Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 13 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Gần 40 năm kể từ ngày rời quân ngũ trở về lại địa phương, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng ông Trần Đức Minh (63 tuổi), ở thôn An Thạnh (xã Sơn Tịnh, huyện Tịnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) vẫn hàng ngày rảo bước trên những lối mòn quen thuộc để tuần tra, bảo vệ rừng với mục đích giữ màu xanh trên đỉnh núi Nhàn.
Từ xa, hướng tầm mắt trông về làng An Thọ, ngọn núi Nhàn như một người mẹ dang rộng cánh tay để che chở, bảo vệ cho những đứa con đang tựa lưng vào dãy núi. Trải qua bao cuộc chiến tranh bị bom đạn cày phá, rồi sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thế nhưng màu xanh của ngọn núi vẫn luôn được duy trì, không một gốc cây nào bị chặt phá.
Chúng tôi tìm đến nhà ông Minh ở cuối thôn An Thạnh, như bao nhiêu ngôi nhà khác trong thôn, ngôi nhà của ông cũng tựa lưng vào dãy núi. Được biết, gia đình ông Minh giàu truyền thống cách mạng, cả nhà ông có đến 5 người từng phục vụ trong cả hai cuộc kháng chiến. Ông Minh tham gia du kích lúc 17 tuổi, rồi đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường Quảng Ngãi, hiện ông đang hưởng chế độ thương binh loại 3.
Sau ngày giải phóng, ông được phân công làm xã đội trưởng xã nhà. Với tư cách xã đội trưởng, ông liền thành lập tổ bảo vệ rừng cùng với 2 thành viên khác trong làng. Nhiệm vụ của tổ là tuần tra, chặt phát cây bụi nhỏ, tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng đến với bà con.
Ông Minh nhớ lại: “Vào khoảng năm 1972, tôi cùng đồng đội là người địa phương đã chọn khu rừng này làm căn cứ. Hồi đó, núi Nhàn là một trong những chốt quan trọng bậc nhất của khu vực Tây Sơn Tịnh. Ngày ấy có nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống để giữ vững vùng rừng núi này. Bây giờ tôi phải giữ bằng được những gốc cây của núi rừng để tri ân đồng đội, trả ơn ngọn núi đã che chở, bảo vệ chúng tôi trong thời gian khó đó”.
Theo ông Minh, lúc đầu dân phản đối việc ông ngăn họ phá rừng dữ lắm. Nhưng cũng may, mình nói mãi rồi người dân ai cũng nghe. Từ đó đến nay ai cũng ra sức bảo vệ rừng, không một ai tự tiện vô rừng chặt cây.
Dẫn tôi lên thăm khu rừng, vừa đi ông Minh vừa khoe: “Lợi ích mà ngọn núi này mang lại cho làng chúng tôi nhiều lắm, mùa mưa bão đã hạn chế gió; còn mùa hè giúp điều tiết không khí, sống quanh khu rừng lúc nào cũng thấy mát mẻ, dễ chịu. Rừng này giống như một bức bình phong che chở, bảo vệ ngôi làng chúng tôi”. Gần 40 năm tuần tra bảo vệ nên với diện tích hơn 46ha rừng, bây giờ mọi ngóc ngách, mọi tảng đá, gốc cây ông đều nhớ và thuộc như lòng bàn tay, ngày càng nhiều loài chim, cò về trú ngụ, sinh sôi…
Đáp lại lòng tận tụy của ông, chính quyền địa phương đã hỗ trợ tổ bảo vệ núi rừng của ông mỗi người 3 sào đất canh tác và 1 triệu đồng/năm. “Bây giờ, tôi chỉ có ước muốn duy nhất là tìm được người kế tục vì tuổi tôi ngày một cao, khó có sức để tuần tra bảo vệ liên tục. Trong thôn giờ chỉ còn lại người già, còn thanh niên lớn lên đều đi kiếm nghề mưu sinh xa nhà nên tìm người trẻ rất khó”, ông Minh vừa phát quang bụi rậm vừa than thở. (Sài Gòn Giải Phóng 12/11) đầu trang(
Mường La là huyện đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La và có khá nhiều diện tích rừng nằm trong dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ với nguồn lâm sản phong phú.
Nhưng đây cũng là địa bàn giáp ranh với các huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái và huyện Than Uyên của tỉnh Lai Châu, nên lâm tặc thường lợi dụng để khai thác lâm sản.
Ông Bùi Mạnh Cường - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường La, cho biết: Nhiều năm qua, các hoạt động khai thác lâm sản lẻ tẻ vẫn xảy ra và thường là khi chúng tôi truy quét thì chỉ thu được hàng vô chủ vì lâm tặc chạy trốn hết sang các địa bàn khác.
Nhưng Chi cục Kiểm lâm Sơn La và Hạt Kiểm lâm huyện đã xác định: Phải bám chắc địa bàn, gắn việc truy quét với tuyên truyền nâng cao ý thức người dân, chung sức bảo vệ và phát triển vốn rừng. Với những dối tượng cố tình vi phạm, chúng tôi tổ chức điều tra và đưa ra pháp luật xử lý. Vừa qua, chúng tôi đã khởi tố 2 bị can là Giàng a Lồng và Giàng A Vảng đều ở thôn Bản Công, xã Bản Công của huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Tòa án đã tuyên phạt 2 bị cáo này từ 6 đến 9 tháng tù giam.
Đến xã Ngọc Chiến, nơi giáp ranh với 2 huyện Trạm Tấu và Than Uyên của 2 tỉnh bạn, thấy những cánh rừng khoanh nuôi bảo vệ phát triển xanh tốt bên những cánh rừng mới trồng. Anh Lò Văn Tán - cán bộ văn phòng UBND xã  bảo: Xã có 33 bản với hơn 10.000 nhân khẩu thuộc nhiều dân tộc anh em.
Các bản tuy cách xa nhau, đi lại rất khó khăn nhưng không vì thế mà công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng bị sao nhãng. Hàng tháng, cán bộ kiểm lâm vẫn phối hợp với cán bộ xã đến từng bản, từng cánh rừng để kiểm tra, giám sát và tuyên truyền. Khi cán bộ bám sát dân, nói và làm cho dân hiểu thì người dân cũng tăng thêm niềm tin vào cán bộ và sẽ làm theo cái hay, cái tốt.
Anh Quàng Văn Xứng - công an viên bản Nà Tâu, xã Ngọc Chiến, chỉ tay lên những cánh rừng xanh ngắt quanh bản, bảo: Dân bản Nà Tấu cũng như nhiều bản khác ở Ngọc Chiến này rất khan hiếm đất sản xuất, nhưng mấy năm nay chẳng ai phá rừng làm nương nữa đâu. Đất ít thì chúng tôi đi làm thuê, làm mướn ở nơi khác vì ai cũng hiểu rằng nếu không có rừng thì người nông dân khó mà sống được.
Đến bản Nà Dìa, gặp anh Lò Văn Khụt - Bí thư chi bộ bản đang cho cá ăn. Anh bảo: Bà con nói thật đấy, bây giờ người dân không phá rừng bừa bãi nữa mà còn trồng thêm rừng bởi ai cũng biết rừng không chỉ mang lại cái gỗ, cái tre, con thú mà còn mang lại nguồn nước ăn, nước sản xuất. Nhà tôi cũng trồng thêm hơn 1ha rừng cây sơn tra, vừa phủ xanh đất rừng, vừa lấy thu nhập lâu dài. Nhiều hộ dân tự nguyện trồng rừng ngay trên đất nương của mình chứ không đợi phải nhắc nhở, phân chia như trước nữa.
Hạt trưởng Bùi Mạnh Cường cho biết thêm: Đúng là người dân trong vùng bây giờ không chỉ tích cực phối hợp với kiểm lâm bảo vệ rừng mà còn trồng được nhiều diện tích rừng. Đầu năm đến nay, toàn huyện đã trồng mới 178ha rừng với 2 loại cây chủ yếu là sơn tra (táo mèo) và lát hoa. (Dân Việt 13/11) đầu trang(
Chiếc xe máy ủi - tang vật vụ án vận chuyển gần 37m3 gỗ lậu qua biên giới giáp Lào đã bị mất khi đang chờ xử lý.
Chiều ngày 12-11, ông Võ Thanh Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xác nhận chiếc xe máy ủi - tang vật trong vụ bắt giữ gần 37m3 gỗ qua biên giới giáp với Lào ngày 2-11, đã bị mất.
Theo ông Thành, chiếc xe máy ủi được đặt tại chốt của Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi nhưng khi vào xác minh thì chiếc xe đã không còn, phía công ty này nói họ không biết. (?!)
Liên quan đến vụ việc này, rạng sáng ngày 2-11, từ tin báo của quần chúng, đoàn kiểm tra liên ngành gồm Kiểm lâm, Công an huyện Ngọc Hồi cùng Đồn Biên phòng cửa khẩu Bờ Y đã đi kiểm tra và phát hiện tại khoảnh 9, tiểu khu 161, thuộc Lâm trường Dục Nông có 2 ô tô chở gần 37m3 gỗ nhập lậu từ Lào về và một máy ủi.
Thời điểm kiểm tra không phát hiện lái xe và chủ 2 xe gỗ trên nên đoàn liên ngành đã đưa 2 xe chở gỗ về Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi chờ xử lý. Riêng chiếc máy ủi được giao lại cho chốt kiểm soát của Công ty TNHH - MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi và chốt của Đồn Biên phòng 675 chờ xử lý.
Khi vụ việc xảy ra, UBND tỉnh Kon Tum đã có văn bản giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra làm rõ, xử lý nghiêm theo quy định đối với hành vi khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật. Đồng thời xử lý trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan để xảy ra vụ việc. (Người Lao Động 12/11) đầu trang(
Công tác phòng, chữa cháy rừng mùa khô 2015-2016 được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn trước ảnh hưởng nghiêm trọng của El Nino.
Tại Cà Mau, Vườn quốc gia U Minh Hạ có diện tích hơn 8.500ha, với kết cấu rừng tràm trên nền đất than bùn, nếu để phát sinh cháy sẽ dẫn đến cháy lớn và âm ỉ rất khó dập tắt triệt để.
Vì vậy, ngay từ thời điểm này tỉnh Cà Mau đã chủ động các phương án phòng, chữa cháy rừng nhanh chóng, quyết liệt nhằm bảo vệ tối đa Vườn quốc gia U Minh Hạ.
Ông Huỳnh Minh Nguyên, Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ cho biết, hiện nay mực nước trong Vườn Quốc gia U Minh Hạ cao hơn so với cùng thời điểm mùa khô năm 2014-2015 từ 20-40cm. Tuy nhiên, đơn vị vẫn chủ động khai thông 5km đường giao thông thủy; hệ thống thông tin, nhân lực, phương tiện phục vụ công tác phòng, chữa cháy rừng đang hoạt động tốt.
“Công ty hiện có năm tiểu khu, với 25.000ha, trong đó đất có rừng trên 20.000ha. Đơn vị đã đắp 21 đập lớn, nhỏ để giữ nước trên toàn tuyến, 20 tổ bơm công suất lớn của đơn vị được đảm bảo. Ngoài ra, đơn vị còn chủ động phối hợp cùng với bốn đơn vị đóng trên địa bàn với 24 tổ máy bơm. Đến thời điểm này, đơn vị đã sẵn sàng và chủ động trong phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2015-2016,” ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ cho hay.  Để phòng cháy, chữa cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cũng kết hợp với Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy - Công an tỉnh, tiến hành diễn tập thực địa theo tình huống với sự tham gia của các đơn vị tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Công ty Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ.
Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, bảo vệ rừng tràm là nhiệm vụ cấp bách, cần được thực hiện một cách nghiêm ngặt; đồng thời cần đề cao vai trò của cơ quan kiểm lâm, các chủ rừng trong chủ động xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng. Tuy nhiên với dự báo mùa khô kéo dài, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng cần có sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ hơn nữa.
Liên quan đến sử dụng đất rừng, các địa phương, đơn vị cần quan tâm chỉ đạo quyết liệt nhằm tìm các giải pháp tháo gỡ những tồn tại gây khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và ảnh hưởng đến sản xuất của người dân.
Tại Cà Mau, kinh nghiệm trong công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng những năm qua cho thấy, sự phối kết hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan với các huyện có lâm phần rừng như U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình nhằm tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động người dân vẫn là cốt yếu nhất. Từ đó, công tác tổ chức xây dựng lực lượng làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, bảo vệ rừng bằng hình thức vận động người dân tham gia với dạng hợp đồng, vào những tháng cao điểm của mùa khô sẽ phát huy tác dụng.
Bên cạnh đó, chính sách giao đất giao rừng cho người dân sống ven vườn quốc gia U Minh Hạ cũng đang phát huy hiệu quả khi đa phần người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của rừng đối với đời sống của chính mình, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ. (Vietnam + 12/11; Nhân Dân 12/11) đầu trang(
Tình trạng phá rừng trái phép tại tỉnh Lâm Đồng thời gian qua diễn biến phức tạp. Sự biến mất của những cánh rừng đồng thời cũng đã để lộ ra nhiều bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của địa phương.
Có mặt tại Tiểu khu 262B, thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Ban tại huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), trước mắt chúng tôi là hiện trường một vụ hủy hoại rừng quy mô lớn. Hàng trăm cây thông ba lá được trồng từ năm 1994 trên diện tích khoảng 1,2ha vừa bị đốn hạ và chết khô do bị đầu độc. Cách đó không xa, 4,5ha rừng cũng đã bị xóa sổ, thay thế bằng những rẫy cà phê.
Trước đó, tại Tiểu khu 444, thuộc xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) cũng đã xảy ra một vụ hủy hoại rừng trên quy mô lớn. Gần 3,5ha rừng thông 3 lá đang chết khô do bị đầu độc bằng hóa chất. Chủ mưu của vụ hủy hoại rừng là Vũ Văn Thanh, sinh năm 1971, ngụ tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, là bảo vệ rừng cho Công ty TNHH An Nguyễn tại Bảo Lâm.
Vì muốn lấn chiếm đất rừng để trồng cà phê, Thanh đã thuê người dân địa phương đào 3.000 hố dưới tán rừng thông, sau đó thuê tiếp 4 đối tượng gồm: Vũ Tuấn Chung, Nguyễn Hữu Long, Vũ Tuấn Long, Vũ Quốc Lâm dùng rìu khoét vào thân cây và đổ thuốc diệt cỏ vào vết khoét nhằm đầu độc cho cây thông chết. Cơ quan điều tra công an huyện Bảo Lâm đã khởi tố, bắt tạm giam Vũ Văn Thanh cùng 4 đối tượng tham gia về hành vi “hủy hoại rừng”.
Báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, đầu năm đến nay, địa phương đã phát hiện và xử lý 1.325 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 353 vụ phá rừng trái phép. Diện tích rừng bị phá là 130,5ha, lực lượng chức năng đã tịch thu 1.746m3 gỗ, thu nộp ngân sách hơn 12 tỷ đồng.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các địa bàn đang “nóng” về tình trạng phá rừng hiện nay gồm: Khu vực Tam Bố, Gia Hiệp giáp ranh giữa huyện Đức Trọng và huyện Bắc Bình (Bình Thuận); dọc hai bên tỉnh lộ 723 nối 2 tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa; các Tiểu khu 444 và 466 thuộc huyện Bảo Lâm; các Tiểu khu 262B, 286A, 231, 219, 239, 285 thuộc địa bàn huyện Lâm Hà; khu vực Đà Loan, Tà Hine; rừng giáp ranh giữa 3 huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm...
Thời gian qua, hàng loạt vụ phá rừng quy mô lớn, có tổ chức cũng đã bị lực lượng chức năng phát hiện và xử lý như: Vụ chặt trộm 139 cây dầu với khối lượng gỗ khoảng 300m3 tại Tiểu khu 703 và 704 thuộc địa bàn huyện Di Linh; vụ 3 đối tượng gồm Trương Mạnh Hùng, Quách Hải Tô và Lê Viết Tưởng dùng cưa máy triệt hạ 207 cây thông có tuổi đời hơn 30 năm tại Tiểu khu 466 thuộc địa bàn xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm vào đêm 29-5…
Thủ đoạn và phương thức hoạt động của các đối tượng phá rừng ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Để khai thác được gỗ lớn, quý hiếm, chúng thường chọn các khu vực rừng nguyên sinh có trữ lượng gỗ dồi dào ở vùng giáp ranh, có địa hình xa xôi, hiểm trở, xa dân cư và lực lượng bảo vệ, sử dụng các loại xe “độ” để di chuyển trên nhiều địa hình phức tạp và chở gỗ.
Nhằm chiếm đất sản xuất, các đối tượng thường chặt gốc, đổ a-xít, thuốc diệt cỏ bơm vào vết chặt cho cây chết, đồng thời thực hiện “nống lấn” dần đất rừng, lấn được tới đâu thì trồng cà phê và các loại hoa màu tới đó. Nhiều đối tượng không trực tiếp phá rừng nhưng lại đứng đằng sau xúi giục hoặc bỏ tiền ra thuê người dân địa phương phá, sau đó mua lại đất và lâm sản.
Khi bị phát hiện, các đối tượng chống trả lực lượng chức năng rất quyết liệt, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ chống người thi hành công vụ làm 1 cán bộ kiểm lâm hy sinh, 3 cán bộ kiểm lâm và lâm nghiệp bị thương.
Năm 2015, tỉnh Lâm Đồng đề ra mục tiêu giảm 20% số vụ vi phạm lâm luật so với năm 2014, tuy nhiên, số vụ vi phạm trong 9 tháng đã gần bằng số vụ vi phạm trong năm 2014. Điều này cho thấy, công tác bảo vệ rừng đang gặp nhiều khó khăn.
