Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Nhiều năm qua, nguồn thu nhập từ chính sách chi trả dịch vụ rừng đã giúp cho cuộc sống của bà con DTTS ở huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu ngày một khá khấm hơn. Được lợi từ rừng nên bà con ai cũng chăm sóc rừng như nương rẫy nhà mình. Riêng năm 2013, xã Pú Đao là xã có độ che phủ rừng tốt nhất huyện đạt hơn 5.000ha.
Trưởng bản Nậm Đoong (xã Pú Đao) Giàng A Lù chia sẻ: Từ ngày nguồn thu từ chính sách chi trả dịch vụ rừng (năm 2012) tương đương với thu nhập hằng năm của bà con từ nương rẫy (7-10 triệu đồng/năm/hộ), bà con trong bản đã coi rừng như diện tích nương rẫy của nhà mình.
Anh Vừ A Lử (bản Ma Sang, xã Nậm Pì) vui vẻ cho biết: “Gia đình mình nhận được khoản tiền này từ năm 2012 là 7 triệu đồng và 2013 là 12 triệu. Nhờ có khoản tiền này mà mình dựng được chuồng trại để chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò”.
Ông Chá A Thứ - Chủ tịch xã Pú Đao chia sẻ: “Là một xã vùng cao, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm hơn 52%, thu nhập bình quân của bà con từ ngô, sắn trung bình chỉ đạt mức 10 triệu/năm thì nguồn thu từ dịch vụ rừng là một khoản tiền khá lớn đối với bà con. Vì thế, 100% các hộ dân trong xã ký cam kết bảo vệ rừng. Đều đặn hằng tháng, 4 tổ đội xung kích (mỗi tổ có từ 10-12 người) của 4 bản tổ chức đi tuần tra rừng, phát dọn cỏ dại, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi gây hại đến rừng. Nhờ đó mà diện tích rừng được bảo vệ nghiệm ngặt”.
Việc bảo vệ tốt các khu rừng phòng hộ ở Nậm Nhùn nói riêng và Lai Châu nói chung có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước cho các công trình trọng điểm của quốc gia như các Thủy điện Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình...
Ông Nguyễn Văn Triệu - Phó Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn cho hay: Toàn huyện hiện có 4.176 hộ nhận khoán bảo vệ 73.682ha rừng. Để chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mang lại hiệu quả thiết thực, từ năm 2012 đến nay, huyện đã tổ chức được 21 hội nghị tuyên truyền cấp xã cho trên 500 lượt cán bộ xã; 187 cuộc họp thôn bản cho trên 4.500 lượt hộ dân.
Ngoài ra, huyện đã xây dựng được 39 biển tuyên truyển khu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng ở các khu rừng các xã, thị trấn; phát tờ tranh tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tới các bản, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm của các hộ trong việc tuần tra, để kịp thời phát hiện và ngăn chặn mọi hành vi gây hại đến rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 9/9, tr13) đầu trang(
Những tiểu khu rừng này nằm ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Chính quyền và công an xã cho biết có 1.360ha rừng được giao cho Công ty cao su Đắk Lắk (sau đổi thành Công ty cổ phần thương mại du lịch Bản Đôn - gọi tắt là Công ty du lịch Bản Đôn) quản lý, bảo vệ và làm khu du lịch sinh thái.
Mục đích thể hiện trên giấy tờ rất kêu: nào là để quản lý bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường thiên nhiên, gắn kết với dịch vụ du lịch sinh thái và văn hóa... Thế nhưng, từ năm 2013 đến nay, nơi đây đã  trở thành địa chỉ béo bở để lâm tặc khai thác gỗ trái phép.
Chính sự buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm của Công ty du lịch Bản Đôn đã dẫn đến tình trạng này, tận diệt cả những cây gỗ non. Có vụ chúng dùng cả ôtô vào chở hàng chục mét khối gỗ ra như chốn không người. Tháng 6-2013, công an xã phát hiện khối lượng lớn gỗ bị khai thác trái phép tại khu này.
Sau một thời gian ngắn, Công an huyện Buôn Đôn bắt được nhóm đối tượng do Phạm Văn Vượng (SN 1975, trú buôn Ea Mar) và Nguyễn Thành Lam (SN 1983, ở buôn Ea Rông B - cùng xã Krông Na) cầm đầu.
Vượng khai: Được lãnh đạo Công ty du lịch Bản Đôn gọi vào các khu rừng để cắt dọn củi và cây già bị ngã đổ, Vượng đã gọi thêm nhóm của Lam vào khai thác hơn 70m3 gỗ các loại. Vượng bán gỗ cho Lam được 80 triệu đồng, sau đó lấy 20,5 triệu, còn lại nộp cho Công ty du lịch Bản Đôn. Bước đầu Công an huyện Buôn Đôn làm rõ các đối tượng khai thác và vận chuyển trót lọt, bán 37m3 gỗ chiêu liêu và gáo vàng. Để xảy ra vụ việc, Công ty du lịch Bản Đôn phải chịu trách nhiệm.
Mới đây, trung tuần tháng 8, Công an xã Krông Na phát hiện nhóm lâm tặc cắt gỗ suốt nhiều ngày tại khu vực. Sau khi khai thác hết những cây lớn, chúng chuyển sang tìm cây có đường kính gốc chỉ 15 - 30cm, gồm các loại quý như: Giáng hương, cà chít, căm xe. Có những cây dài trên 15m, lâm tặc đốn hạ chỉ lấy đoạn gốc dài từ 2 - 5m, còn lại chúng vứt bỏ vì phần này không có lõi.
Ông Y Thông Khăm Niê Kđăm - Chủ tịch UBND xã Krông Na - cho biết: "UBND tỉnh Đắk Lắk đã giao những tiểu khu này cho phía Du lịch Bản Đôn quản lý, khai thác tiềm năng mà để xảy ra tình trạng lâm tặc tàn phá thì nên bàn giao lại để Nhà nước chuyển cho cơ quan chức năng có thẩm quyền bảo vệ".
Công ty du lịch Bản Đôn buông lỏng trách nhiệm để lâm tặc khai thác theo kiểu tận diệt. Thực trạng này đã và đang gây bức xúc cho nhân dân và cán bộ xã Krông Na, đòi hỏi cơ quan kiểm lâm huyện Buôn Đôn và những đơn vị liên quan cần chung tay để ngăn chặn. (Công An TPHCM 9/9) đầu trang(
Từ những ngày cuối tháng 7 và đầu tháng 8 đến nay, tình hình ở các bãi vàng nằm dọc theo các địa phương ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên dường như đang nóng trở lại.
Đặc biệt là sau khi xuất hiện tin đồn, có một nhóm người làm vàng quê ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), trong khi đang khai thác vàng trái phép ở bãi vàng Khe Đương, nằm trên địa bàn xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang đã trúng nguyên một vỉa vàng ròng. Sau khi dùng gió đá để khò, nhóm thợ vàng này đã lấy được hàng chục ký lô vàng để mang đi bán chia nhau, mỗi người được từ vài trăm triệu đến hàng tỉ đồng…
Lần theo lời đồn có người trúng đậm vàng ở bãi Khe Đương, dân làm vàng từ nhiều địa phương không hẹn mà đã cùng nhau tìm đến Khe Đương để "đánh cược với trời" và chờ đợi tìm vận may từ trong lòng đất.
Bãi vàng Khe Đương nơi Công ty Trường Sơn (có trụ sở tại Hà Nội) được cấp phép khai thác vàng từ năm 2009 và đã hết giấy phép khai thác hồi đầu năm 2014, suốt một thời gian qua tưởng chừng như đã yên ắng, nay đã sục sôi trở lại.
PV cùng với mấy đồng nghiệp tìm đến bãi Khe Đương để tận mục sở thị cái cảnh đào bới tan hoang ở những cánh rừng thuộc Tiểu khu 27, 29 của vùng rừng Hòa Bắc. Suốt dọc con đường rất nhiều khúc quanh, đá núi gồ ghề, lởm chởm. Ở đâu, cũng thấy sự xuất hiện và đào phá của con người. Nhiều cành cây bị dân làm vàng chặt phá để sử dụng vào việc dựng lán trại, thậm chí có những điểm lửa thổi cơm vẫn còn âm ỉ cháy…
Chỉ tay về phía cánh rừng, Trung tá Nguyễn Văn Tăng - Phó trưởng Công an huyện Hòa Vang cho biết: Dân làm vàng có một đặc tính, cứ hễ nghe đồn ở đâu trúng vàng là xúm lại để bới đào, kiếm tìm. Vàng có hay không chưa biết, nhưng tình trạng lộn xộn, gây mất an ninh trật tự ở vùng núi rừng này là điều có thật. Mỗi khi như thế, PV lại thành lập đoàn liên ngành để đến kiểm tra, đẩy đuổi, tuy nhiên, khi đoàn kiểm tra rời khỏi hiện trường thì vàng tặc lại tái diễn sự lộng hành…
Ở khu vực bãi vàng Khe Đương này, dân săn vàng  chủ yếu  tận dụng những hầm vàng do Công ty Trường Sơn khai thác dang dở, họ đánh mìn, đào bới rồi sàng đãi hòng tìm chút lộc trời. Nhiều đầu nậu săn vàng cho biết: Vốn liếng đầu tư cho công việc này là không hề nhỏ, thế nhưng, có những nhóm đã nhiều tháng qua nhọc công tìm kiếm nhưng vàng đối với họ vẫn chỉ là một giấc mơ cay nghiệt. Nhiều kẻ đã lỡ phóng lao nên đành phải theo lao, nhưng cũng không ít kẻ đã ngã ngựa, đành phải từ giã rừng xanh, từ giã giấc mơ vàng…
Tiếp xúc với một nhóm thợ vàng đang làm việc ở bãi Khe Đương, PV được biết ở nơi rừng thiêng nước độc này vẫn luôn có quy luật riêng của nó. Tại bãi vàng dù lớn hay bé đều có cai đầu dài, cai đầu ngắn, có những kẻ chễm chệ với tư thế của một "đại bàng", nhưng cũng khối kẻ lầm than tự biết thân  mình như những con "chim cút".
Để tồn tại, các "đại bàng" thường thiết lập nên một hệ thống "ra đa" cảnh giới. Vì vậy, thông tin từ bãi này, bãi khác, thông tin các đoàn kiểm tra đều được cập nhật thường xuyên để họ thay đổi phương thức làm ăn và đối phó với chính quyền sở tại…
Nguyễn N., một phu vàng quê ở huyện Hòa Vang có thâm niên ở bãi vàng Khe Đương kể: Ngày ra đi với thân phận của một kẻ tọ mọ (phu) thì hơn 10 năm sau vẫn vậy, có khác chăng là ngày mới vào rừng các anh là những chàng thanh niên lực lưỡng, còn bây giờ là những xác thân cỗi cằn với nhiều thứ bệnh tật trong người.
Vừa nói, anh N. vừa chỉ tay về phía dòng nước ngầu đỏ. Các anh thấy đó, suốt ngày phải tiếp xúc với tiếng nổ đến inh tai nhức óc của mìn, rồi bụi đất đá, nguồn nước ô nhiễm. Chưa kể là vì làm vàng theo kiểu bòn mót, tận dụng nên suốt ngày phải chui nhủi trong những hầm vàng rất sâu, có khi đến cả trăm mét trong lòng đất, ẩm thấp, ngột ngạt, thiếu ánh sáng và không khí. Cũng vì vậy có không ít phu vàng xấu số đã bỏ mạng lại nơi này… và giấc mơ đổi đời mãi mãi là một giấc mơ cay nghiệt.
Theo tìm hiểu của PV, sau khi Công ty Trường Sơn không còn được phép khai thác vàng tại Khe Đương, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã có chủ trương cho Công ty Bông Sen Vàng tiếp tục đến đây để khai thác, với điều kiện Công ty Bông Sen Vàng phải trồng mới 22ha rừng.
Đến thời điểm này, các điều kiện cam kết đã được Công ty Bông Sen Vàng thực hiện, phía thành phố Đà Nẵng cũng đã đồng ý. Tuy nhiên, theo quy định mới của Luật Khoáng sản thì việc khai thác vàng ở khu vực Khe Đương phải được sự phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Hiện tại, Công ty Bông Sen Vàng chỉ cử cán bộ của mình đến Khe Đương để bảo quản số máy móc do Công ty Trường Sơn bàn giao lại. Trong khi đó, với tin đồn trúng đậm vàng tại khu vực này nên ngày càng có nhiều phu vàng không những ở Đà Nẵng, Quảng Nam mà ở nhiều địa phương khác trong cả nước vẫn đang kéo nhau về đây để tìm kiếm vận may…
Một cán bộ của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường - Công an thành phố Đà Nẵng bày tỏ với báo giới: Việc các phu vàng tập trung về bãi vàng Khe Đương, các hầm do Công ty Trường Sơn để lại, là vô cùng nguy hiểm, bởi lẽ đa số hệ thống hầm vàng này đã quá cũ kỹ, không còn hệ thống chằng chống nên nguy cơ tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Để bảo đảm tính mạng của phu vàng thì tốt nhất là phải phá hủy hệ thống hầm cũ này và ngăn cản quyết liệt không để cho phu vàng tiếp tục khai thác ở đây.
Ông Hồ Tăng Phúc - Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang cho biết, hiện nay, chính quyền địa phương vẫn đang tiếp tục phối hợp tốt với các đơn vị hữu trách để truy quét và đẩy đuổi "vàng tặc" ra khỏi khu vực rừng ở Tiểu khu 27 và 29. Tuy nhiên, lực lượng chức năng cũng chỉ có thể chốt chặn ở những huyết mạch giao thông cơ bản đi vào bãi vàng, chứ không thể chốt chặn tất cả vì lực lượng quá mỏng. Trong khi đó, từng đoàn phu vàng vẫn có thể cắt rừng để tìm đường đến Khe Đương, vì tin đồn ở đó có người trúng vàng.
Cách khu vực bãi vàng Khe Đương chừng hơn nửa ngày đi xe gắn máy, khu vực rừng núi thuộc xã Đắc Pring của huyện miền núi Nam Giang (Quảng Nam) mấy năm qua đã trở thành “chiến khu” của "vàng tặc".
Ở đó, suốt ngày đêm, các chủ bãi vàng đã cho phu vàng của mình đào, múc, cày xới không thương tiếc những cánh rừng để tìm vàng sa khoáng. Từ nhiều năm qua, những người làm vàng tàn phá những cánh rừng này, cách không xa với một đồn biên phòng, nhưng nhiều năm rồi có ai truy quét, đẩy đuổi được người làm vàng đâu? Chỉ có một khoảng thời gian ngắn mà những cánh rừng thuộc các xã Đắc Pring và Đắc Pre (thuộc phạm vi của Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh) của huyện Nam Giang (Quảng Nam) đã bị phá hoại tan tành.
Trong các năm 2012, 2013 và những tháng đầu năm 2014, Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên sông Thanh đã cùng với Hạt Kiểm lâm tổ chức hàng chục đợt truy quét, đập phá 19 máy xúc, nhiều máy nổ, tháo dỡ nhiều lán trại của những người khai thác vàng trái phép. Tuy nhiên, cứ sau những lần truy quét ấy thì vàng tặc vẫn quay trở lại để phá rừng…
Không riêng gì ở huyện Nam Giang, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay đa số các huyện miền núi đều bị vàng tặc tấn công một cách không thương tiếc. Nhiều cánh rừng ở huyện Đông Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My hiện nay đều đang chịu sự tàn phá của những đội quân khai thác vàng trái phép. Hàng ngày, người dân sinh sống gần với các bãi vàng vẫn chịu cảnh điếc tai nhức óc vì vàng tặc nổ mìn để khai thác vàng, đời sống thường nhật của họ cũng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi nguồn nước bị ô nhiễm nặng, đó là chưa kể đến hiện tượng lũ quét, lũ ống đang như chực chờ đổ ụp lên cuộc sống của họ mỗi khi mùa mưa lũ đến.
Những ngày đầu tháng 8 này, khi Tập đoàn Besra "mẹ" của Công ty vàng Bồng Miêu và Công ty vàng Phước Sơn tuyên bố đóng cửa và để lại những khoản nợ kếch sù, thì chỉ ít ngày sau, những công nhân từng làm việc tại đây đã rủ nhau đi vào rừng để làm…"vàng tặc". Để tìm kiếm vàng sa khoáng trong lòng đất đổi lấy miếng cơm manh áo mỗi ngày, những "vàng tặc" vốn dĩ trước đó là công nhân hiền lành chất phác nay trở thành những kẻ chuyên đào bới, tàn phá rừng.
Anh Nguyễn Văn T., trước đây là công nhân của Công ty vàng Bồng Miêu cho biết, không phải những người đi khai thác vàng sa khoáng trái phép trong rừng là không biết đến hậu quả khôn lường của việc chặt phá cây rừng và đào xới đất đá. Họ cũng biết sử dụng hóa chất, thậm chí là chất độc Cyanua để làm vàng là một tội ác với những người dân đang sinh sống dọc những dòng sông và vùng hạ lưu… Tuy nhiên, theo anh T. thì vạn sự tại nghèo mà ra cả. Đói là nỗi ám ảnh thường trực của những gia đình công nhân nghèo. Biết là sai, nhưng cuộc sống họ bất chấp tất cả.
Trong quá trình tác nghiệp để thu thập thông tin về thực trạng khai thác vàng trái phép ở bãi vàng Khe Đương huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) hay những bãi vàng đã trở thành truyền thống ở vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Hiện nay, ở các vùng rừng núi của các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đắk Lắk, Đắk Nông vẫn đang ngày đêm oằn mình trước sự tàn phá không thương tiếc của những kẻ khai thác vàng lậu.
Có lẽ, để hạn chế được thực trạng nhức nhối này, chúng ta cần phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về khoáng sản; kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý bất cứ ai lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tiếp tay cho việc khai thác vàng trái phép.
Tại các địa phương có bãi vàng cụ thể cũng cần phải làm rõ trách nhiệm của những đơn vị hữu trách, nghiêm túc kiểm điểm những trường hợp "bật đèn xanh" cho vàng tặc mang phương tiện, vật tư đến vùng quản lý của mình để khai thác vàng trái phép, cùng với vàng tặc ăn chia lợi nhuận để làm giàu bất chính… (Công An Nhân Dân 7/9) đầu trang(
Hà Nội có diện tích rừng khá lớn, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Mặc dù đã có nhiều chuyển biến, song công tác phát triển lâm nghiệp trên địa bàn TP vẫn còn nhiều khó khăn, phạm vi quản lý còn hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ và nâng cao giá trị của rừng.
Nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển lâm nghiệp đối với việc xây dựng vành đai xanh và giữ gìn cảnh quan sinh thái cho Thủ đô, tháng 11/2013, UBND TP đã có quyết định thành lập Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp. Hiện nay, Trung tâm được giao trực tiếp quản lý 2.095ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trên địa bàn 8 xã của huyện Sóc Sơn. Từ khi hoạt động, Trung tâm thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương các xã có rừng làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tính đến hết tháng 7/2014, trên địa bàn huyện chỉ có 6 vụ cháy rừng với diện tích 5,9ha, chủ yếu xảy ra vào tháng 1 và tháng 2. Còn trong khoảng hơn 5 tháng trở lại đây không xảy ra cháy rừng. Điều đáng nói là, mặc dù Trung tâm trực thuộc Sở NN&PTNT, có nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên toàn TP, song hiện nay quy mô hoạt động của Trung tâm mới chỉ dừng lại trên địa bàn huyện Sóc Sơn với hơn 2.000ha.
Trong khi đó, toàn TP có tới trên 24.000ha đất lâm nghiệp, phân bố ở các huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Quốc Oai, Thạch Thất. Ngoài ra, còn một hạn chế nữa là hiện nay nhiều diện tích rừng bị cháy nhiều năm chưa trồng lại được. Bên cạnh đó, phương tiện, dụng cụ phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) vừa thiếu lại vừa yếu. Trong tháng 8, trên địa bàn TP không xảy ra cháy rừng và chặt phá rừng trái phép, nhưng lại có tới 15 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Giám đốc Trung tâm Phát triển lâm nghiệp, cấu trúc rừng chưa được thiết lập ổn định, rừng Hà Nội vẫn chủ yếu là rừng trồng (thông và keo). Thêm vào đó, hệ thống đường lâm nghiệp, đường băng cản lửa, hạ cấp vật liệu cháy còn ít, thảm thực bì quá dày, cây bụi rậm rạp… nên cháy rừng luôn là nguy cơ tiềm ẩn. "Nạn cháy rừng luôn rình rập, cả trong những ngày mùa mưa" - bà Hằng chia sẻ.
Bên cạnh đó, quy hoạch rừng còn chưa phù hợp, chưa có bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, mốc ranh giới chưa rõ ràng và chưa giao đất rừng ổn định lâu dài, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác PCCCR.
Nhìn nhận một cách khách quan, những tồn tại trong hoạt động phát triển lâm nghiệp hiện nay là do trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Trung tâm đã trải qua nhiều giai đoạn sắp xếp và thay đổi nhiều cơ quan chủ quản nên bộ máy nhân sự không ổn định. Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng, đặc biệt là công tác PCCCR, lãnh đạo Trung tâm kiến nghị, TP sớm điều chỉnh quy hoạch rừng cho phù hợp với tình hình thực tế.
Đồng thời, lập bản đồ địa chính đất lâm nghiệp và đẩy nhanh tiến độ cắm mốc ranh giới rừng, giao đất, giao rừng ổn định. Ngoài ra, hướng dẫn Trung tâm xây dựng mô hình kinh tế dưới tán rừng và phát triển du lịch sinh thái.
Theo ông Chu Phú Mỹ - Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội, để phát triển lâm nghiệp cần chiến lược tổng thể, trong đó chú trọng xây dựng phương án quản lý và phân cấp rừng hiện có. Ông Mỹ yêu cầu các đơn vị liên quan của Sở NN&PTNT phối hợp chặt chẽ với Trung tâm xác định mức đơn giá để xây dựng các chương trình, dự án cụ thể, trọng tâm là bảo tồn rừng trên địa bàn TP. Việc giao khoán rừng phải xác định rõ chủ rừng tại các địa phương, tránh tình trạng buông lỏng quản lý.
Đồng thời, tổ chức tốt việc bảo vệ rừng, PCCCR, hạn chế thấp nhất cháy rừng xảy ra. Trong đó, phối hợp tốt với các đơn vị liên quan có hợp đồng chi tiết, phân rõ trách nhiệm đối với những hộ trồng rừng. (Kinh Tế & Đô Thị 8/9, tr10) đầu trang(
Để bảo đảm cho rừng tràm U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau không bị chết vì ngập úng và giữ cho người dân nuôi cá đồng không bị thiệt hại do ngập nước, sẽ có gần 500 con đập thuỷ lợi trong rừng được khai thông.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã chỉ đạo 3 huyện có rừng tràm gồm Trần Văn Thời, U Minh và Thới Bình cùng phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, các lâm trường, công ty lâm nghiệp tiến hành mở đập xả nước.
Theo đó, Chi cục Kiểm lâm quản lý, kiểm tra theo dõi diễn biến của mực nước trong rừng, khi nào nước rút bảo đảm cho rừng không bị ngập úng sẽ triển khai lực lượng đóng một phần các con đập lại, đề phòng nắng trở lại gây khô hạn.
Đối với trên 120.000 ha diện tích nuôi cá đồng trên địa bàn, tỉnh chỉ đạo các địa phương vận động các chủ hộ nuôi cá dùng đất bao bờ chung quanh, hoặc dùng lưới lỗ nhỏ ngăn không để cá đồng vượt ra ngoài và bảo đảm cho đủ nước để cá phát triển.
Rừng tràm U Minh Hạ tỉnh Cà Mau có tổng diện tích lên tới trên 70.000 ha, trong đó có gần 40.000 ha là có rừng. Ngoài trồng tràm, rừng còn là nơi sản xuất lúa sạch 2 vụ cộng với nuôi cá đồng mỗi năm cung cấp cho thị trường 30.000 tấn cá các loại. Thế nhưng vùng U Minh Hạ Cà Mau lại có những điều kiện đặc thù là mùa khô thì rừng bị cháy, mùa mưa thì bị ngập úng.
Theo ông Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, để điều hoà nguồn nước phục vụ cho cả 2 mùa, địa phương dùng cơ giới đào hàng trăm con kênh thuỷ lợi xuyên rừng, đầu kênh là những con đập.
Thông thường, tất cả các con đập đều được đóng để giữ nước nhưng khi mưa to kéo dài thì phải mở đập để xả nước vài ngày rồi phải đóng lại, gây tốn kém tiền của và công sức. (Tin Tức 9/9) đầu trang(
Theo đại diện khu quản lý giao thông đô thị số 1 (Khu 1 - thuộc Sở Giao thông vận tải TP.HCM), ba cây sọ khỉ loại 3 - cây cổ thụ bị đội trật tự đô thị quận Tân Bình đốn hạ trái phép có giá trị khoảng 32 triệu đồng.
Đối với những cây xanh loại 3, đường kính gốc trên 70cm, cao trên 12 mét thì khối lượng gỗ của ba cây cổ thụ bị đốn hạ ước tính khoảng 8m3 gỗ, với giá theo quy định là 4 triệu đồng/m3, cộng cả 3 cây trị giá khoảng 32 triệu đồng.
Cũng theo Khu 1, dự kiến sẽ sớm làm việc cụ thể với UBND Q.Tân Bình để xác định lại khối lượng gỗ và giá trị thực tế, đồng thời yêu cầu UBND quận Tân Bình phải thu hồi khối lượng gỗ (quy ra tiền) để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Trước đó, Công ty TNHH một thành viên công viên cây xanh TP phát hiện đội quản lý trật tự đô thị quận Tân Bình trong quá trình thu dọn mặt bằng cho dự án đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - vành đai ngoài đã cho đốn nhiều cây xanh trái phép, trong đó có ba cây sọ khỉ loại 3.
Số lượng gỗ của các loại cây này không được bàn giao lại cho đơn vị quản lý nhà nước mà tiến hành bán theo dạng củi. (Tuổi Trẻ 9/9, tr2) đầu trang(
8/9, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49) Công an TP HCM vừa triệt phá thành công hai vụ vận chuyển động vật hoang dã bằng đường hàng không.
Cụ thể, vào lúc 6h sáng 8/9, trong lúc làm việc tại Kho hàng quốc nội Sân bay Tân Sơn Nhất, Đội 3 thuộc Phòng PC49 phát hiện ông Nguyễn Viết Dũng (30 tuổi), thường trú huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), tạm trú huyện Bình Chánh (TP HCM) đang làm thủ tục gửi lô hàng động vật hoang dã gồm 470 con chim sáo, vẹt ra Hà Nội.
Qua kiểm tra, ông Dũng không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc lô hàng trên. Ngay sau đó, lực lượng chức năng đã lập biên bản, bàn giao toàn bộ tang vật cho lực lượng Chi cục Kiểm lâm TP HCM xử lý
Tiếp đó, vào lúc 10h sáng cùng ngày, lực lượng này tiếp tục phát hiện vụ tập kết lô hàng động vật hoang dã gồm 400 con chim cu tại bãi tập kết thuộc Kho hàng quốc nội sân bay Tân Sơn Nhất. Khi bị phát hiện, các đối tượng vận chuyển đã bỏ của chạy lấy người.
Hiện, toàn bộ số động vật hoang dã trong hai vụ tập kết trên đã được Đội 3 thuộc Phòng PC49 bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm TP HCM tiếp tục xử lý theo thẩm quyền. (Đời Sống &Pháp Luật 8/9) đầu trang(
5– 9, tại đảo Ba Mùn thuộc Vườn quốc gia Bái Tử Long (VQGBTL), trước sự chứng kiến của đại diện Cục Kiểm lâm tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân, Trạm Thú y huyện Vân Đồn, các cán bộ kiểm lâm của Vườn đã thả 127 cá thể động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên tại đảo Ba Mùn.
Các cá thể động vật bao gồm: 2 cá thể mèo rừng, tên khoa học Prinailurus (feil) bengalensis; 2 cá thể chim diều hoa Miến Điện, tên khoa học Spilornis cheela, được thả tại khoảnh 4A, tiểu khu 201; 2 cá thể rùa đầu to tên khoa học Plattyernum megacephalum; 103 cá thể rùa ba gờ, tên khoa học Malayemys subtrijuga; 18 cá thể kỳ đà vân, tên khoa học Varanus benalensis được thả tại khu vực suối Vạn Lau, suối Cao Lồ, suối Miếu Danh.
Tất cả các địa danh khu vực thả động vật hoang dã đều nằm trên đảo Ba Mùn. Việc thả các cá thể động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên trên đảo Ba Mùn góp phần tăng số lượng và tính bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bái Tử Long.
Được biết số động vật trên được Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã VQGBTL đã đưa vào chăm sóc từ tháng 7- 2014 và đây là lần thứ 2 trong năm nay các loài động vật hoang dã được Vườn quốc gia Bái Tử Long thả về môi trường tự nhiên. (Báo Quảng Ninh 6/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh cho biết: Từ đầu năm đến nay, đơn vị đã tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét tại các điểm nóng về khai thác, vận chuyển lâm sản, đồng thời tổ chức trên 40 đợt kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện, qua đó đã phát hiện 107 vụ vi phạm lâm luật, giảm 34 vụ so với cùng kỳ năm ngoái. Tịch thu 199 m3 gỗ, 11 ô tô, 9 xe gắn máy và 2 cưa xăng...
Do thường xuyên xảy ra tình trạng vi phạm lâm luật, từ đầu năm 2014 Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh được tăng cường thêm 6 cán bộ kiểm lâm cùng với sự vào cuộc quyết liệt của Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR nên tình hình khai thác gỗ trái phép đã giảm nhiều so với năm trước. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/9, tr2) đầu trang(
6-9, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 4 năm (2010-2014) thực hiện Quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa tỉnh Ninh Thuận với các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận và Khánh Hòa.
Tham dự hội nghị có ông Nguyễn Hữu Dũng, Cục Trưởng Cục Kiểm Lâm; đại diện lãnh đạo UBND, Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh nêu trên. Về phía tỉnh có ông Trần Xuân Hòa, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh dự và chủ trì Hội nghị.
Thực hiện quy chế đã ký kết, từ năm 2010 đến nay, các lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng, cơ quan chức năng các tỉnh giáp ranh đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tỉnh ta tổ chức 3.063 đợt truy quét việc khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép trên vùng rừng giáp ranh, qua đó phát hiện và xử lý 918 vụ vi phạm, tịch thu hơn 432m³ gỗ các loại, 241 mô-tô và nhiều phương tiện khác.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng (QL-BVR) được lực lượng kiểm lâm, ngành chức năng các tỉnh thường xuyên phối hợp. Đã tổ chức hơn 900 đợt tuyên truyền trong nhân dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ rừng với hơn 57.780 lượt người tham gia; tổ chức cho 1.905 hộ dân sống gần rừng và ven rừng vùng giáp ranh ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng…
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận tháo gỡ một số khó khăn trong việc thực hiện quy chế phối hợp như: công tác phối hợp giữa một số đơn vị chưa thống nhất, chậm cung cấp, trao đổi thông tin; UBND các xã vùng giáp ranh còn thụ động trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về QLBVR; lực lượng phối hợp trong công tác truy quét, truy bắt còn khá mỏng, nên công tác bảo vệ rừng chưa thật sự hiệu quả.
Phát biểu tại hội nghị, ông Trần Xuân Hòa đánh giá cao công tác phối hợp giữa các đơn vị kiểm lâm, chủ rừng các tỉnh bạn với lực lượng tỉnh ta trong thời gian qua. Thời gian tới, 4 tỉnh cần hoàn thiện quy chế phối hợp để đảm bảo công tác hỗ trợ lẫn nhau trong công tác giữ rừng. Cần có các lực lượng vũ trang tham gia với lực lượng kiểm lâm trong tổ chức truy quét, truy bắt đối tượng vi phạm; đẩy mạnh các giải pháp phát triển kinh tế để giúp các đối tượng chuyển nghề khác thì sẽ giảm được nạn phá rừng…
Tại hội nghị đã thông qua việc ký kết quy chế bổ sung và phương án phối hợp trong công tác QLBVR vùng giáp ranh giữa tỉnh Ninh Thuận và 3 tỉnh bạn. Nhân dịp này, UBND tỉnh cũng tặng bằng khen cho 1 tập thể và 3 cá nhân; Sở NN&PTNT tỉnh tặng giấy khen cho 1 tập thể và 2 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ rừng. (Báo Ninh Thuận 6/9) đầu trang(
8.9, đoàn đại biểu VN gồm ca sĩ Hồng Nhung và các nhà báo, cán bộ hải quan, nhà bảo tồn động vật hoang dã đặt chân tới Nam Phi, tìm hiểu về hậu quả của nạn tiêu thụ sừng tê giác.
Chuyến đi do Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) và Rhinose Foundation tổ chức, giúp các đại biểu trực tiếp chứng kiến những mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự tồn vong của tê giác tại Nam Phi và tìm hiểu nạn thảm sát tê giác để lấy sừng, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại một số quốc gia, trong đó có VN.
Đây là năm thứ 2, Rhinose Foundation và ENV phối hợp tổ chức chuyến thăm và làm việc cho đoàn đại biểu VN tại Nam Phi. (Thanh Niên 9/9) đầu trang(
Những chiếc đầu bò tót có nguồn gốc từ châu Phi, bò rừng Myanmar, Philipines… được bày bán công khai, lưu động trên đường phố Đà Nẵng.
Chủ hàng là một người trung niên tự xưng tên Thành, quê Nghệ An, chở gần 10 đầu bò rừng trên xe gắn máy và đi bán dạo trên các đường phố chính ở Đà Nẵng.
Thành cho biết, giá mỗi đầu bò – tùy loại, giao động từ 2,5 – 7 triệu động. Đây là những đầu bò rừng thuộc loại động vật hoang dã quý hiếm, có nguy cơ tiệt chủng trên thế giới. Thành mua lại từ đầu mối ở Hà Nội rồi chở xe máy, đi bán dạo ở các TP lớn khu vực miền Trung từ Nghệ An đến Khánh Hòa.
Tuy vậy, việc mua bán sản vật làm từ các loài động vật hoang dã này được bày bán công khai ngay trên các TP lớn mà không bị xử lý. (Lao Động 8/9) đầu trang(
Mớ đây, tại Hội trường Vườn Sưu tập Cây Gỗ Rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu (Khu BTTN BC-PB) đã tổ chức lớp tập huấn tuyên truyền pháp luật về Quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng cho 40 học viên là phụ trách tổ địa bàn dân cư và cán bộ UBND các xã có rừng Khu bảo tồn.
Trong thời gian tập huấn, báo cáo viên của Khu BTTN BC-PB đã tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừngnhư: Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03/02/2004 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ Tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng, khai thác rừng trái phép; Luật Phòng cháy, chữa cháy ngày 29/6/2001; Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Trích Điều 47 quy định về PCCC rừng); Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về Phòng cháy, chữa cháy rừng; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;…
Qua đó đã tuyên truyền và nâng cao năng lực cho người làm công tác tuyên truyền phổ biến, pháp luật trong lĩnh vực Quản lý bảo vệ rừng và Phòng cháy chữa cháy rừng và quan trọng nhất là giúp người dân nâng cao hơn nhận thức về vai trò, chức năng và giá trị của rừng, góp phần tuyên truyền làm chuyển hóa những đối tượng có các hành vi tiêu cực, giảm thiểu tệ nạn phá rừng, thay thế vào đó là các hành động thân thiện với môi trường nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên, cân bằng sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Bình Châu –Phước Bửu. (Sở NNPTNT Bà Rịa -Vũng Tàu 6/9) đầu trang(
Chiều 8.9, Phòng CSGT Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế đã bàn giao hồ sơ và số gỗ lậu bắt giữ trên 2 xe khách giường nằm cho Hạt kiểm lâm TP.Huế để xử lý theo quy định.
Trước đó, vào khoảng 20 giờ tối 7.9, tại Km 18 trên tuyến đường tránh TP.Huế (QL1A), lực lượng tuần tra CSGT đã ra hiệu dừng kiểm tra xe khách giường nằm của nhà xe Việt Hưng mang BKS 81B-004.96 chạy hướng nam - bắc, do tài xế Lê Duy Bình (41 tuổi, trú 46/16 Ngô Gia Khiêm, phường Phù Đổng, TP.Pleiku, Gia Lai) điều khiển.
Lực lượng CSGT phát hiện dưới gầm xe có chứa gỗ hương và gỗ sơn đỏ với khối lượng là 595 kg gỗ hương gốc, 247 kg gỗ hương khúc (gỗ quý nhóm I) và 349 kg gỗ sơn đỏ (nhóm IIA).
Tại thời điểm kiểm tra, tài xế Bình không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ trên nên lực lượng chức năng lập biên bản tạm giữ.
Tiếp đó, khoảng 23 giờ cùng ngày, cũng trên tuyến đường tránh TP.Huế, lực lượng CSGT Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế tiếp tục bắt giữ xe khách mang BKS: 47B-007.25 do tài xế Lương Thế Sơn (37 tuổi, trú phường Tân Lập, TP.Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) điều khiển chở theo 0,326 m3 gỗ hương ở dưới gầm và trên nóc xe nhưng không có hóa đơn chứng từ nên lập biên bản thu giữ. (Thanh Niên 8/9) đầu trang(
Sáng 6.9, lực lượng kiểm lâm Quảng Ngãi tổ chức truy đuổi, bắt giữ xe tải 82C- 014.14 do Nguyễn Thế Mỹ (ở H.Nghĩa Hành) điều khiển, chạy hướng từ H.Sơn Hà về TP.Qụảng Ngãi, trên xe chở 4m3 gỗ lậu.
Ngay sau đó, lực lượng kiểm lâm đã đưa phương tiện và số gỗ lậu trên về Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi để xử lý. (Thanh Niên 7/9, tr17) đầu trang(
Nhiều diện tích rừng thông tại 2 xã Nam Sơn và Phù Linh (huyện Sóc Sơn) bị sâu róm tàn phá đang trở thành nỗi lo lớn đối với người dân.
Đây cũng là dịch sâu róm hại thông lớn nhất trong vòng 11 năm trở lại đây trên địa bàn huyện. Nhiều ổ dịch sâu róm có mật độ dày đặc, ăn trụi lá non và lá bánh tẻ, đặc biệt, một số diện tích thông tại xã Nam Sơn bị hại nặng, trông cây như đã bị chết.
Mật độ sâu phổ biến khoảng 300 - 400 con/cây, cục bộ 1.000 con/cây. Theo thống kê, diện tích rừng thông bị sâu hại hiện đã lên tới 27ha, tập trung chủ yếu ở 2 xã Nam Sơn và Phù Linh, và đang có nguy cơ tăng nhanh.
Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội cho biết, do thời tiết nóng ẩm kéo dài, sâu róm hại thông đang ở tuổi 2 - 3 phát sinh nhanh và gây hại trên diện rộng. Khảo sát thực tế cho thấy, diện tích thông bị sâu hại chủ yếu ở tuổi 5 - 6 được trồng từ 25 - 30 năm về trước (1 cấp tuổi = 5 năm). (Nông Thôn Ngày Nay 9/9) đầu trang(
Vườn quốc gia Cát Tiên vừa tổ chức lễ khởi công công trình cải tạo xây dựng đường giao thông tuyến km 13 đến đồi Núi Tượng và tuyến đường tuần tra phòng chống cháy rừng từ trạm quản lý bảo vệ rừng Đà Cộ đến trạm quản lý rừng Đắc Lua.
Tuyến đường km13 thuộc địa phận xã Phú Lập vào đồi Núi Tượng, xã Núi tượng có chiều dài 5,5 km, mặt đường rộng 6 m được rải thảm nhựa nóng. Tuyến từ trạm quản lý bảo vệ rừng Đà Cộ đến trạm quản lý rừng Đắc Lua có chiều dài 18 km được làm bằng đất phối sỏi đỏ.
Tổng kinh phí hai tuyến đường trên hơn 63 tỷ đồng do Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Suối Hoa, Hà Nội thi công.
Hai công trình trên được đưa vào sử dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, bảo dảm môi trường sống cho động vật hoang dã, phát triển du lịch sinh thái, ổn định dân cư. (Đài PTTH Đồng Nai 7/9) đầu trang(
Chiều 8/9, tại Hà Nội, Tổng cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội thảo công bố kết quả khảo sát về “Nhận thức, thái độ và hành vi liên quan đến sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã tại Hà Nội”.
Đồng thời thông báo kết quả hoạt động “Rà soát khung pháp lý và chính sách về quản lý, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm”. Hội thảo cũng thảo luận các giải pháp nhằm kiện toàn khung pháp lý, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo tồn động vật hoang dã.
Hội thảo này năm trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học, thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam” (WLC), do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ thông qua Ngân hàng Thế giới (WB).
Theo nhận xét của ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, việc khai thác, buôn bán và tiêu thụ trái phép động vật hoang dã ở Việt Nam đang là mối quan tâm lớn của các cơ quan quản lý, cũng như các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học.
Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề khai thác và sử dụng động vật hoang dã tại Việt Nam. Tuy vậy, mới chỉ có rất ít các nghiên cứu làm rõ động cơ, cách thức tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã, cũng như vấn đề niềm tin và thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm đặc thù này.
Để góp thêm bằng chứng và kiến thức cho sự phát triển của các chính sách và giải pháp hiệu quả hơn, Viện Xã hội học đã tiến hành việc khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi liên quan tới sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã trong khu vực đô thị Hà Nội.
Dựa trên cả 2 phương pháp định lượng và định tính, dữ liệu từ cuộc khảo sát trên 1.000 người trong độ tuổi từ 20 đến 69. Nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi liên quan đến việc sử dụng các loại thực phẩm, dược phẩm và các đồ trang trí được làm từ động vật hoang dã, xu hướng của họ và liên quan đến một số yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, văn hóa, xã hội và pháp lý.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng và tiêu thụ sản phẩm động vật hoang dã là hiện tượng tương đối phổ biến trong nhóm tuổi từ 20-69 trong khu vực đô thị Hà Nội. Tỷ lệ người trả lời đã từng sử dụng các loại thực phẩm, làm thuốc và đồ trang trí từ động vật hoang dã tương ứng 69%, 67% và gần 12%.
Nếu tính trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, tỷ lệ người trả lời sử dụng thực phẩm, thuốc và đồ trang trí làm từ động vật hoang dã tương ứng 25%, 26% và 6%; với tần suất sử dụng trung bình khoảng 2,7 lần đối với thực phẩm và 25 lần đối với thuốc chữa bệnh.
Phân tích dưới góc độ nhân khẩu học, nam giới có tỷ lệ sử dụng thực phẩm động vật hoang dã cao hơn nữ giới, nhưng lại ít có khả năng sử dụng đồ trang trí từ động vật hoang dã. Đối với sản phẩm thuốc thì tỷ lệ sử dụng theo giới tính không có sự chênh lệnh lớn. Nữ giới chủ yếu dùng các loại cao và bài thuốc đông y. Còn nam giới thường xuyên uống các loại rượu ngâm và coi đó là thuốc tăng cường sức khỏe.
Nghiên cứu cũng cho thấy việc tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã đã trở nên bình dân hơn, chứ không còn để thể hiện “đẳng cấp,” địa vị xã hội. Người làm việc trong khu vực nhà nước, liên doanh là 2 trong số các nhóm có xác suất sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã nhất. Tuy vậy, những người kinh doanh, buôn bán nhỏ và người cao tuổi, nghỉ hưu lại chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm đã sử dụng sản phẩm động vật hoang dã.
Trong số những người đã sử dụng thực phẩm từ động vật hoang dã, có 64% nói rằng họ sử dụng vì được mời, hoặc được cho, biếu. Trên 34% người trả lời nói do “mới lạ” chính là lý do họ sử dụng, chỉ có 8% tin rằng những thực phẩm này là thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ nói họ sử dụng các loại thực phẩm từ động vật hoang dã là để chữa bệnh, hay vì nó là “mốt thời thượng”.
Đối với sản phẩm thuốc, “mục tiêu chữa bệnh,” “bồi bổ sức khỏe,” “do được biếu, được mời” là 3 lý do chính của việc sử dụng loại sản phẩm này. Tương ứng với 71%, 27% và 21%.
Kết quả khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi liên quan tới sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã trong khu vực đô thị Hà Nội cho thấy: hành vi tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã phục vụ cho nhu cầu ăn uống, chữa bệnh, trang trí ở địa bàn Hà Nội là khá phổ biến.
Vì vậy, chiến lược cơ bản để ngăn chặn có hiệu quả tình trạng này là tập trung đẩy mạnh truyền thông, nhằm thay đổi nhận thức hành vi cùng với việc tăng cường thực thi nghiêm minh các quy định của pháp luật, liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã.
Trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học, thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam,” Trung tâm Nghiên cứu pháp luật và chính sách phát triển bền vững-một tổ chức nghiên cứu pháp luật và chính sách độc lập, đã tham gia là đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn cho gói thầu “Rà soát văn bản luật, chuẩn bị báo cáo kỹ thuật trong đó xác định các công cụ pháp lý và đề xuất sửa đổi bổ sung về quản lý và kiểm soát hoạt động buôn bán, gây nuôi, xử lý vi phạm, tang vật, cứu hộ, cứu thả… các loài động vật hoang dã nguy cấp”.
Báo cáo đã nêu ra những hạn chế, bất cập của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về quản lý, kiểm soát hoạt động buôn bán, gây nuôi, xử lý vi phạm, cứu hộ tái thả động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm. Cũng như kết quả việc rà soát thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý và kiểm soát hoạt động này. Qua đó đã đề xuất, khuyến nghị các công cụ pháp lý để kiện toàn hệ thống chính sách, pháp luật.
Cụ thể là tăng cường xây dựng và thực thi chính sách chung về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; trong đó công tác tuyên truyền không tiêu thụ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm và sản phẩm của chúng phải là giải pháp ưu tiên hàng đầu trong xây dựng chính sách về quản lý bảo tồn động vật hoang dã.
Đối với việc khai thác, tiêu thụ buôn bán động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Trước hết cần xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát, bảo vệ động vật, thực vật hoang dã cho 5 năm tới (2015-2020).
Không khuyến khích việc gây nuôi hoặc khuyến khích thêm cho tình trạng tiêu thụ động vật hoang dã, không tính đến đem lại lợi ích nào cho công tác bảo tồn cũng không tăng cường công tác bảo tồn các loài động vật trong tự nhiên mà nhằm mục đích lợi nhuận. Cần có cơ chế tài chính để các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại đóng góp cho việc bảo tồn động vật hoang dã.
Mặt khác, ban hành quy định mới để xóa bỏ việc căn cứ vào giá trị động vật hoang dã làm cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; đồng thời tăng cường hợp tác giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc quản lý, kiểm soát nhu cầu tiêu thụ, sử dụng động vật hoang dã nguy cấp trong y học cổ truyền. Đặc biệt là việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng động vật hoang dã nguy cấp trong nghiên cứu, bào chế thuốc.
Tăng cường hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật điều chính trực tiếp về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; trong đó cần tính đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Đa dạng sinh học để làm rõ phạm vi điều chỉnh, khắc phục những trùng lắp, chồng chéo liên quan đến quản lý động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm trong danh mục được ưu tiên bảo vệ.
Đặc biệt là các quy định liên quan đến quy hoạch đa dạng sinh học, quản lý các cơ sở bảo tồn (bao gồm cả cơ sở gây nuôi, cơ sở cứu hộ); quản lý các khu bảo tồn đa dạng sinh học với hệ thống rừng đặc dụng, phân định thẩm quyền của các thể chế quản lý Nhà nước; nhất là giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Ông Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học cho biết: “Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù phần lớn người dân cho rằng các sản phẩm từ động vật hoang dã có giá thành đắt, thậm chí rất đắt nhưng họ vẫn muốn sử dụng các sản phẩm này vì họ tin tưởng vào hiệu quả của chúng.
Hành vi sử dụng động vật hoang dã hầu hết là tự phát, ví dụ như được cho, tặng, biếu hoặc được bạn bè, người thân mời. Một trong các phát hiện đáng lo ngại từ cuộc khảo sát là một số lượng lớn người được hỏi nói rằng họ sẽ sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã nếu có cơ hội hoặc nếu họ thấy cần thiết trong tương lai”.(VietnamPlus 8/9; Hải Quan 9/9) đầu trang(
5.9, Ban quản lý Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát tổ chức hội thi Tìm hiểu về đa dạng sinh học năm 2014, với sự tham gia của 3 đội đến từ các trường THCS Tân Lập, THCS Thiện Ngôn và THCS Nguyễn Khuyến.
Các đội dự thi 2 phần, gồm: hái hoa dân chủ tìm hiểu về Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, những hiểu biết về đa dạng sinh học VQG Lò Gò - Xa Mát; phần thi thiết kế thời trang, sử dụng các sản phẩm sẵn có từ thiên nhiên, môi trường để sáng tạo nên những trang phục có ý nghĩa, khuyến cáo mọi người cùng chung tay góp sức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường xanh, sạch, đẹp.
Hội thi cũng đã dành nhiều thời gian để giải đáp thắc mắc cho cổ động viên đến từ các đội trong việc tìm hiểu về đa dạng sinh học và tài nguyên môi trường VQG Lò Gò – Xa Mát, qua đó trang bị kiến thức về môi trường, đa dạng sinh học cho học sinh, làm cơ sở cho việc tuyên truyền về tầm quan trọng trong việc bảo vệ tính đa dạng sinh học tại VQG Lò Gò – Xa Mát.
Kết quả, đội đến từ Trường THCS Thiện Ngôn đạt giải nhất hội thi. (Báo Tây Ninh 6/9) đầu trang(
Lần đầu tiên, giới khoa học ghi nhận sự hiện diện của loài ếch cây mới ở Việt Nam, vốn trước đây chúng chỉ được tìm thấy ở Lào.
Loài mới có tên khoa học Philautus petilus Stuart and Heatwole, 2004 thuộc họ ếch cây Rhacophoridae. Mẫu vật của loài được các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản thu được tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Sau khi phân tích và đối chiếu bằng hình thái và sinh học phân tử trên ba mẫu vật thu được, nhóm khoa học thấy chúng có đặc điểm giống với loài từng ghi nhận phân bố ở Lào.
Theo Vncreatures, loài này có kích thước nhỏ, cơ thể thon dài; các cá thể được ghi nhận có màu nâu nhạt với các vệt đen mảnh trên mặt lưng và hai bên của đầu và thân có mầu nâu sẫm.
Theo các chuyên gia, việc phát hiện loài ếch nhái hiếm gặp góp phần nâng cao giá trị đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên ở Điện Biên, nơi ít được khảo sát nghiên cứu. (VnExpress 6/9) đầu trang(
Trong quá trình điều tra, PV ghi nhận chính những người được giao trách nhiệm bảo vệ rừng lại đang tiếp tay cho việc buôn bán, tận diệt thú rừng.
Đó là một thực tế đau lòng. Từ phố đến rừng, thú rừng vẫn đang bị mua bán tràn lan, đang bị tận diệt. (Tuổi Trẻ 8/9) đầu trang(
Nói về sự tàn phá rừng có nhà khoa học phát biểu: “Những gì con người làm ra không bằng những cái đã phá đi… Rừng nuôi nổi con người nhưng không kham nổi lòng tham của họ”.
Trong những việc ta làm có cái đúng cái sai, nên bắt tay vào việc thường phải cân nhắc kỹ, riêng việc trồng cây bảo vệ rừng thì không cần đắn đo suy nghĩ. Bác Hồ thích tự tay trồng và chăm sóc cây quanh nhà. Trong kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc, Người phát động thi đua tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp. Hòa bình về Hà Nội được 2 năm, Bác khởi xướng phong trào “Tết trồng cây”. Bây giờ đi trên đường, đến bìa rừng nào cũng có biển đề lời Bác: “Rừng là vàng biển là bạc, nếu chúng ta biết bảo vệ thì rừng rất quí”.
Bác nói giản dị vậy, nhưng vấn đề là làm, phải làm. Tốt nghiệp thủ khoa Trường Đại học Lâm nghiệp, Lê Văn Hương quyết định đến với rừng. Biết anh xin về công tác ở Lâm Đồng bạn bè có vẻ tiếc. Sao không xin về Bộ về Viện hoặc ở lại trường? Đúng, người đời thường nghĩ vậy, công việc thuận lợi, học hàm học vị chờ sẵn. Hương lại nghĩ khác, trước anh đã có bao nhiêu thủ khoa, thần đồng, nay đâu cả rồi. Nghiên cứu lâm nghiệp mà đứng nhìn rừng cháy thì có nghĩa lý gì. Còn rừng còn cây thì còn đề tài, còn tiến sĩ, hết cây hết rừng là hết. Phải giữ lấy rừng đã!
Anh đau xót nghe báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam: “Trong hơn 50 năm, độ che phủ rừng giảm từ 43% xuống còn 28% diện tích cả nước. Độ che phủ của rừng phòng hộ chỉ còn 20%. Bốn trăm ngàn hộ du canh du cư đang tiếp tục phá  rừng”.
Ở Lâm Đồng, 20 năm trước, từ Đà Lạt về thành phố Hồ Chí Minh có tới 3 cái barie (Di Linh, Bảo Lộc, Madagui) khám xét xe đò, bắt bớ từng ký trà, cà phê do bà con tự sản xuất ra. Sao không đặt những barie này ở cửa rừng để bắt những kẻ đốt phá hạ cây? Những năm ấy, đi ban đêm thấy rừng cháy là chuyện thường. Sức ép di dân và ý thức của con người cùng đời sống khó khăn là thách thức đối với sự tồn tại của rừng.
Năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ra quyết định rừng Bidoup - Núi Bà là rừng đầu nguồn, phải giữ cho kỳ được. Sở Lâm nghiệp điều kỹ sư Lê Văn Hương về làm giám đốc.
Hương nghĩ: Sống ở rừng mà không được đụng đến rừng thì đói là cái chắc - “Bần cùng sinh đạo tặc”. Ai cũng hiểu không còn rừng thì chết, nhưng chưa chết ngay, thành thử cứ bụng đói làm liều. Bảo vệ rừng là một bài toán khó. Đặt 3 trạm kiểm lâm ở bìa rừng thì cả ba đều bị phá, lâm tặc hành hung cán bộ kiểm lâm như cơm bữa. Lâm tặc thì cũng là dân thôi, không lẽ mỗi lúc đưa ra tòa, bỏ tù. Hôm nay họ là kẻ phá rừng thật, nhưng ngày mai chính họ lại là người trồng rừng. Vấn đề là đường lối chính sách. Vừa hay chương trình giao đất giao rừng được triển khai. Dân là gốc, là rễ, ý Đảng lòng dân gặp nhau thì việc gì cũng làm được, “khó trăm lần dân liệu cũng xong” mà.
Ngày ở trường, thí nghiệm trồng giống cây mới thầy giáo nói với anh: “Khi nhà nước bảo cây ấy không trồng được thì chưa chắc, vẫn có thể trồng được. Nhưng nếu nhân dân bảo không trồng được thì chớ có trồng. Người nông dân Việt Nam tài lắm, hôm trước ta đến phổ biến cho họ, hôm sau về họ dạy lại ta”. Hương không coi 1.420 hộ dân sinh sống ở rừng đầu nguồn này là kẻ phá rừng, biến họ thành người bảo vệ rừng là việc của anh. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Bác Hồ đã dạy.
Khu vực rừng thông nguyên sinh Bidoup - Núi Bà 70 ngàn hecta, ở độ cao trên 2.000m, là nơi điều tiết nước của 2 con sông lớn Đồng Nai và Serepok, mang ý nghĩa sống còn đối với Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Chỉ cách Đà Lạt 35km thôi, ở phía đông bắc, Bidoup - Núi Bà tạo một khí hậu mát mẻ, giàu dưỡng khí. Đây là nơi cư ngụ của trên 2.000 loài thực vật và 500 loài động vật, nhiều trong số đó (96 loài thực vật) là những loài đặc hữu, nghĩa là trên hành tinh ta đang sống chỉ ở đây mới có.
Tất cả đang trong tay kỹ sư Lê Văn Hương. Không đi theo con đường của những địa phương khác, là đòi súng ống, vũ trang lực lượng kiểm lâm mà dùng kinh tế, văn hóa mới bền vững. 1.420 hộ dân bản địa được giao rừng. Nhà nhận mươi, mười lăm hecta, hộ thì ba, bốn mươi, có khi năm, sáu mươi hecta, tùy khu vực sinh sống và khả năng của họ.
Mỗi hecta chăm sóc, bảo vệ được nhận 50 ngàn đồng tiền công 1 năm. Có nhà năm thu 3, 4 chục triệu, hỏi bao nhiêu tấn lúa? Ở rừng làm gì ra. Giữ rừng được tiền dại gì phá. Khi nhận tiền có 2 cuốn sổ, 1 lưu ở ban quản lý rừng, 1 trong tay người chăm sóc, điểm chỉ vào chứ không ký (!), rất chính xác, minh bạch. Giờ có 22 tổ bảo vệ rừng, mỗi tổ khoảng 10 tổ viên, ngày đêm đi tuần tra, xảy ra sự cố khu vực nào thì xúm vào giải quyết, nhưng nhàn hơn trước nhiều.
Dân không hành hung kiểm lâm nữa, mà ngày tết hoặc có đám cưới, đám giỗ còn mời về gia đình chung vui. Mười năm trước, mỗi năm trung bình 500 vụ cháy rừng thì giờ còn 10 vụ. Từ chỗ kiểm lâm lo dân phá rừng, nay rừng là vườn của họ, nên chẳng những bảo vệ mà còn ngăn chặn một số cán bộ kiểm lâm làm bậy hoặc có ý định làm bậy. Cũng vì thế kiểm lâm Bidoup - Núi Bà từ chối không nhận súng. Thú vị chưa!
Yên tâm dân no rồi, bây giờ cả cộng đồng phải hiểu biết để bảo vệ rừng hiệu quả hơn, Hương xây dựng Trung tâm giáo dục môi trường với rất nhiều hình thức phong phú. Cử cán bộ trồng rừng sang Nhật nâng cao trình độ, ưu tiên cấp dưới, con em đồng bào dân tộc trực tiếp bảo vệ rừng.
Từ 2005, rừng đầu nguồn Bidoup - Núi Bà được nhà nước nâng cấp thành vườn quốc gia, một phần nhờ công sức thuyết phục của anh trên cơ sở luận cứ khoa học. Lấy rừng nuôi rừng, anh mở dịch vụ du lịch, tổ chức 3 tour dạo chơi, thư giãn ngắm cảnh. Rừng đẹp khách đến, đổ tiền vào. Rừng giàu, phong phú, đa dạng thì các nhà khoa học tìm đến đầu tư nghiên cứu. Rừng đẻ ra các dự án khả thi của nhiều công ty lớn trong và ngoài nước.
Không đụng đến đất rừng, anh xây dựng cơ sở nuôi cấy mô, sản xuất Lan Gấm bán cho Nhật Bản 5 triệu đồng/1kg tươi. Rừng cứ để đấy, chỉ cần ta đừng can thiệp vào, làm phiền nó, hàng ngày nó vẫn hút khí cacbonic nhả oxi, nuôi dưỡng nguồn nước và sinh sôi rất nhiều tiền. Khai thác rừng trước đây là bóc lột, vắt kiệt rừng đến chết, nay thì trong tay Lê Văn Hương nó giàu lên, đẹp ra, mời gọi thiên hạ đến đổ tiền vào chiêm ngưỡng, cộng tác làm ăn.
Công việc được giao bắt Lê Văn Hương phải tự học nâng cao trình độ, anh đã đóng góp vào việc phân loại cây rừng ở đây và phát hiện một loài đỗ quyên mới mang tên khoa học “Huong Giana”. Còn có công trình khoa học về bảo vệ rừng đăng trên tạp chí có uy tín trên thế giới, được đánh giá cao, hiếm lắm mới thấy tác giả Việt Nam xuất hiện.
Chuyên gia lâm nghiệp nước ngoài đọc được bèn tìm gặp để mời anh làm chuyên gia cho họ. Công trình khoa học thì nhiều, song anh thu xếp cho cấp dưới đi làm luận án tiến sĩ trước, còn mình vẫn là một thạc sĩ bình thường suốt ngày túi bụi với công việc quản lý. “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, Lê Văn Hương không tâm niệm suông lời Bác mà làm theo lời Bác. (Báo Lâm Đồng 8/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sống ở rừng, không có đất lâm nghiệp, đó là thực trạng khá phố biến từ hàng chục năm nay tại 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí của xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang.
2 thôn Tà Lang, Giàn Bí thuộc xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang có 223 hộ với 776 nhân khẩu, trong đó hơn 90% là người Cơ Tu. Bao đời nay, người dân 2 thôn này lấy rừng làm kế mưu sinh, bởi nơi họ sinh sống không hề có đất canh tác.
Đó là thực trạng khá phố biến từ hàng chục năm nay tại 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí của xã Hòa Bắc. Cùng theo đó, cả 2 thôn không hề có 1 ha đất lúa, đất màu. Bất đắc dĩ, để mưu sinh họ phải kéo nhau đi làm thuê cho các hộ có rừng trồng ở khu vực này hoặc vào rừng rút mây, lấy đót, chặt củi bán kiếm tiền. Từ đó mà cái đói, cái nghèo không chịu buông tha hàng trăm gia đình ở 2 thôn đồng bào Cơ Tu này.
Ông Đinh Văn Như, Bí thư chi bộ thôn Giàn Bí cho rằng, ở miền núi không đất canh tác, phát triển kinh tế hiệu quả và bền vững nhất chỉ có thể là trồng cây lấy gỗ, nhất là cây keo lai. Thế nhưng, số hộ có đất rừng không nhiều, mà nếu có đều ở khu vực bình độ cao, đất đai cằn cỗi, khó vận chuyển lâm sản mỗi khi thu hoạch.
Trong khi đó, đất lâm nghiệp trong khu vực khá bằng phẳng và màu mỡ, sát thôn đều do Lâm trường Sông Nam (trước đây) nay giao lại cho Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa, quản lý. Không còn cách nào khác, để có thu nhập ai nấy phải làm thuê khi thì phát dọn thực bì, khi thì trồng cây, thu hoạch gỗ cho số hộ có rừng trồng tại địa bàn. Một số người đánh liều vào rừng chặt gỗ bán kiếm tiền đong gạo.
Ông Trần Văn Thời, nguyên trưởng thôn Tà Lang cho biết: Cách đây hơn 20 năm, bà con thôn Tà Lang, định cư ở phía tây đèo Mũi Trâu. Dạo đó, nhà nào cũng làm nhiều nương rẫy nên lương thực không thiếu. Chỉ có điều, xa xôi cách trở, việc học hành của con em và chữa bệnh cho người dân gặp nhiều khó khăn.
Đầu những năm 90 thế kỷ trước, dịch sốt rét ập tới, chỉ thời gian ngắn, cả thôn có 6- 7 người tử vong, chính quyền địa phương phải di chuyển khẩn cấp bà con về định cư tại thôn Tà Lang hiện nay. Về trong này, có điện, đường, trường, trạm, song sản xuất gặp không ít khó khăn do không có đất canh tác, làm nương rẫy không còn thuận lợi như trước.
Từ đó mà đời sống mỗi nhà liên tục lâm vào cảnh túng thiếu, nhiều năm phải nhận gạo trợ cấp của trên. Thực ra, trước đây ở phía tây đèo Mũi Trâu, làm nhiều nương rẫy, song ai nấy đều có ý thức bảo vệ rừng. Trước khi rời khỏi nơi đó, rừng vẫn bạt ngàn, cơ man nào là gỗ quý. Thế mà nay, rừng tan hoang đến thảm hại.
Trước thực trạng hàng trăm hộ đồng bào Cơ Tu ở 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí không có đất lâm nghiệp để phát triển kinh tế rừng, ngày 6/8/2014, UBND xã Hòa Bắc đã có báo cáo số 48/BC- UBND gửi UBND huyện Hòa Vang đề nghị thu hồi bớt đất lâm nghiệp do Công ty CP Vinafor và Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa quản lý giao lại cho từng hộ dân.
Ngoài ra, UBND xã Hòa Bắc cũng kiến nghị huyện Hòa Vang đề xuất TP Đà Nẵng giao lại 56 ha đất trồng màu và 755 ha đất lâm nghiệp do bà con 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí quản lý trước đây nhưng đã bị thu hồi giao cho Dự án Thủy điện Sông Nam- Sông Bắc, để bà con tiếp tục sản xuất.
Được biết, từ kiến nghị hợp tình hợp lý của chính quyền xã Hòa Bắc, UBND huyện Hòa Vang cũng đã có văn bản đề nghị thành phố thu hồi toàn bộ diện tích rừng do Công ty CP Vinafor quản lý giao lại cho địa phương, để huyện lập thủ tục giao cho từng hộ dân phát triển kinh tế rừng.
Đời sống của hơn 220 hộ dân 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí đang khó khăn do họ không có đất canh tác, đất lâm nghiệp quá ít ỏi, một số ngành nghề đã triển khai đều không khả thi. Họ đang mong chính quyền các cấp ở Đà Nẵng sớm tìm ra giải pháp. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/9, tr20) đầu trang(
Nhiều hộ dân nhận giao khoán đất rừng tại xã Khánh Thuận (huyện U Minh, Cà Mau) bị Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm cắt phân nửa diện tích đất giao cho cán bộ. Khiếu nại của người dân kéo dài “hai thế kỷ”, chưa được giải quyết dứt điểm.
Lão nông Nguyễn Văn Quang (người dân sống cố cựu nhận giao khoán tại LNT Sông Trẹm - nay thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ) chỉ tay về khu đất bị cắt để cấp giao cho người khác, ngậm ngùi nói: “Phần đất này trước đây là của gia đình tôi, LNT Sông Trẹm cắt giao cho ông Năm Hồng (Phạm Minh Hồng), nguyên trưởng phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) huyện Thới Bình.
Từ khi được giao đất ông Hồng không trông coi gì, nhưng khi cây lớn thì vào khai thác. Phần đất ông Hồng khai thác ba năm nay mà chưa trồng lại rừng. Trong khi đó, nếu dân chúng tôi khai thác nhưng không trồng lại thì bị phạt, bị hoạnh họe đủ điều”.
Tương tự, 73 hộ dân khác ở ấp 19, 20 và 21 (xã Khánh Thuận) cũng bị LNT Sông Trẹm lấy đất giao cho cán bộ. Theo các hộ dân, từ năm 1991 người dân bắt đầu nhận khoán đất rừng tại LNT Sông Trẹm.
Phần lớn dân nhận đất giao khoán có chiều dài 1.000m, chiều ngang khoảng 90m (diện tích khoảng 9ha). Người dân sản xuất đến năm 1993 thì được LNT Sông Trẹm làm sổ hợp đồng giao khoán đất cho dân, thời hạn 20 năm.
Đến khoảng năm 1996, LNT Sông Trẹm đưa phương tiện vào múc ngang phần đất của dân đang sử dụng và cắt lấy hậu đất 500m (tương đương 50% diện tích). Khi cắt lấy đất, LNT Sông Trẹm không bồi hoàn, người dân khiếu nại thì không được giải quyết, sự việc kéo dài đến nay.
Đáng nói hơn, trong khi đất của dân bị teo tóp, còn cán bộ lại được cấp đất với diện tích lớn gấp 10 diện tích đất của người dân. Cụ thể, theo kết luận Thanh tra tỉnh Cà Mau, ông Phạm Minh Hồng (nguyên trưởng phòng NN&PTNT huyện Thới Bình) được cấp đến 42ha, trong khi đó dân ở vùng này trung bình chỉ được cấp 4ha.
Nhiều cán bộ khi nhận đất không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính, thời gian hợp đồng hết từ năm 2011, nhưng đến nay Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ vẫn không thanh lý hợp đồng.
Đem những bức xúc của dân trao đổi với ông Nguyễn Phương Nam - phó giám đốc Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ - ông Nam thừa nhận thời điểm năm 1995-1996, LNT Sông Trẹm có cắt đất của các hộ dân ở các ấp 19, 20, 21 để liên doanh, liên kết và giao khoán lại cho một số tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài LNT Sông Trẹm.
Lý do là các hộ dân tại khu vực này quản lý bảo vệ rừng không chặt chẽ, để xảy ra mất rừng, cháy rừng. Việc cắt đất của các hộ dân từ 1.000m xuống còn 500m, LNT Sông Trẹm có họp dân và được sự đồng thuận của người dân.
Tuy nhiên, khi hỏi dựa vào đâu mà công ty cho rằng có sự đồng thuận của người dân, ông Nam nói: “Do thời gian qua quá lâu, biên bản họp dân đã thất lạc”. Ông Nam còn cho biết việc LNT Sông Trẹm cắt đất của các hộ dân để liên doanh, liên kết là do xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị, không có chủ trương của cấp trên và không có phương án được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Gần đây, nhiều người dân sống trong các lâm phần Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ lại bức xúc trước việc ông Trần Văn Hiếu (giám đốc) lấy đất quốc doanh để ký hợp đồng, hợp tác đầu tư với người thân trong gia đình và những người thân tín khác.
Theo tìm hiểu, ngày 19-3-2012, UBND tỉnh Cà Mau có công văn về việc đầu tư trồng rừng nguyên liệu tại Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ. Trong công văn ghi rõ: “Đối với các hộ liên doanh, liên kết trồng rừng với công ty nhưng hết hạn hợp đồng, đề nghị công ty tiếp tục xem xét để ký kết hợp đồng hợp tác đầu tư đối với những hộ có nhu cầu, có năng lực và chấp hành tốt quy định của Nhà nước về trồng rừng và quản lý, bảo vệ rừng”. Tuy nhiên, trên thực tế ông Hiếu không chấp hành đúng theo chỉ đạo của UBND tỉnh mà ưu ái cho... người nhà hay người quen.
Bức xúc, người dân tố cáo việc làm của ông Hiếu đến cơ quan chức năng. Sau khi xác minh, Thanh tra tỉnh Cà Mau kết luận: Dân tố cáo đúng. Cụ thể, ông Hiếu ký hợp đồng hợp tác đầu tư trồng rừng với em ruột mình là ông Trần Quang Vinh.
Ngoài ra, ông Huỳnh Hải Đăng (nhân viên công ty), ông Lương Tấn Đạt (tài xế) và bà Trần Mộng Sương (thủ quỹ) cũng được ông Hiếu ký hợp đồng, hợp tác đầu tư trồng rừng. Tất cả những người này đều không ai có hợp đồng liên doanh, liên kết với công ty trước đây.
Theo Thanh tra tỉnh Cà Mau, việc làm của LNT Sông Trẹm không đúng pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân, dẫn đến khiếu nại, tố cáo phức tạp và gay gắt. Thanh tra tỉnh Cà Mau yêu cầu Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ tính toán hợp lý để bồi thường cho các hộ dân.
Đồng thời tiến hành thanh lý các hợp đồng mà LNT Sông Trẹm giao khoán vượt hạn mức, sai đối tượng; những phần đất liên doanh, liên kết không đảm bảo theo quy định quản lý bảo vệ rừng thì thanh lý khi hết hạn, rồi giao khoán hoặc hợp tác đầu tư theo hướng ưu tiên cho các hộ dân bị cắt đất trước đây. (Tuổi Trẻ 9/9) đầu trang(
Tây Nguyên hiện có 56 lâm trường đã chuyển đổi thành Cty TNHH MTV Lâm nghiệp (gọi tắt là Cty lâm nghiệp) với diện tích đất lâm nghiệp quản lý là hơn 998 nghìn ha đất. Sau 10 năm chuyển đổi, các Cty lâm nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ nặng nề.
Nhân viên bảo vệ rừng vừa thiếu, vừa yếu, gặp lâm tặc hung tợn... thì bỏ chạy. Tình trạng nợ lương nhân viên kéo dài gây tâm lý hoang mang... Có trường hợp, giám đốc Cty chủ động viết đơn xin rời khỏi "con tàu đắm".
Tại Đắc Lắc, 15 lâm trường đã chuyển đổi thành Cty lâm nghiệp với tổng diện tích rừng và đất rừng đang quản lý là 196.523ha. Theo ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Đắc Lắc, trong số 15 Cty nói trên hiện chỉ có 3 Cty "cầm cự" được, những Cty còn lại đều rơi vào tình cảnh "sống dở chết dở".
Tại những Cty này, chỉ tiêu khai thác gỗ hằng năm không còn, nguồn thu chủ yếu dựa vào kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng nhưng lại không đủ chi tiêu hằng năm. Phía Cty "chống chế" bằng cách liên tục cắt giảm nhân sự, nợ lương, nợ bảo hiểm, gây tâm lý hoang mang cho nhân viên, ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng.
Trong số 4 Cty lâm nghiệp đóng ở H. Ea Súp (Đắc Lắc) như Cty Cư Mlan, Cty Ea H'mơ, Cty Rừng Xanh, Cty Ya Lốp thì Cty Ea H'mơ thuộc dạng "khá" nhất trong số những Cty "sống dở chết dở". Nói "khá" bởi trong lúc các Cty khác nợ lương "đầm đìa" thì Cty Ea H'mơ không xảy ra tình trạng này.
Ông Huỳnh Văn Mến, Giám đốc Cty Ea H'mơ cho biết: "Cty hiện quản lý hơn 17,6 nghìn ha rừng và đất rừng. Năm 2011, Cty không còn chỉ tiêu khai thác gỗ nên kinh phí hoạt động chỉ biết trông chờ vào nguồn hỗ trợ đối với diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất nghèo kiệt.
Số tiền hỗ trợ này không đủ chi tiêu hoạt động của Cty. Từ năm 2011 - 2013, trung bình mỗi năm Cty thiếu hụt khoảng hơn 1,2 tỷ đồng. Để bù lỗ, hằng năm Cty "cắn răng" bán hàng chục con bò. Hiện Cty không còn bò, không biết những năm tới lấy gì để trả nợ".
Trong khi đó, tại Cty Cư Mlan, tình hình càng bi đát hơn. Hiện Cty đang nợ hơn 7,7 tỷ đồng, bao gồm tiền thuê đất, nợ vay ngoài, nợ thuế, tiền phạt... Từ tháng 2 đến nay, 28 nhân viên của Cty này phải sống trong cảnh "ăn bám" vợ con vì khoản lương hàng tháng của họ hiện đang bị Cty nợ.
Tại Đắc Nông, 14 Cty lâm nghiệp (quản lý 160 nghìn ha) cũng chẳng khá hơn. Theo ông Vũ Minh Khôi, Phó giám đốc Sở NN&PTNT Đắc Nông: "Các Cty hiện không còn chỉ tiêu khai thác gỗ. Nguồn kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng không đủ duy trì hoạt động bộ máy. Có Cty nợ lương, nợ bảo hiểm 6 tháng liền như Cty Quảng Đức... Nhiều cán bộ Cty xin nghỉ nhưng giám đốc không đồng ý... vì Cty không có tiền hỗ trợ nghỉ việc cho nhân viên theo luật lao động".
Công việc vất vả, hiểm nguy nhưng lương bổng không tương xứng với công sức lao động. Cộng với việc Cty làm ăn thua lỗ kéo dài khiến nhiều nhân viên cảm thấy không có tương lai, nên đã chủ động viết đơn xin rời khỏi "con tàu đắm". Năm 2010, 2 cán bộ ở phân trường 1 đóng tại xã Ea Lê (H. Ea Súp), thuộc Cty Cư Mlan đã xin nghỉ khỏi Cty để về... làm rẫy với vợ con.
Cá biệt hơn là trường hợp của ông Trần Quyết Tâm, Giám đốc Cty Trường Xuân (đóng tại xã Trường Xuân, H. Đắc Song, Đắc Nông). Sau chuyển đổi, Cty Trường Xuân làm ăn bết bát. Cty liên tục cắt giảm lao động từ 40 người (năm 2011) xuống còn 20 người (cuối năm 2013). Tình trạng nợ lương lao động kéo dài hàng tháng trời. Cty lại không có tiền mua sắm công cụ bảo vệ rừng, mọi hoạt động sản xuất bị tê liệt nên giám đốc Trần Quyết Tâm đã viết đơn xin nghỉ nhưng vẫn chưa được chấp thuận.
Tại các Cty lâm nghiệp, lực lượng bảo vệ rừng vốn đã mỏng, công cụ hỗ trợ lại hạn chế, chỉ được trang bị dùi cui điện, gậy cao su, bình xịt hơi cay..., trong khi lâm tặc vốn đông, hoạt động theo nhóm, lại vô cùng hung dữ, lì lợm. Chính vì tương quan này nên lâm tặc dễ dàng "bắt nạt" nhân viên bảo vệ rừng khi lợi ích bị đe dọa. Ông Nguyễn Trọng Hải, Phó giám đốc Cty Rừng Xanh chua chát nói: "Mang tiếng là đi thi hành công vụ nhưng có lúc bị lâm tặc rượt đánh chúng tôi phải... bỏ chạy.
Biết là nhục nhưng công cụ hỗ trợ yếu, không chống cự lại được nên chỉ còn cách chạy để tự cứu mình". Một thực tế bi hài khác được chúng tôi ghi nhận là có cán bộ Cty đã tự nguyện nghỉ làm "sếp" để chuyển sang làm lính. Năm 2013, anh Phạm Văn Hiển, Trưởng phân trường Cư Amung, thuộc Cty Rừng Xanh đã viết đơn xin từ chức phân trường trưởng để xin làm nhân viên bình thường của phân trường này.
Lý do, theo Phó giám đốc Nguyễn Trọng Hải: "Làm chỉ huy căng thẳng, thường bị lâm tặc đe dọa... Làm lính nhẹ nhàng, đỡ áp lực hơn".  Cũng vì thực tế yếu kém của các Cty lâm nghiệp nên hằng năm, các Cty này không giữ được lao động có trình độ cao.
Cụ thể như Cty Cư Mlan từng mời 3 kỹ sư về làm việc nhưng chỉ trong 3 tháng, những lao động "chất xám" này đã rời Cty vì lương bổng chỉ bằng với nhân viên bình thường. Một thực tế khác được các Cty phản ánh, khi họ còn làm ăn được, lực lượng chức năng (như xã, kiểm lâm) rất "nhiệt tình" phối hợp với họ để tuần tra bảo vệ rừng.
Đến khi Cty rơi vào khó khăn, những đơn vị này không còn "mặn mà", khiến công tác bảo vệ rừng gặp khó. Chính ông Nguyễn Hoài Dương, Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắc Lắc cũng thẳng thắn thừa nhận tính xác thực của những phản ánh trên.
Về các Cty lâm nghiệp thời điểm này, dễ dàng nhìn thấy sự mệt mỏi, rệu rã của nhân viên, những tiếng thở dài thườn thượt của các chủ rừng. Nhìn một số Cty lâm nghiệp chẳng khác nào "con tàu đắm". (Công An TP Đà Nẵng 9/9) đầu trang(
Thông tin từ Bộ Công an cho biết, lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy (C47, Bộ CA) vừa tiếp tục thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi làm việc của trùm xã hội đen Minh “sâm” tại Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh.
Cơ quan CSĐT Bộ CA cho biết đang tiếp tục tập trung điều tra làm rõ vụ án Minh “sâm” và đồng bọn về các tội danh “cưỡng đoạt tài sản”, “tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Ngoài các hành vi phạm tội nêu trên, cơ quan CSĐT Bộ CA còn tình nghi băng nhóm này liên quan đến các hành vi: buôn lậu, trốn thuế, cố ý gây thương tích và giết người...
Việc thực hiện lệnh khám xét của cơ quan CSĐT (Bộ Công an) có sự phối hợp với cơ quan chức năng địa phương gồm: Công an thị xã Từ Sơn, Hạt Kiểm lâm Tiên Phong và Công an phường Đông Ngàn.
Kết quả khám xét tại kho gỗ trong khuôn viên Công ty TNHH Đại An, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện một số lượng gỗ cụ thể gồm: Gỗ có đặc điểm giống gỗ Trắc tròn: 1.205,4m3; Gỗ có đặc điểm giống gỗ Hương xẻ: 49,0m3; Gỗ có đặc điểm giống gỗ Căm xe: 26,25m3 (loại gỗ này thường có tại các cánh rừng miền Trung và Lào. Loại gỗ được xếp vào vào nhóm 2 theo phân loại gỗ tại Việt Nam).
Sau khi tiến hành khám xét, cơ quan chức năng đã tiến hành niêm phong kho gỗ và bàn giao cho Nguyễn Thị Ánh Tuyết (là em gái Minh “sâm”) có trách nhiệm bảo quản và quản lý chờ quyết định của cơ quan điều tra.
Trước đó, chiều ngày 13/8/2014, Cục C47, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương điều tra khám phá nhóm đối tượng hoạt động phạm tội có tổ chức tại Bắc Ninh do Nguyễn Ngọc Minh (tức Minh “sâm”) cầm đầu.
Qua đó lực lượng chức năng bắt giữ 10 đối tượng về hành vi cưỡng đoạt tài sản; thu giữ 6 khẩu súng quân dụng và súng bắn đạn hoa cải, cơ số đạn, 1 quả lựu đạn, 7 xe ô tô cùng nhiều tang vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Sau đó, Cơ quan CSĐT Bộ CA đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam tổng công 10 đối tượng liên quan đến hoạt động của băng nhóm Minh “sâm” về hành vi “cưỡng đoạt tài sản”; “tàng trữ vũ khí trái phép”.
Trước tính chất nghiêm trọng của vụ việc, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Bộ Công an, UBND tỉnh Bắc Ninh làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động của băng nhóm tội phạm của Minh “sâm”; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/9.
Được biết, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh - Ông Nguyễn Nhân Chiến đã chỉ đạo các cơ quan chức năng địa phương tiến hành kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân liên quan đến vụ án Minh “sâm”, Hưng “sóc”. (Tiền Phong 9/9, tr11) đầu trang(
Sau gần 6 năm thực hiện Dự án phát triển lâm nghiệp cải tạo đời sống vùng Tây nguyên (Flitch), được triển khai trên 6 tỉnh (5 tỉnh Tây Nguyên và tỉnh Phú Yên), huyện Đồng Xuân, Phú Yên đã trồng mới hơn 1.500ha rừng; quản lý, bảo vệ hơn 8.370ha rừng… Dự án đã mở ra cơ hội làm giàu cho đồng bào nơi đây.
Flitch được triển khai từ năm 2009 trên địa bàn xã Phú Mỡ và Xuân Quang 1 với tổng diện tích hơn 800ha. Sau gần 6 năm thực hiện, Dự án đã thu hút 1.231 hộ gia đình tham gia; trồng gần 1.507ha rừng sản xuất; hơn 14ha rừng nông lâm kết hợp; cải tạo vườn hộ gia đình hơn 23ha và quản lý bảo vệ rừng hơn 8.370ha. Dự kiến, tới đây Flitch sẽ tiếp tục mở rộng sang 4 xã gồm: Xuân Lãnh, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3 và Xuân Phước.
Phó giám đốc dự án Flitch huyện Đồng Xuân Huỳnh Pô Pin cho biết, riêng thôn Phú Hải, xã Phú Mỡ, bà con trồng được hơn 100ha, bình quân mỗi hộ khoảng 2ha. Nếu bán gỗ tại rừng với giá bình quân 1 triệu đồng/tấn cũng được từ 50 - 60 triệu/ha, đạt doanh thu hơn 100 triệu đồng. Còn bán thẳng cho nhà máy, giá từ 70 - 80 triệu đồng/ha. Nhiều hộ trồng được từ 5- 6ha rừng, thu nhập không dưới 300 triệu đồng.
Đây là cơ hội lý tưởng để bà con xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ cho bà con về cơ sở hạ tầng nông thôn, cho vay lãi suất thấp để sản xuất, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi. Theo đó, mỗi xã được hỗ trợ không hoàn lại 20.000 USD; trong đó, 16.000 USD cho các hộ dân vay phát triển kinh tế hộ gia đình với lãi suất theo quy định của Ngân hàng Chính sách - Xã hội và 4.000 USD còn lại được dùng để mua sắm trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cộng đồng thôn, buôn. Nguồn vốn đều được người dân sử dụng hiệu quả và đúng mục đích.
Bên cạnh đó, dự án còn thực hiện 10 công trình dân sinh như bê tông hóa đường giao thông nông thôn, san ủi mở đường vào khu đất sản xuất, nâng cấp, xây dựng kênh nhánh thủy lợi, làm cống hộp qua đường giao thông và xây dựng nhà văn hóa…
Đến thăm 1,9ha rừng keo xanh tốt đang chờ ngày thu hoạch của gia đình anh La O Thảo, thôn Phú Hải mới thấy được hiệu quả thực tế mà dự án đem lại cho người dân, anh Thảo cho biết: Nhờ được hỗ trợ vốn và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc nên hiệu quả từ rừng keo xanh mang lại cao, vì thế năm nay tôi tiếp tục đăng ký trồng khoảng 1,5ha rừng.
Hay như chị Võ Thị Hoa - một tiểu thương ở thôn Phú Hải cũng chia sẻ: Là người bán buôn ở đây đã lâu, tôi thấy trước kia người dân còn khó khăn nhiều lắm. Từ ngày có dự án, nhà nào cũng làm ăn được, giảm đói nghèo, an ninh trật tự trong thôn được bảo đảm. Trưởng thôn Phú Hải So Minh Thương phấn khởi cho biết, từ khi có dự án đến nay, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, đã có 5/53 hộ thoát nghèo, những hộ còn lại sẽ tiếp tục vươn lên thoát nghèo trong nay mai.
Riêng gia đình tôi trồng được 6ha, do thực hiện đúng quy trình nên cây phát triển rất nhanh, một năm được hưởng công chăm sóc 2 lần, cộng với tiền bán nông sản và làm thêm nên kinh tế gia đình tương đối ổn định. Còn tiền thu hoạch từ rừng sắp tới dùng để xây nhà, mua sắm vật dụng, phương tiện và tái đầu tư trồng lại.
Tương tự, xã Xuân Quang 1 cũng trồng được hơn 500ha keo thuộc dự án này. Do đầu tư tốt, chăm sóc kỹ nên rừng phát triển khá tốt, trong khi đó nhiều khu rừng khác kề bên chậm phát triển hoặc bị khô lá do nắng nóng kéo dài. Theo Chủ tịch UBND xã Đặng Chí Hậu, bà con rất phấn khởi và có trách nhiệm cao ngay từ những buổi đầu xuống giống trồng rừng. Hy vọng mùa thu hoạch tới, rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Năm 2014 là năm cuối thực hiện dự án, huyện Đồng Xuân có 566 hộ đăng ký tham gia trồng 1.921ha rừng. Hiện địa phương đã hoàn thành khâu kiến thiết cơ bản để chuẩn bị trồng rừng trong mùa mưa tới. Việc triển khai thành công dự án này sẽ không chỉ nâng cao ý thức người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng, đồng thời còn mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân địa phương.
Dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên (Flitch) có tổng mức đầu tư 181,760 tỷ đồng; trong đó vốn đối ứng 38,4 tỷ đồng, vốn nước ngoài 115,68 tỷ đồng. Lũy kế giải ngân từ đầu dự án đến hết tháng 6. 2014 ước đạt hơn 109,6 tỷ đồng. Năm 2014, kế hoạch vốn bố trí 21,911 tỷ đồng; trong đó, vốn ODA 15 tỷ đồng, vốn đối ứng 6,911 tỷ đồng…
Dự án tập trung thực hiện các hoạt động phát triển lâm sinh với khối lượng dự kiến trồng rừng phòng hộ 70ha, rừng sản xuất khoảng 3.090ha, chăm sóc 4.023,27ha rừng, cải tạo vườn tạp 60ha, giao khoán quản lý bảo vệ rừng có người dân tham gia 11.343ha.
Riêng hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển lâm sinh và cải thiện đời sống sinh kế của nhân dân vùng dự án, đến nay đã đầu tư được 11 nhóm hạng mục gồm 219 công trình, 19,82km đường lâm nghiệp và đường giao thông nông thôn với tổng giá trị 30,742 tỷ đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Các tổ chức, cá nhân khi nhận được những lời mời tham gia các hoạt động, dự án liên quan đến Công ty CP Phát triển rừng Toàn cầu, đề nghị liên hệ trực tiếp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại địa phương để thông báo và kiểm tra thông tin.
Theo phản ánh của ông Nguyễn Hiếu qua Cổng TTĐT Chính phủ, vừa qua, ông Hiếu được một người bạn giới thiệu và vận động đăng ký hợp tác đầu tư xây dựng vườn ươm với Công ty CP Phát triển rừng Toàn cầu.
Theo lời giới thiệu, nếu ông Hiếu đăng ký tham gia hợp tác sẽ phải nộp 27.250.000 đồng và được cấp Giấy chứng nhận cổ phần với trị giá 545.000.000 đồng, đồng thời sẽ được cấp 40.000.000.000 đồng trong 8 năm để xây dựng và phát triển sản xuất kinh doanh vườn ươm.
Tuy nhiên, qua tham khảo ông Hiếu lại thấy một số báo điện tử đưa tin đây là Công ty lừa đảo, đã bị Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh thu hồi Giấy phép kinh doanh từ tháng 6/2014.
Nhưng ngày 19/8, Công ty này lại tổ chức hội nghị hướng dẫn triển khai thực hiện các dự án vườn ươm giai đoạn 2006 - 2020 tại tỉnh Quảng Ninh, ông Tổng Giám đốc và ông Trưởng Ban điều hành quỹ chương trình dự án tuyên bố là đã báo cáo cơ quan có thẩm quyền để triển khai dự án và sẽ lấy kinh phí để thực hiện dự án trong tháng 9, tháng 10 năm 2014.
Ông Hiếu cho rằng nếu dự án của Công ty này có thật thì đây sẽ là cơ hội rất tốt để nhân dân phát triển kinh tế bền vững xoá đói giảm nghèo góp phần bảo vệ môi trường. Nhưng nếu là hiện tượng lừa đảo thì hậu quả sẽ rất lớn vì Công ty này đã và đang triển khai trên rất nhiều tỉnh thành trong cả nước. Do vậy, ông Hiếu đề nghị cơ quan chức năng có thông tin chính thức về vấn đề này.
Về vấn đề này, ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp có ý kiến như sau:
Thời gian gần đây, một số phương tiện thông tin đại chúng có đưa tin, bài phản ánh về hoạt động không bình thường của Công ty CP Phát triển rừng Toàn cầu tại một số địa phương thông qua các hội nghị quảng bá về chương trình "Trồng rừng, phát triển rừng bền vững giai đoạn 2010-2020", hợp đồng, hứa hẹn tài trợ các dự án trồng rừng, bảo vệ, phát triển rừng bền vững với nguồn vốn lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng nhận được phản ánh của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn một số tỉnh về vấn đề này.
Qua thông tin báo chí và làm việc với các cơ quan chức năng, Bộ nhận thấy Công ty CP Phát triển rừng Toàn cầu và các công ty thuộc khối liên doanh của Công ty trên không có thực lực về tài chính như đã quảng bá. Từ khi thành lập đến nay Công ty không hoạt động sản xuất, kinh doanh, chưa phát sinh nghiệp vụ liên quan đến thuế.
Một số tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng tài trợ cũng chưa nhận được tiền, việc tài trợ thông qua hình thức phát hành các cổ phiếu khống. Nhiều hoạt động của các công ty có dấu hiệu vi phạm pháp luật...
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng ở địa phương, tăng cường công tác quản lý, khuyến cáo các tổ chức, cá nhân trên địa bàn cảnh giác với hoạt động không bình thường của Công ty CP Phát triển rừng Toàn cầu nêu trên.
Các tổ chức, cá nhân khi nhận được những lời mời tham gia các hoạt động, dự án liên quan đến Công ty này đề nghị liên hệ trực tiếp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại địa phương để thông báo và kiểm tra thông tin. (Chính Phủ 6/9) đầu trang(
Đó là kế hoạch do Ban quản lý rừng phòng hộ (trực thuộc Sở NN-PTNT tỉnh) đưa ra. Theo kế hoạch này, toàn bộ rừng ngập mặn nằm trong quy hoạch rừng ngập mặn giai đoạn 2011-2013 đã được phê duyệt sẽ được kiểm tra, rà soát, thống kê lại hiện trạng.
Đối với diện tích nằm ngoài quy hoạch rừng phòng hộ gồm khu vực phường 11, 12 (TP. Vũng Tàu), phường Long Hương, phường Phước Trung (TP. Bà Rịa), Ban quản lý rừng phòng hộ kiểm tra, rà soát, thống kê dựa trên quy hoạch sử dụng đất.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ, mục đích của việc kiểm tra nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển hệ thống rừng ngập mặn, đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh BR-VT. (Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 6/9) đầu trang(
Hiện nay, tình trạng chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, tập thể không lập hồ sơ báo cáo việc khai thác rừng trồng với chính quyền địa phương, ngành chức năng theo Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT khá phổ biến. Thậm chí, nhiều trường hợp còn lợi dụng để khai thác trái phép rừng phòng hộ.
Theo Thông tư 35, từ năm 2011, khi muốn khai thác rừng trồng, chủ rừng phải lập hồ sơ khai báo với chính quyền địa phương. Việc này nhằm xác định số lượng lâm sản chuẩn bị khai thác thuộc tiểu khu nào, có được ngành chức năng cho khai thác hay không… Tuy nhiên, rất nhiều chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, tập thể thường không chấp hành quy định này.
Theo khảo sát của PV tại huyện Vân Canh, tình trạng khai thác rừng trồng nhưng không thông báo với chính quyền địa phương khá phổ biến. Khi PV Báo Bình Định hỏi về thủ tục xin khai thác rừng trồng thì hầu hết các chủ rừng đều lắc đầu không biết. Ông H., một chủ rừng trồng ở thị trấn Vân Canh, cho rằng: Rừng mình trồng thì mình khai thác chớ cần gì phải báo cáo với cơ quan chức năng.
Hệ lụy dễ thấy nhất do việc khai thác rừng trồng không theo quy định, không được ngành chức năng quản lý, kiểm soát là đất đai bị xói mòn, mất cân bằng sinh thái. Không riêng gì huyện Vân Canh, tình trạng trên còn diễn ra tại các huyện khác như Phù Mỹ, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh… Thậm chí, tại các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ, một số trường hợp lợi dụng việc khai thác rừng trồng để khai thác trái phép rừng phòng hộ.
Trao đổi với PV về vấn đề này, ông Lê Đình Thanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Định, thừa nhận: “Tình trạng chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, tập thể không lập hồ sơ báo cáo với chính quyền địa phương hiện khá phổ biến; ngành kiểm lâm cũng tăng cường kiểm tra nhưng còn gặp nhiều khó khăn”.
Được biết, sắp tới, ngành chức năng sẽ phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy định pháp luật.
Đồng thời, sẽ có các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép tại các rừng phòng hộ, như: Lực lượng kiểm lâm tăng cường chốt chặn, kiểm tra tại các trục đường chính dẫn vào rừng, nhằm sớm phát hiện các trường hợp vi phạm và xử lý nghiêm đối với các trường hợp cố tình vi phạm, ông Thanh khẳng định. (Báo Bình Định 6/9) đầu trang(
Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh vừa hoàn thành đợt giám sát chuyên đề xem xét công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh tại huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn, Chi cục Kiểm lâm và khảo sát thực tế tại núi Phú Cường, xã An Nông, huyện Tịnh Biên và rừng tràm bưu điện, huyện Tri Tôn.
Kết quả cho thấy, thời gian qua, tỉnh đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện tốt các chủ trương quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Ngành kiểm lâm đã đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tăng cường củng cố, thành lập Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2020; ngoài ra tỉnh cũng ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường tỉnh; phê duyệt Quy hoạch, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2020.
Theo đó, với mục tiêu là nâng độ che phủ của rừng đến năm 2015 và ổn định đến năm 2020 là 22,4%; nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp thông qua việc cải thiện một cách hợp lý cơ cấu cây trồng lâm nghiệp. Phát triển các loài cây trồng có tác dụng tốt về phủ xanh, bảo vệ môi trường và có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội. Xây dựng nền lâm nghiệp phát triển bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động…
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp quản lý là 14.716 ha, trong đó: đất có rừng là 12.375 ha; đất chưa có rừng là 2.341 ha. Thực hiện đối với Đề án trồng cây lâm nghiệp phân tán; tỉnh đã hoàn thành công tác gieo ươm và giao cho các huyện, thị thành phố trong tỉnh xuống giống cây trồng vụ I trên địa bàn toàn tỉnh với số lượng 905.010 cây/1.398.459 cây lâm nghiệp các loại.
Một số mô hình được của ngành lâm nghiệp thực hiện có hiệu quả như: nuôi hươu, bò, trồng cây dược liệu trong khu rừng, qua đó đã tạo điều kiện để người dân tham gia kiếm thêm thu nhập, bám rừng, chăm sóc quản lý và bảo vệ rừng.
Qua đó, Ban kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo Hạt Kiểm lâm tăng cường bám sát cơ sở, chủ động tham mưu tốt cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phát huy vai trò trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã.
Nắm bắt tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xây dựng tin báo tội phạm trong nhân dân, kịp thời phát hiện ngăn chặn những hành vi vi phạm khai thác, mua bán, cất giấu, vận chuyển gỗ và động vật rừng trái phép; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân xâm hại đến tài nguyên rừng.
Hạt Kiểm lâm Tịnh Biên và Tri Tôn cần tăng cường công tác thực thi pháp luật, xử lý vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường quản lý các cơ sở chế biến gỗ và gây nuôi động vật hoang dã; kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất rừng theo chỉ đạo của tỉnh, thực hiện đúng Quy chế quản lý rừng của Thủ tướng Chính phủ.
Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên quản lý bảo vệ rừng với diện tích quy hoạch 8.611,36 ha, trong đó diện tích đất có rừng 6.659,46 ha và 1.951.90 ha đất khác trong lâm nghiệp. Do vậy, đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên có kế hoạch khảo sát, phân loại cụ thể từng loại đất để đưa vào khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả.
UBND huyện Tri Tôn có phương án kiên quyết không để người dân tiếp tục sản xuất lúa trong khu vực rừng tràm bưu điện, xã Tân Tuyến; Bên cạnh đó, sớm xây dựng phương án để sử dụng, khai thác rừng ngập nước sinh thái đa dạng sinh học theo chủ trương của tỉnh; đồng thời, nếu có xảy ra vấn đề tranh chấp, khiếu nại đất đai về việc chuyển nhượng giữa bưu điện với các hộ dân thì báo cáo UBND tỉnh có chỉ đạo xử lý.
Ngành kiểm lâm thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền đến các hộ dân nâng cao nhận thức về lợi ích của việc trồng, bảo vệ rừng đặc biệt là rừng phòng hộ. Trong việc trồng và phát triển rừng ngành kiểm lâm cần chuyển giao những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật: cây giống; các khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến các hộ dân; xây dựng, tổ chức thực hiện tốt phương án phòng, chống cháy rừng; hướng dẫn nhân dân tổ chức trồng và phát triển các loại cây dược liệu trong vùng rừng nguyên sinh hợp lý, đảm bảo sự phát triển rừng bền vững.
Bên cạnh đó, Ban Kinh tế và Ngân sách cũng kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường cần đối chiếu, làm rõ sự chênh lệch khi đề nghị trình phê duyệt Quy hoạch bảo vệ phát triển rừng do số liệu hai ngành tài nguyên môi trường và nông nghiệp chưa khớp với nhau; xem xét đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chính sách bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên vùng đồi núi tỉnh An Giang, nhằm tạo thêm thu nhập cho hộ trồng rừng, giảm dần tình trạng chặt phá rừng.
Đối với việc xử lý tình trạng chuyển đất rừng tràm sang trồng lúa vượt định mức chưa đúng theo kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm vấn đề này. Kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương xem xét và có chủ trương trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng phòng hộ vùng đồi núi đối với những hộ nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Đồng thời, có chính sách hỗ trợ vay tín dụng để người dân làm nghề rừng có điều kiện sản xuất, có thêm nguồn vốn sản xuất, chăn nuôi, nâng cao đời sống của người dân trong quá trình quản lý bảo vệ và phát triển rừng. (Angiang.gov.vn 6/9) đầu trang(
Năm 2008, TP. Quy Nhơn mới chính thức tham gia thực hiện dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (WB3), dự án được triển khai tại xã Phước Mỹ. Qua đánh giá, nông dân xã Phước Mỹ đã tích cực tham gia trồng rừng theo dự án WB3 và đã cho hiệu quả kinh tế cao.
Xã Phước Mỹ nằm về phía Tây Nam của TP. Quy Nhơn, trong vùng lòng chảo với 3 mặt là núi, 1 mặt hướng ra sông Hà Thanh. Hiện xã Phước Mỹ có 1.771 hộ dân, với trên 6.285 nhân khẩu, được chia thành 3 thôn: Thanh Long, Long Thành và Mỹ Lợi.
Toàn xã có diện tích tự nhiên hơn  6.829 ha, trong đó đất lâm nghiệp 2.055 ha. Xã có địa hình đồng bằng và đồi núi thấp thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp và trồng rừng lâm nghiệp. Năm 2008, Dự án WB3 được triển khai tại xã Phước Mỹ, đây là mô hình trồng rừng mới và khác với cách trồng rừng truyền thống trước đây, được nông dân tích cực hưởng ứng tham gia.
Đến nay, xã Phước Mỹ có 95% hộ dân tham gia trồng và phát triển rừng ở địa phương. Riêng dự án WB3, qua 6 năm (2008 – 2013) thực hiện, toàn xã Phước Mỹ có 582 hộ dân tham gia và đã trồng được hơn 1.253 ha rừng. Từ khi dự án trồng rừng WB3 được triển khai tại địa phương, bà con xã Phước Mỹ thấy được lợi ích của việc trồng rừng về mặt kinh tế, cũng bảo vệ môi trường.
Cũng từ dự án này mà người dân nâng cao được nhận thức là trồng rừng theo nhóm, trồng cùng thời điểm, thành lập nhóm để quản lý cộng đồng và đầu tư kinh phí để chăm sóc cho cây rừng phát triển nhanh và mang lại hiệu quả hơn.
Không những vậy, diện tích rừng trồng WB3 của bà con được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh cho vay thế chấp với mức tối đa 15 triệu đồng/ha từ năm 2008 đến năm 2011, và tối đa là 20 triệu đồng/ha kể từ năm 2012.
Đến thời điểm này, UBND TP. Quy Nhơn đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 316 hộ trồng rừng WB3, với diện tích hơn 720 ha. Qua đó, có 324 hộ trồng rừng theo dự án WB3 được Ngân hàng giải ngân vốn vay hơn 10,8 tỷ đồng để chăm sóc rừng trồng. Hiện thành phố đang tiếp tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ còn lại.
Ông Nguyễn Tấn Tài – cán bộ phụ trách kinh tế của UBND xã Phước Mỹ, hạch toán: Từ năm 2013 và năm 2014, những hộ dân trồng rừng WB3 năm 2008 và 2009 đã bắt đầu khai thác gỗ nguyên liệu. Theo đó, sản lượng gỗ nguyên liệu đạt bình quân 120 tấn/ha, cao hơn rừng trồng ngoài dự án 50 tấn/ha.
Với giá bán ổn định trong 2 năm nay từ 1,13 – 1,16 triệu đồng/tấn gỗ nguyên liệu, doanh thu đạt khoảng 150 triệu đồng/ha, sau khi trừ tất cả các chi phí thì hộ trồng rừng còn lãi 60 – 70 triệu đồng/ha. So với rừng trồng ngoài dự án thì hộ trồng rừng WB3 lãi gần gấp đôi.
Ông Trần Văn Hòa – ở xóm 5, thôn Thanh Long, xã Phước Mỹ, là một trong những hộ tham gia dự án WB3 và trồng được 20 ha rừng. Trong đó, năm 2008 ông Hòa trồng được 18 ha, năm 2011 trồng được 2 ha. Đến thời điểm này, ông Hòa đã khai thác được 9 ha rừng trồng năm 2008, sản lượng gỗ nguyên liệu đạt 120 – 125 tấn/ha.
Tổng doanh thu hơn 1,3 tỷ đồng. Với khoản thu nhập này, ông Hòa đã có thể trả vốn vay Ngân hàng, còn lợi nhuận ông đầu tư trồng lại diện tích rừng vừa khai thác và chăm sóc số rừng đã trồng.
Ông Trần Văn Hòa phấn khởi nói: “Tôi tham gia trồng rừng WB3 từ năm 2008, đến nay đã đến chu kỳ khai thác và cho trữ lượng cao, đạt bình quân 120 tấn gỗ nguyên liệu/ha. Trước đây, trồng rừng truyền thống mà có đạt lắm cũng chỉ 70 – 80 tấn gỗ nguyên liệu/ha. Trồng rừng theo WB3 thì theo quy trình kỹ thuật đúng quy cách, cây lớn lên đồng đều và chống xói mòn. Còn tập quán trước đây thì tham trồng dày, cuối cùng hiệu quả không có mà đất ngày càng xấu đi”.
Tuy nhiên, theo thống kê của UBND xã Phước Mỹ, từ đầu năm 2014 đến nay, do nắng hạn kéo dài nên đã có khoảng 150 ha rừng WB3 bị chết và cháy. UBND xã Phước Mỹ đã thống kê và báo cáo lên Ban quản lý dự án WB3 tỉnh Bình Định và TP. Quy Nhơn để có biện pháp tháo gỡ khó khăn cho bà con như: khoanh vùng đối với diện tích rừng bị chết và cháy để trồng tái sinh, khoanh vốn vay và ưu đãi lãi suất để bà con có điều kiện chăm sóc rừng trồng.
Năm 2014 cũng là năm cuối thực hiện dự án WB3, do vậy, Ban quản lý dự án WB3 TP. Quy Nhơn và xã Phước Mỹ đã chủ động triển khai cho bà con địa phương đăng ký trồng rừng. Đến thời điểm này, cơ bản đã hoàn thành việc đo đạc và thiết kế lô để mùa mưa năm nay tiến hành trồng rừng.
Ông Cao Minh Thi – Chủ tịch UBND xã Phước Mỹ, cho biết: “Dự án WB3 sẽ kết thúc vào quý I/2015, do vậy hiện xã đang tích cực triển khai trồng rừng năm cuối cùng, đến thời điểm này đã có 46 hộ đăng ký trồng khoảng 149 ha. Chúng tôi đang tập trung triển khai các các thủ tục để vừa kết thúc dự án theo kế hoạch, vừa kết thúc toàn bộ diện tích sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã; đồng thời đảm bảo 100% diện tích được cấp sổ đỏ để tạo điều kiện cho người dân được vay vốn đầu tư phát triển sản xuất”.
Có thể khẳng định, dự án WB3 triển khai tại xã Phước Mỹ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo của địa phương một cách bền vững. (Hội Nông Dân Bình Định 6/9) đầu trang(
Khi về xóm 11 xã Thanh Mỹ - huyện Thanh Chương ai cũng nể phục ông Lê Văn Ba bằng những nghị lực vượt qua bao khó khăn thử thách làm giàu trên quê hương mình bằng nghề trồng rừng, tạo nhiều việc làm thu nhập ổn định cho người lao động.
Trang trại của ông Lê Văn Ba nằm thuộc vùng đất phân thủy của xã Thanh Mỹ huyện Thanh Chương phủ một màu xanh bạt ngàn của hơn 20 ha keo lai, bạch đàn, chè công nghiệp đã đến tuổi thu hoạch. Sinh năm 1948 năm nay ông đã ngoài 60 tuổi, từ nhỏ sinh ra trong một gia đình đông anh em, nghèo khó, ngay từ nhỏ ông Lê Văn Ba phải bươn chải làm đủ thứ nghề để giúp cha mẹ kiếm sống, nuôi các em ăn học. Năm 1962 ông tình nguyện đi bộ đội ở Lữ đoàn 176 Quân khu 4 để phục vụ các chiến trường.
Tính đến nay ông đã có hơn 20 năm năm phục vụ trong quân đội, năm 1981 cưới vợ thì năm 1989 ông xin xuất ngũ trở về địa phương lý do hoàn cảnh gia đình, hai vợ chồng ra ở riêng, với 2 bàn tay trắng quanh năm bám lấy 2 sào ruộng nước rồi làm thêm đủ nghề rôi vẫn cứ thiếu thốn đủ bề nhưng nghèo khó vẫn đeo bám.
Sau nhiều đêm trăn trở suy nghĩ tìm hướng thoát nghèo, ông đã nghĩ đến vùng đất phân thủy rộng lớn này, trước đây cha mẹ ông đã xin xã nhận thầu làm trang trại nhưng không thành công nên lâu nay vẫn bỏ hoang, với suy nghĩ táo bạo, mình có thể tạo lại để trồng rừng biết đâu sẽ đổi đời.
Vùng rừng này nằm ở cuối xã Thanh Mỹ giáp ranh với xã Thanh Hương, với tổng diện tích lên đến trên 20 ha. Do diện tích quá rộng nên nên bố mẹ của ông chỉ khai thác đến khoảng 5 ha còn lại vẫn để trống là nơi trú ngụ của các con chồn và rắn độc. Thấy ông bắt đầu vào công cuộc cải tạo vùng đất heo hút này, cha mẹ ông không khỏi lo lắng, khuyên can không được, đành cha mẹ lại khuyên ông nếu trồng rừng thì cũng nên làm diện tích ít thôi vì lấy đâu ra vốn liếng để khai hoang, rồi liên quan đến nhiều thứ nữa như công tác bảo vệ rừng, đầu ra của sản phẩm, đường để thu hoạch nguyên liệu.
Thế nhưng vào năm 2004 ông quyết định khăn gói vào vùng đất phân thủy để sinh cơ lập nghiệp, chinh phục đồi hoang cỏ dại. Ban đầu với công cụ thô sơ như giao, rựa cuốc, thuổng, vợ chông ông quần quật khai hoang phục hóa, sau hơn 1 năm đẩy lùi được các loại cỏ cây rậm rạp, âm u, tạo được mặt bằng sạch khoảng trên 10 ha, số diện tích ban đông ông trồng keo lai và bạch đàn xen lẫn ngô, sắn khoai để lấy ngắn nuôi dài.
Thế niềm vui mới được nhen nhóm lên, nắng hạn kéo dài nguồi nước tưới lại không có làm hàng chục ha cây keo cây hoa mày đều chết cháy. Muốn trồng được rừng nguyên liệu thì trước hết phải có nguồn nước tưới cho cây trồng. Từ những trăn trở suy nghĩ đó lại càng thôi thúc ông lại phải ngược dòng tìm nguồn nước ở khe suối. Kỳ công ông tự tay đăp ngăn dòng nước của khe làm hồ đập để lấy nước tưới cho cây, tiếp tục vay vốn để trồng lại rừng.
Trời không phụ công người, năm 2006, sau khó khăn vất vả lần đầu, thành quả thu về của vợ chồng ông đầu tiền từ 10 ha trồng rừng từ keo và bạch đàn, sắn khoai ông lại tiếp tục đầu tư thêm 10 ha để trồng và ươm các loại giống cây giống như chè công nghiệp, keo lai, măng điền trúc kết quả ngày càng rõ rệt, ông còn tiếp tục đấu thầu gần 10ha mặt hồ của địa phương để thả cá. Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, không dừng lại ở đó.
Trao đổi với PV ông Lê Văn Ba – xóm 11 xã Thanh Mỹ, Thanh Chương cho biết thêm: Hiện nay ông đang còn ươm khoảng 60 vạn cành chè công nghiệp và khoảng 40 vạn bầu cây keo lai để phục vụ cho bà con nhân dân trong vùng và các huyện lân cận như: Nam Đàn, Đô Lương, Tân Kỳ…
Trang trại ông thu hút trên 10 công nhân lao động thường xuyên là con em của địa phương, với mức lương bình quân trên 4 triệu đồng/ người/ tháng, trừ các khoảng chi phí mỗi năm gia đình ông thu lãi về trên 300 triệu đồng.
Ông Trần Công Kha – Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Mỹ cho biết thêm: Ông Ba là một cựu chiến binh tiêu biểu trong lĩnh vực phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn, ông đã nỗ lực vượt qua bao kho khăn gian khổ mới có ngày như hôm nay, chúng tôi rất kính nể ông là một (Vua trồng rừng), gia đình ông luôn mẫu mực, vợ chồng sống chung thủy hòa thuận, hạnh phúc.
Từ chỗ có của ăn, của để, ông tiếp tục đầu tư cho con cái ăn học đến nơi đến chốn, mua sắm các loại phương tiện để phục vụ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Hiện tại tất cả 6 người con của ông đều có công việc ổn định, ngoài việc chăm lo phát triển kinh tế gia đình.
Ông Lê Văn Ba là một Hội viên Hội cựu chiến binh tích cực, gương mẫu trong mọi hoạt động phong trào của hội xã, có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ những gia đình khó khăn hoạn nạn về cả vật chất lẫn tinh thần, vì vậy ông được bà con nhân dân trong vùng tin yếu và nể phục, ông xứng đáng là một cựu chiến binh tiêu biểu để mọi người cùng noi theo và học tập. (Cổng Thông Tin Điện Tử Nghệ An 8/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng