Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tại lâm phần do các Cty Lâm nghiệp quản lý, rừng bị chặt phá diễn ra tràn lan. Rừng bị người dân “cạo trọc” để làm nương rẫy. “Đầu nậu” đất lộng hành, “tác oai tác quái” trong sự bất lực của các Cty. Có Cty được giao quản lý, bảo vệ rừng nhưng để mất một nửa diện tích.
Tại tỉnh Đắc Lắc, từ năm 2008 đến 5-2014, trên địa bàn toàn tỉnh đã có hơn 26,4 nghìn ha rừng bị phá và lấn chiếm, trong đó các Cty lâm nghiệp chiếm diện tích hơn 11.1 nghìn ha. Trong số này, nổi bật nhất là Cty Cư Mlan. Cty này được giao quản lý hơn 14 nghìn ha nhưng diện tích rừng bị mất và xâm chiếm lên đến 7 nghìn ha. Tình trạng mất rừng diễn ra ở hầu hết các tiểu khu, riêng 2 tiểu khu 262, 264 (có diện tích 1,5 nghìn ha) bị xâm chiếm hoàn toàn.
Tại 2 tiểu khu này, “rùng mình” khi thấy toàn bộ diện tích rừng bị “cạo trọc” không thương tiếc. Có vạc rừng vừa mới bị phá, cây rừng nằm bẹp dí trên đất, chồng chất lên nhau. Những năm trước, đây vốn là những cánh rừng xanh bạt ngàn, cây rừng um tùm, có cây to bằng 2-3 người ôm nay trơ trọi, chỉ còn gốc cháy đen, trơ trụi. Ngô, lúa, đậu... đua nhau mọc trên đất rừng. Còn tại tỉnh Đắc Nông, từ năm 2004 đến nay, tổng diện tích rừng bị phá và lấn chiếm là hơn 27,6 nghìn ha, trong đó, các Cty lâm nghiệp chiếm diện tích rất lớn.
Đáng chú ý, từ năm 2008 đến năm 2013, chỉ riêng Cty Trường Xuân (đóng tại xã Trường Xuân, H. Đắc Song, tỉnh Đắc Nông) đã để mất hơn 4,5 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp. Diện tích rừng bị phá nhiều ở các tiểu khu 1676, 1677, 1678, 1687, 1689, 1708. Khảo sát tại tiểu khu 1687, nghẹn lòng khi thấy những vạc rừng xanh tươi bị “mần thịt”, nhường đất sống cho những cây mì, bắp, cà-phê...
Lý giải việc để mất rừng, chủ rừng biện hộ: “Do kinh phí bảo vệ rừng không đủ, lực lượng bảo vệ rừng mỏng, đến chuyện cán bộ buông lỏng quản lý... nên dù rất cố gắng thì cũng không tránh khỏi...”.
Theo ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp Đắc Lắc, ngoài những lý do mà chủ rừng nêu trên, thì việc chưa xử lý nghiêm các đối tượng xâm hại rừng... khiến lâm tặc “nhờn thuốc”, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc phá rừng, bao chiếm đất rừng vẫn âm ỉ diễn ra. Ngoài ra, người đứng đầu Cty không năng động trong quản lý, điều hành nên không giúp Cty vượt qua khó khăn”.
Còn ông Vũ Minh Khôi, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đắc Nông lại nhấn mạnh: “Ngoài ra, chính sách quản lý đất đai vẫn còn nhiều bất cập. Chính quyền địa phương không quản lý dân cư một cách chặt chẽ khiến rừng ngày càng bị lấn chiếm nhiều hơn”.
Trong vai một người đi mua đất trồng cao su, đến 2 tiểu khu 262, 264 thuộc lâm phần của Cty Cư Mlan. Khoảng 100 lán trại được người dân dựng lên để ở. Thấy hỏi mua đất rừng, anh Nông Văn Bảo gãi đầu: “Vợ chồng tôi chỉ có 3ha đất rừng để trồng đậu. Đây là đất tôi khai phá của Cty Cư Mlan từ 7 năm trước. Mỗi héc-ta đất này giá 30 triệu đồng nhưng tôi không bán vì vợ chồng chỉ có chừng đó đất để làm ăn, nuôi con cái thôi. Nếu muốn mua thì anh mang tiền rồi chạy sâu vào 2-3km nữa thì có người bán cho. Ở đó người ta vừa phá rừng. Có điều giá đất rừng rất cao, cỡ 90 triệu ha lận”.
PV chê đắt, Bảo hất hàm nói: “Đắt chi, đất tốt thì đắt thôi”. Bảo cũng cho biết: “Ở đây toàn là đất rừng đi chiếm nên không ai có sổ đỏ. Ai mua bán đất thì viết giấy tay cho nhau thôi”.
Thực tế, việc buôn bán đất rừng diễn ra tràn lan, gây xung đột giữa người dân với chủ rừng, dẫn đến khiếu kiện khắp nơi. Đỉnh điểm là 29 hộ dân đồng bào ở các xã Ea Kiết, Ea M’tar, Ea Mdroh (H. Cư M’gar, Đắc Lắc) đã làm đơn khiếu nại Cty Buôn Ja Wầm (H. Cư Mgar) lên Thanh tra Chính phủ vì Cty hủy hoại tài sản, chiếm gần 70 ha đất của dân. Thực chất, số đất tranh chấp trên thuộc tiểu khu 547A, xã Ea Kiết, thuộc quản lý của Cty Buôn Ja Wầm.
Một số đối tượng đã chặt phá để chiếm đất, sau đó lừa bán cho 29 hộ dân nói trên với số tiền hơn 2 tỉ đồng. Cty Buôn Ja Wầm tiến hành giải tỏa đất, sau đó ưu tiên cho các hộ dân này liên kết trồng rừng, ăn chia sản phẩm. Tuy nhiên, cả 29 hộ đều không hợp tác. Khi Cty trồng rừng thì kéo ra chặt phá để chiếm lại đất. Cơ quan chức năng tiếp tục giải tỏa để trồng lại rừng thì 22 người dân chống đối quyết liệt, một cán bộ bảo vệ rừng bị trọng thương. Sau vụ việc trên, 29 hộ dân gửi đơn khiếu nại khắp nơi.
Ông Nguyễn Hữu Thu, Giám đốc Cty Cư Mlan cho biết: “Tại 2 tiểu khu 262, 264 nêu trên, phía Cty đã phát hiện một đường dây mua bán đất rừng trái phép với diện tích 15ha. Sự việc bắt đầu từ tháng 7-2014, Cty phát hiện một số người dân chở đất đá, vật liệu xây dựng vào 2 tiểu khu trên để xây lán trại giữa rừng. Những người này khai đã mua đất của một đầu nậu với giá 30 triệu đồng/ha. Việc mua bán bằng giấy viết tay. Sau khi có đầy đủ bằng chứng, Cty đã phôtô lại rồi chuyển cho cơ quan chức năng điều tra, xử lý”.
Theo ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp Đắc Lắc, ngoài đầu nậu gỗ, trên địa bàn còn xuất hiện thêm loại đầu nậu đất. Đầu nậu đất hoạt động rất tinh vi, chúng không trực tiếp ra mặt mà thông qua một trung gian gọi là “cai đầu dài”.
“Cai đầu dài” tổ chức thuê người phá rừng, bao chiếm rừng. Diện tích rừng bao chiếm được chúng bán lại cho các hộ dân di cư tự do hoặc dân ở các huyện khác thiếu đất sản xuất. Cũng theo ông Hưng, từ trước đến nay, việc chưa xử lý nghiêm, chưa “lôi” được mấy ông đầu nậu đất ra để xử lý tận gốc khiến tình trạng buôn bán đất rừng vẫn còn xảy ra trong sự bất lực của Cty và ngành chức năng. (Công An TP Đà Nẵng 10/9) đầu trang(
Chiều 9.9, ông Nguyễn Văn Tiến, Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Kon Tum cho biết, đơn vị đã huy động hàng chục kiểm lâm cơ động truy quét lâm tặc vùng biên.
Theo đó, đơn vị đã huy động 3 đội với gần 30 kiểm lâm cơ động tham gia truy quét lâm tặc vùng biên giới giáp ranh với Cam Pu Chia, thuộc 3 xã Ia Tơi, Ia Dom, Ia Đal (khu vực Nam Sa Thầy) và xã Ya Tăng (huyện Sa Thầy).
Khi truy quét sâu vào các khu rừng, lực lượng kiểm lâm phát hiện 5 bãi gỗ lớn, với 103m3, trong đó: Gỗ tròn là 12,3m3 và gỗ xẻ là 90,8m3, thuộc gỗ nhóm 2A, 3 và nhóm 6, có đường kính từ 30 - 50 cm.
“Tất cả số gỗ này đều mới khai thác. Khi thấy lực lượng kiểm lâm truy quét, lâm tặc đã không kịp tẩu tán, còn để nguyên tại hiện trường”, ông Tiến nói.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm còn phát hiện 3 vụ mua bán cất giữ lâm sản trái phép, với trên 18,6m3 gỗ xẻ (nhóm 3 đến nhóm 6) và phát hiện 5 vụ khai thác rừng trái phép, thu giữ 11,7m3 tròn cùng 72,1m3 gỗ xẻ, thuộc nhóm 2A, nhóm 3 đến nhóm 6.
Theo Chi cục kiểm lâm Kon Tum, lợi dụng trời mưa, đi lại khó khăn và các sơ hở trong công tác bảo vệ rừng, lâm tặc lén lút chặt phá gỗ để cất giấu rồi vận chuyển trong mùa khô.
Lực lượng kiểm lâm tỉnh Kon Tum đã lập biên bản tịch thu, đề nghị Công an huyện Sa Thầy và  Viện KSND huyện Sa Thầy vào cuộc, tiếp tục điều tra mở rộng. (Thanh Niên 10/9; Nông Thôn Ngày Nay 10/9) đầu trang(
9.9,  UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu Sở NN - PTNT chỉ đạo cơ quan kiểm lâm phối hợp với UBND huyện Kbang, chủ rừng “tổ chức truy quét, ngăn chặn việc khai thác rừng, vận chuyển lâm sản trái phép khu vực giáp ranh giữa Kbang và An Lão; đặc biệt là khu vực xã Sơn Lang, lâm phần Cty TNHH MTV lâm nghiệp Hà Nừng, Trạm Lập và Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng”.
UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu Sở NN – PTNT, các địa phương, đơn vị liên quan “khẩn trương triển khai, tổng hợp báo cáo kết quả tổ chức thực hiện về UBND tỉnh trước ngày 16.9 để theo dõi, chỉ đạo”. (Lao Động 10/9, tr7) đầu trang(
9.9, ông Nguyễn Hữu Huân - Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động số 2 (Chi cục Kiểm lâm Gia Lai) - cho biết, vừa phát hiện, bắt giữ xe ôtô tải chở 2,6m3 gỗ lậu.
Trước đó, phát hiện xe ôtô BKS 77H-4977 do ông Trần Quang Phước (SN 1985, trú xã Cát Tân, huyện Phù Cát, Bình Định) điều khiển, lưu thông theo hướng Bình Định - Gia Lai có nhiều nghi vấn. Đội KLCĐ số 2 phối hợp với CA TP.Pleiku tiến hành kiểm tra, phát hiện trên xe 134 hộp gỗ căm xe (nhóm II) với khối lượng 2,644m3.
Tại thời điểm kiểm tra, tài xế đã bỏ trốn, gỗ không có dấu của kiểm lâm. (Lao Động 10/9, tr7; Nông Nghiệp Việt Nam 10/9, tr2) đầu trang(
UBND huyện Cư M’gar vừa có công văn yêu cầu Công an huyện này khẩn trương điều tra làm rõ vụ việc, xử lý nghiêm các đối tượng lâm tặc chống người thi hành công vụ để “giải cứu” xe chở gỗ lậu.
Trước đó, vào sáng 16-8, tại thôn 2 (xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar), tổ kiểm tra liên ngành huyện trong lúc tuần tra phát hiện xe tải BKS 86T-1761 lưu thông theo hướng  huyện Ea Súp về Cư M’gar có dấu hiệu vi phạm, đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, nhưng lái xe không chấp hành mà cố tình lao xe xuống mương rồi bỏ trốn.
Sau đó, tài xế xe này cùng một số đối tượng đến chửi bới, hù dọa, ngăn cản không cho lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ. Khi tổ công tác thuê xe kéo để đưa xe vi phạm về Hạt Kiểm lâm huyện xử lý thì các đối tượng này huy động thêm người mang theo dao, gậy đến uy hiếp, đe dọa không cho kéo xe đi.
Chỉ khi tổ công tác được tăng cường thêm lực lượng và phương tiện, nhóm lâm tặc mới chịu rút. Đến 23 giờ cùng ngày, xe gỗ lậu mới được đưa về trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện, trên xe chở 11 lóng gỗ dầu, khối lượng 4,3 m3 không có dấu búa của kiểm lâm. (Báo Đắc Lắc 9/9) đầu trang(
Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều loài động - thực vật hoang dã quý hiếm, đặc biệt là các loài linh trưởng.
Với điều kiện về địa lý và khí hậu, Việt Nam là nơi cư trú bản địa của 26 loài và phân loài linh trưởng trong tổng số 612 loài và phân loài được Tổ chức Bảo tồn thiên quốc tế (IUCN) công nhận. Trong đó, có 5 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam gồm: Vọoc mũi hếch, Vọoc mông trắng, Vọoc Cát Bà, Chà Vá chân xám và Khỉ đuôi dài Côn Đảo.
Hiện nay, độ che phủ rừng ở Việt Nam đã giảm đáng kể, xuống còn khoảng 41% năm 2013, trong đó diện tích dành cho sinh cảnh của các loài linh trưởng rất hạn chế.
Công tác bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân như: Các khu bảo tồn không có rừng ở vùng đệm, các khu bảo tồn có diện tích nhỏ và bị cô lâp, thiếu vốn đầu tư, thiếu sự đồng thuận giữa lực lượng kiểm lâm và người dân địa phương, năng lực quản lý kém, thực thi luật không hiệu quả và thiếu lực lượn kiểm lâm,... (Khuyến Học & Dân Trí 11/9, tr11) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đồng ý hỗ trợ 160 tỷ đồng cho 13 địa phương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện phòng chống cháy rừng năm 2014.
Thủ tướng Chính phủ lưu ý, việc hỗ trợ vốn cho các dự án phải đảm bảo theo đúng quy định hiện hành.
Về nguồn vốn hỗ trợ, thực hiện ứng trước từ ngân sách trung ương. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính bố trí nguồn thu hồi trong kế hoạch 2015.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo danh mục và chi tiết mức vốn hỗ trợ cho các dự án; chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thanh tra, kiểm toán về tính chính xác của các thông tin, số liệu và mức vốn bố trí cho các dự án. (Chính Phủ 9/9; Công Lý 9/9) đầu trang(
Khoảng 13h ngày 9/9, một vụ cháy lớn đã bùng phát tại rừng bạch đàn thuộc sự quản lý của Trung đoàn trực thăng 930 (Sư đoàn không quân 372) đóng tại phường An Khê (quận Thanh Khê, Đà Nẵng).
Nhận được tin báo, cảnh sát PCCC thành phố Đà Nẵng đã điều hơn 10 xe cứu hỏa và 60 cán bộ, chiến sĩ tới hiện trường , cùng với hàng trăm chiến sĩ trong các sư đoàn để khống chế ngọn lửa.
Do thời tiết nắng nóng, lá khô nhiều nên ngọn lửa lan rất nhanh. Đến hơn 18g cùng ngày, đám cháy cơ bản được dập tắt. Ước tính thiệt hại ban đầu, hơn 5ha rừng bạch đàn bị thiêu rụi. Rất may không ảnh hưởng tới sân bay Đà Nẵng.
Nguyên nhân vụ cháy có thể do đạn  còn sót lại từ thời chiến tranh  phát nổ. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (Tiền Phong 10/9) đầu trang(
Đây là kết quả khảo sát do Viện Xã hội học Việt Nam phối hợp với Cục bảo tồn đa dạng sinh học thực hiện, vừa được công bố.
Khảo sát đã lựa chọn ngẫu nhiên trên 1.000 người tại 4 phường nội thành của Hà Nội là:Trúc Bạch, Hàng Bồ, Nghĩa Tân và Hoàng Mai, trong thời gian từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014.
Đáng chú ý trong khảo sát, người có học vấn càng cao thì tỷ lệ sử dụng thực phẩm làm từ động vật hoan dã càng lớn. Hệ lụy của sự gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm từ động vật hoang dã đã làm tăng nạn săn bắt, buôn bán trái phép và đẩy nhiều loài nguy cấp tới nguy cơ tuyệt chủng.
Có 4 nhóm yếu tố tác động chính đến hành vi sử dụng, tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã của người dân. Thứ nhất là nhận thức, thái độ và niềm tin vào công dụng của các sản phẩm từ động vật hoang dã, đặc biệt là các sản phẩm chữa bệnh và tăng cường sức khỏe. Thứ hai là kiến thức bảo vệ môi trường và động vật hoang dã chưa đầy đủ. Thứ ba là nguồn cung cấp sản phẩm từ động vật hoang dã đa dạng, công khai và dễ dàng tiếp cận. Thứ tư là kiến thức về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã còn hạn chế, nhiều người vẫn cho rằng, pháp luật không quy định xử phạt người tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã.
Do đó, các ngành chức năng cần phải nỗ lực làm giảm nhu cầu sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã, thông qua việc tuyên truyền về các hệ lụy từ việc tiêu thụ trái phép các loài động vật hoang dã và khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế, nhằm bảo vệ các loài động vật hoang dã trong tự nhiên.
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã - cho biết, hệ quả nghiêm trọng của buôn bán động vật hoang dã còn đe dọa đến sức khỏe của con người. 70% bệnh truyền nhiễm từ động vật lây sang con người có nguồn gốc từ động vật hoang dã.
Bộ Y tế cũng cảnh báo, dịch bệnh Ebola đang lây lan mạnh tại nhiều quốc châu Phi có liên quan tới việc lây truyền từ động vật sang người trong quá trình chế biến thịt thú rừng và sau đó người này lây lan cho những người trong gia đình và những người xung quanh.
Để ngăn chặn tình trạng này, ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng: “Chúng ta phải có trách nhiệm thúc đẩy các nỗ lực làm giảm nhu cầu sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã thông qua việc tuyên truyền về các hệ lụy từ việc tiêu thụ trái phép và không bền vững các loài động vật hoang dã và khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế nhằm bảo vệ các loài động vật hoang dã trong tự nhiên”. (Công Thương 9/9; Tuổi Trẻ 10/9) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Khu vực hạ lưu sông Ngon, một số người hút cát đắp bờ làm hồ nuôi thủy sản, dễ gây sạt lở rừng phòng hộ ở huyện Đông Hòa. (Nhân Dân 10/9, tr7) đầu trang(
Mới đây, tại Hội trườngTòa án nhân dân huyện M’Drăk đã đưa vụ án Ma Seo Di phạm tội Hủy họai rừng quy định tại Khoản 1 Điều 189 ra xét xử sơ thẩm công khai. Kết thúc phiên xét xử Tòa án đã tuyên phạt bị cáo Ma Seo Di 06 tháng tù giam và buộc bị cáo bồi thường số tiền 256.745.096 đồng.
Theo cáo trạng truy tố củaViện kiểm sát nhân dân huyện M’Drăk, vào tháng 2/2014 lợi dụng sự sơ hở của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp huyện M’Drăk trông công tác quản lý, bảo vệ rừng, Ma Seo Di đã sử dụng dao, cưa lốc để phat dọn, đốn hạ 6.092m2 diện tích đất rừng tại lô 04, khảnh 03 thuộc tiểu khu 820, xã CưSan, huyện M’Drăk để tìm đất làm nương rẫy.
Ngày09/5/2014 Ma Sao Di tiến hành tỉa ngô trên diện tích đất rừng đã khai phá, đến ngày 12/5/2014 thì bị cán bộ trạm quản lý bảo vệ rừng xã Cư San thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp huyện M’Drăk phát hiện lập biên bản và bàn giao cho Hạt kiểm lâm huyện M’Drăk xử lý.
Một bản án thích đáng dành cho kẻ phạm tội nhưng cũng đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho các lực lượng chức năng giữ vai trò trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, trong suốt thời gian hơn ba tháng trời, hơn 6.000m2 diện tích rừng bị triệt phá mà không ai hay biết, thế mới biết được trồng rừng thì dễ nhưng giữ được rừng hay không lại là chuyện không dễ chút nào. (Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đắc Lắc 8/9) đầu trang(
Khi nói đến nguồn tài nguyên rừng, người dân Cà Mau ai cũng có trong mình niềm tự hào, đồng thời gắn liền với trách nhiệm chung khi việc bảo vệ nguồn tài nguyên này gặp áp lực với quá nhiều vấn nạn: Rừng đước thì vẫn còn “cháy” bởi ngày ngày nó vẫn đối mặt với nạn lâm tặc hoành hành; rừng tràm thì mùa khô năm nào cũng vậy, lại canh cánh nỗi lo cháy.
Qua những trận chiến với giặc lửa và lâm tặc thì mới thấy hết chân dung của những người dân sống trên lâm phần rừng, những người “chiến sĩ” đã đối mặt với biển lửa cũng như đấu tranh trực diện với lâm tặc để bảo vệ “rừng vàng”.
Là cán bộ kỹ thuật tại Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nhưng Miên gần 20 năm nay, anh Nguyễn Tấn Lộc luôn xem rừng như máu thịt không thể tách rời. Là người đồng hành cùng nhiều dự án nước ngoài nghiên cứu về lâm sinh tại Cà Mau, anh Lộc luôn trăn trở làm cách nào để quảng bá hình ảnh về rừng Cà Mau với bạn bè quốc tế, kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng.
Với khả năng trời phú về văn chương thể hiện qua khả năng “viết lách” của mình, yêu rừng như máu thịt, chính vì thế khi nhắc về rừng và con người vùng đất phương Nam này, anh say mê đến lạ thường. Với nickname “Đất Phương Nam”, anh Lộc đã gửi gắm cả tình cảm của mình vào đấy. Hơn 10 năm nay, thông qua các mạng xã hội như Blog, Facebook, Zalo, Zing… anh ra sức viết và tuyên truyền về giá trị của rừng và ra sức kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên này.
Trong những chuyến công tác khi đi thực địa, chiếc máy ảnh, bút cùng tập là bạn đồng hành cùng anh Lộc. Anh cũng ghi ghi chép chép, chụp những cảnh về rừng. Anh nói, một mặt nó giúp ích cho công việc chuyên môn của anh, mặt khác lưu lại nguồn tư liệu quý, một hình ảnh biết nói để anh chứng minh và giải thích rõ thực trạng của rừng đước Cà Mau với bạn bè của mình trên mạng xã hội.
Anh Trần Cao Cường, Tiểu khu trưởng Tiểu khu 220 thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nhưng Miên, người cán bộ kiểm lâm hiền lành và chất phác đã để lại một ấn tượng khó quên với tôi khi lần đầu tiếp xúc. Qua những câu chuyện kể của anh, càng thêm yêu rừng và cảm thông với những người chiến sĩ đang ngày đêm chống chọi với nạn “lâm tặc” hàng ngày luôn đe dọa nguồn tài nguyên rừng.
Đối với người đi đêm ở rừng chưa quen thì muỗi là nỗi ám ảnh rất lớn. Có những đêm muỗi cắn, các chiến sĩ kiểm lâm phải vùi xuống sình non, chỉ chừa mỗi lỗ mũi để thở; cùng gìn giữ cho những tán rừng vươn cao.
Một cái khó là lực lượng của ngành quá mỏng, trong khí đó hành vi của bọn phá rừng ngày càng liều lĩnh và tinh vi; khi ngành chức năng phát hiện, chúng bỏ hung khí và tang vật lại, đi với thái độ thách thức lực lượng cán bộ đang thi hành nhiệm vụ, có khi còn chống trả và gây thương tích đối với cả lực lượng kiểm lâm.
Do địa hình các khu vực rừng phòng hộ và phòng hộ xung yếu đa phần là gần cửa biển, nên rất thuận lợi cho bọn lâm tặc có điều kiện tốt để “làm ăn”. Thường là chúng kè gỗ hai bên tàu, xuồng; khi lực lượng kiểm lâm phát hiện hành vi của mình, chúng không hề lo sợ mà ngang nhiên chặt dây, bỏ gỗ trôi giữa biển, đứng nhìn như không có chuyện gì xảy ra.
Anh Cường bùi ngùi: “Những lần ấy anh em ức lắm, vì khối lượng gỗ khá lớn mà không có cơ sở để bắt chúng chịu tội trước pháp luật; những đối tượng này đa phần biết và rành luật nên dễ lách luật, một thành phần nhỏ được “tư vấn” luật một cách bài bản, nên rất khó cho ngành chức năng trong công tác quản lý lực lượng này”.
Hình ảnh cây tràm đã quá quen thuộc với người dân Cà Mau, nó đã đi vào sử sách, thơ ca và là niềm tự hào của người dân xứ U Minh nói riêng và người Cà Mau nói chung. Ở U Minh này có những người con, người cháu ngày ngày bám đất, giữ gìn màu xanh quê hương.
Vào ngành Lâm nghiệp năm 2001, anh Danh Văn Hiệp  là cán bộ kiểm lâm thuộc Liên Tiểu khu U Minh I, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ. 13 năm gắn bó với cây tràm, đó cũng là ngần ấy thời gian anh Hiệp cống hiến mồ hôi, nước mắt và cả máu cho rừng. Là người con của quê hương Khánh Lâm anh hùng, hơn ai hết, ngay từ bé anh Hiệp đã thấy được giá trị của rừng tràm mang lại cho người dân vùng quê còn nhiều nghèo khó này.
Đồng đội của anh Hiệp không thể nào quên một câu chuyện có liên quan đến anh: Vào cao điểm của mùa khô năm 2010, khi ấy anh Hiệp cùng đồng đội chữa một đám cháy lớn và sâu phía trong. Đã chiến đấu dài ngày, sức đã kiệt…, lúc đó anh Hiệp đang giữ đầu ống để phun nước. Do đầu nguồn lấy nước ở xa, nước lên không kịp; phần vì anh Hiệp không thể rút về sau, phần do quá khát và quá đói, anh Hiệp ngất đi khá lâu trong khi lửa cứ cháy cao, bám những thân cây tràm đến tuổi khai thác và bao vây anh.
May mắn, đồng đội của anh phát hiện, giải cứu anh ra khỏi đám cháy, anh Hiệp đã tỉnh lại trong sự vui mừng của đồng đội. Giây phút đó, có rất nhiều giọt nước mắt đã rơi bởi khâm phục người cán bộ kiểm lâm trẻ, anh hùng và nhiều nhiệt huyết. “Hiệp sĩ chữa cháy rừng” là cái tên mà mọi người trân trọng dành tặng cho anh Danh Văn Hiệp.
Trong công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng thì lâu nay vai trò của người dân luôn được đề cao. Ông Nguyễn Văn Ray (Năm Ray), ngụ Ấp 14, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh là một điển hình như thế; bởi ý thức và tình yêu rừng đối với họ thì trước sau vẫn vậy và ngày càng sâu sắc hơn.
Về sống vùng đất U Minh Hạ này từ năm 1990, với 5ha đất nhận được, vợ chồng ông Ray động viên nhau làm ăn, bám vùng đất phèn gian khó này. Ông cải tạo đất, lên liếp trồng rừng, 3ha trồng rừng, diện tích còn lại ông trồng lúa, trên bờ cao thì trồng chuối. Cứ vậy, 24 năm qua ông nuôi 4 người con ăn học đàng hoàng và có việc làm ổn định.
Theo cán bộ Liên Tiểu khu U Minh I, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ nhận xét thì ông Năm Ray là nhân tố tích cực trong số những hộ dân tiêu biểu của địa phương trong công tác giữ rừng. Vào cao điểm của mùa cháy, đây là những tuyên truyền viên xuất sắc được đơn vị tin tưởng giao cho tiếp xúc với dân khi tuyên truyền vận động người dân tham gia giữ rừng.
Từ việc ý thức được lợi ích của rừng mang lại đối với nền kinh tế cũng như môi trường sống của con người, những người như anh Lộc, anh Cường, anh Hiệp, ông Năm Ray… đã góp phần tuyên truyền, cổ vũ và động viên những tầng lớp nhân dân tham gia giữ gìn nguồn tài nguyên này.
Cuộc chiến với giặc lửa và lâm tặc còn trường kỳ, thì những nhân tố như vậy sẽ quyết định sự thành hay bại của cuộc chiến đó. Từ họ, sẽ ngày càng có nhiều hơn nữa những con người như vậy sẽ chung tay giữ gìn màu xanh của quê hương. (Báo Ảnh Đất Mũi 8/9) đầu trang(
“Nguồn thu nhập chính của 5 nhân khẩu trong gia đình trông vào 20ha rừng được chính quyền địa phương giao cho quản lý, khai thác trong vòng 50 năm, vậy mà người đi khai thác ong rừng đã thiêu rụi gần 2ha rừng, cũng may mà có bộ đội Sư đoàn 395, Quân khu 3 cứu giúp, nếu không gia đình tôi không biết lấy gì để mưu sinh”, bà Trần Thị Kim, ở thôn Vườn Đào, xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh (Hải Dương) chia sẻ.
Đêm cuối tháng 5 - 2014 xảy ra cháy rừng tại dãy núi Phượng Hoàng, xã Cộng Hòa, thị xã Chí Linh (Hải Dương). Do địa hình hiểm trở nên các phương tiện chữa cháy không tiếp cận được, cộng thời tiết nắng nóng, gió Nam thổi mạnh, đám cháy nhanh chóng lan rộng.
Ngay khi nhận được đề nghị của Ban CHQS thị xã Chí Linh, chỉ huy Trung đoàn 2 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) đã báo động hơn 200 cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 mang theo các loại vật chất, phương tiện chữa cháy cơ động tiếp cận hiện trường.
Trung tá Trần Văn Tú, Phó Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy chữa cháy, chia sẻ: “Nếu cháy rừng xảy ra vào ban ngày thì việc cơ động, triển khai lực lượng sẽ thuận lợi hơn nhiều và hạn chế được rủi ro, nhưng cháy lại xảy ra vào ban đêm, địa hình đồi núi hiểm trở, bị chia cắt, dễ xảy ra tai nạn, vì vậy, chúng tôi chia nhỏ thành nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có sĩ quan phụ trách để bảo đảm an toàn tuyệt đối trong quá trình tiếp cận và thực hiện nhiệm vụ”.
Đại úy Nguyễn Văn Nam, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 cùng anh em đơn vị chữa cháy tại hướng phía Nam dãy núi Phượng Hoàng, cho biết: Sau gần 1 giờ cơ động, phân đội mới tiếp cận được đám cháy. Khi đến nơi mặc dù mọi người đã rất mệt song đơn vị vẫn nhanh chóng tổ chức phát đường băng cản lửa, không để đám cháy lan sang khu vực khác; dùng những dụng cụ thô sơ như cuốc, xẻng, vỉ dập lửa, cành cây…để khống chế đám cháy.
Rừng phòng hộ lại trồng các loại cây dễ cháy như: Thông, bạch đàn, keo, gặp thời tiết hanh khô, gió to nên nhiều vị trí sau khi được dập xong lửa lại bùng cháy trở lại. Đến gần 23 giờ đêm, anh em đơn vị cùng các lực lượng tham gia chữa cháy mới hoàn thành nhiệm vụ, cứu được hơn  6ha rừng khỏi giặc lửa.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm thị xã Chí Linh (Hải Dương), đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý hơn 9000ha rừng, chủ yếu là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Rừng càng tốt, độ che phủ cao thì lá rụng và cỏ khô nhiều, nguy cơ xảy ra cháy ngày càng lớn. Từ đầu năm 2014 đến nay, khu rừng đặc dụng thuộc khu di tích lịch sử, văn hóa Côn Sơn, Kiếp Bạch, Núi Phượng Hoàng đã 4 lần xảy ra cháy do sự bất cẩn của du khách khi đốt vàng mã, hút thuốc, nấu ăn, người dân đi bắt rắn, bắt ong đốt lửa...
Khi cháy rừng xảy ra, đơn vị luôn nhận được sự phối hợp hiệu quả của chủ rừng, chính quyền địa phương, công an…Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) đóng quân trên địa bàn luôn là lực lượng nòng cốt.
Từ đầu năm đến nay, các đơn vị trực thuộc Sư đoàn 395 (Quân khu 3) như: Trung đoàn 2, Trung đoàn 43, các Tiểu đoàn 14, 15, 16 đã không quản khó khăn, gian khổ lăn xả vào dập lửa, cứu được tổng cộng hơn 50ha rừng trên địa bàn đóng quân; được cấp ủy, chính quyền địa phương và người dân đánh giá cao.
Trong đó, riêng Trung đoàn 43 huy động hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia dập tắt 6 vụ cháy trên địa bàn thành phố Móng Cái, huyện Hải Hà (Quảng Ninh), bảo vệ được hơn 20ha rừng, hoa màu của nhân dân...
Gặp Binh nhất Trần Văn Hiếu, chiến sĩ Đại đội hỏa lực 12, Tiểu đoàn 3 khi vừa cùng cán bộ, chiến sĩ đại đội luyện tập xong tình huống chữa cháy rừng theo kế hoạch của đơn vị. Cầm trên tay chiếc cuốc bàn, dụng cụ được biên chế của mình, Binh nhất Hiếu tự tin: “Mới đầu khi nhận nhiệm vụ chữa cháy rừng, tôi cũng lo vì phải trực tiếp đối mặt với những đám cháy lớn, dụng cụ chữa cháy lại thô sơ. Song, qua những lần luyện tập, được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của chỉ huy các cấp đã giúp tôi nắm chắc các phương pháp dập lửa, cách phòng tránh không để lửa tấn công. Tôi cảm thấy tự tin hơn trong thực hiện nhiệm vụ”.
Năm 2014, Binh nhất Trần Văn Hiếu đã 2 lần cùng đồng đội tham gia chữa cháy rừng tại khu vực dãy núi Phượng Hoàng, thị xã Chí Linh, trong đó vụ cháy hồi đầu năm là đáng nhớ nhất. Địa điểm cháy khó tiếp cận, hơi nóng bỏng rát, khói bụi khiến nhiều người nghẹt thở, nhưng nếu không khoanh vùng được, lửa sẽ lan nhanh. Cán bộ, chiến sĩ mưu trí tránh hướng gió, tạo đường băng cản lửa, khoanh vùng để cô lập đám cháy. Sau một đêm “chiến đấu” đơn vị cùng các lực lượng tham gia đã dập tắt hoàn toàn các khu rừng bị cháy, tổng diện tích thiệt hại khoảng 17ha.
Thượng tá Tô Thành Quyết, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 395 cho biết: Hằng năm, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn tập trung xây dựng, rà soát, bổ sung kế hoạch phòng chống cháy nổ, cháy rừng, ứng cứu sập đổ công trình theo mục tiêu trọng điểm đơn vị được quân khu và sư đoàn giao; trong kế hoạch xác định cụ thể từng phương án, tình huống có thể xảy ra.
Đơn vị đặc biệt chú trọng hiệp đồng cụ thể, chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm, công an, các đơn vị đóng quân trên địa bàn và cấp ủy, chính quyền địa phương với các nội dung: Phối hợp tổ chức chữa cháy, di chuyển tài sản bảo đảm an toàn cho người và cơ sở vật chất; tổ chức lực lượng khắc phục hậu quả sau chữa cháy và sẵn sàng xử trí các tình huống bất ngờ.
Chính vì vậy, khi nhận được đề nghị của địa phương phối hợp chữa cháy rừng, trung đoàn đều khẩn trương cử lực lượng tham gia với tinh thần trách nhiệm cao nhất, được cấp ủy chính quyền địa phương và nhân dân đánh giá cao. Năm 2014, trung đoàn đã phối hợp với các lực lượng chức năng, các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn cứu được gần 23ha rừng phòng hộ tại dãy núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương).
Theo Đại tá Bùi Công Chức, Chính ủy Sư đoàn 395 (Quân khu 3), đảng ủy, chỉ huy sư đoàn xác định phòng chống cháy nổ, cháy rừng, thiên tai bão lụt là nhiệm vụ “chiến đấu” trong thời bình của đơn vị. Đặc biệt, phòng chống cháy rừng là công việc đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ đơn vị phải có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức kỷ luật nghiêm mới hoàn thành được nhiệm vụ và bảo đảm an toàn.
Sư đoàn 395 thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt, giáo dục đến 100% cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu của công tác phòng, chống cháy nổ, cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn, từ đó xây dựng ý chí quyết tâm sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Từ năm 2009 đến nay, các đơn vị trực thuộc Sư đoàn 395 đã cứu được hơn 160ha rừng phòng hộ trên địa bàn đóng quân có nguy cơ bị lửa thiêu rụi.
Với những kết quả đạt được trong phòng chống cháy nổ, cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn, các đơn vị trực thuộc Sư đoàn 395 (Quân khu 3) đã góp phần quan trọng cùng cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân. (Quân Đội Nhân Dân 9/9) đầu trang(
Cuộc chiến” bảo vệ tài nguyên rừng Ninh Thuận đang trở nên nghiêm trọng hơn khi đối tượng khai thác lâm sản trái phép sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng để cướp lại tang vật.
Ninh Thuận hiện có trên 150.000 ha rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ gần 11 triệu mét khối cùng hệ động thực vật phong phú và đa dạng về sinh học. Thời gian qua, tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã ở những địa phương có rừng diễn biến hết sức phức tạp.
Trước thực tế này, lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng đã thực hiện nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng phá rừng. Tuy nhiên, các đối tượng khai thác lâm sản trái phép ngày càng tinh vi, thậm chí thách thức cả pháp luật và luôn sẵn sàng chống trả khi bị lực lượng chức năng phát hiện, khiến cho công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn hơn.
Không chỉ ban đêm, không cần lén lút mà giữa ban ngày, trên nhiều con đường ở các xã có rừng, xe chở gỗ lậu vẫn ngang nhiên đưa gỗ về xuôi. Tại Trạm quản lý bảo vệ rừng Phước Hòa, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến, gỗ lậu cùng phương tiện bị bắt giữ được chất thành đống từ ngoài vào trong. Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở đây còn có sự tiếp tay của chính người dân địa phương.
Ông Lê Tấn Văn, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến ở Ninh Thuận cho biết: “Hiện nay có một số người ở dưới xuôi dụ dỗ, lôi kéo người dân địa phương, họ cung cấp những phương tiện như máy cưa, xe độ chế, rồi thuê người dân tự thực hiện, tự vận chuyển các lâm sản để đi tiêu thụ. Khi phát hiện, ngăn chặn các đối tượng này rất liều mạng”.
Tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép diễn ra thời gian qua làm cho nguồn tài nguyên rừng của tỉnh Ninh Thuận ngày càng suy kiệt. Nghiêm trọng hơn, gần đây, khi bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ, các đối tượng sẵn sàng chống trả để cướp lại tang vật.
Mới đây, vào ngày 3/8, tại xã Hòa Sơn, huyện Ninh Sơn, trong quá trình phát hiện bắt giữ, áp giải 1 xe môtô chở gỗ và 2 xe môtô chở than về UBND xã Hòa Sơn để giải quyết, tổ kiểm tra liên ngành gồm kiểm lâm, công an huyện và công an xã Hòa Sơn đã bị các đối tượng dùng dao, mã tấu, ống sắt uy hiếp để cướp lại tang vật và dùng đá ném làm anh Nguyễn Hữu - kiểm lâm địa bàn thuộc hạt Kiểm lâm huyện Ninh Sơn bị thương phải cấp cứu.
Anh Nguyễn Hữu cho biết: “Các đối tượng sử dụng mã tấu, gậy gộc, ống tuýp ngăn cản chiếc xe đầu tiên, sau đó hai chiếc xe than sau thấy lực lượng đông đến ngăn cản thì cũng chặt dây lấy xe, chạy về báo cho gia đình mang theo hung khí, gậy gộc, đá, khi chạy xuống đối tượng này chỉ nhằm vào đánh tôi”.
Điều mà những người giữ rừng và bảo vệ rừng luôn trăn trở là sức lực của họ đang không đủ để bảo vệ rừng, nhất là đối với các Công ty lâm nghiệp. Là chủ rừng nhưng các đơn vị này không có quyền tạm giữ đối tượng phá rừng trên lâm phần quản lý. Nhân viên không có trang phục, công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng nhiệm vụ bảo vệ rừng, ngay cả chính sách chế độ về quản lý bảo vệ rừng cũng không được hưởng đầy đủ.
Ông Trần Anh Vũ, Giám đốc Công ty lâm nghiệp Tân Tiến nói: “Trong Ban quản lý rừng, cùng một huyện thì được chi trả, mà anh em bảo vệ rừng của Công ty cũng bảo vệ rừng phòng hộ thì không được chi trả theo chế độ 116 .Vấn đề thứ hai là tiền lương, lương thì cũng một công ty nhưng lại hai chế độ tiền lương”.
Trước những bất hợp lý này, ông Thiên Sanh Quận - Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận đề nghị: “Phải đầu tư các chính sách cho các lực lượng bảo vệ rừng cũng như lực lượng kiểm lâm. Nhất là lực lượng bảo vệ rừng phải có những chính sách thỏa đáng, để người ta có thực người ta mới bảo vệ được rừng”.
Bảo vệ rừng là việc làm gian nan, bởi những kẻ phá rừng đều rất liều lĩnh và còn là mối đe dọa đến an toàn tính mạng của lực lượng bảo vệ rừng. Vì vậy, để những người làm nhiệm vụ này yên tâm với công việc của mình cần phải có sự đầu tư, điều chỉnh các chỉnh sách hợp lý từ các cơ quan quản lý nhà nước và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. (Radio VN 9/9) đầu trang(
Đánh giá của Trạm Kiểm lâm Bản Dõng, năm 2014 tình trạng người dân địa phương vận chuyển gỗ tròn trái phép bằng xe gắn máy có chiều hướng gia tăng nên Trạm đã tăng cường cán bộ kiểm lâm bám địa bàn nắm bắt thông tin tại cơ sở, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ vi phạm lâm luật.
Trạm Kiểm lâm Bản Dõng hiện có 11 cán bộ,  có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn 9 xã và 1 thị trấn ở vùng thượng huyện Văn Chấn với diện tích rừng rộng lớn trên 20.787ha rừng các loại.
Để giữ rừng hiệu quả, Trạm đã tăng cường cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống các xã trọng yếu phối hợp với chính quyền địa phương  đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cho người dân, đồng thời tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát giữ rừng tận gốc.
Theo báo cáo, 8 tháng, Trạm đã lập biên bản và xử lý 14 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Đặc biệt, từ tháng 6, trên địa bàn có xưởng ván bóc đi vào hoạt động thì tình trạng vi lâm luật gia tăng. Trong đó, tình trạng người dân địa phương vận chuyển gỗ tròn trái phép bằng xe gắn máy lại bùng phát. Mỗi xe máy thường chở được 4 lóng gỗ tròn có đường kính từ 15cm trở lên bán với giá từ 20-25 nghìn đồng/lóng.
Theo cán bộ Trạm kiểm lâm Bản Dõng thì việc khai thác gỗ này tập trung ở khu vực giáp ranh giữa xã Nậm Lành với xã Nghĩa Phúc (thị xã Nghĩa Lộ). Tính riêng trong tháng 8, Trạm đã phát hiện, lập biên bản xử lý 3 vụ vi phạm về vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu 17 lóng gỗ tròn (0,32m3), tạm giữ 3 xe máy, xử lý vi phạm hành chính, nộp ngân sách 3 triệu đồng.
Ông Hoàng Thái Học - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bản Dõng cho biết: “Trước thực trạng trên, Trạm đã cử các cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống xã tham mưu cho UBND xã ra các công văn tuyên truyền các thôn, bản nghiêm cấm các hành vi lợi dụng chặt cây gỗ bán cho các cơ sở ván bóc, đồng thời Trạm cũng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm; rà soát, thống kê các đối tượng thường xuyên vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng để có biện pháp ngăn chặn.
Mới đây nhất, lực lượng kiểm lâm phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 21H-5160 lưu hành trên quốc lộ 32 đoạn từ xã Sơn Thịnh đến xã Nậm Búng vận chuyển trái phép 5 khúc gỗ tròn(0,435m3), chúng tôi đã lập biên bản, tạm giữ phương tiện và tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng việc giữ rừng ở khu vực thượng huyện Văn Chấn vẫn còn có những khó khăn. Khó khăn lớn nhất là hầu hết diện tích rừng phân bố trên địa bàn các xã tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Ý thức của người dân còn hạn chế, tập quán sản xuất đốt nương làm rẫy chưa được loại bỏ nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Đặc biệt, các đối tượng vận chuyển gỗ ngày càng tinh vi, họ chở bằng xe máy, lại vào ban đêm nên rất khó khăn cho việc phát hiện và bắt giữ.
Theo nhận định của Trạm Kiểm lâm Bản Dõng, các tháng cuối năm (tháng 11, tháng 12) là thời điểm nông nhàn, người dân sinh sống tại các khu vực gần rừng thường vào rừng, lén lút khai thác gỗ trái phép nên Trạm tăng cường các cán bộ kiểm lâm địa bàn nắm bắt tại cơ sở nhằm phát hiện kịp thời các khu vực nguy cơ để có biện pháp xử lý; tham mưu cho chính quyền các xã kiện toàn ban chỉ huy PCCCR.
Phối hợp với chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý canh tác nương rẫy nhằm hạn chế nguy cơ xảy ra cháy rừng; tổ chức học tập, ký cam kết với các hộ gia đình về PCCCR, bảo vệ rừng; thành lập các tổ đội xung kích PCCCR ở các thôn bản; làm tốt công tác giao khoán bảo vệ rừng trên địa bàn, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia trồng rừng. (Báo Yên Bái 9/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau, thay vì người nhận đất rừng, trồng, chăm sóc được thụ hưởng từ chương trình, nhưng những cán bộ ở đây đã thực hiện không đúng quy định, dẫn đến người được hỗ trợ nhiều, kẻ ít.
Đáng quan tâm, dù diện tích rừng Cà Mau lớn, nhưng qua kiểm tra, sau nhiều năm thực hiện diện tích rừng trồng theo chương trình khá khiêm tốn.
Dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng, được Quốc hội phê chuẩn bằng Nghị quyết 08/1997/QH10 ngày 5.12.1997 và được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29.7.1998 (Dự án 661).
Quá trình thanh tra ở giai đoạn 2008-2010, Thanh tra Nhà nước tỉnh Cà Mau phát hiện hàng loạt sai phạm. Trong 3 năm thực hiện, Cty TNHH MTV U Minh Hạ thực hiện trồng rừng chỉ đạt 68,6% so với phương án được duyệt. Cá biệt, năm 2009 chỉ đạt 45%. Có đến 120 hộ không trồng 123ha rừng nhưng vẫn được Cty thanh, quyết toán các loại chi phí của dự án.
Dù không đạt kế hoạch trồng rừng như phương án phê duyệt, nhưng Cty hỗ trợ chi phí khảo sát, thiết kế trồng rừng năm 2008, 2009 vượt định mức đầu tư số tiền lên đến 90.129.500 đồng; hỗ trợ sai nội dung đầu tư trên 12 triệu đồng; chi phí không phát sinh thực tế trên 25 triệu đồng...
Đáng buồn là những người dân nhận đất, nhận trồng rừng lại bị Cty cắt xén, không hỗ trợ theo đúng Dự án 661 cho người dân. Cụ thể năm 2008, 2009 gần 260 hộ dân tại các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn như: Khánh Lâm, Khánh Thuận đã bị những người thừa hành công vụ cắt xén bớt số tiền lý ra họ được hỗ trợ gần 80 triệu đồng.
Các hộ Trương Văn Ảnh, Trần Văn Cường trồng rừng vào năm 2009 không nhận hỗ trợ cây giống, nhưng trong quyết toán lại có. Các ông Nguyễn Văn Ngon, Tăng Văn Báo, Nguyễn Văn Thọ nai lưng trồng rừng nhưng không được hỗ trợ công trồng rừng, dù danh sách quyết toán có tên các ông...
Theo Thanh tra Nhà nước tỉnh, Vườn Quốc gia U Minh Hạ (VQG) giao khoán 863ha đất rừng thuộc vùng đệm cho cán bộ và các hộ dân, trong đó giao khoán cho các hộ dân 787ha, giao khoán cho cán bộ 75ha. Điều đáng nói là một số không có nhu cầu vẫn được giao khoán, để rồi có đến 32 hộ chuyển nhượng cho các hộ khác, trong đó không ít cán bộ nhận khoán xong là bán ngay để nhận khoán tiếp.
Điển hình như ông Nguyễn Việt Phước - nguyên Giám đốc VQG - năm 1996 được giao khoán một phần đất ở Tiểu khu V, sau đó chuyển nhượng. Đến năm 2006 tiếp tục nhận khoán lần thứ hai diện tích 2ha, tự sản xuất đến năm 2010 rồi cho người khác thuê.
Ông Tạ Vũ Linh, năm 2004 nhận khoán 2,7ha tại khu Minh Hà, đến năm 2006 đổi qua Tiểu khu V diện tích 3ha để cho thuê, đến năm 2009 mới trực tiếp sản xuất, ông Hồ Văn Ràng, nhận khoán tại Tiểu khu V vào năm 1996, sản xuất một thời gian rồi trả lại VQG, sau đó nhận 2,85ha, đến năm 2009 ông đem đất này đi cầm cố. Ông Đoàn Văn Đồng, năm 1996 được giao khoán một phần đất tại Tiểu khu IV sản xuất, sau đó chuyển nhượng cho người khác rồi nhận khoán 2,7ha sản xuất...
Đối với lô đất kinh doanh của VQG, BGĐ giao khoán một cách tùy tiện cho cán bộ và cấp trên. Năm 2000 giao khoán cho một cán bộ VQG và 3 cán bộ Chi cục Kiểm lâm Cà Mau với diện tích trên 18ha. Năm 2004 giao khoán cho 3 hộ diện tích 9ha để các hộ này cho thuê lại. Năm 2005 giao khoán cho 8 hộ là cán bộ VQG với diện tích 16ha, có 3 hộ cho thuê lại... (Lao Động 10/9, tr3) đầu trang(
Từ phân trường Ea Wy vào tiểu khu 102 thuộc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy (Đăk Lăk), vượt qua những đoạn đường ổ trâu, đang mùa mưa trơn như đổ mỡ.
Xe máy phải cài số một mới nhích được từng đoạn, khó khăn lắm mới tới tiểu khu 102, đây là “điểm nóng” về nạn lấn chiếm đất rừng.
Anh Nguyễn Xuân An, Phó GĐ Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy mới ngoài 30 tuổi, kể về những ngày đầu gắn bó với với ngành lâm nghiệp: "Tôi quê ở xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Năm 2002 sau khi tốt nghiệp đại học tôi xin về đây làm. Thời gian đầu, do không quen với môi trường nên bị sốt rét liên tục hành hạ, có khi phải nằm viện cả chục ngày mới khỏi.
Khi đó, đời sống của người dân ở đây còn thiếu thốn, lạc hậu, nên nhiều tiểu khu người dân cứ lén lút phá rừng để lấy đất SX. Chúng tôi ngày nào cũng phải cuốc bộ cả chục cây số đường mòn ở rừng để đi kiểm tra.
Khi đến những điểm nóng, cứ 5 anh em chốt ở một tiểu khu, trước lúc đi phải chuẩn bị lương thực như gạo, cá khô, xoong nồi, võng dù… cho chuyến đi cả 10 ngày ăn và nghỉ lại ở trong rừng".
Ông Phạm Tấn Việt, Giám đốc Cty Lâm nghiệp Ea Wy cho biết, ở một số tiểu khu thuộc lâm phần Cty quản lý, phần lớn là diện tích đất trống, đất nông nghiệp bị các hộ dân lấn chiếm, sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng đất rừng.
Đầu năm 2014, Cty đã tổ chức họp dân và vận động tuyên truyền chính sách của Đảng, Nhà nước để người dân hiểu giao lại đất đã lấn chiếm cho Cty. Đến nay, Cty đã thu hồi được 106 ha từ 100 hộ dân.
Những diện tích đất thu hồi Cty thực hiện phương án trồng rừng SX bằng nguồn vốn vay của dự án FLITCH, nguồn vốn Cty và người dân cùng góp vốn. Trong năm 2014, Cty đã thiết kế trồng rừng được 213,5 ha, trong đó có 115 ha cây tếch và 97,58 ha keo lai thuần, với nguồn vốn đầu tư hơn 4 tỷ đồng.
Theo tính toán của ông Việt, 1 ha tếch trồng với mật độ 1.111 cây, sau 12 - 15 năm sẽ cho khai thác gỗ, hiện gỗ tếch đạt từ 1 - 1,5 tỷ đồng/ha. Cây keo lai chu kỳ từ 5 - 7 năm thu được 30 - 40 triệu đồng/ha.
Vừa qua, đã có 300 hộ dân trong lâm phần tự trồng lại rừng, Cty đã hỗ trợ cây giống, tiền công và hướng dẫn kỹ thuật. Khi khai thác sản phẩm họ được hưởng lợi 90%. Bên cạnh đó, Cty cho các hộ dân trồng cây ngắn ngày trên đất mới thu hồi để có thêm thu nhập.
Ông Việt còn cho biết thêm: Mặc dù định suất trồng rừng và nhận khoán quản lý bảo vệ rừng còn thấp, chưa thực sự thu hút nhiều hộ gia đình tham gia nghề rừng, nhưng có thể nói giá trị kinh tế mà họ nhận được và hưởng lợi từ rừng đã góp phần đáng kể trong việc cải thiện đời sống gia đình.
Điển hình là ông Phan Văn Minh ở xã Ea Wy trồng 30 ha cây tếch từ năm 1997, nay giá trị vườn cây hơn 30 tỷ; ông Cam Anh Văn trồng 3 ha và ông Phùng Trung Cộng 1,5 ha, mỗi hộ cũng có vườn cây giá trị vài tỷ đồng.
Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy đang quản lý 11.653 ha, trong đó hơn 10.000 ha có rừng, trên địa bàn 4 xã Ea Wy, Cư Mok, Ea Ral, Cư Amung, huyện Ea H’Leo (Đăk Lăk). Trong vùng có khoảng 40.000 nhân khẩu và gần 8.000 hộ dân, với hơn 80% số hộ SX nông nghiệp. Vì vậy, cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi đất đai ngày càng bị xói mòn, bạc màu, năng suất cây trồng giảm.
Để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho bà con, Cty đã chủ động giao đất, giao rừng tạo thêm việc làm cho bà con trong vùng có thêm thu nhập.
Đến nay đã giao đất, giao rừng cho 1.427 hộ dân trong vùng theo Nghị định 135/NĐ-CP được hơn 2.066 ha, giao khoán theo Nghị định 01/CP là 509,87 ha, đồng thời Cty còn xây dựng nhiều mô hình làm thí điểm có hiệu quả cao trong công tác giao khoán, quản lý bảo vệ rừng để bà con làm theo.
Ngoài ra, Cty còn chủ động phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến sâu rộng đến người dân đang canh tác trên lâm phần hiểu rõ lợi ích của việc trồng rừng theo hướng hàng hoá tập trung.
Cty còn làm tốt công tác quản lý đất đai. Mọi trường hợp cây trồng lâu năm trên đất trồng rừng, đất SX nông nghiệp hằng năm sau kiểm kê phải được lập biên bản và ký hợp đồng thoả thuận với Cty theo Nghị định 135/ NĐ-CP. Những trường hợp cố tình không chấp hành thì lập biên bản gửi đến các cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Từ năm 2002-2014, Cty đã trồng mới được 2.850,90 ha rừng, trong có 500 ha rừng phòng hộ và 2.400 ha hỗ trợ người dân trồng rừng. Trong những năm gần đây người dân đã tham gia vào các dự án trồng rừng của Cty như chuyển đổi dần những diện tích trồng điều kém hiệu quả sang trồng rừng dự án, đã có 500 hộ tham gia trồng rừng được 500 ha.
Cty đầu tư cây giống, vật tư, công lao động và kỹ thuật. Khi có sản phẩm người dân được hưởng 90%, Cty được 5% và địa phương 5%. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/9, tr11) đầu trang(
Liên quan đến những sai phạm đất đai tại rừng U Minh Hạ, chiều 9-9 trao đổi với PV, một lãnh đạo Thanh tra tỉnh Cà Mau cho biết đã kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở NN&PTNT, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ và Vườn quốc gia (VQG) U Minh Hạ kiểm điểm trách nhiệm và xử lý theo thẩm quyền đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm.
Thanh tra tỉnh Cà Mau cũng kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo VQG U Minh Hạ thanh lý hợp đồng và tính toán thành quả lao động đối với các cá nhân có hợp đồng giao khoán với vườn trước đây, đảm bảo quyền lợi của đôi bên; xem xét hợp đồng lại cho các hộ dân ở địa bàn VQG U Minh Hạ lâu năm không đất sản xuất.
Ngoài ra, Thanh tra tỉnh Cà Mau đề nghị Ban thường vụ Huyện ủy Thới Bình kiểm tra việc kê khai tài sản, thu nhập của ông Nguyễn Ngọc Tuấn - phó Ban dân vận Huyện ủy Thới Bình (trước đây là giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm), thông báo kết quả cho UBND tỉnh và Thanh tra tỉnh.
Ông Lê Dũng - phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết đã nhận được kết luận của Thanh tra tỉnh tại Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ, VQG U Minh Hạ.
“Tôi mới nhận được kết luận của Thanh tra tỉnh nên chưa đọc hết, hiện tôi đang đi công tác nên chưa trả lời được. Quan điểm của tỉnh sẽ xử lý đến nơi đến chốn những sai phạm mà thanh tra đã kết luận” - ông Dũng nói.
Trước đó, PV có bài “Cán bộ lâm trường thâu tóm đất rừng, cắt đất dân nghèo cấp cho cán bộ” phản ánh việc lợi dụng chức vụ cấp đất cho người thân, cấp đất cho cán bộ. Điều đáng nói khi được cấp đất, nhiều cán bộ không trực tiếp sản xuất mà cho thuê hoặc sang, bán lại.
Ngoài ra tại xã Khánh Thuận, người dân bị Lâm ngư trường Sông Trẹm cắt phân nửa diện tích đất, cấp lại cho cán bộ diện tích gấp 10 lần diện tích đất của dân. Điều này gây bức xúc cho người dân dẫn đến khiếu nại gay gắt kéo dài...
Ngoài những nội dung PV phản ánh, Thanh tra tỉnh Cà Mau cho biết đã kết luận việc thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (hay còn gọi là dự án 661) trên địa bàn Cà Mau.
Theo kết luận thanh tra, dự án 661 được tổ chức, triển khai thực hiện trên địa bàn kéo dài qua 13 năm (1998-2010). Tuy nhiên, Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ chỉ cung cấp cho thanh tra được các hồ sơ, tài liệu liên quan có ba năm (2008-2010).
Theo giải trình của công ty, do qua nhiều lần chuyển đổi mô hình và sáp nhập, hiện tại hồ sơ, chứng từ bị thất lạc. Dù hồ sơ còn lại ba năm nhưng việc triển khai thực hiện dự án 661 Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ cũng có nhiều sai phạm.
Cụ thể, công ty hỗ trợ 257 hộ dân ở các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn thấp hơn định mức quy định với tổng số tiền trên 71 triệu đồng. Hỗ trợ tràm giống cho 102 hộ dân thiếu 462.200 cây giống so với thực tế thi công.
Ngoài ra, 10 hộ dân ở xã Nguyễn Phích (huyện U Minh) đến nay chưa được Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ cấp hỗ trợ tiền công trồng rừng năm 2010 (phần tận thu lâm sản sau cháy, sau khi trừ các khoản chi phí, hộ dân nộp cho công ty 5%).
Theo thanh tra, việc làm này của công ty chưa phù hợp với chính sách hỗ trợ phát triển rừng của Nhà nước. (Tuổi Trẻ 10/9, tr18; Pháp Luật TPHCM 10/9) đầu trang(
Để ngành lâm nghiệp tiếp tục đạt được nhiều thành quả trong phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng, thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn cho rằng việc làm cần thiết hiện nay là triển khai công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, cùng với đó là thực hiện sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức sản xuất lâm nghiệp, trọng tâm là đối với các công ty lâm nghiệp trong năm 2015 theo đúng Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị…
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: 5 năm qua từ 2009- 2013, bình quân mỗi năm cả nước trồng được 226.000 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ và đặc dụng 31.000 ha/năm, trồng rừng sản xuất 196.000 ha/năm. Khoanh nuôi tái sinh 461.000 ha/năm, trong đó khoảng 50.000 ha thành rừng/năm.
Bước đầu áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh rừng trồng, đã tăng sinh khối tăng trưởng rừng trồng là rừng sản xuất từ 7-8 m3/ha/năm lên 12-15 m3/ha/năm, cá biệt có nơi đạt 30 m3/ha/năm.Với những cố gắng trong khôi phục và trồng rừng mới đã đưa độ che phủ của rừng, bao gồm cả cây cao su trồng trên đất lâm nghiệp liên tục tăng.
Hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản thời gian qua đã giảm cả về số vụ và mức độ thiệt hại: Năm 2009, xảy ra 324 vụ vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, phát hiện 9.392 vụ phá rừng trái pháp luật, với diện tích rừng bị thiệt hại là 3.459 ha thì đến năm 2013, xảy ra 260 vụ vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, phát hiện 4.326 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị thiệt hại là 707 ha.
Ngành kinh tế lâm nghiệp đã có tốc độ tăng trưởng nhanh trong điều kiện khủng hoảng kinh tế: năm 2011 đạt 3,4%, năm 2012 đạt 4,6%, năm 2013 đạt 5,9%. Sản lượng gỗ khai thác gỗ từ rừng trồng tăng gấp hơn 2 lần, từ 6,047 triệu m3 năm 2009 lên 15 triệu m3 năm 2013, trong đó 8 triệu m3 gỗ rừng trồng tập trung, 5 triệu m3 gỗ cây trồng phân tán và 2 triệu m3 gỗ cao su.  Khai thác rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ hơn theo hướng bền vững, sản lượng khai thác giảm từ 220 nghìn m3 năm 2009, còn 160 nghìn m3 năm 2013, dừng khai thác chính từ năm 2014.
Hiện cả nước có 2.536 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản với nhiều thành phần kinh tế, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI, sản phẩm chế biến ngày càng đa dạng về mặt chủng loại. Sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã xuất vào trên 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó, các thị trường đã phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là những thị trường chủ yếu. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ tăng hơn 2 lần trong vòng 5 năm, từ 2,8 tỷ USD năm 2009 lên 5,7 tỷ USD năm 2013.
Thu nhập đời sống của người dân từng bước được tăng lên, nhiều hộ gia đình có thu nhập tăng cao từ rừng trồng thâm canh như ở Quảng trị, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Cà Mau; có hộ thu nhập từ 150-250 triệu đồng/1 ha rừng trồng sau 6 đến10 năm, nên có thể làm giàu từ trồng rừng…
Trước hết chúng ta khẳng định rằng chủ trương đúng và trúng về xã hội hóa nghề rừng được cụ thể hóa đầy đủ hơn, quản lý nhà nước chủ yếu bằng công cụ pháp luật, chính sách: Chủ trương xã hội hóa được thực hiện trên thực tiễn ngày càng cụ thể, giao đất, giao rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp các thành phần kinh tế được coi là giải pháp mang tính đột phá; khuyết khích các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, kinh doanh lâm sản nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả.
Ngân sách nhà nước hiện nay chủ yếu tập trung đầu tư cho rừng đặc dụng và rừng phòng hộ và chỉ chiếm khoảng 25% tổng mức đầu tư toàn xã hội cho bảo vệ, phát triển rừng, 75% vốn đầu tư được huy động từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước.
Cơ chế, chính sách về lâm nghiệp tiếp tục được hoàn thiện. Từ năm 2009 đến nay, nhiều văn bản quan trọng của Nhà nước được ban hành tạo khung pháp lý để các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện.
Một số chính sách có tác động quan trọng đến phát triển lâm nghiệp như: Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP ngày 28/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững; Nghị định 05/2010/NĐ-CP của Chính phủ thành lập Quỹ Bảo vệ phát triển rừng; Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; Quyết định 57/QĐ-TTg của Thủ tướng về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; Quyết định 07/2012/NĐ-CP của Thủ tướng về một số chính sách bảo vệ rừng; Quyết định 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng về chính sách phát triển rừng đặc dụng...
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường đang trở thành nguồn tài chính quan trọng của ngành lâm nghiệp, được các cấp chính quyền và người dân ủng hộ, tạo nguồn thu cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng; tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là tăng cường hiệu quả của công tác bảo vệ rừng trên diện tích gần 4 triêu ha. Năm 2010-2011, mức thu từ dịch vụ này đạt 493.336 triệu đồng; năm 2012, đạt 1.100 tỷ đồng; Năm 2013, gần 1.200 tỷ đồng.
Nhờ đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lâm nghiệp cả chiều rộng và chiều sâu theo chủ trương đa phương hóa và dạng hóa. Ngành lâm nghiệp đã có hợp tác với 19 đầu mối và tổ chức lâm nghiệp quốc tế, trong đó có 2 công ước và nhiều hiệp định vùng quan trọng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Mặc dù ngành lâm nghiệp đạt được những thành tiến bộ bước đầu quan trọng, nhưng còn nhiều tồn tại và đối mặt với nhiều khó khăn thách thức:
Thứ nhất, tình trạng phá rừng, khai thác tự nhiên, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép còn diễn ra phức tạp ở một số địa phương; năng suất, chất lượng, giá trị rừng sản xuất thấp. Cụ thể, tình trạng phá rừng tự nhiên trái pháp luật để lấy đất; khai thác trái phép rừng để lấy lâm sản, nhất là gỗ quý hiếm; sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích, trong khi một bộ phận người dân thiếu đất sản xuất diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt ở các tỉnh vùng Tây Nguyên; nhiều điểm nóng về phá rừng tự nhiên nghiêm trọng, kéo dài, chưa được giải quyết triệt để gây bức xúc trong xã hội.
Trong khi độ che phủ rừng tăng, nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm, với 80% diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo, giá trị thu nhập trên 1 ha rừng trồng mới đạt khoảng 7-8 triệu đồng/ha/năm, đa số người dân làm nghề rừng còn nghèo, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân miền núi.
Thứ hai, quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến và chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực lâm sản còn thấp. Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn trên thế giới, nhưng do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa tổ chức liên kết theo chuỗi, kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến như kho tàng, bến bãi… yếu kém; công nghệ và quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ phổ biến còn lạc hậu, nên hiệu quả của sản xuất lâm nghiệp thấp so với khu vực và thế giới.
Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của Việt nam chỉ bằng 50% so với Philipines, 40% so với Trung Quốc và 20% so với bình quân các nước EU; chất lượng, mẫu mã sản phẩm kém cạnh tranh. Thị trường trong nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa hình thành hệ thống phân phối lưu thông, thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu; tình trạng cạnh tranh không lành mạnh diễn ra phổ biến.
Thứ ba, giá trị gia tăng của lâm sản thấp; tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này thể hiện qua phát triển nhanh về diện tích rừng góp phần tích cực vai trò sinh thái, môi trường, trong khi vai trò kinh tế của rừng sản xuất chưa đem lại hiệu quả kinh tế tương xứng để có thể giảm cách biệt thu nhập so với các cây trồng và ngành nghề khác.
Trình độ tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quảng canh. Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều bất cập, thị trường máy móc, vật tư phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp gần như bị bỏ ngỏ, phụ thuộc vào nhập khẩu. Công nghệ sinh học và công tác tạo giống chưa được ứng dụng trên quy mô rộng…
Thứ tư, công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất lâm nghiệp tại nhiều địa phương còn nhiều bất cập. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp ở nhiều địa phương chưa sát với thực tế và thường xuyên bị phá vỡ. Tình trạng chồng lấn, lấn chiếm, tranh chấp đất diễn ra phức tạp; ở nhiều nơi, rừng và đất lâm nghiệp được giao bị chuyển đổi sai mục đích sử dụng chưa được xử lý kiên quyết, kịp thời.
Thứ năm, các lâm trường quốc doanh trước đây, sau khi đã sắp xếp lại, chuyển thành công ty lâm nghiệp vẫn chưa được tự chủ kinh doanh, không được vay vốn sản xuất hoặc không có cơ chế tạo nguồn thu ổn định cho chủ rừng trong cơ chế thị trường và gắn trách nhiệm vật chất của chủ rừng với kết quả bảo vệ rừng, chưa phân định rõ sản xuất kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ công ích.
Giải pháp đầu tiên cần phải thực hiện là nâng cao chất lượng quy hoạch, đảm bảo các định hướng Chiến lược phát triển Lâm nghiệp đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt. Theo đó, cần sớm hoàn thành rà soát, đánh giá lại quy hoạch tổng thể rừng cấp quốc gia và cấp vùng, xác định rõ lâm phận ổn định quốc gia làm cơ sở cho việc xác định tổ chức quản lý rừng và tái cơ cấu ngay sau khi kết thúc Tổng điều tra, kiểm kê rừng vào năm 2015. Đồng thời, các địa phương tổ chức rà soát thực trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.
Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác, xử lý kiên quyết các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và việc mua bán đất lâm nghiệp trái phép kể cả đối với đất đã được giao cho đồng bào dân tộc tại chỗ vùng. Chính quyền địa phương có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát thực hiện đầy đủ trồng bù rừng đối với các dự án được phê duyệt theo quy định hiện hành.
Sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức sản xuất lâm nghiệp, trọng tâm là đối với các công ty lâm nghiệp trong năm 2015 theo đúng Nghị quyết  30-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý ngành từ trung ương đến địa phương gọn nhẹ hơn, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả.
Cùng với đó là tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành và xây dựng cơ chế, chính sách mới thúc đẩy tái cơ cấu ngành trong các lĩnh vực: Ứng dụng giống cây lâm nghiệp chất lượng cao được nuôi cấy mô; hỗ trợ người dân về kỹ thuất và tín dụng để chuyển đổi rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn và trồng mới cây gỗ lớn có chu kỳ dài trên 10 năm…
Ngoài ra, cần đẩy mạnh xã hội hóa ngành lâm nghiệp để thu hút mọi thành phần tham gia liên kết đầu tư phát triển rừng; có chính sách tín dụng ưu đãi để khuyến khích các chủ thể vay vốn phát triển đổi mới công nghệ chế biến và trồng rừng tạo vùng nguyên liệu cho chế biến.
Tập trung nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành, giảm những nghiên cứu tách rời nhu cầu thực tiễn, thực hiện bằng phương thức đặt hàng là chủ yếu. Có cơ chế gắn kết các tổ chức nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp và người trồng rừng. Kết hợp nghiên cứu với đào tạo và khuyến lâm, giữa sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm tạo thành chuỗi nghiên cứu khép kín trong đào tạo.
Thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa hợp lý, phát triển thị trường xuất khẩu lâm sản phù hợp với luật pháp quốc tế. Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác tiếp thị thương mại, đàm phán các hiệp định kỹ thuật, mở rộng thị trường quốc tế.
Nếu các giải pháp trên được tiến hành đồng bộ sẽ giúp lĩnh vực lâm nghiệp phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh; thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế.
Theo đó, giá trị sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm 5,5 - 6,5%. Diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng 16,2 - 16,5 triệu ha, trong đó: rừng sản xuất 8,132 triệu ha, rừng phòng hộ 5,842 triệu ha và rừng đặc dụng 2,271 triệu ha. Tập trung phát triển rừng sản xuất với diện tích rừng sản xuất là rừng trồng khoảng 3,84 triệu ha. Quy hoạch và xây dựng các vùng trồng rừng gỗ lớn tập trung với diện tích khoảng 1,2 triệu ha để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Thay đổi cách tiếp cận tổng hợp theo chuỗi hành trình của sản phẩm từ khâu tạo nguyên liệu cho tới khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thị trường nội địa và xuất khẩu. Phát triển, nâng cao chất lượng rừng: tăng trữ lượng rừng tự nhiên sản xuất lên 25% so với hiện nay với mức tăng trưởng sinh khối bình quân từ 4-5 m3/ha/năm để đạt tỷ lệ gỗ thương phẩm bằng 75% trữ lượng gỗ cây đứng sau năm 2020.
Nâng cao năng suất rừng trồng bằng biện pháp ứng dụng giống tốt và thâm canh để đạt mức tăng trưởng sinh khối bình quân 15 m3/ha/năm; sản lượng gỗ thương phẩm bằng 80% trữ lượng, trong đó 40% sản lượng gỗ lớn đủ yêu cầu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ ghép, đồ mộc, nội ngoại thất.
Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu được gây trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô. Cơ cấu sản phẩm gỗ thị trường trong nước: đồ gỗ 45%, gỗ nhân tạo 55%... (Đại Biểu Nhân Dân 9/9) đầu trang(
Theo đơn tố cáo của bà Lê Thị Tròn (SN 1955), trú tại tổ 3 khu 3 phường Việt Hưng - TP Hạ Long (Quảng Ninh) gửi báo Dân trí, gia đình bà Tròn tố ông Chu Văn Chấn về việc ông này chiếm dụng diện tích gần 5ha rừng của bà được Nhà Nước giao cho canh tác trước đó.
Theo bà Tròn, cơ quan bà xin huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) được 200ha đất lâm nghiệp, nhưng sau này bà không trồng cùng cơ quan mà rủ nhau trồng rừng năm 1998. Năm 2003 sau khi kết thúc trồng rừng xong đợt 1, năm 2004, rừng của gia đình nào thì gia đình đó trồng.
Diện tích rừng của gia đình bà Tròn là 5ha, chủ yếu là cây keo. "Năm 2008, ông Chấn với cương vị chủ tịch xã ấy nói cho tôi biết nhà nước đang có chính sách làm sổ rừng cho dân, đồng thời gợi ý giúp gia đình tôi. Nghe ông Chấn nói vậy gia đình tôi mừng quá. Rồi ông Chấn bảo hiện nay trại giam Đồng Vải có tiền hỗ trợ đất làm rừng, nếu có mối quan hệ với trại giam sẽ có thể tác động được", bà Tròn nói. Cũng theo bà Tròn chỉ vì ham được số tiền đền bù mà ông Chấn tự đặt ra khiến gia đình bà “giao trứng cho ác”.
Tin lời chủ tịch xã, bà Tròn làm theo. “Sau đó ông Chấn đọc cho tôi viết giấy chuyển nhượng rừng, tôi ký vào giấy đó nhưng tôi không ghi là chuyển nhượng bao nhiêu tiền cả. Ông Chấn yêu cầu ghi rõ số tiền nhưng tôi nói là ghi giấy giả vờ thôi nên tôi không ghi số tiền. Lúc đó tôi chỉ nghĩ trại giam hỗ trợ được đồng nào trồng rừng thì tốt. Nhưng mãi sau này tôi mới biết ông Chấn lừa tôi, trại giam không có tiền hỗ trợ gì cả”, bà Tròn bức xúc.
Đến năm 2010 tôi mới vào trong rừng thì thấy rừng bị chặt mất cây. Toàn bộ trồng cây keo. Một năm vợ chồng bà chỉ vào mấy lần nên không hề hay biết chuyện.
“Theo người dân ở đó cho biết, ông Chấn đã chặt toàn bộ số keo tôi trồng và trồng thay thế bằng cây mới. Quá bức xúc, tôi đã trực tiếp gặp thì ban đầu ông Chấn không nhận, ông ấy bảo trại giam trồng chứ không phải ông ấy trồng. Sau đó vợ chồng tôi vào gặp trưởng trại giam, và gặp người phụ trách rừng trại giam thì phía lãnh đạo trại giam cho biết, trại giam không trồng vào đất của gia đình tôi”, bà Tròn kể tiếp.
Nghe tin năm 2009, UBND huyện Hoành Bồ đo lại toàn bộ đất rừng cho dân. Sau đó bà Tròn cầm sổ rừng vào UBND xã Thống Nhất để tìm hiểu xem đất nhà bà đo ở chỗ nào.
"Đáng ra nhà tôi phải vào để nhận rừng nhưng ông Chấn không báo cho tôi biết để nhận rừng. Khi hỏi UBND xã Thống Nhất xem vị trí đất rừng nhà tôi ở chỗ nào thì phía UBND xã Thống Nhất nói nhà tôi không có tên trên bản đồ. Họ bảo về phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Hoành Bồ thì họ đối chiếu thì nói rừng không phải của nhà tôi, đất rừng đây rồi nhưng mang tên Chu Văn Thành. Lúc này mới biết đất của tôi mang tên con trai ông Chấn", bà Tròn nói.
Tại biên bản làm việc tại UBND xã Thống Nhất chiều 19/12/2013, giữa đại diện UBND xã Thống Nhất với ông Chu Văn Chấn và bà Lê Thị Tròn thì ông Chấn đã chấp thuận việc trả lại số đất lâm nghiệp số 1 trên địa bàn xã Thống Nhất và tất cả tài sản trên thửa đất số 119 cho gia đình bà Tròn.
Ngoài ra mọi chi phí như phát, đốt, cuốc hố trồng, công chăm sóc, bảo vệ… được bị trừ vào số lượng gỗ ông Chấn đã khai thác để bán trên diện tích đất rừng tái sinh của bà Tròn, gia đình bà Tròn không phải trả số tiền nào khác cho ông Chấn.
Tuy nhiên cho đên tận thời điểm hiện tại, gia đình bà Tròn vẫn chưa hề nhận được phần đất rừng và tài sản trên đất mà ông Chấn đã cam kết trong biên bản trên.
Liên quan đến sự việc, trao đổi với PV, lãnh đạo UBND huyện Hoành Bồ cho biết hiện Uỷ ban kiểm tra Tỉnh ủy tỉnh Quang Ninh đang thụ lý, xác minh giải quyết sự việc. (Dân Trí 9/9) đầu trang(
Đắk Lắk có tổng diện tích rừng trên 633.000 hecta. Trong đó rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng trong lưu vực các nhà máy thủy điện là 233.757 hecta. Năm 2013, diện tích rừng cung ứng được nghiệm thu thanh quyết toán trên 222.000 hecta.
Sau 3 năm thực hiện quyết định của Thủ tướng – Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng, Đắk Lắk đã đạt nhiều kết quả tốt giúp người dân vùng có rừng tăng thêm thu nhập và nâng cao ý thức trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vướng mắc. (RadioVN 10/9) đầu trang(
Chiều 9/9, UBND tỉnh Lâm Đồng đã sơ kết 3 năm thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Ba năm qua, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng đã thu trên 360 tỷ đồng tiền DVMTR (chủ yếu từ các cơ sở sản xuất thủy điện, nước sạch, du lịch); chi trả trên 330 tỷ đồng cho các chủ rừng và hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Chính sách chi trả DVMTR đã giải quyết sinh kế cho hơn 15.000 hộ gia đình sống gần rừng, trong đó có 80% là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vẫn còn một số diện tích cung ứng DVMTR bị mất do nạn phá rừng, cháy rừng, phức tạp nhất là khu vực rừng gần khu dân cư và vùng giáp ranh. (Sài Gòn Giải Phóng 10/9; Quân Đội Nhân Dân 10/9, tr2) đầu trang(
Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã khảo sát việc sử dụng đất, bàn giao đất, thuê đất tại Xí nghiệp chè Bãi Phủ và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Anh Sơn.
Qua khảo sát cho thấy, tổng diện tích đất tự nhiên xí nghiệp Chè Bãi phủ đang quản lý là 524,4ha; đơn vị đã khai thác, sử dụng toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thông qua giao khoán cho hơn 1.000 hộ gia đình để trồng cây chè, cây mía, ngô, đậu, lạc; đất phi nông nghiệp để làm văn phòng cơ quan, xí nghiệp chế biến chè…
Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ, hiện tổng diện tích đất rừng Ban quản lý và bảo vệ là 8.146ha; việc tổ chức và bảo vệ được thực hiện theo hình thức giao cho cán bộ, nhân viên của Ban, giao cho hộ dân và lực lượng Bộ đội Biên phòng hơn 2.630ha…
Tuy nhiên, việc quản lý và bảo vệ rừng được giao chưa thực sự phát huy được tiềm năng của rừng và đất rừng dẫn đến đời sống và thu nhập của người lao động chưa bảo đảm…
Đoàn giám sát ghi nhận thực trạng quản lý, sử dụng, bàn giao và cho thuê đất tại các đơn vị; đồng thời đề nghị huyện quan tâm, rà soát việc quản lý và sử dụng đất tại các nông, lâm trường, tổng đội thanh niên xung phong để đề xuất biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả… (Đại Biểu Nhân Dân 10/9, tr3) đầu trang(
Chiều 9/9, theo lực lượng liên ngành làm nhiệm vụ tại Trạm kiểm tra tải trọng lưu động TP Cần Thơ, lúc 6h sáng cùng ngày, lực lượng liên ngành đã tạm giữ để xử lý phương tiện là chiếc ô tô đầu kéo BKS 34M-2992, kéo theo sơ mi rơ-moóc BKS 34R-0282, do tài xế tên Vũ Đình Huy (25 tuổi, ngụ tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), chủ xe là Vũ Văn Quang (ngụ tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương), đã vi phạm lỗi chở quá khổ.
Qua xác minh ban đầu, sau khi xuất trình giấy phép lái xe và giấy tờ tùy thân, tài xế Huy cho biết, đựợc một đơn vị thuê chở 2 cây trăm cổ thụ từ tỉnh An Giang (nhưng không biết địa chỉ cụ thể) ra ngoài Bắc cho một công viên...
Hướng xử phạt của lực lượng tại Trạm cân là phạt hành chính theo lỗi quy định với số tiền 900.000 đồng, yêu cầu khắc phục lỗi vi phạm, đồng thời giữ giấy phép lái xe của tài xế 1 tháng.
Tuy nhiên điều khiến cho lực lượng ở trạm cân TP. Cần Thơ thắc mắc tại sao chiếc xe này không bị xử phạt tại các địa phương xe đã đi qua, vì vẫn chưa làm rõ được lộ trình đi của xe… (Công An Nhân Dân 10/9, tr8) đầu trang(
Chiều 9.9, thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, xác nhận các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an đang phối hợp với lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk kiểm tra nguồn gốc gỗ tại xưởng chế biến gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái (số 85 đường Y Wang, TP.Buôn Ma Thuột).
Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi cho biết ngoài Công ty Hiền Thái, lực lượng chức năng cũng kiểm tra nguồn gốc gỗ tại một số xưởng chế biến gỗ khác tại Đắk Lắk.
Trước đó, từ chiều tối 7.9, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ các lực lượng thuộc Bộ Công an đã phong tỏa xưởng gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái tại địa chỉ nói trên, 1 xưởng trên đường Mai Hắc Đế (TP.Buôn Ma Thuột) và 1 xưởng gỗ ở H.Ea Súp. Đây là các xưởng gỗ có diện tích lớn, có tường rào kiên cố bao quanh, che khuất tầm nhìn. (Thanh Niên 10/9) đầu trang(
Chiều 8/9, Tổ chức hợp tác quốc tế Đức tại Bạc Liêu (GIZ) tổ chức tập tuấn đánh giá lập địa nhằm khôi phục rừng ngập mặn Bạc Liêu. Tham dự có gần 30 học viên là cán bộ các trạm, Hạt Kiểm lâm trên địa bàn tỉnh.
Các học viên được trang bị kiến thức về phương pháp đánh giá lập địa bằng trực quan, định lượng dạng lập địa; các thao tác kỹ thuật, phương pháp đo đạc diện tích rừng, đánh giá đặc tính thổ nhưỡng, thủy triều, mực nước biển, nước ngầm; cách sử dụng máy định vị toàn cầu, bản đồ mô tả địa cầu…
Lớp tập huấn nhằm giúp cán bộ kiểm lâm tiếp cận các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại góp phần khôi phục rừng ngập mặn Bạc Liêu, thực hiện có hiệu quả các hoạt động, nhiệm vụ lâm nghiệp. (Báo Bạc Liêu 9/9) đầu trang(
Đó là già làng, cựu chiến binh Trịnh Ngọc Cự, 72 tuổi ở thôn Sản II, xã Hữu Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Ông tâm sự: “Đã có thời kì nạn chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ tràn lan khiến những cánh rừng nguyên sinh nhanh chóng biến thành đồi trọc. Mỗi khi mưa lớn, nước từ triền núi đổ về cuốn theo đất đá vùi lấp nhiều mảnh ruộng canh tác. Rừng bị tàn phá, ruộng khô cằn làm cho đời sống người dân đã thiếu thốn lại càng khó khăn hơn. Số hộ đói nghèo chiếm tới hơn 90%. Tôi luôn trăn trở tìm cách thoát nghèo. Trong “cái khó ló cái khôn”, tôi quyết định phải bám vào trồng rừng để phát triển kinh tế”.
Nghĩ là làm, đầu năm 1985, ông tìm giống keo lai về trồng. Thấy vậy, ai cũng bảo: “Ông này dở người rồi”. Có kẻ xấu còn tìm cách chặt cây mới trồng để ông nản chí. Thật may, năm 1989 Lâm trường Sơn Động cung cấp cây giống, phân bón, vận động nhân dân trồng rừng. Thấy cơ hội tốt, ông nhận đất và hăm hở cùng vợ con vác cuốc lên đồi trồng keo.
Năm 2001, gia đình tiếp tục trồng thông. Khi địa phương triển khai giao đất, giao rừng, gia đình ông nhận thêm đất và trồng dần phủ kín 50ha đồi núi trọc, gồm 17ha thông, còn lại là keo tai tượng. Nhờ trồng cây lâm nghiệp kết hợp trồng hoa màu dưới đất thấp theo hình thức “lấy ngắn nuôi dài”, gia đình ông từng bước vượt qua đói nghèo.
Thấy mô hình này đem lại hiệu quả, một số gia đình trong thôn làm theo và dần trở thành phong trào trồng rừng trên địa bàn xã, nhiều người trồng hàng chục héc-ta cây lâm nghiệp, gia đình ít cũng có vài héc-ta rừng trồng, biến vùng đồi núi toàn cỏ tranh thành những cánh rừng thông và keo tai tượng xanh tốt.
Ông Cự phấn khởi cho biết, 50ha rừng cho gia đình nguồn thu nhập đáng kể: Khai thác nhựa thông thu hơn 300 triệu đồng/năm; tiền bán gỗ keo khoảng 600 triệu đồng/năm. Nhiều gia đình khác cũng nhờ trồng rừng mà có của ăn, của để.
Không chỉ đi tiên phong trồng rừng, ông Cự còn là Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã nhiều năm liền; cùng ban lãnh đạo xã, thôn vận động đồng bào các dân tộc đoàn kết khắc phục khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từng bước đưa đời sống người dân ngày càng phát triển. (Người Cao Tuổi 9/9) đầu trang(
Ngày 01-7-2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIV) đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững giai đoạn 2011-2015. Sau ba năm triển khai thực hiện, công tác phát triển và bảo vệ rừng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng…
Qua 3 năm triển khai thực hiện có thể khẳng định Nghị quyết đã đi vào cuộc sống. Hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng của các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị chủ rừng bước đầu chuyển biến tích cực; trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền địa phương có rừng từng bước được xác định rõ ràng, cụ thể hơn.
Nhận thức về vai trò của rừng đối với đời sống xã hội và về công tác bảo vệ, phát triển rừng của các cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân được nâng lên rõ rệt. Đầu tư trồng rừng theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng; diện tích rừng trồng tăng dần qua từng năm. Rừng tự nhiên được khai thác theo phương án quản lý rừng bền vững. Công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết được tăng cường.
Bộ máy chỉ đạo quản lý ngành lâm nghiệp đã được củng cố, kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở. Một số chính sách hỗ trợ, phát triển lâm nghiệp được ban hành kịp thời; công tác lập quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển lâm nghiệp được chú trọng. Đã huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng; vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được củng cố và tăng cường.
Quyền và vai trò làm chủ của nhân dân được đề cao, vai trò lãnh đạo của Đảng trong các tổ chức lâm nghiệp được chú trọng, an ninh trật tự ở nông thôn được giữ vững... Đến cuối quý II năm 2014, đã trồng mới được 5.935 ha rừng; khoanh nuôi phục hồi 12.896 ha rừng; trồng 12,8 triệu cây phân tán; bảo tồn và phát triển 7,88 ha Sâm Ngọc Linh; khai thác 32.495,2 m3 gỗ chính phẩm... duy trì và nâng cao độ che phủ của rừng đạt 67,4%. Sự phát triển của ngành lâm nghiệp đã và đang góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, làm cho diện mạo nông thôn của tỉnh khởi sắc hơn; đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Nghị quyết vẫn còn những khó khăn và hạn chế, một số huyện ủy chưa xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết; có nơi xây dựng chương trình còn chung chung, chưa thật cụ thể và sát với tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị; công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên và hiệu quả chưa cao.
Tình trạng xâm canh, phá rừng trái pháp luật để làm nương rẫy, việc vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn xảy ra nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý dứt điểm; trách nhiệm của một số chủ rừng trong việc bảo vệ rừng tại gốc còn hạn chế; tác động của ngành lâm nghiệp đối với sự phát triển kinh tế-xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, người dân chưa thể sống và vươn lên làm giàu bằng nghề rừng; công tác trồng rừng sản xuất, trồng Sâm Ngọc Linh, nuôi dưỡng rừng, khai thác gỗ đạt tỷ lệ thấp.
Những hạn chế, thiếu sót trên có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng chủ yếu là do nguồn lực đầu tư của Nhà nước còn hạn chế; hệ thống chính sách lâm nghiệp chưa đồng bộ và chưa phù hợp với yêu cầu thực tế; việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết ở một số cấp uỷ, chính quyền địa phương và các ngành của tỉnh chưa thật sự quyết liệt, năng động; tình trạng bao che, tiếp tay của lực lượng chức năng (kiểm lâm, công an, biên phòng, chủ rừng) còn xảy ra ở một số nơi.
Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, tập trung triển khai thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 02 đã đề ra, ngày 14 tháng 8 năm 2014 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận số 1415-KL/TU yêu cầu:
Các cơ quan tham mưu giúp việc, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện ủy, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Tỉnh ủy, các sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nội dung Nghị quyết 02 và các văn bản của Trung ương, của tỉnh liên quan đến công tác bảo vệ, phát triển rừng để các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu các tổ chức, cơ quan và các tầng lớp nhân dân có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững, từ đó tập trung tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra. Đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện ở cấp mình, ngành mình.
Cấp uỷ, chính quyền các huyện, thành phố, các sở, ngành liên quan, các chủ rừng cần nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 02-NQ/TU; tăng cường công tác phối hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất. Huy động cả hệ thống chính trị (nhất là phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, trưởng thôn, già làng, người có uy tín trong cộng đồng khu dân cư) và tập trung nguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 02-NQ/TU đã đề ra.
Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các phương án của Ủy ban nhân dân tỉnh về chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2015, về giải quyết đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị chủ rừng. Tập trung xác định, khoanh vùng những khu vực trọng điểm có khả năng xảy ra tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tăng cường tổ chức lực lượng đủ mạnh để truy quét, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Có giải pháp xử lý triệt để các loại phương tiện xe độ chế, nhất là xe máy độ chế đang hoạt động lưu thông trên địa bàn; chỉ đạo điều tra, xác định đối tượng và triệt phá những đơn vị, cá nhân cầm đầu tổ chức buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Cơ quan chức năng (Bộ đội Biên phòng) tăng cường kiểm tra người và phương tiện ra vào khu vực biên giới, nhất là khu vực biên giới giáp với Vương quốc Campuchia để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm.
Xây dựng và ban hành các quy chế làm việc, quy trình công tác của các Trạm Kiểm soát liên ngành, bảo đảm tính thống nhất, kỷ luật cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sỹ. Đồng thời, quán triệt, vận động cán bộ và chiến sỹ đang công tác tại các Trạm khắc phục khó khăn, yên tâm công tác, tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Rà soát, nắm chắc số hộ thiếu đất sản xuất ở các địa phương để có giải pháp bố trí đất sản xuất cho nhân dân. Tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy để quản lý và giải quyết đất sản xuất cho nhân dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số để giảm sức ép về đất sản xuất nhằm hạn chế tình trạng người dân lấn chiếm rừng và đất rừng trái pháp luật.
Thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tăng cường đầu tư cho phát triển rừng trồng, nâng cao hiệu quả rừng sản xuất (lựa chọn loài cây phù hợp để đưa vào trồng rừng sản xuất). Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển Sâm Ngọc Linh đã được phê duyệt. Thực hiện tốt công tác khai thác gỗ theo phương án quản lý rừng bền vững tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô, khai thác tận dụng gỗ trên các công trình, dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Có kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên.
Triển khai thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty lâm nghiệp trên địa bàn theo Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị và Quyết định số 686/QĐ-TTg ngày 11-5-2014 của Thủ tướng Chính phủ. Trước mắt, thực hiện có hiệu quả Quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh (đến năm 2015 phải hoàn thành việc di dời các cơ sở chế biến lâm sản vào khu quy hoạch, kiên quyết xử lý những xưởng chế biến gỗ ngoài quy hoạch).
Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, thực hiện  tốt các các nhiệm vụ, giải pháp trên đây, tin rằng việc thực hiện nghị quyết trong thời gian tới sẽ đạt được nhiều kết quả quan trọng hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. (Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Kon Tum 8/9) đầu trang(
Tháng 8, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã thu được trên 9,1 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Trong đó thu ủy thác từ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam điều phối 9 tỷ đồng; thu dịch vụ môi trường rừng 6 tháng đầu năm từ các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng lưu vực nội tỉnh: 124 triệu 921 ngàn 880 đồng (Nhà máy thủy điện Bù Cà Mau trên 28 triệu đồng; Nhà máy thủy điện Đắk U 50 triệu đồng; Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Bình Phước trên 46,8 triệu đồng).
Theo thông tin từ quỹ, năm 2014, Bình Phước có 14 đơn vị trong, ngoài tỉnh sử dụng dịch vụ môi trường phải nộp tiền. Số tiền thu Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh nhận ủy thác từ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam và các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường nội tỉnh khoảng 14,9 tỷ đồng.
Trong đó, nguồn ủy thác thu chủ yếu từ các nhà máy thủy điện chiếm 83,3% tổng nguồn thu. Dự kiến năm 2014, có 53.003 ha rừng sẽ được chi trả tiền dịch vụ môi trường với số tiền 12,1 tỷ đồng. (Báo Bình Phước 9/9; Đại Biểu Nhân Dân 10/9, tr7) đầu trang(
UBND tỉnh đã có Quyết định phê duyệt Đề án khai thác cải tạo, trồng lại rừng, quy hoạch sản xuất nông lâm kết hợp tại lâm trường Tỉnh đội, xã Tân Tuyến, xã Cô Tô và xã Tà Đảnh (huyện Tri Tôn), tỉnh An Giang giai đoạn 2015-2020.
Mục tiêu của Đề án, gồm:
(1) Thực hiện trồng, chăm sóc rừng sản xuất tập trung là 1.073 ha giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017 và thực hiện trồng cây lâm nghiệp phân tán trên các tuyến đê bao hai khu A và B là 572,50 ha.
(2) Thực hiện trồng lại rừng ngay sau khai thác (trừ phần diện tích 250 ha đã được phê duyệt là khu đất ngập nước bảo tồn loài và sinh cảnh cấp tỉnh tại Quyết định số 677/QĐ-UBND ngày 09/5/2014 của UBND tỉnh).
(3) Thực hiện bảo vệ 1.671,50 lượt ha rừng từ năm 2015 đến năm 2020.
(4) Thực hiện 30% diện tích đất lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp, tương đương 420 ha (theo quy định tại Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg), vừa góp phần làm tăng thu nhập cho đơn vị, vừa là vùng đệm an toàn đảm bảo cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô hàng năm.
(5) Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động lâm nghiệp và phòng cháy, chữa cháy rừng: đào và nạo vét kênh; gia cố, nâng cấp đê bao; xây dựng hệ thống cống điều tiết nước; nâng cấp nhà quản lý Lâm trường; cải tạo, san lắp mặt bằng đất sản xuất nông lâm nghiệp; trang bị hệ thống bơm nước phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng.
(6) Thực hiện tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. (7) Thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu rừng trồng cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.
Tổng kinh phí thực hiện Đề án là 34,3 tỷ đồng từ nguồn vốn tự có của đơn vị nhằm để thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Bảo vệ và phát triển rừng sản xuất bền vững; nâng chất lượng rừng; duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng trên tổng diện tích vùng Đề án; chống xói mòn, sạt lở đê, bảo vệ đất sản xuất nông nghiệp, hạn chế thiên tai, tạo nguồn thủy sinh và tạo môi trường cảnh quan sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học. Góp phần nâng tỷ lệ độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 là 22,40% và ổn định đến năm 2020.
Sử dụng có hiệu quả đất rừng, xác định cây trồng phù hợp, trồng rừng bằng nhiều loài cây có giá trị kinh tế kết hợp sản xuất nông nghiệp, phát huy tính phòng hộ lâu dài, bền vững của rừng.
Phát triển rừng, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp, tận thu sản phẩm của rừng, tạo việc làm, tăng thu nhập. Phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ đem lại hiệu quả cao về kinh tế xã hội mà ít gây tác động xấu đến môi trường.
Tạo nguyên vật liệu phục vụ chế biến và xây dựng các công trình. Góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự xã hội ở địa phương. (Angiang.gov.vn 8/9) đầu trang(
Dạy cho người dân biết cách trồng rừng. Giúp thu nhập của người dân tăng lên từ 30 đến 40% so với trồng rừng tự phát. Đó là những gì mà dự án phát triển lâm Nghiệp  do Ngân hàng thế giới tài trợ vốn mang lại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở 4 tỉnh khu vực miền Trung.
Không chỉ hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp, mô hình trồng rừng của WB 3 đã giúp người dân biết cách phát triển sản xuất lâm nghiệp, chuyển diện tích đất trồng cây nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng cây lâm nghiệp sao cho hiệu quả nhất.
Cả một khu vực rộng lớn lên đến hơn 100 ha ở xã miền núi Canh Hòa, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định được phủ bởi màu xanh bạt ngàn của những rừng keo. Những chuyển tích đất  trước đây thường bỏ hoang vì không sản xuất nông nghiệp được, nay đã được chuyển đổi sang trồng rừng nguyên liệu.
Năm nay là năm thứ 7 gia đình ông Trần Văn Bình 1 trong hơn 10 hộ của xã tham gia vào dự án phát triển lâm nghiệp. Kể từ khi tham gia vào dự án này, cuộc sống gia đình anh đã có rất nhiều thay đổi.
4 tỉnh Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định được Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chọn tham gia thực hiện Dự án phát triển ngành lâm nghiệp (còn gọi là Dự án WB3).
Tổng giá trị đầu tư của dự án tương đương 75 triệu USD. Sau 9 năm triển khai, chỉ tính riêng Bình Định, hiện có hơn 7.522 hộ  tham gia  trồng hơn 13 ngàn  rừng. Người dân tham gia dự án được vay vốn lãi suất 0.6%/năm và họ còn được hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng để đạt năng suất cao.
Một con số so sánh đã được đưa ra: 1ha rừng của người dân tham gia Dự án WB3, sản lượng gỗ nguyên liệu đạt  từ 90 đến 120 tấn/ha  còn với những hộ dân nằm ngoài dự án chỉ  từ 65 đến 80 tấn/ha. Về thu nhập, sau khi trừ chi phí sản xuất, người trồng rừng còn lãi từ 60-70 triệu đồng/ha, cao hơn 30% so với diện tích rừng trồng ngoài dự án.
Năm 2015 là năm cuối cùng dự án phát triển lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới tài trợ vốn cho 4 tỉnh miền Trung sẽ khép lại. Dù không còn được hỗ trợ vốn vay nhưng với thu nhập có được trong quá trình tham gia dự án cộng với những kiến thức mà người dân tích lũy được  sẽ giúp này người dân miền Trung có thêm kinh nghiệp trồng rừng cho những năm tiếp theo để tăng thu nhập từ rừng và vươn lên làm giàu theo mô hình trồng rừng có khoa học. (VTV9 9/9) đầu trang(
6-9, tại Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi năm 2014, cụm 3.
Tham gia hội thi có 16 thí sinh là cán bộ kiểm lâm địa bàn thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Bù Gia Mập, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Đội cơ động phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 và Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng.
Các thí sinh trải qua phần thi tự giới thiệu về bản thân, công tác chuyên môn và cơ quan, đơn vị; thi kiến thức trắc nghiệm, xử lý tình huống; sáng kiến kinh nghiệm và thuyết trình hùng biện. Ban tổ chức đã trao giải nhất cho thí sinh Cao Thanh Nhã, Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng. (Báo Bình Phước 9/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Khi đang đi bộ cùng gia đình ở thung lũng Silicon, California, Mỹ thì cậu bé 6 tuổi bất ngờ bị một con sư tử lao vào tấn công.
Dù đã được cha mẹ kịp thời nhảy vào cứu nhưng cậu bé vẫn bị con sư tử gây ra những vết xước ở đầu và cổ. Ngay lập tức cậu bé đã được đưa tới bệnh viện để kiểm tra các vết thương.
Vụ tấn công xảy ra ngay đối diện nhà máy rượu ở phía tây thành phố Cupertino. Theo cảnh sát địa phương, nếu con sư tử bị bắt và các mẫu ADN của nó trùng khớp với mẫu nước bọt trên quần áo của cậu bé thì nó sẽ bị giết.
Trung úy Patrick Foy của trung tâm động vật hoạt dã cho biết: "Tôi đã nghe báo cáo về việc một cậu bé bị con sư tử tấn công. Rõ ràng nó là mói đe dọa với toàn bộ người dân trong vùng".
Trước khi xảy ra vụ việc trên, cơ quan động vật hoang dã Mỹ đã từng ghi nhận 13 trường hợp sư tử tấn công người kể từ tháng 3.1986. Các vụ tấn công trên đã làm 3 người tử vong. Hơn một nửa số sư tử ở California là sư tử núi. (Lao Động 10/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng