|
Ngày 09 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Từ 1/11, các cơ quan chức năng huyện Mường Chà đã phối hợp với các đơn vị tư vấn, UBND các xã, thị trấn tiến hành rà soát, kiểm tra, đo đạc và đánh giá trạng thái, trữ lượng toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn huyện để bàn giao cho các cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ làm cơ sở chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Đến nay, có 2 xã: Sá Tổng, Ma Thì Hồ và thị trấn Mường Chà đã cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng đến từng cộng đồng dân cư.
Ông Nguyễn Tuấn Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà cho biết: Huyện đang đẩy nhanh tiến độ và hoàn thiện hồ sơ gửi Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Điện Biên để người dân được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trước Tết Nguyên đán 2014.
Được biết, toàn bộ diện tích rừng của huyện Mường Chà đều nằm trong lưu vực sông Đà và được chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Điện Biên 7/12) đầu trang(
Thị xã Mường Lay là địa phương được lựa chọn thực hiện thí điểm công tác giao đất, giao rừng để thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/NĐ - CP của Thủ tướng. Với những nỗ lực trong quá trình triển khai thực hiện, đến nay, công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn đã từng bước giúp người dân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
Ông Vũ Xuân Linh, Phó Chủ tịch UBND TX. Mường Lay cho biết: Chính sách chi trả phí dịch vụ môi trường rừng được coi là bước đột phá trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị phòng hộ của rừng mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập cho người làm nghề rừng.
Thời gian qua, thị xã đã phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên hoàn thiện các điều kiện để chi trả gần 2 tỷ đồng cho người dân. Do chủ yếu sống bằng nghề nông - lâm nghiệp nên việc được nhận tiền phí chi trả dịch vụ môi trường rừng là động lực để người dân thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Với sự giúp đỡ của Sở NN&PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, đến nay TX. Mường Lay đã hoàn thành việc giao 5.304ha rừng tại 2 phường Sông Đà, Na Lay và xã Lay Nưa. Tại phường Sông Đà, hơn 1.408ha rừng đã được giao cho 16 chủ sử dụng cộng đồng (gồm 143 hộ) và 9 nhóm (gồm 56 hộ). Trong đó, chủ yếu là rừng phòng hộ trạng thái IIa, IIb; rừng sản xuất trạng thái IIa với tổng trữ lượng 28.488m3.
Tương tự, tại xã Lay Nưa, 2.739ha rừng (tổng trữ lượng 64.375m3) đã được giao cho 16 chủ sử dụng rừng là cộng đồng dân cư các bản. Toàn xã đã có 1.150 hộ, tại các bản: Hô Nậm Cản, Huổi Luông, Bắc 1, Bắc 2, Ho Cang, Ho Luông 1, Ho Luông 2, Ho Luông 3, Huổi Luân, Tạo Sen, Na Ka, bản Lé, bản Ló, bản Mé, bản ổ và bản Mo được nhận rừng khoanh nuôi, bảo vệ.
Ông Nguyễn Quốc Phúc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TX. Mường Lay cho biết: Đời sống của một bộ phận người dân gặp khó khăn; trách nhiệm của chính quyền cơ sở về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế. Trong khi đó, trên địa bàn thị xã chưa có nguồn vốn đầu tư cho phát triển lâm nghiệp.
Định mức tiền công hỗ trợ và các chi phí khác trong việc huy động chữa cháy rừng thấp, chưa khích lệ được người dân tham gia chữa cháy rừng. Vì thế, sau khi được giao rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/NĐ – CP của Chính phủ, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng có nhiều thuận lợi và nhận được sự đồng thuận từ phía người dân. Bà con tích cực khoanh nuôi, bảo vệ rừng.
Nhờ đó mà năm 2013 độ che phủ rừng của thị xã Mường Lay được nâng lên 47,12%; hạn chế thấp nhất tình trạng rừng bị xâm hại và không để xảy ra cháy rừng. Hạt Kiểm lâm thị xã đang tích cực phối hợp với đơn vị liên quan và chính quyền địa phương hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu diện tích rừng đã giao, làm cơ sở để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả nốt 30% tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012 – 2013 cho người dân. (Báo Điện Biên 7/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, ngành Kiểm lâm (KL) tỉnh Bình Định đã phối hợp với lực lượng KL tỉnh Gia Lai tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ diện tích rừng giáp ranh (RGR) giữa tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai. Nhờ vậy đã hạn chế được tình trạng chặt phá rừng; mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép ở các khu vực RGR.
Tỉnh Bình Định có nhiều diện tích RGR với huyện K’Bang, Kông Chro và thị xã An Khê của tỉnh Gia Lai. Diện tích RGR giữa các địa phương 2 tỉnh khá lớn, đường giao thông cách trở, nên công tác quản lý, bảo vệ rừng (QL-BVR) gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác QL-BVR ở khu vực này. Lâm tặc đã lợi dụng những điểm yếu đó để khai thác, vận chuyển lâm sản, động vật rừng (ĐVR) trái phép để trục lợi.
Nhằm từng bước lập lại kỷ cương trong công tác QL-BVR, Chi cục KL tỉnh đã cùng với Chi cục KL tỉnh Gia Lai tiến hành họp bàn, xác định vùng trọng điểm, phối hợp xây dựng kế hoạch, đồng thời chỉ đạo Hạt KL các huyện, thị xã của 2 tỉnh có RGR phân công cán bộ quản lý địa bàn, tham mưu cho chính quyền các cấp thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; ký kết chương trình phối hợp tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ RGR...
Mục đích của việc phối hợp QL-BVR tại vùng RGR nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với công tác QL-BVR và quản lý lâm sản có hiệu quả, không để xảy ra điểm nóng về lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác rừng, đốt than, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; phối hợp và tạo điều kiện về thông tin, điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV-PTR), chống người thi hành công vụ.
Từ năm 2010 đến nay, chế độ thông tin, trao đổi và phối hợp trong công tác QL-BVR tại vùng RGR giữa các địa phương của tỉnh Bình Định và các tỉnh lân cận đã có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật đã được lực lượng KL ở vùng RGR phối hợp chặt chẽ với các tổ chức hội-đoàn thể tại địa phương thực hiện bằng nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực.
Công tác phối hợp, kiểm tra, truy quét tại các vùng RGR được tổ chức thường xuyên. Trong đó Hạt KL huyện Vĩnh Thạnh phối hợp với Hạt KL thị xã An Khê tổ chức 92 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu vực RGR giữa xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Thuận, Vĩnh Quang, Vĩnh Hảo với khu vực rừng bảo tồn KonChưRăng thuộc xã Sơn Lang và các xã Cửu An, Tú An, Xuân An của thị xã An Khê, đã phát hiện, xử lý 111 vụ vi phạm Luật BV-PTR.
Đáng chú ý, qua công tác phối hợp kiểm tra, chính quyền và ngành KL huyện Vĩnh Thạnh cùng với chính quyền và ngành KL thị xã An Khê đã xác định được 116 hộ dân lấn chiếm hơn 198 ha đất lâm nghiệp của Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn và có nhiều cột mốc địa giới hành chính giữa huyện Vĩnh Thạnh và thị xã An Khê bị hư hỏng và bị mất. Chính quyền và ngành KL các địa phương đã báo cáo thực trạng nói trên cho cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý.
Hạt KL huyện Vân Canh và Hạt KL huyện Krông Chro, Hạt KL huyện Tây Sơn và Hạt KL thị xã An Khê cũng đã phối hợp tổ chức nhiều đợt truy quét, ngăn chặn các đối tượng lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép; vận động người dân ký cam kết bảo vệ rừng. Nhờ đó, đã hạn chế được tình trạng đốt than, khai thác, vận chuyển lâm sản và ĐVR trái phép tại các khu vực RGR giữa các địa phương.
Thực tế cho thấy, tình hình QL-BVR ở các khu vực RGR Bình Định-Gia Lai đã có những chuyển biến tích cực, nhưng theo đánh giá của ngành KL 2 tỉnh, tài nguyên rừng ở khu vực này vẫn còn bị xâm phạm. Nguyên nhân là do đời sống sản xuất của người dân sống gần rừng gặp nhiều khó khăn, thiếu việc làm, nên đã vào rừng khai thác lâm sản, ĐVR trái phép.
Hơn nữa, chính quyền một số địa phương còn buông lỏng công tác QL-BVR; sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với lực lượng KL, Công an trong công tác này chưa chặt chẽ nên không ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật BV-PTR. Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp, làm rẫy ngoài vùng quy hoạch còn xảy ra ở nhiều địa phương, một số chủ rừng chưa chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, nên rất dễ xảy ra cháy rừng. Bởi vậy, cần thiết phải tăng cường hơn nữa các biện pháp QL-BVR ở các khu RGR giữa các tỉnh.
Ông Nguyễn Hiếu Hòa- Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, Chi cục trưởng Chi cục KL tỉnh cho biết: Chúng tôi tiếp tục chỉ đạo các Hạt KL quản lý RGR phối hợp với Hạt KL tỉnh bạn ký kết quy chế phối hợp công tác, tăng cường các biện pháp QL-BVR. Trong đó, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của Nhà nước về công tác QL-BVR sâu rộng trong nhân dân. Các Hạt KL đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của KL địa bàn vùng RGR, tạo điều kiện cho lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc bảo vệ rừng của các chủ rừng nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của chủ rừng được Nhà nước giao rừng để QL-BVR. Mặt khác, huy động lực lượng đủ mạnh để tổ chức tuần tra, truy quét những tụ điểm khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ và ĐVR trái phép, xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Bên cạnh sự nỗ lực của lực lượng KL, chính quyền các địa phương cũng cần nâng cao trách nhiệm về quản lý nhà nước trên lĩnh vực QL-BVR... (Báo Bình Định 6/12) đầu trang(
Sáng 6-12, nhiều học sinh tham dự tiết dạy mẫu “Tích hợp nội dung bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) vào môn sinh học lớp 7” tại Trường THCS Trương Công Định (quận Bình Thạnh, TP.HCM) đã tỏ ra rất thích thú với cách học mới này.
Đây là chương trình do Tổ chức Bảo vệ ĐVHD WAR phối hợp với Phòng GD&ĐT quận Bình Thạnh tổ chức thực hiện thí điểm ở khối lớp 7 tại quận Bình Thạnh.
Ngoài dạy theo giáo trình hiện hành, trong các tiết sinh học, giáo viên sẽ hướng dẫn cho học sinh xem các bộ tài liệu bằng hình ảnh và clip ngắn (khoảng 3-5 phút) về các loài ĐVHD quý hiếm tại Việt Nam cũng như các mối đe dọa đối với chúng…
Theo bà Nguyễn Thị Việt Tú, Phó phòng GD&ĐT quận Bình Thạnh, với những hình ảnh trực quan sinh động về thế giới ĐVHD học sinh sẽ thích thú hơn với môn sinh học. Qua đó, các em sẽ có thêm kiến thức, ý thức về bảo vệ ĐVHD. (Pháp Luật TPHCM 7/12; Tài Nguyên&Môi Trường 7/12) đầu trang(
Mặc dù gặp nhiều khó khăn về kinh phí và công tác quản lý, song các ngành và địa phương của tỉnh Phú Yên vẫn tích cực thực hiện tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng, với mục tiêu đến cuối năm 2013 hoàn thành chỉ tiêu nâng độ che phủ rừng lên 37%.
Theo Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên, mặc dù đề án giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng đã được UBND tỉnh phê duyệt từ tháng 2/2012, nhưng đến nay không có vốn để thực hiện; hiện các Ban quản lý bảo vệ rừng đang gặp khó khăn về kinh phí đóng mốc ranh giới sau khi được Nhà nước giao đất; lực lượng quản lý bảo vệ rừng chuyên trách mỏng, không đủ nhân lực kiểm soát các vùng rừng xa giáp ranh với các tỉnh lân cận; thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích đối với diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân xảy ra phổ biến nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để.
Mặt khác, hiện danh mục dự án và kế hoạch vốn đầu tư phát triển rừng của tỉnh chưa được điều chỉnh nên việc triển khai thực hiện kế hoạch và giải ngân vốn gặp nhiều khó khăn; nguồn vốn sự nghiệp kinh tế năm 2013 hỗ trợ Trung ương quá thấp, không đủ để triển khai kế hoạch quản lý bảo vệ rừng hàng năm, làm phá vỡ các hợp đồng giao khoán với các hộ gia đình tham gia.
Trong khi đó, nguồn ngân sách tỉnh bổ sung không có; vốn Trung ương đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, đặc dụng hiện chỉ có 15 triệu đồng/ha, không đủ để trồng và chăm sóc 1ha rừng trong điều kiện đơn giá thị trường cao, khu vực trồng rừng nằm ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn. Sở NN-PTNT đã xây dựng dự toán suất đầu tư trồng rừng trình UBND tỉnh xem xét, bổ sung vốn từ các nguồn thu từ khai thác rừng trồng, vốn đền bù do chuyển mục đích sử dụng rừng nhưng đến nay chưa được phê duyệt.
Cũng theo Chi cục Lâm nghiệp, đến tháng 10/2013, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh thu tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) mới chỉ được hơn 1,9 tỉ đồng; trong đó Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam chuyển về quỹ tỉnh từ nguồn thu ủy thác của Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ hơn 1,1 tỉ đồng (năm 2011: 568.904.000 đồng, năm 2012: 457.167.000 đồng, quý I và quý II/2013: 93.929.000 đồng). Ngoài ra, đến nay Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thu ủy thác từ Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Phú Yên hơn 791 triệu đồng.
Trong khi đó, đến tháng 9/2013, tiền nhận ủy thác từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam trên các Nhà máy thủy điện Sông Hinh và Krông H’Năng chưa chuyển về quỹ tỉnh; kế hoạch thu, chi trả tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh năm 2013 được Sở NN-PTNT trình UBND tỉnh từ tháng 8/2013 nhưng đến nay chưa phê duyệt; Dự án “Xác định phạm vi, ranh giới, diện tích, hiện trạng, thống kê, phân loại đối tượng tham gia cung ứng và chi trả DVMTR” chưa hoàn thành…, dẫn đến chính sách chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng có diện tích rừng cung ứng DVMTR chưa được chi trả, làm cho cho công tác điều hành của quỹ thực hiện chính sách chi trả DVMTR gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và phát triển rừng chung của tỉnh.
Toàn tỉnh Phú Yên có 11 vườn ươm cố định, tổng diện tích 11,5 ha, mỗi vườn có công suất khoảng 8 triệu cây giống/năm. Ngoài ra, còn có 15 vườn ươm tạm thời quy mô nhỏ ở các vườn hộ gia đình. Đến cuối tháng 11, các vườn ươm gieo được hơn 7 triệu cây giống, đạt trên 70% kế hoạch năm 2013 (8 triệu cây trồng rừng tập trung và 2 triệu cây trồng phân tán).
Hiện các địa phương đã trồng được 3.706/4.975ha, đạt 75% kế hoạch; trong đó rừng phòng hộ 179, rừng đặc dụng 220, rừng sản xuất 3.307ha. Năm 2013, không khai thác rừng tự nhiên do Bộ NN-PTNT không giao chỉ tiêu, mà chỉ khai thác rừng trồng được 21.800m3, đạt 80% kế hoạch. Huyện Sơn Hòa là một trong những địa phương trồng rừng hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu cao so với dự kiến. Đến nay huyện này đã trồng mới được 1.414ha rừng tập trung, đạt gần 200% kế hoạch, tăng 114,57% so cùng kỳ năm 2012. Trong đó, rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước 403ha, bằng vốn các doanh nghiệp 1.011ha và trồng 300.000 cây phân tán các loại (150ha).
Ông Đào Duy Linh, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Sơn Hòa cho biết, năm 2013, UBND huyện ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành liên quan và chính quyền địa phương tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững, từng bước nâng cao chất lượng, độ che phủ của rừng, cải thiện môi trường sinh thái..., với mục tiêu cuối năm nâng độ che phủ rừng lên 36,7% diện tích tự nhiên.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, hiện Sở NN-PTNT Phú Yên đang tích cực đôn đốc các ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ trồng rừng kịp thời vụ, nhất là các đơn vị hiện tại chưa hoàn tất khối lượng trồng rừng; gấp rút thẩm định, phê duyệt các hồ sơ lâm sinh trong tháng 12 này. Đồng thời lên kế hoạch kiểm tra các chủ đầu tư thực hiện trồng, chăm sóc rừng năm 2013; đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án để chủ đầu tư có cơ sở thanh toán khối lượng hợp đồng với nhà thầu thi công và hộ gia đình nhận khoán trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh lập đề cương, dự toán kinh phí triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng đề án thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường trên địa bàn xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh để làm mẫu, nhân rộng đến các địa phương khác... (Dangcongsan.vn 7/12) đầu trang(
Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô hanh, Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn đã tổ chức được 11 hội nghị tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng và PCCCR tại 11 xã, khu vực có nguy cơ cao về cháy rừng, với trên 650 lượt người tham dự.
Tại các hội nghị, bà con nhân dân đã được nghe tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển vốn rừng; Quyết định số 147 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển vốn rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015; một số văn bản chỉ đạo của các bộ, ngành Trung ương và Quyết định của UBND tỉnh về tăng cường quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Các hội nghị cũng đã giành nhiều thời gian để các đại biểu trao đổi, thảo luận về công tác bảo vệ và phát triển rừng. Qua đây nhằm giúp người dân hiểu rõ lợi ích của rừng đối với cuộc sống con người và những tác hại do cháy rừng gây ra, góp phần nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, trách nhiệm của chính quyền trong công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR.
Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn tiếp tục thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng tại các khu vực trọng điểm có khả năng cháy rừng cao, tăng cường cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn tham mưu với cấp uỷ, chính quyền xây dựng hoàn chỉnh phương án PCCCR tại địa phương với phương châm 4 tại chỗ; đồng thời đẩy mạnh công tác tuần tra, tuyên tuyền vận động người dân sẵn sàng ứng phó bằng các biện pháp tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra, ngăn chặn kịp thời các vụ việc vi phạm lâm luật. (Đài PT - TH Tuyên Quang 7/12) đầu trang(
Cách đây vài năm, việc chặt phá rừng đước, đào đất tu sửa bờ đùng ven rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Tân Thành thường xuyên diễn ra. Thế nhưng, từ 2 năm trở lại đây, khi ngành chức năng, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm huyện Tân Thành tăng cường tuần tra, kiểm soát, thì những vụ vi phạm rừng giảm đáng kể.
Huyện Tân Thành có gần 2.750 ha diện tích rừng ngập mặn trải dài trên các xã Tân Hòa, Phước Hòa, Tân Phước và Tân Hải. Nhiều năm, Tân Thành từng được xem là điểm nóng về các vụ vi phạm rừng ngập mặn, bởi bao quanh diện tích rừng ngập mặn có rất nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng.
Tình trạng đào đất ven rừng để tu sửa bờ đùng thường xuyên diễn ra. Không ít đối tượng không có nghề nghiệp đã lén lút chặt phá cây rừng bán cho các chủ lò than để kiếm sống. Trong khi đó, với địa hình sông, rạch chằng chịt, việc đi lại của lực lượng kiểm lâm phụ thuộc vào con nước thủy triều; công cụ hỗ trợ cho công tác tuần tra, kiểm soát quá thiếu thốn, nên công tác bảo vệ, ngăn chặn tình trạng phá rừng rất hạn chế.
Để bảo vệ rừng ngập mặn một cách hiệu quả, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Thành phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ, Trạm quản lý bảo vệ rừng ngập mặn và các hộ nhận khoán rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên toàn lâm phần quản lí. Các Trạm Kiểm lâm cũng tăng cường bố trí lực lượng bám sát địa bàn, nhất là các điểm nóng có diện tích rừng thường xuyên bị chặt phá; tăng cường tuyên truyền, vận động người dân cùng nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Trước năm 2010, trung bình mỗi năm, lực lượng kiểm lâm huyện Tân Thành phát hiện, bắt giữ hơn 60 vụ vi phạm đối với rừng ngập mặn, nhưng từ sau thời điểm năm 2010, số vụ vi phạm giảm hơn một nửa. Từ đầu năm đến nay, chỉ có 17 vụ việc xử lý liên quan đến rừng, chủ yếu là đào bới, lấy đất tu sữa bờ đùng. Đây là dấu hiệu tích cực trong quản lý bảo vệ rừng ngập mặn trên địa bàn huyện Tân Thành.
Bảo vệ rừng ngập mặn được các cấp chính quyền, đặc biệt lực chức năng xác định là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục tiêu chung: phát triển kinh tế - xã hội bền vững, vì vậy, lực lượng kiểm lâm huyện Tân Thành luôn nâng cao vai trò trách nhiệm, ý thức trong việc bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ ven biển. (Đài PT - TH Bà Rịa - Vũng Tàu 7/12) đầu trang(
Ông Đỗ Cường Minh, Chi cục phó điều hành Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Yên Bái cho biết, cháy rừng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, nhất là vào mùa khô hanh như hiện nay. Đặc biệt, ở các huyện, thị vùng cao Yên Bái như Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ... có khí hậu khô hanh và thường xuyên gió Lào thổi nên càng dễ xảy ra cháy rừng hơn. Vì vậy, việc phòng cháy chữa cháy rừng được tỉnh Yên Bái đặc biệt quan tâm.
Ban Chỉ đạo Kế hoạch và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái đã yêu cầu các huyện, thị trực thuộc tỉnh tập trung triển khai nhiều giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng; trong đó, đặc biệt coi trọng phương châm "4 tại chỗ”. Tỉnh tập trung toàn bộ phương tiện và nhân lực cho các huyện phía Tây, nơi chiếm 1/3 diện tích rừng của Yên Bái và là nơi có nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo Kế hoạch và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái yêu cầu Ban Chỉ đạo Kế hoạch và Phát triển rừng các huyện, thị thường trực 24/24 giờ trong ngày; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và theo dõi sát sao diễn biến của thời tiết để cảnh báo kịp thời về nguy cơ cháy rừng cho các đơn vị, tổ chức và toàn thể nhân dân....
Lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội chủ động phối hợp với lực lượng xung kích phòng cháy chữa cháy rừng củng cố kiện toàn các tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở, tăng cường công tác kiểm tra, xử lý kịp thời và nghiêm minh các vụ vi phạm về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng...
Riêng đối với 2 huyện vùng cao là Trạm Tấu và Mù Cang Chải, các lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng phối hợp tăng cường đến các trọng điểm cháy rừng; trong đó, Kiểm lâm Yên Bái đã tăng cường hàng chục cán bộ về cơ sở, Bộ Chỉ huy quân sự và Công an tỉnh bố trí tăng cường lực lượng khi cần thiết.
Ban chỉ huy các cấp duy trì thường trực phòng cháy chữa cháy rừng ba cấp và ở các công ty lâm nghiệp, các chủ rừng, ban quản lý rừng phòng hộ - đặc dụng; tiếp tục dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong toàn tỉnh theo chỉ số khô hạn và sẵn sàng triển khai các phương án, biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng như cử cán bộ thay đổi nhau để theo dõi tại các chòi canh phát hiện cháy rừng, lập đường băng cản lửa tại các nơi xung yếu... nhằm hạn chế tới mức thấp nhất số vụ cháy và diện tích rừng thiệt hại trong những tháng cao điểm hanh khô.
Khác với các năm trước, năm nay công tác tuyên truyền có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức trên quan điểm “Tuyên truyền dễ hiểu, quản lý đốt nương rẫy, nêu cao trách nhiệm chủ rừng”, đồng thời việc quy hoạch và quản lý diện tích nương rẫy, việc đốt nương của người dân được Yên Bái chú trọng làm chặt chẽ hơn. Lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng cương quyết chỉ cho người dân sản xuất nương rẫy trên diện tích đã quy hoạch và phát dọn thực bì phải “dọn sống”, không đốt để cháy lan. Đối với các chủ rừng phải chịu trách nhiệm diện tích rừng đang sở hữu, được giao trách nhiệm quản lý...
Hiện tỉnh Yên Bái có gần 410.000 ha rừng; trong đó, đất rừng tự nhiên hơn 231.563 ha, đất rừng trồng gần 174.670 ha. Hàng năm vào mùa khô, nguy cơ cháy rừng ở Yên Bái rất cao. Có năm Yên Bái bị cháy hàng trăm ha rừng; trong đó, có cả rừng tự nhiên, chè vè lau lách. Riêng vụ Đông Xuân năm 2012-2013, do làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng nên Yên Bái chỉ xảy ra một vụ cháy gần 5 ha rừng trồng phòng hộ. (Dangcongsan.vn 6/12) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 7-12, nhiều khu vực đã không có mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Trong đó tỉnh Ðiện Biên được cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Các khu vực sau ở cấp IV, cấp nguy hiểm: Khu vực Tuần Giáo, Ðiện Biên (Ðiện Biên); khu vực Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An); khu vực Mường La, Quỳnh Nhai, thị xã Sơn La, Thuận Châu (Sơn La); khu vực Lục Yên, TP Yên Bái, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình (Yên Bái).
Ban Chỉ đạo T.Ư PCCR yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 7/12) đầu trang(
Ngày 5/12, thị xã Mường Lay tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng - quản lý bảo vệ rừng đông xuân năm 2012- 2013.
Xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, thời gian qua, UBND thị xã Mường Lay đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm phối hợp chặt chẽ các cơ quan chuyên môn, đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương phát huy vai trò, trách nhiệm, phấn đấu huy động lực lượng tập trung cao trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ban chỉ đạo thị xã đã chỉ đạo 3 xã, phường có rừng và các chủ rừng lớn xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng; củng cố, kiện toàn 49/49 tổ xung kích PCCCR tại các tổ, bản trọng điểm; đồng thời xây dựng cam kết tới các chủ hộ gia đình chăn thả gia súc và làm nương bãi ven rừng không đốt đồng cỏ, đốt nương gây cháy rừng. Ban chỉ đạo thị xã cũng đã mở nhiều hội nghị tuyên truyền, tập huấn PCCCR trên địa bàn cho học sinh, cán bộ các cơ quan, đơn vị…Do đó, từ đầu năm đến nay toàn thị xã không xảy ra vụ cháy rừng nào.
Nhân dịp này, UBND thị xã đã tặng Giấy khen cho 1 tập thể và 1 cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác PCCCR đông xuân năm 2012- 2013. Đại diện 3 xã, phường trên địa bàn thị xã đã tiến hành ký cam kết phòng cháy chữa cháy rừng đông xuân năm 2013- 2014. (Báo Điện Biên 7/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 6-12, tại Hà Nội đã diễn ra lễ Tổng kết dự án Bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng tại Việt Nam do Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp tổ chức.
Sự kiện này đánh dấu thành công của dự án sau 3 năm cải thiện những điều kiện về nhân lực, tổ chức, kỹ thuật, tài chính và pháp lý để bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng tại Việt Nam. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án sẽ trở thành nền tảng quan trọng cho Chương trình hợp tác mới của GIZ, dự kiến khởi động vào tháng 1-2014.
Chương trình mới của GIZ sẽ phát huy những kinh nghiệm rút ra từ dự án trước đồng thời mở rộng trọng tâm hướng tới bảo tồn và sử dụng bền vững các dịch vụ đa dạng sinh học và hệ sinh thái của tất cả các loại rừng ở Việt Nam. (Quân Đội Nhân Dân 8/12) đầu trang(
Hội thảo “Tham vấn xây dựng chiến lược truyền thông giảm tiêu thụ động vật hoang dã” sẽ diễn ra vào ngày 12/12/2013 tới tại Hà Nội. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ triển khai dự án “Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam” (WLC) do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ thông qua Ngân hàng Thế giới, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học tổ chức.
Dự án WLC đã xây dựng một chiến lược truyền thông giảm tiêu thụ trái phép các loài động vật hoang dã. Hội thảo sẽ do Phó Tổng cục trưởng kiêm Giám đốc dự án, ông Nguyễn Thế Đồng chủ trì. Các nội dung được Hội thảo đề cập như: Các chiến lược truyền thông giảm tiêu thụ động vật hoang dã; Mô hình truyền thông với khối doanh nghiệp và cán bộ cấp cao; cũng như triển khai lấy ý kiến góp ý hoàn thiện chiến lược, đề xuất hợp tác...
Trước khi diễn ra Hội thảo, nhân Ngày Tình nguyện thế giới 5/12 hàng năm, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCSHCM) tổ chức các hoạt động diễn ra từ 8 giờ - 16 giờ 30 ngày 7/12/2013 tại Công viên Thống nhất, Hà Nội nhằm tăng cường vai trò và sự tham gia của các tình nguyện viên trong công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm. Với sự tham gia của gần 10.000 tình nguyện viên, nhiều gian hàng và hoạt động thú vị như:
Ký cam kết trở thành tình nguyện viên bảo vệ động vật hoang dã: Các bạn tình nguyện sẽ chọn hình các con vật muốn bảo vệ và điền thông tin cá nhân, thông điệp bảo vệ và dán lên cây thông điệp; Chiếu phim truyền thông nâng cao nhận thức về bảo vệ, bảo tồn các loài động vật hoang dã và ngăn chặn buôn bán, tiêu thụ trái phép; Phân phát các tài liệu truyền thông nâng cao nhận thức về bảo tồn các loài động vật hoang dã, ngăn chặn buôn bán và tiêu thụ trái phép…
Các tình nguyện viên ký cam kết sau hoạt động cũng chính là các hạt nhân tình nguyện của Trung ương Đoàn và Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, để tập huấn và phát triển thành những tình nguyện viên tích cực, nhằm tuyên truyền bảo vệ các loài động vật hoang dã đến tầng lớp thanh niên và cộng đồng nói chung.
Đây là một trong chuỗi các hoạt động phối hợp giữa Trung ương Đoàn TNCSHCM và Cục Bảo tồn đa dạng sinh học trong khuôn khổ Dự án WLC do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ thông qua Ngân hàng Thế giới nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức của lực lượng thanh niên và biến họ trở thành một lực lượng tiên phong trong công tác tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã tới các đối tượng khác. (Thanh Tra 7/12) đầu trang(
Ngày 6/12, Hạt Kiểm lâm A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, đã tiến hành thả 2 cá thể khỉ mặt đỏ và cầy vòi hương về môi trường tự nhiên ở Khu bảo tồn Sao La.
Trước đó, ngày 3/12, trong lúc tuần tra, Trạm kiểm lâm Hồng Hạ đã phát hiện và bắt giữ xe ô tô do lái xe Nguyễn Văn Linh (trú tại thị trấn A Lưới) điều khiển khi đi qua địa bàn xã Hồng Hạ. Trên xe chở hai cá thể cầy vòi hương (nặng 2,5kg) và khỉ mặt đỏ (nặng 7kg) còn sống, trong đó, cá thể khỉ mặt đỏ là động vật thuộc nhóm IIB, gồm các loài bị đe dọa và quý hiếm.
Trước đó, Hạt kiểm lâm A Lưới cũng phối hợp cùng lực lượng kiểm lâm ở Khu Bảo tồn Sao La, đồn biên phòng Hương Nguyên tiến hành bắt giữ hai cá thể mang, tổng trọng lượng 49kg (đã chết) do một đối tượng vận chuyển trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua địa phận Khu bảo tồn Sao La. Hạt kiểm lâm A Lưới đã tiến hành tiêu hủy tang vật và xử phạt 5 triệu đồng. (Phụ Nữ TPHCM 7/12; Dân Trí 7/12) đầu trang(
Ngày 6-12, ông Lê Xuân Lâm, quản lý Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TP.HCM), cho biết vừa thả 35 cá thể động vật hoang dã về Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát (Tây Ninh).
Số động vật trên bao gồm 24 con rắn hổ mang chúa, sáu con rùa, hai con cò lạo Ấn Độ, một con cầy giông và một con mèo rừng. Trong số động vật trên có nhiều loài thuộc nhóm 1B, rất quý hiếm.
Số rắn hổ mang chúa được thả lần này là tang vật trong vụ kiểm lâm TP.HCM bắt quả tang Phùng Việt Cường (quê Vĩnh Phúc) vận chuyển số rắn trên ở khu vực phường An Phú Đông, quận 12 vào ngày 11-11 vừa qua. Sau đó số động vật này được bàn giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi chăm sóc. Số động vật hoang dã còn lại là do trung tâm đã tiếp nhận và cứu hộ trước đó. (Pháp Luật TPHCM 7/12) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT Bình Định, thực hiện Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững (gọi tắt là Dự án KfW6) do Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ vốn, từ năm 2006 đến nay, toàn tỉnh đã tiến hành trồng mới gần 2.814 ha rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh 6.317 ha rừng.
Bên cạnh đó, từ nguồn vốn hỗ trợ của dự án, các địa phương trong tỉnh đã thực hiện 4 mô hình quản lý rừng cộng đồng với diện tích gần 2.573 ha trên địa bàn huyện Hoài Nhơn và Tây Sơn. (Báo Bình Định 7/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tỉnh Phú Yên đã trồng được 3.420 ha rừng, đạt 90% kế hoạch đề ra. Trong đó, chủ yếu là rừng sản xuất chiếm đến 3.100 ha; còn lại là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Cùng với việc trồng rừng, năm nay tỉnh tiếp tục thực hiện đóng cửa rừng, chỉ khai thác rừng sản xuất với sản lượng 39 nghìn m3, tăng 47% so với năm ngoái; trong đó sản lượng gỗ dùng làm nguyên liệu giấy chiếm hơn 80%. (Nhân Dân 8/12; Tin Tức 9/12) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk đã chuyển đổi hơn 1.696 ha rừng; trong đó có hơn 1.085 ha rừng đặc dụng và 611 ha rừng sản xuất để các doanh nghiệp đầu tư xây dựng 17 dự án thủy điện vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, các công trình thủy điện này chưa có kế hoạch trồng lại rừng, cũng không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo quy định của Chính phủ. (Nhân Dân 8/12) đầu trang(
Trong Chương trình trồng rừng nguyên liệu giấy của tỉnh, Chi nhánh Ngân hàng phát triển Nghệ An đang quản lý 2 dự án với tổng mức đầu tư gần 60 tỷ đồng, số vốn đã giải ngân đến 30/11/2013 là 20 tỷ đồng, dư nợ 8 tỷ đồng, không có nợ gốc và lãi quá hạn.
Tính đến 30/9/2013 dự án trồng rừng nguyên liệu giấy của tỉnh Nghệ An triển khai trên địa bàn 6 huyện: Thanh Chương, Tân Kỳ, Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu và Yên Thành với diện tích rừng khoảng 6.000 ha, đã hoàn thành thiết kế và phê duyệt được 3.026 ha.
Dự án đã thành lập được 61 nhóm nông dân trồng rừng gồm trên 1.850 hộ thành viên tham gia. Bên cạnh những mặt thuận lợi triển khai dự án thì vẫn còn 1 số tồn tại, đó là: một số huyện chưa chủ động xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động; công tác rà soát diện tích trồng rừng, sổ đỏ, bổ sung quy hoạch ở một số địa phương chưa sát với thực tế nên khi triển khai không đạt kế hoạch.
Năm 2014, Nghệ An tiếp tục triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, phấn đấu hoàn thành 1.160 ha trên địa bàn 6 huyện trên, chuẩn bị tốt về cây giống để phục vụ cho công tác trồng rừng vụ xuân 2014; tiếp tục đo đạc, giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho các hộ tham gia dự án. (Hiệp Hội Ngân hàng VN 8/12) đầu trang(
Năm 2013, thực hiện Đề án phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán, trên địa bàn tỉnh đã xuống giống 17.371 cây giống các loại.
Trong đó, cây Dầu các loại: 11.165 cây; cây Sao các loại: 5.336 cây và Xà cừ các loại: 870 cây được phân bổ cho 105 tổ chức, 23 hộ gia đình trên 10 huyện, thị xã đủ điều kiện nhận cây giống. (Sở NN&PTNT Bình Phươc 7/12) đầu trang(
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển vừa ký ban hành quyết định thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai, bảo vệ và phát triển rừng đối với các nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Đoàn Thanh tra do ông Phạm Văn Tỉnh, Trưởng phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường làm Trưởng đoàn.
Đoàn có nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện pháp luật đất đai, bảo vệ và phát triển rừng đối với nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh Kon Tum; thanh tra việc thực hiện giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, không có đất trên địa bàn tỉnh.
Danh sách các đối tượng được thanh tra do Đoàn Thanh tra quyết định sau khi làm việc với địa phương. Thời điểm thanh tra từ ngày 1/7/2004 đến nay. (Thanh Tra 7/12) đầu trang(
Kiên trì theo đuổi niềm đam mê, ông Cao Thanh Long (số 9, đường 11, khu phố 4, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP HCM) đã thành công trong việc thuần hóa, bảo tồn động vật hoang dã
Trước khi đến với nghề thuần hóa động vật hoang dã, ông Long từng làm nhiều nghề khác nhau nhưng không thành công. Năm 2006, khi lên thăm người thân ở tỉnh Bình Dương, ấn tượng với dáng vẻ bề ngoài của gà rừng nên ông mua một cặp về nuôi thử. Càng nuôi, ông Long càng mê bởi gà rừng dễ nuôi, lại ít bệnh.
Một suy nghĩ chợt lóe lên trong đầu ông Long: “Tại sao không gầy đàn gà rừng bằng việc ấp đẻ tự nhiên?”. Không chút kiến thức nên ông Long tự mày mò, học hỏi kỹ thuật chăm sóc, ép đẻ. Nỗ lực ấy cuối cùng cũng được tưởng thưởng khi từ cặp gà giống đầu tiên, chỉ sau 1 năm, đàn gà phát triển nhanh chóng với hơn 400 con. Khi có người hỏi mua về nuôi và bán được giá, ông Long mạnh dạn đầu tư kinh phí lập trang trại.
Từ năm 2007 đến nay, gà rừng đã trở thành thương hiệu của Trang trại Thanh Long. Nhiều khách hàng từ Bình Phước tìm xuống mua với số lượng 100-200 con nên có thời điểm trang trại không đủ gà để giao cho khách. Chịu khó lấy công làm lời, biết chắt chiu cơ hội và chiều khách nên chẳng mấy chốc tiếng tăm trang trại càng vang xa. Từ thành công bước đầu ấy, ông Long tự tin “lấn sân” nuôi chồn hương, dúi, nhím, cheo cheo, gà Đông Tảo, le le…
Hiện Trang trại Thanh Long nuôi khá nhiều loài động vật hoang dã nhưng nhiều nhất là dúi với khoảng vài trăm con. Dúi là một trong số động vật hoang dã được ông Long thuần hóa thành công nhất. “Dúi dễ nuôi, ít rủi ro, trong khi chi phí đầu tư chuồng trại, con giống, thức ăn thấp. Nguồn thức ăn của dúi rất dễ kiếm, chủ yếu là tre, các loại cỏ củ, thân cây cỏ voi... Việc chăm sóc dúi mất ít thời gian nên người nuôi có thể kết hợp làm nhiều công việc khác” - ông Long chia sẻ kinh nghiệm.
Kiên trì đeo đuổi đam mê và không lùi bước trước khó khăn là bí quyết thành công của ông Long. Sáng kiến thiết kế chuồng nuôi dúi thương phẩm thể hiện ý chí và đam mê ấy. Bỏ công quan sát tập tính sinh hoạt của loài dúi, ông Long đã thiết kế mỗi ô chuồng rộng khoảng 2 m2 trở lên, xây tường cao 70 cm, bên trong tô xi măng hoặc ốp gạch, nền bê tông hoặc lát gạch.
Trong chuồng, ông Long cho đặt các ống cống nhỏ hoặc nhiều gốc cây để dúi trú ẩn, tránh không cắn nhau. Ưu điểm khác của loại chuồng này là người nuôi có thể dễ dàng tách dúi cái mang thai trước khi cho sinh sản. Sáng kiến trên cùng với việc dày công nghiên cứu chế độ dinh dưỡng hợp lý đã giúp dúi sinh sản tốt. Dúi con sau 6 tháng thả nuôi, mỗi con đạt trọng lượng từ 1,2-1,5 kg, có thể bắt đầu cho giao phối.
Khi giao phối thành công, khoảng 50 ngày sau, dúi con ra đời. Mỗi năm dúi sinh sản khoảng 4 lứa, mỗi lứa từ 3-5 con. Mỗi con non từ khi sinh ra đến 2-3 tháng là có thể đem bán làm con giống. Hiện dúi giống có giá từ 1-1,5 triệu đồng/cặp với mỗi con có trọng lượng từ 500 g đến 1 kg. Dúi thương phẩm sau 5-6 tháng có trọng lượng trên 1,5 kg và có giá bán trên 500.000 đồng/kg.
Luôn hướng đến sự hoàn thiện là tính cách ở ông chủ trang trại này. Ngoài lập website (http://trangtraithanhlong.com) để khuếch trương uy tín trang trại, ông Long còn từng bước chuẩn hóa quy trình nuôi động vật hoang dã một cách khoa học, trong đó có việc hoàn tất thủ tục đăng ký với Chi cục Kiểm lâm TP HCM.
Với sự đầu tư nghiêm túc ấy, chất lượng con giống của Trang trại Thanh Long luôn được đánh giá cao. Ngoài các hộ nuôi cá thể, Trang trại Thanh Long còn có lượng khách ổn định từ những dự án nghiên cứu của các trường đại học, Sở Khoa học và Công nghệ, các khu du lịch sinh thái đến các chủ trang trại. (Người Lao Động 7/12) đầu trang(
Voi Bản Đôn không chỉ là biểu tượng của núi rừng Tây Nguyên, mà với họ voi giống như người bạn hoặc cao hơn là thần thánh. Thế nhưng, ở cái nôi săn bắt, thuần dưỡng và cung ứng voi ở nước ta hiện nay còn lại được mấy con?
Bản Đôn thuộc xã Krông Na (Buôn Đôn, Đăk Lăk) ngày nay trở thành một trong những buôn làng du lịch nổi tiếng nhất nhì Tây Nguyên. Một buôn nhỏ mà có quá nhiều huyền thoại đã tôn Bản Đôn thành vùng đất thánh theo đúng quan niệm của người dân tộc M'nông và Ê đê.
Không khó để điểm qua một thời vang bóng những huyền thoại Tây Nguyên ở Bản Đôn. Đầu tiên phải kể đến tù trưởng Y Thu Knul - người từng được mệnh danh là vua voi Tây Nguyên và cũng là người khai phá sáng lập ra Bản Đôn. Y Thu Knul cũng là người đầu tiên của Tây Nguyên làm nghề săn voi. Do các tư liệu không chính xác nên nhiều người nhầm tưởng ông Ama Kông là vua voi. Thực tế, Ama Kông là nghệ nhân săn voi giỏi nhất Tây Nguyên, đồng thời ông là cháu rể của vua voi Y Thu Knul.
Vua voi Y Thu Knul cũng là người duy nhất của Tây Nguyên săn được voi trắng. Theo luật tục, chỉ có các bậc đế vương mới được sử dụng voi trắng nên Y Thu Knul đã tặng con voi này cho quốc vương Xiêm La và được phong tặng danh hiệu Khun Ju Nôp - nghĩa là vua săn voi. Theo danh hiệu này, ai gặp Y Thu Knul cũng phải chắp tay vái chào.
Huyền thoại Tây Nguyên Y Thu Knul qua đời năm 1938. Bao nhiêu tinh hoa ông truyền lại hết cho Ama Kông, và một lần nữa "trường ca săn voi" Ama Kông tiếp tục mở sang trang mới trên đất Tây Nguyên. Cuối năm 2012, ông Ama Kông qua đời, Tây Nguyên coi như gấp lại trang sách đầy hào sảng về một thời đã qua, vĩnh viễn không bao giờ lặp lại.
Gắn liền với bài hát chú voi con ở Bản Đôn, ngay từ khi Bản Đôn được khai phá thời Y Thu Knul thì đây đã là nơi săn bắt, thuần dưỡng và cung ứng voi cho cả nước. Những chú voi con được sinh ra ở Bản Đôn không phải là ít. Thế nhưng, hiện nay Bản Đôn không còn một chú voi con nào được sinh ra.
Một cán bộ xã Krông Na cho biết: "Loài voi không bao giờ giao phối ở nơi có bóng dáng con người. Hơn nữa, do tập tục của đồng bào Tây Nguyên nên sự giao kèo về giá cả giữa các hộ có voi đực và voi cái cũng không được thực hiện".
Còn một lý do nữa khiến voi Bản Đôn không thể sinh sản là diện tích rừng bị thu hẹp một cách đáng báo động. Voi không còn chốn tự do để sinh sống theo bản năng hoang dã, chúng phải phục vụ cho dịch vụ du lịch nên không có thời gian... giao phối. Đây có vẻ như một lý do vô lý nhưng lại là thực tế buồn ở Bản Đôn.
Vị cán bộ xã Krông Na than thở, cứ như đà phát triển như hiện giờ thì chẳng mấy chốc nữa Bản Đôn sẽ không còn bóng dáng của voi. Bản Đôn mà không có voi thì coi như không còn là huyền thoại, là đất thánh của Tây Nguyên nữa.
Trao đổi với phóng viên, chính quyền xã Krông Na cho biết còn tổng thảy 23 con voi. Trong đó, có 5 con voi đực và 18 con voi cái. Nhưng buồn thay, trước ngày chúng tôi có mặt ở Bản Đôn thì một con voi đã chết. Dân làng không chôn voi theo luật tục mà đem nấu cao bán kiếm tiền.
Vị cán bộ xã Krông Na (xin được giấu tên) cho hay, những năm 1985 khi bộ phim "Tọa độ chết" được khởi quay ở nghĩa địa Bản Đôn thì lúc này số lượng voi còn 54 con. Thời điểm đó, các nghệ nhân săn voi vẫn tiếp tục thuần dưỡng được số lượng đáng kể. Nhưng dần dà, người Bản Đôn bán voi kiếm tiền, số voi còn lại thì chết già hoặc chết bệnh. Một số ít ỏi còn lại cho đến bây giờ nhưng nguy cơ voi Bản Đôn tuyệt chủng là không nhỏ.
Trong khi mùa khô Tây Nguyên kéo dài 6 tháng ròng rã, rừng Khộp rụng trơ cành, lớp thực bì hoặc là bị đốt hoặc là bị thu vén làm phân hữu cơ. Những con suối cạn khô và thức ăn cho voi trở nên khan hiếm. Vào mùa này voi hoặc chết hoặc gầy giơ xương vì với cái cùm ở chân, voi phải nhích từng bước nặng nhọc nên rất khó kiếm đủ thức ăn.
Ông Y Nhi Rya, hậu duệ đời thứ 5 của của vua voi Y Thu Knul cho biết: "Vì quan niệm sở hữu lông đuôi voi sẽ đem lại bình an và may mắn lan rộng ra ngoài nên ai cũng muốn có lông đuôi voi. Khách du lịch đến Bản Đôn cũng cố kiếm cho mình một vài cái. Vì thế, những người hám tiền đã chẳng ngại ngùng "đè" voi ra mà vặt lông đuôi đem bán".
Cũng theo ông Y Nhi Rya, người Tây Nguyên xưa rất coi trọng voi. Voi với họ như người bạn thân thiết hoặc thần thánh. Luật tục đối xử với voi cũng phải được tôn trọng, mỗi lần lấy lông đuôi voi thì gia chủ đều phải giết lợn cúng tạ lỗi xin phép voi. Thế nhưng, thời nay một số người cứ vô tư vặt lông đuôi voi đem bán. Có những con voi không còn một sợi lông đuôi nào. Khi lông đuôi voi không còn, người ta thay thế bằng lông của một loài nào đó.
Ngẫm ra, cái quan niệm dùng lông đuôi voi làm "bùa" may mắn của người Tây Nguyên không hề kỳ quái. Nhưng người ngoài a dua học theo quan niệm ấy của người bản địa đã vô tình tiếp tay cho hành động quái đản là vặt sạch lông đuôi voi mà nhẽ ra, chúng ta cần phải bảo vệ nghiêm ngặt.
Hiện thời, Bản Đôn còn 22 con voi, một vài con trong số ấy phải ì ạch làm dịch vụ du lịch như công nhân. Số ít ỏi khác được thả vào rừng tìm kiếm thức ăn. Số còn lại được người sở hữu chăm sóc cẩn thận để nhăm nhe bán kiếm tiền với lý do nuôi voi quá khó.
Một câu hỏi đặt ra, bao giờ voi Bản Đôn tuyệt chủng? 5 năm, 10 năm hoặc có thể chỉ mai kia thôi. Câu hỏi này không khó để có đáp án nhưng, chắc rằng không ai dám nghe câu trả lời thực sự. Vì đằng nào thì viễn cảnh cho voi Tây Nguyên cũng không hề xán lạn. (Kienthuc.net.vn 8/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp chế biến lâm sản của huyện Ba Chẽ khởi sắc, đạt được kết quả cao. Tính đến nay, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn đã đạt cao hơn gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2012, trong đó công nghiệp chế biến lâm sản chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Theo đánh giá của UBND huyện Ba Chẽ, các cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản lớn nhỏ trên địa bàn đều duy trì được sự ổn định, không có cơ sở rơi vào tình trạng bị phá sản, giải thể; tính đến hết tháng 11 vừa qua, giá trị sản xuất chế biến lâm sản toàn huyện tăng nhanh, đạt cao so với cùng kỳ. Cụ thể so với cùng kỳ 2012, gỗ xẻ tăng 50%; giấy xuất khẩu tăng 80%; keo băm đạt trên 11.000 tấn. Tổng giá trị của 3 loại sản phẩm này ước đạt gần 50 tỷ đồng, bằng 80% giá trị sản xuất công nghiệp toàn huyện.
Ông Lê Minh Hải, Chủ tịch UBND huyện khẳng định: Kết quả sản xuất công nghiệp chế biến lâm sản của huyện đến thời điểm này đã đạt con số rất đáng phấn khởi. Riêng sản phẩm keo băm, mặc dù mới đưa vào sản xuất song sản lượng và giá trị đều đạt khá, mức độ sản xuất ngay từ đầu đã đạt công suất thiết kế tối đa, đem lại doanh thu trên 10 tỷ đồng cho doanh nghiệp và nhiều việc làm cho người lao động...
Nét mới của công nghiệp chế biến lâm sản năm nay của Ba Chẽ là việc Công ty TNHH Lâm nghiệp Ba Chẽ chính thức sản xuất keo băm. Nhờ đó đã tăng mức tiêu thụ gỗ keo trên địa bàn, tiết kiệm chi phí vận chuyển cũng như tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp cho các hộ trồng keo.
Anh Nguyễn Văn Thắng, một chủ rừng ở thôn Cái Gian, xã Nam Sơn cho biết: Trước đây sản phẩm gỗ keo của chúng tôi đều phải vận chuyển ra Tiên Yên để bán nên phát sinh thêm nhiều chi phí, còn nếu bán tại rừng thì luôn bị ép giá nên số thực thu thấp. Nhưng từ đầu năm đến nay, khi Công ty TNHH Lâm nghiệp Ba Chẽ thu mua sản phẩm thì chúng tôi bớt hẳn những chi phí này, nhất là chi phí vận chuyển, thậm chí các cơ sở ngoài Tiên Yên do cần hàng nên còn thu mua với giá cao hơn, từ đó người trồng rừng chúng tôi cũng được lợi hơn.
Ngoài ra, từ đầu năm đến nay hoạt động sản xuất giấy xuất khẩu của Xí nghiệp giấy Ba Chẽ (thuộc Công ty CP Thương mại Hạ Long) thuận lợi về đầu ra nên đơn vị này tăng công suất sản xuất. Hiện Xí nghiệp đang là đầu mối thu mua hầu hết các lâm sản phụ như tre, dóc với giá cả hợp lý cho bà con.
Công ty CP gỗ Thanh Lâm, đơn vị doanh nghiệp mới vào đầu tư tại cụm công nghiệp Nam Sơn cũng đẩy mạnh tiến độ, bước đầu đi vào sản xuất. Riêng sản phẩm gỗ xẻ, gặp nhiều khó khăn do thị trường tiêu thụ giảm, đặc biệt là các sản phẩm gỗ nguyên liệu làm đồ nội thất, tuy nhiên, nhờ sự chủ động của các cơ sở sản xuất nên hoạt động này vẫn được duy trì ổn định và phát triển.
Để đạt được kết quả trên, trước hết huyện Ba Chẽ có sự hỗ trợ rất tích cực về cơ chế chính sách liên quan đến mặt bằng, thuế, tiếp cận vốn vay ưu đãi cho các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản. Thực tế trong năm nhiều đơn vị đã được vay vốn với lãi suất ưu đãi; hưởng hỗ trợ từ các chương trình khuyến công. Tiêu biểu như hộ kinh doanh sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Lý Văn Mười (thị trấn Ba Chẽ) được hỗ trợ mua máy móc sản xuất với trị giá gần 60 triệu đồng...
Cụm công nghiệp Nam Sơn cũng đang được khẩn trương xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư. Hiện công tác hỗ trợ và tái định cư cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án cụm công nghiệp Nam Sơn đã khá hoàn thiện với tổng giá trị trên 18,5 tỷ đồng, trong đó riêng công tác tái định cư liên quan đến dự án Công ty CP gỗ Thanh Lâm chiếm 6 tỷ đồng. Được biết đến thời điểm này, Công ty CP gỗ Thanh Lâm đã chi trả trên 4 tỷ đồng, tạo điều kiện về chỗ ở với diện tích 400m2/hộ cho 10 gia đình bị ảnh hưởng. (Báo Quảng Ninh 7/12) đầu trang(
Với diện tích xưởng mộc chỉ vỏn vẹn 20m2, mỗi năm gia đình ông Đỗ Đình Hồng, thôn Bái Nội, xã Liệp Tuyết (Quốc Oai, Hà Nội) thu 100-150 triệu đồng.
Ở Liệp Tuyết ngoài làm ruộng, vài năm trở lại đây nghề mộc trở thành “cần câu cơm” của nhiều gia đình trong xã. Thấy nghề cho thu nhập khá, ông Hồng đến các xưởng mộc học nghề và về gia đình mở xưởng.
“Năm 2009, sau khi học nghề thành thạo, với 30 triệu đồn vốn tự có cộng 80 triệu đồng vay Ngân hàng Nông nghiệp, tôi mở xưởng làm đồ nội thất”- ông Hồng nhớ lại.
Theo ông Hồng, làm đồ gỗ nội thất quan trọng nhất là thị trường đầu ra và tay nghề kỹ thuật, giải quyết được 2 vấn đề đó sẽ “giành phần thắng về tay”. Còn nguyên liệu từ gỗ xoan và keo thì ông không lo thiếu vì đã có các xưởng xẻ trong xã cung cấp.
Ban đầu chưa có nhiều khách hàng, ông chỉ sản xuất với số lượng ít, đi rao bán cho bà con trong xã và các xã lân cận. Một thời gian, tay nghề tinh xảo, các mặt hàng của xưởng ông sản xuất nhận được ngày càng nhiều đơn đặt hàng từ khắp nơi trong thành phố. “Các sản phẩm xưởng sản xuất phần lớn do tôi tự thiết kế mẫu mã nên luôn có nét riêng, đó là lý do vì sao khách hàng ưa chuộng”-ông Hồng lý giải.
Hiện, mỗi tháng xưởng của ông làm 30 - 35 bộ bàn, ghế, bán với giá 2,6 triệu đồng/bộ. Xưởng của ông còn đào tạo nghề và tạo việc làm cho 5-7 lao động địa phương. Mỗi ngày được trả công từ 90.000- 150.000 đồng. Sau 3 tháng học nghề, học viên có thể làm được các sản phẩm bàn, ghế đòi hỏi kỹ thuật.
Chia sẻ bí quyết thành công, ông Hồng bảo: “Để có những sản phẩm đẹp trước hết phải đam mê nghề, không ngừng tìm tòi, học hỏi nắm vững kỹ thuật mới, tạo ra những mẫu mã đa dạng, tinh tế thì những sản phẩm gỗ đơn điệu sẽ trở nên có hồn cốt”. (Nông Thôn Ngày Nay 9/12) đầu trang(
Phá rừng được xem là một trong những nguyên nhân chính "góp phần" làm tình trạng lũ lụt diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Ở nhiều khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, những vạt rừng xanh đầu nguồn bị tàn phá, đất lâm nghiệp bị xẻ thịt không thương tiếc khiến người dân đã, đang hứng chịu hậu quả. Đáng nói hơn, những dự án thủy điện được cho là mang lại quyền lợi về kinh tế nhưng lại đang trực tiếp phá rừng.
Hàng trăm, hàng nghìn khúc gỗ quý có đường kính từ 50 đến 70cm, thậm chí gần 100cm trôi dạt trên các dòng sông mỗi đợt lũ lụt lớn cho thấy rừng đầu nguồn đang bị xâm hại, "lâm tặc" đang hoành hành. Trong khi đó, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng ở nhiều nơi, thậm chí một số người có trách nhiệm còn "tiếp tay" cho sai phạm, làm cho tình trạng phá rừng càng thêm trầm trọng.
Câu chuyện quản lý, bảo vệ "lá phổi xanh" đã, đang và sẽ có nhiều vấn đề phải suy ngẫm, trong đó đáng báo động nhất là rừng bị tàn phá bởi chính bàn tay con người. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, Việt Nam hiện có khoảng 13,1 triệu hécta rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm chủ yếu, với hơn 10 triệu hécta. Tuy nhiên, điều đáng buồn là trong tổng diện tích rừng tự nhiên có đến hơn một nửa là rừng nghèo, rừng được tái sinh, những cánh rừng được coi là quý giá như rừng nguyên sinh, rừng già lại chỉ chiếm chưa đầy 10%.
Chỉ tính riêng từ đầu năm 2013 đến nay, diện tích rừng bị tàn phá đã lên đến 1.700ha (số vụ vi phạm giảm tới gần 70% so với cùng kỳ), trong đó do hành vi phá rừng hơn 700ha, còn lại do cháy. Đáng nói, con số này chỉ là những thống kê của lực lượng kiểm lâm, thực tế tình trạng phá rừng diễn ra phức tạp hơn nhiều.
Phá rừng là một trong những nguyên nhân gây ra nạn ô nhiễm môi sinh, hiện tượng trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản; gây ra bão lụt, lũ quét, lở đất... Rừng bị tàn phá có nhiều nguyên nhân và ở nhiều dạng khác nhau. Trong đó hành vi "công khai" phá rừng làm thủy điện đang được dư luận cho rằng là một trong những lý do chính.
Các thống kê cho thấy, để sản xuất ra 1MW điện phải đánh đổi từ 6 đến 10ha rừng và có thể cao hơn, tùy từng vùng miền. Trong khi đó theo các quy định, các chủ dự án thủy điện phải trồng rừng bồi hoàn, thì nhiều dự án tại miền Trung đến nay chỉ mới trồng rừng bồi hoàn kiểu qua loa chiếu lệ, đạt 5-10%. Nguy hại nhất là đã có những dự án thủy điện ở khu vực miền Trung chỉ mượn cớ làm thủy điện để hợp pháp phá những cánh rừng nguyên sinh, trong khi điện thì chưa thấy đâu!
Rừng vẫn đang bị tàn phá, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng, môi trường sống bị ô nhiễm nhưng việc quy rõ trách nhiệm do ai gây nên thì vẫn chưa rõ. Câu chuyện quản lý, bảo vệ rừng vẫn tiếp tục nóng bỏng hơn bao giờ hết khi mà các giải pháp đã, đang triển khai trên thực tế chưa phát huy hiệu quả. Gần đây, nhiều biện pháp quyết liệt đã được thực thi như dừng triển khai hàng trăm dự án thủy điện vừa và nhỏ; các cơ chế, chính sách mới được ban hành, trong đó hướng tới việc đề cao vai trò của cộng đồng trong giữ rừng.
Theo luật định, trách nhiệm bảo vệ, quản lý rừng đã được giao cho nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, rừng bị tàn phá lại chưa thấy "bóng dáng ai" nhận trách nhiệm theo cách công khai.
Ông Lê Quang Tiến, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đưa ra một thực tế ở những khu rừng sản xuất, người dân được giao quyền trồng rừng, tự quản lý và khai thác nên rất dễ xảy ra cháy rừng, lực lượng kiểm lâm khó kiểm soát được. Cạnh đó, một số địa phương, chính quyền cấp xã nhận thức chưa đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, coi đó là nhiệm vụ của Hạt Kiểm lâm nên lơ là công tác tuyên truyền, để người dân tự do vào rừng chặt phá, đốt ong lấy mật.
Tại hội nghị về công tác quản lý và bảo vệ rừng do Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Thế Dũng - một trong những địa phương có diện tích rừng lớn nhất cả nước, đã chỉ ra thực tế chưa có sự thống nhất cao giữa các bộ, ngành liên quan trong quản lý, bảo vệ rừng. "Nếu không có những cách làm mới thì diện tích rừng sẽ tiếp tục bị tàn phá là khó tránh khỏi" - ông Dũng cảnh báo.
Một bước đi quyết liệt khác là tại kỳ họp Quốc hội thứ sáu, khóa XIII, các đại biểu Quốc hội đã ấn nút thông qua Nghị quyết về Tăng cường quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện.
Nghị quyết nêu ra thực trạng: "Rừng, đất rừng được chuyển đổi mục đích phục vụ công trình thủy điện chưa được quản lý chặt chẽ, có nơi còn hiện tượng lợi dụng khai quang rừng với quy mô lớn hơn so với yêu cầu, khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép. Diện tích rừng trồng thay thế tại các công trình thủy điện rất thấp...". Trên cơ sở này, Quốc hội đã quyết định đưa ra khỏi quy hoạch 424 dự án, tạm dừng có thời hạn 136 dự án, không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng, tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án khác.
Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, vấn đề đổi mới công tác bảo vệ, quản lý rừng của các nông lâm trường đã nhiều lần thảo luận nhưng kết quả chưa đáng kể, hoạt động vẫn kém hiệu quả. Theo ông Võ, một trong những giải pháp ưu tiên để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng là thu hồi một phần diện tích rừng tự nhiên từ lâm trường để giao lại cho cộng đồng, nhóm hộ trong từng trường hợp cụ thể. Trong quá trình giao đất cần kết hợp mô hình hợp tác xã để bảo vệ nguồn đất không bị thất thoát.
Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard) thì bảo vệ và quản lý rừng ở nước ta vẫn chưa tìm thấy mô hình tối ưu. Các lâm trường, các ban quản lý rừng không đủ nhân lực để quản lý bảo vệ rừng. Sau nhiều năm chuyển hầu hết đất lâm nghiệp cho các lâm trường quản lý, những năm gần đây Việt Nam đang quay trở lại phương thức đồng quản lý rừng giữa Nhà nước và các cộng đồng thôn bản.
Nói về vấn đề này, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết, phương thức giao rừng cho cộng đồng rất hiệu quả trên thế giới, chính vì vậy các tổ chức quốc tế mới khuyến cáo, tư vấn cho Việt Nam triển khai mô hình này. Theo kết quả điều tra của Ipsard, cả nước hiện có hơn 10 nghìn cộng đồng dân cư thôn tham gia quản lý, bảo vệ khoảng 2,7 triệu héc ta rừng, chủ yếu là cộng đồng các dân tộc ít người.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, từ năm 2000 đến nay, lĩnh vực lâm nghiệp có sự tham gia của 5 thành phần kinh tế, hình thành và phát triển nhiều loại hình tổ chức quản lý rừng khác nhau. Chính sách có tác động mạnh nhất đến việc hình thành các loại hình tổ chức này là chính sách giao đất, giao rừng.
"Để quản lý rừng tốt, nâng cao chất lượng rừng cần đổi mới cơ chế và tổ chức quản lý rừng theo hướng nâng cao quyền tự chủ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp" - Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh.
Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng ngành lâm nghiệp Việt Nam cần kiện toàn chính sách, hệ thống những quy định đối với đất lâm nghiệp cộng đồng. Đồng thời, cần thành lập một cơ quan chính thức quản lý toàn bộ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng. Ngoài ra, hiện nay Bộ NN&PTNT cũng đã thực hiện biện pháp đưa kiểm lâm viên về địa bàn xã, đồng thời tăng cường các đội kiểm soát lưu động.
Hiện nay ở cấp xã đã hình thành 218 trạm kiểm lâm làm nhiệm vụ kiểm soát lâm sản của chủ rừng và 735 trạm kiểm lâm địa bàn. Ngành lâm nghiệp cũng đã bố trí được 4.289 công chức kiểm lâm địa bàn xã chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, tuy nhiên hiện vẫn còn 1.169 xã có rừng chưa có kiểm lâm trên địa bàn. Vấn đề này sẽ được ngành lâm nghiệp tập trung khắc phục trong thời gian tới để dần đưa công tác quản lý, bảo vệ rừng đi vào nền nếp.
Song song với các giải pháp trên, theo ông Lê Quang Tiến, các cơ quan liên quan cần đẩy nhanh việc cắm mốc đất lâm nghiệp, đất có rừng để lực lượng kiểm lâm đủ cơ sở pháp lý quản lý, bảo vệ rừng, đất rừng hiệu quả. Ngoài ra, cần tăng cơ chế cho người trồng rừng, các chủ rừng; đầu tư thêm trang thiết bị, dụng cụ chữa cháy rừng... (Hà Nội Mới 7 - 9/12) đầu trang(
Rừng quốc gia Mũi Cà Mau được các nhà khoa học đánh giá là nơi có hệ sinh thái ngập mặn khá độc đáo. Đây cũng là khu vực được công nhận là khu Ramsar của thế giới. Thế nhưng, mỗi ngày, hàng trăm m3 gỗ đước ở khu vực này đang bị người dân đốn hạ trái phép để hầm than. (VTV 8/12) đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành chức năng liên quan đến vụ việc Công ty TNHH MTV Bình Dương và Trung đoàn 710 thuộc Tổng công ty 15 (Gia Lai) tự ý khai hoang trồng hàng trăm héc ta cao su.
Chủ trương lớn chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã bị Công ty Bình Dương và Trung đoàn 110 có trụ sở tại tỉnh này lợi dụng. Cụ thể, trong 2 năm 2010-2011, UBND tỉnh Gia Lai đã giao các quyết định thu hồi 2.774 héc ta đất lâm nghiệp trên lâm phần quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Puch, H.Chư Prông cho Công ty Bình Dương để trồng cao su. Tuy nhiên, công ty này chỉ trồng trên 500 héc ta cao su thuộc vùng dự án được giao. Sai phạm nghiêm trọng trong quá trình thực hiện dự án là công ty đã tự ý trồng 474 héc ta cao su ngoài ranh giới được giao đất.
Tương tự, tại Trung đoàn 710, hàng chục héc ta đất lâm nghiệp cũng bị tự ý chuyển sang trồng cao su. Được biết, cả hai đơn vị này đều thuộc Tổng công ty 15 nhưng những sai phạm này không được báo cáo kịp thời lên UBND tỉnh Gia Lai - nơi ký quyết định giao đất. Điều đáng nói, khi tự ý khai hoang đất lâm nghiệp để trồng cao su, số gỗ trên vùng đất này chắc chắn không hề nhỏ và chưa được thống kê số lượng khai thác cũng như đã trôi nổi về đâu.
Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Thế Dũng đã có thông báo kết luận: Công ty TNHH MTV Bình Dương và Trung đoàn 710 đã triển khai dự án trồng cao su trên đất lâm nghiệp không theo đúng quy định; thuê tư vấn khảo sát đất và thiết kế lập dự án không kỹ, không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về điều kiện thổ nhưỡng, dẫn đến nhiều diện tích cao su sau khi trồng 1-3 năm thì bị chết.
Đối với diện tích cao su mà các đơn vị đã trồng trong phạm vi cách mép sông, suối tối thiểu 50 mét và cách lề quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện tối thiểu 100 mét, vi phạm quy định thì không được cho thuê đất, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước mắt, diện tích trên vẫn để các đơn vị chăm sóc và khai thác, khi địa phương có nhu cầu sử dụng sẽ thu hồi mà không phải đền bù. Đối với diện tích đất đã khai hoang nhưng không trồng được cao su, UBND tỉnh yêu cầu Công ty Bình Dương, Trung đoàn 710 phải trồng lại rừng và trả lại cho địa phương quản lý.
Đồng thời, UBND tỉnh Gia Lai cũng giao cho các sở ngành liên quan cùng Tổng công ty 15 kiểm tra, làm rõ trách nhiệm các bên vi phạm. Đối với diện tích đã khai hoang và trồng cao su ngoài dự án đã cho thuê đất, phải xác định trạng thái rừng trước khi khai hoang, trữ lượng gỗ và giá trị báo cáo UBND tỉnh để yêu cầu Công ty Bình Dương và Trung đoàn 710 nộp tiền vào ngân sách nhà nước… (Thanh Niên 6/12) đầu trang(
Trong công tác phát triển rừng giai đoạn 2010-2015, huyện Tủa Chùa đã cụ thể hóa công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng thành các chương trình hành động, nghị quyết trồng cây công nghiệp, cây phân tán. Tổ chức thưc hiện công tác phát triển rừng theo hướng tập trung trồng rừng mới, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, trồng cây phân tán và trồng cây phong trào, huyện phấn đấu đến năm 2015 nâng độ che phủ rừng lên 45%.
Năm 2013 huyện Tủa Chùa đã tập trung tuyên truyền phổ biến pháp luật trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho trên 8.700 lượt người dân, đồng thời củng cố kiện toàn 12 ban chỉ huy PCCCR của 12 xã thị trấn, thành lập một ban chỉ huy cấp huyện. Toàn huyện đã có gần 2.000 hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, không để xảy ra vụ cháy rừng lớn nào, tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng ở 2 xã Lao Xả Phình và Sính Phình đạt kết quả cao, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 36%. (Báo Điện Biên 6/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh Bắc Giang đã kiểm tra, phát hiện, lập biên bản xử lý 326 vụ vi phạm lâm luật.
Trong đó, đã xử lý 320 vụ (6 vụ đang điều tra, làm rõ); tịch thu hơn 135 m 3 gỗ các loại, hơn 310 kg động vật hoang dã... So cùng kỳ năm 2012, giảm 84 vụ (bằng 20,5%). Tổng số tiền thu từ xử lý vi phạm và bán tang vật tịch thu hơn 2,1 tỷ đồng.
Có được kết quả này là do Kiểm lâm Bắc Giang đã thực hiện tốt các biện pháp tuyên truyền về công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Cùng với đó, rừng và đất lâm nghiệp cơ bản được giao khoán nên các chủ rừng đã có ý thức quản lý, bảo vệ tốt hơn.
Được biết, chỉ tính thời gian từ đầu năm đến cuối tháng 10/2013, lực lượng chức năng 24 tỉnh khu vực phía Bắc đã phát hiện trên 3.700 vụ (chiếm 18% số vụ cả nước) vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 35% so với cùng kỳ năm 2012. Đã xử lý 3.434 vụ, trong đó xử phạt hành chính 3.382 vụ, xử lý hình sự 52 vụ, nộp ngân sách Nhà nước trên 22 tỷ đồng. (Báo Bắc Giang 6/12; Chinhphu.vn 6/12) đầu trang(
Có đến tận nơi những cánh rừng nguyên sinh các tiểu khu 27, 29 thuộc lâm phận xã Hoà Bắc (huyện Hoà Vang), phía cực tây thành phố Đà Nẵng, mới thấy tài nguyên rừng vô cùng phong phú.
Tại những khu vực lâm tặc chưa bén mảng tới, vô số cây gỗ to, thẳng, trong đó nhiều cây 2-3 người ôm không xuể, xếp lớp nối nhau trùng điệp. Khu vực bị lâm tặc xâm hại, rừng đã bị rỗng ruột, những cây gỗ to hầu như không còn mà chỉ trơ lại những cây nhỏ cỡ cột nhà.
Vẫn biết, lực lượng kiểm lâm đã rất gian nan, vất vả trong bảo vệ rừng, tuy vậy việc bảo vệ của họ chưa hiệu quả. Nếu không có giải pháp quyết liệt hơn trong công tác bảo vệ rừng, chắc chắn chẳng bao lâu nữa, tìm được cây gỗ to, gỗ quý trong rừng Đà Nẵng không dễ. (Báo Đà Nẵng 6/12) đầu trang(
Từ năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có quy định các dự án khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải đảm bảo việc đầu tư trồng mới thay thế diện tích rừng được cho phép chuyển sang mục đích sử dụng khác. Tuy nhiên, đến nay, các chủ dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh vẫn không thực hiện trồng rừng thay thế và cũng không nộp tiền cho Nhà nước để trồng nơi khác.
Theo kết quả rà soát mới đây của Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh: từ khi Nghị định 23/2006/NĐ - CP có hiệu lực, tỉnh Bình Định có 9 dự án thủy điện chuyển mục đích sử dụng rừng, với tổng diện tích 2.057ha. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt các thủy điện phải trồng bù 854ha rừng, nhưng thực tế chỉ trồng được 63 ha.
Cụ thể: thủy điện Ea M’Đoan 2 (huyện M’Drak), công suất 4 MW chuyển đổi 11,5 ha rừng cũng chỉ trồng bù chưa được một nửa. Thủy điện Sêrêpôk 4 (huyện Buôn Đôn) có công suất 80 MW lấy đi hơn 200 ha rừng thì mới trồng bù khoảng 30-40 ha. Nhưng thực ra diện tích này cũng không phải là diện tích trồng rừng thay thế đúng nghĩa theo Nghị định 23, bởi được trồng trên đất mà doanh nghiệp thủy điện được thuê, để sau này chính họ được hưởng lợi.
Các dự án thủy điện còn lại chưa thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế, với lý do chính quyền địa phương không bố trí đủ đất. Trong khi theo Thông tư 24/2013 của Bộ NN&PTNT (có hiệu lực từ ngày 1-7-2013): nếu không có đất, chủ đầu tư phải nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) để bố trí trồng rừng nơi khác. Ngoài ra, hàng loạt dự án thủy điện lớn nhỏ xây dựng trước năm 2006 đã chuyển đổi hàng nghìn héc-ta rừng đầu nguồn để xây lòng hồ, làm các khu tái định cư, tái định canh mà không phải trồng lại vì Nghị định 23 không có quy định truy thu.
Lý giải về nguyên nhân chậm trễ trong việc triển khai thực hiện quy định trồng bù rừng trên địa bàn tỉnh, Ông Nguyễn Quốc Hưng - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp cho biết, Nghị định 23 ban hành từ năm 2006, nhưng 7 năm sau mới có thông tư hướng dẫn trồng rừng thay thế đối với thủy điện.
Hiện Chi cục mới phối hợp với Sở Công thương tiến hành rà soát, kiểm tra, thống kê lại các thủy điện xây dựng từ năm 2006, đề xuất phương án báo cáo với lãnh đạo Sở NN&PTNT. Theo Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua thì việc trồng bù rừng phải xong trong năm 2015. Tuy nhiên, với tình hình triển khai như hiện nay tại tỉnh Bình Định thì rất khó để có thể triển khai đúng thời gian quy định.
Chưa kể đối với những dự án thủy điện đang chuẩn bị đầu tư thì có thể bắt buộc trồng rừng, còn thủy điện làm rồi thì rất khó đòi, do cả Nghị định 23/2006 và Thông tư 24/2013 đều không quy định chế tài cụ thể”. Cũng chính vì vậy, đến nay, chỉ mới có dự án thủy điện Krông Nô 2 và Krông Nô 3 đang chuẩn bị triển khai xây dựng đã có phương án trồng rừng thay thế với diện tích 49 ha tương đương số tiền phải nộp là 2,5 tỷ đồng.
Báo cáo gửi Thủ tướng của Bộ NNPTNT cho thấy: từ năm 2006 đến nay, cả nước có 205 dự án thuộc 27 tỉnh, thành phố thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang làm thủy điện với tổng diện tích 19.800ha rừng, nhưng trồng lại chỉ được 971,7ha, chiếm tỷ lệ 4,9%. Đối với Dak Lak, nếu tỉnh không bố trí được quỹ đất thì hướng dẫn chủ đầu tư nộp tiền về Quỹ BVPTR trung ương để Bộ NNPTNT bố trí quỹ trồng rừng ở tỉnh khác. Nhưng từ khi thông tư ban hành và có hiệu lực, đến nay Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) Trung ương chưa nhận được đề nghị nào của UBND cấp tỉnh về việc địa phương không có đất trồng rừng thay thế, và cũng chưa có chủ đầu tư dự án nào nộp tiền cho Quỹ BV&PTR Trung ương.
Những diện tích đất rừng bị lấy đi nếu không trồng mới, không khôi phục lại sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái, đến tài nguyên môi trường; và đương nhiên liên quan đến việc biến đổi khí hậu. Vì vậy, tỉnh cần có biện pháp, chế tài quyết liệt hơn để chủ đầu tư dự án thủy điện chấp hành nghiêm việc trồng bù rừng; giải quyết triệt để sự lẩn tránh của các chủ đầu tư đối với quy định trồng rừng thay thế như trong thời gian qua. (Báo Đắk Lắk 7/12) đầu trang(
Ngày 6/12, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Tô Văn Bắc, trú ở tỉnh Thanh Hóa về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Trước đó, tại khu vực trạm thu phí cầu Bãi Cháy, Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an thành phố Hạ Long đã kiểm tra và phát hiện xe ôtô BKS 36L – 8046 do Phạm Văn Sáu điều khiển vận chuyển 340 cá thể rùa có trọng lượng 191 kg. Trong đó có 68 cá thể rùa hộp núi vàng, rùa hộp lưng đen, rùa núi viền, rùa đất sêphôn, rùa sa nhân, thuộc nhóm 2B, có trọng lượng 72kg.
Đặc biệt cơ quan Công an còn phát hiện trên xe ôtô có 272 cá thể rùa đầu to, trọng lượng 119 kg. Đây là loại động vật hoang dã quý hiếm nằm trong sách đỏ có nguy cơ tuyển chủng cần được bảo vệ tuyệt đối. Chủ số hàng trên là Tô Văn Bắc. (Công An Nhân Dân 7/12; Đại Đoàn Kết 7/12) đầu trang(
Ngày 6-12, phát hiện một phụ nữ điều khiển xe máy đang vận chuyển một thùng hàng nghi vấn trên đường Ngọc Hồi, thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội), tổ công tác Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường CAQ Hoàng Mai đã tiến hành kiểm tra. Bên trong thùng hàng có 12 con cầy vòi hương và 2 con hon, tổng trọng lượng khoảng 40kg.
Người phụ nữ điều khiển xe máy khai nhân thân là Nguyễn Thị Mai Thu ( SN 1981) trú tại xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội. Thu không xuất trình được giấy tờ liên quan đến số động vật hoang dã trên. Vụ việc đang được Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường CAQ Hoàng Mai phối hợp với Hạt Kiểm lâm số 2, Chi cục Kiểm lâm thành phố Hà Nội tiếp tục làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 7/12) đầu trang(
Lũ lụt không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế, mà còn làm 40 người chết và mất tích. Mặc dù, Chính phủ đăng đàn báo cáo các vấn đề liên quan đến thủy điện, cũng như các biện pháp quyết liệt nhằm xử lý loại bỏ các công trình thủy điện có khả năng gây hại cho hạ du, nhưng tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII vừa qua, các Đại biểu và nhân dân chưa thật sự yên tâm.
Quảng Nam hiện có hơn 50 dự án (DA) thủy điện đã và đang triển khai, nhưng công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn còn bộc lộ nhiều lỗ hổng lớn, gây ra những hệ lụy khôn lường...
Sở Công thương Quảng Nam cho biết, từ 2006 - 2012, diện tích rừng chuyển sang xây dựng thủy điện là 2.581 ha (1,64 ha rừng đặc dụng, 846 ha rừng phòng hộ, 1.733 ha rừng sản xuất). Chủ đầu tư các DA thủy điện phải trồng rừng thay thế là 1.459 ha (mới tính cho 38 công trình).
Hiện nay, UBND tỉnh đã phê duyệt 11 phương án trồng rừng thay thế với diện tích 1.095 ha (trồng rừng mới 632,29 ha, trồng rừng khoanh nuôi bổ sung hơn 171 ha). Tuy nhiên, nhiều Chủ đầu tư vẫn né tránh trách nhiệm trồng mới lại rừng. Một số Chủ đầu tư tỏ ra chây lỳ trong việc thực hiện trồng rừng thay thế là Ban quản lý (BQL) Thủy điện Sông Kôn, BQL Thủy điện Tà Vi, Thủy điện sông Bung 4A.
Một số DA có trước Nghị định 23/CP của Chính phủ như: Thủy điện A Vương, thủy điện Khe Diên..., nên không có phương án trồng rừng thay thế vì không bắt buộc. Trong khi đó, theo các báo cáo đánh giá tác động môi trường của 100% các DA thủy điện lớn hay nhỏ, đều nêu rõ phương án trồng bồi hoàn diện tích rừng đã mất do xây dựng công trình thủy điện.
Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam Từ Văn Khánh cho biết, để bắt đầu xây dựng một công trình thủy điện, cần phải xây dựng rất nhiều các công trình phụ trợ khác, như đường giao thông công vụ và vô số các công trình phục vụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu của nhà máy.
Vì vậy, chỉ cần làm một phép tính đơn giản, khi công trình thuỷ điện sử dụng 1 ha đất rừng thì có đến 3 ha rừng bị tàn phá. Đến lúc nhà máy thủy điện xây xong, phần đất rừng không dùng tới lại bàn giao về cho địa phương quản lý, mà lẽ ra nhà máy phải có trách nhiệm phối hợp giữ rừng, trồng lại rừng, đây là vấn đề tiên quyết để nhà máy thủy điện hoạt động được. Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác quan trọng này hầu như ít được Chủ đầu tư quan tâm, việc bảo vệ rừng vẫn phó thác cho ngành Kiểm lâm và chính quyền địa phương.
Đơn cử như Nhà máy thủy điện Khe Diên, hoạt động đã gần 6 năm, cũng chỉ hỗ trợ xây dựng cho lực lượng bảo vệ rừng một trạm trực gác rừng. Nhà máy thủy điện Đắk Mi 4 hỗ trợ một nhà tạm làm việc, Nhà máy thủy điện A Vương chưa thấy có sự hỗ trợ nào. Trên thực tế, mỗi nhà máy thủy điện nào triển khai, hoặc đi vào hoạt động đều xảy ra “điểm nóng” về khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép, mà điển hình nhất là lòng hồ thủy điện Đắk Mi 4 trong thời gian gần đây liên tục vận chuyển gỗ trái phép.
Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đối với thủy điện, cứ sản xuất ra 1 Kw điện phải chi trả 20 đồng. Bình quân mỗi nhà máy thủy điện hàng năm sản xuất ra mấy chục triệu Kw điện, nhưng xem ra các Chủ đầu tư vẫn chưa thực hiện nghiêm túc quy định này.
Đầu năm 2012, UBND tỉnh Quảng Nam có Quyết định 136/QĐ-UBND thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, với chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, thanh toán các nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm bảo vệ, phát triển và tái tạo lại vốn rừng..., buộc các chủ đầu tư, trong đó có thủy điện ký cam kết vào Hợp đồng chi trả Dịch vụ môi trường rừng. Chưa có con số thống kê chi tiết về sản lượng điện đối với từng nhà máy, nhưng cứ theo quy định trên thì số tiền các nhà máy này phải chi trả dịch vụ môi trường rừng lên tới cả trăm tỷ đồng/năm.
Các nhà khoa học đã chỉ rõ, việc xây dựng các báo cáo tác động môi trường của các dự án thủy điện chỉ mang tính dự báo và tập trung đánh giá tác động môi trường ở giai đoạn xây và vận hành nhà máy, mà hầu như chưa chú trọng tới đánh giá tác động môi trường lâu dài ở vùng sau đập về sản lượng cá, về nơi cư trú, nơi sinh sản của các loài thủy sinh vật nói chung và cá nói riêng. (Thanh Tra 9/12) đầu trang(
Do giá tôm thẻ chân trắng vài năm trở lại đây tăng cao, nhiều hộ dân vùng ven biển huyện Núi Thành, Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam) bất chấp vi phạm đua nhau chặt phá rừng thông, phi lao ven biển để nuôi tôm trái phép. UBND tỉnh Quảng Nam đã có công điện yêu cầu kiểm tra, xử lý nghiêm những hộ nuôi tôm này.
Những ngày đầu tháng 12.2013, vùng ven biển xã Tam Tiến, huyện Núi Thành trông như một đại công trình náo nhiệt bởi nhà nhà, người người đổ xô san ủi mặt bằng, đắp đất dựng hồ nuôi tôm.
“Ngày trước tôi nuôi tôm thẻ chân trắng với phương thức hồ đất ven sông, do dịch bệnh dẫn đến thua lỗ nặng. Hai năm trở lại đây thấy người dân địa phương nuôi tôm thẻ chân trắng bằng hồ lót bạt trúng quá, lãi hàng trăm triệu đồng, 3 anh em tôi quyết định dùng số đất vườn rộng gần 10 sào nằm ven biển, đầu tư gần 500 triệu đồng để san ủi, đắp được 4 hồ lót bạt.
Khó khăn lắm mới đắp được 4 hồ vì liên tục bị lực lượng chức năng đuổi, lập biên bản. Nhưng họ đuổi ban ngày, mình lén lút làm ban đêm. Sau gần nửa tháng làm ban đêm thì hoàn thành 4 hồ nuôi tôm. Không riêng gì tôi vi phạm mà tất cả những hộ dân ở xã này san ủi mặt bằng, xây dựng hồ lót bạt nuôi tôm đều vi phạm hết. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm, vì kế sinh nhai. Đợt tôm vụ đầu tôi mới xuất bán thu hơn 1,6 tỷ đồng, lãi gần 500 triệu đồng”.
Để có đất xây dựng hồ, nhiều hộ gia đình bất chấp tất cả, chặt rừng phi lao ven biển, phá cả rừng cây bên cạnh nhà để thuê xe múc, xe ủi vào đào bới, xây dựng ao. Theo quan sát của chúng tôi, có nhiều ao vừa được thả tôm, đất quanh hồ vẫn còn mới toanh. Hai anh em ông Nguyễn Hải (45 tuổi), Nguyễn Phu (40 tuổi, trú thôn Lộc Đồng, xã Tam Tiến) cho biết:
“Mấy năm trước hai anh em đi nghề biển ở Phú Quốc, thấy dân ở đây nuôi tôm trúng quá. Cách đây gần tháng, hai anh em góp vốn và vay thêm 50 triệu đồng để san ủi, đắp hồ tôm nằm cạnh nhà. Hồ tôm này ngày trước là một rừng dương liễu, nhưng vẫn chặt bỏ để đắp hồ lên”. Khi được hỏi về việc làm hồ như thế này có xin phép hay ai cấp phép làm không? Ông Hải nói, đất vườn của mình, mình đắp hồ làm chứ biết xin phép ai đây, thấy dân ở đây làm được, mình cũng làm được”.
Ông Nguyễn Giúp - Chủ tịch UBND xã Tam Tiến, huyện Núi Thành cho biết: “Toàn xã có khoảng 360ha ao nuôi tôm bằng hồ đất ven sông. Còn hồ lót bạt trái phép có khoảng 18,2ha với 225 hộ dân nằm rải rác ở thôn Lộc Đông, Bình Phú, Long Thạnh, Hà Quan. Việc nuôi tôm bằng hồ lót bạt xuất hiện năm 2007, ào ạt nhất là đầu năm 2013. Xã không hề cấp phép cho người dân, và người dân cũng không hề có đơn xin xây dựng hồ lót bạt để nuôi tôm.
Tất cả là do giá tôm trên địa bàn xã được đẩy lên rất cao cho nên người dân bất chấp, chặt phá cây dương phòng hộ ven biển để làm ao nuôi tôm. Trước tình trạng trên, chính quyền xã xuống lập biên bản, tịch thu tang vật nhưng lực lượng chức năng xuống ban ngày thì họ lại chuyển sang làm ban đêm.
Xã chỉ còn cách tuyên truyền, báo cáo lên cấp trên. Nhiều lần cán bộ huyện, tỉnh cũng về tuyên truyền nhưng vì lợi nhuận quá lớn, người dân vẫn bất chấp vi phạm... Hiện nay, có quá nhiều trường hợp như vậy nên khó xử lý triệt để. Biện pháp căn bản xử lý việc nuôi tôm trái phép là phải cắt điện”.
Không riêng gì vùng ven biển xã Tam Tiến, mà tại vùng ven xã Bình Hải, Bình Nam, huyện Thăng Bình, tình trạng vi phạm này cũng chẳng thua kém gì.
Trước sự việc này, UBND tỉnh Quảng Nam đã có công điện yêu cầu chủ tịch UBND các huyện, thành phố ven biển, các sở, ban ngành liên quan tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm những hộ chặt cây phi lao và các loại cây trồng ven biển khác, chuyển đổi đất vườn, đất ở thành ao nuôi tôm; kiểm tra việc cấp phép, xứ lý tịch thu các loại xe ủi, xe múc đang hoạt động hoặc di chuyển vào địa bàn các xã trên để san ủi làm ao nuôi tôm.
Yêu cầu Công ty Điện lực Quảng Nam tạm ngừng cung cấp điện cho các hộ nuôi tôm dọc đường Thanh Niên ven biển trên địa bàn; kiểm tra, xử lý đình chỉ ngay các hộ nuôi tôm trái phép, không xây dựng hệ thống xử lý nước thải và thải không qua xử lý ra môi trường... (Nông Thôn Ngày Nay 9/12) đầu trang(
Vừa qua, trên một số tờ báo có thông tin về việc tại thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) xuất hiện tình trạng đầu nậu tập kết gỗ lậu với số lượng lớn. Tuy nhiên, sau khi xác minh, cơ quan chức năng cho biết đây chỉ là số gỗ củi lụt được người dân địa phương vớt lên từ dưới sông Nam sau cơn bão số 14.
Theo ông Hồ Tăng Phúc, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc, trong đợt lũ do bão và thủy điện xả nước hồi tháng 11.2013, nhiều thanh gỗ từ thượng nguồn sông Nam đã dạt vào bờ tại thôn Tà Lang.
Bốn hộ dân gồm ông Lê Văn Lâm, Trương Văn Đào, Hồ Ngọc Quý, Trần Văn Trường đều trú tại thôn Tà Lang đã vớt số gỗ trên mang về và xẻ ra.
Ngày 8 -12, ông Lê Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hòa Vang xác nhận, 12 phách gỗ (1,6m3) mà 4 người dân thôn Tà Lang (xã Hòa Bắc) mang về nhà bị lực lượng kiểm lâm lập biên bản tạm giữ đều là gỗ thường.
“Việc kiểm tra xác minh thông tin trên có sự chứng kiến của nhiều cơ quan gồm lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục kiểm lâm, UBND huyện Hòa Vang, Hạt kiểm lâm Hòa Vang, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cùng chính quyền địa phương. Hiện giờ chúng tôi đang làm thủ tục trả lại gỗ lại cho người dân, yêu cầu họ chỉ sử dụng tại thôn bản chứ không được phép mua bán vận chuyển đi nơi khác” - ông Hùng cho biết thêm.
Trước sự việc người dân làng mình vị vu oan là “đầu nậu” gỗ lậu, ông Đinh Văn Hiêu (SN 1977) trú tại thôn Tà Lang bức xúc: “Hôm trước có hai phóng viên báo đến đây, họ gửi xe ở nhà tôi rồi nhờ chỉ đường đi xuống dưới bờ sông Nam để tìm đường sang bên kia làm gì đó.
Sau một lúc đi lòng vòng trong thôn, họ chụp ảnh mấy thanh gỗ được người ta xẻ ra để lại bên đường, thế là họ lên báo nói thôn tui là “đầu nậu” gỗ khiến nhiều người hiểu lầm”. (Lao Động 9/12; Một Thế Giới 8/12) đầu trang(
Một vụ phá rừng bị phát hiện, gỗ tang vật sau đó đã “bốc hơi” một cách bí ẩn; người đội trưởng thi công ký biên bản thừa nhận phá rừng đột nhiên biến thành…cán bộ xã. Chuyện xảy ra ở Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (Kon Tum).
Vào tháng 4.2012, lợi dụng việc thi công tuyến đường chiến lược nối hai huyện Đăk Glei và Tu Mơ Rông, đại diện của Công ty Đoàn Kết (có trụ sở tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum) đã tự ý làm một con đường vào tiểu khu 95.
Sau khi con đường hoàn thành, công ty này lại tự ý đưa người và phương tiện của mình vào “đóng đô” trong khu bảo tồn rừng đặc dụng Ngọc Linh để tiện bề khai thác gỗ trái phép.
Trong lúc vận chuyển số gỗ đã khai thác được ra khỏi rừng để tiêu thụ thì bị lực lượng kiểm lâm của Hạt kiểm lâm khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (huyện Đắk Glei) phát hiện và bắt giữ.
Theo biên bản làm việc được lập vào ngày 26/4/2012, ông Hà Mạnh Hùng - Đội trưởng đội thi công của Công ty Đoàn Kết thừa nhận đã khai thác 74 cây gỗ đường kính từ 40 - 90cm, thuộc nhóm III-VI (khoảng 245 mét khối). Trong đó, 56 cây đã được chuyển ra đường, còn lại 18 cây vẫn còn được giấu trong rừng.
Mặc dù số gỗ bị bắt thuộc dạng “khủng”, thế nhưng điều kỳ lạ là vụ việc không bị xử lý. Toàn bộ số gỗ tang vật không hiểu bằng cách nào đó đã bị “bốc hơi” ngay sau đó.
Điều kỳ lạ nữa là trong bao cáo gửi cấp trên, số gỗ vi phạm trên đã từ 245 mét khối “giảm” xuống gần một nửa - xuống chỉ còn …128 mét khối!
Việc lâm tặc ngang nhiên phá rừng đặc dụng nói trên đã làm người dân địa phương hết sức bất bình. Họ đặt ra câu hỏi, có hay không sự tiếp tay của cán bộ kiểm lâm trong việc “bốc hơi” của 117 mét khối gỗ vi phạm.
Trong khi vụ xâm phạm rừng đặc dụng nghiêm trọng còn đang trong quá trình điều tra thì vào tháng 7. 2013, cũng tại tiểu khu 95, lâm tặc lại tiếp tục “hóa kiếp” 44 cây gỗ khác cùng đường kính, nhóm II - VI với số gỗ trước đó (khoảng 92,7 mét khối).
Dẫn chúng tôi vào hiện trường, ông Nguyễn Đức Thanh, Trạm trưởng trạm Kiểm lâm Ngọc Linh (thuộc Khu Bảo tồn Thiên Nhiên Ngọc Linh) thở dài ngao ngán: “Về vụ phá rừng vào tháng 4.2012, khi ấy tôi chưa về đây công tác nên không nắm được.
Riêng vụ phá rừng xảy ra vào tháng 7.2013, khi đó do mưa lớn kéo dài, nước lũ tràn xuống nên người phụ trách địa bàn chưa đi vào tuần tra kịp. Có lẽ do nắm bắt được điều này nên bọn lâm tặc đã đưa người đi vào khai thác theo hướng từ Tu Mơ Rông sang. Vì vậy chúng tôi không kịp phát hiện được! Quả thực khó lắm anh ạ! Chỉ sơ sẩy một chút là lâm tặc phá ngay”.
Trong khi đó, ông Trần Văn Tám - Hạt phó Hạt Kiểm lâm khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Linh thì cho biết, vụ phá rừng xảy ra vào 4.2012 đã báo cáo cho ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó giám đốc khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Linh (khi đó kiêm Hạt trưởng Hạt kiểm lâm khu Bảo tồn).
Tuy nhiên, ông Thịnh lại cho biết, khi đó đã bàn giao chức vụ (hạt trưởng –PV) lại cho ông Đinh Quốc Thắng (ông Thịnh đi công tác trong vòng ba tháng ) nên ông cũng không nắm rõ vụ việc.
Trao đổi với chúng tôi, ông Thắng khẳng định “Hai vụ phá rừng vào tháng 4 và tháng 7 là đặc biệt nghiêm trọng, chúng tôi đã bàn giao hồ sơ cho cơ quan công an ra quyết định khởi tố. Tôi nghĩ người dân đặt ra nghi vấn về việc có sự tiếp tay của cán bộ kiểm lâm địa bàn là có cơ sở. Tuy nhiên chúng tôi phải có chứng mới có thể xử lý vụ việc được”.
Còn ông Trần Đông, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Kon Tum thì cho biết, đã nắm được thông tin về vụ khai thác gỗ trái phép tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Linh và chỉ đạo phải xử lý kiên quyết, phải làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân.
Song song đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đang phối hợp với Công an huyện Đắk Glei điều tra, làm rõ vụ phá rừng nghiêm trọng này để xử lý theo pháp luật. (Một Thế Giới 8/12) đầu trang(
Thời gian qua, mỗi ngày có hàng chục người dân vào khu vực rừng giáp ranh giữa xã Bok Tới, huyện Hoài Ân với huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định) đốn hạ gỗ quý. Sau đó, dùng xe máy vận chuyển ngang nhiên trên đường trước sự bất lực lượng của chính quyền địa phương.
Trong hai ngày 5 và 6/12, trong chuyến công tác lên xã miền núi Bok Tới (huyện Hoài Ân), PV chứng kiến tận mắt cảnh lâm tặc ngang nhiên tập kết gỗ ngay bên rìa bìa rừng đường lên trung tâm UBND xã Bok Tới. Gỗ được cắt từng khúc ngắn khoảng 2m hoặc dọc phách gỗ thành khúc dạng hình chữ nhật dài khoảng 2m, đường kính 30-50cm, rồi dùng xe máy chở về xuôi tiêu thụ.
Quan tìm hiểu, người dân địa phương cho biết, lâm tặc vào rừng sâu dùng cưa lốc máy đốn hạ gỗ, sau đó dùng xe máy vận chuyển ra ngoài rừng, tập kết dưới chân núi Ụ Bò đoạn giáp ranh giữa 2 thôn T6 và T4 (xã Bok Tới), sau đó vận chuyển về những xưởng mộc dưới xuôi để tiêu thụ.
Cũng theo người dân cho biết, lâm tặc chở gỗ theo hai hướng từ chân núi Ụ Bò men dọc theo chân đèo thôn T6 (xã Bok Tới) về thôn Bình Sơn (xã Ân Nghĩa) và nhánh thứ 2 từ chân núi Ụ Bò về thôn T4 rồi đi qua đường trung tâm UBND xã Bok Tới về thôn Nghĩa Nhơn (xã Ân Nghĩa).
Anh T.V.T, một người dân địa phương, bức xúc nói: “Tôi đi qua lại tuyến đường này ngày một, cứ khoảng 3-4 giờ chiều, lâm tặc sau khi đưa gỗ từ rừng sâu ra ngoài rừng rồi dùng xe máy chạy từng tốp 4-5 người chở gỗ chạy bạt mạng trên đường. Chỉ cần nghe tiếng xe máy là biết xe vận chuyển gỗ của lâm tặc nên phải lo núp vào lề đường vì sợ gỗ tặc đụng vào. Lâm tặc lộng hành, ngang nhiên tàn phá rừng, chở gỗ giữa thanh thiên bạch nhật nhưng không hiểu sao lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương như không hề hay biết”.
Ông Đinh Văn Líp, cho biết: “Lâm tặc ở đây chủ yếu là người dân ở xã Ân Nghĩa, Ân Hữu và một số ít là người dân địa phương. Thời gian qua, địa phương đã nhiều phối hợp với lực lượng Kiểm lâm huyện Hoài Ân tuần tra, truy quét đã bắt xử phạt các đối tượng chở gỗ lậu bằng xe tải, xe gắn máy. Tuy nhiên, vì lực lượng kiểm lâm đóng trên địa bàn quá mỏng chỉ có 2 cán bộ là Kiểm lâm huyện, 2 cán bộ của địa phương. Trong khi đó, lâm tặc quá đông được tổ chức theo nhóm, vận chuyển vào lúc sẩm tối và ban đêm nên việc truy quét rất là khó. Thậm chí, khi lực lượng công an xã và cán bộ kiểm lâm huyện truy quét, vây bắt, lâm tặc sẵn sàng dùng dao, rựa, gậy gộc, đá sỏi… chống trả”.
Nói về tình trạng phá rừng, ông Líp còn tiết lộ thêm: “Rừng ở đây đã cạn kiệt rồi, gỗ quý hết rồi chỉ còn gỗ tạp thôi. Anh thấy đối tưng nào vận chuyển gỗ dạng tròn thì chỉ là gỗ tạp thôi chủ yếu là gỗ cà đuối, tai man, muồng... Còn những lâm tặc chở chở gỗ được phách dọc thành xúc hình chữ nhật đó mới là gỗ quý. Gỗ đó chỉ còn ở khu vực rừng giáp ranh với huyện Vĩnh Thanh”.
Tuy nhiên, có một thực tế nạn phá rừng tự nhiên, rừng phòng hộ trên địa bàn xã Bok Tới (huyện Hoài Ân) đã diễn ra nhiều năm qua. Mức độ lẫn quy mô tàn phá ngày càng rộng lớn, tinh vi và khốc liệt. Nếu ngành chức năng không kiên quyết vào cuộc thì không bao lâu nữa những cánh rừng xanh trên địa bàn huyện Hoài Ân sẽ bị xóa sổ. Điều này đồng nghĩa với thiên tai, hạn hán lũ lụt ngày một gia tăng, đời sống người dân vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn. (Dân Trí 9/12) đầu trang(
Có một thời gian nghề nuôi động vật hoang dã đã giúp nhiều hộ dân ở Bình Phước thu lãi lớn, nhưng giờ đây họ đang đối mặt với không ít rủi ro. (VTV 8/12) đầu trang(
Tại huyện miền núi Khánh Sơn (Khánh Hòa) đang diễn ra tình trạng đồng bào dân tộc thiểu số ồ ạt mua bán, sang nhượng đất và keo non. (VTV 8/12) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Trong những năm xa xưa, khi đất nước chưa thống nhất, ở miền Bắc lương thực bị cạn kiệt và mất an toàn vì hợp tác xã nông nghiệp thường sản xuất ra công điểm chứ không phải thóc gạo, một vị bộ trưởng đã được dư luận vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt khi ông cho biết đã thành lập được hàng chục nông trường quốc doanh mà không cần đến vốn của ngân sách.
Được hoan nghênh là phải, vì đang chiến tranh ác liệt, gạo làm ra không đủ cho dân ăn và cung cấp cho chiến trường, nhập khẩu đồng nghĩa với viện trợ từ nước ngoài, thì một thành tích như thế thật đáng khích lệ. Vì nông trường quốc doanh trực tiếp làm ra gạo, ngô, khoai sắn và thịt, cá, góp phần quan trọng cho an ninh lương thực của đất nước. Mở mang được nhiều nông trường mà không đòi hỏi ngân sách rót xuống thì còn gì hơn! Nhưng đất trồng trọt đã hết, lấy đâu ra đất mở rộng nông trường? Thì ra người ta đã phá rừng trồng ngô, khoai sắn, vốn đầu tư “tự túc” ban đầu thực ra là tiền bán gỗ!
Việc phá rừng có quy mô khá lớn này đã bị Tổng cục Lâm nghiệp thời ông Nguyễn Tạo làm tổng cục trưởng, phản đối nhưng không ngăn chặn được. Rừng mặc nhiên trở thành nạn nhân của yêu cầu cấp bách về lương thực, ngây thơ về điều hành kinh tế cả vĩ mô lẫn vi mô, nhiệt tình cộng với kém hiểu biết và cả nạn giả dối. Công bằng mà nói, rừng chưa bị nạn tham nhũng ám sát, cướp bóc vì hồi đó tham nhũng chưa là quốc nạn, nhưng bệnh “thành tích” đã khá nặng, dù con người còn trong sáng hơn bây giờ rất nhiều.
Nhưng cái tiền lệ ấy đang sống lại như một bóng ma ám ảnh rừng. Hiện nay rừng bị phá vì ba nguyên nhân chính: phá rừng làm thủy điện, khai mỏ; phá rừng làm nương rẫy tự phát và phá rừng được cấp phép để trồng cao su. Theo quy hoạch thì đến năm 2015 cả nước có 800.000 ha đất “rừng nghèo” được đưa vào khai thác, nhưng chưa đến năm 2013 người ta đã trồng được 910.000 ha, vượt kế hoạch thời gian hai năm và 110.000 ha!
Nếu đất trồng cao su là đất hoang, bạc màu, nếu số đất rừng được duyệt để phá đi trồng cao su thực sự là rừng nghèo không thể tái sinh, nếu mục đích trồng cao su của các địa phương là đưa lại công ăn việc làm và thu nhập cho dân, thì việc “vượt kế hoạch” hy hữu này thật đáng khích lệ.
Nhưng buồn thay... Hẵng cứ giả thiết là 800.000 ha được cấp phép là đúng đắn, hợp lý và tờ trình xin duyệt thực hiện dự án của các địa phương không có vấn đề gì, thì cái 110.000 ha “trồng thêm” này từ đâu ra? Tất nhiên, để làm được việc nguy hiểm đó, người ta đã phải ngang nhiên hay lén lút hô biến rừng tự nhiên thành rừng nghèo.
Rừng nghèo không phải vì nó đang cạn kiệt trong cái chết tự nhiên mà nó phải chết vì con người muốn lấy gỗ bán chia nhau, muốn trồng cao su mong có lợi nhuận. Cũng với mục đích “thừa gió bẻ… gỗ” đó, người ta đưa cây cao su tội nghiệp đến cả những vùng đúng ra không bao giờ nên trồng nó vì quá lạnh hoặc luôn có bão.
Rừng giữ được nước nhờ bộ rễ ăn sâu vào đất hàng chục mét, thậm chí hàng trăm mét, có hàng trăm năm tuổi, như những lão tướng trung thành bảo vệ cho giang sơn gấm vóc khỏi lụt lội hay nạn đất lở. Vì lợi nhuận, người ta thay thế rừng “hiệp sĩ” bằng cây cao su, bạch đàn hay các loại keo, chỉ có giá trị phòng hộ cao hơn các loài cỏ một chút. Nhưng trên sổ sách và báo cáo thành tích, rừng trồng đã thay thế “rừng nghèo”! “Đúng quy trình” không chê vào đâu được.
Ngày dài lại đêm thâu chúng ta kêu cứu nạn phá rừng, nhưng rừng vẫn đang chết dần mòn năm này qua năm khác... (Phụ Nữ TPHCM 7/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Ông Michael Knowles, một quan chức Tuolumne County cho hay, trong tuần này các công tố viên sẽ liên hệ với “phong trào tự do tư nhân” để buộc tội người thợ săn trong vụ gây ra vụ cháy rừng hồi tháng 8 vừa qua.
Ngày 17/8 vừa qua, vụ cháy Rim Fire vào đã được ghi vào sách kỷ lục của Mỹ khi hàng trăm lính cứu hỏa cùng với máy dập lửa, máy bay, trực thăng, xe ủi được huy động. Đây là vụ cháy lớn thứ 3 trong lịch sử bang California. 402 dặm vuông đất đã bị thiêu rụi trong khi hơn 100 triệu USD phải chi ra để khắc phục sự cố.
Tuy vậy, đến nay việc điều tra nguyên nhân của vụ việc cũng chưa thể phân biệt được nguyên nhân chủ yếu. Chính quyền đang có những manh mối cáo buộc người thợ săn vì không làm chủ được ngọn lửa trong trang trại của mình. Nếu bị cáo buộc chắc hẳn người thợ săn sẽ chịu những án phạt rất lớn vì làm cháy một phần công viên quốc gia Yosemite và làm hỏng nguồn cung cấp nước cho khu vực.
Thực tế là khi mà tỷ lệ chi ngân sách cho hoạt động cứu hỏa càng gia tăng, thì càng nhiều tiền chảy vào túi các công ty tư nhân. Trong một số năm trở lại đây, những doanh nghiệp này ngốn mất hơn 40% tổng chi của Cục kiểm lâm cho hoạt động cứu hỏa. (Nhà Báo&Công Luận 7/12) đầu trang(
Cây thủy tùng có niên đại 2.735 tuổi vừa được phát hiện tại một khu bảo tồn ở Trung Quốc.
Cây thủy tùng được mệnh danh là “hóa thạch sống” trong vương quốc các loài thực vật. Nó được phát hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên Zeng Feng Ling ở tỉnh Cát Lâm, Xinhuanet đưa tin. Đây là một trong những loài cây thuộc danh sách bảo vệ hàng đầu ở Trung Quốc.
Được biết, một người công nhân làm việc tại khu bảo tồn là người phát hiện ra rất nhiều cây thủy tùng trong khu rừng. Các chuyên gia đến từ Đại học Beihua nhận định 14 cây thủy tùng đều có niên đại trên 900 tuổi. Trong đó, cây lớn nhất với chiều cao 13 m và đường kính 185 cm có niên đại 2.735 tuổi.
Họ đã “phong” cho cây này là “vua của loài thủy tùng ở Trung Quốc”. (Đời Sống&Pháp Luật 7/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||