Ông Võ Danh Tuyên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, bên cạnh các yếu tố như: Địa bàn quản lý rộng, khó khăn; lực lượng, phương tiện hạn chế; thủ đoạn của các đối tượng ngày càng tinh vi thì nguyên nhân quan trọng khiến tình trạng phá rừng gia tăng là do công tác thực thi văn bản pháp luật về bảo vệ rừng thời gian qua còn kém hiệu quả, dẫn tới tình trạng “nhờn” luật.
Ông Tuyên nêu dẫn chứng: “Khi phát hiện các vụ phá rừng, nếu chưa tới mức xử lý hình sự thì chúng tôi sẽ ra quyết định xử phạt hành chính nhưng nhiều đối tượng không có tiền nộp phạt, hoặc cố tình không nộp. Theo nguyên tắc, không nộp phạt sẽ bị cưỡng chế tài sản nhưng điều này cũng không thể thực hiện vì hầu hết đối tượng phá rừng là người làm thuê, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, không có tài sản gì đáng giá để cưỡng chế. Vì vậy dẫn tới tình trạng bản pháp luật không được thực thi, các đối tượng thì vẫn vô tư tái phạm. Riêng năm 2014, ngành kiểm lâm tỉnh tồn đọng gần 400 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với sồ tiền khoảng 5 tỷ đồng”.
Theo số liệu thống kê mới nhất, toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có hơn 513.000ha rừng. Đến nay, địa phương đã giao 376.136ha cho 22.852 hộ nhận khoán bảo vệ. Có 335 doanh nghiệp đang thuê đất rừng với tổng số diện tích khoảng 58.000ha. Việc giao đất, giao rừng cho người dân và doanh nghiệp là chủ trương đúng nhưng quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều bất cập.
Nhiều hộ thiếu lao động, hoặc chỉ có người già yếu nhưng vẫn được giao đất, giao rừng dẫn tới không có khả năng quản lý, bảo vệ; mức tiền giao khoán thấp, chưa khuyến khích được người dân tích cực bảo vệ rừng. Nhiều doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng làm dự án nhưng không đủ năng lực thực hiện, không triển khai hoặc triển khai chậm, không thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, lấn chiếm, tranh chấp đất đai.
Tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh gần đây nhất, ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh thừa nhận có tình trạng cán bộ tiếp tay, thông đồng với lâm tặc để phá rừng.
Tình trạng phá rừng tại Lâm Đồng khiến chất lượng, diện tích rừng bị suy giảm mạnh, đồng thời gây bức xúc trong dư luận địa phương.
Trong lúc chờ một giải pháp tổng thể, mang tính khả thi, lâu dài thì tỉnh Lâm Đồng cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền cơ sở và các lực lượng chuyên trách trong công tác bảo vệ, phát triển rừng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; xử lý nghiêm các hành vi phá rừng, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép; làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các cán bộ địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trong thời gian dài; nhanh chóng bố trí và ổn định dân cư, nhất là dân di cư tự do trên địa bàn; kiên quyết giải tỏa diện tích rừng, đất rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép để trồng lại rừng; rà soát lại công tác giao khoán bảo vệ rừng và có chế tài cụ thể nhằm gắn trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khi tham gia quản lý, bảo vệ rừng. (Quân Đội Nhân Dân 13/11) đầu trang(
Như Báo điện tử Tầm Nhìn đã thông tin, sau khi có kết luận thanh tra, mới đây, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh vào cuộc để làm rõ những sai phạm của lãnh đạo Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân (Công ty Trà Tân). Vậy tại công ty này đã xảy ra những sai phạm nghiêm trọng gì?
Năm 2007, UBND tỉnh Quảng Ngãi chuyển Lâm trường Trà Tân thành Công ty Lâm nghiệp Trà Tân. Năm 2011, thực hiện phương án sắp xếp lại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, tỉnh Quảng Ngãi đã chuyển Công ty này thành Công ty TNHH MTV như hiện nay, người đứng đầu là Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty.
Từ năm 2007 - 2011, Công ty Trà Tân triển khai trồng 618,8ha rừng tại huyện Tây Trà và Trà Bồng, trong đó diện tích trồng keo là 474,8ha và 144ha cao su. Riêng năm 2008, công ty tiến hành trồng 74,8ha cây keo tại xã Trà Tân và Trà Bùi (Trà Bồng), nhưng không có hồ sơ thiết kế thi công và dự toán theo quy định. Rừng trồng không được chăm sóc, quản lý, dẫn đến 38,4ha rừng tại xã Trà Tân bị thiệt hại 100%; còn đất bị người dân chiếm dụng hết.
Tháng 2/2011, trong khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu (UBND tỉnh Quảng Ngãi), Công ty Trà Tân đã tự ý liên doanh ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Nam An Lộc (Bình Phước) để trồng 1.000ha cao su với giá trị đầu tư hơn 2,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, chỉ trồng được 124ha cao su tại huyện Tây Trà và 20ha tại Trà Bồng. Trước khi trồng cũng không lập hồ sơ thiết kế, dự toán và 20 ha cao su tại Trà Bồng chết hoàn toàn, còn diện tích cao su tại Tây Trà sống ngắc ngoải với tỷ lệ thấp. Mặt khác, Công ty Nam An Lộc tự đưa cây Dó Bầu trồng trong diện tích cao su liên doanh nhưng Công ty Trà Tân không có ý kiến gì.
Tháng 10/2007, Công ty Trà Tân ký hợp đồng với Công ty An Nam Lộc (TP HCM) trồng 600ha cây keo tại huyện Tây Trà và đối tác đã đầu tư hơn 2,9 tỷ đồng để công ty sử dụng. Sau khi trồng được 1 năm, do không chăm sóc đúng quy trình nên diện tích keo bị chết hết.
Xuất phát từ sự yếu kém của công tác kế toán nhiều năm liền chưa được chấn chỉnh khắc phục, nên số liệu theo dõi, hoạch toán kế toán các vấn đề liên quan đến tiền lương, tiền công, các khoản về chế độ BHXH nói chung đều phản ảnh vừa không kịp thời vừa không chính xác.
Tính đến 31/12/2014, công ty tự xác định lại còn nợ tiền lương của người lao động là hơn 1 tỷ đồng; nợ tiền BHXH, BHYT, BHTN là hơn 900 triệu. Công ty có 4 lao động đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng do công ty nợ BHXH, BHYT, BHTN bới Bảo hiểm xã hội tỉnh nên dẫn đến làm thủ tục nghỉ hưu chậm. Rất may nhờ sự can thiệp kịp thời của UBND tỉnh Quảng Ngãi nên đến nay, 4 trường hợp này đã được nhận sổ hưu trí.
Năm 2011, Công ty Trà Tân bán 2ha keo đến tuổi thu hoạch tại xã Trà Bùi cho ông Huỳnh Tấn Sơn với giá 70 triệu đồng, nhưng không thể hiện trong sổ tiền mặt và báo cáo tài chính của Công ty trong năm này. Năm 2014, Công ty ký hợp đồng khai thác keo trên diện tích 259ha tại xã Trà Phong (Trà Bồng) với ông Nguyễn Tấn Mạnh (người địa phương) với giá 690 ngàn đồng/tấn, nhưng không thể hiện số lượng là bao nhiêu tấn; trong hồ sơ kế toán cũng không có khoản thu tiền từ bán keo. Đặc biệt, ông Mạnh lợi dụng sơ hở tự quyền khai thác keo rồi đem bán ra ngoài thu lợi mà lãnh đạo công ty không hay biết gì(?!).
Trong năm 2009 - 2010, Công ty chủ trương vay tiền cá nhân bên ngoài để sản xuất - kinh doanh nhưng không xin ý kiến của chủ sở hữu (UBND tỉnh Quảng Ngãi) phê duyệt, không có hợp đồng vay vốn. Hồ sơ tài chính chỉ thể hiện 4 phiếu thu với tổng số tiền vay là 1,3 tỷ đồng, trong đó ông Nguyễn Xuân Trúc cho vay  600 triệu đồng, Lê Văn Pháp 300 triệu đồng và bà Nguyễn Thị Thu Thảo 400 triệu đồng. Các phiếu thu tiền đều không có chữ ký của người nộp tiền, chỉ có Kế toán trưởng và Giám đốc Công ty ký tên.
Đến năm 2012, tổng số tiền lãi chi trả là 867,6 triệu đồng, đơn vị không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; các phiếu chi trả tiền lãi chỉ có một mình Kế toán Lê Thiện Hóa ký tên và toàn bộ số tiền trả lãi vay trên đều do Giám đốc Công ty trực tiếp nhận để trả cho người cho vay vốn. So sánh mức lãi suất của ngân hàng thương mại lúc bấy giờ thì việc vay vốn bên ngoài đã gây thiệt hại cho Công ty hơn 213 triệu đồng.
Ngoài ra, lãnh đạo Công ty còn tự bán 7 loại tài sản với giá trị gần 834 triệu đồng nhưng không đưa ra đấu giá công khai, trong đó có việc thanh lý xe Mitsubishi giá trị còn lại 119 triệu đồng, chỉ áp giá và bán 80 triệu đồng.
Trong quản lý, theo dõi nợ phải thu, phải trả, Công ty mắc nhiều sai phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến tính minh bạch và tài chính; dẫn đến mất khả năng thu hồi nợ, mất vốn của Nhà nước đã giao. Tính đến cuối năm 2013, tổng số nợ phải thu là hơn 3,8 tỷ đồng, trong khi số nợ phải trả chỉ có 681 triệu đồng. Do không đủ chứng từ gốc để đối chiếu công nợ nên mất khả năng thu hồi nợ với số tiền hơn 2 tỷ đồng.
Số liệu kế toán của công ty không có cơ sở để tin cậy; không có cơ sở để điều kiện để làm ra con số thực. đây là sai phạm có tính chất nghiêm trọng, có dấu hiệu thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước làm ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của công ty, dẫn đến mất vốn và tài sản của Nhà nước.
Theo kết luận của UBND tỉnh Quảng Ngãi, để xảy ra những sai phạm nghiêm trọng kéo dài tại Công ty Trà Tân, trách nhiệm trước hết thuộc về Chủ tịch kiêm Giám đốc và Kế toán công ty. Ngoài ra, còn có trách nhiệm của các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Tài Chính, Kế hoạch & Đầu tư, Nội vụ… khi thiếu kiểm tra, đôn đốc trong khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước dẫn đến sai phạm kéo dài tại công ty này.
Để khắc phục hậu quả, UBND tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu lãnh đạo các Sở ngành có liên quan tổ chức kiểm kê, xác minh thực trạng công nợ, vốn, tài sản của Công ty Trà Tân đang quản lý, làm cơ sở tham mưu cho tỉnh xử lý theo hình thức giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp này; bên cạnh đó tổ chức kiểm điểm trách nhiệm liên đới đến những sai phạm của công ty. Đồng thời giao Thanh tra tỉnh chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiếp tục làm rõ trách nhiệm của lãnh đạo Công ty Trà Tân trong việc làm trái quy định, thiếu tinh thần trách nhiệm, dẫn đến mất vốn Nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp này. (Tầm Nhìn 12/11) đầu trang(
Khi vào mùa, hàng trăm ngàn con chim đáp kín cả một dãy đất rộng tầm 40 ha. Chúng đông đến nỗi sau một mùa sinh sản, hơn 10 ha rừng tràm xanh mướt nơi chim làm tổ đã rụng lá xơ xác.
Vùng đất hoang dã còn sót lại của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười tại huyện Tân Hưng (Long An) vừa được công nhận là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn) thứ bảy của Việt Nam và thứ 2.227 của thế giới.
Khu bảo tồn này được coi là vùng hoang dã hiếm hoi còn sót lại của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười. Gọi là vậy bởi cách đó không xa “người anh” của Ramsar Láng Sen, Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) là khu Ramsar thứ tư của Việt Nam mấy năm qua đã và đang từng ngày bị xâm hại.
“Dự kiến cuối tháng 11-2015, lễ đón nhận quyết định công nhận của khu bảo tồn này sẽ được tổ chức” - anh Nguyễn Công Toại, Phó Giám đốc Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (gọi là Ramsar Láng Sen), nói với Pháp Luật TP.HCM.
Vào một buổi chiều, chiếc tắc ráng (dạng xuồng có gắn động cơ) xé nước đưa chúng tôi vào khu vực đất ngập nước. Lúc này từng đàn chim về tổ. Anh tài công tắt vội máy khi còn cách lõi rừng khoảng 1 km và chuyển sang xuồng chèo tay để không gây tiếng ồn đánh động đàn chim. Vậy mà xuồng đến đâu là từng đàn chim, cò vụt bay lên trắng cả trời chiều, “dàn hợp xướng âm thanh” kỳ vĩ của chim muông xé tan khung cảnh hoang vu.
Những mùa đàn chim về đông, người ta ước lượng rằng có đến hàng trăm ngàn con. Chúng đáp kín cả một dãy đất rộng tầm 40 ha. Chúng đông đến nỗi sau một mùa sinh sản, những vạt rừng tràm xanh mướt, khỏe mạnh rộng hơn 10 ha nơi chim làm tổ đã rụng lá xơ xác.
Từng được mệnh danh là “Đồng Tháp Mười thu nhỏ”, Ramsar Láng Sen được hình thành từ những cánh rừng tràm bạt ngàn, những đồng năng xanh bất tận và những lung, trấp ngập nước trải dài từ Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại đến Vĩnh Châu A (Tân Hưng). Nơi đây có tổng diện tích hơn 4.800 ha, có hơn 140 loài chim cùng 156 loài thực vật.
Trong số này có nhiều loài quý hiếm như sếu đầu đỏ, giang sen, điên điển, đặc biệt là loài quắm đen. Theo số liệu ghi nhận của các chuyên gia, hiện nay loài chim này chỉ còn ở U Minh Thượng (Kiên Giang) với số lượng vài chục con. Vậy mà mới đây người ta ghi nhận được ở Ramsar Láng Sen có trên 300 con chim này.
Ngoài ra, khu bảo tồn này còn là “trại tị nạn” của nhiều loài động vật đặc trưng vùng Đồng Tháp Mười như rái cá vuốt bé, cua đinh, trăn gấm, rùa vàng... vốn đang có nguy cơ bị tận diệt.
Láng Sen cũng nổi danh với những cánh đồng lúa ma độc nhất vô nhị. Đó là loại “lúa trời” mọc tự nhiên, chín từng hạt và dễ rụng, gạo thuộc vào loại cực thơm ngon. Từ xưa, những cư dân bản địa đã nghĩ ra cách thu hoạch lúa bằng hai mê bồ dựng bên thành xuồng rồi chống đi giữa những đồng lúa, gạt nhẹ cho hạt lúa rụng vào.
Vào thời điểm đỉnh lũ, khi mà những cánh đồng lúa ma chín no hạt, từng đàn chim suốt từ đâu bay về, chao xuống ăn lúa rồi bất chợt vụt lên kín cả một vùng trời. Ở dưới nước, những con cá rô đồng cũng tranh nhau quẫy đuôi tung người lên khỏi mặt nước để đớp từng hạt lúa.
“Ngoài Vườn quốc gia Tràm Chim, hiện Ramsar Láng Sen cũng là nơi duy nhất còn những cánh đồng lúa ma rộng đến 50-60 ha. Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, đặc biệt là người Nhật từng thích thú đến đây nghiên cứu để tìm cách bảo tồn, lai tạo nguồn gen quý hiếm này” - ông Trương Thanh Sơn, Giám đốc khu bảo tồn, thông tin.
Tiểu khu 10 của khu bảo tồn có khoảng 200 ha ngập nước quanh năm. Đây là “ngôi nhà chung” cho gần như tất cả loại cá đặc trưng của vùng, trong đó nhiều loài gần như đã bị tuyệt diệt như nàng hai, trê vàng, éc mọi, chài... Những nhân viên tuần tra rừng còn quả quyết với chúng tôi rằng trên các tuyến kênh của khu bảo tồn còn có một đàn cá tra dầu với số lượng lên đến trên trăm con.
“Chúng thường xuất hiện vào buổi sáng và chập tối. Có hôm chúng kéo về đến tận lán trại trông rất rõ. Cách đây không lâu, do bị sặc phèn nên 13 con nặng 20-43 kg đã chết. Nhiều khả năng khu vực này còn có những con nặng hơn, song kinh phí, điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ có thể phỏng đếm, chưa có các biện pháp kỹ thuật như gắn chíp theo dõi để có thể bảo vệ loài cá cực kỳ quý hiếm được coi là một trong những loài “thủy quái sông Mê Kông” còn lại hiện nay” - một cán bộ khu bảo tồn nói.
Tương tự, một loài “thủy quái” khác là cá hô cũng có mặt với số lượng lớn tại vùng lõi của khu bảo tồn. Cũng như cá tra dầu, đàn cá hô được phỏng đoán có đến hàng trăm con. “Vào mùa mưa, mỗi khi nghe tiếng sấm chúng giật mình chúi xuống lớp mùn lá cây dày đặc, sau đó mùn bám chặt vào mang nên nhiều con cá hô tầm 20 kg bị ngộp thở chết. Cũng như những con cá tra dầu bị chết, chúng tôi tiếc quá nên đã đem đi ướp rồi trưng bày để phục vụ nghiên cứu” - vị cán bộ trên kể.
Anh Nguyễn Công Toại nói mùa này đang là mùa chim di cư, thế nhưng số lượng đàn chim, cò năm nay về làm tổ so với năm trước đã giảm đi khoảng 30%. Bởi phần lớn các loài chim, cò trở lại khu bảo tồn vào mùa lũ khoảng tháng 8-9 dương lịch để tìm thức ăn và sinh sản. Tuy nhiên, những năm gần đây do lũ thấp nên lượng cá, tôm giảm đáng kể làm số lượng các đàn chim trở lại không đông như trước.
Anh Toại nay mới 32 tuổi song đã có khoảng 10 năm gắn bó với khu bảo tồn này cũng thông báo thêm gần đây nạn cháy rừng giảm đáng kể. Chưa nói do công tác phòng cháy tốt, nguyên nhân chính là do dân ít vào rừng... lấy mật vì số lượng tổ ong rừng giảm rất nhiều. “Nếu những năm trước, đàn sếu đầu đỏ về đây với số lượng đông thì gần đây chúng trở lại chỉ với số lượng 3-5 con. Tương tự, nhiều đàn chim không trở về bởi chúng không bao giờ có cơ hội được tung cánh rời khỏi khu bảo tồn” - anh Toại thông tin.
Theo anh Toại, lực lượng bảo vệ của khu bảo tồn thay nhau tuần tra 24/24 giờ nhưng vẫn không ngăn được người dân vào chích điện bắt cá và tận diệt chim, cò. Họ dùng thuốc độc bẫy chim với đơn vị tính bằng... xuồng rồi nhổ lông, moi nội tạng chở đi. “Có thực mới vực được đạo. Người dân còn đói nghèo thì sao có ý thức bảo vệ. Chúng ta cứ nói cần phải nâng cao nhận thức cộng đồng nhưng sẽ rất khó nếu trong túi không có tiền. Vì vậy làm du lịch gắn với bảo tồn là một cách thiết thực nhất. Khi đời sống được nâng cao thì mới tính đến chuyện ý thức” - anh Toại nhìn nhận.
Một khi làm du lịch sẽ phát sinh rác thải, tiếng ồn và gây ảnh hưởng ít nhiều đến hệ sinh thái khu bảo tồn. Do đó, chúng tôi phải nghiên cứu các phương án giảm thiểu ảnh hưởng. Ví dụ, nếu làm khu nghỉ dưỡng thì không làm ở khu chính; phương tiện chở khách du lịch xuyên rừng sử dụng động cơ điện hạn chế tiếng ồn...
Chỉ vào những căn chòi dựng tạm dọc một kênh ở khu vực, các nhân viên của Ramsar Láng Sen nói rằng đó là chỗ tạm cư của những người dân từ các tỉnh đến để săn bắt. Đó là chưa kể đến một lực lượng hùng hậu là cư dân bản địa cũng đang từng ngày chật vật với kế sinh nhai ở vùng đệm, lấp ló ở bìa rừng với những câu lưới, chích điện, lẫn thuốc độc.
Đã có nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế để nâng cao đời sống cho người dân ở xung quanh khu bảo tồn và bước đầu cho thấy hiệu quả. Tuy vậy, anh Nguyễn Công Toại vẫn chưa hết lo lắng, khi đời sống của người dân ở quanh khu bảo tồn vẫn chật vật thì chuyện nâng cao ý thức không hề đơn giản. Và đương nhiên những đàn sếu, cá tra dầu, cá hô sẽ “phản ứng” khi chúng bị con người xâm phạm. (Pháp Luật TP.HCM 13/11) đầu trang(
Nưa là thủ phạm gây ra hàng loạt các vụ ngộ độc tập thể gần đây. Không nhiều người biết con vật này và lầm tưởng là trăn, dẫn đến hậu quả khôn lường.
Một vụ ngộ độc thịt nưa vừa xảy ra khiến 12 người ở xã Trang, huyện Đăk Đoa, Gia Lai phải nhập viện. Ngoài ăn thịt và lòng, một số người còn uống rượu hòa với tiết. Sau đó, họ bị các triệu chứng sốt cao, lạnh run, kèm theo nôn, đau đầu, chóng mặt, rối loạn tiêu hóa. Hiện tình trạng của những người này vẫn rất yếu. Đây không phải lần đầu tiên người dân bị ngộ độc thịt nưa, từng có 14 người bị ngộ độc vào năm 2013 và 7 người phải nhập viện năm 2014.
Các vụ ngộ độc nưa xảy ra tương đối nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên. Con nưa còn được người dân địa phương gọi tên khác là "trăn 9 mũi", còn miền Bắc, con vật này khá lạ lẫm. Zing.vn đã trao đổi với các chuyên gia để giải đáp thắc mắc về con vật này cũng như độc tố của nó.
Theo nguồn tin từ Chi cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm tỉnh Đăk Lăk, nưa là loài bọ sát không phổ biến bằng trăn. Hiện chưa có tài liệu chính thức về con vật này cũng như độc tố của nó. Nưa là thủ phạm gây ra các vụ ngộ độc hàng loạt tại các tỉnh Tây Nguyên, không phải trăn độc như nhiều người lầm tưởng.
Con vật này có hình dạng bên ngoài rất giống trăn, nhưng con trăn khá quen thuộc với người dân Tây Nguyên và không chứa độc tố nguy hiểm. Nưa ngoài 2 lỗ mũi chính còn có 7 lỗ hô hấp khác. Ngoài ra, đầu con vật ngóc lên và có răng như rắn thay vì trườn dưới đất như trăn.
Vì nưa có hình dạng bên ngoài giống con trăn nên nhiều người nhầm lẫn, đem về lấy máu uống rượu và ăn thịt dẫn tới ngộ độc.
Bác sĩ chuyên khoa Ký sinh trùng Nguyễn Ngọc Ánh cho biết, ngộ độc nưa là bởi cơ thể mẫn cảm dị ứng với huyết tương của con vật này. Việc uống tiết của nưa về bản chất rất nguy hiểm. Hơn nữa, uống máu sống còn ẩn chứa nguy cơ nhiễm các ấu trùng giun sán, đặc biệt là giun móc (giun xoắn).
Nưa là loại bò sát với thức ăn chính chủ yếu thịt động vật còn sống. Trong khi, thịt các động vật này phần lớn bị nhiễm ấu trùng trong cơ thể, chủ yếu là giun xoắn. Khi nưa ăn vào sẽ bị nhiễm bệnh. Đặc biệt là trong máu và mật sẽ chứa nhiều ấu trùng của loài giun này và lây sang người nếu không thực hiện việc ăn chín, uống sôi.
Đó có thể là lý do khiến một số người không bị ngộ độc ngay mà phải 2 tuần sau mới phát bệnh. Điều này phụ thuộc vào chu kỳ sinh sản của giun xoắn, mỗi đợt, loài ký sinh trùng này sẽ tiết vào máu các chất độc, khiến cơ thể nổi sẩn ngứa, nhức mỏi, sốt…
Riêng thịt và lòng, nếu nấu chín có thể loại trừ nguy cơ nhiễm khuẩn và giun sán. Bác sĩ Ánh khuyến cáo không nên ăn thịt chưa nấu chín, đặc biệt uống rượu có pha huyết hoặc mật của các loài động vật. Ngoài nguy cơ nhiễm ký sinh trùng, còn có thể bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm như liên cầu khuẩn, các loại virus...
Đồng quan điểm, lương y Vũ Quốc Trung khuyến cáo, không chỉ nưa, ngay cả trăn, người dân cũng không nên dùng mật sống để uống tươi. Từ lâu y học cổ truyền đã nói đến tính độc của mật trăn tươi, biểu hiện ngộ độc sau uống là đau bụng, co giật. Nếu uống quá nhiều sẽ gây vàng da và đỏ mắt. Mật trăn nên sử dụng sau khi đã qua chế biến - cụ thể là sấy khô, tán bột, để dành dùng dần.
Về sơ cứu khi bị ngộ độc đường tiêu hóa, Đại tá - bác sĩ Phạm Văn Tiến - Trưởng khoa cấp cứu Học viện Quân y 103 khuyến cáo, khi có dấu hiệu ngộ độc, cần nhanh chóng gây nôn cho nạn nhân để thải hết chất độc ra ngoài. Chúng chỉ tồn tại trong dạ dày tối đa 6 tiếng, nếu chuyển xuống ruột non, việc gây nôn hoàn toàn vô tác dụng. (Zing News 12/11) đầu trang(
Nhiều năm nay, những cánh rừng ở tỉnh Điện Biên liên tục bị tàn phá. Nói về việc này, nhiều người chua xót thừa nhận rằng, rừng Điện Biên đã bị “cạo trọc”…
Với trên 72.000ha rừng, huyện Mường Nhé được xem là nơi có diện tích rừng lớn nhất của tỉnh Điện Biên. Nhưng từ năm 2013 đến nay, diện tích rừng của Mường Nhé đang dần bị thu hẹp nếu không muốn nói là đã mất trắng.
Với 42.000ha rừng được Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé quản lý, hiện đã có trên 474ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ bị tàn phá. Ở nhiều xã như Chung Chải, Leng Su Sìn, Mường Nhé hầu như đất rừng đã… biến mất.
Trước đây, hơn 200ha rừng của bản Nà Pán, xã Mường Nhé có nhiều cây gỗ lớn trên 20 năm tuổi hiên ngang trước thiên nhiên, tạo ra sự hùng vĩ của núi rừng. Nhưng cho đến nay chúng đã không còn nữa. Chỉ sau một thời gian ngắn 147ha rừng bỗng bị “cạo trọc”.
Không riêng rừng Nà Pán, trên 285ha rừng già tại bản Phứ Ma, xã Leng Su Sìn giờ đây cũng thành những nương trọc. Chính quyền địa phương đã phát hiện nhiều vụ phá rừng, nhưng không thể ngăn chặn.
Hình thức phá rừng của các đối tượng ngày càng tinh vi. Họ đi thành từng nhóm đông người, cắt cử người cảnh giới, sử dụng cưa xăng để phá. Khi bị phát hiện, chúng sẵn sàng chống trả người thi hành công vụ và gây thương tích cho lực lượng tuần tra.
Dọc theo dòng suối Huổi Lực của bản Pá Trả, xã Mường Pồn của huyện Điện Biên, những thân gỗ lớn cũng đã bị hạ gục, phân chia thành những khúc gỗ nằm ngổn ngang.
Những cánh rừng già trở thành những đại công trường khai thác gỗ là một thực trạng không mới ở tỉnh Điện Biên.
Những con dốc cao ngất, những con đường vòng vèo uốn lượn lưng chừng những dãy núi với độ cao trên 1000 m so với mặt nước biển không thể trở thành “rào cản” đối với “lâm tặc”.
Tại những cánh rừng, những thân gỗ to nhỏ khác nhau nằm ngổn ngang, chu vi mỗi gốc cây áng chừng 4m. Cách đoạn người ta lại nhìn thấy những thân cây như thế bị “xẻ thịt”.
Ở rừng Khẩu Cắm, xã Mường Phăng của huyện Điện Biên, dấu tích mà lâm tặc để lại vẫn còn hiện hữu. Những gốc cây có chu vi chừng 25 -40cm trơ trọi, với những vết cắt gọn lỏn mà xắc lẹm.
Những gốc cây Chò Nâu, Tô Hạp, Muồn trắng, Trẩu rừng… có tuổi đời cả trăm năm chỉ còn lại những gốc lớn bị cắt cụt ngủn với những vết mùn cưa đắp quanh thật thê thảm.
Tại tiểu khu 19, bản Phứ Ma, xã Leng Su Sìn của huyện Mường Nhé, để tiện cho việc phá rừng làm nương, nhiều hộ dân bản Phứ Ma còn ngang nhiên dựng lán trái phép tại khu vực rừng giáp ranh.
Như vậy, với việc “chung tay” phá rừng của cả lâm tặc và người dân, hiện nay những cánh rừng của Điện Biên đã trở thành những cánh rừng trọc.
Tình trạng phá rừng làm nương, khai thác gỗ trái phép vẫn xảy ra phổ biến và trở thành… chuyện thường ngày. Các đối tượng cứ ngang nhiên phá rừng, mặc cho những thân cây cổ thụ, những cánh rừng già biến mất.
Ngay cả khu rừng đầu nguồn suối Nậm Khẩu Hú (thuộc khoảnh 9, tiểu khu 686) thuộc địa bàn xã Huổi Un, xã Mường Pồn; nơi giáo ranh với 3 xã: Mường Pồn, Mường Nhạn, Nà Tấu (huyện Điện Biên) – nơi chỉ cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng hơn 30km cũng chịu hoàn cảnh tương tự. Những cây gỗ lớn có đường kính từ 60-110cm, có chiều dài khoảng gần 20m cũng đã bị đốn hạ.
Với sự “tấn công” ồ ạt, những cánh rừng già với những thân gỗ lớn giờ đây đã trở thành những bãi rừng tan hoang. Rừng đầu nguồn tại Điện Biên vốn là những khu rừng góp phần quan trọng trong việc giữ và điều hòa mực nước tại các con suối. Nhưng với việc tàn phá liên tục, những cánh rừng đầu nguồn đang bị khai tử, có nguy cơ mất trắng trong tương lai gần. (Người Đưa Tin 13/11) đầu trang(
Công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) đã được các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục quan tâm, triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả tốt, ý thức của người dân trong QLBVR ngày càng được nâng cao; công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm QLBVR của các cấp, các ngành, trong đó nòng cốt là lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân sự, Biên phòng ngày càng được tăng cường, thực hiện quyết liệt và kịp thời.
Vì vậy, việc vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ngày càng giảm cả về số vụ, quy mô và tính chất.
Tuy nhiên, công tác QLBVR, tình trạng phá rừng, khai thác, buôn bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật trên địa bàn còn diễn ra và luôn tiềm ẩn các yếu tố phức tạp, đặc biệt là dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
Để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng trên, đồng thời, khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác bảo vệ rừng; thực hiện Công băn số 8594/BNN-TCLN ngày 20-10-2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), ngày 9-11-2015, UBND tỉnh đã có Công văn số: 1353/UBND-KTN yêu cầu thực hiện quyết liệt và triển khai thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:
Sở NN-PTNT; Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng; Công ty TNHH MTV LCN Long Đại, Bắc Quảng Bình, UBND các huyện, thành phố, thị xã triển khai thực hiện quyết liệt và có hiệu quả Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước của chính quyền cơ sở về QLBVR theo quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8-2-2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Sở NN-PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng duy trì, thực hiện quy chế phối hợp liên ngành, phương án phối hợp chặt chẽ, tổ chức thường trực tại hiện trường, thường xuyên phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép, kiên quyết xóa bỏ các "điểm nóng" về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng; rà soát, kiểm kê thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm; sử dụng sai mục đích hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật để phục hồi rừng, đặc biệt tại các công ty, doanh nghiệp lâm nghiệp.
Mặt khác, chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm đẩy mạnh việc thực hiện các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1938/QĐ-TTg ngày 28-10-2014 về phê duyệt Đề án "Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực lượng Kiểm lâm giai đoạn 2014-2020"; Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 24-10-2014 về phê duyệt Đề án "Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của lực lượng kiểm lâm giai đoạn 2014-2020".
Phối hợp với Sở Nội vụ triển khai thực hiện theo đúng kế hoạch Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về NN-PTNT thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện.
Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh-Truyền hình Quảng Bình tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, đơn vị; UBND các huyện, thành phố, thị xã khẩn trương triển khai thực hiện. Giao Sở NN-PTNT ngoài việc thực hiện các nội dung công việc được giao, theo dõi, đôn đốc và thường xuyên tổng hợp tình hình, báo cáo UBND tỉnh. (Báo Quảng Bình 12/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm Sơn La đã phát hiện, xử lý 672 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm gần 500 vụ so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu liên quan đến lấn chiếm đất rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép,  buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Đã sử phạt hành chính trên 2.500 triệu đồng.
Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm Sơn La tiếp tục chỉ đạo tập chung chăm sóc, bảo vệ rừng trồng trong mùa khô hanh đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật. Tham mưu cho chính quyền địa phương bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn, tập trung nghiên cứu các giải pháp, phương pháp chống chặt phá rừng; phòng cháy chữa cháy rừng; duy trì các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và phối hợp giữa các lực lượng trong công tác bảo vệ rừng.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến từng tổ chức, cá nhân; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, truy quét các địa điểm nổi cộm để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 12/11) đầu trang(
Là một trong 7 xã có rừng đặc dụng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Ngọc Sơn – Ngổ Luông nằm trên địa bàn với hơn 2000ha, Ngọc Sơn trước kia là một điểm nóng về khai thác gỗ trái phép của tỉnh.
Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực hiện dự án “Sự tham gia của các tổ chức địa phương trong quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng” kết hợp với công tác tuyên truyền, nơi đây đang chuyển mình rõ rệt trong quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt là từ người dân.
Ngọc Sơn bao gồm 8 xóm, 670 hộ gia đình và 2600 nhân khẩu. Ông Bùi Văn Phong, Chủ tịch UBND xã Ngọc Sơn cho biết: “Trước đây, đời sống của người dân vô cùng khó khăn, nhận thức còn hạn chế nên thường xuyên khai thác gỗ sử dụng vào mục đích cá nhân. Lại có người ngoài xâm nhập và khai thác trái phép khiến cho diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng. Sau khi Ban quản lý (BQL) KBTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông được thành lập, cùng với đó là sự ra đời của ban tự quản lâm nghiệp (TQLN) xóm Rộc và xóm Khú, kết hợp với công tác tuyên truyền, phổ biến cho người dân về tác hại của việc khai thác rừng quá mức khiến cho nhận thức của người dân thay đổi rõ rệt”.
Với đặc trưng là nhà sàn nên người dân thường xuyên khai thác gỗ để xây dựng nhà cửa, đây cũng là một nguyên nhân khiến cho áp lực vào rừng tăng lên. Hơn nữa, lợi nhuận từ đại ngàn Ngọc Sơn – Ngổ Luông là quá lớn khiến cho những kẻ hám lợi trái pháp luật khó lòng mà “cưỡng lại” được.
Từ những bức thiết đó, BQL đã phối hợp với chính quyền địa phương và ban TQLN đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân về bảo vệ tài nguyên rừng.
Ông Bùi Văn Hùng, Giám đốc BQL KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông khẳng định: “Công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư ở các thôn, xóm luôn được quan tâm hàng đầu. Tính riêng từ đầu năm 2015 đến nay, BQL phối hợp với UBND các xã mở 98 lớp tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng cho 5.481 lượt người tham gia kết hợp chiếu phim phóng sự giới thiệu về giá trị của tài nguyên rừng ở khu bảo tồn đến người dân. Qua tuyên truyền, người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ cuộc sống của mình. Vì vậy, trong những năm gần đây việc dân vào rừng khai thác gỗ đã giảm hẳn”.
Tại các xóm, luật bảo vệ rừng cũng được thông qua trong các cuộc họp nội bộ. Anh Quách Văn Thần, Trưởng ban TQLN xóm Rộc cho biết: “Việc truyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng cho người dân được chi bộ lồng ghép trong các cuộc họp xóm, nhắc nhở trực tiếp những hộ có cá nhân vi phạm, các cuộc họp của hội phụ nữ, đoàn thanh niên, phổ biến quy chế về nhiệm vụ, trách nhiệm của thành viên ban tự quản và người dân”. Thông qua đó, 100% các hộ trên toàn xã Ngọc Sơn đã kí cam kết không vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Qua con đường đất gồ ghề đến xóm Rộc, xung quanh là những ngôi nhà sàn được dựng lên bằng gỗ của đại ngàn Ngọc Sơn – Ngổ Luông, những nếp nhà khá lớn, mỗi bộ khoảng 20 cột gỗ, mỗi cột dài chừng 5m trở lên. Xóm Rộc hiện có 76 hộ, 356 nhân khẩu, cuộc sống của người dân đều dựa vào nông nghiệp nên còn rất khó khăn.
Anh Thần tâm sự: “lâm sản Ngọc Sơn nhiều gỗ quý như trai, nghiến, sến, táu,… có những cây gỗ to mấy người ôm mới hết. Trước đây, người dân chỉ dùng cưa tay để lấy gỗ, từ khi có cưa máy thì tốc độ “xẻ thịt” rừng càng trở nên đáng lo ngại”.
Với địa hình núi đá hiểm trở, lực lượng mỏng nên việc tuần tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, được sự ủng hộ từ người dân, sau khi thành lập ban TQLN, mỗi hộ gia đình trong xóm đều đóng góp 1- 2 ngày công mỗi tháng cùng BTQ đi tuần tra các điểm rừng trọng điểm.
Trong 2 năm 2013 và 2014, BTQ xóm Rộc phối hợp với cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương tổ chức trên 60 đợt tuần tra, hàng trăm lượt tham gia, thu giữ hơn 60 thanh gỗ các loại, 2 cưa xăng, 1 xe máy; năm 2013, xóm Khú đã thu giữ trên 130 thanh gỗ; thông báo nhiều vụ vi phạm cho hạt kiểm lâm xử lý. Từ đó cho thấy, ngoài ý thức cao về bảo vệ rừng, người dân địa phương đã có đóng góp cụ thể bằng hành động góp phần giảm thiểu áp lực vào rừng.
Bên cạnh đó, việc duy trì hoạt động của ban TQLN còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn kinh phí. Anh Thần chia sẻ: “Kinh phí để duy trì hoạt động còn hạn hẹp, nên rất mong BQL khu bảo tồn dành nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức cho BTQ. Hỗ trợ về nhân lực bằng cách ghép thêm người trong và ngoài xóm để tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát được sát sao hơn nữa”.
Ngoài tuần tra chung cùng cán bộ kiểm lâm thì xóm Rộc còn được giao quản lý riêng 198,6 ha có trả phí tự quản hằng năm là 34 triệu, ở xóm Khú xấp xỉ 200ha rừng tự quản. Hiện nay, nhờ đưa vào gieo trồng giống ngô năng suất nên người dân đã bớt phụ thuộc vào rừng, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, áp lực vào rừng cũng giảm mạnh.
Năm 2015, chương trình Bảo vệ và phát triển rừng KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông hỗ trợ BQL xây dựng trạm bảo vệ rừng tại xóm Điện (Ngọc Sơn) với diện tích trên 60m2 góp phần quan trọng trong việc giám sát, quản lý rừng.
Ông Phong khẳng định: “Trong tương lai, Ngọc Sơn sẽ duy trì 2 BTQ xóm Rộc và xóm Khú làm chủ lực, phối hợp với hạt kiểm lâm và người dân các xóm lân cận tăng cường tuần tra rừng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng dưới nhiều hình thức. Hỗ trợ người dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp giúp dân cải thiện cuộc sống, giảm thiểu triệt để những vụ vi phạm”. Hi vong mô hình này sẽ được nhân rộng ra các xóm, xã khác trong tương lai góp phần đem lại sự bình yên cho đại ngàn Ngọc Sơn – Ngổ Luông. (Báo Hòa Bình 12/11) đầu trang(
Theo kết quả rà soát mới đây của huyện Krông Bông, toàn huyện có 17.060,44 ha rừng, đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm, xâm canh.
Trong đó, diện tích thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông quản lý 3.009 ha, số diện tích bị lấn chiếm còn lại thuộc các xã: Hòa Phong, Ea Trul, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền, Yang Reh, Yang Mao, Cư Pui, Hòa Lễ, Cư Đrăm và cộng đồng buôn Ngô A, B quản lý.
Ngoài ra, trên diện tích rừng trồng của Công ty TNNH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (đã khai thác năm 2014) cũng bị người dân lấn chiếm để canh tác nương rẫy gần 100 ha. Đối tượng lấn chiếm chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số từ các tỉnh phía Bắc di cư vào ngoài kế hoạch.
Trên diện tích đất lấn chiếm, người dân canh tác chủ yếu là cây trồng ngắn ngày và xây dựng 43 công trình, chủ yếu là chòi tạm, mái lợp tranh hoặc tôn xi măng, xung quanh không đóng ván tường, diện tích từ 12 m2- 30 m2/căn. Hiện tại, UBND huyện đã hoàn chỉnh phương án xử lý vi phạm, thu hồi đối với số diện tích trên để phục hồi và trồng lại rừng. (Đắk Lắk 24 Giờ 13/11) đầu trang(
Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Quang Bình, 5 giờ chiều ngày 6.11, tại thôn Thâm Mang, xã Nà Khương, huyện Quang Bình xảy ra vụ chặt cây gỗ trái phép. Ngay sau khi nhận được tin báo của nhân dân, Hạt Kiểm lâm huyện đã đến ngay hiện trường để xác minh điều tra làm rõ.
Được biết, cây gỗ bị chặt hạ là gỗ Phay có đường kính 1,5m, dài 26m, Hạt Kiểm lâm đã đo được 41,821m3, cách nhà dân chỉ có 300m, do thôn quản lý.
Hiện nay, Công an huyện phối hợp với Hạt Kiểm lâm cùng cấp ủy, chính quyền xã Nà Khương điều tra làm rõ đối tượng chặt cây. (Báo Hà Giang 12/11) đầu trang(
Báo Pháp Luật TP.HCM vừa nhận được thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã (Save Vietnam’s Wildlife) về việc khó khăn trong việc tái thả về tự nhiên 70 cá thể tê tê (được liệt vào nhóm loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) do... vướng Luật Tố tụng hình sự.
Trước đó, như báo Pháp Luật TP.HCM đã đưa tin, 64 cá thể tê tê Java (Manis javanica), trong đó có hai cá thể tê tê vàng - là loài rất khó tìm thấy ở Việt Nam và đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng được Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã (Tổ chức Save Vietnam’s Wildlife) phối hợp với Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt và tê tê Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương tiếp nhận, cứu hộ.
Hiện tại, số lượng tê tê đang được chăm sóc tại trung tâm ở Vườn quốc gia Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình là 70 cá thể. Tất cả đều đạt tiêu chuẩn sức khỏe để được tái thả về tự nhiên. Tuy nhiên, cơ quan công an và Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình không đồng ý tái thả cho đến khi vụ việc được xử lý và có quyết định xử lý tịch thu với tang vật vụ án.
70 cá thể tê tê vì thế vẫn còn phải nương nhờ ở 28 chuồng tại trung tâm cứu hộ, trong khi điều kiện vật chất ở đây không đáp ứng cho lượng lớn các cá thể.
Bên cạnh đó, tê tê là loài sống đơn lẻ, khi nhốt nhiều hơn một cá thể trong một chuồng sẽ gây hiện tượng ức chế, căng thẳng, suy giảm sức khỏe dẫn đến chết rất nhanh. Nếu các cá thể có sức khỏe tốt nhưng bị nuôi nhốt lâu cũng khó hòa nhập với môi trường sau khi được tái thả.
Theo ông Nguyễn Văn Thái (Giám đốc Save Vietnam’s Wildlife đồng thời cũng là Phó Chủ tịch Hiệp hội Bảo tồn tê tê thế giới IUCN) cho biết tê tê là loài động vật cực kỳ khó nuôi và sinh sản chậm. "Những cá thể tê tê sau khi tịch thu cần được thả về tự nhiên trong thời gian nhanh nhất. Đó cũng là biện pháp xử lý tê tê sau khi bị tịch thu với tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam đã cho thấy những tiến bộ trong đó có việc xử lý hình sự đối với hoạt động săn bắt, buôn bán những loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Mặc dù vậy chúng ta cần có những thay đổi chính sách pháp luật để các cá thể động vật quý hiếm đó được thả về tự nhiên" - ông Thái nói.
Trước đây, tê tê không phải nằm trong nhóm động vật có mức độ đe dọa nguy cấp (EN), cho đến khi danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ được ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ. Theo đó, các vi phạm liên quan đến loài này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt cao nhất là bảy năm tù.
Ông Trần Quang Phương (cán bộ quản lý Chương trình Bảo tồn thú ăn thịt và tê tê) cho biết đặc thù hai loài tê tê tại Việt Nam chỉ ăn mối và kiến. Nên chi phí thức ăn rất cao, mỗi cá thể tê tê ăn hết 1.410.000 đồng/tháng; 70 cá thể sẽ tiêu tốn lượng thức ăn lên đến cả trăm triệu. Đây thực sự là điều khó khăn và khó nói của trung tâm. "Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất của trung tâm có hạn không thể nuôi số lượng lớn động vật trong một thời gian dài. Nếu như tiếp tục nhận cứu hộ, chúng tôi không đủ chi phí mua thức ăn cũng như tiến hành tiếp nhận cứu hộ những đợt tiếp theo do không đủ chuồng trại" - ông Phương cho hay.
Theo ông Nguyễn Văn Thái thì khi bắt giữ, vận chuyển hoặc tiêu thụ động vật hoang dã mà đối tượng vi phạm không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của động vật, khi khởi tố, cơ quan điều tra chỉ cần có đầy đủ thông tin về loài, số lượng cá thể, trọng lượng và lưu giữ lại hình ảnh để tiến hành khởi tố vụ án mà không cần thiết phải lưu giữ vật chứng là động vật hoang dã còn sống cho đến khi kết thúc vụ án.
Ông Thái nói: "Đây không chỉ là vấn đề riêng với tê tê, mà là vấn đề chung cho tất cả các loài động vật hoang dã sau khi bị bắt giữ từ buôn bán, săn bán trái phép. Vì vậy, chúng tôi đề nghị các cá nhân và cơ quan chịu trách nhiệm sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự để các cá thể động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được thả lại tự nhiên sớm nhất sau khi bị bắt giữ từ buôn bán và vận chuyển trái phép".
Cả hai loài tê tê Java (Manis javanica) và tê tê Vàng (Manis  pentadactyla) đều nằm trong danh sách những loài động vật được bảo vệ cao nhất trên thế giới, chúng cũng được liệt vào nhóm loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tê tê bị săn bắt nhằm thỏa mãn nhu cầu về thịt và vẩy cho một bộ phận những người giàu ở Việt Nam hoặc bán đi Trung Quốc.
Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003: Việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do VKS quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do tòa án hoặc HĐXX quyết định ở giai đoạn xét xử. Điều này đồng nghĩa với việc động vật hoang dã sau khi tịch thu là vật chứng của vụ án và chỉ có quyết định tịch thu và xử lý sau khi vụ án kết thúc. Do đó, động vật chỉ được thả lại tự nhiên sau khi vụ án được xử lý. (Pháp Luật TP.HCM 12/11) đầu trang(
​Chiều 10-11, UBND tỉnh đã làm việc với Ban Quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai về tình hình bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển trong 10 tháng của năm 2015 và phương hướng thực hiện các hoạt động ưu tiên trong năm 2016.
Tại đây, Phó chủ tịch UBND tỉnh biểu dương Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, tài chính, nhưng đã có nhiều cố gắng hoàn thành tốt công việc trong thời gian qua.
Trong đó, Ban quản lý đã duy trì thường xuyên việc phối hợp với ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, các địa phương xung quanh và các Tổ chức quốc tế tổ chức các lớp tập huấn tuyên truyền, các buổi học ngoại khóa, làm phim tư liệu và xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học…
Tuy nhiên, Phó chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai sắp tới cần quan tâm đến những việc cụ thể hơn, như: phối hợp với các sở, ngành rà soát lại những nguy cơ tác động xấu đến khu sinh quyển; mở rộng mật độ tuyên truyền để người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của đa dạng sinh học; quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ, nhất là tạo điều kiện cho các thành viên ban quản lý có cơ hội tham quan 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam để nghiên cứu, học tập kinh nghiệm phát triển... (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Đồng Nai 12/11) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có văn bản yêu cầu các sở, ngành liên quan, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh và các địa phương tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách công tác quản lý bảo vệ rừng.
Cụ thể, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, kiên quyết xóa bỏ các điểm nóng về phá rừng, khai thác tài nguyên rừng trái phép; xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng.
Đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, đề xuất thu hồi diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật để phục hồi rừng.
Tăng cường trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng; đẩy mạnh triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương theo nội dung chỉ đạo tại Công văn trên đúng quy định; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Đồng Tháp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Đồng Tháp 13/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Nguyễn Văn Đồng, Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa), ngày 12/11 cho biết sau khi xem xét, huyện đã thu hồi 60ha đất do các công ty Lâm Nghiệp trên địa bàn quản lý để giao cho 52 hộ dân là đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất.
Trước đó ngày 29/12/2013, Báo Người Lao Động có bài viết: “Trắng tay vì góp đất trồng rừng” phản ánh việc 3 công ty Lâm nghiệp trên địa bàn huyện đang quản lý nhiều khu đất rừng khá lớn với nhiều khu đất bằng phẳng ngay sát khu dân cư. Trong khi đó, nhiều hộ dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, đời sống nghèo khó. (Người Lao Động 13/11) đầu trang(
Không chỉ có tác dụng giữ rừng ven biển, Dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang (H. Núi Thành, Quảng Nam) còn giúp người dân phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn thủy hải sản, đặc biệt chống lại gió bão bảo vệ xóm làng một cách hiệu quả.
Ông Phạm Hồng Châu, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Giang cho biết: Toàn xã có hơn 1.849 hộ dân, chủ yếu sinh sống bằng nghề biển và sông nước. Trong khi đó, địa phương có hơn 100ha rừng ngập mặn là cây bần, cây đước,... nằm dọc bờ sông Trường Giang, đây là lá chắn sóng bảo vệ làng.
Thế nhưng từ năm 1995, do con tôm thẻ chân trắng có giá, người dân bắt đầu đua nhau chặt phá rừng và lấn dòng sông Trường Giang để làm ao nuôi tôm với diện tích khoảng 170ha. Dù xã liên tục tuyên truyền, xử lý nhưng người dân vẫn lén lút phá rừng. Do người dân chỉ thấy được cái lợi trước mắt, chứ không nghĩ về sau.
Mãi cho đến năm 2007, khi con tôm hạ giá kèm với việc thua lỗ nên người dân đành bỏ hoang ao nuôi... "Rừng mất, mỗi mùa gió bão người dân rất lo sợ. Việc phá rừng của người dân cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến động, thực vật sinh sống trong rừng, nhất là tôm, cua, cá và các loại chim, cò,..."- ông Châu cho biết thêm.
Trước thực trạng trên, UBND xã Tam Giang đã nhiều lần kiến nghị với các ngành chức năng cấp trên có biện pháp hỗ trợ phục hồi lại rừng ngập mặn nhằm bảo vệ xóm làng. Sau khi nghiên cứu, đến tháng 6-2014, xã Tam Giang được H. Núi Thành chọn để Trường Đại học Kinh tế Huế hỗ trợ 1ha cây đước, cây bần, cây mắm trồng thử nghiệm tại 4 thôn của xã là: Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ.
Sau khi trồng thử nghiệm thấy rừng phát triển tốt, đến ngày 28-10-2014, UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt Dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang. Mục tiêu của dự án nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven sông, bảo vệ các bờ đê, bờ kè khỏi bị xói lở bởi gió bão, ứng phó với biến đổi khí hậu. Dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 - 2015.
Tổng diện tích là 27,45ha; trong đó trồng rừng 23,90ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung 3,55ha; loài cây trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung là cây đước, với mật độ trồng 6.666 cây/ha, khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung 2.500 cây/ha; tổng kinh phí hơn 3,1 tỷ đồng từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và kinh phí đối ứng của H. Núi Thành.
Theo đó, dự án được giao cho UBND H. Núi Thành làm chủ đầu tư, đơn vị đại diện cho H. Núi Thành triển khai dự án là Ban quản lý dự án Ứng phó với biến đổi khí hậu H. Núi Thành. Thời gian thực hiện dự án là 1 năm.
Dự án tuy mới được triển khai hơn một năm, nhưng bước đầu đã nhanh chóng đem lại hiệu quả. Ông Nguyễn Ngọc Chính (trú thôn Đông Xuân, xã Tam Giang) chia sẻ: "Người dân quê tôi đã thấy tác hại của việc phá rừng và lợi ích thiết thực của dự án phục hồi rừng ngập mặn.
Chúng tôi rất vui mừng khi dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn được thực hiện tại địa phương. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng trồng không để người dân chặt phá rừng như những năm trước nữa". Có thể thấy, với việc lựa chọn cây giống phù hợp, thực hiện đúng quy trình trồng, chăm sóc và xây dựng hàng rào bảo vệ, nên sau một năm triển khai dự án, đến nay vùng đước trồng trong dự án phát triển tốt, có khả năng trở thành "lá chắn xanh" cho vùng ngập mặn H. Núi Thành, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.
"Việc thực hiện dự án nói trên là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trồng rừng phải theo quy trình "một năm trồng, 3 năm chăm sóc", do vậy, để dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang thực sự phát huy tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu thì phải có nguồn kinh phí để chăm sóc, trồng dặm... ít nhất là 3 năm tiếp theo. Bên cạnh đó, hiện tại xã còn gần 70ha diện tích cần được khôi phục trồng rừng trong những năm kế tiếp"- ông Phạm Hồng Châu trăn trở.
Còn ông Nguyễn Minh Khả, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy-Trưởng ban Quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu H. Núi Thành cho biết: "Đây sẽ là dự án có hiệu quả thiết thực trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và dự án này phải được xem như là tài sản của nhân dân, nhân dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc. Huyện sẽ có kế hoạch xin hỗ trợ kinh phí để dự án thực sự có hiệu quả là "lá chắn xanh" ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai trên địa bàn H. Núi Thành".
Trước sự biến đổi khí hậu nói chung và sự tàn phá rừng ven biển của người dân địa phương, có thể nói rằng, dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn ở Tam Giang là hết sức thiết thực. Thực tế cho thấy, việc bảo vệ rừng tốt thì rừng không chỉ là lá chắn sóng bảo vệ người dân mà rừng mà còn giúp phát triển kinh tế một cách hiệu quả. Do thấy được hiệu quả nên dự án trên được người dân địa phương phấn khởi đồng tình ủng hộ cao. (Công An TP.Đà Nẵng 13/11) đầu trang(
Đến thời điểm hiện tại, tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2015 vẫn chưa được chi trả hết cho các chủ rừng.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, cho biết: Quỹ đang chờ kết quả nghiệm thu rừng từ phía Hạt Kiểm lâm các huyện để thống kê, làm thủ tục chi trả cho người dân. Sau khi có kết quả nghiệm thu, Quỹ phấn đấu chi trả hết tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2015 cho chủ rừng trước Tết Nguyên đán năm 2016 để người dân có tiền ăn tết. (Báo Điện Biên Phủ 11/11) đầu trang(
Năm 2011, Quỹ Bảo vệ phát triển rừng Bình Thuận được thành lập và có nhiệm vụ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Từ việc thực hiện chính sách này, đời sống của người dân các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày một khá lên. Công tác bảo vệ rừng cũng có nhiều chuyển biến đáng khích lệ…
Dẫn chúng tôi đi thăm khu vực rừng đang triển khai thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân xã Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, ông Phạm Văn Chiến, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Móng – Ca Pét cho biết: Khu vực này trước đây rừng nghèo lắm, số lượng cây lớn không nhiều. Từ khi triển khai việc giao khoán rừng cho hộ dân bảo vệ thì khác hẳn.
Cây phát triển tốt hơn, độ che phủ của rừng cũng cải thiện đáng kể. Khi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trong chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng người dân được trả 200.000 đồng/ha/năm. Với diện tích dao động từ 80 đến 100ha/hộ thì số tiền nhận được của mỗi hộ cũng gần 20 triệu đồng/năm. Một số tiền không nhỏ với người dân vùng cao Mỹ Thạnh.
Đi bên cạnh, anh Huỳnh Văn Hà, người dân xã Mỹ Thạnh vui mừng kể cho chúng tôi nghe gia đình anh vừa mua được một chiếc tivi và một tủ lạnh. “Tham gia bảo vệ rừng cũng vui lắm, mấy anh em trong tổ trước đây ít qua lại, giờ cùng tham gia bảo vệ rừng nên cũng gần hơn. Nhà nào có việc thì cả tổ cùng nhau giúp đỡ. Ngoài bảo vệ rừng, gia đình tôi còn làm rẫy, trồng thanh long nên số tiền nhận khoán vợ chồng tôi để dành mua vật dụng phục vụ cuộc sống gia đình”, anh Hà vui vẻ cho biết.
Còn với anh Nguyễn Văn Cường thì thu nhập từ việc nhận khoán bảo vệ rừng là nguồn thu nhập chính của gia đình. Trước khi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, cuộc sống gia đình anh Cường chủ yếu nhờ vào 1ha đất rẫy được cấp theo Nghị quyết 04. Năm nào được mùa thì còn đủ ăn, còn năm nào mất mùa thì gia đình anh Cường phải chịu đói giáp hạt.
“Được giao 100 ha rừng để bảo vệ mình mừng lắm. Trước đây, gia đình thường xuyên thiếu ăn, nhưng hiện nay nhờ tiền công bảo vệ rừng gia đình mình không còn phải lo đói nữa. Cách đây mấy tháng mình cũng đã mua được xe máy để đi lại và vào rừng tuần tra cùng với anh em. Nếu cố gắng gia đình mình sẽ thoát nghèo”, anh Cường cho biết.
Không chỉ hộ anh Cường, anh Hà mà hàng trăm hộ đang tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trong chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng có cuộc sống ngày một khá hơn. Từ lợi ích thiết thực này mà ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày một nâng cao.
Một khó khăn đối với các hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trong chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện nay là khu vực rừng được giao khá xa. Mỗi khi tuần tra họ thường phải ở lại qua đêm, những hôm gặp thời tiết xấu phải ở lại rừng 2, 3 ngày. Từ thực tế đó, nhiều hộ cùng nhận khoán bảo vệ rừng đã tập hợp lại với nhau để đi tuần.
“Tổ của mình hiện có 7 người. Để việc tuần tra được công bằng, chúng tôi phân lịch, chấm công rõ ràng. Tiền xăng xe thì của ai người đó chịu, còn tiền gạo, muối, thức ăn thì góp lại”, anh Huỳnh Văn Hà cho biết. Nhờ lịch phân công cụ thể, kế hoạch đi tuần rõ ràng nên các thành viên trong nhóm đồng tâm thực hiện nhiệm vụ.
Việc đi tuần theo nhóm vừa hạn chế những rủi ro gặp phải trong quá trình tuần tra vừa giúp các hộ xử lý tốt các tình huống gặp phải lâm tặc. Vào tháng 6/2015, trong quá trình tuần tra, 3 nhóm hộ đang nhận khoán bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Móng – Ca Pét đã gặp một nhóm chuyên săn bắt động vật hoang dã. “Lúc đó khoảng 20 giờ đêm, chúng tôi phát hiện và bắt được một đối tượng. Đối tượng này khai nhóm của hắn còn 3 người nữa hiện đang ở cách đó khoảng 1km”, anh Huỳnh Văn Hà nhớ lại.
Ngay sau đó 21 hộ và 2 người của Trạm bảo vệ rừng Đèo Nam đã lên kế hoạch bao vây trại của bọn chúng. Do bị bất ngờ nên các đối tượng không kịp phản ứng. Tại hiện trường các hộ đã thu 2 khẩu súng bắn đạn hoa cải tự chế. Ngay trong đêm, các hộ đã đưa 4 đối tượng về giao cho lực lượng chức năng huyện Hàm Thuận Nam xử lý.
Ông Hồ Thiện Đang, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Bình Thuận cho biết: Sau khi triển khai chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Bình Thuận, ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng được nâng lên. Thu nhập từ việc tham gia nhận khoán bảo vệ rừng đã giúp người dân phần nào vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. Trong những năm qua, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Bình Thuận đã thực hiện nhiều cuộc kiểm tra, đánh giá đối với diện tích rừng giao khoán cho các hộ. Kết quả cho thấy các hộ thực hiện tốt việc bảo vệ rừng, qua đó nâng dần chất lượng của diện tích rừng được giao.
Năm 2015 diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng trong 3 lưu vực: Lưu vực thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi năm 2015 với tổng diện tích chi trả  là 45.862 ha, trong đó có 966 hộ được giao khoán bảo vệ rừng; lưu vực thủy điện Trị An với tổng diện tích chi trả là 76.752,79 ha,  trong đó có 1.106 hộ được giao khoán bảo vệ rừng; lưu vực thủy điện Bắc Bình với tổng diện tích chi trả là 909 ha, trong đó có 7 hộ được giao khoán bảo vệ rừng. (Báo Bình Thuận 12/11) đầu trang(
Từ ngã ba Thạch Trụ, huyện Mộ Đức theo QL 24 lên trung tâm huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi là những cánh rừng keo lai bạt ngàn, do Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ (Vinafo BaTo) quản lý.
Ở đó có một điểm khác biệt là từng cây gỗ được đánh số thứ tự, quản lý chặt chẽ, bởi toàn bộ diện tích được công nhận chứng chỉ rừng FSC.
Ông Phạm Mân, GĐ Vinafo BaTo cho biết, năm 2011, TCty Lâm nghiệp VN liên hệ HĐQT Rừng thế giới để thực hiện quản lý rừng bền vững và xin cấp chứng chỉ rừng FSC tại Vinafo BaTo. Đến năm 2013 thì Cty được cấp chứng chỉ. Năm 2014 và 2015, hai lần giám sát của HĐQT Rừng thế giới đều đánh giá tốt.
Trong năm 2014, Cty trồng 366 ha rừng, chăm sóc 519 ha. Khai thác 333 ha, tổng sản lượng khai thác đạt 38.223 m3, trong đó sản lượng của Cty là 26.977 m3, sản lượng của các hộ nhận khoán 11.246 m3. Tổng doanh thu 42,6 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 3,2 tỷ đồng.
Hiện Vinafo BaTo quản lý với diện tích rừng được cấp chứng chỉ 5.836 ha thuộc 10 xã và thị trấn, huyện Ba Tơ. Sản lượng bình quân 120 m3/ha, giá gỗ FSC thường tăng thêm 20% so với gỗ không có chứng chỉ.
“Cty luôn cam kết thực hiện chính sách quản lý rừng bền vững nhằm đạt các mục tiêu như: Môi trường được bảo vệ, duy trì các giá trị hiện hữu, từng bước cải thiện, nâng cao các giá trị môi trường theo luật pháp và yêu cầu của quốc tế”, ông Mân cho hay.
Để làm điều đó, Vinafo BaTo liên kết với hàng hộ dân để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Theo đó, tạo công ăn việc làm cho hơn 2.000 người dân địa phương, những người này tham gia hoạt động khai thác, bón phân, phát cành. Thu nhập bình quân 4,6 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, Cty giao khoán cho 2.489 hộ dân chăm sóc bảo vệ rừng. Cứ sau 7 năm, những hộ dân này được hưởng lợi từ khai thác gỗ.
Ông Mân đánh giá, sự liên kết SX đã đem lại lợi nhuận cả đôi bên, người dân được hưởng lợi từ cánh rừng mình chăm sóc, còn Cty có một khoản thu nhất định. Các hoạt động lâm nghiệp của Cty đã góp phần tích cực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương nói chung và người dân tham gia các hoạt động lâm nghiệp nói riêng.
Đặc biệt tài nguyên rừng được khai thác và sử dụng hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế của Cty và cộng đồng địa phương. Ngoài việc nhận khoán rừng, người dân còn được tận thu lâm sản phụ như song mây, sa nhân, rau rừng, mật ong…
Ông Phạm Văn Miết (42 tuổi, dân tộc Hơ Re) ở thôn Nước Giáp, xã Ba Khâm nhận khoán 3,2 ha của Cty cho biết,  Cty cấp phát cây giống và tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc. Sau 7 năm đến kỳ khai thác, tính theo giá trị sản phẩm, ông thu được 76,5 triệu trồng. Ngoài ra, những ngày bình thường, ông đi làm công việc khai thác cho Cty mỗi ngày cũng được 200.000 đồng.
Còn ông Huỳnh Hữu Nhàn, xã Ba Động nhận khoán 3,6 ha, sau 7 năm chăm sóc thu được 249 triệu đồng. Ông Nhàn cho hay, do chăm sóc rừng bài bản nên lợi nhuận khá cao so với các hộ khác. Đặc biệt những người trồng rừng FSC đều được trang bị áo quần, mũ bảo hộ và thuốc men sơ cứu rất cẩn thận. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/11) đầu trang(
Dự án trồng rừng ngập mặn giảm thiểu rủi ro thảm họa  giai đoạn 2011 – 2015 vừa được 2 tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm tại Hội thảo "Nâng cao tính bền vững của dự án trồng rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa".
Dự án được thực hiện bởi Hội chữ thập đỏ các cấp thông qua chương trình tài trợ của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản. Tại Nghệ An, Dự án trồng rừng ngập mặn giảm thiểu rủi ro thảm họa được triển khai từ năm 1997. Theo thống kê, Hội chữ thập đỏ các xã đã trồng, bảo vệ, chăm sóc hơn 1000ha rừng ngập mặn, rừng chắn sóng ven sông, ven biển, hiện nay còn hơn 700ha.
Trong 5 năm qua, dự án đã góp phần xây dựng ở những cộng đồng dễ bị tổn thương trở nên an toàn hơn và tự phục hồi nhanh trước rủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu; mang lại những hiệu quả thiết thực đối với kinh tế, văn hóa, xã hội của những vùng hưởng lợi.
Tại Hà Tĩnh, Dự án từ năm 1998, đến nay Hội Chữ thập đỏ các cấp trên địa bàn đã phát triển được 653ha rừng, trong đó có 508 ha rừng ngập mặn; tổ chức nhiều hoạt động nâng cao năng lực phòng ngừa thảm họa, ứng phó biến đổi khí hậu; triển khai các tiểu dự án làm đường, cầu, lu đựng nước mưa… (Tài Nguyên Và Môi Trường 12/11) đầu trang(
Ban quản lý dự án đầu tư Giảm sóng, ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (Bên mời thầu) vừa tổ chức Hội nghị mở thầu 2 gói thầu thuộc Dự án Giảm sóng ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ Nam Cồn Xanh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Dự án gồm các gói thầu Trồng rừng các lô 1, 2, 3, 4, 5 (bao gồm cả hàng rào giảm sóng, biển báo, cọc mốc, chăm sóc, bảo vệ); gói thầu Trồng rừng Lô số 6 (bao gồm cả hàng rào giảm sóng, biển báo, cọc móc, chăm sóc, bảo vệ).
Tham dự Hội nghị mở thầu, ngoài đại diện chủ đầu tư (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định), bên mời thầu, tổ chuyên gia đấu thầu và các nhà thầu, còn có đại diện Văn phòng UBND tỉnh Nam Định, Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định.
2 gói thầu nêu trên đều được tổ chức lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước và sử dụng vốn ngân sách trung ương của Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC), bao gồm phần vốn nước ngoài (giải ngân ODA); ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Về số lượng nhà thầu mua hồ sơ mời thầu (HSMT), có 3 nhà thầu đã mua HSMT Gói thầu Trồng rừng các lô 1, 2, 3, 4, 5 là: Công ty CP Phòng trừ mối Việt Nam, Công ty CP Xây dựng và Sinh thái thủy lợi, Công ty TNHH MTV Vietforest; có 5 nhà thầu mua HSMT Gói thầu Trồng rừng Lô số 6 là: Công ty TNHH Xây dựng Thành An, Công ty CP Tư vấn đầu tư xây dựng Việt Hưng, Công ty TNHH Xây dựng thủy lợi Mạnh Hùng, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Tiến Phát, Công ty TNHH An Khánh.
Tính đến trước 8 giờ ngày 9/11/2015, bên mời thầu nhận được 3 bộ hồ sơ dự thầu (HSDT) của 3 nhà thầu đã mua HSMT Gói thầu Trồng rừng các lô 1, 2, 3, 4, 5. Đối với Gói thầu Trồng rừng Lô số 6, bên mời thầu cũng nhận được 3 HSDT trong số 5 nhà thầu đã mua HSMT; 2 công ty là Công ty CP Tư vấn đầu tư xây dựng Việt Hưng và Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Tiến Phát không nộp HSDT.
Tại Hội nghị mở thầu, đại diện bên mời thầu lần lượt mời các nhà thầu và Hội nghị xác nhận việc có hoặc không có Thư giảm giá kèm theo HSDT. Các nhà thầu và đại diện các bên đã kiểm tra và xác nhận còn nguyên niêm phong của toàn bộ HSDT.
Bên mời thầu khẳng định: “Hội nghị đã tiến hành mở thầu công khai, theo đúng quy định hiện hành trước sự chứng kiến của khách mời, chủ đầu tư, tổ chuyên gia đấu thầu và đại diện các nhà thầu tham dự thầu”.
Song song với 2 gói thầu này, Ban quản lý dự án đầu tư Giảm sóng, ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển huyện Nghĩa Hưng cũng đang phát hành HSMT của 3 gói thầu thuộc Dự án Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 - 2020 (từ 8 giờ ngày 30/10/2015 đến 8 giờ ngày 19/11/2015). Thông báo mời thầu của 3 gói thầu này đã được đăng tải công khai trên Báo Đấu thầu các số 206, 215, 216.
Tính đến ngày 9/11/2015, Ban quản lý dự án cho biết, có 3 nhà thầu đã mua HSMT Gói thầu Trồng rừng 9 lô, từ Lô 1 đến Lô 9, huyện Hải Hậu; Lô 3, Lô 4, huyện Nghĩa Hưng (bao gồm cả biển báo, cọc mốc, chăm sóc, bảo vệ); có 6 nhà thầu mua HSMT Gói thầu Trồng rừng 15 lô, từ Lô 1 đến Lô 15, huyện Giao Thủy; Lô 1, Lô 2, huyện Nghĩa Hưng (bao gồm cả biển báo, cọc mốc, chăm sóc, bảo vệ); có 3 nhà thầu mua HSMT của Gói thầu Tư vấn giám sát thi công Gói thầu số 3. (Đấu Thầu 12/11) đầu trang(
Giai đoạn 2011-2015, tỉnh ta đã cơ bản hoàn thành mục tiêu đề ra với 55.000ha rừng trồng mới, nâng tổng diện tích rừng trồng lên gần 84.000ha. Phóng viên Báo Bắc Kạn đã phỏng vấn đồng chí Hà Đức Tiến- Giám đốc Sở NN&PTNT về những điểm mới trong công tác chỉ đạo vụ trồng rừng năm 2016 và những năm tiếp theo.
Năm 2016 là năm đầu tiên của giai đoạn trồng rừng mới thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI nhiệm kỳ 2015-2020 là mỗi năm trồng mới 6.500ha rừng. Thực hiện nhiệm vụ trên, ngành Nông nghiệp đã tham mưu cho UBDN tỉnh ban hành Quyết định số 1347/QĐ-UBND ngày 3/9/2015 tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2016 cho các địa phương với tổng diện tích 7.000ha.
Hiện nay các địa phương đang tiến hành triển khai đăng ký tới người dân. Một số địa phương đã đăng ký xong, ví dụ huyện Chợ Mới diện tích đăng ký năm nay vượt kế hoạch tới 560ha (2.000ha/1.440ha theo kế hoạch). Đây là bước đầu tiên trong triển khai kế hoạch trồng rừng để xác định khả năng thực hiện của từng địa phương, từ đó mới có cơ sở để tổ chức thiết kế, chuẩn bị gieo ươm giống cây con...
Nhìn chung những năm gần đây, đặc biệt là năm 2015 công tác trồng rừng của tỉnh diễn ra thuận lợi, đúng như kịch bản ban đầu, tình trạng bỏ diện tích không đáng kể, chính vì thế diện tích trồng rừng năm 2015 đạt gần 9.000ha, vượt gần 1.000ha so với kế hoạch. Hiện nay ngành đang tập trung vào công tác nghiệm thu toàn bộ diện tích trồng mới này trong tháng 11, 12.
Lâu nay nông, lâm nghiệp vẫn là lĩnh vực nhận được sự quan tâm rất lớn của nhà nước đặc biệt là việc bố trí nguồn lực cho trồng rừng. Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐND ngày 10 tháng 4 năm 2012 của HĐND tỉnh Bắc Kạn về chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất  giai đoạn 2012 - 2015, tạo ra động lực để trồng được 55.000ha rừng trong giai đoạn 2011 - 2015 góp phần nâng cao được giá trị của ngành lâm nghiệp.
Tuy nhiên, ngân sách địa phương rất hạn hẹp, quan điểm của tỉnh tới đây sẽ chỉ hỗ trợ đối với những diện tích trồng rừng mới chu kỳ đầu tiên, còn những diện tích đã được khai thác trồng lại sẽ không hỗ trợ vì mức độ đầu tư diện tích trồng lại sẽ thấp hơn so với trồng ban đầu, với lại khi rừng được khai thác nghĩa là người dân đã có thu nhập.
Trong quyết định tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2016, ban đầu UBND tỉnh chỉ hỗ trợ 4.000ha/7.000ha. Nguồn hỗ trợ này dựa chủ yếu từ ngân sách Trung ương. Tuy nhiên, mới đây Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính đã quyết định bổ sung thêm nguồn vốn trồng rừng năm 2016 cho Bắc Kạn với tổng kinh phí khoảng 48 tỷ đồng và kinh phí để trả nợ tiền công chăm sóc rừng cho người dân những năm trước đây. Nhờ có sự bổ sung nguồn lực tài chính này tỉnh sẽ điều chỉnh tăng diện tích được hỗ trợ trồng rừng năm 2016 lên 5.500ha đến 6.000ha.
Như vậy còn khoảng 500ha đến 1.000ha sẽ không được hỗ trợ. Đây là những diện tích thuộc diện khai thác và trồng lại chu kỳ II. Người dân sẽ phải tự bỏ vốn trồng rừng. Quy định này là hợp lý, người dân cũng phải làm quen với cách trồng rừng này, bởi trên thực tế nếu tự đầu tư người dân sẽ nâng cao trách nhiệm trồng, chăm sóc, bảo vệ tốt hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì diện tích người dân tự trồng mỗi năm trên địa bàn tỉnh ta vào khoảng gần 1.000ha, tập trung nhiều nhất ở Chợ Mới gần 600ha.
Trong những năm qua công tác giống cây lâm nghiệp đã được ngành quan tâm chỉ đạo. Cụ thể, đối với cây keo đã chuyển đổi từ các giống keo lai sang trồng các giống keo Úc nhập khẩu; chuyển từ sử dụng các giống bạch đàn ta sang trồng các giống bạch đàn lai, bạch đàn mô; tiến hành bình tuyển lựa chọn cây đạt chất lượng tốt để đưa vào làm giống đối với một số loài cây bản địa của địa phương như mỡ, lát, bồ đề, xoan...
Thực hiện đúng quy trình quản lý chất lượng cây giống lâm nghiệp từ việc xác định nguồn gốc hạt giống, đến công tác gieo ươm, xuất vườn, qua đó đã nâng cao được đáng kể năng suất rừng trồng từ trung bình 5-7 m3/năm nay đã tăng được trung bình 8-10m3/năm qua đó đã nâng cao được từ 10-20% giá trị của rừng trồng.
Nếu xác định giống là khâu đột phá thì kỹ thuật là khâu then chốt để tạo ra được năng suất, chất lượng cao, vì thế, ngành đã chỉ đạo chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lâm nghiệp, tập trung phát triển đầu tư chuyển đổi từ trồng kinh doanh cây gỗ nhỏ, gỗ nhỡ sang trồng và kinh doanh cây gỗ lớn, qua đó đã giảm được các chi phí đầu tư, đồng thời tăng được hiệu quả kinh tế của việc trồng rừng, trên cùng một diện tích, trong một chu kỳ kinh doanh cây gỗ lớn (trên 15 năm) sẽ cho thu nhập cao hơn so với kinh doanh cây gỗ nhỏ. Do vậy giải pháp kinh doanh cây gỗ lớn sẽ giúp gia tăng được giá trị kinh tế rừng trong thời gian tới.
Bên cạnh việc chuyển đổi trồng kinh doanh cây gỗ lớn thì việc nâng cao các biện pháp quản lý kinh doanh rừng trồng, tiến tới đạt tiêu chuẩn và được cấp giấy chứng nhận quản lý FSC là một mục tiêu cần hướng tới. Hiện nay trên thị trường giá 01m3 gỗ có chứng nhận FSC thường cao hơn từ 25-35% giá gỗ cùng loại và cùng chất lượng.
Từ đó có thể thấy việc được cấp giấy chứng nhận FSC là một trong những giải pháp rất tốt để tăng giá trị kinh tế rừng đồng thời góp phần quản lý khai thác được rừng bền vững hơn. Mong rằng với hướng đi như vậy, nghề rừng của tỉnh ta sẽ ngày càng phát triển, bền vững hơn. (Công An Bắc Kạn 12/11) đầu trang(
Trải qua các thời kỳ phát triển, ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Từ một tỉnh có độ che phủ rừng chỉ đạt 20,4% (1993), đến năm 2014, tỷ lệ che phủ rừng đã đạt 48,6%. Một trong những thành tựu quan trọng nhất của ngành là đã cơ bản phủ xanh những vùng đất trống, đồi núi trọc vốn tồn tại trong suốt thời gian dài trước khi tái lập tỉnh Quảng Trị.
Thời điểm năm 1989, khi tỉnh Quảng Trị mới được lập lại, ngành lâm nghiệp đã sớm ổn định tổ chức, nhanh chóng triển khai đồng bộ các chương trình, dự án lâm nghiệp trên địa bàn. Toàn tỉnh có 4 lâm trường (Bến Hải, Triệu Hải, Hướng Hóa và Đường 9) và các Ban quản lý dự án cơ sở được hình thành để thực hiện các chương trình lâm nghiệp như Chương trình 327 (trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc), Chương trình 773 (trồng rừng vùng cát), Dự án 661, Định canh định cư, ... kết hợp với các nguồn vốn viện trợ Quốc tế như các Dự án PAM 2780, 4304.
Trong thời kỳ này, tỉnh Quảng Trị chỉ có 93.835 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên là 81.875 ha; rừng trồng tập trung 11.960 ha và độ che phủ rừng đạt 20,4%, mỗi năm toàn tỉnh trồng khoảng 200 ha - 300 ha và chủ yếu khai thác rừng tự nhiên. Sau 5 năm, nhờ sự hoạt động tích cực, hiệu quả của các đơn vị, các dự án lâm nghiệp, diện tích trồng rừng hàng năm tăng lên từ 2.000 - 3.000 ha.
Cơ cấu cây trồng rừng ngày càng đa dạng và phong phú hơn, tỷ lệ sống và chất lượng rừng trồng, khả năng thành rừng ngày càng cao. Mặt khác, ngành lâm nghiệp đã chú trọng công tác quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên, góp phần tăng diện tích rừng tự nhiên một cách đáng kể.
Cũng trong giai đoạn từ năm 1996 - 2000, ngoài việc tổ chức phủ xanh đất trống đồi núi trọc khu vực vùng đồi núi, tỉnh đã quan tâm cải tạo môi sinh, môi trường, góp phần quan trọng hạn chế tình trạng cát bay, cát nhảy vùng cát ven biển các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh và Vĩnh Linh... đồng thời cải thiện tình hình sản xuất nông nghiệp cho người dân.
Bằng việc tranh thủ các nguồn vốn trong nước, vốn từ các chương trình viện trợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế, ngành lâm nghiệp tỉnh tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tập trung phủ xanh đất trống đồi núi trọc và hạn chế khai thác rừng tự nhiên, tập trung vào công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, tăng diện tích rừng trồng hàng năm lên 5.000 - 6.000 ha. Nhiều loài cây giống bản địa đã được khảo nghiệm và được nhân trồng rộng rãi, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nhân dân như cây sao đen, keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai, sến trung...
Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh Quảng Trị đã hoàn thành công tác rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, với mục tiêu xác định cụ thể diện tích từng loài rừng trên bản đồ và kết hợp phân định ranh giới giữa các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng với các chủ rừng khác, góp phần tích cực cho công tác quản lý bảo vệ rừng bền vững và có hiệu quả.
Cùng với đó, tỉnh đã tiến hành sắp xếp đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn, thực hiện chuyển đổi 3 lâm trường thành 3 công ty TNHH mộ t thành viên lâm nghiệp (Bến Hải, Đường 9 và Triệu Hải) và chuyển đổi Lâm trường Hướng Hóa thành Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa- Đakrông, thành lập mới 2 Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn và Bến Hải.
Sau khi đổi mới, một số diện tích rừng phòng hộ lâm trường quản lý trước đây chuyển giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ tiếp tục quản lý bảo vệ, số diện tích rừng phòng hộ còn lại giao cho địa phương quản lý. Đồng hành với các hoạt động trên, tỉnh đã xây dựng dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, hàng năm hỗ trợ khoảng 2.000 – 3000 ha cho các hộ gia đình trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh.
Đặc biệt từ năm 2007 -2010 đánh dấu bước đột phá trong sự nghiệp trồng cây gây rừng của tỉnh khi xây dựng thành công mô hình cấp chứng chỉ rừng trồng cho các hộ gia đình trồng rừng qui mô nhỏ trên địa bàn. Đây là một trong những mô hình đầu tiên của Việt Nam được xây dựng thành công tại Quảng Trị, góp phần nâng cao nhận thức cho các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình trồng rừng quy mô nhỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị về các biện pháp kinh doanh rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng.
Quan trọng hơn là đã thay đổi tư duy sản xuất từ trồng rừng cung cấp nguyên liệu dăm gỗ sang kinh doanh gỗ lớn tạo ra các vùng nguyên liệu ổn định, cung cấp gỗ cho chế biến xuất khẩu. Tính đến nay, tỉnh Quảng Trị có 20.966 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ, trong đó Hội các nhóm hộ nhóm hộ có chứng chỉ rừng là 1.367,6 ha. Mặc dù diện tích rừng được cấp chứng chỉ chưa nhiều nhưng đã có những thay đổi rất đáng kể đối với các chủ rừng, góp phần tích cực cho công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ ra thị trường quốc tế và đáp ứng mục tiêu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trong giai đoạn 2016 - 2020.  Trên lĩnh vực phát triển công nghiệp chế biến gỗ, từ việc năm 2010 chỉ có một nhà máy MDF với công suất chế biến 60.000 m3/ năm, đến nay đã có bước chuyển biến tích cực với việc hoàn thành xây dựng và chuẩn bị đưa vào sản xuất dây chuyền Nhà máy MDF thứ 2 với công suất 120.000 m3/năm.
Ngoài ra, trong những năm gần đây nhiều nhà máy chế biến gỗ rừng trồng đã được xây dựng tại các cụm công nghiệp như Công ty CP gỗ Đại Thành, Công ty TNHH Phương Thảo (KCN Nam Đông Hà), Công ty CP Long Hưng Thịnh (KCN Diên Sanh, huyện Hải Lăng), Công ty Cổ phần Tiến Phong, Công ty CP Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị (xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ), Công ty CP Lâm sản Quảng Trị (huyện Vĩnh Linh),...
Việc hình thành các nhà máy chế biến gỗ đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết đầu ra ổn định cho người nông dân, thúc đẩy phát triển trồng rừng nguyên liệu. Ngành lâm nghiệp cũng đã hình thành và tiến hành mô hình liên kết chuỗi trong việc sản xuất, bao tiêu sản phẩm gỗ rừng trồng cho hộ gia đình.
Mô hình được thực hiện giữa Hội các nhóm hộ chứng chỉ rừng Quảng Trị với Công ty CP Tổng Công ty thương mại Quảng Trị với cam kết Công ty CP Tổng Công ty thương mại Quảng Trị sẽ thu mua toàn bộ gỗ có chứng chỉ FSC của hộ gia đình cao hơn so với giá bán thị trường cùng thời điểm từ 15-18%. Đây là mô hình mang lại hiệu quả tích cực cho doanh nghiệp và người dân trong quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp tiến hành rà soát điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp theo hướng ưu tiên mở rộng diện tích đất quy hoạch phát triển rừng sản xuất, rừng nguyên liệu. Nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp, đầu tư chất lượng, hiệu quả kinh doanh rừng, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu các sản phẩm hàng hóa từ gỗ, sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Đặc biệt duy trì và phát triển mô hình quản lý rừng bền vững, chú trọng phát triển mô hình cấp chứng chỉ rừng cho nhóm hộ gia đình, coi đây là hướng đột phá nhằm giải quyết đầu ra ổn định cho sản phẩm lâm nghiệp, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người nông dân làm nghề rừng. (Báo Quảng Trị 13/11) đầu trang(
Dù không được hưởng một đồng tiền công hay chế độ nào nhưng người cựu chiến binh Nguyễn Lân vẫn miệt mài công việc trồng cây chắn sóng giữ gìn bình yên cho người dân.
Ông Nguyễn Lân, 87 tuổi sống tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh đã tình nguyện trồng cây chắn sóng hơn 30 năm. Đến nay, rừng phi lao ông trồng đã kéo dài hàng chục km. Đối với ông công việc này mang một ý nghĩa đặc biệt, vừa làm đẹp cho quê hương vừa chắn sóng, đối phó thiên tai, giữ bình yên cho người dân. (Đài Truyền Hình Việt Nam 12/11) đầu trang(
Trên các tuyến QL48, QL15 thuộc địa phận Nghệ An và đường Hồ Chí Minh đoạn giáp ranh giữa Nghệ An và Thanh Hóa xuất hiện nhiều xe chở gỗ keo quá tải, quá khổ, nhưng việc xử lý còn nhiều khó khăn.
Thời gian gần đây, nhiều nhà máy chế biến gỗ dăm “mọc” lên tại khu vực giáp ranh giữa H.Nghĩa Đàn (Nghệ An) và H.Như Xuân (Thanh Hoá) đang “hút” nguồn nguyên liệu gỗ keo ồ ạt đổ về. Theo ghi nhận của PV Thanh Niên, gỗ keo nguyên liệu được vận chuyển trên những chiếc xe tải từ các huyện miền núi Nghệ An như Quỳ Hợp và Quỳ Châu theo QL48 qua ngã tư Đồng Hiếu (TX.Thái Hòa, Nghệ An) hoặc qua QL15 rồi theo đường Hồ Chí Minh chạy về xã Bãi Trành (H.Như Xuân, Thanh Hóa). Hầu hết các xe chở gỗ keo đều chất gỗ cao hơn thùng xe, có dấu hiệu chở quá tải trọng.
Tại khu vực giáp ranh Nghệ An - Thanh Hóa, lực lượng CSGT thuộc Đội CSGT số 3 (Phòng CSGT Công an tỉnh Nghệ An) tuần tra để xử lý các xe quá tải, quá khổ. Tuy nhiên, theo quan sát của PV, khi lực lượng chức năng đang xử lý các xe vi phạm, một số tài xế xe tải khác cho xe phóng bạt mạng để vượt mặt lực lượng tuần tra. Trong khi đó, trên tuyến QL15, mỗi khi lực lượng CSGT Công an H.Nghĩa Đàn xuất hiện, thì các xe chở gỗ keo lại chạy vào đường rừng thuộc xã Nghĩa Yên ẩn nấp, gây khó khăn cho lực lượng hữu trách trong việc chặn bắt và xử lý.
Thiếu tá Đặng Xuân Kiều, Đội trưởng CSGT Công an H.Nghĩa Đàn cho biết, các xe tải chở gỗ keo bị xử lý trong thời gian qua đều vượt tải trọng từ 60 - 200%. Tuy nhiên, theo thiếu tá Kiều, do chưa có trạm cân lưu động nên mỗi lần bắt giữ một vài xe, lực lượng hữu trách đều phải áp tải qua nhiều km mới về tới trạm cân để xử lý. Khi đội tuần tra xử phạt một xe chở gỗ keo thì các xe khác chạy phía sau sẽ được “chim lợn” báo tin để tìm cách ẩn nấp hoặc nhấn ga chạy qua.
Thiếu tá Nguyễn Xuân Vinh, Đội phó Đội CSGT số 3 (Phòng CSGT Nghệ An) cho biết, đơn vị này sẽ tăng cường lực lượng, tăng thời gian tuần tra và tổ chức giao ca tại chỗ để kịp thời phát hiện, chặn bắt và xử lý các xe chở quá khổ, quá tải. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
Chỉ trong 9 tháng đầu năm, Gỗ Trường Thành đã vượt mức 42% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Giá cổ phiếu tăng hơn gấp đôi khiến không ít nhà đầu tư phấn khởi
Từng là doanh nghiệp gỗ hàng đầu trong nước và xuất khẩu, Công ty CP Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) đã có thời đứng trước bờ vực phá sản khi phải gánh số nợ lên tới 1.000 tỉ đồng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn ngủi, Gỗ Trường Thành đã “sống lại” và có sự tăng trưởng mà ít ai ngờ tới.
Báo cáo kết quả kinh doanh mới nhất của Gỗ Trường Thành cho thấy công ty đạt doanh thu thuần 410 tỉ đồng chỉ riêng quý III/2015, tăng 100 tỉ đồng so với cùng kỳ năm ngoái và lãi gộp gần 131 tỉ đồng (so với con số cùng kỳ chỉ 76,5 tỉ đồng). Chi phí tài chính trong quý III của doanh nghiệp này cũng giảm rất mạnh, từ 23 tỉ đồng xuống chỉ còn 2,5 tỉ đồng. Lãi sau thuế của công ty đạt 101 tỉ đồng, nâng mức lũy kế 9 tháng đầu năm lên gần 218 tỉ đồng. Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) cũng đạt 2.091 đồng/cổ phiếu.
Chỉ trong 9 tháng đầu năm, Gỗ Trường Thành đã vượt mức 42% kế hoạch lợi nhuận cả năm, cho thấy những bước đi khả quan của quá trình tái cấu trúc giúp hoạt động kinh doanh ngày càng khởi sắc, tăng trưởng bền vững hơn. Những khó khăn về dòng tiền và áp lực từ lãi vay ngân hàng đã không còn là gánh nặng. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đã tăng từ 85 tỉ đồng hồi đầu năm đã tăng lên tới 246 tỉ đồng trong quý III.
Anh Nguyễn Văn Hùng, một nhà đầu tư đang nắm giữ khoảng 6.000 cổ phiếu của Gỗ Trường Thành, cho biết khoảng năm 2008 trước thời điểm DN này chuẩn bị niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE, anh và nhóm bạn đã mua một lượng lớn cổ phiếu của DN này.
Thời điểm đó, mã cổ phiếu TTF của Gỗ Trường Thành được nhà đầu tư kỳ vọng sẽ còn lên cao hơn nữa sau khi lên sàn. Tuy nhiên, sau đó Gỗ Trường Thành gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, cổ phiếu rớt thảm khiến anh Hùng và nhóm bạn đã phải bán tháo. Gia đoạn khó khăn nhất, giá cổ phiếu TTF chỉ còn khoảng 4.000 đồng.
“Bán một nửa, đến khi còn khoảng 6.000 cổ phiếu thì tôi quên luôn. Gần đây thấy Gỗ Trường Thành hoạt động kinh doanh khả quan nhưng không nghĩ giá cổ phiếu lại tăng mạnh vậy” - anh Hùng chia sẻ.
Nhờ kết quả kinh doanh lạc quan, cổ phiếu của Gỗ Trường Thành (mã TTF) đã tăng mạnh trong nửa năm qua, từ khoảng 9.000 đồng/cổ phiếu lên tới hơn 23.000 đồng/cổ phiếu.
Chia sẻ về quá trình nỗ lực vươn lên từ nguy cơ kiệt quệ, ông Võ Trường Thành, Chủ tịch kiêm tổng giám đốc công ty, cho biết khoảng 2 năm trước khoảng (giai đoạn 2013) TTF là tập đoàn gồm 1 công ty mẹ và 14 công ty con đã gặp rất nhiều khó khăn. Xuất phát từ việc, trong giai đoạn trước đó thị trường chứng khoán đang phát triển, các công ty niêm yết như TTF huy động vốn trên sàn khá dễ dàng nên đã sử dụng đòn bẩy tài chính quá lớn.
Khoản nợ vay ngân hàng của TTF thời điểm đó lên tới 1.900 tỉ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ khoảng 1.000 tỉ đồng. Nhiều khoản vay có lãi suất cao ngất ngưởng 10%, thậm chí 20%/năm khiến doanh nghiệp bị hụt vốn, có thời điểm lượng mặt để công ty duy trì hoạt động chỉ vỏn vẹn 2 tỉ đồng.
“Dù tỉ lệ đòn bẩy tài chính này so với các DN khác, nhất là các tập đoàn tổng công ty nhà nước không cao nhưng trong bối cảnh lãi suất NH tăng cao phi mã với chính sách thắt chặt tiền tệ khiến chi phí tài chính quá lớn và chúng tôi bị kiệt quệ. Chưa kể, thị trường nước ngoài cũng xấu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm” - ông Thành nhớ lại.
Trước tình hình này, Gỗ Trường Thành đã tiến hành đồng thời các giải pháp: gặp gỡ thương lượng các ngân hàng để chấp thuận việc khoanh giãn nợ, đồng thời phát hành vốn chủ cho những cổ đông. Sau nhiều lần đàm phán, TTF đã nâng vốn điều lệ lên 1.400 tỉ đồng, dư nợ còn khoảng 900 tỉ đồng. Có thể nói rằng, trạng thái tài chính của DN đã được thay đổi đáng kể.
Một sai lầm khác, theo ông Võ Trường Thành, do trước đây DN nghĩ đến việc phát triển bền vững nên đầu tư nhiều vào vấn đề trồng rừng. TTF đã trồng rừng nhiều hơn tốc độ chế biến gỗ của mình, với suy nghĩ giúp DN có thể kinh doanh bền vững hơn và có trách nhiệm với cộng đồng, sinh quyển và đời sống của người dân... “Những bước đi dài hạn này lại có vẻ không thích hợp trong bối cảnh lãi suất quá cao nên chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn” – ông Thành cho biết.
Nhưng đến hôm nay, chính nhờ việc trồng rừng quy mô lớn và bắt đầu tới thời điểm khai thác đang mở ra cơ hội rất lớn cho TTF trong tương lai, khi các hiệp định thương mại tự do, nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sắp được ký kết.
Với ngành gỗ, đang có làn sóng dịch chuyển đơn hàng rất lớn từ Trung Quốc sang Việt Nam, cộng thêm các DN có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sẽ chuyển từ gỗ nhập khẩu sang thu mua gỗ nguyên liệu trong nước (nhằm đáp ứng yêu cầu về xuất xứ). Khi đó, với khoảng 14.000 ha rừng tự trồng bắt đầu đến giai đoạn khai thác, sẽ đem về cơ hội rất lớn cho Trường Thành. (VnMoney 12/11) đầu trang(
Ngày 12/11, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) đã tổ chức Hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam 2015 (VIFA HOME 2015) với chủ đề: “Đồ gỗ Việt - giữ vững sân nhà, không phụ thuộc hàng nhập”
Hội chợ được tổ chức nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) mở rộng thị trường trong nước cũng như đưa các thương hiệu đồ gỗ và mỹ nghệ của Việt Nam đến gần hơn với người tiêu dùng,
Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch HAWA nhấn mạnh, VIFA HOME 2015 là Hội chợ chuyên ngành về đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ, được tổ chức định kỳ hằng năm và được coi như thành trì bảo vệ thị trường nội địa.
Ông Khanh cho biết, năm nay, ngoài DN TPHCM tham gia, Hội chợ còn thu hút các DN ngành đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ đến từ 12 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đặc biệt, có nhiều DN đến từ miền Bắc, miền Trung, khu vực Tây Nguyên và 2 DN nước ngoài từ Croatia cũng tham gia, trưng bày nhiều sản phẩm với mẫu mã đẹp.
Chủ tịch HAWA cũng cho biết, tại VIFA HOME 2015, người tiêu dùng sẽ có trong tay tất cả thông tin cần thiết để trang bị cho ngôi nhà hoặc dự án của mình một cách hoàn thiện và đầy đủ nhất. Đây là phương cách mà các DN ngành đồ gỗ Việt Nam đang hướng đến nhằm cung cấp đến tay người tiêu dùng Việt một cách nhìn và một cách mua sắm ưu tiên hướng đến các sản phẩm nội chất lượng cao theo tiêu chí “Người Việt dùng hàng Việt”
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch HAWA, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủ công Mỹ nghệ gỗ Liên Minh cho biết, trong những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng trong nước đối với các sản phẩm đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng.
Cụ thể, tại VIFA HOME được tổ chức vào năm 2013, mức tiêu dùng, mua sắm tại chỗ là khoảng 8 tỉ đồng thì tới năm 2014, con số này đã là hơn 16,5 tỉ đồng. Còn tại hội chợ năm nay, ban tổ chức kỳ vọng sẽ đạt hơn 20 tỉ đồng.
Nhìn rộng ra toàn thị trường, theo ông Hạnh, năm 2014, thị trường nội địa tiêu thụ các sản phẩm đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ đạt khoảng 1,9 tỉ USD thì năm nay con số này có thể đạt 2 tỉ USD và sẽ tiếp tục tăng vào các năm tiếp theo.
Tuy nhiên, hiện nay, nhiều DN trong nước vẫn tỏ ra lo lắng bởi cuối năm 2015, các hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN của Việt Nam đã ký sẽ có hiệu lực, trong đó có Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Khi đó, hàng hóa từ các nước ASEAN sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với thuế suất bằng 0%, đây cũng là lúc hàng hóa nhập khẩu của các nước này sẽ cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Việt Nam, trong đó có các sản phẩm đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ.
Theo ông Hạnh, các DN trong nước không nên lo lắng và để chiếm lĩnh thị trường trong nước, điều quan trọng là các DN ngành đồ gỗ cần chú ý tới nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Ông Hạnh cho biết, có 3 phân khúc lớn tiêu thụ đồ gỗ gồm: Ngành xây dựng có thể chiếm tới 40%, tiêu dùng ở thành thị chiếm 30%, tiêu dùng ở nông thôn chiếm 30%.
Ở mỗi phân khúc thì DN phải luôn đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với từng đối tượng ở phân khúc đó, hay nói một cách ví von là “sẵn sàng ở thực trạng may đo”. Điều này là lợi thế rất lớn cho các DN ngành gỗ Việt Nam, bởi chỉ có DN ở quy mô nhỏ mới có thể linh hoạt thay đổi theo yêu cầu của khách hàng, trong khi DN FDI thì rất khó, họ chỉ có các sản phẩm sản xuất bán đại trà.
Ông Hạnh cũng lưu ý trong quá trình hội nhập, các DN trong nước nên liên kết lại với nhau để đảm bảo cho những đơn hàng lớn, từ đó nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu. (Chính Phủ 12/11) đầu trang(
127 hộ dân thuộc thôn 3, thôn 4, thôn Thủ Thiện Hạ, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tố cáo chính quyền địa phương lấy đất của người dân để thực hiện dự án sau đó lại đem cấp cho cán bộ xã.
Bức xúc họ đã kéo đến UBND tỉnh Bình Định khiếu kiện tập thể; mặc dù tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên-Môi trường tiến hành xác minh làm rõ nhưng cho đến nay vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo đơn tố cáo của 127 hộ dân thuộc các thôn 3, thôn 4, Thủ Thiện Hạ, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định thì vào các năm 1977-1978 nhiều hộ dân tự khai hoang đất rừng để làm rẫy tại vùng Đất Thổ, Hóc Lác, Hóc Bé, Đồng Cẩm trên và Đồng Cẩm dưới thuộc thôn 3, thôn 4 xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định với tổng diện tích là 198ha (1.980.000m2).
Đến năm 1997-1998 UBND xã Bình Nghi thực hiện kế hoạch di, dãn dân yêu cầu các hộ dân chặt Bạch Đàn, thu dọn cây cối, hoa màu trả lại đất cho xã để UBND xã tiến hành giao đất cho các hộ dân vào xây dựng khu kinh tế mới Đồng Cẩm, Đồng Kho thuộc thôn 4 theo dự án 773 nhưng không đền bù công khai hoang, không lập biên bản giao đất, chia lại đất.
Sau khi giao đất cho 258 hộ thuộc diện kinh tế mới thì UBND xã Bình Nghi đem diện tích đất còn lại giao cho các cán bộ UBND xã gồm các ông: Võ Văn Thuận-nguyên Chủ tịch UBND xã Bình Nghi; Văn Ngọc Thạch-nguyên Chủ tịch UBND xã Bình Nghi; Trần Văn Thãi-nguyên Trưởng Ban Địa chính xã Bình Nghi; Nguyễn Văn Thanh-nguyên Trưởng thôn 4 xã Bình Nghi; Nguyễn Văn Châu-nguyên thủ quỹ thôn 3 xã Bình Nghi; Văn Ngọc Vũ-nguyên Thôn phó thôn 4 xã Bình Nghi; Văn Trọng Thuộc- thôn 4 xã Bình Nghi và một số cán bộ còn đương chức: ông Lê Thành Công-nguyên cán bộ Kiểm lâm hai huyện Tây Sơn và An Nhơn, hiện đang công tác tại Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, tỉnh Bình Định; ông Đỗ Văn Định hiện là Chủ tịch UBND xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Nhận được đơn tố cáo của người dân, phóng viên báo điện tử Tầm Nhìn tìm hiểu sự việc và được biết UBND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã tiến hành điều tra, xác minh theo đơn cố cáo của 127 hộ dân thuộc thôn 3, thôn 4, thôn Thủ Thiện Hạ, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định trước đó.
Theo kết luận của UBND huyện Tây Sơn tại văn bản số 235/TB-UBND, ngày 17/4/2015 do ông Đỗ Văn Sỹ-Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Sơn ghi rõ: UBND xã Bình Nghi giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một số cá nhân, tổ chức từ quỹ đất công ích thôn 4, thuộc dự án 773 xã Bình Nghi là không đúng quy định.
UBND huyện Tây Sơn đề xuất thu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của các hộ ông Trần Văn Thãi, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Châu, Văn Ngọc Thạch, bà Huỳnh Thị Ngã (mẹ ruột ông Văn Ngọc Thạch), Hợp tác xã Nông nghiệp Bình Nghi 3 với tổng diện tích là 83,86ha giao cho UBND xã Bình Nghi tiếp nhận và xây dựng kế hoạch phương án cụ thể việc quản lý, sử dụng quỹ đất này. Tuy nhiên trong bản kết luận của UBND huyện lại không đề cập đến việc thu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của các ông Văn Ngọc Vũ, Lê Thành Công, Văn Trọng Thuộc và Đỗ Văn Định.
Cả 127 hộ dân đứng đơn khiếu kiện không đồng tình với kết luận của UBND huyện Tây Sơn nên tiếp tục khiếu nại; UBND tỉnh Bình Định cũng đã nhiều lần chỉ đạo các cấp kiểm tra xác minh, làm rõ nhưng chưa có kết quả.
Quá bức xúc trước sự chậm trễ kéo dài ngày 26/10/2015, ông Phan Văn Lộc và một số hộ dân thuộc thôn 3 xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định kéo đến Trụ sở Tiếp công dân tỉnh gửi đơn yêu cầu giải quyết dứt điểm vụ việc. Trong văn bản số 5214/UBND-TD ngày 30/10/2015, một lần nữa UBND tỉnh Bình Định giao Sở Tài nguyên-Môi trường khẩn trương xác minh và báo cáo kết quả cho UBND tỉnh trước ngày 25/11/2015.
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Văn Ngọc Quế-Phó Chủ tịch UBND xã Bình Nghi cho biết: “Năm 1998 xã tiến hành thu hồi đất để thực hiện dự án 773, dân tự nguyện giao lại đất cho xã không khiếu nại gì. Nay họ thấy khu đất này nằm trong Cụm Công nghiệp Bình Nghi giá đất lên cao nên dân mới khiếu kiện đòi lại đất nhưng không có cơ sở để chúng tôi trả lại. Tôi công nhận việc một số cán bộ xã thời trước lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất sai quy định là đúng và UBND huyện Tây Sơn đã có kết luận thu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Còn một số cán bộ trong đơn tố cáo của dân như các ông Văn Ngọc Vũ, Lê Thành Công, Văn Trọng Thuộc và Đỗ Văn Định không bị thu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp là vì UBND huyện đã xác minh họ không sai phạm”.
Được sự đồng ý của ông Văn Ngọc Quế-Phó Chủ tịch; cán bộ Địa chính xã cung cấp Hồ sơ phương án di, dãn dân khu kinh tế mới tại thôn 4 xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cho phóng viên.
Tuy nhiên, khi phóng viên yêu cầu xin bản photo thì ông Đỗ Văn Định-Chủ tịch UBND xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định lại không cho cung cấp và khẳng định: “Phương án thu hồi, giao đất cho 258 hộ dân thuộc diện kinh tế mới là của huyện không thuộc UBND xã. Tất cả hồ sơ liên quan vụ việc chúng tôi không có vì trải qua nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo nên thất lạc không tìm ra. Chúng tôi tiếp nhận công tác sau này nên không nắm được”.
Phản ứng của vị Chủ tịch này khiến chúng tôi khá bất ngờ; ông Đỗ Văn Định quên rằng vào thời điểm đó ông ta là Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã đồng thời là người nằm trong số cán bộ đang bị người dân tố cáo. Việc ông Định ngăn cản không cho cấp dưới cung cấp chứng cứ, thông tin cho báo chí phải chăng còn nhiều khuất tất cần phải che dấu, bưng bít ?!
Khi được hỏi về vụ việc này, ông Đào Văn Hòa-Phó Chánh thanh tra Sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh cho biết: “Đoàn Thanh tra của Sở đã tiến hành đối thoại với các hộ dân tìm hiểu xác minh sự việc để báo cáo UBND tỉnh trong tuần này. Việc cán bộ UBND xã Bình Nghi lạm dụng chức vụ quyền hạn cấp đất cho cán bộ xã sai quy định là CÓ. Chúng tôi sẽ nhanh chóng hoàn tất kết luận để báo cáo UBND tỉnh xử lý vụ việc sớm nhất. Sắp đến UBND tỉnh sẽ tổ chức họp để đưa ra hướng giải quyết thấu tình đạt lý cho người dân”.
Tại thời điểm UBND xã Bình Nghi tiến hành thu hồi đất của 127 hộ dân thuộc thôn 3, thôn 4, Thủ Thiện Hạ, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (năm 1998). Tuy nhiên khi tiến hành thu hồi đất UBND xã Bình Nghi lại không thực hiện đúng quy định tại các điều 27, 28 Luật Đất đai năm 1993.
Rõ ràng việc 127 hộ dân liên tục khiếu nại là có cơ sở; thiết nghĩ các cấp chính quyền cần quan tâm, xem xét để có hướng giải quyết thấu tình đạt lý. Đồng thời cần xử lý thích đáng số cán bộ thoái hóa, biến chất đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi làm xói mòn lòng tin của người dân; ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng… (Tầm Nhìn 12/11) đầu trang(
Nhiều hộ dân nhận khoán đất rừng ở xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau phải đóng cho xã gần 2 triệu đồng/ha để mua giống tràm trồng lại sau khi khai thác. Thế nhưng, cây tràm giống mà xã cung cấp vừa mới trồng đã chết sạch.
Để đảm bảo diện tích trồng rừng sau khai thác trên địa bàn xã Nguyễn Phích, UBND xã này đảm nhận luôn việc làm “đại lý” cung cấp giống tràm cho bà con. Nhưng khi cây tràm giống bị tố kém chất lượng, xã lại đổ lỗi cho dân không thiết tha với việc trồng rừng.
Tiếp xúc với phóng viên NTNN, người dân xã Nguyễn Phích cho biết, xưa nay UBND xã có quy định: Hộ dân nhận đất rừng, trước khi khai thác tràm phải đóng cho xã một số tiền tương ứng với diện tích đất rừng của mình (khoảng 1,7 triệu đồng/ha), số tiền này xã sẽ dùng vào việc mua cây tràm giống cung cấp ngược lại cho dân. Ai muốn khai thác thì phải thực hiện phần “thủ tục” đóng tiền cho xã.
Ông Nguyễn Văn Huốl, ngụ ấp 20, xã Nguyễn Phích cho biết: “Gia đình tôi có hơn 1ha đất rừng nhận khoán. Mới đây sau khi khai thác, tôi lên xã nhận tràm giống về trồng. Mọi khâu từ cải tạo đất, chăm sóc... tôi đều làm đúng quy trình, nhưng không hiểu sao chỉ hơn 1 tháng sau khi trồng, tràm cứ chết dần. Hiện có hơn 70% diện tích bị thiệt hại”.
Cùng cảnh ngộ, anh Trần Văn Tý mấy ngày qua buồn héo ruột vì cây tràm của gia đình chết dần từng ngày. “Vừa qua tôi lên xã nhận 20.000 cây tràm giống về trồng trên 1ha đất, nhưng hiện phân nửa diện tích đã chết. Tiếc công, tiếc của, tôi ra sức cấy giặm, nhưng vẫn không cứu được” – anh Tý nói.
Người dân địa phương cho biết, tràm là loại cây dễ trồng nhất, rất ít gặp rủi ro, nhưng vụ trồng mới năm nay cây tràm chết hàng loạt, nguyên nhân là do tràm giống xã Nguyễn Phích cung cấp không đạt chất lượng.
Về chuyện dân phải đóng tiền cho xã mua cây giống, ông Lê Trung Kiên – Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích cho biết: “Xã không buộc dân phải đóng tiền mà hoàn toàn mang tính chất tự nguyện, ai muốn xã mua cây giống giúp thì đóng tiền, không thì thôi”.
Về việc người dân tố tràm giống kém chất lượng, ông Châu Thanh Nhã – cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã Nguyễn Phích cho biết: “Trước khi nhận cây giống, dân có kiểm tra hẳn hoi, nhưng giờ lại đổ lỗi do xã cung cấp giống kém chất lượng là không đúng. Cây giống chúng tôi mua ở Hậu Giang có chất lượng tốt. Tôi khẳng định, những hộ có tràm bị chết là do không chăm sóc tốt”.
Trong khi đó, người dân cho rằng, năm nay xã cung cấp cây tràm giống quá non so với quy định nên không thể chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt như hiện nay.
Về vấn đề này, ông Trần Văn Thức – Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Cà Mau cho biết: Sở đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm kết hợp với chính quyền địa phương làm rõ nguyên nhân cây tràm giống bị chết, nhằm có hướng hỗ trợ người dân kịp thời. (Dân Việt 13/11) đầu trang(
Thời gian qua, sự đóng góp của các nông, lâm trường vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước là một thực tế không thể phủ nhận, sự đóng góp của các đơn vị kinh tế này đã có thời gian là làm động lực phát triển kinh tế của nhiều địa phương.
Song các nông, lâm trường dần bộc lộ những yếu kém trong việc quản lý, sử dụng đất. Nhiều nông, lâm trường sở hữu hàng trăm; thậm chí ngàn hecta đất, nhưng hiệu quả mang lại từ tài nguyên đất không đáng kể, gây lãng phí tài nguyên của quốc gia… Do đó, cần phải tính đến chuyện chuyển đổi, để nâng cao hiệu quả, nhất là hiệu quả sử dụng đất, nếu không sẽ gây lãng phí rất lớn cho kinh tế đất nước…
Theo ông La Văn Thịnh, Phó cục trưởng Cục Quản lý công sản Bộ Tài Chính, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại các nông, lâm trường cần có cái nhìn toàn diện, thực tế hơn vì từ trước đến nay ta chỉ thay cái vỏ.
Từ năm 2004 đến nay, sau hơn 10 năm sắp xếp, đổi mới, các DN nông, lâm nghiệp quản lý hơn 6 triệu hecta đất, nhưng chỉ nộp thuế hơn 800 tỷ đồng, còn nợ lại gần 220 tỷ đồng nữa.
Nhiều DN đã cổ phần hóa từ lâu nhưng vẫn chưa được cấp quyền sử dụng đất, vì chưa thực hiện các nghĩa vụ tài chính; không ít diện tích chưa thực hiện việc đo đạc, cắm mốc, đôi khi còn cấp chồng lấn lên nhau.
Đơn cử, tại Đăk Lăk có 62 nông, lâm trường, ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và vườn quốc gia đang quản lý, sử dụng 646.638ha đất các loại. Đăk Lăk có 38 nông trường quản lý sử dụng trên 70,5 ngàn hecta đất; 10 nông trường địa phương quản lý sử dụng 24.476,82ha. Cùng với, 28 nông trường Trung ương quản lý 44.203 ha; 23 lâm trường quản lý sử dụng 562.503ha.
Thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW và các nghị định của Chính phủ, trong 3 năm 2005-2007, hầu hết các nông, lâm trường quốc doanh đã được sắp xếp lại thành DN nông, lâm nghiệp. Riêng đối với diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được thành lập Ban quản lý dự án và giao cho các ban này quản lý.
Sau sắp xếp đổi mới, đến nay Đăk Lăk còn 57 đơn vị, trong đó có 34 DN nông nghiệp, 15 DN lâm nghiệp, 6 ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, 2 vườn quốc gia, đang quản lý sử dụng trên 534.690ha.
Điều đáng nói, đến nay chỉ một số ít các nông, lâm trường hoạt động có hiệu quả; phần lớn số còn lại đều rơi vào cảnh làm ăn thua lỗ, buông lỏng quản lý dẫn đến việc mất đất, mất rừng do người dân xâm canh.
Những trường hợp làm ăn kém hiệu quả đều lâm vào cảnh nợ lương công nhân, nợ thuế, ngân hàng dai dẳng mà không có bất cứ nguồn thu nào để trả nợ. Nhiều DN đã cổ phần hóa nhưng việc quản lý đất đai vẫn rất lỏng lẻo, đất bị chuyển nhượng trái phép, sử dụng sai mục đích. Có nơi giao khoán đất cho người dân nhưng buông lỏng, không quản lý được hợp đồng giao khoán hoặc giao khoán trái luật dẫn đến những mâu thuẫn dai dẳng.
Mặc dù đã được chuyển đổi mô hình quản lý, song các DN vẫn không tự bức phá để mang lại hiệu quả trong quản lý sử dụng đất cũng như mang lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Trong số này, có DN còn khoán trắng, giao đất cho dân tự đầu tư canh tác, dẫn đến việc thỏa thuận mức khoán, quản lý diện tích đất không thống nhất, tùy tiện và hiệu quả sử dụng đất rất thấp…
Trong số 9 DN nông nghiệp do tỉnh Đăk Lăk quản lý, chỉ có 6 DN sản xuất kinh doanh có lãi từ 2,01% đến 12,38% sau thuế; đối với 15 DN lâm nghiệp chỉ có 1 đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi 4,9% sau thuế, 4 đơn vị thua lỗ, số còn lại chỉ đạt mức lãi thấp, dưới 0,1%.
Trước sự quản lý yếu kém đơn vị chủ quản tài nguyên đất đã vô tình tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, người dân ở một số địa phương bức bách vì đất sản xuất đã bị xâm canh, lấn chiếm…
Ví như sự việc diễn ra tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Rừng Xanh và xã Cư Kbang. Do buông lỏng quản lý, DN này đã để mất đất, mất rừng tại các tiểu khu rừng 172, 182, 192, 196… hay như tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (huyện Cư M’gar) để người dân phá rừng, lấn chiếm đất rừng, sang nhượng đất rừng trái pháp luật…
Theo các cơ quan chức năng, từ năm 2008 đến nay, tỉnh Đăk Lăk có trên 26.472 ha rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm trái phép... Trước tình hình xâm phạm đất tại các nông, lâm trường, mới đây Đăk Lăk có chỉ đạo các địa phương, chủ rừng, các đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ nhằm rà soát, thống kê diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái pháp luật để xây dựng phương án xử lý giải tỏa, thu hồi theo đúng quy định.
Thực tế sau một thời gian dài làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả các nông, lâm trường quốc doanh lại được chuyển đổi thành các Công ty TNHH MTV, nhưng vẫn tiếp tục trong tình trạng sống dở, chết dở.
Tuy nhiên, để chuyển đổi các nông lâm trường quốc doanh là chuyện không phải đơn giản, dưới góc nhìn của lãnh đạo địa phương có nhiều nông, lâm trường, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đăk Lăk Y Dhăm Ênuôl phân tích, nếu việc đổi mới, sắp xếp các DN nông, lâm nghiệp giai đoạn tới làm không khéo còn có thể nảy sinh việc tranh chấp đất đai quyết liệt hơn, mất an ninh nông thôn.
Bởi theo Nghị định 118 của Chính phủ về đổi mới và sắp xếp các DN nông, lâm nghiệp, khi sắp xếp, chuyển đổi sẽ thực hiện bằng hai cách là giải thể hoặc cổ phần hóa sẽ nảy sinh mâu thuẫn về cách tính giá trị vườn cây. Bởi theo giá Nhà nước mỗi hecta cây cà phê chỉ khoảng 80-90 triệu đồng.
Song giá thực tế lên đến khoảng 400-500 triệu đồng. Vậy phần chênh lệch này sẽ tính toán như thế nào để bảo đảm hài hòa lợi ích? Điều đó cho thấy, việc quản lý, sử dụng đất ở các nông, lâm trường còn nhiều yếu kém và tồn tại lâu năm.
Do vậy, thời gian tới để nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải cấu trúc lại việc sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh một cách triệt để và quyết liệt hơn. Đồng thời, các địa phương phải tích cực khắc phục những khó khăn, vướng mắc để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được giao. (Thời Báo Ngân Hàng 12/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhờ tình yêu thương và sự chăm sóc ân cần của tinh tinh mẹ, con tinh tinh cái nhỏ mang nhiều khuyết tật có thể kéo dài sự sống đến gần hai năm.
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản lần đầu ghi nhận một con tinh tinh cái chăm sóc đứa con gái sơ sinh bị khuyết tật thể chất và thiểu năng trí tuệ, The Sydney Morning Herald đưa tin.
Lúc đầu, nhóm nghiên cứu không nhận thấy những điều bất thường ở tinh tinh con sống cùng gia đình tại công viên quốc gia núi Mahale, Tanzania. Nhưng khi con tinh tinh mang số hiệu XT11 6 tháng tuổi, họ nhận ra nó nhỏ hơn nhiều và kém hoạt bát hơn anh trai, và vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào mẹ.
Theo quan sát của các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu Động vật hoang dã thuộc Đại học Kyoto, Nhật Bản, con tinh tinh nhỏ bị khuyết tật nặng. Nó bị thoát vị ổ bụng, phát triển không bình thường, hỏng xương sống và tay trái chỉ có mấu.
"Nó có ngoại hình giống cá và miệng trễ xuống, bởi vậy chúng tôi cho rằng nó ít nhiều bị thiểu năng trí tuệ", Giáo sư Michio Nakamura, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, chia sẻ với Japan Times. Dù không thể đưa ra chẩn đoán chính xác, các nhà nghiên cứu tin rằng con tinh tinh nhỏ mắc hội chứng Down.
Tinh tinh mẹ 38 tuổi, có số hiệu XP hay tên thường gọi là Christina, gặp nhiều vất vả trong việc nuôi nấng đứa con bệnh tật và phải điều chỉnh tư thế của mình khi chăm sóc con. Nó làm quen với việc trèo cây bằng ba chi để dùng một tay ôm con.
Christina ngừng tìm bắt cá và kiến bởi nó không thể vừa ôm con vừa thu thập thức ăn. Nó cũng cho con bú lâu hơn thông thường bởi con tinh tinh nhỏ không thể ăn đồ cứng.
"Con mẹ cõng con trên lưng và đưa con theo khi di chuyển bởi tinh tinh con sẽ rơi nếu không có sự hỗ trợ. Lúc cho bú, tinh tinh mẹ bế con đến gần ngực để giúp nó ăn", Nakamura cho biết.
Cách chăm sóc tận tâm của con mẹ đã góp phần giúp con nó sống lâu hơn những con tinh tinh khuyết tật khác trong tự nhiên. Trên thực tế, chỉ có hai trường hợp tinh tinh khuyết tật sống sót qua thời gian dài và cả hai đều sống trong môi trường nuôi nhốt với sự trợ giúp của con người.
XT11 đã sống đến gần hai tuổi. Tuy không chắc con tinh tinh nhỏ đã chết, các nhà nghiên cứu không tìm thấy dấu vết của nó sau tháng 12/2012, 23 tháng sau khi nó ra đời. Họ kết luận XT11 nhiều khả năng chết vì suy dinh dưỡng do không thể ăn đồ cứng.
Điều khiến các nhà nghiên cứu ấn tượng nhất là cách Christina nhờ đứa con gái lớn hơn chăm sóc em. Theo họ, nó chỉ cho phép người thân chăm sóc XT11.
"Thật thú vị khi chứng kiến con tinh tinh chị giúp mẹ chăm sóc em. Nếu nuôi con mà không được trợ giúp, con mẹ sẽ phải chịu một gánh nặng lớn", Nakamura nhận xét.
Nhóm nghiên cứu đặt giả thuyết, Christina biết con mình cần nhiều sự chăm sóc hơn và nó không thể giao trách nhiệm đó cho các thành viên khác trong đàn. Tuy nhiên, thái độ e ngại này cũng có thể dẫn tới cái chết của XT11.
Giáo sư Nakamura nhấn mạnh trường hợp này có thể giúp chúng ta hiểu rõ cách con người tiến hóa thành động vật có tính xã hội. "Một đặc điểm của xã hội loài người là con người biết chăm sóc những người khuyết tật và dễ tổn thương. Tinh tinh là họ hàng gần nhất với con người, do đó chúng tôi cảm thấy thật đặc biệt khi quan sát một con tinh tinh chăm sóc đứa con nhỏ khuyết tật của mình", Nakamura nói. (VnExpress 13/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang