Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ông Nguyễn Bá Trung, người có mấy chục năm lăn lộn với nghiệp trồng rừng, là Giám đốc Công ty Trúc Vinh, có địa chỉ ở xã Trúc Lâm cho biết: “Theo các nguồn tin đáng tin cậy, từ năm 2011 đến nay họ chặt phá không dưới 3.000ha rừng, là thành quả của Dự án 327 và Dự án 661 trước đây.
Tiểu khu 664 thuộc địa bàn xã Phú Sơn có diện tích tự nhiên 980ha rừng khoanh nuôi tái sinh bị chặt gần hết. Hai tiểu khu 666 và 663 thuộc các xã Nguyên Bình, Phú Lâm có tổng diện tích tự nhiên 2.565ha hiện bị chặt phá hơn một nửa.
Như vậy đủ biết là lớn đến mức độ nào. Đây là rừng phòng hộ xung yếu, với độ cao 561m, dốc 30 – 60 độ, là nóc nhà của huyện Tĩnh Gia, dưới chân núi có hàng vạn người dân sinh sống cùng các công trình phúc lợi đang bị đe dọa bởi hậu quả của nạn phá rừng, đau xót lắm!”.
Theo ông Trung, toàn bộ rừng ở núi Lâm Động thuộc các tiểu khu 663, 664, 666 từ trước đến nay có tới 4 dự án chồng lên nhau, trước đây là các Dự án 4304, 327, 661 và nay là JICA. Khi Lâm trường Tĩnh Gia chuyển đổi thành Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia (BQLRPH), thì họ tìm cách lấy lại những diện tích rừng trước đây đã giao khoán cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ.
Riêng Công ty Trúc Vinh nhận trồng và khoanh nuôi, bảo vệ hơn 200ha cũng bị thu hồi, lấy lại mà không được đền bù, thanh toán đồng nào. Ông Trung kể, khi Công ty Trúc Vinh nhận đất, phần lớn là đất trống, đồi núi trọc. Sau 25 năm Công ty trồng cây phủ kín phát triển tốt thì BQLRPH Tĩnh Gia nhảy vào lấy không.
Ông Trung bức xúc: “Họ nói thẳng với tôi, từ Chủ tịch UBND huyện đến Kiểm lâm, Công an… đều là của họ, có lên trời mà kêu, rồi cũng lại đến tay họ giải quyết, mà họ không giải quyết thì mình làm gì được họ. Nạn phát canh thu tô do BQLRPH Tĩnh Gia gây nên quá nặng nề. Tôi làm nghề rừng lâu năm nên tôi khẳng định, mỗi năm họ thu địa tô phải cỡ từ 20 – 30 tỉ đồng. Còn gỗ rừng phòng hộ được trồng theo những dự án trước đây, họ chặt đem đi bán, mỗi xe 7 triệu đồng, tôi có đầy đủ bằng chứng”.
Ông Trung thống kê: Năm 2011 họ chặt, đốt 60ha ở Tiểu khu 668; năm 2012 chặt, đốt ở núi Mua Cua, Tiểu khu 670 thuộc xã Trường Lâm 400ha; năm 2013 chặt, đốt ở Tiểu khu 664 thuộc xã Phúc Sơn 800ha; hiện nay đang chặt, đốt ở Khoảnh 23, Tiểu khu 666 thuộc các xã Phú Lâm, Nguyên Bình khoảng 1.000ha rừng phòng hộ khoanh nuôi tái sinh của Dự án 661 và 327 trước đây.
Tại xã Phú Lâm, mặc dù ngày nghỉ nhưng ông Lê Văn Nam, Chủ tịch UBND xã vẫn dành thời gian tiếp PV. Ông cho biết: Phú Lâm có 3 loại gồm rừng trồng theo Dự án 4304, rừng khoanh nuôi bảo vệ theo Dự án 327 và rừng thông trồng theo Dự án 661. Hiện có các loại rừng sản xuất, rừng khoanh nuôi bảo vệ giao cho các hộ dân, một số hộ đã bán.
Rừng phòng hộ có một phần diện tích thuộc Tiểu khu 667 nay thuộc về BQLRPH Tĩnh Gia, hiện đang mất 30 – 40ha người ta đang lấy đất. Theo ông Nam, trên địa bàn xã Phú Lâm hiện Công ty Đức Minh đã mua khoảng 40 – 50ha rừng để khai thác đất phục vụ san lấp ở khu kinh tế Nghi Sơn. Khu vực rừng mới bị đốt là diện tích giao cho dân khoanh nuôi bảo vệ, có 2 – 3 hộ bán khoảng 20ha cho ông Phong và ông Thường từ năm 2009. Riêng ông Phong chủ yếu mua rừng ở Phú Sơn, cũng khoảng vài trăm héc-ta.
Thực hiện dự án WB3, họ cho phá sạch để trồng mới cây keo. Trước đây giao rừng cho dân khoanh nuôi bảo vệ, nay chuyển sang rừng sản xuất các hộ được vay 20 triệu đồng/ha, sau 7 năm hoàn lại vốn. Rừng ông Phong mua gom của dân đều ở độ dốc 15 độ trở lên.
Ông Nguyễn Hữu Thường, Giám đốc BQLRPH Tĩnh Gia mua của ông Dũng Ty 20ha trồng bạch đàn, vừa rồi thuê người phát cành dọn thực bì cũng bị cháy một số. Vợ ông Văn, Bí thư Chi bộ thôn 4, xã Phú Lâm cho biết, gia đình có 12ha bán cho Phong “Xoan” 10 triệu đồng giờ mới thấy tiếc.
Ông Mạnh cùng thôn bán cho Phong “Xoan” 4ha được trả cho có 2 triệu đồng. Người dân nói, các hộ  bán rừng cho Phong “Xoan” thì ai biết của người nấy như ông Bi Râu, ông Cảnh, ông Thiết… thôn Đông Sơn, xã Phú Sơn. Ông Nam tâm sự: “Làm Chủ tịch như tôi nhiều khi cũng thấy ngán, từ khi lên nhậm chức toàn phải giải quyết hậu quả”.
Rời Phú Lâm, PV “hành quân” sang xã Nguyên Bình, là xã có nhiều diện tích rừng nhất của khu vực núi Lâm Động. Chủ tịch UBND xã này là ông Lê Quang Xanh, người khiến chúng tôi vô cùng thất vọng bởi thái độ không đúng mực, thiếu hợp tác khi rừng trong địa bàn xã quản lí bị chặt phá tan hoang.
Sau khi nghe PV đặt vấn đề làm việc về tình trạng đốt phá rừng, ông Xanh tỏ vẻ khó chịu nói: “Thực ra bây giờ tôi không có thời gian đâu”. Ông viện cớ phải tổ chức trại hè cho các cháu, ông ở trong Ban tổ chức nên không thể vắng mặt, không thể ngồi làm việc với PV được. PV cố nài, đề nghị ông hôm sau dành cho phóng viên ít phút, nhưng ông Xanh vẫn giữ thái độ không hợp tác.
“Tôi ngày nay, ngày mai bận, phải khai mạc trại hè không bỏ được” – ông Xanh tỏ thái độ gay gắt. PV vớt vát: “Hay là Chủ tịch ra khai mạc xong dành cho chúng tôi 15 – 20 phút để nắm bắt thông tin!”. Ông Xanh đứng phắt dậy, nói gần như quát: “Tôi ban tổ chức không thể bỏ được, thôi nhé thông cảm tí!”, đoạn xua PV như đuổi tà.
Nghĩ cũng lấy làm lạ, tình trạng đốt phá rừng phòng hộ xảy ra ầm ầm như vậy, xã Nguyên Bình lại có diện tích rừng phòng hộ bị phá lớn nhất, mà ông Chủ tịch UBND xã này vẫn bình chân như vại. Đồng ý tổ chức trại hè cho các cháu thiếu nhi là việc cần thiết, song cũng không thể không bớt được chút thời gian cho phóng viên, trong khi sự kiện đốt phá rừng đang nóng bỏng. Xin hỏi ông Xanh, trại hè quan trọng hơn hay cuộc sống của người dân quan trọng hơn?
Được người dân nhiệt tình dẫn đường, PV quyết tâm vượt núi đến hiện trường. Từ Thành Công, đi qua Khe Dầu, Cổ Yếm, vượt dốc Điện Biên lên đỉnh cao thứ nhì trong dãy núi Lâm Động. Ông Nguyễn Bá Trung cho biết, nơi đến là đỉnh cao 530m của Khoảnh 23, Tiểu khu 666 thuộc địa giới hành chính xã Nguyên Bình. Từ đây phóng tầm mắt nhìn sang Phú Lâm, Phú Sơn, Yên Mỹ, cả một vùng rộng lớn trải ngút tầm mắt. Đối diện với nơi đứng là đỉnh cao 561m, nơi vừa mới vài ngày trước họ tổ chức đốt rừng.
Mất dễ đến 3 tiếng đồng hồ vừa leo núi, vừa được người dân đèo bằng xe máy, đường đi chênh vênh, dốc dựng đứng, nhiều chỗ gần như phải bò, mới tới được đỉnh cao 530. Trời nóng bức, lại phải leo dốc nhiều khiến người ai cũng như bốc lửa. Thế nhưng, khi lên đến nơi ai nấy đều thấy ớn lạnh, cảm giác tê tái trong lòng, khi tận mắt chứng kiến cả một vạt rừng bị tàn phá, đốt cháy khủng khiếp hơn cả chiến tranh.
Những gốc cây bị đốn hạ vẫn còn nguyên đó, là bằng chứng rõ ràng nhất của vụ phá rừng tàn khốc. Đúng như thông tin người dân cho biết, qua những gốc cây còn sót lại thì rừng ở đây phần lớn là cây có đường kính từ 30 – 50cm, cũng có nhiều gốc cây to, có ngọn cây còn sót lại một người ôm không xuể. Một vài cây do những nhân công được thuê chặt, đốt rừng để lại làm bóng mát ngồi nghỉ ngơi, vươn mình trên một vùng hoang tàn nom đơn độc, ngẩn ngơ với số phận mong manh như chính khu rừng này.
Phóng tầm mắt nhìn sang đỉnh cao 561, khu rừng vừa bị đốt cách đó vài hôm, lòng quặn thắt khi thấy cả vạt rừng bị cháy rụi, tựa như vừa trải qua trận bom na-pan khủng khiếp. Phía xa xa bên vạt rừng còn lại, vẫn vẳng tiếng máy cưa cắt gỗ.
Thấy PV có ý nhờ dẫn sang bên đó để mục sở thị cảnh cắt cây phá rừng, người dẫn đường lè lưỡi, lắc đầu: “Nguy hiểm lắm, họ mà phát hiện ra có người đến điều tra họ phá rừng thì không thoát được đâu. Với lại từ đây qua bên đấy trông thế thôi, cũng phải đi mất nửa ngày đường”.
Vậy là PV đành gác lại cái cảm giác phiêu lưu, cơ hội chứng kiến cảnh con người “hành quyết” rừng phòng hộ tái sinh. Tuy vậy, chỉ mới chứng kiến một góc nhỏ thảm cảnh đốt phá rừng ở núi Lâm Động, đã khiến lòng quặn thắt. (Người Cao Tuổi 12/9) đầu trang(
Đó là khẳng định của Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, liên quan đến việc 3 xưởng gỗ ở tỉnh này đang bị Bộ Công an phong tỏa.
Đến tối 11-9, lực lượng chức năng vẫn đang kiểm kê gỗ trong 3 xưởng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trước đó, chiều 7-9, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị của Bộ Công an và lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk bất ngờ phong tỏa 2 xưởng gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái ở số 93 đường Y Wang và hẻm 267 Mai Hắc Đế (thuộc phường Ea Tam và phường Tân Thành, TP Buôn Ma Thuột) và một xưởng gỗ khác ở huyện Ea Súp của Công ty TNHH một thành viên Đức Liên.
Từ đó đến nay, bên ngoài 3 xưởng gỗ này có rất nhiều cảnh sát cơ động canh giữ 24/24 giờ. Theo Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, Bộ Công an phối hợp với lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk tiến hành điều tra một đường dây buôn bán, vận chuyển gỗ lậu quy mô lớn từ Đắk Lắk đi các tỉnh khác; đồng thời kiểm tra nguồn gốc gỗ tại một số xưởng cưa trên địa bàn tỉnh này.
Xưởng gỗ số 93 đường Y Wang nằm ngay giữa khu dân cư. Để tránh bị nhòm ngó, xưởng này được xây tường rào cao hơn 3 m, phía trên giăng dây thép gai chằng chịt. Sau nhiều lần tiếp cận bất thành, chiều 11-9, mới mục sở thị được xưởng gỗ này từ phía tường rào của Công ty Hiền Thái. Đó là một khu rất rộng lên đến hàng ngàn mét vuông với vô số các loại gỗ to nhỏ được chất thành hàng chục đống.
Cũng như vậy, xưởng gỗ nằm trong hẻm 267 Mai Hắc Đế rộng thênh thang nằm xen kẽ trong vườn cà phê, vườn điều và cũng được bao bọc bằng hàng rào thép gai. Theo một số người dân, đây chỉ là địa điểm tập kết gỗ của công ty chứ không hề có hoạt động chế biến. “Trước khi bị công an phong tỏa, từ khoảng 1 giờ đến 4 giờ hằng đêm, hàng chục chiếc xe tải cỡ lớn nối đuôi nhau chở gỗ vào xưởng” - một người dân cho biết.
Trao đổi với phóng viên, ông Trang Quang Thành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, cho biết: Công ty Hiền Thái được cấp phép kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có hoạt động kinh doanh và chế biến gỗ. Trước đây,  sở cũng đã nhiều lần nhận được tin báo của người dân trong kho của doanh nghiệp này có gỗ không rõ nguồn gốc nhưng khi tiến hành kiểm tra thì không phát hiện gỗ lậu.
Ông Thành cho rằng từ trước đến nay, lực lượng kiểm lâm của sở đã thực hiện chức năng nhiệm vụ hết mình. “Quan điểm của lãnh đạo sở là hoan nghênh chuyên án của Bộ Công an vì có những chuyên án như thế này mới khống chế được tiêu cực, hạn chế mất rừng. Quá trình điều tra, nếu phát hiện lực lượng kiểm lâm có tiêu cực thì sẽ xử lý nghiêm, cần thiết sẽ đuổi ra khỏi ngành” - ông Thành quả quyết và nói thêm: “Thực tế gỗ trên địa bàn tỉnh giờ không còn, nếu có gỗ lậu chắc nhập bên ngoài về”. (Người Lao Động 12/9) đầu trang(
Tin từ Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 10/9, trên cả nước chỉ có tỉnh Khánh Hòa có nguy cơ cháy rừng ở cấp IV (cấp nguy hiểm) do khu vực này đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài.
Cục Kiểm lâm đề nghị UBND các cấp và chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Kinh Tế & Đô Thị 11/9, tr10) đầu trang(
UBND tỉnh Đắk Lắk vừa có báo cáo về tình hình thực hiện chủ trương quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, theo yêu cầu của Ban chỉ đạo Tây nguyên.
Theo đó, trong 5 năm (từ 2009-2014), cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện và xử lý hơn 10.000 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tính trung bình mỗi ngày có hơn 5 vụ vi phạm.
Trong đó hơn 9.863 vụ xử lý hành chính, 173 vụ khởi tố hình sự với 78 người (đã xét xử 38 vụ), tịch thu trên 19.000m3 gỗ các loại.
Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép thống kê được trong giai đoạn này là hơn 26.471ha. UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi gần 2.000ha đất do phá rừng để trồng lại rừng. (Tuổi Trẻ 11/9)  đầu trang(
Rừng ngập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long được xem như lá phổi xanh bảo vệ cư dân và hệ sinh thái đất ngập nước nhưng vì nhu cầu phát triển kinh tế, con người đang tàn phá nghiêm trọng.
Vụ Phát triển rừng (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thống kê: Hiện cả nước còn khoảng 166.000 ha rừng ngập mặn, giảm 60% so với những năm 1940.
Theo ông Nhữ Văn Kỳ, Vụ Phát triển rừng, một trong những nguyên nhân làm giảm diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển hiện nay chính là tình trạng phá rừng làm đầm nuôi tôm tự phát, nuôi tôm quảng canh, sinh thái. Nguyên nhân khác nữa là chuyển mục đích sử dụng đất hợp pháp sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, xây dựng đê bao, khu công nghiệp, cảng biển, khai thác gỗ, củi…
Trên thực tế, điều kiện trồng rừng ven biển rất khó khăn trong khi ngân sách nhà nước đầu tư cho trồng rừng phòng hộ thấp. Vì vậy tỉ lệ cây sống thành rừng chỉ đạt từ 50 - 60%. Mặt khác, công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất còn bất cập, thiếu sự phối hợp, thống nhất giữa các ngành liên quan. Khâu quy hoạch rừng ở từng địa phương thiếu ổn định, thường bị điều chỉnh do nhu cầu sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển kinh tế tại địa phương. Việc giao khoán rừng ngập mặn cho các hộ gia đình bảo vệ còn nhiều hạn chế.
Hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cho nhiều diện tích rừng bị ngập sâu, biển đang có xu hướng tiến sâu vào nội địa, các hoạt động từ thượng nguồn sông Mê Kông như xây dựng các đập thủy điện, ngăn dòng đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống rừng ngập mặn. Các nhà máy sản xuất trong khu vực xả thải làm ô nhiễm môi trường cũng có tác động tiêu cực hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Ông Phan Huy Thông, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết: Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu, dự kiến cả nước phát triển diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, chống cát bay đạt 330.000 ha vào năm 2015 và đạt 500.000 ha vào năm 2025.
Để đạt mục tiêu đó, theo ông Thông cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt từ khâu quy hoạch, rà soát lại quy hoạch diện tích rừng ngập mặn, đổi mới và nâng cao hiệu quả của chính sách đầu tư trồng, bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn.
Ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho biết: Bờ biển thuộc địa bàn tỉnh đang trong tình trạng sạt lở nghiêm trọng. Để bảo vệ diện tích rừng phòng hộ ven biển, tỉnh đã đưa ra hai giải pháp công trình và phi công trình. Cụ thể là xây dựng kè bê tông ly tâm ven bờ khu vực biển Tây thuộc huyện U Minh nhằm tạo bãi bồi để tái sinh rừng.
Ông Trịnh Hoàng Việt, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Long An chia sẻ những giải pháp có thể thực hiện trong việc bảo vệ rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển. Đó là tăng cường công tác khuyến lâm ở cơ sở nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng, phổ biến quảng bá các mô hình nông lâm kết hợp đạt hiệu quả như mô hình nuôi ong mật dưới tán rừng, mô hình cây lúa nước và cây tràm kết hợp với gà thả vườn, nghiên cứu và tuyển chọn các giống cây trồng thích nghi trên các dạng lập địa. Khuyến khích mở các vườn ươm cây giống chất lượng, hỗ trợ cung cấp cây giống cho người dân trồng cây phân tán.
Theo ông Nhữ Văn Kỳ, việc xây dựng quy hoạch tổng thể rừng ngập mặn trên phạm vi cả nước, khôi phục phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở từng địa bàn cụ thể sẽ giúp cơ quan chức năng quản lý tốt diện tích và chất lượng rừng ngập mặn hiện nay. Đối với các trường hợp sử dụng diện tích rừng không đúng quy hoạch cần thu hồi và xử lý nghiêm khắc. Ngoài ra, đối với các công trình đê biển thì phải coi rừng ngập mặn là một hạng mục thành phần, từ đó dành một phần kinh phí thỏa đáng để đầu tư, chăm sóc, bảo vệ.
Khi thực hiện công tác quản lí rừng cũng cần chú trọng kĩ thuật GIS (Hệ thống thông tin địa lý) và công nghệ viễn thám giám sát chất lượng rừng và lưu trữ những số liệu của rừng để theo dõi. Cần thực hiện quan trắc chất lượng nước để nắm những đặc trưng cửa sông, đại diện cho yếu tố môi trường có thể nhạy cảm với sức khỏe của rừng ngập mặn. (Tin Tức 11/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ cháy rừng, thiệt hại gần 320ha keo, bạch đàn, tăng 13 vụ so với cả năm 2013. Trong đó, riêng tháng 8 xảy ra 4 vụ cháy, thiệt hại gần 100ha rừng. Nguyên nhân là do thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài.
Theo Cục Kiểm lâm, mặc dù tỉnh Phú Yên không nằm trong cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm về nguy cơ cháy rừng, nhưng chỉ trong 2 ngày 5 và 6/9 vừa qua đã xảy ra 9 điểm cháy (chưa xác định nguyên nhân cháy) ở các huyện Đồng Xuân, Tuy An và TX Sông Cầu, cao nhất cả nước. (Báo Phú Yên 12/9) đầu trang(
Vừa qua, Hạt kiểm lâm thành phố Buôn Ma Thuột phối hợp với Vườn Quốc gia Chư Yang Sin – huyện Crông Bông đã tổ chức thả 2 cá thể khỉ  mắt đỏ và đuôi dài (thuộc nhóm 2B) về môi trường tự nhiên của chúng.
Cả 2 cá thể khi này do gia đình ông Lê Đức Phú ở 4/14 Nguyễn Xuân Nguyên (phường Tân An – TP. Buôn Ma Thuột)  tự nguyện giao nộp. Được biết, cả 2 chú khỉ này, do ông Phú mua về nuôi với mục đích làm cảnh từ năm 2003. Trong qua trình nuôi, được gia đình chăm sóc rất tốt, nên các chú khỉ này phát triển rất khỏe mạnh, từ 1 đến 2 kg đến nay có con đã lên tới 6 kg.
Mặc dù gia đình ông rất yêu quí và muốn tiếp tục nuôi loại động vật này, nhưng sau khi được Hạt Kiểm lâm thành phố tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý động vật hoang dã, như: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; và các văn bản khác có liên quan… gia đình ông Phú đã thự nguyện giao nộp lại cho cơ quan chức năng để thả về môi trường tự nhiên của chúng.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Hạt kiểm lâm thành phố BMT, hiện nay trên địa bàn thành phố BMT có khoảng 300 hộ gây nuôi động vật hoang dã, với ngàn ngàn cá thể động vật hoang dã, như: ba ba, trăn, rắn, kỳ đà, cá sấu, khỉ, gấu v.v.
Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động trong nhân dân, chỉ tính trong tháng 8/2014, đã có 3 hộ gia đình gây nuôi động vật hoang dã tự nguyên giao nộp cho ngành chức năng 6 cá thể động vật quý hiếm, trong đó có hộ ông Phan Thanh Đại ở 208 đường Y Wang phường Ea Tam, giao nộp 1 cá thể gấu ngựa ( thuộc nhóm IB) có trong lượng 200kg, được đưa về vườn quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc; hộ ông Nguyễn Viết Học ở 41 Phan Chu Trinh, phường Tân Lợi giao nộp 3 cá thể khỉ mắt đỏ (nhóm IIB); và ông Lê Đức Phú  ở 4/14 Nguyễn Xuân Nguyên, phường Tân An giao nộp 2 cá thể khỉ mắt đỏ và đuôi dài ( nhóm IIB).
Các loại này thuộc động vật quý hiếm cần được bảo tồn, đã được Hạt Kiểm lâm thành phố BMT phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh, Vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc và Vườn Quốc gia Chư Yang Sin – huyện Crông Bông – Đắc Lắc tổ chức  thả về môi trường tự nhiên của chúng.
Hiện nay, Hạt kiểm lâm thành phố BMT đang tích cực phối hợp với các ngành chức năng, các địa phương tăng cường việc truyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ động vật hoang dã đến mọi tầng lớp nhân dân, vận động các hộ đang nuôi nhốt động vật hoang dã quí hiếm giao nộp cho cơ quan chức năng để có các biện pháp cứu hộ; biểu dương các hộ có ý thức giao nộp động vật quý hiếm cho cơ quan chức năng.
Đồng thời đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về mua, bán, vận chuyển, nuôi, chế biến, quảng cáo trái phép động vật hoang dã. (Đắc Lắc 24h 8/9) đầu trang(
Tổ chức Động vật Châu Á (Animals Asia) công bố danh sách các tác giả đoạt giải của cuộc thi vẽ tranh "Cuộc sống của Động vật Hoang dã trong các rạp xiếc".
Cuộc thi nhằm bảo vệ động vật và kêu gọi tôn trọng quyền lợi động vật- vấn đề đang ngày càng nhận được sự quan tâm của mọi người và toàn xã hội.
Hiện nay tại Việt Nam, hàng trăm động vật hoang dã vẫn đang phải chịu đựng trong các rạp xiếc. Phúc lợi của những động vật này, trong các rạp xiếc cố định và di động, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi quá trình huấn luyện, biểu diễn, và điều kiện sống không giống với môi trường tự nhiên, không đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của động vật hoang dã.
Hầu hết thời gian trong ngày, động vật trong rạp xiếc bị xích và nhốt trong lồng, dưới 10% thời gian dành cho biểu diễn/huấn luyện và thời gian còn lại bị nhốt trong các chuồng luyện tập. Các hành vi mà động vật biểu diễn thể hiện trong các tiết mục không phải là các hành vi tự nhiên và bản năng của động vật.
Lệnh cấm sử dụng tất cả các loài động vật hoang dã trong biểu diễn xiếc, hoặc áp dụng đối với một số loài động vật nhất định, đã được ban hành toàn quốc tại: Trung Quốc, Úc, Bolivia, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Hi Lạp, Malta, Slovakia, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Đài Loan, Singapo, Costa Rica, Ấn Độ, Pêru và Israel.
Với tư cách là một Tổ chức hoạt động về phúc lợi động vật, Tổ chức Động vật Châu Á muốn thể hiện sự không ủng hộ đối với việc sử dụng động vật hoang dã trong các rạp xiếc và mong muốn phát động “Cuộc thi vẽ và thiết kế tranh với chủ đề: Cuộc sống của động vật hoang dã trong các rạp xiếc”.
Mục đích của cuộc thi nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những điều mà động, vật hoang dã đang phải chịu đựng tại các rạp xiếc. Cuộc thi được Tổ chức từ 1/4/ 2014 và tính đến 1/7/2014, ban Tổ chức là Tổ chức Động vật Châu Á đã nhận được hơn 60 bài dự thi của các thí sinh từ khắp mọi miền tổ quốc. (Tin Môi Trường 11/9) đầu trang(
11/9, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thống nhất thời gian tổ chức Lễ nhận Bằng công nhận Vườn Quốc gia Côn Đảo là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) vào ngày 1/11/2014 tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao huyện Côn Đảo.
Chương trình lễ đón nhận, ngoài phần lễ còn có nhiều hoạt động khác như viếng nghĩa trang Hàng Dương, tham quan Vườn Quốc gia Côn Đảo, thả rùa con ra biển, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về Công ước Ramsar và các giá trị mà khu Ramsar sẽ mang lại… nhằm quảng bá hình ảnh của Côn Đảo, thu hút khách du lịch và các nhà nghiên cứu đến Côn Đảo và nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương và các bên liên quan vào quá trình quản lý, bảo tồn và phát triển vùng đất ngập nước Vườn Quốc gia Côn Đảo.
Vườn Quốc gia Côn Đảo hiện có 14.000 ha đất ngập nước, trong đó có khoảng 2.113ha vùng đất ngập nước mặn ven biển gồm các vịnh nông khi thủy triều thấp, các khu vực bờ biển, ven biển có đá, cát, sỏi, vùng có rừng ngập mặn.
Đầu năm 2014, Ban Thư ký Công ước Ramsar thế giới đã công nhận Vườn Quốc gia Côn Đảo là 1 trong 2.203 Khu đất ngập nước quan trọng quốc tế (Wetlands of International Importance).
Tính đến nay, Vườn quốc gia Côn Đảo là Khu đất ngập nước quan trọng (gọi tắt là khu Ramsar) thứ 6 của Việt Nam. Vườn Quốc gia Côn Đảo hội tụ cả 4 hệ sinh thái rừng, biển rất đặc sắc và hiếm có trên thế giới. (Du Lịch VN 12/9; Tin Tức 12/9, tr10) đầu trang(
Tìm hiểu thành phần loài và cấu trúc quần xã thực vật trong kiểu rừng nguyên sinh ở Vườn quốc gia Phú Quốc (VQGPQ) là đề tài của nhóm nghiên cứu Đặng Minh Quân, Phạm Thị Bích Thủy, Trường đại học Cần Thơ; Nguyễn Nghĩa Thìn, Trường đại học khoa học tự nhiên Hà Nội.
Kết quả cho thấy, hệ thực vật trong kiểu rừng nguyên sinh ở VQGPQ rất đa dạng với 331 loài thực vật bậc cao có mạch đã được định loại thuộc 197 chi của 80 họ trong 4 ngành, thể hiện qua 4 ưu hợp thực vật rừng. Trong đó có tới 247 loài cây có giá trị sử dụng và 13 loài cây có tên trong “Sách đỏ Việt Nam” (2007). Bổ sung 47 loài mới vào danh lục thực vật của VQGPQ.
Từ kết quả điều tra, thu mẫu ở 18 ô tiêu chuẩn tại 3 khu vực là khu vực suối Kỳ Đà, sườn dãy núi Hàm Ninh và sườn núi Hòn Chảo trong kiểu rừng nguyên sinh ở VQGPQ, đã phân loại được 331 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 197 chi của 80 họ trong 4 ngành thực vật. Kết quả nghiên cứu đã bổ sung 47 loài mới vào danh lục thực vật của VQGPQ bao gồm 1 loài thuộc ngành Thông đất (Lycopodiophyta), 7 loài thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và 39 loài thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), trong đó có đến 17 loài thuộc họ Lan (Orchidaceae).
Với 331 loài thu được trong kiểu rừng nguyên sinh ở VQGPQ đã có đến 47 loài mới ghi nhận cho VQGPQ, chiếm 14,20% tổng số loài của hệ, điều này cho thấy, kiểu rừng nguyên sinh ở VQGPQ chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhất là ở những sườn núi hiểm trở của dãy núi Hàm Ninh, nên số loài mới ghi nhận cho VQGPQ ở trong kiểu rừng nguyên sinh là rất cao. (Khoa Học Phổ Thông 10/9) đầu trang(
Hơn 45 ha rừng thông tại 2 xã Nam Sơn và Phù Linh huyện Sóc Sơn, Hà Nội bị sâu róm tàn phá đang trở thành nỗi lo về môi trường. Đây cũng là dịch sâu róm hại thông lớn nhất trong vòng 26 năm trở lại đây trên địa bàn huyện Sóc Sơn.
Trung tâm Phát triển rừng Hà Nội cho biết, nhiều ổ dịch sâu róm có mật độ dày đặc, ăn trụi lá non và lá bánh tẻ, đặc biệt, một số diện tích thông tại xã Phù Linh và Nam Sơn bị hại nặng. Mật độ sâu phổ biến khoảng 300 -400 con/cây, cục bộ có nơi 1.000 con/cây.
Theo thống kê, diện tích rừng thông bị sâu hại trên địa bàn huyện Sóc Sơn lên tới 45 ha. Diện tích thông bị sâu hại chủ yếu được trồng từ 25 -30 năm về trước.
Theo ông Lê Văn Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển rừng Hà Nội, dịch sâu róm năm nay khác với mọi năm. Trước kia, trên một cây thông chỉ có 1-2 cấp tuổi sâu nhưng hiện nay có nhiều cấp tuổi sâu, có loại đã vào kẽn, ngũ hóa, có loại đang đẻ trứng và rất ngứa.
Sau khi phát hiện ổ dịch, Trung tâm phát triển rừng Hà Nội chọn 2 loại thuốc đảm bảo hiệu quả nhưng không ảnh hưởng đến môi trường nhiều để phun dập dịch. Đến thời điểm này, 30 ha trên tổng số 45 ha thông của huyện đã được phun và dập dịch bằng thuốc trừ sâu sinh học. Dự kiến đến ngày 20/9 sẽ phun xong các diện tích còn lại. (VOV 11/9) đầu trang(
Mới đây, tại UBND xã Nghĩa Thuận, UBND huyện Tư Nghĩa tổ chức hội nghị trực báo đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR 6 tháng mùa khô, từ tháng 03 đến tháng 8 và triển khai kế hoạch những tháng còn lại của năm 2014.
Ông Trần Thiên Thanh – huyện ủy viên – Trưởng Phòng NN&PTNT huyện chủ trì cuộc họp; lãnh đạo công an huyện, Hạt kiểm lâm huyện; Cơ quan quân sự huyện; trưởng ban chỉ huy bảo vệ rừng và PCCCR của 06 xã cánh Tây của huyện.
Thay mặt cho Ban chỉ đạo BVR&PCCCR của huyện, ông Nguyễn Văn Trung – Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Tư Nghĩa báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo vệ rừng và PCCCR, 6 tháng mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 và triển khai nhiệm vụ công tác còn lại của năm 2014.
Báo cáo nêu rõ: Trong những tháng vừa qua thời tiết nắng nóng, khô hanh tiếp tục kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất cao. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo kịp thời của Chi cục kiểm lâm Tỉnh, UBND huyện Tư Nghĩa, BCĐ bảo vệ rừng và PCCCR của huyện Tư Nghĩa đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cho BCĐ bảo vệ rừng và PCCCR của các xã cánh Tây kết hợp với lực lượng công an, cơ quan quân sự, Hạt kiểm lâm huyện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng và PCCCR, giúp cho người dân ý thức và có trách nhiệm trong công tác PCCCR.
Kết quả công tác BVR&PCCCR từ tháng 03 đến tháng 8/2014: Hạt kiểm lâm huyện Tư Nghĩa đã tham mưu cho UBND huyện ban hành 45 Quyết định, Chỉ thị, văn bản … về các phương án bảo vệ rừng và PCCCR. 06 xã cánh Tây của huyện đều củng cố lại Ban chỉ đạo BVR &PCCCR cấp xã, thành lập tổ bảo vệ rừng và đội xung kích chữa cháy rừng.
Hạt kiểm lâm huyện còn thực hiện tốt công tác tham mưu cho UBND huyện tổ chức thành công đợt diễn tập phòng, chống cháy nổ, chữa cháy rừng năm 2014 tại xã Nghĩa Thọ. UBND huyện tổ chức cấp giấy chứng nhận QSDĐ rừng  cho cộng đồng dân cư ở 04 thôn tại 02 xã Nghĩa Sơn và Nghĩa Thọ.
Thực hiện sự chỉ đạo của ông Lê Trung Thành – PCT UBND huyện – Trưởng ban chỉ đạo BVR&PCCCR của huyện về công tác thống kê diện tích đất có rừng, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, trên cơ sở đó 04 xã Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thắng và Nghĩa Thọ đã thống kê trên 932 ha đất rừng tại 685 hộ.
Cụ thể xã Nghĩa Kỳ thống kê trên 387 hộ  với 209 hộ; xã Nghĩa thuận thống kê trên 135 ha với 81 hộ; xã Nghĩa Thắng thống kê 10 ha tại 48 hộ và xã Nghĩa Thọ thống kê 400 ha với 347 ha. Trong thời gian qua Đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Tư Nghĩa xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác PCCCR  tại Ban chỉ đạo BVR&PCCCR xã Nghĩa Kỳ, xã Nghĩa Thắng, Ban quản lý Dự án KFW6, HTXNN Nghĩa Kỳ Tây. Qua kiểm tra các đơn vị đều thực hiện có hiệu quả công tác BVR&PCCCR.
Ban chỉ đạo các xã đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ PCCCR cho các hộ trồng rừng liền kề được 03 lớp có 179 hộ tham gia; ký cam kết BVR&PCCCR cho 1.016 hộ; tổ chức 24 lớp tuyên truyền về BVR&PCCCR, trên 3.000 lượt người tham gia; cấp phát 829 tờ rơi về công tác BVR &PCCCR; Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với các địa phương tổ chức truy quét 28 đợt, kiểm tra 59 đợt, tuần tra bảo vệ rừng 103 đợt. Qua kiểm tra, kiểm soát đã phát hiện 12 vụ vi phạm, tiến hành điều tra và làm rõ các vụ việc.
Trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn một số tồn tại: Tình trạng người dân đốt nương làm rẫy, đốt rừng sau khi khai thác nhưng không báo với chính quyền địa phương và Hạt kiểm lâm huyện vẫn còn xảy ra, đây là một trong những nguyên nhân có nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Sau khi nghe báo cáo của Ban chỉ đạo quản lý BVR&PCCCR của huyện, các địa phương có diện tích rừng, ông Trần Thiên Thanh–huyện ủy viên–trưởng Phòng NN&PTNT huyện – chủ trì hội nghị ghi nhận sự cố gắng của các xã có diện tích rừng thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR trong thời gian qua.
Về nhiệm vụ công tác BVR&PCCCR những tháng còn lại của năm 2014: 6 xã cánh Tây của huyện phải thực hiện nghiêm túc công tác BVR&PCCCR; tiếp tục tuyên truyền giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong công tác BVR&PCCCR; tăng cường công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra để xử lý kịp thời tình trạng nhân dân tự ý đốt rừng làm nương rẫy, đốt thực bì sau khi khai thác; tổ chức truy quét các vụ việc phá rừng; đối với các xã chưa thống kê xong đất rừng thì phải khẩn trương đo đạc, để làm cơ sở cho huyện tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân. (UBND Huyện Tư Nghĩa 10/9) đầu trang(
Với phương châm: “Phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại phải gắn với bảo vệ, phát triển rừng và bảo vệ môi trường sinh thái”, thời gian qua, nhiều hộ dân ở xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa đã có hướng đi mới trong lao động, sản xuất và ý thức rất cao trong việc tích cực thực hiện tốt giữ gìn, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương.
Được sự quan tâm của các cấp, những năm qua, nhiều hộ dân ở Hướng Phùng được hưởng nhiều chế độ chính sách đãi ngộ như: Vay vốn phát triển sản xuất, vốn ưu đãi và nhiều nguồn vốn khác để đầu tư phát triển kinh tế gia đình, kinh tế trang trại. Các chính sách đào tạo học nghề đối với người lao động ở nông thôn cho bà con nơi đây cũng được quan tâm.
Điều đáng ghi nhận đầu tiên ở Hướng Phùng là người dân nơi đây luôn biết cách khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có của địa phương. Nhiều hộ kinh tế mới cũng như bà con Vân Kiều ở xã đã đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau kinh nghiệm trong lao động, sản xuất. Họ tận dụng có hiệu quả diện tích đất hoang, đồi núi trọc để trồng các loại cây có giá trị chủ lực.
Hướng Phùng có diện tích 124,95 km2, dân số 1.582 hộ/5.727 khẩu, trong đó người Vân Kiều chiếm hơn 80%. Cùng với các chương trình, dự án trồng rừng đầu tư tại địa phương, việc tạo điều kiện cho nhiều hộ phát triển kinh tế trang trại cũng là cơ hội khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, qua đó, góp phần trồng mới rừng, giữ gìn nguồn tài nguyên đất, động vật, thực vật trên địa bàn.
Với lợi thế diện tích đất tự nhiên lớn, người dân xã Hướng Phùng tập trung trồng trọt theo hướng đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp. Hiện toàn xã có 96,7 ha lúa nước, năng suất bình quân đạt 25 tạ/ha, tổng sản lượng 241,75 tấn; hơn 20 ha sắn, năng suất 80 tạ/ha; các loại cây ngô, khoai lang khoảng hơn 45 ha. Khai thác lợi thế của vùng đất đỏ bazan, người dân chú trọng đầu tư trồng cây công nghiệp. Nhiều mô hình trang trại cà phê, tiêu kết hợp với chăn nuôi, trồng rừng đã ra đời.
Không chỉ giúp nhân dân trong xã làm ăn, thoát nghèo bền vững, vươn lên khá, giàu, chính quyền xã Hướng Phùng còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia bảo vệ, phát triển rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì thế, đa số người dân nơi đây ý thức cao trong việc duy trì được số diện tích rừng vốn có của xã, hăng hái tham gia trồng, bảo vệ rừng, góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội ở một địa bàn vùng khó.
Ở thôn Chênh Vênh có 92 hộ, 423 khẩu, trong đó dân tộc kinh 27 hộ/93 khẩu, dân tộc Vân kiều 65 hộ/330 khẩu. Đây là thôn có diện tích rừng lớn nhất xã Hướng Phùng, là thôn giáp ranh với khu vực bảo tồn da dạng sinh học với rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng với diện tích trên 330 ha, rừng trồng 50 ha.
Ông Hồ Văn Noi, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số thôn Chênh Vênh cho biết : “Nhận thức việc bảo vệ, phát triển rừng và bảo vệ môi trường sinh thái là rất quan trọng, nhiều năm nay, tôi thường xuyên phối hợp với ban cán sự, các ban, ngành đoàn thể của thôn tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt công tác chăm sóc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, không săn bắt động vật hoang dã, không chặt rừng cấm lấy gỗ dựng nhà, làm vật dụng sinh hoạt...
Với sự quyết tâm cao, nhân dân thôn Chênh Vênh đã tham gia phát hiện tố giác 15 trường hợp người dân từ bên ngoài vào khai thác trái phép lâm sản lên chính quyền xã, cung cấp thông tin cho kiểm lâm phụ trách địa bàn bắt và xử lý 12m3 gỗ từ nhóm 3 đến nhóm 7. Ngoài ra, các hộ dân trong thôn đã nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ 100 ha rừng đặc dụng. Với chủ trương này, người dân đã được hưởng lợi từ rừng”.
Ông Hồ Đang, Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng, cho biết: “Xác định phát triển kinh tế gia đình, kinh tế trang trại cần phải gắn liền với bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, nhiều năm qua chúng tôi thường xuyên tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia phát hiện, tố giác các trường hợp vi phạm lâm luật nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở các khu rừng thuộc địa phận xã Hướng Phùng và các xã lân cận. Với tinh thần trách nhiệm cao, nhân dân trong xã đã không để xảy ra nạn cháy rừng, nhất là hạn chế tối đa việc phá rừng làm nương rẫy.
Thời gian tới, xã rất mong các cấp, các ngành quan tâm hơn nữa đối với chính sách giao khoán bảo vệrừng, hỗtrợkinh phí về việc chăm sóc, bảo vệ rừng và trồng rừng cho người dân. Cần đầu tư xây dựng thêm các tuyến đường đi đến các khu kinh tế trang trại để thuận lợi hơn trong việc sản xuất, thu hoạch cho người dân”. (Báo Quảng Trị 11/9) đầu trang(
Xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên là một trong những xã điểm phát triển kinh tế đặc biệt là công tác xây dựng, phát triển rừng, anh Hàng A Sùng ở bản Hô Bon là một tấm gương điển hình trong phong trào đó.
Đến thăm gia đình anh vào một ngày hè oi ả mà vẫn thấy anh đang miệt mài làm việc, mời PV vào nhà anh vui vẻ nói: “Các con đi học hết rồi nên chẳng còn người giúp, mình phải làm cố không nhiều việc lắm".
Trước đây gia đình anh thuộc diện hộ nghèo ở bản, nuôi 3 con ăn học nêm rất vất vả, trăn trở mãi anh vẫn chưa tìm ra hướng đi để thoát “cái nghèo, cái khổ”, nhờ tính cần cù, chịu khó, lại ham học hỏi nên anh được cử tham gia học các lớp tập huấn về trồng trọt chăn nuôi do Trạm Khuyến nông và Phòng Nông nghiệp huyện tổ chức.
Giờ đây anh đang sở hữu một cơ ngơi gần 4.000 m2 ao cá, ruộng lúa, ruộng ngô anh làm tăng thêm 1 vụ thu trên 15 tấn thóc và gần 5 tấn ngô/năm. Đàn gà, vịt, ngan trên 200 con không cho ăn thức ăn công nghiệp nên chất lượng thịt cao, thương xuyên có khách hàng đặt mua.
Từ khi xã có chính sách phát triển kinh tế rừng, anh đăng ký trồng 3 ha rừng thông, trồng và chăm sóc 2,8 ha rừng tái sinh, hiện 3 ha thông của nhà anh đã đủ tuổi thu hoạch. Ngoài ra anh còn trồng 5 ha thảo quả cho thu 1,5-1,7 tấn quả khô/năm; trồng hơn 1 ha chè Kim Tuyên cho nguồn thu đáng kể.
Mặc dù công việc bộn bề, nhưng anh vẫn cùng bà con trong Bản tham gia bảo vệ hàng chục ha rừng đầu nguồn. Với cách làm linh hoạt theo mô hình vườn-ao-chuồng-rừng, kinh tế nhà anh ngày càng ổn định cho thu nhập trên 200 triệu/năm.
Hiện tại cả 3 đứa con của anh đều đã đi học chuyên nghiệp, công việc bận rộn nhưng anh vẫn nhiệt tình tham gia công tác xã hội, anh được bầu làm Hội phó Hội nông dân xã từ năm 2004 đến nay và làm Trưởng bản liên tục trong 9 năm liền.
Ông Lò Văn Phóng – Phó chủ tịch UBND xã Phúc Khoa cho biết: “Anh Sùng là tấm gương điển hình trong phong trào phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng, anh còn là một Trưởng bản có uy tín với bà con và nhiệt tình trong công tác xã hội, luôn sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với bà con trong bản, nên được người dân trong bản tin yêu và quý trọng”. (Khuyến Nông VN 10/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Chu Phạm Ngọc Hiển vừa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại của bà Hoàng Thị Chuyên trú tại thôn 10, xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Theo hồ sơ vụ việc, Lâm trường Bố Trạch là đơn vị thành viên trực thuộc Cty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, được thành lập theo Quyết định số 101 ngày 28/8/1981 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và được giao quản lý, sử dụng 63.000 ha đất trên địa bàn xã Xuân Trạch.
Thực hiện Quyết định 327 ngày 19/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước, UBND tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định 553 ngày 3/7/1993 phê duyệt dự án lâm, nông, công nghiệp Lâm trường Bố Trạch.
Căn cứ vào quyết định này, ngày 1/8/1993, Giám đốc Lâm trường đã ký hợp đồng với bà Chuyên để tham gia thực hiện dự án trên diện tích đất của Lâm trường. Theo hợp đồng, bà Chuyên được nhận 35,6 ha tại Tiểu khu 215, vùng Ngọn Rào, xã Xuân Trạch, nằm trong ranh giới Lâm trường, trong đó có 35,1 ha diện tích nuôi dưỡng, bảo vệ, trồng rừng; 0,5 ha diện tích sản xuất nông lâm.
Năm 1998, dự án kết thúc, Lâm trường được giao thực hiện dự án trồng mới rừng, Giám đốc Lâm trường tiếp tục ký hợp đồng với bà Chuyên để tham gia thực hiện dự án này trên diện tích nuôi dưỡng, bảo vệ, trồng rừng mà Lâm trường đã ký hợp đồng năm 1993.
Năm 2004, Cty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình rà soát đất của Lâm trường. Năm 2009, UBND tỉnh cho Cty thuê diện tích 10.657,97 ha đất lâm nghiệp, trong đó có diện tích giao cho bà Chuyên và Cty được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất. Năm 2012, bà Chuyên có đơn khiếu nại gửi UBND tỉnh, yêu cầu Nhà nước giao lại toàn bộ diện tích đất mà năm 1993 Lâm trường Bố Trạch giao cho bà.
Ngày 10/9/12013, Chủ tịch UBND tỉnh có Quyết định 2165, không công nhận nội dung khiếu nại của bà Chuyên đòi quyền sử dụng diện tích 35,1 ha bà đã nhận khoán trồng, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; công nhận nội dung khiếu nại của bà trên phần diện tích đất gia đình bà sản xuất nông lâm ổn định, liên tục; thu hồi và cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình. Bà Chuyên không đồng ý với việc giải quyết trên và tiếp tục khiếu nại.
Bộ TN&MT nhận thấy, diện tích 35,1 ha là diện tích chủ dự án giao khoán cho bà Chuyên nuôi dưỡng, bảo vệ và trồng rừng theo dự án. Việc bà chuyên khiếu nại đòi công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở; công nhận 0,5 ha đất sản xuất nông lâm cho bà Chuyên là phù hợp. Quyết định 2165 của UBND tỉnh Quảng Bình là phù hợp với quy định của pháp luật. (Thanh Tra 12/9) đầu trang(
Vì bị nhiều kẻ bịt mặt xông vào nhà kề dao đe dọa tính mạng và đập phá tài sản, phu trầm Nguyễn Đắc Cao (37 tuổi, trú thôn Đức Hòa, xã Đại Nghĩa huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) đã phải gửi đơn khẩn cấp đến Công an nhờ can thiệp.
Để xác minh thực hư lời đồn một nhóm phu trầm ở xã Đại Nghĩa (huyện Đại Lộc) trúng kỳ nam 50 tỷ xôn xao dư luận nhiều ngày qua, PV Báo CAND đã trực tiếp tìm về thôn Đức Hòa gặp "chính chủ".
Khác hoàn toàn với hình dung ban đầu của PV về một người vừa "đổi đời thành tỷ phú". Giữa trưa nắng gắt, vậy mà hai vợ chồng Nguyễn Đắc Cao và Đoàn Thị Bông (34 tuổi) thẫn thờ đứng trước sân nhìn căn nhà mới xây còn lỗ chỗ chưa kịp tô trát, cửa nẻo bị đập vỡ tang hoang.
Anh Cao cho biết: "Trúng trầm là có, nhưng chỉ là sái và được vài chục triệu chứ không phải 50 tỷ như lời đồn. Tuy nhiên, hiện cả gia đình anh rất hoang mang vì bị nhiều đối tượng bịt mặt hù dọa, đập phá tài sản vì không chịu "cúng cô hồn"...
Tiếp lời chồng, chị Bông cũng phản ánh, 12h trưa ngày 8/9, chị đang ở trong nhà kho xếp mấy bao lúa vừa mới tuốt, thì ngoài ngõ có 3 gã đàn ông bịt mặt sấn sổ vào nhà. Chưa kịp hỏi, một trong ba gã rút con dao Thái Lan kề ngay cổ lớn tiếng đe dọa.
Những người này còn đe sẽ bắt hai đứa con của anh chị đang học cấp một trên xã để làm con tin... Vì quá lo sợ, nên từ hôm đó vợ chồng Cao - Bông phải gửi con (đứa lớp 1, đứa lớp 5) sang bên nhà ngoại mà không dám cho con đi học vì sợ bị bắt cóc, tống tiền!... Rồi ngay cả đến hôm 11/9, giữa ban ngày, ban mặt mà vợ chồng Cao - Bông cũng không dám một mình ra đường vì quá sợ.
Theo chia sẻ của anh Cao, chuyến săn kỳ nam anh tham gia lần này gồm 6 người, ngoài anh Cao còn có 2 người anh rể, hai cháu ruột và một người em họ. Mỗi người phải gom góp, vay mượn khoảng 3 triệu đồng để chung vào làm lộ phí, mua dụng cụ đi rừng. Sau gần 1 tháng lặn lội trong rừng sâu nước độc, nhóm của Cao trúng được một ít sái kỳ nam.
Cuối tháng 8/2014 thì anh Cao trở về làng, tính toán tiền chi phí, vay mượn trước khi đi, Cao lãi được khoảng gần 50 triệu đồng. Số tiền này Cao dự định sẽ hoàn thiện căn nhà cấp 4 còn xây dang dở. Nhưng không hiểu do đâu, khoảng một tuần trở lại đây, người trong làng đồn nhau 6 anh em nhà họ Nguyễn trúng kỳ nam, không phải 50 triệu mà là đến tận 50 tỷ đồng.
Tin đồn trúng kỳ 50 tỷ này ban đầu chỉ ở trong thôn, rồi ra khắp xã, giờ thì ở tít trên huyện cũng biết. Đám giang hồ đánh hơi thấy mùi tiền cũng ùn ùn kéo về thăm dò, hóng chuyện để thừa cơ hội xin đểu. Xin không được, thì chúng đe dọa, uy hiếp, thậm chí đập phá tài sản...
Trao đổi với PV xung quanh tin đồn phu trầm trúng kỳ nam 50 tỷ và vụ việc gia đình anh Nguyễn Đắc Cao bị đe dọa tính mạng, đập tài sản, ông Phan Phú Tân, phó Trưởng Công an xã Đại Nghĩa cho biết: Việc anh Nguyễn Đắc Cao và 5 phu trầm trong nhóm trúng kỳ nam là có thật, tuy nhiên trị giá số kỳ nam thì không thể xác thực.
Vụ việc một số kẻ lạ mặt quấy rối, đập phá nhà cửa, tài sản và đe dọa anh Cao cùng 5 phu trầm còn lại thì Công an xã vừa tiếp nhận đơn trình báo của họ. Sau khi nhận tin báo, lực lượng Công an xã đã xuống tận nhà anh Cao để ghi nhận tình hình và cũng báo sự việc lên Công an huyện Đại Lộc. Lực lượng Công an huyện Đại Lộc cũng đã có mặt tại nhà anh Cao để nắm sự việc.
Tuy nhiên, vì chưa xác định được rõ đối tượng gây rối, phá phách nên rất khó trong việc xử lý. Trước mắt, để đảm bảo ANTT tại địa phương, lực lượng Công an xã cắt cử người thường xuyên tuần tra tại khu vực nghi vấn để nắm bắt tình hình. Nếu phát hiện có người lạ đột nhập, đập phá tài sản hay có dấu hiệu hành hung thì sẽ bắt và xử lý. (Công An Nhân Dân 12/9) đầu trang(
Chục năm trở về trước, những cánh rừng ở tiểu khu 629 và 639 - thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân (BQL) ở tỉnh Thanh Hóa còn mướt xanh.
Nhưng chỉ 2 năm gần đây khi dự án (DA) trồng cao su được triển khai, cả trăm ha rừng trở thành đồi trọc. Cây cao su thì chưa thấy trồng, nhưng đất rừng đã được người ta rao và mua bán công khai.
Những ngày đầu tháng 9, phóng viên (PV) NTNN liên tục nhận được điện thoại của người dân xã Xuân Thái (huyện Như Thanh, Thanh Hóa) phản ánh về việc phá rừng và mua bán đất thuộc DA trồng cao su của BQL…
Để tìm hiểu rõ sự việc, trong vai người đi mua đất, PV được anh T (xin giấu tên) ở xã Xuân Thái dẫn vào thôn 6. Khoảng cách từ đường trục chính (của xã Xuân Thái) vào thôn 6 chỉ khoảng 2km nhưng phải 30 phút PV mới vào tới nơi bởi cái gọi là con đường um tùm cây cối.
Đi hết con đường, hiện ra trước mắt PV là khoảng không gian mênh mông rộng hàng chục ha rừng đã được phát quang. Ngay lối vào đã được BQL cắm biển “Rừng đặc dụng, cấm chăn thả trâu bò”. Tạt vào một nhà dân xin nước, gặp 2 người vừa trên đồi đi xuống, khi hỏi dò chuyện mua đất, người đàn ông trung niên (mặc sắc phục kiểm lâm) khẳng định ngay rằng đây là khu vực đất DA nên không có việc mua bán.
Trên đường ra, PV tạt vào một nhà khác. Chờ cho gia chủ hết cơn ngủ trưa, mới ngỏ lời muốn mua đất, anh này ra giá: 1ha đã trồng keo là 55 triệu đồng. “Tổng cộng tôi có xấp xỉ 5ha, nếu các anh muốn mua cứ chồng tiền là có đất”- anh này nói. Khi hỏi về thủ tục giấy tờ, anh cho hay: Đất có giá trị trong vòng 50 năm, giấy tờ viết tay vì sổ gốc do BQL giữ. Sau cuộc ngã giá đó tôi mới biết tên anh ta là Luận -người thuộc BQL.
“Ngoài việc trồng keo, anh có thể làm lán trại, nhà tạm phục vụ chăn nuôi, hết chu kỳ thu hoạch xong lại trồng keo” - Luận hướng dẫn tiếp. Vẫn theo Luận, cách đây mấy tháng, giá mỗi ha đất rừng chỉ ngoài 20 triệu, nhưng gần đây do có nhiều người hỏi mua vả lại đất cũng không có nhiều nên... sốt! Để tạo lòng tin, PV xin số điện thoại của Luận và hứa sẽ liên hệ lại sau khi về bàn bạc với… bà xã!
Theo tìm hiểu của PV, hiện tượng mua bán diễn ra khá công khai, một số người dân ở huyện Nông Cống, Quảng Xương đã mua được hàng chục ha. Thậm chí, theo thông tin có được, một cán bộ trong ngành kiểm lâm ở huyện Như Thanh (không phải người của BQL) cũng đã mua tới vài ha.
Người dân địa phương rất bất bình vì lúc đầu BQL nói là DA trồng cao su nhưng sau gần 2 năm, khi phá hết rừng, cao su chẳng thấy đâu mà đất rừng trống hoác. Lúc này BQL lại bảo sẽ trồng keo. Mặt khác, người dân cũng tỏ ra rất bức xúc trước tình trạng đất công nằm trong khu vực DA, nhưng BQL lại giao cho một số người để họ chuyển nhượng tự do thu lợi cá nhân.
Trong lúc dẫn PV đi thâm nhập thực tế, một người dân dẫn đường cho PV chỉ rõ từng khoảnh đất, vanh vách kể tên chủ những lô đất này là ai, mua thời điểm nào, giá bao nhiêu tiền?
Qua 2 năm triển khai DA, từ chỗ là rừng tự nhiên bạt ngàn, giờ đây chỉ thấy leo lét màu xanh của những cây keo mới trồng cách đây chừng hơn 1 tháng. Theo tìm hiểu của PV, Quyết định số 3372 (tháng 10.2012) của UBND tỉnh Thanh Hóa cho phép BQL rừng phòng hộ Như Xuân chuyển đổi 200ha rừng nghèo kiệt sang trồng cao su. Điều 2 của quyết định này nêu rõ: Sau 1 năm nếu không trồng xong cao su thì phải trồng rừng trở lại.
Tuy nhiên đến thời điểm này, BQL mới trồng được trên 100ha, số còn lại được giao cho cán bộ nhân viên quản lý và chính việc này đã gây ra tình trạng mua bán sang tay đất trong DA.
Thực trạng là vậy, thế nhưng trong buổi làm việc với PV, ông Phan Ngọc Nam – Giám đốc BQL rừng phòng hộ Như Thanh vẫn tỏ ra khá lạc quan khi thông tin: “Ngoài diện tích đã xuống giống, số còn lại khoảng trên dưới 80ha chúng tôi đã giao cho 20 hộ là cán bộ nhân viên của BQL tiếp tục trồng cao su”.
Trước câu hỏi của PV về việc có hay không việc chuyển nhượng đất rừng, ông Nam khẳng định... như đinh đóng cột rằng: Chúng tôi giao đất cho cán bộ nhân viên theo tinh thần Nghị định 135 của Chính phủ đối với rừng sản xuất, do đó không thể có chuyện chuyển nhượng như nhà báo nói... “Toàn bộ giấy tờ liên quan đến đất đai tại DA đều do BQL nắm, chúng vẫn thường xuyên kiểm tra do vậy không thể có chuyện mua bán mà BQL lại không biết (?)”-ông Nam khẳng định.
Trao đổi với PV về tình trạng trên, ông Lê Văn Đốc – Phó Giám đốc Sở NNPTNT Thanh Hóa cho rằng: Đất DA giao cho các hộ theo Nghị định 135 nên không thể có chuyện mua bán. Tuy nhiên, ông Đốc cũng cho biết, trước các thông tin do PV cung cấp, ông sẽ cho các bộ phận liên quan kiểm tra ngay…
Đến thời điểm này, với những chứng cứ, tài liệu mà PV thu thập được, có thể khẳng định việc mua bán đất tại DA đã và đang diễn ra. Việc chuyển đổi 200ha rừng phòng hộ sang trồng cao su cũng có nhiều điều cần phải xem xét lại, và thực tế DA cũng đã không thể thực hiện đúng như kế hoạch ban đầu.
Có mặt tại tiểu khu 629 và 639, đập vào mắt là khung cảnh những cánh rừng bị đốt cháy nham nhở. Chỗ người ta chưa kịp phát vẫn âm u cây cối, hình như khu rừng này chưa đến mức độ nghèo kiệt như trong văn bản của BQL. Mang tiếng là rừng nghèo kiệt nhưng ở đây vẫn còn những gốc cây to còn trơ lại gốc sau khai thác. Một số người dân đốt than cho hay, sau khi họ lấy hết phần gỗ to, PV vẫn “mót” được khối cành ngọn cỡ bắp tay bắp chân để đốt than. “Từ sáng tới giờ chúng tôi cũng đã gom đủ 1 lò cỡ 4 khối”- một người dân cho biết.
Ngay bản đồ quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 -2015 vẫn thể hiện: Tiểu khu 629 và 639 vẫn là rừng phòng hộ thuộc quyền BQL cai quản. Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì, ngày 11.8.2011, UBND tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 2343, trong đó quyết định “Chuyển mục đích sử dụng từ rừng quy hoạch phòng hộ sang rừng sản xuất của Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân”. Tiếp sau đó ngày 12.10.2012, tỉnh này lại có Quyết định số 3372, trong đó nêu rõ: “Chuyển rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc rừng sản xuất sang trồng cao su…”.
Khi làm việc với PV, ông Nguyễn Hữu Sang - Chủ tịch UBND xã Xuân Thái khẳng định: Khu vực nói trên là rừng tái sinh nếu cứ để nguyên như vậy thì tác dụng phòng hộ, che phủ và bảo vệ môi sinh rất hiệu quả. Xã Xuân Thái nhờ nằm trong khu vực có nhiều rừng phòng hộ nên cả 3 công trình nước sạch tự chảy do Nhà nước đầu tư hiện phát huy hiệu quả rất tốt. (Nông Thôn Ngày Nay 12/9) đầu trang(
Tỉnh Quảng Ngãi vừa quyết định thực hiện Dự án hỗ trợ các tổ chức, hộ sản xuất lâm nghiệp miền trung Việt Nam tại Quảng Ngãi.
Tổng kinh phí thực hiện dự án là 42.750 ơ-rô (tương đương một tỷ 197 triệu đồng); trong đó kinh phí 40.050 ơ-rô là viện trợ không hoàn lại do Bộ Ngoại giao Phần Lan và Bộ Ngoại giao Hà Lan đồng tài trợ.
Dự án do Liên minh HTX Quảng Ngãi làm chủ dự án, thực hiện tại hai địa điểm thuộc HTX nông nghiệp thôn Thọ Trung (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh) và HTX nông nghiệp xã Hành Dũng (huyện Nghĩa Hành). (Nhân Dân 12/9, tr2) đầu trang(
Theo Sở NNPTNT Tuyên Quang, đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 13.865 ha rừng, đạt 100,5% kế hoạch năm 2014. Kết quả này cao hơn so với cùng kỳ năm 2013 là 909,1 ha. Trong đó trồng rừng tập trung 13.303 ha; trồng cây phân tán 562,4 ha.
Điển hình là các huyện: Lâm Bình trồng được 960,8 ha, so kế hoạch đạt 100,5%; Sơn Dương trồng trên 2.000 ha, đạt 101%; thành phố Tuyên Quang trồng trên 177 ha, đạt 107%; Hàm Yên trồng trên 2.200 ha, đạt trên 100,1%; Yên Sơn trồng trên 4.100 ha, đạt 100,1%; Chiêm Hóa trồng 3.070 ha, đạt trên 101,2% và Nà Hang trồng 1.340 ha, đạt gần 99% kế hoạch.
Có được kết quả này là nhờ rút kinh nghiệm từ các năm trước, UBND tỉnh đã sớm giao chỉ tiêu kế hoạch vốn sản xuất lâm nghiệp và ban hành suất đầu tư trồng rừng phòng hộ, mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất năm 2014 ngay từ đầu quý IV của năm trước. Các địa phương, đơn vị đã chủ động trong công tác giao kế hoạch, bố trí lực lượng, chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất tại các xã, đội sản xuất ngay từ đầu năm.
Trong quá trình triển khai, Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT) đã phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường chỉ đạo và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, chủ động nguồn giống, quản lý chất lượng cây giống, đề xuất giải quyết khó khăn tại cơ sở, đặc biệt là việc lập hồ sơ xử lý các trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích theo quy định. Các công ty lâm nghiệp có phương án huy động nguồn vốn, đẩy mạnh liên doanh, liên kết trồng rừng để hoàn thành kế hoạch được giao.
Năm nay, công tác chuẩn bị cây giống được thực hiện tốt. Ngay từ đầu năm, các công ty, đơn vị, hộ tư nhân được giao nhiệm vụ này đã có phương án bảo đảm đủ nguồn giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng.
Từ nay đến cuối năm, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tiếp tục tập trung đôn đốc, hướng dẫn các địa phương giải quyết dứt điểm các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công tác giao rừng trồng, gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch thành rừng sản xuất trên địa bàn các huyện.
Cùng với đó, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện kế hoạch khai thác gỗ rừng trồng tại các hộ gia đình năm 2014 để cung ứng cho các cơ sở chế biến, đồng thời bổ sung quỹ đất phục vụ công tác trồng rừng năm 2015. (Chính Phủ 11/9) đầu trang(
Tiếp tục đợt giám sát Chương trình phát triển và bảo vệ rừng bền vững, Thường trực HĐND tỉnh đã giám sát tại huyện Điện Biên.
Kết quả cho thấy, toàn huyện hiện có 11.860ha rừng đặc dụng, 73.972ha rừng phòng hộ; 35.708ha rừng sản xuất. Từ năm 2012 đến nay, huyện đã trồng 114ha rừng tập trung; bảo vệ rừng trồng, rừng chuyển tiếp 25.939ha; khoanh nuôi tái sinh 2.129ha; chăm sóc 328ha rừng...
Tuy nhiên, do nguồn vốn thực hiện công tác phát triển và bảo vệ rừng hàng năm hạn chế nên một số hạng mục đã giao kế hoạch nhưng không thực hiện được; đơn giá hỗ trợ trồng rừng thấp, chưa khuyến khích được người dân tham gia…
Đoàn ghi nhận các kiến nghị của huyện về việc sớm giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp cho Ban quản lý rừng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; bố trí kinh phí thực hiện trồng rừng mới, giao khoán, khoanh nuôi tái sinh rừng...
Bên cạnh đó, Đoàn lưu ý huyện tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức của người dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường phối hợp giữa chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng để chương trình mang lại hiệu quả bền vững... (Đại Biểu Nhân Dân 12/9) đầu trang(
Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), tỉnh Yên Bái đã triển khai thực hiện đảm bảo đúng quy trình và đạt những kết quả đáng khích lệ.
Các chủ rừng, hộ gia đình cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng đã được hưởng lợi hàng chục tỷ đồng, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận không nhỏ người dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao phía Tây của tỉnh và quan trọng hơn, đã góp phần tích cực bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) bền vững.
Ngay sau khi thực hiện, Quỹ BV&PTR Yên Bái đã triển khai điều tra, thống kê phân loại đối tượng sử dụng DVMTR, các chủ rừng được chi trả tiền DVMTR; tổ chức tuyên truyền chủ trương, chính sách mới liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh, trong đó có chính sách về chi trả DVMTR đến cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị, các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có diện tích rừng cung cấp DVMTR.
Năm 2012, là năm đầu tiên thực hiện, Ban chỉ đạo của tỉnh, Quỹ BV&PTR tỉnh đã tập trung hoàn thiện việc thống kê các đối tượng có sử dụng DVMTR, tiến hành xác định rõ ranh giới từng lưu vực của từng công trình thủy điện, nước sạch trong phạm vi nội tỉnh, rà soát hiện trạng và thống kê diện tích rừng hiện có trong từng lưu vực, phối hợp với các ngành, đơn vị có liên quan, UBND các huyện, thị xác định, thống nhất diện tích, hiện trạng rừng trong phạm vi nội tỉnh, lập danh sách các chủ rừng là tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị, các hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư thôn đang quản lý, bảo vệ và những diện tích rừng chưa giao cho chủ quản lý cụ thể; xây dựng đề án giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài, đề án phân loại, thống kê đối tượng sử dụng, cung cấp DVMTR và cơ chế quản lý, chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012 - 2015.
Công tác điều tra thống kê các chủ rừng được chi trả tiền DVMTR được Quỹ BV&PTR quan tâm thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập với sự hỗ trợ của Dự án GIZ. Tổng diện tích rừng thuộc lưu vực có cung ứng DVMTR trên địa bàn toàn tỉnh là 213.113,8 ha (diện tích quy đổi 205.182,7 ha) với 22 chủ rừng là tổ chức, 8 chủ rừng là các hạt kiểm lâm được UBND các huyện, thị xã giao trách nhiệm quản lý rừng tổ chức giao khoán bảo vệ rừng và trên 20 ngàn hộ gia đình, cá nhân. Trên cơ sở đó, hàng năm, Quỹ BV&PTR đều ban hành văn bản hướng dẫn các chủ rừng, UBND các huyện rà soát, xây dựng hồ sơ, kế hoạch chi trả tiền DVMTR theo quy định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ thực hiện.
Trong 2 năm 2012-2013, Quỹ BV&PTR tỉnh đã tổ chức nhiều hội nghị hướng dẫn trình tự, lập hồ sơ kế hoạch chi trả tiền DVMTR, nghiệm thu thanh toán tiền DVMTR, nhằm nâng cao năng lực cho các chủ rừng, Ban chi trả tiền DVMTR cấp huyện thực hiện đảm bảo yêu cầu theo quy định. Nhằm triển khai sâu rộng tới các tổ chức, doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân hiểu và nắm rõ chính sách chi trả DVMTR, Quỹ BV&PTR đã phối hợp với các cơ quan truyền thông của tỉnh xây dựng chuyên mục về chính sách chi trả DVMTR. Hai năm qua, Quỹ tỉnh, các chủ rừng đã tổ chức 299 hội nghị tuyên truyền, phổ biến về chính sách chi trả DVMTR cho 17 nghìn lượt hộ gia đình.
Ngoài ra, còn thực hiện tuyên truyền qua tờ rơi, áp phích, biển báo với 20.000 cuốn tài liệu tuyên truyền song ngữ Việt - Mông về chính sách chi trả DVMTR. Đến ngày 31/12/2013, Quỹ BV&PTR tỉnh đã ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với 100% cơ sở sử dụng DVMTR, gồm: 8 công ty sản xuất thủy điện, 2 công ty TNHH một thành viên kinh doanh nước sinh hoạt. Đến ngày 1/8/2014, Quỹ BV&PTR của tỉnh đã thu ủy thác 66.232.396.300 đồng (do Quỹ Trung ương điều tiết 61.640.000.000 đồng, thu nội tỉnh 3.529.299.060 đồng, lãi tiền gửi 1.063.097.240 đồng). Tổng số tiền đã chi trả cho các chủ rừng, hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư đạt 51.422.530.800 đồng.
Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2011. Tuy nhiên, do năm 2011, 2012, Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công thương) chưa quy định giá bán điện của các nhà máy đã bao gồm phí DVMTR, do đó, các đơn vị sản xuất thủy điện nội tỉnh chưa xác định được nguồn kinh phí chi trả nên các đơn vị này chưa nộp.
Năm 2013, Cục Điều tiết điện lực đã tính phí DVMTR vào giá bán điện nên đã có một số doanh nghiệp sản xuất thủy điện thực hiện nghiêm túc, nhưng vẫn còn một số đơn vị không thực hiện việc nộp tiền theo quy định với tổng số tiền phải nộp là 10.733.942.100 đồng. Cụ thể: năm 2011: 2.437.742.000 đồng, năm 2012: 4.781.830.000 đồng, năm 2013: 3.514.370.100 đồng. Số tiền này chủ yếu của các đơn vị sản xuất thủy điện nội tỉnh, đã ký kết hợp đồng ủy thác. Quỹ tỉnh đã làm việc với một số đơn vị để cùng xác định công nợ và thống nhất thời gian chi trả của số nợ năm 2013.
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99 đã bổ sung thêm nguồn lực tài chính để chi cho công tác bảo vệ rừng trong điều kiện ngân sách Nhà nước ngày càng eo hẹp, góp phần duy trì công tác bảo vệ rừng, giảm thiểu nguy cơ xâm hại rừng và hạn chế cháy rừng, nâng cao thu nhập của người dân, từng bước nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, BV&PTR.
Thực tế cho thấy, hiện nay người dân các địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh đã ý thức hơn trong bảo vệ rừng. Các chủ rừng là tổ chức đã tiến hành giao khoán rừng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình nên đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng được chi trả tiền DVMTR không còn xảy ra. Tác động lớn nhất mà chính sách chi trả này mang lại đó chính là ý thức BV&PTR của người dân ngày càng được nâng cao. Qua đó, góp phần quan trọng nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng với mục tiêu giữ vững hệ sinh thái rừng đầu nguồn nói riêng và rừng toàn tỉnh nói chung.
Sau 3 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, trên địa bàn tỉnh đã từng bước ổn định về cơ cấu tổ chức bộ máy, hệ thống chi trả tiền DVMTR các cấp, việc huy động nguồn lực của xã hội thông qua tiền DVMTR đã bổ sung nguồn tài chính cho công tác BV&PTR, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp, cải thiện sinh kế, ổn định đời sống, nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác BV&PTR của những người được hưởng lợi từ rừng. Qua đó, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện tốt các quy hoạch và kế hoạch BV&PTR của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình triển khai chính sách cũng bộc lộ một số khó khăn ảnh hưởng đến công tác thực thi chính sách như: Còn có những đơn vị sử dụng DVMTR chưa thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, việc áp dụng đơn giá chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng theo từng lưu vực dẫn đến sự chênh lệch lớn về đơn giá chi trả (năm 2013, nơi thấp nhất đơn giá 20.100 đồng/ha, nơi cao nhất đơn giá 473.200 đồng/ha), đặc biệt đơn giá chênh lệch lớn trên cùng một huyện gây khó khăn trong công tác thực hiện chi trả tiền DVMTR đối với các chủ rừng. Mặt khác, do sức ép về nhu cầu sinh hoạt như làm nhà ở, sử dụng củi làm chất đốt, tập quán canh tác sản xuất nông nghiệp ở vùng cao dẫn đến hàng năm vẫn còn xảy ra các vụ cháy rừng.
Để Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ thực sự đi vào cuộc sống, đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, Quỹ BV&PTR Việt Nam  xem xét sửa đổi, bổ sung một số vấn đề như: Số thu tiền DVMTR đối với thủy điện, nước sạch cần quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) giá bán để đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế theo sự tăng, giảm giá bán điện, nước của từng thời điểm, quy định rõ trách nhiệm Bộ Công thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong việc thực thi chính sách đảm bảo tính đồng bộ khi tổ chức triển khai thực hiện, Quỹ BV&PTR Việt Nam hướng dẫn chi tiết chế độ kế toán trong việc thu, chi tiền DVMTR tạo tính đồng bộ, thống nhất về thời gian xác lập kế hoạch chi, xác định số thu của năm kế hoạch và niên độ lập báo cáo quyết toán.
Tăng cường công tác đào tạo tập huấn cho cán bộ thuộc Quỹ BV&PTR cấp tỉnh, huyện nhằm nâng cao năng lực của cán bộ trong việc thực thi chính sách, hướng dẫn, quy định thu và sử dụng kinh phí từ các nguồn thu khác như: Các nguồn thu liên quan đến dịch vụ hấp thụ các-bon, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn con giống trong nuôi trồng thủy sản, các nguồn tài trợ, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đề nghị tỉnh có biện pháp xử lý các đơn vị sử dụng DVMTR trên địa bàn chậm nộp và không nộp tiền DVMTR. (Báo Yên Bái 11/9) đầu trang(
Chiều 10/9, tại Hội trường Ngọc Linh, ông Nguyễn Hữu Hải-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy-Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh-Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ đã chủ trì Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Tham dự Hội nghị có lãnh đạo: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; các Sở, Ngành liên quan; UBND các huyện, thành phố; các xã có cung ứng dịch vụ môi trường rừng; các đơn vị chủ rừng và sử dụng dịch vụ môi trường rừng; một số thôn trưởng, già làng, hộ gia đình cá nhân tiêu biểu.
Trong bài phát biểu khai mạc, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã đánh giá: Sau gần 3 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã đem lại những tác động tích cực.
Công tác quản lý bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến, từng bước cải thiện đời sống của người dân, nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, số hộ nhận khoán bảo vệ rừng tăng lên đáng kể, đồng thời huy động được nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng một cách thường xuyên; góp phần xã hội hóa nghề rừng, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho những người trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị và trật tự xã hội được ổn định ở các địa bàn dân cư, nhất là ở vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững, tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, lưu giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thuỷ điện cũng như sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trên địa bàn tỉnh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển KT-XH của từng địa phương.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã ký kết 18 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng với các đơn vị sản xuất thủy điện; đối với các thủy điện có lưu vực liên tỉnh được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam quan tâm điều phối tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo tỷ lệ được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt.
Tổng nguồn thu DVMTR trong 3 năm đạt trên 387 tỷ đồng-đây chính là nguồn lực tài chính cực kỳ quan trọng để tập trung bảo vệ và phát triển rừng bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, yếu kém như: Tình trạng xâm hại tài nguyên rừng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, một số diện tích rừng khoán quản lý bảo vệ còn bị phát làm nương rẫy, khai thác trái phép; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và các ngành còn lúng túng trong công tác tham mưu cho UBND tỉnh, nhất là việc sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2011, 2012; việc tham mưu phê duyệt Kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng các năm từ 2011 đến 2014 chậm, chưa sát với thực tế; chậm trễ trong công tác giải ngân; công tác nghiệm thu chưa khoa học, số liệu chưa chính xác, phải điều chỉnh nhiều lần, chưa đảm bảo thời gian quy định.
Đây là những vấn đề cần phải nhìn nhận nghiêm túc và khách quan, phân tích rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm để có những giải pháp phù hợp trong trong thời gian đến. (Văn Phòng UBND Kon Tum 11/9) đầu trang(
Qua 3 năm (2011-2013) thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), đến nay, toàn tỉnh Đắk Nôngđã kí kết được 23 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR, thu được hơn 124 tỷ đồng tiền DVMTR.
Trong đó, đã chi cho các chủ rừng hơn 95 tỷ đồng, góp phần giúp cho các đơn vị, cá nhân được hưởng lợi đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên điạ bàn tỉnh còn một số hạn chế như cơ chế chính sách chung chưa rõ ràng, năng lực của các đơn vị chủ rừng còn yếu, còn thụ động trong việc triển khai chính sách chi trả DVMTR, hoạt động tuyên truyền chưa sâu rộng… (Hội Nông Dân VN 11/9) đầu trang(
Sở NN-PTNT vừa trình UBND tỉnh Đề án xác định, thống kê, phân loại đối tượng tham gia cung ứng và chi trả Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo đề án, có 30 công trình thủy điện (đã được xây dựng và quy hoạch), 14 cơ sở sản xuất, cung ứng nước sạch và 9 đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh phải tham gia chi trả DVMTR và 719 chủ rừng là các tổ chức, đơn vị Nhà nước và cộng đồng, nhóm hộ tham gia quản lý, bảo vệ rừng được thụ hưởng mức chi trả từ dịch vụ trên.
Được biết hiện nay, mức chi trả DVMTR cho các chủ rừng chưa thật sự chính xác và hợp lý, vì vậy việc xác định ranh giới, diện tích và hiện trạng rừng của từng chủ rừng tham gia cung ứng DVMTR để làm cơ sở tính toán giá trị chi trả cho các chủ rừng là mục tiêu đặt ra của đề án trên. (Báo Đắc Lắc 11/9) đầu trang(
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, từ đầu mùa mưa đến nay, toàn tỉnh đã trồng mới được 2.500 hecta rừng, đạt 53,4% kế hoạch trồng rừng trong năm 2014.
Trong đó, rừng phòng hộ 10 hecta, còn lại 2.490 hecta là rừng sản xuất. Ba địa phương có diện tích rừng trồng lớn của tỉnh Đắk Lắk là: Krông Bông, Lắk và M’đrắk. Tuy nhiên do mùa mưa tại huyện M’đrắk bắt đầu muộn hơn, nên đến thời điểm này các đơn vị trồng rừng mới thực hiện được gần 30% kế hoạch.
Những năm gần đây, ngoài các doanh nghiệp tham gia trồng rừng, thì nhiều hộ dân cũng tham gia trồng rừng sản xuất, hoặc trồng liên kết với các công ty lâm nghiệp.
Dự kiến, năm nay tỉnh Đắk Lắk trồng mới 4.680 hecta rừng, trong đó chủ yếu là rừng sản xuất. Việc trồng rừng phòng hộ tại tỉnh Đắk Lắk những năm qua gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, bình quân mỗi năm chỉ trồng được khoảng 80 hecta. (VTV9 11/9) đầu trang(
Theo thống kê của UBND huyện Bình Liêu công bố cuối tháng 7 vừa qua, hiện toàn địa bàn đang có trên 8.000ha rừng trồng thông, trong đó 6.400ha rừng trồng thông thuộc quyền quản lý của 3 chủ rừng lớn.
Cụ thể Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu với 3.091ha; Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên với 1.954ha; Đoàn Kinh tế Quốc phòng 327 là 1.368ha. Hiện duy chỉ có toàn bộ diện tích rừng trồng thông của Đoàn Kinh tế Quốc phòng 327 có ranh giới rõ ràng, không xảy ra tranh chấp, xâm lấn của người dân.
Và theo dự án của đơn vị này, toàn bộ diện tích trên 1.368ha rừng thông kể trên sẽ được bàn giao lại cho địa phương vào năm 2017. Tuy nhiên, đối với hai đơn vị còn lại là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu và Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên lại đều xảy ra tình trạng tranh chấp, xâm lấn. Cụ thể diện tích bị tranh chấp của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu là 232ha; Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên là 172ha.
Riêng đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu, 232ha bị tranh chấp nói trên nằm trong tổng diện tích thông trồng từ những năm 1970 từ nguồn vốn ngân sách và do đơn vị quản lý. Thời điểm năm 1996, nhằm tăng cường quản lý và khai thác hiệu quả rừng thông, Công ty đã ký hợp đồng với các hộ dân lân cận khai thác nhựa thông trên diện tích này theo cơ chế Công ty đứng ra bao tiêu sản phẩm.
Trải qua quá trình khai thác trên 20 năm, số thông này đã già, cạn kiệt; mật độ cây cũng giảm mạnh chỉ còn dưới 300 cây/ha, không đảm bảo thành rừng nên Công ty có hướng khai thác gỗ để trồng mới. Tuy nhiên điều này vấp phải sự phản đối của người dân do những người dân lâu nay đã sống phụ thuộc vào nguồn khai thác nhựa để bán cho Công ty.
Điều đáng nói là sự việc còn diễn biến xấu theo hướng người dân tranh chấp, lấn chiếm diện tích này để trồng rừng. Còn riêng đối Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên, nguyên nhân dẫn đến diện tích trên 172ha rừng thông bị người dân lấn chiếm, tranh chấp một phần do công tác quản lý, giao đất giao rừng của các đơn vị quản lý chưa chặt chẽ.
Cụ thể, trên thực địa không xác định được ranh giới đồng thời trước khi giao đất cho doanh nghiệp, diện tích này đã được giao cho người dân. Bên cạnh đó thì hiện nay người dân cũng cần đất để trồng rừng phát triển kinh tế.
Điều đáng nói là tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng ở Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu cũng như Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên đã diễn ra khá lâu song đến nay tình hình vẫn phức tạp, chưa có hướng giải quyết triệt để. Trước diễn biến này thì mới đây UBND huyện Bình Liêu đã có đề xuất về phương án quản lý, sử dụng rừng trồng thông.
Theo đó đối với diện tích trên 1.368ha của Đoàn Kinh tế quốc phòng 327 thì đã rõ, sau khi bàn giao lại cho địa phương vào năm 2017, tuỳ vào quy hoạch sử dụng đất của địa phương cũng như nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế của người dân, huyện Bình Liêu sẽ giao lại cho tổ chức hoặc cá nhân sử dụng, phát huy giá trị phòng hộ cũng như kinh tế của rừng. Đối với diện tích hơn 232ha rừng thông thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu do không đảm bảo mật độ thành rừng và giá trị của cây rừng đã kém, đồng thời nguồn vốn đầu tư do ngân sách cấp nên thống nhất khai thác để trồng mới.
Sau quá trình trên, toàn bộ diện tích rừng này sẽ được giao cho các hộ dân lân cận để phát triển sản xuất. Riêng đối với diện tích trên 172ha của Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên, Công ty đề xuất “bắt tay” với người dân để cùng khai thác, phát huy giá trị của rừng theo hướng dân được khai thác nhựa và Công ty sẽ thu mua.
Anh Phạm Trung Kiên, cán bộ quản lý của Công ty CP Đầu tư phát triển Tài Nguyên cho biết: Thực tế toàn bộ diện tích rừng trên đã được UBND tỉnh giao cho Công ty và hơn 9 năm qua Công ty tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ. Tuy nhiên, với đặc thù kinh tế lâm nghiệp, cần thiết phải dựa vào người dân.
Hiện nay toàn bộ diện tích rừng này đang ở độ tuổi 9 năm, còn khoảng gần 10 năm nữa mới đến tuổi khai thác. Bởi vậy rất cần phải có sự đồng thuận, ủng hộ của người dân để bảo vệ, chăm sóc cây rừng, tạo nguồn để phát triển sản xuất. Ngoài ra việc người dân tranh chấp đất rừng với Công ty cũng xuất phát từ thiếu sót của cơ quan quản lý. Vì lẽ đó chúng tôi thống nhất đi đến một hướng giải quyết mở, là doanh nghiệp và người dân cùng khai thác, để hai bên cùng có lợi.
Có thể thấy hướng giải quyết trên khá phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như đề án giao đất giao rừng của huyện Bình Liêu. Đặc biệt là hiện nay huyện Bình Liêu đã xác định phát triển lâm nghiệp chính là một trọng tâm phát triển kinh tế của huyện.
Trong đó cây thông là nguyên liệu chính để cung cấp nhựa và gỗ thông cho thị trường với tổng diện tích 10.000ha. Đây cũng sẽ là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống cho đông đảo người dân trên địa bàn. (Báo Quảng Ninh 12/9) đầu trang(
Phó chủ tịch UBND huyện An Lão Bùi Tiến Dũng đã có ý kiến chỉ đạo Ban Quản lý rừng đặc dụng An Tòan và UBND xã An Tòan tiến hành kiểm tra, chấn chỉnh việc lấn chiếm đất rừng trái phép của một số hộ dân tại xã An Tòan.
Trong đó, thống nhất cho tồn tại 0,5ha đất trồng chanh dây và 200 trụ tiêu của của ông Vũ Đình Thế, số diện tích đất còn lại trong 1,7ha đất ông Thế đã mược của Ban QLR đặc dụng An Tòan sẽ được điều chỉnh thu hồi. Trong trường hợp ông Thế không chấp hành đúng các nội dung cam kết ghi trong hợp đồng thì sẽ thực hiện chấm dứt hợp đồng trước thời gian quy định.
Đối với diện tích rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép mới phát hiện tại xã An Tòan, giao cho cơ quan chức năng xác minh làm rõ đối tượng, yêu cầu khắc phục hậu quả trả lại hiện trạng ban đầu, chậm nhất đến ngày 30/11/2014. (UBND Huyện An Lão 11/9) đầu trang(
Mùa mưa đã bắt đầu ở các tỉnh miền Trung và đây cũng là thời điểm người dân, ngành nông nghịêp và các công ty lâm nghiệp triển khai trồng vụ thu Đông.
Tuy nhiên, hiện người trồng rừng đang gặp nhiều khó khăn, bởi giá cây giống tăng cao và rừng trồng chết hàng lọat do nắng hạn nghiêm trọng suốt 7 tháng đầu năm. Điều này cũng đồng nghĩa kế họach trồng rừng năm nay sẽ khó đảm bảo tiến độ đề ra.
Những cánh rừng mới 3 năm tuổi của người dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã bị chết khô do nắng hạn những tháng trước đó. Vốn đầu tư cho mỗi ha  rừng lên đến 15 triệu đồng, đó là chưa kể  công chăm sóc trong 3 năm giờ gần như mất trắng.
Gia đình ông Sơn đang thu hoạch 3 ha rừng bạch đàn 3 năm tuổi bị chết khô để vớt vát lại phần nào vốn đầu tư, cũng như để phát dọn thực bì chuẩn bị cho vụ trồng rừng mới. Thế nhưng với giá bán gỗ nguyên liệu hiện chỉ 3 triệu đồng/ha thì những người dân trồng rừng như ông Sơn không đủ vốn để mua giống cây trồng cho vụ mới.
Sau đợt nắng hạn gay gắt kéo dài hơn 7 tháng qua, giờ các tỉnh Nam Trung bộ đã bắt đầu có mưa nên người dân tranh thủ trồng rừng. Hơn 3.000ha rừng bị chết khô ở 2 tỉnh Phú Yên – Bình Định đáng lẽ phải 2 năm nữa mới thu họach nhưng giờ rất nhiều dịên tích phải trồng lại. Gỗ chưa đủ tuổi thu họach và chết khô, giá bán ra bởi thế không đủ vốn, đó là chưa kể, giá cây giống hịên đã tăng lên từ 500-600 đồng/cây nên càng khiến cho người trồng rừng gặp khó khăn.
Hiện, những hộ dân nằm trong các dự án trồng rừng được vay vốn ưu đãi vẫn phải vay vốn với lãi suất 6,5%/năm, còn các hộ dân tự trồng thì phải vay với lãi suất trên 8%/năm nhưng không phải hộ gia đình nào cũng vay được vốn vì muốn vay mới, phải trả xong các khỏan vay từ vụ trước . Mong muốn duy nhất của người trồng rừng lúc này là được khoanh nợ và cho vay mới. Chỉ có như vậy mới đủ vốn để  trồng rừng vụ năm nay. (VTV9 10/9) đầu trang(
Nhằm góp phần tạo nguồn thu nhập cho các hộ gia đình miền núi và bảo vệ rừng bền vững, đặc biệt là cung cấp nguồn dược liệu quý hiếm để xuất khẩu, Sở NN&PTNT tỉnh An Giang đã xây dựng thành công mô hình trồng cây sa nhân dưới tán rừng kể từ năm 2013 đến nay.
Từ lâu, nông dân ở An Giang đã áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp nuôi trồng dưới tán rừng trên vùng Bảy Núi một cách rất thuận lợi và mang lại hiệu quả cao. Hiện nay, An Giang có trên 680 loài thảo dược, trong đó gần 90% là cây mọc tự nhiên.
Với nhu cầu sử dụng dược liệu ngày càng tăng, nhiều người đã đua nhau khai thác kiểu tận diệt, đào cả gốc lẫn rễ nên nguồn cây thuốc ngày càng cạn kiệt. Nếu như không có giải pháp gây trồng, tái sinh và bảo tồn, chắc chắn trong một ngày không xa, nhiều cây thuốc quý sẽ tuyệt chủng, trong đó có cây sa nhân, quế, mã tiền...
Chính vì vậy, việc đầu tư, xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao trong gieo ươm cây dược liệu là việc làm rất cần thiết, phù hợp với sự phát triển lâu dài và bền vững. Trong đó, cây sa nhân là cây có giá trị kinh tế, dễ trồng và có thể chung sống dưới những tán rừng phòng hộ, đặc biệt là cây lâu năm.
Để quản lý và thực hiện tốt mô hình này, Sở NN&PTNT tỉnh An Giang đã đứng ra làm chủ đầu tư và giao cho Chi cục kiểm lâm quản lý thực hiện. Trước khi tiến hành, Chi cục kiểm lâm đã tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng và theo dõi mô hình, cung cấp cây giống và chọn địa điểm gây trồng tại Ô Sình, núi Dài với số lượng 12.000 cây và Vồ Bà, núi Cấm 10.000 cây.
Ông Lê Công Tảo, thành viên tổ hợp tác bảo vệ rừng tại núi Dài cho biết, đầu tiên ông đã nhận 1.600 cây giống trồng trên diện tích 8.000 m2, hiện cây phát triển rất tốt. Theo ông, sa nhân rất thích hợp với thổ nhưỡng trên vùng đồi núi, nhất là dưới tán xoài, sầu riêng, trầm, bơ, sao...
Đặc biệt dưới gốc sao cồn trồng được dây tiêu, tạo cho vùng rừng trở thành ba tầng sinh thái, ông tỏ ra rất tự tin: “Mình thu hoạch xong sẽ bán ngay trái tươi với giá 10.000 đồng/kg, hy vọng sẽ kiếm được 40 triệu đồng/ha”.
Ông Huỳnh Văn Bé, cán bộ lâm nghiệp thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn cho biết việc trồng dược liệu dưới tán rừng sẽ giúp cho các hộ miền núi có thêm thu nhập, đồng thời góp phần nhanh chóng khôi phục tính đa dạng sinh học, hạn chế khai thác rừng tự nhiên nhằm bảo tồn nguồn gen thảo dược. Quan trọng hơn nữa là trồng sa nhân dưới tán rừng sẽ tạo được độ ẩm, hạn chế cháy rừng, chống xói mòn và tăng hệ số sử dụng đất lâm nghiệp một cách bền vững.
Sa nhân là một loại cây thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Cây mọc thành bụi, sau 2 năm, cây trưởng thành, mỗi bụi đẻ thành nhiều cây, sau đó bắt đầu ra hoa và kết trái. Trái dùng làm thuốc, thường mỗi cụm có từ 4 - 8 trái hình tròn giống như trái chôm chôm.
Sa nhân thu hoạch mỗi năm 2 lần, lần thứ nhất vào tháng 6 - 7, lần hai vào tháng 10 -11. Khi trái bắt đầu già, người ta hái về đem phơi khô hoặc sấy. Khi bóc vỏ ra, bên trong có nhiều hạt đầy đặn màu nâu nhạt, ở Trung Quốc, trái sa nhân khô còn vỏ gọi là “xác sa”, phần hột đã bóc vỏ mới gọi là “sa nhân”.
Sa nhân trồng sau 24 tháng sẽ bắt đầu thu hoạch, đạt sản lượng (hạt khô) từ 37 - 83 kg/ha (tùy theo mật độ trồng), giá bán hạt khô từ 50.000 - 80.000 đồng/kg. Sa nhân Việt Nam chủ yếu được xuất sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Giá hiện nay trên thị trường thế giới từ 7 - 10 USD/kg. (Khoa Học Phổ Thông 5/9, tr13) đầu trang(
Đi dọc tuyến biển của tỉnh Thừa Thiên Huế, từ Phong Điền cho tới Phú Lộc, mọi người có thể nhận thấy những khu rừng phòng hộ mà chủ nhân không ai khác chính là những người lính Biên phòng.
Những khu rừng phòng hộ ngút ngàn ấy không chỉ chắn cát, chống biển xâm thực, mà còn mang lại cảnh quan đẹp cho bãi biển du lịch, giúp dân phát triển mô hình nuôi tôm trên cát.
Quản lý 7 xã ven biển với gần 40.000 nhân khẩu, tưởng như những người lính Đồn BP Phong Hải chỉ "đánh vật" với việc bám nắm địa bàn đã hết thời gian, ấy vậy mà các anh vẫn trồng được 30ha rừng keo chịu hạn và phi lao ở khu vực ven biển xã Điền Môn, huyện Phong Điền. Ở miền biển này trước đây, cứ vào độ tháng 8-9, người dân rất vất vả khi đi lại, bởi gió Nam cuốn theo cát bay mù mịt.
Năm 2006, khi có dự án trồng rừng phòng hộ bằng giống keo chịu hạn, Đồn BP Phong Hải đã nhận dự án này với tinh thần "bộ đội, đảng viên đi trước". Khắp nơi là cát, nắng, nóng và khô hạn nên phải đợi vào thời điểm trước Tết âm lịch, tiết trời trở lạnh và có mưa, cán bộ, chiến sĩ mới ra quân trồng keo giống. Tỷ lệ sống 60-70% khiến mọi người có thêm động lực dặm lại những cây đã chết để ngày hôm nay, hơn 30ha keo chịu hạn trở thành bức tường thành ven biển.
Chính trị viên Đồn BP Phong Hải, Thượng tá Nguyễn Ánh Hồng cho biết: "Người dân ở đây rất có ý thức trong việc bảo vệ rừng. Những năm trước đây đã từng xảy ra một vài điểm cháy nhỏ do trẻ con nướng cua, tôm nhưng đã được phát hiện, dập tắt kịp thời. Có rừng phòng hộ hạn chế được rất nhiều tình trạng cát bay, "nhảy", biển xâm thực. Nhờ vậy mà từ năm 2009, huyện Phong Điền triển khai mô hình nuôi tôm trên cát, đem lại nguồn thu nhập không nhỏ cho bà con nơi đây, vốn trước kia chỉ trông chờ vào nông nghiệp và những chiếc ghe nan nhỏ tối đi, sáng về".
Hải đội 2, BĐBP Thừa Thiên Huế nằm sát và hướng ra biển nên vào những ngày gió, cát bay vào đơn vị rất nhiều. Sau cơn đại hồng thủy tháng 11-1999, phá Tam Giang mở cửa biển, xóa sổ cả xóm Hòa Duân hơn 100 hộ. Năm 2001, đập Hòa Duân được xây dựng, nhưng các hộ dân trước đây vẫn không dám quay về làm nhà định cư. Một bãi biển Thuận An cát trắng đẹp đẽ nhưng vắng bóng người. Thượng tá Nguyễn Đăng Tâm, khi ấy là Hải đội trưởng bàn với Chính trị viên Lê Văn Nga là phải trồng phi lao chắn cát. Sau buổi họp, cấp ủy quyết định trích quỹ đơn vị để mua giống phi lao sao cho đủ 5ha về trồng trên bãi ven biển trước đơn vị.
Đến năm thứ 2, phi lao đã cao ngang người. Chính vì vậy mà Phòng Nông nghiệp huyện Phú Vang đã "mời" đồn tham gia dự án trồng rừng 661. Trong suốt 3 năm liền, đơn vị phấn đấu trồng 5-6ha mỗi năm. Biển miền Trung đầy nắng gió bỏng rát, nhiều cây chưa kịp lên đã bị gió bẻ gẫy. Đến mùa nắng, cả đơn vị phải đào giếng bơm nước và tưới cho từng cây. Điều đó khiến nhiều người dân đi qua nghĩ thầm: "Dã tràng xe cát biển Đông".
Hải đội trưởng Nguyễn Đăng Tâm, Chính trị viên Lê Văn Nga cũng trần mình ra xách nước tưới cây, nhưng vẫn không ngớt động viên anh em không được nản chí. Năm 2004, có dịp trở lại công trình đập Hòa Duân, Giám đốc Công ty Cầu đường 75, ông Nguyễn Văn Đang không khỏi sững sờ bởi công trình của mình giờ đã ngập lút trong rừng dương xanh biếc. Khi biết chủ nhân của rừng dương xanh ngát kia, ông đã vào Hải đội 2 bắt tay Hải đội trưởng Tâm, Chính trị viên Nga cảm ơn và bảo rằng, rừng dương này sẽ là bức tường thành vững chắc nhất để bảo vệ đập, bảo vệ người dân sinh sống tại đây.
Nhưng bức tường xanh 18,6ha dương ấy không chỉ có ý nghĩa thế. 4 năm sau khi dương bắt đầu phát triển xanh tốt, cát bắt đầu bị chắn lại thì người dân di tản bởi cơn đại hồng thủy cũng bắt đầu trở về đây làm nhà ở. Và ngày nay, bãi biển Thuận An càng trở nên thơ mộng, hữu tình hơn với rừng dương xanh ngát, biển từ đó cũng không thể xâm thực, đe dọa đập Hòa Duân.
Vịnh Chân Mây nổi tiếng với bãi biển Cảnh Dương có bờ cát trắng mịn, nước xanh biếc và hàng phi lao xanh mát, cao vút. Chủ nhân của rừng phi lao này là Đồn BPCK cảng Chân Mây. Với 24ha rừng phi lao và keo chịu hạn, không chỉ tô điểm cho vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Chân Mây, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, mà còn là lá chắn xanh cho đơn vị cũng như những mái nhà của nhân dân khi bước vào mùa gió và mùa bão. Rừng dương 24ha này được cán bộ, chiến sĩ Đồn BPCK cảng Chân Mây bỏ công sức trồng từ năm 2006.
Trung tá Nguyễn Văn Hùng, Đồn trưởng Đồn BPCK cảng Chân Mây cho biết: "Vừa qua, đơn vị đã liên hệ với UBND xã Lộc Vĩnh, đề nghị cấp 6ha đất trọc thuộc núi Chân Mây Đông để đơn vị tiến hành trồng rừng. UBND đã chấp thuận và chúng tôi đang chuẩn bị lực lượng, liên hệ với công ty cây giống để triển khai việc trồng rừng một cách nhanh nhất, khi mùa mưa đang đến gần".
Núi Chân Mây Đông và Chân Mây Tây hay còn gọi là núi Giòn, núi Vĩnh Phong chạy ra biển, tạo thành vịnh Chân Mây kì vĩ. Giờ đây, những cánh rừng phòng hộ ven biển, rừng keo chịu hạn phủ lấp khoảng trọc, của những người lính Đồn BPCK cảng Chân Mây góp phần điểm tô nên vịnh Chân Mây non nước hữu tình. (Biên Phòng 9/9) đầu trang(
Thôn Vặn xã Yên Thắng thuộc thôn vùng sâu, vùng xa và là thôn trọng điểm về an ninh rừng của xã Yên Thắng, huyện Lang Chánh, đồng thời là thôn đông dân nhất huyện.
Toàn thôn có 300 hộ gia đình, với 1.481 khẩu, đây cũng là một trong những thôn còn nhiều rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình nhiều nhất huyện, toàn thôn có 2.585,42 ha rừng tự nhiên trong số 3.210,57 ha đất lâm nghiệp (chiếm 80,53%), trong đó hầu hết là diện tích rừng tự nhiên có trữ lượng giàu và trung bình.
Do đời sống nhân dân trong thôn còn hết sức khó khăn (số hộ đói nghèo chiếm 54,33%), mặt khác do có tuyến đường nối các huyện phía tây mới được đầu tư xây dựng chạy qua khu vực rừng tự nhiên của thôn, đồng thời là địa bàn giáp ranh với huyện Thường Xuân, nên trong thời gian qua tình hình an ninh rừng ở đây có những thời điểm còn xảy ra khai thác rừng trái phép.
Để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, Kiểm lâm địa bàn đã kiên trì thuyết phục, tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền giải quyết những vấn đề lớn trong công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thành chủ trương chỉ đạo điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Hoạt động Kiểm lâm chuyển mạnh sang giúp chủ rừng, nhân dân địa phương bảo vệ rừng và hưởng lợi từ rừng một cách ổn định bền vững.
Nhằm thực hiện tốt đề án “tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị và đề nghị của nhân dân về công tác Kiểm lâm”, dưới sự chỉ đạo của Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, Trạm Kiểm lâm Yên Thắng đã phối hợp với Đảng ủy, UBND xã Yên Thắng và Ban quản lý thôn Vặn tổ chức “Hội nghị đối thoại với nhân dân thôn Vặn về công tác Kiểm lâm”, tham dự buổi đối thoại có ông Nguyễn Duy Vĩnh - Hạt trưởng Kiểm lâm - Phó trưởng ban thường trực BCĐ KHBV&PTR huyện.
Buổi đối thoại đã có khá nhiều ý kiến tham gia thảo luận, phản ánh và kiến nghị của nhân dân; có nhiều ý kiến tham gia thảo luận như việc giao đất giao rừng, việc tổ chức thực hiện dự án trồng rừng 147, việc quản lý cưa xăng, quản lý gỗ làm nhà, thủ tục khai thác rừng trồng, và một số tồn tại, bất cập trong hoạt động của Kiểm lâm trên địa bàn thời gian qua,… qua các ý kiến người dân đưa ra Kiểm lâm địa bàn cùng cán bộ lâm nghiệp xã đã lần lượt giải trình các thắc mắc của nhân dân, giúp nhân dân hiểu rõ hơn các chính sách của Nhà nước, các quy định của pháp luật trong công tác bảo vệ rừng - quản lý lâm sản.
Cuối buổi đối thoại Hạt trưởng đã có ý kiến tiếp thu phản ánh của nhân dân về hoạt động của Kiểm lâm thời gian qua, đồng thời thông tin đến nhân dân những định hướng về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng của Đảng và Nhà nước cũng như của các tỉnh và của ngành, đồng thời đồng chí cững đã làm rõ thêm những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân, chỉ đạo định hướng một số hoạt động về công tác bảo vệ rừng trên địa bàn trong thời gian tới.
Kết thúc hội nghị, hầu hết người dân tham dự hội nghị đều hết sức hào hứng và phấn khởi, chia sẻ thêm các thông tin với lãnh đạo Hạt, lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã. Sau hội nghị đối thoại, Kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho Chủ tịch UBND xã có kết luận cụ thể và chỉ đạo giải quyết dứt điểm tồn tại theo phản ánh của nhân dân.
Qua kết quả của hội nghị, có thể nói việc tổ chức đối thoại với nhân dân là một hình thức truyền thông về công tác quản lý bảo vệ rừng và hoạt động của Kiểm lâm đi vào lòng dân, đây là hướng đi đúng của công tác tuyền truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong lĩnh vực QLBV&PTR của lực lượng Kiểm lâm ở cơ sở, qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức, đoàn thể và nhân dân địa phương để phối hợp tham gia bảo vệ rừng – phát triển rừng. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 10/9) đầu trang(
Xã Đoàn Kết là một trong những địa phương có diện tích cao su tiểu điền cao nhất huyện Đạ Huoai (Lâm Đồng) với gần 700 ha.
Gia đình ông Vũ Văn Ước, thôn 2, xã Đoàn Kết có 2 ha cao su trồng được 7 năm. Năm 2014 là mùa đầu tiên cây cho khai thác mủ với sản lượng trung bình 50 kg mủ/ha/lần cạo. Do cao su mới cho thu hoạch nên nồng độ mủ thấp, thương lái thu mua với giá 7.000 đồng/kg. Mỗi tháng gia đình ông Ước thu nhập khoảng 7 triệu đồng từ hai ha cao su.
Ông Ước cho biết: “Với mức giá xuống thấp như hiện nay, cả nhà 4 - 5 người như gia đình tôi vẫn sống được. Nếu thời gian tới giá mủ xuống thấp hơn tôi cũng không chặt bỏ cây mà chỉ bỏ phân bón ít đi để giảm chi phí, tiếp tục duy trì vườn cao su”.
Theo UBND xã Đoàn Kết, tính đến cuối tháng 7 trên địa bàn xã chưa có trường hợp nào chặt bỏ cây cao su. Tuy nhiên, một số hộ dân có diện tích cao su ở khu vực giao thông đi lại khó khăn và phải thuê lao động thì đang tạm ngừng thu hoạch do giá mủ thấp, trong khi công thuê người cạo mủ khá cao.
Trong nửa đầu năm 2014, toàn xã Đoàn Kết đã có 70 ha cao su trồng mới. Theo kế hoạch đến năm 2015, diện tích cao su của xã sẽ đạt 750 ha. Đây là diện tích cây trồng kém hiệu quả được chính quyền địa phương xác định chuyển đổi sang trồng cao su.
Ông Cao Viết Xuân, Phó Chủ tịch UBND xã Đoàn Kết cho biết, xã có chủ trương duy trì cây cao su vì xác định đây là cây giảm nghèo chủ lực của địa phương. Trước tình hình giá mủ cao su xuống thấp, chính quyền xã khuyến cáo người dân không nên quá lo lắng bởi cây cao su ngoài khai thác mủ còn có thể thu hoạch gỗ.
“Nếu tính theo giá mủ như hiện nay, cao su vẫn là loại cây cho thu nhập ổn định hơn so với sầu riêng và cây điều vốn là cây trồng cho thu nhập chính của người dân trong xã từ nhiều năm qua” - ông Xuân phân tích.
Theo UBND huyện Đạ Tẻh, diện tích cao su tiểu điền trên địa bàn huyện hiện nay vào khoảng 1.500 ha, trong đó có 300 ha đang thu hoạch. Giá mủ cao su xuống thấp khiến 200 ha trong huyện đã đủ tuổi khai thác nhưng người dân đang tạm dừng thu hoạch.
Năm 2014, toàn huyện đã trồng mới 700 ha cao su, tập trung trong khu vực diện tích rừng nghèo kiệt. Theo kế hoạch, đến năm 2020 toàn huyện Đạ Tẻh sẽ phát triển lên 10.000 ha cao su các loại.
Trong quá trình quy hoạch phát triển cây cao su, chính quyền địa phương hỗ trợ cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật cho bà con, đặc biệt đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Để giải quyết về đầu ra cho cao su khi diện tích tăng lên, huyện Đạ Tẻh kêu gọi doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến mủ cao su ngay tại địa bàn. Hiện nay, đã có Công ty cao su Đạ Tẻh lập dự án xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su với quy mô tiêu thụ 3.000 - 5.000 ha cao su/ngày.
Ông Bùi Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đạ Tẻh cho biết, trước tình hình giá mủ cao su xuống thấp, địa phương đã vận động người dân không vội vã chặt bỏ cây cao su.
Ngành chức năng cũng phổ biến đến người dân chương trình phát triển cây cao su, bởi cây cao su là cây đa mục đích, có thể khai thác mủ, lấy gỗ và thay thế cây trồng rừng như keo lai nên sẽ đem lại lợi ích kinh tế về lâu dài. (Tin Tức 11/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Do nạn săn bắn bất hợp pháp tiếp diễn, đến thời điểm hiện tại, hơn 730 cá thể tê giác bị giết hại tại Nam Phi, bất chấp các nỗ lực chấm dứt vấn nạn trên. Các nhà quản lý động vật hoang dã lo ngại loài thú móng guốc này sẽ bị tuyệt chủng vào cuối thập kỷ này.
Báo cáo mới nhất cho thấy tính đến thời điểm hiện tại, ngày 11-9, đã có 736 cá thể tê giác bị giết hại tại Nam Phi và có thể đánh dấu năm 2014 là năm mà nạn săn bắn lên đến mức cao điểm. Nếu tình trạng này tiếp diễn, kết thúc năm 2014 sẽ có 1.096 cá thể tê giác bị giết hại và vượt qua con số 1.004 của năm 2013.
Bà Deidre Carter, Nghị sĩ Nghị viện Nam Phi, khẳng định: “Vào năm 2019, chúng ta sẽ chỉ thấy hoặc nghe kể về tê giác trên Google hoặc trong các thư viện”.
8-9, các lực lượng chức năng đã phát hiện xác một cá thể tê giác ở ngoài một trang trại gần Johannesburg. Các hành vi xâm hại đối với tê giác diễn ra khoảng 3 lần/ ngày và thường không bị phát hiện. Tuy nhiên vụ việc vừa trên đã bị camera ghi lại. Richard Brooker, chủ trang trại cho biết: “Các đối tượng đã nhảy qua hàng rào vào trong trang trại và sát hại tê giác bằng 2 phát đạn. Một tên khác đột nhập vào và cả bọn đã lấy sừng tê giác”.
Nạn săn bắn tê giác ở Nam Phi ngày càng tăng do nhu cầu sử dụng sừng tê giác mặc dù lệnh cấm buôn bán quốc tế tê giác theo quy định của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) có hiệu lực từ năm 1977.
Theo WWF, sừng tê giác được coi là một biểu tượng của sự giàu sang và giá trị đã tăng gấp 20 lần kể từ những năm 1970. Cùng với cách chế biến nghiền thành bột, sừng tê giác còn được sử dụng trong các vị thuốc cổ truyền của châu Á nhằm điều trị một số bệnh.
Đặc biệt, tê giác đen đang gặp nhiều mối đe dọa. Mặc dù quần thể đã nhân đôi trong vòng hai thập kỷ qua với 21.000 cá thể song con số cá thể tồn tại vào đầu thế kỷ 20 là khoảng 100.000. Mất sinh cảnh do phát triển khai thác rừng và tăng dân số, đặc biệt là ở châu Á cũng là các mối đe dọa đối với tê giác.
Tuần trước, Nghị viện Nam Phi đã thảo luận về các biện pháp đấu tranh chống săn bắn trái phép thông qua việc hỗ trợ lực lượng kiểm lâm ngăn chặn các tay săn trộm xâm nhập qua biên giới. (Nhân Dân 11/9) đầu trang(
Tình trạng phá rừng tại khu rừng nhiệt đới Nam Mỹ Amazon đang có chiều hướng gia tăng khi thống kê mới đây cho thấy đã có hơn 5.000 km2 rừng bị phá hủy.
Theo thống kê chính thức do Viện nghiên cứu không gian Brazil công bố ngày 10/9, trong thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng 7/2013, khoảng 5.891 km2 rừng Amazon đã bị phá hủy, tăng 29% so với thời gian một năm trước đó. Dù là mức tăng hàng năm thấp thứ hai kể từ năm 1988 tới nay, những con số này vẫn gióng hồi chuông cảnh báo tình trạng phá rừng ở Amazon đang tăng trở lại.
Trong số các bang của Brazil nằm trong khu vực rừng Amazon, Para và Mato Grosso, nơi hoạt động nông nghiệp đang được mở rộng, là các khu vực có diện tích rừng bị tàn phá nặng nề nhất. Ước tính hơn 1.000 km2 diện tích rừng đã bị mất ở mỗi bang trên.
Kể từ năm 1988 khi Brazil thống kê diện tích rừng bị tàn phá, năm 2004 là năm kỷ lục về diện tích rừng bị phá hủy với hơn 27.000 km2 rừng bị mất. Kể từ đó, Brazil đã nỗ lực cắt giảm tỷ lệ này. Đến thời kỳ năm 2011/2012, diện tích rừng bị phá ở "lá phổi hành tinh" này giảm xuống còn 4.571 km2. Con số này sau đó đã tăng lên vào năm 2012/2013, sau khi Brazil thông qua cải cách luật lâm nghiệp, theo đó giảm diện tích rừng mà các chủ đất phải duy trì.
Là rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới, Amazon được coi là một trong những nơi quan trọng nhất bảo vệ thế giới tự nhiên chống lại sự nóng lên toàn cầu nhờ khả năng hấp thụ một lượng lớn khí CO2.
Để bảo vệ “lá phổi hành tinh” này, những năm qua, Chính phủ Brazil đã áp dụng nhiều biện pháp như lập hệ thống theo dõi và cảnh báo phá rừng qua vệ tinh, lập “Vành đai lửa” chống buôn lậu gỗ, tăng mức phạt đối với những người chăn thả gia súc và trồng cây nông nghiệp không đúng quy định, cấp tín dụng ưu đãi và tạo điều kiện chuyển nghề cho những gia đình sống dựa vào việc khai thác gỗ. (Tin Tức 12/9) đầu trang(
Thông báo ngày 10/9 của Bộ An ninh Costa Rica cho biết người đàn ông 31 tuổi, mang họ Maciej và bị bắt giữ tại sân bay quốc tế San Jose trong khi đang làm thủ tục lên chuyến bay tới Panama.
Sau khi lục soát, lực lượng an ninh tìm thấy trong hành lý của người này có 100 con ếch, 50 con rắn và 20 con thằn lằn được giấu trong các hộp thực phẩm và túi nhựa.
Costa Rica vốn nổi tiếng có hệ động thực vật phong phú, đa dạng. Đây là điểm thu hút nhiều khách du lịch đến với nước này nhưng đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Thời gian gần đây, chính phủ Costa Rica đã đẩy mạnh cuộc chiến chống hoạt động nuôi nhốt và buôn bán trái phép động vật hoang dã. Theo luật định của Costa Rica, những người buôn bán trái phép động vật hoang dã sẽ phải đối mặt với mức án từ 1-3 năm tù giam.
Theo ước tính của các nhóm hoạt động vì môi trường, buôn bán trái phép động vật quý hiếm có tổng giá trị khoảng 20 tỷ USD/năm. (VietnamPlus 11/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng