|
Ngày 11 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Đường tuần tra biên giới từ xã Hạnh Dịch đi xã Nậm Giải được khởi công từ năm 2011, cắt ngang rừng nguyên sinh thuộc quyền quản lý của Ban Quản lý (BQL) Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hoạt, với tổng chiều dài 22km.
Ngày 24/3/2015, BQL KBTTN Pù Hoạt có Báo cáo số 15 về tình hình việc mở đường giao thông từ trạm kiểm soát đồn Biên phòng Hạnh Dịch lên mốc 14M thuộc xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong.
Báo cáo nêu những nội dung liên quan đến dự án nói trên, về tình hình lâm sản trên tuyến đường cũng như có kiến nghị với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nghệ An và UBND tỉnh để tiến hành kiểm kê, lập hồ sơ, tiến hành tận thu phần thân, gốc, rễ... nằm rải rác tuyến đường và bị đất đá lấp. Đồng thời, tận dụng một số cây chết dọc hai bên tuyến đường do quá trình thi công tuyến đường theo quy định của Thông tư 35 năm 2011 của Bộ NN&PTNT.
Tháng 3 năm 2015, Sở NN&PTNT Nghệ An đã có văn bản cho phép chủ rừng là BQL KBTTN Pù Hoạt lập hồ sơ thiết kế khai thác, tận thu, tận dụng gỗ gửi UBND tỉnh Nghệ An.
Theo đó, UBND tỉnh Nghệ An cho phép BQL KBTTN Pù Hoạt lập hồ sơ thiết kế, khai thác tận thu, tận dụng gỗ trong quá trình mở đường giao thông từ trạm kiểm soát Biên phòng Hạnh Dịch lên mốc M14.
Được sự “cho phép” này, BQL KBTTN Pù Hoạt có tờ trình xin phê duyệt hồ sơ thiết kế, khai thác, tận thu, tận dụng gỗ như đã nêu ở trên và được cơ quan chủ quản đồng ý.
Việc khai thác tận dụng gỗ, đã nhanh chóng được BQL KBTTN Pù Hoạt thực hiện, tuy nhiên việc tận thu gỗ vẫn còn gặp rất nhiều “vướng mắc”.
Minh chứng là vào trưa ngày 3/7, các đối tượng Lương Văn Tâm, Vi Văn Hoài, Lữ Văn Dương, Vi Văn Bình (đều trú xã Thông Thụ, Quế Phong) và Cao Minh Quyết (trú huyện Quỳ Hợp) đã vào khu vực vùng lõi rừng đặc dụng trong KBTTN Pù Hoạt cưa 3 cây sa mu đỏ hàng trăm tuổi có đường kính khoảng 2,5 - 2,8m, cao 35 - 40m. Tại hiện trường, lực lượng chức năng thu giữ chừng 240m3 gỗ sa mu đỏ.
Công an huyện Quế Phong sau đó đã khởi tố cả 5 đối tượng trên về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ và khai thác lâm sản”. Theo tìm hiểu, đến thời điểm hiện tại cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra cách để đưa được số gỗ sa mu này ra khỏi khu vực bị chặt hạ. Mới đây nhất, vào đêm 28/9, lực lượng chức năng trong lúc tuần tra đã phát hiện nhóm lâm tặc đang tổ chức vận chuyển khối lượng lớn gỗ trái phép, thu giữ 8m3 gỗ Táu.
Được biết, từ năm 2011 - 2015, lực lượng chức năng đã thu giữ hơn 450m gỗ bị đốn hạ trái phép ở Pù Hoạt.
Trong thời gian vừa qua, rất nhiều cơ quan báo chí đã đưa tin về tình trạng chặt phá rừng ở Pù Hoạt đang có diễn biến hết sức phức tạp. Để khắc phục tình trạng nói trên, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Xuân Đường đã có quyết định chỉ đạo kiểm tra việc tận thu gỗ ở vùng lõi KBTTN Pù Hoạt, huyện Quế Phong.
Vào ngày 20/10, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Nghệ An đã trực tiếp đến vùng lõi KBTTN Pù Hoạt để kiểm tra việc tận thu gỗ ở đây. Sau buổi thực địa, đoàn có kết luận việc tận thu đảm bảo đúng quy định, không có dấu hiệu bất thường.
Đến ngày 22/10, chúng tôi có dịp quay trở lại hiện trường dự án làm đường tuần tra biên giới đóng trên địa bàn Hạnh Dịch. Qua ghi nhận về tình trạng chặt phá gỗ quý là hoàn toàn có cơ sở, có nhiều cây gỗ bị chặt phá nằm ngổn ngang bên đường thuộc đoạn đường thi công tại KM 19 cách mặt đường khoảng 3m, trong đó có những cây gỗ lớn.
Lãnh đạo BQL KBTTN Pù Hoạt cho biết, do đường đang thi công nên chưa được định hình xong, khu vực chặt cây sẽ được san ủi trong tương lai nên vẫn thuộc diện tận thu. Một số gốc cây ở khá xa ta luy đã đốn hạ, thì đơn vị quản lý cho rằng đây là dấu vết của lâm tặc làm.
“Việc dự án mở đường tuần tra biên giới gặp rất nhiều khó khăn, đã 5 năm trôi qua nhưng con đường vẫn chưa hoàn thiện. Chính vì thế, nhiều lâm tặc đã lợi dụng việc mở đường để khai thác gỗ quý”, lãnh đạo BQL KBTTN Pù Hoạt nói.
Được biết, dự án mở tuyến đường có từ năm 2011, nhưng đến tháng 8/2014, tỉnh Nghệ An mới có quyết định chuyển đổi đất rừng đặc dụng ở đây thành đất khác.
Đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An nhanh chóng vào cuộc để hoàn thành con đường tuần tra biên giới, đồng thời ngăn chặn việc thất thoát nguồn tài nguyên rừng của quốc gia. (Thanh Tra 10/11) đầu trang(
Theo kết luận điều tra của Ban Chỉ đạo về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389) tỉnh Quảng Ninh, vụ việc Ban Chỉ đạo 389 T.Ư phối hợp với lực lượng chức năng bắt giữ chiếc xe vận chuyển hơn 1.000 con cá sấu nghi là động vật hoang dã từ Bạc Liêu ra Móng Cái là không đủ cơ sở để khởi tố.
Ngày 9.11, ông Ngô Văn Hoàng (H.Phước Long, tỉnh Bạc Liêu), chủ số cá sấu nuôi kể trên cho PV Thanh Niên biết, ông đã được nhận lại trên 700 con cá sấu nhưng không được bồi thường một đồng nào.
“Số chết do bị giữ ở cơ quan chức năng trên 250 con trị giá khoảng 300 triệu đồng nhưng tôi không khiếu nại đòi bồi thường nữa vì tôi có khiếu nại, lại mất công đi ra Hà Nội nhiều lần, tốn phí mà chưa chắc đã đòi được. Ở nhà làm việc khác. Coi như xui xẻo”, ông Hoàng nói.
Lái xe Lê Văn Thành cũng đã được trả lại xe sau 4 tháng bị tạm giữ. Theo người lái xe này, anh vẫn bị cơ quan chức năng phạt 1 triệu đồng vì lỗi chạy xe vào khu vực biên giới nhưng anh không “tâm phục”.
Lê Văn Thành cho biết, hiện nay anh mới chỉ nhận được 20 triệu trong số 50 triệu đồng tiền công vận chuyển hàng, còn toàn bộ chi phí đi lại, xăng xe... trong suốt thời gian tại Hà Nội, Quảng Ninh khoảng 40 triệu đồng không biết cơ quan nào sẽ chi trả cho anh? (Thanh Niên 10/11) đầu trang(
Chỉ vì không mặc áo phao lúc lặn trục vớt gỗ lậu trên sông Vu Gia, một cán bộ kiểm lâm Quảng Nam tử nạn trong lúc làm nhiệm vụ đã không được Bộ LĐTB&XH công nhận là liệt sỹ khiến gia đình bức xúc khiếu kiện, lực lượng kiểm lâm tỉnh Quảng Nam buồn và thất vọng.
Ban tổ chức Trung ương Đảng vừa có văn bản số 1217 trả lời về việc tiếp nhận và chuyển đơn thư của ông Trần Đức Dũng (thôn Ngọc Mỹ, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam) cho Bộ LĐ-TB&XH xem xét giải quyết nội dung khiếu nại của công dân.
Trước đó, ông Dũng đã có đơn thư gửi các cơ quan chức năng Đảng, Nhà nước và Chính phủ để khiếu nại về việc Bộ LĐ–TB&XH không đồng ý xác nhận điều kiện liệt sỹ cho con trai ông là Trần Văn Quý (1987) là cán bộ Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 2 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam) tử nạn lúc trục vớt gỗ lậu do lâm tặc cất giấu, vận chuyển dưới lòng sông Vu Gia tại khu vực Mò O (Đại Sơn, Đại Lộc).
Căn nhà của vợ chồng ông Trần Đức Dũng và bà Đỗ Thị Liệu đơn sơ sau rặng dừa ở thôn Mỹ Ngọc. Hai vợ chồng đã ngoài 60 tuổi. Dân làng bảo, ông bà già đi hẳn sau cái chết của con trai út Trần Văn Quý vào tháng 5/2011. Nén đau thương, sau ngày con mất, ông Dũng đi khắp nơi để mong sao con trai của mình sớm được công nhận là liệt sỹ, xứng đáng với sự hi sinh dũng cảm trong khi làm nhiệm vụ.
Ông Dũng kể: Chiều 15/5/2011, ông Đinh Anh Tuấn, là đội phó đội Kiểm lâm cơ động số 2 và nhiều anh em về nhà ông rất đông nhưng không dám vào. Linh tính điều chẳng lành, vợ chồng ông chạy ra thì ngất lịm khi hay tin Quý đã tử nạn, thi thể con trai về nhà trong vòng tay của anh em. Gia đình được anh em kiểm lâm cho hay, Quý trong lúc làm nhiệm vụ trục vớt gỗ lậu được lâm tặc cất giấu dưới sông Vu Gia, đã bị nước xoáy cuốn chết. Năm đó, Quý vừa tròn tuổi 25, chưa vợ con.
“Đau thương quá bất ngờ, vợ chồng tôi đứng tim, ngất lịm bên xác con, phải cấp cứu. Anh em Chi cục kiểm lâm kể, Quý dũng cảm xuống sông lặn vớt gỗ, rồi bị nước xoáy cuốn đi. Hôm truy điệu, anh em kiểm lâm về rất đông và làm lễ truy điệu rất nghiêm trang, gia đình cũng ấm lòng vì con mình nằm xuống khi làm nhiệm vụ được giao. Trước anh linh của Quý, anh em Chi cục Kiểm lâm hứa sẽ làm hết mình, lo các thủ tục để Quý được Nhà nước công nhận là liệt sỹ. Gia đình, bà con lối xóm tin rằng, Quý sẽ sớm được công nhận là liệt sỹ”, ông Dũng cho biết.
Ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết: Ngày 15/5/2011, đội kiểm lâm cơ động số 2, tổ chức truy quét gỗ lậu và phát hiện một khối lượng gỗ lớn cất giấu dưới sông. Đây là tài sản nhà nước, anh Trần Văn Quý là cán bộ trẻ, năng nổ, được giao nhiệm vụ xuống sông trục vớt, nhưng không may bị nước cuốn trôi.
Hành động của Quý nêu cao tinh thần trách nhiệm, dũng cảm trong khi làm nhiệm vụ. Xét thấy sự hi sinh của anh Quý là rõ ràng và có đủ cơ sở Chi cục kiến nghị cơ quan chức năng công nhận liệt sỹ để tôn vinh xứng đáng với sự hi sinh đó. Tuy nhiên, đến nay vẫn không được công nhận.
Thực hiện lời hứa trước đồng đội, Chi cục kiểm lâm lập hồ sơ, gửi Sở NN&PTNT, Sở LĐ-TB&XH để tham mưu UBND tỉnh đề nghị công nhận Trần Văn Quý là liệt sỹ. Ngày 4/10/2013, UBND tỉnh Quảng Nam có công văn gửi Bộ LĐ-TB&XH đề nghị công nhận Trần Văn Quý là liệt sỹ. Công văn khẳng định việc hi sinh tính mạng trong lúc vớt gỗ lậu dưới lòng sông của Quý là “hành động dũng cảm, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia”.
Tuy nhiên, ngày 4/6/2015, Bộ LĐ-TB&XH có công văn số 2110 trả lời UBND tỉnh Quảng Nam, trong đó không đồng ý công nhận anh Trần Văn Quý là liệt sỹ. Theo đó, Bộ khẳng định: “Ông Quý trong khi xuống sông tham gia trục vớt gỗ trái phép đang cất giấu dưới lòng sông, không mặc áo phao, lội (bơi) được khoảng 4 - 5m bị sụp hố nước sâu có vòng xoáy nên bị nước cuốn trôi chết. Đây là công tác giải quyết sự vụ của nhân viên kiểm lâm khi được giao, tai nạn xảy ra dẫn đến chết người là yếu tố bất ngờ không thể biết trước”.
Bộ này khẳng định: “Không thể coi trường hợp nêu trên là hành động dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc xả thân để cứu tài sản Nhà nước và nhân dân. Vì vậy ông Trần Văn Quý không đủ điều kiện xác nhận liệt sỹ theo quy định”.Văn bản do Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp ký và đóng dấu.
“Con trai tôi làm nhiệm vụ có tổ chức, có lãnh đạo phân công nhiệm vụ liều mình xuống sông lặn vớt gỗ. Nếu mặc áo thì làm sao trục vớt gỗ lậu? Cho rằng con trai tôi không mặc áo phao, xuống sông vớt gỗ lậu là tài sản của nhà nước dù biết trước nguy hiểm không phải là hành động dũng cảm là hết sức vô lý”, ông Dũng bức xúc. Ngay khi nhận được văn bản của Bộ, ông Dũng lập tức gửi đơn khiếu nại. Ông cho biết, dù tốn kém bao nhiêu công sức, tiền của ông sẽ đi đến cùng để con trai mình được công nhận là liệt sỹ để xứng đáng với sự hi sinh cũng như truyền thống cách mạng của gia đình mình.
Theo ông Phan Tuấn, việc Bộ LĐ-TB&XH không công nhận liệt sỹ đối với anh Quý là một thiệt thòi cho gia đình và lực lượng kiểm lâm. Vì đặc trưng nhiệm vụ, lặn xuống sông để trục vớt gỗ dưới đáy sông, nên anh Quý không thể mặc áo phao được, nếu mặc áo phao làm sao lặn được? Nếu không kịp thời trục vớt gỗ lậu sẽ bị dòng nước cuốn trôi ảnh hưởng đến tài sản, lợi ích của Nhà nước.
“Đã có nhiều trường hợp kiểm lâm tử nạn khi làm nhiệm vụ nhưng không được công nhận liệt sỹ vì không đủ điều kiện. Riêng trường hợp anh Trần Văn Quý thì rõ ràng và đầy đủ, chúng tôi đề nghị Bộ cần xem xét thấu đáo, sớm công nhận anh để khích lệ động viên lực lượng kiểm lâm những lúc nguy hiểm dám xông pha thực hiện nhiệm vụ. Không được công nhận liệt sỹ, đây là thiệt thòi lớn không riêng gì gia đình anh Quý mà còn là thiệt thòi của cả lực lượng kiểm lâm Quảng Nam và kiểm lâm cả nước” - ông Phan Tuấn khẳng định. (Tiền Phong 11/11) đầu trang(
Từ ngày 10 đến 11-11, Viện Nghiên cứu Vườn thú và Động thực vật hoang dã Leibniz (IZW) và Dự án Bảo tồn đa dạng sinh học và dự trữ carbon của WWF (CarBi) phối hợp tổ chức buổi hội thảo Ứng dụng các khảo sát đa dạng sinh học đã được chuẩn hóa trong các khu rừng ở Việt Nam với mục tiêu nhằm xây dựng phương pháp khảo sát quần thể các loài động vật có vú tại đây.
Kết quả thu thập từ bốn khu bảo tồn là Vườn quốc gia Bạch Mã, Khu bảo tồn sao la tỉnh Quảng Nam, Khu Bảo tồn sao la Huế, và Vườn quốc gia Xe-Sáp (Lào) được trình bày và thảo luận với các nhà khoa học trong và ngoài nước và các bên liên quan.
Dự án CarBi nhằm góp phần ngăn chặn nạn phá rừng và suy thoái rừng tại khu vực biên giới Nam Lào và miền trung Việt Nam. Để bảo vệ loài sao la quý hiếm và những loài nguy cấp khác có giá trị sinh học cấp toàn cầu, những hoạt động của dự án CarBi được thực hiện ở khu vực biên giới tiếp giáp 4 khu bảo tồn và các hành lang sinh học. Một công cụ quan trọng để đánh giá thành công của công tác bảo tồn chính là việc giám sát đa dạng sinh học.
Còn IZW đang nghiên cứu về tính đa dạng của sự sinh tồn và các mối tương tác giữa động vật hoang dã với con người và và môi trường sống của chúng. Công việc của IZW là xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất ra các phương pháp mới bảo tồn các loài động vật hoang dã. IZW đã triển khai hoạt động nghiên cứu tại Đông Nam Á trong suốt gần một thập kỷ qua, sử dụng chủ yếu các kỹ thuật không gây tác động đến cảnh quan khu vực, như hệ thống bẫy ảnh giúp nghiên cứu loài và quần thể của chúng.
WWF và IZW đã hợp tác thực hiện các cuộc khảo sát khoa học chuyên sâu về các loài động vật đang bị đe dọa và các quần thể của chúng tại Trung Trường Sơn. Nhận thấy tầm quan trọng của sự đa dạng các loài thú có vú có kích thước lớn và vừa trong bảo tồn, IZW đã xây dựng phương pháp khảo sát quần thể các loài động vật có vú.
Hội thảo lần này có sự tham gia của giám đốc các khu bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý các hợp phần dự án CarBi, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tổ chức phi chính phủ và các nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Hội thảo đã thảo luận các bài học, cơ hội và thách thức của việc áp dụng những nghiên cứu đã được chuẩn hóa về đa dạng sinh học các loài có vú và hoạt động thực thi pháp luật. Xác định nhu cầu trong những năm tiếp theo để điều chỉnh, tiếp nối và mở rộng các hoạt động thực thi pháp luật cũng như nghiên cứu về đa dạng sinh học các loài thú có vú. Đồng thời, soạn thảo kiến nghị cho chương trình quốc gia về đa dạng sinh học các loài thú có vú đệ trình lên Chính phủ xem xét. (Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Sau gần 3 tháng mỏi mòn chờ cơ quan chức năng hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình cho phép tái thả hơn 70 cá thể tê tê khỏe mạnh (là tang vật từ các vụ buôn bán bất hợp pháp) về rừng theo yêu cầu của Chương trình Nghiên cứu và Bảo tồn Thú ăn thịt nhỏ và tê tê (Vườn Quốc gia Cúc Phương), đến nay đã có 30 cá thể bị chết vì vướng luật.
Trước đó, trong tháng 8/2015, Chương trình Nghiên cứu và Bảo tồn Thú ăn thịt nhỏ và tê tê (chương trình hợp tác giữa Vườn Quốc gia Cúc Phương và Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã) đã cứu hộ hơn 60 cá thể tê tê tại Ninh Bình và Thanh Hóa. Sau một thời gian chăm sóc, cộng với số cá thể tê tê được bảo vệ tại Trung tâm từ trước thì có khoảng hơn 70 cá thể tê tê đạt tiêu chuẩn thả về tự nhiên.
Tuy nhiên, sau gần 3 tháng gửi văn bản kiến nghị, đến nay, Cơ quan Công an và Kiểm lâm hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình vẫn không đồng ý cho tái thả số tê tê trên về tự nhiên, với lý do vụ việc chưa được xử lý và chưa có quyết định xử lý tịch thu đối với tang vật vụ án (thực hiện theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003).
Trao đổi với phóng viên VietnamPlus vào chiều 10/11, ông ông Trần Quang Phương, cán bộ Chương trình Nghiên cứu và Bảo tồn Thú ăn thịt nhỏ và tê tê cho biết, mặc dù Tổng cục Lâm nghiệp đã có văn bản kiến nghị cơ quan chức năng 2 tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình cho phép tái thả hơn 70 cá thể tê tê về rừng, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được thông tin phản hồi gì.
Điều đáng buồn là, “trong quá trình chờ cơ quan chức năng có thẩm quyền cho phép tái thả tê tê về rừng, đến nay đã có 30 cá thể bị chết. Trước đó, chúng tôi cũng đã kiến nghị tái thả tê tê về rừng, vì đặc thù loài này chỉ ăn mối và kiến. Chi phí thức ăn rất cao, mỗi cá thể tê tê ăn hết 1.410.000VND/tháng, trong khi điều kiện cơ sở vật chất của Trung tâm có hạn, không thể nuôi số lượng lớn động vật như vậy trong một thời gian dài,” ông Phương chia sẻ.
Vị cán bộ gần 20 năm gắn bó với công việc bảo tồn tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương cũng cho biết, hiện tại hơn 40 cá thể tê tê (là tang vật từ các vụ buôn bán bất hợp pháp được cứu hộ về trung tâm) đang được chăm sóc trong điều kiện tốt, nhưng trung tâm vẫn nỗ lực kiến nghị cơ quan chức năng cho phép tái thả về tự nhiên, để đảm bảo được nhiệm vụ bảo tồn,” ông Phương nói.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã (Save Vietnam’s Wildlife) cho biết, mặc dù Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong chính sách bảo vệ các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập cần tháo gỡ, đặc biệt là vướng mắc trong công tác xử lý tang vật là động vật hoang dã.
Cụ thể, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra, do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử.” Điều này đồng nghĩa với việc động vật hoang dã sau khi tịch thu là vật chứng của vụ án và chỉ có quyết định tịch thu và xử lý sau khi vụ án kết thúc.
Tuy nhiên, theo ông Thái, trên thực tế, nhiều vụ án có thể kéo dài trong nhiều tháng và hệ quả của việc lưu giữ động vật quá lâu có thể khiến chúng bị chết tại cơ quan bảo quản tang vật hoặc các cơ sở cứu hộ. Điều này rất dễ xảy ra bởi nhiều loài động vật hoang dã rất khó nuôi trong môi trường nhân tạo, chúng vốn ăn thức ăn tự nhiên, không quen với việc nuôi nhốt và một số loài sống đơn lẻ.
“Thậm chí, khi được đưa về các cơ sở cứu hộ thì bản thân các cơ sở này cũng không đủ điều kiện để chăm sóc trong thời gian vài tháng hoặc cả năm. Đơn cử như đối với 70 cá thể tê tê nêu trên, chỉ riêng tiền thức ăn hàng tháng đã lên đến gần 99 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, nguồn ngân sách của Trung tâm phục vụ mục đích cứu hộ khá hạn hẹp, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn kinh phí phi lợi nhuận từ những tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước,” ông Thái nói.
Chia sẻ từ góc độ cơ quan thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, bà Hà Thị Tuyết Nga, Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cũng cho rằng, việc chăm sóc tê tê phải trông vào nguồn tài chính nước ngoài đang là thách thức, khó khăn đối với các trung tâm bảo tồn sau tịch thu tang vật.
Theo bà Nga, hiện nay, nguồn lực tài chính của nhà nước cho việc bảo vệ động vật hoang dã còn hạn hẹp, mới chỉ để bố trí lương cho cán bộ và một số hoạt động về nghiên cứu khoa học, bảo tồn khác. Bà cũng khẳng định, Vườn quốc gia Cúc Phương là nơi tuyệt vời nhất, có khả năng chăm sóc, chữa trị cho động vật rất tốt. Vì vậy, dù ở hoàn cảnh nào thì vẫn phải có đủ nguồn lực và thức ăn cho tê tê.
Chính vì vậy, để duy trì nguồn thức ăn chăm sóc tê tê trong lúc đang vướng luật, theo bà Nga, Vườn quốc gia Cúc Phương trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp sẽ phải có văn bản, đề nghị bằng chương trình, xây dựng đề án để được bố trí nguồn kinh phí. “Tuy nhiên, việc xin kinh phí này cũng rất bị động, bởi Vườn quốc gia Cúc Phương họ không biết năm nay tịch thu, bắt giữ bao nhiêu cá thể để nói kinh phí bao nhiêu là đủ. Đây cũng là câu chuyện rất khó,” bà Nga nói.
Trước đó, trao đổi với phóng viên báo VietnamPlus vào chiều 19/10, đại diện Vụ Bảo tồn Thiên nhiên (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết, thời gian qua, Vụ Bảo tồn Thiên nhiên, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức họp bàn, tuy nhiên việc tái thả tê tê về rừng là vấn đề "xương xẩu," rất khó giải quyết.Đại diện Vụ Bảo tồn Thiên nhiên cũng cho biết, để giải quyết dứt điểm thì cần phải xây dựng một cái Thông tư hướng dẫn, hay văn bản quy phạm pháp luật để có thể “cân nhắc” đối với những trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, để xây dựng được Thông tư, hay văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn này là rất khó, và phải mất đến 2 năm. (Vietnam + 10/11) đầu trang(
Từ đầu năm 2015 đến nay, tình trạng phá rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận diễn biến phức tạp.
Các cơ quan chức năng của hai tỉnh đã phát hiện, xử lý 390 vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển lâm sản, phá rừng trái phép, thu giữ gần 200m3 gỗ cùng nhiều tang vật, phương tiện.
Tại hội nghị bàn giải pháp xử lý tình trạng phá rừng giáp ranh vừa được tổ chức, lãnh đạo hai địa phương thống nhất thành lập các chốt liên ngành bảo vệ rừng; hỗ trợ đồng bào vùng dân tộc thiểu số đất ở và giải quyết việc làm; thường xuyên thực hiện chế độ giao ban trao đổi thông tin trong quản lý, bảo vệ rừng; phối hợp xử lý các đối tượng phá rừng, chống người thi hành công vụ… (Quân Đội Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Ngày 10-11, Đội Cảnh sát giao thông phối hợp cơ quan điều tra Công an huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) đã mật phục, bắt giữ một xe tải vận chuyển gỗ lậu lưu thông trên quốc lộ 28B (đoạn qua xã Tà In, Đức Trọng).
Tiến hành kiểm tra xe tải BKS 60N-8786, do Hà Xuân Dương (33 tuổi, ngụ TP Đà Lạt, Lâm Đồng) điều khiển, cơ quan chức năng phát hiện trên xe chở 20 hộp gỗ các loại (khoảng 4 m3), một số gốc cây, rễ cây… Thời điểm kiểm tra, Hà Xuân Dương không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên.
Tại cơ quan điều tra, bước đầu Dương khai nhận, đây là số gỗ Dương được một người thuê chở từ huyện Bắc Bình (Bình Thuận) về tỉnh Đồng Nai.
Hiện cơ quan chức năng huyện Đức Trọng tạm giữ tang vật và chiếc xe tải để tiếp tục điều tra, làm rõ. (Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Cơ quan chức năng bắt giữ tang vật gồm hơn 40m3 gỗ được tập kết tại khu vực thuộc lâm phần quản lý của Công ty Khải Vi.
Ngày 10/11, cơ quan chức năng huyện Đắc G’long, tỉnh Đắc Nông tổ chức giám định hiện trường để làm rõ vụ khai thác trái phép hơn 40m3 gỗ tại lâm phần Công ty Cổ phần Nông lâm nghiệp Khải Vi (Công ty Khải Vi) – trú trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắc G’long.
Vụ việc được phát hiện ngày 6/11, khi lực lượng bảo vệ rừng của Công ty Khải Vi và Ban Lâm nghiệp xã Quảng Sơn tiến hành công tác tuần tra kiểm soát bảo vệ rừng trên địa bàn.
Cơ quan chức năng sau đó đã bắt giữ tang vật gồm hơn 40m3 gỗ, chủ yếu là gỗ sao và dầu đỏ đã được cắt xẻ, tập kết tại lô 2, khoảnh 8, tiểu khu 1695, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Khải Vi.
Ngành chức năng đồng thời bắt giữ một xe công nông độ chế cỡ lớn đang vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Bước đầu, cơ quan chức năng xác định chủ phương tiện vận chuyển gỗ trái phép là Nguyễn Văn Bưng (trú tại xã Đắc R’Măng, huyện Đắc G’long).
Ông Trần Trọng Tâm - Phó Giám đốc Công ty Khải Vi cho biết, từ năm 2006, công ty được giao quản lý bảo vệ 2700 ha đất rừng, trong đó có 1500 ha rừng tự nhiên.
Việc khai thác lấn chiếm đất rừng ở khu vực này luôn diễn biến rất phức tạp, tuy nhiên đây là vụ khai thác trái phép có số lượng lớn nhất được phát hiện. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 11/11) đầu trang(
Ngày 10-11, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải đã khảo sát, kiểm tra tình hình tích nước phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô năm 2015-2016 tại lâm phần rừng tràm U Minh Hạ…
Các đơn vị quản lý rừng đã báo cáo nhanh với lãnh đạo tỉnh, cơ bản hoàn thành phương án PCCCR mùa khô năm 2015-2016; lực lượng làm nhiệm vụ PCCCR được phân bổ đúng theo phương án đã xây dựng; các tuyến đường thủy và đường bộ chưa có lộ bê-tông đang được phát dọn thông thoáng; các chốt, chòi quan sát đã được sửa chữa; bổ sung thêm một số thiết bị cần thiết, như: máy bơm, ống, máy ICOM…
Cùng với đó, các đơn vị quản lý rừng đã tiến hành đóng các cống, đập nhằm trữ nước phục vụ PCCCR mùa khô. So với mùa khô năm 2014-2015, mực nước trên lâm phần rừng tràm U Minh hạ hiện cao hơn từ 20-40 cm.
