Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm (Sở NN-PTNT tỉnh), nhiều ngày qua, các khu rừng thuộc địa bàn thị xã An Nhơn, TP Quy Nhơn và các huyện: Phù Cát, Vân Canh, Tuy Phước, Tây Sơn không có mưa, thời tiết nắng hạn kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao với cấp dự báo cháy rừng đang ở mức cực kỳ nguy hiểm.
Nếu xảy ra cháy rừng thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan rất nhanh. Chi cục Kiểm lâm đề nghị chính quyền các địa phương và các chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng chống cháy rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ không để xảy ra cháy rừng.
Đối với những khu rừng dễ cháy, các địa phương cần xác định, khoanh vùng các trọng điểm (diện tích, đối tượng, địa điểm…) để theo dõi, tính toán cấp dự báo cháy rừng hằng ngày, kịp thời thông báo trên biển báo cấp dự báo cháy rừng, trên các phương tiện thông tin đại chúng… để người dân nắm rõ.
Bên cạnh đó,  tăng cường lực lượng quản lý rừng phối hợp với các chủ rừng thường xuyên tuần tra, kiểm tra các vùng trọng điểm dễ cháy rừng để có thể chủ động PCCCR. (Báo Bình Định 9/7) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong 6 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh đã phát hiện xảy ra 209 vụ chặt phá rừng trái phép, giảm 79 vụ với 89,3 ha diện tích thiệt hại so với cùng kỳ năm 2013.
Với việc giảm 24,5% số vụ và 40,5% diện tích rừng thiệt hại so với cùng kỳ, công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) nhìn chung đang có những tiến triển theo hướng chiều sâu, hiệu quả, đảm bảo đúng tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy.
Có được kết quả đó, ngoài nỗ lực của các đơn vị chức năng thì thời gian qua, sự vào cuộc khá đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị đối với công tác này đã đưa lại những hiệu quả thiết thực.
Dễ thấy nhất là công tác QLBVR và phát triển rừng được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và các đơn vị chủ rừng, do đó, tình hình phá rừng được kiềm chế, giảm cả về số vụ và diện tích thiệt hại.
Ngoài việc ban hành nghị quyết chuyên đề về công tác QLBVR, thời gian qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép và tổ chức lại mô hình quản lý, bảo vệ rừng (Ban Chỉ đạo 1079).
Trên cơ sở chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã thành lập các tổ công tác liên ngành kiểm tra, kiểm soát lâm sản dọc khu vực biên giới; Rà soát, đánh giá diện tích rừng tự nhiên và tình hình triển khai thực hiện dự án thuê đất, thuê rừng để lập hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng; Thành lập và củng cố 8 đoàn thực hiện Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ của 8 huyện và thị trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền pháp luật về quản lý, phát triển rừng và quản lý lâm sản cũng đã được các địa phương, đơn vị tăng cường với các hình thức phong phú, hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác phối hợp trong việc phát hiện, xử lý các vụ vi phạm lâm luật cũng đã được các đơn vị, địa phương quan tâm, tăng cường.
Điển hình như qua công tác khảo sát, nắm bắt tình hình, ngành kiểm lâm tỉnh đã xây dựng phương án quản lý, xử lý các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép. Kết quả, 6 tháng đầu năm, lực lượng chức năng đã xử lý các “điểm nóng” phá rừng trái phép xảy ra tại các lâm phần do các công ty quản lý với tổng diện tích rừng thiệt hại 48,63 ha được phát hiện; Phát hiện, xử lý 62 vụ việc liên quan đến các điểm nóng về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia.
Cũng theo Chi cục Kiểm lâm, hiện nay, toàn tỉnh có 115 đối tượng  “đầu nậu” và 370 xe độ chế chuyên hoạt động vận chuyển lâm sản trái phép. Lực lượng kiểm lâm đang tiếp tục phối hợp với các lực lượng chức năng điều tra, thống kê các đối tượng “đầu nậu” và xe độ chế chưa được thống kê trên địa bàn tỉnh để tập trung triển khai và phối hợp ngay với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tổ chức ký cam kết với các cửa hàng, cơ sở sửa chữa xe máy, các gara sửa chữa ô tô, máy kéo, tiệm hàn cam đoan không sửa chữa, hàn xì, độ chế lại các loại xe phế thải.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng thường xuyên đôn đốc, phối hợp với hạt kiểm lâm các huyện, thị xã kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án QLBVR đối với các đơn vị chủ rừng cũng như tăng cường các biện pháp tuyên truyền, nâng cao ý thức cho tổ chức, cá nhân trong việc giữ rừng. (Báo Đắc Nông 9/7) đầu trang(
“Theo dự báo khí tượng, những ngày tới, tháng tới sẽ tiếp tục có nắng nóng kéo dài, xảy ra trên diện rộng toàn tỉnh, do đó dễ xảy ra cháy rừng” - ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Đại Anh Tuấn cho biết thêm: Nguy cơ cháy rừng đang dao động từ cấp IV đến cấp V – Cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm. Hiện nay, UBND tỉnh, Sở NNPTNT, Chi cục Kiểm lâm cũng như chính quyền các địa phương đang chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp PCCCR trong toàn tỉnh
Ngay từ đầu năm, tỉnh đã đôn đốc các địa phương, đơn vị chủ rừng thực hiện nghiêm túc các công điện của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch UBND tỉnh về tăng cường công tác PCCCR 2014 và Quyết định số 09 của UBND tỉnh về việc ban hành các quy định về PCCCR ; đồng thời, duy trì công tác tuyên truyền PCCCR thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau.
Tỉnh cũng tăng cường kiểm tra các phương án PCCCR tại các địa phương, chủ rừng theo phương châm 4 tại chỗ và 3 sẵn sàng. Bảo đảm mọi nguồn lực tại chỗ để có thể thực hiện tốt công tác phòng, chữa cháy rừng hiệu quả trong mọi tình huống. Bên cạnh đó, duy trì trực ban, trực chiến tại các Ban Chỉ đạo, trực tại hiện trường và các chòi canh theo đúng quy định; tăng cường lực lượng kiểm lâm dự bị tại các cơ sở, bảo đảm kịp thời quản lý tốt việc đốt nương làm rẫy và đốt thực bì tại các địa phương. Xử lý nghiêm các vụ vi phạm về quy định PCCCR và khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích về PCCCR.
Cháy rừng do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan chiếm phần lớn. Vì vậy người dân hãy cẩn trọng khi thắp hương, đốt vàng mã trong khu vực rừng cảnh quan Ngự Bình, Tam Thai, Nam Giao, Thiên An… Đã có rất nhiều vụ cháy do nguyên nhân này. Về xử lý thực bì trồng rừng và canh tác nương rẫy, người dân phải chấp hành đúng các quy định về PCCCR và phải xin phép trước UBND xã và Hạt Kiểm lâm sở tại để được hướng dẫn cách xử lý đúng quy định.
Chi cục Kiểm lâm không khuyến khích người dân xử lý thực bì bằng phương pháp đốt vì nguy cơ gây cháy rừng rất cao. Nếu làm như vậy sẽ gây hỏng đất, xói mòn đất, năng suất cây trồng sẽ bị sụt giảm. Ngược lại, khuyến khích người dân áp dụng biện pháp phát thực bì, sau đó băm nhỏ và rải đều trên toàn bộ diện tích nhằm che phủ đất, chống xói mòn đất, tăng hàm lượng hữu cơ cho đất. Một tác dụng quan trọng nữa là nó sẽ hạn chế gần như tuyệt đối cỏ dại cạnh tranh với cây trồng, giảm được công lao động làm cỏ, tăng năng suất cây trồng.
Đối với các trường hợp đốt vàng mã, thắp hương viếng mộ và xử lý thực bì, đốt nương rẫy gây cháy rừng sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Người dân cần hợp tác với cơ quan kiểm lâm để cùng thực hiện tốt công tác PCCCR trong mùa khô năm nay và các năm tiếp theo. (Báo Thừa Thiên Huế 10/7) đầu trang(
Qua tuần tra tại tiểu khu 749 thuộc xã Ia Tơi, H.Sa Thầy, Đoàn công tác liên ngành tỉnh Kon Tum đã phát hiện và bàn giao Công an H.Sa Thầy điều tra, xử lý 53m3 gỗ tròn không có dấu búa kiểm lâm cùng 3 máy cưa. (Thanh Niên 10/7, tr2) đầu trang(
Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã tham mưu, kiến nghị và đề xuất UBND tỉnh triển khai thực hiện nhiều biện pháp giải quyết tình trạng rừng phòng hộ ven biển Gò Công bị xâm thực.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả trong thời gian tới, cần sự quan tâm nhiều hơn của Trung ương về chính sách quản lý và bảo vệ rừng phù hợp với thực tiễn của địa phương.
Trong nhiều năm qua, Sở NN&PTNT đã triển khai nhiều hoạt động để tìm hiểu, xác định nguyên nhân suy thoái và xói lở rừng phòng hộ ven biển Gò Công. Ngoài ra, Sở NN&PTNT cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quan trọng để tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng suy thoái rừng phòng hộ. Một trong những hội thảo quan trọng có quy mô lớn là hội thảo với chủ đề “Tình hình suy thoái và một số giải pháp xử lý, khôi phục rừng phòng hộ ven biển Tiền Giang” được tổ chức vào tháng 2-2013.
Theo ông Nguyễn Thiện Pháp, Chi cục trưởng Chi cục thủy lợi & PCLB tỉnh, ngành Nông nghiệp đã phác thảo sơ bộ định hướng phát triển rừng của tỉnh đến năm 2020 như sau: Quy hoạch, phân loại và có kế hoạch phát triển từng loại rừng, kết hợp bảo tồn, phòng hộ với phát triển du lịch sinh thái.
Đối với rừng phòng hộ ven biển đảm bảo các yêu cầu về phòng hộ chắn sóng, chống xói lở, lấn biển, bảo vệ môi trường… và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Tùy theo mức độ xung yếu, có thể kết hợp phòng hộ với sản xuất nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường và các lợi ích khác của rừng phòng hộ.
Rừng phòng hộ chắn sóng, chống xói lở, bảo vệ môi trường phải được xây dựng thành các đai rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên. Trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trên diện tích đất trống, các bãi triều đang trong quá trình bồi tụ với các loài cây phù hợp với điều kiện lập địa. Tuân thủ đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng do Bộ NN&PTNT ban hành áp dụng đối với từng loại cây trồng.
Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh phát triển rừng, thực hiện các chính sách ưu tiên nghiên cứu phát triển về giống cây trồng. Áp dụng khoa học - công nghệ làm động lực cho phát triển lâm nghiệp, nghiên cứu phát triển rừng theo 2 hướng chính là cải tạo giống cây rừng và các biện pháp lâm sinh không chỉ tăng năng suất, chất lượng rừng mà còn gia tăng các giá trị bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học của rừng.
Bên cạnh công tác khôi phục diện tích rừng phòng hộ, công tác quản lý và bảo vệ cũng là vấn đề đáng được quan tâm. Vào ngày 24-5, Đoàn cán bộ của Chi cục Thủy lợi và PCLB cũng đã có chuyến khảo sát và làm việc về vấn đề giao khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh.
Được biết, việc giao nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Gò Công Đông (GCĐ) vào năm 2003 được thực hiện theo Quyết định 15/2001 của UBND huyện GCĐ là ủy quyền cho Phòng Nông nghiệp ký hợp đồng với các hộ dân nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng có thời hạn 20 năm.
Từ năm 2006 đến nay, việc giao nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn huyện GCĐ và huyện Tân Phú Đông (TPĐ) được chuyển giao cho Hạt Quản lý đê điều và rừng phòng hộ (thuộc Chi cục Thủy lợi và PCLB).
Tính đến ngày 31-12-2013, diện tích rừng phòng hộ khu vực Gò Công do Hạt quản lý là 1.658,8 ha (trong đó huyện GCĐ: 606,15 ha; TPĐ: 1.052,45 ha). Theo bảng tổng hợp kinh phí khoán quản lý, bảo vệ rừng năm 2013 thì tổng số hộ dân tham gia ký kết là 173 với 1.010,36 ha, tổng số tiền là 202.072.060 đồng.
Theo ông Võ Đức Phong, Hạt trưởng Hạt Quản lý đê và rừng phòng hộ, công tác bảo vệ rừng phòng hộ khu vực 2 huyện GCĐ và TPĐ trong thời gian qua có nhiều thuận lợi là sự quan tâm, ủng hộ của chính quyền địa phương trong việc đầu tư phát triển rừng; công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát rừng được chính quyền địa phương, các đồn biên phòng quan tâm hỗ trợ.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn gặp không ít khó khăn như: Còn một số hộ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng chưa thực sự quan tâm trong công tác tuần tra kiểm soát để xảy ra các trường hợp chặt, đốn cây rừng (như ở khu vực xã Tân Phước, xã Gia Thuận của huyện GCĐ).
Hộ nhận khoán, quản lý rừng buông lỏng công tác kiểm tra chăm sóc rừng như ở khu vực cửa Tiểu (xã Phú Tân của huyện TPĐ).
Tình hình hộ nhận khoán vi phạm rừng phòng hộ (đào ao nuôi tôm) ngày càng diễn ra nghiêm trọng nhưng chính quyền địa phương chưa quan tâm xử lý triệt để như ở khu vực xã Phú Đông (huyện TPĐ). Mức chi trả tiền hỗ trợ cho các hộ nhận khoán còn thấp dẫn đến việc người dân ít quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ.
