|
Ngày 12 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được biết đến là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng nhu cầu của xã hội và đời sống nhân dân, phát huy vai trò quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng.
Để làm rõ các nội dung trên đối với các địa phương có rừng, chủ rừng, ban quản lý rừng trên địa bàn hiểu, thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh Gia Lai đã tổ chức hội nghị tập huấn chi trả dịch vụ môi trường rừng, tại đây có nhiều thông tin được giải đáp, nhiều ý kiến bàn luận để làm rõ loại hình dịch vụ mới thành lập trên địa bàn tỉnh.
Chính thực hoạt động vào tháng 8-2012, sau hơn 1 năm đi vào hoạt động, đến nay Quỹ đang thực hiện quản lý thu 24 cơ sở thủy điện (trong đó 19 cơ sở nội tỉnh, 5 cơ sở liên tỉnh) 1 cơ sở sản xuất nước sạch, với số thu hàng năm khoảng 65 tỷ đồng.
Trong năm 2012, đơn vị đã thu gần 70 tỷ đồng, theo kế hoạch năm 2013 thu 66 tỷ đồng từ các đơn vị trên. Là một loại hình dịch vụ mới góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng với tính chất “lấy rừng nuôi rừng”, giảm gánh nặng ngân sách và từng bước xóa bao cấp về ngân sách cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng, bảo đảm cho người lao động lâm nghiệp có thu nhập tại những khu vực có rừng…
Theo đó, qua các nguồn thu từ các cơ sở sản xuất thủy điện; cung ứng nước sạch; sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trên địa bàn tỉnh, Quỹ BV&PTR tỉnh đang quản lý chi trả cho 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước; 108 UBND xã là tổ chức nhà nước không phải là chủ rừng; 7 cộng đồng dân cư thôn của 4 xã thuộc 3 huyện.
Tuy nhiên, qua 1 năm thành lập, dù Quỹ đã tổ chức các cuộc họp, tập huấn cho các đối tượng liên quan đến việc thu nộp quỹ hay các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR vẫn chưa hiểu rõ vì sao phải nộp quỹ, những yêu cầu để sử dụng quỹ… đó chính là lý do để Quỹ BV&PTR tổ chức các lớp tập huấn chính sách chi trả trả dịch vụ môi trường rừng cho UBND cấp xã vừa qua.
Là địa phương hiện còn diện tích rừng lớn, đa dạng nhất trong tỉnh với trên 122 ngàn ha, dù vậy, người dân sinh sống dưới tán rừng vẫn chưa có được nguồn thu nhập ổn định ngoài các lâm sản phụ đang cạn dần do bị khai thác triệt để.
Ông Phạm Xuân Trường- Phó Chủ tịch UBND huyện Kbang khẳng định: DVMTR là một chính sách hay bởi nếu không có sự tham gia bảo vệ rừng là một thiếu sót lớn, do vậy việc “lấy rừng nuôi rừng” là việc làm thiết thực nhằm tạo thêm điều kiện để người dân được hưởng thụ khi sinh sống ngay dưới tán rừng và tham gia bảo vệ phát triển rừng. Nếu có thêm nguồn kinh phí từ DVMTR, mỗi năm các địa phương sẽ có thêm khoản để chi cho việc tổ chức truy quét, tuyên truyền, phòng-chống cháy rừng, người dân được giao bảo vệ rừng sẽ tăng thêm về nhận thức, cùng tham gia bảo vệ, trồng rừng.
Kon Pne là địa phương được biết đến là xã nghèo và còn nhiều khó khăn nhất của huyện Kbang, toàn xã hiện có 247 hộ, 1.465 khẩu, tỷ lệ hộ nghèo tại xã trên 67%, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào nguồn thực phẩm tự trồng, sản xuất được. Nghèo trong cuộc sống, nhưng người dân ở đây luôn có được nguồn thức ăn hay các lâm sản phụ ổn định lấy được từ rừng. Vui mừng hơn, mới đây chính quyền địa phương nhận được thông tin xã nghèo của mình sẽ nhận được 700 triệu đồng từ Quỹ BV&PTR để chi trả cho dịch vụ môi trường rừng nơi có 2.521 ha rừng thuộc lưu vực sông Sê San cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện.
Ông Lê Văn Quang- Phó Chủ tịch UBND xã Kon Pne vui mừng nói: Khi biết xã mình sẽ nhận được số tiền lớn từ Quỹ BV&PTR chính quyền và nhân dân chúng tôi ai nấy cũng đều vui, khi thực hiện chính sách chi trả, mỗi hộ dân sẽ nhận được gần 2 triệu đồng với số tiền này đủ để mua gạo trong 8 tháng, giúp người dân bớt đi những khó khăn bởi số hộ nghèo tại xã hiện còn quá lớn.
Ông Võ Văn Hạnh- Giám đốc Quỹ BV&PTR tỉnh cho biết: Gia Lai có diện tích tự nhiên lớn với trên 1.649 ngàn ha, phong phú về các loài, kiểu, dạng khác nhau về tính chất, hình thái và ý nghĩa kinh tế. Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ mở ra cơ hội lớn để người dân, người trồng rừng được hưởng lợi, chăm sóc bảo vệ rừng luôn giữ cho rừng phát triển bền vững.
Qua các lớp tập huấn, dù các thông tin, chính sách đã được gửi đến các đơn vị, tuy nhiên phần lớn người trực tiếp thực hiện chưa hiểu hết do chính sách còn khá mới nên chưa rõ cách sử dụng quỹ và phân bổ thế nào. Sau các lớp mọi người đã nắm bắt rõ ràng, cũng như làm thế nào để lập phương án theo từng giai đoạn cụ thể. Điều quan trọng nhất chính là sự quan tâm của chính quyền địa phương nơi tổ chức các lớp tập huấn, qua đó, lãnh đạo huyện, các cán bộ chuyên môn nắm rõ và triển khai đồng bộ trong thời gian đến. (Báo Gia Lai 12/12) đầu trang(
UBND tỉnh Phú Yên vừa ban hành định mức kỹ thuật và suất đầu tư cho các dự án lâm sinh trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Theo quy định này, mức hỗ trợ đầu tư trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ sẽ có nhiều điểm mới.
Theo đó, định mức kỹ thuật áp dụng cho trồng thuần loại cây gỗ lớn (các loài sao, dầu, lim xanh…); trồng thuần loại cây mọc nhanh (các loài keo); trồng hỗn giao theo hàng (cây gỗ lớn và cây mọc nhanh). Thời gian đầu tư là 4 năm, bao gồm 1 năm trồng và 3 năm chăm sóc).
Dự toán suất đầu tư bình quân bằng tiền 28.000.000 đồng/ha đối với cây gỗ lớn, cây mọc nhanh; Đối với cây trồng hỗn giao, dự toán suất đầu tư bình quân là 29.000.000 đồng/ha. Trong đó, bao gồm chi phí trực tiếp trồng rừng và chăm sóc, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn.
Quy đổi suất đầu tư bằng tiền sang nhân công, tổng công đầu tư bình quân 187,29 công/ha/4 năm đối với cây gỗ lớn; 187,29 công/ha/4 năm đối với cây mọc nhanh; 193,98 công/ha/4 năm đối với cây trồng hỗn giao. (Phuyen.gov.vn 12/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo thống kê của Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, đến nay, hơn 500 cây cổ thụ thuộc trên 50 loài ở hơn 30 tỉnh, thành phố trên cả nước, mang nhiều ý nghĩa lịch sử văn hóa đã được công nhận là di sản Việt Nam.
Trong đó, thành phố Hà Nội có số cây cổ được công nhận nhiều nhất gồm cây sanh ở đình Nhật Tân (phường Nhật Tân), cây si ở phủ Tây Hồ cùng cây đa cổ thụ xóm Quýt xã Yên Bài và cây lộc vừng 2 thân ở xã Châu Sơn (huyện Ba Vì)...
Các chuyên gia môi trường cho rằng, việc bảo tồn cây di sản Việt Nam đã trực tiếp bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, đồng thời góp phần tích cực nâng cao nhận thức và xây dựng các hành vi ứng xử tốt hơn cho người dân đối với tài nguyên và môi trường. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/12) đầu trang(
Tỉnh Đồng Nai đang triển khai thực đề án bảo vệ diện tích rừng tự nhiên (giai đoạn 2014-2015 vừa được Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua), với tổng vốn đầu tư gần 250 tỷ đồng.
Đề án này nhằm từng bước nâng cao chất lượng rừng, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên rừng, phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái cây gỗ lớn bản địa... góp phần đáp ứng nhu cầu về lâm sản và phát triển kinh tế.
Theo đề án, 161.984ha diện tích rừng hiện có gồm 119.809ha rừng tự nhiên và 42.174ha rừng trồng sẽ được bảo vệ chặt chẽ; khoán bảo vệ rừng đặc dụng trên 43.000ha; chi trả dịch vụ môi trường, xây dựng kết cấu hạ tầng lâm nghiêp như xây dựng các trạm bảo vệ rừng, cắm 113 mốc ranh giới và 357 mốc ranh giới của 3 loại rừng.
Ngoài ra, đề còn có phát dọn 8.766ha đường băng cản lửa; đầu tư xây dựng 13 chòi canh lửa kiên cố, 10 điểm tích nước phòng chống cháy rừng...; tiến hành trồng mới 660ha rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng sản xuất; khoanh nuôi phục hồi 1.574ha rừng đặc dụng và rừng hộ...
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tiếp tục phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp đối với chính quyền cấp huyện và xã có rừng; xác định rõ trách nhiệm của chủ rừng; thực hiện tốt quy chế do chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện ban hành về phối hợp quản lý bảo vệ rừng giữa đơn vị chủ rừng, Ủy ban Nhân dân cấp xã sở tại và các cơ quan chức năng địa phương.
Đồng thời, tăng cường các biện pháp bảo vệ động vật hoang dã gắn với bảo tồn nguồn gen các hệ sinh thái rừng tự nhiên thuộc vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, thực hiện dự án khẩn cấp bảo tồn đàn voi giai đoạn 2014-2015 sau khi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt.
Ông Phạm Minh Đạo, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh cho biết, việc thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải dựa trên nền tảng quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng, bảo đảm an ninh môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, thực hiện hiệu quả chức năng phòng hộ, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, góp phần giảm nghèo ở nông thôn, miền núi… Đây là việc làm hết sức khó khăn, cần được thực hiện lâu dài và bền bỉ.
Theo Sở NN&PTNT Đồng Nai, từ đầu năm đến nay, các đơn vị lâm nghiệp trong tỉnh đã tiến hành trồng mới được gần 330ha rừng, đạt 85% kế hoạch; trong đó, có trên 57ha rừng đặc dụng, 163ha rừng phòng hộ và 107ha rừng sản xuất. (VietnamPlus.vn 12/12) đầu trang(
Trước tình hình phá rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép có chiều hướng gia tăng, tỉnh Kon Tum đã thành lập Ban Chỉ đạo về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (QLBV&PTR). Khi cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, công tác QLBV&PTR đã có những chuyển biến tích cực...
Theo ông Nguyễn Trung Hải-Giám đốc Sở NN&PTNT, Ban chỉ đạo công tác QLBV&PTR ở các huyện, thành phố do Bí thư Huyện ủy, Thành ủy làm trưởng ban; chủ tịch UBND huyện, thành phố làm phó ban trực. Ngoài việc thành lập Ban chỉ đạo, các huyện và thành phố còn thành lập Tổ công tác đặc biệt do Phó Chủ tịch UBND các huyện, thành phố làm tổ trưởng để tham mưu giúp Ban chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ QLBV&PTR.
Tại tỉnh Kon Tum, Trưởng ban chỉ đạo công tác QLBV&PTR do Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm trưởng ban và giám đốc Sở NN&PTNT làm phó trưởng ban và các sở, ngành là thành viên. Khi cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, công tác QLBV&PTR ở tỉnh đã thực sự có những chuyển biến tích cực.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng thông qua Ban chỉ đạo công tác QLBV&PTR, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, các chủ rừng huy động lực lượng tuần tra, truy quét mạnh tại những khu vực trọng điểm phá rừng, khai thác rừng trái phép. Nhiều vụ phá rừng làm nương rẫy, nhiều vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép được kịp thời phát hiện và xử lý. Các đối tượng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép không còn manh động như trước.
Theo thống kê, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác QLBV&PTR đã có nhiều những chuyển biến tích cực, tình hình phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép… tại các “điểm nóng” đã được hạn chế. So với cùng kỳ năm ngoái, năm nay giảm 181 vụ vi phạm lâm luật (năm 2012 là 905 vụ thì năm 2013 là 724 vụ, giảm 20%), diện tích rừng bị phá giảm 28,59 ha.
Bên cạnh việc tăng cường QLBVR, tỉnh còn triển khai thực hiện có hiệu quả phương án giao rừng, cho thuê rừng. Nếu như năm 2012, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các cấp chính quyền địa phương giao 13.086,6 ha rừng cho 1.226 hộ gia đình ở 3 huyện (Đăk Tô, Kon Rẫy và Kon Plông), thì năm 2013 giao 25.950 ha rừng cho người dân ở 5 huyện, thành phố (Đăk Glei, Ngọc Hồi, Tu Mơ Rông, Đăk Hà và thành phố Kon Tum).
Theo đánh giá của UBND tỉnh, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) đã được chỉ đạo thống nhất trong hệ thống chính trị, tạo ra sức mạnh tổng hợp để huy động lực lượng kiểm tra, truy quét, trấn áp lâm tặc, ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hành vi vi phạm lâm luật và nhiều mục tiêu khác đã đề ra.
Phát huy những kết quả đã đạt được, UBND tỉnh đã chỉ đạo Ban chỉ đạo công tác QLBV&PTR các huyện, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác QLBVR. Bên cạnh việc tiếp tục tuần tra truy quét, xử lý có hiệu quả các “điểm nóng”, Ban chỉ đạo công tác QLBV&PTR ở các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo việc rà soát, bố trí, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy để nhân dân ổn định sản xuất lâu dài … (Kontum.gov.vn 12/12) đầu trang(
Ngày 6/12/2012, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định số 10117 thành lập Ban Quản lý rừng Đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa (BQL) trực thuộc Sở NN&PTNT, theo đó diện tích rừng đặc dụng đơn vị quản lý, bảo vệ tăng từ 20.589ha lên 28.030ha.
Song song với việc ổn định công tác tổ chức bộ máy, lãnh đạo BQL đã tập trung triển khai kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, mà trọng tâm là phối hợp với các lực lượng và chính quyền đia phương tổ chức các đợt kiểm tra, truy quét các đối tượng tác động vào rừng.
Trong năm 2013, tổng số đợt truy quét được các Trạm quản lý bảo vệ rừng thực hiện 95 đợt, đã phát hiện 11,207m3 gỗ các loại, tiến hành bàn giao cho Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa 5,706 m3; hủy tại hiện trường 5,501m3; phá hủy 27 lán trại, toàn bộ dụng cụ phá rừng; truy đuổi ra khỏi rừng 51 đối tượng vào rừng trái phép; chuyển giao cho các cơ quan chức năng 04 đối tượng để xem xét xử lý theo pháp luật.
Qua một năm nhìn lại, mặc dù đầu năm có sự thay đổi lớn về mặt tổ chức bộ máy, nhưng nhờ làm tốt công tác tử tưởng, xây dựng khối đoàn kết trong cơ quan, xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm và đề ra giải pháp thực hiện khả thi, nên kết quả đạt được của BQL là đáng khích lệ, góp phần vào thành tích chung của ngành NN&PTNT nói chung, lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng, tỷ lệ che phủ rừng được nâng lên đáng kể, góp phần xây dựng môi trường trong lành cho thành phố, bảo tồn đa dạng sinh học khu vực để phục vụ phát triển ngành du lịch sinh thái của thành phố. (Sở NN&PTNT Đà Nẵng 12/12) đầu trang(
Theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn, thời diểm nông nhàn, người dân sinh sống tại các vùng rừhg phòng hộ, rừng núi đá thường tổ chức vào rừng, lên núi khai thác gỗ trái phép. Hạt đã tăng cường các biện pháp nghiệp vụ nhằm ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản trên toàn huyện, đồng thời tăng cường các biện pháp chăm sóc và bảo vệ rừng.
Trong 10 tháng đầu năm 2013, ngành đã tập trung trien khai quyết liệt công tác tuần tra, kiểm tra, tổ chức truy quét, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép tại các địa phương có điểm "nóng"; đồng thời phối hợp cùng UBND các xã, thị trấn tổ chức 177 cuộc tuyên truyền, học tập các quy định của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ rừng với 7.294 lượt người tham gia; ký cam kết bảo vệ rừng giữa hộ gia đình và trưởng thôn với 6.498 người đại diện, có 31 chủ tịch xã ký cam kết với chủ tịch huyện và 455 trưởng thôn ký cam kết với chủ tịch xã; tổ chức 7 lớp tập huấn công tác khuyên lâm với 140 học viên tham gia tại 7 xã gồm: Quy Quân; Lực Hành; Chiêu Yên; Hùng Lợi; Trung Sơn; Kim Quan; Phú Thịnh.
Tính đến thời điểm này, Hạt Kiểm lâm huyện đã tiến hành xử lý hành chính 97 vụ vi phạm các quy định quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (trong đó, phá rừng trái phép 17 vụ, giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm trước); mua bán, cất giữ lâm sản trái với các quy định Nhà nước 5 vụ; 12 vụ vận chuyển trái pháp luật. Đã xử lý hành chính 97 vụ, trong đó phạt tiền 63 vụ, xử lý khác 31 vụ, xử lý hình sự 3 vụ. Bên cạnh đó, tịch thu 4 xe máy, 10 máy móc các loại, 4 công cụ thủ công như dao, búa và 43,294m3 gỗ tròn (trong đó, gỗ thông thường 39,101 m3, 4,193m3 gỗ quý hiếm và 14,381 m3 gỗ xẻ, thu nộp Ngân sách Nhà nước gần 427.950 triệu đồng).
Ông Trần Văn Dũng, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn cho biết: Nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản, đồng thời triển khai có hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng trong những tháng mùa khô sắp tới, Hạt đã chủ động tham mưu cho UBND huyện ban hành phương án, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản ly bảo vệ rừng. Trong đó, tập trung vào các vấn đề trọng tâm như ra soát, thống kê các đối tượng thường xuyên vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; xử lý các vụ việc vượt thẩm quyền theo quy định; tham gia xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành trong việc tiếp nhận, giải quyết thông tin tố giác về các hành vi vi phạm của quần chúng nhân dân.
Về công tác trồng rừng và công tác quản lý bảo vệ: Tổng diện tích theo kế hoạch trồng rừng sản xuất năm 2013 là 4.000 ha, đã triển khai thực hiện trồng được 4.032,2/4.000ha, đạt 100,8% kế hoạch. Trong đó, trồng rừng theo hỗ trợ theo Quyết định 147/QĐ-TTg là 605,55ha/600ha đạt 100,9%; nhân dân tự bỏ vốn trồng rừng 2.932,15ha (trong đó rừng sản xuất 2.850ha, trồng rừng phòng hộ 81,65ha); trồng rừng của các công ty lâm nghiệp 397,5ha đạt 63,6% theo kế hoạch.
Song song với đó, Hạt thường xuyên phối hợp tốt với các ngành chức năng, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản liên quan đến cồng tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở; lồng ghép tuyên truyền vào các buổi họp thôn đến toàn thể nhân dân trên địa bàn bằng nhiều hình thức khác nhau. Qua đó, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân trong việc giữ rừng, chung tay cùng cac cấp, ngành thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Từ này đến cuối năm và năm tiếp theo, Hạt Kiểm Lâm huyện Yên Sơn tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm tra nhằm quản lý bảo vệ rừng tận gốc; kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm; triển khai triệt phá các ổ nhóm, tụ điểm khai thác, mua bán và vận chuyển trái phép lâm sản; phối hợp với Công an, Viện kiếm sát huyện đưa ra khởi tố các đối tượng vi phạm nhiều lần, tái vi phạm có tổ chức, chống người thi hành công vụ, để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong cộng đồng. Cùng với đó, duy trì tốt các tổ chốt chặn theo kế hoạch thực hiện của ngành; triển khai kế hoạch về truy quét, ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn huyện Yên Sơn. (Thanh Tra 12/12) đầu trang(
Ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức (Hà Nội) nhiều gia đình đã biết kết hợp gắn phát triển kinh tế với việc chăm sóc, bảo vệ rừng, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và đặc biệt là bảo vệ môi trường sinh thái rừng.
Gia đình anh Nguyễn Văn Minh và chị Trịnh thị Chính là một trong những gia đình như thế tại thôn Yến Vỹ, xã Hương Sơn. Hiện tại, gia đình anh Minh đang nhận khoán bảo vệ 91ha rừng từ Ban quản lý Rừng đặc dụng Hương Sơn, đồng thời gia đình anh còn được giao 10ha đất rừng để phát triển kinh tế. Ngoài thu nhập từ diện tích rừng nhận khoán gia đình anh còn phát triển vườn cây rau sắng trên đất rừng được giao. (Khuyến Nông Hà Nội 12/12) đầu trang(
Phải chứng kiến cả một triền núi thành đất trống đồi trọc, xuất phát từ suy nghĩ không muốn rừng tiếp tục bị tàn phá thêm nữa, người Đảng Viên Nguyễn Quyết Tiến ở thôn Chiềng 4 - xã Võ Lao - huyện Văn Bàn đã ấp ủ tâm nguyện, sẽ cùng với các thành viên trong gia đình trồng cây.
Sinh ra và trưởng thành ở vùng đất Võ Lao, ông đã có nhiều đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng quê hương mình. Nay ở tuổi 57, năm 1974 lúc đó mới 18 tuổi trong khi chiến tranh chống đế quốc Mỹ đang ở vào thời điểm ác liệt nhất. Người thanh niên Nguyễn Quyết Tiến không ngần ngại, lên đường làm nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc.
Giữa năm 2013, ông được nghỉ hưu hưởng chế độ theo quy định Nhà nước. Càng thuận lợi để thực hiện dự định về phát triển rừng, đã được ông ấp ủ từ cách đây bảy năm. Theo lời ông kể, khu vực rừng Cốc Nâm (theo tiếng địa phương). Lúc đó bị người dân tàn phá nghiêm trọng để làm nương rẫy. Ông vận động chính những người phát rừng, tham gia trồng cây để phủ xanh trở lại. Nhưng họ không ủng hộ. Vì vậy ông quyết tâm sẽ phải bằng mọi giá để cứu vãn lấy màu xanh cho những cánh rừng.
Tâm huyết của ông được mọi thành viên trong gia đình ủng hộ. Do vậy ông đứng ra nhận bảo vệ diện tích đất rừng khoảng trên 70ha. Ban đầu cũng gặp không ít khó khăn, vì phải đầu tư dựng lán để ở, có người trông coi, đào hào dài tới nửa cây số... Nhưng tất cả những công việc đó đã được ông sắp xếp hợp lý. Để cây mới trồng có thể lên được, đảm bảo tỷ lệ cây sống cao. Có thời điểm cả gia đình đến chục người phải mất hàng tuần tập trung phát, chăm sóc cây trồng. Toàn bộ diện tích trên ông Tiến và các con đầu tư trồng Trẩu.
Cũng theo lời ông, hiện tại cả gia đình đã trồng được trên 4 tạ hạt giống. Riêng năm 2013 trồng được 1, 7 tạ. Đến nay khoảng 4000 cây trồng thời điểm đầu tiên đã cho thu hoạch, ước tính thu về bảy trăm đến tám trăm triệu đồng. Vì diện tích rừng quá lớn nên phải tiến hành trồng gối nhau thành nhiều lứa. Những cây nhỏ nhất nay cũng đã cao quá đầu người.
Nhiều năm qua, gia đình ông trở thành hộ làm kinh tế điển hình. Với mô hình sản xuất, kết hợp chăn nuôi thủy sản và trồng rừng. Cùng với làm 5 sào ruộng nước, còn đầu tư nuôi cá chủ yếu là rô phi đơn tính trên diện tích ao hơn 600m2. Mỗi năm xuất ra thị trường hơn tấn cá thương phẩm.
Năm 2012, gia đình ông được công nhận là hộ sản xuất giỏi cấp huyện, gia đình đạt danh hiệu văn hóa cấp tỉnh. Sau khi nghỉ hưu ông Tiến lại được tín nhiệm làm chủ tịch Hội Khuyến Học xã Võ Lao. Xác định rõ trách nhiệm của một người Đảng Viên, phải gương mẫu đi đầu trong các phong trào. Bản thân ông cũng tiếp tục có những đóng góp không nhỏ, cho xây dựng nông thôn mới tại địa phương. (Laocai.gov.vn 12/12) đầu trang(
Ban Chỉ đạo T.Ư Phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các khu vực như: Tuần Giáo (Ðiện Biên); Lục Yên, Mù Cang Chải, TP Yên Bái, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình (Yên Bái); Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, bởi nhiều ngày nay các khu vực này không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. (Nhân Dân 12/12) đầu trang(
Ông Nguyễn Tuấn Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà cho biết: Để làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng và chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô hanh, Ban Chỉ đạo PCCCR huyện Mường Chà đã xây dựng kế hoạch, lập các phương án phòng cháy, chữa cháy, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Huyện Mường Chà có 40.223ha đất có rừng; trong đó, 39.025ha rừng tự nhiên, còn lại là diện tích rừng trồng. Bước vào mùa hanh khô năm nay, Ban Chỉ đạo PCCCR huyện đã chỉ đạo UBND xã, thị trấn kiện toàn lại các ban chỉ huy PCCCR, do chủ tịch hoặc phó chủ tịch làm trưởng ban, kiểm lâm địa bàn làm phó ban, các ban, ngành, đoàn thể là các thành viên; củng cố, kiện toàn 109/109 tổ, đội PCCCR tại các thôn, bản với 1.628 người tham gia. Mỗi tổ, đội gồm 3 – 5 người có trách nhiệm tuần tra, kiểm soát rừng, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng trên địa phận thôn, bản mình quản lý. Toàn huyện có 7.591 hộ ký cam kết không để xảy ra cháy rừng.
Nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm trong PCCCR, các cơ quan, đơn vị đóng chân trên địa bàn tổ chức quán triệt cho cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị mình về công tác PCCCR; kiểm lâm địa bàn phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở xây dựng tài liệu tuyên truyền, tổ chức hội nghị triển khai công tác PCCCR cho toàn thể cán bộ và người dân trên địa bàn quản lý.
Nội dung tuyên truyền tập trung giới thiệu Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, tỉnh và huyện trong công tác PCCCR. Kết hợp với các nhà trường thường xuyên nhắc nhở học sinh không được mang chất cháy, lửa vào rừng, không được đốt lửa ở gần và trong rừng vào mùa hanh khô.
Song song với các biện pháp tuyên truyền, công tác kiểm tra kiểm soát rừng cũng rất được chú trọng. Lực lượng kiểm lâm cắm xã, bảo lâm xã luôn bám sát địa bàn, tăng cường tuần tra, phát hiện và xử lý các đối tượng có hành vi xâm hại đến rừng theo đúng quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, lực lượng chức năng vận động và hướng dẫn người dân thực hiện các quy định về sản xuất nương tại các vùng đã quy hoạch như: Thực bì phát nương phải được vun thành đống, luống để đốt; phát đường băng cản lửa trước khi đốt nương; đốt nương lúc trời râm mát, lặng gió. Khi đốt phải có người canh gác và phải báo cho trưởng bản trước khi đốt. Đốt xong phải kiểm tra toàn bộ nương, khi lửa tắt hẳn mới được rời khỏi nương...
Các phương án PCCCR cũng được triển khai, phổ biến tới các ban chỉ huy PCCCR cơ sở; trong đó nêu ra các tình huống xử lý cụ thể khi có cháy rừng xảy ra cần thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ không cho đám cháy lan rộng . Trong trường hợp cháy rừng lớn, quá tầm kiểm soát, Ban chỉ huy PCCCR cơ sở phải báo ngay cho Ban chỉ đạo PCCCR cấp huyện để huy động lực lượng và phương tiện tham gia chữa cháy.
Ông Nguyễn Tuấn Quang cho biết thêm: Trong những năm gần đây, nhờ làm tốt công tác PCCCR, trên địa bàn huyện Mường Chà không để xảy ra cháy rừng. Mùa khô năm nay, với những kế hoạch đã được xây dựng chi tiết, kỹ lưỡng, huyện Mường Chà sẽ tiếp tục phát huy thành tích đã đạt được, chủ động trong công tác PCCCR hạn chế tối đa thiệt hại do cháy rừng. (Báo Điện Biên 11/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 9/12, UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 1955 về việc thành lập Ban Chỉ đạo điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Lạng Sơn
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 594/2013 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện công tác điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh; giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện; tổ chức sơ kết, tổng kết; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định.
Trưởng Ban Chỉ đạo quy định quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo; phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo; quyết định thành lập tổ công tác kiểm kê rừng giúp việc cho Ban Chỉ đạo. (Langson.gov.vn 12/12) đầu trang(
Đó là nhận xét của PGS.TS Hoàng Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn khu vực vực miền Trung (CRD) tại hội thảo về “thực trạng giao đất rừng theo thông tư 38/2007 và thông tư liên tịch 7/2011 tại một số tỉnh miền Trung” vừa diễn ra tại thành phố Huế.
Theo thống kê của Trung tâm phát triển nông thôn khu vực vực miền Trung (CRD) tại Việt Nam đến nay đã có 11,67 triệu ha rừng và đất rừng được giao trên toàn quốc chiếm tỷ lệ 71,8% tổng diện tích đất rừng của Việt Nam. Giao đất giao rừng (GĐGR) đã góp phần đưa tỷ lệ che phủ rừng từ 23% năm 1983 tăng lên 39,9% năm 2012. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác GĐGR đang còn nhiều vấn đề bất cập đó chính là công tác giao rừng vẫn chưa gắn liền với giao đất. Rừng chưa được giao một cách thực sự. GĐGR chưa đồng bộ còn chồng chéo.
Nhằm làm rõ những vấn đề bất cập trong việc GĐGR, Trung tâm phát triển nông thôn khu vực vực miền Trung và Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tiến hành nghiên cứu công tác GĐGR tại 4 tỉnh miền Trung là Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Qua nghiên cứu, điều tra, thực tế tại 4 địa phương này CRD đã đưa ra nhiều nhận định, trong đó rừng giao cho hộ gia đình quản lý ở các tỉnh còn khá thấp, nhất là Hà Tĩnh chỉ chiếm 8,5%.
Trong giai đoạn từ năm 1994 - 1999, rừng được giao chủ yếu là rừng trồng và đất lâm nghiệp chưa có rừng để trồng rừng. Đặc biệt diện tích đất rừng thường giao cho người dân chủ yếu là rừng nghèo. Điển hình là rừng ở huyện Nam Đông, huyện Tuyên Hóa, huyện Kỳ Anh, rừng phục hồi sau khai thác huyện Tây Giang, quyền lợi của chủ rừng đối với rừng tự nhiên chưa được quy định rõ ràng nên chủ rừng chưa đầu tư vào bảo vệ và làm giàu rừng được giao.
CRD cũng chỉ ra một số trường hợp giao rừng rất hình thức, chỉ giao trên giấy tờ, chủ rừng chưa xác định được ranh giới cụ thể. Ví dụ rừng tự nhiên giao rừng cho cộng đồng ở huyện Tây Giang năm 2003 - 2005, rừng tự nhiên giao cho nhóm và gia đình ở huyện miền núi Nam Đông tỉnh Thừa Thiên - Huế các trường hợp này sai lệch giữa hồ sơ và thực tế. Nhiều chủ rừng chưa biết được rõ ràng ranh giới của rừng được giao.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng còn chậm hoặc không được thực hiện. Nhiều trường hợp rừng phòng hộ được giao chưa phù hợp với đối tượng nhận rừng. Đơn cử như giao rừng phòng hộ cho tổ chức kinh tế (ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) hoặc giao rừng sản xuất cho ban quản lý rừng phòng hộ (BQL Khu bảo tồn Kẻ Gỗ, Ngàn Sâu) dẫn đến việc chủ rừng gặp khó khăn khi quản lý các diện tích không đúng với chức năng nhiệm vụ.
Rừng được giao cho cộng đồng phổ biến hơn so với cộng đồng thôn như tại huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam rừng được giao cho 56 hộ cộng đồng thuộc 70 thôn (có những cộng đồng gồm 2 thôn) đều giao cho cộng đồng dân cư bao gồm nhóm hộ, câu lạc bộ khuyến nông…
Nhìn nhận thực tế việc giao đất giao rừng tại miền Trung đang tồn tại nhiều khó khăn trong đó các văn bản thực thi và điều hành còn nhiều vấn đề bất cập, chồng chéo. PGS.TS Hoàng Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn khu vực vực miền Trung (CRD) điều phối của Liên minh Đất rừng cho hay: “Giao đất giao rừng là một chủ trương đúng đắn và là cần câu quan trọng giúp người dân xóa đói giảm nghèo.
Do đó, các thông tư cần quy định cụ thể hơn về cơ chế tham gia trong giao đất giao rừng, đặc biệt là sự tham gia của người dân vì họ là người biết rất rõ đặc điểm khu rừng, vị trí và ranh giới”.
Cùng quan điểm trên, đại diện Trung tâm phát triển Nông thôn miền Trung cũng cho rằng các ngành nên thống nhất quan điểm “giao rừng gắn liền với giao đất” hoặc là “giao đất gắn liền với giao rừng”. Cùng với đó là giải quyết những trở ngại trong sự phối hợp giữa ngành NN&PTNT với ngành Tài nguyên và Môi trường trong việc sử dụng bản đồ để lập hồ sơ giao đất giao rừng. (Giáo Dục&Thời Đại 12/12) đầu trang(
Diện tích rừng trồng thay thế hiện chỉ đạt gần 3,7% tổng diện tích rừng đã bị phá để làm thủy điện. Lý do được các địa phương đưa ra khi không thể truy cứu trách nhiệm các chủ dự án thủy điện là chưa có thông tư hướng dẫn.
Thống kê của Bộ Công Thương cũng cho thấy, diện tích rừng trồng bù thay thế chỉ đạt gần 2,1%. Có thể có sự khác biệt về con số giữa hai cơ quan quản lý Nhà nước, tuy nhiên có thể khẳng định một điều chắc chắn, các chủ dự án thủy điện đã không thực hiện Nghị định của Chính phủ về trồng rừng thay thế sau khi đã phá hàng trăm nghìn ha rừng để xây thủy điện. Lý do được các địa phương đưa ra khi không thể truy cứu trách nhiệm các chủ dự án thủy điện là chưa có thông tư hướng dẫn.
Từ năm 2006 đến nay, tỉnh Yên Bái có 10 thủy điện vừa và nhỏ được đầu tư xây dựng. Tổng diện tích đất rừng bị phá đi để nhường chỗ cho 10 thuỷ điện này là khoảng 176ha. Theo Nghị định 23/2006 của Chính phủ, chủ đầu tư các thủy điện này phải trồng bù 176 ha rừng, nhưng tới thời điểm này, chưa có một mét vuông rừng nào được trồng lại ở Yên Bái.
Ông Kiều Tư Giang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái cho biết: “176ha này đã có quyết định thu hồi đất, nhưng chưa có cơ sở hướng dẫn để các thủy điện phải thực hiện nghĩa vụ. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo ngành NN-PTNT phối hợp với các ngành có liên quan yêu cầu các chủ đầu tư căn cứ vào diện tích thu hồi, chuyển đổi phải cam kết thực hiện chuyển đổi trồng lại bù các diện tích đó”.
Tại tỉnh Phú Yên, tình hình cũng không khá hơn. Ba nhà máy thủy điện Sông Hinh, Sông Ba Hạ và Krông H’Năng đã lấy đi ít nhất 1000 ha rừng tự nhiên, nhưng thống kê của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên cho thấy, diện tích rừng trồng thay thế chỉ đạt trên dưới 3% tổng diện tích rừng đã lấy đi.
Ông Huỳnh Xuân Quang, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên cho biết: “Các công ty họ chưa chủ động trong vấn để triển khai trồng lại rừng theo phương án, theo đánh giá tác động môi trường đã phê duyệt. Thứ hai là chưa chủ động tìm nguồn đất, nguồn vốn để chủ động trong triển khai công tác trồng rừng. Các công ty cũng không có cán bộ chuyên môn về lâm nghiệp nên vấn đề tìm quỹ đất, xúc tiến trồng rừng cũng khó”.
Theo Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, mặc dù trách nhiệm trồng rừng thay thế là bắt buộc đối với các dự án thủy điện, nhưng trong nhiều năm qua, hầu hết các chủ đầu tư đều trốn tránh trách nhiệm, thậm chí không nộp phí dịch vụ môi trường rừng mà không ai bị truy cứu trách nhiệm. Nguyên nhân là bởi Nghị định 23 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành từ tháng 3/2006 nhưng hơn 7 năm mới có Thông tư hướng dẫn.
Viện Quản lý rừng bền vững còn đặt ra một vấn đề lớn hơn, đó là một phần đáng kể rừng bị phá phục vụ thủy điện là rừng tự nhiên có giá trị lớn về lâm sản và sinh thái. Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định thủy điện lấy mất bao nhiêu diện tích rừng thì phải trồng lại bấy nhiêu. Còn giá trị những diện tích rừng bị thu hồi này thì chưa có văn bản pháp luật nào quy định. Ngay cả Thông tư số 24 vừa được ban hành tháng 5 vừa qua cũng không quy định vấn đề này.
Nghiên cứu của Viện Quản lý rừng bền vững cho thấy, tình trạng hạn hán, lũ lụt diễn biến bất thường trong thời gian qua có liên quan tới việc chặt phá rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn để làm thủy điện. Vì vậy, nếu chủ đầu tư chưa bố trí kinh phí trồng rừng thay thế trong tổng mức đầu tư dự án thì không nên cho triển khai dự án. Đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm của địa phương trong việc xây dựng đơn giá, bố trí quỹ đất để trồng rừng thay thế. (VTV 12/12) đầu trang(
Theo kế hoạch, mùa mưa vừa qua, Lâm Đồng sẽ trồng 200ha rừng theo chương trình 30a. Ngày 12.12, theo số liệu báo cáo của UBND tỉnh, diện tích rừng được trồng theo chương trình này chỉ được 63ha.
Nguyên nhân đươc UBBD tỉnh nêu lên là do công tác tuyên truyền vận động còn hạn chế dẫn đến người dân không tham gia nhận đất trồng rừng 30a, việc phối hợp giữa chủ rừng và UBND các cấp chưa chặt chẽ dẫn đến việc lập và phê duyệt hồ sơ chậm. (Lao Động 12/12) đầu trang(
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam vừa khởi động chương trình phục hồi rừng ở dãy Trường Sơn, khu vực biên giới Lào và Việt Nam.
Chương trình được thực hiện tại 20 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đây là một hoai động của Dự án “Dự trữ các-bon và bảo tồn đa dạng sinh học” (CarBi) do WWF khởi xướng. Trong đợt trồng rừng này, các cây bản địa sẽ được trồng mới trên 200 ha và hơn 430 ha rừng tại những điểm trọng yếu của hai tỉnh.
Năm 2014, chương trình sẽ tiếp tục trồng thêm cây bản địa trên 250 ha và xúc tiến tái sinh rừng tại 2.970 ha cũng tại khu vực trên.
Hợp phần Phục hồi rừng của dự án là một chiến lược bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng và được thực hiện với sự hợp tác của các hộ gia đình địa phương. Các hộ dân chính là những người sẽ thực hiện việc phục hồi rừng, nơi cung cấp sinh kế cho họ. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/12) đầu trang(
Những năm qua, bên cạnh việc triển khai trồng rừng phòng hộ, huyện Tam Đường luôn chú trọng phát triển rừng sản xuất góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.
Cùng với các chính sách hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước về công tác phát triển rừng, việc trồng và bảo vệ rừng đang trở thành con đường làm giàu của nhiều người dân trong huyện. Gia đình anh Lò Văn Chón ở bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin (huyện Tam Đường) có hơn 1ha rừng trồng. Được tuyên truyền về lợi ích rừng mang lại, anh thường xuyên bảo vệ và chăm sóc diện tích rừng. Nhờ vậy, đến nay diện tích rừng của gia đình anh luôn phát triển tốt.
Anh Chón nói: “Hiện nay, tận dụng diện tích đồi trọc, gia đình chủ động đưa các giống cây có giá trị kinh tế cao vào trồng. Lúc đầu, khi trồng, tôi còn e ngại, lo lắng chưa hiểu rõ lắm. Thấy cán bộ xã phổ biến về hiệu quả kinh tế từ rừng, bà con trong bản rất phấn khởi vì trước đây một số diện tích chỉ trồng được ngô, sắn, chỗ nào cằn cỗi thì cỏ mọc um tùm. Nay rừng lên xanh tốt, hiệu quả lâu dài thì chưa dám kết luận nhưng trước mắt, rừng xanh lên, nguồn nước về ổn định hơn, việc sản xuất nông nghiệp cũng thuận lợi”.
Ông Vương Văn Thắng – Bí thư Huyện ủy Tam Đường cho biết: “Làm thế nào giúp bà con từng bước vươn lên xóa đói giảm nghèo luôn là trăn trở của huyện. Một số phương án đã được đưa ra trong các cuộc họp của huyện, trong đó, trồng rừng kinh tế cũng là một hướng đi hiệu quả và đảm bảo yếu tố phát triển bền vững. Huyện đã chú trọng phát triển rừng với các giống cây có giá trị như mắc ca, keo, sơn tra… để giúp người dân có thêm thu nhập”.
Tương lai là vậy nhưng hiện tại Tam Đường vẫn gặp phải một số khó khăn về đầu ra cho sản phẩm. Bên cạnh đó, việc lựa chọn giống cây trồng rừng để cây phát triển tốt và cho hiệu quả cao cũng là một câu hỏi hóc búa. Tuy nhiên lời giải không phải trên bàn giấy mà chính từ những trảng rừng, những giọt mồ hôi của những người dân cả đời gắn với rừng.
Trên cơ sở rà soát và tổng hợp các ý kiến của người dân có kinh nghiệm về rừng, huyện đã chỉ đạo đưa vào trồng các loại giống cây phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng địa phương và cho hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh việc phát triển đại trà cây keo tai tượng tại một số địa bàn vùng thấp; ở những xã vùng cao, độ ẩm và nền nhiệt thấp, người dân tích cực trồng thông, sơn tra và măc ca.
Anh Nguyễn Đình Thượng - Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tam Đường cho biết: “Trước mùa trồng rừng, đơn vị tham mưu cho huyện tuyên truyền vận động nhân dân khảo sát, đăng ký diện tích trồng mới. Đồng thời kiến nghị cấp trên xem xét xử lý đối với những doanh nghiệp, công ty không thực hiện đúng cam kết theo Dự án trồng rừng đã được phê duyệt để giải phóng quỹ đất.
Song song với đó là kêu gọi, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có điều kiện tiếp tục đầu tư thực hiện dự án, người dân có cơ hội thực hiện dự án do nhà nước đầu tư, hỗ trợ. Đối với những gia đình có diện tích đất rừng nhiều mà không có nhân công thì có thể huy động lực lượng và đoàn thanh niên xuống giúp trồng”.
Theo tính toán sơ bộ, diện tích rừng trồng của huyện đã bắt đầu cho thu hoạch, với trữ lượng gỗ như hiện nay có thể cho thu nhập vài trăm triệu đồng/ha. Tuy nhiên, đến thời điểm này, công tác phát triển rừng trồng của huyện vẫn còn nhiều khó khăn. Trong đó có việc không quy hoạch phát triển được diện tích đất trống. Thời gian tới, nếu huyện giải được bài toán này, sẽ góp phần giúp địa phương tìm được hướng đi mới trong phát triển rừng kinh tế, tăng thu nhập cho người dân. (Báo Lao Châu 12/12) đầu trang(
Thái Bình là địa phương có đường bờ biển tương đối dài và thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của những cơn bão. Chính vì vậy, trong thời gian qua, UBND tỉnh đã nỗ lực phục hồi và phát triển rừng ngập mặn đang ngày đêm canh giữ và bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Cuối năm 2012 bão số 8 đổ bộ vào tỉnh với sức gió cấp 12, giật cấp 14 đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với hệ thống rừng phòng hộ ven biển; cuốn trôi và phá hủy trên 1.500 ha rừng các loại. Cùng với bão, nhiều diện tích rừng non đã bị sinh vật hà gây hại, do đó diện tích rừng đã giảm đáng kể. Tính đến hết năm 2012, toàn tỉnh chỉ còn 5.688,15 ha rừng, trong đó rừng đặc dụng là 1.450,16 ha, rừng phòng hộ là 4.237,99 ha. Như vậy, còn 4.240,85 ha đất ven biển chưa có rừng đã làm suy giảm đáng kể khả năng phòng hộ chắn sóng và gió.
Là tỉnh ven biển thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, nhất là sóng biển, triều cường khi có bão, do đó rừng phòng hộ được coi như những tấm lá chắn bảo vệ đê, tài sản và tính mạng cho nhân dân rất hữu hiệu.
Thực tế đã minh chứng, nhiều đoạn đê chưa có rừng phòng hộ đã bị bão số 8 năm 2012 làm sạt lở; tổng có hơn 300 m đê biển số 6 thuộc huyện Tiền Hải bị sạt lở, trong đó 80 m đê biển thuộc địa bàn xã Ðông Long bị sạt lở nghiêm trọng. Bên cạnh đó, rừng còn là nơi trú ngụ, sinh sống của nhiều loài động, thực vật. Theo kết quả điều tra của ngành Nông nghiệp cho thấy, tổng có 137 loài động vật, gồm 16 bộ, 44 họ; trong đó có nhiều loài có trong sách đỏ thế giới, như cò mỏ thìa, bồ nông chân xám, cò quăm màu đen…
Ngoài ra còn có 52 loài thực vật, thuộc 26 họ, 48 chi, trong đó có 19 loài dược liệu. Ðặc biệt những dải rừng bần, trang cho nhiều hoa, thời gian ra hoa kéo dài là môi trường lý tưởng để phát triển nghề nuôi ong lấy mật. Tuy nhiên, do diện tích rừng bị giảm nên nhiều loài động, thực vật đang có nguy cơ mất hẳn, như một số loài chim di cư. Ngoài ra, tỉnh mới cứng hóa xong hơn 30 km đê biển trực diện với biển, với tổng vốn đầu tư trên 1 nghìn tỷ đồng, do đó việc trồng và phát triển rừng ngập mặn ven biển có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ đê trước thiên tai.
Ðể tạo ra những dải rừng chắn sóng, gió, bảo vệ bờ biển, các công trình, cơ sở sản xuất nông, công nghiệp, lập lại cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và giảm thiểu ô nhiễm nước ven bờ biển, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, các cấp, ngành và nhân dân cần chung tay giữ vững diện tích rừng hiện có và phủ kín hơn 4.000 ha còn trống.
Hiện nay, biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng khốc liệt, gây ra những thảm họa khôn lường đối với toàn thế giới, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia đã và đang phải gánh chịu hậu quả đó. Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát triển rừng đóng vai trò hết sức quan trọng để chống lại quá trình biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiệt hại khi có thiên tai xảy ra. Hiện nay ngành nông nghiệp đã xây dựng Dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thái Bình giai đoạn 2012 - 2020 để trình tỉnh xét duyệt.
Theo kế hoạch sẽ bảo vệ 5.688,15 ha rừng hiện có và trồng mới 1.188,79 ha, trồng bổ sung 790 ha, trồng cây phân tán 200 ha, chuyển hóa rừng giống 20 ha. Ngay trong tháng 9 năm 2013, 8 xã ven biển của huyện Tiền Hải và Thái Thụy đã trồng mới được 90 ha rừng, với tổng kinh phí đầu tư trên 1,3 tỷ đồng. Hơn 4,5 km đê biển số 8 thuộc địa bàn xã đã được phủ kín rừng bần, trang, có chỗ rừng rộng hơn 3,5 km hướng ra phía biển tạo thành lá chắn vững chắc để chống chọi với gió bão; tổng diện tích rừng toàn xã hiện có 1.150 ha, trong đó có 15 ha trồng mới.
Ðể bảo vệ và phát triển rừng, Thụy Trường đã thành lập 1 đội quản lý gồm 9 người và 1 hợp tác xã phụ trách trồng, chăm sóc rừng ngập mặn ven biển; phấn đấu đến năm 2020 có từ 1.500 ha đến 2.000 ha rừng… (Tài Nguyên&Môi Trường 12/12) đầu trang(
Chiều 9/12, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh cho biết vừa tạm giữ Giáp Văn Nhượng (1967, ngụ xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh) về hành vi chặt phá rừng.
Theo kết quả điều tra ban đầu, ngày 1/12, các trinh sát đội phòng chống tội phạm ma túy Đồn biên phòng Tà Pét phát hiện Nhượng chặt phá tại Tiểu khu 216 rừng phòng hộ thuộc khu di tích lịch sử Tà Thiết. Tang vật thu giữ gồm 1 cưa máy, 1 xe gắn máy và khoảng hơn 1m3 gỗ tròn.
Đối tượng khai nhận từng bị bắt về hành vi chặt phá rừng cũng tại khu di tích Tà Thiết. (Công An Nhân Dân 11/12) đầu trang(
Sáng 11-12, đại tá Trần Hữu Hồng - trưởng Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49) Công an Nghệ An cho biết, vừa bắt giữ hai xe vận chuyển gỗ trái phép.
Cùng ngày, PC49 bắt quả tang xe 16 chỗ BKS 88C-00292 do Hoàng Văn Quân (28 tuổi, ngụ thị trấn Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An) vận chuyển 12 khúc gỗ son (khoảng 5m3) tại bản Cù, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp.
Cùng thời điểm này, tại tỉnh lộ 532 trên địa bàn bản Khì, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, một mũi trinh sát khác phát hiện và bắt giữ Phạm Quốc Phương (24 tuổi, trú xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp) điều khiển xe ôtô BKS 37S-1828 thu giữ 14 khúc gỗ son (khoảng 5m3).
Tại cơ quan điều tra, cả hai đối tượng đều khai nhận vận chuyển số gỗ này từ rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc địa bàn huyện Quỳ Hợp về xuôi để tiêu thụ.
Đại tá Trần Hồng cho biết thêm từ đầu năm 2013 đến nay, PC 49 đã bắt tổng cộng 44 vụ, thu giữ 345m3 gỗ chủ yếu trên các tuyến tỉnh lộ 7A, 48A và trên tuyến sông Hiếu (bắt nguồn từ huyện Quế Phong chảy qua nhiều huyện của Nghệ An).
Số gỗ này bị lâm tặc triệt hạ trong các rừng đầu nguồn thuộc các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu rồi đưa đi tiêu thụ. (Tuổi Trẻ 11/12) đầu trang(
Những cánh rừng phi lao hàng chục năm tuổi ở vùng cát ven biển các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định… bị đốn chặt không thương tiếc để khai thác titan. Vành đai phòng hộ ngăn gió và bão cho làng quê từ bao đời nay bị phá bỏ. Thảm thực vật bị hủy hoại, nguồn nước ngầm cạn kiệt, những núi cát được hình thành tạo ra những vết sẹo lồi lõm ven biển các tỉnh miền Trung.
Theo thống kê, trong số 14 triệu tấn trữ lượng đã xác định, trên 9 triệu tấn là sa khoáng titan phân bố dọc các tỉnh ven biển miền Trung, trải từ Hà Tĩnh vào đến Bà Rịa Vũng Tàu. Đây là một con số khổng lồ nếu so với tổng trữ lượng titan đã xác định của toàn thế giới chỉ là 1.400 triệu tấn. Titan là vật liệu không thể thiếu đối với ngành công nghiệp hàng không và vũ trụ.
Titan và sản phẩm của chúng trở nên đắt hàng trong khoảng chục năm lại đây. Nhiều địa phương miền Trung nuôi ý chí thoát nghèo từ titan, cũng chính vì lẽ đó mà nhiều làng mạc ven biển của các tỉnh miền Trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định… trở nên xơ xác trước tình trạng khai thác titan. Làng không còn xanh và người cũng không bình yên.
Từ gần 15 năm nay, những cánh rừng phi lao vài chục năm đến trăm năm tuổi ở vùng cát ven biển các xã Vĩnh Thái (Vĩnh Linh), Trung Giang, Gio Mỹ (Gio Linh) của tỉnh Quảng Trị đã bị nạn khai thác titan đào xới, hủy diệt tan tành. Trơ lại giữa cát là hàng trăm thứ tạp chất độc hại thải ra từ các máy hút cát. Trong “cơn lốc đen” khốc liệt ấy, quá trình sa mạc hóa và cạn kiệt nguồn nước đã ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của người dân. Khi đi qua những vùng đất Vĩnh Linh, Gio Linh, Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị), dễ dàng nhận thấy có đến hàng trăm máy khoan hình ốc vít đang “móc ruột” bãi biển, làng mạc để lấy titan.
Ở xã biển bãi ngang Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh, tình trạng đào xới, hút cát diễn ra không kém phần khốc liệt so với các xã biển bãi ngang Gio Linh. Bờ biển dài hơn 3 cây số từ thôn Mạch Nước đến thôn Tân Hòa xác xơ, tiêu điều vì thứ “vàng đen” này. Con đê chắn cát dài hơn 300m thuộc thôn Tân Thuận bị những công ty khai thác titan san bằng, nay được làm mới vẫn cứ sụt lở, cây trồng giữ cát ven đê không bén nổi rễ do cát đã bị hút cạn kiệt nước...
Bình Định là một trong những “vựa vàng đen” của Việt Nam, những năm 2008-2009, thời điểm đào xúc titan rầm rộ nhất, mỗi năm tỉnh Bình Định khai thác trên dưới 800.000 tấn, chưa kể khai thác lậu không khai báo. Hậu quả của việc nhắm đến “khúc nạc” titan trên tầng cát xám, ngon ăn, dễ đào là nhiều bãi biển miền Trung tan hoang. Hội chứng người người, nhà nhà đua nhau khai thác titan để lại những hậu quả khôn lường.
Từ năm 2010, sản lượng quặng titan tại Bình Định đã chiếm 70% tổng sản lượng toàn quốc. Ông Nguyễn Văn Thắng - Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Định cho biết thêm, trong năm 2012, sản lượng khai thác chế biến titan của Bình Định lên đến 450.000 tấn. Năm 2013, sản lượng dự kiến vẫn không dưới 400.000 tấn.
Những năm gần đây, do thị trường tiêu thụ titan trên thế giới tăng mạnh nên việc khai thác sa khoáng titan ở Việt Nam trở nên vô cùng sôi động. Tại các tỉnh miền Trung, đã có trên 40 đơn vị tổ chức khai thác ở 38 khu mỏ, 18 xưởng tuyển tinh quặng ra đời với hơn 2 triệu tấn quặng được khai thác.
Tuy nhiên, phần lớn titan bán ra thị trường chủ yếu là quặng chưa qua chế biến, do đó Nhà nước chỉ thu được khoản thuế tài nguyên ít ỏi. Không chỉ thế, lợi nhuận cao từ việc bán titan đã khiến người dân đua nhau khai thác thủ công, buôn bán tràn lan. Chảy máu tài nguyên và việc Nhà nước thất thu là bài toán không dễ giải của các nhà quản lý.
Titan đã trở thành cái “bẫy” khiến bất cứ ai cũng phải “sôi lên sùng sục”, từ doanh nghiệp, chính quyền, đến cộng đồng địa phương. Hậu quả là dọc các bãi biển miền Trung, công trường khai thác titan mọc lên như nấm. Việc khai thác titan tràn lan đã gây ra những hậu họa khó lường: mất rừng, mất tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường, đến sức khỏe của dân chúng, và mất cả một bờ biển dài hàng trăm cây số, những dải rừng nhiều năm tuổi bị phá.
Nhiều vùng quê yên ả bao năm qua, chỉ vì titan mà khắp nơi xảy ra nhiều chuyện dở khóc dở cười. Việc khai thác, chế biến titan ở các tỉnh ven biển miền Trung không chỉ tàn phá rừng phòng hộ ven biển, làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, gây nạn cát bay mà còn gây ra hậu quả hủy hoại các vùng biển lân cận.
Bên cạnh đó, những hệ lụy trong việc khai thác titan ở miền Trung là khó bề giải quyết trong một sớm một chiều. Theo Cục Thẩm định đánh giá tác động môi trường tại miền Trung (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hậu quả là đã làm cho đất, nước ngầm một số khu vực nhiễm mặn, nhiều hecta đất cát ven biển bị đào xới; rừng phi lao phòng hộ chắn gió, cát đã bị tàn phá, cảnh quan ven biển bị suy thoái nặng nề; nguồn nước ngọt trong cồn cát ven biển bị ô nhiễm và nhiễm mặn; đường giao thông nông thôn bị xuống cấp nghiêm trọng do vận chuyển quặng…
Chưa hết, trong quá trình khai thác titan, các đơn vị đã xả thải sau khai thác qua khu vực giáp biển mà không hoàn thổ sau khai thác; khai thác quá độ sâu, phạm vi cho phép đã làm thay đổi địa hình, mất cảnh quan môi trường, gây sạt lở bồi lấp, có nguy cơ xảy ra hiện tượng hoang mạc hóa. Sức khỏe của người dân vì thế cũng bị ảnh hưởng do ô nhiễm phóng xạ trong quá trình khai thác titan. (Tài Nguyên&Môi Trường 11/12) đầu trang(
Ngày 11.12, Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk cho biết, đã có kết luận giám định chiếc đầu động vật hoang dã thu giữ trong khu vực Vườn quốc gia (VQG) Yók Đôn là đầu bò rừng.
Đây là đầu của giống bò rừng có tên khoa học là Bos javanicus, thuộc nhóm 1B, là động vật quý hiếm, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Trước đó, ngày 3.12, khi tuần tra ở tiểu khu 438, lực lượng kiểm lâm VQG Yók Đôn phát hiện 2 người đang điều khiển voi nhà bỏ chạy vào rừng, bỏ lại một đầu động vật đã sấy khô có hai sừng dài.
Chiếc đầu nặng 35 kg, từ đỉnh đầu đến mõm dài 53 cm, chiều dài sừng 52 cm, khoảng cách giữa 2 sừng là 74 cm. Hiện Hạt kiểm lâm VQG Yók Đôn cùng các cơ quan chức năng huyện Buôn Đôn đang tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc. (Thanh Niên 12/12; Kienthuc.net 12/12; Lao Động 12/12) đầu trang(
Thời điểm này, khi bước vào mùa rẫy mới, tình trạng người dân xâm canh vào rừng lại tiếp diễn tại các khu tái định cư dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Thực tế khá nổi cộm này đã xảy ra từ nhiều năm qua. Thậm chí, đây là câu chuyện đã quá cũ. Nhưng điều không cũ là cho đến bây giờ, vẫn chưa có hướng tháo gỡ tình trạng thiếu đất sản xuất cho người dân sau các dự án thủy điện. (VTV 11/12) đầu trang(
Ngày 6/12, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường – Công an quận Hoàng Mai (Hà Nội) trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện và thu giữ một thùng hàng chứa động vật hoang dã không giấy tờ chứng minh nguồn gốc. (An Ninh Thủ Đô 11/12) đầu trang(
Ngày 11.12, ông Hồ Văn Thân (SN 1959) - người đồng bào Vân Kiều, trú tại thôn Khe Hiên, xã Hướng Hiệp, huyện Đak Rông - cho biết, công nhân của Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đã đưa máy móc đến ủi tung, san lấp mồ mả của gia đình ông.
Được biết, phần mộ của gia đình ông Thân nằm trong diện tích gần 200ha đất của 10 hộ dân được UBND huyện Đak Rông giao để trồng rừng sản xuất (LĐ ngày 10.12 đã đăng bài điều tra “Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Bắc Trung Bộ: Chiếm gần 200ha đất trồng rừng của dân”).
Theo phong tục của người đồng bào Vân Kiều, khi xâm phạm đến nơi linh thiêng - là nơi chôn cất người chết - sẽ bị phạt nặng. Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đã thống nhất với dòng họ ông Thân là sẽ cúng 1 con trâu có sừng, 1 con lợn, gà và rượu. Tuy nhiên, ông Thân nói rằng nếu sau này trong dòng họ có ai bị đau ốm hoặc xảy ra biến cố gì thì nguyên nhân là do việc mồ mả bị xâm phạm nói trên và ai gây ra thì phải chịu trách nhiệm. (Lao Động 12/12) đầu trang(
Đến nay, tỉnh Nghệ An đã thực hiện xong việc rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng ở Kỳ Sơn; Sở NN&PTNT vừa trình UBND tỉnh kết quả rà soát điều chỉnh 3 loại rừng đối với 2 huyện Tân Kỳ, Quỳnh Lưu. Thực hiện công việc này, ngành chức năng và các địa phương đã vào cuộc tích cực, song còn gặp không ít khó khăn...
Đối với huyện Tân Kỳ sau khi tiến hành điều tra, rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng diện tích đất lâm nghiệp của huyện còn lại là 37.244,8 ha; tăng 151,5 ha từ diện tích đất nông nghiệp sang rừng sản xuất tại xã Tân Hợp.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp điều chỉnh giảm 770,7 ha do nguyên nhân: Diện tích đất lâm nghiệp chuyển đổi sang khai thác khoáng sản đã có quyết định của các cấp thẩm quyền 60,3 ha, chủ yếu tập trung ở các xã Tân Hợp, Đồng Văn… Diện tích đất lâm nghiệp theo hiện trạng sử dụng không đúng mục đích 710,4 ha (diện tích quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp nhưng thực tế đang sản xuất canh tác nông nghiệp do khoanh vẽ sai, quy hoạch lại Tổng đội TNXP 4 nhưng chưa có quyết định chuyển đổi mục đích).
Tổng diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ trên địa bàn Tân Kỳ điều chỉnh giảm 1.660,5 ha, nguyên nhân do quy hoạch từ đất rừng phòng hộ sang đất rừng sản xuất 1.617,6 ha đối với 4 xã Nghĩa Bình 112 ha, Nghĩa Dũng 1.068,2 ha… Điều chỉnh từ đất rừng sản xuất sang đất rừng phòng hộ 179,8 ha. Điều chỉnh từ đất rừng phòng hộ sang mục đích khác 222,7 ha, điều chỉnh từ đất khác sang đất rừng sản xuất 151,5 ha ở xã Tân Hợp.
Qua kết quả rà soát trình điều chỉnh 3 loại rừng vẫn còn những băn khoăn. Một số người dân có ý kiến cho rằng cần phải có phương án phù hợp hơn trong điều chỉnh đất rừng để đảm bảo môi trường sinh thái rừng đầu nguồn, sinh thủy cấp nước ổn định.
Ông Phạm Văn Lợi, Bí thư Đảng ủy xã Nghĩa Dũng cho biết: “Toàn xã Nghĩa Dũng có 1068,2 ha rừng phòng hộ nằm ở khu vực Khe Lá nay chuyển sang rừng sản xuất. Khe Lá là rừng đầu nguồn có vai trò quan trọng, điều tiết nguồn nước cho các khe suối lớn nhỏ phục vụ tưới tiêu, sinh hoạt cho toàn xã Nghĩa Dũng và các xã lân cận nên cần có phương án vừa trồng rừng sản xuất và tăng cường chức năng phòng hộ”.
Điều chỉnh 3 loại rừng ở Tân Kỳ tạo thêm tư liệu sản xuất cho lao động nông thôn có thu nhập, đặc biệt là gắn với phát triển quy hoạch kinh tế bền vững của địa phương. Tuy nhiên, để đúng với quy hoạch điều chỉnh 3 loại rừng UBND Tân Kỳ cần phải tích cực tuyên truyền vận động người dân ở các xã Nghĩa Phúc, Tân Hợp, Giai Xuân… sử dụng 710,4 ha đất đúng mục đích, chuyển sang trồng rừng sản xuất thay vì trồng mía, sắn năng suất thấp.
Tại huyện Quỳnh Lưu sau khi rà soát quy hoạch điều chỉnh 3 loại rừng đạt kết quả ban đầu như sau: Tổng diện tích đất lâm nghiệp còn lại 14.246,76 ha, rừng phòng hộ 3.346,01 ha, rừng sản xuất 10.900,75 ha. Tổng diện tích đất lâm nghiệp tăng 89,9 ha, cụ thể tăng diện tích đất khác điều chỉnh sang rừng phòng hộ 34,7 ha tại các xã An Hòa, Quỳnh Bảng, Quỳnh Minh, Quỳnh Lương chủ yếu trồng sú và phi lao, phục hồi 36 ha rừng phòng hộ ở Tân Thắng. Tổng diện tích đất lâm nghiệp giảm 8743,84 ha, như Quỳnh Lâm chuyển đổi sang khai thác khoáng sản, Quỳnh Lương sang rừng phòng hộ và xây dựng du lịch 2,19 ha, Tân Thắng chuyển đổi đất rừng sản xuất sang xây dựng nhà máy xi măng 41,13 ha.
Bên cạnh đó cũng bóc tách ra 818,1 ha đất quy hoạch lâm nghiệp đang sử dụng sai mục đích ở 11 xã, chủ yếu bà con xây dựng nhà cửa, làm đồng muối, nuôi tôm, sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ giảm 520,49 ha, nguyên nhân là chuyển đổi từ đất rừng phòng hộ sang đất rừng sản xuất 424,0 ha, điều chỉnh đất rừng phòng hộ sang mục đích khác 167,19 ha… Diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch sản xuất điều chỉnh giảm 264,45 ha, nguyên nhân quy hoạch từ đất rừng sản xuất sang mục đích khác 707,56 ha, điều chỉnh từ đất khác sang rừng sản xuất 19,2 ha, điều chỉnh rừng phòng hộ 424 ha.
Ông Hồ Cảnh Sáu, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lương trao đổi: “Sau khi điều chỉnh rà soát thì ngoài việc Quỳnh Lương được tăng diện tích rừng phòng hộ ven biển thì bà con sẽ tổ chức trồng sú và phi lao, tổng diện tích rừng phòng hộ sẽ tăng lên trên 30 ha. Đặc biệt là chuyển một số diện tích rừng phòng hộ chưa đúng mục đích sang xây dựng khu du lịch sẽ tăng tổng diện tích quy hoạch đất du lịch lên trên 6 ha. Hiện nay xã đang chờ việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng chính thức để thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư khai thác tiềm năng du lịch biển”.
Ông Nguyễn Văn Thắng, Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu cho rằng: Kết quả điều chỉnh 3 loại rừng cơ bản phù hợp, giúp Quỳnh Lưu có điều kiện để xác định tập trung phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào địa bàn như tại các khu du lịch ở Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương lâu nay việc đầu tư các nhà hàng, khách sạn còn chậm do doanh nghiệp đang chờ điều chỉnh quy hoạch từ 3 loại rừng.
Đặc biệt sau khi quy hoạch 3 loại rừng sẽ chấn chỉnh được tình trạng khai thác khoáng sản trái phép mà lâu nay do lợi dụng chưa điều chỉnh quy hoạch rõ ràng nên các đối tượng đã khai thác mỏ đất trái phép, trong khi quản lý của chính quyền xã yếu kém. Quỳnh Lưu đang đề nghị UBND tỉnh điều chỉnh tăng 14,9 ha từ đất khác sang đất rừng sản xuất, điều chỉnh giảm 348,3 ha nằm trong lưu vực lòng hồ của thủy lợi Khe Lại - Vực Mấu. Điều chỉnh tăng 75 ha đất khác nhưng hiện trạng là rừng tự nhiên và rừng trồng sang đất lâm nghiệp.
Ông Nguyễn Tiến Lâm - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: “Đây mới là kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng ban đầu của 2 huyện Quỳnh Lưu, Tân Kỳ. Nếu có bất cập, vướng mắc, các ngành chức năng sẽ điều chỉnh lại cho phù hợp. Rà soát điều chỉnh đặc biệt chú trọng rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển, sinh thái, bảo vệ đất, chống xói mòn… tạo quỹ đất phù hợp để tỉnh phát triển các dự án trọng điểm”. (Báo Nghệ An 11/12) đầu trang(
Ngày thứ 2, tại kỳ họp thứ 9 HĐND tỉnh Quảng Nam khóa VIII đã có 48 đại biểu phát biểu, có hơn 200 ý kiến tham gia trong buổi thảo luận Tổ, trong đó nhiều ý kiến kiến nghị với UBND tỉnh cần làm rõ, như dự án treo, việc quy hoạch, xây dựng, vận hành các nhà máy thủy điện và tàn phá rừng ven biển nuôi tôm đã làm "nóng” của nghị trường.
Vấn đề nuôi tôm thẻ chân trắng, tàn phá rừng ven biển thực tế đã diễn ra, do giá tôm tăng mạnh và đầu ra thuận lợi. Ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng: "Phá nhà, phá vườn, phá rừng chắn sóng thì nhất định không được. UBND tỉnh đã có văn bản khẩn, ngăn cấm xử lý, không cho phát sinh hồ nuôi tôm trái phép. Tịch thu các xe cơ giới đào múc hồ, xử phạt các hộ xây dựng hồ nuôi tôm trái phép. Phải tìm ra diện tích đất phù hợp quy hoạch để dân nuôi tôm, mới giải quyết được tình trạng phá rừng, phá nhà nuôi tôm trái phép như hiện nay. (Đại Đoàn Kết 12/12) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Làm thủy điện là góp phần khơi tăng nguồn điện năng cho quốc gia, hiện thủy điện chiếm phần không nhỏ trong tổng sản lượng điện đang cung ứng trên thị trường.
Những năm gần đây, do phê duyệt quá dễ dãi (thậm chí có hiện tượng xin – cho) dẫn đến tình trạng "bội thực” số dự án thủy điện. Mặt khác, vấn đề này tạo ra hệ lụy cực kì tai hại, ở đâu có thủy điện thì ở đó xuất hiện "phong trào” phá rừng. Nhà nước đã đưa ra quy định mang tính bắt buộc: Công trình thủy điện lấy bao nhiêu đất rừng (kể cả rừng nguyên sinh và rừng trồng) thì chủ dự án phải trồng lại số diện tích rừng tương ứng.
Chủ dự án, chính quyền địa phương, ngành công thương (bộ 3 liên quan trực tiếp đến thủy điện) khi được hỏi đều "thuộc lòng” quy định nói trên. Tuy nhiên, không hiểu vì sao hầu hết dự án thủy điện đã không thực hiện tái trồng rừng theo quy định của nhà nước. Trên địa bàn cả nước hiện có hơn 800 dự án thủy điện đã và đang thi công xây dựng đồng nghĩa với số rừng bị "xóa sổ” lên đến hơn 19.790 ha. Tính ở mức bình quân, mỗi dự án thủy điện đã "xóa sổ” hơn 123 ha rừng.
Nếu quy định của nhà nước được thực hiện nghiêm, trong hơn 6 năm vừa qua, các dự án thủy điện phải trồng rừng với tổng diện tích hơn 19.700 ha. Đó là yêu cầu bắt buộc nhưng, kết quả thực tế hoàn toàn trái ngược, số diện tích rừng trồng mới chỉ có vỏn vẹn 735 ha, chưa được 4% so với tổng diện tích rừng phải trồng thay thế.
Từ xưa đến nay chưa khi nào diện tích rừng bị chặt phá vô tội vạ bởi nguyên nhân "phong trào” làm thủy điện như hiện nay. Dự án thủy điện mọc lên ở đâu thì ở đó diện tích rừng bị chặt phá không thương tiếc. Chủ dự án thủy điện chặt phá rừng công khai, nằm trong quy trình, chứ không lén lút như bọn lâm tặc. Về mặt hậu quả, chặt phá rừng nhưng không trồng thay thế, chủ dự án thủy điện cũng "hao hao” như … lâm tặc.
Liên tục nhiều năm không chịu trồng rừng thay thế, nhìn đâu cũng bắt gặp tình trạng công khai thách thức như vậy, thế mà chính quyền địa phương và các ngành liên quan đều làm ngơ. Ở đây vì vô trách nhiệm hay còn nguyên nhân "sâu kín” nào khác cần phải được làm rõ.
Ngoài ra, khoản kinh phí tái trồng rừng (nằm trong tổng mức đầu tư dự án thủy điện đã được phê duyệt) không sử dụng đúng mục đích, đây là sai phạm không nhỏ, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần điều tra làm rõ vấn đề này. (Đại Đoàn Kết 12/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Nghị viện châu Âu (EP) ngày 11/12 đã thông qua gói biện pháp mới thuộc Cơ chế phối hợp bảo vệ công dân nhằm góp phần để các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) và các nước đối tác tăng cường phối hợp hành động trong việc đối phó thảm họa thiên nhiên hoặc thảm họa do con người gây ra như động đất, thủy triều đen, cháy rừng...
Quỹ bảo vệ công dân của EU sẽ dành 368,48 triệu euro để triển khai gói biện pháp mới này trong giai đoạn 2014-2020 mà theo đó, các quốc gia EU và các nước đối tác sẽ thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và ý kiến liên quan đến việc đánh giá nguy cơ và những biện pháp ứng phó tốt nhất, cùng nhau xác định những lĩnh vực cần thiết để tập trung hỗ trợ lẫn nhau trong công tác phòng chống thiên tai-thảm họa, chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên cứu hộ-cứu nạn, tăng cường các thiết bị cần thiết phục vụ việc cứu nạn và thiết lập bệnh viện dã chiến.
Cơ chế phối hợp bảo vệ công dân EU có sự tham gia của 32 quốc gia, bao gồm 28 thành viên EU và Macedonia, Island, Liechtenstein và Na Uy.
Với sự trợ giúp của Ủy ban châu Âu, các quốc gia tham gia trao đổi thông tin về tình hình, nhu cầu nơi xảy ra thảm họa, huy động lực lượng tình nguyện viên ứng cứu. Cơ chế này giúp tiến hành các hoạt động ở bên trong và bên ngoài EU.
Kể từ khi thiết lập năm 2001, cơ chế bảo vệ công dân châu Âu đã triển khai 180 đợt ứng phó thảm họa xảy ra trong các quốc gia thành viên và các nước khác trên thế giới, đặc biệt sau khi cơn bão thảm khốc Haiyan tàn phá Philippines hồi tháng 11 vừa qua. (VietnamPlus.vn 12/12) đầu trang(
Ông Tosidzi Fukuda người Nhật được trao danh hiệu người chụp ảnh động vật hoang dã xuất sắc nhất năm 2013 của BBC cho tấm hình hổ Amur. Nhiếp ảnh gia đã chuyển số tiền thưởng 2.500 đô la cho Quỹ Động vật Hoang dã thế giới Nga để cứu loài Hổ, - theo WWF cho biết hôm 11/12.
Tấm hình xuất hiện trong Sách Đỏ quốc tế về hổ Viễn Đông được ông Fukuda dày công chuẩn bị. Nhiếp ảnh gia Nhật Bản ở tuổi 63, đã mất 74 ngày ngồi trong chỗ trú ẩn eo hẹp, kích thước 1,5 và 2,5 mét, được bố trí giữa Rừng bảo tồn Lazo, ở Primorye.
Giám đốc Chi nhánh Amur của WWF Nga, ông Yury Darman đã bày tỏ sự hoan nghênh quyết định quyên góp giải thưởng của ông Fukuda. Số tiền này sẽ được dành vào việc bảo vệ hổ Amur, - ông Darman xác nhận. (Tiếng Nói Nước Nga 11/12) đầu trang(
Các ông già Noel tại Phần Lan vừa tạm ngưng lại việc đọc thư của các em nhỏ ở khắp nơi trên thế giới gửi về để giành một ít thời gian gửi đi một bức thông điệp quan trọng đó là hãy cùng nhau cứu lấy các cánh rừng trên thế giới. (VTC14.vn 12/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||