Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Núi Lâm Động, được ví như “nóc nhà” của huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, dưới chân núi là hàng trăm công trình thủy lợi quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hàng vạn người dân sống trong vùng thuộc 2 huyện Tĩnh Gia và Như Thanh.
Hai chục năm qua, rừng được bảo quản tốt, các loại cây được tái sinh rậm rạp, có đa dạng sinh học với nhiều tầng cây và muông thú. Thế nhưng, mấy tháng gần đây, người dân thấy rừng bị chặt hạ, đốt phá tàn bạo, hàng nghìn héc-ta rừng bị “hành quyết”, dân chỉ còn biết kêu trời, lo lắng tới hậu quả khủng khiếp có thể xảy ra lũ quét, lũ ống hoành hành. Phóng sự điều tra dưới đây sẽ phần nào phác họa “bức tranh ảm đạm” này…
Đại tá cựu chiến binh Hoàng Bá Viết, người luôn đau đáu với quê hương Tĩnh Gia, nơi ông được sinh ra và lớn lên, dưỡng dục ông phấn đấu thành sĩ quan Quân đội, một hôm gọi điện cho PV, giọng rất khẩn cấp: “Chú thu xếp về ngay Tĩnh Gia điều tra, lên tiếng giúp dân, họ đang “hành quyết” hàng nghìn héc-ta rừng phòng hộ tái sinh, xót lòng lắm”.
Ông cho biết, khi Báo Người cao tuổi số ra ngày 26/6/2014 đăng bài “Huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa: Thực hiện dự án trồng keo, người ta “khai tử” diện tích lớn rừng phòng hộ tái sinh”, nhân dân rất phấn khởi, tin rằng rừng sẽ được cứu, người ta sẽ phải dừng ngay việc phá rừng lại. Không ngờ sau đó vẫn chẳng thấy cơ quan chức năng nào ngăn chặn, họ lại càng phá dữ dội hơn.
Ngay khi gặp mặt, ông Viết đã tất tả dẫn PV lên sân thượng, nơi có thể phóng tầm mắt lên núi Lâm Động, ông chỉ cho PV xem từng vạt rừng cháy nham nhở. Thời tiết tốt, trời trong, nắng đẹp nên những mảng rừng bị chặt phá, đốt cháy hiện lên khá rõ.
Ông nói: “Đấy, các chú xem rừng đang đẹp là vậy, mà chỉ trong vòng có mấy tháng họ đã đốt, phá tàn tạ đến thế. Nghe nói họ chặt phá rừng để thực hiện dự án trồng keo, với tài trợ của tổ chức Jaika gì đó. Thế nhưng, cho đến bao giờ mới lại có được khu rừng đẹp như trước? Nhân dân lo lắm, ngộ nhỡ rừng phá rồi, xảy ra lũ quét, lũ ống thì hậu quả sẽ khôn lường, người dân biết chạy đi đâu?”.
Mặc dù phải tranh thủ hai ngày nghỉ cuối tuần, ông vẫn xăng xái dẫn PV đến tận nhà riêng để gặp lãnh đạo các xã có diện tích rừng ở núi Lâm Động, hoặc bị ảnh hưởng trực tiếp những cơn “hắt hơi xổ mũi” của dãy núi này.
Ông Nguyễn Xuân Võ, Bí thư Đảng ủy xã Trúc Lâm cho biết, ông đã đọc bài báo của tác giả Việt Hoàn, ông hoàn toàn đồng tình với nội dung bài báo, những thông tin phản ánh là chính xác. Theo ông Võ, xã Trúc Lâm trước đây cũng có diện tích rừng trên núi Lâm Động, nhưng hiện xã không được quản lí diện tích rừng đó nữa. Tuy nhiên, do là rừng đầu nguồn, nên hậu quả (nếu có) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân xã Trúc Lâm.
Ông Nguyễn Đức Hòa, Trưởng thôn Đại Thủy, xã Trúc Lâm bổ sung: “Ngày trước tôi cũng tham gia trồng cây ở trên núi nên nắm rất rõ, rừng ở đây có rất nhiều cây dẻ, phần lớn đã to bằng bắp đùi. Bây giờ họ phát đi trồng cây mới, thì đến bao giờ mới có được cây như thế? Tôi biết đây là lợi nhuận của nhóm người, là việc làm rất sai lầm. Tôi thấy đây là hành vi phá hoại”.
Qua câu chuyện của ông Hòa, PV được biết rừng Lâm Động đã bị thâu tóm bởi một nhóm cán bộ thuộc Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia. Ông cho biết, ông Sỹ có 180ha rừng trên núi Lâm Động; phía bên Phú Lâm toàn bộ là của Phong “Xoan”.
Thông tin của ông Hòa phù hợp với những điều PV thu thập được, theo đó nhóm lợi ích thâu tóm diện tích lớn rừng trên núi Lâm Động có ít nhất 4 cán bộ Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia gồm: Ông Nguyễn Văn Thương, Giám đốc; ông Phan Xuân Phong, Phó Giám đốc; ông Nguyễn Văn Sảo, Tiểu khu trưởng Tiểu khu 666; ông Lê Tiến Long, con trai ông Lê Tiến Sỹ, cựu Giám đốc Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia.
Ông Hòa bức xúc: “Đất rừng là của Nhà nước chứ. Họ phá đi như thế mình không lên tiếng làm sao được”. Ông Mai Công Gô, cựu Bí thư Đảng ủy xã Trúc Lâm tiếp lời: “Họ phá rừng như vậy, người dân thấy nó trái ngang. Giá như họ đốt những chỗ không có cây rồi trồng cây vào đó thì đi một nhẽ, đằng này rừng toàn cây to, họ lại phá đi, thử hỏi trồng đến khi nào được như vậy?”.
Ông Mai Công Gô cho biết, rừng ở đây có đủ các loại cây và các loại thú rừng: Nhím, hươu, nai, hoẵng… Từ tháng 4/2014 đến nay, dân bỗng thấy họ đốt rừng, thấy nhiều xe gỗ to cỡ bắp đùi người lớn ùn ùn chở đi đâu không rõ.
Anh Nguyễn Đức Thạo, Tổ trưởng Đảng thuộc Chi bộ thôn Đại Thủy, xã Trúc Lâm khẳng định: “Ngày nào tôi cũng thả bò trên núi nên tôi biết, từ chỗ rừng thông lên cao nữa là rừng tự nhiên, thuộc địa bàn các xã Nguyên Bình, Phú Lâm, Xuân Lâm. Rừng ở đây có các loại dẻ, lim, sến, nứa, tre, vầu… nếu tiếp tục để phát triển thì rất đẹp. Trước đây dân vẫn thường lên rừng quét hạt dẻ đem bán. Vừa rồi cũng do phá rừng mà gây ô nhiễm môi trường, làm cá chết hàng loạt. Dân không ai hài lòng với việc đốt phá rừng như thế, do không có chức, không có quyền nên chẳng biết làm sao”.
Theo anh Thạo, đây là dự án của cá nhân chứ không phải của Nhà nước, họ cho chặt phá tan hoang rừng tái sinh để trồng thông, trồng keo phục vụ lợi ích của một nhóm người. Rừng đang phát triển tốt mà lại chặt phá đi để trồng cây mới, phải mất ít nhất 15 – 20 năm nữa mới lại có rừng.
Anh Thạo cho rằng, rừng phải được giao cho các xã quản lí, rồi để nhân dân thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ rừng và hưởng lợi từ rừng, không nên để cho Ban Quản lí Rừng phòng hộ độc quyền như hiện nay. Câu chuyện của anh Thạo xoay quanh kỉ niệm về những ngày rừng Lâm Động còn tràn ngập tiếng chim hót, tiếng hươu nai tác gọi bầy… mà giờ đây đã trở thành quá vãng.
Anh đau xót: “Đốt rứa (thế) thì con chi (gì) mà sống nổi?”. Anh kể, nghe nói, khu vực đó giờ hầu hết là của Phong “Xoan”, mấy tháng trời nay thuê bảy, tám chục nhân công làm ầm ầm ở trên núi, rừng bị đốt lửa cháy rực một góc trời. Anh Thạo tỏ ý mong các nhà báo nêu vấn đề lên, để cơ quan chức năng phải xử lí, không thể để tình trạng mất sinh thái, mất tự nhiên xảy ra ngay thanh thiên bạch nhật, thách thức dư luận như vậy.
Ông Lê Văn Bài, đảng viên 45 năm tuổi Đảng, thuộc Chi bộ thôn Đại Thủy kể: Những năm chống Pháp, chống Mỹ, bộ đội ta xây lô-cốt trên núi để đặt pháo cao xạ bảo vệ bờ biển. Từ bấy đến nay, rừng Lâm Động dần hồi phục, nhiều loại cây cối rậm rạp, thậm chí người ta còn tìm thấy nhiều loại cây thuốc quý. Không biết sao mấy tháng nay thấy đốt sạch, phá sạch, khiến nhân dân rất bức xúc. Không biết ai cho phép họ làm như vậy, mà từ xã đến huyện chẳng thấy nói gì. Họ phá rừng, đốt rừng giữa thanh thiên bạch nhật, ầm ầm như vậy, xã và huyện không thể không biết, nhưng lại làm ngơ.
Ông khẳng định, cơ quan chức năng nói rằng đốt thực bì là không phải, họ cưa cắt toàn cây to, thì đâu có phải là thực bì? Ông nói: “Họ chở cây qua đây nhiều lắm, không biết là bao nhiêu mà kể. Các nhà báo cứ mang máy ảnh lên tận hiện trường mà chụp lại, họ không thể chối cãi được đâu”… (Người Cao Tuổi 11/9) đầu trang(
Theo thống kê của Bộ NNPTNT, mặc dù các địa phương đã tích cực chủ động trong việc phòng, chống cháy rừng, nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương, có nơi nghiêm trọng.
Tính riêng trong tháng 8, cả nước đã có 440ha rừng bị cháy, trong đó Bình Định cháy hơn 250ha, Phú Yên gần 100ha, Quảng Trị trên 41ha…
Tính chung 8 tháng, diện tích rừng bị cháy trên cả nước lả 2.504ha, tăng 188,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, cả nước còn có 510ha rừng bị chặt phá, chủ yếu diễn ra ở Đắc Nông, Lâm Đồng, Bắc Giang… (Nông Thôn Ngày Nay 11/9, tr10) đầu trang(
10-9, trong chuyến đi kiểm tra các hạng mục xây dựng nông thôn mới của LLVT thành phố tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Đoàn công tác của Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng do Đại tá Nguyễn Thanh Hoàng, Chính ủy làm Trưởng đoàn đã phát hiện một vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn giáp ranh giữa thôn Nam Mỹ và thôn Giàn Bí.
Đoàn công tác đã thông báo ngay cho cấp ủy, chính quyền địa phương huy động dân quân cơ động, dân quân thường trực, phối hợp cùng công an xã, lực lượng kiểm lâm và người dân địa phương triển khai các phương án chữa cháy. Đồng thời Bộ CHQS Đà Nẵng cử toàn bộ cán bộ, chiến sĩ Đại đội Công binh thành phố đang xây dựng công trình trên địa bàn Hòa Bắc tham gia. Với các dụng cụ thô sơ: Rựa, câu liêm, cành cây lớn, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã phát quang tạo vành đai, không cho lửa cháy sang khu vực khác.
Anh Đỗ Ngọc Châu, Xã đội trưởng xã Hòa Bắc trực tiếp chỉ huy dân quân chữa cháy, cho biết: “Đám cháy xảy ra trên sườn núi cao. Thời tiết nắng nóng, kèm theo gió thổi mạnh đã khiến việc dập lửa gặp nhiều khó khăn. Thuận lợi là, đám cháy được phát hiện kịp thời, anh em dân quân am hiểu địa bàn, thường xuyên được luyện tập các phương án phòng cháy chữa cháy, lại có bộ đội Công binh thành phố hiệp đồng chặt chẽ, chúng tôi đã triển khai đội hình bao vây cô lập dập lửa hiệu quả.
Khu vực cháy gần rừng keo lá tràm được bà con trồng đã lâu năm, nếu để cháy lan, hậu quả sẽ khó lường. Tính từ đầu năm đến nay, đây là lần thứ 11, dân quân Hòa Bắc tham gia chữa cháy rừng trên địa bàn xã và các vùng lân cận”.
Thiếu úy quân nhân chuyên nghiệp Hoàng Quốc Việt (Đại đội Công binh Đà Nẵng) chia sẻ: “Đường lên chỗ cháy khá cheo leo. Khu vực này lớp thực bì dày nên ngọn lửa cứ cháy âm ỉ, nhiều chỗ chúng tôi phải dập đi dập lại nhiều lần mới xong. Mặc dù thấm mệt nhưng anh em bảo nhau phải cố gắng tăng tốc để khống chế nhanh đám cháy, không để lây lan”.
Đến 17h30 cùng ngày, đám cháy đã bị dập tắt hoàn toàn. Nguyên nhân được xác định là do người dân địa phương đốt rẫy để cháy lan. (Quân Đội Nhân Dân 11/9) đầu trang(
Sáng 10.9, Cảnh sát PCCC TP.Đà Nẵng xác định nguyên nhân vụ cháy rừng bạch đàn chiều 9.9 tại Sư đoàn không quân 372 là do đầu đạn còn sót lại trong lòng đất phát nổ.
Chiều 9.9, tại rừng bạch đàn thuộc sự quản lý của Trung đoàn trực thăng 930 (Sư đoàn không quân 372) trên địa bàn phường An Khê, quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng, xảy ra cháy lớn.
Cảnh sát PCCC đã huy động 8 xe chữa cháy của Phòng Cảnh sát PCCC số 1, số 2 và số 5 cùng 60 cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường.
Lực lượng Sư đoàn không quân 372, Sư đoàn 375, Nhà máy A32 (Quân chủng Phòng không - Không quân) đóng gần đó cũng huy động khoảng 800 cán bộ chiến sĩ phát quang tạo vành đai ngăn cháy lan.
Đến tối cùng ngày, ngọn lửa được khống chế, thiệt hại khoảng 5 hecta rừng bạch đàn. (Thanh Niên 11/9) đầu trang(
Chiều 10-9, ông Đinh Nhựt, Hạt trưởng kiểm lâm huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi cho biết: Khi tiến hành kiểm tra, lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Tây đã phách hiện 22 phách gỗ quí tại khu vực rừng thuộc tiểu khu 182, xã Sơn Lập.
Toàn bộ số gỗ trên được xác định là gỗ dổi (nhóm III), có kích thước 2,2m x 50 cm x 15-20cm, được xẻ thành 4 bộ phản, còn lại là gỗ tấm, với tổng số gần 5m3.
Trước đó, nhận được tin báo của quần chúng, kiểm lâm huyện Sơn Tây đã đưa lực lượng đến kiểm tra và lục soát tại khu vực rừng thuộc tiểu khu 182, xã Sơn Lập, phát hiện số gỗ trên nên điều phương tiện đến chở về.
Tuy nhiên khi xe ô tô chở gỗ chạy ra thì phát hiện có người đưa cây và rải đinh ra đường để ngăn cản, kiểm lâm đã yêu cầu chính quyền xã Sơn Lập tăng cường lực lượng đến hỗ trợ mới đưa được số gỗ trên về trụ sở. (Công An TPHCM 11/9; Nông Thôn Ngày Nay 11/9, tr2) đầu trang(
Ninh Thuận hiện có trên 150.000ha rừng tự nhiên, với trữ lượng gỗ gần 11 triệu m3, cùng hệ động thực vật phong phú và đa dạng về sinh học.
Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã ở những địa phương có rừng tại tỉnh Ninh Thuận diễn biến hết sức phức tạp dù lực lượng kiểm lâm đã thực hiện nhiều giải pháp ngăn chặn.
Giữa ban ngày, trên nhiều con đường ở các xã có rừng, xe chở gỗ lậu vẫn ngang nhiên đưa gỗ về xuôi. Tại Trạm quản lý bảo vệ rừng Phước Hòa, thuộc Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Tân Tiến, gỗ lậu cùng phương tiện bị bắt giữ được chất thành đống từ ngoài vào trong. Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở đây còn có sự tiếp tay của chính người dân địa phương.
Ông Lê Tấn Văn, Phó giám đốc Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Tân Tiến ở Ninh Thuận cho biết: “Hiện nay, có một số người dưới xuôi dụ dỗ, lôi cuốn người dân địa phương, một số họ cung cấp những phương tiện như: Máy cưa, xe độ chế, rồi thuê mướn người dân tự thực hiện, tự vận chuyển các lâm sản để đi tiêu thụ. Khi lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn, các đối tượng này đối phó rất liều mạng”.
Tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép diễn ra thời gian qua khiến nguồn tài nguyên rừng của tỉnh Ninh Thuận ngày càng suy kiệt. Nghiêm trọng hơn, gần đây khi bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ, các đối tượng sẵn sàng chống trả để cướp lại tang vật.
Mới đây, ngày 3/8, tại xã Hòa Sơn, huyện Ninh Sơn, trong quá trình phát hiện bắt giữ, áp giải 1 xe mô tô chở gỗ và 2 xe mô tô chở than về UBND xã Hòa Sơn để giải quyết, tổ kiểm tra liên ngành gồm kiểm lâm, công an huyện và công an xã Hòa Sơn đã bị các đối tượng dùng dao, mã tấu, ống sắt uy hiếp để cướp lại tang vật và dùng đá ném làm anh Nguyễn Hữu - kiểm lâm địa bàn thuộc hạt Kiểm lâm huyện Ninh Sơn bị thương phải cấp cứu.
Điều mà những người giữ và bảo vệ rừng (BVR) luôn trăn trở là sức lực của họ không đủ để BVR, nhất là đối với các công ty lâm nghiệp. Là chủ rừng, nhưng các đơn vị này không có quyền tạm giữ đối tượng phá rừng trên lâm phần quản lý. Nhân viên không có trang phục, công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng nhiệm vụ BVR, ngay cả chính sách, chế độ về quản lý BVR cũng không được hưởng đầy đủ.
Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận đề nghị: “Phải có các chính sách thỏa đáng cho các lực lượng BVR cũng như lực lượng kiểm lâm để họ có động lực hoàn thành nhiệm vụ”. (VOV 9/9, tr6) đầu trang(
Ở Quảng Ngãi, vùng đới bờ được tính từ bờ biển ra 6 hải lý, có diện tích khoảng 2.000 km2. Vùng đới bờ này như một tấm thảm được dệt bởi các hệ sinh thái và nguồn tài nguyên đa dạng.
Tuy nhiên, vùng đới bờ ở Quảng Ngãi đang bị phát triển theo đặc thù ngành “mạnh ai nấy làm”... Do vậy, vùng đới bờ ngày càng suy kiệt. Quản lý tổng hợp vùng đới bờ (QLTHVĐB) được coi là giải pháp hữu hiệu mà Việt Nam đã học được từ nhiều quốc gia trên thế giới nhằm hạn chế suy thoái môi trường, bảo vệ tài nguyên và phát triển bền vững.
Gần hai năm qua, Quảng Ngãi đã triển khai QLTHVĐB, bước đầu đã rút ra những bài học giá trị từ thực tiễn để quản lý tốt công tác bảo vệ vùng đới bờ. Tuy nhiên, hiện nay môi trường và hệ sinh thái ở vùng này đang ngày càng ô nhiễm và suy kiệt.
Rừng ngập mặn ở Quảng Ngãi đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường vùng đới bờ. Rừng có các loại cây nhiệt đới và cây bụi có rễ mọc từ trầm tích nước mặn vùng ven biển, như cây bần, trang, mắm, đước… là một hệ sinh thái độc đáo vừa cung cấp nhiên liệu, dược liệu, thực phẩm cho cộng đồng dân cư ven biển, vừa là bức tường xanh vững chắc chống gió bão, sóng thần, sạt lở, làm sạch môi trường ven biển, hạn chế xâm nhập mặn, bảo vệ nước ngầm, tích lũy cacbon, giảm khí CO2, duy trì đa dạng sinh học.
Thế nhưng, theo thống kê của Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Quảng Ngãi, đến nay, Quảng Ngãi chỉ còn hơn 197 ha rừng ngập mặn ven biển, giảm gần 120 ha so với cuối năm 2002. Nguyên nhân là do phá rừng để nuôi trồng thủy sản.
Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường vùng đới bờ như: Khai thác rừng phòng hộ ven biển ồ ạt; dùng các phương tiện điện, thuốc nổ để đánh bắt cá vùng ven bờ. Toàn tỉnh có khoảng 5.500 chiếc tàu thuyền thì hiện vẫn còn trên 1.100 chiếc thuyền có công suất nhỏ dưới 20CV. Các loại thuyền này chủ yếu đánh bắt ở vùng đới bờ, làm cạn kiệt nguồn lợi thủy hải sản và gây hại đến môi trường vùng đới bờ.
Nhiều năm qua, các vùng đới bờ ở Quảng Ngãi luôn bị tác động bởi các hoạt động phức tạp của con người và sự tranh đua khai thác, quản lý giữa các ngành kinh tế khác nhau. Vì vậy, liên thông giữa các ngành để QLTHVĐB sẽ đem lại lợi ích tài nguyên bền vững. Theo ông Đỗ Ngọc Vinh - Chi cục trưởng Chi cục Biển và Hải đảo Quảng Ngãi, để sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên vùng đới bờ cần phải bảo vệ môi trường vùng ven bờ; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, trang bị cơ sở vật chất.
“Các địa phương, ngành cần khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, như ngăn chặn sự khai thác trái phép rạn san hô, rong mơ, khoanh vùng nơi khai thác, nơi cần bảo vệ. Bởi, đây là lớp lá chắn và cũng là nơi cư trú của các loài thủy hải sản vào mùa sinh nở.
Đồng thời sớm quy hoạch vùng nuôi tôm trên cát lẫn vùng triều có khoa học để bảo vệ cồn cát ven biển; phục hồi dải rừng phòng hộ trên cồn cát, nguồn lợi thủy sản, tài nguyên nước và cảnh quan thiên nhiên cũng như các giá trị văn hóa, lịch sử tại vùng ven bờ” - ông Vinh cho hay. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là các cấp, các ngành địa phương phải bảo vệ diện tích rừng, trồng bổ sung rừng và giao cho cá nhân, cộng đồng quản lý… Có như vậy, rừng ngập mặn mới đem lại lợi ích cho con người, hạn chế sự tác động của thiên nhiên gây nên xói mòn dọc triền đê bờ biển, bờ sông và các vùng dân cư lân cận.
Ông Vinh cho biết thêm, trong thời gian tới, Chi cục sẽ tham mưu cho Ban chỉ đạo thông qua một số nội dung hoạt động quản lý đới vùng bờ. Trên cơ sở này sẽ triển khai đến các địa phương, xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động QLTHVĐB. Đây là những dữ liệu quan trọng để xây dựng QLTHVĐB từ nay đến cuối năm 2015.
Trong những tháng cuối năm 2014, Chi cục sẽ tổng hợp các dữ liệu vừa kiểm tra, rà soát, đánh giá. Qua đó, xây dựng cơ chế điều phối đa ngành; nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp đới bờ; xây dựng cơ sở khoa học phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ. Đồng thời, Chi cục sẽ học hỏi các tỉnh, thành phố đã triển khai thành công các dự án QLTHVĐB như Đà Nẵng, Quảng Nam để áp dụng có chọn lọc vào QLTHVĐB ở Quảng Ngãi.
Lâu nay sự phối hợp quản lý vùng đới bờ giữa các ngành, đơn vị trong tỉnh chưa nhịp nhàng. Như việc phá rừng, lấn sông để nuôi tôm, phát triển du lịch... xét về kinh tế thì đem lại lợi nhuận cao, nhưng về môi trường thì bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì vậy, sở, ban, ngành, địa phương cần phối hợp hài hòa với nhau bảo vệ vùng đới bờ.
Trong đó cần có một “nhạc trưởng” để quản lý thống nhất tài nguyên môi trường vùng bờ mà người quản lý điều hành chung là Chi cục Biển, hải đảo  sẽ đem lại lợi ích bền vững cho người dân ven biển. (Tài Nguyên & Môi Trường 9/9, tr7) đầu trang(
Từ nhiều ngày qua, Bộ Công an và lực lượng liên ngành tỉnh Đắk Lắk bất ngờ triển khai lực lượng, phong tỏa hàng loạt xưởng gỗ lớn trên địa bàn để điều tra làm rõ đường dây mua bán, vận chuyển gỗ lậu lớn từ Đắk Lắk đi các tỉnh.
Trong số các doanh nghiệp bị kiểm tra, đáng chú ý có Công ty TNHH Hiền Thái (số 85, đường Y Wang, TP. Buôn Ma Thuột) - doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh, sản xuất các mặt hàng gỗ trên địa bàn từ nhiều năm nay.
Xưởng gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái rộng hàng ngàn m2, được xây tường kiên cố cao khoảng 3m, bên trên vây thép gai nên mọi hoạt động đều “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, không ai biết bên trong làm gì.
Theo ghi nhận, trong ngày 9/9, lực lượng chức năng của Bộ và liên ngành tỉnh này đã phong tỏa mọi lối ra vào của công ty, trước cổng rất đông lực lượng cảnh sát cơ động của Bộ Công an trấn giữ, người bên ngoài không một ai được phép ra vào.
Sau gần một ngày bị phong tỏa, một nhóm công nhân tại Công ty Hiền Thái được ra ngoài và mang theo nhiều hành lý cá nhân. Nhóm công nhân cho biết, lực lượng công an đang tiến hành kiểm tra gỗ, yêu cầu công nhân ngừng sản xuất nên họ nghỉ làm rời khỏi công ty.
Ngoài công ty Hiền Thái, cùng ngày một xưởng gỗ ở hẻm 267 đường Mai Hắc Đế (TP. Buôn Ma Thuột) và một xưởng gỗ ở huyện Ea Súp cũng bị phong tỏa, kiểm tra.
Được biết, trước đó một ngày, Bộ Công an đã bắt giữ nhiều xe tải chở gỗ tại TP. Buôn Ma Thuột có nguồn gốc không hợp pháp đưa về trụ sở của Cục An ninh Tây Nguyên ở TP. Buôn Ma Thuột.
Một lãnh đạo Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, đợt kiểm tra này của Bộ công an nhằm truy quyét một đường dây buôn bán gỗ lậu lớn từ Đắk Lắk đi các tỉnh. (VietnamNet 10/9; Người Lao Động 10/9, tr2) đầu trang(
7-9, Công an huyện Lộc Ninh bắt khẩn cấp Nguyễn Hoàng Thọ (35 tuổi, ngụ ấp 3, xã Lộc Hưng), Giáp Văn Nhương (42 tuổi, ngụ ấp Cần Ché, xã Lộc Khánh), Đoàn Công Tuấn (38 tuổi, ngụ ấp Hưng Thủy, xã Lộc Thịnh), Nguyễn Thành Phước (31 tuổi, ngụ ấp 2, xã Lộc Hưng) và Giáp Văn Tài (29 tuổi, ngụ ấp 3, xã Lộc Hưng) để điều tra hành vi trộm cắp.
Do biết tại khu vực ấp Vườn Bưởi, xã Lộc Thiện, Lộc Ninh có ba cây gỗ giáng hương 17 năm tuổi của gia đình anh Bùi Quang Thiện đã đến thời kỳ có thể thu hoạch lấy gỗ nhưng không có ai trông coi nên Thọ rủ Nhương, Tuấn, Phước và Tài cưa trộm. Cả nhóm chở nhau bằng xe máy tự chế dùng để chở gỗ mang theo cưa, dao rựa, đèn pin.
Sau khi cưa đổ được hai cây mỗi cây dài hơn 20m, đường kính gần 40cm, chúng cưa thành nhiều khúc ngắn để vận chuyển thì bị người dân phát hiện tri hô nên bỏ chạy, vứt lại tang vật và phương tiện cưa cây. Công an huyện đã xác định các đối tượng trên chính là thủ phạm gây ra vụ trộm. (Công An TPHCM 9/9, tr2) đầu trang(
9/9, lúc 13giờ 30 phút, tại khu vực núi Đá Đen, dốc Truông Trầu, giáp ranh giữa 2 xã Bình Trung và Bình Khương (huyện Bình Sơn) xảy ra vụ cháy rừng, nguyên nhân do người dân đốt rẫy sau khi thu hoạch.
17 cán bộ, chiến sĩ dân quân xã Bình Trung và Bình Khương phối hợp với công an huyện Bình Sơn cùng đông đảo người dân địa phương đã tham gia chữa cháy. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, đám cháy được khống chế hoàn toàn.
Thiệt hại ước khoảng 2ha keo lá tràm đã trồng được 2 năm. (Quân Đội Nhân Dân 10/9) đầu trang(
Vàng, titan, đá granite, than đá… đang được cấp phép khai thác tràn lan nhưng không kiểm soát hết khiến ngân sách thất thu, tài nguyên bị thất thoát, môi trường thì tan hoang…
Ngoài 6,9 tấn vàng bị bán ra nước ngoài, nợ thuế hàng trăm tỉ đồng, hoạt động của 2 công ty vàng Phước Sơn, Bồng Miêu ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường.
Nếu như trước khi đi vào hoạt động, người dân và chính quyền tỉnh Quảng Nam kỳ vọng vào 2 công ty vàng của Tập đoàn Besra (Canada) bao nhiêu thì nay họ càng thất vọng bấy nhiêu.
Những ngày cuối tháng 8, tìm đến khu vực Nhà máy Vàng Phước Sơn ở xã Phước Đức. Cửa nhà máy để mở nhưng được bảo vệ canh giữ không cho người ngoài tiếp cận. Theo quan sát, Nhà máy Vàng Phước Sơn được xây dựng trên một ngọn đồi, xung quanh là rừng già bao bọc. Theo người dân, khu vực này trước đây có rừng cây gỗ già, để xây dựng nhà máy, nhiều diện tích rừng đã bị đốn hạ.
Cách nhà máy vàng chưa đầy 2 km là thôn 4 (xã Phước Đức) nghèo xơ xác, tìm mỏi mắt mới thấy một vài ngôi nhà kiên cố. “Nhà máy nằm ngay thôn nhưng người dân chẳng được lợi ích gì, toàn thôn chỉ có 27 công nhân làm việc cho nhà máy. Không thể phủ nhận đời sống những công nhân này khá hơn so với mặt bằng chung của thôn nhưng chẳng thấm vào đâu. Toàn thôn có 114 hộ thì có đến 86 thuộc hộ nghèo” - ông Nguyễn Văn Dũng, trưởng thôn 4, cho biết.
Từ khi Nhà máy Vàng Phước Sơn đi vào hoạt động, nếu không tính con đường khoảng 7 km nối từ đường Hồ Chí Minh vào nhà máy để phục vụ việc khai thác, Công ty Vàng Phước Sơn chỉ làm 1 công trình nước sạch dùng được 1 tháng thì hỏng, hỗ trợ xây cho 1 người dân trong thôn ngôi nhà trị giá 20 triệu đồng là có giá trị, còn lại chỉ hỗ trợ cho học sinh vài cuốn vở, cặp sách. Đổi lại, người dân thôn 4 không ít lần phải chặn xe của nhà máy vì xả chất độc hại cyanua ra môi trường.
Riêng con đường công ty làm đã xuống cấp trầm trọng, mưa xuống tạo thành những vũng nước rất nguy hiểm. Ông Dũng nói rằng: “So với những gì công ty lấy đi thì những thứ đem lại cho dân là rất nhỏ!”.
Theo chính quyền xã Phước Đức, những cánh rừng nơi đây thường xuyên bị tàn phá. Mới năm ngoái, Công ty Vàng Phước Sơn thuê người phát thực bì gần 2 ha rừng định chặt hạ cây gỗ, người dân phát hiện và báo lên huyện lập biên bản xử phạt.
Hiện người dân thôn 4 hết sức lo ngại khi nghe tin Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp cho mỏ vàng Phước Sơn đến 4.200 ha đất rừng bao gồm cả Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh để thăm dò, khai thác nên chắc chắn rừng còn bị tàn phá.
Bà Lê Thị Tuyết Hạnh, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam), cho biết 2 công ty vàng Phước Sơn và Bồng Miêu (xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh) mặc dù có hệ thống quan trắc môi trường nhưng trong quá trình hoạt động đã nhiều lần gây ô nhiễm khiến người dân bức xúc. Riêng Công ty Vàng Phước Sơn nhiều lần bị sở và huyện xử phạt vi phạm môi trường hàng trăm triệu đồng.
Tập đoàn Besra sở hữu 2 công ty khai thác vàng nhưng lại có mức nộp thuế khác nhau. Một câu hỏi đặt ra là có hay không việc mỏ vàng này chuyển vàng sang mỏ kia để trốn thuế?
Mỏ vàng Phước Sơn đang chịu mức thuế tài nguyên là 15%/giá trị sản phẩm khai thác và thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) bằng 40% lợi nhuận thu được. Còn mỏ vàng Bồng Miêu do giấy phép được ký vào thời điểm cách đây 16 năm nên được ưu đãi, thuế tài nguyên chỉ ở mức 3% và thuế thu nhập DN là 18%.
Theo tài liệu Cục Thuế tỉnh Quảng Nam cung cấp, tháng 11-2013, mỏ vàng Phước Sơn đã chuyển vàng cho mỏ vàng Bồng Miêu. Sự việc chỉ được phát hiện khi Nhà máy Vàng Bồng Miêu đang dừng khai thác để sửa chữa nhưng liên tục xuất hóa đơn bán hàng cho các cửa hàng, DN vàng trong nước với doanh thu lên đến hơn 188 tỉ đồng.
Sau khi Cục Thuế tỉnh Quảng Nam yêu cầu Công ty Vàng Bồng Miêu chứng minh nguồn gốc thì phát hiện số vàng trên được Công ty Vàng Phước Sơn chuyển cho Bồng Miêu bằng một “hợp đồng cho vay” nhưng không nêu cụ thể số lượng. Điều đáng nói, hoạt động cho vay vàng này không được Công ty Vàng Phước Sơn xuất hóa đơn cho cơ quan thuế như quy định.
Không những thế, theo ông Ngô Bốn, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Quảng Nam, việc thu thuế đối với 2 DN trên rất khó khăn. Điển hình, tháng 3-2014, sau khi cưỡng chế thuế qua tài khoản ngân hàng, cơ quan thuế chỉ thu được hơn 100 triệu đồng vì tiền đã bị rút hết.
Tháng 4-2014, khi áp dụng biện pháp vô hiệu hóa hóa đơn đồng nghĩa DN không được xuất hóa đơn để bán vàng, thế nhưng vàng vẫn được xuất bán qua cửa hải quan sân bay Đà nẵng hơn 61 tỉ đồng. Mặc dù cưỡng chế từ tháng 4 nhưng đến ngày 15-7, cơ quan thuế mới “bịt” được việc xuất bán vàng này.
Ông Lương Đình Đường, Cục phó Cục Thuế tỉnh Quảng Nam, còn cho biết hiện chưa có cơ quan nào thống kê số nợ của Tập đoàn Besra nhưng số tiền nợ không hề nhỏ.
Theo tìm hiểu của PV, ngoài 297,4 tỉ đồng nợ thuế, tập đoàn này còn nợ hơn 8,3 tỉ đồng tiền BHXH, 1 tỉ đồng tiền phí Công đoàn, nợ Công ty Quảng An khoảng 18 tỉ đồng, nợ Công ty Tân Nhật Minh 7,2 tỉ đồng, nợ Công ty Xăng dầu Trường Xuân hơn 6,6 tỉ đồng… (Người Lao Động 8/9) đầu trang(
Bản Tẩu Pung 1, (xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên) có 75,8ha đất có rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng khoanh nuôi tái sinh; rừng có trạng thái 2A và 2B.
Trong những năm qua, rừng đã mang lại nhiều nguồn lợi như: Cung cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất nông nghiệp, gỗ và nhiều loại lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho cuộc sống của 63 hộ dân trong bản. Chính vì vậy, người dân bản Tẩu Pung 1 đã trồng thêm rừng và tăng cường quản lý, bảo vệ rừng để được hưởng lợi từ rừng.
Ông Đèo Văn Sáng, Trưởng bản Tẩu Pung 1 cho biết: Rừng của bản được như bây giờ là nhờ vào sự đoàn kết, khoanh nuôi bảo vệ của dân bản từ những năm 1995. Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, tại mọi cuộc họp bản tôi đều dành thời gian để tuyên truyền về các phương pháp bảo vệ rừng.
Bản đã thành lập một tổ bảo vệ gồm 6 người do trưởng bản làm tổ trưởng, thường xuyên đi tuần tra, kiểm soát rừng. Năm 2008, bản Tẩu Pung 1 được chọn để thực hiện thí điểm lâm nghiệp cộng đồng. Tham gia dự án, người dân được hiểu thêm nhiều chính sách, chủ trương, pháp luật của Nhà nước về việc quản lý bảo vệ rừng.
Ở bản Tẩu Pung 1, người dân không khai thác củi tươi mà chỉ vào rừng khai thác củi khô, khai thác đủ để phục vụ nhu cầu của gia đình. Ông Sáng cho biết: Rừng của bản đều nằm ở đầu nguồn các suối, khe nên giữ được rừng là có nước để sản xuất ruộng nước.
Hiện nay, cả bản có 11ha ruộng nước, trong đó 5ha ruộng sản xuất 2 vụ. Ngoài làm ruộng nước, bà con dân bản tập trung chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Bản Tẩu Pung 1 có 2 chi hội nghề nghiệp về chăn nuôi theo hướng trang trại thu hút khoảng 60% các hộ tham gia, tỷ lệ hộ nghèo của bản hiện còn 12%.
Cuộc sống của người dân bản Tẩu Pung 1 dần khởi sắc nhờ những nguồn lợi từ rừng mang lại, nên mỗi người dân đều ý thức được nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng. Thời gian tới, người dân bản Tẩu Pung 1 sẽ  được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Điện Biên Phủ 10/9) đầu trang(
13- 14/9, hội nghị về Phúc lợi động vật với quy mô toàn quốc đầu tiên tại Việt Nam sẽ diễn ra tại TP HCM với sự chủ trì của nhóm bốn tổ chức hoạt động vì phúc lợi động vật: Yêu động vật Việt Nam, Động vật châu Á (Animals Asia), Nhân đạo quốc tế (Humane Society International), Kairos Coalition-Hoa Kỳ.
Hội nghị nhằm tăng cường hiểu biết vào trao đổi giữa các tổ chức, các nhóm bảo vệ động vật trong nước và quốc tế về nhu cầu bức thiết của việc bảo vệ động vật tại Việt Nam, đặc biệt là tổng quan các vấn đề  liên quan đến phúc lợi ba nhóm động vật: vật nuôi trong nhà, động vật trong trang trại và động vật hoang dã.
Hiện nay, tại nhiều vùng miền trên khắp Việt Nam, cả ba nhóm động vật nói trên đều đang bị đối xử  tàn tệ, không được đảm bảo các nhu cầu sống tối thiểu để duy trì bản năng tự nhiên.
Hội nghị quy tụ 65 đại biểu bao gồm các chuyên gia đến từ nhiều tổ chức quốc tế uy tín trong lĩnh vực, cùng đại diện của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Nông lâm Hồ Chí Minh, các nhóm hoạt động bảo vệ và cứu hộ vật nuôi từ nhiều vùng miền khác nhau như Hà Nội, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, Hội An, Hồ Chí Minh sẽ giúp đưa ra những đánh giá, nhìn nhận đa chiều và toàn diện hơn về thực trạng vi phạm phúc lợi động vật tại Việt Nam.
Trong khuôn khổ hai ngày diễn ra hội nghị, một số vấn đề nổi cộm sẽ được đề cập và thảo luận như: vật nuôi bị bỏ rơi, nạn buôn lậu chó để  làm thịt diễn ra tại Việt Nam và nhiều nước châu Á, phúc lợi đối với động vật bị khai thác trong trang trại, phúc lợi đối với động vật hoang dã trong môi trường nuôi nhốt...
Hội nghị Phúc lợi động vật 2014 cũng là cơ hội chia sẻ kinh nghiệm giữa các tổ chức, tăng cường hợp tác và thúc đẩy năng lực hoạt động với các nhóm cứu hộ/giúp đỡ/chăm sóc động vật địa phương, thay đổi nhận thức cộng đồng, hướng tới mục tiêu dài hạn: Cải thiện và đảm bảo phúc lợi cho động vật.
Chương trình hội thảo cũng lồng ghép các hoạt động vận động truyền thông như chiếu phim bảo vệ động vật, giới thiệu chiến dịch "Cùng ăn chay"  - kêu gọi cộng đồng hạn chế tối đa việc sử dụng động vật.
Bà Vi Thảo Nguyên - đồng sáng lập tổ chức Yêu động vật chia sẻ: "Phúc lợi của động vật là một khái niệm còn xa lạ và gần như chưa hề tồn tại tại Việt Nam. Hội thảo Phúc lợi động vật lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam là một tín hiệu tích cực, khẳng định Việt Nam không tụt hậu so với sự tiến bộ và văn minh của các nước tiên tiến trên thế giới, mở ra cơ hội hợp tác, hỗ trợ giữa các tổ chức hoạt động vì động vật trong và ngoài nước, kêu gọi sự quan tâm chung của cộng đồng, nhằm hướng đến một tương lai không xa các phúc lợi của động vật sẽ được đảm bảo”. (Giao Thông 11/9) đầu trang(
Việc quản lý, bảo vệ vùng rừng giáp ranh giữa huyện M’Drak với các huyện của 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa đang gặp không ít khó khăn trước tình trạng lâm tặc phá rừng để khai thác lâm sản và lấy đất làm rẫy.
Huyện M’Drak nằm ở phía Đông của tỉnh có diện tích tự nhiên 133,6 nghìn héc-ta, trong đó diện tích có rừng là hơn 66 nghìn héc-ta do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Drak, Ban Quản lý Rừng phòng hộ (QLRPH) Núi Vọng Phu và địa phương quản lý. Phần lớn diện tích rừng của huyện M’Drak nằm giáp ranh với huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên) và các huyện Ninh Hòa, Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa).
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện M’Drak, từ đầu năm 2012 đến tháng 6-2014, tại vùng giáp ranh với huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên) đã xảy ra 32 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 95,4m3 gỗ các loại, 7 xe cày độ, 2 máy cưa lốc. Trong đó, vào năm 2012, cơ quan chức năng hai huyện đã phát hiện vụ hủy hoại 7.348 m2 rừng tại Tiểu khu 707 của xã Cư Prao (huyện M’Drak) và Tiểu khu 296 do Ban QLRPH Sông Hinh (huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên ) quản lý.
Năm 2013, Ban QLRPH Sông Hinh phát hiện một vụ khai thác gỗ trái phép quy mô lớn tại tiểu khu 309 (xã Ea Trol, huyện Sông Hinh) giáp ranh với xã Ea Mlay, Ea Mđoan (huyện M’Drak) do Ban QLRPH Núi Vọng Phu quản lý, có 63 cây gỗ lớn bị chặt hạ với khối lượng 286 m3.
Cũng trong thời gian này, tại khu vực giáp ranh với 2 huyện Khánh Vĩnh và Ninh Hòa (Khánh Hòa), tình trạng vi phạm lâm luật cũng hết sức nóng bỏng với 49 vụ được phát hiện, tịch thu 95,7m3 gỗ các loại, 16 phương tiện độ chế, 11 cưa lốc.
Đặc biệt, có nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng bị khởi tố hình sự. Điển hình, năm 2013, công an và các ngành chức năng huyện Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa) khởi tố vụ án hủy hoại 25,3 ha rừng phòng hộ tại Tiểu khu 105 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trầm Hương (tỉnh Khánh Hòa) quản lý giáp ranh với xã Cư San (huyện M’Drak); khởi tố 9 bị can, trong đó có 8 người thường trú tại huyện M’Drak và 1 người trú tại tỉnh Lâm Đồng.
Theo Công an huyện Khánh Vĩnh, đầu năm 2009, các đối tượng Dương Kim Minh, Đặng Thắng Lâm và Triệu Tiến Chi đã phá 4 ha rừng thuộc Tiểu khu 105 để trồng bắp. Năm 2013, Triệu Tiến Hình mua lại với giá 20 triệu đồng. Sau đó, Hình thuê Triệu Văn Thái dọn sạch cỏ, cây rừng, với số tiền 40 triệu đồng. Thái rủ thêm Vi Văn Trời, Triệu Văn Hải, Triệu Văn Linh, Triệu Văn San cùng chặt phá rừng. Đến khi bị phát hiện, các đối tượng này đã phá trắng 25,3 ha rừng…
Năm 2014, Công an huyện M’Drak cũng đã tiến hành khởi tố vụ án “hủy hoại rừng” xảy ra tại Tiểu khu 819 do UBND xã Cư San quản lý giáp ranh với huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) với diện tích thiệt hại 26,3 ha rừng.
Ông Lê Văn Ba, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện M’Drak cho biết: Nguyên nhân của tình trạng này là do khu vực giáp ranh có địa hình đồi dốc khó, xa xôi khiến việc tuần tra kiểm soát của lực lượng chức năng của các địa phương rừng giáp ranh gặp rất nhiều khó khăn. Tình trạng lâm tặc khai thác ở khu vực rừng của tỉnh này rồi lại chạy sang tỉnh kia lẩn trốn thường xuyên xảy ra; nhiều khi nhận được tin báo đến nơi thì lâm tặc đã rút đi ra khỏi rừng.
Công tác phối kết hợp giữa lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng và chính quyền địa phương tại vùng giáp ranh tuy đã được thực hiện nhưng chỉ mới dừng lại ở các đợt tuần tra, truy quét chung trong mùa khô, hay khi có tin báo lâm tặc phá rừng, chừng đó là chưa đủ mạnh để đẩy lùi tình trạng phá rừng…
Để vùng rừng giáp ranh được quản lý, bảo vệ tốt hơn, thiết nghĩ các tỉnh trong khu vực cần có quy chế phối hợp chặt chẽ, với sự tham gia của các địa phương và liên ngành bảo vệ pháp luật; việc truy đuổi vi phạm không bị giới hạn bởi ranh giới hành chính, được phép yêu cầu phối hợp hỗ trợ để bắt giữ kịp thời, đặc biệt xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc thông suốt ở các vùng giáp ranh… (Đắc Lắc 24h 9/9) đầu trang(
Từ đầu năm 2014 đến nay trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 1.290 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 74  vụ so với cùng kỳ năm 2013 với diện tích rừng bị xâm hại  gần 74ha.
Trong tổng số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng nêu trên, cơ quan chức năng đã xử lý 1.219 vụ, tịch thu lâm sản qua xử lý vi phạm trên 1.660 m3 gỗ, 511 phương tiện vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước gần 12 tỷ đồng.
Như vậy; mặc dù có giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung số vụ vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng ở Lâm Đồng vẫn còn ở mức cao, bình quân mỗi tháng xảy ra trên 150 vụ.
Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, hạn chế các vụ vi phạm luật bảo vệ - phát triển rừng, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đang tập trung công tác phối hợp với các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương các huyện, thành phố và các nghành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tuần tra kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm, xử lý kịp thời các trường hợp khai thác tài nguyên rừng trái phép. (Đài PTTH Lâm Đồng 10/9) đầu trang(
Nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do cháy nổ, cháy rừng, cùng với các lực lượng chức năng, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang thành phố quan tâm, làm tốt công tác chuẩn bị, xây dựng các phương án sẵn sàng phòng chống cháy nổ, cháy rừng mọi lúc, mọi nơi, nhất là vào mùa hanh khô.
Ngày 16-11-2013, một vụ cháy nghiêm trọng xảy ra tại khu vực núi Phướn thuộc thôn Tiên Hội, xã An Tiến, huyện An Lão. Do đám cháy xảy ra trên cao, lực lượng chữa cháy không thể bơm nước lên để dập lửa mà phải áp dụng phương pháp thủ công để đưa nước lên.
Cùng với lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp, gần 500 cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy quân sự huyện, dân quân, tự vệ, các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn và nhiều lực lượng khác tham gia phối hợp dập tắt đám cháy. Tuy nhiên, cũng phải sau hơn 1 giờ đồng hồ, đám cháy mới được cơ bản khoanh vùng và dập tắt. Gần 1,5 ha rừng bị thiệt hại. Vụ cháy tại núi Phướn chỉ là một trong 8 vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn thành phố trong năm 2013, làm thiệt hại hơn 8.700m2 rừng.
Theo Trung tá Phạm Văn Kiếm, Phó chủ nhiệm Kỹ thuật, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố, trên địa bàn Hải Phòng ngoài An Lão còn có các huyện Thủy Nguyên, Cát Hải, Kiến Thụy và các quận Đồ Sơn, Kiến An có diện tích rừng, rừng ngập mặn, tiềm ẩn nguy cơ cháy cao, nhất là vào mùa hanh khô.
Quận Đồ Sơn là địa phương có diện tích rừng tương đối lớn (210ha, chủ yếu là các loại thông, bạch đàn, keo tai tượng…), lớp phủ bì thực vật tương đối dày, dễ bắt lửa. Trên rừng, đồi có nhiều mồ, mả đặt rải rác, nhân dân thường đi tảo mộ, đốt vàng hương. Khách du lịch vào rừng tham quan nếu sơ ý cũng dễ dẫn tới cháy rừng. Cùng với đó, trên địa bàn quận có nhiều công trình quốc phòng, kho quân sự, hệ thống khách sạn, nhà hàng, chợ với nhiều gian hàng làm bằng vật liệu dễ cháy...
Trung tá Phạm Văn Nam, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận Đồ Sơn cho biết, làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy, Ban Chỉ huy quân sự quận tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong thực hiện phòng cháy chữa cháy đồng thời phối hợp với các lực lượng trên địa bàn tuyên truyền phòng chống cháy nổ, cháy rừng và kịp thời tham gia xử lý các tình huống xảy ra. Ban Chỉ huy quân sự quận ban hành kế hoạch, tổ chức luyện tập các tình huống cụ thể như cháy nổ kho vũ khí, cháy rừng…
Thượng tá Phạm Khắc Phú, Chủ nhiệm kỹ thuật Bộ Chỉ huy quân sự thành phố cho biết, không riêng ở Đồ Sơn, lực lượng vũ trang các quận, huyện đều xây dựng kế hoạch và các phương án phòng chống cháy nổ, cháy rừng; phối hợp với các lực lượng liên quan luyện tập, rút kinh nghiệm, bổ sung các biện pháp xử lý tình huống một cách hiệu quả. (Báo Hải Phòng 9/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiệu quả chuyển đổi từ lâm trường sang Cty lâm nghiệp không đạt được như kì vọng. Rừng vẫn bị mất, bị xâm chiếm... Để cứu rừng, ngành chức năng đang tiếp tục tìm hướng đi cho các Cty lâm nghiệp.
Thực tế, sau chuyển đổi theo Nghị định 200, một số chủ rừng đã rất nỗ lực tìm hướng đi riêng cho mình. Thế nhưng, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, việc kinh doanh thua lỗ, khiến Cty vốn đã khó lại chồng thêm khó. Sau chuyển đổi, Cty Ea H'mơ và Cty Rừng Xanh (H. Ea Súp, Đắc Lắc) mạnh dạn đầu tư nuôi đàn bò gần 300 con để có thêm "đồng ra đồng vào".
Trước năm 2011, những Cty này còn chỉ tiêu khai thác gỗ nên cũng không đến nỗi khó khăn. Đàn bò được đầu tư nên số lượng ngày càng tăng. Từ năm 2011, chỉ tiêu khai thác gỗ hết, tiền hỗ trợ chi phí bảo vệ rừng hàng năm không đủ để duy trì hoạt động bộ máy Cty.
Để tự "cứu" mình, 2 Cty này lần lượt bán đi đàn bò của mình. Bò bán hết, Cty lại không có vốn để tái đầu tư dẫn đến kế hoạch nuôi bò phá sản hoàn toàn. Trường hợp khác như Cty Cư Mlan (H. Ea Súp). Năm 2003, Cty đã tiến hành thuê hồ Ea Súp Thượng (H. Ea Súp) để thả cá chép, cá mè, cá trôi kết hợp với ba ba. Mỗi năm Cty thu được từ 60-70 tấn cá. Thế nhưng cơn bão lịch sử vào năm 2007 đã cuốn trôi hết cá trong hồ. Cty không có tiền để đắp đập, cải tạo, thả con giống... nên ý tưởng "tăng thu nhập nhờ ao cá" đã tan vỡ. Cty chưa thu hồi được vốn đầu tư, nợ càng chồng nợ.
Thực trạng các Cty lâm nghiệp Tây Nguyên sau chuyển đổi được Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá: "Quản lý gần 1 triệu ha đất, nhưng sử dụng đất kém hiệu quả, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, vi phạm pháp luật về đất đai diễn biến phức tạp, nhiều Cty đứng trước nguy cơ phá sản".
Ông Trần Đức Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên nhận định: "Việc chuyển đổi thành các Cty lâm nghiệp không đạt được như kì vọng là do việc chuyển đổi nửa vời, chuyển đổi chỉ thay đổi về tên gọi, còn cơ cấu tổ chức, hoạt động không có gì mới... Có quá nhiều cơ quan, tổ chức chi phối vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến việc Cty không được tự chủ...".
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Đắc Lắc phân tích: "Một Cty muốn hoạt động được phải có vốn và tư liệu sản xuất (gồm rừng và đất rừng-PV). Lúc chuyển từ lâm trường sang, vốn hầu như bằng không, các Cty chỉ có rừng và đất rừng, được xem là thế mạnh của họ. Thế nhưng, trong chuyện này, họ lại không được tự chủ tư liệu sản xuất. Ví dụ như các Cty có đất nhưng không có vốn để đầu tư. Bây giờ muốn kêu gọi vốn từ nhà đầu tư thì phải trình xin chủ trương liên doanh liên kết đủ thứ. Trong khi cơ chế cũng chưa rõ ràng, nên chưa làm được...".
Cũng chính vì vướng phải nguồn vốn nên 3 năm nay, kế hoạch liên doanh trồng cao su trên đất rừng của Cty Cư Mlan với Tập đoàn cao su Việt Nam hiện vẫn đang... nằm trên giấy. (Công An TP Đà Nẵng 11/9) đầu trang(
Sau khi Báo Lao Động đăng loạt bài điều tra Nghệ An: Biến rừng phòng hộ thành nơi kinh doanh tệ nạn, ngày 22.8, Tỉnh ủy Nghệ An đã phát công văn số 3398-CV/TU yêu cầu các cơ quan chức năng của địa phương kiểm tra, làm rõ nội dung báo Lao Động nêu.
Thực hiện sự chỉ đạo đó, ngày 3.9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Đinh Viết Hồng đã ký văn bản số 6402/UBND.
Ông nêu rõ: “Yêu cầu Sở TNMT khẩn trương kiểm tra, xác minh làm rõ sự việc báo nêu; nếu đúng như Báo Lao Động phản ánh thì có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật, hoặc tham mưu trình UBND tỉnh xem xét, quyết định; báo cáo kết quả thực hiện trước ngày 15.9”. (Lao Động 10/9) đầu trang(
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc phát triển cây cao su ở Tây Nguyên nói chung, tỉnh nói riêng, tỉnh đã có quy hoạch về diện tích và lộ trình trồng thí điểm nhưng đến nay diện tích thực tế đã vượt xa quy hoạch đến mức báo động.
Theo quy hoạch, 26.050,2 ha rừng nghèo sẽ được chuyển sang trồng cao su. Trong đó có 7.886,2 ha rừng khộp, chủ yếu tập trung ở các  xã Ea Bung, Ya T’mốt, Cư M’Lan (huyện Ea Súp) 6.087,1 ha và các xã Ea Huar, Ea Wer, Krông Na, Tân Hòa (huyện Buôn Đôn) 1.799,1 ha.
Trên địa bàn huyện Ea Súp có 12 dự án được phép trồng thí điểm cây cao su, mỗi dự án 100 ha, do các DN như: Công ty TNHH Gia Huy, Công ty Đại Thắng Dak Lak, Công ty Đức An... thực hiện. Ngoài Công ty Cổ phần Cao su Phú Riềng Kratie đang lập hồ sơ thiết kế, tận dụng gỗ trên diện tích trồng thí điểm, đến nay các dự án nằm trong quy hoạch trồng thí điểm đã trồng được 1.266/1.440 ha cây cao su, đạt 88% kế hoạch tỉnh giao.
Thế nhưng trên thực tế, theo báo cáo của UBND huyện Ea Súp, tính đến nay, tổng diện tích cao su trên địa bàn huyện đã là 3.526 ha, vượt 280% quy hoạch giai đoạn 2009-2015 đã được UBND tỉnh phê duyệt. Diện tích cao su tăng mạnh, vượt xa quy hoạch là do các DN và người dân tự ý trồng.
Chẳng hạn, ngoài 12 DN được UBND tỉnh đồng ý cho thuê đất trồng cao su đã trồng 1.266 ha, còn có 2 DN được UBND tỉnh cho thuê đất trồng rừng nhưng đã tự ý trồng cây cao su hỗn giao với keo lai trên 240 ha, và 2 Trung đoàn kinh tế 737 và 736 cũng đã trồng 276 ha.
Đặc biệt hai xã Ia R’vê và Cư Kbang không được giao quy hoạch trồng cao su giai đoạn 2009-2015 nhưng đã có diện tích trồng 413 ha. Ngoài ra, Công ty Đức An do không được UBND tỉnh phê duyệt cho thuê đất, thuê rừng trồng cao su nên đã mua lại đất của dân để trồng 450 ha. Trong khi đó tại huyện Buôn Đôn, theo chủ trương của tỉnh, giai đoạn 2010-2015 trồng 500 ha và đến 2020, diện tích cao su trên địa bàn huyện là 1 nghìn ha, nhưng đến thời điểm này đã trồng 920 ha(?!)
Điều đáng nói là trong tổng diện tích cao su trồng trên đất rừng khộp tại hai huyện Ea Súp và Buôn Đôn thì cao su tiểu điền, do nhân dân trồng tự phát là rất lớn. Tại Ea Súp, diện tích cao su do các tổ chức, doanh nghiệp trồng là 2.232ha, còn lại 1.293ha là do nhân dân địa phương trồng rải ra khắp 10 xã, thị trấn.
Theo Chủ tịch UBND xã Cư M'Lan Phạm Văn Thước, thực tế là khi thấy các DN trồng cây cao su, người dân  trong xã cũng đổ xô trồng theo mà chưa thể khẳng định hiệu quả đến đâu. Với kiểu làm “phong trào” như vậy, tại huyện Ea Súp đã có một số xã có diện tích lớn, vượt quy hoạch được phê duyệt giai đoạn 2010-2015 đến mức đáng báo động như xã Cư M’Lan 890/530 ha, xã Ia Jlơi 758/200 ha…
Tương tự như vậy, diện tích cao su trồng ngoài kế hoạch của huyện Buôn Đôn cũng chủ yếu tập trung vào những vườn cây tiểu điền của người dân. Trong tổng số 920 ha cao su hiện có tại Buôn Đôn chỉ có 160 ha của các DN, còn lại là diện tích trồng tự phát trong dân. Phó Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn Dương Văn Xanh cho rằng, diện tích cao su do trồng tự phát này rất đáng lo ngại, bởi hầu hết đều nằm ngoài vùng quy hoạch. Do vậy hiệu quả của những vườn cao su tiểu điền “ăn theo” này hiện vẫn còn là ẩn số.
Mặc dù diện tích cao su trồng trên đất rừng khộp đã vượt xa quy hoạch, nhưng đến nay vẫn còn nhiều hộ tiếp tục trồng. Với thực trạng hiện nay, diện tích cao su trên địa bàn hai huyện Ea Súp và Buôn Đôn chắc chắn sẽ tiếp tục nằm ngoài tầm kiểm soát nếu không có sự kiểm tra, chấn chỉnh cương quyết...
Theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020 cả nước sẽ có 800.000ha cao su, nhưng đến hết năm 2012, tổng diện tích cao su cả nước đã là 915.000ha, vượt hơn 100.000 ha (13%). Nguyên nhân là do cao su tiểu điền phát triển vượt tầm kiểm soát của địa phương, nhất là giai đoạn từ 2009-2011, khi giá cao su đạt mức cao kỷ lục (120 triệu đồng/tấn). (Báo Đắc Lắc 9/9) đầu trang(
Lực lượng Cảnh sát giao thông thuộc Trạm Cảnh sát giao thông 4.1, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Thanh Hóa mới bắt giữ 4 xe tải chỡ gỗ có hành vi vi phạm về tải trọng từ 200 - 280%.
Tối ngày 9/9, các tổ tuần tra kiểm soát, thuộc Trạm Cảnh sát giao thông (CSGT) 4.1 Thanh Hóa đã nhận được thông tin nhiều phương tiện chở gỗ chạy theo hướng Nam - Bắc vi phạm lỗi quá tải trọng.
Ngay lập tức, tổ tuần tra báo cáo về Trạm và chỉ huy Trạm CSGT 4.1 đã chỉ đạo các tổ tuần tra chốt chặn và yêu cầu các phương tiện dừng lại để kiểm tra hành chính. Vào khoảng 22h30, khi các phương tiện đến địa phận huyện Quảng Xương, lực lượng CSGT đã phát hiện và yêu cầu các phương tiện dừng kiểm tra.
Qua kiểm tra, xe tải mang BKS 37C - 09392 kéo theo rơ-moóc mang BKS37R - 00472, do tài xế Hoàng Văn Thưởng, quê tỉnh Nghệ An điều khiển vi phạm chở quá tải 200%. Cùng lúc đó, kiểm tra xe tải mang BKS 37C - 056.27 do tài xế Phạm Bá Hải điều khiển, phát hiện không có chứng nhận an toàn kiểm định và chở quá tải 250%.
Đến 22h40, lực lượng CSGT tiếp tục kiểm tra xe tải mang BKS 37C - 096.97, kéo theo rơ moóc mang BKS 37R - 004.07 do tài xế Trần Đức Qúy điều khiển, không có giấy phép lái xe và quá tải 220%. Đến 23h35 cùng ngày, lực lượng chức năng phát hiện và kiểm tra xe tải mang BKS 37C – 00135, do tài xế Bùi Văn Quang điều khiển vi phạm quá tải 280%.
Những phương tiện nêu trên đã được đưa về Trạm CSGT 4.1 để chờ xử lý. Đồng thời yêu cầu chủ phương tiện tự nguyện hạ tải. Trong trường hợp chủ phương tiện không tiến hành hạ tải, cơ quan chức năng sẽ cưỡng chế hạ tải và xử lý vi phạm hành chính. (Dân Trí 10/9; Lao Động 11/9, tr7) đầu trang(
10/9, Sở NNPTNT Cà Mau cho bết, sẽ khai thác gần 1.000ha rừng đước theo phương án khai thác được duyệt.
Đến thời điểm này, người trồng rừng ở Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Năm Căn khai thác được hơn 557ha, thu được 40.500m3 gỗ đước.
Thương lái Cần Thơ, Hậu Gang, Sóc Trăng và Cà Mau đổ về mua gỗ đước để hầm than, hút hàng, giá cao. (Tiền Phong 11/9, tr2) đầu trang(
Thường trực HĐND tỉnh đã giám sát chương trình phát triển và bảo vệ rừng bền vững tại xã Mường Tùng và Sa Lông, huyện Mường Chà. Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục cho người dân về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được chú trọng thực hiện.
Hiện, các xã đã và đang hoàn tất việc rà soát hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp theo Kế hoạch 388 của UBND tỉnh. Đến nay, xã Mường Tùng có 13/15 bản được giao đất giao rừng với tổng diện tích hơn 4.600ha; xã Sa Lông có 100% diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 của Chính phủ…
Tuy nhiên, việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc nên đến nay người dân chưa được nhận tiền…
Đoàn giám sát đề nghị các địa phương chỉ đạo sát sao việc thực hiện Chương trình Bảo vệ và phát triển rừng bền vững; tập trung trồng mới, phát triển diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh; đẩy mạnh tuyên truyền để dân hiểu giữ rừng để hưởng lợi từ rừng… (Đại Biểu Nhân Dân 9/9) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà cho biết, tính đến nay, trên địa bàn huyện có 14 doanh nghiệp, 5 tập thể và 844 hộ dân được UBND tỉnh, UBND huyện, các đơn vị chủ rừng giao rừng, cho thuê rừng, giao khoán QLBV rừng với diện tích 19.791,42ha.
Trong đó, 14 doanh nghiệp và hộ ông Võ Minh Trí được UBND tỉnh giao rừng, cho thuê rừng, với diện tích 1.593,22ha; 5 tập thể và 844 hộ gia đình được các chủ rừng giao khoán QLBV rừng với diện tích 18.198,2ha.
Qua kiểm tra, khảo sát cho thấy, tuy tiến độ thực hiện các dự án còn chậm, quy mô dự án chưa lớn, nhưng phần lớn các doanh nghiệp được giao rừng, cho thuê rừng đều đã triển khai thực hiện dự án trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất nông lâm kết hợp, tác động tích cực đến rừng để tổ chức du lịch sinh thái…
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp có biểu hiện lợi dụng việc giao rừng, cho thuê rừng để tổ chức khai thác tài nguyên rừng trái phép, hoặc không có năng lực tài chính để triển khai dự án, hoặc có trồng rừng, nhưng quản lý bảo vệ không tốt, để người dân lấn chiếm hết.
Trước thực trạng đó, UBND tỉnh đã kiên quyết thu hồi dự án giao rừng, cho thuê rừng của 4 doanh nghiệp, gồm: Thu hồi 100% dự án của Công ty TNHH Mắt Đá, Công ty TNHH Đa Phú; thu hồi một phần dự án của Công ty TNHH Đa Dâng, Công ty TNHH Sơn Hoàng.
Đối với 5 tập thể, 844 hộ dân nhận khoán QLBV rừng, do có sự kiểm tra, hướng dẫn chặt chẽ, thường xuyên của cán bộ hạt kiểm lâm, ban lâm nghiệp xã, nên nhìn chung công tác QLBV rừng đạt kết quả khá tốt. (Báo Lâm Đồng 10/9) đầu trang(
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, mặc dù diện tích rừng không lớn, toàn thành phố có 29.160ha rừng và đất lâm nghiệp nhưng rừng và đất lâm nghiệp ở Hà Nội có giá trị và ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Đó là vành đai xanh “lá phổi tự nhiên” bảo vệ môi trường sinh thái cho Thủ đô; là nơi lưu trữ nguồn tài nguyên động thực vật phong phú; lưu giữ những phong tục tập quán, những kiến thức bản địa nghìn năm văn hiến; bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh góp phần hình thành và gìn giữ nhân cách thanh lịch, tôn trọng lịch sử và có trách nhiệm với tương lai của người dân Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội cũng là nơi tập trung nhiều cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản, gây nuôi phát triển động vật hoang dã, nhiều dịch vụ có sản phẩm liên quan đến tài nguyên rừng. Rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng có vị trí hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội.
Vì vậy, ngay sau khi Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 101/CP ngày 21/5/1973 quy định hệ thống tổ chức và chức năng quyền hạn của lực lượng Kiểm lâm nhân dân, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cũng được thành lập để thực hiện chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở NN&PTNT, UBND Thành phố Hà Nội thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Do sự thay đổi hệ thống tổ chức của lực lượng Kiểm lâm và sự chia tách, sát nhập tỉnh; Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cũng trải qua nhiều lần sát nhập và chuyển đổi về tổ chức.
Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/ NQ-QH12 ngày 29/5/2008 kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 12 về điều chỉnh địa giới hành chính của Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã Yên Bình, Yên Trung, Đông Xuân, Tiến Xuân của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình sát nhập vào Thành phố Hà Nội. Chi cục Kiểm lâm Hà Nội được thành lập trên cơ sở hợp nhất Chi cục Kiểm lâm Hà Tây và Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cũ tại Quyết định số 1900/QĐ-UBND ngày 07/11/2008 của UBND Thành phố Hà Nội.
Tổ chức bộ máy của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, gồm có: Văn phòng Chi cục (Phòng Tổ chức hành chính, Thanh tra pháp chế, Quản lý bảo vệ rừng và PTR, Bảo tồn tài nguyên sinh vật rừng) và 15 đơn vị trực thuộc, trong đó: 14 đơn vị hành chính (03 Đội KLCĐ&PCCCR, 10 Hạt Kiểm lâm và 01 Trạm quan sát dự báo PCCCR) và 01 đơn vị sự nghiệp (Trung tâm cứu hộ ĐVHD và Kỳ thuật BVR Sóc Sơn).
Tại điều 2 của Quyết định số 1900/QĐ-UBND ngày 07/11/2008 của UBND Thành phố Hà Nội quy định: Chi cục Kiểm lâm Hà Nội có chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở NN&PTNT, UBND Thành phố Hà Nội thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản, đảm bảo chấp hành và thực thi pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Từ đó Chi cục Kiểm lâm Hà Nội luôn được sự chỉ đạo trực tiếp của Sở NN&PTNT Hà Nội, UBND Thành phố, sự phối hợp chặt chẽ của UBND các quận, huyện, thị xã, các ngành chức năng có liên quan như: Công an, Quân đội, Kiểm sát, Quản lý thị trường....
Trải qua nhiều sự thay đổi về quản lý, tổ chức bộ máy, bổ sung quyền hạn nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm Hà Nội đã từng bước trưởng thành và phát triển. Hiện nay bộ máy tổ chức của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội có 4 phòng chuyên môn và 14 đơn vị hành chính trực thuộc.
Tổng số biên chế được giao là 181 người, trong đó: CBCC,VC: 134 người (74%), Lao động hợp đồng chuyên môn: 10 người (0,55%); Lao động hợp đồng theo nghị định 68: 37 người (20,45%). Về trình độ: Trên đại học: 06 người (3,3%): Đại học: 11.8 người (65,2%), Cao đẳng : 04 người (chiếm 2,2%), Trung cấp 27 người (14,9%): Loại khác: 26 người (14,4%).
Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND Thành phố; Sở NNPTNT Hà Nội; Chính quyền địa phương và hơn hết là dưới sự chỉ đạo đúng đắn của ban lãnh đạo Chi cục do ông Đặng Đình Phúc làm Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã đạt được những thành tích nổi bật. Được Bộ NN&PTNT, UBND Thành phố Hà Nội, Sở NN&PTNT Hà Nội tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho tập thể và các cá nhân đã đạt được những thành tích xuất sắc trong những năm vừa qua.
Năm 2013 Chi cục đã chú trọng nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng; thực hiện hoàn thành mục tiêu, chương trình nhiệm vụ hội nghị CBCC đề ra và nhiệm vụ cấp trên giao.
Thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch giao nộp ngân sách Nhà nước tiền thu phạt, xử lý hành chính, đạt 104,5% so với kế hoạch giao (kế hoạch giao 1,8 tỷ đồng, thu nộp 1,889 tỷ đồng).
Thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan có liên quan, chính quyền địa phương. Trong công tác quản lý bảo vệ rừng đã chủ động phối hợp quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh với các tỉnh lân cận, có quy chế phối hợp với Cảnh sát môi trường, phối hợp với dân quân tự vệ trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Các vụ cháy rừng được phát hiện sớm và dập tắt ngay từ ban đầu, diện tích rừng bị cháy năm 2013 là 32,58ha; 6 tháng đầu năm 2014 chỉ xảy ra 10 vụ cháy thực bì dưới tán rừng với diện tích; 9,35 ha bằng 28,69% diện tích rừng bị cháy năm 2013.
Chỉ đạo thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về phòng trừ sâu bệnh hại rừng trên địa bàn toàn Thành phố. Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, phấn đấu xây dựng tập thể CBCC, VC Chi cục Kiểm lâm Hà Nội thành một tập thể đơn vị vững mạnh toàn diện. (Kinh Doanh & Pháp Luật 10/9, tr13) đầu trang(
Thực hiện Công văn số 7138/BNN-TCLN ngày 05/9/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2016-2020, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến như sau:
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, UBND các huyện, thành phố xây dựng báo cáo của UBND tỉnh về tình hình thực hiện và kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng năm 2016-2020; dự thảo gửi Văn phòng UBND tỉnh trước 5/10.
Văn phòng UBND tỉnh thông báo để Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan thực hiện. (Langson.gov.vn 9/9) đầu trang(
Mặc dù mới triển khai được 3 năm, nhưng việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được ngành chức năng, các đơn vị liên quan đánh giá là góp phần tích cực vào việc quản lý, bảo vệ rừng. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Đắk Nông đã ghi lại ý kiến của đại diện một số đơn vị, người dân.
Dưới đây là ý kiến của ông Ông Trần Xuân Độ-Kế toán trưởng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn, Đắk Glong; Ông Nguyễn Trọng Tĩnh-PGĐ Công ty Cổ phần Thủy điện Đắk R’tíh, Gia Nghĩa; Ông Điểu Lanh ở Bon Bu Nơr, xã Đắk R’tíh, Tuy Đức; Ông Lê Văn Quang - GĐ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Ông Trần Xuân Độ - Kế toán trưởng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn, Đắk Glong cho biết: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn hiện quản lý, bảo vệ hơn 15.800 ha rừng, trong đó diện tích rừng tham gia dịch vụ môi trường rừng trên 10.800 ha. Trong điều kiện các công ty lâm nghiệp không còn chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên thì việc được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị.
Từ số tiền được nhận khoảng 1 tỷ đồng/năm, công ty đã sử dụng vào các công việc như hợp đồng thêm lao động, mua sắm thêm phương tiện tuần tra, phối hợp với ngành chức năng, địa phương tăng cường hoạt động tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ đó, công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị ngày càng được thực hiện tốt hơn, số vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng ngày càng giảm, diện tích rừng trồng mới tăng lên.
Ông Nguyễn Trọng Tĩnh - PGĐ Công ty Cổ phần Thủy điện Đắk R’tíh, Gia Nghĩa: Là đơn vị được sử dụng dịch vụ môi trường rừng mà cụ thể nhất là việc dùng nguồn nước để phát điện, tính đến nay, đơn vị đã đóng trên 35 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Đây là một chính sách có ý nghĩa tác động qua lại lẫn nhau giữa đơn vị cung ứng và sử dụng dịch vụ môi trường rừng, nhất là trong việc giúp các chủ rừng tăng cường các biện pháp về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết và duy trì nguồn nước. Tôi nghĩ, đây là một cách thiết thực để các dự án thủy điện đóng góp vào việc quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Điểu Lanh ở Bon Bu Nơr, xã Đắk R’tíh, Tuy Đức: Cộng đồng bon Bu Nơr đã sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng vào các mục đích nhằm bảo vệ rừng tốt hơn như may đồng phục cho đội tuần tra, bảo vệ rừng, trồng lại 10 ha rừng do bị mất từ những năm trước đây, mua heo rừng về nuôi theo quy mô tập trung. Nhờ có nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng mà điều kiện kinh tế của bà con đang dần được cải thiện đáng kể.
Ông Lê Văn Quang - GĐ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh: Kết quả việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã từng bước nâng cao đời sống của người dân sống dựa vào rừng, nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, nâng số hộ nhận khoán bảo vệ, đồng thời huy động một nguồn lực lớn trong công tác tuần tra, bảo vệ tài nguyên rừng. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động xã hội hóa nghề rừng được đẩy mạnh, qua đó, góp phần xóa đói giảm nghèo ở những địa bàn dân cư vùng sâu, vùng xa. (Báo Đắc Nông 10/9) đầu trang(
Đến hết tháng 8, tiến độ khai thác gỗ rừng trồng trên toàn tỉnh mới đạt trên 157.800 m3, đạt 35% kế hoạch.
Trong đó, các công ty, đơn vị khai thác được trên 53.000 m3, hộ gia đình khai thác trên 97.400 m3, khai thác được trên 8.000 tấn tre nứa. Tiến độ này nếu không được đẩy nhanh, sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch trồng rừng năm 2015.
Cụ thể, huyện Lâm Bình mới khai thác được 3.300 m3/9.100 m3 kế hoạch; Nà Hang 6.800 m3/17.500 m3; Chiêm Hóa 39.900 m3/62.000 m3; Hàm Yên 40.100 m3/113.400 m3; Sơn Dương 21.100 m3/101.600 m3; Yên Sơn 42.400 m3/131.000 m3; thành phố Tuyên Quang 4.200 m3/10.100 m3.
Có nhiều nguyên nhân như việc giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất lâm nghiệp tại một số xã chưa hợp lý; một số xã giao chỉ tiêu khai thác và trồng rừng cho các thôn còn bất cập như chỉ tiêu khai thác giao cao trong khi chỉ tiêu trồng rừng giao thấp; các phòng chức năng của huyện, thành phố chậm thống kê kết quả rà soát giao chỉ tiêu kế hoạch đến thôn, bản các xã.
Cá biệt, một số xã như Hùng Mỹ, Tân An (Chiêm Hóa), xã Lang Quán (Yên Sơn) không giao chỉ tiêu khai thác đến thôn. Việc khai thác rừng trồng phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu khai thác, tiêu thụ của hộ; trong khi giá thu mua gỗ nguyên liệu những tháng đầu năm 2014 thấp hơn nhiều so với cuối năm 2013, cơ chế thu mua gỗ của các công ty, đơn vị sử dụng nguyên liệu chưa hợp lý, giá mua nguyên liệu chưa điều chỉnh kịp thời theo giá thị trường; việc áp dụng chính sách thu mua nguyên liệu qua đầu mối trung gian dẫn đến khó quản lý được giá.
Rừng trồng 327, 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất, đã có phương án bán đấu giá, tuy nhiên nhiều gia đình tại các xã có kinh tế khó khăn, đang nhận khoán bảo vệ rừng, đăng ký tham gia mua rừng nhưng chủ yếu ở địa bàn phức tạp, xa đường giao thông, không có đường vận chuyển lại có trữ lượng thấp trong khi đó giá thành để chi phí cho khai thác vận chuyển lại cao, giá cả thị trường biến động, lợi nhuận kinh tế thấp nên chưa thu hút được người dân tham gia đấu giá và tổ chức khai thác gỗ rừng trồng.
Trên địa bàn tỉnh, ngoài  Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa, toàn tỉnh có trên 50 nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản. Tuy nhiên, các công ty, nhà máy chậm ban hành cơ chế chính sách đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, chưa xây dựng dự án đầu tư trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch, chưa có sự gắn kết giữa nhà máy với người trồng rừng nguyên liệu, việc phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, phổ biến cơ chế hỗ trợ, cơ chế liên doanh chưa sâu rộng, nên chưa thu hút được các tổ chức, cá nhân, hộ có đất lâm nghiệp trong vùng quy hoạch tham gia trồng rừng phát triển vùng nguyên liệu với nhà máy.
Đến cuối năm, toàn tỉnh còn khai thác trên 287.000 m3 gỗ và gần 14.000 tấn tre nứa. Để hoàn thành, các địa phương cần tập trung khai thác gỗ rừng trồng, ưu tiên tập trung cung ứng sản phẩm gỗ nguyên liệu cho Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 1562/UBND-NLN ngày 12-7-2013.
UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch, phương án tổ chức khai thác, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu. Các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp căn cứ quỹ rừng hiện có hoàn thành lập và phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác xong trong quý IV-2014; Công ty cổ phần Nguyên liệu giấy Giấy An Hòa hoàn thiện dự án đầu tư phát triển rừng sản xuất nguyên liệu giấy trong vùng quy hoạch được duyệt, khẩn trương xây dựng các trạm thu mua gỗ nguyên liệu, bố trí đủ lực lượng thu mua gỗ trực tiếp đến các chủ rừng, hạn chế thu mua thông qua các đơn vị trung gian để tránh thiệt hại cho người trồng rừng. (Báo Tuyên Quang 10/9) đầu trang(
Ở Mèo Vạc, một trong 4 huyện vùng cao núi đá của tỉnh Hà Giang, đã có những gia đình sở hữu những cánh rừng cả chục héc-ta. Chuyện như có vẻ khó tin, nhưng đây lại hoàn toàn là sự thật.
Câu chuyện trồng rừng của bà Phàn Thị Thủy - một phụ nữ dân tộc Dao, 48 tuổi ở xóm Sùng Khể, xã Lũng Chinh, huyện Mèo Vạc cuốn hút bất kỳ ai khi ở miền đá xám này, đồng bào lại trồng được những cánh  rừng như thế.
Từ ngày có rừng, những vạt ruộng ít ỏi của bà Thủy và cả xóm Sùng Khể luôn có nước để cấy. Những năm đầu tiên, rừng chưa khép tán, nguồn nước từ núi chảy ra mới chỉ bằng cổ tay, nay đã bằng bắp chân.
Bà Thủy thành thật kể: “Hồi xưa không ai biết trồng rừng để giữ nguồn nước ngay nhà. Tôi mạnh dạn vay 10 triệu đồng về để mua hai con trâu, còn ít vốn để trồng rừng.  Làng xóm bảo,  trồng rừng thì không có lợi  ích gì đâu. Tôi bảo, trồng rừng để bảo vệ nguồn nước. Trước kia chưa có rừng thì nước bé. Bây giờ nguồn nước to lên và lắp được thủy điện nhỏ. Ruộng đầy nước, nhà lúc nào cũng bán ốc, bán cá”.
Năm ngoái, mới chỉ khai thác tỉa 500 cây sa mộc của nhà bà Thủy đã cho thu nhập thì được gần 200 triệu đồng, gấp nhiều lần so với nguồn vốn ban đầu bỏ ra. Có rừng, nguồn thuốc quý hiếm của người Dao trên rừng cũng được bảo vệ…
Xóm Sùng Khể là nơi cư ngụ của 70 hộ gia đình. Trong đó, một nửa là đồng bào Mông, một nửa là đồng bào Dao. Cách làm của bà Thủy đã thuyết phục được cả xóm cùng trồng rừng. Cánh rừng của cả xóm rộng gần 100 héc-ta cũng là do bà Phàn Thị Thủy đứng tên hợp đồng với Ban quản lý dự án của huyện Mèo Vạc, rồi bà cũng bỏ vốn và vận động bà con trong xóm tham gia cùng trồng và bảo vệ.
Bà Phàn Thị Thủy không chỉ là một người phụ nữ năng nổ, có đầu óc kinh tế mà còn là một người có trách nhiệm với làng bản, quê hương. Từ khi kinh tế gia đình khấm khá, bà Thủy trở thành một hạt nhân tích cực, giúp bà con trong xóm Sùng Khể cải thiện đổi thay nếp nghĩ, cách làm dần dần ổn định đời sống. Bắt đầu từ việc nhận khoán đất rừng cho bà con chăm sóc.
Năm 2010, huyện Mèo Vạc phát động phong trào giao đất giao rừng cho bà con và phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Bà Thủy thấy bà con trong xóm  còn nghèo cũng một phần là do không có đủ nước canh tác, cả năm chỉ làm được một vụ. Chỉ có trồng rừng, cải thiện nguồn nước, bà con mới no đủ được.
Là Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ của xóm, bà Thủy đi đến từng nhà vận động  chị em hội viên về lợi ích mà rừng sẽ đem lại. Lúc đầu không ít người   trong xóm dè bỉu, từ chối. Nhưng bà Thủy nhận thấy, phần lớn bà con còn ngại khó, ngại khổ, phần khác là do không có vốn. Thế rồi bà Thủy quyết định đầu tư vốn, nhận khoán 94 héc-ta đất thay bà con cả thôn.
Bà Thủy kể, lúc bấy giờ chưa có đường bê tông từ trụ sở Ủy ban nhân dân xã Lũng Chinh vào thôn Sùng Khể. Giống cây được hỗ trợ miễn phí nhưng công vận chuyển thì vô cùng nhọc nhằn. Hàng ngày, bà Thủy và người nhà phải dắt 2 con ngựa vượt quãng đường rừng hơn 6 cây số thồ từng gùi cây giống từ xã về phát cho các hộ dân để trồng. Ngày công lao động của từng hộ, bà ghi chép lại cẩn thận trong một cuốn sổ riêng để thanh toán cho bà con.
Từ khi có cánh rừng của bà Phàn Thị Thủy, bà con có thêm gạo ăn, có thêm tiền tiêu. Tận mắt nhìn thấy lợi ích từ rừng, rất nhiều hộ dân trong xóm đã học và làm theo bà Thủy, mạnh dạn vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội về phát triển chăn nuôi.
Ông Nguyễn Đình Thụ - Phó ban chuyên trách ban quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mèo Vạc cho biết, xã Lũng Chinh là một trong 4 xã của huyện bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả. Nhờ những hạt nhân như bà Phàn Thị Thủy và xóm Sùng Khể mà diện tích che phủ rừng của Mèo Vạc tăng dần qua từng năm.
Từ tỷ lệ che phủ rừng của Mèo Vạc chưa được 30% (năm 2008), đến năm 2013 tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn toàn huyện đạt 37,4%. Trong đó, mô hình của gia đình bà Thủy và thôn Sùng Khể là điển hình trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Xã Lũng Chinh nói riêng hay huyện Mèo Vạc nói chung, được biết đến là vùng cao nguyên núi đá, khí hậu khắc nghiệt, người dân thiếu nước, thiếu đất sản xuất.
Nhưng nay, cây rừng đang dần che phủ những ngọn đồi núi trọc, nguồn ước dần dồi dào hơn và đời sống ngày một khấm khá, tỷ lệ đói giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao này giảm khá nhiều. Đó là nhờ công sức của những con người mạnh dạn đi đầu trong phát triển kinh tế như bà Phàn Thị Thủy. (Công Thương 10/9) đầu trang(
Theo thống kê của Sở NN&PTNT, từ đầu năm đến nay các chỉ số về trồng, chăm sóc rừng, khai thác gỗ rừng... trên toàn tỉnh đều tăng so với cùng kỳ.
Cụ thể toàn tỉnh trồng được 12.371ha rừng tập trung, tăng 12,2% (trong đó trồng được 510ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 11.861ha rừng sản xuất), trên 344.000 cây phân tán các loại; sản xuất được 29 triệu cây giống các loại.
Công tác chăm sóc rừng đạt 33.600ha rừng trồng, trong đó có 1.800ha rừng phòng hộ, 31.800ha rừng sản xuất. Riêng về khai thác gỗ rừng trồng đạt 307.363m3, tăng gần 50% so với cùng kỳ; khai thác thu mua nhựa thông 9.400 tấn, tăng 2,1% so cùng kỳ (trong đó trong tỉnh 1.435 tấn, thu mua tỉnh ngoài 7.965 tấn).
Bên cạnh đó hoạt động chế biến lâm sản cũng đạt kết quả khả quan, toàn tỉnh chế biến gỗ 5.395m3, 8.850 tấn nhựa thông, 206.000 tấn dăm gỗ xuất khẩu, dịch vụ gỗ mỏ cho ngành Than đạt 79.500m3. (Báo Quảng Ninh 9/9) đầu trang(
Cục Thống kê tỉnh cho biết, trong tháng 8, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 1.100ha, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1,1 triệu cây, tăng 0,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 45 nghìn mét khối, tăng 15,3%; sản lượng củi khai thác đạt 69 nghìn ste, bằng 98,5%.
Tính chung 8 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 3.215ha, tăng 4,3% cùng kỳ năm 2013; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 6 triệu cây, tăng 1,4%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 360 nghìn mét khối, tăng 12,8%; sản lượng củi khai thác đạt 460 nghìn ste, bằng 99,3%.
Trong khi đó, diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng trong tháng 8 là 2,2ha. Tính chung 8 tháng năm 2014, diện tích rừng bị thiệt hại là 22,8ha, giảm 43,6ha so với cùng kỳ năm trước, gồm diện tích rừng bị cháy 16,3ha, giảm 18,6ha; diện tích rừng bị chặt phá 6,5ha, giảm 25ha. (Báo Quảng Nam 9/9) đầu trang(
9/9, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1911/QĐ-UBND thành lập Ban chỉ đạo kiểm kê rừng giai đoạn 2014 – 2016, gồm 08 thành viên, do Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi làm Trưởng Ban, ông Trần Văn Lộc Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT Phó Trưởng Ban.
Qua đó Ban chỉ đạo có nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện kiểm kê rừng theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Dự án tổng kiểm tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 -2016 và các văn bản hướng dẫn của Trung ương về việc tổ chức triển khai thực hiện công tác kiểm kê rừng tại địa phương, chỉ đạo các sở, ngành hướng dẫn, phối hợp với UBND các huyện, thị xã và đơn vị có liên quan xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo, kiểm tra, giát sát chặt chẽ theo tiến độ, nội dung và chất lượng công tác kiểm kê ở địa phương, phối hợp với Ban chỉ đạo Tổng điều tra, kiểm kê rừng Trung ương đánh giá chất lượng kiểm kê rừng ở địa phương theo quy định, chỉ đạo tổ chức lập hồ sơ quản lý rừng, phục vụ công tác cập nhật diễn biến diện tích rừng và đất lâm nghiệp hàng năm sau kiểm kê rừng, chỉ đạo, hướng dẫn thành lập Ban chỉ đạo Kiểm kê rừng cấp huyện, tổ kiểm kê rừng cấp huyện, cấp xã theo quy định.
Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nghiệm. Sở Nông nghiệp & PTNT là cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện hoạt động của Ban Chỉ đạo, được sử dụng bộ máy của cơ quan mình để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
Trưởng Ban Chỉ đạo được sử dụng con dấu của UBND tỉnh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo được sử dụng con dấu Sở Nông nghiệp & PTNT trong thực hiện nhiệm vụ. (Sở NNPTNT Bình Phước 9/9) đầu trang(
10/9, Công ty YENEPOYA WOOD PROCESSING tổ chức lễ khai trương nhà máy chế biến gỗ của Công ty. Tham dự buổi lễ khai trương có lãnh đạo Cục Thuế tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Lương Văn Ngân, các Phó Chủ tịch UBND huyện Lương Ngọc Anh, Nguyễn Huỳnh Huyện.
Công ty YENEPOYA WOOD PROCESSING là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trụ sở chính của Công ty đặt tại Cụm công nghiệp Gò Mít, thị trấn Ngô Mây,  sản phẩm kinh doanh của Công ty là chế biến ván ép, gỗ ghép, sản phẩm gỗ, bàn ghế nội thất bằng gỗ theo giấy chứng nhận đầu tư số 351023000341 ngày 22/01/2014 của UBND tỉnh Bình Định.
Tại buổi lễ, ông Nguyễn Huỳnh Huyện, Phó Chủ tịch UBND huyện phát biểu chúc mừng Công ty khai trương nhà máy chế biến gỗ và mong muốn Công ty ngày càng phát triển và thành đạt. (Trang Thông Tin Đện Tử HĐND Và UBND Huyện Phù Cát 10/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Việc chuyển đổi đất rừng thành đất trồng trọt trên phạm vi toàn thế giới đã gây ra một sự thay đổi trong bầu khí quyển, hiếm khi được xem xét đến trong các mô hình khí hậu, đã có tác động làm mát nhiệt độ toàn cầu, theo một nghiên cứu mới đây của Yale.
Giáo sư Nadine Unger từ khoa Nghiên cứu Lâm nghiệp và Môi trường của Yale (F&ES) báo cáo rằng, thiệt hại rừng trên quy mô lớn trong 150 năm trở lại đây đã làm giảm lượng khí thải toàn cầu của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (BVOCs), trong đó kiểm soát sự phân bố trong khí quyển của nhiều chất gây ô nhiễm môi trường trong thời gian ngắn, chẳng hạn như ozôn ở tầng đối lưu, mê-tan, và các hạt li ti.
Sử dụng mô hình khí hậu tinh vi, Unger tính toán rằng một sự suy giảm 30% lượng khí thải trong BVOC giữa năm 1850 và 2000, chủ yếu thông qua việc chuyển đổi rừng sang đất trồng trọt, đã tạo ra hiệu ứng làm mát khoảng 0,1 độ C. Trong cùng thời kỳ đó, khí hậu toàn cầu ấm lên khoảng 0,6 độ C, chủ yếu là do sự gia tăng phát thải CO2 của nhiên liệu hóa thạch.
Theo kết quả nghiên cứu của bà, tác động về mặt khí hậu của suy giảm lượng phát thải BVOC là có cùng độ lớn tương tự khi hai hậu quả khác của việc phá rừng từ lâu đã được biết đến là ảnh hưởng đến nhiệt độ toàn cầu, mặc dù theo các phương thức khác nhau: lưu trữ các-bon và các tác động phản xạ.
Khả năng lưu trữ các-bon bị mất gây ra bởi chuyển đổi rừng đã làm làm trầm trọng thêm hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong khi đó, sự biến mất của rừng tối (dark-colored forests) cũng đã giúp bù đắp cho sự gia tăng nhiệt độ thông qua cái gọi là hiệu ứng phản xạ.
Unger cho biết, ảnh hưởng kết hợp của giảm phát thải BVOC và tăng hiệu ứng phản xạ có thể đã hoàn toàn bù đắp được cho hiện tượng nóng lên gây ra bởi sự mất khả năng lưu trữ các-bon từ rừng.
"Những thay đổi về che phủ đất do con người gây ra kể từ khi cuộc cách mạng công nghiệp và nông nghiệp đã xóa bỏ rừng tự nhiên, các đồng cỏ và thay thế bằng đất canh tác", Unger - trợ lý giáo sư về hóa học khí quyển tại F&ES cho biết. "Và đất trồng trọt không phát thải ra nhiều BVOCs –thường thì chúng không phát thải ra bất kỳ BVOCs nào".
"Nếu không thực hiện một mô phỏng mô hình hệ thống trái đất bao hàm những yếu tố này, chúng ta không thể biết tác động đó tới khí hậu toàn cầu. Bởi vì những thay đổi trong lượng khí thải này ảnh hưởng đến hiện tượng ấm lên và các chất ô nhiễm làm mát", cô nói.
Unger cho biết những kết quả này không cho thấy tình trạng mất rừng gia tăng đang tạo điều kiện thuận lợi cho biến đổi khí hậu, mà nhấn mạnh vào tính phức tạp của biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của việc đánh giá tốt hơn khu vực nào trên thế giới sẽ được hưởng lợi từ bảo tồn rừng lớn hơn.
Kể từ giữa thế kỷ 19, tỷ lệ đất trồng trọt bao phủ trên hành tinh đã tăng gấp đôi, từ 14- 37%. Bởi rừng là nhân tố đóng góp lượng khí thải BVOC lớn hơn so với cây trồng và đồng cỏ, sự thay đổi trong sử dụng đất đã loại bỏ khoảng 30% nguồn BVOC của Trái đất, Unger nói.
Không phải tất cả các hợp chất này đều ảnh hưởng đến hóa học khí quyển theo cùng một cách. Tuy nhiên, giảm các khí nhà kính mạnh là mê-tan và ôzôn - góp phần gây hiện tượng nóng lên toàn cầu - đã giúp mang lại một hiệu quả làm mát.
Những khí thải này thường bị bỏ qua trong các mô hình khí hậu vì chúng được coi là một phần "tự nhiên" của hệ thống Trái đất, Unger giải thích. "Vì vậy, chúng không nhận được nhiều sự chú ý như lượng khí thải mà con người tạo ra, chẳng hạn như VOC trong nhiên liệu hóa thạch”.
Những tác động này cũng đã được bỏ qua trong mô hình khí hậu trước đó, bởi vì các nhà khoa học tin rằng lượng khí thải BVOC hầu như không thay đổi trong giai đoạn từ thời kỳ tiền công nghiệp cho đến nay. Nhưng một nghiên cứu được công bố năm ngoái của Unger cho thấy rằng lượng khí thải của các hợp chất dễ bay hơi đã thực sự suy giảm. Các nghiên cứu của các nhà khoa học châu Âu đã cho kết quả tương tự.
Tác động của thay đổi ôzôn và các sol khí hữu cơ đặc biệt mạnh mẽ ở vùng ôn đới, trong khi tác động của mê-tan được phân bố nhiều hơn trên toàn cầu, cô cho biết.
Độ nhạy của hệ thống khí hậu toàn cầu với khí thải BVOC cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập một chương trình theo dõi dài lâu trên quy mô toàn cầu về khí thải BVOC, Unger ghi nhận. (Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam 10/9) đầu trang(
Trong nhiều ngày qua, hỏa hoạn tiếp tục hành hoành các khu rừng trong Công viên Quốc gia Yosemite, bang California, Mỹ, đe dọa các danh thắng và khu vực lân cận.
Ngọn lửa bùng phát từ ngày 7/9 vừa qua và ngày càng lan rộng. Tính đến nay, đám cháy đã bao phủ gần 1.800 hécta, tương đương khoảng 5% diện tích công viên. Khoảng 330 lính cứu hỏa đã được huy động nhằm khống chế ngọn lửa.
Tính nghiêm trọng của đám cháy đã buộc ban quản lý công viên phong tỏa nhiều tuyến đường trong khu vực này, trong đó có con đường dẫn tới đỉnh núi Half Dome nổi tiếng.
Nhiều danh thắng trong Công viên Quốc gia Yosemite như thung lũng Little Yosemite, hồ Merced, trang trại Sunrise High Sierra, Clouds Rest và thung lũng Echo... đang đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Năm ngoái, một vụ cháy rừng tương tự cũng xảy ra tại đây, tàn phá khoảng 102.000ha trong công viên này. (VietnamPlus 10/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng