|
Ngày 10 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk khuyến cáo các doanh nghiệp, các hộ nuôi voi cần chủ động ngăn chặn tình trạng xung đột giữa voi nhà với voi rừng nhằm giảm thiệt hại, thương tích cho đàn voi nhà trên địa bàn.
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk đã hướng dẫn các hộ gia đình, các doanh nghiệp có nuôi voi không được xích, thả voi nhà tại các điểm voi rừng thường xuyên xuất hiện, hoặc các hành lang di chuyển của các đàn voi rừng. Khi thả, hoặc xích voi rừng tốt nhất các hộ gia đình, các doanh nghiệp nên thả, xích voi ở gần nhà, gần khu dân cư để tiện việc chăm sóc, bảo vệ.
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cũng hướng dẫn các doanh nghiệp, các Ban Quản lý rừng đặc dụng, Vườn Quốc gia Yok Đôn, các hộ gia đình ở gần rừng khi phát hiện đàn voi rừng xuất hiện không được bắn, săn đuổi mà dùng các loại vật liệu phát ra tiếng kêu to, gõ kẻng để xua đuổi đàn voi rừng; đồng thời báo với các đơn vị chức năng để có biện pháp ngăn chặn đàn voi rừng.
Theo Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, từ ngày 19/10 đến nay, hầu như đêm nào đàn voi rừng về gần các khu dân cư xã vùng sâu Krông Na (huyện Buôn Đôn) để tìm kiếm thức ăn và phá hoại hoa màu của đồng bào các dân tộc. Đặc biệt, đàn voi rừng này rất hung dữ, liên tục tấn công và làm bị thương năm con voi nhà của các hộ đồng bào dân tộc xã Krông Na và của Công ty du lịch Bản Đôn.
Hiện nay, đàn voi rừng của tỉnh Đắk Lắk chỉ còn từ 80-110 cá thể, giảm từ 440-470 cá thể và đàn voi nhà từ 502 cá thể năm 1980, nay giảm xuống chỉ còn 46 con. (Vietnam + 9/11) đầu trang(
Ngày 9/11, UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế đã phê duyệt dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng với tổng kinh phí 27,3 tỷ đồng, thực hiện từ năm 2016 đến 2020.
Theo đó, dự án sẽ xây dựng 9 bảng tuyên truyền, 7 chòi canh quan sát lửa tại các khu vực trọng điểm như huyện Phong Điền; thị xã Hương Trà; thị trấn Lăng Cô.
Trang bị thêm máy định vị GPS, máy đo độ cao điểm cháy bằng laze, máy bơm nước chữa cháy; đồng thời thường xuyên tổ chức diễn tập, tuyên truyền phòng cháy rừng.
Qua đó nâng cao năng lực phòng chữa cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm và người dân, góp phần giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Công An Nhân Dân 9/11) đầu trang(
Ngày 9.11, tin từ UBND tỉnh Quảng Bình cho biết vừa ra công văn chỉ đạo về việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Theo đó, kiên quyết xóa bỏ các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng, khai thác, buôn bán, vận chuyện, kinh doanh lâm sản trái pháp luật trên địa bàn.
UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành duy trì, thực hiện quy chế phối hợp liên ngành, phương án phối hợp chặt chẽ, tổ chức thường trực tại hiện trường, thường xuyên phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quyét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép; xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng; rà soát, kiểm kê thu hồi toàn bộ toàn bộ diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm; sử dụng sai mục đích hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật…
Liên quan đến nhiều sai phạm trong việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng caosu mà Lao Động điện tử đã phản ánh, Sở NNPTNT Quảng Bình đã chỉ đạo Trung tâm quy hoạch thiết kế nông lâm nghiệp tổ chức kiểm điểm đối với 2 tập thể và 16 cá nhân liên quan.
UBND tỉnh Quảng Bình cũng đã yêu cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh kiểm điểm về mặt hành chính đối với kiểm lâm địa bàn và Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm đường 10; Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Long Đại kiểm điểm và xử lý trách nhiệm đối với cán bộ liên quan của công ty và chi nhánh lâm trường Khe Giữa; Đoàn Kinh tế quốc phòng 79 - Binh đoàn 15 (Tổng Công ty 15) kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với tập thể, cá nhân liên quan. (Lao Động 9/11) đầu trang(
Trọng lượng hàng tạm giữ là 21 tấn, hàng hợp pháp 7 tấn, hàng tịch thu là 14 tấn, nhưng cán bộ Kiểm lâm đã nhờ người phụ trách cân Điện tử của Cty TNHH Thọ Hương (Ngọc Hồi) viết phiếu cân 6.830kg (hàng hợp pháp) để đưa vào hồ sơ xử phạt, còn 14 tấn hàng tịch thu nằm ngoài hồ sơ.
Điều đáng nói là mặc dù chưa có Quyết định xử phạt, chưa ra Quyết định tịch thu, nhưng cán bộ Pháp chế đã đặt giá bán lại cho chủ hàng là 3000 đồng/ kg, chủ hàng chê đắt, ông này lại hạ xuống giá 2000 đồng/ kg, nhưng chủ hàng củng không đồng ý mua. Phát hiện sự việc, PV yêu cầu cán bộ Pháp chế cân lại hàng nhưng ông này không chịu, đến khi có chỉ đạo của Phó chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum và giám sát của hai Kiểm lâm cơ động thì ông Lê Thanh Tùng cán bộ Pháp chế mới đưa xe đi cân lại hàng, kết quả hai lần cân lại đều có trọng lường hàng là 20 tấn
Ngày 01/11/2015, Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum bắt giữ xe tải mang BKS: 82C- 028.45 do lái xe và là chủ hàng Dương Đức Kiên điều khiển, chở 21 tấn hàng, trong đó có 2 tấn tăm tre, là chở thuê cho Cơ sơ sản xuất tăm đũa, có địa chỉ tại Tổ dân phố 6,TT Plei Kần, Ngọc Hồi và 5 tấn Lồ ô ( vật liệu làm tăm) mua lại của cơ sở này, còn 14 tấn mua lại các đại lí thu mua trên địa bàn huyện Ngọc Hồi.
Sau khi tạm giữ hàng và phương tiện, ông Lê Thanh Tùng cán bộ Pháp chế của Hạt Kiểm lâm hướng dẫn lái xe viết bản lời khai là mua hàng thu gom không có giấy tờ, viết như vậy thì chỉ bị xử phạt, do không hiểu biết Pháp luật, anh Kiên đã viết theo hướng dẫn của ông Tùng.
Ngày 03/11/2014, trước khi đi cân hàng, ông Tùng hướng dẫn chủ hàng là cân số lượng hàng ít để phạt nhẹ, khi đi cân hàng ông Tùng cử một cán bộ Kiểm lâm đi cân. Khi vào trạm cân, cán bộ Kiểm lâm viết phiếu cân là trọng lượng cả xe và hàng là 20 tấn, trừ trọng lượng xe là 13.270 kg, trọng lượng hàng là 6.830 kg. Sau khi cân xong hàng thì ông Tùng lại thông báo là hàng không có nguồn gốc là bị tịch thu
Anh Kiên là lái xe và là chủ hàng nhưng không hiểu biết pháp luật lại không biết ngoại giao, nên khi xe anh Kiên bị bắt, chi H ở thị trấn Plei kần đã lên Hạt kiểm lâm Ngọc Hồi xin dùm nhưng không được, ngày 4/ 11/2015, ông Tùng nói với chị H là hàng tịch thu, nếu chủ hàng mua thì bán lại, chị H hỏi giá bao nhiêu thì ông Tùng nói tham khảo giá là 3000 đồng/kg, chị H chê đắt thì ông Tùng lại hạ giá xuống 2000 đồng/kg, chị H vẫn chê đắt không mua, vì hàng Lồ ô mua lại các đại lí chỉ có 1700 đồng/kg
Sau khi tiếp nhận thông tin phản ảnh, Kiểm tra phiếu cân xe thì PV phát hiện phiếu cân không có ngày, giờ cân, PV gặp ông Trần Anh Quang người viết phiếu cân xe cho Hạt Kiểm lâm, ông Quang trình bày: "Khi xe lên cân thì trọng lượng xe và hàng là trên 33.000 kg, trừ trọng lượng xe thì hàng vẫn trên 20.000kg, lái xe bảo tôi viết phiếu 20.000kg nhưng tôi không viết, sau đó anh cán bộ Kiểm lâm vào nhờ thì tôi mới làm, tôi nói thật với anh có nhiều chủ hàng vào cân nhờ tôi viết tăng hoặc giảm hàng hóa rồi cho tiền nhưng tôi nhất thiết không viết, vì nếu Thanh tra phát hiện thì tôi phải chịu trách nhiệm chỉ có cán bộ Thanh tra, cán bộ Kiểm lâm nhờ thì tôi mới làm(!)"
Sự việc đã rõ nhưng khi làm việc với ông Lê Thanh Tùng về lí do sao cân xe không đúng trọng lường hàng thì ông Tùng trả lời : “Việc đó tôi không biết, do chủ hàng tự đi cân”, PV đã gọi anh Dương Đức Kiên vào đối chất trực tiếp, anh Kiên vẫn trả lời là cán bộ Kiểm lâm đi theo xe vào cân.
PV yêu cầu ông Tùng cân lại xe, ông Tùng không trả lời và không chịu đi cân lại. Sau nhiều lần yêu cầu cân lại xe không được, PV đã gọi điện, thông báo sự việc cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, sau khi nghe PV trình bày nội dung, ông Tiến Phó chi cục trưởng đã cử hai Kiểm lâm cơ động đi giám sát vừ chỉ đạo Kiểm lâm Ngọc Hồi phải cân lại xe.
Hồi 16h 18p ngày 06/11/2015, cũng tại cân điện tử của Cty Thọ Hương, trọng lượng xe và hàng thể hiện là 33330kg, trọng lượng xe 13270 kg ( hàng Lồ ô tươi, sau 5 ngày đã bị khô và hao hụt).
Để đảm bảo tính khách quan, ngày 07/11/2015 cân lại xe hàng lần thứ 3 tại cân điện tử của Cty TNHH Thuận Lợi, kết quả như sau: Hồi 09h06p ngày 07/11/2015, số xe: 82C: 028.45, trọng lượng xe và hàng 33.120kg, trọng lượng xe 13.270kg, trọng lượng hàng: 19.850 kg
Ngoài phiếu cân xe còn có biên bản xác nhận cân xe do đại diện Hạt Kiểm lâm Ngọc Hồi, đại diện Chi cục Kiểm lâm, PV, và lái xe xác nhận. (Tầm Nhìn 9/11) đầu trang(
Từ đầu năm 2014 đến cuối tháng 8-2015, tại lâm phần thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa (đóng tại xã Krong, huyện Kbang đã xảy ra 59 vụ khai thác gỗ hương trái phép với 101 cây bị lâm tặc đốn hạ (hơn 200m3 gỗ). Thông tin này vừa được một lãnh đạo UBND huyện Kbang xác nhận với Pv báo Điện tử Tầm Nhìn.
Trao đổi với Pv, ông Đinh Ích Hiệp, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Kbang cho biết, “Những cây gỗ hương bị (xẻ thịt) nằm dàn trải ở hầu hết các lâm phần do công ty này quản lý. Trong số gỗ hương bị đốn hạ nói trên, “lâm tặc” chỉ mang đi 2-3 m3ra khỏi rừng, số còn lại vừa đốn hạ, chưa kịp mang gỗ đi, còn để tại rừng. Sau khi nhận được tin báo, Hạt phối hợp với Công an, viện kiểm sát để kiểm nghiệm hiện trường, hoàn thiện hồ sơ rồi đưa gỗ về trung tâm đấu giá bán sung tiền vào công quỹ. Một số lâm tặc bị bắt và xử lý hành chính”.
Nói về việc gỗ hương bị lâm tặc đốn hạ, chủ rừng và kiểm lâm đều thừa nhận khó. Ông Nguyễn Văn Hải, Kiểm soát viên kiêm Trưởng phòng tổ chức Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa nói, cán bộ công ty mỏng, lại thiếu công cụ hỗ trợ, trong khi gỗ hương lại nằm rãi rác. Lâm tặc tinh ranh, thường lợi dụng ban đêm, vào lúc trời mưa gió để xẻ gỗ.
Ông Đinh Ích Hiệp cho biết : " Theo quy định thì 1 kiểm lâm phụ trách 1 nghìn ha rừng. Huyện Kbang có 124 nghìn ha rừng, trong khi Hạt chỉ có 32 kiểm lâm. Vẫn biết Giữ rừng là trách nhiệm chính của công ty. Kiểm lâm tham mưu xử lý các vụ việc xảy ra, tăng cường các biện pháp , có kế hoạch quản lý bảo vệ rừng trên cả huyện chứ không phải một công ty…. Lâm tặc thường đi theo nhóm nhỏ từ 2-3 người. Sau khi đốn hạ thì dùng cưa xẻo từng tấm nhỏ rồi gùi đi vào các đường mòn…"
Trong khi đó ông Hải còn cho biết thêm hiện trong lâm phần công ty quản lý còn hơn 300 cây gỗ hương nằm trải đều hơn 20 tiểu khu. Để bảo vệ số gỗ hương còn lại, công ty đã giao cho cán bộ phụ trách tại các chốt ăn ngủ tại rừng để kiểm soát chặt chẽ. Còn theo lãnh đạo UBND huyện Kbang, đơn vị đã xây dựng kế hoạch, giải pháp đồng bộ để bảo vệ cũng như duy trì lực lượng liên ngành đi tuần tra kiểm soát thường xuyên. (Tầm Nhìn 9/11) đầu trang(
Buông lỏng trong quản lý, thiếu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, ông Khang cùng BGĐ Xí nghiệp đã để mất hàng chục ha rừng trong 5 tháng đầu năm
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắc G’long tỉnh Đắk Nông vừa bắt tạm giam ông Lê Tuấn Khang, Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắc Ha, thuộc Công ty TNHH 1 thành viên Lâm nghiệp Gia Nghĩa, vì vi phạm các quy định về quản lý rừng.
Theo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắc G’long, từ khi làm Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắc Ha (năm 2010) đến nay, ông Lê Tuấn Khang cùng Ban Giám đốc xí nghiệp này đã buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong kiểm tra giám sát nên để mất rừng với diện tích lớn. Chỉ trong 5 tháng đầu năm nay, đã có hơn 45 ha rừng thuộc lâm phần Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắc Ha bị chặt phá, nhiều diện tích bị mất trắng, lấn chiếm.
Trước khi bị bắt tạm giam, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông đã ra Quyết đinh kỷ luật hình thức khiển trách đối với ông Lê Tuấn Khang vì thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng; để đất rừng bị lấn chiếm hàng chục héc ta nhưng không phát hiện và báo cơ quan chức năng; thiếu kiểm tra việc thực hiện hợp đồng giao nhận khoán theo Nghị định 135/2005 của Chính phủ…
Việc xử lý kỷ luật, bắt tạm giam ông Lê Tuấn Khang, Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắc Ha, là một trong những động thái xử lý quyết liệt theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy Đắk Nông trước thực trạng gần 9.000 ha rừng của Công ty Lâm nghiệp Gia Nghĩa bị xóa sổ trong vòng 5 năm qua. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 9/11; Nhân Dân 9/11; Thanh Tra 9/11) đầu trang(
Rừng phong Chế Tạo, rừng thông Bản Áng, vườn quốc gia Yok Đôn, rừng thông Bồ Bồ hay rừng cao su Nhơn Trạch trở nên thơ mộng khi thu tới.
Lá nhẹ rơi trên cánh rừng đang thay sắc áo là một khung cảnh rất đỗi lãng mạn. Cảnh quan ấy để lại trong lòng người biết bao xuyến xao lay động khi ngắm nhìn. Đến những nơi sau đây trên dải dất hình chữ S, bạn có thể tận mắt chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên tuyệt vời ấy và trải nghiệm những cảm giác khó quên.
Rừng phong Chế Tạo: Rừng Chế Tạo nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn là một trong những khu rừng nguyên sinh đẹp bậc nhất với thảm thực vật, động vật phong phú. Để đến được đây, bạn phải vượt qua con đường duy nhất khá trơn trượt và khó đi dài 35km từ trung tâm huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đến xã Chế Tạo.
Bù đắp cho hành trình vất vả đó là cánh rừng già với những cây phong buông lá đỏ rực vào mùa đông. Khung cảnh đó đẹp tuyệt mỹ đến mức có thể khiến bạn ngỡ ngàng.
Rừng thông Bản Áng: Nằm ở xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Bản Áng là địa điểm không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Mộc Châu. Nổi bật trên dãy đồi nâu đỏ, rừng thông xanh bạt ngàn trải dài 43ha soi bóng xuống hai hồ nước tự nhiên rộng lớn khiến khung cảnh vừa kỳ vĩ vừa nên thơ.
Lang thang giữa những thân cây cao vút, lắng nghe thông reo vi vu, ngửi mùi nhựa non thoang thoảng, ngắm nhìn khung cảnh êm ả, nhặt vài chiếc lá thông rơi, tất cả các giác quan của bạn đều sẽ có được một trải nghiệm tuyệt diệu giữa khí hậu vô cùng mát mẻ trong lành.
Vườn Quốc gia Yok Đôn: Vườn Quốc gia Yok Đôn ở Tây Nguyên được thành lập nhằm bảo tồn rừng khộp, kiểu rừng rụng lá vào mùa khô. Trong rừng khộp chiếm ưu thế là các loài cây thuộc họ dầu lá rộng như: cà chít, dầu đồng, cẩm liên, bằng lăng trắng...
Khi lá cây rụng nhiều, khu rừng thưa trở nên trơ trụi, nhưng chỉ cần một cơn mưa tưới mát là những chồi non xanh mơn mởn lại bừng lên, mang sức sống trở lại khu rừng.
Rừng thông Bồ Bồ: Nằm ở ngoại ô Đà Nẵng, gần đèo Hải Vân, rừng thông Bồ Bồ mang nét đẹp hoang sơ, thanh bình. Từ trung tâm thành phố đi khoảng 30km về phía Bắc, bạn sẽ được thả mình trong một không gian thật tĩnh lặng, yên ả.
Đây là nơi lý tưởng để lánh xa khói bụi ồn ào chốn đô thị. Ngoài ra, ngày càng nhiều các bạn trẻ Đà Nẵng chọn cảnh quan thơ mộng của rừng thông Bồ Bồ làm phông nền cho những bức ảnh lãng mạn, đặc biệt là ảnh cưới.
Rừng cao su Nhơn Trạch: Có rất nhiều cánh rừng cao su ở miền Đông Nam Bộ nhưng từ TP.HCM, gần và dễ đi nhất phải kể đến rừng cao su Nhơn Trạch. Cách trung tâm thành phố chỉ khoảng 20 - 30km, bạn có thể dễ dàng đến những khu rừng cao su ở khu vực Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai bằng xe máy.
Ở đây, cây cao su được trồng xen lẫn giữa các rừng cây non và già nên cả một dải đất rộng bạt ngàn như một bức tranh sơn dầu với đủ các gam màu từ xanh non, xanh thẫm, đến vàng, cam, đỏ.
Vào khoảng thời gian cuối năm, bạn có thể cùng bạn bè đến đây tổ chức picnic để ngồi trên những thảm lá khô dày êm phủ đầy mặt đất, ngắm lá vàng rơi theo từng cơn gió xào xạc hệt một thước phim tuyệt đẹp và ghi lại những bức ảnh sống động.
Ngoài Đồng Nai, các tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Gia Lai cũng là nơi lý tưởng để ngắm rừng cao su mùa lá rụng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 9/11) đầu trang(
Sáng 9/11, Hội Chữ Thập đỏ tỉnh tổ chức Hội thảo Nâng cao tính bền vững của Dự án trồng rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa.
Dự án trồng rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa do Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Nhật Bản hỗ trợ được triển khai tại Hà Tĩnh từ năm 1998. Đến nay, Hội CTĐ các cấp trên địa bàn đã phát triển được 653ha rừng, trong đó có 508 ha rừng ngập mặn; tổ chức nhiều hoạt động nâng cao năng lực phòng ngừa thảm họa, ứng phó biến đổi khí hậu; triển khai các tiểu dự án làm đường, cầu, lu đựng nước mưa…
Tuy nhiên, rừng ngập mặn ở một số nơi trên địa bàn Hà Tĩnh đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt do nhiều nguyên nhân, trong đó có ý thức của con người, do sự thay đổi của môi trường, sâu hại...
Góp phần duy trì và phát triển diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn, hội thảo đã cùng nhau bàn về vai trò của rừng ngập mặn trong thích ứng, biến đổi khí hậu giảm nhẹ thiên tai; những cơ chế, chính sách hỗ trợ của nhà nước trong công tác quản lý rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh; công tác lãnh đạo, chỉ đạo bảo vệ, phát triển rừng.
Hội thảo cũng là dịp để các địa phương chia sẻ bài học kinh nghiệm, những giải pháp, sáng kiến để duy trì sự phát triển, tính bền vững và hiệu quả của rừng ngập mặn. (Báo Hà Tĩnh 9/11) đầu trang(
Cuối tháng 9 vừa qua, Báo Đại Đoàn Kết đã có loạt bài “Phá đường dây buôn gỗ lậu bằng hồ sơ giả liên tỉnh”, nêu rõ những thủ đoạn của nhóm đối tượng này về hành vi “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tuy nhiên cho đến nay, do mối lợi quá lớn nên nhiều đối tượng khác vẫn tiếp tục dùng chiêu trò này để vận chuyển gỗ lậu, qua mặt lực lượng chức năng.
Mới đây, Công an giao thông tỉnh Đắk Lắk trong quá trình làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông trên tuyến Quốc lộ 14, đoạn qua địa phận xã Hòa Phú, TP Buôn Ma Thuột, qua kiểm tra giấy tờ đã phát hiện xe ô tô tải mang BKS: 98C - 018.01 đang có dấu hiệu chở gỗ lậu nên đã thông báo cho Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đến kiểm tra làm rõ.
Thượng úy Trần Ngọc Tú, Phó đội trưởng Đội 2, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đắk Lắk, cho biết: “Qua quá trình tuần tra kiểm soát giao thông, chúng tôi phát hiện tài xế chiếc xe ô tô tải này có mang một bộ hồ sơ gỗ nhưng bị tẩy xóa và ngày tháng trong giấy tờ có dấu hiệu sai lệch”.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 38 lóng gỗ các loại như: chiu liu, cày, cám, trám đã được xẻ vuông, với đường kính từ 30-50 cm và chiều dài từ 3,6 m đến 8,2 m, với tổng khối lượng là 16m3 gỗ hộp (quy ra gỗ tròn là 29 m3). Đây là gỗ thuộc nhóm 2 đến nhóm 6.
Qua đấu tranh, làm rõ, thì tài xế Nguyễn Lê Tấn Duy (30 tuổi), trú tại phường Tân Lập, TP Buôn Ma Thuột người điều khiển chiếc xe chở gỗ lậu này khai nhận với cơ quan chức năng, số gỗ lậu này được bốc lên xe ở khu vực bìa rừng thuộc xã Ya Lơi, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Chủ số gỗ này là Trần Phạm Thúy Huệ (35 tuổi), trú tại thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar. Đại tá Cao Thành Vinh, Trưởng Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết: Hiện Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Đắk Lắk đang tạm giữ số gỗ lậu trên cùng chiếc xe phương tiện, để tiếp điều tra, làm rõ vụ vận chuyển lâm sản trái phép này.
Ngày 30/10, trong lúc tuần tra kiểm soát, lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện xe ôtô tải mang biển kiểm soát 81C-047.45 do Huỳnh Tấn Việt, sinh năm 1989, trú tại xã Cư An, huyện Đắk Pơ, tỉnh Gia Lai điều khiển trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận phường Bình Tân, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk chở 304 hộp gỗ căm xe, thuộc nhóm 2, với khối lượng gần 16 m3. Tất cả số gỗ này đều không có giấy tờ, thủ tục chứng minh nguồn gốc xuất xứ hợp pháp.
Cũng mới đây, tại tỉnh Kon Tum, vào đêm khuya ngày 2/11, nhận được tin báo từ người dân, Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi phối hợp với Công an huyện và lực lượng bộ đội biên phòng đã thu giữ được 2 xe độ chế chở gần 37m3 gỗ lậu gần đường tuần tra biên giới.
Ông Võ Thanh Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi cho biết, vụ việc được phát hiện vào lúc 21h ngày 2/11/2015. Vị trí hai xe độ chế chở gỗ lậu cách đường tuần tra biên giới khoảng 300m về phía biên giới với CHDCND Lào. Vị trí này thuộc địa bàn xã Đắc Nông, ở khoảnh 9, Tiểu khu 161 do Lâm trường Dục Nông- Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Ngọc Hồi quản lý.
Khi lực lượng chức năng phát hiện, hai xe chở gỗ bị mắc lầy và trong tình trạng vô chủ. Xe thứ nhất chở 3 lóng gỗ tròn, khối lượng trên 17m3 gồm hai chủng loại sao cát và chò xanh (thuộc nhóm III và nhóm V). Xe thứ hai vận chuyển 8 lóng gỗ bằng lăng (nhóm III) khối lượng hơn 19m3.
Sau khi có báo cáo của cơ quan chức năng, UBND tỉnh Kon Tum đã có công văn giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y, Chi Cục kiểm lâm, UBND huyện Ngọc Hồi và các lực lượng chức năng kiểm tra, làm rõ, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời cũng làm rõ và xử lý trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan để xảy ra vụ việc trên.
Tại tỉnh Gia Lai khoảng 1 giờ ngày 3-11, lực lượng kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Ia Grai (Gia Lai) sau thời gian theo dõi, mật phục đã đồng loạt triển khai lực lượng đánh úp các điểm nghi là bãi đáp cho gỗ lậu từ phía huyện Sa Thầy (Kon Tum) vượt sông Sê San sang địa phận Gia Lai. Tại 2 xã Ia Krái, Ia Khai lực lượng chức năng phát hiện có ba bãi gỗ gồm kiền kiền, bằng lăng và gỗ dầu (từ nhóm 2 – 4) với 35 lóng gỗ với chiều dài từ 3-5m, đường kính có lóng lên đến hơn 60cm với tổng khối lượng hơn 26,6m3.
Không chỉ vi phạm trong khai thác rừng tự nhiên, ở Lâm Đồng tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, đầu độc rừng thông chiếm đất cũng diễn ra phức tạp. Theo báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng, từ đầu năm đến nay, lực lượng chức năng đã lập biên bản 1.578 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 58 vụ và hơn 62 ha so cùng kỳ.
Ông Đoàn Văn Việt - Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với tập thể, người đứng đầu và cá nhân liên quan đến hàng loạt vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh.
Tây Nguyên đang chuyển sang mùa khô, đây cũng là thời điểm thích hợp cho việc vào rừng khai thác lâm sản. (Đại Đoàn Kết 10/11) đầu trang(
Theo số liệu Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), thời gian từ năm 2008 đến năm 2014 diện tích rừng tự nhiên tại Tây Nguyên mất hơn 358.700ha, tương đương mỗi năm mất hơn 51.200ha rừng.
Trong khi đó, với gần 16.000ha rừng phải trồng thay thế tại 240 dự án, đến nay chỉ mới trồng được 1.007ha. Độ che phủ rừng toàn vùng Tây Nguyên chỉ còn 45,8%, nếu kể độ che phủ rừng thực tế thì chỉ đạt 32,4%.
Những con số trên báo động khẩn cấp về nguồn tài nguyên xanh của nước ta đang dần bị cạn kiệt. Nạn phá rừng với quy mô lớn liên tục xảy ra tại Tây Tây Nguyên mà Vườn quốc gia Yok Đôn cũng là một trọng điểm. Theo một lãnh đạo đạo Tổng cục Lâm nghiệp, chín tháng đầu năm 2015 Vườn quốc gia Yok Đôn đã có gần 600 cây gỗ quý bị đốn hạ (với khoảng 300m3 gỗ). Việc vận chuyển lâm sản vẫn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn.
Ai đốn hạ rừng? Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm cho biết, từ năm 2013 đến nay Nhà nước có chủ trương cho phép trục vớt gỗ trôi dạt theo suối. Tuy nhiên “gỗ trôi giạt” ấy có phải tự nhiên mà có hay do ai đốn và chủ trương này vô tình hợp thức hóa gỗ khai thác trái phép tại khu vực này đưa ra ngoài tiêu thụ?
Ngoài chủ trương nói trên, rừng bị tàn phá khốc liệt nhất phải kể đến chính là các dự án khoanh nuôi, bảo vệ và cải tạo trồng rừng, trồng cao su. Được biết, toàn vùng có 801 dự án trồng, cải tạo, chuyển đổi trồng cao su với diện tích 226.000ha được phê duyệt, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông. Có nơi sau khi được giao dự án trồng rừng, doanh nghiệp tự ý sang nhượng cho người khác hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Hậu quả là rừng bị băm nát!
Ngoài ra, trong năm 2014, Thanh tra Chính phủ cũng đã có kết luận công tác quản lý bị buông lỏng, diện tích rừng và đất rừng được giao không cân xứng với năng lực thực tế nên không bảo toàn được tài nguyên rừng, đất đai. UBND tỉnh đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho các doanh nghiệp hạn chế về năng lực tài chính và kỹ thuật, kinh nghiệm trồng cao su, trồng rừng...
Ngay vị Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk cũng cho rằng việc mất rừng tại địa phương là do sự “buông lỏng quản lý”. Thậm chí còn xảy ra tình trạng “lách luật”, chia nhỏ dự án (dưới 1.000ha) để không phải lập thủ tục trình các cấp có thẩm quyền. Có địa phương còn giao cho doanh nghiệp tự khảo sát, lập dự án chuyển đổi, tạo kẽ hở trong quản lý.
“Phải gắn trách nhiệm kiểm lâm địa bàn với rừng, nếu để xảy ra những vụ phá, vận chuyển gỗ lớn phải kiểm điểm, kỷ luật. “Không thể đổ qua đổ lại cho nguyên nhân khách quan, chủ quan gì nữa” - vị này nói.
Về biện pháp bảo vệ rừng, Nhà nước đã có chủ trương chính sách vừa bảo vệ vừa khai thác rừng. Nhưng thực tế diễn ra cho thấy hiệu quả chưa cao, cái được nhiều khi nhỏ hơn cái mất, kỷ cương chưa được tái lập. Thiết nghĩ, trước hết phải có sự thống nhất về quản lý rừng một đầu mối, ở đây là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nơi đề ra các chủ trương khai thác, bảo tồn, tái tạo nguồn rừng. Chính quyền sở tại chỉ được giao bảo vệ an ninh cho rừng mà không có thẩm quyền về cấp phép khai thác rừng cũng như đất rừng.
Tính một đầu mối sẽ giúp công tác quản lý có hiệu quả hơn có nghĩa giảm được chuyện phá rừng như hiện nay. Mặt khác, rất cần rà soát lại số dự án khoanh nuôi, bảo vệ và cải tạo trồng rừng, trồng cao su hiện hữu để nếu cần thì thu hồi, xử lý trách nhiệm chủ dự án sai phạm, đồng thời cũng nên xiết chặt việc cho phép các dự án mới để tránh “giao trứng cho ác” gây tổn thất lớn cho rừng.
Thật ra khó có một chính sách nào toàn bích, nhưng một chính sách tốt không hể để hở phần chế tài thích đáng. Phá rừng một cách ngang nhiên là xâm phạm tài nguyên quốc gia gây nhiều hậu quả trên diện rộng về môi trường, là coi thường luật pháp… Cần đưa việc phá rừng thành tội phạm hình sự và chế tài đúng mức mà những kẻ này đã gây ra thay vì chỉ xử phạt hành chính với mức chưa đủ sức răn đe. (Đại Đoàn Kết 10/11) đầu trang(
Từ khi tỉnh ta thực hiện Đề án giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất, các hộ dân đã thực sự trở thành chủ nhân của rừng; trách nhiệm trong bảo vệ, chăm sóc rừng được nâng lên.
Mặt khác công tác tuyên truyền đến từng hộ dân đã được lực lượng kiểm lâm phối hợp thực hiện qua nhiều kênh như: Tổ chức ký cam kết, thông qua các buổi họp thôn cán bộ kiểm lâm trực tiếp xuống tuyên truyền, diễn tập PCCR.
Tại buổi diễn tập PCCR thôn Khuôn Tửu, xã Đạo Viện (Yên Sơn) đã có hàng trăm hộ dân trong xã cùng tham gia.
Từ trẻ chăn trâu cho đến các cụ già đều được tuyên truyền, hướng dẫn phòng, chống cháy rừng. Việc phát dọn thực bì sau khai thác rừng được tổ, đội quần chúng bảo vệ và PCCR thôn hướng dẫn đến từng hộ để hạn chế những trường hợp để xảy ra cháy rừng do sơ ý. Tổ, đội quần chúng về bảo vệ và PCCR của thôn cũng thường xuyên nắm bắt thông tin từ người dân, hạn chế người dân ở nơi khác vào rừng để bắt ong hoặc lên rừng tìm cây thuốc.
Đồng chí Lê Xuân Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Yên Sơn cho biết, với diện tích rừng lớn, địa bàn rộng trong khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng, có cán bộ kiểm lâm địa bàn phải phụ trách 2 đến 3 xã nên công tác quản lý, bảo vệ, PCCR còn gặp khó khăn. Có nơi trước đây là điểm nóng về cháy rừng như Tân Tiến, Tân Long… thì nay giữ vững màu xanh của rừng, không có cháy rừng xảy ra. Bởi công tác tuyên truyền luôn được Hạt quan tâm chỉ đạo.
Cán bộ Hạt lấy trọng tâm trong công tác PCCR là nâng cao ý thức của người dân để mỗi người dân tự có ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản của gia đình. Do đó từng cán bộ kiểm lâm địa bàn luôn thực hiện theo phương châm “4 cùng” với nhân dân trong công tác dân vận. Công tác PCCR không chỉ là của lực lượng kiểm lâm, dân quân, quân đội… mà phải bắt đầu từ mỗi người dân.
Tại xã An Khang (thành phố Tuyên Quang) công tác PCCR 2015 - 2016, đã được cấp ủy, chính quyền xã chấn chỉnh. Xã đã xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động giữa lực lượng dân quân và kiểm lâm cùng các lực lượng khác trong công tác bảo vệ rừng; củng cố, kiện toàn đội cơ động của xã và 11 tổ đội quần chúng về các vấn đề cấp bách về bảo vệ và PCCR ở các thôn; thực hiện tuyên truyền ở tất cả các thôn, bố trí lực lượng cơ động thường trực ở các thôn trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng.
Ban chỉ huy bảo vệ và PCCR xã chỉ đạo các thôn hướng dẫn người dân khoanh đường biên trong phát dọn thực bì, hạn chế phát dọn thực bì vào thời điểm nắng nóng, khô hanh kéo dài. Trước khi đốt thực bì, người dân báo cáo với trưởng thôn và các thành viên trong tổ đội quần chúng bảo vệ rừng của thôn để có phương án hỗ trợ phòng khi có cháy xảy ra. (Báo Tuyên Quang 9/11) đầu trang(
Vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh đã ký ban hành Công văn số 4050/UBND-KTN giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đơn vị liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách công tác quản lý bảo vệ rừng.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở ngành, địa phương tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở về quản lý bảo vệ rừng; tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép, kiên quyết xóa bỏ các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép; khẩn trương triển khai sắp xếp, đổi mới các Công ty lâm nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 9/11) đầu trang(
Trước đây, núi Năm Nọc (huyện Cam Lâm, Khánh Hòa) có hơn 1.000ha rừng cây bụi và đất lâm sinh được che phủ bởi thảm thực vật tự nhiên. Tuy nhiên, những năm gần đây, rừng trồng và rừng cây bụi khu vực núi Năm Nọc liên tục bị đốt phá.
Đi cùng lực lượng Kiểm lâm lên tiểu khu 297, 231 núi Năm Nọc, đập vào mắt chúng tôi là những sườn núi đen nhẻm, trơ trọc gốc cây, những vạt rừng cháy sém, nham nhở, xen vào đó là lác đác chòi rẫy. Đứng trên con đường lâm sinh men sườn núi, không khó để nhận ra giữa những rừng trồng keo xanh bạt ngàn là nhiều vạt rẫy rộng hàng nghìn mét vuông đã bị người dân phá trọc để trồng chuối, mì.
Ông Nguyễn Triều Dương - cán bộ quản lý bảo vệ rừng (Hạt Kiểm lâm huyện Cam Lâm) cho biết, diện tích cháy lần này khoảng chục héc-ta, gồm rừng trồng của doanh nghiệp (DN) và đất lâm nghiệp hiện trạng 1B (đất trống có cây bụi). Khu vực cháy nằm tiếp giáp 2 xã Cam Hòa, Suối Tân.
Ông Phạm Tiến Nam - Trưởng trạm Kiểm lâm xã Cam Tân cho biết: “Trước khi mùa mưa đến, người dân thường đốt rẫy chuẩn bị đất để sản xuất, chờ có mưa sẽ xuống giống cây trồng. Bên cạnh đó, nhiều nơi xảy ra tình trạng lấn chiếm, mở rộng diện tích canh tác. Những vụ cháy thường xảy ra ban đêm, lực lượng Kiểm lâm mỏng, phương tiện trang bị lạc hậu nên việc ngăn chặn gặp nhiều khó khăn”.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện, nhiều năm nay, ở khu vực sườn núi Năm Nọc diễn ra tình trạng tranh chấp đất lâm nghiệp giữa DN tư nhân Mỹ Hằng và các hộ dân. Tình trạng tranh chấp kéo dài, chưa giải quyết dứt điểm nên năm nào cũng xảy ra việc đốt phát, lấn đất của nhau.
Chính vì vậy, khi xảy ra đốt phá, các bên lại đổ lỗi cho nhau. Lực lượng Kiểm lâm sẽ phối hợp với chính quyền các xã kiểm kê diện tích đã cháy. “Tuy nhiên, cả DN và người dân đều chưa có quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có cơ sở pháp lý để giải quyết dứt điểm khi xảy ra tình trạng đốt phá lấn chiếm đất lâm nghiệp”, ông Dương nói.
Năm nào Hạt Kiểm lâm huyện Cam Lâm cũng tổ chức tuyên truyền công tác phòng, chống cháy rừng cho các chủ rừng, hộ dân trên địa bàn. Riêng năm 2015, Hạt đã chỉ đạo và phối hợp với 11 xã có rừng ký bản cam kết bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng với 777 hộ dân; tổ chức 27 buổi tuyên truyền bảo vệ rừng cho gần 1.500 lượt người.
Theo UBND huyện Cam Lâm, 2 năm 2014 - 2015, trên địa bàn huyện xảy ra nhiều vụ cháy rừng. Huyện đã tập trung chỉ đạo công tác phòng, chống cháy rừng, đặc biệt ở những nơi đang có sự tranh chấp đất lâm nghiệp. Trước tình trạng các hộ dân có biểu hiện đốt rẫy để trồng cây tái sinh trên núi Năm Nọc, huyện chỉ đạo các xã kiên quyết mời chủ rẫy làm việc, có cam kết khi đốt rẫy phải có phương án bảo đảm phòng cháy chữa cháy, nếu chủ tịch UBND xã để xảy ra cháy thì phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND huyện.
Ông Nguyễn Trí Tuân, Phó Chủ tịch UBND huyện Cam Lâm cho biết: “UBND huyện luôn quan tâm hỗ trợ DN và các hộ dân thực hiện nhiệm vụ đầu tư trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng nhưng cần giải quyết tranh chấp đúng quy định của pháp luật; DN sớm hoàn thiện hồ sơ đất đai đúng quy trình thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Huyện đã tổ chức họp đề nghị chủ rừng tư nhân và các hộ dân hợp tác với nhau trong quản lý bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, chỉ đạo UBND các xã Cam Hòa, Suối Tân, Cam Tân cùng DN tư nhân Mỹ Hằng cung cấp toàn bộ hồ sơ liên quan đến thủ tục đất đai; hướng dẫn DN các quy trình thủ tục xác nhận đất nào là của DN, đất nào là của các hộ dân để xử lý theo quy định hiện hành”. (Báo Khánh Hòa 9/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo thống kê, các dịch vụ hệ sinh thái từ rừng ngập mặn cung cấp và hỗ trợ sinh kế với trị giá ít nhất 1,6 tỷ USD/năm cho cư dân miền biển.
Tuy nhiên, cùng với đó là con số 1.780ha rừng ngập mặn bị mất trong 1 năm. Những con số này khiến nhiều người phải giật mình suy nghĩ, đặc biệt trong thời kỳ biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp.
Rừng ngập mặn mang lại nhiều giá trị và dịch vụ cho đời sống con người, đặc biệt là đối với chính cư dân miền biển, là vườn ươm và phát triển của nhiều loại thủy hải sản, cung cấp dược liệu, chất đốt, nguyên liệu cho công nghiệp, tạo cảnh quan du lịch và tham quan học tập, là tấm lá chắn phòng hộ rừng ven biển và lá phổi xanh hấp thụ khí CO2 điều tiết nhiệt độ và khí hậu.
Theo một nghiên cứu khác, thu nhập một xã ven biển từ rừng ngập mặn chiếm 30-70%. 1km2 ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể cung cấp lượng đánh bắt khoảng 450kg hải sản... (VOV Giao Thông 10/11) đầu trang(
Đại biểu Phạm Thị Mỹ Lệ (Bình Phước) đã đề xuất như vậy trong phiên thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014, diễn ra sáng 10/11.
Theo đại biểu Phạm Thị Mỹ Lệ, thời gian qua, công tác quản lý sử dụng đất đai các nông lâm trường đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Mặc dù các nông, lâm trường đã được nhà nước giao quản lý diện tích đất đai khá lớn, gần 8 triệu héc ta, nhưng việc quản lý sử dụng chưa đạt hiệu quả cao, tình trạng giao khoán đất sai mục đích, sai đối tượng, lãng phí tài nguyên rừng, tài nguyên đất khá phổ biến, Bên cạnh đó, thực trạn tranh chấp, vi phạm pháp luật trong sử dụng đất còn nhiều.
Đặc biệt, diện tích đất rừng ngày càng bị thu hẹp, nhất là các khu rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Nguyên nhân của những hạn chế trên, theo đại biểu Mỹ Lệ là do di dân thiếu quy hoạch; đồng thời do các tổ chức, cá nhân được giao quản lý bảo vệ rừng còn buông lỏng trách nhiệm, sử dụng đất rừng sai mục đích quy định, cây trồng rừng chưa thực sự được phù hợp.
Để nâng cao hiệu quản trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường, đại biểu Mỹ Lệ đề xuất: Nên chọn loại cây rừng cho phù hợp. Đối với rừng phòng hộ, rừng sản xuất, ngoài các loại cây trồng trong danh mục cây trồng rừng theo quy định của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đại biểu Mỹ Lệ đề nghị Quốc hội xem xét đưa cây điều vào danh mục cây trồng rừng, cụ thể sẽ trồng xen trong rừng phòng hộ, rừng sản xuất nhằm phủ xanh đất trống đồi núi chọc.
“Cây điều có tuổi thọ cao trên 50 năm, độ che phủ rộng, có khả năng chống xói mòn và cho hiệu quả kinh tế cao. Cây điều được trồng xen trong rừng phòng hộ, rừng sản xuất sẽ góp phần giữ rừng tốt và giữ diện tích đất rừng không bị giảm; đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, giúp nông trường có thêm nguồn thu nhập, hỗ trợ cho công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng tốt hơn”. – đại biểu Mỹ Lệ khẳng định.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Bình Phước, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 134.538 ha điều, năng suất 14,71 tạ/ha; sản lượng trung bình hàng năm đạt khoảng 191.735 tấn. Cây điều rất dễ thích nghi và sinh trưởng tốt ngay cả trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, độ dốc cao; tỷ lệ che phủ của cây điều đã đóng góp gần 20% trong khoảng 60% tỷ lệ che phủ chung của toàn tỉnh.
Hiện nay hạt điều là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu giữ vai trò chủ lực, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Năm 2014, Bình Phước xuất khẩu khoảng 26.697 tấn hạt điều nhân, tăng 3,3% so cùng kỳ; thị trường xuất khẩu tập trung ở các nước Trung Quốc, Mỹ, Hà Lan, Canada, Anh…
Về tiêu thụ nội địa, mặc dù giá hạt điều thô từ các nước châu Phi, Ấn Độ thấp hơn so với giá điều trong nước nhưng các doanh nghiệp vẫn chuộng hạt điều nội địa, nhất là điều Bình Phước vì chất lượng vượt trội và sản phẩm làm ra dễ bán. Sản phẩm từ cây điều đã thúc đẩy được một phần công tác cung cấp nguyên liệu chế biến cho công nghiệp cũng như tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 10/11) đầu trang(
Khách du lịch có dịp tham gia trồng rừng, người dân có thêm thu nhập từ các dự án bảo tồn thiên nhiên hiệu quả.
Vừa bảo vệ khu dự trữ sinh quyển, vừa nhân rộng những mô hình mới góp phần cải thiện đời sống người dân địa phương. Phát triển kinh tế không tách rời việc gìn giữ quần thể sinh thái Cát Bà. Đó là những gì có thể ghi nhận qua “mắt thấy, tai nghe” tại những điểm đến của Cát Bà trong những ngày này.
Đó là cách giữ những khu rừng thiên nhiên của Cát Bà khỏi bị ảnh hưởng bởi hoạt động tìm mật ong thiên nhiên khi giá thành của mật ong là nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống của nhiều người dân huyện đảo Cát Hải.
Việc nuôi ong được kết hợp với phát triển trồng cam Gia Luận, giống cam mang thương hiệu của xã Gia Luận ra khỏi Cát Bà và có thể cạnh tranh với nhiều thương hiệu cam ngọt khác như cam Canh, cam Vinh… Bên cạnh đó, những hộ trồng cam, nuôi ong còn có thể tạo điểm đến trong các tour du lịch khám phá vườn sinh thái của khách du lịch đến với Cát Bà.
Vườn cam của bác Nguyễn Tiến Chinh ở xã Gia Luận có hơn 1500 cây trên diện tích 7 ha. Không chỉ có cam Gia Luận, khu vườn này còn có nhiều cây cam đường Canh và 40 đàn ong lấy mật. Theo bác Chinh, vườn cam của gia đình được Sở Nông nghiệp - PTNT chuyển giao giống cây, công nghệ trồng đạt tiêu chuẩn VietGap. Mỗi năm, vườn cây cho thu hoạch 2,5 tấn quả và hàng trăm lít mật ong phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Đây cũng là điểm đến của nhiều khách du lịch thích khám phá du lịch cộng đồng sinh thái. (Báo Hải Phòng 9/11) đầu trang(
Vừa qua, tại thành phố Rạch Giá (Kiên Giang), Cục Kiểm lâm phối hợp tỉnh Kiên Giang tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng các tỉnh, thành phía Nam năm 2015. Đại diện lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, tỉnh Kiên Giang và Chi cục Kiểm lâm 19 tỉnh, thành khu vực Nam bộ tham dự.
Từ đầu năm đến cuối tháng 10/2015, 19 Chi cục Kiểm lâm các tỉnh, thành đã phát hiện 1.875 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; xử lý 1.758 vụ, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 1.736 vụ, xử lý hình sự 22 vụ, những vụ còn lại đang hoàn thiện hồ sơ để xử lý; tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước 10,6 tỉ đồng.
Các hình thức vi phạm lâm luật như: phá rừng trái phép, khai thác lâm sản, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Bên cạnh đó, vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng từ đầu năm đến nay xảy ra 49 vụ, gây thiệt hại tổng diện tích rừng hơn 141 ha, tập trung trên lâm phần các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, An Giang. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 9/11) đầu trang(
Là địa phương có diện tích rừng và đất lâm nghiệp không lớn, Bắc Ninh hiện có 645 ha đất lâm nghiệp được quy hoạch xây dựng rừng phòng hộ cảnh quan môi trường. Trước khi tái lập tỉnh hầu hết đồi núi của Bắc Ninh đều là đồi núi trọc, bị xói mòn, thoái hóa nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn tới môi trường sinh thái, đời sống, sinh hoạt và sản suất nông nghiệp của nhân dân nơi có đồi núi.
Năm 1997 tỉnh Bắc Ninh tái lập, Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh được thành lập, đã chủ động, tích cực tham mưu với Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT có những giải pháp, biện pháp chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm thi hành pháp luật trong lĩnh vực này.
Đến nay, bằng nguồn vốn chương trình 327, 661, chương trình mục tiêu quốc gia, toàn bộ diện tích đồi núi trọc của tỉnh quy hoạch cho xây dựng rừng phòng hộ đã được trồng rừng phủ xanh, rừng trồng đã khép tán, đáp ứng tốt chức năng phòng hộ, chống xói mòn, cải thiện cảnh quan môi trường và đang từng bước được đầu tư trồng rừng nâng cấp đảm bảo mục tiêu xây dựng rừng bền vững với nhiều loài cây bản địa có giá trị cao về kinh tế, môi trường sinh thái.
Trong những năm qua toàn tỉnh trồng rừng tập trung được 1.378 lượt ha, trong đó: trồng rừng mới 597 ha, trồng rừng bổ sung 309 ha, trồng rừng nâng cấp 472 ha; chăm sóc rừng 3.450 lượt ha, thực hiện khoán bảo vệ rừng 3.083 lượt ha.
Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền vận động, hỗ trợ nhân dân xây dựng vườn rừng, cải tạo vườn tạp và trồng cây phân tán đạt hiệu quả cao với 405 ha vườn đồi, trên 20 triệu cây phân tán, trên 220 mô hình khuyến lâm, mô hình trồng cây lâm nghiệp với gần một triệu cây các loại, trồng thử nghiệm thành công các mô hình cây Tràm Úc chắn sóng ven đê với số cây trồng trên 66 nghìn cây, trải dài trên 7 km đê (tương đương diện tích trên 7 ha).
Song song với công tác phát triển rừng, trồng cây nhân dân, công tác quản lý bảo vệ rừng luôn được coi trọng, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, chính quyền địa phương bảo vệ an toàn diện tích rừng và đất lâm nghiệp, cơ bản không bị chặt phá, lấn chiếm trái phép; công tác phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng thực hiện tốt.
Đến nay công tác giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý đã cơ bản thực hiện xong; 100% các thôn, khu dân cư có rừng trên địa bàn tỉnh đã xây dựng quy ước bảo vệ rừng và triển khai thực hiện trong cộng đồng dân cư khá tốt. Vì vậy công tác bảo vệ rừng được thực hiện ngày càng có hiệu quả.
Về công tác quản lý lâm sản, trong những năm qua lực lượng Kiểm lâm Bắc Ninh tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý lâm sản; hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, chế biến lâm sản phát triển, trọng tâm là vùng làng nghề chế biến đồ gỗ mỹ nghệ. Trên cơ sở đó đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và tạo việc làm, thu nhập cao cho nhân dân vùng làng nghề.
Công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Đã phát hiện kiểm tra, bắt giữ 1.723 vụ vi phạm, trong đó: xử lý vi phạm hành chính 1.717 vụ, xử lý hình sự 5 vụ với 7 đối tượng bị truy tố trước pháp luật; tịch thu sung quỹ Nhà nước trên 1.550 m3 gỗ các loại, 84,6 tấn gỗ kích cỡ nhỏ, gần 50 tấn động vật hoang dã, 28 xe ô tô các loại, 11 chiếc xe máy và nhiều lâm sản vi phạm khác; thu phạt hành chính và bán tang vật, phương tiện vi phạm tịch thu sung quỹ nhà nước gần 30 tỷ đồng.
Phát huy những thành tích đạt được, trong thời gian tới lực lượng Kiểm lâm Bắc Ninh sẽ tích cực tham mưu với Sở Nông nghiệp và PTNT, các cấp uỷ, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn. Phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cơ quan chức năng có liên quan trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng và bảo đảm chấp hành pháp luật trong lĩnh vực quản lý lâm sản nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng. Chủ động thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020; Chương trình đầu tư cải tạo, nâng cấp rừng phòng hộ tỉnh Bắc Ninh theo mô hình phát triển rừng bền vững 2015-2020; Dự án nâng cao năng lực PCCCR và xây dựng, triển khai thực hiện tốt dự án trồng Tràm chắn sóng ven đê.
Tăng cường công tác quản lý nguồn gốc lâm sản theo quy định của pháp luật, đặc biệt là vùng làng nghề kinh doanh, chế biến đồ gỗ mỹ nghệ; Ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ công chức, viên chức, lao động trong lực lượng Kiểm lâm Bắc Ninh, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. (Báo Bắc Ninh 10/11) đầu trang(
Những ngày cuối năm 2015, không khí sản xuất tại các doanh nghiệp (DN) gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Dương diễn ra rất khẩn trương. Các DN gỗ đang cố gắng hoàn thành đơn hàng xuất khẩu trong năm 2015 và chuẩn bị tốt nhất về mọi mặt để tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) khi Việt Nam ký kết.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam khẳng định, năm 2015 xuất khẩu gỗ sẽ đạt trên 7 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 10% so với năm 2014. Theo ông Quyền, quý IV thường là vụ làm ăn chính của ngành gỗ và tính đến thời điểm này, hợp đồng xuất khẩu của các DN vẫn còn nhiều nên khả năng kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 7 tỷ USD trong năm nay là hoàn toàn thực hiện được.
Đây là thông tin đáng mừng bởi một vài năm nay ngành gỗ gặp nhiều khó khăn khiến tăng trưởng ngày một giảm sút. Cụ thể, từ năm 2010 trở về trước, tốc độ tăng trưởng của ngành gỗ đạt khoảng 15-20%/năm, nhưng từ năm 2010 trở lại đây tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 10%/ năm.
Chủ một DN gỗ tại TX.Dĩ An cho biết, khả năng hoàn thành chỉ tiêu 7 tỷ USD xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong năm nay là hoàn toàn khả quan, bởi các đơn hàng lớn, giá trị xuất khẩu cao đang tập trung tại tỉnh Bình Dương. Bên cạnh đó, các DN đang tăng tốc để hoàn thành chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu cả năm 2015 để tính toán cho kế hoạch năm 2016.
Trao đổi với chúng tôi về tình hình xuất khẩu của các DN gỗ trên địa bàn tỉnh, ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương phấn khởi cho biết, tại Bình Dương các DN đang đẩy mạnh sản xuất để kịp giao hàng cho đối tác. Nhiều DN đã phải tổ chức tăng ca, thuê thêm công nhân để phục vụ sản xuất cho tới cuối năm, thậm chí nhiều DN đã nhận đơn hàng cho quý I- 2016.
Ngành chế biến gỗ của Bình Dương đang ngày càng lớn mạnh và đóng góp tích cực vào việc đưa gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ 6 trong top hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Theo ghi nhận, hiện nay các DN gỗ đang tính toán xa hơn đó là sân chơi TPP. Khi tham gia TPP, ngành gỗ sẽ có nhiều thuận lợi để thâm nhập sâu rộng vào thị trường các nước trong TPP.
Mặc dù chưa có biểu thuế suất cho nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường các nước tham gia TPP, nhưng đây là thị trường lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua. TPP có các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Canada… đang chiếm tới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam.
Vấn đề lớn nhất đối với ngành gỗ của Bình Dương hiện nay vẫn là nguồn nguyên liệu. Sắp tới, ngày 2-12-2015, Thông tư 40 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có hiệu lực, cây cao su tại tỉnh Bình Dương sẽ có thêm cơ hội “góp sức” cho nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu sản xuất tại chỗ của các DN.
Ghi nhận thực tế cho thấy, nhiều DN Bình Dương những năm qua đã chủ động đầu tư trồng vùng nguyên liệu ở các tỉnh Tây nguyên và miền Trung để hạn chế nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với một số sản phẩm gỗ yêu cầu nhập khẩu gỗ thông, gỗ teak… các DN vẫn phải nhập khẩu từ các đối tác trong TPP. Thuế suất nhập khẩu giảm cũng sẽ giúp các DN tiết kiệm chi phí nhiều hơn, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh với các đối thủ, nhất là các nước ngoài TPP.
Ông Lưu Phước Lộc, Giám đốc Công ty Gỗ Mtrade (TX. Thuận An) cho biết, sân chơi TPP đòi hỏi các doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ hàng rào kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ nguồn nguyên liệu, bởi các thị trường lớn như Mỹ và các nước châu Âu rất khắt khe đối với vấn đề này. Bên cạnh đó, chính sách trợ giá, hỗ trợ chi phí điện, nước, sản xuất không còn được các Chính phủ can thiệp vào. DN cần tự lực cánh sinh, nỗ lực hòa nhập vào dòng chảy chung của TPP.
Ông Michael Buckley, chuyên viên của Tổ chức chứng chỉ rừng (PEFC) cho rằng, PEFC đang nỗ lực giúp các hộ dân có diện tích trồng rừng nhỏ tại Việt Nam để họ vẫn có thể tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu. Ở Việt Nam, tính đến năm 2014 đã có 18 đơn vị được cấp chứng chỉ rừng FSC FM/ CoC. Đáng chú ý, nhóm 103 hộ gia đình ở huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị và 300 hộ gia đình dự án WB3 ở 6 tỉnh miền Trung đã được cấp chứng chỉ FSC FM năm 2010 và 2012.
Nhiều DN gỗ của Bình Dương cũng đã tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu này tại các tỉnh miền Trung bằng hình thức liên kết với các hộ có diện tích trồng rừng nhỏ, hoặc đầu tư trồng nguyên liệu nơi đang được PEFC hỗ trợ để chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi tham gia thị trường xuất khẩu.
Theo ý kiến của các chuyên gia, việc Bình Dương chủ động xây dựng khu công nghiệp tập trung riêng biệt cho ngành gỗ là một hướng đi có tính đón đầu xu thế. Tuy nhiên, tỉnh Bình Dương cần có chiến lược phát triển nguồn nguyên liệu gỗ phục vụ nhu cầu sản xuất của DN. Nếu Bình Dương có chính sách ưu đãi thu hút đầu tư cho vùng trồng nguyên liệu thì nơi đây không những trở thành địa phương sản xuất gỗ lớn nhất nước, mà còn trở thành vùng nguyên liệu lý tưởng cho cả Đông Nam bộ. (Báo Bình Dương 10/11) đầu trang(
Công ty Điện lực Quảng Nam vừa tổ chức nghiệm thu và đóng điện công trình cấp điện cho Công ty TNHH Cầu thang Việt Úc (Cụm công nghiệp Chợ Lò, Phú Ninh). Theo đó, lắp mới trạm biến áp 100kVA và kéo mới 156m đường dây trung thế, với tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đồng. Đây là công trình được Đoàn khối Doanh nghiệp Quảng Nam gắn biển “Công trình thanh niên 2015” và là công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
Được biết, Công ty TNHH Cầu thang Việt Úc đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ vào tháng 3.2015 tại Cụm công nghiệp Chợ Lò, chuyên sản xuất sản xuất cầu thang gỗ và đồ gỗ nội thất cao cấp xuất khẩu, chế biến từ gỗ rừng trồng cây keo lá tràm, cây bạch đàn và cây cao su, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Úc và các nước châu Âu. (Báo Quảng Nam 9/11) đầu trang(
Sang năm 2016, hơn 200ha cao su trên địa bàn tỉnh Điện Biên sẽ bắt đầu thu hoạch. Thế nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn còn rất nhiều vướng mắc giữa công ty với chính quyền và các sở, ngành liên quan. Điều này đang đẩy người trồng vào nguy cơ thiệt thòi, đổ vỡ về kinh tế.
Đến nay việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân góp đất trồng cao su cơ bản đã hoàn thành. Thế nhưng, việc thực hiện chính sách hỗ trợ cho đối tượng góp đất vẫn còn dang dở. Theo ông Phan Văn Lợi, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cao su Điện Biên, khoản hỗ trợ chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho dân theo Quyết định 16 của tỉnh, hiện nay có một số diện tích chưa được hỗ trợ khiến người dân nhiều nơi không còn mặn mà với việc phát triển cây cao su.
Nhiều chính sách hỗ trợ của tỉnh đối với Công ty đều chưa được thực hiện. Cụ thể như: Chính sách hỗ trợ vay vốn; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào; việc miễn thuế đất, tiền thuê đất để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội và hỗ trợ chênh lệch giá giống cao su nhập ngoại; công ty cũng chưa được chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với cây cao su.
Vướng mắc lớn nhất kéo dài lâu nay là việc thỏa thuận chế độ chi trả giữa doanh nghiệp và chính quyền tỉnh Điện Biên vẫn theo kiểu “không ai chịu ai”. Từ đó dẫn đến hợp đồng ăn chia sản phẩm không thể ký kết do mỗi bên soạn thảo theo một kiểu. Ông Phan Văn Lợi cho rằng, UBND tỉnh Điện Biên cần chủ trì một buổi làm việc chính thức giữa công ty với các sở, ngành liên quan và UBND các huyện để giải quyết những tồn đọng, vướng mắc trong việc phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh.
Theo hợp đồng, người dân góp đất trồng cao su sẽ được hưởng tỷ lệ 10% sản phẩm mủ sau khai thác, 10% củi, gỗ khi vườn cây hết chu kỳ khai thác mủ. Công ty cổ phần Cao su Điện Biên chỉ đồng ý thực hiện chi trả hỗ trợ góp đất theo diện tích cây cao su đứng, tức là 3.700ha diện tích cao su theo số liệu của công ty. Ông Phan Văn Lợi cho rằng, một số diện tích trong bìa đỏ đã được tỉnh Điện Biên cấp cho người dân nhưng người dân lại không trồng cao su. Cần rà soát lại chính xác để đảm bảo tính công bằng giữa những hộ có đất trồng cao su và những hộ có đất nhưng không trồng cao su.
Trong khi đó, chính quyền tỉnh Điện Biên và các sở, ngành lại đề nghị phía công ty cần thực hiện chi trả hỗ trợ theo tổng diện tích người dân góp đất, tức là hơn 5.000ha. Chính quyền cho rằng nếu chỉ chi trả theo diện tích cây cao su đứng sẽ thiệt thòi cho người dân, vì ngoài diện tích thực mà đơn vị tiến hành trồng cao su, những diện tích trống trong vườn cao su, người dân cũng không thể sử dụng với mục đích khác.
Thậm chí, ở một số nơi, người dân còn không biết diện tích vườn cao su do mình góp đất nằm ở đâu. Như diện tích cây cao su được trồng từ năm 2008 tại các xã Hua Thanh, Thanh Nưa và Mường Pồn (huyện Điện Biên) dự kiến sẽ được đưa vào thu hoạch trong năm 2016. Người dân đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cho đến nay người dân vẫn không hề hay biết diện tích cao su của mình nằm ở đâu, do khu vực này đất trồng cao su cho người dân được cấp theo nhóm hộ. Bởi vậy việc chi trả cũng cần thực hiện theo cộng đồng.
Vấn đề này, Công ty cổ phần Cao su Điện Biên đề nghị UBND tỉnh thống nhất, chỉ đạo các nhóm hộ dân phải có một người đại diện để ký hợp đồng ăn chia sản phẩm với đại diện công ty. Không thể ký trên một thửa đất không xác định ranh giới mà lại có đến hơn 10 hộ.
Bên cạnh đó, nếu thực hiện chi trả theo cả cộng đồng thì cũng cần phải tiến hành rà soát lại việc phân chia diện tích. Trước đây, diện tích đất trồng cao su được chia theo hộ có kinh tế từ trung bình trở lên được chia bình quân 3.500m2; còn hộ nghèo được chia bình quân 4.500m2. Tuy nhiên đấy là số liệu năm 2008, bởi vậy cần phải rà soát lại hộ nghèo hiện nay để phân chia hợp lý hơn.
Bên cạnh đó, việc ì ạch trong công tác xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su tại bản Huổi Chan, xã Mường Pồn (huyện Điện Biên) cũng cho thấy sự thiếu thống nhất giữa doanh nghiệp và sở, ngành của tỉnh.
Theo dự kiến nhà máy sẽ vận hành từ năm 2016, công suất giai đoạn 1 là 3.000 tấn/năm. Thế nhưng đến thời điểm hiện tại, nhà máy chế biến mủ thì vẫn chỉ nằm trên giấy, dự án vẫn chưa thể triển khai do vướng mắc thủ tục giữa Công ty cổ phần Cao su Điện Biên và Sở Tài nguyên và Môi trường.
Theo ông Ngôn Ngọc Khuê, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở đã yêu cầu Công ty cổ phần Cao su Điện Biên sớm khẩn trương hoàn thành giải phóng mặt bằng để tiến hành xây dựng nhà máy nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện.
Lý giải nguyên nhân chậm triển khai giải phóng mặt bằng, ông Phan Văn Lợi cho biết: “Diện tích giải phóng mặt bằng xây dựng nhà máy sơ chế mủ cao su là hơn 8,5ha. Trong dự kiến dự án của chúng tôi, giá đền bù giải phóng mặt bằng khoảng 4 tỷ đồng. Nhưng mới đây, phương án mà Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Điện Biên dự kiến lên đến gần 14 tỷ đồng.
Nếu để đầu tư một nhà máy gần 100 tỷ nữa thì quá tốn kém. Chúng tôi được biết ở Sơn La và Lai Châu thì việc giải phóng mặt bằng để xây dựng nhà máy đều được tỉnh hỗ trợ. Phương án này chúng tôi khó có thể đầu tư, trong khi giá mủ xuống thấp mà phải đầu tư nhà máy với chi phí cao như vậy. Chúng tôi đang nghiên cứu phương án là chuyển nguyên liệu bán cho các tỉnh lận cận”.
Để tìm hiểu rõ về vấn đề này, phóng viên Báo LĐ&XH đã trao đổi với ông Nguyễn Đức Cương, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Điện Biên. Ông Cương lý giải: “Từ 1/7/2014, chúng ta vẫn đang tính giá đất theo Luật Đất đai năm 2003, bởi vậy mới có cái giá 4 tỷ đồng kia. Còn từ thời điểm đó đến nay, chúng ta đang thực hiện theo Luật Đất đai 2013 nên giá đất đã có nhiều thay đổi.
Ngày 19/10/2015 chúng tôi mới nhận được Quyết định số 1205 của UBND tỉnh Điện Biên về việc “Phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sơ chế mủ cao su tại bản Huổi Chan 1, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên”.
Bởi vậy, con số 13,7 tỷ là chúng tôi chỉ mới khái toán. Tuy nhiên, mức giá đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng nhà máy sẽ bằng hoặc cao hơn con số 13,7 tỷ trên. Bởi theo Quyết định 13, ngày 12/8/2015 của UBND tỉnh Điện Biên có quy định tiền các khoản hỗ trợ tăng từ 2-3 lần khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất”.
Từ lý do trên, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Điện Biên chỉ tiến hành tính toán theo Luật Đất đai và theo các quyết định của UBND tỉnh, các khoản đền bù đều cam kết thực hiện đúng luật. Còn việc ở các tỉnh khác được chính quyền hỗ trợ chi phí mặt bằng là do chính sách của tỉnh. Vấn đề là chi phí đền bù giải phóng mặt bằng thì vẫn phải tính đủ, tính đúng cho người dân không bị thiệt thòi.
Ông Ngôn Ngọc Khuê cho biết: “Vấn đề chính vướng mắc vẫn là ở chủ đầu tư, trách nhiệm chính vẫn là chủ đầu tư. Trong thời gian qua, chủ đầu tư chưa tích cực triển khai các nội dung. Cụ thể việc khởi công xây dựng nhà máy. Tỉnh Điện Biên đã hết sức tạo điều kiện, quy hoạch chấp thuận địa điểm và rà soát, kê khai, kiểm đếm trên vị trí đó. Tuy nhiên đến thời điểm này ngành chức năng của tỉnh cũng chưa nhận được dự án cụ thể về dự án nhà máy sơ chế mủ cao su, về đánh giá tác động môi trường”...
Theo kế hoạch, những diện tích trồng trong giai đoạn 2008 - 2009 sẽ có khả năng cho thu hoạch vào cuối năm 2016 và thu hoạch chính thức vào năm 2017. Tuy nhiên việc doanh nghiệp và chính quyền chưa thể thống nhất phương án đền bù chi trả càng khiến người dân như rơi vào cảnh lao đao. (Dân Sinh 10/11) đầu trang(
Ngày 6-11, đồng chí Hoàng Văn Chất, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì cuộc làm việc của Thường trực Tỉnh ủy với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành về công tác chuẩn bị giống cây trồng và kế hoạch Tết trồng cây năm 2016.
Dự cuộc làm việc có đồng chí Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; lãnh đạo một số sở, ngành của tỉnh.
Kế hoạch tổ chức phát động “Tết trồng cây” Xuân Bính Thân 2016 và phát động trồng cây, trồng rừng kỷ niệm 126 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2016), với yêu cầu mỗi người dân trồng ít nhất 1 cây xanh/năm, nhằm xây dựng phong trào trồng cây, trồng rừng thường xuyên, sâu rộng, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh về mục đích của việc trồng cây, trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng.
Dự kiến kế hoạch trồng cây, trồng rừng năm 2016 sẽ được tổ chức làm hai đợt. Đợt I, cấp tỉnh và cấp huyện tổ chức phát động “Tết trồng cây” Xuân Bính Thân năm 2016 vào ngày 15-2-2016 (tức ngày 8 Tết Bính Thân). Đợt II, các huyện, thành phố chọn 2 đến 3 điểm, huy động lực lượng các cơ quan, đoàn thể, trường học trên địa bàn tham gia trồng cây trong tháng 5-2016, nhân Kỷ niệm 126 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Các giống cây trồng chủ yếu gồm: trám, ban, sấu, lát hoa, sao đen, thông mã vĩ, si, đa, bồ đề, ngọc lan, kim giao... ở dọc hành lang giao thông, khuôn viên các đơn vị, trường học và tại Trung tâm hành chính - Văn hóa Phật giáo tỉnh...
Phát biểu tại cuộc làm việc, đồng chí Hoàng Văn Chất đề nghị UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể về trồng cây phân tán dọc đường giao thông; trồng cây trên đất đồi và đất lâm nghiệp; gắn Tết trồng cây với trồng rừng. Tổ chức lấy ý kiến chọn loại cây trồng phù hợp và đề xuất nguồn kinh phí thực hiện; chọn địa điểm trồng và thời gian trồng cây, trồng rừng phù hợp; quan tâm kiểm tra và chăm sóc cây sau khi trồng. (Báo Sơn La 9/11) đầu trang(
Hiện nay, tổng diện tích rừng cả nước ước hơn 13 triệu ha, trong đó, khoảng 3,5 triệu ha là rừng trồng. Theo đề án cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), đến năm 2020, cả nước sẽ có khoảng từ 16,2 triệu đến 16,5 triệu ha rừng, trong đó, rừng sản xuất hơn 8 triệu ha, gồm cả rừng trồng.
Nếu tạo được chuỗi liên kết, khi khai thác sẽ nâng cao thu nhập cho người trồng và là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ.
Ngành chế biến gỗ đã có bước phát triển rất nhanh trong hơn 10 năm trở lại đây, bình quân tốc độ phát triển tăng 2 con số mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm tăng hơn gấp đôi, lên 6,5 tỷ USD (năm 2014) so với 3 tỷ USD (năm 2010), năm 2015 dự kiến đạt 7,2 tỷ USD. Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến, mỗi năm ngành này phải nhập khẩu gỗ từ nhiều nước.
Năm 2014 nhập khẩu gỗ hết 1,8 tỷ USD. Trong khi đó, ngành lâm nghiệp (quản lý, trồng và khai thác rừng) phát triển khiêm tốn, bình quân khoảng 5%/năm. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh chưa cao, năng suất, sản lượng trồng trọt thấp.
Cả nước có 642 nông, lâm trường được nhà nước giao đất, cho thuê đất, giao quản lý với 7,9 triệu ha (trong đó có 2,4 triệu ha rừng sản xuất, gần 639.000ha đất sản xuất nông nghiệp và hơn 236.600ha đất chưa sử dụng), chiếm 90% tổng diện tích đất đang sử dụng trong 10 năm qua (từ 2004 -2014), nhưng tổng nộp ngân sách nhà nước chỉ hơn 1.800 tỷ đồng. Việc sử dụng đất kém hiệu quả, giao khoán sử dụng sai mục đích, sai đối tượng dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí tài nguyên đất đai khá phổ biến.
2 năm nay, sau khi tái cơ cấu, ngành lâm nghiệp có sự chuyển động khá tích cực khi tăng trưởng 6,5%/năm, năm 2015 có thể đạt tốc độ tăng trưởng 7% - 8%. Dịch vụ môi trường rừng đã trở thành nguồn tài chính quan trọng, bền vững của lâm nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng, giúp tăng thu nhập cho người làm nghề rừng, tạo nguồn tài chính bền vững, giảm bớt phần nào áp lực cho ngân sách nhà nước.
Tuy vậy, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp vẫn còn thấp, chỉ khoảng 3% - 3,3% giá trị sản xuất của ngành nông - lâm - thủy sản. Rừng trồng chủ yếu cung cấp dăm giấy hay dăm gỗ xuất khẩu, vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây trồng lâm nghiệp.
Gỗ rừng trồng cho chế biến gỗ còn rất khiêm tốn. Trong khi đó, tình trạng đất đai manh mún và phân tán làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực do không tận dụng được tính kinh tế theo quy mô, không áp dụng được các biện pháp kỹ thuật, khó cơ giới hóa, không tạo được quy mô sản xuất hàng hóa đồng đều, làm tăng chi phí sản xuất.
Ngành lâm nghiệp, trong đó có chế biến gỗ là một trong ít ngành xuất siêu, hàng năm mang về khoản ngoại tệ không nhỏ cho đất nước. Có thể nói, đầu ra của rừng trồng ổn định thời gian qua nhờ xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc, Nhật Bản; tạo động lực cho người trồng rừng nên diện tích rừng trồng đã tăng trong nhiều năm qua, lên 3,5 triệu ha, mỗi năm diện tích rừng trồng tăng thêm khoảng 200.000ha.
Thế nhưng, động lực này hiện nay lại trở thành “điểm nghẽn” khi không thể nâng cao giá trị gia tăng lâm sản. Dù công nghiệp chế biến phát triển mạnh hơn 10 năm qua, nhưng do thiếu gắn kết giữa nhà máy và vùng nguyên liệu nên giá trị gia tăng của lâm sản rất thấp, như nhận định của Tổng cục Lâm nghiệp. Nếu tạo được sự gắn kết này, con số xuất siêu sẽ còn cao hơn, giúp cải thiện đời sống người trồng rừng và nâng khả năng cạnh tranh ngành chế biến gỗ.
Cây gỗ rừng trồng tràm bông vàng xuất khẩu giá 130 - 145 USD/tấn dăm, nhưng khi sản xuất ra ghế như Công ty Theodor Alexander (TPHCM) bán với giá 100USD/chiếc. Vì không thể mua được cây rừng tràm nguyên liệu trong nước (đường kính thân gỗ quá nhỏ, dưới 10cm) nên phải nhập khẩu để chế biến. Loại cây rừng trồng này có thể tạo ra giá trị gia tăng cao nếu như không thu hoạch sớm.
Do chính sách của nhà nước với người trồng rừng chỉ đến năm thứ 4. Vì vậy, người dân phải trồng 4.000 cây/ha nhằm tạo ra sinh khối tối đa trong 4 năm để bán, nên giá trị mang lại thấp. Vấn đề là làm sao để tạo ra sự kết nối giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng, cũng như tạo ra được niềm tin với người trồng nếu xảy ra bất trắc (ví dụ như thiên tai làm ngã đổ cây nếu trồng kéo dài thời gian).
Để giải quyết bất cập này, ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Scansia Pacific, cho biết công ty đã hợp đồng với người trồng rừng 4 tỉnh miền Trung. Theo đó, rừng tràm đến năm thứ 4 chỉ tỉa thưa chứ không khai thác trắng. Để đảm bảo cho người trồng, công ty sẽ tiêu thụ hết với giá thị trường nếu sau đó cây bị mưa bão làm ngã đổ.
Sau 7 năm, công ty cam kết bao tiêu hết, nếu gỗ có chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) thì sẽ mua cao hơn 25% so với gỗ chưa FSC. Từ năm thứ 5, hộ dân nào cần vốn, công ty cho vay 4 triệu đồng/ha/năm với lãi suất ngân hàng và giảm 2%, trả sau khi bán gỗ cho công ty. Với cách làm này, nông dân các tỉnh đã ký hợp đồng với gần 1.000ha.
Năng suất rừng trồng còn thấp so với các nước khu vực, sản phẩm chủ yếu là gỗ nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ lớn cho ngành công nghiệp chế biến. Giá trị thu nhập chỉ 7-8 triệu đồng/ha/năm nên đa phần người dân chưa sống được từ nghề trồng rừng, thu nhập bình quân ở vùng lâm nghiệp phát triển chỉ chiếm 40% - 45% tổng thu nhập, những khu vực khác khoảng 20%. (Sài Gòn Giải Phóng 9/11) đầu trang(
Ngày 12/11 tới, Hội chợ Đồ gỗ và Trang trí Nội thất Việt Nam 2015 (VIFA HOME 2015) sẽ chính thức diễn ra tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Tân Bình, quận Tân Bình, Tp.HCM.
Đây là hoạt động thường niên do Hội Mỹ Nghệ và Chế Biến Gỗ Tp.HCM (HAWA) tổ chức, nhằm quảng bá các sản phẩm đồ gỗ nội thất và thủ công mỹ nghệ do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất.
Với chủ đề “Đồ gỗ Việt - Giữ vững sân nhà, không phụ thuộc hàng nhập”, Hội chợ năm nay có khoảng 126 doanh nghiệp tham gia với 514 gian hàng.
Tại Hội chợ, các sản phẩm trưng bày rất đa dạng, gồm đồ gỗ trong nhà và ngoài trời như nội thất phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, nhà bếp; các sản phẩm trang trí nội thất màn, vải, thảm, vật liệu lót sàn, ván ốp tường,…
Bên cạnh đó, các dịch vụ tư vấn kiến trúc, thiết kế thi công trang trí nội ngoại thất và các dịch vụ hỗ trợ cũng được các doanh nghiệp tham gia chú trọng để đáp ứng nhu cầu khách hàng tại triển lãm.
“Hội chợ sẽ là nơi giao lưu gặp gỡ và thiết lập mối quan hệ giữa Nhà sản xuất – Các nhà tư vấn kiến trúc, thiết kế nội thất – Doanh nghiệp kinh doanh phân phối, để cung cấp các sản phẩm tốt nhất từ nhà máy đến người tiêu dùng với giá hợp lý. Đến với hội chợ, người tiêu dùng sẽ có trong tay tất cả thông tin cần thiết để trang bị cho ngôi nhà hoặc dự án của mình một cách hoàn thiện và đầy đủ nhất”, đại diện ban tổ chức cho biết.
Hội chợ sẽ kéo dài trong 4 ngày, từ ngày 12 đến ngày 15/11. (CafeLand 9/11) đầu trang(
Vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường ở các địa phương ngoại thành Hà Nội đang ngày càng trở nên nan giải. Điển hình như xã Vân Hà, huyện Đông Anh, mặc dù mô hình thí điểm xử lý bụi gỗ đã được áp dụng nhưng người dân nơi đây vẫn khổ sở sống chung với ô nhiễm.
Xã Vân Hà, huyện Đông Anh là một làng nghề truyền thống chế biến đồ gỗ có 5 thôn với gần 2.600 hộ dân. Trong đó có đến 80% người dân làm nghề mộc, hơn 1.000 hộ dân trực tiếp mở xưởng sản xuất gỗ.
Phần lớn các gia đình sản xuất theo hướng tự phát, gia truyền nên chỉ chú trọng đến lợi nhuận trước mắt, còn việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho chính mình thì chưa được đảm bảo. Chính vì vậy, nhiều năm nay, ô nhiễm môi trường đã trở thành thực trạng nhức nhối mà chính người dân nơi đây phải hứng chịu.
Vì sản xuất tự phát nên các cơ sở chế biến gỗ nằm xen lẫn các khu dân cư đông đúc, thậm chí nhiều hộ gia đình lấy luôn sân nhà làm xưởng chế biến thủ công. Anh Nghiêm Thuận Nhàn, trú tại thôn Thiết Bình, xã Vân Hà cho biết: “Quá trình sản xuất đồ gỗ gồm nhiều công đoạn, nhưng bụi nhiều nhất là ở khâu chà gỗ. Thao tác này khiến bụi bay mịt mù làm ngột ngạt bầu không khí.
Do đó cứ đến lúc chà là người ta lại mang ra chỗ thoáng làm cho bụi bay đi đâu thì đi, miễn là không ứ đọng ở nhà mình”. Theo người dân, bụi gỗ không chỉ làm ô nhiễm bầu không khí mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước. Những giếng nào không đậy nắp kín là dính đầy bụi gỗ, nước chuyển màu và không thể dùng được trong ăn uống.
Năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có lắp thí điểm một chiếc máy hút bụi gỗ ở xã Vân Hà để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Máy được đặt tại nhà anh Nguyễn Văn Hợi, ở thôn Cổ Châu. Nhưng theo anh Hợi, với lượng bụi hiện tại của riêng nhà anh thì chiếc máy đó cũng không đủ để xử lý chứ chưa nói đến giảm bụi cho cả làng. Từ đó đến nay, cơ quan chức năng chưa có hình thức khắc phục hữu hiệu nào và bụi vẫn hoàn bụi.
Người dân xã Vân Hà cũng có cách tự khắc phục riêng của họ, đó là quây bạt kín xung quanh xưởng của mình để hạn chế bụi gỗ bay ra ngoài. Nhưng thực tế cũng không giảm được bao nhiêu vì lượng bụi quá lớn. Còn vấn đề nguồn nước, các hộ gia đình tự khắc phục bằng cách làm giếng khoan sâu xuống lòng đất và sử dụng mô hình máy lọc nước công nghiệp.
Hiện nay, xã Vân Hà đã thành lập một khu sản xuất gỗ tập trung và đang trong giai đoạn hoàn thiện. Mặc dù vậy, xã vẫn không thể quy hoạch hết các xưởng vào đó được vì số hộ sản xuất rất đông. Và một vấn đề đáng lo ngại là có quy hoạch nhưng vẫn chưa có cách xử lý bụi gỗ.
Ông Nguyễn Đình Chiến, Chủ tịch UBND xã Vân Hà cho biết: “Năm 2010, xã Vân Hà đã chính thức được công nhận là làng nghề gỗ truyền thống. Đây cũng là nguồn lực kinh tế chủ yếu của xã. Nhưng những hậu quả từ ô nhiễm môi trường do sản xuất gỗ gây ra là rất lớn. Mặc dù Sở TN và MT Hà Nội đã triển khai thí điểm mô hình hút bụi gỗ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở địa phương, nhưng tác dụng của nó không nhiều và người dân thì vẫn phải chịu cảnh sống chung với ô nhiễm”. (An Ninh Thủ Đô 9/11) đầu trang(
“Trong giai đoạn 2016-2020, TP.HCM phấn đấu mỗi năm trồng ít nhất 1 triệu cây xanh. Trong việc duy trì, phát triển diện tích rừng và cây xanh trên địa bàn cần tuyên truyền, vận động người dân tham gia trồng cây, nhất là các loài cây gỗ có giá trị cao như sao, dầu, gõ đỏ, giáng hương, căm xe, long não…”.
Đây là một trong những nhiệm vụ chính trong kế hoạch trồng rừng, phát triển cây xanh đang được Sở NN&PTNT TP.HCM lấy ý kiến.
Cũng theo kế hoạch, việc trồng rừng phòng hộ tiếp tục thực hiện ở Bình Chánh, Cần Giờ. Riêng ở Cần Giờ còn khoanh nuôi, phục hồi rừng trên đất ngập nước, bãi bồi, ven sông, rạch ở các tiểu khu rừng phòng hộ Cần Giờ với tổng diện tích là 110 ha. Tổng kinh phí cho kế hoạch này cần khoảng 490 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn do tổ chức, gia đình cá nhân bỏ ra là hơn 183 tỉ đồng.
Theo Sở NN&PTNT, trong giai đoạn 2011-2015, toàn TP trồng được gần 5,16 triệu cây xanh (gần 1.370 ha), trong đó người dân bỏ kinh phí trồng hơn 3 triệu cây và Sở GTVT trồng gần 40.000 cây. (Pháp Luật TP.HCM 10/11) đầu trang(
Tình trạng khai thác rừng thiếu quy hoạch như hiện nay không chỉ gây khó khăn cho việc xuất khẩu gỗ dăm, mà còn tác động xấu tới toàn ngành chế biến gỗ xuất khẩu của nước ta.
Để phát triển bền vững kinh tế rừng, sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu gắn với xây dựng nông thôn mới, yêu cầu bức thiết được đặt ra hiện nay là phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp…
Theo đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), trong 10 năm qua (2004 - 2014), hiệu quả kinh tế từ ngành trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ và các loại lâm sản của nước ta rất thấp. Thực tế, nhiều nông trường, lâm trường hiện nay không phát huy được hiệu quả trong phát triển kinh tế rừng.
Hiện nay, đời sống người dân sản xuất rừng của nước ta còn nghèo. Kinh tế hộ trong lâm nghiệp đang bộc lộ nhiều hạn chế, manh mún và chia lẻ, trong khi liên kết sản xuất thì rất kém. Các công ty lâm nghiệp chưa giữ được vai trò nòng cốt. Cơ chế chính sách về phát triển kinh tế rừng còn thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, việc quy hoạch rừng của nhiều địa phương luôn bị phá vỡ. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng cho những mục đích khác đang chịu sức ép rất mạnh.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội gỗ Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền cho biết, ngành gỗ được xác định là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 2015, dự kiến giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành chế biến gỗ nước ta đạt khoảng 7 tỷ USD và sẽ nâng lên 10 tỷ USD vào năm 2020. Tuy nhiên, hiện nay, tổng diện tích rừng của nước ta chỉ còn hơn 13 triệu ha, rừng tự nhiên chỉ còn khoảng 10 triệu ha. Chính vì vậy, vấn đề nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu của ngành gỗ đang rất khó khăn.
Một doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ tại TP Hồ Chí Minh cho biết, mỗi năm, doanh nghiệp này xuất khẩu gần 10 triệu USD, chủ yếu hàng xuất khẩu sang thị trường EU và Hoa Kỳ. Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước chủ yếu từ rừng trồng, gỗ cao-su hết tuổi khai thác nên an tâm về nguồn gốc, xuất xứ. Tuy nhiên, gỗ nguyên liệu trong nước hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 50%, còn lại phải nhập khẩu.
Theo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh, nguồn nguyên liệu gỗ trong nước hiện nay được khai thác khoảng 16 triệu m3 từ rừng trồng. Nguồn thứ hai là cây cao-su hiện có khoảng một triệu ha, chu kỳ khai thác là 25 năm, cung cấp cho ngành chế biến gỗ khoảng 2,5 triệu m3. Ngoài ra, các loại cây ăn trái, cây trồng trong vườn lấy bóng mát mỗi năm ước tính sẽ cung cấp khoảng 2 triệu m3 gỗ. Tuy chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất nhưng tương đối ổn định về giá so với gỗ nhập khẩu. Điều quan trọng là nguồn gỗ trong nước bảo đảm đầy đủ các loại giấy tờ theo quy định và các thủ tục xác minh cũng đơn giản hơn so với trước đây.
Đại diện Bộ NN và PTNT cho rằng, trước hết, chúng ta cần xây dựng và triển khai các hoạt động nhằm thích ứng với yêu cầu mới về nguồn gốc gỗ của EU và Mỹ; xây dựng đề án gia nhập tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế ITTO. Phối hợp với các đơn vị có chức năng xây dựng, góp ý và phê chuẩn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định tự do giữa Việt Nam và EU, Hàn Quốc, liên minh Hải quan Nga, Bê-la-rút và Ca-dắc-xtan, chương trình thương mại dịch vụ của Nhật Bản trong khuôn khổ Hiệp định AJCEP…
Theo Đề án cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ NN và PTNT, phấn đấu đến năm 2020, nước ta có từ 16,2 đến 16,5 triệu ha rừng. Trong đó, rừng sản xuất chiếm hơn 8,13 triệu ha, rừng phòng hộ hơn 5,84 triệu ha và rừng đặc dụng gần 2,3 triệu ha.
Trước thực trạng ngành lâm nghiệp và chế biến, xuất khẩu đồ gỗ của nước ta hiện nay, nhiều chuyên gia, nhà khoa học cho rằng: Để phát triển bền vững kinh tế rừng, sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu gắn với xây dựng nông thôn mới, yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Việc tái cơ cấu phải đáp ứng được yêu cầu nâng cao giá trị, gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho người dân ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Để giải được bài toán ấy, Nhà nước cần có những chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình liên kết với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất lâm nghiệp với quy mô lớn. Đối với các công ty lâm nghiệp được hình thành từ lâm trường quốc doanh cần nhanh chóng chuyển đổi sang các hình thức khác như cổ phần hóa, chuyển đổi sang ban quản lý rừng hoặc giải thể các đơn vị hoạt động không hiệu quả. (Nhân Dân 9/11) đầu trang(
Đoàn giám sát trực tiếp làm việc tại 27 huyện, 16 nông trường, 10 lâm trường, 6 ban quản lý để làm rõ một số nội dung, số liệu và trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai.
Thực hiện Nghị quyết số 74/2014/QH13 ngày 24/6/2014 cuả Quốc hội về Chương trình giám sát năm 2015 và Nghị quyết số 820/NQ-UBTVQH13 ngày 17/10/2014 về thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014”, Đoàn giám sát trực tiếp làm việc tại 27 huyện, 16 nông trường, 10 lâm trường, 06 ban quản lý rừng thuộc 20 tỉnh, thành phố; tổ chức nhiều cuộc hội thảo và làm việc với nhiều Bộ, ngành liên quan để làm rõ một số nội dung, số liệu và trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai, đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai của các cơ quan Trung ương, địa phương, các nông, lâm trường, đơn vị được Nhà nước giao đất.
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường, các công ty nông, lâm nghiệp được ban hành kịp thời.
Trong hơn 10 năm (2003-2014), thực hiện chủ trương đẩy mạnh việc tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển nông, lâm trường quốc doanh, Bộ Chính trị đã ban hành các Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 và Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Ksor Phước - Trưởng đoàn giám sát cho biết, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường, các công ty nông, lâm nghiệp được ban hành kịp thời, là cơ sở pháp lý quan trọng để sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014.
Nội dung các chính sách, pháp luật đã được xây dựng tương đối phù hợp với tình hình thực tiễn chuyển đổi mô hình, cơ chế hoạt động của các nông, lâm trường, các công ty nông, lâm nghiệp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.
Các quy định của pháp luật về quản lý đất đai đã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất, trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai nên đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cũng như ý thức sử dụng tiết kiệm nguồn lực về đất đai của các doanh nghiệp, nông lâm trường so với thời gian trước đây, nhờ đó đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, quản lý tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên quá trình quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường, đã trải qua nhiều lần thay đổi luật đất đai và các quy định, chính sách đất đai, nhưng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn, tổ chức thực hiện của các bộ, ngành còn chậm, chưa đồng bộ; tính ổn định của văn bản chưa cao, nhiều nội dung tại các Nghị định, Thông tư thường xuyên có sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện.
Chủ trương chính sách sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh thời gian qua mới chủ yếu làm thay đổi hình thức tổ chức quản lý, chưa làm thay đổi căn bản cơ chế quản lý và quản trị doanh nghiệp nên chưa tạo được sự chuyển biến căn bản theo mục tiêu đề ra.
Do buông lỏng quản lý, áp dụng không đúng chủ trương chính sách khoán nên một số nông, lâm trường không còn thực chất là doanh nghiệp nhà nước, nhưng vẫn áp dụng cơ chế chính sách sắp xếp, đổi mới như nhau là không phù hợp. Việc ban hành một số chính sách quản lý lao động, tổ chức sản xuất, quản lý đất nông, lâm nghiệp theo kiểu hành chính, mệnh lệnh đã làm hạn chế quyền chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, gây nên những hậu quả lâu dài và phức tạp, rất khó khắc phục trong quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường.
Đối tượng sản xuất của các công ty nông, lâm nghiệp là cây trồng và vật nuôi, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. Nhưng trong thời gian qua, việc bán vườn cây, đàn gia súc ở một số nông, lâm trường chưa tính toán đến giá trị quyền sử dụng đất, hoặc khi cổ phần hóa nhưng không đề cập đến giá trị quyền sử dụng đất đã gây ra những mâu thuẫn mà đến nay vẫn chưa xử lý được.
Đoàn giám sát đánh giá, giai đoạn 2004 - 2014, công tác quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường quốc doanh đã có những chuyển biến tích cực so với giai đoạn trước 2004, tuy nhiên những hạn chế, tồn tại cũng đã được phân tích chỉ rõ trên từ mặt công tác.
Công tác quy hoạch đất và quy hoạch 3 loại rừng ở địa phương chưa sát thực tế và tổ chức thực hiện quy hoạch chưa nghiêm . Trong giai đoạn 2004 - 2014, do chính sách đầu tư phát triển rừng phòng hộ, nên nhiều nông, lâm trường đã chuyển một lượng lớn diện tích đất thành đất rừng phòng hộ. Ngân sách không đủ đầu tư, quản lý quy hoạch chưa tốt nên các Ban quản lý rừng còn để đất hoang hóa, chưa đưa vào sử dụng, trong khi người dân rất cần đất sản xuất mà chính quyền lại không thể chuyển giao.
Các nông, lâm trường được Nhà nước giao quản lý diện tích đất đai khá lớn (7.916.366 ha), song việc quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, nhiều tồn tại về quản lý, sử dụng đất đai chậm được khắc phục, có nơi còn diễn biến phức tạp hơn.
Tình trạng giao khoán đất sai mục đích, sai đối tượng, thất thoát, lãng phí tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng khá phổ biến. Hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của nhiều công ty chưa cao (điển hình ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên, duyên hải miền Trung).
Tình trạng sử dụng sai mục đích, để đất hoang hoá, đất chưa sử dụng vẫn còn khá nhiều (hiện còn 236.619ha đất chưa sử dụng). Kết quả sắp xếp, chuyển đổi mô hình quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hình thức. Phần lớn các công ty nông, lâm nghiệp chưa chuyển sang hình thức thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất (khoảng 60% các công ty nông, lâm nghiệp với 88% diện tích).
Vì vậy, từ báo cáo của các địa phương, đến báo cáo của Chính phủ đều không tổng hợp được đầy đủ số liệu về hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả thu nộp ngân sách của toàn bộ các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng, các tổ chức, doanh nghiệp quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh. Diện tích đất các nông, lâm trường kê khai để tính tiền thuê đất, tiền sử dụng đất chủ yếu là diện tích đất phi nông nghiệp, đất xây dựng trụ sở, hoặc sử dụng vào mục đích kinh doanh khác.
Kết quả sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị thực hiện chậm, hiệu quả đạt thấp, nhiều mục tiêu không hoàn thành; nhiều nông, lâm trường hoạt động không hiệu quả nhưng vẫn tồn tại. Hầu hết các nông, lâm trường mới thực hiện chuyển đổi tên gọi thành công ty hoặc Ban quản lý mà chưa có sự thay đổi trong quản trị đơn vị và quản lý, sử dụng đất đai.
Việc rà soát sử dụng đất của các nông, lâm trường mới chủ yếu thực hiện trên sổ sách mà không được rà soát trên thực địa; hầu hết nông, lâm trường sau khi được sắp xếp lại đã không thực hiện việc lập hoặc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chi tiết để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ mới sau khi sắp xếp lại.
Phần lớn các nông, lâm trường chuyển đổi thành doanh nghiệp (hơn 60% nông, lâm trường với khoảng 88% diện tích) đã không làm thủ tục chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất theo quy định của Luật Đất đai.
Tại các đơn vị sau cổ phần hóa, công tác quản lý đất đai vẫn còn lỏng lẻo. Trong 3 đơn vị cổ phần hóa, do không quản lý chặt chẽ nên phần lớn diện tích đất trước đây nông, lâm trường đã giao khoán cho người lao động đã bị chuyển mục đích sử dụng, chuyển nhượng trái phép (trước khi cổ phần hóa). Khi thực hiện cổ phần hóa, đơn vị không thu hồi được (điển hình là: Công ty cổ phần Gà giống Ba Vì, Công ty cổ phần Giống nông - lâm nghiệp Quảng Nam; Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông - lâm sản chế biến, thuộc Tổng công ty Rau quả - Nông sản, Công ty Việt Mông…).
Tại 10 đơn vị do thực hiện khoán trắng, nên khi thực hiện cổ phần hóa, công tác quản lý đất đai, định hướng kế hoạch sản xuất, kinh doanh rất khó khăn, không thu hồi được các diện tích khoán và đang sử dụng không đúng mục đích (điển hình là: Công ty cổ phần Đông Triều, Công ty Chè Long Phú, Công ty lâm đặc sản Quảng Nam…). 11/32 đơn vị sau khi cổ phần hóa đã không thực hiện rà soát, quy hoạch sử dụng đất và làm thủ tục chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất theo quy định của Luật Đất đai.
Thực hiện giao khoán rừng, đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp đã nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp, có biểu hiện vi phạm pháp luật như giao khoán đất nông, lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp.
Nhiều nông, lâm trường, nhất là những nơi khoán trắng, không quản lý chặt chẽ quá trình sử dụng đất sau khi giao khoán, để xảy ra tình trạng người nhận khoán đất của công ty nông, lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, tự ý xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ kiên cố trên đất nhận khoán là phổ biến, nhất là đất vùng ven đô thị, gây nhiều bức xúc (điển hình là một số nông, lâm trường ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc và trên địa bàn Hà Nội).
Một số nông, lâm trường để người nhận khoán chuyển nhượng đất cho người ở các thành phố, địa phương khác không nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Nhiều nông, lâm trường thực hiện bán vườn cây, hoặc khoán trắng dẫn đến không quản lý được sản xuất do người nhận khoán cho rằng vườn cây, đất giao khoán là của người lao động tự đầu tư nên không chấp nhận việc quản lý về đất đai và điều hành sản xuất của nông, lâm trường (điển hình như Công ty Chè Mộc Châu, Công ty Chè Yên Bái, Công ty cổ phần Thực phẩm Bắc Giang, Công ty cổ phần Đông Triều...).
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường ở các địa phương còn chậm, đến nay còn 43,5% số đơn vị với 54,2% diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra nhiều nông, lâm trường đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ trước khi được sắp xếp lại theo Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị, sau khi sắp xếp lại đã chuyển đổi loại hình tổ chức, thay đổi chế độ sử dụng và thu hẹp quy mô đất đai, nhưng chưa làm thủ tục điều chỉnh hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Một số nông, lâm trường đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây có diện tích cấp lớn hơn diện tích hiện nay đang quản lý, sử dụng, do hồ sơ giao đất không sát thực tế (giao chồng lấn vào diện tích đất của dân đang sử dụng).
Việc bàn giao đất cho địa phương quản lý thực hiện còn chậm. Theo báo cáo của các địa phương, trong 10 năm qua các nông, lâm trường, ban quản lý rừng đã bàn giao cho địa phương quản lý 883.012 ha. Tuy nhiên, so với quy định của pháp luật đất đai và Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị thì diện tích đất đã bàn giao cho địa phương còn thấp so với yêu cầu.
Nhiều nông, lâm trường chủ yếu mới thực hiện việc bàn giao trên giấy tờ, chưa bàn giao trên thực địa. Việc thu hồi đất của các nông, lâm trường sau khi sắp xếp lại thực hiện còn chậm, dẫn đến tình trạng đất “vô chủ” kéo dài, làm gia tăng tình trạng lấn chiếm đất trái phép. Diện tích đất bàn giao cho địa phương chủ yếu là đất các công trình hạ tầng công cộng hoặc đất xa, xấu, khó canh tác, đất đang có tranh chấp hoặc vi phạm khó giải quyết nên chính quyền địa phương không muốn tiếp nhận.
Một số nơi bàn giao đất tốt, trên đất đang có vườn cây, rừng trồng nhưng địa phương còn lúng túng do không xác định được nguồn vốn trồng rừng, trữ lượng rừng để bàn giao và cách thức tính toán giá trị tài sản đền bù hoặc bên nhận đất không có khả năng thanh toán tiền đền bù giá trị tài sản trên đất.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước cho biết, tại kỳ họp thứ 10, đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường nhằm sớm khắc phục những bất cập, tồn tại, bảo đảm việc quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả đất đai tại các nông, lâm trường, công ty nông, lâm nghiệp và ban quản lý rừng theo đúng các quy định của pháp luật. (Tin Tức 9/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Mọi người đều hết sức kinh ngạc khi cô bé có thể trò chuyện với voi như với bạn và điều khiển cả đàn voi rừng hoang dã, hung dữ.
Cô bé có tên Nirmala Toppo, 14 tuổi, sinh sống tại bang Orissa, thuộc miền Đông Ấn Độ, đã được cả thế giới biết tới về khả năng trò chuyện và điều khiển đàn voi theo ý của mình. Cô bé được tất thảy người dân Orissa, ngưỡng trọng như một người hùng hay ‘thiên thần hộ mệnh’.
Một đêm tháng 6/2013, thành phố Rourkela rung lên như một cơn cuồng phong, khi một đàn voi hoang tổng số lên tới 11 con âm ầm tiến về thành phố, nơi đông dân sinh sống. Các quan chức lâm nghiệp và sở tại hết sức lo lắng và tìm mọi biện pháp để đưa đàn voi hung hãn ra khỏi thành phố, song mọi biện pháp đều vô hiệu.
Quan chức kiểm lâm có tên Dhola cho biết: “Khi đàn voi rừng tiến vào thành phố, chúng tôi đã cố gắng dùng nhiều biện pháp để kiểm soát sự di chuyển của chúng.
Lúc đầu chúng tôi đã xua đuổi đàn voi rừng đến sân bóng của địa phương, tuy nhiên sau đó không có cách nào khiến chúng quay trở lại cánh rừng. Chúng tôi cảm thấy thật sự hoang mang và bất lực”.
Giữa lúc cam go đó, ông đã tìm đến Nirmala Toppo, cô bé của bộ lạc nhỏ bé, sinh sống ở Jharkhand. “Chúng tôi đã nghe nói cô bé có khả năng nói chuyện với voi cũng như những con vật sinh sống trong rừng”, Dhola cho biết.
Được sự đồng ý và ủng hộ của cha, cô bé đã có mặt cùng sự giúp đỡ của nhóm thanh niên trong bộ tộc nơi cô sinh sống. Tất cả cư dân của Rourkele đã sừng sờ, kinh ngạc khi tận mắt chứng kiến cảnh cô bé trò chuyện và điều khiển đàn voi rừng.
Cô bé đã phải trực tiếp đồng hành cùng đàn voi nhiều dặm trên đường di chuyển, lần đường thoát khỏi thành phố quay trở về khu rừng, nơi chúng sinh sống.
“Cháu đã trò chuyện với đàn voi bằng thứ ngôn ngữ đặc thù của bộ lạc mình. Cháu đã cầu nguyện, khuyên nhủ và yêu cầu đàn voi nên trở về ‘ngôi nhà’ của mình. Chính mẹ cháu đã từng bị voi giết hại, từ đó cháu đã quyết định học phương pháp để có thể trò chuyện, kiểm soát và điều khiển hoạt động của chúng”, Nirmala Toppo cho biết.
Nirmala Toppo đã làm được việc thần kỳ là đưa đàn voi an toàn trở về khu rừng mà không để xảy ra tổn thất thương vong gì. Tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh khả năng của cô bé.
Có ý kiến cho rằng, không có bằng chứng khoa học chứng minh cô bé có khả năng giao tiếp với đàn voi và đàn voi có thể hiểu được tiếng của con người.
Tuy nhiên đa số ý kiến lại cho rằng: “Có thể do người dân bộ lạc này đã sinh sống cùng đàn voi trong một khu rừng nên giữa con người và đàn voi nơi đây có thể tương thông ý nghĩ”.
Ông Niel Justin Beck, một người trong bộ lạc cho rằng: “Chính sự tồn tại gần gũi, hòa đồng giữa con người và thiên nhiên nơi đây đã cho Nirmala có khả năng kì diệu đó. Cô bé thực sự có thể trò chuyện không chỉ với voi mà cả với những loài thú rừng khác’. Ông cho biết thêm, mỗi khi lũ voi tiến vào các bản làng hay phá hại mùa màng của bà con, thì họ lại tìm đến Nirmala để nhận sự giúp đỡ. (VTC News 10/11) đầu trang(
Ngày 8/11, cảnh sát Tanzania đã bắt giữ 4 người mang quốc tịch Trung Quốc sau khi phát hiện 11 cặp sừng tê giác, trị giá hàng trăm nghìn USD, được cất giấu trong xe ôtô tại cửa khẩu Mbeya phía Tây Nam, khi những đối tượng nước ngoài này thâm nhập vào Tanzania từ nước láng giềng Malawi.
Lực lượng cảnh sát Tanzania thông báo hiện các cơ quan chức năng nước này đang tiến hành điều tra làm rõ và sớm đưa các nghi phạm này ra tòa án.
Các chuyên gia của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) cho biết tê giác châu Phi là một trong sáu loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do nạn săn bắn trái phép tăng mạnh trong những năm gần đây.
Mỗi năm, hàng trăm con tê giác bị tàn sát để lấy sừng - được coi là một dược liệu "quý" ở Trung quốc và các quốc gia Đông Nam Á.
Số liệu thống kê của WWF cho thấy số lượng tê giác bị giết hại đã tăng lên mức báo động thời gian gần đây. Riêng năm 2014 có 1.215 con tê giác bị giết hại, chủ yếu tập trung ở Nam Phi và Mozambique.
Hiện Nam Phi chỉ còn khoảng 20.000 con tê giác, chiếm 80% tổng số loài động vật quý hiếm này trên Trái Đất.
Các chuyên gia của WWF cũng cảnh báo nạn săn trộm động vậy hoang dã quý hiếm, chủ yếu là voi, sư tử, tê giác... đang có chiều hướng gia tăng tại các quốc gia Đông Phi bao gồm Tanzania, Kenya, Uganda.... trong thời gian gần đây. (Vietnam + 9/11) đầu trang(
Các nhân viên của Ủy ban Bảo tồn Cá và Động vật hoang dã Florida, Mỹ, cho biết họ vừa bắt được con rắn hổ mang dài 1,5m tẩu thoát khỏi nhà dân.
Một người đàn ông đã thấy con rắn trên đường và báo cho Ủy ban Bảo tồn Cá và Động vật hoang dã Florida. Sau hơn một ngày lục lọi, tìm kiếm các bụi cây ven đường, họ đã thở phào khi tìm thấy con rắn.
Con rắn hổ mang trên thuộc về ông Lewis Mark Pellice. Pellice đã đươc cấp giấy phép để nuôi các loài động vật hoang dã nhưng ông sẽ phải chịu một khoản phạt không hề nhỏ vì không thông báo việc con rắn hổ mang mất tích.
Đây không phải là lần đầu tiên một con rắn hổ mang xuất hiện trên đường phố bang Florida. Trước đó, vào hồi tháng 9, một con rắn hổ mang dài 2,4m đã xuất hiện tại một trường học ở Orlando. Con rắn hổ mang này thuộc về Mike Kennedy, ngôi sao của kênh truyền hình Discovery Channel. Nó có lượng nọc độc đủ giết chết 20 người. (Vietnam + 9/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||