Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sau khi báo VietNamNet đăng tải loạt bài về thực trạng phá rừng phòng hộ tại thôn Cụt Ạc (xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân), mới đây Chủ tịch UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu làm rõ vấn đề báo nêu.
Nội dung công văn nêu rõ: Báo điện tử VietNamNet ngày 22/8 có bài “Cháu phó chủ tịch huyện thâu tóm cả cánh rừng”, phản ánh mượn danh là cháu phó chủ tịch huyện, đầu nậu đã thâu tóm cả cánh rừng phòng hộ, ngang nhiên hoạt động công khai trái phép và thường xuyên có mặt tại thôn bản để chở gỗ mà không bị cơ quan chức năng “sờ gáy”…
Chủ tịch UBND tỉnh Trịnh Văn Chiến có ý kiến chỉ đạo giao Sở NN-PTNT chủ trì phối hợp với UBND huyện Thường Xuân, Sở TT&TT khẩn trương kiểm tra, xác minh làm rõ nội dung bài viết và báo cáo chủ tịch tỉnh trước ngày 25/9.
Trước đó, VietNamNet đã có loạt bài phản ánh việc lâm tặc ngang nhiên phá rừng tại Thanh Hóa... Theo nguồn tin riêng, ngoài khu vực mà phóng viên “mục sở thị” còn có nhiều khoảnh rừng cũng bị chặt phá.
Cụ thể, mới đây đoàn kiểm lâm kết hợp với xã, huyện đã lên kiểm tra và đánh dấu hàng chục cây ở các khoảnh, lô khác tại địa phương này. Càng đi sâu vào bên trong, diện tích rừng bị chặt càng nhiều. Không những thế, ở các thôn khác như Tú Tạo của xã Xuân Chinh cũng có hiện tượng khai thác gỗ trái phép. (VietnamNet 6/9) đầu trang(
“Lâm tặc trong dân” điều này dễ hiểu, khi thực địa tại xã Hương Lâm, huyện Hương Khê. Gỗ tập kết trong từng nhà dân, đường làng, ngõ xóm, gỗ được vận chuyển công khai trên từng chiếc xe công nông. Người có chức trách đều biết, chỉ là chưa hoặc không muốn xử lí?
Trong chuyến lên xã Hương Lâm, huyện Hương Khê vào cuối tháng 8, khi hỏi cô bạn L, bố bạn làm nghề gì, cô nói: “Lâm tặc”. PV bật cười, cô lý giải, cả xã tớ ở ai chả là "lâm tặc" dù ít hay nhiều. Người sống ven rừng mà không khai thác rừng thì làm gì, trong khi đất nông nghiệp không có để sản xuất. Thực tế, hiện tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép từ rừng về xuôi tại xã Hương Lâm công khai ngay giữa ban ngày.
Khi thực tế, những cánh rừng tại Hương Khê đang “chảy máu” khi lâm tặc ngày đêm “xẻ thịt” rừng. Rừng bị chặt phá, gỗ được các đối tượng xẻ thành bè lớn, nhỏ tập kết tại khe suối, sau đó vận chuyển bằng xe công nông, xe kéo đi về xuôi.
Nắm rõ loại hình công nông thuận lợi cho quá trình vận chuyển gỗ lậu. Người dân xã miền núi không ngần ngại chi ra hàng chục triệu để sắm nó. Thực địa tại xã miền núi Hương Lâm, Hương Khê có tới gần 100 chiếc xe công nông, do dân tự sắm, tự chế ra để vận chuyển lâm sản, trong đó họ lợi dụng sức kéo này để khai thác, vận chuyển gỗ lậu. Phương tiện này hoạt động công khai, rầm rộ 2 năm gần đây, nhưng có vẻ cơ quan chức năng vẫn bỏ qua.
Tại đây, trong vườn nhà của mỗi hộ dân đều dựng "ga ra" để xe công nông. Dựng lán ngay trong vườn nhà để chất đống gỗ chưa qua kiểm duyệt. Những thớ gỗ đã qua cưa xẻ được đắp chiếu chờ ngày xuất quân hoặc để dựng thành nhà. Tinh vi hơn, nhiều hộ dân đã hợp thức hóa gỗ lậu thành nhà kinh doanh, rồi bán những căn nhà này cho các “đại gia” dưới xuôi với giá hàng trăm triệu, có khi lên tiền tỷ.
Trưa nắng, PV chạy theo chiếc xe công nông không biển số, chất cứng gỗ đã xẻ từng khúc, người lái xe đang cố luồn qua các con đường làng để về xuôi. Tiếng nổ bình bịch của xe công nông oang cả một góc đường, gỗ chất cứng trên thành xe không bưng bạt, người lại xe hồn nhiên chở cả hàng chục m3 gỗ vượt qua hàng chục km nhưng chính quyền địa phương không hề hay biết?
Khi gỗ lậu chui lọt ra khỏi rừng, được dân dùng xe công nông, xe kéo vận chuyển qua hàng trăm km, vượt mặt các trạm biên phòng, trạm kiểm soát rồi tuồn về xuôi. Còn trong mỗi nhà dân, dễ thấy những khúc gỗ to, đẹp còn nguyên mùi gỗ tươi, được bưng bít kín đáo, chất đống trong vườn? Câu hỏi đặt ra, số gỗ trên từ đâu mà có? (InfoNet 7/9) đầu trang(
Trong vòng 1 tháng, cơ quan chức năng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bắt nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu với số lượng lớn.
Vào đêm 5/9, tại km 844+150 Quốc lộ 1A thuộc địa phận phường Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế, lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an Thừa Thiên-Huế trong lúc tuần tra đã phát hiện và bắt giữ xe khách mang biển kiểm soát 37B- 00535 chở hàng chục phách gỗ hương (nhóm 1, thuộc loại quý hiếm) và gỗ dỗi, chũa đang trên đường vận chuyển từ Nam ra Bắc tiêu thụ.
Số gỗ được lực lượng chức năng phát hiện có khối lượng 1,574m3, riêng gỗ hương có khối lượng 0,63m3 được nhà xe cất giấu tinh vi ở gầm và trần xe.
Lái xe Trần Đương khai nhận chở số gỗ trên cho một người (chưa rõ tên tuổi) ra phía Bắc tiêu thụ, nhưng không xuất trình được những giấy tờ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên.
Trước đó, lúc 5h ngày 4/9, tại đường 74 (thuộc địa phận xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế), lực lượng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế đã bắt giữ xe ô tô tải mang biển kiểm soát 75C-00989 do Đoàn Quang Viễn điều khiển, chở 28 phách gỗ lậu, với khối lượng 2,5m3.
Lái xe Đoàn Quang Viễn cũng không xuất trình được giấy tờ, hồ sơ hợp lệ của 28 phách gỗ đang vận chuyển, số gỗ nói trên cũng không có dấu của kiểm lâm.
Vào cuối tháng 8, tại thôn Tân Mỹ, xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, lực lượng Cảnh sát Môi trường, Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng đã bắt giữ 2 xe vận chuyển gỗ trái phép.
Trong đó, xe mang BKS 75C-023.45, do Nguyễn Hữu Tài (trú xã Phong Mỹ) chở 20 phách gỗ chò, chũa với khối lượng 4m3, đang trên đường đưa đi tiêu thụ. Xe mang BKS 75H-6611, do Phan Văn Xuân điều khiển, chở 29 phách gỗ cùng chủng loại như trên với khối lượng hơn 4m3. Toàn bộ số gỗ nói trên không có giấy tờ hợp lệ và không có dấu kiểm lâm.
Tình trạng buôn lậu gỗ ở 3 tỉnh liền kề với tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng “nóng” không kém. Trong tháng 8 và đầu tháng 9, lực lượng chức năng ở Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Ngãi đã bắt 3 vụ vận chuyển gỗ lậu lớn.
Cụ thể, vào sáng 3/9, trên Quốc lộ 1A (tại khu vực phường Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi), Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện một chiếc xe tải BKS 79C-049 07 vận chuyển 58 phách gỗ lậu (khoảng 4m3) không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ.
Để qua mặt cơ quan chức năng, số gỗ này đã được ngụy trang bằng cách chất ở giữa xe và bao bọc xung quanh là hàng trăm thùng bia, giấy bìa, thuốc thủy sản, thức ăn nuôi tôm. Lái xe Trần Trung Hiếu khai nhận, số gỗ lậu đang trên đường vận chuyển từ tỉnh Khánh Hòa ra các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã lập biên bản thu giữ toàn bộ khối lượng gỗ này đồng thời tiếp tục điều tra làm rõ.
Vào ngày 9/8, Đội cảnh sát kinh tế Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã phát hiện vụ vận chuyển trái phép gỗ lậu tại khu vực biên giới giữa Lào và Việt Nam.
Toàn bộ số lượng gỗ bị thu giữ gồm 30 thanh gỗ giáng hương với tổng khối lượng quy tròn gần 5,5m3, thuộc nhóm I, một loại gỗ quý hiếm nằm trong danh mục cấm khai thác, mua bán.
Đối tượng mua bán trái phép số gỗ trên là Mai Văn Lâm khai nhận đã mua số gỗ trên từ Lào rồi vận chuyển về xã Thanh, huyện Hướng Hóa chờ thời cơ thuận lợi sẽ đưa về thành phố Đông Hà tiêu thụ.
Trước đó 2 ngày, Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Quảng Nam đã phát hiện và bắt giữ một vụ vận chuyển trái phép 10m3 gỗ sơn huyết, thuộc gỗ nhóm 1, tại thôn Pà Dấu 2, thị trấn Thịnh Mỹ, huyện Nam Giang (Quảng Nam).
Số gỗ trên khai thác trái phép và vận chuyển từ khu vực lòng hồ thủy điện Sông Bung 4 chuyển qua khu vực lòng hồ thủy điện Sông Bung 6, thuộc địa phận huyện Nam Giang.
Tại đây gỗ lậu được tập kết thành từng bè để xuôi theo sông về địa phận huyện Đại Lộc, sau đó tiếp tục vận chuyển bằng đường bộ đến nơi tiêu thụ. (Chính Phủ 6/9) đầu trang(
Men theo đường đất đỏ ở thôn Bình Lợi, xã Cư Mlan, đến lãnh địa rừng bị "mần thịt". Dọc hai bên đường, nhiều tấm biển cấm phá rừng được cơ quan quản lý treo lên, nhưng phía sau, rừng bị "cạo trọc" không thương tiếc.
Thay vì phủ màu xanh của cây thì nay, rừng tại hai Tiểu khu 262, 264 chỉ còn lại đất đá trơ trọi, gốc cây cháy đen sì. Cây cối thành vạt dài hàng cây số. Người dân cho biết, trước đây rừng ở khu vực này phủ kín một màu xanh rợp, đường vào rừng chằng chịt dây leo và cây gỗ lớn, nhưng dưới bàn tay của kẻ phá rừng, nhiều cây cổ thụ, gỗ quý bị "khai tử", chỉ còn lại những bụi cây gai, gỗ tạp mọc lam nham, động vật bị săn lùng cạn kiệt.
Hàng ngày, tại tuyến đường cách trung tâm huyện Ea Súp khoảng 3km có hàng chục xe công nông "độ” rầm rập vào rừng, chiều về những con "trâu sắt" này chất đầy gỗ phóng thục mạng. Lâm tặc ngang nhiên vận chuyển lâm sản như chỗ không người, nhưng chẳng thấy cơ quan chức năng nào can thiệp.
Rừng bị triệt hạ loang lổ như da báo trên diện rộng. Dọc hai Tiểu khu 262, 264, từng đoàn người lom khom cầm dao, rựa, thuổng, cưa máy... hì hục đốn, phát, dọn dẹp. Sau khi càn quét tan hoang, người dân địa phương bắt đầu ồ ạt vào rừng dựng lán, đóng cọc, chia thửa lấn chiếm đất rừng thành lãnh địa của mình để trồng hoa màu; số khác đem đất chiếm được sang nhượng lại cho người khác kiếm lời trên máu, thịt rừng.
Trong vai người mua đất canh tác, PV được anh Nông Văn Bảo (22 tuổi, ở thị trấn Ea Súp), là người đang canh tác trên đất rừng tại Tiểu khu 262, cho biết: Các anh đến đây mua đất bao nhiêu chả có. Đất trồng cao su ngay mặt đường giá từ 60 đến 80 triệu đồng/1 héc ta, đất trồng khoai mì từ 40 đến 50 triệu/hécta tùy theo địa hình, chất đất.
Miếng đất này khai hoang năm năm nay, rộng khoảng 3 hécta, đất không được tốt nên chỉ trồng khoai mì, ngô, đậu... Cách đây hai năm, có người trả 40 triệu đồng/hécta nhưng tôi không bán. "Có sổ đỏ không?", PV hỏi.
Bảo huỵch toẹt: "Ở đây toàn là đất rừng đi chiếm, lấy đâu ra sổ đỏ, muốn mua thì viết giấy tay rồi giao đất cho nhau vậy thôi". Nói xong, Bảo chỉ tay cho PV biết vị trí cách miếng đất nhà anh khoảng 1km hiện có nhiều mảnh đất người dân vừa khai hoang, đất tốt, trồng cao su rất hợp, đang rao bán.
PV thắc mắc: "Các anh chặt cây rừng, chiếm đất mà không có ai ngăn cản sao?". Bảo thản nhiên kể: "Những người quản lý rừng truy quét thì chúng tôi bỏ chạy, họ đi thì mình quay lại chặt tiếp. Nếu bị truy quét dữ quá thì tranh thủ cưa cây vào buổi trưa hoặc tối, sau đó phát quang, bới gốc cắm rào, họ vào thì cũng chẳng làm gì được, đất lâm trường cũng như đất nhà mình".
Sau nhiều ngày có mặt tại huyện Ea Súp, PV chọn khu vực trung tâm xã Ea Rốk để "canh me" lâm tặc. Băng qua con đường đất nhão nhoét sau cơn mưa nặng hạt, PV đến buôn Mthal - lãnh địa lâm tặc ở phía sau suối Ea Khal. Khu vực này nằm gần Tiểu khu 207 do Cty TNHH MTV Rừng Xanh quản lý.
Phía trước suối, đường bị lâm tặc cày nát trong bùn, nước đỏ au ngập nửa bánh xe máy. PV lần theo lối mòn dưới suối tìm đến địa điểm nơi cưa máy phát ra the thé. Càng đến gần, tiếng động của cưa máy, tiếng cây đổ, tiếng va của cây đập vào đá nghe càng chát chúa.
Qua lối mòn trong rừng khoảng 2km, PV bắt gặp đám lục lâm gồm 6 người đang cưa cả đống gỗ sao to đùng thành khối vuông ngay giữa rừng. Xung quanh "trạm" của lâm tặc, nhiều cây gỗ sao bị hạ gục không thương tiếc. Cây rừng đổ xuống, lâm tặc bắt đầu cắt các phần thân có giá trị thành từng khúc vuông, phần ngọn bỏ lại nằm nghiêng ngả trên đất rừng. Cách đó không xa, nhiều cây gỗ có bán kính một người ôm không xuể đã bị "khai tử" từ lâu, nhựa quện lại, gốc khô khốc lô nhô trên mặt đất.
Khoảng 1 giờ chiều, gỗ được lâm tặc đưa lên những con "ngựa sắt độ” để chuyển ra khỏi rừng, cột chặt trên 3 xe, mỗi xe chở hai khúc có đường kính khoảng 40 cm, dài 1,2 mét, còn 3 tên khác thì đi xe không để hộ tống. Hành trình vận chuyển gỗ của lâm tặc đều băng qua đường lớn nối dài từ xã Ea Rốk, Cư Kbang, Ea Lê. Không chỉ có nam giới mà phụ nữ cũng tham gia chuyển gỗ giữa ban ngày.
Trên đường lâm tặc đi qua có 1 trạm kiểm lâm địa bàn liên xã gồm: Ia Jlơi, Ia Lốp, Ia Rvê, Ea Rốk, Ea Lê. Lâm tặc chở gỗ đi ầm ầm nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương, kiểm lâm địa bàn lại không có biện pháp ngăn chặn?
Trao đổi với PV, ông Đàm Văn Hà, Chủ tịch xã Cư Kbang, cho hay: "Việc lâm tặc phá rừng vận chuyển gỗ qua địa bàn xã quản lý chỉ diễn ra mùa khô, mùa mưa thì ít. Lâm tặc thường chuyển gỗ vào ban đêm, đi theo đường tiểu ngạch phía sau UBND xã vào các ngày thứ bảy, chủ nhật không có người trực, còn ban ngày thì không có chuyện lâm tặc vận chuyển gỗ".
Đưa ra câu trả lời là vậy, nhưng khi PV trưng ra hình ảnh, clip lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ vào ban ngày và vào đúng ngày làm việc trong tuần của cán bộ xã thì ông Hà mới thừa nhận sự việc do chúng tôi phản ánh là chính xác.
Ông Nguyễn Văn Thuấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Ea Súp, cho biết: "Việc để mất rừng tại các tiểu khu, trách nhiệm đầu tiên thuộc về chủ rừng. Kiểm lâm huyện cũng đã cử mỗi xã một đồng chí phối hợp với các chủ rừng làm công tác bảo vệ. Tuy nhiên, so với diện tích rừng toàn huyện thì lực lượng của chúng tôi rất mỏng, không thể quán xuyến hết được".
Trong khi người dân bức xúc vì rừng ở Ea Súp đang ngày đêm bị "cạo" trọc thì cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương của huyện này vẫn loay hoay tìm cách xử lý. (Công An TPHCM 5/9, tr11) đầu trang(
Việc trồng xen rừng phòng hộ sai quy trình khiến nhiều diện tích cây lâu năm ở bản Cao Vều, xã Phúc Sơn, Anh Sơn bị đốn hạ, gây bất bình trong nhân dân và để lại nhiều câu hỏi trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng...
Theo người dân địa phương, từ cuối tháng 7, Trạm bảo vệ rừng Cao vều tổ chức phát thực bì tại lô a, khoảnh 9 và lô a khoảnh 13 - thuộc Tiểu khu 946 (bản Cao Vều, xã Phúc Sơn). Khu vực này được Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ huyện Anh Sơn giao cho Trạm bảo vệ rừng Cao Vều quản lý, bảo vệ, trồng rừng theo chủ trương được phê duyệt.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, không hiểu cố tình hay không biết quy trình trồng rừng phòng hộ dẫn đến việc cưa máy được dùng đốn hạ nhiều cây gỗ lâu năm để phát quang cho trồng mới.
Theo con đường đất duy nhất dẫn từ Trạm kiểm lâm Cao Vều, PV cùng một số người dân đi vào sâu bên trong, nơi được cho là có nhiều diện tích rừng lâu năm bị đốt và chặt phá. Cảnh tượng tan hoang trước mất khiến người chứng kiến cảm thấy xót xa khi bên cạnh những bụi cây mới được mọc lên sau mấy trận mưa rào là hàng loạt khúc gỗ tròn vết cưa, chặt còn rất mới bị hạ nằm rải rác trong cánh rừng. Nhiều khúc đã được buộc sẵn dây thừng và tập trung một chỗ, rải rác những tấm ván được xẻ ra và khúc gỗ ngắn không có giá trị được bỏ lại...
Qua tìm hiểu được biết, năm 2014 BQL rừng phòng hộ huyện Anh Sơn được UBND tỉnh và Sở NN&PTNT tỉnh giao chỉ tiêu và phê duyệt dự án trồng 75,2ha rừng phòng hộ. Tháng 7/2014, BQL rừng phòng hộ Anh Sơn ra quyết định phân công các Trạm bảo vệ rừng tổ chức phát thực bì để trồng rừng xen dặm. Theo đó, Tiểu khu 946 được giao cho ông Nguyễn Trọng Độ (Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Cao Vều) và ông Nguyễn Sinh Cùng (cán bộ trạm) phát và trồng rừng.
Ngày 31/7, hai chủ rừng nói trên thuê nhiều nhân công phát thực bì theo kế hoạch. Tuy nhiên, ngày 2/8 Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về môi trường (PC49) Công an tỉnh Nghệ An phối hợp với lực lượng Kiểm lâm huyện Anh Sơn tổ chức bắt giữ tổng cộng 29,35m3 gỗ, được phát hiện tại khu vực Trạm bảo vệ rừng Cao Vều tổ chức phát thực bì để trồng rừng phòng hộ.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Anh Sơn - ông Đinh Nho Trọng cho biết, toàn bộ số gỗ vi phạm hiện đang được tạm cất giữ chờ kết quả điều tra, xử lý. "Trồng rừng phòng hộ có quy trình khác với trồng rừng sản xuất bình thường. Theo quy trình thiết kế trồng rừng phòng hộ, ban đầu chỉ cho phép chặt, phát "băng chặt, băng chừa", chỉ phát loại những cây bụi, cỏ dại... để thay bằng cây mới. Việc lực lượng tham gia dọn thực bì dùng cưa máy để đốn hạ cây lâu năm là sai" - ông Trọng khẳng định.
Sau khi nhận được thông tin, chiều ngày 31/7, cán bộ Trạm bảo vệ rừng Cao Vều đã có mặt tại hiện trường kiểm tra và đình chỉ việc phát rừng của hai chủ rừng. Trưởng BQL rừng phòng hộ huyện Anh Sơn - ông Nguyễn Tất Hòa thừa nhận sự việc chặt, đốn hạ cây cao trong rừng phòng hộ là sai phạm. Sở NN&PTNT đã đình chỉ việc phát thực bì tại Trạm bảo vệ rừng Cao Vều, BQL đang làm báo cáo giải trình vụ việc.
Tại một diễn biến khác, ngày 27/8 UBND huyện Tương Dương (Nghệ An) đã thành lập đoàn thanh tra liên ngành vào cuộc làm rõ vụ lâm tặc chặt phá hơn 150m3 gỗ rừng pơ mu quý hiếm khu vực giáp biên giới Việt-Lào.
Trước đó, thời điểm tháng 7/2014, tại địa bàn thuộc BQL rừng phòng hộ Tương Dương quản lý và bảo vệ đã bị lâm tặc chặt phá rừng, số lâm sản bị chặt hạ đa phần là gỗ pơ mu thuộc nhóm IIA. Trong đó, có 5 cây pơ mu lớn đã xẻ thành từng tấm gỗ đưa ra khỏi rừng số còn lại đang nằm trong rừng. Sự việc được cơ quan Cảnh sát môi trường, (Công an tỉnh Nghệ An) vào cuộc điều tra.
UBND huyện Tương Dương giao Hạt Kiểm lâm Tương Dương chủ trì tham mưu đưa ra phương án đưa số gỗ còn lại đã bị đốn hạ ra khỏi rừng và quản lý số lâm sản đó để phục vụ công tác điều tra, xử lý. Bước đầu, cơ quan chức năng xác định có đối tượng vùng xuôi buôn gỗ lậu đứng sau xúi nhóm người dân tộc Mông chặt phá rừng. (Pháp Luật VN 5/9, tr15) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể có 36 cán bộ, kiểm lâm làm việc ở 12 trạm trong vùng lõi, các tuyến đường giao thông chung quanh vườn quốc gia. Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ quý hiếm trái phép từ các khu rừng đặc dụng ra bên ngoài vẫn xảy ra.
Để xảy ra tình trạng này, là do chính quyền cơ sở chưa thật sự quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng; đội ngũ cán bộ, kiểm lâm chưa làm tốt trách nhiệm được giao.
Giám đốc Vườn quốc gia Ba Bể Triệu Đức Văn cho biết: “Chấn chỉnh tình trạng này, từ năm 2013 đến nay chúng tôi đã kỷ luật 12 cán bộ, kiểm lâm bằng các hình thức. Ba tháng, sáu tháng luân chuyển địa bàn đối với trạm trưởng, trạm phó, kiểm lâm viên tại 12 trạm kiểm lâm nhằm tránh tình trạng công tác lâu tại một địa bàn dễ xảy ra nể nang, né tránh, thậm chí tiêu cực, bao che cho lâm tặc”.
Thời gian vừa qua, Vườn quốc gia Ba Bể cũng đã công khai số điện thoại của lãnh đạo, đặt các hòm thư thư để tiếp nhận ý kiến của nhân dân phản ánh về tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; thái độ, lề lối công tác, tinh thần trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ kiểm lâm các địa bàn.
Bên cạnh đó, Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể còn phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện Ba Bể truy quét lâm tặc trong các hoạt động khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép; quản lý, giám sát sử dụng cưa máy trong nhân dân.
Nhằm góp phần giáo dục pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, các cơ quan tư pháp huyện Ba Bể cũng đã xét xử lưu động một vụ khai thác gỗ nghiến trái phép. (Nhân Dân 6/9) đầu trang(
Vừa qua, tại Sa Pa, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên đã chính thức được thành lập, trực thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên.
Trung tâm có chức năng cứu hộ và tái thả, bảo tồn, phát triển bền vững các loài sinh vật và cung ứng giống cho phát triển gây nuôi bền vững; thực hiện công tác nghiên cứu khoa học; thực nghiệm khoa học kỹ thuật về cứu hộ, phát triển sinh vật và bảo tồn đa dạng sinh học; hợp tác quốc tế về cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật…
Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên được khởi công xây dựng từ năm 2009, bao gồm: Nhà đón tiếp khách và tuyên truyền, nhà bảo vệ, chòi quan sát, sáu chuồng nuôi các loại chim thú, bòsát, lưỡng cư, nhà cách ly và kiểm dịch…
Vườn quốc gia Hoàng Liên được Quỹ Môi trường toàn cầu xếp vào loại A, cấp cao nhất về giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam. (Văn Hóa 5/9) đầu trang(
5-9 ông Hoàng Minh Đề, Chủ tịch UBND huyện Tuyên Hóa cho biết, huyện đã tiến hành giao sổ đỏ rừng nguyên sinh 50ha ở thôn Uyên Phong, xã Châu Hóa cho cộng đồng dân cư ở thôn.
Từ hàng trăm năm qua, người dân ở thôn đã giữ khu rừng 50ha đến hôm nay. Ông Phan Văn Thành, Phó thôn, kiêm tổ trưởng tổ bảo vệ rừng thôn Uyên Phong cho biết các thành phần thực vật trong khu rừng này phong phú với hàng trăm loài. Nhiều loài cây thân gỗ như lim, táu, sú… cao hàng chục mét và có đường kính đến hơn 2m đã được bảo vệ hàng trăm năm không bị xâm hại.
Cùng đó là các loài động vật từ bậc thấp đến bậc cao, có một số loài linh trưởng, và một số loài móng guốc sống trong rừng. Bên cạnh đó, nhiều loại cây thuốc mọc lên từ khu rừng cũng được giữ gìn.
Ông Hoàng Minh Đề khẳng định, việc giao sổ đỏ toàn bộ 50ha rừng nguyên sinh cho người dân thôn Uyên Phong quản lý là phù hợp với truyền thống cố kết hằng trăm năm qua của dân làng. Khi giao rừng cho dân Uyên Phong, huyện không đưa kinh phí về mà người dân thống nhất góp công, góp của để cùng nhau bảo vệ rừng rất hiệu quả.
Trong khi đó, ông Thành, phó thôn Uyên Phong đánh giá, rừng này được giữ đảm bảo để bảo vệ nguồn nước không những cho thôn mà còn cho các thôn khác của xã. Rừng ở đầu nguồn nên ngăn lũ, chống mưa bão cho người dân rất tốt, cũng như chống hạn hán rất hiệu quả. Khi nước sông Gianh bị mặn xâm nhập thì nguồn nước ở rừng Uyên Phong vẫn mát ngọt. (Sài Gòn Giải Phóng 6/9) đầu trang(
Cây ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora, khoảng bảy năm mới ra quả một lần. Những mùa trước giá thấp nên ít người đi hái, năm nay giá ươi lên đến 100 - 150 nghìn đồng/kg (trái khô), cho nên nhiều người dân ở huyện Ma Ð'rắc (Ðác Lắc) vào rừng hái ươi.
Do cây ươi rất cao, nên người săn ươi thường chặt hạ cây để hái trái cho nhanh, trái ươi ngâm nước có pha ít đường dùng để giải khát. Trong y học, ươi có vị ngọt, tính mát, tác dụng chính là thanh nhiệt. Cây ươi mọc nhiều ở rừng các tỉnh miền trung, Tây Nguyên, khoảng từ 25 đến 30 năm cây mới cho trái, từ năm đến bảy năm mới cho trái vụ tiếp theo.
Tại rừng khu vực giáp ranh giữa hai xã Ea Trang và Cư San (huyện Ma Ð'rắc, Ðác Lắc), hàng đoàn người đi săn ươi. Người dân ở đây cho biết, những đám cây đỏ nổi bật giữa rừng chính là cây ươi. Loài cây này rất cao, mầu đỏ là mầu của mũ trái ươi già, cứ nhìn theo mầu đỏ và xác định phương hướng để đi săn ươi. Nhà nào ở xã Ea Trang, vào những ngày này, cũng phơi trái ươi như phơi cà-phê và đi đến đâu cũng nghe nói về trái ươi.
Mỗi ngày có hàng trăm người vào rừng lấy ươi bán kiếm tiền. Trước đây, giá ươi thấp, người ta đi nhặt ươi bay khi rảnh rỗi, năm nay giá cao nên nhiều người bỏ việc nhà kéo nhau vào rừng săn ươi từ trái non đến trái chín, ban đêm chở từng bao tải ươi từ các hướng về nhập cho thương lái đã có ô-tô tải chờ sẵn. Ươi được thu gom chở về Khánh Hòa rồi bán cho thương lái Trung Quốc.
Các tiểu thương gom trái ươi của dân ở Ea Trang vào ban ngày, ban đêm chở đi nơi khác để tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Một tiểu thương ở Ninh Hòa (Khánh Hòa) đến thu mua ươi ở huyện Ma Ð'rắc (Ðác Lắc) cho biết: Sau khi thu mua ươi của dân thì chở về Nha Trang bán, ươi tươi giá 50.000 đồng/kg và trái khô 150.000 đồng/kg, về bán lại với giá 250.000 đồng/kg trái khô.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ma Ð'rắc Lê Văn Ba cho biết, trên địa bàn huyện, cây ươi mọc ở các xã Ea Trang, Cư San, Ea H'Mlay. Cây ra trái từ năm 2007 rồi ngừng, đến nay nhiều cây ra trái trở lại. Ðây là cây gỗ tạp, nếu người dân nhặt trái rụng hoặc hái bằng cách dùng khèo thì không sao, nhưng nhiều người hạ cây lấy trái làm ảnh hưởng đến rừng, hậu quả là đã có một người chết và hai người bị thương do bị cây ươi ngã đè lên.
Hiện, UBND huyện đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm truy quét, ngăn chặn triệt để tình trạng chặt ươi, phối hợp chính quyền các xã tuyên truyền để người dân không được chặt phá cây ươi... Nếu cây ươi bị chặt nhánh thì khoảng chín năm sau mới cho trái, còn nếu chặt gốc thì phải 20 đến 30 năm sau cây mới nứt lại, đủ sức ra trái, có cây sau khi bị chặt sẽ chết luôn. Do vậy, cần có biện pháp để bảo vệ cây ươi. (Nhân Dân 6/9) đầu trang(
Không chỉ những tay đầu nậu buôn bán thú rừng, ngay cả nhân viên bảo vệ rừng cũng tham gia những phi vụ làm ăn này. Qua thâm nhập thực tế, PV phát hiện một số người làm công tác bảo vệ rừng ở Đồng Nai trở thành những tay “cò” chuyên dắt mối buôn bán thịt rừng.
Chiều 13-8, tại quán nước ở thị trấn Định Quán (H.Định Quán), ông P. - một người ở TP.HCM - gặp ông Mai Ngọc Đạt để đặt mối lấy hàng là thịt thú rừng. Vừa giáp mặt nhau, ông Đạt vào thẳng vấn đề: “Bây giờ lấy hàng gì?”. Ông P. trình bày đang tìm cả hàng rừng lẫn hàng nuôi, rồi hỏi ông Đạt: “Trên đấy có hàng gì, ngon không?”.
Ông Đạt bảo: “Muốn lấy hàng gì có hàng đó. Hàng nuôi có hàng nuôi, hàng rừng có hàng rừng”. Khi ông P. bày tỏ lo ngại hàng về không đều thì ông Đạt chắc lời: “Đều, ông cứ yên tâm, hàng rừng hẳn hoi, hàng Lâm Đồng về, hàng rừng cấm Nam Cát Tiên về cũng nhiều”. Ông Đạt còn nhấn mạnh: “Nói chung không thiếu một cái gì”.
Nói xong, ông Đạt lấy điện thoại gọi cho mối cung cấp hàng: “Anh có người bạn lấy hàng rừng để đi mối thành phố. Nó lấy hàng của em, em có cung cấp được đủ không?...”. Cúp máy, ông Đạt nói với ông P.: “Nó bảo hàng gì cũng có nhưng mà lấy theo kiểu gì?”. Ông P. hỏi: “Trên bác có nhiều mối không?”. Ông Đạt chắc giọng: “Nhiều, ông muốn lấy mấy mối cũng có, tôi cung cấp đầy đủ”. Ông Đạt khẳng định ông P. điện thoại lúc nào ông Đạt sẽ có mặt lúc đấy. Ông P. dọ giá của 1cc mật gấu “chuẩn”, ông Đạt trả lời: “Tùy hàng, chuẩn ba bốn trăm, năm trăm cũng có, nếu muốn hàng rừng thì mấy triệu”.
Trưa 14-8, ông Đạt mặc áo có chữ “Lâm nghiệp VN” dẫn ông P. đến quán ăn Tửu Quý (ấp 7, xã Phú An, H.Tân Phú) để gặp bà chủ tên Nhung. Quán này cách Ban quản lý rừng phòng hộ 600 vài trăm mét. Từ quốc lộ 20 trước khi rẽ vào quán này khoảng 200m có bảng chỉ dẫn Vườn quốc gia Cát Tiên 16km, bên dưới bảng này là bảng “quán nhậu Tửu Quý - các món nhậu đặc sản và bình dân”.
Tại quán, bà Nhung buông lời: “Ăn thua là mình có xe chạy ngang qua đây là gửi được. Xe buýt là dễ gửi nhất, về đến bến xe buýt không ai kiểm tra”. Theo bà Nhung, giá cả không cố định, giá hàng sống mắc hơn hàng chết (đông lạnh). “Anh hỏi chỗ anh Đạt biết, nếu mà nói hàng rừng giá mua chỗ nào mềm hơn chỗ này là bao giá luôn...” - bà Nhung mời chào.
Ông Phạm Văn Giao, giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ 600 (thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai), cho biết ông Mai Ngọc Đạt là nhân viên bảo vệ rừng ở phân trường 2 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ 600. Ông Giao cho biết chưa nghe thông tin gì về việc nhân viên bảo vệ rừng dẫn mối mua bán thịt rừng, ông sẽ kiểm tra xác minh thông tin này.
Chiều 13-6, tại quán cà phê ở xã Hiếu Liêm (H.Vĩnh Cửu), ông Văn trong trang phục của nhân viên kiểm lâm (đeo bảng tên Lê Quốc Văn) đưa cho ông P. số điện thoại và hẹn gặp tại thị trấn Vĩnh An (H.Vĩnh Cửu).
Chiều cùng ngày, ông Văn đi xe máy tới quán cà phê ở thị trấn Vĩnh An nói với ông P.: “Một con cheo không có giấy tờ cũng phạt 6 triệu, một con nai cũng 6 triệu. Phải cẩn thận, không thì khổ đấy”. Ông Văn còn nói cụ thể: “Cheo là một, chồn là hai, rắn là ba, nai là bốn, hươu là năm đều phải có giấy tờ khi vận chuyển. Các loại này mà không có giấy tờ, một ký thịt cũng phạt 6 triệu”. Ông Văn bảo ông P. cho ông bảng giá mua của các loại hàng để ông tham khảo.
Ngày 8-7, tại quán cà phê ở thị trấn Trảng Bom (H.Trảng Bom), ông P. hỏi: “Mật gấu hàng ngon không?”, ông Văn bảo gấu nuôi được thú y bắn thuốc mê, sau đó rút mật, giá tại gốc là 120.000 đồng/cc. Ngày 31-7, ông P. nói ông Văn lấy cho 5cc mật gấu.
Tối 13-8, qua điện thoại ông Văn cho hay có mật gấu cho ông P.. Đến tối hôm sau, tại quán cà phê ở thị trấn Trảng Bom, ông Văn chỉ đường tắt cho ông P. đi lên Định Quán. Theo ông Văn, trên H.Định Quán có heo lai, heo rừng, nguồn hàng đầy đủ, giá rẻ. Sau đó, ông Văn lấy trong túi áo ra 5 lọ nhỏ bằng ngón tay, nói: “Có lấy cái này không?”. ông P.: “Mấy cc bác?”. Ông Văn: “Một cái là một trăm ba”.
Theo xác minh từ Hạt kiểm lâm H.Vĩnh Cửu, ông Lê Quốc Văn là thành viên của tổ kiểm lâm cơ động thuộc Hạt kiểm lâm H.Vĩnh Cửu.
Tại địa bàn xã Hiếu Liêm, một số trại nuôi hươu nai còn nhận cung ứng mật gấu. Sáng 30-8, qua điện thoại, ông Ngọc - chủ trại nuôi hươu nai ở xã Hiếu Liêm - lần lượt báo giá mật gấu lẻ là 40.000 đồng/cc, giá bán sỉ (từ hàng trăm cc trở lên) là 35.000 đồng/cc. Ông này giới thiệu mật gấu này chích hút nguyên chất từ gấu nuôi của người quen ngoài tỉnh Nghệ An.
Ông Ngọc nói theo quy định thì cho nuôi gấu nhưng không được hút mật. Ông có quen người trong ngành kiểm lâm mách nước rằng không được đề bảng ghi chữ “mật gấu” mà ghi là “cao, mật”. Nếu bị hỏi thăm thì chỉ nói bán cao trăn, cao chó, cao mèo, mật ong, mật trăn..., không nói đến từ “gấu”.
Qua trạm kiểm soát cửa rừng (thuộc xã Hiếu Liêm, H.Vĩnh Cửu) men theo con đường đất đỏ vào sâu hơn chục cây số là tới quán nước của bà Trâm. Khi vừa nghe có người đang tìm hàng, bà Trâm không ngần ngại ra giá từng loại thú rừng cụ thể. Heo rừng giá 250.000 đồng/kg, chồn mướp từ 900.000-950.000 đồng/kg, chồn đèn 400.000 đồng/con...
Theo bà Trâm, thú rừng do cánh thợ săn đánh bẫy được, bà thu mua rồi tuồn ra khu vực chợ Hiếu Liêm (xã Hiếu Liêm) cho các mối quen. Nếu cần đánh hàng về TP.HCM, bà Trâm sẽ giới thiệu người vận chuyển.
Còn ông Thư, có trại heo lai cách quán nước bà Trâm vài trăm mét, khẳng định luôn có các tay săn thú cung ứng đầy đủ từ hàng sống đến hàng chết. Để có hàng đa dạng về chủng loại, cánh thợ săn sử dụng bẫy “bát quái” để bắt thú. Với loại bẫy này thì thú rừng từ lớn đến nhỏ sẽ theo lưới chui vào lồng. Ông Thư còn nói nếu ông P. không nhận hàng ở bến đò của xã Hiếu Liêm, ông sẽ cho người chở xuống tận TP.HCM.
Ông Thư báo giá heo rừng giao tận TP.HCM là 200.000 đồng/kg, cheo rừng sống là 550.000 đồng/kg... Còn hổ mang chúa loại từ 1,1-2kg giá 1,1 triệu đồng/kg, loại 2-5kg giá 1,4 triệu đồng/kg, mễn là 200.000 đồng/kg. Lát sau, ông Thư cầm bình rượu ra giới thiệu, trong bình có ba con heo rừng to hơn cổ tay vẫn còn cuống rốn.
Theo ông Thư, ba con heo này nằm trong bụng heo rừng mẹ mới một tháng tuổi. Sau khi làm thịt heo mẹ, ông ngâm rượu ba con heo này với củ mật nhân rừng. Với bình rượu này phải được 3 triệu đồng ông mới bán. Ngoài ngâm rượu heo rừng chưa mở mắt, ông Thư còn ngâm rượu cả bào thai khỉ. (Tuổi Trẻ 6/9) đầu trang(
Do buông lỏng quản lý, chỉ trong vòng 5 năm (từ 2008 – 2013), hơn 4.500ha đất rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (xã Trường Xuân, huyện Đắk Song) quản lý, bảo vệ đã bị chặt phá, lấn chiếm.
Mặc dù vậy, Giám đốc công ty này vẫn không bị khởi tố hình sự vì “cơ chế”. Lâm trường Trường Xuân được thành lập từ năm 1993 và được chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (gọi tắt là Công ty Trường Xuân) vào năm 2007, do ông Trần Quyết Tâm làm Giám đốc với vốn điều lệ gần 3,5 tỷ đồng.
Ngày 19/8/2008, Công ty được UBND tỉnh giao cho quản lý sử dụng 8.246,76ha đất rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp nhưng đến cuối năm 2013, tỉnh đã ban hành 9 quyết định, thu hồi hơn 1.800ha giao cho địa phương và các đơn vị khác quản lý nên công ty chỉ còn quản lý 6.436,27ha (trong đó có 5.238,94ha rừng tự nhiên).
Những năm gần đây, tình trạng người dân chặt phá, xâm chiếm đất rừng và đất lâm nghiệp do Công ty Trường Xuân quản lý liên tục tăng nhanh. Hiện tại, một số tiểu khu như 1676, 1677, 1678, 1687… trên bản đồ của công ty thể hiện các trạng thái rừng IIIA1 và IIIA2 nhưng thực tế đã bị người dân chặt phá, lấn chiếm. Cụ thể, tại nhiều diện tích tại các tiểu khu này, người dân đang trồng các loại cây nông nghiệp (sắn, khoai lang…), cây công nghiệp (cà phê, tiêu…) và đã xây dựng nhiều nhà ở kiên cố.
Kết quả thanh tra toàn diện Công ty Trường Xuân của UBND tỉnh Đắk Nông mới đây cho thấy, từ năm 2008 đến cuối năm 2013, diện tích rừng do công ty quản lý bị người dân lấn chiếm và sử dụng là 4.519,7ha, trong đó có 3.510,51ha rừng tự nhiên. Hầu hết các diện tích này, công ty vẫn chưa có biện pháp thu hồi các diện tích bị lấn chiếm để trồng rừng mà để mặc nhiên cho người dân sử dụng.
Theo thống kê, diện tích rừng tự nhiên bị mất trong các biên bản do Công ty Trường Xuân lập, Hạt Kiểm lâm Đắk Song theo dõi và cơ quan điều tra khởi tố là 672,1807ha, trong đó có 524,91ha bị mất trong giai đoạn 2008-2013 nhưng công ty chỉ báo cáo 181,768ha. Đối chiếu với tổng diện tích rừng tự nhiên đã bị mất, số liệu báo cáo của công ty chỉ chiếm 5,1%.
Chính vì vậy, UBND tỉnh Đắk Nông đã kết luận: “Từ năm 2008-2013, Công ty Trường Xuân, đứng đầu là Giám đốc công ty (ông Trần Quyết Tâm) có những sai phạm nghiêm trọng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý sử dụng đất lâm nghiệp với diện tích bị mất, lấn chiếm hàng ngàn ha”.
Trước đây, cũng như các công ty lâm nghiệp khác trên địa bàn, nguồn thu chủ yếu của Công ty Trường Xuân là tiền bán gỗ khai thác rừng theo kế hoạch hàng năm thì hiện tại, công ty không còn chỉ tiêu khai nữa. Bị cắt đứt nguồn thu, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty rơi bế tắc. Để có tiền trả lương cho người lao động, công ty đã liên tục cắt giảm quân số (từ 40 người vào tháng 7/2010 xuống còn 20 người vào cuối năm 2013).
Ông Nguyễn Hữu Khánh – Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song cho biết: “Trước những lợi ích quá lớn, người dân đã phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để lấy đất sản xuất. Trong khi đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty Trường Xuân quá mỏng, chế độ lương bổng chưa tương xứng khiến họ ít mặn mà với công tác bảo vệ rừng”.
Ông Vũ Minh Khôi – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông, cho biết: “Chính sách quản lý đất đai của chúng ta vẫn còn nhiều bất cập, chính quyền địa phương không quản lý dân cư một cách chặt chẽ khiến rừng ngày càng bị lấn chiếm nhiều hơn. Tuy nhiên, việc Công ty Trường Xuân không cập nhật, báo cáo diện tích rừng bị mất lên các ban ngành liên quan, đến khi có hậu quả nghiêm trọng mới biết thì Giám đốc công ty phải là người chịu trách nhiệm”.
Sai phạm nghiêm trọng của ông Trần Quyết Tâm (Giám đốc Công ty Trường Xuân) đáng lẽ cần phải chuyển hồ sơ để điều tra, xử lý về mặt hình sự. Tuy nhiên, UBND tỉnh lại cho rằng: “Xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, có liên quan đến tập thể lãnh đạo công ty, liên quan đến cơ chế, chính sách… khi cả hệ thống chính trị phối hợp chưa đồng bộ, giải pháp chưa toàn diện nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải được xử lý hành chính ở mức nghiêm khắc”.
Theo kết luận thanh tra, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng ở Công ty Trường Xuân có liên quan đến trách nhiệm của Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, UBND huyện Đắk Song, Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, Công an huyện Đắk Song và UBND xã Trường Xuân. Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã yêu cầu các đơn vị này phải nghiêm túc thực hiện kiểm điểm theo Kết luận thanh tra số 2267/KL-TTCP ngày 11/12/2013 của Thanh tra Chính phủ.
Hiện tại, Công ty Trường Xuân chỉ còn 1.728ha diện tích rừng nằm trên lưu vực của 4 suối lớn là: Đắk Nông, Đắk Rung, Đắk Rtih và Đắk Bukso. Nếu diện tích này tiếp tục bị mất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, nguồn nước phía Tây Nam của tỉnh và nguồn nước phục vụ các nhà máy thủy điện.
Chính vì vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với UBND huyện Đắk Song, Hạt Kiểm lâm Đắk Song và UBND xã Trường Xuân phối hợp với Công ty Trường Xuân lập một số điểm chốt chặn tại những khu vực sung yếu để ngăn chặn phá rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 4/9) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Trên địa bàn huyện Lệ Thủy vẫn còn tình trạng nhiều người dùng súng tự chế để săn bắn thú rừng. (Nhân Dân 7/9, tr7) đầu trang(
6-9, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Đà Nẵng), Hạt Kiểm lâm H. Hòa Vang đã thả 1 cá thể động vật hoang dã về với môi trường tự nhiên.
Trước đó, qua vận động, ông Nguyễn Văn Quốc (trú thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, H. Hòa Vang) đã tự nguyện giao nộp 1 con diều hâu nặng hơn 1,5kg do ông nuôi giữ nhiều năm nay. (Công An TP Đà Nẵng 8/9) đầu trang(
Đến thời điểm cuối tháng 8, Quảng Ninh đang có 14 cơ sở nuôi nhốt gấu với tổng số 110 cá thể, trong đó có 2 cơ sở nuôi nhốt gấu lớn với tổng số gần 100 cá thể.
Đây đều là số gấu sống sót còn lại trong tổng số trên 360 con gấu do các chủ trang trại, gia đình nuôi nhốt nhằm chích hút lấy mật bán cho du khách từ năm 2007 trở về trước, trong đó một phần không nhỏ là gấu được mua lại từ các đường dây săn bắt, buôn bán động vật trái phép.
Điều đáng nói là do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc điều kiện chăm sóc nuôi nhốt không đảm bảo, nên số lượng gấu bị chết ngày càng nhiều. Trung bình mỗi năm có vài chục cá thể gấu bị chết, trong đó chỉ riêng tháng 7 vừa qua đã chết đến gần 30 cá thể. Thực trạng này đặt ra vấn đề bức thiết về việc bảo tồn gấu nuôi nhốt, trong đó việc thật sự cần thiết là có sự chung tay của các chủ cơ sở nuôi nhốt gấu.
Theo ông Mạc Văn Xuyên, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, vấn đề khó khăn đầu tiên trong việc bảo tồn gấu nuôi nhốt là sức sống cũng như bản năng hoang dã của chúng đã bị giảm sút rất nhiều, khiến cho mục tiêu cứu hộ để bảo tồn trong điều kiện sống tự nhiên gần như là không thể thực hiện được.
Nguyên nhân do các cá thể gấu đã bị nuôi nhốt trong nhiều năm, nhiều con đã đến quá nửa vòng đời của mình, cơ thể đã qua thời kỳ khoẻ mạnh nhất, đồng thời cũng do nuôi nhốt lâu ngày nên gấu bị quên mất các phản xạ tự nhiên, hoạt động chậm chạp, yếu ớt. Đấy là chưa kể bị khai thác mật quá mức dẫn đến gấu bị kiệt quệ, đồng thời thao tác chích hút không chuẩn, đặt kim chích sai vị trí dẫn đến tụ máu, áp xe là căn nguyên bệnh ung thư ở gấu.
Chính những lý do trên nên nếu mặc dù có phục hồi sức khoẻ cho gấu và thả về môi trường tự nhiên thì chúng vẫn dễ dàng bị săn bắt trở lại hoặc chết đói do không thể tự kiếm được thức ăn. Bên cạnh đó, gấu vốn có bản tính hung dữ nhất là trong điều kiện bị đói và bị thương nên nếu thả về môi trường tự nhiên còn có nguy cơ gây nguy hiểm cho con người.
Chị Nguyễn Thị Chi, thành viên Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam, đơn vị vừa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức đợt tuyên truyền bảo vệ gấu tại Quảng Ninh cuối tháng 8 vừa qua cho biết: Cách tốt nhất để bảo tồn gấu nuôi nhốt là chuyển giao cho các cơ sở cứu hộ gấu, trung tâm cứu hộ động vật hoang dã, các vườn thú, cơ sở nghiên cứu hoặc các trại nuôi có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng đến cuối đời của chúng.
Tuy nhiên, việc này không phải muốn là làm được vì chúng ta đang thiếu các điều kiện cần và đủ, đặc biệt là những nơi có thể đáp ứng đủ các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng gấu. Đơn cử như đối với Quảng Ninh, hiện duy nhất chỉ có Vườn Quốc gia Bái Tử Long gọi là đáp ứng được một số điều kiện cơ bản về cứu hộ tạm thời động vật hoang dã, chứ không phải là nơi nuôi nhốt lâu dài được.
Trên toàn quốc có Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (Tam Đảo - Vĩnh Phúc) của chúng tôi là dành riêng để cứu hộ gấu và quy mô cũng lớn nhất, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Còn lại một số nơi khác cũng có chức năng cứu hộ động vật hoang dã như các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn (Hà Nội), Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), Cát Tiên và Vườn Quốc gia Cúc Phương… Song Vườn Quốc gia Cúc Phương và Trung tâm Cát Tiên dành để cứu hộ các loài động vật khác nhau; hai trung tâm Sóc Sơn và Củ Chi lại không có đủ điều kiện để nuôi gấu.
Chính bởi vậy nên mặc dù Quảng Ninh là tỉnh sớm đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có giải pháp cứu hộ gấu nuôi nhốt trên địa bàn tỉnh, từ thời điểm năm 2009, khi đó toàn tỉnh đang còn trên 300 cá thể gấu nuôi nhốt, tuy nhiên đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Trong đó lý do Bộ đưa ra vẫn là các trung tâm cứu hộ trực thuộc không đủ điều kiện tiếp nhận số gấu này. Thực tế trong cả hai giai đoạn thiết kế Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (hiện đang trong giai đoạn I) chỉ chăm sóc, nuôi dưỡng tối đa 250 cá thể gấu, trong đó hiện đã có trên 110 cá thể gấu được nuôi dưỡng tại đây.
Hiện mỗi năm, số gấu trong cả nước được Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam tiếp nhập chỉ tính trên đầu ngón tay. Riêng Trung tâm động vật hoang dã Cát Tiên chủ yếu dành để cứu hộ số gấu tự nhiên bị gặp nạn như mắc bẫy, bệnh tật và hiện toàn trung tâm cũng chỉ có thể cứu hộ được số lượng gấu rất nhỏ, khoảng 20 cá thể. Trong khi đó theo thống kê, toàn quốc đang còn đến trên 2.400 con gấu nuôi nhốt.
Có thể thấy, theo nguyên tắc quản lý, đối với các cơ sở nuôi nhốt gấu, khi người dân không còn tha thiết nuôi gấu nữa thì các đơn vị chức năng phải có giải pháp cứu hộ, bảo tồn… Tuy nhiên, từ khó khăn đã nêu trên, thì việc bảo tồn gấu nuôi nhốt trên địa bàn hiện nay vẫn cơ bản phải dựa vào các chủ trại gấu, các gia đình, cá nhân đang nuôi nhốt gấu là chính. Ngoài ra cũng cần thấy rằng, việc chích hút mật gấu bán một thời kỳ đã tạo nên nguồn thu lớn cho người nuôi nhốt gấu, không ít người trong đó giàu có, trở thành “đại gia” cũng nhờ gấu, trong khi đó đây là hoạt động trái pháp luật.
Bởi vậy, thiết nghĩ các chủ trang trại nuôi nhốt gấu cũng nên nêu cao tinh thần trách nhiệm, chung tay cùng nhà nước chăm sóc, bảo tồn gấu trong thời điểm khó khăn này, tránh tình trạng mua bán gấu trôi nổi hoặc giết thịt gấu.
Được biết hiện nay đã xuất hiện tình trạng giết thịt gấu để bán cho các nhà hàng, khách sạn. Mặc dù nguồn gốc số thịt gấu này có thể là do người dân tận thu khi gấu già, gấu chết, tuy nhiên việc này lại nảy sinh những tác động xấu, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý người dân, nhất là những người yêu quý loài gấu, đang tích cực bảo vệ loại động vật quý hiếm này. (Báo Quảng Ninh 6/9) đầu trang(
Đầu thế kỷ 20, thế giới có khoảng 500.000 con tê giác, đến 2013 con số này chỉ còn 28.000 con. 95% số lượng tê giác thế giới bị giết hại chỉ trong 40 năm qua. Tốc độ giết hại tê giác tăng lên với cấp số nhân. Nếu không có hành động cụ thể, tê giác có thể tuyệt chủng trong thời gian tới.
Tháng 4-2010, sự kiện con tê giác cuối cùng ở Việt Nam bị bắn chết để lấy sừng ở Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai, đã tốn bao giấy mực báo đài trong, ngoài nước. Những tưởng khép lại chương buồn về sự nhẫn tâm của con người khiến loại động vật quý hiếm này biến mất khỏi thiên nhiên Việt Nam.
Nhưng từ đó đến nay, việc săn bắt trái phép tê giác để lấy sừng đã vượt ra khỏi tầm quốc gia, khi những nhóm tội phạm trong và ngoài nước liên kết đến tận châu Phi để tìm cách mua bán, vận chuyển sừng tê giác về Việt Nam tiêu thụ.
Tại buổi tọa đàm “Vai trò truyền thông trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế về vấn nạn sừng tê giác” do Trung tâm CHANGE, Tổ chức WildAid (Cứu trợ hoang dã) và AWF (Quỹ Hoang dã châu Phi) phối hợp tổ chức tại TPHCM tuần qua cho thấy, 95% tê giác trên thế giới bị giết bởi nhóm săn trộm xuyên quốc gia và mua bán trái phép, trong đó người Việt Nam và Trung Quốc là phần lớn.
Sừng tê giác nhập lậu vào Việt Nam nhiều nhất từ các nước Arập, Ấn Độ… Với giá trung bình khoảng 65.000 USD (năm 1993 mới khoảng 4.700 USD/kg), tức hơn 1,3 tỷ đồng cho 1kg sừng tê giác, số tiền quá lớn khiến nhiều băng nhóm tội phạm liều mạng phạm pháp để săn cho bằng được tê giác. Từ năm 2007 đến nay, số băng nhóm tội phạm săn trộm tê giác tại Nam Phi tăng lên 77%. Khoảng 4.000 sừng tê giác (12 tấn) bị đem ra khỏi Nam Phi từ năm 2009 đến 2012, nhưng chỉ 2,3% bị phát hiện và tịch thu.
Theo Cơ quan quản lý CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã), Trung Quốc, Việt Nam là những thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới về sừng tê giác từ châu Phi, nhất là Nam Phi, nơi chiếm 85% lượng tê giác châu lục này. Năm 2013, Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất bắt giữ 4 vụ, thu 27 sừng. 7 tháng đầu năm nay phát hiện 1 vụ, thu giữ 5 sừng, tổng trọng lượng 13kg. Việc kinh doanh sừng tê giác hiện đang được công khai trên mạng với lời rao bán, kèm cả số điện thoại và email.
Từ chỗ cấp phép săn bắn tê giác trong các cuộc thi cho du khách, Nam Phi đã hạn chế giấy phép cho du khách săn bắn khi phát hiện việc này bị lợi dụng và đến tháng 10-2012, Nam Phi ngưng hẳn, đồng thời siết chặt visa hơn.
Chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê giác” thuộc chương trình “Không có người mua, không còn kẻ giết” được phối hợp thực hiện bởi Tổ chức WildAid, AWF và Trung tâm CHANGE đang được tiến hành tại Việt Nam nhằm tăng cường nhận thức về việc sử dụng các sản phẩm động vật hoang dã của người dân thông qua truyền thông.
Nhạc sĩ - ca sĩ Thanh Bùi kể lại, tháng 4-2014 khi đến Nam Phi, dù mang quốc tịch Úc nhưng là người gốc châu Á, lại xuất phát từ Việt Nam nên anh bị giữ lại 4 giờ ở sân bay để thẩm vấn và có cảm giác như tội phạm. Nhưng sau khi được giải thích về tình hình tê giác bị giết ở Nam Phi, anh cảm thông vì tình huống này.
Theo Tom Milliken, chuyên gia về tê giác của mạng lưới quản lý động vật hoang dã quốc tế TRAFFIC, thật đáng tiếc khi tê giác Java biến mất ở Việt Nam bởi nhóm thợ săn lùng và cũng chính những người này đứng đằng sau việc săn bắn tê giác ở châu Phi khi thị trường trong nước có nhu cầu ngày càng lớn vì sự đồn thổi chữa bệnh nan y, nhất là ung thư. Vì vậy, sừng tê giác trở thành món quà đắt tiền và “độc đáo” được khá nhiều người tìm mua để sử dụng hay làm quà biếu. Một “trào lưu” đáng bị lên án.
Theo bà Hoàng Thị Minh Hồng, Giám đốc Trung tâm CHANGE, do ảnh hưởng văn hóa làng xã, người dân dễ tin vào những lời đồn đoán, thay vì tin vào những chứng cứ khoa học về giá trị thật của sừng tê giác.
Nhiều người vô tình hay cố ý khi không biết việc mình làm đang đẩy một loài vật quý hiếm đến nguy cơ tuyệt chủng và cũng không biết rằng, bản thân mất rất nhiều tiền vào một thứ mà vàng thau lẫn lộn, khi phần lớn trên thị trường là hàng giả, chủ yếu là sừng trâu châu Phi, thậm chí sừng trâu Việt Nam.
Bên cạnh nâng cao nhận thức cộng đồng, nhiều ý kiến đề nghị nhà nước nên tiêu hủy tất cả ngà voi và sừng tê giác tịch thu để tỏ rõ cho thế giới biết Chính phủ Việt Nam cương quyết bài trừ vấn nạn tai tiếng này. (Sài Gòn Giải Phóng 6/9) đầu trang(
Chính phủ đã có quy định nghiêm cấm, xử phạt việc đánh bắt, vận chuyển, buôn bán trái phép các loại động vật hoang dã thuộc lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản.
Lực lượng kiểm lâm, quản lý thị trường, Công an... đã ra quân kiểm tra, bắt giữ, xử lý không ít trường hợp đánh bắt, vận chuyển, mua bán trái phép các loại động vật hoang dã, nhưng thực trạng này vẫn ngang nhiên xảy ra, giữa thanh thiên bạch nhật, đến mức đáng báo động!
Tại thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, rất dễ tìm thấy các loại động vật hoang dã như: Rắn, rùa, chim, cò, trích, diệc... Các loại được bày bán thường xuyên, công khai.
Những người chuyên bán rắn, rùa, chim, cò... ở khu vực trung tâm thị trấn Thạnh Hóa này cho biết: Các loại động vật này do những thợ săn chuyên nghiệp đánh bắt được và đem bỏ mối cho chúng tôi rồi chúng tôi bán lại cho người tiêu dùng hoặc bán lại cho chủ nhà hàng, quán nhậu... Giá bán mỗi ký rắn còn sống từ 150.000đ trở lên tùy loại lớn-nhỏ; chim, cò, trích một ký từ 150.000đ đến trên 200.000đồng...
Điều 21 Nghị định 99/2009/NĐ-CP quy định: Cá nhân, tổ chức có hành vi mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh trái phép các loại động vật thuộc lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản sẽ bị xử phạt hành chính tùy theo mức độ từ 3 - 500 triệu đồng!
Mong rằng mọi người hãy nêu cao ý thức tự giác, không săn bắt, vận chuyển, mua bán trái phép các loại động vật hoang dã để chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ các loài động vật hoang dã cho thiên nhiên được trong lành và giữ gìn hệ sinh thái bền vững! (Sức Khỏe & Đời Sống 5/9, tr15) đầu trang(
6/9, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Thanh Hóa cùng chính quyền, ngư dân địa phương đã thả một con rùa quý hiếm về biển, trong tình trạng sức khỏe tốt.
Trước đó, trong lúc đang thả lưới khai thác hải sản,  ông Lê Ngọc Súng ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) phát hiện một con rùa quý hiếm vướng vào lưới. Ngay sau đó, ông Súng cùng ngư dân địa phương đưa con rùa biển vào bờ chăm sóc, rồi thông báo sự việc với UBND xã và cơ quan chức năng.
Theo cán bộ Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Thanh Hóa kiểm tra, con rùa biển mà ông Súng bắt được có chiều dài của thân là 1m, bề ngang thân rùa chỗ lớn nhất là 0,7m, nặng 70kg, màu vàng nâu, có hai cái cựa ở hai chi sau, mai có vết xước nhỏ.
Con rùa này thuộc họ vích, bộ rùa biển, có tên khoa học là Chelonia mydas, là loài rùa biển lớn, có thể dài tới hơn 1,2m và nặng 230kg.
Trong khi đó, vích là loài thủy sinh quý hiếm, có trong danh mục các loài có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn, được quy định trong Sách đỏ Việt Nam và Công ước CITES; tuyệt đối cấm đánh bắt, mua bán, vận chuyển, kể cả trứng của chúng. (Tuổi Trẻ 8/9, tr2; Tiền Phong 7/9) đầu trang(
Ngày 26/8, Tổ chức Y tế thế giới đã công bố nguyên nhân gây bệnh Ebola là do ăn phải động vật hoang dã có nhiễm virus Ebola. Đó là các loại động vật có vú (khỉ, tinh tinh...).
Ca bệnh đầu tiên được phát hiện là một phụ nữ mang thai, có chồng là thợ săn. Người chồng đã bị bệnh và chết sau khi chế biến thịt thú rừng. Sau đó chị có triệu chứng tiêu chảy, nôn, tiểu ra máu. Khi đi khám, bác sỹ kết luận chị vợ bị nhiễm Ebola. Chỉ sau một thời gian ngắn, chị tử vong và được mai táng tại địa phương.
Tuy nhiên, theo phong tục tập quán của người địa phương thì không cho phép chôn người chết cùng với thai nhi. Chính vì vậy phải mổ tách thai nhi ra khỏi xác người chết. Các y bác sỹ thực hiện ca mổ cũng bị phơi nhiễm và tử vong sau đó.
Các nhà nghiên cứu bệnh nhiệt đới, sinh thái học châu Âu và châu Phi đã tiến hành điều tra tại Liberia, Leone, Nigeria. Theo đó, mầm bệnh được xác định nguồn gốc của bệnh dịch Ebola là từ một cậu bé 2 tuổi tử vong ở Guinea. Cậu bé này đã bị dơi cắn và nhiễm Ebola. Sau khi bắt con dơi và các loại sinh vật ở làng Meliandonua, nơi xuất hiện dịch bệnh để nghiên cứu thì phát hiện dơi là vật trung gian để lây nhiễm Ebola.
Theo ghi nhận ở rất nhiều trường hợp khác trên khắp châu Phi thì, đa số các trường hợp mắc bệnh là do tiếp xúc với các loại động vật hoang dã như: Khỉ đột, dơi ăn quả, khỉ, tinh tinh, linh dương rừng, nhím. Động vật hoang dã đã trở thành vật chủ trung gian truyền bệnh Ebola.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa phát hiện ca nhiễm bệnh nào nhưng Việt Nam là một trong các nước đa dạng về sinh học, nguồn động vật hoang dã tương đối sẵn. Thời gian vừa qua, tình trạng săn bắn, sử dụng một cách bừa bãi động vật hoang dã đã trở nên báo động. Điều đáng lo ngại là người Việt Nam có thói quen ăn những món khoái khẩu như nộm và tiết canh. Do đó, các nhà khoa học đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo để phòng tránh bệnh Ebola.
Trong một cuộc hội thảo, PGS.TS.BS Bùi Vũ Huy - Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho rằng: Nguồn gốc gây bệnh được cho là từ dơi ăn quả và linh trưởng. Động vật hoang đã bị bệnh rất dễ lây nhiễm sang người, bởi vì khi chúng ta ăn thịt hoặc tiếp xúc với chúng, virus sẽ thẩm thấu qua những vết xước cơ thể người để xâm nhập gây bệnh. ông Huy cũng khuyến cáo, nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới nên rất thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng lây lan cao và khuyên mọi người không nên tiếp xúc với thịt thú rừng.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa xuất hiện trường hợp nào nhiễm bệnh Ebola, thế nhưng những thông tin về nguồn gốc của bệnh dịch Ebola xuất phát từ thịt thú rừng đã khiến cho nhiều đồ tể "sách đỏ" lo sợ.
Theo khảo sát, người tiêu dùng đã dần tẩy chay các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã. Chị Lê Thị Lan, trú tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho hay: "Chị là người rất thích các món ăn từ thịt nhím. Gia đình chị vẫn thường đến nhà hàng để thưởng thức. Thế nhưng từ khi xem ti vi thấy kết luận về dịch bệnh Ebola xuất phát từ động vật hoang dã nên chị cũng thấy sợ. Mặc dù Việt Nam vẫn chưa thấy trường hợp nào mắc bệnh nhưng nếu không cẩn thận biết đâu mình lại là người đầu tiên. Tốt nhất là không ăn cho lành", chị Lan tỏ ra lo lắng.
Theo khảo sát, một số nhà hàng chuyên về các loại thực phẩm chế biến từ động vật tươi sống trên địa bàn Hà Nội cũng bỗng nhiên ít khách.
Anh N.V.T, chủ nhà hàng T.K ở quận Long Biên, Hà Nội cho biết: "Từ trước đến nay, nhà hàng chúng tôi vẫn nhập các loại động vật tươi sống, được nuôi ở các trung tâm trong cả nước. Tuy nhiên, khi có kết quả về nguyên nhân gây bệnh Ebola, nhà hàng bỗng nhiên vắng khách hẳn. Thời điểm trước, mỗi ngày quán đón hàng trăm khách, nay con số đó đã giảm đi một nửa.
Để duy trì hoạt động, chúng tôi buộc phải có nhiều chương trình giảm giá, trấn an khách hàng. Cụ thể như món tiết canh, chúng tôi đều phải cho vào nấu chín chứ không dám cho khách ăn sống. Hơn nữa, chúng tôi rất để ý đến nguồn cung cấp thực phẩm, phải được kiểm dịch, có giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm", ông chủ này tỏ ra rất lo lắng về tình trạng làm ăn bết bát của nhà hàng.
Ông chủ chuyên cung cấp các loại thịt núi rừng cũng đang lo lắng vì các loại sản phẩm này bị mất giá. Trước đây giá của các loại này bán rất cao như: Lợn mán: 120.000đ/kg; Lợn rừng: 290.000đ/kg; Cầy hương: 1.390.000đ/kg; Nhím: 220.000đ/kg; Ron: 1.340.000đ/kg. Tuy nhiên khi có thông tin động vật nhiễm Ebola thì nhiều người đã ngoảnh mặt với chúng. Để bán được, chúng tôi đã phải chấp nhận lời lãi mỏng, thậm chí có mặt hàng giảm giá xuống 20 - 40%.
Ông Tuấn ở Bắc Giang là chủ một trung tâm chăn nuôi giống các loại động vật - núi rừng như cầy hương, kỳ nhông, nhím, dúi và các loại chim rừng. Được biết, cơ sở này là nơi cung cấp nguồn thịt động vật tươi sống cho các nhà hàng lớn, nhỏ ở Hà Nội.
Động vật hoang dã là mầm mống gây các loại bệnh nguy hiểm như SARS, cúm H5N1, AIDS, Ebola. Chính vì vậy, Trưởng đại diện tổ chức Động vật Châu á - AAF tại Việt Nam cảnh báo: "Chúng ta tiếp xúc với động vật hoang dã là tạo điều kiện cho virus Ebola lây sang con người. Vì vậy, chúng ta không nên ăn động vật hoang dã và tiếp xúc động vật hoang dã". (Đời Sống & Pháp Luật 6/9) đầu trang(
Chiều 5/9, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh đã tổ chức lễ ký kết quy chế phối hợp về công tác quản lý, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Theo quy chế phối hợp, hai bên đã thống nhất cùng nhau phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, công trình thủy lợi và chủ quyền biên giới quốc gia. Theo đó, hai bên sẽ cùng nhau trao đổi thông tin, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền cũng như tăng cường các biện pháp trong quản lý, bảo vệ, phát triển rừng khu vực biên giới.
Hai đơn vị cũng sẽ cùng nhau phối hợp trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hoạt động buôn lậu vật tư, sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép; Ngăn chặn việc trồng cây có chứa chất ma túy; kiểm dịch động, thực vật và phòng chống dịch bệnh; phòng chống giảm nhẹ thiên tai; Quản lý, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi; Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới và các lĩnh vực khác thuộc trách nhiện của mỗi bên.
BĐBP và ngành nông nghiệp cùng nhau tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tập quán canh tác của nhân dân trong khu vực biên giới; Hỗ trợ, nâng cao nghiệp vụ, kiến thức pháp luật liên quan đến bảo vệ, phát triển rừng và quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. (Báo Đắc Nông 5/9; Biên Phòng 6/9) đầu trang(
Thực hiện Công văn số 6980/BNN-TCLN ngày 27/8/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015.
Y kiến như sau: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND các huyện, thành phố chỉ đạo, triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015 theo nội dung Công văn trên và kế hoạch thực hiện tại Báo cáo số 277/BC-UBND ngày 23/8/2014 của UBND tỉnh.
Văn phòng UBND tỉnh thông báo để Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện, thành phố thực hiện. (Langson.gov.vn 5/9) đầu trang(
Công trình nhà bảo vệ tại khu vực gần hồ Vực Mấu (thuộc xã Quỳnh Trang, thị xã Hoàng Mai) sau khi hoàn thành lại không được sử dụng, đã “đắp chiếu” gần 3 năm nay.
Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả hơn, đầu năm 2011, Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) đã tiến hành xây dựng công trình nhà bảo vệ tại khu vực gần hồ Vực Mấu (thuộc xã Quỳnh Trang, thị xã Hoàng Mai).
Điều đáng nói là công trình sau khi hoàn thành lại không được sử dụng, đã “đắp chiếu” gần 3 năm nay, khiến cho chính quyền địa phương và nhân dân trong vùng bất bình.
Dự án nói trên do chính BQL RPH Quỳnh Lưu làm chủ đầu tư với tổng kinh phí là 280 triệu đ, đơn vị chịu trách nhiệm thi công là Công ty Lý Thành (xã Quỳnh Tân, huyện Quỳnh Lưu), bắt đầu triển khai từ tháng 3/2011, đến cuối năm 2011 thì chính thức hoàn thành.
Nhưng chẳng hiểu vì lý do gì mà công trình xây xong lại không đưa vào sử dụng, bỏ hoang suốt từ cuối năm 2011 đến nay. Trao đổi về vấn đề này, ông Trần Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Quỳnh Trang cho biết: “Công trình nhà bảo vệ hoàn thành đã lâu nhưng BQLRPH Quỳnh Lưu lại chẳng hề đả động đến. Không có người bảo vệ, trông nom nên nhiều vật dụng đã bị xuống cấp trầm trọng, một số khác bị mất trộm. Thật là quá lãng phí”.
Có mặt tại hiện trường, dễ dàng nhận ra cảnh tượng hoang tàn của công trình: Hệ thống điện chiếu sáng đã hỏng, phòng được bố trí khá phù hợp nhưng toàn bộ cánh cửa gỗ đã bị mất trộm từ bao giờ không ai rõ; rác thải, lá cây chất đống trong nhà, xen lẫn đó là phân trâu, phân bò vung vãi khắp nơi trông rất phản cảm, phía lối vào cỏ mọc ung tùm chắn hết cả đường đi.
Một người dân sống gần đó không khỏi xót xa: “Chẳng hiểu họ nghĩ gì khi bỏ ra một đống tiền rồi vứt xó như thế này. Nguồn kinh phí đó mà đầu tư cho nhân dân trồng rừng thì tốt biết bao...”.
Để xác minh làm rõ sự việc, PV đã nhiều lần liên hệ nhưng lãnh đạo BQL RPH Quỳnh Lưu tỏ ra thiếu thiện chí hợp tác, nhiều lần từ chối. Mãi gần đây, Trưởng ban Dương Minh Ngọc mới bố trí để PV gặp ông Lưu Văn Tiến, phó Ban quản lý RPH Quỳnh Lưu.
Tuy nhiên, khi đề cập đến nội dung công trình nhà bảo vệ bị bỏ hoang thì ngay lập tức ông Tiến chối đây đẩy: “Tôi không đủ thẩm quyền để trả lời vấn đề này, cái đó các anh phải làm việc trực tiếp với đồng chí trưởng ban”.
Khi liên lạc với ông trưởng ban, ông cho biết: “Công trình nhà bảo vệ được xây dựng xong từ khi anh Võ Văn Vinh còn điều hành. Tôi về đây nhận công tác từ đầu năm 2013 nhưng chưa thấy bàn giao gì cả”.
Tìm đến Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quỳnh Lưu, nơi ông Võ Văn Vinh (nguyên trưởng Ban quản lý RPH Quỳnh Lưu) hiện đang công tác tại Cty này để hỏi rõ sự việc, nhưng cũng chỉ nhận được câu trả lời rất chung chung.
Ban đầu, vị này khẳng định, công trình nhà bảo vệ đã được bàn giao trước khi ông chuyển đi. Thế nhưng khi PV thuật lại quan điểm của BQL RPH Quỳnh Lưu thì ông Vinh lại bao biện: “Cái đó để tôi xem lại hồ sơ vì cũng lâu rồi nên không nhớ rõ”, đồng thời hứa sẽ trả lời sau. Thế nhưng sau năm lần bảy lượt liên hệ, đến nay chúng tôi vẫn chưa nhận được phản hồi từ ông Vinh.
Qua quá trình tìm hiểu được biết, sở dĩ ông Ngọc không chịu ký nhận bàn giao là vì thời điểm đó công trình nhà bảo vệ không còn nguyên vẹn như hiện trạng ban đầu xây xong, cụ thể là toàn bộ hệ thống cửa đã …không cánh mà bay.
Liên quan đến vấn đề này, Sở NN-PTNT Nghệ An cũng đã có Công văn số 2087/SNN-LN chỉ đạo BQL RPH Quỳnh Lưu tiến hành kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm từng cá nhân, tập thể liên quan. Yêu cầu BQLRPH nhanh chóng thu hồi hệ thống cửa đã mất để tiến hành lắp đặt; gấp rút sữa chữa, thay thế các hạng mục hư hỏng đưa công trình này vào sử dụng đúng mục đích.
Bên cạnh đó, phải thành lập trạm bảo vệ rừng, đưa nhà bảo vệ vào quản lý và sử dụng, từng bước xây dựng phát triển vốn rừng tại vùng trọng điểm khu vực hồ Vực Mấu. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Mới đây, ông Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị triển khai “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2025”.
Hiện Bến Tre có 933 loài thực vật bậc cao, 30 loài thú, 174 loài chim, 40 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 80 loài cá, 330 loài côn trùng. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học đang gặp khó khăn do tác động của quá trình chuyển đổi mô hình canh tác, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ý thức bảo vệ các hệ sinh thái chưa cao, ngân sách nhà nước cho hoạt động bảo tồn các hệ sinh thái chưa đảm bảo. Nhiều loài được liệt vào danh sách đỏ của Việt Nam và thế giới có nguy cơ bị đe dọa, nhiều nhất là bò sát (37%), các lớp thú (20%)...
Tại hội nghị, đơn vị tư vấn thực hiện quy hoạch là Trung tâm Kỹ thuật môi trường TP. Hồ Chí Minh, Công ty Tài nguyên và Môi trường miền Nam đã báo cáo kết quả nghiên cứu về các kịch bản biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của các khu bảo tồn trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở phân tích, đơn vị tư vấn thực hiện quy hoạch đã chứng minh sự tác động của thực trạng này đến đời sống người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và kiến nghị danh sách 22 dự án cần ưu tiên thực hiện.
Ông Trần Anh Tuấn thống nhất cao sự cần thiết phải triển khai thực hiện dự án trong thời gian tới. Ông Tuấn nói: Công tác tuyên truyền là việc làm rất quan trọng trong thực hiện dự án này.
Sở Tài nguyên và Môi trường chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan và UBND huyện, xã để thực hiện dự án ở từng vùng, địa phương, trên cơ sở hợp tác với các dự án khác trong vùng, trong nước và quốc tế để đem lại hiệu quả cao nhất, hướng đến chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo các hệ sinh thái bền vững, phục vụ cho cuộc sống con người. (Báo Đồng Khởi 3/9) đầu trang(
6-9, CAH Quảng Ninh (Quảng Bình) cho biết, vừa ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trương Thị Liếng (SN 1963, trú ở phường Bắc Nghĩa, TP Đồng Hới, Quảng Bình) đã có vi phạm để xảy ra cháy, nổ dẫn đến sự cố gây chập đường điện 500Kv Bắc – Nam, mạch 1 Hà Tĩnh – Đà Nẵng.
Trước đó, vào sáng 15-8, Trương Thị Liếng, là chủ rừng bạch đàn, trong khi tiến hành thu hoạch tại khu vực rừng đồi Lăng, thôn Quyết Tiến, xã Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, đã thuê Trần Văn Hiền (SN 1967, trú ở xã Hàm Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) đốt khu vực rừng để xử lý thực bì.
Tuy nhiên, do không kiểm soát được đám cháy nên đã gây cháy vào khu vực hành lang an toàn của đường dây điện 500Kv gây sự cố nổ và mất điện. Rất may, do hệ thống truyền tải điện 500Kv tại thời điểm xảy ra sự việc có đủ công suất dự phòng và khép vòng nên đã không gây tan rã hệ thống và xảy ra sự cố nghiêm trọng.
CAH Quảng Ninh đã quyết định phạt Trương Thị Liếng mức phạt 6,5 triệu đồng đối với vi phạm trong việc để xảy ra cháy, nổ; đồng thời, bồi thường thiệt hại số tiền 22 triệu đồng cho Truyền tải điện Quảng Bình để khắc phục sự cố.
Một thực trạng đáng lo ngại hiện nay, nhiều hộ dân được giao đất trồng rừng chủ quan trong khi thu hoạch, vệ sinh rừng trồng đã đốt thực bì ngay tại khu vực rừng gây cháy rừng, ảnh hưởng các công trình quốc gia quan trọng khác và vụ việc trên là một trong những điển hình thời gian trở lại đây. (An Ninh Thủ Đô 6/9) đầu trang(
Xe chữa cháy rừng đa năng được thiết kế trên cơ sở tích hợp các hệ thống chữa cháy rừng bằng đất, cát và không khí, bằng nước và làm băng cách ly khoanh vùng cô lập đám cháy.
Xe có thể di chuyển trên các địa hình dốc, được gắn thêm hệ thống lưỡi cưa ở đầu xe, việc cắt xẻ cây cối, vật cản và khoanh vùng đám cháy trở nên nhanh chóng và hiệu quả gấp nhiều lần so với biện pháp làm thủ công.
Đặc biệt, xe có hệ thống cắt đất tại chỗ, nghiền vụn và phun đất vào để dập đám cháy, khắc phục được hạn chế thiếu nước khi có hỏa hoạn xảy ra. Vòi phun dài tới 30 m, có thể kéo ra xa để tiếp cận gần hơn với đám cháy. Hệ thống có thể phun tới 40 kg đất/phút với tốc độ trên 30 m/giây. (Công Thương 5/9, tr14) đầu trang(
Ở miền núi, trung du trong tỉnh, nhiều nơi vẫn còn giữ được phong tục bảo vệ rừng nghiêm ngặt với sự đa đạng hệ sinh học rừng rất cao, trở thành “chỗ dựa tinh thần” cho người dân bản địa.
Những tia nắng không thể xuyên qua dưới các tàn cây rậm rạp khi lọt thỏm trong rừng Miếu Cấm (thuộc thôn Nghi Sơn, xã Quế Hiệp, Quế Sơn). Nếu không có người dân địa phương chỉ đường, không dễ gì len lách vào được rừng. Thảm thực vật nơi đây rất phong phú với vô số cây cổ thụ quý ôm một vòng tay không xuể.
Từ lâu, dân làng bảo vệ rừng bằng những quy định ghi rõ trong hương ước như tuyệt đối không chặt phá cây lấy gỗ; nếu bị phát hiện sẽ xử phạt nặng. Thời chiến, Miếu Cấm là khu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, bom đạn hủy diệt nhiều cây. Tuy nhiên, sau ngày giải phóng, khu rừng đã bắt đầu hồi sinh mạnh mẽ.
Hương ước của làng Nghi Sơn quy định: Cấm cư dân trong làng vào rừng chặt củi đốt lấy than. Nếu vi phạm sẽ bị xử phạt. Nhẹ thì cảnh cáo, nặng thì đòn roi, nghiêm trọng hơn thì đuổi ra khỏi làng. Ngoài ý thức giữ rừng, bây giờ làng Nghi Sơn còn nổi tiếng trong việc phủ xanh đồi trọc bằng những dự án trồng rừng.
Theo chính quyền xã Quế Hiệp, dù rừng Miếu Cấm chỉ rộng khoảng 10ha nhưng lại rất có giá trị với người dân, vì rừng giữ được nguồn nước. Toàn bộ gần 50ha lúa bậc thang trên địa bàn thôn phụ thuộc hoàn toàn nước trời, nhưng sản xuất nông nghiệp ổn định, nhiều gia đình khá giả. Trong vòng mấy chục năm nay, Miếu Cấm không xảy ra một vụ phá rừng nào, ngay cả các lâm tặc khét tiếng cũng không dám lui tới nơi cấm kỵ này.
Ngược lên vùng cao Tây Giang, nhiều người vô cùng thích thú trước cánh rừng pơmu cổ thụ tuyệt đẹp. Dù người Cơ Tu không có hương ước cụ thể, nhưng những nguyên tắc giữ rừng đã truyền nhau qua nhiều thế hệ. Theo thống kê, Tây Giang có 51.000ha rừng, trong đó có gần 300ha rừng pơmu cổ thụ với trên 1.000 cây quý hiếm.
Đặc biệt, cây có đường kính từ 1 - 2,5m, cao từ 30 - 40m khá phổ biến; cây đã được đánh số thứ tự để bảo vệ. Cánh rừng pơmu trùng điệp nhất tập trung ở thôn Ganil (thuộc xã AXan, Tây Giang), gần như bảo tồn nguyên vẹn rừng nguyên sinh. Vì gỗ pơmu nằm trong nhóm quý hiếm, nên lâm tặc luôn tìm cách triệt hạ.
Vì vậy, thời gian qua, chính quyền huyện Tây Giang dựng lán trại ngay trong rừng và thành lập tổ bảo vệ rừng thôn Ganil với 29 thành viên. Hàng tuần, kiểm lâm địa bàn phối hợp với tổ bảo vệ rừng cơ sở tuần tra, kiểm tra. Theo ông Từ Văn Khánh, Trưởng phòng Quản lý - bảo vệ rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh), cánh rừng pơmu nhiều năm qua ít bị tàn phá là do ý thức bảo vệ đã ngấm sâu vào máu thịt của đồng bào Cơ Tu. Những năm gần đây, nhờ nhân rộng các mô hình phát triển lúa nước nên người dân không còn phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi để làm rẫy.
Trước đây, người Cơ Tu quan niệm giữ rừng rất cụ thể: mỗi khoảnh, mỗi con suối đều có chủ riêng để quản lý, khai thác, săn bắt. Luật tục Cơ Tu cấm đốt phá rừng đầu nguồn, vì với họ rừng đầu nguồn là mạch nguồn nuôi sống con người, nếu phá thì trong làng dễ xảy ra dịch bệnh. Do vậy, ai phá rừng đầu nguồn phải chịu một khoản chi phí cho làng cúng.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, trước khi phát rừng làm nương rẫy, người Cơ Tu thường chọn ngày lành tháng tốt để cúng xin thần rừng. Họ đến địa điểm dự định chọn phát rẫy và mang theo một con gà trống hoặc một quả trứng, rồi làm lễ cúng xin thần đất thần rừng cho gia chủ được phát rẫy trong năm đó với diện tích, vị trí nhất định. Những người từ nơi khác đến, luật bất thành văn là… “mua” rừng.
Nhiều ngôi làng ở vùng cao còn quan niệm, sở hữu đất và rừng của cộng đồng người Cơ Tu được xác lập theo cơ chế tự quản, được các cộng đồng lân cận khác thừa nhận. Theo ông Đỗ Tài – Chủ tịch UBND huyện Đông Giang, khi Nhà nước tính toán việc chia rừng cho đồng bào giữ, nguyên tắc nhất quán phải tôn trọng ý kiến của già làng, dựa theo tập quán thói quen “làm chủ” rừng trước đây của họ.
Vị trí, ranh giới, cột mốc được giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho người dân phải được xác định rõ ràng. Hiện nay, một số nơi, người Cơ Tu vẫn còn giữ gìn tập quán giữ rừng truyền thống. Thực tế, nơi nào còn giữ được những quy định nghiêm ngặt về khai thác, bảo vệ, quản lý thì nơi đó còn nguyên vẹn những khu rừng nguyên sinh và phát triển tốt vốn rừng.
Theo ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào ý thức của cộng đồng dân cư và sự quan tâm của chính quyền sở tại.
Do vậy, khi tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, cán bộ kiểm lâm phải hiểu rõ văn hóa bản địa; trong đó kêu gọi đồng bào phát huy các tập quán tốt đẹp về giữ rừng truyền thống và tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. (Báo Quảng Nam 5/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhiều lãnh đạo, cán bộ quản lý đất rừng U Minh Hạ (Cà Mau) đang nắm trong tay rất nhiều đất rừng. Mọi chuyện tưởng chừng đã đi vào quên lãng, nhưng các cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau vừa làm “sống lại” vụ việc qua đơn tố giác của người dân.
Thanh tra tỉnh Cà Mau vừa có kết luận về việc hàng loạt cán bộ làm công tác bảo vệ và phát triển rừng U Minh Hạ đã lợi dụng chức vụ để chia chác đất rừng rồi đem bán hoặc thuê để hưởng lợi bất hợp pháp.
Đầu tháng 9-2014, tại xã Khánh Thuận (huyện U Minh), nhiều người dân biết rất rõ những “khu đất quan” thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ (gọi tắt Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ).
Chỉ tay về trang trại thanh long nằm giữa cánh rừng xanh bạt ngàn U Minh Hạ, ông Nguyễn Văn Quang (ngụ ấp 19, xã Khánh Thuận) nói: “Đây là đất “vàng” của ông Tư Phước (Nguyễn Hữu Phước, phó giám đốc Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ).
Ông Phước là một trong những người nổi tiếng có nhiều đất ở vùng rừng tràm U Minh Hạ”. Khu đất này thuộc thửa số 162, khoảnh 12 của tiểu khu 002, diện tích 5,5ha. Sở dĩ được gọi là khu đất “vàng” vì nó giáp với hai mặt tiền, toàn bộ diện tích đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp, không như những khu đất khác bị giới hạn 30% sản xuất nông nghiệp, 70% trồng rừng.
Cũng tại tiểu khu 002, ông Phước còn có một phần đất diện tích 11ha. Phần đất này, ông Phước nhận giao khoán của Lâm ngư trường Sông Trẹm trước đây.
Liền kề với thửa đất trên, “bóng dáng” ông Phước cũng xuất hiện trong phần đất thuộc thửa số 138, khoảnh 5 (diện tích 11,7ha, do em ruột của ông Phước đứng tên). Đó là chưa kể việc ông Phước để vợ đứng tên thửa đất số 95, khoảnh 10 tiểu khu 007 (diện tích 4ha).
Ông Phước thừa nhận bốn thửa đất trên là của mình, nhưng nói rằng 3/4 lô đất là do mình sang lại. Trong khi đó, theo kết luận của Thanh tra tỉnh Cà Mau thì ông Phước có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Cụ thể, ông Phước nhận chuyển nhượng và chuyển nhượng đất rừng không được sự chấp thuận của Lâm ngư trường Sông Trẹm, tự làm hợp đồng giao khoán cho em ruột là Nguyễn Chí Thành, đưa cho ông Phạm Thành Văn ký với chức danh phó giám đốc trên hợp đồng vào năm 1995 nhưng trên thực tế năm 1998 ông Văn mới được bổ nhiệm làm phó giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm, để hợp thức hóa 11,7ha đất lâm nghiệp cho ông Nguyễn Chí Thành sử dụng.
Thanh tra tỉnh Cà Mau cũng kết luận ông Phước có nhiều tài sản thuộc diện phải kê khai theo quy định của Luật phòng chống tham nhũng nhưng cố tình che giấu những phần đất mình đang sử dụng.
Tương tự, ông Nguyễn Ngọc Tuấn (nguyên giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm, hiện nay là phó Ban dân vận Huyện ủy Thới Bình) được ưu tiên giao khoán đến hai phần đất với diện tích 22,5ha. Sau khi nhận khoán, ông Tuấn chuyển nhượng bằng cách xác lập hợp đồng mới cho người khác.
Bán đất xong, ba người con ông Tuấn lại được giao khoán tiếp 27,3ha đất. Tổng cộng, ông Tuấn và các con có năm thửa đất với tổng diện tích gần 50ha. Theo Thanh tra tỉnh Cà Mau, ông Tuấn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, vụ lợi cho cá nhân và gia đình.
Tại Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ, hiện có không ít cán bộ cũng thuộc vào loại “vua đất” như ông Trần Minh Cảnh (cán bộ Phân trường Sông Trẹm) và gia đình có trong tay tới trên 68ha đất, ông Lê Việt Triều (trưởng Phân trường Sông Trẹm) có hai thửa đất trên 19ha...
Tại vùng đệm Vườn quốc gia (VQG) U Minh Hạ (xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời), ông Lê Thanh Toàn (ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi) bức xúc: “Nhiều dân ở đây không có đất, trong khi đó cán bộ của vườn, cán bộ tỉnh nhận đất lại không sản xuất mà đem sang bán hoặc cho thuê kiểu phát canh thu tô”.
Theo một báo cáo của cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau, chỉ riêng tại vùng đệm VQG U Minh Hạ hiện đã giao khoán 863ha, trong đó hợp đồng giao khoán cho cán bộ 75ha và có đến 32 hộ là cán bộ nhận đất chuyển nhượng cho các hộ khác.
Ở VQG U Minh Hạ, đất kinh doanh (thuộc phân khu dịch vụ hành chính) cũng được cấp cho nhiều cán bộ. Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Cà Mau, khi được Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Cà Mau “bật đèn xanh” thì lô đất kinh doanh bị “xẻ thịt”, đem cấp cho các ông Tạ Vĩnh Thắng (nguyên chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau), Nguyễn Văn Thế (nguyên giám đốc VQG U Minh Hạ, hiện đã chuyển công tác về Cục Kiểm lâm), Nguyễn Quang Của (nguyên chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, hiện nghỉ hưu)... Phần lớn cán bộ lãnh đạo này đều không trực tiếp sản xuất, mà đem đất cho thuê hoặc sang bán cho người khác.
Ông Nguyễn Văn Thanh (người dân sống tại vùng đệm VQG U Minh Hạ) ngậm ngùi kể: “Trước đây (1987), vào ngày sinh nhật Bác, lãnh đạo ban quản lý rừng ngày trước vận động dân đào đất, đắp bờ trồng tràm, bạch đàn.
Ngày ra quân treo cờ, căng bảng hiệu làm rất khí thế. Sau đó, “Vườn cây nhớ ơn Bác” bị phá và lấy đất cấp cho cán bộ”.
Giải thích về chuyện này, ông Lê Thanh Dũng - phó giám đốc VQG U Minh Hạ - nói: “Do bị ảnh hưởng bão, cây đổ ngã, không khắc phục được, nên năm 2003 lãnh đạo lúc bấy giờ cho khai thác trắng”.
Theo ông Dũng, trong các văn bản hiện còn lưu giữ không có tên gọi “Vườn cây nhớ ơn Bác”, cái tên này chỉ do người dân gọi xuất phát từ việc trồng cây nhân sinh nhật Bác.
Thế nhưng khác với lý giải của ông Dũng, kết luận của Thanh tra tỉnh Cà Mau lại cho rằng sau khi khai thác xong “Vườn cây nhớ ơn Bác” thì lãnh đạo VQG U Minh Hạ không chỉ đạo trồng lại rừng mà lại lấy phần đất trên để giao khoán cho cán bộ.
Không chỉ chiếm đất rừng cho thuê, sang bán hưởng lợi mà lãnh đạo VQG này còn có sai phạm khác. Cụ thể, vào tháng 6-2013, ông Tạ Vũ Linh (phó giám đốc VQG U Minh Hạ) bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời khởi tố về tội “tham ô tài sản”.
Theo Cơ quan cảnh sát điều tra, ông Linh lợi dụng chức vụ tự ý bán cá ở các kênh mương VQG U Minh Hạ để thu lợi bất chính. Ông Linh cũng là lãnh đạo VQG U Minh Hạ được cấp đất hai lần. Vào giữa tháng 8-2014, TAND huyện Trần Văn Thời đưa vụ án ra xét xử nhưng sau đó tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung. (Tuổi Trẻ 8/9) đầu trang(
Sau khi được giao đất để triển khai dự án trồng rừng cao su, Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh (Công ty Cao su Hà Tĩnh), doanh nghiệp 100% vốn của Nhà nước, đã móc nối với doanh nghiệp tư nhân lập khống hồ sơ đền bù cho người dân, để hưởng lợi 5,2 tỉ đồng.
Trong khi đó, hàng chục hộ dân thuộc vùng rừng phòng hộ đầu nguồn xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) lại rơi vào tình cảnh "có tiếng mà không có miếng".
Mới đây, Thượng tá Phạm Văn An, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết, cơ quan này đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với các đối tượng đã có hành vi lập hồ sơ khống để tham ô 5,2 tỉ đồng tiền của Nhà nước.
Theo đó, các đối tượng bị bắt tạm giam gồm: Nguyễn Văn Hà (SN 1971, trú tại tỉnh Hải Dương), nguyên Giám đốc Công ty Đại Phát và Ngô Đăng Khoa (SN 1973, trú tại Nghệ An), nguyên Trưởng ban rừng phòng hộ Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh).
28/8, cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Hà Tĩnh đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Trần Ngọc Sơn, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê, nguyên Giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh vì đã có hành vi cấu kết lập hồ sơ khống.
Theo tài liệu của cơ quan điều tra, năm 2010, Công ty Cao su Hà Tĩnh triển khai dự án đầu tư trồng rừng cao su trên 1.000ha tại xã Cẩm Mỹ và Cẩm Quan (Cẩm Xuyên). Nhưng diện tích đất Công ty Cao su Hà Tĩnh khảo sát thuê để trồng cây cao su trùng với khu vực trước đó UBND tỉnh cấp cho Công ty chế biến gỗ xuất khẩu Đại Phát. Do vậy, Công ty Cao su Hà Tĩnh đã lập dự toán hỗ trợ cho Công ty Đại Phát 3,5 tỉ đồng và gửi vào tài khoản công ty này số tiền 1,7 tỉ đồng để chia nhau.
Cụ thể, cuối tháng 3/2010, ông Trần Ngọc Sơn, Giám đốc Công ty Cao su Hà Tĩnh cùng với trợ lý Nguyễn Thanh Bình và Lê Hươm, Trưởng phòng kế hoạch thông qua Ngô Đăng Khoa, trực tiếp gặp Nguyễn Văn Hà, bàn bạc thỏa thuận để Công ty Đại Phát rút dự án trồng rừng nguyên liệu cho Công ty Cao su Hà Tĩnh thuận lợi làm thủ tục thuê đất. Tuy nhiên, do Nguyễn Văn Hà đòi giá bồi thường hỗ trợ quá cao (10 triệu đồng/ha) nên thỏa thuận không thành công.
Khoảng một tuần sau, Trần Ngọc Sơn và Nguyễn Thanh Bình tiếp tục gặp Nguyễn Văn Hà, Ngô Đăng Khoa bàn về chủ trương của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam là chỉ đền bù tối đa 5 triệu đồng/ha và thống nhất bồi thường cho Công ty Đại Phát 3,5 tỉ đồng. Ngoài ra, hỗ trợ BQL rừng phòng hộ Cẩm Xuyên 1,7 tỉ đồng, nhưng kèm điều kiện là phải nhanh chóng làm thủ tục trả đất để Công ty Cao su thuê và được Nguyễn Văn Hà chấp nhận. Còn Ngô Đăng Khoa ra điều kiện số tiền 1,7 tỉ đồng phải chuyển vào tài khoản của Công ty Đại Phát và giữ kín thông tin không cho ai biết.
Đầu tháng 4/2010, Công ty Cao su Hà Tĩnh chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Đại Phát 5,2 tỉ đồng. Trong đó, 3,5 tỉ đồng là chi phí cơ hội đầu tư và chi phí để công ty này bỏ ra làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận đầu tư; còn 1,7 tỉ đồng được chia làm đôi, 1,2 tỉ đồng cho Ngô Văn Khoa và 500 triệu đồng cho Trần Ngọc Sơn.
Sau khi chuyển tiền vào tài khoản Công ty Đại Phát, Trần Ngọc Sơn đã hướng dẫn Nguyễn Văn Hà chỉ đạo cán bộ chuyên môn lập khống chứng từ, bảng kê và hồ sơ bồi thường số tiền 5,2 tỉ đồng. Được biết, đây là vụ án tham ô xảy ra trong doanh nghiệp chiếm hữu 100% vốn Nhà nước.
Những ngày gần đây, dư luận địa phương hết sức bất ngờ trước việc một số hộ dân thuộc xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên có danh sách trong diện được hưởng tiền đền bù trồng rừng cao su, nhưng trên thực tế họ là những người không nhận được một đồng nào từ dự án này. Vì thế, họ đã rơi vào tình cảnh "có tiếng mà không có miếng", khi danh sách được hỗ trợ trồng rừng lên đến số tiền hơn 2,5 tỉ đồng!
Hơn 50 hộ dân ở xóm 4 ở Cẩm Mỹ (Cẩm Xuyên) đang muốn tìm câu trả lời cho việc tại sao tên của họ lại xuất hiện một cách khó hiểu trong một bản danh sách được nhận tiền đền bù trồng rừng cao su. Người có tên ở đầu danh sách này là ông Dương Hữu Tuấn được nhận hơn 100 triệu đồng. Nhưng thực tế, ông không hề biết cho đến khi được mời đến họp về sự việc này.
"Chúng tôi không hiểu vì sao tên mình lại có trong danh sách nhận tiền đền bù, bởi số tiền đó không biết ai nhận, nhận ở đâu và số lượng bao nhiêu? Chúng tôi kính mong các cơ quan chức năng cùng vào cuộc một cách khách quan, minh bạch vấn đề này để trả lại tiền cho Nhà nước".
Theo tìm hiểu của PV, trong Quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh, không hề có thông tin nào liên quan đến Công ty Đại Phát, cũng như không có diện tích đất rừng của Công ty Đại Phát tại rừng thuộc BQL rừng phòng hộ Cẩm Xuyên quản lý. Thế nhưng trước đó, ngày 12/5/2010, Công ty Cao su Hà Tĩnh có biên bản thỏa thuận đền bù 5,2 tỉ đồng cho Công ty Đại Phát.
Theo nội dung đã thỏa thuận, Công ty Cao su Hà Tĩnh đã thanh toán chuyển số tiền 5,2 tỉ đồng cho Công ty Đại Phát thông qua ba lần chuyển tiền từ tháng 8/2010 đến tháng 12/2011. Trong đó có "chi phí đầu tư trên diện tích thu hồi các hộ dân giao khoán trồng rừng nguyên liệu" là 2,52 tỉ đồng.
Liền sau đó, Công ty Đại Phát bắt đầu làm thủ tục đền bù, hỗ trợ cho người dân trong khu vực. Các giấy tờ liên quan thể hiện người dân đã nhận tiền dần được thiết lập, con số chi đền bù lên đến hàng tỉ đồng... Nhưng lạ thay, người dân không hề hay biết rằng mình được nhận đền bù, chứ chưa nói đến việc họ cầm được một xu tiền đền bù hỗ trợ.
Trên thực tế, thời điểm đó, Công ty Đại Phát chưa đầu tư gì trên diện tích trồng rừng nguyên liệu tại địa phương. Số diện tích đất này do người dân xã Cẩm Mỹ trực tiếp trồng rừng và bảo vệ rừng theo các dự án trồng rừng nguyên liệu và dự án trồng rừng 661 của Nhà nước, thuộc BQL rừng phòng hộ Cẩm Xuyên quản, bảo vệ. Rõ ràng, Quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ giao thu hồi rừng phòng hộ Cẩm Xuyên cho Công ty Cao su Hà Tĩnh thuê chứ không phải là Công ty Đại Phát.
Thế nhưng, trong quá trình thực hiện quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh, Công ty Đại Phát lại xuất hiện trong một thỏa thuận, nhận hàng tỉ đồng mà nhẽ ra, số tiền đó là khoản đền bù, hỗ trợ cho người dân được giao khoán trồng rừng, hay BQL rừng phòng hộ Cẩm Xuyên.
Theo những người dân ở địa phương, chỉ có một manh mối duy nhất để có thể lý giải cho danh sách khống này là vào năm 2010, Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh đã thuê một số người dân địa phương hợp đồng chặt bỏ những đồi cây keo lai để phủ xanh những rừng cao su... Và danh sách này dựa trên những hộ dân nhận hợp đồng thuê khoán trồng rừng nguyên liệu từ đó.
Tai hại nhất là phá mất một rừng thông thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn để trồng cây cao su, nhưng do không hợp khí hậu và thổ nhưỡng nên giờ khu rừng vẫn chỉ là những quả đồi trọc. Kết quả là, những gốc keo già trơ gốc, cây cao su thì chưa kịp lớn. Thế nhưng, dự án kia lại được báo cáo là đã hoàn thành và kết thúc. Chỉ có người dân là giật mình không biết họ đã được nhận hơn 2,5 tỉ đồng vào lúc nào!?
Ngày 29/8, Thượng tá An cho biết, hiện cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục mở rộng, làm rõ vụ án. (Đời Sống & Pháp Luật 7/9)  đầu trang(
7.9, thiếu tá Nguyễn Vinh Cảnh, Phó trưởng Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Hà Tĩnh, cho biết đơn vị này vừa phối hợp với Cục Cảnh sát Hình sự (C45) Bộ Công an bắt giam bà Nguyễn Thị Minh (36 tuổi, quê TP.Hà Tĩnh, ngụ xã Tân Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận) để điều tra về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
PC45 cho biết vụ bắt giam bà Minh được thực hiện vào lúc 17 giờ ngày 6.9 và buổi tối cùng ngày, cơ quan chức năng đã khám xét nơi ở của bà này tại nhà số 153B đường Nguyễn Công Trứ, TP.Hà Tĩnh (Hà Tĩnh), thu giữ được nhiều giấy tờ, tài liệu liên quan.
Liên quan đến vụ việc, PC45 cho biết thêm, trước đó, khoảng 16 giờ ngày 28.10.2013, một tổ công tác của Công an TP.Hà Tĩnh và PC45 bất ngờ ập vào khách sạn P.Q (đóng tại xã Thạch Trung, TP.Hà Tĩnh) phát hiện bà Minh giữ gần 3.000 sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) mang tên nhiều hộ gia đình ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Đắk Lắk và Sơn La.
Qua kiểm tra, số sổ đỏ này không có nguồn gốc rõ ràng và bà Minh có những biểu hiện đáng ngờ nên cơ quan chức năng lập biên bản tạm giữ toàn bộ vật chứng và mời bà này về trụ sở Công an TP.Hà Tĩnh để phục vụ công tác điều tra.
Tiếp đến, vì thấy vụ việc quá phức tạp, vượt thẩm quyền nên Cơ quan CSĐT Công an TP.Hà Tĩnh và Công an tỉnh Hà Tĩnh chuyển hồ sơ vụ án cho Cục Cảnh sát Hình sự (C45) Bộ Công an tiếp tục điều tra làm rõ.
Qua quá trình điều tra, C45 xác định bà Minh có hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cụ thể, bà này đã có hành vi mua lại sổ đỏ không rõ nguồn gốc của những đối tượng chuyên đi lừa đảo, gom sổ đỏ của người dân ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Đắk Lắk và Sơn La để chạy dự án trồng rừng của Chính phủ.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, mở rộng. (Thanh Niên 8/9) đầu trang(
Trước nghịch lý đất rừng mênh mông nhưng dân không có đất để sản xuất, từ tháng 3.2014, UBND tỉnh đã bóc tách 3.351ha đất lâm nghiệp ở các huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và TX.Ninh Hòa để giao lại cho hộ nghèo.
Song hiện tiến độ giao đất rất chậm và gặp nhiều vướng mắc, một số địa phương chưa xây dựng xong phương án chia đất. Chưa kể nhiều vùng đất được bóc tách có độ dốc lớn, đất xấu, đi lại khó khăn nên dân không chịu nhận...
Khánh Vĩnh có đến 87.198,99ha đất rừng. Trong số đó, Công ty Trầm Hương quản lý 40.000ha rừng, đất rừng nằm trên địa bàn 6 xã Khánh Hiệp, Khánh Bình, Khánh Trung, Khánh Nam, Khánh Đông và TT.Khánh Vĩnh. Công ty này cũng đã trồng khoảng 4.000ha rừng.
Đất rừng mênh mông như thế và Công ty Trầm Hương “quản” không xuể để lâm tặc phá rừng tràn lan, nhưng hàng trăm hộ dân ở đây lại thiếu đất sản xuất! UBND tỉnh Khánh Hòa buộc phải bóc tách đất lâm nghiệp của Công ty Trầm Hương (chưa bóc tách đất chương trình 327 tại xã Khánh Đông) và các đơn vị, cá nhân khác để giao cho huyện Khánh Vĩnh 1.355ha đất.
Trước mắt huyện này sẽ giao 182ha cho 364 hộ nghèo, thiếu đất sản xuất. Trong khi đó, tại TX.Ninh Hòa, UBND tỉnh đã thu hồi 1.076ha đất ở các xã Ninh Thượng, Ninh An, Ninh Tây, Ninh Sơn, Ninh Trung do Ban quản lý rừng phòng hộ TX.Ninh Hòa quản lý, sử dụng để giao cho địa phương giao lại cho hộ nghèo, thiếu đất sản xuất.
Theo ông Nguyễn Trí Tuân - Phó Chủ tịch UBND huyện Cam Lâm - không để dân thiếu đất, thiếu đói triền miên, huyện vừa tiếp nhận 417ha đất bóc tách từ đất của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện để giao cho dân. Trong số đó, đất đã có chủ sử dụng hơn 161ha, chưa có chủ hơn 22ha, phần còn lại là đất trống.
Còn huyện miền núi Khánh Sơn được bóc tách 503ha để giao cho hộ dân thiếu đất. Bà Nguyễn Thị Hoan - Giám đốc Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường (Sở TNMT) - cho biết, tất cả diện tích bóc tách đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã được trung tâm đo đạc lập bản đồ trích đo địa chính, cắm mốc theo quy định. Vấn đề còn lại là các địa phương nghiên cứu từng thửa đất bóc tách để phân chia giao lại cho dân.
Sau khi nhận đất bóc tách rừng, các địa phương phải lập phương án giao đất (chủ yếu là trồng rừng) cho hộ nghèo thiếu đất sản xuất trình UBND tỉnh trước ngày 1.7.2014. Thế nhưng, đến nay công việc này dường như vẫn “giậm chân tại chỗ”, một số huyện vẫn chưa có phương án giao đất.
Hiện chỉ mới có huyện Khánh Vĩnh có tờ trình số 53 đề nghị UBND tỉnh cấp kinh phí để triển khai thực hiện việc cắm mốc ranh giới phục vụ cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ nghèo thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện, gồm 364 hộ với diện tích 182ha và tổng kinh phí gần 1,5 tỉ đồng.
Nhiều vướng mắc nảy sinh khi có diện tích đất rừng được bóc tách nằm ở lưng chừng núi, đất nông nghiệp chuẩn bị giao cho dân rất manh mún, đất xấu, núi đá, độ dốc, xa khu dân cư có nơi đến 15 - 20km,... dân không sử dụng được. Ông Lê Đức Dũng - Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh - cho biết, dù huyện rốt ráo chỉ đạo giao đất bóc tách cho dân, nhưng tiến độ thực hiện chậm do phải rà soát danh sách hộ nghèo, bóc tách đất ở thôn nào giao cho thôn đó.
Theo hướng của UBND tỉnh là, Công ty Trầm Hương phải cho lại đất 327 tại xã Khánh Đông để dân sản xuất chứ không phải thu hồi, nhưng hiện cũng chưa thực hiện được. Hiện nay, TX.Ninh Hòa đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc giao đất cho hộ thiếu đất sản xuất, vì việc xác định sở hữu chủ đất lâm nghiệp trên địa bàn rất phức tạp, rắc rối, phát sinh nhiều tranh chấp, đặc biệt là tại khu vực xã Ninh Sơn.
Trong khi đó, theo lãnh đạo huyện Khánh Sơn, vướng mắc trong việc giao đất là do hiện trạng đất lấn chiếm của người dân đang sản xuất càphê. Nếu thu hồi giao cho hộ thiếu đất thì việc sản xuất sẽ không hiệu quả.
Trao đổi với PV, ông Vũ Xuân Thiềng - Phó Giám đốc Sở TNMT tỉnh - cho biết, hiện phương án của các địa phương còn sơ sài, chưa cụ thể nên gây khó khăn cho công tác thẩm định, tham mưu.
Vấn đề đặt ra là các địa phương phải vào cuộc quyết liệt lên phương án chi tiết, xem xét nguồn đất bóc tách giao cho dân gần đó để thuận tiện sản xuất ổn định; xây dựng kế hoạch giao đất thực địa rõ ràng, phân rõ đối tượng, khu vực, tiến độ, thời gian, số lượng cột mốc... (Lao Động 6/9, tr6) đầu trang(
Mới đây, Chi cục Lâm nghiệp Nghệ An đã đón đoàn Sở NN&PTNT, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng đến giao lưu, học hỏi kinh nghiệm về công tác Quản lý rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Nghệ An trong thời gian qua.
Qua buổi làm việc, Chi cục Lâm nghiệp đã trao đổi một số kinh nghiệm về công tác Quản lý rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại Nghệ An trong thời gian qua và định hướng cho giai đoạn tiếp theo.
Đoàn Sở Nông nghiệp& PTNT, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng rất tâm đắc và cảm ơn sự đón tiếp, trao đổi kinh nghiệp của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Nghệ An và trao tặng cho đơn vị món quà lưu niệm của Đoàn. (Sở NNPTNT Nghệ An 4/9) đầu trang(
Phó Chủ tịch Lê Đình Sơn vừa thay mặt UBND tỉnh Hà Tĩnh ký văn bản về việc thu hồi đất lâm nghiệp của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Theo đó, UBND tỉnh đồng ý chủ trương của Sở TN&MT về việc thu hồi 1.409,7 ha đất lâm nghiệp thuộc đối tượng quy hoạch rừng sản xuất hiện do BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ quản lý, nằm trên địa bàn các xã: Cẩm Duệ, Cẩm Hưng, Cẩm Lạc, Cẩm Lĩnh, Cẩm Minh, Cẩm Quan, Cẩm Thịnh, Cẩm Trung, Cẩm Mỹ, Cẩm Sơn (Cẩm Xuyên).
Số diện tích thu hồi trên được giao lại cho chính quyền địa phương quản lý, bố trí sử dụng đúng quy định, đảm bảo hiệu quả. (Nông Nghiệp Việt Nam 8/9) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn huyện Thường Xuân có 57 doanh nghiệp, trong đó có 9 doanh nghiệp, HTX, tổ hợp hoạt động trong lĩnh vực chế biến lâm sản.
Để thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến lâm sản, phát huy thế mạnh của địa phương, thời gian qua, Thường Xuân đã đổi mới mạnh mẽ về môi trường đầu tư kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, đất đai, giải phóng mặt bằng để các doanh nghiệp và cá nhân đầu tư vào địa bàn.
Bên cạnh thu hút các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là quan tâm đầu tư vào lĩnh vực chế biến, tiêu thụ tại chỗ các sản phẩm lâm nghiệp, huyện đang tích cực vận động người dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thay thế dần các loại cây lâm nghiệp giá trị, năng suất thấp bằng các giống cây có giá trị kinh tế cao hơn, như: keo Úc, luồng, quế...
Bên cạnh đó, huyện còn tuyên truyền, vận động nhân dân triển khai áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào canh tác để nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, góp phần tăng thu nhập cho người dân, bảo đảm cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến.
8 tháng năm 2014, các doanh nghiệp, HTX, tổ hợp hoạt động trong lĩnh vực chế biến lâm sản trong huyện đã có doanh thu gần 14,5 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 800 lao động địa phương với mức thu nhập ổn định 2,5 đến 4 triệu đồng/người/tháng. (Báo Thanh Hóa 6/9) đầu trang(
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cho biết, hiện nay, Chi cục đang tiến hành các thủ tục trình cấp có thẩm quyền để giải thể Trạm Kiểm lâm Phước Đồng (TP. Nha Trang). UBND TP. Nha Trang đã có ý kiến thống nhất về việc giải thể Trạm Kiểm lâm này.
Ngoài ra, Chi cục còn làm việc với UBND huyện Diên Khánh để đi đến thống nhất giải thể Trạm Kiểm lâm Hòn Ngang (huyện Diên Khánh); thực hiện thủ tục dời Trạm Kiểm lâm Đại Lãnh (huyện Vạn Ninh) từ xã Đại Lãnh đến đặt tại xã Vạn Phước; thực hiện các thủ tục xin giao đất để xây dựng Trạm Kiểm lâm đặt tại dốc A Meo (huyện Khánh Vĩnh).
Được biết, nguyên nhân của việc giải thể, di dời các trạm kiểm lâm là do các trạm không còn phù hợp với điều kiện thực tế, nhiều nơi không còn rừng hoặc rừng đã lùi xa. (Báo Khánh Hòa 3/9) đầu trang(
3/9, Chi bộ Văn phòng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh tổ chức lễ xét chuyển Đảng chính thức cho 3 đ/c và kết nạp Đảng viên đối với 2 quần chúng ưu tú.
Tới tham dự có ông Nguyễn Huy Lợi – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Sở NN&PTNT, Bí thư Đảng bộ Bộ phận Chi cục Kiểm lâm cùng các Lãnh đạo Chi cục, trong Cấp ủy và toàn thể Đảng viên sinh hoạt tại Chi bộ Văn phòng.
Sau lễ chào cờ, ông Nguyễn Danh Kỳ, Bí thư Chi bộ tuyên bố lý do và thông qua chương trình buổi lễ. Trong không khí trang nghiêm, 2 quần chúng ưu tú vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng đã đọc lời tuyên thệ và được Cấp ủy phổ biến rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người Đảng viên.
Đồng thời các Quyết định Chuyển đảng chính thức được trao cho: Trần Thị Thanh Bình, Nguyễn Việt Dũng, Hoàng Thị Kim Tiến; Quyết định Kết nạp Đảng viên trao cho 2 quần chúng ưu tú Phạm Thị Mỹ Linh và Trần Thị Tú Anh.
Với 2 Đảng viên mới, số lượng của Chi bộ Văn phòng đã được nâng lên 21 người; chất lượng ngày càng cao với 4 người trình độ cao cấp chính trị, 2 người trung cấp; trình độ chuyên môn có 5 thạc sỹ, 15 đại học.
Đây là những cán bộ cốt cán, tích cực của ngành, đã góp phần cho sự lớn mạnh của Chi bộ cũng như đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng của Chi cục Kiểm lâm thời gian tới. (Sở NNPTNT Hà Tĩnh 4/9) đầu trang(
Tổng cục Hải quan vừa có công văn trả lời Cục Hải quan Đà Nẵng liên quan vướng mắc về việc áp dụng văn bản để xử phạt trong trường hợp mặt hàng gỗ XK có nguồn gốc NK không đúng với thực tế về số lượng, khối lượng, quy cách lâm sản so với hồ sơ lâm sản hợp pháp.
Cục Hải quan Đà Nẵng phản ánh, khi thực hiện việc kiểm tra hải quan đối với các lô hàng gỗ XK, có nguồn gốc NK mà phát hiện số gỗ không đúng với thực tế về số lượng, khối lượng, quy cách lâm sản so với hồ sơ lâm sản hợp pháp (gỗ không có hồ sơ hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng hồ sơ không phù hợp với lâm sản thực tế vận chuyển) thì áp dụng quy định tại điểm a khoản 2, khoản 6 Điều 12 (hoặc khoản 2 Điều 8 nếu vi phạm quy định về khai thuế) Nghị định 127/2013/NĐ-CP để xử phạt.
Nếu áp dụng quy định tại Điều 22 (hoặc Điều 23) Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản để xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan Hải quan không có thẩm quyền xử phạt, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Trong trường hợp này, đơn vị áp dụng văn bản nào để xử phạt?
Trả lời thắc mắc này, Vụ Pháp chế (Tổng cục Hải quan) cho biết, khoản 1 Điều 64 Luật Hải quan hiện hành quy định: “Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Căn cứ quy định nêu trên, Tổng cục Hải quan đề nghị Cục Hải quan Đà Nẵng căn cứ quy định tại Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15-10-2013 để xử phạt đối với các lô hàng gỗ XK, có nguồn gốc NK mà phát hiện số gỗ không đúng với thực tế về số lượng, khối lượng, quy cách lâm sản so với hồ sơ lâm sản hợp pháp (gỗ không có hồ sơ hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng hồ sơ không phù hợp với lâm sản thực tế vận chuyển) phát hiện trong địa bàn hoạt động hải quan. (Hải Quan 6/9) đầu trang(
Viện Nghiên cứu Lúa (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) và Viện Vật lý (Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam) đã nghiên cứu sản xuất gỗ sinh thái TGV xenlulo composite từ trấu.
Bản chất của công nghệ này là chế tạo các thanh gỗ thịt có chiều dài vô tận từ các hạt vụn xenlulo nguồn gốc từ bột trấu. Gỗ làm từ trấu có độ bền tương đương gỗ tự nhiên, khả năng chịu uốn, nén, tỷ trọng cao hơn gỗ tự nhiên, không ngấm nước do đã loại bỏ được kết cấu lỗ bên trong cùng với loại keo kết dính đặc biệt.
Khả năng chịu nhiệt của loại gỗ này đạt 200OC (trong khi gỗ thông thường chỉ là 175OC). Vì có khả năng chịu nước cao, gỗ trấu có thể làm mái nhà hay vách ngăn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Giá thành của loại gỗ này tương đương các loại gỗ công nghiệp khác hiện nay và rẻ hơn gỗ tự nhiên. (Công Thương 5/9, tr14) đầu trang(
7/9, tin từ Công an huyện Lệ Thủy cho biết, đang tạm giữ hình sự đối tượng Lê Văn Đồng (40 tuổi) quê ở thôn Cẩm Ly, xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) để điều tra hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Trước đó, vào trưa 6/9, để giải quyết việc tranh chấp đất rừng đối với anh em của ông Nguyễn Đăng Thọ (47 tuổi, người cùng thôn), Đồng vác súng dọa dẫm một hồi rồi liên tục nổ, nhưng may mắn là không ai bị trúng đạn.
Sự việc ngay sau đó được trình báo các cơ quan chức năng, đến tối cùng ngày, đối tượng đã mang 1 khẩu súng và 3 viên đạn đến cơ quan công an đầu thú. (Tiền Phong 7/9; Người Lao Động 7/9; Thanh Niên 7/9) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, hiện nay, tỉnh đã giao trên 71.056 ha rừng tự nhiên cho 5.026 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng thôn, buôn quản lý và bảo vệ.
Việc làm trên không những hạn chế được tình trạng chặt phá rừng trái phép, làm giàu thêm vốn rừng mà còn tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình đồng bào dân tộc.
Vườn Quốc gia Yok Đôn từ năm 2013 đến nay đã tiến hành giao khoán quản lý và bảo vệ rừng, với tổng diện tích 35.000 ha cho cộng đồng 19 thôn, buôn của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã Krông Na, Ea Huar, Ea Wer (huyện Buôn Đôn). Nhờ vậy, đời sống đồng bào từng bước được cải thiện và ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng của người dân cũng được nâng cao, hạn chế tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng, đất rừng như những năm trước đây.
Tại buôn Trí B, xã Krông Na tất cả 138 hộ gia đình nhận tham gia quản lý bảo vệ 1.642 ha rừng của Vườn Quốc gia Yok Đôn. Các hộ chia làm 8 nhóm, thay nhau đi tuần tra bảo vệ rừng vào tất cả các ngày trong tuần, khi phát hiện có người lạ vào lâm phần do thôn, buôn quản lý báo ngay với các đơn vị chức năng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý. Nhờ vậy, từ năm 2013 trở lại đây, trên lâm phần của buôn quản lý không còn tình trạng khai thác, lấn chiếm đất rừng trái phép, đồng thời, thu nhập của đồng bào cũng được tăng thêm từ mức thù lao quản lý bảo vệ rừng (bình quân 200.000 đồng/ha)…
Theo ông Nguyễn Hữu Thiện, Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn, với thực trạng đội ngũ quản lý, bảo vệ rừng đang thiếu, việc giao khoán rừng cho các thôn, buôn không những tăng thêm nhân sự cho công tác quản lý, bảo vệ rừng mà còn giúp đời sống người dân từng bước được cải thiện, nhận thức quản lý, bảo vệ rừng nân cao.
Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Trang Quang Thành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, các quy định của nhà nước về giao đất, giao rừng còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế. Cụ thể, phần lớn diện tích rừng được giao cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng thôn, buôn chủ yếu là rừng nghèo, trước mắt chưa có sản phẩm để hưởng lợi trong khi luân kỳ kinh doanh đối với cây lâm nghiệp tương đối dài.
Trong khi đó, các hộ nhận rừng hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, không có nguồn vốn để đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng. Hơn nữa, thu nhập các sản phẩm trực tiếp từ rừng của các hộ dân được giao rừng hiện tại rất thấp so với canh tác những loại cây trồng nông nghiệp khác trên diện tích được giao. Do vậy, xuất hiện tình trạng một số hộ phá rừng để lấy đất trồng các loại cây trồng khác hoặc sang nhượng đất đai trái pháp luật.
Ông Trang Quang Thành kiến nghị, trung ương cần sớm ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù để quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả. Cùng với đó, có cơ chế, chính sách và quy định về giao, khoán, hưởng lợi đối với cộng đồng buôn làng được giao quản lý bảo vệ rừng và hưởng lợi ổn định, lâu dài nhằm khuyến khích cộng đồng buôn làng chăm lo việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Thành cũng cho rằng, cần thí điểm cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi ích khi tham gia bảo vệ phát triển rừng, đồng thời, đề xuất trung ương tăng mức thù lao quản lý bảo vệ rừng lên từ 300.000 đến 500.000 đồng/ha/năm (hiện nay 200.000 đồng/ha/năm)… (Tin Môi Trường 5/9; Tin Tức 6/9, tr7) đầu trang(
Những năm 90 của thế kỷ trước, công tác giao đất giao rừng bắt đầu được triển khai tại Bắc Kạn. Việc giao đất mang tính đại trà, thủ công bộc lộ nhiều hạn chế. Từ năm 2000 trở lại đây, việc giao đất giao rừng có sự đổi mới, nhưng vẫn còn thiếu sự tham gia của người dân.
Điều này đã được khắc phục khi mà cách thức giao đất giao rừng của Dự án 3PAD đã thể hiện được nhiều ưu điểm. Trong giai đoạn từ 1992 - 1999, việc giao đất giao rừng được giao cho Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn triển khai với mục tiêu đất rừng phải có chủ để phát huy hiệu quả và hạn chế tình trạng khai thác rừng trái phép, đốt nương làm rẫy.Người dân được cấp sổ bìa xanh và đã quản lý khá hiệu quả.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sổ xanh chỉ mang tính tạm thời. Bên cạnh đó, các diện tích đo giao chỉ khoanh vẽ ước lượng dẫn tới xảy ra nhiều tranh chấp phát sinh. Từ giai đoạn năm 2000 đến nay, việc giao đất giao rừng do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện. Mặc dù đã áp dụng nhiều công nghệ khoa học như ảnh viễn thám, GPS, MAPINFOR… nhưng chưa có sự tham gia của người dân. Do đó, dẫn tới vẫn còn tình trạng chồng chéo xảy ra.
Tiến trình giao đất giao rừng không có sự tham gia của người dân bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là, đa phần người dân không nắm rõ về việc này; có người nhận sổ đỏ nhưng không rõ diện tích đất được giao cụ thể ở vị trí nào; có hộ lại không được giao đất dù có nhu cầu; một số doanh nghiệp nhận quá nhiều diện tích đất rừng nhưng quản lý, sử dụng không hiệu quả; việc cắm mốc chưa được thực hiện triệt để; việc giao đất giao rừng chưa thực hiện được đồng thời việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất.
Đó là chưa kể, một số diện tích đất đồi có thể canh tác nông nghiệp nhưng vì đã giao là đất lâm nghiệp nên người dân không thể chuyển đổi mục đích sử dụng. Những bất cập đó cho thấy việc giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân là cần thiết nhất là khi nhu cầu có đất để trồng rừng tại tỉnh ta ngày càng lớn trong những năm gần đây.
Việc giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân được Dự án 3PAD Bắc Kạn triển khai tại các huyện Ba Bể, Na Rì, Pác Nặm đã cho thấy hiệu quả. Quan điểm xuyên suốt trong quá trình thực hiện là giao đất giao rừng phải phù hợp quy hoạch sử dụng đất; phù hợp truyền thống sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số.
Qua hơn 3 năm triển khai tại 35 xã trong vùng dự án đã quy hoạch được 131.256/164.837ha. Trong đó đất rừng sản xuất được quy hoạch là 89.513ha/72.000ha, đạt 124%. Dự án đã giao được 24.474ha đất lâm nghiệp tại 18 xã dự án cho 7.715 hộ gia đình, trong đó 94% là các hộ gia đình dân tộc thiểu số. Tổng diện tích được giao vượt 104% so với kế hoạch đầu tiên của dự án là 12.000 ha. Tổng số hộ nghèo trong 18 xã được giao đất là 5.819 hộ. Tổng cộng, dự án đã giao được 24.474 ha đất lâm nghiệp tại 18 xã dự án cho 7.715 hộ gia đình, trong đó 94% là hộ gia đình dân tộc thiểu số. Tổng diện tích được giao vượt 104% so với kế hoạch đầu tiên của dự án là 12.000ha.
Qua thăm nắm tình hình thực tế tại các xã việc giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân do Dự án 3 PAD thực hiện nhận được sự đồng thuận cao của chính quyền địa phương và người dân. Điểm mới trong công tác này hoàn toàn khác so với trước đây là thay vì thực hiện trên giấy người dân trực tiếp được tham gia lập phương án giao đất lâm nghiệp của thôn, xây dựng kế hoạch sử dụng  và tham gia vào quá trình đo giao đất tại thực địa. Hiệu quả dự án được người dân đánh giá rất cao.
Đơn cử như tại Vũ Loan (Na Rì) qua rà soát có nhóm hộ quản lý từ 80 - 100ha rừng. Sau khi thống nhất, chính quyền xã đã vận động thực hiện việc cấp tối đa 30ha, diện tích còn lại trả cho xã để phân giao cho những hộ chưa có đất. Hay như tại Pác Nặm, nhiều hộ dân không biết chữ nhưng đã được cán bộ dự án hỗ trợ thực hiện hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ thành quả trên UBND tỉnh đã phê duyệt quyết định số 725/QĐ-UBND  ngày 05/5/2014 về việc thể chế hóa Sổ tay hướng dẫn sử dụng và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân theo Dự án 3PAD.
Trên thực tế, cơ bản quỹ đất để trồng rừng sản xuất và kể cả rừng phòng hộ đã được giao tới người dân quản lý. Ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương hoàn thiện việc cấp đổi sổ từ sổ xanh sang sổ đỏ theo quy định.
Tuy nhiên, khi nhiều diện tích đất rừng của các dự án trồng rừng của các doanh nghiệp, nhất là của Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn, hoàn trả lại tỉnh thì sẽ có rất nhiều diện tích đất sẽ cấp cho người dân. Do đó, triển khai giao đất giao rừng theo quy trình có sự tham gia của người dân là điều cần được thực hiện. (Báo Bắc Kạn 4/9) đầu trang(
Hai thôn Tà Lang, Giàn Bí thuộc xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang) có 223 hộ với 776 nhân khẩu, trong đó hơn 90% là người Cơtu. Bao đời nay, người dân 2 thôn này lấy rừng làm kế mưu sinh, bởi nơi họ sinh sống không có đất canh tác.
Cách đây gần chục năm, huyện Hòa Vang giao đất lâm nghiệp cho một số hộ phát triển kinh tế rừng, nhưng mỗi hộ chỉ có 3-4ha tại khu vực bình độ cao. Hiện tại rất nhiều hộ không có mét vuông đất lâm nghiệp nào. Cũng vì vậy mà đời sống, sản xuất của người dân ở 2 thôn này hết sức khó khăn. Giao đất lâm nghiệp để người dân Tà Lang, Giàn Bí phát triển kinh tế rừng là vấn đề vô cùng cần thiết và cấp bách hiện nay.
Đó là thực trạng khá phổ biến từ hàng chục năm nay tại 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí, xã Hòa Bắc. Cùng theo đó, cả 2 thôn không hề có 1ha đất lúa, đất màu. Bất đắc dĩ, để mưu sinh, họ phải kéo nhau đi làm thuê cho các hộ có diện tích đất lâm nghiệp ở khu vực này hoặc vào rừng rút mây, lấy đót, chặt củi bán kiếm tiền. Từ đó, cái nghèo không chịu buông tha hàng trăm gia đình ở 2 thôn đồng bào Cơtu này.
Ông Đinh Văn Như, Bí thư chi bộ thôn Giàn Bí cho rằng: Ở miền núi không đất canh tác nên phát triển kinh tế hiệu quả và bền vững nhất chỉ có thể là trồng cây lấy gỗ (keo lai). Thế nhưng, số hộ có đất rừng không nhiều, mà nếu có đều ở khu vực bình độ cao, đất đai cằn cỗi, khó vận chuyển cây mỗi khi thu hoạch.
Trong khi đó, đất lâm nghiệp khu vực khá bằng phẳng và màu mỡ, sát thôn đều do Lâm trường Sông Nam (trước đây) nay giao lại cho Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa quản lý. Đã có lúc bà con đến các khu vực đó xử lý thực bì lấy đất trồng rừng, song đều bị lực lượng của Ban Quản lý rừng đặc dụng ngăn cản. Không còn cách nào khác, để có thu nhập, ai nấy phải làm thuê, khi thì phát rừng, khi trồng cây, thu hoạch gỗ cho số hộ có rừng trồng tại địa bàn. Một số người đánh liều vào rừng chặt gỗ.
Ông Trần Văn Thời, nguyên Trưởng thôn Tà Lang cho biết: Cách đây hơn 20 năm, người dân thôn Tà Lang định cư ở phía Tây đèo Mũi Trâu. Dạo đó, nhà nào cũng làm nhiều nương rẫy nên lương thực không thiếu. Chỉ có điều, xa xôi cách trở, việc học hành của con em và chữa bệnh cho người dân không đến nơi đến chốn. Đầu những năm 90 thế kỷ trước, dịch sốt rét ập tới, chỉ thời gian ngắn, cả thôn có 6-7 người tử vong, chính quyền địa phương phải di chuyển khẩn cấp bà con về định cư tại thôn Tà Lang hiện nay.
Về trong này, có điện, đường, trường, trạm, song sản xuất gặp không ít khó khăn do không có đất canh tác, làm nương rẫy không còn thuận lợi như trước. Từ đó, đời sống mỗi nhà liên tục lâm vào cảnh khó khăn, nhiều năm phải nhận gạo trợ cấp. Bà con trong thôn có nguyện vọng được trên giao lại đất lâm nghiệp tại thôn Tà Lang để đầu tư trồng rừng, phát triển chăn nuôi, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
Trước thực trạng hàng trăm hộ đồng bào Cơtu ở 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí không có đất lâm nghiệp để phát triển kinh tế rừng, ngày 6-8 vừa qua, UBND xã Hòa Bắc báo cáo bằng văn bản cho UBND huyện Hòa Vang, đề nghị thu hồi đất lâm nghiệp do Công ty CP Vinafor và Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa quản lý giao lại cho từng hộ dân.
Ngoài ra, UBND xã Hòa Bắc cũng kiến nghị huyện Hòa Vang đề xuất thành phố giao lại 56ha đất trồng màu và 755ha đất lâm nghiệp do bà con 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí quản lý trước đây nhưng đã bị thu hồi giao cho Dự án thủy điện Sông Nam - Sông Bắc để bà con tiếp tục sản xuất.
Theo PV được biết, từ kiến nghị hợp tình, hợp lý của chính quyền xã Hòa Bắc, UBND huyện Hòa Vang cũng đã có văn bản đề nghị thành phố thu hồi toàn bộ diện tích rừng do Công ty CP Vinafor quản lý giao lại cho địa phương để huyện lập thủ tục giao cho từng hộ dân phát triển kinh tế rừng. (Báo Đà Nẵng 4/9) đầu trang(
Kết hợp giữa phát triển lâm nghiệp gắn với giảm nghèo bền vững là nội dung được chính quyền huyện Đạ Tẻh chú trọng đặc biệt trong những năm gần đây khi triển khai các nhiệm vụ phát triển KT-XH trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Mặc dầu số lượng đồng bào DTTS chiếm tỷ lệ không cao so với nhiều địa phương khác của tỉnh Lâm Đồng nhưng bởi sự xuất phát điểm của cộng đồng DTTS của huyện còn thấp về nhiều mặt nên trong quá trình phát triển KT-XH ở vùng đồng bào DTTS Đạ Tẻh vẫn gặp những khó khăn nhất định.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo huyện Đạ Tẻh hồi đầu năm, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Tiến lưu ý: Đạ Tẻh cần chú trọng hơn đến công tác giảm nghèo ở vùng DTTS, nhất là triển khai công tác giảm nghèo bền vững gắn với các chương trình lồng ghép, trong đó có chương trình phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Ở nội dung các chương trình và dự án năm 2014 có liên quan đến giảm nghèo, đến lúc này - tháng 9/2014, Đạ Tẻh đã triển khai thực hiện khoảng trên dưới 80% khối lượng công việc và giải ngân đạt 75%. Ví dụ, với tổng nguồn vốn gần 6,7 tỷ đồng của Chương trình 135, tính đến lúc này, Đạ Tẻh đã cơ bản triển khai để thực hiện các hạng mục đầu tư cơ sở hạ tầng, duy tu - bảo dưỡng hệ thống cấp nước sinh hoạt, hỗ trợ sản xuất; cùng đó, các hạng mục do UBND xã làm chủ đầu tư cũng đã được tích cực triển khai thực hiện.
Hoặc như, vốn từ đề án giảm nghèo bền vững 5 tỷ đồng của năm 2014, đến lúc này, huyện Đạ Tẻh cũng đã cơ bản phân bổ về cho các địa phương để triển khai các phần việc cụ thể như hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, phân bón... để giúp bà con vươn lên thoát nghèo.
Đặc biệt, ở lĩnh vực lâm nghiệp, trong năm 2014 này, cùng với hai nội dung quản lý bảo vệ rừng và khai thác lâm sản, chính quyền huyện Đạ Tẻh còn đặc biệt quan tâm đến nội dung kết hợp phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào DTTS.
Ghi nhận cho đến lúc này là Đạ Tẻh đã thực hiện xong chương trình rà soát, thống kê hộ nghèo và thiếu đất sản xuất là đồng bào DTTS ở xã Quốc Oai để tiến hành giao khoán quản lý bảo vệ rừng và đề nghị lên trên cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp để cấp cho bà con.
Kết quả là, tính đến đầu tháng 9, cùng với việc đề nghị chuyển đổi một quỹ đất lâm nghiệp hợp lý để cấp cho bà con, UBND huyện cũng đã chỉ đạo các đơn vị chức năng giao khoán hơn 1.136ha đất lâm nghiệp cho 687 hộ DTTS ở các xã Mỹ Đức, Quốc Oai và Hà Đông quản lý bảo vệ.
Rồi nữa, thực hiện đề án trồng cây cao su tập trung trong vùng đồng bào DTTS, tại khu vực đồi Đất Đỏ (xã Mỹ Đức), đã có 65ha cao su được bà con trồng mới; tại khu vực tiểu khu 525 ở xã Quốc Oai cũng đã có 95ha cao su đã trồng trong vài năm gần đây đang được bà con chăm sóc theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật cùng với việc đào hố 25ha khác để tiếp tục xuống giống trong năm 2014 này.
Ở buôn Tố Lan (xã An Nhơn), huyện đã triển khai mô hình trồng 2ha cà phê cao sản và vừa xuống giống trồng tiếp hơn 1,5ha trong năm 2014 này. Cùng với 3,5ha cà phê cao sản, cũng ở buôn Tố Lan, hiện ngành chức năng của huyện Đạ Tẻh đang hướng dẫn cho bà con DTTS đào hố trồng dặm 25ha tre tầm vông và đồng thời trồng xen cây mì (sắn) trên diện tích tre tầm vông.
Đạ Tẻh có khoảng 600 hộ với khoảng 3.000 khẩu là người DTTS, với chủ trương gắn chương trình phát triển kinh tế lâm nghiệp với xóa đói giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào DTTS đang được triển khai với những kết quả khả quan bước đầu như trên vừa phân tích, hy vọng Đạ Tẻh sẽ là địa phương điển hình về mô hình này của tỉnh Lâm Đồng. (Báo Lâm Đồng 3/9) đầu trang(
Từ khi trồng đến lúc cho khai thác phải mất 10-11 năm nhưng với những ưu việt về khả năng sinh trưởng, phát triển và giá trị gỗ thương phẩm, cây tếch đã và đang trở thành cây trồng rừng chính ở Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ea Wy (huyện Ea H'leo).
Tiểu khu 55 thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ea Wy là một trong những vùng rừng khộp tự nhiên có địa hình khá xa xôi, hiểm trở. Tuy vậy, anh Võ Thanh Hưng, cán bộ phân trường Cư Mốt của Công ty cho hay, không vì vậy mà địa bàn này thoát được sự “nhòm ngó” của các đối tượng khai thác, xâm phạm tài nguyên rừng.
Những năm gần đây, tình trạng người dân địa phương vào rừng khai thác gỗ, chặt phá, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật để lấy đất canh tác diễn ra tương đối phức tạp nên diện tích rừng tự nhiên và chất lượng của rừng trên lâm phần Công ty quản lý ngày càng suy giảm.
Từ năm 2012 đến nay, Công ty phối hợp với bộ môn Quản lý tài nguyên rừng và môi trường của Trường Đại học Tây Nguyên nghiên cứu trồng cây tếch trên đất rừng khộp. Tiểu khu 55 là một trong những địa điểm được lựa chọn để trồng thử nghiệm.
Chương trình không chỉ nhằm mục đích cải thiện môi trường, chất lượng rừng khộp mà còn góp phần tăng cường quản lý bảo vệ rừng thông qua hoạt động tuần tra, kiểm soát thường xuyên và  định kỳ vào chăm sóc cây tếch. Với mật độ 1 ha có thể trồng xen  400  cây, cây tếch được Công ty trồng thử nghiệm ở 13 điểm với tổng diện tích 6 ha và hiện sinh trưởng, phát triển tốt.
Ông Phạm Tấn Việt, Giám đốc Công ty cho biết: So với cây keo lai – cây trồng rừng phổ biến từ trước đến nay thì cây tếch có chu kỳ khai thác dài hơn, từ khi trồng đến khi khai thác phải mất 10-11 năm. Tuy vậy, cây trồng này đã và đang được đơn vị lựa chọn là cây trồng rừng chính.
Ông Việt phân tích: Với cây keo sau 7 năm cho khai thác nhưng lợi nhuận thu được trung bình chỉ khoảng 40 triệu đồng/ha. Trong khi đó, cây tếch mặc dù sau 11 năm mới được khai thác nhưng có thể thu tới 600-800 triệu đồng/ha. Đặc biệt đối với đất người dân nhận khoán trồng rừng, giai đoạn 3 năm đầu trồng và chăm sóc, người dân vẫn có thể tận dụng để trồng những cây nông nghiệp ngắn ngày. Đây cũng là loại cây có thể thích nghi được với chất đất rừng khộp.
Câu chuyện về trồng cây tếch trên đất rừng thực tế đã xuất hiện ở Ea H’leo từ năm 1993. Nhưng sau đó do thấy chu kỳ khai thác dài, một số hộ dân đã không kiên nhẫn và chuyển đổi sang trồng keo lai. Khoảng 30 ha cây tếch được trồng từ thời điểm đó còn được giữ lại, sau đúng 10-11 năm, tức là vừa mới đây thôi đã đến kỳ khai thác. Và con số gần 1 tỷ đồng/ha mà một số người dân thu được sau khi bán gỗ tếch đã mang lại niềm vui cho những hộ nhận khoán trồng rừng cho Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ea Wy.
Gia đình anh Nguyễn Thành Lực, thôn 1, xã Cư Mốt nhận khoán trồng 1,83 ha rừng, trước đây anh trồng keo lai nhưng từ năm 2013 đến nay, sau khi thu hoạch keo, anh chuyển sang trồng toàn bộ cây tếch. Hộ nhận khoán được Công ty hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc; đến thời điểm khai thác, mức ăn chia được tính theo tỷ lệ: người dân hưởng 90%, Công ty 10%. Là một thợ mộc khá am hiểu về các loại gỗ, anh Lực cũng cho biết: gỗ tếch có giá trị thương phẩm cao, làm đồ dùng đẹp, ít bị cong, nứt nên được khách hàng ngày càng ưa chuộng.
Từ năm 2008 đến nay, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Ea Wy đã tổ chức trồng được 443,8 ha rừng phòng hộ; 1.029,2 ha rừng sản xuất; khoảng 50% trong con số đó được giao khoán cho dân trồng và chăm sóc. Lãnh đạo của Công ty cũng khẳng định: Hiện trong công tác trồng rừng, cây tếch đã trở thành cây trồng chính.  Riêng năm 2014 này, Công ty trồng 213 ha rừng, trong đó 50% diện tích là cây tếch.
Giám đốc Công ty Phạm Tấn Việt cho biết với những ưu việt của cây tếch, về kế hoạch lâu dài đơn vị mong muốn được đầu tư, tạo điều kiện mở rộng việc trồng cây tếch trên diện tích 3.600 đất rừng khộp mà Công ty đang quản lý, chứ không dừng lại ở con số 6 ha như hiện tại. (Báo Đắc Lắc 6/9) đầu trang(
Theo kế hoạch tạm giao của UBND tỉnh, vụ trồng rừng năm 2015, toàn tỉnh dự kiến sẽ trồng mới khoảng 2.600ha rừng phân tán.
Trong vụ trồng rừng năm 2014, toàn tỉnh trồng mới được hơn 2.600ha rừng phân tán, đây có thể xem là một cách làm hiệu quả nhằm tăng diện tích rừng trồng mới những năm vừa qua, nhất là trong bối cảnh những diễn tích rừng trồng tập trung ngày một thu hẹp dần.
Các địa phương có diện tích trồng rừng phân tán đạt cao điển hình như các huyện: Bạch Thông, Ngân Sơn, Ba Bể  và Chợ Mới đều vượt kế hoạch đề ra. Diện tích rừng phân tán chủ yếu được trồng xung quanh nhà, ven đồi bãi, với cơ cấu cây trồng chủ yếu là  xoan, lát, mỡ, quế, keo, thông, hồi,…
Cũng theo kế hoạch tạm giao, năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng mới khoảng 8.000ha rừng, trong đó ngoài 2.600ha rừng phân tán, toàn tỉnh sẽ trồng mới 5100ha rừng tập trung, còn rừng phòng hộ là 300ha. (BáoBắc Kạn 4/9) đầu trang(
Theo báo cáo của Phòng NN - PTNT huyện Tuy An, từ nguồn ngân sách của địa phương đầu tư 40 triệu đồng, Phòng NN - PTNT huyện Tuy An đã hợp đồng vườn ươm An Mỹ (huyện Tuy An) gieo ươm 80.000 cây giống, để hỗ trợ nguồn cây giống cho mùa trồng rừng 2014.
Loại cây giống hợp đồng với vườn ươm An Mỹ gieo ươm nhằm hỗ trợ cung ứng trong mùa trồng rừng năm nay là keo lá tràm và hiện đang phát triển khá tốt. Toàn bộ nguồn cây giống này sẽ được phân bổ hỗ trợ cho hộ nghèo ở 16 xã, thị trấn bị thiếu vốn mua cây giống để trồng cây phân tán.
Theo kế hoạch, trong mùa trồng rừng năm nay, huyện Tuy An sẽ triển khai trồng 200 ha rừng tập trung và 174.000 cây phân tán, nhằm đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt 25,3%.
Tuy nhiên, theo Phòng NN - PTNT huyện Tuy An, thì khả năng để triển khai thực hiện đạt được chỉ tiêu này là rất khó, bởi trong thời gian qua, trên địa bàn huyện Tuy An đã có hơn 763 ha rừng trồng và rừng khoanh nuôi tái sinh, với hơn 1,25 triệu cây trồng bị nắng nóng kéo dài gây chết. (Trang Thông Tin Điện Tử Huyện Tuy An 4/9) đầu trang(
Với người dân sống ven biển, rừng dương như bức tường ngăn nước biển lấn sâu vào đất liền, bảo vệ sự an toàn cho làng mạc.
Minh chứng cho điều đó là nơi nào có hệ sinh thái rừng dương dày đặc, nơi đó ít bị tàn phá nặng nề hơn mỗi khi có bão dữ quét qua. Thực tế, ở vùng biển trong tỉnh đã từng trả giá đắt khi chưa có quy hoạch một cách khoa học, bài bản; chính xác hơn chúng ta vẫn chưa thực sự tôn trọng môi trường thiên nhiên.
Một thời, làn sóng đầu tư phát triển các dự án chạy dọc ven biển, phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển tự phát… đã khiến vùng biển trong thời gian ngắn đã bị “sa mạc hóa”. Sự “trái nết” của biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng cao đã,  đang tiềm ẩn mối lo lớn cho người dân và chính quyền các địa phương ven biển.
Các giải pháp xây dựng bờ kè chống sạt lở bờ sông, biển ở vùng đông Duy Xuyên, Tam Kỳ và công trình gia cố chống tình trạng xâm thực biển ở Hội An đã tiêu tốn một số tiền đầu tư khổng lồ. Tuy nhiên, với nguồn lực hạn chế, việc đầu tư cũng chỉ mới ưu tiên vào những khu vực trực tiếp bị tổn thương. Chính vì thế, biện pháp khả thi nhất, đơn giản nhất để phòng chống diễn biến bất thường của thiên nhiên đối với vùng ven biển là trồng và khôi phục vành đai xanh rừng dương chắn sóng, chắn cát bay.
Trong chiến lược quy hoạch vùng ven biển kéo dài từ Hội An vào Núi Thành, ngành nông nghiệp đã tính toán rà soát, quy hoạch lại rừng phòng hộ ven biển. Những diện tích mà các dự án bỏ hoang sẽ bị thu hồi, cân nhắc trồng lại cây. Suốt thời gian dài, nhiều địa phương lúng túng trong giải bài toán cân nhắc lợi ích kinh tế và khôi phục, bảo vệ môi trường bền vững nên tốc độ tái tạo rừng rất chậm, nếu không muốn nói là… giẫm chân tại chỗ.
Trong khi chờ đợi sự phục hồi rừng ven biển từ các nguồn vốn ngân sách eo hẹp, thời gian qua, nhiều nơi đã tranh thủ phục hồi rừng rất thành công. Điển hình, từ năm 2010 đến nay, các tổ chức SIDA, WWF phối hợp với Sở Tài nguyên – môi trường đã thực khoanh vùng khu vực dễ bị tổn thương các hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu ở xã Tam Hải (Núi Thành); dự án “Tăng cường năng lực địa phương về quản lý bền vững đất ngập nước” đã phục hồi  rừng ngập mặn An Hòa.
Đến nay, chính quyền xã Tam Hải đã trồng dặm 2ha rừng, qua đó thành lập được mô hình tự quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn tại địa phương. Hiện người dân chuẩn bị trồng rừng mới ngay bờ biển. Trong khi đó, một số nơi dựa vào khu rừng hiện hữu, lên kế hoạch mở rộng không gian rừng để phục vụ cho phát triển du lịch như ở xã Cẩm Thanh (Hội An), Tam Nghĩa (Núi Thành).
Khôi phục rừng cũng nằm trong chiến lược phát triển vùng ven biển dài lâu của tỉnh, với mục tiêu một mặt vừa tạo vành đai xanh bảo vệ làng mạc trong mùa mưa bão, giảm thiểu tối đa tác động xấu của biến đổi khí hậu, vừa tạo ra môi trường lý tưởng cho các loài thủy sinh phát triển. (Báo Quảng Nam 5/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một con tê giác trắng giống cái lần đầu tiên chào đời trong vòng 20 năm qua, tại vườn thú Ramat Gan gần thủ đô Tel Aviv của Israel. Times of Israel dẫn lời ông Rami Tam, người phụ trách vườn thú châu Phi chia sẻ: "Đã 20 năm kể từ khi một con tê giác cái được sinh ra ở đây.
Điều này có nghĩa là cô tê giác này sẽ sống ở đây với chúng tôi ngay cả khi nó đã trưởng thành. Và đó là một niềm hạnh phúc lớn lao”. Tê giác trắng là loài động vật từng bị cho là tuyệt chủng và hiện được xếp trong nhóm những loài cần được bảo vệ khỏi các mối đe dọa như săn bắt trộm. (Đại Đoàn Kết 7/9, tr15) đầu trang(
Những người đi nghỉ ở khu rừng thông Shimla, bang  Himachal Pradesh, miền bắc Ấn Độ mới đây rất bất ngờ khi cơn mưa tiền kéo dài cả tiếng đồng hồ rơi xuống đầu họ.
Báo cáo cho biết một con khỉ đã vào căn nhà kế đó lục đồ ăn, nhưng không phát hiện ra thứ gì, nó đã lấy cắp 10.000 rupee đem ra rừng rải. Được biết có khoảng 300.000 con khỉ ở bang này và Shimla từ lâu đã trở thành thiên đường cho loài vật. (Công An TPHCM 5/9, tr15) đầu trang(
Rằm tháng 8 không chỉ dành riêng cho trẻ em, ngay cả các con vật ở Công viên Động vật Hoang dã Vân Nam, Trung Quốc, cũng được nhận phần quà là những chiếc bánh trung thu.
Các nhân viên của Công viên Động vật Hoang dã Vân Nam đã tạo nên những chiếc "bánh trung thu" bằng cách ép chặt các thành phần trong bữa ăn hàng ngày của những con vật.
Thức ăn được tạo hình hệt như những chiếc bánh trung thu khiến động vật rất thích thú. (Theo Zing.vn 8/9) đầu trang(
Nhật Bản vừa công bố kế hoạch săn cá voi ở ngoài khơi đảo Hokkaido, bất chấp phản đối của các tổ chức bảo vệ môi trường cũng như đa dạng sinh học. Theo đó, khoảng 51 con cá voi mũi nhọn sẽ bị săn và giết để phục vụ mục đích "nghiên cứu".
Truyền thông địa phương cho biết, bốn tàu đánh cá loại lớn đã ra khơi từ thành phố cảng Kushiro vào ngày 7/9. Những tàu cá này sẽ thực hiện chuyến hành trình kéo dài tới tận cuối tháng để bắt 51 con cá voi mũi nhọn.
Theo tờ Japan Times, dù mục đính chuyến đánh bắt cá này là để nghiên cứu dạ dày cá voi nhưng các nhà hoạt động môi trường thì khẳng định hành động trên chỉ nhằm che đậy cho việc đánh bắt thương mại cá voi. Hầu hết thịt cá voi đều được bán tại nhà hàng cũng như xuất khẩu tới nhiều nước trên thế giới.
Hồi đầu tháng 6, bất chấp lệnh cấm săn bắt cá voi của một Tòa án quốc tế, các ngư dân Nhật Bản vẫn tiến hành săn bắt và giết hại 30 con cá voi mũi nhọn ở vùng biển phía Tây Bắc nước này.  Hay trước đó, hồi tháng 3, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc hoạt động săn bắt cá voi của Nhật Bản trái phép và không tuân theo luật quốc tế.
Theo ICJ, các hoạt động đánh bắt cá voi không hề có bất cứ giấy phép nào liên quan tới việc nghiên cứu khoa học. (VietnamPlus 8/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng