Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010 có tác dụng lớn là phần nào giành lại sự sống cho vùng sinh cảnh vốn đã bị các dự án đầu tư xây dựng thu hẹp ở miền núi, bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng.
Năm qua, đơn vị đã mở hàng chục lớp tập huấn, hội thảo nhằm giúp người dân có kiến thức, kỹ năng giữ rừng. Đặc biệt, giúp người dân hưởng lợi từ rừng mà không xâm hại đến rừng; nghiên cứu những khu vực có thổ nhưỡng phù hợp đưa vào trồng một số loài lâm sản phụ như mây, song, tre lấy măng.
Ở Quảng Nam, DVMTR còn tái đầu tư lại rừng để hạn chế rủi ro tác động của biến đổi khí hậu như bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt của người dân; hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng và phát triển rừng bền vững.
Tại huyện Nam Giang, vừa qua, gần 50 nhóm hộ thuộc 10 thôn trên địa bàn 2 xã Tà Pơ và Chà Vàl đã nhận quản lý, bảo vệ 13.789ha rừng. Sau khi ký hợp đồng nhận giao khoán với Hạt Kiểm lâm huyện, các nhóm hộ sẽ cùng tham gia tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng.
Đại diện Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), đơn vị tài trợ dự án đã trao 10 sổ tiết kiệm trị giá 400 triệu đồng cho 10 thôn vùng hưởng thụ DVMTR để làm nguồn vốn phát triển sinh kế ban đầu. Trong khi đó, chính quyền các huyện Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My xác nhận, ngoài nhận tiền hỗ trợ hằng năm, người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số đã tuân thủ giữ rừng theo các quy định của pháp luật hiện hành mà không hề phá vỡ luật tục; khuynh hướng phát triển rừng thân thiện với môi trường thể hiện đậm nét hơn.
Để ngăn ngừa tình trạng lợi dụng nhận rừng để lén lút tận thu cây, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã “buộc” trách nhiệm bằng cách, trước khi ký hợp đồng với người dân, đề nghị họ ký cam kết rõ ràng. Sau 1 năm, tổ công tác của đơn vị sẽ đánh giá kết quả khu rừng các nhóm hộ quản lý. Nếu giữ tốt thì mới thực hiện việc chi trả; ngược lại để xảy ra mất rừng, chủ rừng phải chịu hậu quả, nhẹ thì cắt tiền, nặng thì xử lý theo pháp luật.
Ông Huỳnh Đức – Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cho biết, dù địa hình và thời tiết miền núi khắc nghiệt nhưng công tác giao khoán rừng với tổng diện tích 181.172ha (theo 7 đề án chi trả DVMTR năm 2013) tại các lưu vực thủy điện đã triển khai đúng kế hoạch. Cạnh đó, thông qua dự án ADB tài trợ, tại lưu vực Sông Bung đã giao khoán đến nhóm hộ với tổng diện tích 22.213ha. Ngoài giao khoán theo DVMTR, các chủ rừng còn được nhận diện tích lồng ghép Chương trình 30a, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, dự án CarBi...
Năm 2013, tổng diện tích rừng trong các lưu vực thủy điện được chi trả tiền nhận khoán để bảo vệ rừng là 203.385ha. Trong đó, diện tích được chi trả từ nguồn tiền DVMTR là 176.278ha, diện tích được chi trả từ nguồn của các dự án khác là 27.107ha. Tuy nhiên, người dân một số nơi cũng tỏ ra thắc mắc, so bì về quyền lợi khi nhận khoán bảo vệ rừng. Cụ thể, khu vực nhà máy thủy điện A Vương (thuộc huyện Đông Giang) được hưởng 274 nghìn đồng/ha, trong khi khu vực nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My) chỉ có 180 nghìn đồng/ha.
Theo đánh giá của Sở NN&PTNT Quảng Nam, thời gian qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và hạt kiểm lâm các địa phương miền núi đã có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ. Việc giao khoán rừng lâu dài cho các hộ dân bảo vệ với nguồn tài chính đảm bảo, phần nào giúp cho các người dân tham gia giữ rừng có thêm nguồn thu nhập, cải thiện đời sống, làm thay đổi nhận thức giữ rừng.
Ông Lê Minh Hưng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Nam khẳng định, chính sách chi trả DVMTR góp phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vừa giữ rừng bền vững vừa ổn định sinh kế lâu dài cho người dân. (Báo Quảng Nam 10/12) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, khu vực rừng giáp ranh giữa xã Bok Tới, huyện Hoài Ân và huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng. Đặc biệt, quá trình vận chuyển lâm sản trái phép các đối tượng này diễn ra công khai, trước sự bất lực lượng của chính quyền địa phương.
Người dân địa phương cho biết, lâm tặc vào rừng sâu dùng cưa lốc máy đốn hạ gỗ, sau đó dùng xe máy vận chuyển ra ngoài rừng, tập kết dưới chân núi Ụ Bò đoạn giáp ranh giữa 2 thôn T6 và T4 (xã Bok Tới), sau đó vận chuyển về những xưởng mộc dưới xuôi để tiêu thụ. Được biết, lâm tặc ở đây chủ yếu là người dân ở xã Ân Nghĩa, Ân Hữu và một số ít là người dân địa phương.
Thời gian qua, địa phương đã nhiều lần phối hợp với lực lượng Kiểm lâm huyện Hoài Ân tuần tra, truy quét đã bắt xử phạt các đối tượng chở gỗ lậu bằng xe tải, xe gắn máy. Tuy nhiên, vì lực lượng kiểm lâm đóng trên địa bàn quá mỏng. Trong khi đó, lâm tặc quá đông, được tổ chức theo nhóm, vận chuyển vào lúc sẩm tối và ban đêm nên việc truy quét gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, khi lực lượng công an xã và cán bộ kiểm lâm huyện truy quét, vây bắt, lâm tặc sẵn sàng dùng hung khí chống trả. (Tài Nguyên&Môi Trường 11/12) đầu trang(
“Có nhiều cách để tăng cường bảo vệ, phát triển vốn rừng, trong đó có thể nhờ Chính phủ vận dụng sự điều tiết lương thực từ đồng bằng lên cho miền núi để người dân bảo vệ, phát triển rừng hiệu quả hơn” - ông Cầm Văn Chính - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nói.
Trong khi thực hiện loạt bài về muôn kiểu “ăn mòn” rừng ở Sơn La, phóng viên Nông Thôn Ngày Nay đã có nhiều cuộc tiếp xúc, trao đổi, với những cán bộ kiểm lâm, người dân, chính quyền sở tại của tỉnh Sơn La để tìm câu trả lời: Giải pháp nào bảo vệ và phát triển vốn rừng hữu hiệu?
Theo ông Sòi Ngọc Dũng - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La, Chi cục vẫn đang nỗ lực hết mình để bảo vệ rừng bằng nhiều cách như: Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân, chính quyền xã, bản tích cực bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường lực lượng tuần tra kiểm soát những điểm nóng thường có thông tin về vi phạm lâm luật; tham mưu, phối hợp với các cấp, các ngành để bảo vệ rừng; giải ngân nhanh chóng những khoản phí bảo vệ rừng, trồng rừng...
Tuy vậy, hiện tượng xâm hại rừng vẫn chưa thể chấm dứt hoàn toàn. “Một trong những giải pháp mà chúng tôi hướng tới là tham mưu với tỉnh để quy hoạch lại theo hướng giảm diện tích rừng nhằm dành ra một phần đất rừng không hiệu quả để người dân có thêm đất sản xuất. Bù lại, với diện tích rừng còn lại sau quy hoạch mới sẽ được đầu tư để nâng cao chất lượng, tăng độ che phủ, trữ lượng gỗ, muông thú…” - ông Dũng cho hay.
Chủ tịch huyện Phù Yên Đặng Ngọc Quang nói: “Người dân vùng rừng hiện nay hầu hết sống rất khó khăn, đa phần là bà con các dân tộc thiểu số. Nếu có thể điều chỉnh quy hoạch lại rừng để tăng diện tích sản xuất cho dân, đảm bảo đời sống người dân bảo vệ rừng thì chắc chắn dân sẽ bảo vệ rừng tốt hơn nhiều”.
Còn ông Nguyễn Công Nghiêm - Giám đốc Lâm trường Phù Bắc Yên lắc đầu chán nản: Đến ngay như lâm trường đây còn phải trả lại đất rừng cho địa phương bởi phí hỗ trợ bảo vệ rừng quá thấp, lâm trường không thể nuôi nổi công nhân. Mức hỗ trợ 113.000 đồng/ha rừng/năm hiện nay mới chỉ đáp ứng được 1/5 yêu cầu thực tế của mức lương công nhân bảo vệ rừng, cần có sự điều chỉnh.
Ông Cầm Văn Chính - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phụ trách về lĩnh vực nông-lâm nghiệp, tâm sự: Sơn La không muốn phải điều chỉnh quy hoạch rừng theo hướng giảm về diện tích dù đó là một giải pháp để nâng cao chất lượng rừng hiện còn. Hiện đời sống của bà con các dân tộc vùng cao còn nhiều khó khăn nên dễ bị lôi kéo vào những hoạt động xâm hại rừng.
“Nếu không muốn mất rừng thì phải đầu tư kinh phí, phải đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người trồng và bảo vệ rừng. Thiết nghĩ Chính phủ cũng nên xem xét tới giải pháp sử dụng chính nguồn gạo xuất khẩu giá rẻ hiện nay để hỗ trợ cho người trồng rừng, bảo vệ rừng để người dân vùng cao không phải tham gia phá rừng vì mưu sinh. Các doanh nghiệp như thủy điện, nước, du lịch… cũng cần tăng cường đóng góp vì màu xanh trên đất Sơn La” - ông Chính nhấn mạnh. (Nông Thôn Ngày Nay 11/12) đầu trang(
Để khắc phục tình trạng nguy cơ cháy rừng và xâm phạm rừng xảy ra cao, cuối năm 2010, UBND xã Hoàng Quế, huyện Đông Triều đã quyết định thành lập 6 tổ BV-PCCCR trên địa bàn cả 6 thôn.
Mỗi tổ bảo vệ có từ 15-25 thành viên tham gia, các thành viên cũng chính là các chủ rừng và thôn trưởng trực tiếp đảm nhiệm chức tổ trưởng. Các tổ cử thành viên, luân phiên thường trực, tuần tra, kiểm tra rừng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng. Đặc biệt vào thời điểm thời tiết nắng nóng, khô hanh tổ chức trực gác lửa rừng 24/24h tại những khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng.
Ông Nguyễn Duy Hợp, thôn Nội Hoàng Đông, một trong những chủ rừng tham gia mô hình này cho biết: Từ khi trực tiếp tham gia là thành viên của tổ thì ý thức bảo vệ rừng của chúng tôi được nâng lên rất nhiều so với trước kia. Không những có trách nhiệm hơn với khu rừng nơi mình sinh sống, mà mọi người đều có ý thức trong việc bảo vệ tài nguyên rừng của địa phương.
Được biết, để có nguồn kinh phí duy trì hoạt động của 6 tổ trên, mỗi tổ đều có quỹ BV-PCCCR. Sau khi tổ chức họp bàn công khai với các chủ rừng, từ năm 2010 đến năm 2011, các chủ rừng đã tiến hành đóng 50.000 đồng/ha vào quỹ. Riêng từ năm 2012 đến nay, các chủ rừng đóng tăng lên 100.000 đồng/ha. Số tiền trên sẽ được các tổ nộp cho UBND xã, xã sẽ tiến hành chi cho hoạt động tuần tra, bảo vệ và bồi dưỡng cho các thành viên khi có cháy rừng xảy ra…
Ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Quế cho biết: Điều quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng là phải có sự đồng thuận sâu rộng của người dân. Tuy nhiên, để phát huy tốt vai trò của cộng đồng thì trước hết công tác này phải được triển khai đồng bộ với sự vào cuộc nhiệt tình của cấp uỷ, chính quyền địa phương. Đặc biệt phải tạo được bước chuyển biến từ nhận thức của mỗi người dân, thì phong trào thi đua mới trở nên sâu rộng và phát huy được hiệu quả. Nhờ làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng theo cách làm trên nên từ năm 2011 đến nay, trên địa bàn xã đã không còn xảy ra hiện tượng cháy và xâm hại rừng”.
Đánh giá về cách làm của xã Hoàng Quế, ông Phạm Văn Phát, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định: Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh cũng có một số ít đơn vị thực hiện theo cách làm trên. Tuy nhiên, nhờ thực hiện bài bản và nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng dân cư, nên Hoàng Quế vẫn là địa phương dẫn đầu và đạt được hiệu quả tốt nhất. Thời gian tới, chúng tôi sẽ triển khai nhân rộng cách làm của Hoàng Quế tới các địa phương khác trên toàn tỉnh. (Báo Quảng Ninh 11/12) đầu trang(
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, bước vào mùa khô năm nay, toàn tỉnh hiện có 127 vùng trọng điểm cháy rừng, trong đó 77 điểm thuộc các đơn vị chủ rừng quản lý, các điểm cháy còn lại do UBND xã quản lý. Để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô 2014, thời gian qua Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã thẩm định và phê duyệt các hạng mục, công trình phòng cháy chữa cháy rừng cho các địa phương.
Theo đó, tổ chức thành lập mới và củng cố 225 tổ, đội quần chúng tham gia bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở; làm mới 1.200 bảng cảnh báo cháy rừng; xây dựng mới 114 km đường băng cản lửa; đốt phát có điều khiển 499 ha… Đặc biệt đã có 16.000 tổ chức, gia đình sống gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng trong mùa khô. Bên cạnh đó, bằng nguồn kinh phí chữa cháy rừng hàng năm, Chi cục Kiểm lâm cũng đã mua 600 dụng cụ thô sơ như: bàn dập lửa, cuốc, xẻng… để phục vụ công tác chữa cháy rừng.
Nét mới trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm nay là ngoài 3 đội kiểm lâm cơ động phòng cháy chữa cháy rừng, Hạt Kiểm lâm các huyện đều phải thành lập thêm 1 đội cơ động khoảng 10 người sẵn sàng tham gia khi có cháy rừng xảy ra. Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm đã có công văn hướng dẫn các địa phương xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Đặc biệt, UBND các huyện, thị xã, thành phố phê duyệt phương án phải bám sát thực tế và phương án chữa cháy rừng phải có tính khả thi cao.
Ông Nguyễn Hữu Long-Trưởng phòng Quản lý Bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) cho biết: “Ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm đã thẩm định các phương án phòng cháy chữa cháy rừng cho các địa phương. Hiện tại, tất cả các công trình phòng cháy chữa cháy rừng ở các địa phương và chủ rừng đã hoàn thành đưa vào sử dụng. Chi cục đã tham mưu UBND tỉnh thành lập 1 đoàn kiểm tra liên ngành thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các địa phương và chủ rừng tích cực triển khai các biện pháp quyết liệt trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô năm nay, hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng.
Bên cạnh đó, Chi cục đang phối hợp với các đơn vị chức năng của tỉnh và huyện Chư Pah chuẩn bị tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng với quy mô cấp tỉnh trong tháng 12 này”. Cũng theo ông Long, mặc dù công tác chuẩn bị phòng cháy chữa cháy rừng đã sẵn sàng, nhưng hiện nay các địa phương và chủ rừng gặp không ít khó khăn.
Khó khăn lớn nhất là kinh phí hỗ trợ cho các chủ rừng và các huyện, thị xã theo phương án đã phê duyệt từ năm 2010, đến nay đã bị trượt giá nhưng không được bổ sung. Khoảng kinh phí đầu tư hàng năm khoảng 5 tỷ đồng không đáp ứng yêu cầu chữa cháy rừng mà chỉ giải quyết công tác phòng cháy chữa cháy rừng cho các vùng trọng điểm, còn các diện tích khác chưa được đầu tư... (Báo Gia Lai 10/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 9/12, tại Hà Nội, Bộ NNPTNT chủ trì cuộc họp sơ kết Chỉ thị số 39/2004 của Chính phủ về giải quyết tình trạng di dân tự do. Quá nhiều khó khăn đã được các địa phương có dân di cư tự do đến nêu lên, trong đó nhức nhối nhất vẫn là nạn xâm phạm đất rừng, chặt phá rừng, đồng thời gây mất ổn định trật tự an ninh.
Tại Bình Phước – một trong những địa phương hấp dẫn số lượng lớn dân di cư tự do lớn nhất nước, dù số lượng dân di cư tự do giảm đáng kể so với thời điểm trước năm 2005, song diễn biến phức tạp hơn. Đại diện UBND tỉnh cho biết, mặc dù đã cương quyết thu hồi đất lấn chiếm sau năm 2004 và bố trí sắp xếp lại dân di cư tự do, đưa dân trả về nơi cũ, tuy nhiên, hiện vẫn còn gần 6.000 hộ sống rải rác trong các rừng phòng hộ.
Tỉnh đành vận dụng linh hoạt là đối với dân xâm canh trong rừng phòng hộ trước 2004 đã khá ổn định, tỉnh chủ trương cho họ hưởng hết chu kỳ cây trồng, sau đó phải thực hiện trồng rừng phòng hộ theo chương trình của tỉnh xây dựng.
Tại một số tỉnh Tây Nguyên như Kon Tum, Đắc Lắc..., tình hình di dân tự do còn diễn biến phức tạp hơn do địa hình phân tán, dân di cư mang tính chất tự phát và sống trà trộn vào các khu dân cư nên càng khó quản lý. Hiện ở Kon Tum, phức tạp nhất là vấn đề mua bán, tranh chấp đất đai của dân di cư tự do.
Do chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trình độ hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, bán đất, khiến nhiều đối tượng lợi dụng tình thế để trục lợi, ép dân bán đất. Tình trạng di dân tự do tại đây ngày càng nhức nhối hơn khi quy hoạch bị phá vỡ, tệ nạn xã hội gia tăng, đất rừng bị xâm phạm, lâm sản bị tàn phá nặng nề... (Lao Động 10/12) đầu trang(
Đó là nhận định của nhiều đại biểu tại tại Hội thảo: “Phát triển cao su miền núi phía Bắc - Thực trạng và giải pháp” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), tổ chức ngày 10.12 tại Hà Nội.
TS Phùng Giang Hải - Trưởng Bộ môn Thể chế nông thôn (IPSARD) cho biết, nghiên cứu chính sách về phát triển cao su các tỉnh miền núi phía Bắc do Tổ chức DANIDA của Đan Mạch tài trợ được IPSARD thực hiện trong năm 2012 cho thấy, hiện diện tích cao su đã vượt quá diện tích quy hoạch của năm 2020.
Cụ thể, theo quy hoạch diện tích cây cao su được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2020 là 800.000ha, nhưng đến hết năm 2012, diện tích trên toàn quốc đã lên tới 910.500ha (vượt 13%). Sản phẩm của cao su chủ yếu phục vụ xuất khẩu, nhưng hàm lượng chế biến hiện vẫn chưa cao, chỉ chiếm gần 20%, còn lại chủ yếu xuất khẩu thô, trong đó thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc.
Sau 6 năm phát triển cao su tại các tỉnh phía Bắc, đến nay, đã có 6 tỉnh trồng cao su với tổng diện tích lên tới hơn 23.000ha, trong đó chủ yếu là diện tích cao su đại điền, còn tiểu điền chiếm 258ha. GS - TSKH Nguyễn Ngọc Lung- nguyên Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho rằng, việc chưa thử nghiệm mà đã trồng cao su đại trà ở nhiều tỉnh phía Bắc là quá phiêu lưu và không thể chấp nhận được.
Cùng chung nhận định trên, ông Đinh Quang Tuấn- Phó Trưởng Ban đổi mới và quản lý doanh nghiệp (Bộ NNPTNT) cho biết: “Cách đây hơn 10 năm, Tập đoàn Cao su đã rất “nóng” với việc mở rộng diện tích, thậm chí sang cả Lào, Campuchia, châu Phi để trồng cao su. Ở một số địa phương như Đăk Lăk, doanh nghiệp lên trồng cao su thực chất chỉ để... phá rừng. Do đó, cần phải khảo nghiệm thật kỹ, đưa ra kết luận rõ ràng vùng nào có thể trồng được cao su, diện tích tối đa là bao nhiêu và phải phù hợp với quy hoạch phát triển lâm nghiệp”.
Theo TS Dương Ngọc Thí - Phó Viện trưởng IPSARD, khảo sát tại xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên (Điện Biên) cho thấy, có 240ha của 35 hộ gia đình nhận khoán với 19 công nhân thuộc Công ty CP Cao su Điện Biên. Bắt đầu trồng năm 2008, đến 2010, 2011 đã xảy ra tình trạng nhiều cây chết do gió tây, rét, sương muối. Các cây còn lại đường kính vẫn nhỏ, chưa đủ tiêu chuẩn cho mủ. “Bộ NNPTNT quy hoạch độ cao thích hợp để trồng cao su là dưới 600m so với mực nước biển, nhưng địa phương tự nâng lên 700m, dân thỏa thuận với công ty nâng độ cao lên 800m đã dẫn tới cây chết...
Trước những băn khoăn của nhiều đại biểu về hiệu quả của cây cao su ở miền Bắc, ông Nguyễn Hồng Phú - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) cho biết, cao su bắt đầu được trồng từ năm 2007 ở phía Bắc, các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, tỷ lệ cao su chết dưới 5%; còn các tỉnh phía Đông Bắc như Phú Thọ, Hà Giang, Yên Bái, năm 2009, 2010, tỷ lệ cây chết 95%. “Tập đoàn chỉ chịu trách nhiệm về khu vực đầu tư, còn ngoài quy hoạch của Chính phủ, người dân tự trồng thì chúng tôi không chịu trách nhiệm” - ông Phú nói.
Để cây cao su phát triển ổn định ở phía Bắc, các chuyên gia nông nghiệp đã đề xuất một số chính sách như: Cần xây dựng quy hoạch tổng thể quốc gia, gắn với quy hoạch chi tiết từng vùng; đầu tư nghiên cứu các giống cao su mới; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng trồng cao su và cần thiết lập quỹ hỗ trợ khắc phục rủi ro khi thời tiết cực đoan xảy ra… (Nông Thôn Ngày Nay 11/12; Thời Báo Kinh Doanh 11/12) đầu trang(
Với 23 năm liên tục được tổ chức, Hội chợ Index Dubai đã thu hút hàng ngàn doanh nghiệp đến từ 60 quốc gia trên thế giới với trên 30 ngàn m2 diện tích trưng bày sản phẩm. Khách hàng của hội chợ Index Dubai chủ yếu đến từ châu âu, châu Mỹ, Trung Đông, Nhật Bản, châu Phi…
Hội chợ quốc tế về đồ gỗ và trang trí nội thất Trung Đông được tổ chức tại Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Quốc tế (Dubai International Exhibition & Convention Center) từ ngày 19-22/5/2014 tại Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE). Đây là hội chợ quốc tế bán buôn chuyên ngành về đồ gỗ và trang trí nội thất lớn nhất tại Trung Đông và là cửa ngõ cho hàng hoá của thế giới xuất khẩu và khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
Các mặt hàng trưng bày tại hội chợ: Đồ gỗ, đồ trang trí nội thất, phụ kiện trang trí nội thất, các giải pháp trang trí nội thất, hệ thống chiếu sáng và đèn chiếu sáng, vật liệu lát sàn, hàng dệt may như: mành rèm, ga, gối đệm, phụ kiện nhà bếp, phụ kiện phòng tắm, nội thất bằng da, đồ gỗ ngoài trời, hàng thủ công mỹ nghệ: sơn mài, tranh nghệ thuật, hàng mây tre, lọ hoa, cây cảnh… (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 11/12) đầu trang(
Giới khoa học vừa công bố loài ráy mới trong chuyến khảo sát tại vườn quốc gia Bà Nà - Núi Chùa.
Loài mới là Ráy Việt Nam, tên khoa học Alocasia vietnamensis V.D. Nguyen&de Kok.
Theo website của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Ráy Việt Nam có thân rễ và cuống bông mo chỉ dài bằng 1/4 cuống lá, mo màu trắng ngà, chúng có đặc điểm giống với loài Ráy evrard (Alocasia evrardii Gagnep. ex V.D. Nguyen) do phần phụ của hai loài đều có cuống.
Trước đó, trong chương trình nghiên cứu giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Vườn thực vật Hoàng gia Kew, Anh ở khu vực vườn quốc gia Bà Nà - Núi Chúa vào năm 2008, tiến sĩ Nguyễn Văn Dư đã thu thập được mẫu của loài ráy sống trên cây gỗ. Sau khi so sánh, nhóm khoa học đưa ra kết luận đây là loài mới. (Vnexpress.net 11/12; Sài Gòn Tiếp Thị 11/12 ) đầu trang(
Trà hoa vàng là loài hoa đẹp và rất quý hiếm, có nhiều giá trị để sử dụng như lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai rừng phòng hộ, trồng làm cây cảnh và làm đồ uống cao cấp, có tác dụng phòng và chống các bệnh huyết áp, tim mạch, tiểu đường, u bướu…
Do là loài hoa quý hiếm, nên trong nhiều năm gần đây, hoạt động khai thác diễn ra khá rầm rộ, chủ yếu là chặt hạ cây để lấy nụ, hoa và đào, nhổ cả cây để bán cho các thương lái thu mua xuất khẩu sang Trung Quốc. Hoạt động khai thác diễn ra từ độ cao 100m cho đến các đỉnh núi cao, tại tất cả các kiểu thảm thực vật của Vườn Quốc gia Tam Đảo. Có thể nói, các hoạt động khai thác mang tính triệt hạ, không chú ý đến tái sinh đã dẫn đến nguy cơ biến mất của các loài trà hoa vàng tại vùng núi Tam Đảo.
Trước tình hình thực tế trên, mới đây, các cán bộ tâm huyết của Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến hành nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi và nhân giống thành công một số loài trà hoa vàng nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừng bảo tồn, làm cảnh, và chế biến đồ uống cao cấp. Vườn giống Quốc gia Tam Đảo đã tiến hành giâm hom thành công 10.000 cây trà vàng Hakoda, 10.000 cây trà vàng Pêtêlô và 25.000 cây trà vàng gốc bản địa - Núi Tam Đảo.
Với việc nhân giống thành công 3 loài trà hoa vàng trên góp phần phục vụ công tác bảo tồn tại vùng lõi và các mô hình sản xuất trà hoa vàng tại vùng đệm. (Báo Vĩnh Phúc 11/12) đầu trang(
Điều tra tiến hành tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc mũi hếch tỉnh Hà Giang trong năm nay đã ghi nhận số lượng cá thể voọc mũi hếch lớn nhất từ trước tới nay. Đây là một trong số ít các loài nguy cấp của Việt Nam có dấu hiệu phục hồi.
Ban quản lý Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Khau Ca cho biết, có khoảng 108-113 cá thể đã được ghi nhận ở khu vực này. Trước đây chỉ có khoảng 90 cá thể.
Khảo sát được anh Nguyễn Vân Trường, Cán bộ sinh học của Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) tiến hành với sự hỗ trợ của nhóm bảo tồn cộng đồng tại địa bàn và nhóm hỗ trợ nghiên cứu của Trường đại học Colorado, Boulder.
Voọc mũi hếch chỉ xuất hiện ở một số cánh rừng biệt lập ở miền bắc Việt Nam. Số lượng loài này trên thế giới có khoảng 200-250 cá thể và đang có nguy cơ tuyệt chủng do nạn săn bắn và mất môi trường sống mặc dù chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Khu bảo tồn Khau Ca hiện có quần thể loài này lớn nhất - khoảng một nửa số lượng loài này trên thế giới. Đây cũng là khu vực có vai trò quan trọng cho sự phát triển của loài này.
Ông Hoàng Văn Tuệ, Trưởng phòng bảo tồn của Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang cho biết Ban quản lý rất vui khi biết được thông tin mới này. Công tác bảo tồn Voọc mũi hếch là kết quả của sự nỗ lực của Chi cục kiểm lâm Hà Giang và các tổ chức quốc tế như FFI, Trường đại học Colorado, Boulder, Vườn thú Denver. Việc quan sát được các cá thể Voọc mới sinh là một dấu hiệu khả quan cho tương lai của loài này.
Tiến sĩ Benjamin Rawson, Quản lý Chương trình linh trưởng vùng Đông Nam Á, Myanmar và Trung Quốc của FFI, cho biết tính đến thời điểm hiện nay, đây là một trong số ít các loài nguy cấp của Việt Nam có dấu hiệu phục hồi. Điều này cho thấy, với sự cam kết của các cơ quan chức năng địa phương và sự tham gia của cộng đồng, tình trạng suy giảm quần thể động vật hoang dã có thể được phục hồi.
Theo ông Jake Brunner, Liên minh bảo tồn quốc tế (IUCN), thông tin này cho thấy tầm quan trọng của Khau Ca khi nơi đây có khoảng một nửa số lượng Voọc mũi hếch trên thế giới. Bước quan trọng tiếp theo là tỉnh Hà Giang nên đầu tư thêm nguồn lực tài chính để công tác bảo vệ quần thể này được bền vững. (Nhân Dân 11/12; Vnexpress.net 11/12) đầu trang(
Năm 2013, huyện Lạc Thuỷ tổ chức gieo ươm 2,2 triệu cây giống (chủ yếu là cây keo tai tượng). Thực hiện Tết trồng cây Xuân Quý Tỵ, toàn huyện đã trồng phân tán được 22.000 cây lâm nghiệp, cây ăn quả các loại, đạt 110% kế hoạch, UBND huyện đã hỗ trợ 7.000 cây lim xanh cho các xã, thị trấn tổ chức Tết trồng cây.
Kết thúc thời vụ diện tích trồng mới của huyện là 874 ha rừng đạt 106,6% kế hoạch, trong đó có 183 ha thuộc dự án trồng rừng sản xuất có hỗ trợ vốn; còn lại do dân tự bỏ vốn trồng rừng. Độ che phủ tự nhiên của rừng đạt 56,5%. Các địa phương khai thác rừng sản xuất 840 ha, sản lượng gỗ, củi khoảng 100.800 ste.
Bên cạnh đó, huyện còn tăng cường công tác chăm sóc, bảo vệ rừng; triển khai công tác phòng chống cháy rừng trong mùa hanh khô; trên địa bàn không để xảy ra tình trạng cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép. Trong năm, Hạt kiểm lâm huyện đã xử lý 7 vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng, thu nộp ngân sách Nhà nước 14,5 triệu đồng. (Báo Hòa Bình 10/12) đầu trang(
Theo số liệu thống kê của UBND TP Cẩm Phả, đến hết năm 2013, diện tích rừng trồng tập trung đạt 1.335ha (tăng 14% so với kế hoạch).
Sản lượng gỗ khai thác đạt 63.108m3, giảm 17,1% so với cùng kỳ. Ngoài ra, trong năm 2013, toàn thành phố đã trồng được trên 15.000 cây bóng mát và trên 390ha rừng trồng sản xuất; trồng phân tán 92.000 cây để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và những khu vực bãi thải không còn đổ thải.
Thành phố cũng đã chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị ngành Than trên địa bàn triển khai công tác trồng rừng hoàn nguyên cải tạo môi trường. (Báo Quảng Ninh 11/12) đầu trang(
Hàng năm huyện Kim Bôi xây dựng kế hoạch trồng rừng khoảng 1.000 ha, trong đó trồng rừng theo dự án 661 khoảng 200 ha, dự án KW7 100 ha. Năm 2013, Kim Bôi đã trồng mới 2.195 ha, đạt 219% kế hoạch, trong đó trồng rừng tập trung 2.183 ha, rừng trồng phân tái 12,3 ha.
Các xã có phong trào trồng rừng mạnh là: Kim Sơn, Cuối Hạ, Tú Sơn, Vĩnh Đồng… Hiện nay, huyện Kim Bôi đang chỉ đạo các xã chuẩn bị triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2014 với khoảng 1.000 ha. Cùng với phát triển kinh tế rừng, huyện đã quản lý 24.109 ha rừng, chăm sóc 10.454 ha rừng trồng, duy trì hơn 211 tổ, đội quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR với 1.825 người tham gia thường xuyên. Năm 2013 huyện không để xảy ra cháy rừng, độ che phủ rừng được duy trì ổn định đạt 48%. (Báo Hòa Bình 9/12) đầu trang(
Dự án (DA) Khôi phục và quản lý rừng bền vững (còn gọi là DA KfW6) do Chính phủ Đức tài trợ vốn được triển khai tại tỉnh ta từ năm 2006. DA này đã thu hút khá đông hộ dân tham gia, đạt hiệu quả về lâm sinh, đa dạng sinh học, góp phần cho công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn.
Mục tiêu của DA nhằm khôi phục và quản lý bền vững các diện tích rừng ở những nơi có nguy cơ bị đe dọa về sinh thái; quản lý bền vững rừng thứ sinh, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng, tạo việc làm cho người dân. Tổng kinh phí đầu tư cho DA là 12,3 triệu Euro, trong đó vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Đức là 9,715 triệu Euro. Thời gian thực hiện trong 9 năm, từ 2005 đến 2013, 6 năm đầu tổ chức trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ và 3 năm hậu DA.
Bình Định là 1 trong 4 tỉnh của khu vực miền Trung được Bộ NN-PTNT chọn tham gia thực hiện DA KfW6. Ngành Nông nghiệp tỉnh đã đăng ký khôi phục và quản lý bền vững khoảng 22.700 ha rừng ở những nơi có nguy cơ đe dọa về môi trường sinh thái, và quản lý bền vững khoảng 10.000 ha rừng thứ sinh, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm ổn định cho khoảng 15.000 hộ nông dân, đảm bảo thu nhập thường xuyên thông qua việc khai thác các sản phẩm dưới tán rừng.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 3 huyện tham gia DA là Hoài Nhơn, Hoài Ân và Tây Sơn. Trong các năm từ 2006 - 2013, tổng diện tích rừng dự án được thực hiện là 11.703 ha. Trong đó, diện tích trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh hơn 9.130 ha; diện tích rừng quản lý cộng đồng 2.573 ha.
Để có được kết quả trên, ngay từ khi triển khai thực hiện DA, Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT) đã đưa nhiều giống cây lâm nghiệp phù hợp với đặc điểm thổ nhưỡng địa phương, có giá trị kinh tế cao, như cây sao đen, lim xanh, keo lai, keo lá tràm, mây nếp, dầu rái, dó trầm, xoan ta, bời lời… để trồng xen ghép trong rừng phòng hộ; tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng. Nhờ vậy, các địa phương đã hình thành được những cánh rừng đa dạng sinh học, vừa góp phần phòng hộ đầu nguồn, vừa giúp cho người dân có thu nhập ổn định từ việc khai thác tận dụng các loại gỗ tạp và các sản phẩm dưới tán rừng.
Thời gian qua, Ban quản lý DA đã triển khai thực hiện 4 mô hình quản lý rừng cộng đồng với tổng diện tích 2.573 ha. Trong đó, huyện Hoài Nhơn thực hiện 1 mô hình tại thôn Định Bình Nam, xã Hoài Đức, diện tích 1.708 ha; huyện Tây Sơn thực hiện 3 mô hình tại xã Tây Thuận và Tây Phú, tổng diện tích 847 ha. (Báo Bình Định 11/12) đầu trang(
Ngày 10-12, ông Nguyễn Ngọc Tân, chủ quán nhậu ở biển Bãi Dài, thôn Thủy Triều, xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã thả một con rùa xanh (thường gọi là tráng bông) về biển
Theo ông Tân, sáng 9-12, một người dân tên là Vinh, ở thôn Thủy Triều, xã Cam Hải Đông đã phát hiện con rùa biển tại bờ biển Bãi Dài, đoạn gần sân bay Cam Ranh. Ông Vinh đã mang con rùa này về nhà.
Ngày 10-12, ông Tân nghe tin nên đã thuyết phục ông Vinh thả rùa, trước sự chứng kiến của cán bộ công an xã Cam Hải Đông. Theo ông Tân, con rùa xanh này có trọng lượng khoảng 80 kg.
Ông Tân chính là người đã phát hiện con rùa da lên đẻ trứng ở Bãi Dài vào tháng 6-2013. (Người Lao Động 11/12) đầu trang(
Tiêu Sơn là một xã miền núi của huyện Đoan Hùng có 90% dân số sống thuần nông, nhưng trong cơ chế thị trường, nhiều hộ dân ở đây đã mạnh dạn vay vốn đầu tư phát triển nghề chế biến gỗ với các sản phẩm đa dạng vừa nâng cao thu nhập vừa thu hút và tạo việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.
Trong số những hộ có “gan làm giàu” ở Tiêu Sơn, nổi lên trường hợp anh Nguyễn Khắc Đào ở khu 10- người đã khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Anh Đào bộc bạch: Có thời gian theo bạn bè mua dăm gỗ về bán cho Nhà máy giấy Bãi Bằng lấy chênh lệch, qua đó tích lũy được chút vốn và kinh nghiệm nên đến năm 2005 tôi quyết định đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy băm dăm gỗ về làm, công suất lúc đầu khoảng 20 tấn sản phẩm/ngày, tạo việc làm cho 6 lao động.
Từ chỗ chỉ cung cấp dăm gỗ cho Nhà máy giấy Bãi Bằng, dần dần anh Đào mở rộng mối quan hệ làm ăn, mở rộng thị trường cung cấp sản phẩm cho cả Nhà máy giấy An Hòa (Tuyên Quang). Trong kinh doanh anh luôn đề cao uy tín với bạn hàng, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm.
Để hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi, năm 2010 anh đã thành lập Công ty TNHH Hà Giang, đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất dăm gỗ, nâng công suất hoạt động lên 40 tấn/ngày đêm, mua sắm phương tiện vận tải, mở rộng kinh doanh đa ngành nghề, hiện thu hút tạo việc làm ổn định cho gần 20 lao động với thu nhập bình quân đạt 4-4,5 triệu đồng/người/tháng.
Với tổng khối lượng tài sản trong tay hàng tỷ đồng, lợi nhuận bình quân đạt trên 300 triệu đồng/năm, hộ anh Nguyễn Khắc Đào trở thành hộ làm kinh tế điển hình của xã Tiêu Sơn. (Báo Phú Thọ 11/12) đầu trang(
Việc phát triển ồ ạt các nhà máy thủy điện hầu hết có công suất nhỏ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, đời sống và sản xuất của người dân. Trong khi đó, nhiều dự án thủy điện chậm tiến độ, dừng thi công phải rút giấy phép, đang đặt ra một vấn đề: Cần tiếp tục rà soát, đánh giá để nâng cao chất lượng quy hoạch các dự án thủy điện, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, hệ lụy có thể xảy ra.
Nghệ An là tỉnh có tiềm năng để phát triển thủy điện thủy điện (TĐ) với hệ thống sông ngòi nhiều, lưu vực lớn, độ dốc địa hình cao, lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn. Theo số liệu quy hoạch, trên địa bàn tỉnh có 44 dự án thủy điện vừa và nhỏ công suất 1.411,65 MW có thể khai thác và kêu gọi đầu tư xây dựng đến năm 2015. Sau khi xem xét, UBND tỉnh đã kiến nghị và Bộ Công Thương thống nhất rà soát loại bỏ khỏi quy hoạch 21 dự án có quy mô nhỏ (trong đó có tới 16 dự án có công suất dưới 3 MW), không đảm bảo hiệu quả đầu tư.
Việc loại bỏ 21 dự án TĐ nhỏ không chỉ thể hiện sự quyết liệt của UBND tỉnh mà còn phần nào nói lên sự yếu kém của các cơ quan chức năng từ khâu quy hoạch, thẩm định quy hoạch đến khâu quản lý, kể cả trách nhiệm của đơn vị, cá nhân phê duyệt, cấp phép. “Loạn” dự án thủy điện nhỏ hiện nay có lỗi hệ thống từ khâu quy hoạch đến triển khai.
Để lập được dự án theo phê duyệt, các doanh nghiệp đã phải tốn không ít thời gian, tiền bạc, công sức nhưng vẫn phải chịu toàn bộ rủi ro vì sai lầm từ các cơ quan quy hoạch, thẩm định. Nhiều chuyên gia cho rằng, cần có giải pháp đủ mạnh để làm rõ nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc để hạn chế thất thoát và lãng phí cho người dân, doanh nghiệp và xã hội. Ở tầm vĩ mô, cần phải nghiên cứu, xem xét, sửa đổi quy định về phương thức, quy trình, thủ tục lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho phù hợp, để từ đó có cơ sở tính toán cẩn trọng hơn mỗi khi muốn triển khai xây dựng thêm các công trình thủy điện.
Với 31 dự án còn lại nhưng hiện nay chỉ mới có 26 dự án có chủ trương đầu tư. Trong đó có 8 dự án đã vận hành phát điện đạt tổng công suất phát điện 638,5 MW, gồm: Bản Vẽ, Bản Cốc, Sao Va, Nậm Mô, Hủa Na, Khe Bố, Bản Cánh. Ngoài các dự án trên, rất nhiều dự án đều rơi vào tình trạng chậm tiến độ; thậm chí chưa khởi công, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh của người dân trong vùng các dự án “treo” với bao hệ lụy. Nguyên nhân là chưa đánh giá hết những tác động môi trường và năng lực của chủ đầu tư còn hạn chế.
Điển hình tại dự án TĐ Sông Quang và Châu Thôn do Công ty CP Phát triển năng lượng Sơn Vũ làm chủ đầu tư tại xã Châu Thôn, huyện Quế Phong. Cả 2 công trình này đều được khởi công năm 2007 nhưng đã ngừng thi công 3 năm nay. Tại hiện trường, TĐ Châu Thôn đặt tại bản Na Pục (Châu Thôn) chỉ mới hoàn thành vỏn vẹn đường công vụ, còn TĐ Sông Quang ở bản Quảnh (Châu Thôn) cũng chỉ mới thi công hệ thống kênh dẫn và bể áp lực, đặc biệt do núi cao được san bạt lại không có bờ kè che chắn nên tạo nguy cơ sạt lở rất lớn.
Ông Trương Minh Cương, Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong chia sẻ: Nên dừng lại việc phát triển thủy điện trên địa bàn huyện ở mức hiện tại. Cũng có nhiều đơn vị vào đây xin khảo sát nhưng huyện không đồng ý. Quan điểm của huyện là không muốn có thêm thủy điện trên địa bàn.
Ngoài 2 công trình trên, các công trình TĐ trên địa bàn Quế Phong như TĐ Nhạn Hạc thuộc xã Quế Sơn cũng ngừng thi công từ cuối 2010 đến nay, các công trình khác cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát quy hoạch chứ chưa xây dựng. Thực trạng này xảy ra không chỉ ở Quế Phong, bởi theo báo cáo của Sở Công Thương, toàn tỉnh có 6 dự án đã khởi công nhưng đang dừng thi công; 2 dự án công suất 57 MW đã cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa khởi công, 3 dự án chưa xác định được nhà đầu tư.
Theo quy định, khi tiến hành triển khai dự án đầu tư, chủ đầu tư bắt buộc phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, quy trình này chưa được chủ đầu tư quan tâm một cách thấu đáo. Mặt khác, công tác khôi phục và bảo vệ môi trường đã bị chủ đầu tư xem nhẹ. Hầu hết các chủ đầu tư chưa thực hiện báo cáo quan trắc giám sát chất lượng môi trường định kỳ hàng năm theo nội dung Đề án bảo vệ môi trường đã được phê duyệt. Thực hiện chưa đầy đủ báo cáo định kỳ tình hình phát sinh và quản lý chất thải nguy hại.
Ông Hồ Sỹ Dũng - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở TN&MT) đánh giá: “Khi xây dựng dự án thủy điện, môi trường sinh thái chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, làm cạn kiệt các nguồn lợi thủy sản, thay đổi dòng chảy, thay đổi nơi ở các loài ký sinh. Mùa lũ cần cắt lũ thì lại xả lũ, ngược lại về mùa cạn cần có lượng nước cho điều tiết thủy lợi thì họ lại ngăn đập khiến vùng hạ lưu sẽ bị cạn, các phương tiện giao thông đường thủy bị ảnh hưởng. Hiện nay, công tác đánh giá tác động môi trường chỉ mới dừng lại ở vấn đề dự báo, khi công trình thủy điện vận hành rồi thì chưa thực hiện được. Và chủ yếu đánh giá vùng thượng nguồn, còn phần hạ lưu thì chưa được đánh giá cụ thể do lưu vực rộng”.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng chưa thực sự làm tròn trách nhiệm khi đánh giá, thẩm định báo cáo tác động môi trường của các dự án, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái vùng có dự án. Là Khu Bảo tồn thiên nhiên đặc biệt quý giá, cần phải bảo vệ, thế nhưng, nằm trong vùng Khu BTTN Pù Hoạt xuất hiện 7 dự án thuỷ điện. Quy mô hoành tráng nhất là dự án Thuỷ điện Hủa Na (180MW) nhỏ hơn các nhà máy: Sông Quang, Bản Cốc, Sao Va, Nhạn Hạc, Tiền Phong, Nậm Pông. Việc xây dựng các nhà máy đã và đang ảnh hưởng đến sự đa dạng của khu BTTN.
Ông Nguyễn Danh Hùng, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho biết: “Việc xây dựng thủy điện là cần thiết nhưng chỉ những thủy điện lớn, còn những thủy điện nhỏ thì lợi nhuận không lớn mà còn làm thay đổi hệ sinh thái trong khu bảo tồn, kéo theo một diện tích rừng bị mất, việc mở đường giao thông khiến cho tình trạng phá rừng trở nên phức tạp khiến cho công tác quản lý rừng khó khăn hơn. Ngay như thác Sao Va là một điểm nhấn của huyện Quế Phong nhưng do Thủy điện Sao Va chặn dòng nước làm ô nhiễm khu vực thác, mất đi thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng”.
Để thực hiện dự án thủy điện, hàng ngàn hộ dân đã phải di dời đến nơi ở mới. Không phủ nhận những đổi thay về hạ tầng, giao thông, điện mà dự án mang lại, nhưng đời sống của người dân chưa thực sự khấm khá hơn. Tác động rõ ràng nhất với đời sống dân cư chính là dự án Thủy điện Hủa Na, công suất 180MW nằm trên địa bàn 2 xã Đồng Văn và Thông Thụ (Quế Phong). Để phục vụ dự án, có 1.402 hộ dân bị ảnh hưởng, trong đó có 1.362 hộ với 5.362 nhân khẩu phải di chuyển.
Đến nay, công tác di dời các hộ ra khỏi vùng lòng hồ đã hoàn thành nhưng công tác giao đất sản xuất cho dân còn quá chậm. Định cư nhưng không định canh cho bà con, thiếu đất, không việc làm dẫn đến nạn nghèo đói, thất nghiệp, tệ nạn gia tăng. Không chịu được nghèo khó, hơn 500 nhân khẩu của gần 200 gia đình đã hồi hương dựng lán trại ngay cạnh lòng hồ để mưu sinh trong sự bất lực của chính quyền và cơ quan chức năng. Tháng 5/2012, Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ tích nước đã làm sạt lở núi bồi lắng lấp dòng chảy sông Nậm Nơn ảnh hưởng đến giao thông đi lại, môi trường của bà con vùng lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ.
Trước khi dự án triển khai, việc đánh giá tác động nguồn nước đối với vùng hạ du chưa được thực hiện tốt nên đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của người dân. Tại xã Tiền Phong, từ tháng 4 năm 2010, khi dự án Thủy điện Sao Va (Quế Phong), công suất 3MW nằm trên suối Nậm Việc đi vào vận hành khiến cho hơn 70ha diện tích sản xuất nông nghiệp của 5 bản luôn đứng trước tình trạng thiếu nước sản xuất, đặc biệt là vào vụ đông xuân.
Ông Võ Khánh Toàn – Chủ tịch UBND xã Tiền Phong cho biết: “Từ khi đập Thủy điện Sao Va chặn dòng chảy của suối Nậm Việc, nước được điều tiết về không thường xuyên gây nên tình trạng thiếu nước ở hạ du. Thiếu nước dẫn đến năng suất lúa cũng giảm hơn so với trước. Trước thực trạng đó, người dân phải dùng máy bơm bơm nước vào ruộng phục vụ tưới tiêu rất tốn kém. 11 ha ruộng của người dân bản Đan 2 phải chuyển đổi sang trồng mía vì thiếu nước sản xuất”.
Để phục vụ các dự án thủy điện, hơn 1 ngàn ha diện tích đất rừng bị thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng. Theo Chi cục Lâm nghiệp, đến nay mới chỉ có 15 dự án của 9 chủ đầu tư làm thủ tục xin chuyển đổi với diện tích hơn 722ha, trong đó có hơn 331ha diện tích có rừng. Theo Nghị định 05/2008 của Chính phủ, đối với các dự án đầu tư phải khai thác rừng để giải phóng mặt bằng và có yêu cầu phải trồng lại rừng nhưng không có điều kiện thì có thể nộp tiền thay thế tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh. Thế nhưng, mới có 5 chủ đầu tư nộp tiền hơn 760 triệu đồng chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, tương ứng khoảng 50ha rừng.
Việc nộp tiền cấn trừ thay nghĩa vụ trồng rừng không khiến dư luận khỏi lo lắng về hậu quả biến đổi khí hậu sau này. Hệ lụy của việc vừa mất rừng, vừa không trồng rừng thay thế đã khiến cho lũ lụt, sạt lở vùng hạ du ngày càng nặng nề hơn. Hiện nay, UBND tỉnh đã có Quyết định 5318/2013 phân khai kinh phí này để hỗ trợ không hoàn lại cho các dự án trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147/2007, dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 đã triển khai. Theo Nghị định 05/2008 của Chính phủ thì không sai nhưng rõ ràng, hiệu quả mà quỹ này mang lại chắc chắn sẽ không cao. (Báo Nghệ An 11/12) đầu trang(
Tại kỳ họp lần thứ 7 HĐND tỉnh Cà Mau khóa VIII vừa kết thúc, phiên chất vấn hội trường “nóng” lên vì chuyện phá rừng, ô nhiễm môi trường từ các nhà máy chế biến thủy sản...
Đại biểu Nguyễn Sơn Ca tỏ ra bức xúc trước tình trạng phá rừng tại Vườn Quốc gia Đất Mũi và đặt vấn đề với Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Dũng: “Liệu có hay không cán bộ kiểm lâm tiếp tay cho việc phá rừng?”. Ông Lê Dũng thừa nhận: “Có việc cán bộ kiểm lâm tiếp tay cho “lâm tặc” phá rừng. Hiện UBND tỉnh chỉ đạo công an điều tra làm rõ”.
Ông Sơn Ca tiếp tục nêu vấn đề: “Có rất nhiều vụ phá rừng vẫn chưa phát hiện được, xử lý thế nào?”. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Dũng cho rằng, do địa bàn rộng, lực lượng kiểm lâm mỏng, trách nhiệm này trước hết là do chủ rừng. Nhằm ngăn chặn tình trạng này, UBND tỉnh đề nghị Sở NNPTNT chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm một số cán bộ kiểm lâm để xảy ra phá rừng. (Lao Động 10/12) đầu trang(
Việc Binh đoàn 15 triệt tiêu hàng ngàn ha rừng để trồng cao su ngoài vùng dự án đã được UBND tỉnh Gia Lai báo cáo lên Thủ tướng và các Bộ ngành liên quan.
Ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai vừa gửi công văn báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT, Bộ Quốc phòng việc Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Trung đoàn 710 đơn vị trực thuộc Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) thực hiện dự án trồng cao su trên đất lâm nghiệp không theo quy định tại Thông tư 58/2009 ngày 09/9/2009 của Bộ NN&PTNT đồng thời vi phạm nghiêm trọng Quyết định 746 của UBND tỉnh Gia Lai.
Xung quanh hàng loạt sai phạm kéo dài trong suốt thời gian qua của Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Trung đoàn 710, báo cáo Thủ tướng Chính phủ của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai khẳng định: các doanh nghiệp trên đã thuê tư vấn khảo sát đất và thiết kế lập dự án không kỹ, không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về điều kiện thổ nhưỡng để đảm bảo cho cây cao su sinh trưởng phát triển dẫn đến nhiều diện tích cao su sau khi trồng 1-3 năm thì bị chết;
Tự ý thoả thuận đền bù cho dân để lấy đất sản xuất của dân đưa vào trồng cao su ngoài vùng dự án; khai hoang trồng cao su không chừa lại diện tích cách mép sông, suối tối thiểu 50m và các lề đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện tối thiểu 100m theo quy định; tự ý phá rừng để khai hoang trồng cao su ngoài vùng dự án đã được UBND tỉnh Gia Lai cho thuê đất; gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng, ảnh hưởng đến diện tích đất sản xuất của dân.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Binh đoàn 15, diện tích rừng mà Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Trung đoàn 710 tự ý khai hoang trồng cao su ngoài vùng dự án chỉ… 392,53ha!
Theo điều tra của phóng viên, số liệu này do Công ty TNHH trắc địa bản đồ Nhật Tuấn – đơn vị được doanh nghiệp Bình Dương thuê nên chắc chắn rằng mức độ thiệt hại đến tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai bị các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) triệt hạ là chưa chính xác.
Trước tình hình đó, ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch tỉnh Gia Lai đã quyết định thành lập đoàn kiểm tra liên ngành bao gồm lãnh đạo các cơ quan Thanh tra tỉnh, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT cùng các cán bộ chuyên trách từ các Sở Tài chính, Kế hoạch & Đầu tư, LĐTBXH, Ban Dân tộc, Cục thuế và UBND các huyện có doanh nghiệp thực thuộc Binh đoàn 15 triển khai dự án trồng cao su tiến hành kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và thực hiện chuyển rừng nghèo sang trồng cao su theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ.
Trong khi chờ đợi chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ NN&PTNT, Bộ Quốc phòng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đề nghị Binh đoàn 15 báo cáo chính xác diện tích rừng ngoài vùng dự án tại huyện Chư Prông bị Công ty TNHH một thành viên Bình Dương và Trung đoàn 710 triệt hạ để trồng hàng trăm ha cao su nhằm xác định mức độ thiệt hại nguồn tài nguyên quốc gia. (Tamnhin.net 10/12) đầu trang(
Theo ngành chức năng tỉnh Cà Mau, nguyên nhân là do người dân đốn đước hầm than, nhưng với số lượng gỗ bị mất lên đến hàng ngàn m3, phải chăng chỉ có những người dân phá rừng?
Củi đước đang cháy, khu Ramsar Mũi Cà Mau, ấp Rạch Tàu, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiện còn được gọi bằng cái tên “xóm lò”. Hơn 350 hộ nhưng hầu như nhà nào cũng có lò hầm than, nguyên liệu là những thân đước từ những cánh rừng nguyên sinh gần đó.
Ông Bùi Văn Chính, người dân xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau cho biết: “Dân ở đây quá khổ, nếu có cơ sở đàng hoàng thì không vào rừng làm gì, bởi rừng quốc gia bảo vệ thiên nhiên, chống thiên tai cho đất nước. Không có cách sống nên phải vào rừng đốn củi...”.
Theo Ban quản lý Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, từ đầu năm đến nay, thống kê sơ bộ ở 3 khu vực trên lâm phần đã có hơn 1.700m3 gỗ bị người dân chặt phá. Nhưng theo ông Trần Văn Thục, người dân xã Đất Mũi, phá rừng không chỉ có người dân. Giữa năm 2012, ông từng chứng kiến cảnh lực lượng kiểm lâm thực hiện cái gọi là “tỉa thưa” rừng đước. “Nhà tôi ở đây mà, các anh ấy đưa xà lan vô đây chở cây đi đâu thì tôi không biết”, ông Thục nói.
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau cho rằng: “Theo dư luận thì lực lượng kiểm lâm có thông đồng với người ngoài chặt phá cây rừng, vấn đề này chúng tôi đã nắm được nhưng vấn đề là bằng chứng. Vì vậy xin cho phép chúng tôi không trả lời đúng hay sai”.
Còn ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau thì khẳng định: “UBND tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo thành lập Đoàn kiểm tra những sai phạm của cán bộ kiểm lâm ở Vườn Quốc gia, nếu có sai phạm thì sẽ thẳng tay xử lý”.
Đầu tháng 11/2013, Đoàn thanh tra đã có báo cáo thực trạng phá rừng ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. Ngoài 1.700m3 gỗ bị thiệt hại, Đoàn thanh tra còn phát hiện dấu hiệu một số kiểm lâm móc nối với người ngoài chặt khoảng 1.500 cây đước nhiều năm tuổi bán lấy tiền chia nhau. Với cung cách quản lý mà ai cũng có thể phá rừng như hiện nay thì khu Ramsar Mũi Cà Mau chẳng bao lâu sẽ chỉ còn là tên gọi. (VTV 10/12) đầu trang(
Trong những ngày qua, rất nhiều người dân bức xúc phản ánh việc BQL rừng phòng hộ Long Đại cho máy xúc đất, mở đường và chặt phá nhiều diện tích rừng tại tiểu khu 390 (H.Quảng Ninh, Quảng Bình).
Theo ghi nhận, điểm mở đường bắt đầu từ khu vực giáp ranh 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy; đường mở rộng khoảng 3 m, xuyên qua tiểu khu 390, đường mở đến đâu thì cây rừng bị đốn hạ đến đó. Ở cuối con đường là cả cánh rừng phòng hộ bị chặt sạch, nhiều cây có đường kính trên 40 cm, trong đó nhiều loại gỗ quý chưa được thu dọn nằm ngổn ngang.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Trị, Giám đốc BQL rừng phòng hộ Long Đại lại cho rằng: “Dự án mở đường để chống cháy rừng và phục vụ cho việc trồng mới 50 ha keo lai nhằm thay thế cho rừng nghèo kiệt ở tiểu khu 390 đã được Sở NN-PTNT đồng ý; chỉ đốn hạ có mấy cây thôi, ăn nhằm gì”.
Sau khi tiếp nhận thông tin, ngày 10.12, Hạt Kiểm lâm H.Quảng Ninh đã cử cán bộ đi kiểm tra thực địa. (Thanh Niên 11/112) đầu trang(
Ngày 10/12, TAND TX Hương Trà đã công khai xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo Cao Đình Văn (trú xã Bình Thành, Thị xã Hương Trà) về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng ”.
Theo cáo trạng của VKSND TX Hương Trà, vào khoảng tháng 3/2008, trong khi đi làm rừng tại khu vực rừng thuộc thôn Bồ Hòn (xã Bình Thành), Văn phát hiện một khẩu súng (dạng súng tiểu liên AK kiểu báng gấp) và 20 viên đạn được bọc trong một túi nilon giấu ở gốc cây.
Thấy vậy, Văn liền lấy khẩu súng và số đạn trên ra kiểm tra thấy có 20 viên đạn trong đó có 4 viên bị rỉ rét. Văn đã vứt bỏ 4 viên đạn đó đi rồi gói khẩu súng và 16 viên đạn còn lại đem đến giấu tại một khe đá cách đó khoảng 600 đến 700 mét.
Đến tháng 12/2012, Văn đi vào lấy khẩu súng cùng số đạn trên đem về nhà lau chùi, sửa chữa lại phần báng súng rồi cất giấu sau vườn nhà. Ngày 27/1/2013, Văn cùng với các anh Nguyễn Khoa Sâm, Nguyễn Hùng, Đặng Văn Lượng và hai người con của Văn là Cao Đình Thục và Cao Đình Thảo (đều trú tại xã Bình Thành) đi vào rừng để săn bắn.
Khi đi, Văn đem theo khẩu súng cùng 16 viên đạn trên, Nguyễn Hùng đem theo 1 khẩu súng bắn đạn hoa cải cùng 18 viên đạn, Nguyễn Khoa Sâm đem theo 1 khẩu súng (dạng súng bắn đạn hoa cải) và một số đạn rồi tất cả tập trung vào khu vực rừng thuộc dốc AK ở xã Hồng Tiến (Thị xã Hương Trà) và dựng lán trại tại đó để đi săn bắn thú rừng.
Ngày 28/1/2013 qua kiểm tra, Công an TX Hương Trà phát hiện bắt quả tang cùng tang vật vụ án. Qua xét xử, TAND TX Hương Trà đã tuyên phạt bị cáo Cao Đình Văn 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng. (Dân Trí 11/12) đầu trang(
Vừa qua, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 Thanh Hóa tổ chức kiểm tra xe ô tô đông lạnh do ông Nguyễn Văn Ngọc, thường trú tại Khánh Hòa điều khiển lưu thông theo hướng Nam – Bắc.
Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện ngoài số lâm sản có trong hồ sơ, thủ tục, giấy tờ theo quy định của Nhà nước. Trên xe còn có 50,0kg rắn sọc dưa là động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB không có hồ sơ, thủ tục, giấy tờ theo quy định của Nhà nước, nguồn gốc bất hợp pháp.
Vụ việc đã được Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 hoàn tất hồ sơ ban đầu chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo luật định. (Kiểm lâm Thanh Hóa 10/12) đầu trang(
Những ngày gần đây, dư luận tại TP. Đà Nẵng xôn xao trước thông tin, sau đợt lũ cuối tháng 11/2013, một số hộ dân ở thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc, Hòa Vang vớt được khối lượng lớn gỗ từ dưới sông Nam... Đặc biệt, có một số khúc gỗ to, không vận chuyển nổi, người dân đã nhanh chóng xẻ nhỏ rồi tẩu tán…
Nhận tin báo từ quần chúng và chính quyền xã Hòa Bắc, lực lượng kiểm lâm TP. Đà Nẵng đã kịp thời có mặt tại hiện trường. Ông Lê Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Hòa Vang và ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cùng xác nhận: Sau khi, có thông tin người dân tập kết được một số lượng lớn gỗ từ dưới sông Nam, rải rác tại một số địa điểm trong thôn, trên đường bê tông.
Thậm chí trong vườn keo, vẫn còn một số khúc gỗ dài 2 đến 3 mét đã được cưa xẻ thành phẩm… Bước đầu, lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản tạm giữ một số phách gỗ có chủng loại từ nhóm 2 đến nhóm 7, với các loại gỗ như: Kiền kiền, chò chỉ, xoan đào...
Theo biên bản kiểm tra của Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang, số gỗ này của 4 hộ dân người dân tộc Cơtu đều trú tại thôn Tà Lang gồm: Trần Văn Trường, Trương Văn Đào, Lê Văn Lâm và Hồ Ngọc Quý. Các hộ dân này cũng đã khai nhận, số gỗ nói trên có nguồn gốc từ “gỗ lụt”, vớt được trên sông Nam.
Về việc xử lý số “gỗ lụt” như người dân khai báo, ông Lê Mạnh Hùng cho biết, trước mắt lực lượng kiểm lâm lập biên bản tạm giữ số gỗ thu được tại hiện trường để tiếp tục điều tra, xử lý. Điều đáng nói, ngay sau khi thông tin người dân xã Hòa Bắc vớt được nhiều “gỗ lụt”, đã xuất hiện một số đối tượng đầu nậu buôn gỗ đến để chuẩn bị gom gỗ về xuôi.
Một người dân địa phương cho biết, khi nghe tin dân vớt được nhiều gỗ một số đầu nậu đến thu mua gỗ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn…
Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng cũng xác nhận, số gỗ lực lượng kiểm lâm vừa phát hiện tại xã Hòa Bắc là do người dân vớt từ sông Nam sau đợt lũ cuối tháng 11/2013 vừa qua. Theo ông Lương, số gỗ này có thể từ sông Lỗ Đông rồi xuôi xuống sông Nam và sông Bắc.
Đa phần gỗ người dân vớt được là gỗ kiền kiền, xoan đào hiện còn khá nhiều tại khu vực rừng phía Tây TP. Đà Nẵng và các huyện Đông Giang, Tây Giang (Quảng Nam). Với việc xuất hiện nhiều “gỗ lụt” dưới sông Nam sau cơn lũ vừa qua, đã khiến dư luận dấy lên nghi ngờ tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép ở các khu vực trên vẫn âm ỉ diễn ra, bất chấp sự tăng cường quản lý của cơ quan chức năng.
Trước đó, Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng đã tổ chức đoàn kiểm tra truy quét chống chặt phá rừng, khai thác gỗ và xây dựng trái phép trên đất lâm nghiệp tại các khu rừng trọng điểm trên địa bàn. Theo đó, 4 tổ công tác với tổng quân số 62 người (gồm lực lượng kiểm lâm, dân quân tự vệ xã, công an xã) đã được triển khai truy quét liên tục nhiều ngày tại các địa bàn trọng điểm, đặc biệt tại huyện Hòa Vang.
Song, trong thực tế do nhập nhằng ranh giới quản lý rừng giữa 2 địa phương là Quảng Nam và Đà Nẵng nên, tài nguyên rừng ở khu vực vẫn âm thầm “chảy máu”.
Đầu năm 2013 đến nay, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang đã tổ chức 134 đợt kiểm tra, truy quét, riêng Trạm Kiểm lâm khu vực Hòa Bắc đã tổ chức 94 đợt kiểm tra, truy quét, phá hủy 19 lán trại cùng nhiều phương tiện của các đối tượng đào đãi vàng, khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng trái phép tại rừng.
Tuy nhiên, với diện tích rừng rộng hơn 52.000 ha, riêng rừng đặc dụng hơn 28.000 ha, mặc dù lực lượng kiểm lâm huyện đã mở rất nhiều đợt tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… nhưng nhiều đối tượng vẫn liều lĩnh khai thác gỗ trái phép.
Quay trở lại với việc người dân tập kết “gỗ lụt” ở thôn Tà Lang, ông Trần Văn Lương cho biết, các lực lượng chức năng của TP. Đà Nẵng đã và đang điều tra xử lý kịp thời, tìm phương án giải quyết hợp lý nhất. (Thời Báo Ngân Hàng 11/12) đầu trang(
Đến thời điểm này, trên địa bàn huyện Na Rì, các điểm khai thác vàng trái phép nhức nhối trước đây cơ bản đã được khống chế. Tuy nhiên, tại khu vực tiếp giáp với mỏ vàng Tốc Lù, thuộc xã Kim Hỷ, tình hình này vẫn khá phức tạp.
Tại khu vực giáp ranh với khu vực mỏ vàng Tốc Lù, thuộc xã Kim Hỷ, huyện Na Rì có trên dưới 8 điểm khai thác vàng trái phép đang hoạt động. Các điểm khai thác trái phép này chủ yếu tập trung dọc theo khu vực mỏ vàng Tốc Lù trước đây do Công ty Cổ phần Tấn Thành khai thác, nay bỏ hoang. Với lượng xe máy nhìn thấy tại điểm tập kết ở khu vực này thì số lượng người đang khai thác vàng tại đây có thể lên đến hàng trăm người.
Theo tìm hiểu, đa số họ đều là người địa phương. Các đối tượng này lợi dụng lán trại do Công ty cổ phần Tấn Thành bỏ lại để làm nơi trú ngụ phục vụ khai thác vàng trái phép. Trước tình hình này, UBND tỉnh đã có cuộc họp với các ngành, địa phương chỉ đạo nhanh chóng xóa bỏ tình trạng khai thác vàng trái phép tại khu vực này nói riêng, trong toàn khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ nói chung. (Đài PT - TH Bắc Kạn 10/12) đầu trang(
Nếu như từ năm 2010 đến năm 2012, số vụ phá rừng ở tỉnh Cà Mau giảm 50% thì bất ngờ trong năm 2013 tình trạng này lại bùng phát trở lại.
Cụ thể, năm 2013 có trên 1.600 vụ phá rừng với trên 1.000 m3 gỗ bị chặt phá. Rừng bị phá chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển và rừng quốc gia Mũi Cà Mau.
Các đối tượng phá rừng có những thủ đoạn hết sức tinh vi như: Sau khi chặt cây rừng xong, chúng buộc can nhựa vào thân cây rồi thả cây trôi sông, khi bị lực lượng tuần tra phát hiện thì chúng cắt dây để phi tang. Thời gian mà đối tượng lựa chọn để phá rừng là lúc nửa đêm trở về sáng, lúc trời mưa hoặc khi thủy triều lên cao. (Tin Tức 11/12) đầu trang(
Ngày 3/12, Trạm kiểm soát liên hợp Km15 - Bến tàu Dân Tiến phối hợp với Phòng 3, Cục Cảnh sát kinh tế- Bộ Công an; Tổ công tác của Đội Kiểm lâm đặc nhiệm kiểm tra ôtô BKS 16H- 5388 chạy từ Hạ Long về Móng Cái.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe có các túi luới bên trong đựng 124 cá thể tê tê sống, trọng lượng 487kg. Qua đấu tranh, anh Nguyễn Xuân Linh, SN 1987, trú tại phường KaLong, TP Móng Cái (người điều khiển phương tiện) cho biết, toàn bộ lô hàng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Trước đó, ngày 20-11, tại bờ kè sông biên giới đoạn cột mốc 1367+100m, phía thượng lưu sông Bắc Luân, TP Móng Cái, Đội Kiểm soát liên hợp số 1, Cục Hải quan Quảng Ninh tạm giữ 127 cá thể rùa các loại (trọng lượng 157kg). Trong số đó có 8 cá thể rùa (51kg), thuộc danh mục nhóm 2B, Nghị định số 32/206 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm...
Theo Cục Hải quan Quảng Ninh, các đối tượng buôn lậu trong nội địa cấu kết với các đối tượng ngoài biên giới thông thạo ngôn ngữ, địa bàn. Đối tượng buôn bán người Trung Quốc đứng ra móc nối, tổ chức vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới sau đó vận chuyển vào trong nội địa tiêu thụ. Do hám lợi, nhiều chủ xe, lái xe khách, xe tải chạy chuyên tuyến đến và đi từ TP Móng Cái và các huyện Hải Hà, Bình Liêu... tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.
Để tránh bị kiểm tra, phát hiện, các loại động vật hoang dã được cất giấu, ngụy trang hết sức tinh vi. Các “đầu nậu” thường thuê người vận chuyển động vật hoang dã từ nước ngoài về Việt Nam qua đường tiểu ngạch ở các cửa khẩu tập kết vào nội địa, sau đó vận chuyển đi tiêu thụ. Vì thế, vướng mắc hiện nay là cơ quan chức năng thường chỉ tạm giữ được tang vật, rất ít khi bắt giữ, xử lý được chủ hàng. (Công An Nhân Dân 11/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Kẻ đã đột nhập vào Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại Tring (Anh) năm 2011 đã bị phạt 10 tháng tù giam cho hành động lấy trộm hai sừng tê giác giả. Nếu như tên trộm này lấy được những chiếc sừng thật, chúng sẽ được bán ở chợ đen với giá 24.000 bảng Anh.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở nhiều quốc gia châu Âu khiến các bảo tàng lớn phải có kế hoạch bảo vệ thông qua việc thay thế sừng tê giác thật bằng những chiếc sừng nhựa.
Đêm 26-8-2011, Darren Bennett, 42 tuổi ở Leicester, đã đột nhập bảo tàng Akeman Street, phá vỡ một số đồ vật và lấy một số sừng tê giác được sưu tầm từ những năm 1900. Tuy nhiên, đó chỉ là những bản sao đã được nhân viên Bảo tàng thay thế hai tháng trước đó. Bennett đã để lại mẫu ADN ở các ngón tay sau khi một nhân viên bảo tàng đã tìm thấy một manh mối quan trọng trên chiếc xe đạp của mình. Bà phát hiện đôi găng tay mà Bennett đã dùng để phá tủ trưng bày hiện vật. Ngày 3-12 vừa qua, Darren Bennett đã bị tòa án Harrow Crown tuyên phạt 10 tháng tù giam.
Paul Kitching, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại Tring, tỏ ra hài lòng với mức phạt trên: “Chúng tôi đánh giá cao vai trò của cảnh sát và tòa án trong việc bảo vệ các bộ sưu tập của bảo tàng. Mỗi mẫu vật trong bộ sưu tập khoa học của chúng tôi đều rất độc đáo và không thể thay thế trong công tác trưng bày nghệ thuật”.
Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại Tring và các bảo tàng khác ở trung tâm London đều không trưng bày phiên bản gốc của sừng tê giác hoặc ngà voi.
Tê giác bị đe dọa nghiêm trọng do nhu cầu sử dụng sừng làm thuốc cổ truyền ở các nước châu Á ngày càng tăng. Năm nay, dự đoán là năm kỷ lục về số lượng tê giác bị giết hại với hơn 700 cá thể đã thiệt mạng tại Nam Phi, nơi có 22.000 tê giác. (Nhân Dân 10/12) đầu trang(
Liên minh Quốc tế về đấu tranh chống tội phạm loài hoang dã (ICCWC) vừa thông báo với sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ Thuỵ Điển, tổ chức này sẽ thực hiện chương trình “Hành động hổ mang” lần 2 ở châu Á (Thái Lan) và châu Phi (Kenya), dự kiến từ ngày 30.12.2013 – 26.1.2014. Đây là động thái được các nhà bảo vệ động vật hoang dã toàn cầu cho rằng rất cần thiết nhằm ngăn chặn việc xâm hại các loài hoang dã không chỉ ở châu Phi.
Theo số liệu của cơ quan bảo vệ các loài hoang dã Tanzania, chỉ trong hai tháng qua, các cơ quan chức năng nước này đã thẩm vấn 952 nghi phạm săn bắt voi, tịch thu 104 chiếc ngà. Nhà thống kê của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Kenneth Burman mới đây đã phát biểu trên chương trình truyền hình National Geographic rằng, rất có thể bọn săn trộm đã giết hại ít nhất 25.000 con voi châu Phi trong năm qua. Còn theo quỹ Động vật hoang dã thế giới (WWF), nhu cầu sừng tê đã dẫn đến cái chết của ít nhất 1.300 con tê giác mỗi năm.
Vào đầu những năm 1990, quần thể hổ của thế giới được ước tính là trên 100.000 con. Ngày nay, 97% quần thể này đã bị xoá sổ, chỉ còn dưới 3.200 con. Trong số tám loài hổ ban đầu, ba loài đã tuyệt chủng: hổ Bali, hổ Caspi và hổ Java. Việc giết hổ để lấy da, xương và các bộ phận cơ thể khác cung cấp cho thị trường chợ đen là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự suy giảm quần thể hổ.
Nhà sinh vật học và nhà bảo tồn động vật hoang dã Jeff Corwin (Mỹ), từng đoạt giải Emmy, tác giả cuốn Những câu chuyện đứng tim: Cuộc đua để cứu các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trên trái đất cho biết, săn bắt trộm, đánh bẫy, giết hại hoặc bắt giữ bất hợp pháp động vật hoang dã có liên quan đến các dạng buôn bán bất hợp pháp khác: “Bất chấp những biện pháp thực thi pháp luật trong phạm vi một nước, nạn buôn bán này vẫn lan tràn như một bệnh dịch toàn cầu, trong đó, một động vật hoang dã bị giết ở rừng rậm châu Phi có thể có đích đến là các nhà hàng và các cửa hiệu ở châu Á”.
Theo Jeff Corwin, khi bọn săn trộm giết một động vật hoang dã để lấy một bộ phận nhất định của con vật, như sừng của tê giác, xương của hổ hay ngà của voi, thì thiệt hại vượt xa cá thể con vật đó. Việc buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã có thể tàn sát cả một quần thể loài, đe doạ an ninh trong vùng, đem theo những rủi ro về sức khoẻ cho các cộng đồng người và khiến toàn bộ hệ sinh thái bị suy thoái.
Theo Jeff Corwin, bảo vệ động vật hoang dã nghe có vẻ xa xỉ ở những vùng mà bản thân con người đang phải vật lộn với chiến tranh, nạn đói hay dịch bệnh, song thực chất nạn buôn lậu động vật hoang dã còn gây ra bạo lực, khi mà tiền thu được từ việc săn trộm thường được sử dụng vào các mạng lưới tội phạm tài chính và vũ khí, gây mất ổn định thêm nữa trong vùng. Nạn buôn lậu động vật hoang dã cũng đe doạ cả an ninh kinh tế.
“Nhiều vùng mà ở đó săn bắn trộm thịnh hành lại chính là những vùng phát triển nhờ du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái. Việc có ít động vật hoang dã hơn để du khách tham quan cùng với bạo lực tăng lên đã làm giảm khả năng phát triển và tồn tại của vùng với tư cách là một điểm du lịch hấp dẫn”, Jeff Corwin nói.
Buôn bán bất hợp pháp cũng làm chuyển hướng dòng tiền khỏi các kinh doanh hợp pháp và thay vào đó lại trao tiền mặt vào tay tội phạm, làm chậm sự phát triển kinh tế. Nạn buôn lậu động vật hoang dã cũng gây rủi ro đối với sức khoẻ cộng đồng. Việc tăng số người bị bệnh dịch, chẳng hạn bệnh hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), cúm gia cầm và sốt xuất huyết do nhiễm virút Ebola, là do những tác nhân lây nhiễm đã lan truyền từ động vật sang người. Bằng mưu toan trốn tránh sự kiểm soát y tế cộng đồng, buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã còn sống hay những bộ phận cơ thể của chúng đã gây nguy hiểm cho sức khoẻ dân chúng.
Theo Jeff Corwin, ít có cảnh tượng nào buồn thảm hơn hình ảnh còn lại sau hành động buôn lậu động vật hoang dã: một con tê giác chết nằm sóng sượt với lỗ thủng ở trán, nơi trước kia là chiếc sừng; một con hổ máu me đầm đìa vì lớp da lông vằn rực rỡ của nó đã bị lột đi; hoặc một con voi bị xẻ phanh phần mặt và chiếc vòi hùng dũng một thời của nó đã bị lấy mất…
Mặc dù gần đây việc buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã tăng lên, nhưng theo Jeff Corwin vẫn còn lý do để hy vọng. Tê giác trắng đã có lúc gần như tuyệt chủng, nay được cho là loài tê giác có nhiều nhất trên thế giới, nhờ sự cống hiến không mệt mỏi của những nhà bảo tồn động vật hoang dã cùng hợp tác cứu quần thể loài này tại các nơi trú ẩn và các khu bảo tồn ở khắp châu Phi.
“Việc cứu các loài hổ, tê giác và voi, và nhiều loài khác đang có nguy cơ tuyệt chủng, đòi hỏi sự hợp tác vượt qua biên giới quốc gia. Bằng cách nâng cao nhận thức, đề ra các giải pháp và giảm thiểu nhu cầu, những nhóm nhỏ dân chúng đang tạo ra các tác động lớn nhằm ngăn chặn làn sóng buôn lậu động vật hoang dã”, Jeff Corwin kêu gọi. (Sài Gòn Tiếp Thị 11/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa