Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm, nhiều khu vực tại 18 tỉnh, thành phố phía bắc nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Trong đó, các khu vực Hạ Hòa, Cẩm Khê, Tam Nông, Yên Lập của tỉnh Phú Thọ; khu vực Ba Chẽ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đang ở cấp cực kỳ nguy hiểm. Các tỉnh đang ở cấp nguy hiểm gồm: Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Nam, TP Hà Nội, Lào Cai, Lạng Sơn, Nghệ An, Ninh Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái. (Nhân Dân 7/11) đầu trang(
Thời gian qua, theo báo cáo của Tổng cục lâm nghiệp, tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất, khai thác, buôn bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật còn diễn ra phức tạp, đặc biệt là các hành vi chặt phá rừng, khai thác gỗ, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép gây hậu quả nghiêm trọng ở một số địa phương.
Để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng trên, đồng thời khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cấp, các ngành ở địa phương triển khai thực hiện quyết liệt và có hiệu quả Chỉ thị 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Đồng thời chỉ đạo các lực lượng liên ngành (kiểm lâm, công an, quân đội) duy trì hoạt động, phối hợp chặt chẽ, tổ chức thường trực tại hiện trường, hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép, kiên quyết xóa bỏ các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra phá rừng, cháy rừng; rà soát, kiểm kê thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật để phục hồi rừng, đặc biệt tại các công ty, doanh nghiệp lâm nghiệp.
Các địa phương cũng cần khẩn trương thực hiện việc tổ chức sắp xếp, đổi mới Công ty lâm nghiệp trên địa bàn theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
Cùng với đó, chỉ đạo, định hướng các cơ quan thông tấn, báo chí ở địa phương tăng cường tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. (Chính Phủ 6/11) đầu trang(
Trong những năm qua, công tác bảo tồn voi nhà của tỉnh Đắk Lắk đã đạt được một số kết quả bước đầu, đàn voi đã được quản lý chăm sóc sức khỏe, ý thức trách nhiệm của người nuôi dưỡng voi được nâng lên...
Tuy nhiên, thời gian gần đây, đàn voi nhà của tỉnh Đắk Lắk vẫn tiếp tục bị suy giảm nhanh chóng. Đây đang là điều thách thức đối với công tác bảo tồn voi tại nơi đây.
Xác định công tác bảo tồn voi là nhiệm vụ quan trọng, ngay từ năm 2011, UBND tỉnh Đắk Lắk đã nhanh chóng ban hành Quyết định số 761/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk.
Sau khi được thành lập, tháng 8-2011, Trung tâm này đã đi vào hoạt động và triển khai nhiều giải pháp để bảo tồn đàn voi nhà và voi hoang dã như: Rà soát Dự án bảo tồn voi tại Đắk Lắk giai đoạn 2012-2020; tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2362/QĐ-UBND, ngày 12-11-2013 về phê duyệt Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020; tham mưu xây dựng Nghị quyết số 78/2012/NQ-HĐND, ngày 21-12-2012 về việc quy định một số chính sách bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk; tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 13/2014/QĐ-UBND, ngày 28-5-2014 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện chính sách về bảo tồn voi trên địa bàn tỉnh. Do đó, các chủ voi được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước khi voi nhà sinh sản.
Ngoài ra, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk còn tổ chức nhiều đợt tuyên truyền pháp luật, tập huấn chăm sóc sức khỏe cho voi, tổ chức khám chữa bệnh định kỳ, đột xuất cho tất cả số voi nhà của tỉnh; điều tra, giám sát sự biến động, cư trú, di chuyển của voi rừng; mở nhiều hội nghị, hội thảo các giải pháp hạn chế xung đột giữa voi - người...
Đánh giá về công tác bảo tồn voi, ông Nguyễn Hoài Dương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Đắk Lắk cho biết: Xác định công tác bảo tồn voi là nhiệm vụ cấp bách, Sở đã chỉ đạo Trung tâm bảo tồn voi khẩn trương tổ chức triển khai đồng bộ các chính sách, trong đó có chính sách hỗ trợ đối với voi nhà. Kết quả, đến nay, đã quản lý được số voi nhà hiện có trên địa bàn tỉnh; nắm bắt tình hình sức khỏe, khả năng sinh sản của các cá thể voi; tổ chức các đợt khám bệnh khi voi đau ốm, bị thương; hướng dẫn các chủ voi, nài voi các biện pháp chăm sóc, đối xử với voi theo cách thân thiện...
Theo báo cáo từ Sở NN&PTNT tỉnh thì từ năm 2012 đến nay, đã thực hiện được 5 đợt khám chữa bệnh định kỳ cho toàn bộ số voi nhà và 62 trường hợp khám chữa bệnh đột xuất cho voi khi bị thương tật, trong số đó có 55 trường hợp bị viêm ở các vị trí khác nhau; 5 trường hợp phẫu thuật điều trị vết thương khi voi nhà bị voi rừng tấn công; 2 trường hợp voi già yếu do suy nhược cơ thể và cứu hộ, chăm sóc điều trị cho 2 cá thể voi hoang dã bị thương, trong đó, 1 cá thể voi đã lành vết thương thả lại rừng tự nhiên vào năm 2013 và 1 cá thể được cứu hộ vào tháng 2-2015 vẫn đang tiếp tục điều trị, chăm sóc. Tổng chi phí thuốc, xét nghiệm và hỗ trợ khám điều trị cho đàn voi nhà trong 3 năm là 387 triệu đồng.
Trong những năm qua, công tác bảo tồn voi nhà của tỉnh Đắk Lắk đã đạt được một số kết quả bước đầu, đó là, được các cá nhân, tổ chức nước ngoài quan tâm giúp đỡ về kỹ thuật, đào tạo chuyên môn thú y cho cán bộ Trung tâm; đàn voi được quản lý chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng tốt hơn, số voi bệnh được điều trị kịp thời và phục hồi sức khỏe nhanh.
Qua các đợt khám định kỳ và điều trị đột xuất đã hạn chế được phần nào voi chết vì bệnh tật, già yếu, làm cơ sở nghiên cứu voi nhà sinh sản theo đường tự nhiên, ý thức trách nhiệm của người nuôi dưỡng voi, nài voi được nâng lên...
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bảo tồn voi ở Đắk Lắk vẫn còn nhiều hạn chế như voi nhà chưa sinh sản được, hàng năm vẫn bị chết... Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh, từ năm 2012 đến nay, có 12 con voi nhà bị chết, riêng 6 tháng đầu năm 2015 đã có 5 con voi nhà bị chết với các nguyên nhân như: Do già yếu (5 con); chết do tai nạn khi chăn thả tại những khu vực đồi núi cao (2 con); chết do sát hại (1 con); chết do suy nhược cơ thể (2 con) và 2 con chết không rõ nguyên nhân.
Ngoài ra, do áp lực về kinh tế, các chủ voi xem voi là lao động chính trong gia đình nên đã dùng voi để khai thác phục vụ du lịch quá sức cũng là nguyên nhân tác động xấu tới sức khỏe và tuổi thọ của voi.
Hiện nay, toàn tỉnh có 43 cá thể voi nuôi, trong đó có 25 cá thể cái và 18 cá thể đực, nuôi tại huyện Buôn Đôn 24 cá thể và huyện Lắk 19 cá thể; số voi trong độ tuổi sinh sản từ 20 đến 40 tuổi có 25 cá thể, gồm: 9 cá thể đực và 16 cá thể cái; số voi trong độ tuổi không còn khả năng sinh sản trên 40 tuổi có 18 cá thể, gồm: 9 cá thể đực và 9 cá thể cái.
Theo Sở NN&PTNT Đắk Lắk, nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trên là do ngân sách Nhà nước bố trí cho thực hiện chính sách bảo tồn voi nhà rất hạn chế; nguồn thức ăn từ tự nhiên cho voi ngày càng khan hiếm vì diện tích rừng tự nhiên nơi chăn thả truyền thống của voi ngày càng bị thu hẹp; nguồn lực đầu tư cho các khu chăn thả tự nhiên chưa thực hiện được; trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn voi còn hạn chế; số lượng voi nuôi còn quá ít; tuổi của voi đã lớn và qua thời gian dài không được quan tâm đúng mức là nguyên nhân cơ bản cản trở việc thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe, bảo tồn và phát triển đàn voi nhà hiện nay cũng như trong tương lai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Công tác bảo tồn voi nhà của tỉnh Đắk Lắk đã đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng đàn voi nhà của tỉnh vẫn tiếp tục suy giảm nhanh qua các năm,  điều này đang trở thành vấn đề thách thức đối với công tác bảo tồn voi nhà của tỉnh. Do vậy, ngoài việc bố trí nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác này, rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trong việc hiến kế, đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn voi nhà có hiệu quả trong thời gian tới. (Biên Phòng 6/11) đầu trang(
Sau khi những “báu vật” của người miền núi như huyết đằng, nấm lim xanh, hạt mây... ở tỉnh Quảng Trị dần cạn kiệt, thương lái bắt đầu hướng dẫn người đồng bào thiểu số lên núi tìm cây cỏ nhung (còn gọi là cây kim tuyến).
Với giá hơn 1 triệu đồng/kg tươi và được đồn thổi là “thần dược” trị bệnh ung thư, người dân trên đỉnh Đông Trường Sơn đang hằng ngày tận diệt loài cây này để bán cho thương lái xuất sang Trung Quốc.
5h sáng, nhóm hơn 10 người đồng bào Vân Kiều ở thôn Chênh Vênh (xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) theo đường Hồ Chí Minh ngược về hướng đèo Sa Mù. Cách đây hơn 2 tháng, thương lái đã đem cây cỏ nhung đến đây, nói rằng khu vực quanh đèo Sa Mù có loại cây này. Với giá từ 600 ngàn đồng - 1,2 triệu đồng/kg tươi, người dân bỏ việc lên rẫy, rủ nhau lên núi lùng sục tìm cỏ nhung đem bán.
Loại cỏ nhung trên đèo Sa Mù thân mềm, lá có màu xanh tía hoặc xanh nhạt, trên lá có đường gân trong óng ánh. Để tìm được cây cỏ nhung, người dân đi dọc theo suối, hoặc leo lên các sườn đồi có cây lớn. Cỏ nhung thường mọc nơi có độ ẩm, nên việc tìm kiếm không mấy khó khăn.
Cầm theo một a chói (gùi đan bằng tre) nhỏ, bà Hồ Thị Ly (40 tuổi, trú tại thôn Chênh Vênh) bỏ lại xe máy giữa đèo Sa Mù, theo con suối, bà Ly cùng nhóm người vạch lau lách đi nhanh vào rừng. Đi chừng 30 phút, đám cỏ nhung đầu tiên được phát hiện, những người trong nhóm bắt đầu tỏa ra xung quanh để tìm kiếm. Bà Ly nói rằng, tìm được cỏ nhung ở địa điểm này, cứ vòng sang khu vực khác ở cùng độ cao, sẽ tìm được nhiều - “có khi cả một đám lớn”. Việc khai thác cỏ nhung rất đơn giản, chỉ cần nhổ nguyên cả rễ, cành, lá cho vào a chói mang theo, tránh việc để nắng rọi trực tiếp vào, sẽ làm héo cỏ nhung.
Từ sáng đến chiều, nhóm của bà Ly lùng sục từng ngóc ngách một, “cạo” sạch từng cây cỏ nhung bị phát hiện. Chị Hồ Thị Thức (23 tuổi, trú tại thôn Chênh Vênh) nói rằng, cỏ nhung tìm được nhiều nhất ở địa bàn xã Hướng Việt (huyện Hướng Hóa).
Chỉ cần mang cỏ nhung thu hái được ra đường Hồ Chí Minh, thương lái lúc nào cũng túc trực sẵn, việc trao đổi diễn ra rất nhanh. Cỏ nhung màu xanh tía, đậm có giá 1,2 triệu đồng/kg (loại 1), còn loại có lá màu nhạt hơn giá từ 600 đến 800 ngàn đồng/kg (loại 2). Trong nhóm đi cùng với bà Ly, người nhiều nhất thu được hơn 600 ngàn đồng, ít cũng hơn 400 ngàn đồng từ việc bán cỏ nhung.
Chị Gái (thương lái) cho biết, sau khi thu gom cỏ nhung, chị sẽ nhập lại cho đại lý ở huyện Hướng Hóa. “Cây này ăn sống, nấu canh hoặc phơi khô nấu uống. Nghe nói trị được mất ngủ, trị được ung thư” - chị Gái, giải thích. Còn cánh đại lý ở huyện Hướng Hóa thì nói rằng, thu mua được bao nhiêu cỏ nhung cũng tiêu thụ hết, chủ yếu là xuất sang thị trường Trung Quốc.
Ông Đào Quang Cảnh - Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa - đơn vị quản lý khu vực đèo Sa Mù, cho biết chưa nắm được thông tin về việc người dân khai thác cỏ kim tuyến. Còn Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa thì thừa nhận rằng, rất khó quản lý việc khai thác loại cây này.
Trong lúc giá trị của loại “thần dược” cỏ nhung đang còn mù mờ, cơ quan quản lý chưa nắm rõ, thì mỗi ngày đồng bào Vân Kiều lại đổ xô lên núi để tận diệt. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, và làm rõ được giá trị của loại dược liệu trên để bảo tồn, thì chỉ trong nay mai, cỏ nhung vùng Sa Mù cũng sẽ bị “cạo” trọc.
Theo các đại lý thu mua cỏ nhung, thương lái Trung Quốc tiết lộ rằng cỏ nhung mọc ở nơi cao, thì giá trị dược liệu càng lớn. Tại tỉnh Quảng Trị, ở thị trấn Tà Rụt của huyện Đak Rông có rất nhiều cỏ nhung, nhưng giá trị dược liệu rất thấp.
Vùng đèo Sa Mù ở huyện Hướng Hóa được đánh giá là nơi có loại cỏ nhung tốt nhất vì mọc ở núi cao, quanh năm sương mù bao phủ, nên bán được với giá cao. Lúc mới phát hiện thì bà con Vân Kiều thu hái được nhiều, mỗi ngày trên 10kg. Nay mỗi ngày chỉ thu mua được khoảng 5kg cỏ nhung tươi. (Lao Động 6/11) đầu trang(
Nhiều diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông lần lượt bị “khai tử” mặc dù tỉnh này đã huy động các cơ quan chức năng như Công an, Thanh tra, Chi cục Kiểm lâm… vào cuộc điều tra, xử lý.
Thế nhưng, các số liệu điều tra về diện tích rừng tự nhiên bị phá được các cơ quan của Đắk Nông công bố lại có sự chồng chéo, mâu thuẫn rất lớn, khiến dư luận không khỏi băn khoăn.
Xung quanh các vụ phá rừng, đặc biệt vụ phá rừng tự nhiên tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Gia Nghĩa (Công ty Gia Nghĩa), Thủ tướng Chính phủ phải giao cho Bộ Công an chủ trì, phối hợp với tỉnh Đắk Nông và các cơ quan chức năng xác minh, điều tra làm rõ việc mất hàng ngàn héc ta rừng tự nhiên.
Trước tình trạng quản lý, bảo vệ yếu kém của chính quyền địa phương, các ngành chức năng, các công ty lâm nghiệp, các chủ rừng đã dẫn đến tình trạng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng với số lượng lớn xảy ra trong thời gian dài mà không có biện pháp ngăn chặn và xử lý hiệu quả. Tỉnh ủy Đắk Nông đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU, về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng bền vững giai đoạn 2013-2015 và những năm tiếp theo, trong đó thành lập Ban Chỉ đạo ngăn chặn phá rừng, lấn chiếm đất rừng và tổ chức lại mô hình quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, sau khi kiểm kê rừng thì nhiều diện tích rừng không còn.
Theo báo cáo của Tỉnh ủy Đắk Nông, chỉ tính riêng tại Công ty Gia Nghĩa từ 2008 đến nay đã để mất hơn 9.000ha rừng và đầu năm 2015 đến nay tiếp tục xảy ra các vụ phá rừng nghiêm trọng…
Trong khi đó, báo cáo giải trình của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đắk Nông ( Sở NN và PTNT) mới đây lại khẳng định, tổng diện tích rừng tự nhiên bị phá tại Công ty Gia Nghĩa từ năm 2008 đến nay chỉ là 612,8ha.
Ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN và PTNT tỉnh Đắk Nông lý giải: “Thực tế đất có rừng của Công ty Gia Nghĩa giảm từ năm 2008 cho đến nay chỉ là 3.432,36 ha chủ yếu là rừng nghèo, nghèo kiệt với các nguyên nhân gồm: phá rừng 612,8ha, cháy rừng 9,97ha, khai thác rừng 120,50ha, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt 769,30ha, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang trồng cao su, xây dựng công trình công cộng 520,50ha và 1.399,29ha chưa được Công ty Gia Nghĩa thống kê, báo cáo cơ quan chức năng xử lý, chứ không phải là 9.000 ha”.
Ông Nguyễn Ngọc Tài - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông,  khẳng định, kết quả giải đoán qua ảnh vệ tinh năm 2010 với số liệu 612,8ha rừng tự nhiên bị phá tại Công ty Gia Nghĩa từ năm 2008 đến nay là chính xác, vì kết quả giải đoán qua ảnh vệ tinh của Chi cục Kiểm lâm dựa trên ảnh chụp vào năm 2009, sát nhất với thời điểm bàn giao rừng, đất rừng cho Công ty Gia Nghĩa.
Cũng theo ông Tài, trong số 9.737,04ha diện tích đất rừng bị biến động, chênh lệch theo các số liệu so sánh nêu trong báo cáo giải trình số 1373/BC-SNN ngày 24/9/2015 của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông thì có 6.485,36ha bị biến động trước thời điểm giao cho Công ty Gia Nghĩa; kết quả kiểm kê rừng theo Chỉ thị 286/1997/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là không chính xác, phần lớn diện tích rừng bị phá trước khi tách tỉnh năm 2004, một phần diện tích rừng bị phá từ 2004-2008 và 797,7ha rừng bị phá trước năm 2014 được phát hiện khi kiểm kê rừng vào năm 2014.
Còn 3.251,68ha rừng bị biến động sau khi đã giao cho Công ty Gia Nghĩa thì diện tích rừng tự nhiên bị phá chỉ là 432,12ha, số còn lại là do cháy rừng, chuyển đổi sang mục đích khác như trồng cao su, xây dựng công trình công cộng…
Giám đốc Công ty Gia Nghĩa, Đỗ Hồng Quân cho biết: Trên thực tế việc rừng tự nhiên của Công ty bị phá là có thật, nhưng diện tích không lớn như số liệu do các cơ quan chức năng công bố vừa qua.
Chúng tôi đề nghị UBND tỉnh Đắk Nông chỉ đạo các cơ quan, ngành chức năng liên quan tích cực kiểm kê, khảo sát, so sánh đối chiếu các số liệu thật chính xác về diện tích đất có rừng tự nhiên giao cho công ty tại các thời điểm, số diện tích rừng tự nhiên bị phá trên thực tế… để sớm có kết luận, công bố rõ ràng.
Trước đó, để chấn chỉnh lại công tác quản lý, bảo vệ rừng, Sở NN và PTNT tỉnh Đắk Nông đã tổ chức kiểm điểm và ra quyết định xử lý kỷ luật, cảnh cáo 20 cán bộ kiểm lâm tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Đắk G’long và Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) vì thiếu trách nhiệm dẫn đến để mất rừng. (Đại Đoàn Kết 6/11) đầu trang(
VKSND Tối cao vừa có văn bản chỉ đạo VKSND tỉnh Đắk Lắk báo cáo về vụ việc được nêu trong bài báo “Đình chỉ vụ án gây thiệt cho bị can” trên Pháp Luật TP.HCM ngày 4-11-2015.
Như Pháp Luật TP.HCM đã thông tin, tối 22-7-2013, ông Nguyễn Văn Hào (nhân viên Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn) nhận được tin báo có xe máy kéo vận chuyển gỗ ở khu vực xã EaWer, Buôn Đôn (Đắk Lắk). Ông Hào được phân công cùng ba nhân viên kiểm lâm khác đi làm nhiệm vụ.
Đến khoảng 19 giờ 30, khi đang tuần tra, tổ của ông Hào phát hiện Y Jẽ Hra chạy xe máy kéo chở Y Koãi Hra, Y Bai Hra, Y Khóc Hra đang vận chuyển một lóng gỗ. Ông Hào dùng súng AK bắn chỉ thiên hai phát nhưng Y Jẽ Hra không dừng lại. Tổ của ông Hào dùng xe máy đuổi theo, dùng súng bắn chỉ thiên nhiều phát. Thấy vậy, Y Koãi Hra, Y Bai Hra, Y Khóc Hra đã hất lóng gỗ xuống đường rồi bỏ chạy.
Sau đó bốn người này quay lại xin lại gỗ nhưng các nhân viên kiểm lâm không cho. Bấy giờ có nhiều người dân kéo đến hiện trường. Bị áp lực, ông Hào đã dùng súng bắn ba phát, trong đó có một phát trúng ngón chân trái của một người dân gây thương tật 15%.
Sau đó ông Hào bị khởi tố, bắt giam gần ba tháng và bị truy tố về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 104 BLHS. Hai lần VKSND huyện Buôn Đôn chuyển hồ sơ qua tòa thì đều bị TAND huyện này trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì theo tòa, hành vi của ông Hào chỉ có dấu hiệu phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107 BLHS).
Hơn hai năm sau, tháng 8-2015, VKSND huyện Buôn Đôn đã ra quyết định đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự cho ông Hào theo Điều 25 BLHS với lý do ông Hào đã tự nguyện khắc phục hậu quả, sức khỏe của nạn nhân đã bình phục, hành vi của ông Hào không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Về việc đình chỉ trên, TAND huyện Buôn Đôn và nhiều chuyên gia đều cho rằng VKSND huyện Buôn Đôn đang né tránh trách nhiệm bồi thường oan. (Pháp Luật TP.HCM 7/11) đầu trang(
Từ đầu năm tới nay, tỉnh Đắk Lắk rộ lên nhiều vụ phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, chống người thi hành công vụ với tính chất nghiêm trọng… Thậm chí, còn có cán bộ kiểm lâm lạm dụng chức quyền chiếm đoạt tài sản khiến người dân vô cùng bức xúc.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Lắk, trong 9 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1.432 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 2.438m3 gỗ các loại, khởi tố 16 vụ.
Chỉ tính riêng tại Vườn Quốc gia Yók Đôn, trong 9 tháng đầu năm nay đã có 596 gốc cây bị chặt hạ trái phép với trên 300m3 gỗ. Khu vực rừng bị đốn hạ tập trung chủ yếu ở các tiểu khu 502, 503, 507. Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, thông tin ban đầu cho thấy, trong 10 thôn buôn khu vực Vườn có nhiều người dân tham gia chặt hạ cây trái phép.
Công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương và Vườn Quốc gia Yók Đôn rất hạn chế, chưa đủ mạnh nên khó để ngăn chặn. Ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Vườn quốc gia Yók Đôn cho biết: Theo quy định trong khuôn viên Vườn nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác lâm sản phụ, chăn nuôi gia súc và canh tác. Tuy nhiên có khoảng 1.000 con trâu, bò được chăn thả trong Vườn.
Mỗi ngày có khoảng 500 người ra vào rừng, trong vùng lõi còn có buôn Đrăng Phốk với hàng trăm hộ sinh sống. Điều đó tạo điều kiện cho những người khai thác gỗ, lâm tặc, đầu nậu trà trộn để ra vào rừng khai thác, vận chuyển gỗ ra ngoài khiến tình hình khu vực này vô cùng phức tạp.
Một lãnh đạo Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đắk Lắk thông tin thêm: Nhiều “lâm tặc” sau khi đốn hạ gỗ, thả xuống sông suối để phi tang, chờ cơ hội trục vớt.
Được biết, lực lượng chức năng của tỉnh đã tổ chức 26 đợt kiểm tra tại các điểm nóng về phá rừng thuộc địa bàn các huyện Ea H’leo, Buôn Đôn, Ea Súp, Cư M’gar… và tịch thu hơn 500m3 gỗ các loại, tạm giữ một số phương tiện ô tô, xe độ chế.
Điển hình, tại huyện Ea Súp, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với Cục An ninh kinh tế nông lâm ngư nghiệp - Bộ Công an (A86) cùng các cơ quan chức năng của tỉnh tiến hành kiểm tra Công ty TNHH MTV Phước Lợi phát hiện khuôn viên Công ty này đặt 10 máy cưa ban mâm và 1 máy cưa CD vòng đứng, tại kho bãi cất giữ 18,460m3 gỗ tròn, xẻ các loại.
Qua kiểm tra tại địa bàn thôn 1, xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo lực lượng chức năng đã phát hiện 1.036 lóng, hộp gỗ thông thường từ nhóm III đến nhóm VIII với khối lượng 412,763m3. Không chỉ chặt phá rừng lấy gỗ mà tình trạng phá rừng làm nương rẫy trái pháp luật cũng nở rộ. Tại lâm phần Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) xảy ra 46 vụ chặt phá rừng lấy đất sản xuất với diện tích 21,15ha.
Việc chống người thi hành công vụ bắt đầu bùng phát trở lại với nhiều vụ việc ngang nhiên, phức tạp khiến dư luận hết sức bức xúc. Cụ thể, tại địa bàn thôn 8, xã Ea Bung, huyện Ea Súp, phát hiện xe ô tô tải mang BKS: 47C-04811 vận chuyển 31 lóng gỗ tròn Cẩm liên nhóm I với khối lượng 3,121m3. Tuy nhiên, khi lực lượng Kiểm lâm yêu cầu dừng xe, tài xế đã cố tình tông thẳng vào xe máy của 2 cán bộ kiểm lâm rồi bỏ trốn.
Nghiêm trọng hơn, tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn (huyện Buôn Đôn), khi phát hiện 5 xe cày khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, Hạt Kiểm lâm bố trí lực lượng tạm giữ. Trong lúc đang áp giải xe gỗ về Trạm thì xuất hiện khoảng 25-30 người đồng bào dân tộc tại chỗ ở xã Ea M’đroh (huyện Cư M’gar) mang hung khí, hành hung cán bộ kiểm lâm và lấy lại các xe gỗ.
Mới đây nhất, ngày 13/10, Cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) đã bắt tạm giam ông Nguyễn Xuân Đức (cán bộ kiểm lâm Đội Kiểm lâm cơ động số 2 của Vườn Quốc gia Yók Đôn), khởi tố về hành vi lạm dụng quyền hạn, chức vụ trong khi thi hành nhiệm vụ để chiếm đoạt tài sản; nhận tiền hối lộ của người dân để làm ngơ cho người này vận chuyển gỗ lậu.
Trước tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày một nghiêm trọng, Tổng cục Lâm nghiệp đã đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các huyện, xã vùng đệm và cơ quan liên quan tại địa phương phối hợp với Vườn Quốc gia Yók Đôn… xác định và lập danh sách các đối tượng khai thác, vận chuyển, tàng trữ trái phép lâm sản báo cáo cơ quan chức năng để xử lý; chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh chủ trì xây dựng và thực hiện phương án, giải pháp cụ thể về việc kiểm soát hoạt động vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn.
UBND các huyện, sở, ban, ngành xác định các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản, các tuyến đường vận chuyển lâm sản trái phép để tổ chức truy quét, xử lý. Công an cấp huyện lập chuyên án để xử lý các đối tượng lâm tặc, đầu nậu, phần tử dung túng, tiếp tay cho phá rừng, lấn chiếm đất rừng, mua bán sang nhượng đất rừng trái phép. (Thanh Tra 7/11) đầu trang(
Ngày 6-11, CAH Thanh Trì, Hà Nội, cho biết, đơn vị đang phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vận chuyển trái phép gần 2 tấn cây huyết giác rừng.
Trước đó, vào giữa tháng 10 vừa qua, Trung tá Nguyễn Mạnh Dầu - Đội trưởng Đội CSGT chỉ huy tổ công tác  làm nhiệm vụ tại ngã tư cầu Tó phát hiện xe ô tô tải BKS: 37C-167.29 có dấu hiệu chở hàng quá tải trọng quy định đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, CSGT phát hiện trong thùng xe có hơn 60 bao lâm sản rừng với trọng lượng gần 2 tấn.
Lái xe Nguyễn Quốc Trọng (SN 1984), ở Nghệ An tường trình số lâm sản rừng trên là huyết giác được vận chuyển lên phía Bắc để giao cho các đầu nậu. Theo Đông y, cây huyết giác có tác dụng điều trị các bệnh về xương khớp. Hiện loại cây này đang bị các đầu nậu săn lùng để bán cho các thương lái nước ngoài.
Tại thời điểm kiểm tra, lái xe đã không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của số hàng này. Trị giá của số hàng trên ước tính khoảng 200 triệu đồng. Tổ công tác đã bàn giao vụ việc và phương tiện đến Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV phối hợp với lực lượng kiểm lâm để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. (An Ninh Thủ Đô 7/11) đầu trang(
Cuối tháng 9, lãnh đạo Viện KSNDTC yêu cầu cấp dưới báo cáo khiếu nại của doanh nhân về vụ buôn lậu gỗ trắc “khủng” ở Quảng Trị, phản ánh trên báo Tiền Phong ngày 24/9. Mới đây, Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44) có kết luận điều tra bổ sung lần thứ ba, nhưng nội dung kết luận lần này vẫn còn có những ý kiến phản bác.
Vụ án mở ra cuối năm 2011. Trong hai ngày 30 và 31/10/2014, TAND thành phố Đà Nẵng xử sơ thẩm, thấy chưa đủ căn cứ buộc tội nên trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tính ra đã có 3 lần điều tra bổ sung: Lần thứ nhất trước khi tòa xử, lần thứ hai vào ngày 13/3/2015 và lần này, ngày 12/10/2015.
DNTN Ngọc Hưng ở thị trấn Lao Bảo (Hướng Hóa, Quảng Trị) mua gỗ trắc từ Lào, chở về qua cửa khẩu, hai ngày sau xuất nguyên lô sang Hồng Kông (Trung Quốc). Trên đường chở gỗ xuống tàu ở cảng Đà Nẵng, một xe bị kiểm tra, phát hiện có lẫn gỗ giáng hương. Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT (C46) Bộ Công an. Lúc đó, trong các ngành đã tranh luận, có hành vi buôn lậu hay không? Bởi gỗ trắc không cấm nhập và xuất khẩu, ở đây lại nhập và xuất nguyên lô. Sau hơn hai tháng điều tra, C46 có công văn kết luận: “Chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu” và trả hồ sơ về Tổng cục Hải quan. Nhưng hồ sơ lại vòng sang C44.
Ông Trương Huy Liệu và vợ Trần Thị Dung là chủ DNTN Ngọc Hưng liên tục khiếu nại. Ông Liệu giải thích, lô gỗ 535,8 m3, trong lúc gỗ giáng hương chỉ 23,828 m3 “là do gỗ nhỏ, lẫn trong lượng gỗ trắc quá lớn, tôi không phát hiện ra nên khai gỗ trắc”. Hơn nữa, giá gỗ giáng hương thấp hơn gỗ trắc, nên khi đóng thuế nhập khẩu gỗ trắc là đã đóng thuế cao hơn tiền thuế lẽ ra phải đóng, nên không gây thiệt hại cho nhà nước.
Bản kết luận điều tra bổ sung lần thứ ba còn cho rằng, DNTN Ngọc Hưng nhập 614,672 m3 gỗ, khai 535,8 m3 là thiếu. Việc khai thiếu dẫn đến thiếu thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Khối lượng gỗ của điều tra, căn cứ “Bản kết luận giám định” số 783/STTNSV ngày 26/11/2012 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Thế nhưng, Kết luận điều tra bổ sung lần ba cũng thừa nhận: “Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ NN&PTNT chưa có đề nghị Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc đối với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật”. Nghĩa là, trong vụ này, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật chưa được giao nhiệm vụ giám định tư pháp, người tham gia giám định không có tư cách pháp nhân về giám định tư pháp!
Kết luận điều tra cho rằng, việc không tuân thủ Pháp lệnh về giám định tư pháp “không ảnh hưởng đến kết quả giám định”, bởi vì “Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Kiểm lâm vùng II - Cục Kiểm lâm là cơ quan khoa học, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, có tư cách pháp nhân độc lập, có đội ngũ chuyên gia có trình độ cao, có đội ngũ kỹ sư, chuyên viên có kinh nghiệm”.
Một chuyên gia pháp luật cho biết nếu không tuân thủ quy định của pháp luật  thì bản giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật ở vụ án này “không có giá trị pháp lý”. Hơn nữa, theo vị chuyên gia trên phương pháp giám định của Viện này cũng sai, đã cân gỗ để quy ra khối lượng. Trong lúc, Thông tư 01, ngày 4/1/2012, của Bộ NN&PTNT quy định: “Chỉ được đo (kể cả đo theo đơn vị ste), không được cân trọng lượng để quy đổi ra khối lượng”.
Trong nhiều đơn khiếu nại, DNTN Ngọc Hưng khẳng định, họ đã đo thực tế để có khối lượng gỗ kê khai. Đáng tiếc, lô gỗ tang vật đã bị C44 bán đầu năm 2014, trong quá trình điều tra. Kết luận điều tra cho biết, bán được 63 tỷ 920 triệu đồng. Ông Trương Huy Liệu - chủ DNTN Ngọc Hưng nói, theo thời giá, lô gỗ bị bán rẻ khoảng 250 tỷ đồng.
Nhưng đó là ông Liệu tính theo khối lượng của ông 535,8m3, còn nếu với khối lượng do Viện Nghiên cứu Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đưa ra là 614,672m3 thì số tiền mất mát theo ông Liệu còn lớn hơn. (Tiền Phong 7/11) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai vừa có công văn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra thông tin việc tập kết gỗ trái phép tại địa bàn xã Ia Krái (huyện Ia Grai).
Công văn nhấn mạnh, nếu phát hiện việc tập kết gỗ trái phép thì cơ quan chuyên trách phải kiên quyết xử lý theo đúng pháp luật. Đồng thời với đó là tăng cường tuần tra kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời việc khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép. Cần xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm nhằm làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Trước đó, báo Tiền Phong thông tin, nhiều người dân thôn 1, xã Ia Krái, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phản ánh, hiện có một bãi tập kết gỗ lậu trong vườn cà phê ở trước khu nhà tập thể giáo viên Trường THPT A Sanh.
Đây là số gỗ lậu được lâm tặc dùng ôtô độ chế vận chuyển từ hướng rừng biên giới về. Cách đó không xa, trong vườn cà phê của công nhân Nông trường 705 (xã Ia Krái) có nhiều điểm cất giấu hàng trăm lóng gỗ đã được bóc bìa vuông vức, hàng trăm phách gỗ dài 4-5m, rộng 50-70cm. Đoạn đường đi vào bãi tập kết gỗ lậu dài chưa đầy 20m bị xe tải chở gỗ cày nát.
“Cứ hễ trời chập choạng tối cho đến gần sáng, rất nhiều xe tải chở đầy gỗ chạy theo hướng từ biên giới Việt Nam-Campuchia theo tỉnh lộ 664 rồi về tập kết tại đây. Đặc biệt, các xe này thường chạy qua đoạn đường trước trụ sở UBND xã Ia Krái”, một người dân nói. (Tiền Phong 7/11) đầu trang(
Theo kết quả kiểm kê rừng của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), trong bảy năm (từ năm 2008-2014) diện tích rừng tự nhiên tại Tây nguyên mất hơn 358.700ha, tương đương mỗi năm mất hơn 51.200ha rừng.
Trong khi đó, với gần 16.000ha rừng phải trồng thay thế tại 240 dự án, đến nay toàn vùng chỉ mới trồng được 1.007ha.
Cũng theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, độ che phủ rừng toàn vùng Tây nguyên đã sút giảm trong 10 năm qua, xuống còn 45,8% (bao gồm cả diện tích cây cao su trên đất lâm nghiệp, còn độ che phủ rừng thực tế chỉ đạt 32,4%)...
Ngày 23-10, người dân báo tin có một xe tải đang chở gỗ vừa đốn hạ trong khu du lịch sinh thái Bản Đôn (huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) ra khỏi cửa rừng. Cơ quan chức năng huyện Buôn Đôn đã chốt chặn, bắt giữ tang vật đưa về hạt kiểm lâm xử lý. Người đốn hạ vận chuyển cây gỗ này là một sĩ quan quân đội thuê xe dân sự vào đưa gỗ ra ngoài.
Nạn phá rừng cũng liên tục xảy ra tại Vườn quốc gia Yok Đôn (Buôn Đôn) từ đầu năm 2015 đến nay. Theo một lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, chín tháng đầu năm 2015 Vườn quốc gia Yok Đôn đã có gần 600 cây gỗ quý các loại bị đốn hạ (với khoảng 300m3 gỗ).
Rừng bị phá nhiều nhất tại các khu vực giáp ranh giữa vườn - sông Srêpôk - các buôn liền kề nhưng chưa được kiểm soát. Ngoài ra việc vận chuyển lâm sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt những đường vận chuyển ngoài địa phận vườn vẫn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn.
Ông Nguyễn Hữu Thiện - phó cục trưởng Cục Kiểm lâm (nguyên giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn) - thông tin từ năm 2013 đến nay Nhà nước có chủ trương cho phép trục vớt gỗ trôi dạt theo suối Đắk Đam (trong Vườn quốc gia Yok Đôn), thuộc khu vực vành đai biên giới do đồn biên phòng 747 quản lý.
“Tuy nhiên có biểu hiện lợi dụng việc trục vớt gỗ để hợp thức hóa gỗ khai thác và vận chuyển ra ngoài” - ông Thiện cảnh báo.
Ông Y Đ’hăm ÊNuôl - phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk - thẳng thắn: chủ trương cho trục vớt gỗ trôi dạt là “bùa” để đầu nậu, lâm tặc hợp thức hóa gỗ khai thác trái phép tại khu vực này đưa ra ngoài tiêu thụ.
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, trong chín tháng đầu năm 2015, tỉnh đã tổ chức 26 đợt kiểm tra tại các điểm nóng phá rừng như Ea H’Leo, Cư M’Gar, Ea Súp, M’Đrắk... và tịch thu hơn 500m3 gỗ các loại.
Tính đến hết tháng 10-2015, toàn tỉnh Đắk Lắk xảy ra 1.559 vụ vi phạm lâm luật, thu 2.680m3 gỗ các loại.
Rừng bị xâm phạm và tàn phá dữ dội như vậy nhưng những vụ chặt phá quy mô với mức độ khốc liệt nhất phải kể đến chính là các dự án khoanh nuôi, bảo vệ và cải tạo trồng rừng, trồng cao su.
Theo Ban chỉ đạo Tây nguyên, toàn vùng có 801 dự án trồng, cải tạo, chuyển đổi trồng cao su với diện tích 226.000ha. Lâm Đồng là tỉnh có số dự án lớn nhất với 510 dự án, diện tích hơn 96.500ha.
Kế đến là Đắk Lắk có 105 dự án với diện tích khoảng 44.500ha. Tỉnh Đắk Nông cũng có 36 dự án với hơn 10.500ha...
Rừng Tây nguyên bị phá hoại nhiều nhất là từ các dự án khoanh nuôi, bảo vệ và cải tạo trồng rừng, trồng cao su. Có nơi sau khi được giao dự án trồng rừng, doanh nghiệp tự ý cắt rừng sang nhượng cho người khác hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép.
Cụ thể, mới đây Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Đắk Lắk đã ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với Công ty TNHH Phúc Nguyên (huyện Ea Kar, Đắk Lắk) vì đã tự ý trồng 150ha cao su trên diện tích được quy hoạch trồng rừng nguyên liệu.
Tương tự, Công ty TNHH thương mại và sản xuất Lộc Phát (huyện Ea H’Leo) cũng bị Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Đắk Lắk xử phạt vì đã trồng 48ha cà phê trong dự án trồng rừng mà doanh nghiệp này được giao.
Không chỉ vậy, nhiều doanh nghiệp còn tự ý bao chiếm, sử dụng đất rừng trái hoàn toàn với mục đích ban đầu. Ví như Công ty TNHH Anh Quốc (Ea Súp) xây dựng trái phép năm lò đốt than tại dự án mà doanh nghiệp này được giao để trồng cao su và quản lý bảo vệ.
Trong khi đó, diện tích trồng cao su của doanh nghiệp này thì còi cọc, chết phần lớn, khu vực rừng phải bảo vệ, khoanh nuôi liên tục bị xâm hại...
UBND tỉnh Đắk Lắk cũng cho biết từ năm 2008 đến nay, toàn tỉnh có trên 26.400ha rừng, đất rừng bị người dân (chủ yếu là dân di cư ngoài kế hoạch) xâm hại, sử dụng trái phép. Tuy nhiên, năm 2014 và 10 tháng đầu năm 2015 toàn tỉnh mới thu hồi được 827ha.
Tương tự, từ năm 2010 đến nay, tỉnh Đắk Nông đã giao 41 dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn cho các doanh nghiệp với tổng diện tích rừng hơn 31.600ha, trong đó có hơn 14.300ha rừng tự nhiên phải quản lý, bảo vệ.
Đến nay có gần 4.800ha rừng tự nhiên bị tàn phá, gần 8.300ha rừng và đất rừng bị người dân lấn chiếm, xâm canh.
Trong năm 2014, Thanh tra Chính phủ cũng đã có kết luận nhiều sai phạm về quản lý, sử dụng đất đai tại tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2004-2011 vì có “biểu hiện sự buông lỏng quản lý trong thời gian dài, có nhiều sai phạm khuyết điểm”.
Cụ thể, công tác quản lý của các công ty lâm nghiệp bị buông lỏng, diện tích rừng và đất rừng được giao không cân xứng với năng lực thực tế nên không bảo toàn được tài nguyên rừng, đất đai.
UBND tỉnh đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho các doanh nghiệp hạn chế về năng lực tài chính và kỹ thuật, kinh nghiệm trồng cao su, trồng rừng...
Trong một cuộc họp với Tổng cục Lâm nghiệp mới đây, ông Y Đ’hăm ÊNuôl - phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk - cho rằng việc mất rừng tại địa phương là do sự “buông lỏng quản lý”.
Ông Y Đ'hăm ÊNuôl nghi ngờ: “Cây gỗ chứ đâu phải cây kim sợi chỉ mà dễ giấu, dễ lọt? Để đưa gỗ từ trong rừng ra phải đi qua nhiều trạm kiểm lâm, đồn biên phòng, vậy mà xe gỗ vẫn ào ào là cớ làm sao? Gần đây, Bộ Công an vây bắt một xưởng gỗ chứa hàng ngàn khối gỗ quý ngay tại TP Buôn Ma Thuột mà địa phương cũng... mù tịt” (!).
Cũng trong cuộc họp với Tổng cục Lâm nghiệp vào tháng 9-2015, ông Đỗ Quang Tùng, giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn - giãi bày: theo quy định thì trong khuôn viên vườn nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác lâm sản phụ, chăn nuôi gia súc và canh tác.
Tuy nhiên có khoảng 1.000 con trâu, bò được chăn thả trong vườn, mỗi ngày có khoảng 500 người ra vào rừng, trong vùng lõi còn có buôn Đrăng Phốk với hàng trăm hộ sinh sống.
“Điều này tạo điều kiện cho những người khai thác gỗ, lâm tặc, đầu nậu trà trộn để ra vào rừng khai thác, vận chuyển gỗ ra ngoài khiến tình hình khu vực này vô cùng phức tạp” - ông Tùng thông tin.
Một lãnh đạo Ban chỉ đạo Tây nguyên cho rằng việc suy giảm diện tích rừng tại Tây nguyên là do việc tổ chức triển khai các dự án khoanh nuôi, cải tạo, trồng rừng, cao su chưa đảm bảo đúng quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, trình tự thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp.
Thậm chí còn xảy ra tình trạng có nơi “lách luật”, chia nhỏ dự án (dưới 1.000ha) trong vùng chuyển đổi hàng ngàn hecta để không phải lập thủ tục trình các cấp có thẩm quyền. Có địa phương còn giao cho doanh nghiệp tự khảo sát, lập dự án chuyển đổi, tạo kẽ hở trong quản lý.
“Một số doanh nghiệp lại không có năng lực tài chính, thiếu lao động tham gia dự án, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ rừng để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng trái pháp luật nhưng không ngăn chặn, có nơi còn làm ngơ. Cá biệt có doanh nghiệp được giao dự án còn tự ý “cắt đất” bán lại để lấy tiền” - vị này phân tích.
Về giải pháp hạn chế nạn phá rừng, ông Y Đ’hăm ÊNuôl cho rằng lực lượng kiểm lâm, công an phải lên được danh sách những đầu nậu để tuyên truyền, vận động hoặc bằng các biện pháp mạnh để ngăn chặn từ ban đầu. Gỗ đã chở ra đến đường rồi mới bắt thì rừng đã tan hoang rồi.
“Phải gắn trách nhiệm kiểm lâm địa bàn với rừng, nếu để xảy ra những vụ phá, vận chuyển gỗ lớn phải kiểm điểm, kỷ luật. “Không thể đổ qua đổ lại cho nguyên nhân khách quan, chủ quan gì nữa” - ông Y Đ'hăm ÊNuôl nói.
Ông Nguyễn Bá Ngãi - phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp - cho rằng để công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả thì giữa lực lượng kiểm lâm và bộ đội biên phòng, công an địa phương cần phối hợp chặt chẽ.
“Cán bộ kiểm lâm cùng bộ đội biên phòng về các bản làng, đi tuần tra dọc biên giới cùng bộ đội biên phòng để nắm bắt tình hình và đưa ra giải pháp thì hiệu quả bảo vệ rừng mới đạt kết quả cao” - ông Ngãi đề nghị.
Một lãnh đạo Ban chỉ đạo Tây nguyên cho rằng để chấm dứt giao dự án tràn lan và bị lấn chiếm thì trung ương phải kiểm soát mạnh tay nạn “chia nhỏ” dự án (dưới 1.000ha) để dễ giao cho doanh nghiệp, kiên quyết thu hồi các dự án không hiệu quả, bị lấn chiếm.
Bên cạnh đó phải có biện pháp yêu cầu trồng bù rừng ở các dự án phải trồng rừng thay thế, “bắt đền” những doanh nghiệp làm 
mất rừng...
“Trong một số chuyến bay khảo sát hiện trạng rừng gần đây, chúng tôi quan sát một số khu vực rừng đã bị cạo trọc từ trong vùng lõi để làm nương rẫy. Có những nơi, đoàn công tác còn thấy những bãi gỗ đã khai thác để chất đống giữa rừng.
Với tình trạng phá rừng thì nhanh mà “vá” rừng lại chậm như hiện nay thì tình hình sắp tới sẽ ngày càng trở nên phức tạp” - vị này nhận định. (Tuổi Trẻ 7/11) đầu trang(
Theo một số chuyên gia, chỉ khi nào chủ rừng (cá nhân, tổ chức) có nhiều quyền lợi, có thể “sống được” nhờ rừng thì họ mới tha thiết bảo vệ rừng.
Xung quanh câu chuyện mỗi năm Tây nguyên mất hơn 51.000ha rừng tự nhiên (xem bài Băm chặt rừng Tây nguyên - Tuổi Trẻ 7-11), nhiều chuyên gia cho rằng cần thay đổi cách thức quản lý rừng hiện nay, tiến tới thay đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai.
Ông Nguyễn Hoài Dương (phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk): Một mình kiểm lâm không thể chặn phá rừng
Trước tiên, cần thay đổi nhận thức rằng việc bảo vệ rừng là của cả hệ thống chính quyền từ trung ương đến cấp xã và từng người dân, trong đó chủ chốt là ngành lâm nghiệp. Bởi một mình lực lượng kiểm lâm, lâm nghiệp không thể nào ngăn chặn nạn phá rừng.
Các cơ quan bảo vệ pháp luật phải mạnh tay, điều tra làm rõ để xử lý các đầu nậu, đường dây bán gỗ, bao chiếm đất đem bán.
Ngoài ra, phải xem xét lại một cách hệ thống về các loại rừng trên toàn Tây nguyên, khu vực rừng nào phải giữ, khu vực nào có thể chuyển đổi để giải quyết hài hòa nhu cầu cần đất canh tác chính đáng của người dân thì mới giảm nạn phá rừng 
lấy đất.
Tây nguyên có tới khoảng 90% là rừng tự nhiên, có giá trị, đất đai lại màu mỡ nên là “miếng mồi” cho lâm tặc, các đối tượng lấn chiếm đất.
Một thời gian dài vừa qua, các công ty lâm nghiệp (trước đây là các lâm trường) được giao diện tích rừng lớn nhưng lại không có nguồn lực tương xứng, cuộc sống của những cán bộ, nhân viên còn khó khăn thì làm sao yên tâm bảo vệ rừng.
Vì vậy, chủ rừng phải được đầu tư về vật chất, công cụ để có đủ khả năng bảo vệ rừng được giao.
Đặc biệt, việc giao rừng tại các dự án cũng còn nhiều kẽ hở pháp luật nên khó xử lý hoặc không xử lý dứt điểm được đối với doanh nghiệp vi phạm.
Do đó, ngoài việc yêu cầu doanh nghiệp cam kết thực hiện đúng trách nhiệm bảo vệ rừng, phải có khung chế tài với chủ rừng. Về lâu dài, Nhà nước cần xem xét sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai còn nhiều bất cập, kẽ hở như hiện nay...
Ông Nguyễn Đức Luyện (phó chủ tịch UBND tỉnh 
Đắk Nông): Phải thay đổi chính sách về rừng
Nhiều năm nay, Đắk Nông cũng như nhiều tỉnh Tây nguyên rất khổ sở với tình trạng di cư tự do “nhảy dù” vào các khu rừng, không thể sắp xếp và ổn định được, do vốn cho các dự án ổn định dân cư thiếu trầm trọng.
Đến nay, Đắk Nông còn khoảng 11.000 hộ dân đang sống bám vào các cánh rừng. Tỉnh cũng còn 12 dự án tái định cư cho dân di cư tự do chưa thể triển khai vì thiếu khoảng 1.000 tỉ đồng.
Do đó, phải thay đổi chính sách về rừng để tạo điều kiện cho các chủ rừng sống được với rừng mới giải quyết căn bản nạn phá rừng. Cụ thể, sau khi giao đất cho các doanh nghiệp, các diện tích rừng còn lại phải giao đến các hộ dân.
Nhà nước cũng cần hỗ trợ về kinh phí, chính sách để người dân có điều kiện sống tốt và yên tâm bảo vệ rừng.
Đến nay, UBND tỉnh đã giao Công an tỉnh làm 18 chuyên án về bảo vệ rừng. Theo đó, sẽ xác định rõ hành vi, đối tượng phá rừng lấn chiếm rừng, bất kể đó là kiểm lâm, cán bộ nhà nước, người dân hay các đối tượng đầu cơ...
Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng đang lập thủ tục thu hồi thêm 8 dự án khoanh nuôi, bảo vệ, trồng rừng nhằm chấn chỉnh tình trạng mất rừng tại các dự án...
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung (Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng): Chủ rừng phải tham gia cổ phần vào rừng
Vấn nạn mất rừng ở Tây nguyên và trên cả nước xảy ra rất nghiêm trọng, nhất là tại các công ty lâm nghiệp vì tình trạng “cha chung không ai khóc”. Rừng bị lấn chiếm 5 -10ha, giám đốc lâm trường làm báo cáo, thế là xong, không chịu trách nhiệm gì nữa. Cứ như thế nên rừng tan hoang.
Cần phải yêu cầu các chủ rừng bỏ tiền, “cổ phần” vào rừng để tăng trách nhiệm. Cũng có thể để người dân tham gia cổ phần trong các lâm trường, vào các diện tích rừng ở địa phương để người dân cùng hưởng lợi và tăng cường công tác quản 
lý rừng.
Hơn nữa, chẳng có nước nào trên thế giới quản lý rừng như chúng ta. Cứ thu hồi đất của cá nhân, tổ chức này rồi giao cho cá nhân, tổ chức khác và rừng vẫn mất, lấn chiếm.
Cần phải gắn trách nhiệm cố định việc quản lý rừng (đất đai) cho một cá nhân, đơn vị cụ thể có đủ năng lực bảo vệ rừng, tránh tình trạng “đổ qua đổ lại”, “cha chung không ai khóc” khi rừng bị phá. Cơ quan chức năng cũng phải thật sự có trách nhiệm trong việc bảo vệ rừng, lập dự án giao rừng.
Khi khởi động chương trình trồng cao su trên rừng khộp ở Tây nguyên, tôi và nhiều chuyên gia đã phản đối vì sẽ không có hiệu quả. Thế nhưng, nhiều dự án vẫn triển khai một cách ồ ạt.
Nhiều doanh nghiệp thừa hiểu trồng cao su trên rừng khộp là không hiệu quả nhưng vẫn bỏ tiền ra xin dự án, bắt tay để “chuyển đổi” mục đích sử dụng rừng sau khi được giao dự án. Do đó, theo tôi, nếu quyết tâm giữ rừng phải ngăn chặn ngay tệ nạn này...
Ông Nguyễn Khang Thiên (chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng): Thẩm định lại các dự án nhận khoán rừng
Phần lớn các chủ rừng là doanh nghiệp tư nhân, sau khi nhận rừng lại lơ là quản lý, không thực hiện kế hoạch chăm sóc, không tổ chức bảo vệ nên rừng bị phá.
Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm còn lơ là, chưa triệt để khi tham mưu cho cấp cao hơn trong việc thực hiện các phương án bảo vệ rừng dẫn đến mất rừng trong nhiều năm qua. Trách nhiệm của chúng tôi trong quản lý rừng không thể không nói và chúng tôi nhận.
Tuy nhiên, thẩm định khả năng của các doanh nghiệp trước khi cấp phép các dự án giao khoán bảo vệ rừng là trách nhiệm của ngành kế hoạch - đầu tư.
Tôi đề nghị ngành này phải thẩm định lại năng lực của các công ty đang nhận giao khoán rừng và phải kiên quyết thu hồi dự án của những công ty không đủ năng lực, tránh hậu quả mỗi lúc mỗi lớn.
Theo Ban chỉ đạo Tây nguyên, quy hoạch toàn vùng có 240 dự án (xây dựng thủy điện, các dự án khác) phải trồng gần 16.000ha rừng thay thế, nhưng đến nay toàn vùng mới trồng bù được 1.007ha.
Cụ thể, tỉnh Đắk Lắk có 58 dự án phải trồng rừng thay thế với diện tích 2.256ha nhưng mới có 4 dự án thủy điện thực hiện trồng bù rừng với diện tích 178ha.
Tương tự, Đắk Nông có 45 dự án phải trồng rừng thay thế với diện tích hơn 8.000ha nhưng mới thực hiện được 5 dự án, vỏn vẹn 124ha rừng. Cá biệt, tỉnh Gia Lai có 60 dự án phải trồng rừng thay thế với diện tích 2.732ha nhưng đến nay chưa dự án nào thực hiện. (Tuổi Trẻ 8/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện và bắt giữ nhiều vụ nhập lậu ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê từ châu Phi, Malaysia về Việt Nam với số lượng hơn 3 tấn. Việc xử lý số tài nguyên có giá trị lớn này như thế nào, đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi...
Trong 3 tháng (từ 1/8 đến 31/10), lực lượng Hải quan liên tiếp bắt giữ nhiều vụ buôn lậu ngà voi, sừng tê giác với số lượng lớn trên cả ba tuyến đường bộ, đường biển và đường hàng không. Tổng số lượng thu giữ gồm hơn 3 tấn ngà voi và 147kg sừng tê giác.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV, tất cả số ngà voi, sừng tê giác và vảy tê tê đều thuộc phụ lục I Công ước Cites, danh mục những loại động vật, thực vật hoang dã đe dọa bị tuyệt chủng, nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất nhập. Theo quy định, ngà voi, sừng tê giác là mặt hàng bị nghiêm cấm lưu thông trên thị trường vì mục đích thương mại nên không thể xác định được giá trị của mặt hàng này. Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn việc định giá tang vật vi phạm là hàng cấm. Chính vì điều này, cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc khởi tố hình sự đối với các vụ buôn lậu ngà voi và sừng tê giác.
Bên cạnh đó, hiện nay việc xử lý ngà voi thu giữ còn nhiều phức tạp, bởi theo Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites) nếu số lượng ngà voi bị thu giữ được xác nhận là không rõ nguồn gốc thì phải tiêu hủy.
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, PGS.TS Phạm Văn Lực, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Bảo tàng Thiên nhiên VN cho biết: “Hiện nay bảo tàng đang lưu giữ số lượng lớn ngà voi, sừng tê giác, vảy đồi mồi và nhiều bộ phận của động vật quý hiếm. Xét về mặt tài nguyên, đây là số tài sản lớn, tuy nhiên chúng tôi không ủng hộ việc bán đấu giá mà chỉ đề nghị giữ lại làm nghiên cứu khoa học chứ không tiêu hủy”.
“Đây là số tài sản có giá trị lớn, chúng tôi cũng tính đến phương án xin chế tác vảy đồi mồi, ngà voi làm thành những kỷ vật. Tuy nhiên, như vậy sẽ vi phạm công ước quốc tế và quy định của Việt Nam về chống nạn buôn bán động vật hoang dã nên không thể thực hiện. Chúng tôi đã bàn về vấn đề này rất nhiều, bởi với số lượng lớn như hàng trăm kg sừng tê giác và hàng nghìn kg ngà voi không phải tiêu hủy một cái là xong. Hiện, chúng tôi chỉ trưng bày một số lượng nhỏ còn tất cả phải cho vào kho bảo quản lưu giữ cẩn thận chờ phương án cuối cùng của cơ quan cấp trên”, PGS. Lực nhấn mạnh.
Cùng trao đổi về vấn đề này, GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật Việt Nam cho rằng vấn đề này rất hệ trọng và các cơ quan chức năng cần phải có một hành động đúng đắn.
Theo quan điểm của GS. Huỳnh, ông ủng hộ việc tiêu hủy số lượng ngà voi, sừng tê giác mà các cơ quan quản lý tại Việt Nam đang lưu giữ. “Tôi ủng hộ việc tiêu hủy số lượng lớn ngà voi, sừng tê giác này. Thực hiện Công ước đa dạng sinh học chúng ta đã ký năm 1994, bảo tồn, phát triển các loài động thực vật quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Cùng với đó, chiến lược quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ký năm 2013 là bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, trong đó có các loài động vật quý hiếm”, GS Huỳnh cho hay.
Vị Chủ tịch Hội Động vật Việt Nam phân tích, số lượng ngà voi, sừng tê giác trên là một khối tài sản rất lớn, khi đất nước ta còn nghèo, việc đốt đi cũng khiến mọi người đau lòng. Tuy nhiên, ông khẳng định: “Nếu giữ lại để chế tác sử dụng thì không có tác dụng răn đe, khác nào ta làm ngược lại với luật pháp”.
GS. Huỳnh giải thích, trong việc cấm buôn bán động vật hoang dã, phải nghiêm cấm buôn bán các sản phẩm chế tác từ động vật hoang dã tại các cơ sở kinh doanh như cảng biển, cửa khẩu, nhà ga… Nếu cho sử dụng những sản phẩm chế tác từ những nguyên liệu trên, thì chúng ta đang tiếp tay cho tệ nạn đang nhức nhối này.
Dưới quan điểm của một nhà khoa học, GS Huỳnh chia sẻ ông rất đau lòng khi nghĩ đến việc phải tiêu hủy số lượng sản phẩm từ động vật quý hiếm trên. Tuy nhiên, ông kiên quyết với quan điểm ban đầu: “Chúng ta phải tiêu hủy số lượng ngà voi, sừng tê giác này. Trước tiên, để làm gương và răn đe các đối tượng buôn bán những sản phẩm này trong nước, sau đó cho các nước trên thế giới thấy rằng tuy Việt Nam là một nước còn khó khăn về kinh tế nhưng luôn tuân thủ nghiêm túc những điều mà Việt Nam đã ký kết”.
Cũng theo GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh, chúng ta phải giải quyết từ gốc rễ vấn đề. Để đối phó với nạn buôn bán động vật hoang dã xuyên quốc gia, chúng ta cần phải có những biện pháp, hành động cụ thể, mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, phải nâng cao nhận thức của cộng đồng để hạn chế những suy nghĩ, quan điểm sai lầm về công dụng của các sản phẩm từ các loài động vật quý hiếm này…
Điển hình là vụ việc cuối tháng 8 vừa qua, cơ quan chức năng kiểm tra lô hàng của Cty TNHH Vạn An (Đà Nẵng) được đăng ký tờ khai nhập khẩu là đá cẩm thạch dạng khối nhập từ Châu Phi. Tuy nhiên, khi khám xét lô hàng, cơ quan chức năng phát hiện 577,1kg ngà voi và 122,5kg sừng tê giác ngụy trang trong 12 khối đá giả, được làm rỗng bên trong.
8 ngày sau, cơ quan chức năng tiếp tục kiểm tra 3 container của Cty TNHH Vạn An được khai báo là gỗ nhập khẩu từ Châu Phi. Tuy nhiên, bên trong các container là gần 2,2 tấn ngà voi xếp lẫn trong các bó gỗ để ngụy trang. (Gia Đình Và Xã Hội 6/11) đầu trang(
Tổ chức Động vật châu Á (Animals Asia) khuyến nghị lãnh đạo TP.Đà Nẵng không nên chấp thuận dự án Khu biểu diễn cá heo và nuôi nhốt sinh vật biển vì gây ô nhiễm môi trường biển và vi phạm phúc lợi động vật.
Dự án này được Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ vừa ký văn bản đồng ý.
2,5ha đất gần biển nằm trong khu quy hoạch dự án Nhà hát - Trung tâm Văn hóa thành phố tại chân cầu Thuận Phước đã được giao để xây dựng khu biểu diễn và nuôi cá heo, thú biển của một công ty Nga, Công ty TNHH Utrish Dolphinarium.
Theo một kênh phát ngôn của tổ chức Động vật châu Á cho hay, ngày 24.9, tổ chức này đã họp với Sở Xây dựng, Sở Du lịch, Phòng Xúc tiến đầu tư của Đà Nẵng về vấn đề này.
Animals Asia cho rằng, việc đưa những con cá heo từ tự nhiên về nuôi trong môi trường nuôi nhốt, ép buộc chúng biểu diễn và bơi cùng khách tham quan có thể gây tổn thương đến chúng, thậm chí gây tử vong đối với loài vật có nguy cơ tuyệt chủng này.
Do đó, Animals Asia khuyến nghị Đà Nẵng không nên thông qua dự án này, bởi điều này không những không thúc đẩy mà còn có thể gây tác động tiêu cực đến lượng khách du lịch và đầu tư vào thành phố này.
“Việc các công viên thủy cung gây ô nhiễm môi trường biển là vi phạm phúc lợi động vật khiến nhiều quốc gia đã có luật cấm hoặc hạn chế việc nuôi nhốt động vật biển”, thông cáo của Animals Asia cho hay.
Hiện một số nước trên thế giới như Croatia, Síp, Hungary, Slovenia và Thụy Sỹ đã cấm nuôi nhốt cá heo. Chile và Costa Rica đã cấm việc nuôi nhốt sinh vật biển từ năm 2005 và vào năm 2013, Ấn Độ đã thông qua luật cấm phát triển các khu nuôi cá heo và coi cá heo là ‘các cá nhân phi con người’ (non-human persons).
Hy Lạp đã cấm trình diễn động vật vào năm 2012, trong khi đó Anh không còn các cơ sở nuôi nhốt cá heo do các cơ sở không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc gia.
Bản thông cáo nhấn mạnh: “Một thành phố tiến bộ với tầm nhìn trở thành thành phố hiện đại nhất Việt Nam vào năm 2030 như Đà Nẵng không nên thông qua dự án nuôi nhốt động vật hoang dã này”.
Ông David Neal, Giám đốc phúc lợi Động vật của Animals Asia giải thích: “Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nuôi giữ cá heo từ tự nhiên là hành vi tàn bạo khiến chúng luôn bị hành hạ. Nuôi nhốt cá heo hay động vật biển có vú khác đều gây hại cho chúng và dần dần, ngày càng có thêm nhiều người phản đối việc làm này.
Đà Nẵng là địa điểm chúng tôi ít muốn một công trình như vậy được xây dựng nhất. Chúng tôi tin rằng danh tiếng là một thành phố hiện đại văn minh của Đà Nẵng có thể bị ảnh hưởng nếu dự án được tiến hành. Ngày càng nhiều quốc gia đang quay lưng lại với việc nuôi nhốt động vật biển có vú kiểu này. Khi đó Đà Nẵng sẽ thất bại trong việc quảng cáo mình là một thành phố sinh thái.”
“Câu chuyện thành công của Đà Nẵng sẽ bao gồm cả việc không ngại từ chối những dự án không phù hợp với quy hoạch phát triển chung – đặc biệt là những dự án có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững của thành phố.
Bằng việc thẳng thắn từ chối tiếp nhận những dự án FDI không bền vững, Đà Nẵng sẽ phát triển bền vững như tầm nhìn đề ra, cũng như đảm bảo thương hiệu du lịch sinh thái. Chúng tôi đã đề nghị lãnh đạo thành phố suy nghĩ và từ chối kế hoạch này”, ông David Neal nói. (Một Thế Giới 6/11) đầu trang(
Nằm trong quần thể kiến trúc đền chùa xây dựng từ thời Hậu Lê, bên cạnh dòng sông Thương bên lở bên bồi của miền quê hương quan họ Kinh Bắc, cây Dã hương ngàn tuổi (Tiên Lục, Lạng Giang, Bắc Giang) nhiều đời nay được coi là biểu tượng văn hóa, chứng nhân lịch sử của biết bao thăng trầm, biến cố của quê hương, đất nước.
Người dân Tiên Lục, Lạng Giang không ai biết cây Dã hương này có từ bao giờ. Các bô lão trong làng kể rằng, từ khi họ sinh ra đã thấy cây sừng sững đứng đó tự bao giờ, người dân thường gọi cây cổ thụ này là “cụ”.
Trước đây, trong ngọc phả của thôn Giữa, thời vua Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786) khi đi ngang qua, vua thấy cây to và đẹp đã sắc phong cho cây là “Quốc chúa đô mộc Dã Đại vương”. Cây ở trời Nam mà vươn sang tận trời Tây, năm 1905, toàn quyền Pháp Paul Doumer đã cưa một cành để làm hai cây thánh giá lưu niệm. Đến năm 1932, hình ảnh cây Dã hương xuất hiện tại Hội chợ Marseille.
Ông Trần Văn Tuấn, cán bộ văn hóa xã Tiên Lục cho biết, cây Dã hương này đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm 1989. Từ đó, rất nhiều khách du lịch tìm đến để chiêm ngưỡng cây cổ thụ, đặc biệt là vào tháng tư, lúc cây nở hoa.
Đây cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của người dân trong vùng, những buổi trưa hè nắng, cả người già và trẻ đều ra hóng mát dưới tán cây cổ thụ. Bà Hoàng Thị Bị (83 tuổi) chia sẻ, “lúc đẻ ra cây đã to thế rồi, ngày xưa mỗi lần đi chợ về tôi đều rẽ vào ngồi nghỉ chân, hẹn hò cũng ở đây cả”.
Còn Nguyễn Thị Lưu (sinh viên trường Công nghệ may) bày tỏ: Cây Dã hương lưu giữ nhiều kỉ niệm tuổi thơ cùng bạn bè, bố mẹ, thời còn học trường làng tôi thường cùng lũ bạn chơi ở đây. Bây giờ học xa, có dịp về quê vẫn rủ bạn bè lên ngồi hoặc đưa bạn về thăm quê, thăm “cụ Dã”.
Từ năm 2008, trường Mầm non Tiên Lục đưa cây Dã hương vào chương trình giảng dạy, mỗi tuần hai buổi cho trẻ đến tham quan và vui chơi.
Cây Dã hương đã mấy lần định “từ biệt” dân làng. Năm 1977 và 1994, đất dưới gốc cây bị rửa trôi, lá úa vàng. Vài năm trước, trẻ con chui vào thân cây trú mưa, vơ củi đốt sưởi, lửa cháy ngùn ngụt, cả làng phải ghánh nước dập lửa cứu cụ Dã.
Theo lời ông Nguyễn Văn Đề - nhân viên quản lý Cụm di tích thì các bậc cao niên đã nghiệm ra hiện tượng khá thú vị: cây không bao giờ gãy vì gió bão, nhưng khi có cành nào già rơi xuống, nhường chỗ cho một cành mới vươn lên đều báo hiệu một sự chuyển biến lớn của đất nước. Năm 1945, cành lớp phía Đông Bắc gãy là lúc Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1975, cành phía Tây gãy gắn với sự kiện Thống nhất đất nước…
Hiện nay chưa có tài liệu nào xác định chính xác tuổi đời của cây, mà chỉ gọi chung chung là cây Dã hương ngàn tuổi. Còn trong cuộc hội thảo về cây Dã hương của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đa dạng sinh học tổ chức năm 2011, các nhà khoa học khẳng định cây tồn tại trên một nghìn năm và trên thế thời chỉ có hai cây như thế. Cây ở châu Phi đã chết, nên cây này được coi là “độc nhất vô nhị”. (Xây Dựng 7/11) đầu trang(
Theo phản ánh của người dân địa phương, rừng dự án của Cty Lâm nghiệp Đường 9 trồng ở xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã và đang bị nhiều đối tượng khai thác trộm.
Đây là những khu rừng được trồng từ Chương trình 327, Dự án 661, nằm ở các tiểu khu 769, 770 và 774. Diện tích khu rừng trên rộng gần 200 ha, được trồng từ các năm 1998-1999, đa số là cây gỗ keo đã lớn, có thể phục vụ làm nhà, cưa xẻ gỗ gia dụng nên bị nhiều đối tượng tham gia khai thác trong thời gian qua.
Có mặt tại hiện trường chúng tôi thấy nhiều cây keo bị khai thác trơ gốc, gỗ được kéo về đang tập kết tại các bờ khe hoặc kéo ra QL9 tại Km 27. Nhiều cây gỗ rừng trồng có đường kính thân gần 0,5 m cũng bị chọn lựa để cưa trộm. Suốt thời gian qua, tổng diện tích rừng dự án ở các tiểu khu trên của công ty bị khai thác trộm hơn 10 ha.
Nhiều người dân cho biết số rừng bị khai thác trộm trên là rừng của Cty lâm nghiệp Đường 9, rừng của dân trồng đều rừng non, mới 3 - 4 năm tuổi.
Ông Lê Lữ - Giám đốc Cty Lâm nghiệp Đường 9 thừa nhận có tình trạng trên nhưng do khu rừng ở xa nên khó kiểm soát.
Cơ quan chức năng cho biết sẽ kiểm tra lại thông tin này để có biện pháp xử lý.
Hiện tại Cty Lâm nghiệp Đường 9 có gần 5 ngàn ha rừng keo và thông, đều được trồng bằng nguồn vốn của nhà nước. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/11) đầu trang(
Ngay sau khi phóng sự “Tái diễn tình trạng lấn rừng trồng cà phê ở Chiềng Ban” phát sóng, chúng tôi đã nhận được thông tin rất đáng mừng trong việc xử lý những sai phạm này, gần 6ha ha rừng đã được trồng thay thế cho diện tích cà phê đã vi phạm.
Việc UBND xã Chiềng Ban kiên quyết xử lý những vi phạm về đất rừng đã nhận được sự đồng tình của cán bộ và nhân dân trên địa bàn, đây là cảnh báo, răn đe mạnh  mẽ đối với các đối tượng cố tình vi phạm trong thời gian vừa qua.
Để sớm chấm dứt tình trạng lấn rừng để trồng cây cà phê trên địa bàn xã Chiềng Ban, Hạt Kiểm lâm huyện Mai Sơn và UBND xã Chiềng Ban đã kiểm tra, rà soát toàn bộ diện tích rừng bị triệt phá, sau đó họp bàn và thống nhất phương án khắc phục hậu quả. Theo đó, toàn bộ diện tích diện tích cà phê non được trồng mới trên diện tích rừng cộng đồng của 3 bản Nà Mặn, bản Ót, bản Nong Nưa đã được phá bỏ và trồng rừng thay thế, giao lại cho Ban quản lý bảo vệ rừng của từng bản chăm sóc, quản lý, trả lại đúng mục đích lâm nghiệp.
Đây là lần thứ 2 trong năm 2015, UBND xã Chiềng Ban phối hợp với lực lượng Kiểm lâm tổ chức xử lý vi phạm về đất rừng và đất lâm nghiệp. Kiên quyết phá bỏ cây cà phê trên diện tích rừng bị lấn chiếm và trồng rừng thay thế được xem là giải pháp mạnh nhằm răn đe các đối tượng cố tình vi phạm trong thời gian qua.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, việc trồng rừng thay thế nhận được sự đồng tình của nhân dân, hơn 100 hộ của 3 bản Nà Mặn, bản Ót, bản Nong Nưa đã tham gia trồng lại rừng dưới sự giám sát của lực lượng Kiểm lâm.
Đối với diện tích gần 3ha rừng còn lại do các hộ quản lý, Hạt Kiểm lâm Mai Sơn và UBND xã Chiềng Ban cũng đã chỉ đạo, đôn đốc người dân trồng cây xoan, bạch đàn xen cây cà phê theo hướng nông – lâm kết hợp. Đến hết ngày 3/11 việc trồng rừng thay thế cũng đã hoàn tất.
Kiên quyết trong việc xử lý vi phạm đất rừng và đất lâm nghiệp ở Chiềng Ban không chỉ nâng cao ý thức của người dân trong việc quản lý, khai thác và bảo vệ rừng mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của cấp ủy chính quyền địa phương cũng như lực lượng Kiểm lâm trong việc phối hợp làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, đảm bảo an ninh rừng trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 6/11) đầu trang(
Tại Bắc Kan, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông vừa ra quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Triệu Văn Chiều sinh năm 1987, trú tại thôn Lủng Lầu, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Tại cơ quan Công an đối tượng Chiều khai nhận: Do có nhu cầu lấy gỗ để làm nhà và bán gỗ lấy tiền nên từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015, Chiều đã khai thác 07 cây gỗ tại khu rừng Trà Lẩu, thôn Lủng Lầu, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông trong đó có 03 cây Xoan mộc, 01 cây gỗ Dổi găng, 01 cây Mỡ rừng, 01 cây gỗ Thông và 01 cây gỗ Kháo thuộc các nhóm gỗ I, III, IV và VI có khối lượng trên 24 mét khối.
Được biết năm 2013, Triệu Văn Chiều đã từng bị xử phạt hành chính 6 triệu đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.Hiện Cơ quan Công an đang tiếp tục củng cố hồ sơ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Triệu Văn Chiều. (ANTV 7/11) đầu trang(
Để tiêu thụ gỗ lậu, hai vợ chồng ở tỉnh Kon Tum thuê các đối tượng ở Cà Mau và Kiên Giang làm giả hồ sơ nhưng khi đưa gỗ đi tiêu thụ đã không qua mặt được lực lượng công an tỉnh Quảng Nam.
Sáng 6-11, tại phiên xử phúc thẩm, TAND tỉnh Quảng Nam đã tuyên giảm 3 tháng tù cho Trần Quang Vĩnh (SN 1964, ngụ huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum) về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan chức năng”.
Theo bản án sơ thẩm, từ tháng 8 đến ngày 23-10-2014, Vĩnh cùng vợ là Nguyễn Thị Hương (SN 1974) mua hơn 162 m3 gỗ xẻ (loại  thuộc nhóm III – VI) của người dân khai thác trái phép. Sau đó, Vĩnh lập bản kê quy cách gỗ và thuê Ngô Tất Thắng (SN 1980, ngụ tỉnh Lâm Đồng) và Dương Ngọc Hoàng Oanh (vợ Thắng, SN 1983) làm 5 bộ hồ sơ giả với giá 137 triệu đồng.
Ngày 23-10-2014 vợ chồng Vĩnh vận chuyển số gỗ lậu đến ga Phú Cang (huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) để thuê tàu lửa chuyển ra Bắc bán thì bị công an tỉnh Quảng Nam phát hiện, bắt giữ cùng với các bộ hồ sơ giả.
Qua điều tra, Thắng khai sau khi nhận tiền của Vĩnh đã thuê Trần Thái Dương (SN 1956, ngụ tỉnh Cà Mau) và Trần Văn Tỉnh (SN 1968, ngụ tỉnh Kiên Giang) làm giả 3 bộ hồ sơ trên với giá 68 triệu đồng.
Ngày 25-8-2015, TAND huyện Thăng Bình đã tuyên phạt Vĩnh 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, 12 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan chức năng”. Với tội danh “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, Nguyễn Thị Hương bị tuyên phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Các bị cáo Thắng, Tỉnh, Dương mỗi người nhận mức án 12 tháng tù giam về tội “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan chức năng”. Cùng tội danh trên, bị cáo Oanh nhận mức án 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Sau phiên tòa, một số bị cáo làm đơn kháng cáo nhưng ngoài Vĩnh, các bị cáo khác đã rút đơn trước khi phiên phúc thẩm diễn ra. Tại phiên tòa hôm nay, xét thấy Vĩnh ăn năn hối cải, khai báo thành thật, là lao động chính trong gia đình khó khăn và bị cáo đã hoàn trả một phần số tiền do phạm tội mà có nên HĐXX tuyên giảm 3 tháng tù. (Người Lao Động 6/11) đầu trang(
Chiều 6/11, tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Sở NN&PTNT phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội tổ chức hội nghị Tổng kết kế hoạch liên ngành tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng trong các trường THCS&THPT trên địa bàn huyện Thạch Thất năm 2015.
Đợt tuyên truyền năm nay, ban chỉ đạo liên ngành đã tổ chức cuộc thi Tìm hiểu về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại 8 trường trên địa bàn các xã có rừng của huyện Thạch Thất. Cuộc thi nhận được 3.067 bài viết tham gia dự thi của các em học sinh.
Chung khảo, hội đồng chấm thi và ban chỉ đạo liên ngành đã trao 8 giải tập thể cho các trường tham gia, bao gồm: Giải Nhất cho trường THPT Bắc Lương Sơn; giải Nhì cho trường THCS Bình Yên; giải Ba cho trường THCS Kim Quan, THCS Yên Bình; giải Khuyến khích cho trường THCS Thạch Hòa, THCS Tiến Xuân, THCS Đồng Trúc, THCS Yên Trung. Đồng thời, trao 100 giải cá nhân, gồm: 8 giải Nhất, 16 giải Nhì, 24 giải Ba, 32 giải Khuyến khích cho 100 em học sinh có bài dự thi xuất sắc.
Được biết, với mục đích nâng cao nhận thức, hiểu biết và bảo vệ rừng cho các em học sinh, tạo sức lan tỏa đối với cộng đồng dân cư sinh sống tại địa phương có rừng, đợt tuyên truyền về quản lý bảo vệ rừng là hoạt động thường niên của Sở NN&PTNT phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội tổ chức trong 5 năm trở lại đây. (Kinh Tế Và Đô Thị 6/11) đầu trang(
Vừa qua, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn vừa quyết định phê duyệt dự án "Khẩn cấp bảo tồn voi và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi ở Việt Nam đến năm 2020" với mức kinh phí trên 50 tỷ đồng.
Dự án đặt mục tiêu bảo tồn được các tiểu quần thể voi có số lượng đàn ít, sinh cảnh sống bị cô lập và bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm trong cùng vùng sinh cảnh. Đồng thời, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi săn bắn, xâm hại voi, buôn bán, vận chuyển, lưu giữ trái phép ngà voi và các bộ phận của voi, giảm thiểu các tác động tiêu cực của con người lên sự sinh tồn tự nhiên của voi hoang dã.
Dự án được thực hiện tại các khu rừng, sinh cảnh nơi voi rừng cư trú, hành lang di chuyển của các quần thể voi hoang dã hiện có ở Việt Nam; tập trung ở các khu rừng đặc dụng và các khu rừng khác trên địa bàn các tỉnh trong cả nước có voi hoang dã phân bố (không bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai); các địa phương có các hoạt động mua bán trái phép ngà và mẫu vật voi.
Tổng vốn đầu tư dự án khoảng hơn 50 tỷ đồng, được thực hiện qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, từ năm 2014 đến 2015 và giai đoạn 2 từ 2016 đến 2020. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/11) đầu trang(
Chiều 8-11, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đác Glong, tỉnh Đác Nông, Đỗ Ngọc Trai cho biết, cơ quan vừa tiếp nhận bàn giao từ UBND xã Quảng Sơn một vụ khai thác gỗ trái phép với khối lượng lớn tại Công ty cổ phần nông lâm nghiệp Khải Vi (Công ty Khải Vi), xã Quảng Sơn.
Tang vật thu được gồm: một xe công nông độ chế cỡ lớn chuyên dùng chở gỗ; 38,102 m3 gỗ phách và gỗ lóng, trong đó 5,274 m3 gỗ sao thuộc nhóm II, 30,280 m3 gỗ dầu đỏ thuộc nhóm V, số còn lại là gỗ tạp.
Hiện toàn bộ số gỗ nêu trên được lập biên bản bàn giao cho Công ty Khải Vi quản lý chờ Hạt kiểm lâm huyện Đác Glong phối hợp Cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tổ chức khám nghiệm hiện trường, điều tra xử lý các đối tượng vi phạm theo quy định.
Trước đó, ngày 6-11 Ban Lâm nghiệp và Công an xã Quảng Sơn phối hợp tuần tra, kiểm soát rừng tự nhiên trên địa bàn cũng phát hiện một khối lượng lớn gỗ khai thác trái phép được các đối tượng vận chuyển tập kết tại bãi gỗ thuộc lâm phần do Công ty Khải Vi quản lý chờ đưa đi tiêu thụ. (Nhân Dân 8/11) đầu trang(
Gỗ hương trở thành mục tiêu khai săn lùng của các nhóm lâm tặc. Trên lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa, từ tháng 01/01/2014 đến 31/8/2015 đã có 101 cây hương bị đốn hạ.
Cây gỗ hương thuộc lâm phần Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa, huyện Kbang (Gia Lai) quản lý đã được Nhà nước thống kê yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn gen. Theo báo cáo, gỗ hương lâu năm (nhóm I) trên địa bàn Gia Lai, chỉ còn rải rác ở Rừng Quốc gia Kon Ka Kinh và tại lâm phần của công ty. Quý là vậy, nhưng trong nhiều năm qua trên địa bàn gỗ hương đã bị triệt hạ không thương tiếc.
Báo cáo của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa, huyện Kbang, cho biết, từ tháng 01/01/2014 đến 31/8/2015 trên lâm phần do công ty quản lý đã xảy ra 59 vụ khai thác gỗ hương trái phép. Số cây bị đốn hạ trong thời gian này được thống kê là 101 cây, với khối lượng gỗ thiệt hại hơn 227 m3, giá trị về kinh tế rất lớn.
Chỉ trong vòng 18 tháng, 1 số lượng gỗ hương lớn thuộc diện quý hiếm đang được quản lý bị đốn hạ đã làm xôn xao dư luận tại địa phương. Những người liên quan và có trách nhiệm, người đi tù, người bị kỷ luật đối, nhưng điều người dân quan tâm liệu gỗ hương có còn tiếp tục bị đốn hạ (?).
Mới đây nhất, Sở NN&PTNT cùng với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa đã có cuộc khảo sát toàn bộ khu vực rừng do công ty quản lý. Số gỗ hương được kiểm kê đến thời điểm hiện nay ở trong lâm phần là 306 cây, nằm rải rác trong hơn 20 chục tiểu khu.
Ông Nguyễn Văn Hải, Kiểm sát viên Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Krông Pa cho biết, trên địa bàn Gia Lai còn rất ít gỗ hương. Do biết rừng của công ty quản lý có gỗ hương nên lâm tặc tập trung kéo về đây nhằm đốn hạ loại gỗ quý. Đặc biệt là đầu năm 2014, tình hình rất căng thẳng, chỉ lắng xuống trong thời gian gần đây, sau khi các lực lượng được tăng cường truy quét.
Được biết, các chốt của công ty hiện chỉ có 2 hoặc 3 người. Các chốt này phải ăn ở, túc trực trong rừng. Hầu như các anh em không dám đi ra khỏi rừng, vì chỉ cần sơ hở là lâm tặc lẻn vào chặt hạ cây. Lâm tặc chủ yếu lợi dụng vào lúc trời mưa, đêm khuya, ngày lễ để lẻn vào rừng.
Theo 1 cán bộ kiểm lâm trên địa bàn cho biết, các vụ chặt hạ gỗ hương trên chỉ xử lý được hành chính không truy tố hình sự được. Do gỗ hương có giá trị, 1 số đối tượng chỉ chọn 1 cây để chặt rồi gùi ra khỏi rừng, khi bị bắt thì không đủ số lượng để truy tố. Toàn bộ 101 cây gỗ hương bị đốn hạ phần lớn chưa bị lâm tặc tẩu tán.
Công ty Lâm nghiệp Krông Pa hiện đang quản lý 8.428ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng là 7.152ha, nằm trên địa bàn 4 xã: Krong, Đăkrong, Sơn Lang, Sơ Pai, huyện Kbang; trong đó 78% diện tích nằm trên địa bàn xã Krong. (Người Đưa Tin 8/11; Công An Tp.HCM 8/11) đầu trang(
Tối 8/11, hơn 5.000 bạn trẻ và đông đảo người dân Thủ đô đã nô nức kéo đến Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội) để đón xem sự kiện WildFest, lễ hội chiếu phim và ca nhạc ngoài trời về động vật hoang dã đầu tiên tại Việt Nam.
Theo ghi nhận của phóng viên VietnamPlus, mặc dù 18 giờ 30 phút “đêm hội” chiếu phim và ca nhạc ngoài trời mới chính thức bắt đầu, nhưng ngay từ 16 giờ chiều nay, đông đảo bạn trẻ và người dân Thủ đô đã có mặt tại Hoàng Thành Thăng Long để gặp gỡ và trò chuyện với các nghệ sĩ, đạo diễn phim nổi tiếng, cũng như tìm hiểu các câu chuyện về động vật hoang dã.
Sự kiện WildFest còn có sự tham gia của đại diện Chính phủ Việt Nam, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius, Đại sứ Vương quốc Anh Giles Lever, đại diện Đại sứ quán Nam Phi tại Việt Nam và ông Steve Galster - Giám đốc Freelend.
Phát biểu tại chương trình, Đại sứ Ted Osius cho rằng, vấn nạn buôn bán, săn bắn động vật hoang dã như tê giác đang là mối đe dọa lớn, khiến nhiều loài quý hiếm đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Thậm chí, việc buôn bán trái phép này còn hỗ trợ cho một số mạng lưới tội phạm khủng bố quốc tế phát triển.
“Chính vì vậy, thông qua sự kiện WildFest tối nay, chúng tôi hy vọng các bạn trẻ nhận thức đúng lợi ích và tác hại của việc buôn bán trái phép động vật hoang dã, nhất là sừng tê giác tại Nam Phi. Sừng tê giác không phải là thuốc cổ truyền để chữa bệnh, nó cũng không phải là một biểu tượng thể hiện đẳng cấp, mà là sự đàn áp. Vì thế, chúng tôi kêu gọi các bạn giúp đỡ, cùng chúng tôi lên tiếng để bảo vệ loài động vật hoang dã đang bị đe dọa này,” Đại sứ ​Hoa Kỳ nhấn mạnh.
Theo đại diện Đại sứ quán Nam Phi tại Việt Nam, nạn săn trộm sừng tê giác tại Nam Phi và các quốc gia khác đã ​trở thành cuộc khủng hoảng. Chỉ tính riêng trong năm 2014 đã có hơn 1.200 con tê giác tại Nam Phi bị giết. Và, nếu việc bắn giết vẫn tiếp tục diễn ra thì thế giới sẽ mất đi loài động vật quý hiếm.
“Sừng tê giác trên thực tế nó chỉ như những móng tay của con người, nó không có công dụng làm thuốc chữa bệnh. Vì thế, chúng ta cần làm việc với nhau để tạo ra sự thay đổi trong việc tiêu dùng, cũng như ngăn chặn nạn bắn giết và buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp. Chúng tôi cũng hi vọng, các bạn trẻ lên tiếng để chống lại nạn săn bắn, buôn bán để bảo vệ loài tê giác quý hiếm,” đại diện Đại sứ quán Nam Phi tại Việt Nam nói.
Về phần mình, ông Vương Tiến Mạnh, Phó giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và ​Phát triển ​Nông thôn) cho biết, những năm gần đây, do nhu cầu phát triển kinh tế, một bộ phận nhỏ người Việt đã tham gia vào các hoạt động buôn bán động vật hoang dã, dẫn đến sự suy giảm của các loài quý hiếm.
Trước thực tế trên, thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và ​Phát triển Nông thôn và các cơ quan tham mưu cho Chính phủ đã ban hành và thực thi các quy định pháp luật để ngăn chặn tội phạm buôn bán động vật hoang dã trong nước, cũng như ngăn chặn tình trạng mua bán, vận chuyển động vật hoang dã xuyên quốc gia, như sừng tê giác tại Nam Phi.
“Tuy nhiên, nếu không có sự chung tay của các bạn trẻ thì công tác này sẽ khó đạt được kết quả. Vì thế, chúng tôi mong muốn các bạn trẻ cùng chung tay với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ để bảo vệ động vật hoang dã, cũng như đưa các loài quý hiếm trở lại Việt Nam, để Việt Nam trở thành một điểm đến đẹp trong mắt bạn bè quốc tế,” ông Mạnh nói.
Chia sẻ về lý do tham gia chương trình Cùng Hành động tạo sự Thay đổi/WildFest, đạo diễn Charlie Nguyễn (Đại sứ thiện chí của OGC/WildFest) nói: “Niềm tin vào phép màu của những phương thuốc được cho là thần dược với người Việt đã có từ lâu đời nên chẳng dễ để lay chuyển suy nghĩ đó với những người lớn tuổi. Tuy nhiên, tôi tin rằng thế hệ trẻ có cách nghĩ khác và họ chính là những người tạo được sự ảnh hưởng lâu dài.”
Đạo diễn Charlie Nguyễn cũng tin tưởng, với ngôn ngữ điện ảnh - thứ phương tiện giải trí có sức tác động rộng lớn, trực tiếp, các bộ phim được công chiếu sẽ góp phần tạo sự thay đổi, góp phần bảo vệ động vật hoang dã.
​Diễn viên Hồng Ánh - người luôn nhiệt tâm với các hoạt động vì thiên nhiên, môi trường và bảo vệ động vật - chia sẻ: “Là người được khán giả biết mặt, nhớ tên, tôi nghĩ mình có trách nhiệm lên tiếng trước các vấn đề đang được cả thế giới quan tâm này.”
Diễn viên Hồng Ánh cũng cho biết, tuy hành động này chưa thể thay đổi suy nghĩ của nhiều người ngay lập tức nhưng với những chương trình như thế này, dần dần mọi người sẽ nghĩ khác đi.
“Chúng ta chưa thể thay đổi cả một cộng đồng nhưng nếu một người thay đổi thì những người bên cạnh họ cũng sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực, sức lan toả đó sẽ rộng hơn, xa hơn khi mỗi người trong chúng ta đều hành động,” diễn viên Hồng Ánh nói. (Vietnam + 8/11) đầu trang(
Không ai biết đích xác rừng nghiến này đã có từ khi nào, chỉ biết từ nhiều đời nay, những thế hệ cao niên ở thôn Xí Giàng Phìn (xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) bằng kinh nghiệm của mình đều nói nó đã hàng ngàn năm tuổi. Người dân nơi đây coi khu rừng nghiến cổ là báu vật của bản làng và chung tay giữ cánh rừng này bằng sự kính cẩn, thiêng liêng nhất.
Trong lòng mỗi người dân Xí Giàng Phìn, khu rừng nghiến là biểu trưng cho sự che chở, bình yên, trường tồn và cũng là niềm tự hào của thôn, bản. Khu rừng có hơn 100 cá thể nghiến cỡ lớn sừng sững, hiên ngang, rễ bám chặt vào những vách đá tai mèo mà thách thức giông bão, thi gan với thời gian.
Giữa cái nắng khô rát đầu đông, chúng tôi men theo con đường dốc cheo leo để lên Xí Giàng Phìn, thôn nghèo của xã Nậm Chảy (Mường Khương, Lào Cai)). Đã từ lâu, người Mông đến đây dựng nhà, lập bản và sống hài hòa cùng thiên nhiên. Thôn nghèo nằm trên một vùng đất khá bằng phẳng, lưng dựa vào rừng gỗ nghiến. Tất cả các hộ dùng chung nguồn nước từ khu rừng này.
Theo kinh nghiệm của các vị cao niên trong bản, khu rừng nghiến có những thân gỗ đến gần nghìn năm tuổi.
Nhìn vào một khoảng không xa xăm, Trưởng thôn Giàng Cù Nủ trầm ngâm bảo: “Không biết khu rừng được coi là rừng thiêng, rừng cấm từ bao giờ, có lẽ quan niệm này bắt đầu từ khi người Mông đầu tiên có mặt ở nơi đây. Thời tôi còn bé đã thấy những cây nghiến to như thế. Gia đình nào cũng vậy, ông bảo cha, cha bảo lại cho con, cho cháu rằng phải giữ lấy rừng nghiến, bởi rừng  nghiến là “hồn” của bản”.
Cùng Trưởng thôn Nủ và một số cán bộ xã Nậm Chảy, chúng tôi khám phá “kho báu ngàn cổ” trong sự hồi hộp, háo hức. Không có đường mòn để vào sâu trong rừng gỗ nghiến, anh Nủ chỉ cho chúng tôi cách bám lên những mỏm đá nhấp nhô, bám lấy những bộ rễ cây lớn để đu, để luồn và bò vào rừng.
Trong rừng, cái nắng bị bỏ lại phía sau vòm lá nhiều tầng u tịch, cả những tiếng ve cũng líu ríu như tiếng dế từ trên các ngọn cây cao tít. Ngoài vạt nương phía bìa rừng đất khô như rang, còn nơi đây những lớp thực bì xốp, ẩm, mềm mại khiến chúng tôi ngỡ như mình đang đứng trên tấm nệm khổng lồ.
Xếp vào hạng rừng cấm với những quy định bảo vệ nghiêm ngặt nên khu rừng nghiến này vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, hoang dã. Dưới những tán cây lớn, thảm thực vật bậc thấp, dây leo bám chằng chịt vào bộ rễ lớn như những con rắn khổng lồ trườn mình trên đá tai mèo.
Thì ra “rừng cấm” Xí Giàng Phìn không chỉ bởi do ý nghĩa về mặt văn hoá, tập quán mà còn vì cả sự nguy hiểm. Những khe, dốc đá chênh vênh, chỉ sơ sảy là có thể trượt ngã và khó giữ được tính mạng, vì dưới đáy thung kia là những mỏm đá tai mèo lấp ló trong lùm cỏ dại. Cũng bởi thế mà ngoài thời gian thực hiện nghi lễ cúng rừng hàng năm hoặc tuần tra, bảo vệ rừng thì việc đặt chân vào rừng là hết sức hạn chế với chính người dân trong thôn.
“Trong thôn nhà nào cũng thế, khung nhà, cánh cửa đến các đồ dùng rất ít làm bằng gỗ nghiến. Từ bao đời vẫn thế rồi, nếu người Xí Giàng Phìn không có ý thức giữ rừng thiêng thì đâu còn được như ngày nay” - Trưởng thôn Nủ tâm sự.
Hàng năm, sau Tết Nguyên đán là người Mông thôn Xí Giàng Phìn lại làm lễ cúng rừng trong rừng nghiến. Bản Xí Giàng Phìn còn nghèo nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện chặt cây rừng, dù gỗ nghiến được xếp vào bậc quý hiếm. Gỗ nghiến nặng, bền, đẹp, không cong vênh, mối mọt, trên thị trường có giá bán rất cao. Việc bảo vệ rừng bây giờ còn phức tạp hơn nhiều bởi không ít lần cánh rừng thiêng này đã bị những kẻ lâm tặc đột nhập.
Người Mông thôn Xí Giàng Phìn có quan niệm rằng, chặt gỗ nghiến trong rừng thiêng là có tội lớn với tổ tiên, là phạm phải tội ác “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”. Vậy mà bên vách đá tai mèo, có thời gian sự cẩn trọng của người dân thôn Xí Giàng Phìn vẫn không ngăn được rừng nghiến “chảy máu”.
Có không ít lần, những thân nghiến lớn bị kẻ xấu cưa trộm trong đêm, người dân phát hiện được thì thân gỗ đã đổ.
“Tổ tiên gìn giữ bao đời, đến thế hệ mình lại để mất, như vậy là có lỗi lớn”, Trưởng thôn Nủ ngậm ngùi. Giờ đây, tinh thần cảnh giác của bà con thôn Xí Giàng Phìn và các thôn lân cận dần được nâng cao nên hơn 100 cá thể nghiến cỡ lớn trong khu rừng vẫn được giữ nguyên trạng.
Lên cao chừng 20 phút đi bộ, chúng tôi đứng nghỉ trước một thân nghiến lớn. Anh Nủ cầm dao dọn những cây gai chắn trước mặt để chúng tôi có thể tiếp cận gần hơn một cây gỗ nghiến mà chu vi gốc của nó cỡ vài người ôm. Anh Vàng Ngọc Kim, Trưởng ban Công an xã Nậm Chảy làm một động tác hết sức sinh động là chui vào một trong những hốc của cây nghiến và anh lọt thỏm trong đó như vừa lách qua cửa nhà mình vậy.
Anh Kim cho biết, có lần đi tuần tra bảo vệ rừng, lúc gặp mưa, tổ bảo vệ 5 người vẫn chui được vào hốc nghiến chờ trời tạnh mưa, đủ để thấy tuổi đời của nghiến rất cao.
Hầu hết những người đàn ông trưởng thành của thôn Xí Giàng Phìn đều nhớ rõ vị trí của từng cây nghiến, nhớ rõ từng khe, hốc đá nguy hiểm nhờ được luân phiên tuần tra bảo vệ rừng. Dẫn chúng tôi đi qua một cây gỗ nghiến đã đổ cách đây vài năm, nằm vắt ngang qua khe đá như một chiếc cầu lớn với đường kính tới hơn 1m, anh Kim ngẩn ngơ tiếc: “Có thể “cụ này” quá cao niên, nên nhường không gian sống cho con cháu”.
Với người dân thôn Xí Giàng Phìn cũng như bà con xã Nậm Chảy, rừng nghiến thiêng là một niềm tự hào, biểu tượng cho sự trường tồn, khát vọng sống của người dân nơi đây. Nậm Chảy, theo tiếng địa phương có nghĩa là đầu nguồn con nước. Muốn có nước thì phải giữ rừng, âu đó cũng là quy luật sinh tồn, tuân thủ theo thực tế khách quan.
Trên địa bàn tỉnh hiện còn hàng chục nghìn héc ta rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, nhưng cánh rừng có mật độ gỗ quý cao như rừng thiêng Xí Giàng Phìn thực không dễ tìm. Với người Mông thôn Xí Giàng Phìn, khu rừng có giá trị hơn thế bởi nó thể hiện nét văn hoá, tinh thần, tình yêu của người dân đối với rừng, vậy nên họ mới coi rừng nghiến là “kho báu ngàn cổ”. (Pháp Luật Việt Nam 9/11) đầu trang(
Người dân ở tổ dân phố Mỹ Trạch, P.Ninh Hà, TX.Ninh Hòa (Khánh Hòa) hằng năm vẫn duy trì lễ cúng tại miếu cọp, cầu mong “ông” cọp che chở dân làng. Tục cúng “ông” cọp được cho là xuất phát từ chuyện xưa kia người trong làng vô tình giết chết những đứa con của “ông”.
Ngày xưa, Mỹ Trạch là một làng nhỏ, nghèo khó. Trải qua hàng chục năm khai hoang, sức người đã biến nơi đây thành một vùng đất trù phú và Mỹ Trạch trở nên nổi tiếng với nghề dệt chiếu cói truyền thống. Tuy vậy, những người cao tuổi ở Mỹ Trạch đều cho rằng làng cũng có nhiều thăng trầm, mà mỗi khi kể về quá khứ, người dân lại chột dạ nhớ về chuyện dân làng có lỗi với “ông” cọp.
Truyền rằng, khi làng mới thành lập, người dân tích cực khai hoang trồng lúa, trồng cói dệt chiếu. Một ngày nọ, khi đốt xong đám cỏ lác, nông dân làng Mỹ Trạch đã phát hiện có ba bộ xương cọp con bị cháy.
Dân làng tự trách mình đã vô tình giết chết ba chú cọp con. “Tôi nghe cha ông kể lại rằng, sau khi sự việc xảy ra, dân làng ai cũng hoảng hốt. Có người còn chắp tay vái lạy rối rít, có người van xin “ông” cọp tha lỗi vì chuyện xảy ra chỉ là sự vô ý của con người, có người thì chạy về đóng kín cửa, giấu con nhỏ vì sợ “ông” trả thù”, ông Năm, 70 tuổi, người trong làng cho biết.
Người dân còn nghe kể lại rằng, sau khi cọp mất con, nhiều đêm người ta nghe tiếng “ông” cọp kêu gào thống thiết ở khu vực rừng bị đốt cháy phát quang. Mùa vụ năm đó, người dân làng Mỹ Trạch không ai dám tiếp tục khai hoang gần khu vực trên nữa. Không biết có phải là do “ông” cọp “trả thù” mà năm ấy dân làng không sản xuất được nên lâm vào cảnh túng quẫn.
Dân làng Mỹ Trạch cho rằng việc ngộ sát ba chú cọp con đã khiến cọp mẹ nổi giận, liên tục quấy phá, khiến người dân “làm gì hỏng nấy”. Trong tâm trạng âu lo, có người đã nghĩ đến việc hoặc là bỏ đi nơi khác, hoặc phải chuẩn bị tinh thần đón rước những tai họa có thể ập xuống.
Trước tình cảnh ấy, dân làng quyết định mở một cuộc họp, bàn cách chuộc tội với “ông” cọp. Cuối cùng, người dân nguyện lập một miếu thờ cọp. Xương cốt của ba chú cọp con được người dân đưa về, cẩn thận cho vào một hộp gỗ nhỏ, đặt trong miếu thờ.
Theo lời kể của người dân địa phương, ban đầu ngôi miếu thờ cọp được dựng lên ngay khu vực ba chú cọp con bị cháy. Mỗi sáng, người dân thường thấy nhiều dấu chân cọp quanh miếu và biết rằng cọp mẹ tối hôm trước đã về đây thăm con. Dường như nghĩa cử của dân làng Mỹ Trạch cũng xoa dịu được phần nào đau đớn của cọp mẹ mất con nên từ khi lập miếu, cọp không còn về làng gầm rú, thoắt ẩn thoắt hiện “hù” người dân nữa.
Trải qua nhiều năm, miếu thờ cọp xuống cấp, người dân đã làm lễ xin dời vào trong làng, thuộc khuôn viên đình Mỹ Trạch. Ngôi miếu nhỏ thờ cọp được xây bằng xi măng, mái ngói, nằm phía bên hông trái đình Mỹ Trạch giờ đã phủ rêu phong. Trước miếu có bình phong với hình tượng cọp mẹ, sơn màu vàng chủ đạo, đang băng qua cảnh núi rừng của làng Mỹ Trạch xưa. Trong miếu vẫn còn lưu hộp gỗ đựng cốt ba chú cọp con.
Ông Nguyễn Xèo, 73 tuổi, là người được dân làng Mỹ Trạch tin tưởng giao nhiệm vụ trưởng ban tế lễ nhiều năm nay, cũng được xem là người am hiểu “lịch sử” của làng, cho biết đình Mỹ Trạch được xây dựng vào khoảng thế kỷ 18. Hằng năm, cứ đến ngày 18.3 âm lịch là người dân Mỹ Trạch góp tiền lo lễ vật mang ra cúng tại đình làng. Ngoài lễ thờ cúng Thành hoàng làng, Hậu thổ thánh nương, tiền hiền... người dân còn làm lễ cúng tại miếu thờ sơn lâm chúa tướng, chính là miếu thờ ba chú cọp con bị ngộ sát năm xưa.
Ông Xèo cũng như người dân Mỹ Trạch không biết rõ thời gian cọp bị ngộ sát, chỉ biết tục cúng miếu cọp đã được duy trì qua nhiều thế hệ. Chúng tôi hỏi: “Đã bao giờ dân làng thử mở hộp gỗ bên trong miếu ra chưa?”. Ông Xèo nói ông gắn bó với việc tế lễ tại đình Mỹ Trạch trên dưới chục năm, nhưng chưa khi nào dám đụng vào hộp gỗ đó và có lẽ nó vẫn “yên vị” từ bao đời nay.
Chuyện cọp làng Mỹ Trạch tưởng như đã hết sau khi miếu thờ cọp được lập nên, tuy nhiên, trong cuốn Truyền thuyết dân gian Khánh Hòa, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Việt Kỉnh cho biết thêm: Một đêm mùa đông nọ, người dân làng Mỹ Trạch lại thất kinh khi nghe tiếng cọp về. Nhưng lần này tiếng kêu hiền lành và đứt quãng. Dân làng hoang mang. Mọi người chuẩn bị vũ khí, mai phục bắt cọp. Lúc này, có lão nông trong làng từng đốt rẫy khiến ba con cọp con chết thuở xưa nói với đám trai tráng trong làng hình như cọp mẹ về làng để chào những đứa con của mình lần cuối.
Hôm sau, người dân thấy quanh miếu thờ cọp con đầy dấu chân cọp mẹ, cánh cửa miếu bị hất toang. Sau lần ấy, người dân không bao giờ thấy cọp về làng nữa... (Thanh Niên 7/11) đầu trang(
Giai thoại về một phụ nữ làm “bà mụ” cho cọp là thông điệp mà người xưa muốn gửi gắm đến hậu thế: thiên nhiên dù có sức mạnh đến đâu vẫn rất cần đến trái tim nhân hậu của con người.
Người dân xã Ninh Thọ, TX.Ninh Hòa (Khánh Hòa) vẫn truyền miệng câu chuyện về một phụ nữ đỡ đẻ cho cọp. Tương truyền, người dân quen gọi bà là bà Ba, được xem là người đỡ đẻ “mát tay” trong vùng. Một đêm nọ, bà Ba bỗng mất tích. Gia đình hốt hoảng, sợ bà bị cọp bắt nên cùng dân làng tỏa đi tìm.
Nhiều ngày không thấy dấu vết gì, người nhà hết hy vọng, đành về lập bàn thờ, hương khói cho bà. Thế rồi, một đêm nọ, gia đình bà Ba nghe tiếng động ngoài cửa, ra xem thì hoảng hồn vì thấy bà xuất hiện trước cửa nhà. Mọi người ngỡ rằng bà hiện hồn về nên vái lạy lia lịa. Đến khi bà lên tiếng “tui đây chứ ma nào”, mọi người mới mừng rỡ và lập tức dỡ bỏ bàn thờ.
Gia đình bà Ba mở tiệc mừng, dân làng cũng đến chia vui và được nghe bà kể một câu chuyện quá đỗi ly kỳ. Đúng là bà bị một con cọp đực bắt, tha lên núi, đưa vào hang. Trong hang, bà thấy một cọp cái với cái bụng to, đang rên vì những cơn đau. Bà biết là cọp cái sắp sinh nhưng vì lý do gì đó nên gặp khó, vì thế cọp đực đã xuống núi nhờ bà giúp đỡ. Sau khi đỡ đẻ cho cọp “mẹ tròn con vuông”, bà Ba ở lại hang thêm ít ngày để chăm sóc mẹ con cọp. Mỗi ngày cọp đực lại đi kiếm trái cây rừng đem về làm thức ăn cho bà. Khi cọp mẹ đã lại sức, cọp con cứng cáp, cọp đực mới “cõng” bà Ba về lại nhà.
Dân gian còn truyền rằng, sau khi bà Ba mất, thỉnh thoảng người nhà lên thăm mộ bà thì thấy nhiều dấu chân cọp quanh mộ. Người ta tin rằng gia đình cọp đã về viếng người phụ nữ đã từng giúp đỡ chúng.
Cụ ông Nguyễn Cư (80 tuổi) ở Ninh Thọ nói rằng, thật khó để nói câu chuyện người đàn bà đỡ đẻ cho cọp có thật hay không. Nhưng có lẽ qua câu chuyện trên, người xưa muốn gửi gắm đến hậu thế rằng sự từ bi của con người sẽ làm cho muôn loài trở nên hiền hòa hơn.
Người dân địa phương thường truyền nhau hai câu thơ của nhà nho Thuần Phu Trần Khắc Thành: “Mả Vòng đêm vắng ma trêu nguyệt. Phước Hải xuân về cọp thưởng mai”. Theo các cụ lớn tuổi, khoảng trước năm 1954, P.Phước Hải của Nha Trang có một rừng mai khá lớn. Mỗi khi xuân về, mai nở vàng rực cả một vùng. Nhiều người lên rừng lấy mai về chơi đã trông thấy cọp lững thững ở khu vực này. Tuy nhiên, cọp dường như chỉ “thưởng thức” vẻ đẹp của mùa xuân, chứ không hề tấn công người.
Cụ ông Lê Minh, 85 tuổi, cho biết: “Cọp ngày đó hiền lắm. Có lần vào buổi chiều, chúng tôi trèo lên cây cổ thụ chơi, thấy cọp đùa giỡn với nhau. Mấy người bạn tôi kể lại còn thấy cả đôi cọp... làm tình. Sau này, rừng mai bị con người lấn dần để làm nhà, trồng cây, cọp cũng dần dần vắng bóng”.
Về sự “hiền lành” của cọp, nhà thơ Giang Nam, sống ở Nha Trang, nói: “Cọp Khánh Hòa nói chung và Nha Trang nói riêng nổi tiếng nhiều, nhưng cũng có tiếng hiền. Thế nên người xưa mới có câu “hiền như cọp Khánh Hòa”. Dân gian lưu truyền câu chuyện rằng thời Pháp thuộc, có nhà yêu nước đến Khánh Hòa vận động cách mạng, nói với một người bạn rằng: “Nhân sĩ Khánh Hòa hiền lành quá”.
Ông bạn đáp lại: “Cọp còn thế huống chi người!”. Cọp “hiền” có lẽ do quen sống gần người. Điều đó cũng thể hiện rằng thời ấy con người sống rất thuận hòa với thiên nhiên.
Sự gần gũi giữa con người và chúa sơn lâm còn được thể hiện trong câu chuyện về những “ông cọp đi tu” ở xã Phước Đồng (TP.Nha Trang). Hiện nay, bên cạnh miếu “cậu” ở xã Phước Đồng, có một miếu cọp. Miếu là một hang đá nhân tạo, bên trong có 5 “ông” cọp. Theo ông Nguyễn Nhân (76 tuổi), người địa phương, các cụ ngày trước kể rằng xưa kia khu vực này là vùng đất hoang vu. Có vị sư tu tập tại đây, không may bị bệnh hiểm nghèo, ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, vị sư lại thấy người khỏe mạnh, bệnh tật tiêu tan như được ai đó cứu giúp.
Vị sư lập miếu “cậu” để tỏ lòng biết ơn người đã giúp mình. Về sau, nhiều đêm vị sư tụng kinh gõ mõ, thường xuất hiện một đàn cọp đến rất gần. Cọp không hại người mà còn chăm chú nghe kinh, đầu gật gù theo tiếng mõ. Khi đêm đã khuya, kinh kệ xong, đàn cọp lại quay về rừng. Sau này, có lẽ vì già chết, đàn cọp không xuất hiện nữa và một miếu cọp được dựng ngay cạnh miếu “cậu”.
Thấy tôi có vẻ thắc mắc về thái độ kỳ lạ của các “ông” cọp, ông Nhân giải thích: “Khi con người sống hòa thuận với thiên nhiên thì có thể cảm hóa, thuần phục được loài hung bạo”. (Thanh Niên 8/11) đầu trang(
Toàn huyện Hải Hà có hơn 34.000ha diện tích đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng chiếm trên 90%. Trong thời gian qua, do đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bà con nhân dân trên địa bàn huyện Hải Hà đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, đặc biệt là vào mùa hanh khô.
Gia đình ông Đặng Văn Lương ở bản Quảng Hợp, xã Quảng Thành có trên 1ha diện tích đất rừng trồng các loại cây như: gỗ thông, gỗ keo. Để bảo vệ tốt diện tích rừng, đặc biệt là phòng chống cháy rừng trong mùa hanh khô, gia đình ông đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: thường xuyên quét dọn thực bì, phát quang rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát và thực hiện nghiêm các quy tắc trong việc phòng chống cháy rừng.
Do vậy, nhiều năm nay diện tích rừng của gia đình ông được bảo vệ tốt. Ông Lương cho biết thêm: “Vào mùa khô này gia đình tôi cũng thường xuyên triển khai quét dọn thực bì trên diện tích rừng trồng, đồng thời tuyên truyền cho bà con nhân dân không mang lửa vào rừng nên diện tích rừng của gia đình tôi phát triển tốt và không xảy ra cháy rừng”.
Ngoài việc chủ động triển khai phương án phòng, chống cháy rừng trong nhân dân, huyện Hải Hà còn thành lập các tổ bảo vệ, tổ tuần tra gác rừng tại các xã có nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất như: Quảng Sơn, Quảng Đức, Quảng Thành.
Bên cạnh đó, các ngành chức năng, đặc biệt là hạt kiểm lâm huyện Hải Hà cũng vào cuộc một cách tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn các biện pháp phòng chống cháy rừng. Đồng thời phối hợp với chính quyền các xã, tổ chức kiểm tra, ký cam kết với các hộ dân, các chủ rừng thực hiện nội quy, quy chế phòng cháy, chữa cháy rừng, nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Ông Vũ Văn Mỳ - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hải Hà cho biết: “Ngay từ đầu mùa hanh khô, chúng tôi đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân. Đồng thời chỉ đạo cho kiểm lâm địa bàn phối hợp với các xã xây dựng phương án phòng chống cháy rừng và khoanh vùng những khu vực dễ cháy, có nguy cơ cháy rừng cao để thuận tiện cho việc tuần tra, kiểm tra.
Đối với các chủ rừng, tổ chức, doanh nghiệp, chúng tôi yêu cầu xây dựng phương án chi tiết công tác phòng cháy, tăng cường quét dọn thực bì, chủ động triển khai các phương án, trong đó phòng là chính”.
Năm 2015, toàn huyện Hải Hà trồng mới được hơn 600ha diện tích rừng. Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nên trong năm 2015 trên địa bàn huyện Hải Hà chưa xảy ra vụ cháy rừng nào. Tuy nhiên, bước vào mùa hanh khô nguy cơ cháy rừng là rất cao, trong dó theo cảnh báo của Chi cục kiểm lâm tỉnh, Hải Hà là một trong những địa phương có nguy cơ ở cấp cực kỳ nguy hiểm.
Vì vậy, các các cấp, các ngành đặc biệt là bà con nhân dân trên địa bàn huyện cần tiếp tục đề cao cảnh giác, chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng, góp phần bảo vệ và thúc đẩy kinh tế rừng ngày càng phát triển. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 8/11) đầu trang(
Báo Công lý đã có bài “Tĩnh Gia, Thanh Hóa: Hàng chục ha đất rừng bị băm nát”. Sau khi báo đăng, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa và các cơ quan chức đã tiếp thu thông tin báo chí, lập tức chỉ đạo ngăn chặn, xử lý dứt điểm nạn khai thác đất trái phép trên địa bàn.
Công văn Khẩn số 11285/UBND-CN ngày 30/10/2015 của UBND tỉnh Thanh Hóa  gửi Sở Tài nguyên – Môi trường;  Sở Nông nghiệp – PTNT; Công an tỉnh; UBND huyện Tĩnh Gia và Doanh nghiệp tư nhân Đức Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền chỉ đạo:
1.Yêu cầu UBND huyện Tĩnh Gia chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm đối với Trưởng phòng Tài nguyên – Môi trường huyện, Chủ tịch UBND xã Tân Trường, Chủ tịch UBND xã Phú Lâm và các tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra tình trạng khai thác đất trái phép trên địa bàn xã Tân Trường và xã Phú Lâm trong thời gian dài, trên diện tích rộng mà không có biện pháp ngăn chặn; đồng thời rà soát, thống kê các hộ gia đình được giao đất trong phạm vi diện tích bị khai thác đất trái phép trên để xử lý theo qui định; báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh kết quả thực hiện trước ngày 25/11/2015.
2.Giao Giám đốc Sở Nông nghiệp – PTNT chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm đối với lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia, do để xảy ra tình trạng hoạt động khai thác đất trái phép tại các khu rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia quản lý mà không có biện pháp ngăn chặn, xử lý dứt điểm hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền.
3.Giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan, điều tra làm rõ hành vi chuyển nhượng, khai thác đất trái phép tại xã Tân Trường và xã Phú Lâm của ông Trịnh Hữu Trung (có địa chỉ tại Tổng công ty Đầu tư xây dựng và Thương mại Anh Phát –CTCP); xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật theo qui định, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh kết quả thực hiện.
4.Yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Đức Minh dừng ngay việc mở đường vào mỏ khai thác đất san lấp tại thôn 7, xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia để hoàn thiện hồ sơ được giao đất thực hiện dự án trên theo đúng qui định hiện hành của Nhà nước.
Có thể nói chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đối với sự việc nghiêm trọng này là rất quyết liệt, cụ thể và cần thiết để ngăn chặn tình trạng  khai thác đất trái phép để trục lợi.
Theo điều tra của báo chí thì  Công ty Anh Phát, khai thác đất lậu ở hai khu vực. Thứ nhất thuộc xã Tân Trường khu vực có tọa độ 571368, 2145088, cách mỏ Công ty Anh Phát 500m về hướng Tây Bắc có dấu hiệu khai thác trái phép, diện tích khoảng 2ha, hiện trạng còn các moong, vách nham nhở, múc đi hàng chục nghìn m3 đất đá. Khu vực thứ hai diện tích khoảng 1,5ha tại xã Phú Lâm, do ông Trịnh Hữu Trung (có địa chỉ tại Tổng công ty đầu tư Xây dựng và Thương mại Anh Phát) mua lại và khai thác trái phép.
Doanh nghiệp Đức Minh khai thác trái phép vượt ngoài mốc giới 3 ha. Trong khi UBND tỉnh Thanh Hóa mới chỉ chấp thuận về mặt chủ trương cho Đức Minh làm đường, chưa ban hành Quyết định cho phép mở đường nhưng mà Đức Minh đã tổ chức san đồi bạt núi. Đức Minh được tỉnh đồng ý chủ trương mở rộng đường vào mỏ với diện tích 1,24ha nhưng đã mở đến trên 8,1 ha, tương ứng với cả triệu m3 đất bị xúc đi, biến khu đất thành bãi đỗ xe, dựng nhà điều hành … Hai lần Công ty Đức Minh xin làm đường là hai lần bóc đi cả trăm ngàn m3 đất.
Theo điều tra của báo chí, mỗi m3 đất từ Tĩnh Gia giao đến bãi san lấp của Khu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn, doanh nghiệp sẽ được trả 90.000đ. Một xe “Hổ vồ” mỗi chuyến có thể chở được từ 16 đến 18m3 đất. Như vậy mỗi xe thu khoảng 15 triệu đồng. Do quãng đường chỉ khoảng 10 km nên mỗi xe một ngày chạy 8-10 chuyến, thu về khoảng 150 triệu đồng. Với dàn xe hùng hậu của mình, ước tính mỗi ngày họ xúc khoảng 5000m3, số thu nhập mà 2 Công ty này thu được mỗi ngày lên đến tiền tỷ.
Trừ đi chi phí xăng dầu, máy móc, nhân công… thì số thu nhập còn lại cũng rất lớn. Ngoài hậu quả môi trường không thể khắc phục được thì Nhà nước còn thất thoát nguồn thuế tài nguyên.
Vì các hành vi nêu trên có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, nên lãnh đạo UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo cơ quan điều tra làm rõ theo hướng này, xử lý nghiêm minh trước pháp luật, bảo vệ uy tín của Cơ quan nhà nước là rất cần thiết.
Triển khai chỉ đạo của UBND tỉnh Thanh Hóa, ông Nguyễn Xuân Thủy - Bí thư kiêm Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia cho hay hiện nay huyện đã giao Phòng Nội vụ huyện tiến hành xem xét trách nhiệm lãnh đạo Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện và lãnh đạo các xã Tân Trường, Phú Lâm. Ai sai tới đâu sẽ bị xử lý tới đó theo quy định.
Ông Nguyễn Minh Châu - Phó giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường Thanh Hóa cũng cho hay: Ngay sau khi nhận được thông tin phản ánh của báo, Sở đã thành lập đoàn công tác kiểm tra hiện trường, lập biên bản ghi nhận hiện trường về tình trạng khai thác đất rừng sai phép mà báo phản ánh.
Ông Châu khẳng định thông tin mà báo phản ánh không có gì sai. Hiện Sở Tài nguyên - Môi trường đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh, tham mưu tỉnh xử lý vi phạm. Đồng thời, ông Châu cũng đã giao Thanh tra sở vào cuộc thanh tra, làm rõ việc vi phạm của Công ty Đức Minh thực hiện việc đào đất khi chưa có giấy phép và xử lý theo quy định của pháp luật.
Dư luận chờ đợi kết quả xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật của lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đối với vụ việc nghiêm trọng này. (Công Lý 7/11) đầu trang(
Liên quan đến vụ than tặc phá rừng phòng hộ Yên Lập tại xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh), ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, ngày 10/11, lãnh đạo huyện này sẽ báo cáo cụ thể với UBND tỉnh.
Trước đó, ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, yêu cầu cơ quan điều tra CA tỉnh này làm rõ hành vi phá rừng phòng hộ Yên Lập để khái thác than trái phép của các đối tượng.
Theo đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh yêu cầu kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân người đứng đầu UBND huyện Hoành Bộ, xã Tân Dân và các cá nhân liên quan đến vụ việc trên.
Như Dân trí đưa tin, ngày 27/10, CA tỉnh Quảng Ninh phát hiện và bắt giữ vụ khai thác than trái phép tại tiểu khu 62, xã Tân Dân (Hoành Bồ, Quảng Ninh). Đáng chú ý, khu vực các đối tượng khai thác than trái phép này nằm trong diện tích rừng phòng hộ Yên Lập.
Ngày 30/10, ông Đặng Huy Hậu đã đi kiểm tra thực tế và làm việc với UBND huyện Hoành Bồ về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than...
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Tô Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND huyện Hoành Bồ cho biết, vị trí các đối tượng có hành vi khai thác than trái phép là nằm trong khai trường khi thác than của huyện Hoành Bồ trước kia, có diện tích khoảng 5ha.
Theo ông Hưng, thời gian qua do mưa lũ trên địa bàn gây sạt lở nên có thể lộ ra vỉa than và các đối tượng lợi dụng việc này để khai thác than trái phép.
Ông Hưng cho biết thêm, ông mới được giao trọng trách quản lí việc khai thác tài nguyên từ ngày 20/10 thì đến ngày 27/10, cơ quan chức năng của tỉnh nhận được tin báo từ địa phương về hiện tượng khai thác than trái phép và tiến hành bắt giữ.
“Trung bình, 2-3 ngày chúng tôi lại đi kiểm tra 1 lần và có phát hiện dấu hiệu khai thác than trái phép của các đối tượng. Nhưng trách nhiệm xử lí của chính quyền địa phương nên chúng tôi không báo cáo lãnh đạo tỉnh”, ông Hưng nói.
Liên quan đến vụ việc khai thác than trái phép tại rừng phòng hộ Yên Lập (xã Tân Dân, Hoành Bồ), lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh cho biết, bước đầu UBND huyện Hoành Bồ tạm đình chỉ công tác điều hành của Chủ tịch UBND xã Tân Dân để kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm.
Theo nguồn tin cho biết, một cán bộ Kiểm lâm của huyện này cũng bị tạm đình chỉ công tác vì trách nhiệm liên quan đến vụ việc trên.
Hiện vụ việc phá rừng phòng hộ của các đối tượng khai thác than trái phép đang được cơ quan điều tra CA tỉnh Quảng Ninh tiếp tục làm rõ để xử lí những cá nhân, tập thể có liên quan. (Dân Trí 7/11) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Dự án “Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng giai đoạn 3”, sử dụng viện trợ ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức.
Dự án trên được thực hiện 1 năm (2015-2016) với nguồn vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức là 2 triệu Euro. Vốn đối ứng 175.000 Euro do UBND tỉnh Quảng Bình tự thu xếp.
Mục tiêu của dự án là phương pháp tiếp cận và các bài học kinh nghiệm lồng ghép mục tiêu bảo tồn thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được các cơ quan quản lý địa phương đưa vào áp dụng và thực hiện trong quá trình hoạch định chính sách quốc gia.
Cụ thể, các mô hình mới nhằm nâng cao sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học trong vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được xây dựng và thực hiện trên cơ sở tham gia hỗ trợ của mạng lưới khuyến nông, trong đó có ưu tiên hỗ trợ phụ nữ và dân tộc thiểu số.
Các phương pháp tăng cường hợp tác liên biên giới giữa Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng và Khu Bảo tồn Hin Nậm Nô được thống nhất và đưa vào thực hiện với nguồn nhân lực và tài chính được bổ sung để cải thiện trao đổi thông tin liên quan giữa hai bên, hỗ trợ việc giảm thiểu các mối đe dọa đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của cả khu vực... (Dân Sinh 7/11; Công An Nhân Dân 8/11 ) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chỉ tính trong 5 năm gần đây, trên địa bàn tỉnh, ngành lâm nghiệp đã gieo tạo hơn 160 triệu cây giống lâm nghiệp các loại; trồng được hơn 66.600ha rừng tập trung, trên 3,3 triệu cây phân tán; bảo vệ hơn 118.000 lượt ha rừng…
Chính nhờ vậy đã nâng độ che phủ rừng của Quảng Ninh từ 51,5% năm 2011 lên 53,5% năm 2014, về đích trước 1 năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra, Quảng Ninh cũng là địa phương có độ che phủ rừng cao của toàn quốc. Công tác tuyên truyền và thực hiện quản lý bảo vệ rừng ngày càng đi vào nền nếp và phát huy hiệu quả. Riêng 10 năm gần đây đã vận động được trên 16.000 hộ dân tham gia cam kết bảo vệ rừng, 500/891 thôn, bản xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng.
Đáng nói là giữa trồng rừng, quản lý sử dụng đất lâm nghiệp đã gắn kết chặt chẽ với công tác bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng - khai thác rừng - chống tàn phá rừng một cách hiệu quả, bền vững, chất lượng môi trường rừng được cải thiện ngày càng tốt hơn. Cùng với việc triển khai theo dõi diễn biến rừng, các ngành chức năng tập trung cao độ trong hoạt động chống xâm hại rừng.
Đặc biệt lực lượng kiểm lâm đã tăng cường kiểm soát truy quét chống tàn phá rừng và xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Kết quả từ năm 2000 đến nay, Kiểm lâm Quảng Ninh đã tổ chức thực hiện và phối hợp truy quét hàng nghìn lượt ở các khu vực trọng điểm phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; đã bắt và xử lý 13.200 vụ vi phạm lâm luật; tịch thu 22.000m3 gỗ các loại, 120.050kg động vật rừng, nhiều lâm sản khác với tổng số tiền thu nộp ngân sách 12 năm qua hơn 60 tỷ đồng.
Nhờ đó toàn bộ diện tích rừng được bảo vệ tốt; các khu rừng phòng hộ, đặc dụng trong đó có rừng phòng hộ hồ Yên Lập, rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn Kỳ Thượng nhiều năm nay được bảo vệ, ổn định và phát triển tốt; môi trường rừng và nguồn sinh thuỷ đảm bảo cung ứng cho các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, du lịch.
Toàn tỉnh cũng đã triển khai được 90 buổi tập huấn bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng các cấp với 5.310 người tham gia; thành lập huấn luyện được 1.587 tổ đội dân phòng chữa cháy rừng với trên 7.800 người dân và chủ rừng tham gia... Chính bởi vậy nên tình trạng cháy rừng đã giảm hẳn về số vụ và tính chất mức độ vi phạm, nếu như trước năm 2005, mỗi năm có đến hàng trăm ha rừng bị ảnh hưởng bởi cháy rừng thì nay chỉ còn dưới 10ha rừng.
Từ việc gìn giữ và phát triển vốn rừng hiệu quả, đã và đang là cơ sở nền tảng thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế lâm nghiệp. Toàn ngành lâm nghiệp trong 5 năm qua đã thực hiện khai thác được gần 1,7 triệu m3 gỗ rừng trồng, tận thu lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng tự nhiên như cây dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao là Ba kích, hoa chè... khai thác hơn 3.000 tấn gỗ nguyên liệu giấy, khai thác và chế biến 66.500 tấn nhựa thông; dịch vụ gỗ mỏ hơn 652.000m3…
Đặc biệt các tổ chức và người nhận rừng đều ổn định và yên tâm trồng rừng, bảo vệ rừng, hàng năm diện tích trồng rừng đã tăng lên, bình quân đạt 8.000-10.000ha/năm; trên 1.500 mô hình trang trại về trồng trọt, chăn nuôi gắn với rừng cho thu nhập cao, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhiều hộ gia đình.
Có thể thấy, chính những hoạt động này đã mang lại nguồn thu lớn cho người lao động; doanh thu cho các chủ rừng, các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trọng lĩnh vực lâm nghiệp, đồng thời nâng cao giá trị của ngành trong cơ cấu kinh tế chung. Hiện nay ngành lâm nghiệp đang triển khai đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng. Toàn tỉnh có 13 lưu vực lớn, tổng diện tích gần 200.000ha được đưa vào thực hiện chi trả dịch vụ môi trường.
Nguồn thu này sẽ góp phần tăng thu nhập cho các chủ rừng, cải thiện cuộc sống và hỗ trợ đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, khuyến khích cho các chủ rừng ý thức hơn trong việc nâng cao chất lượng các loại rừng. (Báo Quảng Ninh 8/11) đầu trang(
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) cho biết xuất khẩu đồ gỗ của VN năm 2015 dự kiến sẽ đạt 7 tỉ USD (năm 2014 là 6,2 tỉ USD).
Chỉ tính từ tháng 1 - 8 năm nay, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ đã mang về 4,3 tỉ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Đồ gỗ VN hiện xuất sang 37 thị trường ngoài nước, trong đó Mỹ dẫn đầu thị trường với khoảng 1,6 tỉ USD trong 8 tháng, kế đến là Nhật Bản (654 triệu USD), Trung Quốc (575,7 triệu USD)... Ở thị trường nội địa, tổng tiêu dùng đồ gỗ dự kiến năm 2015 là 2 tỉ USD (năm 2014 khoảng 1,9 tỉ USD).
Bên cạnh xuất khẩu tăng trưởng ổn định, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ VN trong 5 năm qua đã gia tăng tiếp cận thị trường trong nước qua Hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất VN (Vifa Home).
Đây là hoạt động thường niên do Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM tổ chức, nhằm quảng bá các sản phẩm đồ gỗ nội thất và thủ công mỹ nghệ sản xuất tại VN. Hội chợ Vifa Home 2015 sẽ diễn ra từ ngày 12 - 15.11 với quy mô trên 510 gian hàng, tại Trung tâm hội chợ và triển lãm Tân Bình, TP.HCM. (Thanh Niên 8/11) đầu trang(
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải vừa có ý kiến chỉ đạo phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 đối với diện tích trồng rừng thay thế các dự án thủy điện đã đưa vào vận hành theo quy định...
Ngày 26.11.2013, Quốc hội đã có Nghị quyết số 62/2013/QH13 yêu cầu “phải hoàn thành trồng rừng thay thế trong năm 2015 đối với các công trình thủy điện đã đưa vào vận hành khai thác”. Tháng 1.2014 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 02/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo việc thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác...
Tin từ Bộ NNPTNT, thực hiện nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã xây dựng và triển khai Đề án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác. Năm 2015 là năm thứ hai triển khai thực hiện Đề án trồng rừng thay thế, bước đầu đã có kết quả tích cực, khởi sắc đáng ghi nhận.
Tính đến ngày 30.9.2015, cả nước đã có 23/50 địa phương triển khai trồng rừng thay thế đạt 36% kế hoạch năm, trong đó, các dự án chuyển mục đích sang xây dựng công trình thủy điện, trồng rừng thay thế đạt 65% kế hoạch năm. Một số địa phương đã tích cực triển khai trồng rừng thay thế, gồm: Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng, Gia Lai, Đăk Lăk.
Tuy nhiên, theo Bộ NNPTNT, kết quả trồng rừng thay thế diện tích chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đạt thấp so với kế hoạch, một số địa phương phải trồng rừng thay thế với diện tích lớn, nhưng triển khai chậm, kết quả còn thấp; nhiều địa phương chưa chuẩn bị được quỹ đất, tổ chức xây dựng, phê duyệt phương án trồng rừng thay thế; nhiều chủ dự án thiếu chủ động, kéo dài việc xây dựng phương án trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền để trồng rừng thay thế...
Trước tình hình này, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải vừa có ý kiến chỉ đạo phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 đối với diện tích trồng rừng thay thế các dự án thủy điện đã đưa vào vận hành theo quy định; đẩy mạnh thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế đối với các dự án khác, đảm bảo đúng tiến độ được duyệt. Các địa phương có kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 phải tập trung triển khai ngay công tác chuẩn bị để trồng vào vụ thu đông năm 2015.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam rà soát tình hình thực hiện trồng rừng thay thế của các đơn vị trực thuộc, kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không chấp hành trồng rừng thay thế. Đối với các dự án trước đây đã hoàn thành có diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng nhưng chưa trồng rừng thay thế, phải xây dựng phương án bổ sung, thực hiện có lộ trình và sử dụng nguồn vốn từ sản xuất để trồng rừng thay thế.
“Đối với các công trình thủy điện, cần hoàn thành công tác trồng rừng thay thế trong năm 2015... UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không chấp hành trồng rừng thay thế” - Phó Thủ tướng  Hoàng Trung Hải nêu rõ. (Dân Việt 8/11) đầu trang(
Ở Quảng Trị, hiệu quả sử dụng đất rừng không cao, tiền công bảo vệ rừng tự nhiên quá thấp, người dân chưa thực sự gắn bó với rừng.
Tại tỉnh Quảng Trị, sau hơn 10 năm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho dân sử dụng, quản lý đã góp phần tích cực giải quyết nhu cầu về đất sản xuất của người dân, hạn chế nạn phá rừng và nâng độ che phủ rừng.
Điều nghịch lý là, trong khi ở đồng bằng, nhiều người giàu lên nhờ trồng rừng thì ở miền núi đa phần người dân rất khó sống được từ trồng rừng. Việc sử dụng đất rừng và công tác bảo vệ rừng tại 2 huyện miền núi Đakrông và Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Sáu năm trước, gia đình ông Hồ Văn Hy ở thôn Tà Lao, xã Tà Long, huyện miền núi Đakrông, tỉnh Quảng Trị nhận 3 ha đất để trồng rừng. Bao nhiêu vốn liếng, công sức, tiền vay mượn ông dồn hết vào trồng rừng, nuôi hy vọng đổi đời. Vậy mà sau 6 năm dày công chăm sóc, kết quả thu về là con số không, bởi tiền bán gỗ rừng chỉ đủ bù đắp chi phí đầu tư chăm sóc, trả công khai thác vận chuyển-ông Hy quả quyết như vậy.
Đất rừng nhà ông ở tận trên núi cao, đến mùa khai thác, ông phải thuê người chặt cây, khiêng vác hoặc thuê trâu kéo gỗ từ rừng ra bãi tập kết. Bán gỗ, thu tiền, trừ chi phí khai thác, vận chuyển, ông Hy chỉ còn vài triệu đồng trong tay.
Ông Hy chia sẻ: “Ở đây, nếu trồng rừng đường vận chuyển khó khăn nhất. Trong xa đốc đồi thu hoạch không được, phải gùi qua gùi lại, chi phí nhiều, không có lời, chỉ được vài triệu.”
Hơn 10 năm thực hiện chủ trương giao đất giao rừng, tỉnh Quảng Trị đã giao 100 nghìn ha đất rừng cho dân và các đơn vị trồng rừng, khai thác, quản lý. Rừng trồng khép kín, góp phần hạn chế gió bão, phòng hộ đầu nguồn, tăng độ che phủ và hạn chế đáng kể tình trạng chặt phá rừng.
Theo tính toán của ngành chức năng tỉnh, bình quân mỗi năm, tỉnh Quảng Trị khai thác từ 6.000 ha đến 10.000 ha rừng trồng, chủ yếu là keo lá tràm. Hiện nay, giá 1 khối gỗ keo hơn 1 triệu đồng, mỗi ha rừng trồng, sau khi trừ các khoản chi phí cũng thu được 50 triệu đồng từ tiền bán gỗ. Tính ra, mỗi năm tỉnh Quảng Trị thu về khoảng 400 tỷ đồng từ rừng trồng, giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động, tạo ra chuỗi giá trị kinh tế lớn. Nhiều gia đình đã giàu lên nhờ trồng rừng.
Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với người trồng rừng ở vùng đồng bằng hoặc nơi có đường vận chuyển thuận tiện. Còn tại miền núi, địa hình cách trở thì tiền bán gỗ không đủ chi phí cho đầu tư, chăm sóc, khai thác. Ông Hồ Văn Nhiên, Chủ tịch UBND xã Tà Long, huyện miền núi Đakrông phàn nàn, người dân thấy trồng rừng không hiệu quả nên việc giao đất, giao rừng khó thực hiện.
Mới đây, cán bộ tỉnh về khảo sát, bàn kế hoạch giao 100 ha đất rừng do Bộ đội Biên phòng quản lý cho người dân làm ăn. Nhưng khi chính quyền tổ chức họp dân, phổ biến chủ trương thì bà con e ngại không dám nhận, vì đường sá xa xôi.
Ông Nhiên cho biết: “Chính sách của Đảng, Nhà nước thì hợp lý nhưng do điều kiện ở địa phương, đồi núi quá hiểm trở, khó khăn. Đất gần có chủ, Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý rồi, phải đi xa hoặc qua bên kia sông. Cho nên ở xa thì tốn chi phí, vận chuyển rồi công chăm sóc đi lại, tính ra thì lỗ.”
Thời gian qua, ở huyện miền núi Đakrông, nhiều người chặt phá hoặc bán rừng non lấy đất trồng cây sắn, thiệt đơn thiệt kép. Vậy là mục tiêu giao đất trồng rừng không đạt như mong muốn.
Bà Ly Kiều Vân, Bí thư Huyện ủy Đakrông, tỉnh Quảng Trị trăn trở, Chủ trương giao đất, giao rừng cho đồng bào sản xuất, quản lý bảo vệ rất đúng đắn, hợp lòng dân. Hiện nay, cây keo bán được giá, đầu ra ổn định vì có nhà máy gỗ MDF Quảng Trị thu mua.
Tuy nhiên, đất rừng giao cho dân quán lý nằm tận rừng sâu, xa đường, địa hình cách trở nên hiệu quả sử dụng đất rừng không cao. Còn với những người dân nhận quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên cũng không mấy vui vẻ vì tiền công chăm sóc quá thấp.
Theo bà Ly Kiều Vân, Bí thư Huyện ủy Đakrông, nếu không có chính sách hỗ trợ miền núi thì người dân rất khó sống được trên đất rừng của mình. “Để người dân thực sự bám đất, bám rừng, làm chủ về rừng thì người ta phải được hưởng lợi, thế nhưng người ta chưa thực mặn mà tha thiết làm chủ bảo vệ rừng được. Chúng tôi một huyện nghèo, việc đầu tư mở rừng sản xuất quả thực khó khăn. Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm nghèo bền vững, thế nhưng nếu không có chính sách để người dân ổn định cuộc sống thì chắc chắn tỷ lệ tái nghèo sẽ tiếp tục,” bà Vân nói.
Tỉnh Quảng Trị hiện còn 40.000 ha đất rừng tự nhiên do UBND các xã quản lý. Ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị đang tiến hành rà soát lại quỹ đất rừng để giao cho dân; qua đó tạo công ăn việc làm, bảo vệ rừng tốt hơn.
Ông Lê Văn Quí, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho biết, đơn vị khuyến cáo người dân chuyển diện tích đất rừng ở xa sang trồng cây bời lời. Cây bời lời chỉ khai thác vỏ, phơi khô dễ vận chuyển, giá vỏ từ 20.000 – 22.000 đồng/kg thì bà con có thể sống được từ rừng. Thế nhưng, đất rừng ở huyện Đakrông lại không phù hợp với cây bời lời và đầu ra chưa thực sự ổn định.
Với mục tiêu “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ”, chủ trương giao đất, giao rừng ở tỉnh Quảng Trị đã góp phần giải quyết đất sản xuất, ổn định cuộc sống người dân ở gần rừng, hạn chế nạn chặt phá, đốt rừng, bảo vệ môi trường. Thế nhưng, ở miền núi, hiệu quả sử dụng đất rừng không cao, tiền công bảo vệ rừng tự nhiên quá thấp, người dân chưa thực sự gắn bó với rừng. Thực tế này là bài toán khó không chỉ riêng ở tỉnh Quảng Trị. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 7/11) đầu trang(
Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai triển khai thực nghiệm nhiều mô hình trồng cây mắc-ca tại các huyện và TP Plây Cu với diện tích 215,6 ha.
Trong số này, có hơn 100 ha trồng thuần với mật độ 360 cây/ha và 115 ha trồng xen với mật độ 150 cây/ha, với 10 loại giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận. Song, nông dân vẫn chưa mặn mà với cây mắc-ca.
Theo Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cây mắc-ca tương đối thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng một số vùng ở Tây Nguyên, tỷ lệ cây sống cao, sâu bệnh ít, thời gian trồng đến khi thu bói khoảng 3 đến 5 năm. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, hầu hết các gia đình trồng cây mắc-ca đều cảm thấy không yên tâm với loại cây này bởi hai lý do: Tỷ lệ ra hoa và đậu quả rất chênh lệch và khó giải quyết đầu ra cho sản phẩm.
Kbang là địa phương có diện tích cây mắc-ca nhiều nhất của tỉnh Gia Lai, lên đến 104 ha. Năm 2010, hộ ông Đoàn Hữu Công (ở xã Đác Rong, huyện Kbang) trồng xen 3 ha cây mắc-ca, năm 2014 thu bói được 140 kg quả khô, năm 2015 có 90% số cây ra hoa nhưng chỉ 30% đậu quả.
Trong khi diện tích 2,5 ha của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đác Rong gần đó trồng năm 2012 có khoảng 30% số cây ra hoa nhưng chỉ 5% đậu quả. Ngoài tỷ lệ đậu quả thấp, đầu ra cho quả mắc-ca cũng rất bấp bênh. Nhiều hộ dân trồng mắc-ca thu quả bói song không biết bán cho ai, ngoài những người mua lẻ để ươm giống.
Năm 2012, ông Ngô Văn Xá (thôn Hà Lòng, xã Kdang, huyện Đác Đoa) trồng gần 350 cây giống mắc-ca trên diện tích một ha qua sự chuyển giao kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai. Vườn mắc-ca của ông Xá sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, một số cây trong vườn đã bắt đầu đậu quả nhưng ba năm qua thị trường sản phẩm mắc-ca rất mơ hồ, chưa có cơ sở thu mua nào trên địa bàn, lại không có thông tin cụ thể gì về sản phẩm đầu ra khiến ông Xá rất lo lắng.
Để tránh bị trắng tay trong trường hợp cây mắc-ca thất bại, ông Xá đã đem trồng thêm cà-phê vào vườn mắc ca, phá vỡ cam kết khi nhận đầu tư của dự án. Khác với gia đình ông Xá, hộ ông Nguyễn Tiến Sơn (thôn 3, xã Nghĩa Hòa, huyện Chư Păh) năm 2009 trồng xen 300 cây mắc-ca trong vườn cà-phê 19 năm tuổi với khoảng cách 8 m hàng x 8 m cây, sử dụng giống mua tại Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên.
Năm 2014 cho thu bói khoảng 80 kg quả khô, năng suất ước đạt 2 kg/cây. Tuy nhiên, số quả khô của gia đình ông không có người mua, nên cuối năm 2014 ông đã phá bỏ 100 cây mắc-ca để lấy đất trồng tiêu.
Qua tìm hiểu được biết, hiện nay, Công ty TNHH Vi-na-mac-ca và Du lịch Đức Anh có địa chỉ tại TP Buôn Ma Thuột (Đác Lắc) thông qua chính quyền địa phương đang triển khai liên kết với các hộ dân, đưa cây mắc-ca trồng xen vào diện tích cây cà-phê, đất trồng màu và trồng thuần với phương thức doanh nghiệp đầu tư ứng trước 40% giá trị giống cây, sau bốn năm người dân sẽ thanh toán cho doanh nghiệp sản phẩm là hạt mắc-ca.
Tuy nhiên, giá cả thế nào hay chỉ kinh doanh cây giống mà bỏ ngỏ bao tiêu sản phẩm vẫn là câu hỏi chưa được giải đáp. Trưởng phòng Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Gia Lai Văn Phú Bộ cho biết: Sở vừa kiến nghị UBND tỉnh khuyến cáo cây mắc-ca chưa phổ biến đối với nông dân các vùng trong tỉnh do chưa có số liệu thống kê tin cậy về năng suất, quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, chế độ dinh dưỡng cũng như chọn giống phù hợp…, do đó không khuyến khích trồng đại trà.
Người dân ở Gia Lai cho đến giờ vẫn chưa quên bài học về việc trồng dâu nuôi tằm rầm rộ một thời. Áp lực quy hoạch vùng nguyên liệu khiến không ít hộ dân khóc dở khi vay tiền trồng dâu rồi bí đầu ra khiến nhiều người lâm nợ; đó là chưa nói, cây dâu ngắn ngày dễ chuyển đổi, còn mắc-ca là loại cây lâu năm.
Ngoài hai yếu tố trên, nhiều ý kiến cho rằng tìm đầu ra cho sản phẩm cũng là bài toán cần sớm có lời giải, bởi thời gian qua, đã có những bài học về việc “trồng” rồi “chặt” của cây cao-su, ca-cao… Do vậy, trước khi mở rộng diện tích trồng mắc-ca, các địa phương ở Tây Nguyên, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu mắc-ca cần phải giải quyết thấu đáo bài toán thị trường, tránh đi vào vết xe đổ như một số loại cây trồng khác.
Phan Xuân Dững (Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội): “Để cây mắc ca thành cây trồng chủ lực giúp nông dân Tây Nguyên vươn lên thoát nghèo, trong thời gian tới, các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu tạo nguồn giống có chất lượng, khảo sát những địa bàn trồng cho năng suất cao nhất, nghiên cứu ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật canh tác. Các địa phương cần quy hoạch vùng trồng, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm và khuyến cáo bà con không nên trồng ồ ạt để tránh rủi ro…”.
Tiến sĩ Lê Ngọc Báu Viện trưởng Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên): “Cây mắc ca chỉ thích hợp với những địa hình có độ cao từ 700 đến 800 m so với mực nước biển, như: Măng Đen (Kon Tum), một số vùng ở Gia Lai, Đác Lắc, Đác Nông, Bảo Lộc (Lâm Đồng). Do đó, trước khi trồng phổ biến, cần phải có bước đánh giá về mặt thổ nhưỡng, kỹ thuật, nhất là công tác chọn giống và quy hoạch vùng trồng sao cho thích hợp”.
Phạm Thành Chung (Xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, Gia Lai): “Một số cây đã bắt đầu cho thu bói vào năm ngoái, chúng tôi hái được 20 kg, chủ yếu dùng để làm quà, số còn lại bán cho các hộ dân với giá 100.000 đồng/kg, cũng chẳng biết họ mua hạt về làm giống hay sử dụng vào việc gì. Thú thật, đến giờ chúng tôi cũng chưa biết thế nào. Chưa có đơn vị nào đứng ra nhận bao tiêu sản phẩm, ở Gia Lai cũng chưa có đại lý thu mua nào”. (Nhân Dân 9/11) đầu trang(
Ngày 6-11, tại TP. Nha Trang, Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức hội thảo lấy ý kiến về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tại hội thảo, các đại biểu thống nhất sự cần thiết phải xây dựng chính sách trong bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển. Một số đại biểu nêu ý kiến liên quan đến thực trạng và chính sách quản lý rừng ven biển ở Việt Nam; các kinh nghiệm thực tế về quản lý rừng ven biển ở một số địa phương.
Ngoài ra, đại biểu còn đóng góp ý kiến về chính sách quản lý rừng, đất rừng ven biển; chính sách đầu tư, kinh phí đầu tư của Nhà nước; các chính sách xã hội hóa đầu tư cho nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển...
Được biết, cả nước hiện còn 310.695ha đất có rừng ven biển (chiếm 2,2% tổng diện tích đất có rừng cả nước). Riêng Khánh Hòa hiện chỉ còn khoảng 500ha rừng ngập mặn ven biển. Từ nhiều nguồn vốn khác nhau, những năm qua, ngành chức năng của tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động tái tạo, phát triển rừng ngập mặn. (Báo Khánh Hòa 6/11) đầu trang(
Thời gian qua, xuất khẩu (XK) gỗ nước ta liên tục tăng trưởng. Bên cạnh mặt tích cực, DN trong nước đang có nguy cơ đối diện với các biện pháp phòng vệ thương mại từ những quốc gia nhập khẩu.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 9 tháng đầu năm, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 4,9 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Sau tháng 1 suy giảm nhẹ, XK gỗ đạt mức tăng trưởng liên tục từ tháng 2 đến nay.
Mỹ là thị trường nhập khẩu gỗ (chủ yếu là đồ nội thất) lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch tăng đều qua các năm. Nguyên nhân do Trung Quốc – quốc gia XK gỗ hàng đầu vào Mỹ đang suy giảm kim ngạch do bị áp thuế chống bán phá giá. Bên cạnh đó, DN FDI của Mỹ tại Việt Nam tương đối nhiều - đây là “địa chỉ” tiêu thụ đồ gỗ tương đối lớn cho các công ty mẹ tại thị trường Mỹ.
Tại cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho XK những tháng cuối năm 2015 diễn ra mới đây, ông Cao Xuân Thanh – Chánh văn phòng Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - cho biết: Tăng trưởng XK gỗ từ đầu năm đến nay tuy có nhiều điểm sáng nhưng cũng là thách thức không nhỏ đối với ngành gỗ.
Do vấp phải những vụ kiện chống bán phá giá tại Mỹ nên nhiều DN Trung Quốc bỏ lại thị trường. DN gỗ Việt Nam tận dụng cơ hội này, đẩy mạnh XK hàng sang thị trường Mỹ. Tuy nhiên, XK ồ ạt gây khó khăn cho công tác quản lý giá khiến DN có thể đối mặt với việc bị kiện chống bán phá giá. Ngoài ra, nền kinh tế nước ta chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường nên Mỹ chưa công nhận chi phí giá thành hàng hóa XK. Đây là cơ sở để họ áp thuế chống bán phá giá.
Để hạn chế tối đa việc DN trong nước phải đối mặt với các biện pháp phòng vệ thương mại, ông Cao Xuân Thanh cho hay, một mặt, Bộ Công Thương cần tích cực hỗ trợ DN nâng cao kiến thức về phòng vệ thương mại; mặt khác, DN cần nỗ lực đa dạng hóa thị trường XK.
Với hàng loạt hiệp định thương mại đã và sắp được ký kết, việc mở rộng thị trường cho XK gỗ là hoàn toàn khả thi. Đơn cử như với thị trường Nga, đầu những năm 90, XK gỗ sang Nga chủ yếu thông qua hợp đồng trả nợ hay hàng đổi hàng. Gần đây, hoạt động này ít được thực hiện hơn. Do Nga là thị trường lớn và đầy tiềm năng nên Hiệp hội Gỗ và Lâm Sản đang thúc đẩy DN XK sang thị trường này thông qua nhiều hoạt động động xúc tiến thương mại…
Ngoài ra, khó khăn lớn khi TPP và FTA Việt Nam – EU chính thức được ký kết là vấn đề nguyên liệu. Các quốc gia tham gia hiệp định đòi hỏi xuất xứ hàng hóa rất chặt chẽ. Theo ông Cao Xuân Thanh, nước ta có 4 triệu ha rừng, nếu đưa ra được chính sách khuyến khích bà con trồng rừng phù hợp, nguồn nguyên liệu gỗ sẽ hết sức dồi dào.
Liên quan đến vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định: Để hỗ trợ DN đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, Bộ Công Thương đã và sẽ tích cực tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao năng lực phòng vệ thương mại cho DN. Tuy nhiên, DN cũng phải tự bảo vệ mình bằng cách nỗ lực xây dựng thương hiệu gỗ đủ mạnh, đủ khả năng cạnh tranh và định hướng XK cho cả ngành gỗ trong giai đoạn tới. (Công Thương 6/11) đầu trang(
Sáng ngày 06-11, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng tổ chức hội nghị đánh giá kết quả 4 năm thực hiện dự án trồng rừng ngập mặn ven biển tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề, từ năm 2011-2015.
Cuối năm 2011, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng tiếp nhận dự án trồng rừng ngập mặn ven biển tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề, do công ty Premier Oil, Vương quốc Anh tại Việt Nam tài trợ. Qua 4 năm triển khai thực hiện, tỉnh hội đã nhận được nguồn kinh phí hỗ trợ trên 5,2 tỉ đồng.
Qua đó, đã phối hợp UBND huyện Trần Đề trồng mới 65 ha rừng bần, với số lượng 373.750 cây bần con và trồng dặm 21.719 cây bị thiệt hại, tỉ lệ cây sống trên 75%. Thực hiện dự án này không chỉ đóng góp vào quỹ rừng hiện có của địa phương, mà từng bước cải thiện năng lực sinh kế của một bộ phận ngư dân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn qua từng giai đoạn, thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng, ý thức của một bộ phận nhân dân tại vùng hưởng lợi dự án, nhất là ngư dân nghèo được nâng lên.
Bên cạnh đó, năng lực chuyên môn của cán bộ hội được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng non luôn gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại đến hiệu quả trồng rùng, như do ảnh hưởng của địa hình, địa lý, tác động của thiên tai và do con người tác động, phá hoại.
Tiếp tục thực hiện dự án, năm 2016, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng sẽ báo cáo đề xuất địa phương bổ sung nguồn vốn để hỗ trợ trồng dặm trên 65ha nhất là phương án hỗ trợ khắc phục diện tích rừng bần 12,2 ha bị mất trắng do nhân tai, từng bước chuyển đổi từ rừng mới trồng thành rừng theo quy định của Nhà nước và đủ điều kiện bàn giao rừng trồng vào quỹ rừng của địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 6/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, có trên 80 ha rừng trồng thuộc Dự án WB3 hơn 5 năm tuổi trên địa bàn 2 xã Phước An và Phước Thành được thu hoạch, tổng sản lượng đạt 5.600 tấn, sau khi trừ chi phí, người trồng rừng còn lãi từ 40 - 50 triệu đồng/ha.
Sau khi thu hoạch xong, bà con phát dọn thực bì, đào hố và trồng lại số diện tích trên bằng giống cây keo lai cấy mô. Ngoài ra, nằm trong chương trình trồng cây phân tán, huyện còn tiếp nhận và hỗ trợ cho các trường học, các xã trồng hơn 5.800 cây sao đen, xà cừ, sấu, bằng lăng. (Báo Bình Định 6/11) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 20/10 diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 198,2 nghìn ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó: Trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 17,4 ngàn ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 180,8 ngàn ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 6.589 nghìn m3, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tại miền Bắc, các địa phương đã đến cuối vụ trồng rừng. Tính đến ngày 20/10, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 169,8 ngàn ha rừng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Trung du và Miền núi phía Bắc có tiến độ trồng rừng nhanh nhất, đạt 11,7 ngàn ha, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó Bắc Trung Bộ trồng đạt 38,3 ngàn ha, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 14,5 ngàn ha, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm trước.
Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước, như: Hà Giang đạt 29.265,8 ha, tăng 5,7 lần so với cùng kỳ năm trước, Nghệ An đạt 16.982 ha (tăng 29,4%), Thanh Hóa đạt 15.136,4 ha (tăng 27,8%). Bên cạnh công tác trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục tiến hành giao khoán bảo vệ và tiến hành chăm sóc diện tích rừng trồng đã trồng.
Miền Nam, các tỉnh miền Nam đang thực hiện trồng rừng chính vụ, tuy nhiên tiến độ trồng rừng giảm so với cùng kỳ năm trước. Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ trồng rừng đạt khoảng 2,8 ngàn ha, tăng lần lượt 5,9 lần và 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại với hai vùng trên, Tây Nguyên trồng đạt 7,2 ngàn ha (giảm 37,7%), Duyên hải Nam Trung Bộ trồng đạt 13,1 ngàn ha (giảm 38,6%).
Một số địa phương có diện tích trồng rừng cao và tăng so với cùng kỳ năm trước là Cà Mau trồng đạt 2.071 ha, tăng 33,5 lần so với cùng kỳ năm trước, Bình Thuận trồng đạt 3.236 ha (tăng 21,1%), Quảng Nam trồng đạt 3.370 ha (tăng 12,3).
Bên cạnh hoạt động trồng rừng, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, thực hiện khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc rừng đã trồng và tiếp tục thực hiện chăm sóc cây giống phục vụ cho công việc trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2015. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 6/11) đầu trang(
Thời gian qua, tỉnh ta đã thu hút nhiều dự án thủy điện, giao thông, thủy lợi, các công trình công cộng... nên đã tiến hành thu hồi rất nhiều diện tích rừng phục vụ cho dự án. Để bù đắp diện tích rừng đó, tỉnh ta triển khai dự án trồng rừng thay thế.
Hàng chục năm công tác trong ngành Lâm nghiệp ở huyện rẻo cao Tương Dương, ngay sau khi nghỉ hưu về quê ở xóm 2 xã Hòa Sơn (Đô Lương), ông Thái Đình Hạnh tiếp tục nhận 1,7 ha đất rừng ngay gần nhà trồng cây keo của dự án trồng rừng thay thế.
Với mong muốn làm giàu từ rừng, từ tháng 1/2015, gia đình đầu tư trồng rừng thông qua giống cây và phân bón hỗ trợ của dự án do Công ty TNHH MTV Lâm trường Đô Lương thực hiện, gia đình đầu tư 23 triệu đồng xử lý thực bì, đào 3.750 hố trồng cây keo, mua thêm 1,2 tấn phân bón NPK... phục vụ trồng rừng.
Được đầu tư đúng quy trình, chăm sóc tốt, trên 1,7 ha cây keo sau hơn 10 tháng phát triển tốt, hiện chiều cao gần 2m và trở thành một trong những mô hình của dự án trồng rừng thay thế tại Hòa Sơn. Cùng với đó, nhiều hộ dân ở xã Hòa Sơn (Đô Lương) đã tích cực hoàn thành tốt dự án trồng rừng với diện tích hơn 12 ha và phần lớn cây keo phát triển tốt do được đầu tư đúng quy trình.
Dự án trồng rừng thay thế năm 2015 triển khai tại nhiều địa phương, trong đó Yên Thành là một trong những huyện thực hiện rất hiệu quả. Ông Phan Văn Sỹ, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho biết: “Hiện ban được giao nhiệm vụ quản lý 7.811 ha rừng tại Yên Thành và trong năm 2015, thực hiện dự án trồng rừng thay thế, Ban Quản lý rừng phòng hộ triển khai 2 loại rừng trồng, đó là trồng rừng nguyên liệu và rừng phòng hộ. Các chính sách hỗ trợ cho người dân trồng rừng được Ban Quản lý thực hiện theo đúng quy định, công khai, kịp thời tạo được niềm tin cho người dân, nhờ đó tiến độ trồng rừng thực hiện nhanh”.
Hưởng lợi từ dự án này, người dân Yên Thành được hỗ trợ giống cây keo, vật tư phân bón và kỹ thuật trồng 100 ha rừng nguyên liệu. Nhiều hộ dân ở 8 xã trong huyện được cán bộ kỹ thuật Ban Quản lý rừng phòng hộ hướng dẫn kỹ thuật trồng cây keo từ đầu tháng 8/2015 và hoàn thành trồng 100 ha rừng vào tháng 9/2015.
Ông Đặng Xuân Minh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: “Tổng diện tích rừng chuyển đổi mục đích phải trồng lại rừng thay thế của tỉnh ta đến nay đạt hơn 3.586 ha, trong đó hoàn thành 100% diện tích rừng chuyển đổi sang làm thủy điện trồng rừng thay thế (hơn 2.113 ha); hoàn thành 100% diện tích chuyển đổi sang công trình công cộng (gần 575 ha) và hàng trăm ha rừng chuyển đổi sang mục đích khác.
Trong quá trình thực hiện dự án trồng rừng thay thế còn một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, đó là kinh phí tài trợ còn ít, chủ rừng, người dân gặp khó khăn khi thực hiện dự án trồng rừng thay thế. Việc truy thu tiền tái rừng (đa số là ngoài mục đích thủy điện) chuyển đổi trước năm 2012 tại một số đơn vị, dự án, doanh nghiệp còn chậm và khó gải quyết.
Cùng với việc đầu tư thực hiện dự án trồng rừng thay thế, thông qua nguồn vốn của Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng, tại Nghệ An tiếp tục hỗ trợ cho các địa phương, chủ rừng, người dân khoanh nuôi, bảo vệ gần 200.000 ha rừng trong lưu vực thủy điện. Điển hình trong công tác này là Kỳ Sơn (khoanh nuôi, bảo vệ gần 60.000 ha rừng), Tương Dương (hơn 60.000 ha), Quế Phong (40.000 ha). (Báo Nghệ An 7/11) đầu trang(
Sáng 6/11, Hội chữ thập đỏ Nghệ An tổ chức hội nghị "Nâng cao tính bền vững của dự án trồng rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa" giai đoạn 2011 – 2015. Dự hội nghị có đồng chí Hoàng Viết Đường – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An.
Dự án trồng rừng ngập mặn – giảm thiểu rủi ro thảm họa được triển khai tại Nghệ An từ năm 1997. Theo dự án này, Hội chữ thập đỏ các xã đã trồng, bảo vệ, chăm sóc hơn 1000ha rừng ngập mặn, rừng chắn sóng ven sông, ven biển, hiện nay còn hơn 700ha. Trong 5 năm qua, dự án đã góp phần xây dựng ở những cộng đồng dễ bị tổn thương trở nên an toàn hơn và tự phục hồi nhanh trước rủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu. Dự án đã mang lại những hiệu quả thiết thực đối với kinh tế, văn hóa, xã hội của những vùng hưởng lợi.
Năm 2015 cũng là thời gian dự án kết thúc dự án, vì thế, tại hội nghị, các đại biểu đã đóng góp nhiều sáng kiến, kinh nghiệp và đưa ra một số giải phảp cụ thể để tiếp tục bảo vệ, phát huy bền vững rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa từ nay đến năm 2025 như: hỗ trợ các đội trồng rừng và đồng quản lý; nâng cao nhận thức của cán bộ, cộng đồng; duy trì công tác lập kế hoạch giảm thiểu rủi ro; tiếp tục đánh giá và sử dụng các báo cáo đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do thiên tai, thạm họa gây nên... (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 6/11) đầu trang(
Ngân hàng Nhà nước đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện cho vay đầu tư trồng rừng sản xuất, chăn nuôi theo quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020.
Theo dự thảo, hộ gia đình trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ theo quy định tại Điều 5 Nghị định 75/2015/NĐ-CP được Ngân hàng cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại theo thiết kế - dự toán trồng rừng với hạn mức cho vay tối đa không quá 15 triệu đồng/ha.
Thời hạn cho vay được tính từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Theo dự thảo, mức vay và thời gian vay cụ thể sẽ do Ngân hàng và hộ gia đình tự thỏa thuận phù hợp với quy định. Thời hạn trả gốc và lãi một lần khi khai thác chính. (Chính Phủ 6/11) đầu trang(
Mặc dù sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (LSNG) của Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh, sự phát triển của sản xuất và thị trường LSNG vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh.
Tiến sĩ Trần Văn Khởi - Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, hiện Việt Nam có gần 4.000 loài cây có giá trị cung cấp nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe con người, 216 loài tre trúc và 30 loài song mây có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
LSNG là nguồn thu nhập thường xuyên, góp phần làm gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân vùng sâu vùng xa, người sống gần rừng và làm nghề rừng, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo đánh giá của các chuyên gia, ẩn chứa trong các cánh rừng của Việt Nam là một kho thuốc lớn. Đơn cử như theo điều tra, trên địa bàn Sơn La ghi nhận được 535 loài cây thuốc mọc tự nhiên, 20 loài có tiềm năng khai thác, 25 loài thuộc diện bảo tồn. Tỉnh Lạng Sơn có 788 loài cây thuốc, 10 loài có tiềm năng khai thác lớn và 35 loài thuộc diện bảo tồn….
Mặc dù thị trường tiêu thụ các sản phẩm LSNG đang rộng mở nhưng ông Trương Tất Đơ- Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đánh giá, các sản phẩm LSNG chính của Việt Nam thường được cho là có ‘chất lượng’ tốt trên thế giới, được biết đến như sản vật quí từ Việt Nam. Tuy nhiên, giá bán các sản phẩm này chưa cao, do chất lượng sản phẩm thực tế còn thấp, mới chỉ đáp ứng chủ yếu cho những thị trường dễ tính.
Phần lớn các sản phẩm LSNG chính xuất khẩu của Việt Nam có chất lượng trung bình hoặc thấp do khâu chế biến còn nhiều hạn chế, không có nhãn mác chỉ rõ xuất xứ hay thương hiệu. Trong khi đó, những yêu cầu chất lượng của nước nhập khẩunhư Nhật, Mỹ hay Tây Âu đối với các sản phẩm LSNG chính là phải có độ thuần khiết cao, không có aflatoxin, không có vi sinh vật gây bệnh, không có dioxin tỏ ra khó đượcđáp ứng với trình độ sản xuất hiện tại của Việt Nam.
Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích và phát triển các sản phẩm LSNG ở nước ta còn thiếu và không đồng bộ, do đó ở một số vùng, việc sản xuất các sản phẩm LSNG còn manh mún, không ổn định, sản lượng không đủ để hình thành thị trường….
Ông Nguyễn Văn Hướng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cao Dương (Lương Sơn - Hòa Bình) chia sẻ, hiện nay, sản phẩm LSNG của người dân trên địa bàn xã Cao Dương phụ thuộc vào thương lái nên khá bấp bênh. Để phát triển vùng nguyên liệu cây LSNG, mang lại thu nhập ổn định cho người dân, bảo tồn đa dạng sinh học, cần phải thực hiện tốt mối liên kết ‘5 nhà’, ngoài nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, cần có thêm nhà thuốc để đảm bảo sản phẩm được tiêu thụ ổn định.
Dù tiềm năng đã được khẳng định nhưng cho đến nay vẫn chưa có một chính sách riêng biệt nào dành cho LSNG. Để khắc phục vấn đề này, ông Nguyễn Nam Sơn - Vụ Phát triển rừng (Tổng cục Lâm nghiệp) cho rằng, cần nhanh chóng xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển LSNG như đã hỗ trợ trồng rừng sản xuất; quan tâm đầu tư các nguồn lực tương xứng với tiềm năng LSNG để góp phần phát triển, gia tăng giá trị hàng hóa, xuất khẩu LSNG trong thời gian tới. (Kinh Tế Việt Nam 6/11) đầu trang(
Ngoài được hưởng lợi từ dịch vụ chi trả môi trường rừng theo Nghị định 99, đồng bào dân tộc thiểu số miền núi còn được khuyến khích khoanh nuôi tái sinh, phát triển rừng với cơ chế chính sách đặc thù.
Dãy rừng Trường Sơn qua huyện Nam Trà My rất phong phú hệ sinh thái rừng, bởi còn nhiều loài cây gỗ quý nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Diện tích tự nhiên rộng, địa hình giáp ranh xa xôi cách trở nên lực lượng bảo vệ rừng không thể có mặt thường xuyên kiểm tra, truy quét. Trước thực trạng này, nhiều năm qua, địa phương triển khai giao khoán cho 647 hộ bảo vệ với diện tích 12.184ha rừng tự nhiên, 6.184ha rừng phòng hộ cho các hộ khoanh nuôi, bảo vệ và giao khoán 14.573ha rừng đặc dụng cho 37 nhóm hộ.
Theo UBND huyện Nam Trà My, tình trạng xâm hại rừng tuy xảy ra, song ở các lâm phận có rừng đã giao cho nhóm hộ ít bị xâm phạm. Các khâu khảo sát hiện trạng rừng, vị trí tọa độ thực địa được xác định, cắm mốc cụ thể mới bàn giao cho nhóm hộ bảo vệ. Nhờ đó, người dân biết chính xác từng vạt, khoảnh rừng, tiểu khu của mình.
Theo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, đến nay có 14 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại các lưu vực thủy điện Sông Côn 2, An Điềm 1 - An Điềm 2, Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi, Đăk Mi 4, A Vương - Za Hung - Khe Diên, Đại Đồng, Trà My 1 - Trà My 2, Bắc Sông Bung, Nam Sông Bung, Sông Cùng, Duy Sơn 2 và Đắk Drin. với tổng diện tích được cung ứng gần 300.000ha (chiếm 72% diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh).
Diện tích này được giao cho chủ rừng là 10 ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và 5 hạt kiểm lâm trực tiếp chi trả. Gần 20 nghìn hộ dân các huyện miền núi hưởng lợi. Đến nay, 24 đơn vị sử dụng DVMTR có nghĩa vụ nộp hơn 176 tỷ đồng, trong số đó có hơn 100 tỷ đồng đã giải ngân cho các chủ rừng, người dân.
Theo ông Huỳnh Đức – Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng, chính sách đã làm thay đổi ý thức, tập quán của đồng bào, hạn chế thói quen đốt rừng làm rẫy; không phá rừng hoặc tiếp tay cho lâm tặc. Với kinh phí được chi trả, đã tạo thêm việc làm, cải thiện thu nhập, góp phần giảm nghèo bền vững. “Cái chính của giao rừng là để ràng buộc trách nhiệm cộng đồng dân cư, người dân miền núi xem rừng là tài sản phải giữ gìn” - ông Đức nói.
Khi thực hiện chi trả phí dịch vụ, các đơn vị quản lý rừng sẽ có hợp đồng cụ thể với người dân về diện tích, ranh giới, số lượng cây... dựa trên thực địa. Theo các hạt kiểm lâm miền núi, từ năm 2013, Chính phủ chủ trương tạm dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên, dẫn đến một số chủ rừng, công ty lâm nghiệp không còn nguồn thu từ khai thác rừng thì nguồn tiền DVMTR giúp cho các đơn vị khôi phục sản xuất, hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng hiệu quả.
Tốc độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh thời gian qua đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra nhờ nguồn tiền DVMTR. Đột phá lớn nhất của chính sách, theo Sở NN&PTNT là ngoài việc tài nguyên rừng được gìn giữ, người dân còn có cơ hội thoát nghèo bền vững, mạnh dạn đầu tư các mô hình phát triển chăn nuôi, trồng trọt dưới tán rừng tự nhiên. Phương châm “lấy rừng nuôi rừng” được cụ thể hóa.
Thực tế, ở những nơi như lưu vực rừng phòng hộ Bắc Sông Bung, A Vương… do thực hiện chặt chẽ khâu giao rừng thực địa nên từ “điểm nóng” phá rừng đã trở thành điểm sáng giữ rừng. Trước đây, đồng bào đốt rừng làm nương rẫy tái diễn liên tục nhưng từ khi giao khoán đến từng nhóm hộ đã chấm dứt tình trạng này.
Theo các nhóm trưởng nhận khoán rừng ở xã Ma Cooih (Đông Giang), nguồn tiền nhận hàng quý, năm, các hộ trong nhóm đều dùng để đầu tư chăn nuôi, trồng các loại cây dưới tán rừng. Nhiều vụ phá rừng đã được nhóm hộ giao rừng phát hiện, tố giác, nhờ đó đã ngăn chặn kịp thời. Kết quả nghiệm thu rừng trong phạm vi chi trả DVMTR cho thấy, tình trạng khai thác lâm sản, phát rừng làm nương rẫy… giảm mạnh.
Theo ông Đức, các nguồn lực đầu tư lồng ghép cộng với chính sách chi trả DVMTR thực sự giúp cho miền núi giảm nghèo bền vững và thực chất. Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả hơn nữa cần sự vào cuộc giám sát, theo dõi giao nhận khoán, bảo vệ và vận động người dân giữ rừng của chính quyền địa phương. Mặt khác, bên sử dụng DVMTR phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đóng góp tiền theo quy định pháp luật, tránh tâm lý chây ì “trả nợ rừng”.
Thông tin vui với người dân miền núi là từ đầu tháng 11, Chính phủ đã ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ, nâng cao thu nhập gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ  đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020.
Theo đó, hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã khó khăn miền núi và cộng đồng dân cư thôn có tham gia các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng sẽ được Nhà nước hỗ trợ khoán bảo vệ rừng với mức 400 nghìn đồng/ha/năm (quy định hiện hành chỉ  200 nghìn đồng) khi nhận khoán bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND cấp xã đang quản lý; hỗ trợ trồng rừng bổ sung tối đa 1,6 triệu đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600 nghìn đồng/ha cho 3 năm tiếp theo.
Và ở các huyện Đông Giang, Tây Giang… ngoài chi trả DVMTR, đồng bào còn được hỗ trợ tiền, con giống phát triển chăn nuôi, trồng các loại cây dược liệu dưới tán rừng. Đây được xem như cơ chế thông thoáng trong lấy rừng giảm nghèo bền vững. (Báo Quảng Nam 6/11) đầu trang(
Hà Tĩnh hiện có khoảng 174.364 ha đất rừng sản xuất, trong đó, trên 80.177 ha rừng đã trồng, trên 26.769 ha đất chưa có rừng, còn lại là rừng tự nhiên được quy hoạch sản xuất có hiện trạng dây leo, bụi rậm.
Đây là một trong những tiềm năng lớn để người dân ven rừng đẩy mạnh phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường rừng bền vững. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc phát triển diện tích và nâng cao hiệu quả rừng trồng còn lắm khó khăn.
Theo đánh giá của những người có chuyên môn thì năng suất và chất lượng rừng trồng, nhất là rừng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh còn thấp, chưa thể tạo ra những bước đột phá trong sản xuất. Nguyên nhân có nhiều nhưng căn bản là việc trồng rừng sản xuất chủ yếu do các hộ dân và một số doanh nghiệp tự bỏ vốn thực hiện, nguồn ngân sách hỗ trợ còn hạn chế, tiến bộ KHKT chưa được áp dụng rộng rãi, chưa tập trung theo hướng thâm canh mà chủ yếu tự phát, quảng canh.
Bên cạnh đó, quy trình kinh doanh rừng chưa được quản lý chặt chẽ, thời gian trồng đã bị rút ngắn từ 6-7 năm còn 5-6 năm, thậm chí, một số nơi đã thu hoạch sau 4 năm... theo kiểu muốn bán là khai thác. Mặt khác, diện tích rừng trồng chậm được mở rộng, chất lượng thấp, người dân và các chủ rừng chưa mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất chuyên canh một phần cũng do hiệu quả kinh tế thấp.
Theo phản ánh của những hộ trồng rừng nguyên liệu lâu năm thì người dân đang chủ yếu lấy công làm lãi, sau khi trừ chi phí sản xuất (chưa bao gồm nhân công), mỗi chu kỳ người dân thu về khoảng 25-30 triệu đồng/ha đối với trồng quảng canh và 35-45 triệu đồng/ha đối với thâm canh. Với những diện tích rừng do chủ rừng nhà nước liên kết với doanh nghiệp trồng thì nếu thuận lợi, mỗi chu kỳ chỉ lãi khoảng 5-9 triệu đồng/ha do phải trồng ở các địa bàn khó khăn, chi phí đầu tư lớn, phần trăm cho doanh nghiệp cao...
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết, chất lượng và hiệu quả từ trồng rừng chưa như mong đợi có một phần do diện tích trồng các loại cây bản địa như: lim, gỗ, sến, táu, dổi và một số loại cây chủ lực lấy gỗ hay dược liệu quý hiếm khác rất hạn chế. Mặc dù đã có chính sách đầu tư phát triển cây gỗ lớn nhưng người trồng rừng không mặn mà do chi phí cao, chu kỳ kinh doanh từ 10-50 năm, thu hồi vốn chậm, nhiều rủi ro hơn.
Thay vào đó, các gia đình, doanh nghiệp trên địa bàn đã chọn trồng các loại cây nguyên liệu, đặc biệt là độc canh keo lá tràm, keo tai tượng, thông để dễ bán, nhanh thu hồi vốn, không quá áp lực về chi phí đầu tư.
Tuy nhiên, để có cây giống tốt đảm bảo chất lượng rừng trồng lại là một vấn đề đáng bàn khác. Ông Hà Tiến Dũng - giám đốc một cơ sở chuyên sản xuất cây giống trên địa bàn Hương Khê cảnh báo: “Hiện nay, do các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh không cung cấp đủ nhu cầu của thị trường nên dẫn tới tình trạng người dân, các tổ chức trồng rừng phải mua cây giống trôi nổi trên thị trường. Cây giống không rõ nguồn gốc giá rẻ, dễ mua nhưng chất lượng kém, hiệu quả kinh tế và phòng hộ thấp, tăng rủi ro cho chủ rừng và nhiều vấn đề phức tạp khác”.
Cháy rừng cũng đang là một trong những rào cản ảnh hưởng lớn đến công tác phát triển, quản lý và nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng. Tỉnh ta là một trong những vùng trọng điểm về cháy rừng của khu vực Bắc Trung bộ, với hàng chục vụ mỗi năm, chủ yếu ở rừng trồng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, mùa khô năm nay, trên địa bàn toàn tỉnh xẩy ra 18 vụ cháy rừng, với trên 136 ha rừng các loại, nhiều nhất là Hương Sơn (4 vụ), Vũ Quang (4 vụ), Kỳ Anh (3 vụ). Trong đó, gần 33 ha bị thiệt hại nặng (gần 26 ha rừng trồng của các chủ rừng)... Hỏa hoạn không chỉ gây thiệt hại về diện tích rừng, ảnh hưởng đến kinh tế của chủ rừng mà còn tác động tới chất lượng, môi trường rừng và tâm lý của người sản xuất, các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.
Có thể khẳng định rằng, hiện nay, hàng chục ngàn hộ dân và nhiều doanh nghiệp đang gắn bó với rừng và phụ thuộc vào sản xuất lâm nghiệp. Rừng trồng đóng góp quan trọng trong việc cân bằng môi trường sinh thái, ổn định sinh kế, nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân ven rừng. Tuy nhiên, làm thế nào để phát triển, bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng trồng và tăng hiệu quả đầu tư từ trồng rừng vẫn đang là bài toán khó cần tìm lời giải.
Để từng bước khắc phục khó khăn, xóa bỏ rào cản, các cấp, ngành, chủ rừng phải cùng vào cuộc, quan tâm xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng trồng... (Báo Hà Tĩnh 6/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Sáng sớm, khi đến trung tâm mua sắm để làm việc, các nhân viên đã vô cùng hoảng hồn khi bắt gặp con cá sấu nặng hơn 4 tạ, dài hơn 3,6m đang lang thang trên phố gần đó.
Tin tức từ DailyMail cho hay, các nhân viên tại trung tâm mua sắm Sugar Land (bang Texas, Mỹ) đã vô cùng hoảng hồn khi phát hiện một con cá sấudài hơn 3,6m gần cửa hàng, nơi họ làm việc.
Ngay lập tức, họ đã báo cáo vụ việc với cảnh sát địa phương. Và thợ chuyên nghiệp được đưa tới để khống chế cá sấu.
Sau khi trói được con cá sấu, người ta băng để băng kín miệng cá sấu nhằm đảm bảo an toàn. Cảnh sát phải gọi xe nâng Home Depot tới hiện trường để di chuyển nó đi. Cảnh sát Mỹ cho biết, con cá sấu này nặng hơn 4 tạ, có thể đến từ một con kênh phía sau cửa hàng.
Một phát ngôn viên nói với Daily Mail rằng, thời gian cảnh sát nhận được thông báo là 6h sáng ngày 7/11. Người này cho biết thêm, các sĩ quan chuyên nghiệp chỉ có thể xử lý với những con cá sấu dài 1,8m trở xuống, trong khi con cá sấu này dài hơn 3,6m. Do đó, họ đã phải nhờ tới sự hỗ trợ của xe nâng.
Kênh ABC 13 báo cáo, con cá sấu bị mù một mắt, được xe nâng đưa lên một chiếc xe tải để chuyển đi.
Trước đó, vào tháng 7/2015, người dân tại thủ đô Tbilisi của Georgia đã được phen hoảng loạn khi hàng loạt động vật nguy hiểm như hổ, sư tử, báo, chó sói và hà mã xổng chuồng sau trận lũ lớn và ngang nhiên đi lang thang khắp phố phường.
Giới chức Thái Lan hồi tháng 10 năm 2011 cũng bắt con cá sấu dài tới 2 m bên ngoài nhà hàng tỉnh Nonthaburi, phía bắc Bangkok. Nó thoát ra từ trang trại khi nước lũ dâng cao quá hàng rào thép gai bảo vệ.
Cục bảo tồn động vật hoang dã Thái Lan khi đó cho biết có khoảng 100 con cá sấu ra khỏi trang trại bị ngập ở tỉnh Uthai Thani. Cơ quan này trấn an người dân rằng cá sấu nuôi thường dè chừng con người, không hung dữ như cá sấu hoang dã.
Ngày 20/4/2012, cảnh sát Nhật Bản thừa nhận họ không thể khống chế được những con gấu sổng chuồng ở công viên miền bắc nước này. Chúng giết chết hai phụ nữ là nhân viên của công viên.
Nhật Bản không biết chính xác bao nhiêu con gấu thoát khỏi chuồng, nhưng 6 con trong số đó bị thợ săn bắn chết. May mắn lúc đó là mùa đông, công viên không mở cửa đón khách, nên không có nhiều thương vong. (Người Đưa Tin 8/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang