản lý nhà nước mù mờ, chưa có giải pháp rõ ràng. Không thể đổ thừa cho lịch sử để lại mà “cái khó bó cái khôn” để đó không giải quyết. Mấu chốt là ngoài vấn đề kinh phí còn cần có quyết tâm và phải có cam kết thực hiện. Đặc biệt là công tác thanh tra kiểm tra cần chặt chẽ hơn.
Đại biểu Nguyễn Thị Khá nêu rõ: “Công tác thanh tra kiểm tra còn rất mờ nhạt, chưa có thanh tra kiểm tra liên ngành hay chuyên đề về sử dụng đất nông lâm trường. Chính phủ phải biết quản lý ngành, lĩnh vực mặc dù có trách nhiệm địa phương nhưng quản lý ngành chuyên môn phải do hệ thống cấp trên. Phải có lộ trình, giải pháp cụ thể chứ không nên lẫn lộn. Chính sách chưa rõ giao khoán như thế nào, cho thuê đất chuyển quyền sử dụng đất như thế nào… không ai xử lý, kiến nghị gì, thanh tra kiểm tra chưa làm cụ thể thì làm sao xử lý được”.
Bên cạnh việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, cần phải rà soát lại một cách chặt chẽ và nghiêm túc thực trạng quản lý đất nông lâm trường hiện nay. Từ đó có sự phân loại rõ ràng chức năng và lợi ích của từng mô hình nông lâm trường. Chỉ khi xác định mô hình nông lâm trường quốc doanh, trong cơ chế thị trường giữ vị trí gì? chức năng, nhiệm vụ ra sao? Từ đó mới bàn đến các vấn đề khác như tài chính, giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Ngoài ra, cần phân định rõ cơ chế trách nhiệm và xử lý trách nhiệm một cách minh bạch.
Việc buông lỏng quản lý việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai tại các nông lâm trường từ câu chuyện nói mãi nhưng chưa thấy có những thay đổi đột phá về giải pháp. Trong khi đó, tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn lợi từ đất nông lâm trường vẫn đang diễn ra hàng giờ không được kiểm soát.
Quan trọng là nhận thức về trách nhiệm của các cơ quan quản lý chuyên ngành, trách nhiệm của chính quyền địa phương và trách nhiệm của những nhà hoạch định chính sách chưa được giải nghĩa một cách rõ ràng. Bên cạnh đó là giải quyết được câu chuyện lợi ích của các chủ thể. Khi đó những giải pháp mạnh mới thực hiện một cách thuận lợi để tạo chuyển biến trong thực tế. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 12/11) đầu trang(
Huyện miền núi Ba Chẽ (Quảng Ninh) vừa công bố các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Mục tiêu phấn đấu trở thành huyện có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp và lâm, nông nghiệp - dịch vụ gắn với giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.
Ba Chẽ có lợi thế về diện tích rừng và đất rừng chiếm tới hơn 90% diện tích tự nhiên của huyện với tỷ lệ che phủ rừng đạt 75%, bên cạnh đó, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Ba Chẽ rất phù hợp cho phát triển trồng rừng và các loài dược liệu quý dưới tán rừng.
Bí thư Huyện ủy Đỗ Thị Lan cho biết: “Để có bước phát triển đột phá trong kinh tế lâm nghiệp, dược liệu, Ba Chẽ sẽ tập trung phát triển các cây lâm nghiệp có giá trị cao, cây gỗ lớn, tập trung tái tạo rừng lim trên địa bàn. Bên cạnh đó, huyện sẽ tạo vùng nguyên liệu gỗ gắn sản xuất với chế biến lâm sản, phát triển các loại dược liệu quý như ba kích, trà hoa vàng, nấm lim và các loại sâm, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, liên kết với người dân để hình thành được một vùng nguyên dược liệu lớn gắn với chế biến”.
Để phát huy tiềm năng, thế mạnh từ lâm nghiệp, Ba Chẽ đã xây dựng quy hoạch các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung với hơn 29 nghìn ha và khoảng ba nghìn ha cây dược liệu quý. Trong 5 năm qua, Ba Chẽ đã tập trung cho phát triển lâm nghiệp, trồng mới gần 16 nghìn ha rừng chủ yếu là cây thông, quế, sa mộc, keo, lim. Từ đầu năm 2015 đến nay, huyện đã trồng được hơn ba nghìn ha rừng.
Đối với phát triển vùng dược liệu, Ba Chẽ quyết tâm phấn đấu đến năm 2020 sẽ phát triển được ba nghìn ha trồng các loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao như trà hoa vàng, nấm linh chi, ba kích… tập trung ở các xã Lương Mông, Minh Cầm, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn, Đồn Đạc và thị trấn. Hiện, Ba Chẽ đã phát triển được khoảng 300 ha diện tích trồng dược liệu và có gần 400 loại dược liệu tự nhiên ở dưới tán rừng.
Để tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế lâm nghiệp và dược liệu ở một huyện miền núi khó khăn, Ba Chẽ đang rất cần có các nhà đầu tư vào cuộc để hỗ trợ cho các hộ gia đình đồng bào, giúp họ xây dựng thương hiệu, chế biến lâm sản, nâng cao giá trị kinh tế của lâm sản cũng như dược liệu.
Chủ tịch UBND huyện Lê Minh Hải cho biết: “Hiện, đã có hơn 20 nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư ở Ba Chẽ, trong đó có những nhà đầu tư đến từ các quốc gia như Nhật Bản, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Hàn Quốc, Trung Quốc. Đã có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế rừng, trong đó tập trung cả trồng rừng và xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản, dược liệu tại chỗ”.
Song song với việc phát triển kinh tế lâm nghiệp và dược liệu, Ba Chẽ cũng đã nhanh chóng quy hoạch được các vùng công nghiệp chế biến vừa gần vùng nguyên liệu gỗ, dược liệu, vừa gần cảng biển. Đó là các cụm công nghiệp cảng Nam Sơn, cụm công nghiệp Đạp Thanh - Thanh Lâm.
Tại các khu, cụm công nghiệp này đã có một số doanh nghiệp vào đầu tư như: Công ty cổ phần kinh doanh lâm sản Đạp Thanh phối hợp Công ty dược khoa Pharma thực hiện dự án phát triển cây trà hoa vàng để tạo ra các sản phẩm trà túi lọc, trà ép viên và một số sản phẩm khác từ loại trà này. Công ty chế biến lâm sản Việt Nam đầu tư nhà máy chế biến gỗ công suất 10 nghìn tấn/tháng, các sản phẩm được chế biến từ gỗ keo gồm ván bóc, ván ghép, viên nén đốt.
Là doanh nghiệp đi đầu thực hiện dự án phát triển rừng kết hợp trồng cây dược liệu ba kích đem lại giá trị kinh tế lớn, Hợp tác xã Toàn Dân đã mạnh dạn đầu tư gần 70 tỷ đồng trồng hơn một nghìn ha rừng keo và 100 ha ba kích. Những mô hình như của Hợp tác xã Toàn Dân sẽ góp phần tạo ra vùng nguyên liệu chính cung cấp cho các nhà máy chế biến lâm sản và dược liệu ở Ba Chẽ.
Mới đây, huyện Ba Chẽ cũng đã ký biên bản ghi nhớ với các doanh nghiệp: Công ty cổ phần Dược Trung ương MEDIPLANTEX hợp tác trong lĩnh vực trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và đầu tư vùng trồng dược liệu với quy mô 200 ha theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế Thế giới. Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Quảng Ninh về phát triển vùng trồng dược liệu và tiêu thụ sản phẩm dược liệu trên địa bàn. (Nhân Dân 12/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhà chức trách Indonesia cho biết, họ đang sử dụng voi được huấn luyện vào công tác tuần tra và kiểm soát cháy rừng.
Tại trung tâm bảo tồn voi ở huyện Siak, Indonesia, giới chức huấn luyện 23 con voi và sử dụng chúng như những "kiểm lâm viên".
Mang theo máy bơm nước và các thiết bị khác, những con voi và nhân viên cứu hộ đi tuần tại các khu vực cháy trong rừng quốc gia nhằm đảm bảo rằng lửa sẽ không bùng phát trở lại.
Supartono, người đứng đầu Phòng Lâm nghiệp tỉnh Riau, cho biết, trước đây, những con voi được huấn luyện để tuần tra khu rừng, tìm kẻ xâm phạm trái phép cũng như giải quyết những xung đột thường xuyên giữa con người và voi hoang dã khi chúng đi vào khu định cư của con người.
Gần 3 tháng qua, khói từ các đám cháy rừng bao phủ khắp tỉnh Riau, đặc biệt tại những khu vực nhiều than bùn. Đến nay, Indonesia vẫn chưa thể kiểm soát những đám cháy dữ dội bởi nạn đốt rừng cố ý và thời tiết khô hạn.
Phần lớn diện tích đất rừng cháy trong 17 năm qua được chuyển đổi thành khu đồn điền để sản xuất bột giấy và dầu cọ. Theo Reuters, người dân đốt hơn 10.000 ha đất và rừng của tỉnh.
Bộ trưởng Lâm nghiệp và Môi trường, ông Siti Nurbaya, cho biết, lửa trên đảo Sumatra và Borneo thiêu rụi khoảng 1,7 triệu ha rừng và đất trồng rừng. (Zing News 12/11) đầu trang(
Mỗi năm một lần, đảo Giáng Sinh (Australia) lại chứng kiến một cảnh tượng thiên nhiên kì thú - ước khoảng 50 triệu chú cua đỏ “hành quân” từ hang của mình ra biển trong mùa sinh nở. Sau khi ghép đôi và đẻ trứng, những chú cua này lại quay trở về nhà.
Điều kinh ngạc hơn cả là cách mà những người dân trên đảo chuẩn bị cho cuộc trường chinh của các chú cua đỏ. Sự an toàn tính mạng của các chú cua là ưu tiên hàng đầu cho người dân đảo Giáng Sinh. Xe cộ có thể nghiền nát các chú cua bé nhỏ. Vì thế nên trước khi các chú cua xuất phát ra biển, họ lên kế hoạch và chuẩn bị mọi thứ để đảm bảo an toàn cho cua.
Năm nay, vườn quốc gia đảo Giáng Sinh rào chắn 20km, 31 hầm chui và 1 cầu để sự di trú diễn ra thuận lợi nhất.
Ông Rob Muller, cán bộ kiểm lâm vườn quốc gia đảo Giáng Sinh cho biết: “Các anh em kiểm lâm đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc di trú này từ hồi tháng 8 khi mùa khô chuẩn bị tới và vẫn có thời gian hoàn thành các hạng mục trước mùa mưa. Chúng tôi cố gắng xong mọi thứ giữa tháng 10. Nếu có mưa vào tháng 10 thì các chú cua sẽ tiến ra biển và mọi thứ đều sẵn sàng. Nhưng thường thì mưa chỉ bắt đầu từ tháng 11”.
Chúng tôi bảo vệ các chú cua khi di trú khỏi bị xe cộ nghiền nát. Dù sao chúng vẫn phải ra tới biển để sinh sản. Cách hay nhất là tạm dừng hoạt động một số tuyến đường, tuy nhiên cách này đôi khi gây khó khăn vì các tuyến chính đi qua vườn quốc gia. Vậy nên chúng tôi còn dựng lên các hàng rào đặc biệt để ngăn các chú cua băng qua đường. Tuy nhiên vẫn cần các hầm chui để bổ sung”. (Dân Việt 11/11) đầu trang(
Tổ chức giải cứu động vật quốc tế IAC đã giải cứu được một cặp mẹ con đười ươi trên đảo Kalimantan, Indonesia bị dân làng ném đá, trói lại định giết chết vì tưởng rằng chúng phá phách mùa màng.
Trong gần nửa năm qua, hiện tượng cháy rừng liên tục tại Indonesia không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Cũng vì cháy rừng, hàng trăm loài vật đã mất đi nơi sinh sống của mình, trong đó có hai mẹ con đười ươi thuộc giống quý hiếm tại đảo Kalimantan. May mắn trốn thoát khỏi cánh rừng cháy ngùn ngụt, chúng bỏ trốn tới một ngôi làng dân nhưng lại tiếp tục bị dân làng tấn công xua đuổi.
Hai mẹ con đười ươi chỉ muốn tìm một ít thức ăn sau nhiều ngày đói khát, tuy nhiên dân làng tại đó lại nghĩ rằng cặp linh trưởng này đang phá hoại mùa màng, ăn cắp lương thực. Quá giận dữ, họ ném đá vào hai mẹ con đười ươi, sau đó trói chúng lại định bụng sẽ giết chết để trừng phạt. Rất may đã có những nhân viên thuộc Tổ chức cứu hộ động vật quốc tế IAC đã kịp thời có mặt giải thoát cho cặp linh trưởng.
Nhân viên IAC đã tiêm thuốc gây tê cho hai con đười ươi để chúng tạm thời quên đi cảm giác đau đớn. Con đười ươi mẹ rất gầy gò, đang trong trạng thái da bọc xương vì đói ăn lâu ngày, ít nhất khoảng 1 tháng nay con vật đã không có cái gì vào miệng kể từ khi rừng bắt đầu cháy. Ốm yếu là thế nhưng không hiểu sao nó vẫn có sữa cho con bú suốt thời gian qua.
Ngay lập tức các nhân viên đã tiến hành hồi sức cho cặp đười ươi, đến khi con mẹ bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, cả hai đã được vận chuyển tới trung tâm bảo tồn trên đảo Kalimantan. Tại đây hai mẹ con sẽ được điều trị dưới sự giám sát của đội bảo tồn động vật và sau đó sẽ tiếp tục theo dõi sức khỏe để có thể tái hòa nhập tự nhiên.
Con đười ươi con được trung tâm bảo tồn đặt tên là Gito, giờ đây cu cậu đang có dấu hiệu hồi phục tích cực, nhưng vẫn phải mất một thời gian rất lâu nữa nó mới có thể trở về với thiên nhiên. Tuy nhiên, có lẽ Gito sẽ không phải là đứa bé cuối cùng mà IAC giải cứu nếu như tình trạng cháy rừng nghiêm trọng này vẫn tiếp tục kéo dài.
Được biết, chỉ trong vòng 5 tháng qua, Indonesia đã mất đi ít nhất là 2 triệu hecta rừng vì hỏa hoạn, và nếu chuyện này cứ tiếp diễn mà không có biện pháp khắc phục, sẽ không chỉ là mất rừng, mất động vật, mà quốc gia này sẽ còn mất đi nhiều thứ hơn nữa. (Kênh 14 11/11) đầu trang(
Nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận mà không ít thương nhân đã sẵn sàng săn bắt và giết hại những loài động vật quý hiếm, khiến chúng đi dần đi vào con đường tuyệt chủng.
Có thể nói, săn bắt động vật quý hiếm vẫn luôn là một vấn nạn nhức nhối trong xã hội hiện đại. Mặc dù các cơ quan chức năng đã cố gắng vào cuộc và cho ra đời những chính sách cứng rắn hơn, song vấn đề này vẫn chưa thực sự được giải quyết triệt để. Nhằm giúp mọi người có một cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, trang CBS đã tiếp cận Kho Động vật Hoang dã Quốc tế (NWR), nơi thu giữ các mặt hàng liên quan đến động vật quý hiếm lớn nhất gần thành phố Denver, bang Colorado, Mỹ.
Theo báo cáo của NWR, tổng số sản phẩm ở đây đã lên tới con số 1,5 triệu. Trong đó hầu hết là ngà voi, đầu báo, các loại ví làm từ da hổ hoặc da cá sấu. Ông Coleen Schaefer, Giám sát kho cho biết, ngoài các mặt hàng quốc cấm như vũ khí, ma túy... thì động vật quý hiếm được xem là nguồn sinh lời cực lớn đối với các thương nhân ở khu chợ đen.
Trong số đó, những mặt hàng liên quan đến hổ thường khá được ưa chuộng. Có lẽ do nạn săn bắt hổ hiện nay tăng quá nhanh mà số lượng hổ trong tự nhiên giờ chỉ còn lại 3.200 con. Tuy nhiên, NWR cũng thường hay cung cấp các xác hổ nhồi bông cho trường học hay viện bảo tàng để giúp học sinh quan sát và nghiên cứu.
Ngoài ra, số lượng sản phẩm liên quan đến tê giác cũng tương đối lớn. Nhiều chuyên gia nhận định rằng, loài động vật này sẽ có khả năng tuyệt chủng vào 2020 bởi trên thế giởi chỉ còn đúng 27.950 trong tổng số hơn 500.000 cá thể từ đầu thế kỉ 20.
Bên cạnh những mặt hàng phổ biến nói trên, NWR còn thu giữ một lượng nhỏ các mặt hàng làm từ ếch. Ông Coleen còn cho biết để thực hiện các vụ buôn bán ngà voi trái phép, người bán đã giấu chúng bên trong đồ gốm sứ.
Được biết, trong giai đoạn năm 2010-2012, mỗi ngày đều có 96 con voi bị giết hại trong thương vụ làm ăn của tầng lớp trung lưu tại Trung Quốc và khu chợ đen tại một số nước châu Á.
Theo khảo sát, các chuyên gia tại Mỹ đã chỉ ra, vấn nạn săn bắt và buôn bán trái phép động vật quý hiếm đang ngày một leo thang trong suốt thập kỷ vừa qua. Nguyên nhân dẫn tới vấn nạn này phần lớn là do sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới buôn bán xuyên quốc gia cũng như khâu giám sát lỏng lẻo tại các khu bảo tồn động vật quý hiếm.
Chia sẻ với trang CBS, quản lý của kho tiết lộ, tổng giá trị các mặt hàng ở đây có thể lên tới hàng tỷ USD. Không chỉ da mà cao hổ cũng được phân phối rộng rãi tại thị trường Trung Quốc và khu vực Á Đông.
Ngoài ban hành chính sách, có lẽ các nhà cầm quyền cũng nên xem xét tới việc mở rộng thêm chiến dịch nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết cho người dân để hạn chế nạn săn bắt và mua bán trái phép động vật quý hiếm tăng trưởng. (Trí Thức Trẻ/ Kênh 14 11/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||