|
Ngày 10 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Thông tư 47 của Bộ NN&PTNT mới ban hành về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường, có hiệu lực từ ngày 9/11, các tổ chức, cá nhân muốn nuôi động vật rừng thông thường (trong danh mục cho phép) phải đảm bảo các quy định vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh.
Đặc biệt, động vật rừng phải rõ nguồn gốc, nếu khai thác tự nhiên phải có xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại; nếu nhập khẩu phải có xác nhận tờ khai hàng hoá; nếu mua của tổ chức, cá nhân phải có hồ sơ mua bán rõ ràng. (Kinh Tế&Đô Thị 9/10)đầu trang(
Ông Cao Khoa, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, đã yêu cầu các địa phương, sở, ngành cần hạn chế cấp giấy phép mới cho các dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến dăm gỗ.
Lý do là thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp chế biến dăm gỗ khó khăn khi xuất khẩu, trong khi tình trạng phá rừng, tranh giành mua nguyên liệu gỗ giữa các nhà máy đã gây ra những tiêu cực.
Ông Khoa cũng yêu cầu UBND huyện Bình Sơn dừng ngay việc thi công trái phép dự án nhà máy chế biến dăm gỗ của Công ty TNHH Mạnh Hùng tại huyện này. (Tuổi Trẻ 10/10)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Sau bài viết Để cứu lấy rừng Cát Tiên tôi chấp nhận đánh đổi... trên SGTT số ra ngày 8.10.2012, thông tin từ bạn đọc dồn dập đổ về toà soạn với nội dung ủng hộ ThS Nguyễn Huỳnh Thuật, người đã dũng cảm đưa vấn đề bảo vệ vườn quốc gia Cát Tiên trước mối đe doạ từ thuỷ điện lên các vị lãnh đạo cao nhất của Nhà nước.
Ở đây, vấn đề “đánh đổi” rừng, đặc biệt là rừng nguyên sinh, lấy thuỷ điện một lần nữa được thổi bùng lên sau bài học đắt giá Sông Tranh 2. Xin dành toàn bộ trang Góc nhìn Bạn đọc kỳ này để nói thêm về chủ đề này.
Câu chuyện ThS Nguyễn Huỳnh Thuật bị yêu cầu tường trình, kiểm điểm vì lá thư gửi lên Thủ tướng Chính phủ, và Chủ tịch nước nhằm bảo vệ vườn quốc gia Cát Tiên không bị hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A xâm hại như một liều “thuốc muối” rắc lên vết thương còn đang âm ỉ từ dự án thuỷ điện Sông Tranh 2 trước đó.
Giữa cuối tháng 8.2012, báo Thanh Niên cùng Thông tấn xã Việt Nam đưa tin thực trạng người dân Cà Mau phá hàng trăm hécta rừng tràm U Minh để… nuôi tôm sú gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái, an ninh nguồn nước ngọt. Thực tế, phá rừng “làm kinh tế” đã là chuyện “toán cũ chưa đáp số” của Việt Nam. Tính riêng khu vực Tây Nguyên, từ năm 2007 – 2011, diện tích rừng đã bị mất khoảng 130.000ha, trong đó rừng tự nhiên mất hơn 100.000ha và rừng trồng giảm 22.000ha. Điều này, trong bối cảnh Việt Nam đang bị ảnh hưởng mạnh của biến đổi khí hậu, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sản xuất và thậm chí là an ninh của người dân do các vấn đề lũ lụt, bão, sạt lở, bồi lấp, ngập úng, động đất…
Việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải vấn đề “lợi bất cập hại” bắt nguồn từ công tác khảo sát, nghiên cứu, đo đạc chất lượng công trình hay dự báo rủi ro còn quá kém. Bài học gần nhất là việc dự báo cường độ kháng nén của đập thuỷ điện Sông Tranh 2. Trong khi tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết công trình thuỷ điện Sông Tranh 2 có sức chịu đựng động đất ở mức 5,5 độ Richter, thì chính ông Lê Huy Minh, trưởng đoàn khảo sát của viện Khoa học công nghệ lại nhận định “nước đôi” rằng: “Động đất cực đại theo thiết kế đập thuỷ điện Sông Tranh 2 là cấp 8 nhưng liên quan đến chất lượng thi công thì chúng tôi không trả lời được”.
Hiện bài học Sông Tranh 2 vẫn còn ám ảnh khi công trình này được xây lên đã vô tình treo mạng sống người dân dưới một cột nước khổng lồ vì dự báo chất lượng kém, thiếu tính chính xác xuất phát từ yếu tố thiếu minh bạch trong quá trình giám sát chất lượng công trình thi công. Tuy nhiên, dường như chỉ bấy nhiêu ở Sông Tranh 2 vẫn chưa đủ để nhiều ban ngành cùng chủ đầu tư phải suy nghĩ, thậm chí đến khi ThS Nguyễn Huỳnh Thuật với vai trò phòng bệnh đã cung cấp nhiều dự báo rất đáng lo thì dường như các ban ngành liên quan vẫn cứ làm lơ. Vốn không chỉ là một nhà khoa học, mà gần gũi hơn, ông còn là một cán bộ lâm nghiệp am hiểu về rừng.
Ông thẳng thắn cảnh báo rằng “vườn quốc gia Cát Tiên đang là nơi UNESCO nghiên cứu để công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, nếu có thuỷ điện thì điều này khó xảy ra. Nơi đây làm thuỷ điện khá nhạy cảm vì tập trung khá nhiều loài động vật đặc hữu, thậm chí rất quý hiếm. Nơi dự kiến làm thuỷ điện cũng là nơi mà không gian văn hoá, di sản Óc Eo, mà chúng ta còn chưa khám phá hết. Yếu tố ảnh hưởng đời sống các dân tộc cư ngụ xung quanh khu vực này cũng chưa được tính đến.” Hơn thế nữa, vô tình hay hữu ý, ThS Thuật nhắc lại bài học Sông Tranh 2 vừa mới xảy ra: “Khi anh thực hiện một dự án mà chưa đánh giá được hết hậu quả của nó là điều không thể chấp nhận được”.
Thực tế, trước khi các dự báo về ảnh hưởng của dự án thuỷ điện đến rừng của ThS Thuật được đưa ra thì Việt Nam cũng đã chứng kiến không ít các sự việc tương tự. Điển hình như tháng 3.2012, chi cục Lâm nghiệp Bình Định thống kê đã có đến 301,25ha diện tích các công trình thuỷ điện ở Bình Định ảnh hưởng đến rừng và đất rừng.
Trước đó, năm 2010, dư luận đã lên án các dự án thuỷ điện tại Lâm Đồng khi những con số trong báo cáo khoa học về quản lý ô nhiễm môi trường của sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng cho thấy việc “đánh đổi” giữa thuỷ điện và đất rừng, đất nông nghiệp và môi trường là bất đối xứng. Báo cáo “định lượng” rất rõ rằng để có 1MW điện từ các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ phải mất 16ha rừng.
“Lý thuyết trò chơi” (game theory – bắt đầu được thảo luận vào năm 1713 bởi James Waldegrave) đã chỉ ra rất rõ các trường hợp rủi ro từ thấp đến cao trong các lựa chọn. Việc lựa chọn giữa thuỷ điện và rừng sẽ xuất hiện nhiều tranh cãi khi cả hai đều có những lợi ích lẫn rủi ro nhất định. Thế nên, khi áp dụng “lý thuyết trò chơi” vào việc chọn lựa rừng hay thuỷ điện là cả một công trình nghiên cứu phức tạp, trong đó đề cập chi tiết các yếu tố được và mất để con người có thể lựa chọn và đánh đổi. Nếu áp dụng tốt thuyết trò chơi, lợi ích từ phương án lựa chọn sẽ là tối ưu và rủi ro là tối thiểu. Từ đó giúp con người có thể hành xử đúng mực. Câu chuyện rừng và thuỷ điện ở vườn quốc gia Cát Tiên, cho đến lúc này, nếu áp dụng “lý thuyết trò chơi”, việc chọn lựa thuỷ điện là một sự đánh đổi dường như thất bại.
Điều đáng nói ở đây chính là “người thắng không vui, người thua không phục”. Cuộc đấu tranh của ThS Thuật gặp quá nhiều khó khăn khi những lá thư với tư cách là một công dân Việt Nam trình lên Thủ tướng, Chủ tịch nước nhằm cứu rừng lại khiến ông rơi vào tội “chống lệnh trên”, và bị khiển trách. Sẽ rất khó kiếm một người có tâm không chỉ ở nghiên cứu mà còn là thực tiễn, sẵn sàng “đánh đổi… để làm theo lương tâm, tiếp tục ủng hộ việc bảo vệ vườn quốc gia Cát Tiên”. “Thuốc muối” mang tên “ThS Thuật và vườn quốc gia Cát Tiên” để chữa trị cho vết thương Sông Tranh 2 sẽ khiến vết thương càng đau đớn, nhưng sau đó, hy vọng “vết thương” sẽ chóng lành.
Trên trang web http://www.cattiennationalpark.vn, lãnh đạo vườn Cát Tiên đã cho đăng thông tin: “Ý kiến của vườn quốc gia Cát Tiên về việc xây dựng hai đập thuỷ điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A trên sông Đồng Nai”. Thông báo viết: “Việc xây dựng thuỷ điện sẽ làm thay đổi dòng chảy, chế độ ngập nước của hệ thống sông Đồng Nai và các bàu đầm, đặc biệt là khu Bàu Sấu (đã được công nhận là khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế). Thông qua đó, sẽ ảnh hưởng đến sinh cảnh và môi trường sống của các loài động thực vật. Bên cạnh đó, việc xây dựng thuỷ điện sẽ làm mất diện tích đất rừng. Do vậy, chúng tôi khẳng định là việc xây dựng thuỷ điện sẽ ảnh hưởng có hại đến tài nguyên và môi trường rừng”.
Vậy có nên xây dựng thuỷ điện hay không? Theo thông báo, vấn đề này thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Nếu diện tích rừng bị mất từ 50ha trở lên thì phải trình Quốc hội quyết định (NQ 49/2010/QH12 ngày 19.6.2010). Cơ sở khoa học để quyết định vấn đề này là bản báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), được biết đang được viện Môi trường và tài nguyên thuộc trường đại học Quốc gia TP.HCM thực hiện.
Hiện Thủ tướng đang giao cho bộ Tài nguyên và môi trường xem xét thẩm định theo luật Đa dạng sinh học và nghị quyết 49/2012/QH12. Dựa vào ĐTM, hội đồng thẩm định sẽ cân nhắc giữa những lợi ích về kinh tế – xã hội và những thiệt hại về môi trường, cũng như những giải pháp hạn chế và khắc phục thiệt hại nếu xây dựng thuỷ điện.
Đối với trường hợp ThS Nguyễn Huỳnh Thuật, ngày 9.10, trao đổi với phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông Phạm Ngọc Thanh, trưởng phòng tổ chức hành chính vườn quốc gia Cát Tiên, nói: “Công dân có thể làm tất cả những gì pháp luật cho phép nhưng công chức phải tuân thủ các quy định của cơ quan. Công chức muốn đề xuất, góp ý gì cũng phải có trình tự rõ ràng chứ không thể vượt cấp, vượt thẩm quyền cho phép được. Anh Thuật là nhân viên của vườn quốc gia – nhân viên nhà nước nên tất cả các vấn đề kỷ luật phải căn cứ trên việc anh ấy có hoàn thành công việc không, có chấp hành nội quy tốt hay không. Chúng tôi sẽ không bao giờ kỷ luật tuỳ tiện gây thiệt thòi cho anh ấy mà căn cứ theo luật và các quy định cụ thể”.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Diện, giám đốc vườn quốc gia Cát Tiên, chỉ nói: “Tôi mới vào nhận chức giám đốc vườn quốc gia Cát Tiên nên cũng mới chỉ biết Thuật là nhân viên phòng khoa học – hợp tác quốc tế. Trưởng phòng khoa học – hợp tác quốc tế có báo cáo là giao một số công việc nhưng Thuật chưa hoàn thành tốt. Hiện nay tôi chưa nhận được văn bản đề xuất kỷ luật nên cũng chưa thể nói thêm được điều gì”. (Sài Gòn Tiếp Thị 10/10)đầu trang(
Kiểm lâm địa bàn (KLĐB) góp phần không nhỏ vào việc giữ màu xanh cho những cánh rừng mà còn được ví như người “gác cổng rừng”. Tuy nhiên, kết quả đạt được của nhiều mô hình không như mong muốn do một số nơi KLĐB chưa nắm chắc địa bàn quản lý, chưa bám xã, bám rừng…
Chủ trương đưa lực lượng kiểm lâm về địa bàn cơ sở hoạt động của ngành kiểm lâm nhiều năm qua đã tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR). Nhiều mô hình KLĐB đã được vận dụng như KLĐB cắm xã, trạm KLĐB và KLĐB làm việc không có trụ sở ổn định.
Với mô hình KLĐB cắm xã, lực lượng kiểm lâm thường xuyên làm việc tại xã, tạo mối quan hệ với chính quyền sở tại và người dân. Hoạt động chủ yếu chuyển từ khâu kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu thông sang tổ chức BVR tại gốc, nơi tiêu thụ và chế biến. Mô hình trạm KLĐB đã thành lập ở Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Nam Trà My, Hiệp Đức, Đại Lộc, Phước Sơn, Đông Giang và Tây Giang. Các trạm chắn được bố trí ở các đầu mối giao thông của các xã (từ 3 - 5 xã) với sự chốt chặn từ 3 KLĐB trở lên. Vất vả nhất là KLĐB lưu động do tính chất đặc thù nên thường xuyên ở nhờ nhà dân, hoặc trường học, trụ sở UBND xã…
Đến nay, ngành kiểm lâm đã điều động 153 công chức kiểm lâm phụ trách địa bàn 200/244 xã, phường, thị trấn. Tỷ lệ công chức kiểm lâm được bố trí các địa bàn chiếm 40,9%. Tuy nhiên, hiện còn 13 xã có rừng chưa bố trí KLĐB, so với nhu cầu còn thiếu hơn 80 KLĐB. Từ năm 2011 đến nay, ngành tổ chức nhiều lớp tập huấn cho 150 công chức KLĐB tham gia.
Theo ông Từ Văn Khánh, Trưởng phòng Quản lý - BVR (Chi cục Kiểm lâm tỉnh), trong các mô hình nêu trên thì trạm KLĐB được đánh giá là hiệu quả hơn vì điều kiện sinh hoạt, ăn ở cho cán bộ ổn định, khắc phục được tình trạng thiếu thốn về cơ sở vật chất; đồng thời đáp ứng phương châm kiểm lâm gắn với chính quyền cơ sở, với rừng và người dân để quản lý rừng, BVR tận gốc. Khi tổ chức tuần tra, truy quét, kiểm soát lâm sản... thì mô hình này cũng đảm bảo được lực lượng kiểm lâm xung kích. Thực tế, nơi nào KLĐB được phân công trách nhiệm, gắn với quyền lợi rõ ràng, nơi đó nếu xảy ra tình trạng phá rừng sẽ được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
Phụ trách địa bàn xã Trà Vân (Nam Trà My), nhiều năm nay kiểm lâm Trần Văn Nhựt gần như bám rừng tại chỗ. Lặn lội khắp các nóc trên địa bàn, Nhựt đã nắm bắt được nhiều ngõ đường “huyết mạch” tuồn gỗ lậu ra khỏi rừng, điểm danh được các tọa độ phá sơn lâm.
Anh Nhựt nói: “Người dân vùng cao tốt bụng lắm, nếu ở thôn có việc gì bất thường họ đều báo tin cho cán bộ biết. Kinh nghiệm giữ rừng của tôi đơn giản là nắm vệ tinh thông tin từ người dân”. Khai thác triệt để “tai mắt” của nhân dân, Nhựt đã tham mưu cho chính quyền xã Trà Vân, lãnh đạo hạt kiểm lâm địa phương xử lý nhiều vụ khai thác lâm khoáng sản trái phép dọc sông Bua - vùng giáp ranh giữa hai huyện Nam Trà My và huyện Tây Trà (Quảng Ngãi).
Tuy nhiên, không phải KLĐB nào cũng làm hết trách nhiệm của người “gác rừng”. Thực tế, nhiều nơi ở miền núi trở thành “điểm nóng” phá rừng, cho thấy sự phản ứng, nắm bắt thông tin cơ sở của KLĐB rất hạn chế, thậm chí gần như… đứng ngoài cuộc. Đơn cử cách đây mấy tháng đã xảy ra vụ phá rừng phòng hộ khu vực đầu nguồn hồ chứa nước Đông Tiển (Thăng Bình), dù có KLĐB đứng điểm, theo dõi nhưng vẫn xảy ra tình trạng đốt phá rừng liên tục hàng tháng trời (Báo Quảng Nam đã phản ánh).
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hạn chế lớn nhất của lực lượng KLĐB là chưa nắm chắc địa bàn quản lý, chưa bám xã, bám rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm nên không tham mưu tốt cho chính quyền địa phương và hạt kiểm lâm tổ chức, quản lý tốt tài nguyên thiên nhiên. Nhiều vụ phá rừng, khai thác, buôn bán lâm sản, săn bắn động vật hoang dã quý hiếm nhưng KLĐB nắm bắt thông tin còn chậm. Đáng lo hơn, một số trường hợp KLĐB giải quyết vụ việc không đúng thẩm quyền, phân công, phân cấp. Nhiều nơi tình trạng người dân lấn chiếm trái phép đất lâm nghiệp để lấy đất sản xuất tái diễn nhưng KLĐB phản ứng rất chậm.
Ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, thời gian tới sẽ tiếp tục kiện toàn phương châm “KLĐB bám chính quyền cơ sở, bám rừng, bám dân” để thực hiện quản lý rừng tận gốc. Đề nghị tỉnh bổ sung biên chế cho ngành đảm bảo với diện tích 1.000ha rừng bố trí 1 kiểm lâm. Ngành sẽ tăng cường thêm lực lượng KLĐB, đồng thời gắn với trách nhiệm cụ thể. (Báo Quảng Nam 9/10)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong hai ngày 08, 09/10, tại Nha Trang, Sở Tài nguyên - Môi trường Khánh Hòa phối hợp với Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh tổ chức tập huấn "Quản lý nhà nước về Đa dạng sinh học, An toàn sinh học" cho các cán bộ phụ trách công tác môi trường trên địa bàn toàn tỉnh.
Học viên được giới thiệu về lý thuyết về quản lý đa dạng sinh học, an toàn sinh học, kinh nghiệm từ các mô hình bảo vệ đa dạng sinh học, an toàn sinh học đã thành công ở nhiều địa phương như Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Qúy. Những vấn đề khúc mắc đã được các chuyên gia chia sẻ và giải đáp.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình thí điểm ở các địa phương là: quản lý đa dạng sinh học có tính bối cảnh địa phương rất lớn, tùy từng điều kiện cụ thể mà có những sắp xếp, cơ cấu, chiến lược tổ chức thực hiện khác nhau. Chỉ có hỗ trợ, đào tạo và tư vấn không thôi chưa đủ, mà trước tiên cần có khung pháp lý và sau đó là nâng cao năng lực thực hiện và hỗ trợ tài chính cần thiết. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 9/10) đầu trang(
So với mọi năm, năm nay người trồng rừng ở Bình Định có xu hướng sử dụng các giống cây lâm nghiệp được sản xuất bằng phương pháp cấy mô để thay cho các giống cây được sản xuất bằng phương pháp giâm hom.
Bà Phan Thị Hạnh - Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Dịch vụ giống cây trồng Nguyên Hạnh, có cơ sở sản xuất giống tại xã Phước Thành (huyện Tuy Phước), cho biết: “Năm nay, người dân tập trung chú trọng đến các giống cây lâm nghiệp có chất lượng cao, như các giống keo lai, bạch đàn lai được sản xuất bằng phương pháp cấy mô. Cây giống cấy mô có giá thành cao gấp đôi, nhưng có ưu điểm là sạch bệnh, cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít bị đổ ngã khi gặp thời tiết bất lợi, hiệu quả kinh tế cao, chu kỳ khai thác ngắn hơn”.
Qua thực tế đưa vào trồng rừng thời gian qua cho thấy, các giống cây cấy mô có sức chống chịu trước gió bão tốt hơn các giống giâm hom, nên được người trồng rừng lựa chọn nhiều. Ông Nguyễn Thế Dũng- Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định cho biết: Nhờ thời tiết năm nay khá thuận lợi, thời điểm này thường xuyên có mưa vào ban đêm, người dân trên địa bàn tỉnh đã tổ chức trồng được gần 2.000ha rừng, cao gần gấp đôi so với cùng kỳ các năm trước.
Ngành lâm nghiệp đã phối hợp với các địa phương tiến hành hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật trồng rừng cho các hộ dân, nhất là các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Dự kiến, đến cuối tháng 11, Bình Định sẽ kết thúc vụ trồng rừng năm nay với diện tích rừng trồng trên 7.500ha.
Một trong những vấn đề quan trọng, nhiều người quan tâm là chất lượng cây giống. Hiện toàn tỉnh Bình Định có gần 60 đơn vị, cơ sở được cấp giấy phép sản xuất cây giống và đã đăng ký kế hoạch sản xuất gần 70 triệu cây các loại. Đến thời điểm này, các cơ sở đã sản xuất được hơn 52,5 triệu cây giống các loại, gồm 48 triệu cây keo lai giâm hom; 2,35 triệu cây keo lai cấy mô; 1,3 triệu cây bạch đàn cấy mô; 565.000 cây sao đen; 175.000 cây keo lá tràm…
Tuy nhiên, dù nguồn cây giống phục vụ trồng rừng năm nay được đánh giá khá dồi dào so với mọi năm, nhưng thời gian gần đây, tại một số địa phương của huyện An Lão đã xuất hiện tình trạng thương lái vận chuyển nhiều loại giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc về tiêu thụ với giá khá rẻ. Một số hộ trồng rừng vì ham rẻ nên mua cây giống trôi nổi để trồng rừng, có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng và hiệu quả kinh tế sau này.
Nhằm chấn chỉnh tình trạng trên, từ đầu tháng 9 đến nay, Sở NNPTNT Bình Định đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp, qua đó yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định của Bộ NNPTNT về quy trình sản xuất giống, đảm bảo chất lượng cây giống. Ngành lâm nghiệp cũng đã khuyến cáo người dân không mua, sử dụng các giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 9/10)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay các đơn vị chủ rừng và người dân huyện Bắc Bình đã trồng được 960,6 ha rừng/1.500 ha kế hoạch; trong đó có 392 ha trồng theo chương trình sau khai thác tại khu vực xã Hòa Thắng, trồng rừng theo chương trình cây phân tán là 380 ha, trồng rừng giao khoán theo chương trình 135 là 150 ha và các hộ dân xã Hòa Thắng trồng 7,6 ha.
Hiện nay, các đơn vị chủ rừng tiếp tục theo dõi tiến độ trồng rừng theo các chương trình, dự án; tiến hành gieo ươm cây giống, đôn đốc các xã, thị trấn trồng rừng.
Trong những năm qua, huyện Bắc Bình rất quan tâm đến công tác trồng và chăm sóc rừng. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng phong phú đã làm chuyển biến nhận thức của người dân về lợi ích của rừng, từ đó góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường sinh thái. (Đài PT-TH Bình Thuận 9/10) đầu trang(
Công ty Xuất khẩu lâm sản Quảng Nam (Forexco) vừa được Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) cấp chứng chỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế cho gần 1.500ha rừng trồng tại Quảng Nam và TP.Đà Nẵng.
Forexco là thành viên đầu tiên của Mạng lưới kinh doanh lâm sản tại Việt Nam nhận chứng chỉ FSC. Từ năm 2006, Forexco đã tiếp cận chứng chỉ FSC cho 4.000ha rừng trồng của mình nhưng do gặp phải việc xác định quyền sử dụng đất nên dự án đã dừng lại một thời gian. Dự án được tái khởi động vào tháng 7.2011 bằng việc đánh giá lại khâu thực hiện trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC.
Theo Giám đốc Công ty Forexco - ông Phạm Phú Thống, thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục nhân rộng diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC. Đầu tiên là tập trung vào đối tượng các hộ dân đang vay vốn của công ty và các hộ dân có rừng giáp ranh với rừng trồng của công ty. Mục đích là cải thiện giá trị kinh tế trồng rừng cho nông dân và nâng cao lợi ích sinh thái khi nông dân trồng rừng đạt tiêu chuẩn FSC. (Thanh Niên 9/10; Báo Quảng Nam)đầu trang(
Văn Bàn là một huyện miền núi của tỉnh Lào Cai, có tổng diện tích đất tự nhiên là 142.608,29 ha, trong đó với khoảng trên 88% diện tích đất tự nhiên là đất lâm nghiệp và rừng. Vì vậy Văn Bàn có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ, và đặc biệt là cây thảo quả.
Tính đến năm 2011, toàn huyện có khoảng 2.713ha thảo quả được trồng chủ yếu trên 12 xã, với khoảng 2.304 hộ trực tiếp tham gia, trong đó khoảng 60% diện tích đã cho thu hoạch; những xã có diện tích trồng thảo quả lớn như: xã Dương Quỳ, Liêm Phú, Nậm Chày, Nậm Xé... Cây thảo quả là cây trồng dưới tán rừng, được đưa vào trồng tại huyện Văn Bàn từ năm 1992, do các hộ đồng bào dân tộc Mông, Dao ở các xã phía tây của huyện đưa giống từ Sa Pa về trồng theo hình thức nhỏ lẻ, tự phát.
Cây thảo quả là cây có hiệu quả kinh tế và đem lại thu nhập cao cho các hộ gia đình tham gia trồng nên diện tích trồng thảo quả ngày càng được mở rộng, và các hộ trồng theo lối quảng canh mỗi hộ trồng từ 1 - 3 ha. Nông dân tự gây giống, sản xuất theo kinh nghiệm là chính nên năng suất, chất lượng chưa cao, công nghệ sấy chủ yếu được phát triển dựa trên kinh nghiệm truyền thống, các hộ gia đình lợi dụng địa hình đào đắp lò sấy ngay tại nương thảo quả, nguyên liệu chính để sấy thảo quả là gỗ, củi tại chỗ.
Với công nghệ sấy lạc hậu, thủ công nên tiêu tốn rất nhiều nguyên liệu (theo kinh nghiệm sấy của người dân để có được 100kg thảo quả khô cần ít nhất 1,5 xe củi). Chính vì vậy việc kết hợp giữa sản xuất thảo quả với phát triển rừng còn hạn chế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự đa dạng sinh học của rừng tự nhiên, hạn chế phát triển của thế hệ cây thay thế.
Sản phẩm sau thu hoạch được tiêu thụ theo đường tiểu ngạch là chính, chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc ở dạng sản phẩm thô chưa qua chế biến. Mặc dù vậy thảo quả đã trở thành một sản phẩm lâm đặc sản hàng hóa mang lại thu nhập đáng kể cho hơn 2.100 hộ nông dân trên 12 xã vùng cao của huyện Văn Bàn. Thảo quả tại nhiều xã đã chiếm trên 50% thu nhập của nông hộ và đã góp phần không nhỏ vào việc xóa đói giảm nghèo.
Nhận thức được tầm quan trọng của cây thảo quả gắn với việc phát triển kinh tế rừng đảm bảo vừa phát triển thảo quả nhưng lại không ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, từng bước đem lại thu nhập ổn định và bền vững cho những nông dân sống phụ thuộc vào rừng. Để làm được điều đó hiện nay huyện đang xây dựng chủ chương phát triển cây Thảo quả, với quan điểm là ổn định diện tích thảo quả hiện có, không mở thêm diện tích. Tập trung cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật canh tác và công nghệ sấy sau thu hoạch, giải quyết hài hòa lợi ích giữa sản xuất với bảo vệ rừng, từng bước hướng tới một chương trình canh tác thảo quả bền vững dưới tán rừng. Để làm được điều đó cần phải giải quyết hài hòa giữa bảo vệ rừng, phát huy sinh kế và thúc đẩy hợp tác.
Xuất phát từ mục tiêu đó, từ năm 2010 đến nay được sự tư vấn và hỗ trợ của tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), tổ chức Tây Ban Nha (IPADE) và Trung tâm khuyến nông Lào Cai đã hỗ trợ các xã có trồng thảo quả trên địa bàn huyện xây dựng quy ước quản lý sản xuất thảo quả bền vững cho 12/12 xã với 55 thôn bản, 2.179/2.304 hộ trực tiếp tham gia.
Bên cạnh việc hỗ trợ xây dựng quy ước còn tổ chức hàng chục lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT trồng, chăm sóc và chế biến thảo quả, tổ chức hàng chục cuộc hội nghị, hội thảo về xây dựng quy ước cũng như thảo luận về chuỗi giá trị thảo quả bền vững giai đoạn 2011 - 2015 tổ chức thành lập hội, phân hội, chi hội thảo quả từ tỉnh đến thôn bản. Đặc biệt trong tháng 7, tháng 8/2012 đã tiến hành tổ chức 12 cuộc hội nghị nhằm rà soát việc thực hiện quy ước quản lý sản xuất thảo quả trên địa bàn, đồng thời tiến hành lựa chọn để hỗ trợ mỗi xã xây dựng 01 lò sấy cải tiến.
Như vậy, sau gần 3 năm triển khai kế hoạch hợp tác về “ Phát triển chuỗi giá trị Thảo Quả tại huyện Văn Bàn” bước đầu đã thu được kết quả nhất định: Lần đầu tiên huyện Văn Bàn được tiếp cận một mô hình hiệu quả theo chuỗi giá trị từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, từ đó tác động vào các mắt xích trong chuỗi để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng giá trị thu nhập từ thảo quả.
Qua đó mạng lưới khuyến nông, các ban ngành liên quan, chính quyền cơ sở và nông dân được nâng cao năng lực về phương pháp, kỹ năng và cách tiếp cận nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Trên 1.000 hộ nông dân sản xuất Thảo Quả nâng cao năng xuất, chất lượng và giá trị thu nhập tăng từ 15 - 20%; từng bước liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp, trong việc tiêu thụ Thảo Quả... tạo việc làm ổn định, góp phần phát triển kinh tế nông lâm nghiệp hàng hóa, gắn với bảo vệ tài nguyên rừng góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững cho những hộ nông dân sống phụ thuộc vào rừng. (Theo Khuyến Nông VN 8/10)đầu trang(
Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đang hút dư luận bởi diễn biến phức tạp của nó. Đây cũng là điều dễ hiểu nhất là khi thủy điện Sông Tranh 2 liên tiếp gây hiệu ứng xấu cho cộng đồng dân cư.
TS Nguyễn Vũ Trung, Phòng Đánh giá môi trường chiến lược, Cục thẩm định và đánh giá tác động môi trường, Tổng cục Môi trường cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đang trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của 2 dự án. Sau khi lấy ý kiến 3 tỉnh dưới hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương và Tp. Hồ Chí Minh) và tổng hợp các ý kiến dư luận có cơ sở khoa học sẽ tổ chức họp hội đồng và quyết định có hay không thông qua.
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án thủy điện Đồng Nai 6 công suất 135 MW do công ty Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư sẽ đi vào hoạt động năm 2015 và dự án thủy điện Đồng Nai 6A công suất 106 MW sẽ đi vào hoạt động năm 2016. Theo đó, Bộ TN-MT đến nay các công việc đánh giá tác động môi trường của 2 dự án này vẫn đang được thực hiện, song đến nay các ý kiến phản biện vẫn đang “nóng” các diễn đàn và không ít ý kiến trái chiều mong muốn dự án được dừng lại.
Các ý kiến phản biện đều lo ngại, nếu được thông qua trong lần phê duyệt này, thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ “ngốn” hơn 370 ha đất lâm nghiệp, trong đó có khoảng 137 ha thuộc phần diện tích Vườn quốc gia Cát Tiên. Lo ngại nó ảnh hưởng đến một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng nhất phía Nam là Vườn quốc gia Cát Tiên.
Bên cạnh các ý kiến của giới chuyên môn thông qua các hội nghị, hội thảo cũng như bản kiến nghị gửi lên các cơ quan có thẩm quyền, một nhóm có tên SavingCattien cũng bày tỏ nhiều ý kiến trái chiều đối với dự án này.
Theo GS.TSKH Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Khoa học môi trường, Đại học Nguyễn Tất Thành, TP. HCM, bản báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A do Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TP. HCM thực hiện (do chủ đầu tư - Tập đoàn Đức Long Gia Lai thuê) còn quá sơ sài. Báo cáo chưa tính đến việc các con đập xây dựng ở các thác nước thuỷ điện 6, 6A đều nằm trên những đứt gãy, sụt lún sâu. Khi có một sức nặng của 31 triệu m3 nước đè lên đáy hồ, nguy cơ xảy ra động đất tự nhiên do đứt gãy và động đất là có.
Việc xây dựng đập thủy điện luôn khiến nguồn lợi cá tự nhiên trên sông suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các ngư dân chuyên nghiệp. ảnh: Lâm Đình Uy
“Tôi đề nghị Cục Thẩm định và đánh giá tác động môi trường, Bộ TN-MT nên có một buổi hội thảo mở về vấn đề thuỷ điện 6 và 6A và tránh kiểu: ai ủng hộ thì mời phản biện, ai không ủng hộ thì lơ đi!”, GS Bá bày tỏ.
TS Tô Văn Trường hiện là thành viên Ban chủ nhiệm chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước KC08/11-15 về khai thác tài nguyên, phòng tránh thiên tai và bảo vệ môi trường của Bộ Khoa học - Công nghệ cũng nhận định, “vẫn còn khá nhiều tồn tại cần làm rõ về phương pháp luận ĐTM, tính khả thi của việc điều tiết nước về phía hạ lưu, các thông tin chi tiết về hiện trạng rừng và mức độ đa dạng sinh học, văn hóa bản địa tại khu vực dự án…”.
Theo TS Trường, đối với tác động môi trường của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cần xem xét và đánh giá cẩn trọng đối với các vấn đề về mất vĩnh viễn diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, rủi ro và sự cố môi trường.
Ông Nguyễn Vũ Trung cho biết, tất cả các ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều được lắng nghe và phản hồi. Thậm chí hội đồng thẩm định cũng sẵn sàng tạo cơ hội để đại diện các tổ chức phản biện tham dự phiên họp, phát biểu ý kiến trước hội đồng. Dù rằng đây là lần đầu tiên cơ quan quản lý môi trường làm công việc này, song do mức độ quan tâm lớn của người dân lẫn giới khoa học nên Bộ lắng nghe để cân nhắc quyết định.
Nhận định về những ý kiến phản biện trái chiều trong suốt thời gian qua, ông Trung cho rằng có rất nhiều ý kiến trùng với thành viên hội đồng. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ sự bức xúc về những ý kiến mang động cơ không tích cực. “Tất cả các ý kiến mang động cơ cá nhân và chuộc lợi đều không được chấp nhận”, ông Trung nói.
Thừa nhận thủy điện sẽ gây tổn thất không nhỏ, đặc biệt về thảm phủ thực vật và đa dạng sinh học nên trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược dự án Đồng Nai 6 và 6A, Bộ TN-MT đã yêu cầu Bộ Công thương phải rà soát. Theo ông Trung, tác động lớn lại không phải là thủy điện lớn mà chính là các thủy điện nhỏ bị lợi dụng để phá rừng (có động cơ riêng). Còn những dự án lớn như Đồng Nai 6 và 6A lại không dám điều này vì công luận và dư luận rất lớn đòi hỏi phải làm nghiêm túc. Các thủy điện lớn, quyền thẩm định thuộc Bộ TN-MT, do vậy phải đánh giá đầy đủ, mời các chuyên gia đầu ngành tham gia hội đồng. “Các nhà khoa học này sẽ không bao giờ “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” để đổi kinh tế lấy danh dự và uy tín xã hội”, ông Trung khẳng định.
Trong khi đó, TS Tô Văn Trường lại cho rằng, nếu đứng trên quan điểm của các nhà bảo tồn đa dạng sinh học, căn cứ theo luật đa dạng sinh học thì rõ ràng cả 2 dự án đều vi phạm vào khu bảo tồn thuộc vườn Quốc gia Cát Tiên. Toàn bộ quá trình từ giai đoạn chuẩn bị, xây dựng và vận hành đều gây tác động vĩnh viễn đến việc mất tổng số gần 300 ha đất rừng trong đó 25 ha thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt và 77 ha rừng phòng hộ.
Cũng theo đánh giá của báo cáo ĐTM, thì vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những khu vực hiếm hoi ở Đông Nam Bộ có tính đa dạng sinh học cao, tồn tại nhiều loại động thực vật có tính bản địa, có giá trị kinh tế, và cần được bảo tồn vì có nguy cơ tuyệt chủng, thuộc những loài nằm trong sách đỏ Việt Nam.
Cồng đồng khoa học đang hồi hộp chờ quyết định số phận của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A (!). (Đất Việt 8/10)đầu trang(
Sau khi tuyến đường Trường Sơn Đông (đoạn qua huyện Lạc Dương và Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng) được khởi công xây dựng, nhiều khoảnh rừng ven đường đã bị xâm hại nghiêm trọng: nhiều cây gỗ quý hàng chục năm tuổi, đường kính gốc hơn 50cm bị đốn hạ không thương tiếc.
Những khoảnh rừng nguyên sinh cũng bị cạo trọc dần, thay vào đó là rẫy cà phê hoặc hoa màu. Ngay cạnh đường, cũng không khó để gặp cảnh hầm than đang bốc khói. (Sài Gòn Giải Phóng 9/10)đầu trang(
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh) vừa phát hiện ô tô BKS 92K- 8864 do ông Võ Văn Đàng (trú tại thôn 1, Tam Thạnh, Núi Thành) điều khiển, vận chuyển cát xây dựng trộn lẫn gần 0,5m3 gỗ xẻ nhóm 7 không rõ nguồn gốc. Đội đang tạm giữ tang vật, phương tiện để xử lý. (Báo Quảng Nam 9/10)đầu trang(
Gần 20 năm qua hàng ngàn người dân xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang luôn phải sống trong cảnh hoang mang, lo lắng khi phải sử dụng nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm nặng do nạn khai thác vàng trái phép ở đầu nguồn suối Cốc Táy gây ra. Tình trạng khai thác vàng trái phép ở xã Yên Lập khiến nhiều diện tích rừng bị ảnh hưởng, ruộng vườn bị xới tung, trâu, bò chết vì uống phải nước có độc... Dù người dân đã nhiều lần kiến nghị tới các cấp chính quyền, nhưng thời điểm này mọi hoạt động của "vàng tặc” vẫn diễn ra rầm rộ.
Đến thôn Cốc Táy chúng tôi có cảm giác nơi đây đã bình yên trở lại sau cơn lốc vàng, đường làng ô tô lăn bánh đến tận trung tâm thôn. Nhưng ít ai biết được đằng sau những dãy núi bao quanh thôn, mấy chục năm qua vẫn là lãnh địa của "vàng thổ phỉ”. Con suối đầu nguồn chảy từ thôn Cốc Táy ra đã "tố cáo” nạn khai thác vàng trái phép ở nơi đây. Theo người dân địa phương, hàng chục năm qua, từ khi các hang vàng trong lòng núi được đào đãi khiến dòng suối bị ô nhiễm nặng. Càng khủng khiếp hơn khi những năm gần đây các chủ vàng dùng hóa chất để "cô” vàng cộng thêm việc người dân tự ý bới tung ruộng vườn nhà mình để tìm vận may khiến dòng suối càng chở nên đặc quánh, nhầy nhụa bùn đất.
Dưới chân núi là hàng chục máy nổ cùng sàng tuyển đang hoạt động hết công suất tàn phá thiên nhiên; trên núi, len lỏi giữa rừng già là lán trại của "vàng tặc”. Để mục sở thị, chúng tôi phải mất gần 2 giờ đồng hồ cùng người dẫn đường leo núi mới đến "đại bản doanh” của những bưởng vàng thổ phỉ cheo leo bên sườn núi. Đi tới hàng chục hang vàng sâu hun hút vào lòng núi không một bóng người, người dẫn đường lắc đầu: "Do địa hình, họ (người khai thác vàng) ở trên cao có thể quan sát được mọi hoạt động bên dưới nên khi thấy người lạ là họ sẽ rút hết vào rừng. Lán của họ đều là lán dã chiến nên chỉ mất vài phút có thể thu dọn xong, với lại vùng này sóng điện thoại phủ mọi nơi...”
Tìm gặp Trưởng thôn Cốc Táy Tho Văn Bộ để trao đổi, anh cho biết: "Thôn Cốc Táy hiện có 58 hộ, 248 khẩu, 37 hộ nghèo, chủ yếu là dân tộc Tày, Dao, Kinh, Hoa. Tình trạng khai thác trên núi chủ yếu là người tứ xứ kéo đến, chúng tôi không nắm được có bao nhiêu người”.
Ông Bộ cho biết thêm: "Nước từ thôn Cốc Táy chảy ra phục vụ 9,3 hecta ruộng của thôn và cho tất cả các thôn gần Cốc Táy. Việc khai thác vàng khiến nước đục quanh năm, cả trâu bò cũng không dám uống. Riêng năm ngoái xảy ra vụ sập hầm khiến 3 người chết thuộc khu vực hang Hồ. Tôi đã nhiều lần kiến nghị cấp trên cần có biện pháp để ngăn chặn nạn khai thác vàng trái phép. Vì sau khai thác cát sỏi trôi xuống ruộng của bà con. Chăn nuôi không ổn định do nguồn nước ô nhiễm, năng suất lúa, ngô giảm mạnh…”
Trở lại câu chuyện khoảng 12 năm về trước (1999), khi được Nhà nước hỗ trợ chuyển 30 hộ dân đến nơi ở mới tại xã Yên Lập, hàng trăm người dân bắt đầu cuộc sống mới, họ chăm chỉ khai hoang ruộng nương. Chính nhờ sự chăm chỉ ấy cuộc sống của họ dần đi vào ổn định, có trường học, trạm y tế, đường giao thông được mở tới tận thôn, nhiều nhà có đường bê tông vào tận cửa…
Cuộc sống của bà con xóm 135 (cái tên gắn với Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ) cứ im ắng bình yên theo năm tháng. Vào những ngày tháng 10-2011, đùng một lúc 6 giàn tuyển vàng được huy động tới dọc con suối Khuổi Luông chảy qua xóm 135 Nhật Tân để khai thác vàng trái phép. Chẳng mấy chốc bãi soi rộng vài hecta của bà con bao năm canh tác trở thành bãi đất hoang trước sự ngỡ ngàng và hoang mang của bao người.
Những ngày cuối tháng 9-2012 khi PV có mặt tại thôn Nhật Tân thì cánh đồng trước đây đã không còn. Theo bà con, ruộng ngô của họ không những không được đền bù mà người khai thác vàng còn ngang nhiên dùng máy xúc cả ngô, lúa của họ lên giàn tuyển mặc sự phản đối quyết liệt và nhiều lần kiến nghị lên xã, huyện của người dân nhưng chẳng cấp nào đến giải quyết. Khu vực bị xúc xới nham nhở nhất là ven suối Khuổi Luông dài khoảng 2km qua thôn Nhật Tân.
Người dân thôn Nhật Tân cho biết: máy móc và các thiết bị khai thác vàng là của một người tên Nguyễn Tiến Vinh huy động từ ngoài thị trấn Vĩnh Lộc (Chiêm Hóa) vào khai thác, với vỏ bọc là nắn dòng chảy để tăng thêm diện tích đất canh tác cho bà con, nhưng thực chất những việc mà ông Vinh làm là khai thác vàng trái phép. Một năm trôi qua, bờ xôi ruộng mật của xóm đã thành ao hồ, bãi đá nhân tạo ngổn ngang không thể canh tác được.
Ông Phùng Xuân Nhất – Phó thôn Nhật Tân bức xúc: "Dân chúng tôi đã vô cùng bức xúc và kiến nghị nhiều lần mà không thấy ai giải quyết, cả xóm giờ đã lên đến 41 hộ dân đều sống dựa vào cây ngô trên đất soi là chính, bây giờ họ làm vàng đã đào rửa hết đất màu, trơ lại sỏi đá và không thể trồng nổi cây gì. Bãi soi đó được dân chúng tôi coi là "bồ thóc” của cả xóm. Vậy mà muốn làm bãi chăn trâu cũng không có cỏ”.
Theo ông Nhất, ban đầu huyện, xã vào triển khai tuyên truyền với dân là cho đơn vị vào nắn dòng, kè chân soi. Nhưng đến thời điểm này cũng như suốt thời gian qua người dân chỉ thấy đơn vị thi công khai thác vàng chứ không phải nắn dòng hay kè gì cả...
Hơn ai hết những người gánh chịu hậu quả sau khai thác vàng trái phép với vỏ bọc nắn dòng chính là người dân xóm 135 Nhật Tân. Cách nay hơn chục năm cũng chính vì vàng mà họ phải dời đến nơi ở mới. Và nay, một lần nữa nạn khai thác vàng trái phép làm đảo lộn của sống của họ. Rồi cuộc sống của bà con sẽ ra sao? Con cái sẽ được hưởng gì từ cha mẹ, khi những tấc đất cuối cùng mà thiên nhiên ban tặng đã trở nên hoang hóa vì vàng. Hơn ai hết họ hiểu rằng, những người có thể giúp họ chính là chính quyền địa phương, những người có trách nhiệm, trừ những người đã reo rắc nỗi khổ đến với vùng quê vốn nghèo khó này! (Đại Đoàn Kết 9/10)đầu trang(
Một diện tích đất rừng hơn 10ha được gia đình bà Võ Thị Gái (thôn Thanh Vân, xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy, TT-Huế) khai hoang và sử dụng từ năm 1976. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ bởi BQL rừng phòng hộ Hương Thủy cho rằng phần đất này thuộc tiểu khu 171 của đơn vị.
Theo đơn bà Gái gửi các cơ quan chức năng, năm 1976, gia đình bà nằm trong diện di dân đi vùng kinh tế mới tại xã Dương Hòa. Khi đến đây định cư, bà có khai hoang diện tích đất đồi núi khoảng 10ha tại khu vực Khe Dài, Khe Lạnh. Năm 2003, thực hiện chủ trương của Nhà nước về phủ xanh đất trống đồi trọc, gia đình bà cho tiến hành trồng cây keo trên phần diện tích đất đồi núi mà gia đình đã khai hoang trước đó. Tuy nhiên, vào thời điểm này, do điều kiện đi lại khó khăn nên một phần diện tích rừng bị trâu bò quật phá, bà phải nhiều lần trồng dặm bổ sung.
Năm 2008, khi đo đạc bản đồ quản lý rừng, thì thửa đất rừng của gia đình bà cũng được đo vẽ vào bản đồ, đứng tên con trai bà. Trên cơ sở đó, bà Gái về UBND xã Dương Hòa xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ rừng, lại không được UBND xã xác nhận đủ điều kiện. Lý do được đưa ra là vùng đất này nằm trong khu vực rừng phòng hộ Hương Thủy đã được UBND tỉnh TT-Huế phê duyệt, nên không thể cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Bà Võ Thị Gái cho biết: “Diện tích đất rừng trên được gia đình tôi sử dụng liên tục trong nhiều năm liền. Hồi năm 2003, để trồng hơn 10 ha rừng, gia đình tôi đã đổ không biết bao nhiêu công sức và tiền của. Những năm đó ngoài số thành viên trong gia đình, tôi đã thuê nhân công gùi cây giống, vượt đường núi vào trong Khe Dài, Khe Lạnh để trồng rừng mỗi ngày 40 nghìn đồng/nhân công. Nhưng giờ đất đó không làm được sổ đỏ, coi như công sức đổ sông đổ biển”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, năm 2008, thực hiện công tác đo đạc lại diện tích, phân loại lại hiện trạng rừng trên địa bàn xã Dương Hòa do đoàn đo đạc 202 thực hiện, gia đình bà Gái đã mời đoàn về đo đạc và đưa vào bản đồ hiện trạng, thể hiện thửa đất nói trên mang số 535, tờ bản đồ số 2, diện tích hơn 10ha do ông Trương Hữu Phong (là con trai bà Gái) đứng tên. Trên cơ sở đó, gia đình bà Gái tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất rừng này. Tuy nhiên, qua rà soát với bản đồ đo đạc, thì thửa đất này nằm trong tiểu khu rừng 171 được xác định là rừng phòng hộ, do đó, hồ sơ xin cấp giấy của gia đình bà Gái không được cấp xét.
Trao đổi với chúng tôi, anh Lê Văn Thức, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa cho biết: “Thực tế cho thấy gia đình bà Võ Thị Gái có sử dụng hơn 10ha trồng rừng ở khu vực Khe Lạnh, Khe Dài. Tuy nhiên, đến nay thời điểm sử dụng hiện vẫn chưa xác định được. Sau khi gia đình bà Gái có khiếu nại về việc không được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, đại diện BQL rừng phòng hộ Hương Thủy và UBND xã Dương Hòa đã tiến hành nhiều cuộc họp mời bà Võ Thị Gái ra giải quyết, nhưng vẫn chưa có kết quả”.
Trong khi đó, nhiều lần chúng tôi liên hệ để đăng ký làm việc với phía BQL rừng phòng hộ Hương Thủy nhưng đều bị từ chối làm việc. Điều đáng nói là theo phía gia đình bà Gái thì họ đã khai hoang sử dụng diện tích rừng này từ rất lâu, trước thời điểm khu vực này được xác định là rừng phòng hộ. Trong khi nhiều hộ dân ở xã Dương Hòa cũng khai hoang diện tích đất rừng cùng thời điểm như bà nhưng lại được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/10)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Bình Định vừa cho biết, từ đầu năm 2012 đến nay, tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra phổ biến và có chiều hướng gia tăng, nhất là đối với các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Theo đó, các ngành chức năng đã phát hiện 101 vụ chặt phá rừng, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm 2011, tổng diện tích rừng bị tàn phá hơn 20 ha, với giá trị thiệt hại khoảng 135 triệu đồng.
Ngoài ra, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh còn xảy ra 12 vụ cháy rừng, với tổng diện tích thiệt hại 26 ha, giá trị thiệt hại là 190 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2011 thì cháy rừng tăng 8 vụ, diện tích rừng bị cháy tăng 18 ha, giá trị thiệt hại tăng 67 triệu đồng.(An Ninh Thủ Đô 9/10)đầu trang(
Lợi dụng sự lơi lỏng của chủ rừng, gần một năm qua, những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn của công trình thủy lợi Ayun Hạ, thuộc xã H,bông, huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai) đã bị tàn phá nghiêm trọng. Đây là khu rừng phòng hộ nằm gần lòng hồ thủy lợi Ayun Hạ (công trình đại thủy nông lớn nhất khu vực Tây Nguyên, tưới cho 12.500ha cây trồng các loại), có tác dụng bảo vệ và điều tiết nguồn nước, chống xói mòn đất quanh khu vực thân đập, là lá phổi xanh điều hòa không khí trong vùng... đang có nguy cơ bị xóa sổ.
Khu vực bị triệt hạ nhiều nhất thuộc các lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Chư Sê quản lý, nằm gần hai làng Kueng và Tê Ba, xã H,bông, huyện Chư Sê, với diện tích lên đến gần 200ha. Trên những diện tích đã được “khai phá”, nhiều rẫy mì đang lên xanh chờ ngày thu hoạch.
Ông Trần Văn Thời - Trưởng BQLRPH Chư Sê cho biết, những năm qua, Sở NN - PTNT tỉnh Gia Lai giao đơn vị quản lý hơn 16.000ha đất và đất rừng thuộc các xã H,bông, Ayun (huyện Chư Sê)... Trong số này có hơn 7.000 ha rừng phòng hộ vùng lòng hồ thủy lợi Ayun Hạ. Do giá một số mặt hàng nông sản liên tục tăng cao, nên nhiều người dân ồ ạt kéo nhau vào rừng chặt, đốt lấy đất trồng mì. Trong khi đó, các lâm phần do BQLRPH Chư Sê quản lý nằm trải rộng trên nhiều xã, nhân sự của Ban quá mỏng nên “bó tay” trước tình trạng người dân xâm lấn rừng để trồng mì. (Công An TPHCM 9/10)đầu trang(
Ngày 8/10, ông Võ Văn Sanh - Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị, cho biết, có trên 23ha rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn xã đã bị một số người từ các địa phương lân cận đến chặt phá, sau đó trồng các loại cây lâu năm.
Địa phương đã nhiều lần tổ chức lực lượng chốt chặn, đẩy đuổi, song không xử lý hết được. Huyện đang đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh phối hợp xử lý các đối tượng chặt phá rừng bừa bãi theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 9/10)đầu trang(
Không biết Ban quản lý vườn quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn quản lý thế nào nhưng mỗi ngày có nhiều thú rừng bị “xẻ thịt” ngay trong khu vực này.
Tại vườn quốc gia Yok Đôn, động vật hoang dã ngày đêm bị “xẻ thịt” một cách không thương tiếc. Nhiều loại, nhất là động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắn vô tội vạ để sử dụng làm đồ trang trí, trang sức, các món nhậu xa xỉ tại các nhà hàng, khách sạn... Nếu không có biện pháp cấp bách để ngăn chặn, thú rừng Yok Đôn còn phải khóc ròng. (Công An TPHCM 9/10)đầu trang(
Liên tiếp hơn 20 ngày nay, trên địa bàn 2 tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau có mưa vừa đến mưa to. Mưa cùng với triều cường đã khiến trên 11.000ha lúa của tỉnh Cà Mau bị ngập, 23.000ha lúa tại Bạc Liêu cũng chìm trong nước. Mưa cũng gây khó khăn đối với tiến độ trồng rừng và nhiều cánh rừng mới trồng có nguy cơ chết do mưa ngập...
Ông Trần Văn Lành ở xã Trần Hợi (huyện Trần Văn Thời, Cà Mau) trồng gần 1ha đậu xanh đang chờ thu hoạch, thất thần nhìn nước ngập: “Hơn 20 ngày nay nước mênh mông như biển, coi như số đậu xanh này tiêu hết!”. Tại các xã vùng trũng của huyện Trần Văn Thời, mưa cùng với triều cường đã làm nước trên sông dâng cao tràn vào ruộng lúa và hoa màu của nông dân.
Ông Sử Văn Minh - Trưởng phòng NNPTNT huyện Trần Văn Thời - cho biết: “Do ảnh hưởng của mưa và triều cường đã có trên 500ha lúa và hoa màu của huyện ngập sâu trong nước, gần như không thể thu hoạch được”. Theo Sở NNPTNT Cà Mau, triều cường, mưa lớn làm ngập hàng chục ngàn ha lúa và hoa màu; trong đó riêng huyện U Minh có gần 11.000ha lúa và hoa màu bị ngập. Diện tích bị ngập chủ yếu là lúa đông xuân vừa gieo cấy nên ảnh hưởng lớn đến tiến độ xuống giống.
Trong khi đó, tại Bạc Liêu có đến trên 23.000ha lúa và hoa màu bị ảnh hưởng mưa và nước ngập; chủ yếu trên trà lúa đông xuân và lúa mùa. Theo nhiều nông dân, thiệt hại về vật chất không lớn, nhưng trễ thời vụ khó có thể sản xuất lúa mùa kịp thời vụ.
Tại Cà Mau, mưa làm ngập trên 30ha keo lai của các doanh nghiệp (DN) nhận trồng rừng nguyên liệu theo chủ trương của tỉnh. Theo các DN, tình trạng ngập úng đã hơn 10 ngày qua, nguyên nhân do các cống thoát nước từ vùng ngọt ra các cửa sông quá nhỏ, không thoát nước kịp.
Theo ghi nhận của PV Lao Động, có ít nhất 5ha keo lai của một DN thiệt hại nặng do ngập úng; hàng chục ha khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu không có phương án thoát nước kịp thời, lúa, hoa màu của nông dân và rừng keo lai của các DN sẽ chịu thiệt hại nặng. Ông Nguyễn Long Hoai - Chi cục Thủy lợi Cà Mau - cho biết: “Hầu hết diện tích lúa, hoa màu của người dân trong tỉnh ngập một phần do mưa lớn và triều cường, trong khi hệ thống cống ngăn mặn giữ ngọt của tỉnh chưa hoàn chỉnh”.
Tại Bạc Liêu, tỉnh đã đầu tư gần 100 tỉ đồng cho hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng, nhưng tình trạng ngập úng cục bộ vẫn xảy ra. Ông Lương Ngọc Lân - Giám đốc Sở NNPTNT - cho biết: “Hiện một số hệ thống cống lớn do TW đầu tư cách nay hơn 10 năm đã xuống cấp, chưa được bảo trì. Ngoài ra các tuyến đê bao chưa hoàn chỉnh nên khó có thể ngăn được nước ngập vào ruộng và triều cường gây ngập cục bộ một số khu dân cư ven cửa sông, cửa biển”.
Chưa có con số thống kê thiệt hại chính thức, nhưng những gì diễn ra hơn 20 ngày nay tại Bạc Liêu, Cà Mau cho thấy đã đến lúc cần phải đầu tư hệ thống phân ranh mặn ngọt; hệ thống đập, kè bởi cái đã có thì cũ, cái mới chưa hoàn chỉnh. (Lao Động 9/10)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa có văn bản báo cáo về tình hình phá rừng ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đông Tiển, xác nhận nội dung Báo Quảng Nam phản ánh (trong bài “Rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đông Tiển: Mạnh ai nấy phá”, số ra ngày 10.8) là đúng sự thật.
Đoàn kiểm tra 6 vị trí và đã xác định được 10,5ha rừng bị phá để lấy đất sản xuất. Trong đó, phá rừng trạng thái IIb (rừng gỗ phục hồi cây lá rộng) hơn 8,5ha; phát vào diện tích đất đã quy hoạch thành rừng phòng hộ gần 2ha. Ngoài phá rừng, tại khu vực này còn mở đường trái phép để vận chuyển lâm sản trái phép. Vào thời điểm kiểm tra còn nhiều vị trí gỗ, củi tập kết hai bên đường…
Trao đổi với phóng viên Báo Quảng Nam, ông Huỳnh Tấn Đạt - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình cho biết, việc phá rừng phòng hộ ở khu vực hồ chứa nước Đông Tiển lên đến 48ha, trong đó rầm rộ nhất vào thời điểm tháng 7 (xâm hại 25ha rừng). Kiểm lâm địa phương đang tiếp tục thu thập hồ sơ, củng cố chứng cứ chuyển sang cơ quan điều tra khởi tố vụ án. (Báo Quảng Nam 9/10)đầu trang(
Nam Phi đang đề xuất cho phép hợp pháp hóa mua bán sừng tê giác để chống lại tình trạng săn trộm tê giác nhức nhối hiện nay, ông Đỗ Quang Tùng, Phó giám đốc Phụ trách CITES Việt Nam, nói với PV Tiền Phong ngày 9-10.
“Đề xuất này sẽ trở thành hiện thực nếu được 2/3 nước thành viên của CITES (Cơ quan Quản lý thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) thông qua tại hội nghị của tổ chức này vào tháng 3-2013”, ông Tùng nói.
Nếu đề xuất này được thông qua, giá sừng tê giác trên thị trường châu Á có thể giảm mạnh.
Theo các chuyên gia, những kẻ săn bắn trộm thường hạ gục tê giác để cưa lấy sừng. Tuy nhiên, nếu biết lấy sừng đúng cách thì con vật vẫn sống và có thể mọc sừng trở lại sau khoảng 2 năm.
Việc cưa sừng tê giác thường xuyên sẽ làm cho nguồn cung tăng mạnh mà vẫn bảo vệ được số lượng tê giác.
Hiện nay, mỗi kilogram sừng tê giác có giá lên tới 60.000 USD, tương đương 1,25 tỷ đồng. Với mức giá này, sừng tê giác đắt hơn cả vàng.
Một số chủ sở hữu tê giác tư nhân và chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã cho rằng, việc cho phép mua bán sừng tê giác hợp pháp có kiểm soát vừa cung cấp đủ cho nhu cầu ở các nước châu Á, vừa đem lại nguồn tiền phục vụ việc bảo tồn động vật.
“Lệnh cấm hiện nay không có tác dụng, vì hầu như ngày nào cũng xảy ra tình trạng săn bắn tê giác bất hợp pháp, bà Lucy Boddham Whetham, cựu phó giám đốc tổ chức phi chính phủ Save the Rhino (Cứu tê giác) có trụ sở ở Anh, nói.
“Giống như thị trường kim cương trước kia, khi cho phép mua bán có kiểm soát thì sẽ tránh được tình trạng kim cương máu. Sừng tê giác được bán nhiều thì những kẻ săn bắn, buôn lậu sẽ chán vì kiếm được ít hơn”, bà Whetham nói.
Trong thực tế, nhu cầu mua sừng tê giác cao hơn nhiều so với nguồn cung, nên rất nhiều sừng tê giác giả đang được bán ở các nước châu Á.
Theo kết quả phân tích của ĐH Pretoria (Nam Phi) thực hiện trên 20 mẫu sừng tê giác mua ở thị trường Việt Nam và Lào, chỉ có 3 mẫu thật, còn lại là sừng trâu, cừu và linh dương được làm giả.
Nam Phi mỗi năm cho phép săn bắn 5 con tê giác đen và một số tê giác trắng, nhưng chỉ cho phép dùng vào mục đích trưng bày.
Từ tháng 4 năm nay, Nam Phi không cấp phép cho người quốc tịch Việt Nam săn bắn tê giác vì cho rằng người Việt Nam không tuân thủ quy định của Nam Phi.
Ông Đỗ Quang Tùng nói rằng, mỗi năm khoảng 20-30 con tê giác trắng được các cá nhân nhập khẩu hợp pháp về Việt Nam. Những con vật này chỉ được sử dụng vào mục đích trưng bày.
Theo TRAFFIC (Mạng lưới phi chính phủ toàn cầu chuyên kiểm soát số lượng động vật hoang dã bị buôn bán), dù chính phủ Nam Phi đã bắt giữ nhiều đối tượng liên quan cái chết của tê giác, song không thể ngăn chặn tình trạng ngày càng có dấu hiệu nghiêm trọng hơn do sự góp mặt của các tổ chức tội phạm.
Ngay cả những cuộc săn bắn thể thao hợp pháp cũng đang nhắm tới việc khai thác thu mua sừng tê giác.
Từ năm 2010 đến đầu năm nay, gần 60% đơn xin cấp phép săn bắn tê giác là từ Việt Nam, theo Bộ Môi trường và Các vấn đề nước của Nam Phi.
Tuy không được phép, những kẻ chuyên buôn bán tê giác vẫn đang tìm mọi cách để có thể lách luật và thu mua sừng tê giác từ nhiều nguồn cung khác.
Điển hình là trong những năm gần đây, gần 70 chiếc sừng tê giác được trưng bày trong các sự kiện tại Nam Phi, Mỹ, châu Âu bị đánh cắp.
Gần đây, chính quyền Nam Phi đề nghị Việt Nam và Trung Quốc phối hợp kiểm soát hoạt động buôn bán tê giác bất hợp pháp và xây dựng ngân hàng dữ liệu ADN tê giác để giúp họ truy ra những con vật bị giết chết để lấy sừng.
Nam Phi hiện chiếm tới 90% số lượng tê giác của toàn thế giới, với khoảng 20.000 con tê giác, phần lớn là tê giác trắng.
Từ đầu năm đến nay có 159 con tê giác bị bắn chết, nên số lượng tê giác bị săn bất hợp pháp trong năm nay có thể lên tới 619 con, cao hơn mức kỷ lục của năm ngoái là 448 con (năm 2007 chỉ có 13 con), theo Bộ Môi trường và Các vấn đề nước.
Các chuyên gia cho rằng, với tốc độ săn bắn hiện nay, tê giác châu Phi có thể bị tuyệt chủng vào năm 2025. (Tiền Phong 10/10)đầu trang(
Ngày 9.10, UBND H.Cát Tiên (Lâm Đồng) cho biết, kết quả điều tra sơ bộ của công an huyện có khoảng 17 người dân ở thôn Phước Sơn, xã Phước Cát 2 (trong đó đã xác định danh tính của 9 người) tham gia vây, đánh chết một con thú rừng (nghi bò tót) rồi xẻ thịt chia nhau và mang đi bán.
Công an huyện cũng xác định được người mua đầu con thú là ông H.V.T (thôn Cát Lâm, xã Phước Cát 1). Cùng ngày, UBND H.Cát Tiên đã có văn bản chỉ đạo công an huyện chủ trì phối hợp Hạt Kiểm lâm huyện, Vườn quốc gia Cát Tiên và UBND xã Phước Cát 2 tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý hoặc đề xuất cấp thẩm quyền xử lý vụ việc.
Như Báo Thanh Niên số ra ngày 9.10 đã thông tin, vào ngày 5.10, phát hiện một con bò tót ở gần khu dân cư thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên, nhiều người dân ở thôn Phước Sơn đã sát hại rồi xẻ thịt đem bán. (Thanh Niên 10/10; Tiền Phong)đầu trang(
9-10, ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên, cho biết, đơn vị đã gửi đầu con bò bị sát hại tại thôn Phước Sơn (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng) về cơ quan chuyên môn tại TPHCM để giám định xem đây có phải là động vật nhóm 1B (bò tót) hay không.
Theo ông Diện, khi xem hình dạng chiếc đầu, những người có kinh nghiệm khẳng định đây là bò tót, nhưng về phương diện pháp lý thì cần có kết quả giám định. Nếu đúng là bò tót, cơ quan chức năng sẽ khởi tố hình sự vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng tham gia.
Liên quan đến vụ việc này, Công an huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng) đã triệu tập 15 đối tượng để lấy lời khai, phục vụ công tác đều tra, đồng thời tiếp tục truy lùng các đối tượng tình nghi khác. (Sài Gòn Giải Phóng 9/10; Vnexpress.net 9/10)đầu trang(
Rừng phòng hộ Dầu Tiếng (Tây Ninh) có ý nghĩa rất quan trọng về sinh thái và môi trường không chỉ cho Tây Ninh mà còn nhiều địa phương khác như: TP.HCM, Long An, Bình Dương… Thế nhưng, nó đang từng ngày bị "xẻ thịt".
Vào năm 2006, có 238 ha rừng phòng hộ Dầu Tiếng đã phải "hy sinh" cho Nhà máy xi măng (NMXM) Fico Tây Ninh (giai đoạn 1). Giờ đây, NM này đang vào giai đoạn chuẩn bị “phá” thêm 365 ha rừng phòng hộ.
Theo tìm hiểu, giai đoạn 1 NMXM Fico Tây Ninh (xã Tân Hòa, H.Tân Châu) do Công ty CP xi măng Fico Tây Ninh làm chủ đầu tư được khởi công từ tháng 11.2006 và chính thức hoàn thành vào tháng 10.2009. Việc thực hiện dự án chia thành nhiều giai đoạn. Thực tế trước đó, năm 2004, UBND tỉnh có Quyết định 348 cho chuyển đổi trên 79 ha đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng để thực hiện dự án xây dựng NMXM Fico Tây Ninh. Tiếp đến, từ 2006 - 2009, UBND tỉnh Tây Ninh tiếp tục cho chuyển đổi và giao tổng cộng trên 238 ha đất rừng phòng hộ để triển khai xây dựng NM và khai thác mỏ đá.
Hiện, NMXM Fico Tây Ninh đang tiến hành các hoạt động khai thác mỏ đá trên diện tích 80 ha (trong số 238 ha nêu trên) nằm trên khu vực rừng phòng hộ. Ngoài ra, các diện tích còn lại được xây dựng hạ tầng cơ sở và khu NM. Một người dân xã Suối Ngô (H.Tân Châu) nói: "Lợi ích từ NM sản xuất xi măng đối với người dân chưa thấy đâu, nhưng trước mắt thì đường sá bị phá nát, tai nạn giao thông thường xuyên diễn ra do những đoàn xe chuyên chở nguyên vật liệu ra vào (ngang qua địa bàn xã Suối Ngô - PV) NM".
Chiều 9.10, ông Lê Minh Thuần, Giám đốc Ban Quản lý (BQL) khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (Sở NN-PTNT Tây Ninh) khẳng định, toàn bộ diện tích 238 ha rừng đã giao xây dựng NMXM Fico Tây Ninh chính là đất thuộc rừng phòng hộ Dầu Tiếng trước đây.
Theo ông Thuần, rừng phòng hộ Dầu Tiếng có từ rất lâu đời và là rừng nguyên sinh, có giá trị về nhiều mặt: “Hiện khu rừng có diện tích hơn 29.000 ha vẫn đang giữ vai trò rất tốt trong việc đảm bảo chức năng phòng hộ đối với hồ thủy lợi Dầu Tiếng. Nếu mất rừng này thì sẽ ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động của hồ Dầu Tiếng và dễ xảy ra nhiều nguy cơ khác đi kèm sau đó”.
Theo số liệu của BQL khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, thời điểm trước năm 2007, rừng ở đây có diện tích trên 34.359 ha. Tuy nhiên, theo số liệu mới nhất (vào tháng 9.2012), quy hoạch rừng của UBND tỉnh Tây Ninh, rừng phòng hộ Dầu Tiếng giảm còn 29.555 ha.
Việc bảo vệ rừng phòng hộ trở thành mục tiêu chung của quốc gia, nhưng mới đây UBND tỉnh Tây Ninh đã có Tờ trình số 1330 ngày 29.6.2012 trình HĐND tỉnh thông qua Báo cáo quy hoạch phát triển rừng tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2020. Tờ trình nêu rõ diện tích đưa ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp tổng cộng 468 ha, trong đó có đến 420 ha thuộc rừng phòng hộ Dầu Tiếng.
Trong số 420 ha này sẽ cắt 365 ha để thực hiện dây chuyền 2 NMXM Fico Tây Ninh (gồm khu khai thác mỏ, băng tải, băng chuyền, trạm đập, bãi chứa đất sét 1, 2 theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ). Sau tờ trình này, ngày 24.9.2012, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định 1837 về việc phê duyệt về quy hoạch và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, trong đó sẽ "xóa sổ" thêm 420 ha đất rừng phòng hộ Dầu Tiếng. Thông tin này như một cú sốc lớn đối với người dân và cán bộ tỉnh Tây Ninh.
Ông Thuần cho biết thêm: “Chúng tôi là cơ quan cấp dưới thì phải thi hành quyết định của cấp trên. Nhưng thực sự trong thâm tâm tôi thấy rằng phá rừng nguyên sinh, nhất là rừng phòng hộ để phát triển công nghiệp thì hậu quả sẽ rất lớn và phải trả giá ngay trước mắt”.
Đúng như lời ông Thuần nói, ngay từ sáng sớm nhóm PV chúng tôi trên đường đến xã Suối Ngô (H.Tân Châu) đã thấy nơi đây đang bị ngập lụt, hàng trăm căn nhà dân bị chìm trong nước. Nhiều điểm trên đường ĐT785 bị ngập và sạt lở nghiêm trọng. Trường tiểu học Suối Ngô C phải cho học sinh nghỉ học vì bị ngập sâu trong nước trên 1 m do ảnh hưởng từ lượng nước hồ Dầu Tiếng tràn về.
Ông Thuần nói: “Hàng chục năm nay ở đây chưa bị ngập như vậy bao giờ. Hậu quả trước mắt là đây, nước từ đầu nguồn đổ về, nếu không có rừng phòng hộ thì không những đầu nguồn bị ngập mà hạ nguồn sông Sài Gòn cũng bị ngập theo”.
Có mặt tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng nơi 365 ha rừng sắp biến mất, chúng tôi ghi nhận sự phong phú đa dạng của thảm thực vật tại đây. Hiện tại, trong khu rừng còn rất nhiều loài cổ thụ có giá trị như: giáng hương, sao, dầu… có tuổi đời đến gần trăm năm. Theo BQL, hiện 365 ha rừng dự kiến quy hoạch giao cho NMXM Fico Tây Ninh nằm hoàn toàn trong khu vực rừng phòng hộ, còn nguyên thủy. Trước đây, nhiều đơn vị đến khảo sát và thăm dò và đã phát hiện trong khu vực này (thuộc tiểu khu 40 và 41) có mỏ đá với trữ lượng lớn.
Để làm rõ hơn, chiều qua, PV đến NMXM Fico Tây Ninh để tìm gặp lãnh đạo, nhưng bảo vệ cho biết lãnh đạo không có trong NM.
Dự án NMXM Fico Tây Ninh thuộc nhóm A được Chính phủ thông qua và cho phép đầu tư theo Văn bản số 166 ngày 6.2.2004 với tổng vốn đầu tư trên 3.800 tỉ đồng. Ngày 29.4.2008, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận về việc bổ sung dự án dây chuyền 2 xi măng Fico Tây Ninh vào quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam theo Văn bản số 2699 ngày 29.4.2008. Ngày 5.3.2010, Bộ Xây dựng cũng đã có Văn bản số 327 phê duyệt chủ trương đầu tư dây chuyền 2, nâng tổng công suất lên 3 triệu tấn/năm. Hiện dây chuyền này đang tiến hành khảo sát để đặt trong 365 ha rừng phòng hộ Dầu Tiếng. (Thanh Niên 10/10)đầu trang(
Theo kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu cho thấy, đầu tư 1USD cho phòng tránh thảm họa sẽ tiết kiệm được 7USD trong việc phục hồi, khắc phục thiên tai.
"Mưa phùn giảm rõ rệt, không khí lạnh ở Bắc Bộ giảm, nhưng lại có các đợt rét dị thường; nắng nóng ở Trung và Nam Bộ, mưa trái mùa và mưa lớn cũng bất thường hơn; El Nino và La Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến thời tiết, khí hậu ở Việt Nam...” là những báo cáo mới về rủi ro biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với Việt Nam- được công bố tại Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và khí hậu cực đoan- diễn ra ngày 17.8 tại Hà Nội.
Các chuyên gia quốc tế về BĐKH tại hội thảo cho biết, theo một chỉ số mới về tính dễ bị tổn thương do các tác động của BĐKH trong vòng 30 năm tới, Việt Nam được xếp hạng thứ 23 trên tổng số 193 quốc gia và là một trong 30 quốc gia có nguy cơ cực lớn về chịu tác động của BĐKH.
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ước tính, nếu mực nước biển dâng lên 1m, Việt Nam sẽ có 11.000km đường giao thông bị ngập nước. Nếu không có các biện pháp thích hợp, tổng chiều dài tuyến quốc lộ bị ngập lụt sẽ là 695km, trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long có 495km quốc lộ bị ngập lụt.
Khi mực nước biển dâng 1m, cũng sẽ có 10,8% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng, tỉ lệ cao nhất trong các nước bị tác động do BĐKH được phân tích.
Theo nghiên cứu của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (PICC), vùng Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba điểm nóng “cực đoan” của toàn cầu về khả năng phải di dời dân do mực nước biển tăng. Theo đó, đến năm 2050, có đến 1 triệu người có nguy cơ bị di dời khỏi đồng bằng này do lũ lụt và hạn hán lặp đi lặp lại, tạo nên sự căng thẳng về vấn đề sinh kế.
Đối với nông nghiệp, Việt Nam có 1,6 triệu hécta đất nông nghiệp ở vùng ven biển, trong đó đất trồng lúa nước là 0,9 triệu hécta bị ảnh hưởng. ADB dự báo, những ảnh hưởng của BĐKH và khí hậu cực đoan sẽ tác động tiêu cực đến nền sản xuất gạo và càphê của Việt Nam - sớm nhất là năm 2020.
Theo GS- TSKH Trần Thục - Viện trưởng Viện Khí tượng thủy văn (Bộ TN&MT) - thách thức lớn hiện nay là nhận thức của cộng đồng về BĐKH và các hiện tượng khí hậu cực đoan còn hạn chế; thứ hai là sự phối hợp hành động giữa các bộ, ngành chưa đạt được sự đồng thuận cao, nên chưa lồng ghép hiệu quả được chiến lược ứng phó với BĐKH trong chiến lược phát triển các ngành. Bên cạnh đó là các vấn đề công nghệ, nguồn tài chính để triển khai các chương trình, chiến lược ứng phó với BĐKH còn hạn chế.
Bà Meta - Giám đốc điều hành UNDP Việt Nam - cho biết, các kết quả nghiên cứu về BĐKH cho thấy, đầu tư 1USD cho phòng tránh thảm họa sẽ tiết kiệm được 7USD trong việc phục hồi, khắc phục thiên tai.
Thực tế cũng cho thấy, Việt Nam đã trồng được 12.000ha rừng ngập mặn từ năm 1994 đến 2002, tốn 1,1 triệu USD. Nhưng nhờ đó, Việt Nam đã tiết kiệm được chi phí bảo trì đê biển hằng năm là 7,3 triệu USD.
Theo TS Pachauri - Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH- để giảm thiểu tác động của BĐKH đối với phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam cần phải lồng ghép các hành động trong chiến lược ứng phó với BĐKH vào trong các chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành khác.
Đối với người dân, đặc biệt là người nghèo, giải pháp hiệu quả là nâng cao đời sống kinh tế, để họ có nhiều điều kiện hơn chống chọi với BĐKH và các hiện tượng khí hậu cực đoan. “Nếu không có các biện pháp thích hợp và hành động ngay, BĐKH sẽ có khả năng làm trầm trọng hơn tình trạng đói nghèo và tiếp tục kìm hãm tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển”- TS Pachauri nói. (Lao Động 10/10)đầu trang(
Do bị đánh động từ trước nên khi tổ công tác đến, khoảng gần 100 "vàng tặc" đã bỏ chạy trốn vào rừng sâu. Lực lượng truy quét đã tiến hành lập biên bản, tháo dỡ, tiêu hủy tại chỗ toàn bộ 16 lán trại tại các tiểu khu 1637, 1661, 1660 dọc theo khu vực suối Đắk Tít, Đăk Nteng, thuộc địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G'Long, Đắk Nông.
Trong ba ngày từ 3 đến 5/10/2012, Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với Công ty TNHH - MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn tổ chức truy quét, giải tỏa các điểm khai thác váng trái phép tại các tiểu khu 1637, 1661, 1660 dọc theo khu vực suối Đắk Tít, Đăk Nteng, thuộc địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G'Long.
Tại thời điểm truy quét, lực lượng chức năng đã phát hiện hàng chục máy móc công cụ, phương tiện và lán trại mà các đối tượng dựng lên trái phép giữa rừng để phục vụ hoạt động khai thác vàng. Do bị đánh động từ trước nên khi tổ công tác đến, khoảng gần 100 "vàng tặc" đã bỏ chạy trốn vào rừng sâu. Lực lượng truy quét đã tiến hành lập biên bản, tháo dỡ, tiêu hủy tại chỗ toàn bộ 16 lán trại, 17 máy nổ hiệu Đông Phong, Diezen, 17 đầu bơm các loại, 3 xe gắn máy độ chế, 16 dàn sàng đãi vàng, 280 lít dầu diezen, 900m ống nước các loại…
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện thu giữ nhiều máy móc, dụng cụ khai thác vàng đã được các đối tượng chôn cất giấu ở dưới lòng đất và lòng suối trước khi tẩu thoát.
Theo Thượng tá Phan Phước Đức, Trưởng phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh, từ đầu năm đến nay, đơn vị đã phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức 3 đợt truy quét giải tỏa các điểm khai thác vàng tại khu vực trên, tuy nhiên do địa điểm truy quét nằm sâu trong rừng, cách xa khu dân cư, địa hình hiểm trở, đường sá đi lại khó khăn… nên tình trạng khai thác vàng tại khu vực này không chấm dứt mà vẫn còn tiếp tục diễn biến phức tạp, gây mất ANTT tại địa phương, khi lực lượng chức năng rút lui thì các đối tượng lại cho máy móc vào tiếp tục hoạt động.
Trong thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp với các lực lượng chức năng mở các đợt truy quét, kiên quyết ngăn chặn đẩy đuổi các vàng tặc ra khỏi địa bàn. (Công An Nhân Dân 10/10)đầu trang(
UBND tỉnh Đắk Lắk vừa kết luận 6 công ty lâm nghiệp trực thuộc tỉnh (bao gồm: Chư Ma Lanh, Ea Hmơ, Ia Lốp, Rừng Xanh, Thuần Mẫn và Ea Hleo) đã vi phạm quy định của Nhà nước trong việc liên doanh, liên kết trồng rừng, trồng cao su với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Theo UBND tỉnh, các vi phạm của các công ty trên là thỏa thuận liên doanh, liên kết không đúng quy hoạch, kế hoạch của tỉnh phê duyệt; tự ý đưa quỹ đất của đơn vị để góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào liên doanh, liên kết; thu tiền ký quỹ tùy tiện, chiếm dụng vốn của các đối tác để sử dụng không đúng mục đích...
Ngày 9.10, ông Nguyễn Quốc Hưng, Phó giám đốc Chi cục lâm nghiệp Đắk Lắk, cho biết đã yêu cầu các công ty lâm nghiệp trên báo cáo cụ thể tình hình để Sở NN-PTNT Đắk Lắk tiến hành kiểm điểm, xử lý về mặt hành chính trước ngày 25.10 theo chỉ đạo của UBND tỉnh. (Thanh Niên 10/10) đầu trang(
Đầu tư thiếu quy hoạch, tự phát đã khiến nhiều nhà máy dăm gỗ ở Quảng Ngãi rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.
Những năm trước đây, sản xuất doanh dăm gỗ xuất khẩu được coi là ngành mang lại lợi nhuận cao. Thấy vậy, nhiều người ở Quảng Ngãi đã bỏ tiền đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất dăm gỗ. Nhưng việc phát triển một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch đã dẫn đến tình trạng “cung vượt cầu”. Hậu quả là giờ đây không ít nhà máy dăm gỗ ở Quảng Ngãi rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, phải sản xuất cầm chừng, thậm chí là đóng cửa.
Hơn 1 tháng qua, 3 dây chuyền sản xuất gỗ dăm xuất khẩu của doanh nghiệp Kim Thành Lưu ở Khu kinh tế Dung Quất phải cho công nhân “ngồi chơi xơi nước”. Dù xoay xở đủ mọi cách nhưng doanh nghiệp này cũng không mua được nguyên liệu để phục vụ sản xuất. Trong khi đó, giá gỗ dăm xuất khẩu trên thị trường xuống quá thấp nên hoạt động không hiệu quả.
Ông Phạm Hoàng Anh, Phó Giám đốc Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Kim Thành Lưu ngán ngẩm: “Giá thị trường đầu ra không ổn định, lại chưa tìm được đối tác chính để làm hợp đồng cộng với nguyên liệu không đủ nên các doanh nghiệp cũng chỉ sản xuất cầm chừng. Đồng thời theo tính toán sơ bộ với giá cả thị trường hiện nay thì mỗi tấn bị lỗ khoảng 9%”.
Thời hoàng kim, dăm gỗ ở Quảng Ngãi sản xuất ra không đủ cung cấp cho đối tác nước ngoài đến từ Nhật Bản và Trung Quốc đã dần xa mờ. Lý do cũng vì làm ăn quá dễ dàng, lợi nhuận cao nên không ít doanh nghiệp đã thu mua nguyên liệu theo kiểu vơ vét, bất chấp chất lượng. Kiểu làm ăn “tham bát bỏ mâm” này đã dẫn đến việc thị trường Nhật Bản dần dần từ chối thu mua dăm gỗ ở Quảng Ngãi do sản phẩm kém chất lượng, không đủ quy cách và lẫn nhiều tạp chất.
Giờ đây thị trường tiêu thụ dăm gỗ của Quảng Ngãi phụ thuộc hoàn toàn vào các doang nghiệp Trung Quốc. Điều đó khiến cho thị trường trong nước chịu ảnh hưởng rất nhiều từ đối tác (Trung Quốc). Mỗi khi thị trường này suy giảm là hoạt động của ngành dăm gỗ ở tận Quảng Ngãi cũng bị yếu theo. Không chỉ vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc còn liên tục ép giá các chủ dăm gỗ tại Việt Nam.
Đầu năm, giá dăm gỗ xuất khẩu là 138 USD/tấn, hiện giờ chỉ còn 122USD/tấn. Nhưng để có 1 tấn dăm gỗ khô, các doanh nghiệp phải mua nguyên liệu với giá hơn 2 triệu đồng. Theo tính toán, hiện tại mỗi tấn dăm gỗ xuất khẩu các doanh nghiệp đang chịu lỗ từ 2 - 3 USD do đã lỡ ký hợp đồng với đối tác.
Ông Nguyễn Duy Ngọc, Giám đốc Cảng Gemadept Dung Quất, Quảng Ngãi cho hay: “So với thời điểm này năm 2011 mỗi tháng 2 cảng PTSC và Gemadept đón khoảng 10 tàu còn năm nay giảm xuống chỉ khoảng 5 chiếc”.
Cầu giảm nhưng cung lại tăng, nếu như cách đây 5 năm, toàn tỉnh Quảng Ngãi chỉ có 3 nhà máy sản xuất dăm gỗ thì đến nay đã tăng lên 18 nhà máy, đó là chưa nói đến 2 nhà máy đang trong quá trình xây dựng.
So với thời điểm này năm 2011 mỗi tháng 2 cảng PTSC và Gemadept đón khoảng 10 tàu còn năm nay giảm xuống chỉ khoảng 5 chiếc
Theo tính toán của Hiệp Hội chế biến dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi, để bảo đảm công suất hoạt động cho 18 nhà máy này, mỗi ngày phải cần 18.000 tấn cây nguyên liệu. Tuy nhiên, tỉnh Quảng Ngãi chỉ mới đáp ứng được 6.000 tấn, còn lại phải mua ở các tỉnh lân cận mà vẫn không đáp ứng đủ. Điều này dẫn tới tranh giành nguyên liệu, thậm chí mua cả cây non nên chất lượng gỗ dăm xuất khẩu không đảm bảo, các đối tác bắt đầu quay lưng, ép giá.
Ông Nguyễn Nị, Chủ tịch Hiệp Hội dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi phân tích: “Từ năm 2011 chúng tôi đã cảnh báo trước việc mở quá nhiều nhà máy dăm sẽ dẫn tới việc tranh mua nguyên liệu vào. Khi không đủ nguyên liệu thì chất lượng của dăm gỗ sẽ kém do làm bằng gỗ non, vỏ gỗ xen lẫn gỗ tạp. Lường trước điều đó, chúng tôi cũng đã tiến hành họp và bắt các nhà máy ký cam kết nhưng việc thực hiện thì không đúng như ý muốn”.
Hàng loạt nhà máy sản xuất gỗ dăm ở tỉnh Quảng Ngãi đang rơi vào tình trạng “dở sống dở chết”, đứng trước nguy cơ đóng cửa cũng là hệ quả của việc phát triển nhà máy dăm gỗ ồ ạt thiếu quy hoạch. Và một khi các nhà máy này ngừng hoạt động thì người trồng rừng cũng sẽ mang vạ lây. (Vov.vn 9/10)đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
“Vì động vật hoang dã” là một chủ đề lớn trong năm 2012 của phong trào chung là chống biến đổi khí hậu do 350.org Việt Nam phát động.
Nhiều bạn trẻ tham gia chương trình đã nhờ Tuổi Trẻ nhắn nhủ với các đại gia rằng: Đừng thể hiện đẳng cấp bằng việc trưng bày thú hoang dã quý hiếm như cọp, beo, tê giác... trong phòng khách nhà mình.
Trong cả tháng 8-2012, các tình nguyện viên tham gia chương trình “Vì động vật hoang dã” đã đi khảo sát nhiều nhà hàng, quán ăn ở các quận huyện của TP.HCM có liên quan đến việc buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã.
Từ đầu tháng 9, các tình nguyện viên đã tham gia buổi đào tạo với sự hướng dẫn của đại diện Trạm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, TP.HCM (thuộc Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã) để có thể nhận diện các động vật có trong sách đỏ. Theo kế hoạch, việc vận động các nhà hàng, quán ăn tại TP.HCM ký cam kết không buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã sẽ diễn ra từ nay đến hết tháng 11-2012.
Ông Nguyễn Khánh Toàn - trưởng điều phối khu vực miền Nam của chiến dịch 350.org tại Việt Nam - cho biết: “Sau khi vận động thành công một số nhà hàng trên địa bàn Q.1 tham gia ký cam kết không tiêu thụ thịt động vật hoang dã, chúng tôi quyết định phân công hai nhóm tình nguyện viên đến Q.4 vào ngày 20-9, nơi tập trung khá nhiều quán nhậu, để vận động ký cam kết. Một nhóm quay về tay không vì không quán nào đồng ý. Một nhóm bị nhân viên, chủ quán chửi bới, thậm chí dọa nạt hành hung nên đành vội rút”.
Tình nguyện viên tham gia cuộc vận động bảo vệ động vật hoang dã đều là sinh viên, học sinh. Họ yêu thiên nhiên, họ nhìn xa trông rộng và lo ngại đến một ngày nào đó con cháu mình sẽ chỉ biết các loài thú hoang dã qua phim ảnh, vì tất cả đều đã chui vào bụng con người, biến thành những vật trưng bày vô hồn trong phòng khách của những người thừa tiền lắm của. Vì thế, họ chấp nhận hiểm nguy khi đi vận động.
Võ Nguyễn Mai Khanh - sinh viên năm 3 ngành quản trị khách sạn nhà hàng - tâm sự: “Khi bị các nhân viên và chủ quán ăn phản ứng dữ dội, tôi cảm thấy rất buồn. Song chúng tôi sẽ không nản lòng, không bỏ cuộc vì nếu chúng tôi không làm thì ai sẽ làm?”.
Điều bạn Khanh lo lắng lớn nhất không phải nằm ở chỗ các quán nhậu bán thịt rừng, mà chính là các đại gia có thú sưu tầm động vật hoang dã quý hiếm như cọp, beo, gấu, tê giác... Bởi các quán bán thịt rừng thì lồ lộ trước mắt mọi người, sẽ chịu sự giám sát của luật pháp; chứ những con thú quý hiếm nhồi bông trưng trong phòng khách các đại gia, thật khó thấy, khó biết. Bạn bức xúc: ”Mới đây, khi đọc thông tin về một đại gia trưng bày tê giác trong nhà, rồi sau đó mới biết thêm chuyện đi sang tận Nam Phi để săn tê giác. Cứ cho rằng chuyện săn tê giác ở Nam Phi là hợp luật đi, thì chúng tôi cũng không hiểu làm vậy để làm gì? Thể hiện sự giàu có chăng? Hay quyền lực, đẳng cấp?”.
Nhiều bạn trẻ là tình nguyện viên của chiến dịch “Vì động vật hoang dã” nhờ chúng tôi chuyển lời nhắn đến các vị đại gia rằng: có nhiều cách để thể hiện sự giàu có, đẳng cấp một cách văn minh hơn. Ví dụ như làm từ thiện, ủng hộ các dự án bảo vệ môi trường... Các vị triệu phú, tỉ phú thông minh, trí thức trên thế giới hôm nay đều chọn cách thể hiện đẳng cấp như thế cả. Với lớp trẻ chúng tôi, đó là những cách thể hiện đẳng cấp đẹp nhất, ý nghĩa nhất. Còn thể hiện đẳng cấp bằng trưng bày thú hoang dã, người ta gọi đó là đẳng cấp của trọc phú! (Tuổi Trẻ 10/10)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Trong nỗ lực khuyến khích sản xuất trong nước và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Chính phủ Indonesia dự định ban hành qui định mới về những giới hạn trong lĩnh vực thăm dò khai khoáng.
Phóng viên TTXVN tại Jakarta dẫn thông báo của Bộ Điều phối Kinh tế Indonesia cho biết, chính phủ nước này dự định sẽ chỉ cho phép một công ty khai khoáng được tiến hành hoạt động thăm dò trên một diện tích tối đa 25.000 hécta, nhằm duy trì tính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước.
Bộ trưởng Điều phối Kinh tế Hatta Rajasa nói rằng chính sách mới có thể gây ra những phản ứng khác nhau trong giới doanh nghiệp và các nhà đầu tư, song trách nhiệm của chính phủ là phải đảm bảo tính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả cho các thế hệ tương lai. Chính phủ Indonesia có thể xem xét cấp thêm đất cho các công ty khai mỏ, nhưng chỉ để xây dựng các cơ sở hỗ trợ như nhà ở cho công nhân.
Ông Rajasa nhấn mạnh rằng một hệ thống mới về phát triển các nguồn tài nguyên là cần thiết, bởi với hệ thống quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện hành chỉ có các nhà đầu tư lớn được hưởng lợi trong khi đất nước bị tổn thất. Chẳng hạn như nhiều nhà đầu tư đang khai thác hàng chục nghìn hécta rừng, trong khi người dân tại chỗ không hề được tham gia, hay việc các nhà đầu tư có thời hạn hợp đồng lên tới 30-40 năm trong lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt là không công bằng đối với cộng đồng.
Chính phủ Indonesia cho rằng muốn chuyển sang một nền kinh tế xanh, phát triển bền vững thì nước này cần phải hạn chế tối đa cung cấp các nguyên liệu thô cho thị trường bên ngoài, và sẽ triển khai lệnh cấm xuất khẩu hoàn toàn các loại khoáng sản thô vào năm 2014. (VietnamPlus.vn 9/10)đầu trang(
Tại hội nghị mở rộng quy tụ lãnh đạo các cơ quan mật vụ, an ninh và thực thi pháp luật ở thủ đô Moskva vào hôm 3/10 vừa qua, Giám đốc Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB) Alexander Bortnikov đã cho biết phương thức chiến lược mới của mạng lưới khủng bố quốc tế Al-Qaeda, chủ trương phóng hỏa những khu rừng rộng lớn trên địa bàn các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU).
Mật danh của chiến lược khủng bố sinh thái mang tên "Hàng nghìn vết thương", ám chỉ những tác hại nặng nề sẽ gây ra cho nền kinh tế EU từ diện tích rừng khổng lồ bị đốt cháy. "Al-Qaeda rắp tâm thực hiện hình thức phá hoại mới, bởi không hao tổn công sức cùng nguồn kinh phí chuẩn bị, cũng như khó bị cảnh sát phát hiện và dư luận quốc tế lên án về mặt đạo đức - Giám đốc A. Bortnikov chỉ rõ - Đó chính là triết lý của các thủ lĩnh Al-Qaeda nhằm động viên tinh thần thuộc hạ".
Đồng thời Giám đốc A. Bortnikov cũng cho biết kế hoạch tạo ra "hàng nghìn vết thương" đã được đăng tải có chủ ý trên các trang tin điện tử Hồi giáo quá khích, song song với các diễn đàn hướng dẫn cách để thực hiện cái gọi là "rừng thánh chiến", khuyến nghị những địa điểm cần đốt phá gây tổn thất lớn trong 27 quốc gia thành viên EU, cũng như cách "chuồn êm" khỏi hiện trường qua việc cải trang thành công dân nước sở tại.
Ngoài ra, ông A. Bortnikov còn tố cáo nhiều tổ chức cực đoan ở Nga đã bỏ tiền tài trợ những chiến binh "tử vì đạo" trong vùng Caucasus, giúp chúng phương tiện tập kết vào EU chờ thời cơ hành động. Nguồn tiền này được tạo dựng từ các hoạt động phi pháp như buôn lậu thuốc phiện và vũ khí, bắt cóc con tin và buôn người, lừa đảo trong lĩnh vực tài chính và tín dụng… "Chung quy lại các tổ chức tội phạm đã gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khủng bố", ông A. Bortnikov kết luận. (Công An Nhân Dân 10/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||