Do ảnh hưởng của El Nino, mùa khô 2015-2016 sẽ kéo dài và trở nên gay gắt hơn mọi năm. Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đề nghị các đơn vị quản lý rừng tại địa phương phải thực hiện đúng phương án PCCCR đã được phê duyệt; những phần việc nào thực hiện trước phải khẩn trương triển khai; các đơn vị chủ rừng phải có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau khi có tình huống xảy ra; tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân địa phương chung tay tham gia công tác PCCCR… (Nhân Dân 10/11) đầu trang(
Những năm qua, công tác bảo tồn voi nhà của tỉnh Đắc Lắc đã đạt được một số kết quả bước đầu, đàn voi đã được quản lý chăm sóc sức khỏe, ý thức trách nhiệm nuôi dưỡng voi của chủ voi được nâng lên... Tuy nhiên, thời gian gần đây đàn voi nhà của tỉnh vẫn tiếp tục suy giảm nhanh, vẫn là bài toán thách thức công tác bảo tồn voi của địa phương.
Ông Nguyễn Hoài Dương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đắc Lắc cho biết: Xác định công tác bảo tồn voi là nhiệm vụ cấp bách, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo Trung tâm bảo tồn voi khẩn trương tổ chức triển khai đồng bộ các chính sách, trong đó có chính sách hỗ trợ đối với voi nhà.
Kết quả đến nay đã quản lý được số voi nhà hiện có trên địa bàn tỉnh; nắm bắt tình hình sức khỏe, khả năng sinh sản của các cá thể voi; tổ chức các đợt khám bệnh khi voi đau ốm, bị thương; hướng dẫn các chủ voi, nài voi các biện pháp chăm sóc, đối xử với voi theo cách thân thiện...
Nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài quan tâm giúp đỡ về kỹ thuật, đào tạo chuyên môn thú y cho cán bộ Trung tâm; đàn voi đã được quản lý chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng tốt hơn, số voi bệnh đã được điều trị kịp thời và phục hồi sức khỏe, qua các đợt khám định kỳ và điều trị đột xuất đã hạn chế được phần nào voi chết vì bệnh tật, già yếu làm cơ sở nghiên cứu sinh sản voi nhà theo đường tự nhiên, ý thức trách nhiệm nuôi dưỡng của chủ voi, nài voi được nâng lên...
Tuy nhiên, công tác bảo tồn voi ở Đắc Lắc vẫn còn nhiều hạn chế như voi nhà chưa sinh sản được, một số voi chết dần... Theo đó, từ năm 2012 đến nay đã có 12 voi nhà chết, riêng 6 tháng đầu năm 2015 đã có 5 con voi nhà chết do già yếu, tai nạn khi chăn thả tại những khu vực đồi núi cao, bị sát hại...
Ngoài ra, do áp lực về kinh tế các chủ voi xem voi là lao động chính trong gia đình nên đã sử dụng voi để khai thác phục vụ du lịch quá sức cũng là nguyên nhân tác động xấu tới sức khỏe và tuổi thọ của voi. Hiện nay toàn tỉnh có 43 cá thể voi nuôi, trong đó có 25 cá thể cái và 18 cá thể đực, nuôi tại H. Buôn Đôn 24 cá thể và H. Lăk 19 cá thể.
Những khó khăn trong công tác bảo tồn voi là do ngân sách Nhà nước bố trí hạn chế; nguồn thức ăn từ tự nhiên cho voi ngày càng khan hiếm do diện tích rừng tự nhiên nơi chăn thả truyền thống của voi ngày càng bị thu hẹp; nguồn lực đầu tư cho các khu chăn thả tự nhiên chưa thực hiện được; trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn voi còn hạn chế; số lượng voi nuôi quá ít; voi đa số đã già... làm cản trở việc chăm sóc sức khỏe, bảo tồn và phát triển đàn voi nhà hiện nay cũng như trong tương lai trên địa bàn.
Do vậy ngoài việc bố trí nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác này, vẫn cần lắm sự quan tâm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trong việc hiến kế, đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn voi có hiệu quả trong thời gian tới. (Công An TP.Đà Nẵng 11/11) đầu trang(
Công ty TNHH Trường Khánh đã thực hiện việc đầu tư chuyển đổi khu du lịch sinh thái kết hợp nuôi động vật hoang dã Đầm Dơi thành khu trang trại nuôi tôm trái phép.
Tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận đầu tư giao Công ty TNHH Trường Khánh 128,15 ha sân chim Đầm Dơi thực hiện Dự án đầu tư Du lịch sinh thái kết hợp gây nuôi động vật hoang dã với tống vốn đầu tư 90 tỷ đồng vào cuối năm 2012. Từ đó đến nay, công ty nhiều lần bị phát hiện phá rừng, biến sân chim thuộc loại lớn nhất của Cà Mau thành vuông tôm, gây ảnh hượng nặng nề đối với công tác phục hồi vườn chim, tạo bức xúc lớn trong dư luận.
Thực tế khi tiếp cận sân chim Đầm Dơi không còn nhận ra đây là sân chim một thời vang danh của vùng đất Cà Mau. Theo thống kê, trước kia, sân chim có 61 loài thực vật, 16 loài thú, 116 loài chim; trong đó, 15 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, giờ đây, số lượng chim đếm được chưa đầy một bàn tay.
Từ khi cấp phép cho doanh nghiệp làm khu du lịch sinh thái nhiều năm nay chỉ thấy doanh nghiệp đầu tư cải tạo để làm vuông tôm. Trong khi đó, sân chim vốn là tài sản vô giá cần được bảo tồn nhưng doanh nghiệp lại sử dụng sai mục đích, lấy đất nuôi tôm như vậy, chim nào về ở nữa, ông Trương Văn Hạnh, ấp Tân Tân Thành, xã Tân Dân bức xúc.
Ông Nguyễn Như Vàng, Chủ tịch xã Tân Dân cho biết, sân chim trước đây là rừng đặc dụng, khu di tích của huyện Dầm Dơi. Khi tỉnh có quy hoạch sẽ làm khu du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn động vật hoang dã, người dân địa phương vui mừng bởi bộ mặt nông thôn có cơ hội thay đổi. Kinh tế vì thế sẽ khá hơn khi người dân địa phương được tham gia làm du lịch. Tuy nhiên, thực tế số lượng chim, cò cùng động vật hoang dã thưa thớt từng ngày khiến người dân lo lắng.
Gặp ông Trần Văn Bình, người tự giới thiệu là quản lý sân chim cho biết, công ty đã đưa cơ giới vào cải tạo sân chim để nuôi tôm hơn 2 năm nay. Hiện tổng diện tích mặt nước sử dụng nuôi tôm quảng canh khoảng trên 70 ha. Sau 3 năm, “thành quả” doanh nghiệp này mang lại cho sân chim là việc đào bới thành vuông nuôi tôm. Hạng mục “hạ tầng” duy nhất được doanh nghiệp “đầu tư” là 2 cái cống dùng đưa nước mặn phục vụ nuôi tôm.
Ông Trần Văn Việt, ấp Tân Thành A, xã Tân Dân lo lắng, với việc đưa nước mặn vào sân chim như hiện nay chim sẽ khó quay lại như trước kia. Đất không lành, chim không đậu cũng là lẽ tự nhiên. Ngày xưa mỗi lần đi qua sân chim vào buổi chiều có khi phải mặc áo mưa vì phân chim bay xuống như mưa. Nhưng hiện tìm mỏi mắt chẳng thấy chim đâu.
Trong các năm qua, dù Ủy ban tỉnh đã nhiều lần chỉ đạo thành lập đoàn thanh, kiểm tra, nhắc nhở nhưng công ty TNHH Trường Khánh cố tình chây ỳ, làm sai nội dung cam kết trong dự án. Không những thế lực lượng kiểm lâm đã nhiều lần phải xử phạt công ty về hành vi phá rừng. Ngày 29/10/2015, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có quyết định chấm dứt hoạt động của dự án và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với công ty.
Tuy nhiên, đằng sau nó là hậu quả nặng nề khó khắc phục, ông Lê Thanh Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Cà Mau cho biết, trước đây, địa phương có một số vườn chim lớn, quy tụ hàng trăm loài như vườn chim Chà Là (thuộc huyện Cái Nước), vườn chim Đầm Dơi, gần đây nhất là vườn chim nhân tạo tại trung tâm thành phố Cà Mau.
Nhưng hiện những vườn chim này dần trở nên hoang phế, chim không về như trước. Tỉnh chưa có quy chế quản lý vườn chim cụ thể, chim xuất hiện trên phần đất hộ gia đình nào, gia đình đó tự quản lý. Trong khi đó, các biện pháp hỗ trợ, bảo vệ và duy trì vườn chim này từ ngành chức năng hầu như vắng bóng.
Thiết nghĩ, việc lựa chọn nhà đầu tư để đầu tư vào một lĩnh vực đặc thù đòi hỏi cân bằng giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội mà ở đó là bảo tồn bản sắc vùng đất Cà Mau. Địa phương cần có cơ chế quản lý cụ thể, đồng bộ khuyến khích bảo tồn, phát triển vườn chim, nhất là vườn chim của hộ gia đình để Cà Mau mãi là vùng “đất lành - chim đậu”. (Bnews 10/11) đầu trang(
Trong hai ngày 10-11/11, Hội thảo "Khảo sát các loài thú theo phương pháp chuẩn nhằm hỗ trợ thực thi pháp luật và đánh giá mức độ thành công nhìn từ công tác bảo tồn sinh học rừng cảnh quan thiên nhiên Trung Trường Sơn" đã diễn ra tại thành phố Huế.
Hội thảo là hoạt động trong khuôn khổ dự án "Dự trữ cácbon và bảo tồn đa dạng sinh học rừng," gọi tắt là Dự án Carbi do Bộ Môi trường, Bảo tồn và An toàn, Cộng hòa liên bang Đức tài trợ, thực hiện trong giai đoạn 2011-2016.
Mục tiêu của hội thảo là tham vấn các bên liên quan nhằm chia sẻ những bài học kinh nghiệm, các cơ hội và thành thức của việc áp dụng phương pháp chuẩn trong giám sát đa dạng sinh học; xác định những nhu cầu để tiếp tục triển khai và mở rộng những hoạt động thực thi pháp luật và khảo sát đa dạng sinh học trong những năm tiếp theo; đồng thời đề xuất cho một chương trình quốc gia về khảo sát đa dạng sinh học của các loài thú được chuẩn hóa.
Hội thảo tập trung đánh giá kết quả thu thập từ các khu bảo tồn trong khu vực thời gian qua góp phần ngăn chặn nạn phá rừng và suy thoái rừng tại khu vực biên giới Nam Lào và miền Trung Việt Nam, đặc biệt là các khu bảo tồn Vườn Quốc gia Bạch Mã, Khu bảo tồn Sao la tỉnh Quảng Nam, Khu Bảo tồn Sao la Thừa Thiên-Huế nằm tại khu vực phía nam của vùng Trung Trường Sơn. Khu vực này rất giàu có về đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng cho người dân và các ngành kinh tế tại khu vực.
Bên cạnh đó, để bảo vệ loài sao la quý hiếm và những loài nguy cấp khác có giá trị sinh học cấp toàn cầu, những hoạt động của dự án Carbi còn được thực hiện ở khu vực biên giới tiếp giáp với Vườn Quốc gia XeSáp (Lào) tạo mối liên kết các khu bảo tồn và các hành lang sinh học trong vùng Trung Trường Sơn. Việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Chính phủ ở Việt Nam và Lào để tăng cường bảo vệ các khu vực bảo tồn cũng được thực hiện trong khuôn khổ dự án Carbi.
Theo ông Đinh Khắc Đính, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế, tại Thừa Thiên-Huế, kết quả đạt được của dự án Carbi là qua giám sát đa dạng sinh học đã phát hiện các loài sao la và mang ở cảnh quan Trung Trường Sơn, từ đó hình thành mô hình đội tuần tra bảo vệ rừng, thành lập Khu bảo tồn Sao la ở tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Kết quả này đã góp phần giảm thiểu các mối đe dọa đối với sao la và các loài động vật nguy cấp, bảo vệ nguyên vẹn cảnh quan thiên nhiên Trung Trường Sơn, tăng cường các giải pháp kỹ thuật trong giám sát và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học; đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân các địa phương.
Trên cơ sở thành công bước đầu của dự án, Viện nghiên cứu động vật và thiên nhiên Leibniz tiếp tục nghiên cứu về tính đa dạng của sự sinh tồn và các mối tương tác giữa động vật hoang dã với con người và và môi trường sống của chúng; tổng hợp nghiên cứu định hướng ứng dụng để xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất ra các phương pháp mới để bảo tồn các loài động vật hoang dã; đồng thời sử dụng chủ yếu các kỹ thuật không gây tác động đến cảnh quan khu vực, như hệ thống bẫy ảnh giúp nghiên cứu loài và quần thể của chúng.
Viện nghiên cứu động vật và thiên nhiên Leibniz cũng xác định nhu cầu trong những năm tiếp theo để điều chỉnh, tiếp nối và mở rộng các hoạt động thực thi pháp luật cũng như nghiên cứu về đa dạng sinh học rừng cảnh quan thiên nhiên Trung Trường Sơn. (Vietnam + 11/11) đầu trang(
Nằm cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hơn 50km về phía Nam, rừng ngập mặn Cần Giờ là một trong những địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng đối với nhiều du khách.
Hệ thống sông ngòi ở huyện Cần Giờ chằng chịt, nguồn nước từ biển đưa vào bởi hai cửa chính hình phễu là vịnh Đông tranh và vịnh Gành rai. Nếu di chuyển bằng đường thủy, ca-nô hoặc tàu du lịch sẽ đưa quý khách thưởng ngoạn cảnh quan sông nước, hệ thực vật đặc trưng của rừng ngập mặn và các loại hình đánh bắt thuỷ hải sản của ngư dân Cần Giờ.
Sự phục hồi và phát triển tốt của hệ sinh thái rừng ngập mặn đã biến vùng đất hoang hóa, trơ trụi bị hủy diệt năm xưa trở thành những cánh rừng xanh tươi bạt ngàn, cảnh quan tươi đẹp và môi trường sống thuận lợi cho các loài sinh vật sinh sôi, phát triển. Hệ sinh thái rừng Cần Giờ có 700 loài động vật thủy sinh, 137 loài cá, hơn 40 loài động vật có xương sống, khoảng 130 loài chim đang sinh sống. Nhiều loài chim thú quý trở lại và tăng đàn rất nhanh.
Điểm đến tiếp theo không thể bỏ qua tại Cần Giờ đó là “đảo khỉ” - nơi tập trung gần 2.000 con khỉ được thả trong rừng tự nhiên. Du khách sẽ được tắm mình trong bầu không khí trong lành, hoang sơ của thiên nhiên, ngắm nhìn vẻ đẹp của những thân, rễ cây đước chằng chịt của vùng rừng ngập mặn, và đặc biệt được thư giãn, trêu đùa với những chú khỉ tinh nghịch. Gần đó, những con cá sấu lớn nằm im lìm, bỗng cựa quậy khiến du khách giật mình, thót tim. Đây là điểm tham quan thú vị dành cho trẻ em và những ai yêu thích động vật, thiên nhiên hoang dã.
Nhìn những hình ảnh rừng Cần Giờ bạt ngàn màu xanh, ít ai biết rằng, cách đây hơn 30 năm, sau chiến tranh, rừng Cần Giờ vẫn còn là một khu đất trống trải, cây bụi mọc lưa thưa, dân cư đói nghèo, thưa thớt, đói nghèo. Nhưng nhờ có quá trình, phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, mảnh đất này dần thay da đổi thị, các cánh rừng dần bạt ngàn xanh tốt, xứng đáng là “lá phổi xanh” của Tp. Hồ Chí Minh.
Với ưu thế của một vùng sông nước, phong cảnh hữu tình, hệ động thực vật đa dạng, khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đang dần dần hình thành khu du lịch sinh thái độc đáo và đầy tiềm năng không những của Tp. Hồ Chí Minh mà còn trên cả nước. (VOV Giao Thông 10/11) đầu trang(
Mới đây, đoàn cán bộ huyện Đông Hải do ông Bùi Minh Túy, Chủ tịch UBND huyện làm trưởng đoàn đã đến khảo sát diện tích rừng và công tác bảo vệ, chăm sóc rừng phòng hộ ở xã Long Điền Đông.
Huyện Đông Hải có trên 2.140ha đất rừng, trong đó có hơn 2.000ha rừng phòng hộ. Riêng xã Long Điền Đông có 462ha và một phần diện tích đất bãi bồi ven biển mở rộng từng năm.
Thời gian qua, công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được xã Long Điền Đông thực hiện khá tốt. Các hộ được giao khoán đất nuôi tôm luôn đảm bảo mực nước theo quy định, không còn trường hợp ứ nước cao làm cây rừng chết hàng loạt.
Ông Bùi Minh Túy chỉ đạo xã Long Điền Đông tiếp tục phát huy kết quả đạt được trong thời gian qua. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền công tác chăm sóc, bảo vệ và trồng mới rừng để giữ vững và mở rộng diện tích rừng hiện có. (Báo Bạc Liêu 10/11) đầu trang(
Theo dự báo, mùa khô năm 2015 đến sớm hơn hàng năm, nên đến thời điểm này, các đơn vị quản lý rừng trên địa bàn huyện U Minh chủ động khép kín cống đập giữ nước bảo vệ rừng.
Điển hình là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ – một đơn vị quản lý rừng khá lớn của huyện U Minh, với hơn 25.700 ha, đến thời điểm này công ty đã đào đắp bằng cơ giới được 24 đập lớn, xuống 12 cống. Ngoài ra, ở các khu vực dân cư trên lâm phần đơn vị quản lý đã phối hợp với chính quyền địa phương vận động Nhân dân đắp hàng trăm cái đập nhỏ theo khu hộ, đảm bảo khép kín trên diện tích lâm phần.
Tuy nhiên theo các chủ rừng cho biết, lượng nước trên lâm phần hiện tại thấp hơn so với trung bình hàng năm, việc chủ động khép kín hệ thống cống đập là điều kiện tốt để tích trữ được lượng nước ở những cơn mưa cuối mùa, đảm bảo phục vụ cho công tác phòng chống cháy rừng khi mùa khô đến. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 10/11) đầu trang(
Sáng 10/11, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tiến Hải đến kiểm tra và có ý kiến chỉ đạo đối với công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên lâm phần rừng tràm U Minh Hạ thuộc địa bàn 2 huyện Trần Văn Thời và U Minh.
Thực tế, hiện tượng El Nino đã ảnh hưởng đến tỉnh Cà Mau trong những năm gần đây, dự báo sẽ còn ảnh hưởng lớn hơn trong cuối năm 2015 và đầu năm 2016.
Hiện tượng này làm cho lượng mưa không liên tục, xuất hiện nắng hạn cục bộ và theo dự báo mùa mưa năm nay kết thúc sớm hơn 1 tháng so với bình thường, vì vậy làm ảnh hưởng trực tiếp đến công tác PCCCR. Trước tình hình đó, UBND tỉnh tranh thủ nguồn vốn từ Trung ương chi 30 tỷ đồng để phục vụ cho công tácPCCCR vào mùa khô năm 2015 – 2016, trong đó chủ yếu tập trung vào việc củng cố lực lượng chữa cháy tại chỗ, xây dựng các tuyến lộ xuyên rừng, sửa chữa cầu hư hỏng, làm chòi canh,… qua đó đảm bảo tốt hơn và xử lý kịp thời nếu có tình huống cháy xảy ra.
Qua buổi kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tiến Hải chỉ đạo trực tiếp các Sở, ngành và địa phương liên quan cần nhanh chóng xây dựng phương án PCCCR cụ thể, trong đó chú trọng xây dựng lực lượng chữa cháy với phương châm 4 tại chỗ; riêng vấn đề xây dựng, sửa chữa cầu, đường, chòi canh… cùng với việc thường xuyên kiểm tra, sử dụng thử máy chữa cháy, bộ đàm liên lạc, phương tiện di chuyển đường thuỷ phải thực hiện theo đúng kế hoạch và quy định; đối với dự án xây dựng hồ giữ nước ngọt nhằm phục vụ công tác dân sinh và PCCCR cần quy hoạch nằm trong vùng lõi có rừng, đây là dự án lớn với quy mô gần 200ha, vì vậy cần nhanh chóng kiến nghị lên Trung ương để dự án sớm triển khai thực hiện.
Rừng tràm U Minh Hạ có diện tích trồng rừng gần 40.000ha, trong đó nằm trên địa bàn huyện U Minh hơn 30.000ha và huyện Trần Văn Thời gần 10.000ha. Hiện tại, mực nước đang cao, độ ẩm thấp và chưa đưa ra mức độ cảnh báo cháy rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 10/11) đầu trang(
Từ đầu năm 2015 đến nay, tình hình rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh ổn định, không xảy ra những điểm nóng về an ninh trật tự; công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) đạt nhiều kết quả khả quan. Thành tích này có sự đóng góp lớn của lực lượng kiểm lâm các cấp trong tỉnh - lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) và PCCCR.
Xác định công tác QLBVR và ổn định tình hình rừng là cực kỳ quan trọng, lực lượng cán bộ thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các Hạt Kiểm lâm cơ sở đóng trên địa bàn chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho nhân dân tuân thủ các quy định về bảo vệ rừng.
Phát huy vai trò trong lãnh đạo, điều hành, Chi cục Kiểm lâm tỉnh chỉ đạo lực lượng cán bộ QLBVR các cấp, nhất là tại các Hạt Kiểm lâm thuộc địa bàn có nhiều rừng và đất lâm nghiệp như: Ngọc Hiển, Năm Căn, Phú Tân, Trần Văn Thời, U Minh… làm tốt công tác QLBVR và PCCCR trong mùa khô; làm tốt chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ và PCCCR tại các công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng phòng hộ, nhất là tại những tuyến rừng phòng hộ rất xung yếu ven biển và Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.
Đã qua, lực lượng kiểm lâm các cấp chủ động phối hợp với các lực lượng Biên phòng, Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân thực hiện hiệu quả công tác nắm tình hình rừng, đi sâu, đi sát bảo vệ rừng; thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội tại các khu vực rừng và đất lâm nghiệp, trồng cây gây rừng, chăm sóc và phát triển rừng, chống vận chuyển lâm sản và động vật hoang dã trái phép.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 10, toàn tỉnh xảy ra 266 vụ liên quan đến vi phạm pháp luật về rừng, giảm 41 vụ so cùng kỳ năm 2014. Theo đánh giá của ngành Kiểm lâm tỉnh, công tác QLBVR và PCCCR đã qua có bước chuyển khả quan, các loại vi phạm pháp luật về rừng từng bước được kiểm soát và bài trừ; mức độ vi phạm của các vụ việc thường không nghiêm trọng, thiệt hại về rừng không lớn; không có những điểm nóng về phá rừng, gây thiệt hại nghiêm trọng tài nguyên rừng. (Báo Đất Mũi 10/11) đầu trang(
Nhờ áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, những năm gần đây, nhiều loài động vật hoang dã (ĐVHD) quý hiếm đã được nông dân chăn nuôi thành công, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Song, để nhân rộng các mô hình này, nông dân cần được hỗ trợ nhiều yếu tố như: con giống, vốn, kỹ thuật chăn nuôi…
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, toàn tỉnh có 1.975 cơ sở gây nuôi ĐVHD với 241.888 cá thể các loại. Trong đó có nhiều loài động vật quý hiếm như rắn hổ mang, kỳ đà vân, rùa núi vàng, rùa đất lớn, cua đinh, chồn hương, công Ấn Độ, gấu ngựa… Phần lớn nông dân đầu tư chuồng trại, chăn nuôi động vật hoang dã theo kiểu tự phát.
Nhiều nông dân phát triển kinh tế theo hướng nuôi các loài ĐVHD là do giá trị thương phẩm cao. Anh Nguyễn Minh Hưng (phường Nhà Mát, TP. Bạc Liêu), chủ trang trại chăn nuôi heo rừng, cho biết: “Tôi chỉ có 1ha đất nông nghiệp nên việc nuôi tôm cho thu nhập không cao. Từ đó tôi chuyển hướng qua chăn nuôi heo rừng. Trên bờ vuông, tôi trồng 2.000m2 khoai lang để lấy lá cho heo ăn. Qua 3 năm thực hiện mô hình, giờ đây tôi có tổng đàn hơn 50 con heo rừng. Thịt heo rừng có giá trên 125.000/kg, lãi cao hơn so với nuôi các giống heo truyền thống”.
Bên cạnh thịt heo rừng có giá trị kinh tế cao, phần lớn các loài ĐVHD tương đối dễ nuôi. Nông dân có thể tận dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho chúng.
Theo nhiều người chăn nuôi ĐVHD, để phát triển hướng chăn nuôi này, Nhà nước cần hỗ trợ người nuôi, nhất là khâu con giống. Bởi, ngay cả những đối tượng nuôi thông thường như: rắn, nhím, chim le le… việc phát triển đàn đã gặp nhiều khó khăn, chứ chưa kể đến các loài quý hiếm khác.
Còn về kỹ thuật nuôi và phòng bệnh, anh Nguyễn Văn Huỳnh (người nuôi thỏ ở xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình), cho rằng: “Những năm tới, chăn nuôi ĐVHD sẽ trở nên phổ biến. Vì vậy, nông dân rất cần hỗ trợ về kỹ thuật nuôi và cách phòng bệnh của ngành Nông nghiệp. Hiện nay, phần lớn nguồn giống do người nuôi tự sản xuất, khi vật nuôi bị bệnh cũng tự tìm thuốc chạy chữa. Do đó việc mở rộng quy mô sản xuất cũng gặp nhiều khó khăn”.
Ưu thế của các mô hình chăn nuôi ĐVHD mở ra cho nông dân cơ hội làm giàu với các đối tượng nuôi mới. Song, việc làm này cũng đặt ra cho ngành Nông nghiệp tỉnh nhiều thử thách.
Theo ông Nguyễn Văn Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh: “Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên kiểm tra việc quản lý hồ sơ, sổ sách có liên quan đến công tác gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, ĐVHD thông thường. Hàng tháng, các đơn vị được phân cấp quản lý có báo cáo diễn biến số lượng vật nuôi, thông qua việc theo dõi đăng ký gây nuôi và xuất bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm.
Khó khăn lớn nhất của chúng ta hiện nay là chưa có cơ quan kiểm dịch ĐVHD, chưa tổ chức tập huấn về quản lý các loài ĐVHD cho các cơ quan quản lý, và chưa có đủ tài liệu, đầu sách nhận biết các loài ĐVHD. Bên cạnh đó, các chính sách về đầu tư vốn, định hướng bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ thiệt hại khi có thiên tai, dịch bệnh cho người nuôi ĐVHD còn hạn chế. Nông dân gây nuôi một số loài động vật không nằm trong danh mục cũng phần nào gây khó khăn cho cơ quan quản lý”.
Trước sự phát triển ồ ạt trong chăn nuôi các loài ĐVHD, thiết nghĩ ngành Nông nghiệp tỉnh cần sớm có giải pháp quy hoạch các vùng, tiểu vùng chăn nuôi để tạo điều kiện cho nông dân đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, đảm bảo phát triển bền vững. (Báo Bạc Liêu 10/11) đầu trang(
Việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức đòi hỏi phải tăng cường nguồn lực và liên kết để bảo tồn ĐDSH cho phát triển bền vững đất nước.
Việt Nam hiện đứng thứ 16 trên thế giới về tính ĐDSH. Trong đó, 10% số loài thú, chim và cá của thế giới tìm thấy ở Việt Nam. Hơn 40% số loài thực vật thuộc loài đặc hữu không tìm thấy ở nơi nào khác ngoài Việt Nam. Nhiều loài gia súc, gia cầm đã được thuần dưỡng và tuyển chọn từ hàng ngàn năm nay.
GS. Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch các ngành Sinh học Việt Nam cho biết, ước tính hàng năm ĐDSH đem lại cho đất nước khoảng 2 tỷ USD từ việc khai thác các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản… Nhiều nơi, nhất là miền núi nguồn lương thực, thực phẩm, một phần nguồn thuốc chữa bệnh và mọi thu nhập chủ yếu đều dựa vào khai thác ĐDSH.
Tuy nhiên, theo thống kê, hiện nay hơn 300 loài động vật, 350 loài thực vật bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng. Cục Bảo vệ Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thống kê trong 10 năm (1996 – 2006), những loài động thực vật bị đe doạ tuyệt chủng ở Việt Nam đã tăng đến mức báo động, từ 709 đến 857 loài.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm ĐDSH như hiện nay là do việc tăng dân số nhanh, ô nhiễm môi trường, phá rừng, việc khai thác hải sản quá mức, áp dụng rộng rãi giống mới trong nông nghiệp mà chưa có sự kiểm định kỹ càng… đã dẫn đến 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt.
Bên cạnh đó, nạn buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã gia tăng đã khiến nhiều loài quý hiếm đang phải đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Theo kết quả thống kê của Cục Kiểm lâm, từ năm 2010 đến nay, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý 140.716 vụ vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Trong đó, vi phạm về quản lý động vật hoang dã là 3.823 vụ, tịch thu 58.869 cá thể động vật hoang dã, đặc biệt 3.078 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý hiếm. Việc tiêu thụ trái phép động vật hoang dã không chỉ tàn sát quần thể loài động vật trong tự nhiên mà còn phá hủy hệ sinh thái, làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cho phát triển bền vững kinh tế – xã hội.
Theo đánh giá của các chuyên gia, việc bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam chưa đạt hiệu quả một phần lớn là do chưa có sự liên kết giữa các đơn vị quản lý, vẫn có sự chồng chéo trong các quy định. TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đánh giá, chúng ta đã có đầy đủ căn cứ pháp lý như Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Thủy sản; Luật Đa dạng sinh học… Tuy nhiên, vẫn còn thiếu tính liên kết giữa các đơn vị liên quan, nhiều khi bị chồng chéo trong quản lý.
“ĐDSH là một tổng thể không thể tách rời nên dù được phân thành các ngành khác nhau như nông nghiệp, thuỷ sản, môi trường để quản lý nhưng không có nghĩa là từng ngành, từng bộ chỉ cát cứ trong khuôn khổ được phân công nhưng thực tế hiện nay đang quản lý như vậy”, TS. Nguyễn Ngọc Sinh cho biết.
Một số chuyên gia đề xuất, việc phân cấp phân quyền bảo tồn ĐDSH như hiện nay đã đến lúc cần thay đổi, nên có sự tập trung hóa. Hiện có 6 vườn quốc gia thuộc quản lý của Trung ương, còn hơn 200 các khu bảo tồn thuộc quản lý của địa phương mà các địa phương thường chưa có chính sách ưu tiên cho việc bảo tồn này, chủ yếu ưu tiên cho việc phát triển thủy điện…
“Một số địa phương nghèo mà gánh nhiều khu bảo tồn thì họ sẽ không đủ kinh phí, trình độ quản lý sẽ gây nhiều hệ lụy. Ví dụ như Hà Giang là địa phương nghèo với dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số lại có đến 7 khu bảo tồn thì đây là thách thức về chính sách cũng như nguồn vốn đối với địa phương. Vì vậy, chúng ta có nên xem xét liên kết, phân cấp để cơ quan trung ương sẽ đứng ra quản lý hệ thống 200 khu bảo tồn đó”, ông Trịnh Lê Nguyên, Trung tâm Con người và Thiên nhiên đề xuất.
Sự nghiệp bảo tồn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tài chính và trình độ dân trí quốc gia, vì vậy, theo nhiều ý kiến chuyên gia, cần đề ra những hoạt động liên kết cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao vai trò cộng đồng trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đặc biệt trong việc tổ chức thực hiện các giải pháp bảo tồn ĐDSH, trong đó nhấn mạnh đến việc quản lý rừng cộng đồng với sự tham gia của người dân. Tổng cục Môi trường và Tổng cục Lâm nghiệp cần thống nhất một kế hoạch hành động có sự tham gia của cộng đồng nhằm khắc phục các trở ngại hiện nay”, TS. Nguyễn Ngọc Sinh nhấn mạnh. (Môi Trường Và Đời Sống 10/11) đầu trang(
Chiều 10-11, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Trí đã có buổi làm việc với Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai về tình hình bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển trong 10 tháng đầu năm 2015.
Tại đây, Phó chủ tịch UBND tỉnh biểu dương Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, tài chính, nhưng đã có nhiều cố gắng hoàn thành tốt công việc trong thời gian qua. Trong đó, Ban quản lý đã duy trì thường xuyên việc phối hợp với ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, các địa phương xung quanh và các Tổ chức quốc tế tổ chức các lớp tập huấn tuyên truyền, các buổi học ngoại khóa, làm phim tư liệu và xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học…
Tuy nhiên, Phó chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai sắp tới cần quan tâm đến những việc cụ thể hơn, như: phối hợp với các sở, ngành rà soát lại những nguy cơ tác động xấu đến khu sinh quyển; mở rộng mật độ tuyên truyền để người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của đa dạng sinh học; quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ, nhất là tạo điều kiện cho các thành viên ban quản lý có cơ hội tham quan 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam để nghiên cứu, học tập kinh nghiệm phát triển... (Báo Đồng Nai 11/11) đầu trang(
Ngày 9/11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Công an tỉnh tổ chức lễ khai giảng lớp tập huấn về quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng cho 20 công chức lãnh đạo ở các Hạt, Đội Kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Học viên tham dự khóa học được cán bộ chuyên môn của Công an tỉnh hướng dẫn thực hành về kỹ thuật tháo, lắp, bảo quản súng ngắn K-59 và một số công cụ hỗ trợ đã trang bị cho lực lượng Kiểm lâm như súng ngạt, roi điện. Lớp tập huấn này sẽ giúp cho lãnh đạo các Hạt, Đội Kiểm lâm nâng cao kiến thức pháp luật, trách nhiệm quản lý Nhà nước trên lĩnh vực quản lý sử dụng vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ.
Đây còn là cơ sở để lãnh đạo các đơn vị triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng ở cơ sở một cách có hiệu quả. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 10/11) đầu trang(
Trong cơn mưa nặng hạt, giữa đêm tối mịt mùng, nhà nghiên cứu Phùng Mỹ Trung lặng lẽ tìm kiếm ở đám cây bụi nằm sát biển và điều kỳ diệu đã đến - anh tìm ra loài mới thằn lằn chân ngón tạo.
Loài thằn lằn mới có tên khoa học là Dixonius taoi, còn gọi là thằn lằn chân ngón tạo, vừa được phát hiện ở đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Nó được đặt theo tên của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên Tạo (Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam) nhằm vinh danh những đóng góp to lớn của ông trong lĩnh vực nghiên cứu bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam.
Loài mới dài khoảng 44 mm, có 7-8 vảy môi trên, 11-12 hàng u lồi quanh giữa thân, 21-23 hàng vảy bụng. Thân màu nâu với những đốm vàng xếp thành hai hàng chạy song song dọc hai bên sườn, lưng có nhiều vệt nâu sẫm tạo thành hình mạng lưới.
Đây là loài thứ năm thuộc giống Dixonius (thằn lằn chân lá) được phát hiện ở Việt Nam. Loài bò sát kiếm ăn đêm này thường sống ở rừng sát biển và khu vực đất nông nghiệp thấp, nơi có nhiều lớp đá mặt bị nước cuốn tạo nên bề mặt nhẵn. Đôi lúc, giới khoa học thấy chúng nằm lẫn trong đám lá khô ở rừng. Thức ăn của loài là côn trùng sống trong khu vực.
Nhà nghiên cứu bò sát lưỡng cư Phùng Mỹ Trung nhớ lại ngày đến đảo Phú Quý đúng lúc trời mưa to gió lớn. Sau gần một ngày trên tàu, cuối cùng anh cũng đặt chân đến đảo nhưng không mấy vui khi chứng kiến toàn bộ khu rừng ở đây đã bị tàn phá. "Hầu hết là đất canh tác nông nghiệp của những hộ dân trên đảo, chỉ còn một số loài cây dứa dại Pandanus odoratissimus mọc ở một vài khu vực còn sót lại ven biển", anh Trung nói.
Với kiểu sinh cảnh này, anh nghĩ sẽ chẳng còn con bò sát nào tồn tại. Nhưng đam mê của một người nghiên cứu không cho phép anh ngừng hy vọng về những loài còn sót lại ở vùng đảo bị tàn phá đến cạn kiệt này.
Trong cơn mưa nặng hạt, bầu trời đêm mịt mùng cùng gió biển, Phùng Mỹ Trung lặng lẽ tìm kiếm trong các đám cây bụi còn sót lại nằm sát biển và khu vực đất nông nghiệp. "Cái lạnh của những cơn gió biển đã thấm sâu vào da thịt. Nhưng tôi vẫn không dừng bước, tìm mãi, tìm mãi, cuối cùng thì trời không phụ lòng người khi vào khoảng 2h sáng, tôi thu được hai mẫu cá thể con non thuộc giống Dixonius", anh Trung kể. Từ đó, anh hy vọng sẽ bắt thêm vài cá thể trưởng thành và điều kỳ diệu đã đến trong niềm hân hoan khó tả.
Nói về nghiên cứu trên, tiến sĩ Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật) cho rằng, các phát hiện mới ở vùng biển đảo Việt Nam có vai trò rất quan trọng, bởi không chỉ đánh giá nỗ lực của các nhà nghiên cứu Việt Nam mà còn khẳng định chủ quyền quốc gia. "Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều nhà khoa học trẻ làm vinh danh người Việt", ông Trường nói. (VnExpress 10/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Cùng với các địa phương khác, huyện Chợ Mới đang triển khai cho người dân đăng ký trồng rừng năm 2016. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện, đến thời điểm này số diện tích đăng ký trồng rừng của các hộ dân đã vượt trên 560ha so với chỉ tiêu được giao.
Năm 2016, huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng 1.440ha rừng. Trong đó, diện tích trồng rừng mới được ngân sách nhà nước hỗ trợ là 740ha; diện tích trồng rừng sau khai thác là 700ha.
Đến thời điểm này, người dân các xã, thị trấn đã đăng ký trồng trên 2.000ha rừng, vượt chỉ tiêu giao hơn 560ha. Do vậy Ban Quản lý dự án Bảo vệ và Phát triển rừng huyện đã đề nghị UBND các xã, thị trấn tổ chức rà soát lại toàn bộ diện tích đã đăng ký trồng rừng, phân theo từng loại rừng cụ thể.
Căn cứ chỉ tiêu trồng rừng được giao và diện tích các xã đăng ký, Ban Quản lý dự án Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Chợ Mới sẽ tổng hợp và phân bổ cụ thể diện tích thực hiện trồng rừng năm 2016 cho các xã, thị trấn. Ưu tiên đối với những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đăng ký tham gia trồng rừng theo dự án năm đầu tiên hoặc có ít diện tích rừng trồng trong 3 năm trước liền kề. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 10/11) đầu trang(
Đến cuối tháng 10-2015, toàn tỉnh mới trồng mới 1.439ha/1.710 ha rừng, đạt 84% kế hoạch. Chỉ còn khoảng 1 tháng nữa là kết thúc mùa vụ trồng rừng năm 2015, nhưng công tác trồng rừng hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Theo Chi cục Phát triển lâm nghiệp, trong giai đoạn 2009 - 2014, do có nguồn vốn của Dự án FLITCH hỗ trợ 400-500USD/ha/chu kỳ (rừng sản xuất) và 1.000USD/ha/chu kỳ (rừng phòng hộ), nên hằng năm các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện trồng rừng đạt từ 3.500-4.000ha/năm.
Năm 2015, dự án FLITCH kết thúc, nguồn vốn hỗ trợ trồng rừng do đó cũng gặp nhiều khó khăn nên các đơn vị, chủ rừng trong tỉnh chỉ đăng ký trồng mới 1.710 ha; đến cuối tháng 10-2015 toàn tỉnh đã trồng được 1.439 ha. Trong đó, có 6/11 đơn vị đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng của năm gồm: Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lắk, UBND huyện Krông Na, Công ty TNHH Đức Hải, Công ty TNHH Tân Tiến Ea H’leo.
Trong số 5 đơn vị chưa hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm nay, ngoài 3 đơn vị do thời vụ trồng rừng chưa kết thúc như M’Đrắk, Ea Kar, Krông Bông vẫn đang tiếp tục triển khai thực hiện thì có 2 đơn vị khó có thể hoàn thành kế hoạch là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Phả và Phước An. Cụ thể, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Phả mới chỉ trồng được 8/140 ha, nguyên nhân do diện tích đất trồng rừng đang trong tình trạng bị người dân lấn chiếm, chưa thu hồi được; Công ty Phước An, cũng đang lâm vào tình trạng tương tự, trong số 320 ha đăng ký, đơn vị trồng được 220 ha, còn 73 ha đang tranh chấp với người dân.
Theo như chia sẻ của các công ty lâm nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh những năm gần đây gặp khá nhiều khó khăn, kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, thiếu vốn, chỉ tiêu trồng rừng vì vậy cũng giảm qua các năm. Bên cạnh đó là tình trạng tranh chấp đất với người dân ở một số đơn vị vẫn chưa được giải quyết triệt để; các đơn vị này đều thiếu nguồn lực tài chính, không tiếp cận được với vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, thời tiết năm 2015 cũng có nhiều bất thường, lượng mưa ít, nắng nóng kéo dài do ảnh hưởng của El Nino cũng gây nhiều bất lợi cho công tác trồng rừng.
Còn đối với trồng rừng thay thế, toàn tỉnh hiện có 57 dự án chuyển đổi rừng sang mục đích khác và phải trồng rừng thay thế với diện tích 2.253,4 ha, trong đó, diện tích rừng chuyển đổi để xây dựng các công trình thủy điện 263,5 ha, chuyển đổi xây dựng các công trình mang tính chất kinh doanh 286,8 ha và các công trình công cộng 1.703 ha.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ NN-PTNT về rà soát các dự án đã triển khai chuyển đổi rừng sang mục đích khác cần phải trồng rừng thay thế, giai đoạn 2006 – 2013, các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành rà soát, thống kê lại tất cả những diện tích rừng này và làm việc với các đơn vị là đối tượng phải trồng rừng thay thế để hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục triển khai việc trồng rừng.
Đồng thời UBND tỉnh cũng ban hành quyết định về giá trồng rừng thay thế để những đơn vị, tổ chức trồng rừng thay thế có thể nộp tiền (bù trồng rừng) vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh; theo đó, cơ quan chức năng sẽ phân bổ nguồn tiền này cho các chủ rừng đủ điều kiện để trồng rừng thay thế.
Trong năm 2015, đã phân bổ kinh phí cho 2 đơn vị: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông và Ea Wy để trồng bù 125 ha rừng. Như vậy, đến nay các dự án thủy điện phải trồng rừng thay thế đã cơ bản trồng bù đủ diện tích, chỉ còn Dự án Thủy điện Ea Đrăng của Công ty Cổ phần Thủy điện Đắk Lắk với diện tích trên 38 ha sẽ chuyển qua năm 2016 vì DN gặp khó khăn xin được gia hạn thời gian nộp tiền. Đối với các công trình kinh doanh, diện tích rừng thay thế cũng đạt gần 50 %, Chi cục Lâm nghiệp hiện đang đôn đốc để các đơn vị tiếp tục triển khai thực hiện.
Riêng 1.710 ha rừng được chuyển đổi mục đích để thực hiện các công trình an ninh quốc phòng, thủy lợi, đường giao thông, tái định cư… hiện nay chưa thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế do chưa có kinh phí. Công văn số 5211/VPCP-KTN ngày 7-7-2015 của Văn phòng Chính phủ nêu rõ, đối với dự án đã thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trước ngày 1-7-2013 được đầu tư từ ngân sách Nhà nước, Bộ Kế hoạch – Đầu tư phối hợp với Bộ NN-PTNT và các cơ quan liên quan cân đối nguồn vốn theo quy định để bố trí cho các địa phương thực hiện trồng rừng thay thế từ năm 2016 đến 2018.
Để bảo đảm tiến độ trồng rừng thay thế đối với 1.703 ha rừng chuyển đổi mục đích để xây dựng các công trình công cộng trên địa bàn tỉnh, Sở NN – PTNT đề nghị UBND tỉnh có văn bản trình bộ, ngành liên quan với tổng kinh phí tạm tính trên 114 tỷ đồng. (Đắk Lắk 24H 9/11) đầu trang(
Trong những năm qua, các cấp, các ngành, các địa phương có liên quan trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai trồng thay thế diện tích rừng chuyển đổi mục đích sang xây dựng các công trình thủy điện và các công trình dân sinh.
Để tổ chức thực hiện trồng rừng thay thế (TRTT), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu cho UBND tỉnh phân bổ kế hoạch giao vốn cho các ban quản lý dự án trồng rừng ở cơ sở (là các ban quản lý dự án trồng rừng 147 cấp huyện) triển khai thực hiện.
Trong đợt 1 (vụ xuân năm 2015) giao cho 14 ban quản lý cấp huyện thực hiện với diện tích trồng rừng là 2.441 ha; đợt 2 (vụ thu 2015 và vụ xuân 2016) giao cho 8 ban quản lý dự án cấp huyện với diện tích trồng rừng là 2.240 ha. Ngay từ vụ xuân, đến hết tháng 9-2015, các địa phương đã tập trung triển khai quyết liệt và TRTT được 2.502 ha, đạt 102,4% kế hoạch.
Đạt được kết quả trên, ngành lâm nghiệp đã thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra, đôn đốc kế hoạch trồng rừng và thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng trồng rừng được giao. Ý thức cao trong chấp hành pháp luật của các chủ dự án có diện tích chuyển đổi lớn, như: Thủy điện Trung Sơn, Thủy điện Bá Thước, Thủy điện Hồi Xuân...
Mặc dù vậy, việc TRTT hiện nay đang gặp phải những khó khăn, như: một số chủ đầu tư chưa lập dự toán TRTT trong tổng kinh phí dự án nên cần có thời gian bổ sung; do kế hoạch trồng rừng năm nay và những năm tới của tỉnh khá lớn, nên khi triển khai công tác TRTT phải có sự chuẩn bị về cây giống, vật tư, nhân lực...
Tình hình thời tiết những năm gần đây diễn biến thất thường nên ảnh hưởng đến thời vụ và tiến độ trồng rừng; diện tích thiết kế trồng rừng thường phân bố không tập trung, ở khu vực xa dân cư, đồi dốc, giao thông đi lại khó khăn, bên cạnh đó việc thiếu các công trình lâm sinh trong thiết kế trồng rừng cũng ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng.
Để việc TRTT triển khai thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới, UBND tỉnh cho phép một số chủ dự án có diện tích lớn phải chuyển đổi cam kết tiến độ thực hiện phương án, nhằm giúp các chủ dự án giảm bớt áp lực về kinh phí nộp tiền ủy thác về quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Đồng thời, thông báo sớm kế hoạch giao vốn cho các đơn vị cung cấp giống, phân bón, các địa phương và ban quản lý dự án trồng rừng cơ sở có thời gian chuẩn bị. Các ngành có liên quan chỉ đạo các đơn vị, địa phương tranh thủ thời tiết thuận lợi để tổ chức trồng rừng bảo đảm chất lượng và số lượng cây sống đạt tỷ lệ cao.
Ưu tiên TRTT ở những khu vực tập trung, những diện tích được quy hoạch hoặc những diện tích rừng bị mất do cháy, sâu bệnh hại rừng; đồng thời, xây dựng các công trình lâm sinh bảo đảm an ninh rừng. (Báo Thanh Hóa 11/11) đầu trang(
Năm 2015 là năm kết thúc thực hiện trồng rừng theo Quyết định số 147 của Thủ tướng Chính phủ và tỉnh Bắc Kạn đã hoàn thành vượt kế hoạch đề ra.
Phát huy kết quả đó, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phục vụ tốt cho công tác trồng rừng năm tiếp theo. Tuy nhiên, công tác trồng rừng năm 2016 này cũng có một số điểm mới cần được người dân quan tâm.
Ngay sau khi kết thúc vụ trồng rừng năm 2015, ngày 3/9/2015 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1347/QĐ-UBND về việc tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2016 cho các địa phương với tổng diện tích 7.000ha. Các địa phương được giao chỉ tiêu trồng rừng lớn gồm các huyện: Chợ Mới, Pác Nặm, Bạch thông và huyện Chợ Đồn…
Điểm mới trong cơ chế trồng rừng năm 2016 của tỉnh đó là trong tổng số 7.000 ha thì chỉ có 4.000ha được ngân sách nhà nước hỗ trợ, trong đó rừng đặc dụng là 50ha, rừng sản xuất tập trung 3.500ha, còn lại 3.000ha người trồng rừng phải tự đầu tư. Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ đối với diện tích trồng rừng chu kỳ đầu tiên, những diện tích khai thác trồng lại thì không được hỗ trợ.
Đây là một điểm hoàn toàn khác biệt so với việc trồng rừng theo dự án 147 của Thủ tướng Chính phủ, vì thế người trồng rừng cần tìm hiểu kỹ trước khi đăng ký trồng rừng, tránh những vướng mắc nảy sinh không đáng có khi thực hiện. Được biết, diện tích trồng rừng lại chu kỳ II đã được tỉnh xác định cụ thể, trong đó nhiều địa phương diện tích này chiếm khá lớn.
Đơn cử như huyện Chợ Mới là 700ha/1.440 ha kế hoạch giao; Chợ Đồn 450/ 1.110ha kế hoạch; Bạch Thông 550ha/900ha kế hoạch... Ông Ngô Thế Cường – Phó Chi cục Trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Điểm mới khác biệt nhất của công tác trồng rừng năm 2016 là người dân trồng rừng chu kỳ 2 không được hỗ trợ. Để tham mưu được cho UBND tỉnh ra quyết định như vậy chúng tôi cũng đã tham khảo ý kiến của nhiều ngành và các địa phương…
Một điểm mới nữa của công tác trồng rừng năm 2016 đó là, theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 1026/UBND/NLN ngày 27/2/2015, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đăng ký trồng cây quế phải có sự liên doanh, liên kết giữa người trồng rừng với các doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm và phải gửi bản hợp đồng hoặc bản cam kết về Ban quản lý dự án trồng rừng các huyện, thành phố trước thời điểm thiết kế trồng rừng mới được đầu tư hỗ trợ đầu tư trồng rừng.
Nếu không có hợp đồng thì không có tiền hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Đây được xem là một trong những giải pháp để cây quế có đầu ra ổn định khi đến tuổi khai thác. Ông Ngô Thế Cường – Phó Chi cục Trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Chuẩn bị tốt cho vụ trồng rừng năm 2016 ngành tuyên truyền vận động người dân đăng ký trồng rừng theo phần 4.000ha được ngân sách nhà nước hỗ trợ và phần 3.000ha không được hỗ trợ đã được cấp vốn trước đây nay khai thác thì ngừoi dân tự bỏ vốn để trồng.
Đối với diện tích trồng rừng thuộc cải tạo để trồng rừng thì hướng dẫn ban dự án cơ sở cùng người dân lập hồ sơ trình các cơ quan phê duyệt. Thực hiện công tác thiết kế trồng rừng năm 2016, ngành chỉ đạo các ban dự án cơ sở hoàn thành thiết kế trong quý I năm 2016.
Những năm qua, công tác trồng rừng đã và đang được nhiều người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tích cực ủng hộ và thực tế nó cũng mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng rừng.
Vì vậy, để vụ trồng rừng năm 2016 hoàn thành theo đúng kế hoạch đề ra, ngay từ bây giờ, Ban quản lý dự án trồng rừng các huyện, thành phố cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương đẩy mạnh việc tuyên truyền, giải thích để người dân nắm rõ về những điểm mới trong công tác trồng rừng năm nay, tiếp tục phát huy thế mạnh kinh tế lâm nghiệp tại địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 11/11) đầu trang(
Trời mưa dầm dề mấy ngày nay, vậy mà khi đề cập được xuống thôn, đến tận hộ dân trồng nhiều rừng, chị Trương Thị Nụ, cán bộ khuyến nông xã Tân Tiến không chút ngần ngại dẫn tôi lên tận rừng keo. Tân Tiến hiện có diện tích rừng trồng của nhân dân đứng thứ 2 ở Yên Sơn, chỉ sau Hùng Lợi.
Cuối năm 2014, tổng diện tích đất tự nhiên của Tân Tiến hơn 5.600 ha, trong đó, diện tích đất có rừng trên 4.600 ha. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm gần 1.900 ha, rừng trồng trên 2.700 ha. Nhiều năm liền, xã Tân Tiến hoàn thành vượt kế hoạch huyện giao về trồng rừng. Riêng năm nay, khi chưa kết thúc trồng rừng vụ chính, tháng 7, Tân Tiến đã thực hiện được 426 ha rừng, đạt 178% kế hoạch huyện giao.
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến Hồ Ngọc Tích, cách đây mấy năm, việc vận động nhân dân trồng rừng tương đối khó khăn. Cán bộ xã phải tới từng hộ dân mời ra nhà văn hóa ký cam kết trồng rừng, thậm chí có hộ mời ra nhà văn hóa tới 3 lần mà không trồng.
Với phương châm vận động “mưa dầm thấm lâu”, tăng cường cán bộ xuống cơ sở, thậm chí là xắn tay vào trồng rừng cùng dân; thêm vào đó, giá cả thu mua gỗ rừng mấy năm nay cũng tăng cao hơn... người dân nhận thức rõ lợi ích về giá trị kinh tế của trồng rừng nên trồng rừng ở Tân Tiến đã gần như trở thành phong trào trong nhân dân.
Nhiều cán bộ xã có hàng chục hecta rừng, “chung thủy” với cây rừng ngay cả khi có nhiều loại cây màu cạnh tranh. Chẳng hạn như anh Lý Minh Hiếu, trưởng công an xã có gần 20 ha rừng đủ loại keo, mỡ, xoan. Cán bộ khuyến nông Trương Thị Nụ ngoài công việc của xã, thời gian còn lại chị chăm sóc mấy ha rừng. Vì vậy mà, vừa qua chị thu gần 60 triệu từ khai thác rừng.
Lợi ích của rừng từ chính cán bộ cho đến một số hộ khai thác rừng cho hiệu quả kinh tế cao chính là điều “mắt thấy tai nghe” khiến cho ý thức của người dân thay đổi.
Từ chỗ chưa chú trọng chăm sóc rừng, trồng thưa, không đúng quy cách kỹ thuật, không trồng dặm nếu cây gãy đổ, hoặc chết, không mấy quan tâm đến khâu chọn giống cây mà ba năm về đây, người dân Tân Tiến còn ra tận Công ty Lâm nghiệp Tuyên Bình hay về tận Phú Thọ để chọn giống cây tốt. Đối với những diện tích gãy đổ, người dân huy động nhân lực của gia đình, làng xóm đổi công để trồng dặm lại ngay.
Chúng tôi đến thôn Khấu Lấu khi tiếng máy khai thác gỗ trên cánh rừng keo nhà ông Triệu Văn Lợi còn vọng xuống cả chân núi. Ông Lợi có 3 ha rừng nhưng năm trước ông đã khai thác gần 2 ha. Thu nhập chẳng được bao nhiêu do diện tích rừng này thưa, sản lượng gỗ không được nhiều. Năm nay, ông khai thác 1,5 ha nhưng được giá gần 60 triệu đồng.
Theo ông Vũ Văn Hiển, trưởng thôn 4, năm 2015, thôn trồng mới 29 ha rừng. Hiện tại, thôn đã hết đất trồng rừng. Nhiều hộ còn tận dụng cả đất đá để trồng cây. Bà Phan Thị Quang, thôn 4 có 5 ha keo, bồ đề, xoan, mỡ. Năm 2014, bà khai thác hơn 1 ha mỡ, keo nhưng chỉ được có 17 triệu đồng do trước đây rừng không được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật.
Được cán bộ khuyến nông hướng dẫn trồng đúng kỹ thuật cùng với kinh nghiệm xương máu, sau khi khai thác, bà Quang đã trồng rừng, cây cách cây, hàng cách hàng theo đúng kỹ thuật được hướng dẫn. Đồng thời, nhận giống tốt về trồng ngay từ đầu để hạn chế việc phải trồng dặm sau này.
Cùng với việc phát triển cây rừng, Tân Tiến cũng phát triển mạnh nghề thu mua, chế biến lâm sản. Hiện nay, xã đã có 5 cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản. Do đó, việc bảo đảm đầu ra cho người trồng rừng cũng khá ổn định. Từ trồng rừng, đời sống người dân từng bước được nâng lên, tham gia đóng góp các công trình công cộng của địa phương. Tân Tiến đã bê tông gần 100% đường giao thông nông thôn.
Vượt con dốc khá dài tại thôn Khấu Lấu, trưởng thôn người Dao Triệu Văn Xuân nói, Khấu Lấu đã bê tông 100% đường giao thông thôn từ sự chung sức của Nhà nước và nhân dân, mà nguồn thu nhập lớn để làm nên con đường chính là từ kinh tế rừng. (Báo Tuyên Quang 11/11) đầu trang(
Cả nước hiện có 97 nhà máy thủy điện, thuộc 17 địa phương nợ đọng tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ năm 2011 - 2014 với số tiền trên 160 tỷ đồng.
Tính đến ngày 25/10/2015, cả nước đã thu được 1.117,78 tỷ đồng tiền DVMTR, đạt 85,49% kế hoạch năm, trong đó Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Trung ương thu 745 tỷ, các quỹ tỉnh thu 371,17 tỷ đồng.
Quỹ BV&PTR Trung ương đã giải ngân cho các tỉnh hơn 642,3 tỷ đồng, đồng thời, các tỉnh cũng đã giải ngân 360 tỷ đồng đến các chủ rừng.
Mặc dù chính sách chi trả DVMTR đã đi vào cuộc sống và mang lại mỗi năm trên 1.000 tỷ đồng cho người dân cung cấp DVMTR nhưng trong quá trình triển khai, khó khăn lớn đối với Bộ NN-PTNT vẫn là việc một số nhà máy thủy điện không ký hợp đồng ủy thác tiền chi trả DVMTR, không kê khai, chậm nộp tiền theo quy định tại hợp đồng.
Theo Quỹ BV&PTR Trung ương, cả nước hiện có 97 nhà máy thủy điện nợ đọng tiền DVMTR từ năm 2011 - 2014 với số tiền trên 160 tỷ đồng. Trong đó, số tiền nợ đọng của các nhà máy thủy điện công suất từ 30 MW trở lên là trên 64 tỷ và công suất thiết kế dưới 30 MW là trên 96,5 tỷ.
Một số tỉnh có đơn vị sử dụng DVMTR nợ đọng tiền lớn là Sơn La (trên 24 tỷ), Gia Lai (trên 23,5 tỷ), Kon Tum (trên 18 tỷ), Hà Giang (gần 18 tỷ). Các đơn vị có số nợ lớn như Thủy điện Nậm Chiến, Thủy điện Mường Hum, Thủy điện Đăk Ne, Thủy điện M’Mun...
Ngày 27/4/2015, Nghị định 40/2015/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được ban hành, trong đó có quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chi trả DVMTR.
Theo đó, với số tiền trên 500 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 3 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng sẽ bị phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc chi trả đầy đủ tiền sử dụng DVMTR và tiền lãi phát sinh từ việc chậm chi trả trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt.
Đối với mức tiền nợ thấp hơn thì các mức phạt tương ứng từ 5 - 30 triệu đồng. Nghị định này đã có hiệu lực thi hành từ 20/6/2015, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có đơn vị nào bị xử phạt.
Mới đây, Bộ NN-PTNT đã có văn bản số 8826/BNN-TCLN đề nghị UBND các tỉnh, thành phố rà soát các đơn vị sử dụng DVMTR chưa ký hợp đồng ủy thác chỉ trả, hoặc đã ký nhưng còn nợ để có biện pháp kiên quyết yêu cầu các đơn vị này thực hiện, đồng thời nghiêm túc thực hiện Nghị định 40/2015/NĐ-CP, báo cáo về Bộ trước 31/12/2015.
Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, GĐ Quỹ BV&PTR Trung ương, Bộ sẽ có những biện pháp kiên quyết xử lý để thể hiện sự nghiêm minh của luật pháp.
Trong buổi làm việc mới đây giữa Tổng cục Lâm nghiệp và Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương nhằm thảo luận các giải pháp về vấn đề nợ đọng tiền DVMTR của các nhà máy thủy điện, ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực đã khẳng định những khó khăn, vướng mắc của các nhà máy thủy điện liên quan đến thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã được giải quyết. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/11) đầu trang(
Phương án sáp nhập được đưa ra theo hình thức hoán đổi cổ phần theo tỷ lệ 1:1. Sau hoán đổi, TTF sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ công ty con và “biến” công ty con thành mô hình Công ty TNHH MTV.
Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) vừa công bố trên trang web công ty thư mời họp ĐHCĐ bất thường năm 2015 (lần 2). Cuộc họp sẽ được tổ chức vào thứ 2 tuần tới, ngày 16/11/2015.
Nội dung đáng chú ý nhất được đưa ra bàn thảo tại ĐHCĐ bất thường lần này là kế hoạch sáp nhập Gỗ Trường Thành và Công ty cổ phần Chế biến gỗ Trường Thành (BD2) – một trong những công ty thành viên của Gỗ Trường Thành.
Thực ra phương án sáp nhập đã được thông qua tại ĐHCĐ bất thường ngày 11/8/2012 của Gỗ Trường Thành. Tuy nhiên trong giai đoạn 2012, cả TTF và BD2 đều trong quá trình tái cấu trúc tài chính, việc sáp nhập đã bị trì hoãn, dành thời gian và công sức cho những mục tiêu cấp bách hơn.
HĐQT Gỗ Trường Thành cho rằng đây là thời gian thích hợp cho việc sáp nhập.
Phương án sáp nhập được đưa ra theo hình thức hoán đổi cổ phần theo tỷ lệ 1:1. Sau hoán đổi, TTF sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ công ty con và “biến” công ty con thành mô hình Công ty TNHH MTV sau đó tiến hành các thủ tục cho việc giải thể BD2 theo quy định.
BD2 có vốn điều lệ 126,2 tỷ đồng, trong đó TTF nắm giữ 64,16%. Như vậy 35,84% cổ phần của BD2 hiện đang nằm trong tay các cổ đông khác TTF – tương đương 4,5 triệu cổ phần.
Theo phương án trình ĐHCĐ, TTF sẽ phát hành hơn 4,5 triệu cổ phần để hoán đổi cho số lượng tương đương cổ phiếu BD2, dành cho những cổ đông của BD2. Sau phát hành, vốn điều lệ của TTF sẽ tăng thêm tối đa 45 tỷ đồng. (Cafef 10/11) đầu trang(
Các nông, lâm trường đang quản lý khoảng 8 triệu ha đất, nhưng trong 10 năm (2004-2014) chỉ nộp ngân sách được 1.800 tỉ đồng, tính bình quân chỉ đạt 90.000 đồng mỗi ha/năm, tương đương khoảng 5kg gạo, theo thông tin từ một số đại biểu Quốc hội.
Rất nhiều thiếu sót trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh đã được các đại biểu Quốc hội nêu ra trong phiên họp hôm nay, 10-11.
“Hầu hết các nông, lâm trường, trạm, trại đều không có bản đồ, hồ sơ địa chính, việc thống kê, kiểm kê và rà soát hiện trạng sử dụng đất hàng năm thực hiện không đầy đủ,” đại biểu Chu Sơn Hà (Hà Nội) nói.
Ông cho biết, tại nhiều đơn vị, chênh lệch giữa diện tích đất hiện đang quản lý với diện tích được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất lớn, lên đến hàng trăm héc ta.
Đại biểu Dương Hoàng Hương (Phú Thọ) đồng tình, cho rằng phần lớn các đơn vị sử dụng đất nông, lâm nghiệp có ranh giới không được xác định rõ ràng và chưa được cắm mốc giới cụ thể tại thực địa.
Đại biểu Cao Thị Xuân (Thanh Hoá) nêu rõ, đến nay còn 43,5% số đơn vị với 54,2% diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nhiều bất cập khác trong công tác quản lý, sử dụng đất cũng được các đại biểu quốc hội phản ánh.
Ông Hoàng Hương dẫn báo cáo của đoàn giám sát của Quốc hội cho biết mới chỉ có 116 nông lâm trường thực hiện việc chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích chưa đến nửa triệu hecta. Còn lại 242 nông, lâm trường đang quản lý sử dụng gần 2 triệu hecta đất chưa được thực hiện theo quy định của luật.
“Điều này thể hiện sự lỏng lẻo trong quản lý và sự không nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật của đối tượng thực thi dẫn tới thất thoát không nhỏ cho ngân sách,” ông nhấn mạnh.
Đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) cho biết hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều công ty nông, lâm nghiệp chưa cao. Bà dẫn chứng, hiện có hơn 428.000 héc ta đất chưa sử dụng, sử dụng vào mục đích khác, để hoang hóa. Hiện các công ty còn nợ 51% tiền sử dụng đất, 20% tiền thuế phải nộp.
“Các nông, lâm trường quản lý đất đai là khá lớn, khoảng 8 triệu ha, riêng các công ty nông, lâm nghiệp là hơn 2.800 nghìn héc ta, nhưng nộp ngân sách Nhà nước chỉ được 1.722 tỉ đồng trong vòng 10 năm là quá thấp,” bà Khá nói. Đại biểu Cao Thị Xuân quy đổi, tổng nộp ngân sách như vậy thì tính bình quân mỗi ha/năm chỉ đạt 90.000 đồng, tương đương với khoảng 5kg gạo.
Các đại biểu cũng lo ngại về tình trạng giao khoán đất giữa nông, lâm trường với người nhận theo hướng khoán trắng, và cho rằng đó là một dạng của phát canh thu tô.
Đại biểu Nguyễn Thị Khá cho biết, nhiều nơi khoán trắng đất cho người lao động nhưng buông lỏng không quản lý được hợp đồng giao khoán, không quản lý chặt chẽ quá trình sử dụng đất để tình trạng người nhận khoán tùy tiện chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật sang làm nhà ở, công trình dịch vụ...
Đại biểu Hoàng Hương băn khoăn: “Nông, lâm trường được hưởng lợi từ các hợp đồng giao nhận khoán đất, trong khi lại không phải chịu nộp nghĩa vụ tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước. Trong khi đó người nhận khoán phải chịu sự ràng buộc khá khắt khe từ hợp đồng giao nhận khoán.”
Đại biểu Khá đặt câu hỏi: "Nếu quản lý, khai thác, sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích, để bị lấn chiếm, tranh chấp, chuyển nhượng, khoán trắng theo kiểu phát canh thu tô, khoán trái pháp luật, nghĩa vụ ngân sách nhà nước thì không thực hiện, nhiều đơn vị hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhưng vẫn tồn tại, nhiều đơn vị không tách bạch được chức năng sản xuất kinh doanh và sự nghiệp thì người đứng đầu có chịu trách nhiệm gì không? Bộ phụ trách lĩnh vực có liên đới có trách nhiệm gì không?"
Các đại biểu chỉ rõ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại về quản lý đối với các nông trường, lâm trường thời gian qua là do nhận thức của các cấp từ Trung ương đến địa phương chưa đầy đủ và đúng mức, cơ chế chính sách không đồng bộ, chưa sát với thực tiễn; tổ chức chỉ đạo thiếu kiên quyết, còn né tránh, kỷ cương hành chính và pháp chế không nghiêm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra không thường xuyên và khi thanh tra, kiểm tra không xử lý kịp thời, nghiêm túc đối với các hành vi vi phạm.
Đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ cần mổ xẻ, phân tích đầy đủ để làm rõ thêm trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong việc để xảy ra những thiếu sót trên. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 10/11) đầu trang(
Thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng, 10-11, các ĐBQH bày tỏ sự trăn trở trước tình trạng hàng chục nghìn hộ dân, nhất là các hộ dân tộc thiểu số đang thiếu đất ở, đất sản xuất trong khi rất nhiều nông lâm trường để đất hoang hóa, sử dụng trái mục đích.
Trước đó, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã trực tiếp làm việc tại 27 huyện, 16 nông trường, 10 lâm trường, 6 ban quản lý rừng thuộc 20 tỉnh, thành phố và 3 bộ ngành liên quan việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014.
Báo cáo kết quả giám sát, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội K’Sor Phước cho biết, trong giai đoạn 2004 - 2014, công tác quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường quốc doanh đã có những chuyển biến tích cực so với giai đoạn trước 2004. Một số nông, lâm trường đã được sắp xếp, chuyển đổi để phân biệt rõ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ công ích.
Tuy vậy, hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đai và sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế. Các nông, lâm trường được Nhà nước giao quản lý diện tích đất đai khá lớn (7.916.366 ha), song việc quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả chưa cao. Tình trạng sử dụng sai mục đích, để đất hoang hoá, đất chưa sử dụng vẫn còn khá nhiều (hiện còn 236.619ha đất chưa sử dụng).
Kết quả sắp xếp, chuyển đổi mô hình quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hình thức. Phần lớn các công ty nông, lâm nghiệp chưa chuyển sang hình thức thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất (khoảng 60% các công ty nông, lâm nghiệp với 88% diện tích).
Đặc biệt, nhiều nông, lâm trường, nhất là những nơi khoán trắng, không quản lý chặt chẽ quá trình sử dụng đất sau khi giao khoán, để xảy ra tình trạng người nhận khoán đất của công ty nông, lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, tự ý xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ kiên cố trên đất nhận khoán, gây nhiều bức xúc…
Trước thực trạng này, các ĐB Trương Văn Vở (đoàn Đồng Nai), Nguyễn Thị Khá (đoàn Trà Vinh) cho rằng, việc thực hiện sắp xếp, chuyển đổi các nông lâm trường quốc doanh thành các công ty nông, lâm nghiệp trong 10 năm qua thực chất vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”, trong khi phương thức quản lý và hoạt động của các đơn vị này chưa có sự thay đổi căn bản.
Các ĐB Nguyễn Thu Anh (đoàn Lâm Đồng), Nguyễn Thị Hải (đoàn Nghệ An) thì trăn trở trước tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai giữa các hộ dân với các nông lâm trường và cho rằng nguyên nhân căn bản của thực trạng này chính là do người dân thiếu đất ở, đất sản xuất trong khi việc sử dụng đất của các nông lâm trường hiệu quả thấp.ĐB Nguyễn Thu Anh dẫn chứng, năm 2014, tại Yên Bái còn trên 9.000 hộ dân thiếu đất sản xuất, Thái Nguyên có 10.265 hộ thiếu đất sản xuất, Tuyên Quang có 831 hộ thiếu đất ở, trên 4000 hộ thiếu đất sản xuất… khiến đời sống của bà con vô cùng khó khăn. Trong khi đó, các nông lâm trường được bố trí quỹ đất rất lớn nhưng phần lớn sử dụng kém hiệu quả, sai mục đích, chậm bị thu hồi. (An Ninh Thủ Đô 10/11) đầu trang(
Bộ trưởng nhận khuyến điểm trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường.
Tại phiên thảo luận ở hội trường về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014, nhiều Đại biểu Quốc hội quan tâm nhiều đến hiệu quả sử dụng đất cũng như hoạt động của các nông lâm trường quốc doanh (NLTQD).
Theo đó, các đại biểu cho rằng, nhiều diện tích đất đã được giao cho NLTQD nhưng sử dụng không hiệu quả, lãng phí rất lớn về nguồn lực đất đai. Trong khi đất đai là nguồn tài nguyên đang có chủ trương của Đảng và Nhà nước cần được sử dụng hợp lý, thì công tác quản lý đất đai tại các NLTQD còn lỏng lẻo.
Tại phần giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết, NLTQD đã có một quá trình lịch sử 60 năm. Trong một tổng thể, nhiều NLTQD đã có những đóng góp hết sức quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, chính nhờ các NLTQD nước ta mới có điều kiện hình thành nên các nông, lâm trường cao su, cà phê, các NLTQD là nòng cốt để phát triển, chuyển giao khoa học kỹ thuật, thu mua và chế biến nông lâm sản, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong đó, ở miền Bắc có thể hướng sự chú ý đến quá trình phát triển của ngành chè, ở miền Nam là việc phát triển các lâm, nông trường cà phê, cao su… nhiều nông trường là nòng cốt để bảo vệ những vùng rừng, là nòng cốt để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là đảm bảo về an ninh – quốc phòng ở nhiều vùng nông thôn, miền núi.
Mặc dù thừa nhận là trong tình hình hiện nay, nhiều NLTQD hoạt động kém hiệu quả, thậm chí có vi phạm, nhất là một số những nông lâm trường ở Tây Nguyên, tuy nhiên, Bộ trưởng Cao Đức Phát vẫn khẳng định, với những băn khoăn của một số đại biểu cho rằng, đồng bào dân tộc thiếu đất ở, thiếu đất sản xuất có vẻ như vì các NLTQD thì điều này cần phải được minh xét lại.
Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định, trách nhiệm của Bộ NN&PTNT là phối hợp và tham mưu cho Đảng, Chính phủ ban hành những chủ trương, Nghị định và các Thông tư hướng dẫn. Tuy nhiên, khuyến điểm chính của Bộ NN&PTNT là việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng kém hiệu quả.
“Mặc dù đã cố gắng thực hiện nhưng nhiều khi không đạt được kết quả như mong đợi. Bộ NN&PTNT mới chỉ tập trung vào một số nông, lâm trường trực tiếp chịu sự quản lý của Bộ NN&PTNT, bao gồm 67 nông, lâm trường thuộc Tập đoàn công nghiệp Cao su, Tổng công ty cà phê, Tổng công ty lâm nghiệp. Trong khi đó, việc Bộ NN&PTNT phối hợp với các địa phương để kiểm tra, giám sát các nông lâm trường thuộc diện quản lý của các địa phương, các đơn vị khác là còn thiếu”, Bộ trưởng Cao Đức Phát thẳng thắn nhìn nhận.
Đặc biệt trong quá trình thanh tra việc quản lý, sử dụng đất tại các NLTQD, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, Bộ NN&PTNT tiến hành xử lý những tồn tại vẫn còn chậm và không dứt điểm với nhiều trường hợp do nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, tiêu biểu như với một số nông, lâm trường cà phê, mặc dù đã có kết luận nhưng tại các đơn vị cơ sở vẫn chưa đồng ý, đòi hỏi phải kiểm tra lại nhiều lần.
Cho rằng việc đổi mới, sắp xếp lại các NLTQD sẽ khai thác một nguồn lực to lớn để nước ta tiếp tục phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định nhiều phương hướng, giải pháp theo đề xuất, trên cơ sở góp ý của các Bộ, ngành và các địa phương, đặc biệt là Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 30 với những chủ trương rất mạnh mẽ.
“Nếu thực hiện tốt theo Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị sẽ chấn chỉnh lại tình hình rất nhiều. Vì thế, Bộ NN&PTNT cũng đang cùng với các Bộ, ngành và các địa phương phối hợp quyết liệt để triển khai Nghị quyết này”, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định.
Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, Bộ NN&PTNT cũng đã tham mưu để Chính phủ ban hành Nghị định 118. Đồng thời, Bộ NN&PTNT cũng đã ban hành 4 thông tư, cùng 6 thông tư của các Bộ, ngành khác và xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định 135 về chế độ khoán ở các NLTQD.
Hiện tại, Bộ NN-PTNT cũng hướng dẫn các địa phương, đơn vị xây dựng các phương án sắp xếp lại NLTQD, tới nay đã có 34 địa phương, đơn vị trong tổng số 41 địa phương đơn vị đã có phương án thẩm định gửi Bộ NN&PTNT trình lên Thủ tướng và một số phương án đã được Thủ tướng phê duyệt.
“Trên cơ sở thẩm định 205 NLTQD, các địa phương và các Bộ đã thống nhất sẽ để lại 4 doanh nghiệp là các công ty 100% vốn sản xuất, 57 đơn vị là công ty 100% vốn nhà nước, sản xuất và làm dịch vụ, cổ phần hóa 84 công ty và thành lập 26 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, chuyển thành đơn vị sự nghiệp 4 doanh nghiệp và giải thể 28 NLTQD. Trên tổng số 1.974.000 ha của 205 NLTQD sẽ bàn giao về cho các địa phương 325.776 ha diện tích đất”, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết định hướng trong thời gian tới.
Nhất trí và trân trọng tiếp thu ý kiến của các đại biểu, nhất là những gì liên quan đến trách nhiệm của Bộ NN&PTNT, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định tiếp thu các ý kiến để tiếp tục phối hợp, hoàn thiện cơ chế chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nghị định của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh thời gian tới. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 11/11) đầu trang(
UBND huyện miền núi Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đang xem xét thu hồi đất rừng do các công ty lâm nghiệp trên địa bàn quản lý...
UBND huyện miền núi Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đang xem xét thu hồi đất rừng do các công ty lâm nghiệp trên địa bàn quản lý giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất.
Tại huyện miền núi Khánh Vĩnh, hiện nay còn 2 công ty lâm nghiệp đã được sắp xếp lại. Các công ty này đang quản lý một diện tích đất rừng khá lớn với nhiều khu đất bằng phẳng ngay sát khu dân cư. Trong lúc đó, nhiều người dân ở địa phương này, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số, thiếu đất sản xuất, đời sống gặp nhiều nghèo khó.
Việc thu hồi đất các công ty lâm nghiệp để giao cho người dân đang gặp khó khăn vì nhiều diện tích là rừng phòng hộ, những diện tích rừng sản xuất lại ở xa, đồi núi hiểm trở, một số diện tích nằm ở vị trí thuận lợi thì địa phương không có kinh phí để bồi thường.
Ông Lê Đức Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa cho biết: “Huyện thực hiện việc đo đạc, cắm mốc, lên bản đồ tách thửa để làm phương án trình UBND tỉnh cấp đất cho bà con. Tuy nhiên, sau khi lên phương án, tổng kinh phí đền bù, giao đất sạch cho bà con lớn, với diện tích 1.355 ha được tách bóc từ các lâm trường thì kinh phí lên khoảng 75 tỷ đồng. Tỉnh cũng chưa phê duyệt phương án này được vì lượng tiền đó rất lớn”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 10/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một cặp vợ chồng người Anh đã có những kỷ niệm ý nghĩa và đáng nhớ khi sống cùng Hercules - một chú gấu đen nặng 70 kg mà họ mua được ở một khu bảo tồn động vật.
Vào năm 1974, cặp đôi Andy và Maggie Robin, đến từ thị trấn Scotland Auchterarder đã mua được một chú gấu đen Hercules tại một khu bảo tồn động vật với giá 50 bảng Anh. Kể từ đó, họ trở thành một gia đình thực sự khi cặp vợ chồng không có con này coi chú gấu như con ruột của mình.
Hercules đã trở thành một ngôi sao và được nhiều người biết đến kể từ khi xuất hiện trong một tập của loạt phim bom tấn James Bond. Giờ đây, toàn bộ câu chuyện về Hercules đã được tái hiện lại trong cuốn sách mới của bà Maggie.
Mọi chuyện bất đầu vào cuối năm 1960, Andy, bây giờ đã 77 tuổi từng là một đô vật đã gặp và có một cuộc vật lộn với một con gấu đen nặng 70kg trong khu bảo tồn Maple Leaf Gala ở Toronto. Từ đó, Andy bắt đầu đã có niềm đam mê với gấu. Vì thế, đến cuối tháng 8/1975, cặp vợ chồng đã quyết định đưa Hercules về nhà.
Maggie nói: "Cuộc sống của chúng tôi đã thay đổi kể từ đó. Chúng tôi không thể tưởng tượng được “chú bé” mà chúng tôi nuôi lại mang đến rất nhiều niềm vui và tiếng cười như vậy. Chúng tôi đã có những cuộc phiêu lưu và cuộc sống đầy màu sắc với chú”.
Các chuyên gia động vật hoang dã từ khắp nơi trên thế giới đã gọi điện tới cho cặp vợ chồng để cảnh báo rằng những con gấu có thể sẽ giết chết cả hai.
Nhưng họ nói rằng con vật khổng lồ này đã được đào tạo và trở nên hiền lành, thậm chí còn có thể đi bộ dạo chơi với họ xung quanh nhà.
Chia sẻ với MailOnline, Maggie nói: "Đó là một khoảng thời gian rất thú vị. Bạn có thể làm mọi điều với chú gấu mà không sợ ai làm phiền. Con gấu thậm chí rất thích uống rượu và có thể say, nhưng khi trở về nhà, chú lại rất tỉnh táo...”
Tuy nhiên, thật đáng buồn, Hercules đã qua đời vào năm 2001, ở tuổi 26, là kết quả của những biến chứng bệnh tật kể từ khi sinh ra.
Cái chết của Hercules đã khiến bố mẹ nuôi của chú vô cùng đau buồn. Cô Maggie nói: "Cuộc sống của chúng trở nên buồn chán kể từ đó và chúng tôi rất nhớ chú bé. Hercules là một món quà của tạo hóa đối với vợ chồng tôi mà không gì có thể thay thế." (Đời Sống Và Pháp Luật 10/11) đầu trang(
Cuộc triển lãm đầu tiên trên thế giới về tình trạng đồng tính luyến ái trong các loài vật đã cho thấy đồng tính ở loài người không phải là phi tự nhiên.
Với những tài liệu bằng chứng về hành vi đồng tính đực hoặc cái giữa hươu cao cổ, chim cánh cụt, vẹt, bọ cánh cứng, cá voi và hàng chục loài khác, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Oslo, Na Uy, kết luận tình trạng đồng tính luyến ái ở con người không phải là điều phi tự nhiên.
Geir Soeli, người đứng đầu dự án triển lãm mang tên "Against Nature", phát biểu: "Sự đồng tính đã được quan sát trong hơn 1.500 loài động vật và đã được miêu tả chi tiết trong hơn 500 loài".
"Nhu cầu tình dục là rất mạnh mẽ ở mọi loài vật. Đó là một phần của cuộc sống và mang lại niềm vui thú", Soeli nói về những lý do cho mối quan hệ đồng tính và lưỡng tính ở động vật.
Nhà triết học Hy Lạp Aristotle đã nhắc đến hành vi đồng tính ở linh cẩu từ 2.300 năm trước, nhưng các bằng chứng về sự đồng tính ở động vật thường bị các nhà nghiên cứu bỏ qua do ghê tởm, thiếu quan tâm hay chê cười.
Theo thuyết tiến hóa, tình dục là phương tiện để chuyển giao gien lại cho thế hệ sau. Vậy thì hành vi tình dục đồng giới từ đâu mà có? Phải chăng nó xuất hiện từ trong quá trình tiến hóa, hay chỉ để lấy khoái cảm mà thôi? Chim chóc, bò sát, động vật có vú, và cả ốc sên cũng tham gia vào cái trò này.
Tình dục đồng giới ở động vật chỉ là một trong số nhiều hành vi tính dục. Hành vi này tương đối phổ biến, và ở một số loài, nó xuất hiện với tần suất khá dày.
Trong thế giới động vật, cuộc sống chung thuỷ "một vợ một chồng" thực sự là "của hiếm". Chúng "sinh hoạt" khá bừa bãi - một con đực với nhiều con cái, một con cái với nhiều con đực, hoặc chung chạ lung tung, v.v...
TS Geoff McFarlane, nhà sinh học thuộc ĐH Newcastle (Anh), cho biết: "Thế giới động vật có rất nhiều cách sắp xếp cũng như cách "sinh hoạt"!".
Hành vi tình dục đồng giới đã được giới khoa học quan sát khá kỹ lưỡng ở hầu như tất cả các loài vật. Trên thế giới, có tổng cộng khoảng 450 loài có thói quen quan hệ tình dục đồng giới.
McFarlane nhận thấy hành vi tình dục đồng giới ở các loài linh trưởng phổ biến hơn so với các động vật có vú khác, nhưng không phải là không có ở chim chóc, bò sát, lưỡng cư, cá, côn trùng và các loài động vật không xương sống. Không phải chỉ ở động vật hoang dã, mà cả gia súc gia cầm cũng tồn tại hiện tượng này, đặc biệt là cừu đực.
Hầu hết các hành vi tình dục đồng giới mô tả trong sách vở đều xuất hiện ở động vật có vú. Hươu cao cổ sống trong những nhóm toàn con đực, và chúng chỉ quan hệ với hươu cái nhằm mục đích sinh sản. Khoảng 80% quan hệ giữa các chú hươu cao cổ đực với nhau mang tính chất tình dục, và thường biểu hiện bằng hành vi cưỡi lên nhau. Tỷ lệ cưỡi lên nhau ở sư tử đực là 8%.
Đặc biệt, các loài linh trưởng có những mối quan hệ tình dục đồng giới rất phức tạp. Khoảng 30 loài linh trưởng đã được ghi nhận là có "cặp bồ" đồng tính, thậm chí có những đôi còn quan hệ với nhau rất lâu dài.
Trên 130 loài chim, trong đó có loài hồng hạc nổi tiếng quý hiếm, dành khá nhiều thời gian trong cuộc đời cho các mối quan hệ tình dục đồng giới.
McFarlane cho biết: "Hồng hạc là một ví dụ điển hình cho hiện tượng đồng tính ở chim chóc. Khoảng 6% số hồng hạc trống thực sự cặp đôi với nhau và làm tất cả những "trò" mà chim trống và chim mái vẫn làm, kể cả âu yếm và nuôi nấng con cái. Chúng có thể chiếm lấy một cái tổ và nuôi chim con."
Điều đáng ngạc nhiên là ở các loài chim nước, chim trống đồng tính lại thường thành công hơn các chú chim "vợ con đề huề", đơn giản là vì chúng hiếu chiến hơn và có thể xâm chiếm được nhiều lãnh thổ hơn. Trong số các cặp nhạn biển Roseate, một phần ba là "thuần chị em" - chúng cặp đôi với nhau và nuôi con. Cả hai cùng đẻ trứng, và thường là một số trứng vẫn được thụ tinh, chứng tỏ rằng chúng vẫn thường xuyên "nhập nhèm" cả với "cánh đàn ông".
Ở Australia, giới khoa học đã thống kê được hơn 40 loài chim có hành vi tình dục đồng giới. Xu hướng này có thể vẫn còn tiếp tục phát triển. Thậm chí ở loài galah, quan hệ đồng giới vẫn tiếp tục được duy trì ngay cả khi "bạn đời" chết, dân số trong đàn hoặc tỷ lệ trống-mái thay đổi.
Theo thuyết tiến hóa của Darwin, động vật tiến hóa vì những đặc điểm thay đổi sẽ tạo nên lợi thế về mặt sinh sản cho chúng. Những đặc điểm ấy sẽ được truyền lại cho nhiều thế hệ sau. Trước đây, các nhà sinh học đã nhiều lần thử giải thích về hành vi tình dục đồng giới ở động vật, chẳng hạn như động vật "nhầm" giới tính, nghịch ngợm, hoặc "tập" trước khi "xung trận" thực sự. Có người lại cho rằng hiện tượng đồng tính xuất hiện vì trong cộng đồng thiếu con đực hoặc con cái, hoặc là kết quả của quá trình nuôi nhốt.
Một trong những thuyết mới nhất là thuyết "mua vui" của Paul Vasey thuộc ĐH Lethbridge (Canada). Ông tiến hành quan sát về hành vi tình dục đồng tính của khỉ đầu chó Nhật Bản và nhận thấy 33% số hành vi đồng tính của chúng là giữa các con cái. Và lời giải thích của ông là điều mà chưa ai nghĩ tới: Chúng làm thế chỉ để mua vui!
Vậy hành vi tình dục đồng giới là bẩm sinh hay do học hỏi mà có? Cũng như các hành vi khác của động vật, đây là sự giao thoa giữa vai trò của tự nhiên và "học hỏi", và mỗi loài lại mang một đặc điểm khác nhau. Trên phương diện "học hỏi", hành vi này chịu tác động của sự thống trị và tôn ti trật tự.
Trên phương diện "tự nhiên", các nhà sinh học cho rằng hành vi này là kết quả của hiện tượng tăng mức hormone trước và sau khi sinh. Elizabeth Atkins-Regan, nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell, đã thử nghiệm bằng cách cho chim sẻ mái tiếp xúc với chất ức chế tổng hợp oestrogen. Lũ chim mái non nở ra có xu hướng thích chim mái, nhưng trong trường hợp bị ức chế hormone trống, lũ chim trống non nở ra lại thích chim trống hơn. (Tiền Phong 10/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||