|
Ngày 10 tháng 12 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Đi từ Cha Lịnh, Mù Nú qua Khe Liềm (TT- Huế), nơi đâu cũng thấy dấu chân của những cán bộ kiểm lâm ngày đêm cắt rừng lội suối, bảo vệ những cánh rừng xanh của thượng nguồn Hương Giang, Ô Giang.
Hẹn mãi, cuối cùng cũng được các cán bộ kiểm lâm A Lưới (TT- Huế) cho “thị sát” một chuyến đầu nguồn Hữu Trạch. Từ thủy điện Bình Điền (xã Bình Điền, TX Hương Trà), chiếc thuyền xé sóng đưa nhóm phóng viên (PV) lên với thượng nguồn sông.
Hơn một giờ chiếc thuyền phả ra thứ âm thanh chát chúa, trạm Cha Lịnh - Mù Nú hiện ra trên đỉnh đồi còn dày sương. Đây là trạm thuộc quản lý của Hạt Kiểm lâm A Lưới, nơi được bao quanh bởi những cánh rừng già.
Trạm Cha Lịnh - Mù Nú cũng là điểm xa, heo hút nhất với “3 không”: không điện, không đường và không thông tin liên lạc. Bên lán trại đơn sơ dã chiến giữa rừng, những cán bộ kiểm lâm của trạm quần còn xắn quá đầu gối, rít thuốc, ngồi nghỉ lấy sức sau một chuyến đi dài.
Anh Nguyễn Quang Hải, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Cha Lịnh - Mù Nú cho biết, anh em bám trụ ở đây, lập lán trại cùng những cán bộ tăng cường từ Hạt, rừng phòng hộ chừng 8-10 người, mỗi chuyến đi từ 10-15 ngày, cắt rừng để nắm bắt thông tin, ngăn chặn, xua đuổi kịp thời những đối tượng lâm tặc xâm hại rừng già. Chuyến đi tuần rừng của anh em vừa kết thúc, đã có khá nhiều gỗ bị lâm tặc xẻ phách, chưa kịp vận chuyển ra khỏi thượng nguồn Mù Nú bị anh em kiểm lâm bắt giữ.
Lán trại của đội tuần tra rừng Cha Lịnh - Mù Nú chỉ có đơn sơ vài xoong nồi, chén bát. Những cán bộ kiểm lâm ở đây thường thì một tháng mới được về nhà một lần, đó là trong dịp ngày thường, còn những ngày trước, trong và sau tết, thì phải túc trực, sẵn sàng tuần tra, bắt giữ khi lâm tặc phá rừng trái phép.
Anh Hải tâm sự: “Làm công tác bảo vệ rừng không chỉ có ý chí, trách nhiệm mà cần phải có thêm sức khỏe. Chuyện anh em bị sẩy chân, ngã bị thương, thậm chí bị lâm tặc hành hung, đe dọa không phải là hiếm. Một chuyến đi dài ngày, ăn, ngủ với rừng những người không quen công việc thì khó làm được”.
Trong câu chuyện “ăn rừng ngủ rú” vất vả, gian lao của các anh như thấy được hình ảnh các anh bộ đội năm xưa xẻ dọc Trường Sơn, lăn lộn rừng sâu chiến đấu với quân thù. Nhiều lúc, tinh thần, trách nhiệm của anh em kiểm lâm luôn sẵn sàng, nhưng công tác bảo vệ rừng vẫn gặp nhiều bất cập do đây là địa bàn chồng chéo, giáp ranh giữa 4 huyện A Lưới, Nam Đông, Hương Trà và Hương Thuỷ, nhưng lực lượng lại mỏng, thiếu công cụ hỗ trợ, chế độ cho lực lượng truy quét vẫn còn nhiều hạn chế nên gây không ít khó khăn cho lực lượng kiểm lâm.
Anh Hồ Xuân Lim, cán bộ tăng cường của Hạt Kiểm lâm A Lưới, cũng là người lâu năm gắn bó với trạm Cha Lịnh - Mù Nú, tâm sự: “Ở đây đi rừng suốt, về lán trại cũng chỉ được vài hôm thôi nhưng mỗi khi nhớ nhà, anh em lại “bò” lên đỉnh đồi, tìm một chỗ duy nhất có sóng điện thoại chập chờn để liên lạc về nhà, nghe tiếng vợ con, mình như thấy thêm sức mạnh để tiếp tục làm nhiệm vụ”.
Bao nhiêu năm, anh Lim đã cống hiến tuổi trẻ cho sự bình yên của những cánh rừng già, giờ vì lý do sức khỏe, anh đã trở lại công tác tại Hạt Kiểm lâm A Lưới.
Rời Cha Lịnh - Mù Nú, trở về QL1A, từ đây nhóm PV theo tuyến đường lâm sinh lổn chổn ổ gà, ổ voi, vượt hơn 10 km đường đèo dốc lầy lội để tìm lên Trạm Kiểm lâm Khe Liềm thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền. Dòng Ô Giang mùa này nước xanh leo lẻo, càng đi xa hơn về thượng nguồn, ở một vài đoạn sông, những gềnh đá lởm chởm, xanh một màu hoang hoải như miệng loài cá dữ luôn chực chờ muốn nuốt chửng tất cả khi chiếc thuyền dám xâm phạm chốn thiêng của núi rừng.
Trạm Kiểm lâm Khe Liềm nằm chênh vênh bên dòng Ô Giang, nơi đây là chỗ trú ngụ của 7 anh em kiểm lâm viên ngày đêm bám rừng, bám đất để ngăn chặn, xua đuổi những đối tượng lâm tặc phá rừng. Nằm biệt lập giữa núi rừng nên điều kiện sinh hoạt của anh em trong trạm hết sức khó khăn.
Bên chiếc đài, ti vi chập chờn từ nguồn điện của máy thủy điện nhỏ do các anh kiểm lâm viên “tự chế” đặt ở khe suối, các anh chăm chú ngồi nghe tin tức. Đó cũng là phương tiện giải trí gần như duy nhất nơi chốn cuối sông, lưng chừng núi này.
Anh Vinh Sang, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Khe Liềm, tâm sự: “Hai hôm nay mưa lớn quá, chưa đi rừng được nhưng anh em cũng phải ở lại để chốt chặn ở bên sông này. Ở đây ngó bình yên thế chứ dùng thuyền đi ngược lên phía thượng nguồn, nếu không tuần tra, xử lý kịp thời thì lâm tặc thả gỗ cho trôi sông ngay".
Với một đội ngũ kiểm lâm viên ít ỏi, nhưng lại tuần tra, quản lý trong một địa bàn khá rộng lớn, giáp ranh cả với huyện Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị), trong điều kiện đi lại hiểm trở, sinh hoạt khó khăn, nhưng bao năm qua, những cán bộ kiểm lâm nơi đây vẫn lặng lẽ đám đất, bám rừng “canh” giấc ngủ ở chốn rừng thiêng.
Đường đi tuần tra không chỉ đi bộ mà phải dùng thuyền vượt qua vô vàn ghềnh đá nơi thượng nguồn sông. Chiếc thuyền đuôi tôm đưa nhóm PV ngược dòng, tiếng máy nẹt pô của động cơ như xua đi cái không khí tỉnh lặng đến rợn người. Vượt qua nhiều khúc sông, đâu đó “máu rừng” vẫn chảy khi những cán bộ kiểm lâm phát hiện ra từng phách gỗ dội, gỗi… được xẻ phách thả trôi sông.
Ra giữa dòng, chiếc thuyền như nhỏ hơn, cứ chao đảo liên hồi do va phải đá, có cán bộ kiểm lâm rơi cả mũ, ba lô đựng đồ đạc xuống sông. Vượt thác ghềnh, con thuyền lại thẳng tiến. Tuần tra từ sáng đến trưa, hai chân mệt nhừ, những cán bộ kiểm lâm lại ngồi nghỉ lấy sức bên ghềnh đá.
Tuần tra rừng đã vất vả, bắt được gỗ, phải vận chuyển về trạm còn hiểm trở, gian nguy hơn bội phần. Chuyến tuần tra kết thúc khi trời đã nhá nhem, mặt trời ngủ vùi sau núi. Bên chén rượu chống lạnh chớm xuân, những câu chuyện công việc, cùng nỗi nhớ gia đình lại theo các anh và giấc ngủ giữa núi rừng…
Ông Đặng Vũ Trụ, GĐ Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền cho biết, dù điều kiện đi lại, liên lạc khó khăn nhưng anh em phải cắm chốt trực chiến 24/24 theo sự chỉ đạo của ngành kiểm lâm.
Ông Nguyễn Viết Hoạch, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TT- Huế, cho biết: Hiện tại địa phương, tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép có chiều hướng gia tăng. Vì vậy, tăng cường lực lượng kiểm lâm trước, trong và sau tết là vấn đề được Chi cục Kiểm lâm TT-Huế quan tâm. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/12) đầu trang(
UBND huyện Lục Yên vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2013; triển khai nhiệm vụ, giải pháp PCCCR mùa khô năm 2013- 2014.
Xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, thời gian qua, UBND huyện đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ các cơ quan chuyên môn, đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương phát huy vai trò, trách nhiệm, phấn đấu huy động lực lượng tập trung cao trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ban chỉ đạo huyện đã chỉ đạo 24 xã, thị trấn xây dựng phương án PCCCR; củng cố, kiện toàn 25 Ban Chỉ huy PCCCR; trong đó có 01 BCH huyện và 24 BCH xã, thị trấn với 227 tổ, đội xung kích PCCCR tại các địa bàn trọng điểm với 1.910 người tham gia; đầu tư 177 triệu đồng cho công tác PCCCR để mua sắm trang bị dụng cụ PCCCR như giấy bảo hộ, dao phát, mũ bảo hộ, quần áo bảo hộ, đèn pin, máy cưa…
Đồng thời, xây dựng cam kết tới các chủ hộ gia đình chăn thả gia súc và làm nương bãi ven rừng cần đảm bảo không đốt đồng cỏ, đốt nương gây cháy rừng... Cùng đó, Ban chỉ huy huyện đã mở 10 hội nghị tuyên truyền, tập huấn PCCCR trên địa bàn, chỉ đạo 5 xã phát mới 10km đường băng trắng cản lửa; sửa chữa 5 bảng tin, lắp đặt mới 2 bảng cấp dự báo cháy rừng và 01 bảng tin tuyên truyền về công tác PCCCR.
Ban Chỉ đạo huyện đã tổ chức diễn tập PCCCR 1 cấp có một phần thực binh tại xã Mai Sơn đạt kết quả loại giỏi. Do đó, từ đầu năm đến nay toàn huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nào.
Phát biểu tại hội nghị, ông Hoàng Kim Trọng, Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện nhấn mạnh: Để làm tốt công tác PCCCR mùa khô hanh năm 2013 – 2014, các ngành chức năng cần phối hợp với các đơn vị chủ rừng, địa phương tích cực tuyên truyền, vận động, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR, từng bước góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và người dân trên địa bàn; giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng đất rừng, đất lâm nghiệp… (Yenbai.gov.vn 10/12) đầu trang(
Chỉ có tổng số 7 cán bộ công chức, viên chức, lại phải quản lý, bảo vệ diện tích rừng tương đối lớn nhưng Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Mê (Hà Giang) vẫn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần giữ màu xanh cho những cánh rừng.
Năm 2013, Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Bắc Mê phối hợp với UBND các xã trên địa bàn tiến hành khảo sát và trồng mói 220 ha rừng. Qua kiểm tra, nghiệm thu cho thấy, cây rừng phát triển khá tốt.
Ngoài ra, BQL chủ động mời cơ quan chức năng, UBND các xã Minh Ngọc, Minh Sơn, Yên Phong, Yên Phú, Đường Âm phối hợpkiểm tra, xác minh những diện tích rừng trồng hết chu kỳ đầu tư chuyển sang bảo vệ, đã nghiệm thu, chuyển giao 315,1 ha.
Trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, BQL thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vi phạm xảy ra, nhờ đó toàn bộ diện tích rừng trồng được bảo vệ tốt; phân công cán bộ xuống địa bàn các xã tham mưu cho chính quyền cơ sở làm tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2012- 2013; tổ chức theo dõi việc sử dụng lửa đối với các gia đình sống gần bìa rừng. Do vậy, năm 2013, trên địa bàn huyện đã không có vụ cháy rừng phòng hộ xảy ra.
Năm 2014, BQL rừng phòng hộ Bắc Mê sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện công tác tư vấn, khảo sát thiết kế đất trồng rừng theo chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh giao; xúc tiến nhanh công tác ký hợp đồng các chỉ tiêu lâm sinh với chủ nhận khoán trồng rừng; tập trung chỉ đạo các hộ nhận khoán thực hiện chăm sóc, bảo vệ toàn bộ diện tích rừng trồng; tuần tra, bám sát địa bàn về tình hình phát nương làm rẫy nhằm ngăn chặn các vụ xâm hại rừng...
BQL đề nghị cấp có thẩm quyền sớm giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho BQL để sử dụng lâu dài, chủ động sản xuất, kinh doanh. (Công Thương 9/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong bối cảnh nước ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nguy cơ xóa trắng một số nguồn gene quý là rất cao. Các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, việc bảo vệ tính đa dạng sinh học không những là một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của các ngành, các cấp mà còn là của toàn xã hội.
Theo báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, Việt Nam được xếp thứ 16 trên thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, đặc biệt là quốc gia có nhiều nguồn gene quý hiếm. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng bên cạnh việc chúng ta ban hành khung chính sách và pháp lý về bảo tồn sớm nhất Đông Nam Á thì việc cấp kinh phí cho công tác bảo tồn, nghiên cứu… lại chậm và khiêm tốn nhất.
Điều này dẫn đến nhiều hạn chế trong việc thực hiện điều tra, thu thập, bổ sung cũng như triển khai các nghiên cứu đánh giá, khai thác, phát triển. Bên cạnh đó, việc sử dụng kinh phí chưa thật hiệu quả, mới chỉ tập trung vào điều tra, thu thập, bảo quản và đánh giá ban đầu, còn đánh giá chi tiết và khai thác, sử dụng còn hạn chế. Ngoài ra, nhận thức việc bảo tồn nguồn gene, quỹ gene chưa được các cấp có thẩm quyền và xã hội quan tâm đúng mức. Đây cũng là một trong những lý do làm cho tình trạng cấp kinh phí cho nhiệm vụ bảo tồn nguồn gene, quỹ gene quốc gia quá ít và kéo dài.
Vụ trưởng Vụ KH và CN các ngành kinh tế kỹ thuật - Bộ KH và CN Nguyễn Văn Liễu chia sẻ: từ năm 2009 - 2011, tổng kinh phí hằng năm giao cho các bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ về quỹ gene chỉ khoảng 20 tỷ đồng, từ năm 2012 đến nay mới đạt xấp xỉ 35 tỷ đồng. Với nguồn kinh phí còn hạn hẹp như vậy, công tác bảo tồn nguồn gene ở Việt Nam chủ yếu là bảo tồn tại chỗ trong điều kiện tự nhiên nơi phát sinh nguồn gene.
Đồng quan điểm, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN nông nghiệp Nguyễn Giang Thu, Bộ NN và PTNT cho biết: việc bảo tồn quỹ gene chưa nhận được sự quan tâm của xã hội và các cấp có thẩm quyền. Chính vì vậy việc tăng cường kinh phí cho triển khai thực hiện nhiệm vụ khai thác và phát triển, đánh giá di truyền nguồn gene cấp bộ, cấp tỉnh. Đa dạng hóa nguồn tài chính phục vụ cho công tác bảo tồn, trong đó có nguồn của Nhà nước, tư nhân, doanh nghiệp và nguồn hợp tác quốc tế để đảm bảo tính lâu bền của công tác bảo tồn, phát triển nguồn gene.
Cơ bản nhất trí với các đại biểu, đại diện lãnh đạo Viện vi sinh vật và công nghệ sinh học, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cho rằng: cần phải xây dựng Trung tâm nguồn gene Quốc gia với mục tiêu cung cấp các chủng vi sinh vật với chất lượng nguồn gene và thông tin liên quan theo chuẩn quốc tế.
Cục trưởng Cục KHCN và đào tạo Gs.Ts Nguyễn Công Khẩn - Bộ Y tế cho biết: Nhà nước cần có chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các tổ chức bảo tồn, lồng ghép bảo tồn với chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; lồng ghép KHCN về bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gene.
Bên cạnh đó, cần xây dựng một Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gene trình Chính phủ phê duyệt nhằm đẩy mạnh hoạt động KH.CN về quỹ gene, bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sinh học quốc gia; tăng cường áp dụng các tiến bộ KHCN trong lưu giữ, bảo quản, tư liệu hóa nguồn gene, các đại biểu cũng đề nghị cần quan tâm đúng mức đến việc đào tạo, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao cho hoạt động bảo tồn nguồn gene...
Đánh giá về vấn đề này tại hội nghị KHCN về quỹ gene được tổ chức mới đây, Bộ trưởng Bộ KH và CN Nguyễn Quân cho biết, vấn đề bảo vệ nguồn gene động thực vật… ở nước ta hiện đang gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc, việc nhận thức của con người, đặc biệt là các nhà quản lý, về giá trị và lợi ích của công tác bảo tồn nguồn gene, đồng thời tìm ra các giải pháp, phương hướng thúc đẩy hoạt động KHCN về quỹ gene là rất cần thiết và quan trọng.
Bên cạnh đó là việc thu hút nguồn đầu tư của xã hội với lĩnh vực KHCN về bảo vệ nguồn gene. Hy vọng trong thời gian tới, công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gene động vật, thực vật và vi sinh vật, hoạt động KHCN quỹ gene sẽ có bước phát triển và hiệu quả tốt hơn. (Đại Biểu Nhân Dân 9/12) đầu trang(
“Bộ trưởng cần công khai trách nhiệm của chính mình, bộ mình vì còn phải khắc phục điều chỉnh cho cao su và làm tiếp cho các quy hoạch kế hoạch khác nữa”.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ đã nói như vậy về việc Bộ trường Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát nhận trách nhiệm để cao su vượt quy hoạch trước Quốc hội vừa qua. Theo ông việc nhận trách nhiệm này là tốt mà ít người hiểu rõ trách nhiệm đó là gì! Ông cũng phân tích kỹ hơn để hiểu ngọn nguồn của câu chuyện trách nhiệm.
Theo GS Nguyễn Ngọc Lung: Việc các địa phương trồng cao su vượt quy hoạch từ 800.000 ha lên 910.000 ha (13%) trước thời hạn 5 năm so với năm 2015 thật ra không phải là chuyện lớn, nếu như đạt hiệu quả cao như nhà nước và nhân dân mong muốn.
Vì xảy ra tiếng nói phản đối phá rừng để trồng cao su tại Tây Nguyên, trồng theo phong trào bất chấp hạn chế vùng sinh thái phù hợp thiệt hại lớn tại Bắc Trung bộ nên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT bị chất vấn và nhận trách nhiệm tại quốc hội khóa XII.
Việc nhận trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT là tốt mà ít người hiểu rõ trách nhiệm đó là gì ?. Thật ra dễ thấy nhất là cấp tỉnh, quản lý dân, quản lý đất, và kế hoạch phát triển của tỉnh, lại để cho quy hoạch bị động, không phân vùng sinh thái cho cao su, phê duyệt quá mức chỉ tiêu được phân bổ và chịu thiệt hại (kinh tế, môi trường, xã hội) trước dân thì đã rõ ràng, ai cũng hiểu.
Theo tôi đọc thông báo số 125/2006 và sau đó 3 năm có quyết định 750/2009 về chỉ tiêu kế hoạch phát triển cao su đến 2015 và 2020, chỉ có 5 dòng về cao su, trong đó: - Phát triển thêm 90 đến 100.000 ha. - 3 nguồn đất được sử dụng là: Đất chưa sử dụng (trống, trọc); đất trồng cây công nghiệp kém hiệu quả và đất rừng nghèo.
Sang thế kỷ XXI mà kế hoạch vẫn không xây dựng từ cơ sở lên, tiếp tục nghĩ ra chỉ tiêu rồi bổ xuống từng vùng, từng tỉnh (Top-down). Có trách nhiệm của bộ chuyên ngành không hướng dẫn các tỉnh điều tra quy hoạch để tổng hợp nhu cầu và khả năng phát triển để trình chính phủ quyết định.
Bộ trưởng cần công khai trách nhiệm của chính mình, bộ mình vì còn phải khắc phục điều chỉnh cho cao su và làm tiếp cho các quy hoạch kế hoạch khác nữa.
Cũng theo GS Nguyễn Ngọc Lung: Việc chỉ ra tỉnh nào lập và phê duyệt kế hoạch quá mức do tỉnh phải làm, bộ có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ, tổng hợp tình hình cả nước để báo cáo chính phủ và công khai trước nhân dân, trong đó có trách nhiệm hướng dẫn phối hợp và quản lý ngành trong lĩnh vực của mình.
Về việc xử lý những doanh nghiệp vượt kế hoạch phá rừng trồng cao su, GS Nguyễn Ngọc Lung cho hay: Phải quan niệm vượt kế hoạch phá rừng là diện tích phá lớn hơn diện tích được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo dự án hoặc kế hoạch phát triển. Như vậy là vi phạm pháp luật cần xử lý nghiêm.
Nhưng nếu phá rừng tự nhiên dù giàu hay nghèo để trồng rừng thuần loại khác như keo, bạch đàn, sao dầu, và cả cao su nữa là đánh đổi một hệ sinh thái quý báu của tự nhiên có giá trị môi trường cao nhất, lây một hệ sinh thái yếu kém hơn tùy loài cây, giá trị của rừng trồng.
Việc đánh đổi này rõ ràng thua thiệt cực kỳ lớn vì vậy toàn thế giới đã có đủ mọi công ước, mọi chương trình kể cả tài trợ để bảo vệ rừng tự nhiên, chỉ vì một chút lợi ích thu nhập kinh tế trước mắt . Các nhà khoa học, nhà môi trường- sinh thái đã chỉ ra rất rõ ràng đến đồng bào các dân tộc còn am hiểu, trừ nhóm lợi ích cố tình hoặc sống tách rời xã hội mới có chủ truơng hy sinh môi trường để mưu lợi kinh tế khi đánh đổi này.
Phá rừng tự nhiên để phát triển cao su nên vẫn là trồng rừng, không có nghĩa vụ đền bù trồng thêm rừng khác. Tuy nhiên Việt Nam quyết không bơi ngược dòng quốc tế trong hành động cứu môi trường.
Trời đã giúp ta bằng vài ba trận lụt nặng nề ở Tây Nguyên, vài trận bão ở Trung bộ, huỷ hoại bao nhiêu năm cố gắng phục hồi kinh tế, nay trở thành bài học quá đắt, cho dù đã cảnh báo rằng rừng tự nhiên quý báu như thế nào đóng góp trong việc tạo lập môi trường phát triển bề vưng cho đất nước. (Đất Việt 10/12) đầu trang(
Năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường đã rà soát trên 50.000ha đất của các nông, lâm trường, ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp trên địa bàn, trong đó gồm cả diện tích đã được cấp và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GQSDĐ). Diện tích đất đã được cấp đạt khoảng 40% tổng diện tích rà soát.
Tính đến hết tháng 11-2013, ngành Tài nguyên và Môi trường đã triển khai công tác cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nông, lâm trường được 18.500ha, đạt trên 90% kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, ngành cũng đã tiến hành các thủ tục thu hồi 5.400ha đất nông, lâm trường bàn giao lại cho các địa phương quản lý, sử dụng.
Trong tháng 12-2013, ngành Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ tại các nông, lâm trường, phấn đấu hoàn thành 100% kết hoạch đề ra. (Báo Thái Nguyên 9/12) đầu trang(
Ngày 9.12, tại TP Quy Nhơn đã diễn ra Hội thảo “Đối thoại - chia sẻ - học hỏi Xác định thông điệp truyền thông cho đối tượng cộng đồng dân cư khu vực rừng ngập mặn tại địa phương”.
Hội thảo do Văn phòng Điều phối về biến đổi khí hậu (BĐKH) - CCCO Bình Định phối hợp với Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách KHCN (NISPASS) tổ chức. Hơn 80 đại biểu là các nhà khoa học, chuyên gia của NISPASS, CCCO Bình Định; lãnh đạo một số sở, ngành và UBND một số xã, phường khu vực ven đầm Thị Nại đã tham dự hội thảo.
Các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận xung quanh thông điệp truyền thông về BĐKH cho đối tượng cộng đồng dân cư khu vực rừng ngập mặn tại địa phương, trong đó có phường Nhơn Bình (TP Quy Nhơn) và các xã Phước Thuận, Phước Sơn (huyện Tuy Phước).
Theo đó, qua trao đổi, thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất một số nội dung câu hỏi sẽ trực tiếp phỏng vấn người dân địa phương khi tiến hành khảo sát. Đó là các câu hỏi: BĐKH là gì? BĐKH có tác động như thế nào đến Bình Định? Nguyên nhân gây ra BĐKH là gì? Các nhà khoa học có thể dự đoán chính xác thời điểm và mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng thời tiết hay không? Phải chăng BĐKH đã khiến các hiện tượng thời tiết khó đoán hơn trước kia? Làm gì để giảm nhẹ những rủi ro do các tác động của BĐKH?...
Đặc biệt, các đại biểu đã tập trung thảo luận về thông điệp truyền thông cho đối tượng cộng đồng dân cư khu vực Nhơn Bình, Phước Thuận, Phước Sơn về rừng ngập mặn. Đó là các nội dung: Rừng ngập mặn bảo vệ bờ đầm thủy sản; cải thiện môi trường sống cho thủy sản; tăng lượng mưa cho mùa khô; bảo vệ nhà cửa khỏi bão lụt; chống xói mòn; phát huy tiềm năng du lịch sinh thái… (Báo Bình Định 9/12) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã trồng được 2.882 ha rừng trồng tập trung, đạt 110,85% kế hoạch, trong đó rừng phòng hộ 224 ha, rừng sản xuất 2.658 ha. Cơ cấu cây trồng chủ yếu là cây keo lai, keo lá liềm, bạch đàn, phi lao.
Ngoài ra còn bảo vệ 98.408 ha rừng, khoanh nuôi tái sinh 10.160 ha, chăm sóc rừng trồng 4.710 ha và hoàn tất việc xuất cây giống phục vụ trồng cây phân tán cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được 1.022.755 cây tương đương 788,4 ha.
Sở NN& PTNT đã cấp phép khai thác rừng cho 14 đơn vị với tổng sản lượng 53.626,26 m3 (905,249 ha), lâm sản ngoài gỗ khai thác được 165.300 cây tre, nứa và 15.000 búp lá buông.
Riêng công tác chuyển mục đích sử dụng rừng, trồng rừng thay thế, cắm mốc ranh giới lâm phận và 3 loại rừng đã được các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo triển khai kịp thời góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án, ổn định diện tích đất lâm nghiệp, phấn đấu nâng độ che phủ của rừng 40% năm 2010 lên 43% vào năm 2020. (Báo Bình Thuận 9/12) đầu trang(
Luôn bị đe dọa bởi nạn dịch sâu róm, hay thường xuyên phải cẩn trọng với công tác PCCCR… nhưng diện tích rừng thông ở Nghệ An vẫn phát triển, góp phần tăng nhanh độ che phủ rừng và tạo ra giá trị kinh tế cao, giúp người dân vùng bán sơn địa có nguồn thu nhập ổn định.
Thông là loại cây rất khó trồng, ngoài việc phải đầu tư nhiều công sức để chăm sóc, bảo vệ, thì trồng cây thông phải luôn cận trọng với dịch sâu róm và công tác PCCC rừng… Bởi vậy, để quản lý, khai thác hiệu quả rừng thông, Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Đô Lương đã đưa ra các giải pháp cùng hợp tác liên doanh với công nhân lâm trường và người dân vùng lân cận rừng thông.
Cụ thể, doanh nghiệp đầu tư 100% vốn vào phát triển cây thông để công nhân lâm trường, hoặc người dân nhận quản lý, bảo vệ, khai thác, rồi sau đó chia 30% lợi nhuận cho người nhận. Hay doanh nghiệp cùng với dân đầu tư trồng thông, quản lý, khai thác và sau đó chia 50% lợi nhuận. Nhờ áp dụng linh hoạt hình thức liên doanh và luôn tạo lợi thế cho người dân chăm sóc, quản lý, khai thác rừng thông, nên Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương đã tạo được hiệu quả trong việc khai thác nhựa thông, đồng thời giúp cho các hộ công nhân lâm trường, gia đình trong vùng có thu nhập cao.
Diện tích rừng thông ở huyện Đô Lương vào khoảng 7.000 ha và tại Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Đô Lương có đến 1.700 ha (trong đó có 700 ha đang khai thác nhựa). Hiện nay có 390 hộ tại 8 xã trong huyện nhận khoán rừng thông. Do có thu nhập khá và ổn định từ công tác quản lý, bảo vệ rừng, khai thác nhựa thông, nên người dân yên tâm, gắn bó với rừng.
Năm 2012, khai thác gần 261 tấn nhựa thông và từ đầu năm 2013 đến nay tại Trạm Khai thác nhựa thông Quyết Thắng, Mỹ Sơn, Hòa Sơn và liên doanh với xã Tràng Sơn, Đông Sơn, Hồng Sơn… đã khai thác hơn 250 tấn nhựa và dự kiến đến hết năm nay, sẽ khai thác đạt 270 tấn nhựa thông.
Còn tại Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, trong những năm qua, nhờ việc đầu tư phát triển diện tích rừng thông đã tạo được thế mạnh trong việc cung cấp nhựa thông và nâng cao doanh thu cho đơn vị. Hiện với 300 ha rừng thông (trong đó có 200 ha đang khai thác) của Ban được rải đều ở 6 xã thuộc vùng bán sơn địa là Xuân Thành, Bắc Thành, Trung Thành, Đồng Thành…
Ông Nguyễn Văn Thanh – Cán bộ quản lý Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho hay: “Để người dân yên tâm gắn bó với rừng thông, đồng thời từng bước nâng cao thu nhập, Ban thường xuyên đầu tư, hỗ trợ cùng với người dân tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh và PCCC. Từ đầu năm 2013 đến nay, trên tất cả diện tích rừng thông đều tiến hành phát dọn thực bì, làm đường băng cản lửa, phun phòng sâu róm”.
Ông Nguyễn Tiến Lâm – Phó Giám đốc Sở NN & PTNT cho biết: Nghệ An hiện có diện tích rừng thông ổn định khoảng 30.000 ha, trong đó có gần 7.000 ha đang khai thác nhựa và được trồng tập trung chủ yếu ở Đô Lương, Nam Đàn, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu…
Hàng năm, sản lượng khai thác nhựa thông từ 3.500 – 4.000 tấn và giá trị xuất khẩu đạt gần 8 triệu USD. Nhờ có vùng rừng thông rộng lớn, không những góp phần tăng nhanh độ che phủ, mà còn tạo ra hiệu qủa kinh tế cao từ nghề rừng. Đặc biệt, có khoảng 2.000 hộ dân ở vùng bán sơn địa có cuộc sống ổn định nhờ tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng, khai thác nhựa thông.
Thời gian qua, mặc dù trên thị trường nhựa thông luôn diễn biến phức tạp, nhưng tại thị trường Nhật Bản, Trung Quốc và EU rất ưa chuộng nhựa thông Nghệ An, nên đầu ra tương đối ổn định. Theo một số đơn vị cung cấp nhựa thông, hiện tại giá thu mua nhựa thông nguyên liệu tại Nghệ An là hơn 30 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, để nâng cao giá trị của nhựa thông, cần đầu tư xưởng chế biến nhựa thông đạt tiêu chuẩn và từng bước hạn chế tình trạng bán nhựa thông theo dạng nguyên liệu. (Báo Nghệ An 9/12) đầu trang(
Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp tại các huyện miền núi được sử dụng trồng keo phục vụ chế biến gỗ dăm xuất khẩu. Song, hiệu quả kinh tế từ cây keo mang lại cho người dân trong vài năm trở lại nay đang đi xuống. Bài toán nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp bằng cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn vẫn chưa tìm được lời giải.
Là một tỉnh có tiềm năng đất lâm nghiệp, Nghệ An xác định phát triển kinh tế rừng là hướng đi quan trọng để nâng cao đời sống cho người dân và thay đổi bộ mặt của các huyện miền núi. Hiện cả tỉnh có trên 600.000 ha đất rừng sản xuất thì trong đó có gần 120.000 ha được người dân trồng keo. Trung bình, diện tích keo mỗi năm toàn tỉnh tăng thêm 10.000 .
Tại các huyện miền núi, hầu như những gia đình có đất rừng đều trồng keo. Nhà ít cũng vài ngàn m2, nhà nhiều thì đến cả 10 ha. Cây keo là một cây trồng dễ tính, chi phí thấp và có thời gian khai thác ngắn nên thích hợp với điều kiện sản xuất của người dân. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, giá trị kinh tế của cây keo đã không còn lớn như trước. Nguyên do là giá thu mua như xe “xuống dốc” không phanh khiến cho đời sống của người dân lao đao.
Đến địa phương nào, hỏi về hiệu quả kinh tế của cây keo cũng nhận được cái lắc đầu ngán ngẩm. Hiện toàn huyện Qùy Châu có hơn 13.000 keo, trong đó chủ yếu tập trung tại các xã Châu Hạnh, Châu Hội. Được đánh giá là cây xóa đói, giảm nghèo của địa phương nên diện tích trồng keo trên toàn huyện ngày một tăng. Tuy nhiên, điều đáng buồn là hiệu quả kinh tế không tăng lên. Ngày trước, mỗi một ha keo cho thu nhập từ 50-60 triệu đồng/ha thì nay chỉ còn từ 20-30 triệu đồng/ha.
Vì điều kiện kinh tế khó khăn, đa phần người dân tại các huyện miền núi thường bán keo non, khi keo chỉ đạt từ 3-5 tuổi. Thu hoạch non dẫn đến năng suất đạt thấp chỉ từ 40-50 tấn/ ha. Như vậy, hiệu quả kinh tế trên mỗi ha keo đã giảm sút rất nhiều. Bên cạnh đó, đường giao thông phục vụ khai thác và vận chuyển nguyên liệu ở nhiều địa phương còn khó khăn. Có nhiều nơi, xe chở keo không vào được đến tận rừng nên phải tăng bo nhiều chuyến.
Lợi dụng điều này, thương lái ra sức ép giá làm cho giá keo xuống thấp. Người dân không còn cách nào khác, phải ngậm đắng để bán cho thương lái với giá rẻ mạt. “Vì thế, tính giá trị mỗi ha keo có từ 6 năm tuổi thương lái chỉ mua với giá 25-30 triệu đồng, trừ chi phí đầu tư trồng, chăm sóc, bảo vệ, nông dân chẳng thu đáng là bao sau ngần ấy năm, nói người trồng keo có làm mà không có ăn là thế”, ông Chấn cho biết thêm.
Tại huyện Qùy Hợp, tổng diện tích keo của huyện là có 11.000 ha keo, trong đó diện tích keo của người dân đã chiếm hơn 9.300 ha. Được đánh giá là cây trồng chủ lực để người dân trên địa bàn huyện thoát nghèo nhưng những gì đang diễn ra khiến cho chính quyền không khỏi lo lắng.
Trung bình mỗi năm, trên địa bàn huyện khai thác khoảng từ 1.500 – 2.000 ha keo. Nếu cây keo phát triển đủ chu kỳ của nó thì mỗi ha, người dân có thể thu hoạch được khoảng 70 tấn, với giá keo là 1,2 triệu đồng/ tấn thì người dân thu về hơn 80 triệu đồng/ha. Nhưng đó là lý thuyết. Vì đa phần, người dân trên địa bàn huyện đều bán keo non khi keo chỉ mới được 4-5 tuổi. Vì keo chưa sinh trưởng hết chu kỳ nên sản lượng khai thác kém, chỉ được khoảng 40-45 tấn/ha.
Ông Hoàng Văn Thái – Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Quỳ Hợp cho biết: Mặc dù cây keo vẫn được đánh giá là cây trồng có vai trò lớn đối với cuộc sống người dân nhưng phải khẳng định rằng, vai trò đó đang càng ngày càng giảm đi. Nguyên nhân là do đường giao thông vận chuyển còn khó khăn nên người dân bị ép giá. Với những vùng này, để có cây trồng thay thế là chưa tìm ra được bởi nếu trồng cây bạch đàn thì không phù hợp.
Một nguyên nhân khác dẫn đến giá keo chưa đạt được giá trị cao là vì hiện nay, keo chủ yếu chỉ phục vụ xuất khẩu gỗ dăm. Đây hiện vẫn là đầu ra duy nhất cho cây keo trên địa bàn tỉnh ta. Một tấn gỗ dăm trên thị trường có giá 500.000 đồng, trong khi 1 tấn gỗ xẻ cho giá cao gấp 4 lần. Nhưng do thiếu vốn nên người dân phải khai thác cây gỗ sớm, băm ra để lấy gỗ dăm xuất khẩu thay vì trồng thêm vài năm để lấy gỗ xẻ có giá trị cao hơn gấp nhiều lần.
Trong khi đó, với ngành sản xuất giấy, dăm gỗ là một dạng nguyên liệu thô, có giá trị thấp hơn rất nhiều nếu chọn hướng xuất khẩu nguyên liệu giấy và bột giấy. Việc xuất khẩu ồ ạt dăm gỗ không chỉ ảnh hưởng đến tổng cầu nguyên liệu gỗ trong tương lai mà còn ảnh hưởng đến cả ngành chế biến gỗ và sản xuất giấy.
Nâng cao hiệu quả đất lâm nghiệp tại các huyện miền núi đang là một bài toán nan giải cho cả các cơ quan chức năng và đối với người dân. Trong những năm qua, tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách giúp người dân địa bàn các huyện này chuyển đổi cây trồng phù hợp. Nhiều cây trồng đã được đưa vào nhằm thay thế cây keo như cây quế, cây sở, cây mận tam hoa... nhưng tất cả đều thất bại.
Bà Lang Thị Hồng, Phó chủ tịch UBND huyện cho biết: Qùy Châu là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp lớn, trên 72.000 ha, trong đó có 23.000 ha rừng sản xuất. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp, huyện đã đưa một số cây trồng mới vào như cây quế, cây sở nhưng đều không mang lại hiệu quả. Trước mắt, huyện đang tập trung tuyên truyền người dân và các đơn vị phục hồi các cây bản địa như lim, lát, trám, vàng tâm ở các vùng rìa xung quanh diện tích keo.
Ông Nguyễn Tiến Lâm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Thực tế, bản thân cây keo là có giá trị kinh tế khá cao và có thể giúp cho đời sống người dân được cải thiện nhiều. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ cây keo mang lại cho người dân trong những năm vừa qua đang đi xuống. Nguyên nhân chính là các nhà máy sản xuất thu mua giá keo thấp, đầu tư hạ tầng đường lâm sinh không có nên khi người dân khai thác keo từ rừng ra đến ô tô là mất hết vốn, còn trách nhiệm đầu tư xây dựng đường lâm sinh để phục vụ vận chuyển nguyên liệu thuộc về Nhà nước.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại các huyện miền núi bằng cây trồng phù hợp, có giá trị cao, Sở đang tiến hành nghiên cứu, đánh giá để tham mưu cho tỉnh. Tại các huyện, người dân đang tiến hành trồng cây lim, trám và một số cây bản địa khác dưới tán rừng keo. Tuy nhiên, do chi phí cao hơn, thời gian dài hơn nên chỉ phù hợp với những hộ có điều kiện chứ khó có thể trồng đại trà được. Như cây mét, cây mây nhưng kỹ thuật thâm canh thì phức tạp hơn. (Báo Nghệ An 8/12) đầu trang(
Trong điều kiện nguồn gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm, sản phẩm từ gỗ rừng trồng và gỗ tận dụng đang là nguyên liệu thay thế phù hợp phục vụ cho lĩnh vực sản xuất nội thất. Đón đầu xu hướng đó, Công ty CP gỗ Phượng Nguyên - Bắc miền Trung (Tùng Ảnh - Đức Thọ) đã chọn ván ghép thanh là sản phẩm chủ lực đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ông Đoàn Minh Sơn - Phó Giám đốc Công ty cho biết: “Sản phẩm ván ghép thanh (còn gọi là gỗ ghép) gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh thành tấm gỗ có bề mặt rộng. Từ sản phẩm gỗ ghép này có thể sử dụng rộng rãi trong sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn, ván ốp tường”…
Hiện nay, sản phẩm của Công ty chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nước ngoài (thông qua công ty mẹ ở TP Hồ Chí Minh) như Anh, Đan Mạch, Úc… còn thị trường trong nước chưa thực sự được biết đến. Trong khi đó, so với các loại gỗ ghép thông thường, sản phẩm này có các ưu điểm nổi trội như: không bị cong vênh do biến đổi thời tiết, độ bền màu tốt, không thấm nước, có khả năng chống xước và chịu va đập cao…
Đặc biệt, nguồn nguyên liệu làm ván ghép tương đối dồi dào. Mỗi năm, Công ty thu mua gần 3.000 tấn gỗ keo, thông từ các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, sử dụng cả thân cây có đường kính nhỏ, tận dụng gỗ thừa tại các xưởng mộc. Đây thực sự là loại vật liệu thay thế hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất nội thất trong khi nguồn gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm.
Do thị trường tiêu thụ ổn định, trung bình mỗi năm, Công ty sản xuất hơn 7.000 m2 gỗ thành phẩm, doanh thu gần 6 tỷ đồng. Dự kiến, năm 2013, doanh thu đạt 10 tỷ đồng. Ván ghép thanh của Công ty được UBND tỉnh công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2011 và 2013. Hiện tại, Công ty có kế hoạch mở rộng quy mô, đầu tư thêm máy móc, thiết bị, tiến tới sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm không thông qua công ty mẹ. (Báo Hà Tĩnh 10/12) đầu trang(
Bằng cách trưng ra bản hợp đồng liên doanh trồng rừng nguyên liệu giấy, ông Lê Xuân Tiến - Giám đốc Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp (KHSXLN) vùng Bắc Trung Bộ đã kỷ thỏa thuận với những tập thể không có chức năng giao đất rừng để chiếm dụng gần 200ha đất trồng rừng của người dân ở huyện miền núi Đak Rông - Quảng Trị.
Tuy nhiên, người được ủy quyền sử dụng gần 200ha đất này lại gửi đơn kêu cứu đến Báo Lao Động rằng: Chưa từng ký bản hợp đồng liên doanh trồng rừng nguyên liệu giấy với bất kỳ đơn vị nào. Và chính ông GĐ Lê Xuân Tiến đa làm “giả” bản hợp đồng rồi chỉ dạo người của trung tâm chiếm dụng gần 200ha đất nói trên để triển khai trồng rừng sản xuất trong những ngày qua. Năm 2004, bà Lê Thị Trâm (trú tại TT.Khe Sanh, huyện Hướng Hóa) được 10 hộ dân ủy quyền giao 176,2ha đất ở xã Hướng Hiệp, (huyện Đak Rông) để trồng rừng.
Do quen biết, bà Trâm cùng chồng là ông Hoàng Minh Nghi nhờ ông Lê Xuân Tiến - GĐ Trung tâm KHSXLN - trồng rừng với giá 8 triệu đồng/ha và đã thanh toán đủ. Đến năm 2005, vì một số lý do nên ông Nghi và bà Trâm quyết định cho ông Tiến tiếp tục trồng rừng và khai thác trên diện tích đất này đến năm 2013.
Sau 7 năm, ông Nghi liên hệ với ông Tiến để lấy lại diện tích đất đã “cho mượn”, ông Nghi cho biết: “Ông Tiến trả lời rằng, sẽ trả lại đất và có hỗ trợ nên chúng tôi yên tâm”.
Vì thế, sau khi ông Tiến khai thác được một phần diện tích rừng trồng thì ông Nghi, bà Trâm cùng 10 hộ dân tiến hành lấy lại đất để sản xuất. Trong lúc người dân đang thu dọn để trồng trọt thì bất ngờ ông Tiến lại cho người đua máy móc vào san ủi với ý định tiếp tục trồng rừng đến năm 2019. Những hộ dân là chủ của gần 200ha đất trên nói rằng, vì lý do không đủ tài chính nên họ mới đồng ý cho ông Tiến trồng và khai thác rừng đến năm 2013, thế nhưng đến thời hạn mà ông Tiến lại trây ỳ, không trả lại đất, mà còn có những hành vi sai trái.
Ông Lê Xuân Tiến cho biết, do đã hợp đồng trồng rừng có thời hạn đến năm 2019 nên trung tâm không trả lại đất. “Theo thống nhất thì bà Trâm giao cho bên tôi trồng 2 chu kỳ, đến 2019 thì kết thúc. Sau khi thu hoạch xong chu kỳ đầu thì ông Nghi có đến đòi lại đất để bán, nhung tôi nói không được” - ông Tiến nói. Trong khi đó, bà Trâm khẳng định với PV Lao Động rằng, bà không hề ký vào bất cứ một họp đồng nào với Trung tâm KHSXLN cả.
Ông Nguyễn Xuân Hoàng - PGĐ Trung tâm KHSXLN cho biết: “Đó là chữ ký của bà Trâm”. Nhưng rồi, ông Hoàng lại phân vân “Có thể không phải là chữ ký của bà Trâm, nhưng chúng tôi yêu cầu là có chữ ký của chính người ủy quyền thì anh Nghi đảm bảo rằng đây chính là chữ ký của bà Trâm. Nếu không phải là chữ ký của bà Trâm thì anh Nghi phải chịu trách nhiệm” - ông Hoàng nói.
Điều tra của PV Lao Động cho thấy, ngày 23.10.2013 ông Tiến đa đưa ra bản hợp đồng liên doanh trồng rừng đã nói ở trên để ký kết biên bản thỏa thuận “Trồng rừng liên doanh và hỗ trợ kinh phí” với hai thôn Khe Van, Hà Bạc (xã Hướng Hiệp, H.Đak Rông) có sự xác nhận của xã - về việc “hỗ trợ kinh phí” 4 triệu đồng/ha đất trồng rừng, trong đó có điều khoản đến cuối năm 2020 mới trả lại đất và thôn phải tạo điều kiện thuận lợi cho trung tâm này trồng rừng. Vì biên bản này, việc sản xuất của 10 hộ dân là chủ sở hửu của gần 200ha đất nói trên đã bị ngăn cản, phản đối của thôn sở tại.
Ông Tiến phân bua rằng, việc này là do “xã đặt vấn đề xin hỗ trợ cho thôn vì khó khăn, nên chúng tôi thống nhất giúp đỡ chứ không liên quan gì đến đất đai”. Anh Lang Thanh Tuấn - Trưởng thôn Hà Bạc thì nói rằng: “4 triệu đồng/ha là trung tâm đề nghị chi trả để thôn bảo vệ rừng trồng”. Còn ông Hồ Văn Hiếu - nguyên Chủ tịch xã Hướng Hiệp, người đã ký vào biên bản thỏa thuận lại nói: “Lúc đó tôi nghĩ Trung tâm KHSXLN đã ký họp đồng với người đuợc ủy quyền của 10 hộ dân, nên khi họ hỗ trợ thêm tiền cho 2 thôn này thì rất mừng. Sơ suất của chúng tôi là không xem kỹ hợp đồng” (?).
Cho dù bản họp đồng đang bị nghi ngờ giả dối nói trên là thật đi nữa thì toàn bộ diện tích đất trên, UBND huyện Đak Rông đã cấp cho 10 hộ dân, thì cớ làm sao thôn và xã lại có quyền ký kết bản thỏa thuận bán đất rừng” cho Trung tấm KHSXLN Bắc Trung Bộ với giá 4 triệu đồng/ha như vậy được? (Lao Động 10/12) đầu trang(
Hằng tuần thường xuyên có 1 - 2 chuyến xe cải tiến cũ kỹ chuyên chở gỗ từ trên núi Nứa xuôi theo QL1 về thị xã Long Khánh (Đồng Nai).
Sự việc đốn cây - chở gỗ trên không những gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, mà còn "bào mòn lá phổi" gây nguy hại môi trường ở một miền quê. (Thanh Niên 10/12) đầu trang(
Chiều 9/12, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh cho biết vừa tạm giữ Giáp Văn Nhượng (1967, ngụ xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh) về hành vi chặt phá rừng.
Theo kết quả điều tra ban đầu, lúc 15h ngày 1/12, các trinh sát đội phòng chống tội phạm ma túy Đồn biên phòng Tà Pét phát hiện Nhượng chặt phá tại Tiểu khu 216 rừng phòng hộ thuộc khu di tích lịch sử Tà Thiết. Tang vật thu giữ gồm 1 cưa máy, 1 xe gắn máy và khoảng hơn 1m3 gỗ tròn.
Đối tượng khai nhận từng bị bắt về hành vi chặt phá rừng cũng tại khu di tích Tà Thiết. (Công An Nhân Dân 10/12) đầu trang(
Ngày 8/12, theo nguồn tin từ Công an huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cho biết, đơn vị này vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Hà Tĩnh bắt giữ một xe ôtô BKS 37C-076.14 chở gỗ có dấu hiệu nghi vấn.
Theo báo cáo sơ bộ, chiếc xe ôtô trên chở khoảng 40m3 gỗ trắc với tổng trị giá lô hàng theo ước lượng khoảng 40 tỷ đồng. Số gỗ này được thông quan tại Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị.
Đại tá Bùi Đình Quang, Phó Giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết: Ban đầu theo giấy tờ thông quan, số gỗ trên xe là gỗ đinh hương, nhưng khi tiến hành kiểm tra số gỗ này cơ quan điều tra xác định thực tế là gỗ trắc.
Công an tỉnh Hà Tĩnh đang tích cực chỉ đạo điều tra làm rõ nguồn gốc số gỗ này, nếu có dấu hiệu vi phạm hình sự sẽ tiến hành xử lý theo pháp luật. (Công An Nhân Dân 10/12) đầu trang(
Ngày 8.12, ông Lê Mạnh Hùng - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang (TP.Đà Nẵng) - xác nhận, 12 phách gỗ (1,6m3) mà 4 người dân thôn Tà Lang (xã Hòa Bắc) mang về nhà, bị lực lượng kiểm lâm lập biên bản tạm giữ những ngày qua là gỗ củi lụt họ vớt được dưới sông.
Trước đó, trên báo chí có thông tin cho rằng, trên địa bàn xuất hiện một số đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tập kết tại đây. (Lao Động 9/12) đầu trang(
Dù trận lũ đã qua gần một tháng, song tại thượng nguồn sông Re ở Quảng Ngãi vẫn còn các bãi gỗ cổ thụ nằm ngổn ngang. Nhiều người đã kiếm được hàng trăm triệu đồng từ vớt gỗ.
Ông Phạm Văn Linh ở thôn Măng Đen cho biết thêm, có 2 người trong làng tìm thấy gốc cây huỳnh đàn cổ thụ bán cho thương lái với giá 350 triệu đồng. 9 người khác trong thôn cũng vớt được mảnh gỗ huỳnh đàn lớn bán được 90 triệu đồng chia nhau.
Ông Đinh Văn Oang, Chủ tịch UBND xã Ba Xa nói: "Nhiều cây trôi về quãng sông ở thôn Mang Rá, người dân mang cưa lốc ra cưa xẻ rồi kéo về nhà bán kiếm tiền. Còn củi thì nhà nào cũng chở về chất đầy sân dùng làm chất đốt". (Vnexpress.net 9/12; An Ninh Thủ Đô 10/12) đầu trang(
Rừng ngập mặn (RNM) phòng hộ ven biển của huyện Tân Thành đang giảm mạnh, từ 5.135ha trước đây, hiện nay chỉ còn 2.379ha (theo số liệu kiểm kê năm 2012), mà nguyên nhân chính là do sự phát triển ồ ạt của các khu sản xuất công nghiệp. Hệ sinh thái RNM giảm gây ra nhiều nguy cơ tác động xấu đến sự phát triển bền vững.
Theo ông Nguyễn Văn Thiềm, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tân Thành, diện tích RNM ở huyện Tân Thành trải dài theo 5 xã và 1 thị trấn của huyện dọc theo bờ sông Thị Vải từ xã Mỹ Xuân về đến xã Tân Hòa. Nhưng đến thời điểm này, RNM tại xã Tân Phước coi như đã bị xóa trắng bởi toàn bộ diện tích rừng tại đây đã được giao cho các nhà đầu tư để phát triển công nghiệp. Bên cạnh đó là việc phá RNM làm đùng nuôi hải sản, hoặc khai thác lâm sản của người dân trong nhiều năm qua. Cụ thể, tính từ đầu năm 2013 đến nay việc vi phạm tại RNM ở huyện Tân Thành xảy ra 17 vụ.
Nói về RNM tại huyện Tân Thành, lão ngư Phạm Quang Thạnh (xã Phước Hòa) đã 33 năm gắn bó với rừng ở đây cho biết: Từ những năm 1980 về trước, nhiều khoảng RNM ở Tân Thành bị khai thác bừa bãi để lấy lâm sản. Năm 1980, ông be bờ và canh tác 30ha mặt nước giữa RNM để nuôi hải sản tự nhiên. Năm 1991, khi nhà nước có chủ trương trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng nghiêm ngặt thì RNM ở Tân Thành mới hồi sinh và phát triển lại trong một thời gian. Thế nhưng, đến lúc ven bờ sông phát triển các KCN, nhà máy mọc lên thì cũng chính là diện tích RNM bị giảm mạnh và kéo theo nguồn nước bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản giảm đáng kể.
Cũng theo ông Thạnh, nơi đây trước có 400 hộ dân sống nhờ nguồn lợi từ RNM (nuôi và bẫy tôm, cá). Nay do diện tích rừng giảm và nguồn nước bị ô nhiễm, nên hiện chỉ còn chưa đến ½ số hộ còn canh tác và tham gia bảo vệ rừng nhưng sản lượng hải sản nuôi trồng cũng giảm mạnh. “Với 30ha mặt nước nuôi hải sản, nhưng gần khoảng 2 tháng nay chúng tôi không hề khai thác được mớ tôm nào ra hồn để mang ra chợ cả. Nếu tình trạng này kéo dài thì vợ chồng tui sẽ bỏ đùng để tìm việc khác”, ông Thạnh than.
Về mặt sinh thái, RNM rất quan trọng trong bảo vệ môi trường như ngăn mặn, hạn chế xói mòn đê chống mặn... Các khu RNM được coi là lá phổi không thể thiếu, bảo đảm cho hệ sinh thái ven biển phát triển. Những khu RNM ven bờ các sông Chà Và, Thị Vải... với nhiều loài động vật, phù du cư trú đã hình thành nên những hàng trăm ha mặt nước vùng đất canh tác ven rừng, đó chính là những giá trị của RNM trên địa bàn huyện Tân Thành đem lại.
“Chính vì những giá trị to lớn về kinh tế và xã hội mà RNM đem lại cho cộng đồng dân cư tại đây, chúng tôi quyết tâm bảo vệ nghiêm ngặt diện tích RNM không nằm trong diện quy hoạch phát triển kinh tế của nhà nước. Coi đây tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho BR-VT, nên dù vất vả và thiếu thốn về phương tiện tuần tra chúng tôi cũng đã quyết bám trụ cũng như phối hợp với nhân dân để bảo vệ lá phổi của tỉnh”, ông Nguyễn Đăng Huyện, Hạt phó Hạt kiểm lâm Tân Thành nói. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 10/12) đầu trang(
Cây dầu cổ thụ mã số 400 trước nhà 684 Trần Hưng Đạo (phường 2, quận 5, TPHCM) đang bị khô héo lá, thân cây có hiện tượng mất sức sống. Cây này có đường kính hơn 1,5m, chiều cao khoảng 30m.
Người dân ở gần đó cho biết, cây mới có hiện tượng khô héo khoảng 1 tháng nay, chưa rõ nguyên nhân. Rất mong ngành công viên - cây xanh nhanh chóng kiểm tra tìm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời. (Sài Gòn Giải Phóng 10/12) đầu trang(
Như tin đã đưa, rừng ở Khu Ramsar Mũi Cà Mau đang bị tàn phá nặng nề. Theo ngành chức năng tỉnh Cà Mau: nguyên nhân là do người dân đốn đước hầm than. Nhưng với số lượng gỗ bị mất lên đến hàng ngàn mét khối, phải chăng chỉ có những người dân hầm than là đang tàn phá rừng?
Nằm ven khu Ramsar Mũi Cà Mau, Ấp Rạch Tàu, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển còn được gọi bằng cái tên “xóm lò”. Hơn 350 hộ nhưng hầu như nhà nào cũng có lò hầm than. Nguyên liệu là những thân đước từ những cánh rừng nguyên sinh gần đó.
Theo Ban Quản lý Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, từ đầu năm đến nay, thống kê sơ bộ ở 3 khu vực trên lâm phần đã có hơn 1.700 mét khối gỗ bị người dân chặt phá. Nhưng theo ông Trần Văn Thục - người dân ở địa phương, phá rừng không chỉ có người dân. Giữa năm 2012, ông từng chứng kiến cảnh lực lượng kiểm lâm thực hiện cái gọi là “tỉa thưa” rừng đước.
Theo chỉ dẫn của ông Thục, PV đến khu rừng mà lực lượng kiểm lâm đã “tỉa thưa”….Thực tế là hầu hết những cây đước lâu năm chỉ còn trơ gốc…Và đây là câu trả lời của lãnh đạo Ban quản lý Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau: "Theo dư luận thì lực lượng kiểm lâm có thông đồng với người ngoài chặt phá cây rừng. Vấn đề này chúng tôi đã nắm được nhưng vấn đề là bằng chứng. Vì vậy mà xin cho phép chúng tôi không trả lời đúng hay sai".
Đầu tháng 11/2013, đoàn thanh tra tỉnh đã kiểm tra thực tế và báo cáo thực trạng phá rừng ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau. Ngoài 1.700 mét khối gỗ bị thiệt hại, đoàn thanh tra còn phát hiện dấu hiệu một số kiểm lâm móc nối với người ngoài chặt khoảng 1.500 cây đước nhiều năm tuổi bán lấy tiền chia nhau. Với cung cách quản lý mà ai cũng có thể phá rừng như hiện nay thì khu Ramsar Mũi Cà Mau chẳng bao lâu sẽ chỉ còn là tên gọi. (VTV Đà Nẵng 9/12) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an TP Hạ Long - Quảng Ninh vừa ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Tô Văn Bắc (SN 1984), trú tại phường Đông Trạo - TP Thanh Hóa về hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm.
Theo đó, vụ buôn lậu được phát hiện vào ngày 3/12, Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an TP Hạ Long đã bất ngờ kiểm tra và phát hiện xe ôtô mang BKS 36L - 8046 tại khu vực trạm thu phí cầu Bãi Cháy.
Tại thời điểm kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên xe vận chuyển 340 cá thể rùa có trọng lượng 191kg. Trong đó, có 68 cá thể rùa hộp núi vàng, rùa hộp lưng đen, rùa núi viền, rùa đất sêphôn, rùa sa nhân, thuộc nhóm 2B, có trọng lượng 72kg.
Sau khi phân loại, các cơ quan chức năng ngỡ ngàng khi số rùa còn lại gồm: 272 cá thể rùa đầu to nặng 119 kg. Đây là loại động vật hoang dã quý hiếm nằm trong sách đỏ có nguy cơ tuyệt chủng. Chủ lô hàng nhanh chóng được xác định là Tô Văn Bắc.
Trước đó, ngày 3/12, từ thông tin một xe ô tô chở động vật hoang dã từ TP Hạ Long về Móng Cái nhằm buôn lậu sang Trung Quốc, lực lượng chức năng đã tiến hành chặn giữ, kiểm tra xe ô tô mang BKS 16H-5388.
Tại thời điểm kiểm tra, trên xe có 124 cá thể tê tê sống với tổng trọng lượng 487 kg được khống chế trong các túi lưới, ngụy trang kín đáo.
Lái xe được xác định là Nguyễn Xuân Linh (SN 1987), trú tại TP Móng Cái. Đối tượng khai nhận lô hàng không có giấy tờ và xuất xứ nguồn gốc rõ ràng. Tổ Công tác đã lập biên bản kiểm tra, bàn giao đối tượng, tang vật và phương tiện vi phạm về trụ sở Hạt Kiểm lâm TP Móng Cái. (Dân Trí 10/12) đầu trang(
Sau những tiếng cưa lốc vang vọng cả một khu rừng, rất nhiều cây nghiến đã nằm xuống, một cánh rừng nghiến bị tàn phá tan hoang. Đó là những gì đang diễn ra tại cánh rừng nghiến Phia Liềng thuộc xã Văn Minh, huyện Na Rỳ mà nhóm phóng viên Đài PT&TH Bắc Kạn vừa ghi nhận được.
Cánh rừng nghiến Phia Liềng chỉ cách thôn Khuổi Liềng, xã Văn Minh khoảng 200m, đây là khu rừng có trữ lượng gỗ nghiến tương đối lớn của huyên Na Rỳ. Sau khi có thông tin về tình hình khai thác gỗ nghiến trái phép đang diễn ra tại khu vực này, những ngày đầu tháng 12 năm 2013, nhóm phóng viên Đài PT&TH Bắc Kạn đã trực tiếp có mặt tại đây. Chỉ mất khoảng 15 phút đi bộ từ tuyến đường liên xã, chúng tôi đã đến được chân núi của khu rừng này. Chỉ mới bước vào bìa rừng, đã có thể bắt gặp những điểm cưa xẻ gỗ nghiến.
Con đường mòn chạy dọc thôn Khuổi Liềng dài khoảng 500m, tuy nhiên theo ghi nhận đã có đến 5 điểm lâm tặc dùng để tập kết gỗ nghiến. Gỗ sau khi được chặt hạ ở trên đỉnh núi được vận chuyển về đây để cưa xẻ thành thanh rồi vận chuyển ra ngoài. Để thấy rõ hơn mức độ tàn phá cây nghiến ở đây như thế nào, nhóm phóng viên đã trực tiếp đi sâu vào trong rừng. Từ chân núi, một loạt đường mòn tỏa đi các hướng đã được các đối tượng thiết kế để vận chuyển gỗ. (Đài PT - TH Bắc Kạn 10/12) đầu trang(
Trong năm 2013, UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm tổ chức 19 đợt tuyên truyền phổ biến pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn với trên 1.000 lượt người tham gia và ký cam kết bảo vệ rừng, an toàn lửa rừng với 326 hộ.
Tuy nhiên, trong năm vẫn xảy ra 35 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 24 vụ so với năm 2012. Đáng chú ý là trên địa bàn huyện xảy ra 4 vụ cháy rừng trồng làm thiệt hại 411 ha.
Trước tình hình đó, huyện xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2014 là đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng và tăng cường tuần tra kiểm soát nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Gia Lai 10/12) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Khu rừng phòng hộ thuộc hai xã Trường Xuân và Nâm N'Jiang, huyện Đăk Song đang bị người dân chặt phá trái phép để chiếm đất. (Nhân Dân 9/12, tr7) đầu trang(
Cho đến thời điểm này, gần 20 ha rừng tái sinh ở bản Huổi Chỏn, xã Ẳng Tở (huyện Mường Ảng - Điện Biên) đã “cơ bản” được phá xong.
Bản Huổi Chỏn với 50 hộ dân, trên 300 nhân khẩu người dân tộc Mông sinh sống. Có tới 42 hộ thuộc diện đói nghèo, Huổi Chỏn được xếp vào những bản nghèo nhất nhì của xã Ẳng Tở do thiếu đất canh tác. Để khắc phục tình trạng này, bản đã được xây dựng dự án chuyển đổi đất rừng nghèo, xây dựng công trình thuỷ lợi dẫn nước về để khai hoang gần 10 ha ruộng.
Trên thực tế thì Ban quản lý dự án huyện đại diện cho chủ đầu tư là UBND huỵện Mường Ảng đã thực hiện mọi thủ tục từ lập quy hoạch, phương án chuyển đổi đất, đấu thầu thanh lý rừng... theo đúng thủ tục. Tuy nhiên, để khai hoang gần 10 ha ruộng nước, người ta đã phải “phá” tới 19,2 ha rừng thuộc nhóm giữa 1c và 2a và hiện tại đã “phá” xong 17 ha rừng. Đến ngày 25/11/2013, 50 hộ dân trong bản đã được chia đất trên thực địa với tổng số diện tích 9,8 ha.
Trưởng bản Hờ A Páo cho biết: diện tích này vốn là khu rừng tái sinh tốt nhất của bản, đã khoanh nuôi trên 20 năm qua. Hiện cả bản mới có 6 ha ruộng nước, nên khi nghe tin có dự án khai hoang ruộng ở đây, dân bản mừng lắm. Ban quản lý dự án đã làm sẵn các thủ tục, có cả đơn xin khai hoang ruộng nước của người dân, dân bản chỉ việc ký thôi.
Thế nhưng, khi thấy doanh nghiệp vào xây dựng công trình thuỷ lợi, nhiều người bảo cái ống nước bé tý thế kia thì làm sao dẫn được nước cho đủ. Rồi lại thấy người ta vào đây phá cả đám rừng lớn thế, dân bản đã thắc mắc là nước tưới được bao nhiêu thì phá bấy nhiêu rừng thôi, sao lại phải phá nhiều rừng thế, phá hết rừng đi thì sau này suối làm gì có nước mà tưới cho ruộng. (VOV Giao thông 9/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Mặc dù số lượng voi châu Phi bị giết đã có chiều hướng giảm nhẹ vào năm ngoái, song tỷ lệ săn trộm voi tại châu lục này vẫn còn ở mức báo động – nhóm bảo tồn thuộc Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) cảnh báo.
Theo dữ liệu Liên Hợp quốc (UN) mới công bố đầu tháng 12, năm 2012, ước tính có khoảng 22.000 cá thể voi châu Phi bị tàn sát bởi tay những kẻ săn trộm, giảm ít nhất 3.000 cá thể so với con số kỷ lục năm 2011 – khoảng 25.000 cá thể.
Trong đó, Trung Phi vẫn là điểm nóng nhất của nạn săn trộm voi với tỷ lệ săn trộm gấp 2 lần mức trung bình của toàn châu lục. Các nhà khoa học cho biết, khu vực này đã mất gần 2/3 số voi chỉ trong vòng 1 thập kỷ qua và hiện cũng chẳng còn bao nhiêu thời gian để cứu vãn tình hình.
Tuy rằng năm ngoái, lượng ngà voi bị thu giữ đã tăng lên, báo hiệu bước tiến mới của công tác thanh kiểm tra, nhưng mặt khác lại hé lộ một thực tế dễ khiến người ta chùn bước là: sự tham gia của các nhóm tội phạm có tổ chức đang ngày một gia tăng.
Theo các nhà phân tích đến từ Mạng lưới Giám sát Buôn bán Động Thực vật Hoang dã (TRAFFIC) thì cứ nơi nào luật pháp được thắt chặt, bọn buôn lậu đều nhanh chóng thay đổi lộ trình để lách luật. Và ngay cả khi các tuyến đường buôn lậu trên toàn cầu đã đổi khác, điểm đến hàng đầu của các loại ngà voi trái phép vẫn là Trung Quốc.
Để ngăn chặn tình trạng này, ông Lamine Sebogo, Quản lý Chương trình Voi Châu Phi của WWF cho rằng phải có sự đồng lòng, nhất trí cao độ của tất cả các quốc gia cũng như các bên liên quan, bởi đây không còn đơn thuần là loại hình tội phạm quốc gia hay khu vực nữa mà đã được thừa nhận là loại hình tội phạm toàn cầu đặc biệt nghiêm trọng. (Thiên Nhiên 7/12) đầu trang(
Cơ quan quản lý CITES Trung Quốc cho biết trong các vụ liên quan đến nhập khẩu và buôn bán ngà voi ở nước này, tám đối tượng buôn bán bất hợp pháp ngà voi đã phải chịu án phạt từ 3 đến 15 năm tù.
Đây là những đối tượng liên quan đến việc nhập khẩu 3,6 tấn ngà voi giai đoạn 2010-2012 bị cơ quan chống buôn lậu của tỉnh An Huy phát hiện.
Các đối tượng này đã mua ngà voi thông qua các giao dịch trên mạng và nhập khẩu vào Trung Quốc dưới dạng các chuyến hàng chở hộp đựng bút lông (viết thư pháp) hoặc các ống dẫn nước thải. Sau đó, ngà voi được bán cho cho người tiêu dùng Trung Quốc thông qua hoạt động buôn bán ảo. Kẻ cầm đầu nhóm tội phạm trên đã bị phạt tù 15 năm và nộp phạt 500.000USD.
Vụ việc trên là một trong những vụ án được đưa ra xét xử ở Trung Quốc. Tại tỉnh Chiết Giang, trong một vụ buôn lậu tương tự, 10 đối tượng đã phải chịu mức phạt từ 6,5 đến 15 năm tù. Đầu năm 2013, ba công dân Trung Quốc đã bị phạt 7 đến 15 năm tù do buôn lậu 7,7 tấn ngà voi từ châu Phi.
Ngày 8-11, tòa án tối cao ở tỉnh Quảng Đông đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với một vụ buôn lậu ngà voi, trong đó hai đối tượng bị phạt tù từ 12 đến 14 năm do buôn lậu 1,04 tấn ngà voi.
Trong khi các án phạt đối với nhập khẩu ngà voi được trông đợi tăng nặng như một phần tất yếu của thực thi CITES tại Trung Quốc thì các hoạt động buôn bán quốc tế đối với ngà voi đang hướng tới mục tiêu là Trung Quốc.
Công dân Trung Quốc nếu bị bắt gặp mua bán ngà voi bên ngoài các khu chợ chính thức theo quy định cũng phải chịu án phạt tù. Đầu tháng 11, một công dân Trung Quốc ở Bắc Kinh đã bị phạt 10 năm tù do đặt hàng một cặp ngà voi và 168 khúc ngà mỹ nghệ ở tỉnh Quảng Đông mặc người này cam đoan rằng chúng nằm trong bộ sưu tập cá nhân.
Việc ngăn chặn, phát hiện và phạt nặng các hoạt động buôn bán bất hợp pháp ngà voi đang được các cơ quan thẩm quyền của Trung Quốc công bố công khai làm tăng thêm hy vọng giảm thiểu nạn buôn bán bất hợp pháp ngà voi vào nước này.
Theo Tòa án tối cao Trung Quốc, gần 700 đối tượng đã bị truy tố trong 10 năm qua với mức phạt cho hành vi xâm hại các loài hoang dã là ba năm. Cơ quan xét xử cũng cho biết các hình phạt đối với tội buôn bán ngà voi cũng chiếm hơn một nửa số vụ được đưa ra xét xử trong những năm gần đây.
Bình luận về việc tăng cường truy tố ở Trung Quốc, ông John Scanlon, Tổng thư ký CITES quốc tế khẳng định: “Các nỗ lực của Trung Quốc trong việc truy tố các tội phạm liên quan đến các loài hoang dã rất đáng hoan nghênh. Các án phạt mà cơ quan xét xử đã tuyên đã gửi đi thông điệp đến những tổ chức, cá nhân liên quan đến buôn bán bất hợp pháp và ngăn chặn những hành vi tiếp theo”.
TS Meng Xianlin, Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Trung Quốc cho biết: “Việc phát hiện, tịch thu và đưa ra xét xử các vụ buôn bán bất hợp pháp ngà voi ở Trung Quốc (bao gồm cả đặc khu hành chính Hồng Công) thể hiện nỗ lực của quốc gia trong đấu tranh chống buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã.
Tuy nhiên, tịch thu chưa phải là điểm kết thúc và chúng ta cùng đem tất cả ra truy tố. Trung Quốc trông đợi hợp tác với các nước xuất xứ, nước trung chuyển và nước tiêu thụ để phòng chống buôn bán bất hợp pháp ngà voi. Chúng ta chỉ phòng chống tội phạm các loài hoang dã hiệu quả khi tất cả cùng hành động và chúng ta cùng thành công”.
Tổng thư ký CITES quốc tế cũng bổ sung: “Lợi nhuận cao đi kèm với buôn bán bất hợp pháp là các nhân tố chính thúc đẩy săn bắt và tiêu thụ ngà voi. Các mối nguy hiểm của việc phát hiện, điều tra và truy tố nhất định tăng lên và cần phải được thể hiện thông qua các án phạt nghiêm khắc. Tình trạng đáng lo ngại của săn bắt voi và buôn bán bất hợp pháp ngà voi phải được giải quyết thông qua việc truy tố và kết án”.
Trung Quốc đang nỗ lực tăng cường các hoạt động thực thi các loài hoang dã, trong đó đặc biệt là các hoạt động thực thi ngà voi. Luật pháp nước này cũng chú trọng các tội phạm liên quan đến các loài hoang dã thể hiện qua quy định của Luật hình sự Trung Quốc đối với các tội phạm về các loài hoang dã được coi là nghiêm khắc nhất thế giới. Trong khi đã bãi bỏ án tử hình đối với tội buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã cách đây hai năm, những hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã trên quốc gia này vẫn phải đối mặt với các án phạt mà mức cao nhất là chung thân. (Nhân Dân 8/12) đầu trang(
Ngày 9/12, Chính phủ Trung Quốc ban hành quy định cấm sử dụng các sản phẩm chế biến từ vi cá mập, tổ yến, động vật hoang dã trong các tiệc chiêu đãi bằng tiền quỹ công.
Theo Xinhua, tài liệu văn bản do văn phòng Ủy ban Trung ương đảng Cộng sản và Quốc vụ viện soạn thảo, ban hành. Quy định chỉ rõ nguyên tắc chi tiêu ngân sách và các loại thực phẩm trong tiệc đón tiếp quan chức chính phủ.
Vây cá mập, tổ yến và thịt thú rừng vốn là nguyên liệu chính trong nhiều bữa ăn sang trọng ở Trung Quốc, nay bị cấm sử dụng. Đây đồng thời là động thái bảo vệ các loài thú quý hiếm khỏi việc bị giết hại tràn lan.
Quy định chỉ cho phép chính quyền địa phương tổ chức nhiều nhất một bữa tiệc chiêu đãi nếu cần thiết mỗi khi đón khách. Các quan chức đến thăm địa phương phải tự lo vấn đề ăn uống của mình, với mức chi phí hợp lý.
Thuốc lá và các loại rượu đắt tiền cũng bị cấm phục vụ. Tiệc chiêu đãi không được phép tổ chức tại các câu lạc bộ, những nơi cao cấp, các địa điểm tham quan du lịch hay trung tâm vui chơi giải trí. Chi phí tiếp đãi không bao gồm hoạt động giải trí cá nhân. Các quan chức chưa đến cấp tỉnh không được ở phòng hạng sang. Chính quyền địa phương bị cấm tặng quà bằng tiền mặt hay đặc sản địa phương.
Nhiều nguyên tắc về lễ chào mừng đại biểu, các phương tiện được sử dụng, việc công khai chi phí cũng được chỉ rõ. Cơ quan kỷ luật và giám sát có nhiệm vụ tăng cường kiểm tra, xử phạt nếu có sai phạm.
Ngoài mục đích bảo tồn động vật, đây còn là động thái thúc đẩy tính tiết kiệm, chống lãng phí, đẩy lùi tham nhũng trong Đảng và chính quyền Trung Quốc. Quy định sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính quốc gia hoặc tổ chức do nhà nước bảo trợ. (Vnexpress.net 10/12) đầu trang(
Nhóm 115 quốc gia thuộc Cơ chế liên chính phủ về đa dạng sinh học và dịch vụ môi trường sinh thái (IPBES) nhóm họp tại Thổ Nhĩ Kỳ từ 9-14/12 nhằm tìm kiếm giải pháp phục hồi và tăng cường những hoạt động canh tác truyền thống của các cư dân bản xứ, với mục đích góp phần bảo vệ sự đa dạng của các loài động, thực vật hoang dã.
Các chuyên gia tham dự hội nghị cho rằng, một số hình thức canh tác cổ đại, như nuôi cá trong các vùng trồng lúa nước ở Trung Quốc hoặc cách kiểm soát đám cháy của các thổ dân Australia có thể làm tái sinh một số loại cây và giúp làm chậm quá trình tuyệt chủng của những loại động vật, thực vật khác.
Sử dụng những hình thức canh tác truyền thống được xem là cách để hạn chế "làn sóng" tuyệt chủng, được Liên hợp quốc cảnh báo là tồi tệ nhất kể từ khi loài khủng long bị tuyệt diệt 65 triệu năm về trước.
Nguyên nhân của làn sóng tuyệt chủng này bắt nguồn từ sự gia tăng dân số quá lớn, phá vỡ môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Đồng chủ tịch IPBES Zakri Abdul Hamid cho rằng những kiến thức bản xứ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những mất mát của đa dạng sinh học cũng như giúp bảo tồn đa dạng sinh học.
Ý tưởng chính được xem xét tại hội nghị là so sánh các hoạt động canh tác trên thế giới và xem liệu một hình thức của nước này có thể áp dụng ở nước khác hay không.
Ví dụ, việc nuôi cá trong các vựa lúa nước ở miền Nam Trung Quốc (đã được áp dụng từ 1200 năm qua) và một số nước châu Á khác được cho là sẽ làm giảm những loài gây hại, trong khi hầu hết các khu trồng lúa hiện đại đều không nuôi cá.
Báo cáo của IPBES cũng cho thấy, cách làm này giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc trừ sâu tới 68% và các loại hóa chất khác là 24%, nếu so với việc chỉ trồng lúa.
Ở một số nước như Australia, Nhật Bản, Indonesia và Venezuela, việc đốt các khoảnh đất nhỏ ở các vùng thôn quê lại có thể tạo ra một vành đai phòng lửa giúp ngăn ngừa sự lan rộng của các đám cháy vào mùa khô.
Những đám cháy nhỏ đồng nghĩa với việc các loài hoang dã có thể thoát ra khỏi vùng nguy hiểm dễ dàng hơn (so với đám cháy lớn) và giảm nguy cơ bị tuyệt chủng.
Tại Australia, hình thức này còn đem lại cho các thổ dân những khoản "tín dụng carbon" (thuật ngữ chỉ lượng khí thải carbon có thể trao đổi chuyển nhượng) nhờ làm chậm lại quá trình phá rừng, nguyên nhân chính dẫn tới 1/5 lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người tạo ra.
Tháng 6/2013, Liên đoàn nông nghiệp thổ dân Australia đã bán được 25.000 tấn tín dụng carbon cho tập đoàn Chevron với giá 18,20 USD /tấn.
Sam Johnston, một chuyên gia người Australia từ Viện nghiên cứu cấp cao thuộc Đại học Liên hợp quốc, cho rằng thị trường khí thải carbon có thể áp dụng ở bất kỳ đâu, nhất là tại một số vùng có điều kiện phù hợp như ở châu Phi và Mỹ Latinh.
Một số hình thức canh tác đáng chú ý khác được thảo luận tại hội nghị là việc đào hố trên các triền đồi ở Tanzania để hứng nước vào mùa mưa giúp ngăn xói mòn đất, các hoạt động quan sát thời tiết của người Eskimo ở Bắc Cực để bổ sung cho dữ liệu vệ tinh về tình trạng băng tan.
Ngoài ra, hội nghị cũng thảo luận về việc nhiều cộng đồng dân cư ở đảo Thái Bình Dương bảo vệ nguồn cá quanh các rặng san hô bằng cách tuyên bố một số vùng đó là khu vực linh thiêng để tránh tình trạng đánh bắt.
Một loạt nỗ lực khác nhằm làm chậm quá trình tuyệt chủng của các loài động, thực vật cũng đang được thực hiện, bao gồm việc xây dựng nhiều khu vực bảo tồn hoặc tăng cường các luật về bảo vệ đời sống hoang dã. (VietnamPlus.vn 10/12) đầu trang(
Các nhà khoa học Mỹ đang nỗ lực tìm hiểu nguyên nhân khiến hàng chục cá voi hoa tiêu chết ở gần bờ biển bang Florida.
Hôm 8-12 (giờ địa phương), thêm 11 con cá voi hoa tiêu được phát hiện chết ở khu vực Florida Keys, đưa tổng số cá chết lên 22 con.
Các quan chức Cơ quan khí tượng và đại dương quốc gia (NOAA) tin số cá này là thành viên của đàn cá voi gồm 51 con bị mắc cạn ở khu vực bờ biển công viên quốc gia Everglades.
“22 con cá chết và 29 con đang mất tích. Theo những gì chúng tôi biết về các vụ cá voi hoa tiêu mắc cạn quy mô lớn đã từng xảy ra, khả năng tìm thấy số cá voi còn lại là rất ảm đạm”, NOAA nói trong một thông cáo.
Theo CNN, lần cuối cùng bầy cá voi được phát hiện còn sống là hôm 6-12. Sau đó, khoảng 20 con cá voi được nhìn thấy ở ngoài khơi 5 hải lý và đang bơi về hướng nam. Các nhân chứng kể họ thấy chúng bơi rất chậm và thiếu tổ chức, gợi ra khả năng chúng đã bị kiệt sức, mất nước hoặc thiếu ăn.
Các nhà khoa học cho biết, dự ngày 9-12, họ sẽ lấy mẫu của 11 cá voi chết hôm 8-12 để tìm hiểu nguyên nhân khiến chúng chết.
Theo đạo luật bảo vệ động vật có vú ở biển của Mỹ, cá voi hoa tiêu nằm trong nhóm được bảo vệ nhưng không thuộc nhóm có nguy cơ tuyệt chủng. (Tuổi Trẻ 9/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||