Cũng vào cuối tháng 5, Hạt Quản lý đê và rừng phòng hộ cũng đã xây dựng Kế hoạch về việc giao nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ năm 2014 và những năm tiếp theo.
Trong đó, có quy định cụ thể số lượng, số diện tích rừng giao cho hộ dân, nhóm hộ; đặc biệt là sẽ đề nghị cắt hợp đồng đối với những nhóm hộ hợp đồng quản lý, bảo vệ nhưng thời gian qua không quan tâm chăm sóc, quản lý khu vực rừng mình nhận khoán; đồng thời tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương, các Đồn Biên phòng ở khu vực rừng phòng hộ của 2 huyện GCĐ và TPĐ để tăng cường tuyên truyền giúp người dân nâng cao ý thức về trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ trước biến đổi khí hậu ngày một diễn biến phức tạp. (Báo Ấp Bắc 10/7) đầu trang(
Chiều 9/7, Tin từ Hạt kiểm lâm huyện Kỳ Anh cho biết, đã xảy ra vụ cháy rừng lớn trên đỉnh Cột Cờ và đỉnh Đồng Chùa, thuộc địa phận giáp ranh giữa hai xã Kỳ Tân và Kỳ Văn.
Theo những người dân sống gần khu vực cho biết, đám cháy bùng phát vào khoảng 4 giờ chiều trên diện tích rừng chủ yếu là dây leo, cây gỗ tạp. Do đám chảy xảy ra trên đỉnh núi cao, thời tiết có gió lớn nên việc tiếp cận để khống chế ngọn lửa rất khó khăn.
Sau khi nhận được tin báo của người dân, kiểm lâm huyện Kỳ Anh đã huy động lực lượng, cùng với đội quân xung kích, an ninh các xã Kỳ Tân, Kỳ Văn và bà con lân cận tiếp cận và khống chế, ngăn không cho đám cháy lan rộng. Đến khoảng hơn 22h30, đám cháy mới cơ bản được khống chế.
Sáng 10/7, lực lượng kiểm lâm huyện Kỳ Anh và 2 xã Kỳ Tân, Kỳ Văn sẽ tiến hành kiểm tra, đo đạc lại diện tích rừng bị cháy. Nguyên nhân cháy rừng ban đầu xác định là do người dân đốt rừng bất cẩn làm đám cháy bùng phát. (Tầm Nhìn 10/7) đầu trang(
Từ đầu vụ nắng nóng đến nay, địa bàn tỉnh ta đã xảy ra 24 vụ cháy rừng, thiệt hại 155 ha, chủ yếu tập trung ở các huyện Nam Đàn, Đô Lương, Yên Thành, Hưng Nguyên…
Trong đó, riêng Nam Đàn xảy ra nhiều vụ cháy nhất (7 vụ), với trên 100 ha rừng bị cháy. Nguyên nhân của các vụ cháy được xác định do thời tiết hanh khô kéo dài và ý thức của một bộ phận cán bộ, người dân chưa cao, chưa kể là nhiều vụ đốt rừng có chủ ý.
Như tại huyện Nam Đàn, hầu hết các vụ cháy rừng đều do chủ ý nhưng cơ quan chức năng điều tra xử lý kẻ đốt rừng quá chậm. Điều đáng nói là thực hiện “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và vật tư hậu cần tại chỗ) khi xảy ra cháy rừng tại Nam Đàn còn quá yếu kém. Trách nhiệm PCCCR của người đứng đầu chính quyền, từ huyện và một số xã còn mờ nhạt trong khâu đôn đốc, chỉ đạo.
Cụ thể khi xảy ra cháy rừng địa phương huy động lực lượng tại chỗ được rất ít, như tại xã Nam Lộc, Nam Tân (Nam Đàn) cháy tại  Tiểu khu 1018 và Tiểu khu 1017B trên 70 ha ngày 1/6 nhưng 2 xã trên huy động được trên 500 người nhưng thực tế số người tham gia hiệu quả không cao. Tiếp đó, các vụ cháy rừng ở xã Nam Thanh chỉ huy động được 170 người, vụ cháy Nam Nghĩa 150 người, vụ cháy Nam Xuân 190 người…
Đặc biệt, “khâu chỉ huy” tại chỗ vẫn còn lỏng lẻo, riêng vụ cháy tại xã Nam Lĩnh ngày 4/6, cháy từ lúc 8h đến 12h30p, khi lực lượng chữa cháy của tỉnh được tăng cường lên nhưng lãnh đạo cốt cán huyện Nam Đàn lại đang bận... họp nên đến quá muộn. Bên cạnh đó, công tác “hậu cần tại chỗ” thiếu thốn các phương tiện dập lửa nên không có để cấp phát cho nhân dân, một số bà con đi dập lửa phải tự chủ động phương tiện và lúng túng trong dập lửa.
Anh Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng phòng QLBVR - Chi cục Kiểm lâm, cho biết: Trong phòng cháy chữa cháy rừng thì phương án “4 tại chỗ” vô cùng quan trọng, nhưng “4 tại chỗ” tại Nam Đàn còn rất yếu kém, huyện cần rút kinh nghiệm, không nên trông chờ ỉ lại lực lượng tăng cường chữa cháy rừng của tỉnh.
Qua các vụ cháy, thấy một số địa phương còn lơ là trong khâu canh gác lửa rừng, phát hiện lửa rừng chậm. Như BQL rừng đặc dụng Nam Đàn quản lý khá nhiều diện tích thông nhưng chủ quan và thiếu trách nhiệm trong khâu canh gác lửa rừng.
Chẳng hạn, ngọn lửa bùng phát đầu tiên tại đập Ba Khe, xóm 4, xã Nam Lộc (Nam Đàn) chỉ cách trạm Quản lý bảo vệ rừng Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn chừng 700m nhưng vẫn không phát hiện kịp. Chứng tỏ thời điểm xảy ra cháy rừng, cán bộ của Trạm đã không có mặt tại trạm để canh gác, hoặc lơ là không phát hiện kịp thời.
Thế nhưng, ngay sau vụ cháy rừng lớn ở Nam Lộc, ông Lê Đình Minh - Trưởng ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn còn “khoe”: Trạm BVR Nam Lộc lúc nào cũng có 4-5 cán bộ canh gác lửa rừng. Khi đến thì chỉ thấy duy nhất có mỗi một cán bộ đang trực tại trạm.  Ban này còn “chủ quan” mấy năm nay không giao khoán rừng cho nhân dân quản lý.
Theo các hộ dân ở Nam Tân phản ánh lý giải từ năm 2006 Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn giao cho một số hộ dân Nam Lộc và Nam Tân bảo vệ và khai thác nhựa thông. Do giao khoán không phù hợp nên Ban quản lý đã đình chỉ các hộ trên và cho một số đơn vị khác ở nơi khác vào quản lý bảo vệ khai thác nhựa. Người dân không được hưởng lợi từ rừng, nảy sinh mâu thuẫn, nhiều hộ dân đã lên đập phá gây mất trật tự an toàn ở khu vực rừng thông.
Như vụ cháy 2,7 ha rừng tại Tiểu khu 1023a (rú Đại Huệ) xã Hưng Tây (Hưng Nguyên), theo điều tra ban đầu, đám cháy xuất phát từ hộ ông Nguyễn Ngọc Não ở xóm Phúc Điền, Đại Huệ đốt mùn cưa. Vụ cháy tại Công Thành và Mỹ Thành (Yên Thành) ngày 22/5 cũng đang nghi cháy do đốt rẫy ở các hộ dân giáp ranh giữa xã Thượng Sơn (Đô Lương) và xã Mỹ Thành (Yên Thành).
Đặc biệt, vụ cháy tại xã Thượng Sơn (Đô Lương) xảy ra lúc 4 giờ sáng ngày 25/5, ngay sau khi phát hiện thì lực lượng kiểm lâm cùng huyện, xã đã huy động lực lượng chữa cháy, đến 7 giờ sáng đã dập được đám lửa và giao cho UBND xã Thượng Sơn tổ chức canh phòng. Tuy nhiên, chính quyền xã Thượng Sơn đã lơ là, chủ quan trong khâu canh gác khiến ngọn lửa bùng phát trở lại gây cháy lớn và lan sang tận xã Bảo Thành (Yên Thành). Đến khoảng 4 giờ chiều cùng ngày mới khống chế được lửa rừng, trong quá trình chữa cháy đã khiến 1 người dân xã Bảo Thành (Yên Thành) tử nạn, 1 người bị thương.
Vụ cháy ngày 22/5 tại xã Công Thành, Mỹ Thành, bà con do chưa có kiến thức, kỹ năng dập lửa vẫn lao vào đám cháy ngược chiều gió, khiến 2-3 người dân xã Công Thành bị “lạc” đám khói bụi. Còn một số lực lượng dân quân tự vệ được huy động từ các xã khác sang Mỹ Thành dập lửa lại theo kiểu “đối phó” - đi chữa cháy rừng bằng “tay không”.
Ông Lê Cao Bính - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp, cho biết: Qua các vụ cháy rừng, bên cạnh những hạn chế vẫn có thể thấy rằng chính quyền một số địa phương đã chỉ đạo quyết liệt trong công tác PCCCR, như Đô Lương, Yên Thành, lãnh đạo huyện đã có mặt trực tiếp để phối hợp trực tiếp dập lửa.
Đặc biệt là anh Trần Bá Công (dân quân xã Bảo Thành-Yên Thành) đã hy sinh trong lúc cứu rừng. Các lực lượng quân đội, kiểm lâm cơ động, công an… không quản ngại gian khó, nỗ lực tham gia chữa cháy đến cùng, đã có 2 chiến sỹ bị thương khi chữa cháy tại Nam Đàn.
Tại huyện Đô Lương, sau vụ cháy đã nghiêm túc tổ chức họp rút kinh nghiệm và có Quyết định khiển trách đối với ông Nguyễn Tất Hảo - Chủ tịch UBND xã Thượng Sơn về việc thiếu tinh thần trách nhiệm trong PCCCR và Hội đồng kỷ luật đang đề xuất kỷ luật Trưởng Công an xã và Xã đội trưởng xã Thượng Sơn.
Tuy vậy, chính quyền một số địa phương, chủ rừng chưa vào cuộc tích cực, quyết liệt trong cứu chữa cháy rừng, khi nhận được thông tin cháy rừng không xử lý nhanh mà để đám cháy bùng phát lớn rồi mới tổ chức lực lượng cứu chữa, gây thiệt hại lớn về rừng.
Điều đặc biệt là liên tiếp để xảy ra nhiều vụ cháy rừng ở Nam Đàn, mặc dù UBND huyện Nam Đàn đã họp rút kinh nghiệm nhưng lại rất… chung chung, không làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể liên quan để xảy ra cháy rừng, không xử lý, khiển trách cán bộ xã, huyện, chủ rừng nào cả.
Ông Bính cho biết thêm: Để chữa cháy rừng hiệu quả cần giải quyết dứt điểm các tranh chấp, tiến hành giao khoán rừng và phân định trách nhiệm cho nhân dân. Các địa phương, đơn vị chủ rừng, chủ hộ, các tổ liên gia bố trí lực lượng thay nhau thường trực tại rừng, cửa rừng, ngăn cấm, nhắc nhở người vào rừng có ý thức bảo vệ rừng. Thực hiện PCCCR, theo phương châm lấy phòng cháy là chính và thực hiện "4 tại chỗ". Phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy chính quyền huyện, xã, xóm, chủ rừng và lực lượng kiểm lâm.
Tất cả các vụ cháy rừng xảy ra, yêu cầu lãnh đạo các đơn vị chủ rừng, hạt kiểm lâm, chính quyền địa phương cấp xã, cấp huyện, chi cục kiểm lâm phải có mặt tại hiện trường để chỉ huy điều hành chữa cháy rừng tại hiện trường theo phương án PCCCR theo quy định. Đồng thời báo cáo nhanh mọi diễn biến vụ cháy rừng về văn phòng thường trực để có phương án tăng cường lực lượng chữa cháy rừng.
Qua các vụ cháy rừng, có nhiều vụ nghi đốt rừng có chủ ý, cơ quan chức năng cần nhanh chóng truy tìm ra kẻ đốt rừng để xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Nếu cháy rừng xảy ra thông tin chậm, xử lý không kịp thời, tổ chức chữa cháy rừng không có hiệu quả, để xảy ra cháy lớn, thì sau vụ cháy đề nghị cần làm rõ trách nhiệm thuộc về tập thể, cá nhân để xử lý nghiêm minh trước pháp luật. (Báo Nghệ An 10/7) đầu trang(
Chiều 9/7, ông Phạm Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân, cho biết: Tối 8/7, Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân phối hợp với gia đình ông Nguyễn Ngọc Quang (74 tuổi, ở thôn Hội Nhơn, xã Ân Hữu, huyện Hoài Ân) làm thủ tục bàn giao cá thể voọc chà vá chân đen quý hiếm cho Trung tâm Cứu hộ linh trưởng Vườn Quốc gia Cúc Phương.
Cũng theo ông Lộc, sau khi tiếp nhận thông tin, Hạt đã liên hệ với ông Nguyễn Ngọc Quang, người phát hiện cá thể voọc chà vá nói trên để tiếp nhận, chăm sóc và sớm đưa cá thể voọc này trở về rừng.
Qua xác định, được biết đây là cá thể voọc chà vá chân đen, giống đực, nặng khoảng 10kg, thuộc loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm, xếp ở nhóm IB (loài cực kỳ nguy cấp có khả năng tuyệt chủng cần được bảo vệ). (Công An Nhân Dân 10/7, tr1) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định, 6 tháng đầu năm 2014, tình hình cháy rừng diễn biến phức tạp tại các địa phương trong tỉnh.
Đến thời điểm này, tại 8/11 huyện, thành phố, thị xã đã xảy 16 vụ cháy rừng, tăng 15 vụ so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, huyện Tây Sơn xảy ra 3 vụ, Vân Canh 1 vụ. Các huyện: An Lão, Phù Mỹ, Tuy Phước, Hoài Nhơn, Phù Cát và TP Quy Nhơn, mỗi địa phương xảy ra 2 vụ cháy rừng. Tổng diện tích rừng bị cháy 57,463 ha, tăng trên 57 ha so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân được xác định là do thời tiết nắng nóng kéo dài, trong khi đó nhận thức về tác hại và hệ lụy cháy rừng của một bộ phận người dân còn rất hạn chế. Nhiều người dân phát dọn và đốt thực bì chuẩn bị trồng rừng nhưng không tuân thủ các quy định về phòng cháy chưa cháy rừng.
Ngoài ra, còn có một số người vào rừng đốt than trái phép, mồi lửa đốt ong, khai thác dầu rái... rất chủ quan với “giặc lửa”. (Nông Nghiệp VN 10/7, tr2) đầu trang(
Chiều 8/7, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau kết hợp với Vườn quốc gia U Minh hạ tiến hành thả 45 cá thể trăn đất vào khu vực rừng tràm do Vườn quản lý.
Các cá thể trăn đất được thả gồm 22 con khoảng 1,5 kg và 23 con trăn con khoảng 30 ngày tuổi có trọng lượng là 100g. Khi thả các cá thể đều có sức khỏe tốt và thích ứng được với môi trường tự nhiên. Được biết đây là số trăn do Chi cục Kiểm lâm tỉnh vận động anh Tạ Thanh Hải, chủ cơ sở nuôi trăn ở phường 1, thành phố Cà Mau hỗ trợ với số tiền gần 20 triệu đồng.
Việc thả những cá thể động vật trên vào Vườn quốc gia U Minh hạ là việc làm cần thiết hiện nay để góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Đồng thời phục vụ cho nghiên cứu khoa học và duy trì tính đa dạng sinh học trên đất than bùn tại đây.
Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục vận động các cơ sở gây nuôi trăn trên địa bàn trong và ngoài tỉnh hỗ trợ trăn con để thả vào rừng nhằm duy trì loại động vật này để tránh đưa vào nguy cơ quý hiếm và dẫn đến tuyệt chủng. (Đài PTTH Cà Mau 9/7) đầu trang(
Quảng Nam: Dân phá rừng để lấy hạt ươi
Báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, tại nhiều địa phương miền núi của tỉnh như: Phước Sơn, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn đã xảy ra tình trạng người dân trên địa bàn tỉnh và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Lâm Đồng, Quảng Bình... ồ ạt vào rừng chặt hạ cây ươi để lấy hạt, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và tính mạng của người dân.
Đã có nhiều trường hợp người dân chặt hạ cây ươi bị đè chết, bị thương, riêng tại Nam Trà My có 3 người chết và 5 người bị thương. Đến nay, lực lượng chức năng đã kiểm tra và xử lý hơn 70 vụ khai thác cây ươi, vận chuyển hạt ươi trái phép, thu giữ hơn 7 tấn hạt ươi, nhiều ô tô, mô tô, máy cưa các loại và nhiều dụng cụ khác.
Trước diễn biến phức tạp của tình trạng khai thác cây ươi trái phép, UBND tỉnh đã có nhiều văn bản yêu cầu sở, ban ngành và địa phương liên quan triển khai các biện pháp cấp bách quản lý, bảo vệ, khai thác cây ươi trên địa bàn.
Theo đó, Chủ tịch UBND các huyện, đặc biệt là các địa phương đang là trọng điểm về tình trạng chặt phá cây ươi cần quyết liệt thực hiện những giải pháp bảo vệ cây ươi. Tại các địa bàn trọng điểm đang xảy ra tình trạng chặt phá cây ươi, cần lập ngay phương án tổ chức truy quét, đẩy đuổi đối tượng xâm nhập đưa dụng cụ, phương tiện vào rừng chặt hạ ươi trái phép.
UBND tỉnh chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các ban quản lý rừng duy trì hoạt động truy quét tại các khu vực trọng điểm xảy ra tình trạng chặt cây ươi; phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển hạt ươi trên các tuyến giao thông và các trạm barie.
Ngành quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, xử lý tình trạng mua bán, tàng trữ, kinh doanh hạt ươi trái phép để góp phần ổn định tình hình trật tự xã hội tại các địa phương. (Đời Sống & Pháp Luật 9/7) đầu trang(
Tỉnh Bình Định đang phải đối mặt với đợt hạn hán lớn nhất trong lịch sử. Từ tháng 2 cho đến nay, Bình Định hầu như không có trận mưa nào.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Định, trong vụ Hè Thu, lượng mưa trung bình tại địa phương này chỉ đạt 41%. Nhiều nơi chỉ đạt 20% so với trung bình nhiều năm.
Khô hạn đã khiến cho 13.000ha lúa và hoa màu bị thiệt hại; 70% hồ chứa hoàn toàn cạn kiệt; gần 20.000 hộ dân điêu đứng vì thiếu nước sinh hoạt. Con số này dự kiến sẽ tăng lên 30.000 hộ nếu từ giờ cho đến 20/7 không có mưa. Diện tích bị hạn cũng sẽ tăng thêm gần 8.000 ha.
Từ đầu năm tới nay, tại Bình Định cũng đã xảy ra 25 vụ cháy rừng với diện tích gần 100ha. (VTV 9/7) đầu trang(
Nắng nóng diễn biến gay gắt nhiều tháng qua, khiến hàng nghìn hecta rừng trồng tại các huỵện miền núi tỉnh Phú Yên bị chết khô; tình trạng cháy rừng và nguy cơ cháy rừng đã và đang diễn ra ở mức báo động.
Trong vòng một tuần qua trên điạ bàn tỉnh Phú Yên đã liên tiếp xảy ra bốn vụ cháy rừng, làm thiệt hại hơn 30 ha rừng trồng. Như vậy từ đầu mùa khô đến nay, có 11 vụ cháy rừng, thiệt hại 94,7ha. trong đó, riêng huyện Đồng Xuân có gần 40ha rừng bị cháy, chủ yếu là rừng trồng từ bốn đến sáu năm tuổi của các doanh nghiệp.
Thiệt hại nặng nhất là huyện miền núi Đồng Xuân. Cách đây vài tháng, dọc tuyến đường qua các xã Xuân Quang 2, Xuân Quang 1, Phú Mỡ rừng trồng xanh bạt ngàn, phủ kín các ngọn đồi, thì giờ đây ngả màu vàng, nhiều đám rừng bị chết đứng từ 1/4 đến 1/3 diện tích.
Toàn huyện Đồng Xuân có hơn 13 nghìn ha rừng trồng, chủ yếu là keo và bạch đàn, ước tính đến thời điểm này có gần 1.000ha vàng lá toàn thân và chết; trong đó thiệt hại nặng nhất là Công ty TNHH Bình Nam. Ông Hoàng Trung Sơn, Phó giám đốc Công ty TNHH Bình Nam, Giám đốc chi nhánh Phú Yên cho biết, đơn vị trồng được gần 2.900ha rừng, hiện có hơn 350ha bị khô, chết đứng, chủ yếu là cây keo từ ba đến hơn sáu năm tuổi, ước thiệt hại hơn 15 tỷ đồng.
Hiện đơn vị phải duy trì hơn 200 người ứng trực tại chỗ để kiểm tra, theo dõi; đồng thời tăng cường làm băng cản lửa ngăn cháy rừng ra diện rộng chờ mưa, chứ không còn cách nào khác. Đồng thời chuẩn bị các dụng cụ chữa cháy, phối hợp với các ngành chức năng và chính quyền địa phương tổ chức canh coi, sẵn sàng các phương án chữa cháy rừng.
Điều đáng nói là các vụ cháy rừng vừa xảy ra do thiếu ý thức của người dân sau khi phát đốt thực bì sau khai thác, làm cháy sang rừng trồng. Về khách quan, năm nay là năm nắng hạn tàn khốc, kéo dài nhất trong vòng 10 năm qua gây thiệt hại nặng cho rừng trồng.
Ông Phan Văn Công, Chi cục trưởng Chu cục Kiểm lâm cho biết, Chi cục Kiểm lâm đang chỉ đạo các đơn vị trực thuộc củng cố thành lập các tổ, đội bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), trên cơ sở 385 tổ, đội hiện có với 2.736 thành viên.
Đồng thời đôn đốc lực lượng của đơn vị và các chủ rừng thường xuyên theo dõi, tuần tra, kịp thời phát hiện để phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả; phân công cán bộ ứng trực tại các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao, kể cả ngày thứ 7, chủ nhật và ngày lễ.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức cộng đồng cùng tham gia PCCCR nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do hỏa hoạn gây ra. (Nhân Dân 9/7; Giao Thông 10/7, tr2) đầu trang(
Ngày 9.7, Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa đã thả 13 cá thể rắn ráo trâu (thuộc nhóm 2B quý hiếm) về khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa.
Số rắn này do bà Phan Thị Hòa (trú tại thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa) vận chuyển trái phép bị Công an huyện Hướng Hóa bắt quả tang và thu giữ.
Ông Nguyễn Văn Thành – Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa cho biết đơn vị đã xử phạt hành chính bà Hòa 7,5 triệu đồng vì vận chuyển động vật rừng trái phép. (Lao Động 10/7, tr7; Nhân Dân 10/7) đầu trang(
Chiều 9-7, ông Phạm Cao Đàm, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận, cho biết kiểm lâm đang xác minh nguồn gốc 15,1 m3 gỗ gõ thành phẩm (loại nhóm I) do tài xế xe tải 37S-5985 tên Nguyễn Công Tâm (ngụ Nghệ An) vận chuyển từ Nghệ An vào Đồng Nai.
Hiện toàn bộ số gỗ này và phương tiện đang bị tạm giữ. Theo ông Đàm, ngày 6-7 xe tải 37S-5985 được Trạm kiểm tra tải trọng xe Thuận Bắc tạm giữ, dẫn về Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận để buộc hạ tải sau khi bị phát hiện chở vượt trọng tải cho phép.
Kết quả cân cho thấy xe tải 37S-5985 vượt tải trọng cho phép tới 14 tấn, do vậy tài xế bị phạt 13 triệu đồng và buộc hạ tải. Về số gỗ trên xe, chủ hàng chỉ xuất trình giấy tờ chứng minh xuất xứ nhập từ Lào vào Việt Nam nhưng có vi phạm về quy cách, khối lượng.
Đáng chú ý, xe tải này trong lúc chờ vượt trạm cân Thuận Bắc thì bị “cò” lừa lấy 800.000 đồng với lời hứa sẽ chung chi để qua trạm. Sau khi nhận tiền xong, “cò” này lẩn trốn luôn. (Pháp Luật TP HCM 10/7; Nhân Dân 10/7; Thanh Niên 10/7; Giao Thông 10/7, tr3) đầu trang(
Đắc Pring, Đắc Pre là hai xã có địa hình hiểm trở thuộc huyện miền núi Nam Giang, nơi đây, vấn nạn khai thác vàng trái phép ở vùng núi này vẫn cứ kéo dài dai dẳng suốt nhiều năm nay.
Con đường đến với khu vực núi rừng đang bị “vàng tặc” đào xới chỉ cách Đồn biên phòng Đắc Pring tầm 5 đến 6 cây số. Từ trụ sở UBND xã Đắc Pring, PV bắt đầu chinh phục con đường dằn xóc đủ loại ổ gà, ổ voi với tâm trạng vừa lo lắng vừa muốn tận mắt chứng kiến nơi người dân nhắc đến với cái tên không mấy hiền lành: “Lãnh địa vàng”.
Trước mắt, cảnh núi rừng bị phá lở loét như những ụ mối lâu năm. Nhận thấy sự xuất hiện của người lạ mặt, ba thanh niên da rám nắng, vẻ mặt hung tợn tiến lên, hỏi quanh co để ngăn PV tiến về phía trước. Khi thấy PV hỏi về khai thác vàng ở đây, họ đều lẳng lặng bỏ đi. Chọn một điểm dễ nhìn nhất, phóng tầm mắt quanh khu vực Khe Lên, PV thấy một công trường ngổn ngang với 3 máy xúc đang miệt mài xúc đất đổ lên các giàn đãi vàng, hàng chục chiếc máy nổ đang làm việc cật lực cùng với tầm hơn 20 công nhân đào đãi.
Cách đó không xa, những chiếc lán dựng rất nhiều thùng phuy đựng dầu chạy máy nổ…  Ông Hiền Hôn, ở thôn 48 (xã Đắc Pring) lắc đầu, cho hay: “Núi rừng bị phá nát, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Tình trạng này kéo dài đã lâu nhưng sự can thiệp dứt điểm của cơ quan chức năng thì chưa biết bao giờ”.
Từ Khe Lên, theo lời người dân chỉ dẫn, men theo lối mòn tìm đến khu vực Khe Nhiên, cách đó không xa. Ở đây, hàng loạt máy móc, dụng cụ đào đãi vàng cũng được bày ra ngổn ngang, diện tích khai thác vàng thậm chí còn lấn sâu vào bên trong Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) sông Thanh hàng cây số. Theo quan sát, các đối tượng “vàng tặc” chọn những đoạn suối có địa hình tương đối bằng phẳng cho tập kết máy móc và con người để tiến hành khai thác. Dòng nước suối chảy dọc Khe Nhiên đều có màu đỏ quạch như nước canh bí ngô.
Ông Nguyễn Trí, Giám đốc Ban quản lý Khu BTTN sông Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng sông Thanh cho biết, xã Đắc Pring có 28.000ha đất lâm nghiệp, trong đó 23.000ha có rừng với 7 tiểu khu thuộc vùng lõi Khu BTTN sông Thanh.
Đây cũng là điểm mà “vàng tặc” tấn công rất dữ dội vào thời gian qua. Do không thể đẩy đuổi hết nạn “vàng tặc” này nên năm 2013, Ban quản lý Khu BTTN sông Thanh và và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng sông Thanh đã “cầu cứu” chính quyền tỉnh Quảng Nam, tuy nhiên vẫn không thể đẩy đuổi triệt để.
Từ năm 2012 đến nay, Ban quản lý Khu BTTN và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng sông Thanh đã tổ chức hàng chục đợt truy quét, đẩy đuổi trong Khu BTTN sông Thanh ở Đắc Pring, và đã đập phá 19 máy xúc, nhiều máy nổ, tháo dỡ nhiều lán trại. Nhưng như một loài sâu nhờn thuốc đặc trị, cứ sau mỗi đợt truy quét thì “vàng tặc” lại xuất hiện, đâu vẫn lại vào đó.
Có một điều lạ là, muốn vào vùng núi rừng nơi đây thì phải đi qua sự kiểm soát của Đồn biên phòng Đắc Pring. Nhiều người đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để các đối tượng “vàng tặc” có thể vận chuyển một số lượng khổng lồ về máy móc, thiết bị đào đãi vàng lọt qua sự kiểm soát trên? Về vấn đề này, Thượng tá Nguyễn Minh Chánh, Đồn trưởng Đồn biên phòng Đắc Pring, nói rằng sự đẩy đuổi vàng tặc ở đây gặp khó.
Để núi rừng bình yên, đẩy đuổi một cách triệt để vấn nạn đào vàng gây nên nhiều hệ lụy thì cần có sự vào cuộc của các ban ngành chức năng một cách quyết liệt. (Giáo Dục TP HCM 8/7) đầu trang(
Thời gian gần đây toàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy rừng, bằng 50% tổng số vụ cháy rừng mùa hanh khô 2013-2014 (được tính từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau) làm ảnh hưởng đến hơn chục ha rừng.
Trong đó mới đây nhất, ngày 11-5 xảy ra vụ cháy khá lớn, trên diện tích 5,5ha rừng phòng hộ tại phường Hùng Thắng (TP Hạ Long) làm chết gần 1.000 cây keo 3 tuổi; cháy lướt trên 2.500 cây bạch đàn 6-10 tuổi; ảnh hưởng gần 250 cây thông cấp tuổi IV (trên 15 năm). Sở dĩ hậu quả vụ cháy nhỏ là do khu vực này đã từng xảy ra cháy lớn nên mật độ cây rừng không cao.
Ngoài ra số cây thông, đối tượng cây mục đích có vai trò chủ đạo do trước đó đã được xử lý thực bì dưới gốc khá tốt và làm đường băng cản lửa phụ nên đã hạn chế được tác động của lửa cháy.
Có thể thấy vụ cháy rừng phòng hộ Hùng Thắng nhờ có những đặc thù riêng nên hậu quả không quá nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu vụ cháy này xảy ra ở vị trí rừng phòng hộ khác thuộc địa phận TP Hạ Long thì chắc chắn hậu quả sẽ lớn hơn rất nhiều.
Ông Hà Xuân Kinh, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm TP Hạ Long cho biết: Cháy rừng ở Hạ Long không chỉ gây thiệt hại lớn về vốn rừng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bởi đây là vùng trung tâm du lịch của tỉnh, đồng thời gây tâm lý lo lắng cho người dân cũng như du khách. Đấy còn chưa nói rừng ở khu vực này có vị trí, vai trò rất quan trọng, không chỉ là rừng phòng hộ mà còn là rừng cảnh quan môi trường của thành phố nên xảy ra cháy là thiệt hại lớn.
Điều đáng nói là các vụ cháy rừng này đều xảy ra trong mùa mưa, thời điểm nguy cơ xảy ra cháy rừng thấp nhất trong năm, trước đó thường không xảy ra cháy lớn hoặc có chăng chỉ là cháy thực bì.
Ông Ngô Văn Định, cán bộ Phòng Quản lý và bảo vệ rừng, Chi Cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Qua theo dõi, trong 2 tháng đầu mùa mưa qua, số lượng cơn mưa ít, thời gian mưa ngắn, trong khi đó nền nhiệt chung lại tăng cao. Ngay trong những ngày đang mưa nền nhiệt cũng trên dưới 25oC, ngày nắng thì liên tục có mức nhiệt trên 36oC. Bởi vậy khi mưa chưa kịp thấm đất thì đã bị bốc hơi, dẫn đến đất, cây cỏ đều hanh khô, rất dễ bắt lửa và cháy lan.
Trong khi đó Quảng Ninh lại là vùng có chỉ số khô hạn cao; diện tích rừng trồng lại tương đối tập trung và khá thuần loài với một số cây dễ cháy như thông, bạch đàn, sa mộc... Ngoài ra nhiều vùng khai thác, chế biến than, du lịch lớn của tỉnh nằm xen kẽ hoặc trong diện tích đất lâm nghiệp nên khó khăn trong việc hạn chế các hoạt động có sử dụng lửa, dễ xảy ra cháy rừng.
Một nguy cơ khác đối với tình trạng cháy rừng trên địa bàn tỉnh cần phải tính tới đó là diện tích rừng thông có nguy cơ cháy cao khá lớn. Đây là đối tượng cây trồng tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao nhất bởi cây có chứa tinh dầu dễ bắt lửa, khối lượng vật liệu cháy tích luỹ trong rừng thông cũng lớn...
Hiện toàn tỉnh đang có trên 12.000ha rừng thông nằm trong các dự án rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đã hết giai đoạn đầu tư cơ bản, lâu nay ít được thực hiện giảm vật liệu cháy dẫn đến nguy cơ cháy. Trong đó có khoảng trên 5.700ha rừng thông có nguy cơ cháy rất cao, cần thiết phải được triển khai ngay hệ thống các hoạt động xử lý thực bì như phát dọn, đốt có điều khiển...
Được biết, để xử lý tình trạng này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng phương án “Xử lý thực bì, giảm vật liệu cháy, bảo vệ rừng thông đã hết giai đoạn đầu tư cơ bản thuộc các dự án rừng đặc dụng, rừng phòng hộ do nhà nước đầu tư”. Tuy nhiên, do lý do về kinh phí nên đến nay dự án này vẫn chưa được phê duyệt.
Trong khi đó theo ông Ngô Văn Định đây được coi là giải pháp có hiệu quả cao nhất nhằm hạn chế nguy cơ cháy và giảm thiệt hại do cháy rừng trong điều kiện thời tiết thất thường, bất lợi cho công tác phòng chống cháy rừng như hiện nay. (Báo Quảng Ninh 9/7) đầu trang(
Tây nguyên với 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, có diện tích rừng lớn nhất nước, cùng nhiều loại gỗ phong phú và quý hiếm. Song những cánh rừng ở đây đã và đang suy giảm nghiêm trọng, hiện chỉ còn khoảng 1,8 triệu ha rừng tự nhiên có trữ lượng, trong khi những biện pháp quản lý và bảo vệ vẫn còn nhiều bất cập.
Theo báo cáo của Tổng cục Kiểm lâm, khu vực Tây nguyên có trên 2.848.000 ha rừng, độ che phủ đạt 51,3%, trong đó rừng có trữ lượng độ che phủ chỉ đạt 32,4%. Chỉ tính trong 5 năm gần đây, toàn khu vực Tây nguyên đã mất gần 130.000 ha rừng, riêng rừng tự nhiên mất tới 107.425 ha.
Cụ thể tại Đắk Lắk, trong 5 năm qua đã xảy ra trên 9.000 vụ vi phạm lâm luật, gây thiệt hại 8.533 ha rừng; Kon Tum 6.715 vụ; Gia Lai 11.164 vụ, chủ yếu là phá rừng trái phép.
Sự mất rừng nghiêm trọng ở Tây nguyên trước hết là do hệ quả của chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, đồng thời vì chuyển đổi đất rừng làm thủy điện. Từ đó, dẫn tới hàng chục nghìn ha rừng bị triệt phá, hàng nghìn ha rừng khác ngập chìm dưới lòng hồ thủy điện, chưa kể hàng trăm ha rừng đầu nguồn chuyển thành đất sản xuất, gần 8.000 ha rừng bị phá trụi hiện trở thành đất trống đồi núi trọc.
Thống kê chưa đầy đủ, các tỉnh Tây nguyên những năm qua đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án trên đất lâm nghiệp có diện tích gần 216.000 ha, trong đó có khoảng 100.000 ha chuyển sang trồng cao su. Tuy vậy, nhiều chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ rừng dẫn tới tình trạng rừng bị tàn phá, lấn chiếm vô tội vạ nhưng không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Một nguyên nhân nữa làm cho rừng Tây nguyên bị xâm hại trầm trọng, đó là 56 công ty lâm nghiệp được giao quản lý tới 1 triệu ha rừng. Nhưng do nhân lực quá mỏng, cộng với sự bất cập trong quản lý rừng hiện nay nên nhiều cánh rừng trở nên “vô chủ”, bỏ mặc cho “lâm tặc” thừa cơ khai thác trái phép và chiếm dụng đất rừng sử dụng vào mục đích khác.
Mặt khác, việc cấp phép kinh doanh cho 1.500 cơ sở chế biến gỗ ở các tỉnh Tây nguyên thiếu sự quy hoạch, không gắn với nguồn nguyên liệu. Cơ quan chức năng cũng không thường xuyên kiểm tra, giám sát, đặc biệt là những cơ sở trong rừng, gần rừng nên làm gia tăng tình trạng khai thác gỗ trái phép. Bởi nguồn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến ở đây chủ yếu là rừng tự nhiên.
Tại hội nghị về công tác quản lý bảo vệ rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức mới đây, nhiều vấn đề đã được các đại biểu của các tỉnh Tây nguyên đề cập tới. Cụ thể là cơ chế giao rừng kém minh bạch tạo ra nhiều kẽ hở; mục tiêu chuyển đổi rừng cứng nhắc; các công ty lâm nghiệp yếu kém lại được chuyển đổi thành ban quản lý rừng. Đó là những vấn đề cần sớm được xem xét và khắc phục, nhằm đảm bảo cho việc quản lý và bảo vệ rừng được chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là tăng cường quản lý về lâm nghiệp tại địa phương, quản lý lâm trường quốc doanh và công ty lâm nghiệp, quản lý các cơ sở chế biến gỗ đi đôi với việc nghiên cứu chính sách khôi phục, phát triển lâm nghiệp. Đây là những vấn đề hệ trọng cần được Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương xem xét, đánh giá, thực hiện một cách khoa học để ngăn chặn tận gốc tình trạng phá rừng tràn lan ở khu vực Tây nguyên hiện nay. (Báo Đắc Nông 9/7) đầu trang(
Rừng phòng hộ ven biển Gò Công đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ vùng cửa sông và ven biển trước hiện tượng xâm thực của sóng biển, gió bão.
Thời gian qua, công tác bảo vệ rừng phòng hộ đã được ngành chức năng cùng địa phương quan tâm nhưng trước tác động của biến đổi khí hậu, rừng phòng hộ ven biển Gò Công đang bị xâm thực nghiêm trọng cần có giải pháp phục hồi.
Đi dọc trên tuyến đê biển Gò Công bắt đầu từ xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông (GCĐ), không khỏi xót xa vì hình ảnh từng mảng rừng phòng hộ (còn gọi là đai rừng) bị nước biển xâm thực.
Năm 2006, dọc theo đê biển là cảnh rừng đước trải dài mênh mông phía ngoài đê biển như một lá chắn xanh bảo vệ đê biển trước những cơn sóng biển liên tục đánh vào bờ; đặc biệt là bảo vệ đê biển vững vàng trước những cơn sóng lớn trong mùa gió chướng hay những cơn bão lớn.
Hiện nay chỉ trơ trọi một vài vạt rừng đước còn sót lại nằm lẻ loi, phơi gốc rễ trước những cơn sóng xô bờ. Nguy hiểm hơn, ngay tại cống Rạch Bùn (xã Tân Điền), toàn bộ khoảnh rừng phòng hộ đã bị xóa sổ, đẩy con đê biển ra đối diện trực tiếp với nước biển. Sát chân đê biển là bãi cát do sóng biển đẩy vào, là nơi mà khó có loại cây nào sống được.
Anh Lê Công Hoàn, cán bộ Hạt Quản lý đê (Chi cục Thủy lợi & Phòng chống lụt bão (PCLB) thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn), người phụ trách rừng phòng hộ trên tuyến đê biển xung yếu, đi kiểm tra những đoạn đai rừng đã bị nước biển nuốt chửng.
Chỉ tay vào những đoạn chân đê biển đang bị nước biển ngấp nghé đánh vào gây ra hiện tượng bào mòn rõ mồn một, anh tiếc rẻ: “Hơn 15 năm gắn bó với rừng phòng hộ trên tuyến đê biển, chưa bao giờ tôi thấy rừng bị nước biển xâm thực dữ dội như trong 10 năm trở lại đây.
Đặc biệt, chỉ trong 4 tháng mùa khô 2013 - 2014 (tháng 11-2013 đến 2-2014), dọc theo tuyến đê biển Gò Công đã xuất hiện thêm nhiều điểm xâm thực mạnh khiến đai rừng không còn hoặc còn nhưng chỉ có chiều dầy vài chục mét trở lại”.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT), do biển Gò Công chạy theo hướng Bắc Nam nên vào mùa chướng, đường bờ biển phải hứng chịu tác động trực tiếp của sóng lớn trong khoảng thời gian kéo dài từ 4 - 5 tháng.
Mặt khác, bờ biển Gò Công bị chia cắt bởi các cửa sông lớn là Soài Rạp, cửa Tiểu và cửa Đại nên chế độ thủy văn, thủy lực ở đây rất phức tạp (ảnh hưởng của chế độ dòng chảy, bùn cát 2 cửa sông, thủy triều biển, dòng chảy ven bờ do sóng tạo nên). Điều này dẫn tới diễn biến đường bờ theo cả không gian và thời gian rất khó kiểm soát, mà một trong những hậu quả là nhiều diện tích rừng phòng hộ bị xâm thực và biến mất.
Kết quả thống kê cho thấy, diện tích đai rừng phòng hộ cặp theo tuyến đê biển khoảng 20 km đối diện trực tiếp với biển vào năm 2006 đến nay đã bị xâm thực chỉ còn 197,21 ha. Điều này đe dọa đến sự an toàn của đê biển Gò Công cũng như tính mạng và tài sản của khoảng 330.000 dân sống bên trong đê.
Cũng theo đánh giá của Sở NN&PTNT về diễn biến rừng phòng hộ ở biển Gò Công qua các thời kỳ, trước kia Tiền Giang đã từng có diện tích rừng ngập mặn lớn hơn rất nhiều so với hiện nay. Bề dầy của đai rừng ngập mặn tính từ đường bờ ra ngoài từ vài trăm mét đến cả cây số.
Tuy nhiên, diện tích rừng càng lúc càng thu hẹp vì nhiều nguyên nhân như rải chất khai hoang trong thời chiến (các năm 1969 - 1972), chặt phá làm chất đốt, làm vật liệu xây nhà… trong thời gian đầu sau khi hòa bình lập lại.
Từ năm 1980 đến nay (nhất là từ khi có Chương trình 327, Chương trình 661 của Trung ương), công tác trồng rừng đã được quan tâm thực hiện. Trong giai đoạn 1993 - 1995 rừng trồng mới và trồng dặm đều phát triển tốt. Riêng rừng trồng mới trong phạm vi đoạn xung yếu với chiều dài khoảng 700 m tuy đã trồng nhiều năm nhưng không sống được.
Giai đoạn 2006 - 2014 đã trồng mới và trồng xen 78,625 ha tại huyện GCĐ, 443,68 ha tại huyện Tân Phú Đông (TPĐ). Tuy nhiên, hiện bờ biển GCĐ vẫn còn 2.900 mét chiều dài không còn rừng phòng hộ bên ngoài. Đến nay, toàn tỉnh có 1.658,6 ha rừng phòng hộ ven biển, trong đó huyện GCĐ có 606,15 ha, huyện TPĐ 1.052,45 ha.
Thực tế cho thấy, trong 10 năm qua rừng phòng hộ ven biển Gò Công bị xâm thực ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt có những vị trí mất rừng từ 8 - 10 m/năm mà chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
Hiện nay, dọc theo tuyến đê biển Gò Công bề dày đai rừng phòng hộ còn lại rất mỏng, từ 30 - 300 m. Đặc biệt từ cống rạch Xẻo về cống Tân Thành nhiều nơi rừng không còn. Tại những vị trí này đê đã được kè bảo vệ mái với chiều dài hiện nay khoảng 2.957 m.
Còn tại huyện TPĐ, theo quan trắc hàng năm mức độ xâm thực tuyến cửa Đại không đáng kể, cục bộ có những vị trí xâm thực từ 1 - 2 m. Riêng khu vực đuôi Cồn Cống (xã Phú Tân) xâm thực từ 10 - 15 m hàng năm.
Ông Võ Đức Phong, Hạt trưởng Hạt Quản lý đê của tỉnh, cho biết: Hiện trạng đai rừng phòng hộ ven biển Gò Công (huyện GCĐ) bị xâm thực nghiêm trọng, đe dọa đến an toàn tuyến đê biển.
Tại những vị trí rừng phòng hộ không còn, đê trực diện với biển hoặc đai rừng mỏng đã được đầu tư kinh phí kè bảo vệ mái đê. Đến cuối năm 2013, tổng chiều dài kè bảo vệ mái đê là 3.457m. Hiện nay đang tiếp tục đầu tư kinh phí kè bảo vệ mái đê với chiều dài 663 m.
Và cũng theo kết quả báo cáo mới nhất vào ngày 12-5-2014 của Hạt Quản lý đê, đoạn từ cống Rạch Bùn cũ (từ Km9+00-Km25+500) chiều dài 2.640 m đai rừng hiện nay cũng đang bị xâm thực nghiêm trọng; phần đai rừng còn lại từ 5 - 70 m.
Ông Nguyễn Thiện Pháp, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi & PCLB tỉnh, đánh giá: Tại đoạn đê biển xung yếu, rừng bị xói lở nghiêm trọng, đê trực diện với biển nên nguy cơ bị vỡ đê là rất cao, đặc biệt là khi có bão và áp thấp nhiệt đới. (Báo Ấp Bắc 9/7) đầu trang(
Trước tình trạng nhiều diện tích rừng ở các địa phương liên tục bị xâm hại, ngành chức năng và các địa phương của tỉnh đang triển khai nhiều biện pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, huyện Đông Giang có gần 40 vụ phá rừng trái phép, gây thiệt hại hơn 12ha rừng. Ông Đỗ Tài - Chủ tịch UBND huyện Đông Giang cho biết, mặc dù chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp quyết liệt trong việc triển khai truy quét, cùng liên kết giữ rừng nhưng tình trạng khai thác gỗ, mua bán, vận chuyển lâm sản và săn bắt động vật hoang dã vẫn tái diễn.
Không chỉ ở Đông Giang, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để lấy đất sản xuất, lấy đất trồng rừng vẫn còn xảy ra ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. “Điểm nóng” tập trung ở lưu vực rừng phòng hộ Phú Ninh, các khu tái định cư thuộc các công trình dự án thủy điện.
Báo cáo thống kê của Sở NN&PTNT cho biết, trong 4 năm (từ 2011-2014), toàn tỉnh có hơn 4 nghìn vụ vi phạm về rừng với hơn 340ha diện tích rừng bị thiệt hại, chủ yếu là ở các huyện Đông Giang, Tiên Phước, Núi Thành, Bắc Trà My… Riêng 6 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh có hàng chục vụ phá rừng trái phép, gây thiệt hại tổng diện tích hơn 16ha.
Ngoài ra, nhiều diện tích rừng vẫn bị thiệt hại do tình trạng cháy rừng vào mùa khô, cũng như việc khai thác khoáng sản trái phép diễn ra ở một số địa phương, chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để. Theo ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, so với những năm trước, tình hình phá rừng lấy đất sản xuất, lấy đất trồng rừng có phần giảm hơn trong năm 2013 nhưng vẫn còn ở mức cao và diễn biến khá phức tạp.
Liên tục từ năm 2011 đến nay, ngành chức năng đã khởi tố gần 80 vụ án hình sự liên quan đến vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng; tịch thu nhiều tang vật vi phạm và nộp ngân sách hơn 37 tỷ đồng.
Cùng với công tác kiểm tra, truy quét, những năm qua lực lượng chức năng của tỉnh cũng đã triển khai nhiều biện pháp khắc phục, ngăn chặn hành vi vi phạm trên lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, cũng như đẩy mạnh công tác tuyên truyền phong trào quần chúng cùng tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Qua đó, đã từng bước kiểm soát và kiềm chế tình trạng phá rừng tại các “điểm nóng”; xóa nhiều tụ điểm khai thác vàng trái phép ở một số địa phương miền núi.
Năm 2013, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án tổ chức lại các Ban quản lý rừng phòng hộ A Vương, Sông Kôn (Đông Giang); Sông Tranh (Bắc Trà My); Đăk Mi (Phước Sơn) và cho phép thành lập 2 Ban quản lý rừng phòng hộ nam và bắc Sông Bung (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh), ở huyện Nam Giang nhằm hỗ trợ người dân, cộng đồng địa phương khai thác, sử dụng vốn rừng hiệu quả; đáp ứng yêu cầu bảo vệ rừng phòng hộ lưu vực và đảm bảo thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Cũng theo ông Lê Minh Hưng, công tác phát triển rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và trồng rừng thay thế trong những năm qua đã được triển khai thực hiện khá đồng bộ với độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh từ 48,3% (năm 2011) lên 49,4% năm 2013.
Trong khi đó, tổng diện tích cung ứng chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 287.221ha; phê duyệt 7 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng diện tích gần 202.206ha; kết quả triển khai trồng rừng thay thế đạt 35%... Qua 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã mở ra một hướng mới trong quản lý, bảo vệ và phát triển ngành lâm nghiệp ở địa bàn tỉnh; tạo nên những tác động tích cực đến công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với trách nhiệm của chủ rừng, giúp họ yên tâm gắn bó với rừng, xem rừng như tài sản và hạn chế đáng kể tình trạng vào rừng phát nương làm rẫy, khai thác gỗ trái phép.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở NN&PTNT liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh mới đây, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Kim Hùng cho rằng, việc thực hiện tốt công tác chỉ đạo quản lý, bảo vệ rừng của các ngành chức năng đã đem lại kết quả đáng mừng cho quá trình phát triển rừng tại địa phương. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, việc tuyên truyền nhận thức đến với người dân chưa sâu,… khiến công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn.
Trước thực trạng nhiều diện tích rừng ươi liên tục bị các đối tượng chặt phá để lấy trái, UBND tỉnh đã ban hành công điện số 04/CĐ-UBND yêu cầu các sở, ban ngành địa phương liên quan tập trung triển khai các biện pháp cấp bách quản lý, bảo vệ và khai thác cây ươi trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, yêu cầu chủ tịch UBND các huyện, đặc biệt là các địa phương đang là trọng điểm về tình trạng chặt phá cây ươi cần quyết liệt thực hiện các giải pháp để bảo vệ cây ươi; lập các phương án tổ chức truy quét, đẩy đuổi đối tượng xâm nhập và đưa dụng cụ, phương tiện vào rừng trái phép chặt hạ ươi ở các “điểm nóng”…
Tại huyện Đông Giang, ở địa bàn các xã Sông Kôn, Jơ Ngây và A Ting, người dân địa phương cho hay rừng ươi luôn được lực lượng chức năng bảo vệ nghiêm ngặt. Suốt thời điểm mùa ươi, lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia Bạch Mã, Khu bảo tồn thiên nhiên Sao la luôn bám chặt địa bàn, thường xuyên kiểm tra, truy quét và thực hiện nhiều đợt tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng. (Báo Quảng Nam 9/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp - PTNT) thì thời gian từ đầu tháng 7 đến trung tuần tháng 9, các địa phương, đơn vị chức năng cũng đang tập trung triển khai công tác trồng rừng năm 2014 với tổng diện tích đăng ký trồng rừng toàn tỉnh là 2.376 ha, với kinh phí hỗ trợ khoảng 1,6 tỷ đồng.
Đến nay, tỉnh đã có 5 đơn vị đã được tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng với tổng diện tích 800 ha. Những đơn vị này sau khi được phê duyệt dự án đã và đang khẩn trương bắt tay vào việc dọn thực bì, tập kết cây giống và đào hố để trồng. Các đơn vị có chức năng trồng rừng còn lại cũng đã xây dựng phương án, trình UBND tỉnh kiểm tra, phê duyệt để triển khai thực hiện.
Bên cạnh trồng mới, trong năm nay, tỉnh cũng triển khai thực hiện chương trình trồng rừng thay thế trên diện tích rừng chuyển đổi theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Số diện tích này chủ yếu được trồng thay thế những diện tích rừng bị thiệt hại do xây dựng các công trình thủy điện hoặc do phá rừng trái phép.
Theo đó, toàn tỉnh có tất cả 13 đơn vị tham gia chương trình trồng rừng thay thế với tổng diện tích dự kiến khoảng 2.246 ha. Hiện UBND tỉnh đã giao 1.581 ha cho các chủ các dự án thủy điện để tiến hành trồng rừng.
Tuy nhiên, theo Chi cục Lâm nghiệp thì lo ngại nhất hiện nay là tiến độ trồng rừng thay thế sẽ bị chậm vì quá trình triển khai gặp những trở ngại nhất định. Vì chủ trương trồng rừng thay thể mới được Chính phủ ban hành vào cuối năm 2013, trong khi hầu hết các dự án thủy điện trên địa bàn đã được triển khai trước nên kinh phí dành cho hạng mục này không có. Vì thế, khi có chủ trương, các đơn vị phải điều chỉnh, bổ sung nguồn kinh phí này vào dự án nên mất một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, các diện tích đưa vào kế hoạch trồng rừng thay thế hiện nay phần lớn đã bị người dân lấn chiếm, canh tác nên phải tổ chức giải tỏa, trả lại hiện trạng. Chưa kể đến các chủ dự án thủy điện lại không có chuyên môn về trồng rừng nên việc triển khai chương trình khả năng sẽ phải thuê người dân hoặc đơn vị có chuyên môn trồng rừng thực hiện.
Từ những khó khăn trên, hiện Chi cục Lâm nghiệp đang tăng cường công tác phối hợp, tích cực tham mưu cho UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp - PTNT để có hướng tháo gỡ, khắc phục. Mặt khác, Chi cục cũng thường xuyên giám sát, theo dõi chất lượng cây giống, kỹ thuật trồng và kế hoạch bảo vệ, chăm sóc của các đơn vị nhằm đảm bảo ở mức cao nhất có thể về tiến độ, hiệu quả  và chất lượng rừng trồng theo kế hoạch đề ra. (Báo Đắc Nông 9/7) đầu trang(
Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an vừa khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Phước, sinh năm 1967 trú tại 132 Lý Thái Tổ, Phường Yên Đỗ, TP. Pleiku vì hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Đây là một mắt xích quan trọng trong đường dây chiếm đoạt tài sản thông qua thu gom sổ đỏ đất rừng quy mô lớn, tại hơn 21 tỉnh thành với hàng trăm nghìn cuốn sổ đỏ.
Lợi dụng tâm lí hám lợi của một số cá nhân, doanh nghiệp, một số nhóm đối tượng ở ngoài xã hội đã tự giới thiệu có thể xin được nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của tổ chức phi chính phủ nước ngoài cho dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc.
Với mức tiền hỗ trợ từ 25-30 triệu đồng/ha, thời hạn giải ngân trong 3 tháng đến 6 tháng, các đối tượng đã dễ dàng lừa đảo và thu gom hàng trăm ngàn cuốn sổ đỏ tại hơn 21 tỉnh thành.
Tuy nhiên, qua quá trình xác minh và làm việc với các đơn vị có liên quan, cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an chứng minh: Từ năm 2008 đến năm 2013, không có bất cứ một dự án hỗ trợ phi chính phủ nào liên quan đến việc trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
Tất cả đều là dự án giả mạo do các đối tượng vẽ ra. Điều đáng nói, là mặc dù không ít đối tượng lừa đảo đã bị cơ quan cảnh sát điều tra bắt giữ, nhưng một số đối tượng bên ngoài, vẫn tiếp tục sử dụng phương thức này để thu gom thêm nhiều sổ đỏ đất rừng của người dân. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 10/7) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đã cho phép tỉnh Hải Dương được chuyển mục đích sử dụng 97,28 ha đất để thực hiện 40 dự án, công trình, điểm dân cư nông thôn.
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011-2015 của tỉnh được Chính phủ phê duyệt, tổng diện tích đất nông nghiệp được chuyển mục đích sử dụng đất năm 2014 chuyển sang đất phi nông nghiệp là 1.784ha. Trong đó, diện tích đất trồng lúa là 1.185ha, diện tích đất rừng phòng hộ là 106ha.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép tỉnh Hải Dương được chuyển mục đích sử dụng 97,28 ha đất để thực hiện 40 dự án, công trình, điểm dân cư nông thôn. Từ đầu năm đến nay, UBND tỉnh đã quyết định chuyển mục đích sử dụng 8,6ha, diện tích còn lại 88,68 ha đất trồng lúa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng, các Sở, ngành đang hướng dẫn các đơn vị hoàn thiện hồ sơ giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định.
Việc chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đến nay chưa thực hiện. Từ nay đến hết năm, để thực hiện các dự án, công trình, điểm dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh sẽ có  272,51 ha đất trồng lúa và 0,56 ha đất rừng phòng hộ được chuyển mục đích sử dụng để thực hiện 223 dự án, công trình, điểm dân cư nông thôn.
Trong đó, 21 dự án sản xuất kinh doanh, 117 công trình công cộng, 78 điểm dân cư nông thôn, 5 dự án Khu dân cư, Khu đô thị và 2 dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng. (Đài PTTH Hải Dương 9/7) đầu trang(
Phát huy thế mạnh của địa phương, nhiều năm nay, xã Lãng Công, huyện Sông Lô đã vận động nhân dân tập trung phát triển kinh tế từ trồng rừng, tạo việc làm và mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
Ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó Ban Lâm nghiệp xã Lãng Công cho biết: Nhờ chính sách giao đất, giao rừng của Nhà nước và sự quan tâm của chính quyền địa phương, giờ đây rừng ở Lãng Công đã được phủ xanh và phát triển kinh tế từ đồi rừng đang trở thành thế mạnh.
Đặc biệt, trong chục năm trở lại đây, các hộ trồng rừng sản xuất bắt đầu đầu tư, mở rộng diện tích rừng trồng bạch đàn mô; đây là loài cây có chu kỳ kinh doanh tương đối ngắn. Sản phẩm từ gỗ bạch đàn có nhiều công dụng như đóng đồ mộc, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất giấy, làm cọc chống...nên khi đến kỳ khai thác, việc tiêu thụ rất thuận lợi.
Hiện gia đình ông Thịnh đang quản lý trên 80 ha rừng, trong đó 62ha rừng phòng hộ được giao bảo vệ; trên 20ha rừng sản xuất bạch đàn. Kết hợp trồng rừng và trồng lúa, trung bình mỗi năm gia đình ông thu lãi trên 300 triệu đồng.
Cũng là chủ sở hữu của gần 10ha rừng bạch đàn, bà Nguyễn Thị Bính, thôn Lãng Sơn chia sẻ: “Từ khi nhận giao đất trồng rừng, kinh tế gia đình tôi cũng dần khá lên. Tính đến nay, gia đình tôi có thâm niên trồng rừng gần 20 năm; số diện tích trồng mới và khai thác luôn kết hợp nhịp nhàng, nên đảm bảo về công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho các thành viên trong gia đình”.
Theo bà Bính, mỗi ha bạch đàn sau 6-7 năm trồng nếu được chăm sóc tốt cho sản lượng khoảng 70 khối, mỗi khối có giá 1,5 triệu đồng, cho thu khoảng 100 triệu đồng. Đây là số thu không hề nhỏ của người dân địa phương.
Hiện xã Lãng Công có gần 300 ha rừng sản xuất với trên 30 hộ gắn bó lợi ích kinh tế gia đình với việc trồng rừng. Có thể khẳng định, phong trào trồng cây gây rừng đã tạo việc làm, đem lại thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng số hộ khá giàu ở địa phương.
Không chỉ vậy, rừng Lãng Công còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực khác, như tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Đến nay, xã Lãng Công đạt 15/19 tiêu chí của chương trình, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 22 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,3%. (Vinhphuc.gov.vn 8/7) đầu trang(
Thương mại lâm sản Việt-Trung tính từ năm 2000 đến nay gia tăng nhanh chóng nhưng diễn biến theo các chiều hướng khác nhau. Các hoạt động thương mại lâm sản Việt-Trung bao gồm nhập khẩu gỗ từ Trung Quốc, xuất khẩu sản phẩm gỗ từ Việt Nam sang Trung Quốc và hoạt động thu hút vốn đầu tư (FDI) của Trung Quốc.
Thứ nhất, tình hình nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc. Nếu năm 2000, nhập khẩu gỗ từ Trung Quốc chỉ đạt 30 triệu USD, đến năm 2013 đã đạt 201 triệu USD và 6 tháng đầu năm 2014 đạt 85 triệu USD. Tuy tốc độ nhập khẩu gỗ từ Trung Quốc tăng nhanh, nhưng so với tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu của Việt Nam, giá trị kim ngạch nhập gỗ của Trung Quốc chỉ đạt 15% (201 triệu USD/1.360 triệu USD).
Những số liệu này cho thấy Việt Nam gần đây và hiện nay ít lệ thuộc vào Trung Quốc về việc nhập gỗ nguyên liệu. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có diện tích rừng trồng nằm trong top 10 của thế giới, sản lượng gỗ rừng trồng hàng năm cũng tăng đáng kể. Năm 2013 đã khai thác được 17 triệu m3 và dự kiến đến năm 2020 sẽ đạt trên 20 triệu m3. Theo đó, các năm tới Việt Nam sẽ hạn chế đến mức tối đa nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Trung Quốc.
Thứ hai, với hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Trung Quốc, trong 10 năm gần đây (2005 -2014) các sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tăng cả về số lượng và giá trị kim ngạch. Năm 2005 chỉ đạt 50 triệu USD, đến năm 2013 đạt trên 740 triệu USD.
Trong vòng chưa đầy 10 năm đã tăng lên 15 lần. Song, có một thực tế phải nhìn nhận là giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc đạt cao nhưng giá trị gia tăng thấp, lợi nhuận thu lại thấp và kìm hãm quản lý rừng bền vững.
Vì chủ yếu các thương nhân của Trung Quốc mua các loại sản phẩm gỗ ở dạng sơ chế, áp dụng công nghệ thiết bị lạc hậu, cũ kỹ và không thân thiện với môi trường. Việc bán rừng non cho các thương lái Trung Quốc đã đem lại những thiệt hại cho cả Nhà nước, DN và người dân.
Giá mua 1m3 gỗ có đường kính nhỏ từ rừng trồng non chỉ thu được từ 800.000-1.000.000 đồng/m3 và năng suất chỉ đạt 60-70m3/1ha, nếu được nuôi dưỡng những cánh rừng non đó thêm 2-3 năm nữa sẽ có cây gỗ có đường kính từ 18-25cm, bán được giá từ 2,5-3 triệu đồng/m3 và năng suất đạt từ 100-120m3/ha.
Thứ ba, tình hình thu hút FDI từ Trung Quốc. Tính từ 1996 đến tháng 3-2014, có 51 DN FDI của Trung Quốc đã được cấp giấy chứng nhận và đang sản xuất trong lĩnh vực gỗ-lâm sản tại Việt Nam. Trong đó, 23 DN chuyên kinh doanh nguyên liệu thô, 6 DN kinh doanh các loại nguyên vật liệu phụ trợ và 22 DN kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu.
Tổng vốn đầu tư của 51 DN FDI từ Trung Quốc chỉ đạt 85,28 triệu USD. Các DN FDI của Trung Quốc hầu hết áp dụng công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ. Trong 22 DN kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu là sử dụng thiết bị lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm, không có một dây chuyền công nghệ hoàn chỉnh nào để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu từ A- Z.
Thương mại lâm sản Việt Nam-Trung Quốc tính đến nay Việt Nam vẫn luôn giữ vị trí xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Tuy kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị gia tăng thấp, vì vậy trong thời gian tới cần hạn chế tối đa xuất khẩu các loại dăm mảnh, gỗ palet và gỗ bóc vào Trung Quốc. Cần có cuộc vận động tuyên truyền các chủ rừng trồng của Việt Nam (các hộ gia đình trồng rừng, các công ty trồng rừng…) thay đổi tư duy kinh doanh bán gỗ từ rừng non đường kính nhỏ sang bán gỗ đã đủ tuổi khai thác với đường kính lớn để đem lại giá trị gia tăng cao hơn và thích ứng với quản lý rừng bền vững.
Để thoát khỏi tình trạng các thương nhân Trung Quốc thu mua, vơ vét nguyên liệu thô của Việt Nam, cần phải xúc tiến những liên kết sản xuất từ trồng rừng, khai thác, thu mua nguyên liệu thô thông qua các DN trong nước có kinh nghiệm, đáng tin cậy đã làm việc lâu năm với Trung Quốc để ký hợp đồng với hộ gia đình và chủ rừng nhỏ bao tiêu toàn bộ sản phẩm gỗ rừng trong bán cho Trung Quốc.
Đề nghị Nhà nước nên có chính sách khuyến khích phát triển thị trường gỗ nội địa để nâng cao sức cạnh tranh với đồ gỗ Trung Quốc. Song hành với đó, Nhà nước nên nghiên cứu xây dựng, bổ sung hoàn thiện chính sách thu hút FDI nhằm khắc phục những tồn tại yếu kém của DN FDI.
Qua phân tích 51 DN FDI của Trung Quốc nêu trên, có đến 50% DN sản xuất sản phẩm thô, kinh doanh nguyên liệu và vật liệu phụ trợ; 20 DN chế biến sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu cũng chỉ áp dụng công nghiệp chế biến lạc hậu (100% thiết bị của Trung Quốc) và có nhiều DN FDI của Trung Quốc chủ yếu thực hiện công đoạn lắp ráp chi tiết được chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam dưới, dạng xuất khẩu nguyên liệu và bán sản phẩm đề hoàn thiện sản phẩm xuất khẩu sang nước thứ 3 nhằm trốn thuế và tránh các vụ kiện chống bán phá giá tại các nước nhập khẩu.
Cuối cùng, đối với các hộ gia đình và công ty tư nhân trồng rừng tại các tỉnh phía Bắc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước các cấp chủ trì, vận động các DN chế biến gỗ Việt Nam liên kết với các hộ gia đình và các công ty trồng rừng trên địa bàn nhằm bao tiêu hết các loại gỗ trồng rừng trên nguyên tắc ổn định, lâu dài và có lợi ích cho cả 2 bên. (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 10/7) đầu trang(
Sau một ngày xét xử sơ thẩm, chiều 9.7, TAND tỉnh Quảng Trị đã tuyên án đối với 15 bị cáo (đều trú ở TP.Đông Hà) thuộc băng nhóm chuyên cưỡng đoạt tài sản, trấn lột dân buôn gỗ, buôn chuối, gây rúng động tại địa phương.
Phiên tòa thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều người. Nhưng 9 bị hại, 1 nguyên đơn dân sự, 3 người làm chứng mặc dù được tòa triệu tập, đều không đến. Theo cáo trạng, trong vụ án này, kẻ có vai trò cầm đầu là Vương Khánh Quyền (còn gọi là Quyền Éc Ke, 43 tuổi, trú phường 5, TP.Đông Hà).
Từ tháng 6.2011, Quyền tập hợp, lôi kéo nhiều đối tượng nghiện ma túy, có tiền án tiền sự ở TP.Đông Hà, thành lập băng nhóm đe dọa dân buôn gỗ, chuối tại địa bàn huyện Hướng Hóa và TP.Đông Hà, bắt nộp tiền bảo kê hàng tháng. Đến khi bị bắt (6.2013), băng nhóm này chiếm đoạt của 10 hộ kinh doanh số tiền hơn 693 triệu đồng...Vương Khánh Quyền sau khi bỏ trốn sang Lào tiếp tục gây án đặc biệt nghiêm trọng, hiện đang bị tạm giam tại Lào.
Tại phiên xét xử, 15 bị cáo đã thành khẩn khai báo. Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử đã tuyên: Lê Tứ Long (27 tuổi) 10 năm tù; Hoàng Lợi (29 tuổi) 12 năm tù; Nguyễn Tiến Dũng và Vương Khánh Long (37 tuổi) mỗi bị cáo 3 năm 6 tháng tù; Nguyễn Hà Hoài Hận, Lê Văn Thừa, Lương Văn Linh mỗi bị cáo 3 năm tù; Trần Hòa, Nguyễn Anh Dũng, Phạm Mạnh Phi mỗi bị cáo 2 năm tù; Đào Văn Anh, Nguyễn Hữu Việt và Nguyễn Đăng Sơn mỗi bị cáo 18 tháng tù; Trần Văn Dũng và Nguyễn Hữu Hoàng mỗi bị cáo 1 năm tù. (Thanh Niên 10/7, tr3) đầu trang(
Độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh đến nay đạt gần 56,7% so với diện tích đất tự nhiên và được đánh giá chiếm tỷ lệ độ che phủ rừng cao so với nhiều địa phương khác trong cả nước.
Các khu rừng đặc dụng tiếp tục được bảo vệ, phát triển, nâng cao chất lượng để vừa bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm, bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa. Loài cây được chọn phục vụ trồng rừng đặc dụng, như lim xanh, huỷnh, sến, muồng đen...
Rừng phòng hộ được tập trung quản lý và phát triển tại các khu vực đầu nguồn các con sông, hồ đập thủy điện, hành lang biên giới, ven biển. Ngoài ra, còn được coi trọng đầu tư trồng rừng phòng hộ tại các khu công nghiệp, khu du lịch biển, khu công cộng. Để tăng khả năng chống chịu tốt, sinh trưởng nhanh, các loài cây ưu tiên chọn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn như trám, sến, sao đen, dầu rái; rừng phòng hộ ven biển, chắn gió cát như phi lao, keo chịu hạn, keo tai tượng, dứa dại...; rừng phòng hộ môi trường như sấu, sưa, sao đen, sến trung...
Rừng sản xuất cũng được đầu tư và phát triển theo hướng thâm canh tăng năng suất rừng trồng, phát triển công nghiệp chế biến với công nghệ hiện đại để tiết kiệm nguyên liệu, đẩy mạnh xuất khẩu lâm sản từ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ, góp phần tăng giá trị thành phẩm trên một đơn vị kinh doanh. Loài cây trồng có khả năng sinh trưởng nhanh, cho sinh khối lớn được ứng dụng trồng rừng sản xuất như keo các loại, kết hợp một số loài cây bản địa phục vụ phát triển rừng đặc sản.
Các địa phương, đơn vị trồng rừng nghiên cứu và tuyển chọn các giống cây trồng thích nghi trên các dạng lập địa, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong tạo giống cây trồng như công nghệ dâm hom, nuôi cấy mô và kinh nghiệm sản xuất cây giống bản địa trong nhân dân để sản xuất giống chất lượng cao như trám, ươi, huỷnh, vạn, quế, trầm hương...
Công tác giao rừng và đất lâm nghiệp được đẩy mạnh thực hiện từ năm 2005 đến 2013, với tổng diện tích đã giao khoán hơn 14.035 ha. Diện tích dự kiến bàn giao cho các địa phương đến năm 2015 thêm gần 3.611 ha. Qua đó, tạo điều kiện cho người dân sống gần rừng, các hộ nghèo có đất sản xuất, nâng cao đời sống.
Hầu hết diện tích đất trống, rừng giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đều sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, không có tình trạng để đất hoang hóa. Điều này một phần do lợi ích từ rừng trồng trong những năm gần đây đã đem lại nguồn thu đáng kể cho người trồng rừng. Sản phẩm chủ yếu của rừng trồng là gỗ nguyên liệu dăm giấy, ngoài ra rừng trồng còn cung cấp một tỷ lệ không nhỏ gỗ lớn phục vụ nhu cầu làm hàng dân dụng. Bình quân, 1 ha rừng keo 7 năm tuổi đem lại doanh thu khoảng 50 triệu đồng, có nơi lên đến 90 triệu đồng.
Để lĩnh vực lâm nghiệp trở thành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chiếm ưu thế trên thị trường trong nước và xuất khẩu, ngành lâm nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp về khoa học công nghệ, đào tạo, về vốn...
Những năm qua, đã có nhiều chương trình, dự án được ưu tiên thực hiện. Điển hình như dự án 661, Chiến lược quản lý cháy rừng giai đoạn 2006-2015, kế hoạch hành động đa dạng sinh học của tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, chương trình phát triển và nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp, thu phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, dự án phát triển rừng phòng hộ vùng cát ven biển, dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới tỉnh Thừa Thiên Huế, trồng rừng phòng hộ hồ đập các công trình thủy lợi, thủy điện...
So với chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2011-2015, từ năm 2010 đến 2013, có hơn 79.814 ha rừng được khoán quản lý bảo vệ, đạt 62% kế hoạch; hơn 20.636 ha rừng được khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, đạt 69% và trồng mới 16.530 ha, đạt 74% kế hoạch. Tiến độ thực hiện các hạng mục cơ sở hạ tầng đến năm 2013 vượt nhanh so với kế hoạch 2011-2015. Trong đó, đã xây dựng 4 vườn ươm trên chỉ tiêu 2 vườn, 39,2km đường lâm nghiệp trên 78 km kế hoạch, 226,2 km đường ranh cản lửa so với kế hoạch 110 km. Trồng cây phân tán đến nay đạt 75% kế hoạch với khoảng 10 triệu cây.
Việc khai thác hợp lý gỗ rừng nhằm tái tạo và cải thiện chất lượng rừng cũng được quan tâm để từng bước đảm bảo thế ổn định của rừng, đồng thời mang lại nguồn thu lớn cho những người trồng rừng và hưởng lợi từ chăm sóc, bảo vệ rừng. Kế hoạch khai thác gỗ giai đoạn 2011- 2015 là 20.100 m3 gỗ rừng tự nhiên và 640.000 m3 gỗ rừng trồng.
Riêng từ năm 2010 đến 2013, khối lượng gỗ rừng tự nhiên đã khai thác được 12.290 m3 và gỗ rừng trồng 1,28 triệu m3. Ngoài khai thác gỗ nguyên liệu, các loại lâm sản ngoài gỗ cũng được ưu tiên khai thác trong giai đoạn 2011- 2015 gồm các loại như nhựa thông khoảng 3.990 tấn; song, mây: 1.045 tấn; đót: 890 tấn, tre nứa: 1,175 triệu cây.
Theo quy hoạch, tỷ lệ độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 58,32% và đến năm 2020 đạt 60,99%. Cơ cấu tỷ lệ 3 loại rừng đến năm 2020 sẽ là: rừng đặc dụng chiếm tỷ lệ 26,27%; rừng phòng hộ chiếm 30,2% và rừng sản xuất chiếm tỷ lệ 43,53%. Tổng vốn đầu tư thực hiện các hạng mục bảo vệ rừng, phát triển rừng, giao rừng cho thuê rừng, trồng cây phân tán, xây dựng các công trình lâm sinh, vườn ươm... gần 989,87 tỷ đồng.
Theo đó sẽ tạo việc làm về nghề rừng cho khoảng 18.000 lao động/năm; cung cấp hằng năm khoảng 125.000 m3 gỗ các loại cho công nghiệp chế biến, xây dựng, sản xuất hàng mộc, thủ công mỹ nghệ. (Báo Thừa Thiên Huế 10/7) đầu trang(
Nếu năm 2000, nhập khẩu gỗ từ Trung Quốc đạt khoảng 30 triệu USD thì năm 2013 con số này là 201 triệu USD.
Tuy nhiên, lượng gỗ này cũng chỉ chiếm 15% tổng gỗ nguyên liệu nhập khẩu (năm 2013 VN nhập 1.360 triệu USD gỗ nguyên liệu). VN hiện nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ 23 quốc gia gồm các nước Đông Nam Á, các nước Bắc Mỹ, các nước Mỹ La Tinh, Châu Đại Dương và EU.
Tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc đạt cao (năm 2013 đạt 740 triệu USD). So với tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2013 là 5,37 tỷ USD, sản phẩm gỗ xuất sang Trung Quốc cũng chiếm tỷ trọng đáng kể, nhưng giá trị gia tăng thấp, lợi nhuận thu lại thấp và kìm hãm quản lý rừng bền vững.
Vì chủ yếu các thương nhân của Trung Quốc mua các loại sản phẩm gỗ ở dạng sơ chế, áp dụng công nghệ thiết bị lạc hậu, cũ kỹ và không thân thiện với môi trường. 80% giá trị xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc ở dạng sơ chế như dăm mảnh, gỗ bóc… Các loại khác chỉ chiếm 20%, trong đó gỗ mỹ nghệ chiếm 5%.
Hậu quả của việc thương nhân Trung Quốc thu mua các loại sản phẩm thô nêu trên đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh về thu mua gỗ nguyên liệu. Những hoạt động thu mua trên cũng tạo ra áp lực đối với các hộ gia đình nông dân trồng rừng ở nông thôn miền núi thiếu thông tin thị trường.
Từ việc thiếu thông tin, người trồng rừng đã bán rừng non giá trị rất thấp gây thiệt hại cho cả nhà nước, DN và người dân. Giá mua 1m3 gỗ có đường kính nhỏ từ rừng trồng non chỉ thu được từ 800.000 – 1.000.000 VNĐ/m3 và năng suất chỉ đạt 60- 70m3ha, nếu được nuôi dưỡng những cánh rừng non đó thêm 2-3 năm nữa sẽ có cây gỗ có đường kính từ 18 – 25cm sẽ bán được giá từ 2.5 – 3.0 triệu đồng/m3 với năng suất sẽ đạt từ 100 – 120 m3/1ha. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc chủ yếu qua đường tiểu ngạch.
Người nông dân thấy được những lợi ích trước mắt như: giao hàng nhanh, thanh toán trực tiếp, thủ tục đơn giản và dễ trốn thuế. Ngược lại, thương lái Trung Quốc luôn thu mua bấp bênh, giá cả thấp.
Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và hệ thống giải pháp trong vấn đề xuất khẩu các mặt hàng lâm sản giữa Việt Nam – Trung Quốc. Đối với các hộ gia đình, Cty tư nhân trồng rừng tại các tỉnh phía Bắc, nhà nước cần kết hợp nhiều chính sách từ vận động đến hỗ trợ các DN chế biến gỗ liên kết.
Qua đó, người nông dân có thu nhập ổn định, đảm bảo vấn đề an sinh xã hội. DN có nguyên liệu đáp ứng sản xuất kinh doanh. Môi trường cũng được bảo vệ và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển thị trường gỗ nội địa để nâng cao năng lực cạnh tranh với đồ gỗ Trung Quốc. Cùng với đó, những chính sách khuyến khích thu hút FDI trong lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản hợp lý sẽ góp phần nâng cao giá trị và hiệu quả trong ngành này.
Nhà nước cũng cần xây dựng các trung tâm giao dịch gỗ tập trung tại 3 miền Bắc, Trung, Nam. Việc các trung tâm giao dịch hoạt động công khai minh bạch sẽ hạn chế tối đa các thương lái Trung Quốc gây rối loạn thị trường gỗ Việt Nam. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 9/7) đầu trang(
Sáng 9/7, tại Nam Định, Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN & PTNT) phối hợp với Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores) tổ chức Hội nghị xúc tiến tiếp thị sản phẩm gỗ nội địa hướng tới các làng nghề gỗ, nhằm tìm "đầu ra" cho mặt hàng này.
Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng phòng Chế biến- Cục chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, thị trường gỗ nội địa khá tiềm năng, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ ngày một tăng.
Trong khi đó, số lượng các đơn vị chế biến gỗ có quy mô vừa và lớn thực hiện đầu tư khai thác thị trường nội địa lại chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu như chỉ có các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ, cũng như các hộ chế biến thuộc các làng nghề tham gia.
Ngoài ra, với khoảng 1.000 làng nghề chế biến gỗ nhưng do thiếu kênh phân phối, sản phẩm của đồ gỗ Việt Nam, nhất là đồ gỗ của các làng nghề này khó tiếp cận với ngay cả thị trường nội địa. Việc sản xuất và tiêu  thụ đồ gỗ đa phần độc lập, khép kín theo kiểu bán buôn hoặc tự sản tự tiêu, chưa định hướng tiêu dùng nội địa…
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong lúc kim ngạch xuất khẩu gỗ đã, đang có những bước thành công vượt bậc, đáng ghi nhận thì tại thị trường trong nước, ngành gỗ Việt Nam lại đang bị lấn át bởi hàng đồ gỗ nhập khẩu hoặc có mẫu mã nhập khẩu từ nước ngoài. Nói cách khác, doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ Việt Nam mới chỉ quan tâm đến thị trường nước ngoài mà chưa quan tâm đúng mức thị trường nội địa và đang bị “thua trên sân nhà”.
Hiện nay, một số doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu đã có những thay đổi mạnh mẽ nhằm chiếm lại “thế thượng phong” tại thị trường nội địa bằng hình thức mở các cửa hàng, siêu thị nội thất hay xây dựng mạng lưới đại lý để bán lẻ nhằm khai thác các lợi thế từ thị trường này. Dù vậy, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp này là chưa tạo được thương hiệu sản phẩm để người tiêu dùng biết tới; chưa tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp thị hiếu thị trường,hệ thống phân phối và giá bán hợp lý…
Ông Nguyễn Thế Trường, Trưởng phòng Phát triển nông nghiệp nông thôn (Sở NN & PTNT Nam Định) cho biết, Nam Định hiện có khoảng 300 doanh nghiệp chế biến gỗ, tập trung tại các huyện có nhiều làng nghề như: Ý Yên, Nam Trực, Hải Hậu, Xuân Trường. Tại thị trường nội địa, doanh nghiệp chưa chú trọng đến cái thị trường cần mà mới sản xuất cái doanh nghiệp có.
Một yếu tố bất ổn nữa là doanh nghiệp làng nghề cạnh tranh một cách tự phát hoặc cạnh tranh không lành mạnh, ít thấy có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, hộ sản xuất các làng nghề gỗ trong việc tiêu thụ sản phẩm. Do đó, việc xây dựng mô hình liên kết trong tiêu thụ sản phẩm các làng nghề gỗ là hết sức cần thiết.
Để làm được việc này, các địa phương phải quy hoạch chiến lược lâu dài về xây dựng, phát triển sản xuất làng nghề trong đó có làng nghề gỗ. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích liên kết giữa làng nghề, doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường nội địa...(Công Thương 9/7; Thời Báo Kinh Tế VN 9/7, tr9) đầu trang(
Theo lộ trình thì tháng 10 tới Việt Nam sẽ tiến hành ký kết Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Chương trình hành động Thực thi lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại (FLEGT-VPA) với EU.
Tuy nhiên, hiện nhiều doanh nghiệp gỗ chưa nắm được các đòi hỏi của FLEGT cũng như chưa biết những tác động của FLEGT-VPA đối với hoạt động kinh doanh và xuất khẩu của mình sang thị trường quan trọng này.
Tại hội thảo sáng 9/7 phổ biến về FLEGT-VPA, bà Nguyễn Tường Vân, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN và Hợp tác Quốc tế - Tổng cục Lâm nghiệp, trưởng đoàn đàm phán Hiệp định FLEGT-VPA khái quát, EU là một trong bốn thị trường xuất khẩu gỗ chính của Việt Nam, chiếm tới 30% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam, các thị trường còn lại bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Việt Nam cũng là quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới, và đứng thứ 2 trong khu vực về xuất khẩu đồ nội thất, chiếm khoảng gần 4% thị phần trên thế giới. Tuy nhiên, ở thị trường nội địa các DN gần như đang bỏ ngỏ cho các DN Đài Loan hay Trung Quốc chiếm lĩnh.
Do được xác định là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ năm 2013 đạt 5,6 tỷ USD tăng 19,2% so với năm 2012. Bốn tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm đạt gần 2 tỷ USD, tăng 24,45% so với cùng kỳ năm trước. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu đạt 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm vào năm 2020 như kế hoạch ngành, theo đánh giá của Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietfores), là sẽ vượt qua mục tiêu này.
Thêm một tín hiệu tốt nữa, đó là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các DN xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, tới các quốc gia trong TPP như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia... nhờ thuế sẽ được cắt giảm.
Đồ gỗ Việt Nam sẽ có lợi thế so với đối thủ cạnh tranh lớn nhất là Trung Quốc, vì Trung Quốc chưa được tham gia TPP. Việc thực thi cam kết TPP cùng cải cách sẽ tạo dựng môi trường đầu tư minh bạch và cạnh tranh, qua đó sẽ thu hút được nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Điều này cũng dự báo, cơ hội lớn cho Việt Nam để mở rộng thị trường và thị phần gỗ, sản phẩm gỗ trên thế giới.
Thực hiện FLEGT, các quốc gia như Việt Nam sẽ phải ký kết Hiệp định đối tác tự nguyện với EU. Và các doanh nghiệp sẽ chỉ có thể xuất khẩu đồ gỗ sang EU nếu đảm bảo rằng gỗ nguyên liệu (tại chỗ hoặc nhập khẩu từ nước khác) đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp và bền vững theo quy định và quy trình tại FLEGT-VPA. Đây là yêu cầu sống còn đối với ngành đồ gỗ Việt Nam ở thị trường EU.
Vào tháng 4 vừa rồi, Trung tâm giáo dục và phát triển (CED) đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan, làm một khảo sát nhỏ tại 63 doanh nghiệp gỗ và các hiệp hội gỗ. Kết quả cho thấy, chỉ có 57% doanh nghiệp biết về FLEGT-VPA, 75% doanh nghiệp chưa biết các nội dung chủ yếu của FLEGT-VPA. Điều đáng nói là 73% các doanh nghiệp này đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội, ngoại thất sang EU.
Khảo sát cũng cho thấy, khó khăn lớn nhất của các DN gặp phải hiện nay là việc xuất trình các giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi thu mua gỗ trong dân. Một phần do nhận thức, một phần do thói quen lưu trữ hồ sơ hạn chế của người dân và sự thiếu thống nhất về các yêu cầu giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ.
Thêm vào đó, như đã nói ở trên, do nhu cầu thị trường đồ gỗ nội thất thế giới ngày một tăng cao nên buộc các DN gỗ Việt Nam phải nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ các nước lân cận. Nếu không kiểm soát tốt nguồn gốc xuất xứ, những sản phẩm này sẽ bị quy vào khai thác bất hợp pháp. (Công Thương 9/7) đầu trang(
Trong khi nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh chưa thể hoàn thành công tác trồng rừng năm 2014 theo đúng tiến độ thì huyện Chợ Mới đã trồng rừng vượt kế hoạch đề ra.
Năm nay, huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng 1.600ha rừng. Tính đến cuối tháng 6 vừa qua, người dân đã trồng được gần 1.610ha, vượt 10ha so với kế hoạch. Trong đó, diện tích trồng rừng tập trung là hơn 1.200ha, trồng rừng phân tán là hơn 150ha, Lâm trường Chợ Mới trồng được 50ha, người dân tự trồng hơn 112ha. Các loại cây trồng rừng được người dân ở đây chọn vẫn là các loại cây quen thuộc như: Keo, mỡ, quế và một diện tích nhỏ cây hồi tại các xã phía Đông.
Nguyên nhân làm cho diện tích trồng rừng năm nay ở Chợ Mới tăng là do vài năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn huyện phát triển khá mạnh nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ gỗ rừng trồng. Vì vậy, người dân chủ động mở rộng diện tích rừng trồng mới để phát triển kinh tế từ trồng rừng sản xuất. (Đài PTTH Bắc Kạn 9/7) đầu trang(
Trong năm 2014, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn đầu tư hơn 4 tỷ đồng để xử lý nước thải của hai nhà máy sản xuất giấy.
Hiện nay, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn đang khẩn trương đầu tư, lắp đặt thiết bị, dây chuyền xử lý nước thải của Nhà máy sản xuất giấy Trúc Bách Bảo Hà (xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên) với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng (trong đó vốn của doanh nghiệp 30%, còn lại 70% là vốn vay).
Đây là dây chuyền được đầu tư với công nghệ hiện đại, công suất 300 m3/ngày – đêm, đảm bảo xử lý triệt để hóa chất trong quá trình chế biến lâm sản trước khi xả thải ra môi trường.
Sau khi đưa vào vận hành tại Nhà máy sản xuất giấy Trúc Bách Bảo Hà, theo lịch trình đến ngày 20/7 công ty sẽ tiếp tục tiến hành lắp đặt một dây chuyền tương tự tại Nhà máy sản xuất giấy Sơn Thủy (xã Sơn Thủy, huyện Văn Bàn) nhằm khắc phục tình trạng hạn chế của dây chuyền xử lý nước thải cũ trước đây.
Tổng vốn đầu tư cho công tác xử lý nước thải sản xuất, chế biến lâm sản của công ty trong năm nay hơn 4 tỷ đồng. (Báo Lào Cai 9/7) đầu trang(
100% cư dân trên địa bàn xã Mường Nhà (huyện Điện Biên) sinh sống bằng nghề nông nghiệp. Vì vậy, để bà con hiểu được tầm quan trọng của việc giữ gìn tài nguyên rừng, những năm qua, chính quyền địa phương tích cực phối hợp với các lực lượng chức năng tuyên truyền, vận động nhân dân nhận khoanh nuôi bảo vệ và phát triển diện tích rừng trồng mới. Đến nay, tỷ lệ che phủ rừng toàn xã đạt 58%.
Xã Mường Nhà có tổng diện tích đất lâm nghiệp trên 9.300ha; trong đó, chủ yếu là đất rừng phòng hộ (chiếm gần 70%), còn lại là đất rừng sản xuất. Mục tiêu cơ bản Nghị quyết của HĐND xã khóa 19 là: "Tăng cường bảo vệ diện tích rừng hiện có; tích cực trồng rừng bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng, giữ vững độ che phủ rừng".
Để đạt được mục tiêu, chính quyền địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo Phòng cháy chữa cháy rừng, cụ thể hóa nghị quyết để xây dựng phương án, kế hoạch phòng cháy chữa cháy, quản lý bảo vệ rừng phù hợp với tình hình thực tế từng thôn bản; đồng thời, giao trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng tới từng trưởng thôn, bản, đội trưởng đội phòng cháy chữa cháy rừng theo từng địa bàn được giao; xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng.
Cùng với đó, chính quyền địa phương đã phối hợp với các tổ chức hội, đoàn thể, lực lượng công an, quân sự, Đồn Biên phòng 431 đóng trên địa bàn tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định xử phạt hành chính lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng... tới nhân dân. Hiện nay, xã có 14 đội phòng cháy chữa cháy rừng - quản lý bảo vệ rừng với 140 thành viên, tham gia phòng cháy chữa cháy rừng tại cơ sở (được trang bị cuốc, xẻng, dao quắm...).
Các đội PCCCR thường xuyên tuần tra kiểm soát rừng, nhất là khu vực rừng nguy cơ cao xảy ra cháy rừng trong mùa khô; khu vực rừng Phu Luông giáp ranh các xã Phình Giàng, Pú Hồng (huyện Điện Biên Đông) thường xảy ra tình trạng xâm canh, phá rừng làm nương.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, 100% hộ trong xã ký cam kết bảo vệ rừng. Nhiều biển báo, biển cấm xâm hại rừng, biển tuyên truyền giữ rừng được đặt ở vị trí thuận lợi cho người dân quan sát để nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng, tố giác đối tượng có hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Bên cạnh đó, công tác chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng được tích cực thực hiện. Đến nay, 100% diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn được giao cho người dân tại 14 bản chăm sóc bảo vệ; bà con tích cực chăm sóc trên 32.700 cây keo tai tượng trồng phân tán. Nhờ đó, cây trồng phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt cao (trên 90%).
Ông Vì Văn Đông, Chủ tịch UBND xã Mường Nhà cho biết: Trồng, chăm sóc bảo vệ rừng thời gian đầu vất vả, nhưng bà con được Nhà nước hỗ trợ gạo nên bớt phần lo thiếu lương thực, trong khi cây rừng xanh tốt góp phần tăng độ che phủ rừng, hạn chế tình trạng đất trống, đồi trọc, xói mòn, rửa trôi. Như vậy, bảo vệ rừng tốt không chỉ đem lại nguồn lợi trước mắt mà cho cả mai sau.
Nhằm giúp người dân hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giao đất giao rừng, thời gian qua, chính quyền địa phương đã tích cực phối hợp với đơn vị tư vấn, cơ quan chức năng của huyện Điện Biên tổ chức họp dân tuyên truyền, phổ biến về nội dung Kế hoạch 388 của UBND tỉnh về công tác giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Qua đó, nhận được sự đồng thuận trong quá trình rà soát, phân loại trạng thái, trữ lượng rừng. Việc xác định chủ rừng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân yên tâm bảo vệ rừng mà còn phát triển nghề lâm nghiệp để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống.
Qua rà soát, phần lớn diện tích rừng của xã thuộc đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ, sẽ giúp người dân hưởng lợi trực tiếp từ rừng, gắn bó, trách nhiệm hơn trong việc giữ rừng. (Báo Điện Biên Phủ 9/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng