Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn (Văn Bàn) vẫn diễn ra tình trạng khai thác, chặt phá gỗ rừng trái phép. (Nhân Dân 9/7, tr7) đầu trang(
Đặc sản của miền Nam "gây bão" trong thị trường nhiều ngày qua hiện bắt đầu được rao bán tại Hà Nội với giá 460.000 - 480.000 đồng/kg.
Phương Liên (SV năm 3 đại học Lao động Xã hội) đã gặt hái nhiều thành công từ việc buôn hạt đác Nha Trang tại thủ đô. Nay thấy hạt ươi đang được khách Hà Nội để ý và tìm mua nhiều, Liên nhanh nhạy tìm nguồn nhập ngay về bán tại Hà Nội với giá 460.000 - 480.000 đồng/kg.
Liên chia sẻ, cô nhập hàng qua đầu mối ở Quảng Trị. Năm nay hạt ươi tuy được mùa nhưng lại quá đắt hàng nên nguồn nhập khan hiếm và giá nhập thì cao ngất. Để đảm bảo chất lượng hàng ra tới Hà Nội, Liên nhờ người đóng túi hút chân không, bảo quản kỹ trong thùng xốp.
Nhập buôn với giá gần 400.000 đồng/kg chưa kể chi phí vận chuyển, đóng gói, bù trừ hạt lỗi, hỏng nhưng Liên cũng chỉ dám bán ra với giá 460.000 đồng/kg nhằm “lấy lòng khách là chính”. Mới rao bán hạt ươi được vài ngày nhưng Liên đã hết ngay đợt hàng đầu tiên và có danh sách khách chờ hàng đợt tới.
Chị Mai Hạnh (Pháo Đài Láng, Hà Nội) cho biết, hạt ươi ngoài việc chế biến được nhiều món ăn, giải khát rất ngon và bổ thì còn có tác dụng chữa bệnh. Chị mua hạt ươi về vừa để ăn, vừa để chữa bệnh gai cột sống cho bố. Trong lần đi công tác miền Nam, tình cờ chị biết đến loại hạt này, từ đó năm nào cũng nhờ người quen ở Quảng Ngãi mua và gửi ra Hà Nội.
Chị Hạnh chia sẻ, năm trước vẫn mua lẻ hạt ươi từ trong Nam chuyển ra Hà Nội với giá 200.000 đồng/kg, có đợt chỉ 150.000 đồng/kg. Không ngờ năm nay giá hạt ươi tăng vọt lên như vậy. Cách đây hai hôm chị Hạnh nhờ người quen mua hạt ươi tại Quảng Ngãi với giá 320.000 đồng/kg, gửi ra Hà Nội thêm cả tiền vận chuyển 60.000 đồng/kg là 400.000 đồng/kg, đắt gấp đôi năm trước.
Anh Hiếu (Long Biên, Hà Nội) rao bán hạt ươi tại Hà Nội trên một số diễn đàn với giá 465.000 đồng/kg. Tự thấy giá bán ra khá cao, anh Hiếu giải thích: “Một tháng trước nhà tôi vẫn bán 350.000 đồng/kg. Nhưng giờ trong kia đang cấm dân khai thác hạt ươi rồi, khách mua lại tăng vọt nên giá tăng là đương nhiên. Mối nhập buôn của tôi cũng đang không đủ hàng giao cho khách”.
Trong khi đó, tại Quảng Ngãi, Quảng Nam... ngày ngày vẫn có hàng đoàn người đổ vào rừng để nhặt hạt ươi. Giá hạt bán tại địa phương này dao động 250.000 đến 300.000 đồng/kg. Nhiều người căng lều, lán tại rừng, triệt hạ cây ươi để lấy hạt.
Ươi, còn gọi là đười ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora. Đặc điểm của cây đười ươi là chỉ mọc ở miền Nam, không có ở miền Bắc, vì thế nó còn có tên là an nam tử (tử là hạt). Dân gian hay dùng riêng trái đười ươi, hay kết hợp với hạt é ngâm nước có pha ít đường dùng để giải khát. (Bảo Vệ Pháp Luật 8/7) đầu trang(
Hưởng ứng Ngày Quốc tế đa dạng sinh học 22/5/2014 với chủ đề “Đa dạng sinh học đảo”, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố đồng loạt tổ chức hoặc lồng ghép tổ chức nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực nhằm tuyên truyền, vận động, giáo dục các tổ chức, cộng đồng và cá nhân về đa dạng sinh học, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ.
Tổ chức treo hàng trăm băng rôn, pano, áp phích; ra quân làm vệ sinh môi trường, thu gom, xử lý được 123.196 m3 rác, trồng và chăm sóc hơn 85.000 cây xanh, thu hút hàng nghìn người tham gia; tổ chức các buổi tập huấn, hội thi; phát sóng và đưa tin hàng trăm tin bài có nội dung liên quan đến bảo vệ, bảo tồn Đa dạng sinh học. (Langson.gov.vn 9/7) đầu trang(
Mặc dù, Việt Nam đã  nỗ lực trong bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) nhưng, công tác bảo tồn ĐDSH vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi mọi hoạt động đều chờ nguồn kinh phí cung từ ngân sách...
Theo Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước quy định để tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường, hàng năm NSNN chi không dưới 1% tổng chi.
Tuy nhiên, trước tình hình kinh tế gặp rất nhiều khó khăn như hiện nay thì việc thắt chặt hầu bao đối với chi tiêu công trong đó có ngân sách cho sự nghiệp môi trường cũng bị ảnh hưởng. Chính từ đó, tài chính cho bảo tồn ĐDSH cũng bị ảnh hưởng từ những hệ lụy trên.
Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn - Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Bộ TN&MT cho rằng: Tài chính được xác định là trong một vấn đề trọng tâm cần tháo gỡ trong bối cảnh bảo tồn ĐDSH hiện nay.
Theo bà Nhàn, hiện nay đầu tư cho bảo tồn chủ yếu là nguồn tài chính truyền thống từ ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ; thiếu các cơ chế tài chính mới cho bảo tồn. Nguồn lực tài chính hiện không đủ đầu tư trực tiếp cho bảo tồn ĐDSH còn ít, chủ yếu tập trung cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Cũng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hiện ngân sách Nhà nước vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong nguồn tài chính cho bảo tồn. Và với mức đầu tư ngân sách cho bảo tồn ĐDSH của nước ta như hiện nay so với mặt bằng chung của nhiều nước thuộc mức trung bình nhưng cao hơn một số nước có điều kiện kinh tế hơn chúng ta như Thái Lan, Slovakia, Belarus…
Phân tích về bất cập trong chính sách tài chính cho bảo tồn của Việt Nam, GS. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam cho biết: “Sai lầm của chúng ta chính là đã bỏ ra ngân sách quá lớn để bảo tồn thay vì huy động vốn từ cộng đồng địa phương, từ các doanh nghiệp, từ các tổ chức, cá nhân…”.
Thực tế cho thấy, có rất nhiều chương trình bảo tồn ĐDSH rơi vào tình trạng chết yểu, phải ngừng hoạt động vì hết ngân sách hoặc không tìm được nguồn viện trợ từ các tổ chức quốc tế. Chính điều này đã gây ra lãng phí và thất thoát cho ngân sách Nhà nước và không đạt được hiệu quả nhất định.
Nhiều ý kiến chuyên gia cũng bày tỏ quan điểm, chúng ta đừng vội tự hào khi cho rằng nguồn đầu tư cho bảo tồn của nước ta cao hơn một số nước khác. Bởi, chúng ta có rất nhiều những khu bảo tồn đang gìn giữ và bảo vệ những thảm động thực vật vào dạng quý giá nhất của quốc gia, thậm chí là quốc tế, những khu này nếu biết cách quản lý và khai thác sẽ mang lại nguồn thu lớn mà không cần tới nguồn kinh phí từ ngân sách. Thái Lan là một nước như vậy, VQG Khao Yai của Thái Lan, cũng thành lập cùng năm với VQG Cúc Phương của Việt Nam và cũng quản lý diện tích trên 20 nghìn ha, nhưng một năm họ có 2 triệu khách du lịch và họ không cần đến ngân sách đầu tư của Nhà nước.
Trên thực tế, cũng đã có nhiều hoạt động của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu khoa học… được triển khai tại các địa phương nhằm cứu một số loài nguy cấp thoát khỏi nạn diệt vong, đồng thời giúp khôi phục nhiều hệ sinh thái bị suy thoái.
Tuy nhiên, để công tác bảo tồn đa dạng sinh học đạt hiệu quả cao hơn theo Giáo sư Võ Quý, Chủ tịch Hội Sinh thái học Việt Nam (ESV) thì Việt Nam chúng ta cần sớm hoàn thành một số mục tiêu sau:
Thứ nhất, cần kiểm kê, lập hồ sơ tất cả các mức độ đa dạng sinh học từng vùng và trên cả nước.Để thực hiện được công việc này, cần gấp rút đào tạo đội ngũ các nhà phân loại học mà hiện nước ta đang rất thiếu.
Thứ hai, cần tìm hiểu các mức độ tác động của con người lên các loài, các gen và các hệ sinh thái để có biện pháp hữu hiệu nhằm giảm bớt tổn thất.
Thứ ba, phát triển các quan điểm, cách tiếp cận để ngăn ngừa sự mất mát các loài, đồng thời bảo tồn được đa dạng gen trong các loài; bảo vệ và phục hồi các quần xã sinh học cùng các hệ sinh thái và chức năng của các hệ sinh thái.
Đặc biệt, cần sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học một cách khôn khéo để đem lại cuộc sống ấm no, bền vững cho mọi người, nhất là những người dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa vốn chủ yếu sống dựa vào việc khai thác thiên nhiên.
PGS Nguyễn Đình Hòe, Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam (VACNE) cho rằng, hiện cần phân định rõ trách nhiệm và tránh tình trạng chồng chéo trong quản lý ĐDSH giữa các Bộ chủ quản như Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT.
Các Bộ ngành cần phải có sự phối hợp chặt chẽ tránh tình trạng thiếu nhất quán trong nhiệm vụ lập quy hoạch bảo tồn ĐDSH. Bên cạnh đó, chúng ta cần nghiên cứu, khuyến khích, nhân rộng những gương sáng, những mô hình cộng đồng trong quản lý ĐDSH mặt khác phải gắn chặt quyền lợi của cộng đồng với quyền lợi của các khu bảo tồn. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/7, tr7) đầu trang(
Mùa cây ươi cho trái cũng là lúc những cánh rừng già ở Bình Định bị băm nát bởi mỗi ngày có đến hàng trăm người đổ xô vào rừng tìm chặt cây ươi.
Anh V. ở xã Nhơn Tân (TX An Nhơn) kể, hầu như cánh rừng nào cũng có cây ươi, nhưng tùy khí hậu từng vùng miền mà mùa ươi ở đó đến sớm hay muộn. Ví như ở Đồng Nai, mùa mưa ở tỉnh này đến sớm nên mùa ươi đã kết thúc từ 2 tháng trước, bởi khi mưa đổ xuống là ươi nở hết trên cây không thu lượm được.
Những người làm ươi ở Đồng Nai tiếp tục tràn ra những cánh rừng miền Trung để khai thác ươi. Không chỉ vậy, lực lượng săn ươi ở đây ngoài người dân địa phương, dân Đồng Nai, còn có cả người Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên tham gia.
"Hiện nay, ngày cao điểm có đến 400 - 500 người đổ dồn vào những cánh rừng nằm quanh làng Canh Tiến (Vân Canh, Bình Định) thuộc khu rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Núi Một để săn ươi. Ở quê tui, nhiều làng đi trống người, không chỉ thanh niên mà đến cả phụ nữ cũng tham gia.
Xưa nay người dân địa phương đi săn ươi chỉ làm theo cách truyền thống là lượm ươi bay, nghĩa là lượm ươi chín rụng quanh gốc. Ai táo tợn lắm cũng chỉ leo lên cây dùng rựa mé nhánh để hái ươi xanh nên bây giờ rừng vẫn còn ươi để làm.
Năm nay nhiều người tỉnh khác về, họ làm theo kiểu “ăn xổi ở thì” nên không cần gìn giữ cho sau này, đụng cây nào xào cây nấy, dùng cưa máy hạ cây ngã xuống hái cả trái non”, V. chia sẻ.
Thời điểm này những cây ươi trên rừng vào mùa chín rộ nên thu hút lực lượng săn ươi càng đông. Bởi khi ươi chín thì bay (rụng) nhiều, mà đây là loại ươi đang có giá cao.
V. cho biết: “Cách đây 2 tháng, ươi mới vào đầu mùa nên còn xanh, ươi bay (ươi chín) rất hiếm nên có giá cao, đến 250.000 đ/kg. Giờ toàn bộ những cây ươi trên rừng đang chín rộ nên giá ươi bay có hạ nhưng vẫn còn bán được 170.000 đ/kg.
Không phải là ươi bay, những quả ươi vẫn còn ở trên cây nhưng đã già, quả ngả màu da bò cũng đang có giá khá cao, 80.000 đ/kg. Ươi xanh giá dù thấp nhưng hiện vẫn bán được từ 30.000 - 35.000 đ/kg. Do đó, nhiều người mới bất chấp, cưa hạ cả cây để hái ươi”.
Sau khi gửi xe tại làng Canh Tiến (Vân Canh), V nói: “Tui chỉ dắt ông lên cánh rừng núi Hòn Ông để ông chụp hình cây ươi bị cưa hạ rồi tui đi làm. Ông mà có sức đi lên núi cao với tui thì chụp cả ngày vẫn không hết cảnh cây ươi bị tàn phá”.
Sau 2 giờ đồng hồ đi bộ, tôi bắt đầu trông thấy cảnh rừng bị “chảy máu” khắp nơi. Có thể nói thế này, nơi nào có cây ươi là cây ấy bị đốn hạ. Chỉ loanh quanh trong 1 khoảnh rừng nhỏ mà tôi đã thấy hàng chục cây ươi có đường kính 30 - 70 cm nằm phơi xác. Để có chỗ đặt cưa, “ươi tặc” còn phá rất nhiều loại cây nhỏ hơn mọc quanh cây ươi.
V nói: “Nhằm nhò gì, nhiều cây có đường kính cả mét cũng bị hạ gục. Càng đi lên núi cao cảnh tàn phá ươi càng dày. Những người làm ươi theo kiểu truyền thống như tui nhìn những gốc ươi bị cưa hạ còn thấy đau lòng huống gì mấy ông”.
Tìm hiểu thêm từ những nhóm dân địa phương đi làm ươi kiểu truyền thống như V. tình cờ gặp trong rừng, PV được biết thêm, mỗi nhóm chuyên cưa ươi có khoảng 10 người. Mỗi ngày 1 chiếc cưa hạ khoảng 20 cây. Trong khi đó theo nhận định của những người làm ươi, hiện những cánh rừng ở Vân Canh mỗi ngày phải chịu sự tàn phá của vài chục chiếc cưa như vậy.
Anh T., cũng ở cùng quê với V., bộc bạch: “Tui đi 2 cha con, ngày nào trúng mỗi người lượm được 6 - 7 kg ươi bay kiếm được 1 triệu đồng/người. Bọn chuyên đi cưa ươi thì thu nhập cao vô kể, cưa 1 ngày 20 cây thì hái quả mang về không hết”.
Theo một số lão niên ở làng Canh Tiến, cây ươi không có chu kỳ ra trái cố định. Lần gần nhất rừng ươi ở Canh Tiến cho trái cách đây đã 13 năm. Năm nay ươi ở đây cho trái, dân chưa kịp vui thì đã kinh hoàng trước kiểu tận diệt ươi của những kẻ lạ. Mỗi ngày có hàng trăm người ùn ùn kéo về khai thác ươi. (Nông Nghiệp VN 9/7, tr19) đầu trang(
Sáng 07/7, Ban quản lý Chương trình UN – REED giai đoạn II tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức Hội thảo liên tỉnh về công tác bảo vệ rừng nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong công tác phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng giữa 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Tham dự có đại diện Tổ chức quốc tế FAO, Giám đốc chương trình UN-REED Việt Nam; đại diện Sở Nông nghiệp&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm và UBND các huyện giáp ranh của cả 3 tỉnh. Ông Lê Đình Sơn, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh đã đến tham dự và chỉ đạo Hội thảo.
Hà Tĩnh, Quảng Bình và Nghệ An là 3 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, nằm phía đông của dãy Trường Sơn, có diện tích rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp lớn trong cả nước (Nghệ An 1.160.239 ha; Hà Tĩnh 364.800 ha; Quảng Bình 648.087 ha).
Cả 3 tỉnh đều chung hoàn cảnh bị ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu, từ đầu năm đến nay mặc dù đã triển khai bài bản các phương án nhưng vẫn xảy ra nhiều vụ cháy rừng, đặc biệt ở khu vực giáp ranh giữa các tỉnh.
Thêm vào đó Hà Tĩnh với 2 tỉnh bạn có chung nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua, bên cạnh những thuận lợi là các thách thức trong công tác ngăn chặn hành vi buôn bán lâm sản và động vật hoang dã trái phép trong nước và xuyên biên giới. Vì vậy, Hội thảo là cơ hội để các tỉnh trao đổi thông tin, kinh nghiệm và đặc biệt đi đến thống nhất trong sự phối hợp về công tác BVR, PCCCR giữa 3 tỉnh.
Tại Hội thảo, Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm 3 tỉnh đã trình bày tham luận về công tác bảo vệ rừng, PCCCR; tổ chức thảo luận, tiếp thu ý kiến đóng góp từ các đại biểu và cùng nhau ký kết Biên bản Ghi nhớ giữa Sở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình về hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và kiểm soát, ngăn chặn những hành vi buôn bán, vận chuyển gỗ lâm sản và các loài động vật hoang dã trái phép trong giai đoạn 2014 đến 2020.
Ba bên đã đi đến những thỏa thận chung về trao đổi thông tin và kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng, PCCCR; về hỗ trợ, phối hợp ngăn chặn khai thác, săn bắn, buôn bán và vận chuyển gỗ, lâm sản và động thực vật hoang dã trái phép. Đồng thời tỉnh Hà Tĩnh cũng đã ký kết những thỏa thuận cụ thể với tỉnh Quảng Bình và Nghệ An.
Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự phối hợp về công tác bảo vệ rừng, PCCCR giữa 3 tỉnh Bắc Trung bộ, đánh dấu sự hợp tác chặt chẽ, nỗ lực thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, hạn chế thấp nhất sự suy thoái rừng, chung tay phát triển rừng bền vững. (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Hà Tĩnh 8/7) đầu trang(
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 4(khóa XI) và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND huyện Đức Cơ đã tập trung chỉ đạo các ngành chức năng và các chủ rừng chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Nhờ đó số vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn có chiều hướng giảm đáng kể.
Xác định công tác quản lý và bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhất là trong thời gian qua trên địa bàn huyện xảy ra một số “điểm nóng” trong công tác này nên UBND huyện Đức Cơ luôn tăng cường công tác chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp để lập lại trật tự trong công tác giữ rừng.
UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, thành lập các đoàn liên ngành để thường xuyên tổ chức tuần tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Ông Trịnh Văn Thành- Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Cơ khẳng định: Huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng như Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, Công an, Biên phòng tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; tuần tra kiểm soát các phương tiện giao thông, tuần tra biên giới nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng.
Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ Đức Cơ được giao quản lý, bảo vệ hơn 14.700 ha đất lâm nghiệp, thời gian qua đã thành lập nhiều chốt chặn tại các vị trí, nhất là tại các cửa rừng và  phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm, Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh để xây dựng các phương án đấu tranh truy quét các đối tượng phá rừng, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép tận gốc; đồng thời tăng cường triển khai công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Nhờ vậy không để tiếp tục xảy ra các “điểm nóng” về phá rừng. Tuy nhiên, địa bàn khu vực biên giới Đức Cơ rộng nhưng số lượng người, phương tiện ra vào ngày càng đông và nhu cầu có đất để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày ngày càng cao, trong khi đó một số cơ chế chính sách còn bất cập đã đặt ra những khó khăn và những áp lực mới trong công tác quản lý và bảo vệ rừng ở huyện.
Ông Bùi Văn Tịnh- Phó Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Đức Cơ cho biết về những khó khăn của đơn vị: Khó khăn là sự tăng dân số quá nhanh, trong đó tăng dân số do di cư tự do nên đặt ra khó khăn và sức ép trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Thứ hai là hệ thống đường giao thông trên tuyến biên giới rất thuận lợi nên cũng tạo ra sức ép trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Thứ 3 là có hai đội sản xuất cao su ở trong khu vực lâm phần quản lý với lưu lượng người vào nhiều nên gây khó khăn trong quản lý rừng.
Nhưng với tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, nâng cao trách nhiệm, cùng “vào cuộc” triển khai nhiều biện pháp quyết liệt nên công tác quản lý và bảo vệ rừng ở huyện Đức Cơ đã có chuyển biến tích cực. Trong 6 tháng đầu năm nay, các ngành chức năng trong huyện đã phát hiện và xử lý 53 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu hơn 80m3 gỗ các loại, giảm 36 vụ so với cùng kỳ.
Các ngành chức năng đã tịch thu và xử lý hàng trăm phương tiện, nhất là xe máy độ chế để vận chuyển gỗ trái phép; buộc hơn 10 hộ tháo dở lán trại trên đất lâm nghiệp, tiến hành khởi tố 6 vụ phá trái phép hơn 10ha rừng.
“Về các giải pháp sắp tới là Hạt đã tham mưu cho huyện xây dựng lại qui chế phối hợp hoạt động giữa các ngành chức năng để triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng chặt chẽ hơn. Hạt quản lý chặt chẽ hơn đầu ra và đầu vào gỗ của các doanh nghiệp. Thứ nữa là đối với những địa bàn trọng điểm thì bố trí cán bộ nhân viên có đủ bản lĩnh và phẩm chất đạo đức để đảm nhận nhiệm vụ…”. Ông Bùi Quang Thịnh- Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ cho biết.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của UBND huyện Đức Cơ, tin rằng những hạn chế và tồn tại trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương sẽ tiếp tục được chấn chỉnh, khắc phục, và việc triển khai công tác này trong thời gian tới sẽ chặt chẽ, đồng bộ và mang lại những kết quả tốt hơn. (Báo Gia Lai 7/7) đầu trang(
Trước tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, UBND huyện Vân Canh đã chỉ đạo Hạt kiểm Lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, UBND các xã, thị trấn và các ngành, đơn vị liên quan thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo vệ rừng.
UBND các xã, thị trấn, các chủ rừng kiểm kê, thống kê toàn bộ diện tích rừng trồng trên địa bàn mình quản lý, phân định rõ diện tích đã được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích do phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
UBND các xã, thị trấn thông báo đến các hộ gia đình và các chủ rừng biết, trong quá trình khai thác phải thực hiện theo quy định của thông tư số 35 ngày 20/5/2011 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn khai thác tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Trước khi khai thác rừng trồng, các tổ chức, cá nhân và các chủ rừng phải đăng ký khai thác tại UBND xã, thị trấn. Những diện tích rừng trồng  đã được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND xã, thị trấn cấp giấy phép cho khai thác, chủ rừng có trách nhiệm lập bảng kê lâm sản để vận chuyển đi tiêu thụ; những diện tích rừng trồng do phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND các xã, thị trấn cương quyết khoanh lại không cho khai thác để lập hồ sơ xử lý theo pháp luật, chờ ý kiến của cấp có thẩm quyền cho phép mới được khai thác, sau khi khai thác xong phải trả lại đất cho UBND xã, thị trấn và các chủ rừng quản lý xử dụng đúng mục đích.
UBND các xã, thị trấn phối hợp Công an huyện, Hạt kiểm lâm tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện những tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quy trình khai thác gỗ theo quy định của thông tư số 35 ngày 20/5/2011 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn để lập hồ sơ xử lý theo pháp luật.
Thực hiện giải pháp trên là biện pháp tối ưu để huyện Vân Canh  làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn và tổ khoanh nuôi tái sinh phục hồi diện tích rừng quy hoạch chức năng phòng hộ đã bị phá; phát triển, bảo vệ rừng phòng hộ, đáp ứng yêu cầu cải thiện môi trường sinh thái. (Báo Bình Định 8/7) đầu trang(
Do thời tiết khô nóng vẫn tiếp diễn cộng với độ ẩm thấp khoảng 48% ở khu vực Nam Trung bộ, nên nguy cơ cháy rừng rất dễ xảy ra.
Tại các tỉnh Phú Yên và Bình Định đều được cảnh báo cháy ở mức độ cao nhất là cấp 4, cấp 5, thời tiết cả hai khu vực này đều đạt từ 36-37 độ C, có nơi đạt 38,5 độ C. (Tin Tức 9/7; Nhân Dân 9/7, tr5) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Núi Thành xảy ra 4 vụ cháy rừng thông với diện tích 67.277m2.
Hiện tại, nắng nóng kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, Hạt Kiểm lâm huyện Núi Thành và các địa phương tăng cường công tác quản lý việc canh tác nương rẫy và đốt dọn thực bì rừng trồng sau khi khai thác của nhân dân.
Hạt Kiểm huyện cũng rà soát các xã vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; tổ chức trực dự báo nguy cơ cháy rừng tại Trạm Kiểm lâm địa bàn số 1 để cung cấp kịp thời thông số liên quan đến công tác dự báo cháy rừng.
Hạt Kiểm lâm huyện còn phân công cán bộ trực phòng cháy chữa cháy rừng 24/24 giờ suốt mùa khô hanh, tổ chức ký hợp đồng với 11 cá nhân tại địa phuơng thực hiện chuyên trách công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, tu sửa 2 bản quy ước tuyên truyền công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng tại xã Tam Mỹ Tây và Tam Thạnh. (Báo Quảng Nam 8/7) đầu trang(
Ngày 7.7, tin từ UBND tỉnh Quảng Bình cho biết, đã thành lập đoàn thanh tra liên ngành tiến hành thanh tra toàn diện các hoạt động của Cty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, trong đó kết luận thanh tra đối với trường hợp sử dụng thuốc diệt cỏ để xử lý thực bì và dọn rừng của Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch.
Theo đó, việc các hộ gia đình nhận khoán sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để phun xử lý thực bì là không thực hiện đúng quy trình theo quy định của Bộ NN-PTNT. Các hộ gia đình sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để phun xử lý thực bì mà không kịp thời thu gom các vỏ chai theo quy định về bảo vệ môi trường là vi phạm quy định của điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ.
Đồng thời, Lâm trường Bố Trạch đã không thực hiện lập bản cam kết bảo vệ môi trường mà tiến hành khai thác và xử lý thực bì tại các khoảnh 2 và 5 của tiểu khu 237 có 3 vị trí có độ dốc lớn nhưng vẫn đưa vào thiết kế trồng rừng khi chưa đánh giá tổng thể về những tác động của môi trường là vi phạm các quy định của Chính phủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Trước những sai phạm trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức kiểm điểm và xử lý trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những tập thể và cá nhân liên quan. Trước đó, báo Lao Động đã có các bài phản ánh về việc Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch xử lý đốt thực bì và trồng rừng trên một số diện tích có độ dốc lớn, diện tích thiết kế trồng rừng gần khe, suối, và xử lý thực bì bằng việc phun thuốc hóa chất diệt cỏ, vứt chai lọ đựng thuốc BVTV bừa bãi đã gây ảnh hưởng đến môi trường, gây bất bình trong nhân dân. (Lao Động 8/7) đầu trang(
Chiều 7-7, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã chủ trì tổ chức Lễ ký kết “Quy chế phối hợp giữa Kiểm lâm - Công an - Quân sự - Biên phòng trong công tác bảo vệ rừng”.
Lễ ký kết góp phần đẩy mạnh việc phối hợp, ngăn ngừa, đấu tranh của các lực lượng chức năng với các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ và phát triển rừng trong tương lai.
Qua hơn 10 năm thực hiện Quy định Liên ngành số 193 đã phát huy tác dụng tích cực, là cơ sở pháp lý để các ngành, các cơ quan đơn vị chức năng liên quan xác định trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, việc phối hợp theo Quy định Liên ngành 193 cũng bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến hiệu quả của công tác đấu tranh với các đối tượng vi phạm pháp luật không mang lại hiệu quả cao. Nhiều lúc các đơn vị thực hiện còn chồng chéo, gây ra những khó khăn nhất định.
Do vậy, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan chỉnh sửa và tổ chức hội thảo, lấy ý kiến của các ban ngành liên quan để đưa ra quy chế phối hợp liên ngành thay thế Quy định Liên ngành 193.
Tại buổi lễ, ông Trần Văn Tuân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đã yêu cầu các đơn vị liên quan cần liên kết chặt chẽ với nhau để phối hợp ngăn ngừa, đấu tranh đối với các đối tượng là lâm tặc, các đầu nậu gỗ… để phát huy lợi thế to lớn của rừng, phục vụ đời sống của nhân dân và sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Bình. (Biên Phòng 8/7) đầu trang(
Ngày 8-7, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên có báo cáo UBND tỉnh và Cục Kiểm lâm Việt Nam về sự xuất hiện của hai cá thể nghi là bò tót thường xuyên xuất hiện vào ban đêm ăn phá nương rẫy của người dân ở xã Xuân Quang 1, huyện Ðồng Xuân.
Đồng thời đề nghị Cục Kiểm lâm và Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (Công ước thương mại quốc tế về các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) tiếp nhận và giám định các mẫu phẩm thu thập được từ hai cá thể để có kết luận chính xác.
Từ ngày 2 đến 5-7, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức đoàn công tác khảo sát tìm kiếm sâu vào rừng, phát hiện nơi con bò ẩn náu. Tại hiện trường, đoàn khảo sát phát hiện nhiều dấu chân, phân, nước tiểu, lông bò.
Từ kết quả thu thập được bước đầu Chi cục Kiểm lâm Phú Yên nhận định, đây là loài động vật thuộc họ trâu bò (Bovidae), bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) và có khả năng là loài bò tót. (Nhân Dân 9/7, tr2) đầu trang(
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ, hiện nay BR-VT có hơn 10.000 ha rừng phòng hộ với 3 loại rừng: Rừng phòng hộ đầu nguồn có diện tích 4.300 ha, rừng phòng hộ chắn cát 1.200ha và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biến có diện tích 5.000ha.
Giai đoạn 2013-2015, mỗi năm có khoảng 500ha rừng đưa vào giao khoản bảo vệ với tổng vốn đầu tư cho công tác này gần 10 tỷ đồng. Theo Sở NN-PTNT, việc tiếp tục giao khoản bảo vệ rừng phòng hộ hàng năm nhằm mục tiêu tạo ra hệ thống rừng có chức năng phòng hộ đầu nguồn chống xói mòn, phòng hộ ven biển, bảo vệ nguồn gien thực vật, cung cấp nơi du lịch, giải trí…
Từ năm 2008 đến nay, BR-VT trồng được 5.000 ha rừng tập trung và gần 10.000 ha rừng được khoanh nuôi tái sinh; tỷ lệ che phủ cây xanh đạt đạt 44%, tỷ lệ che phủ rừng đạt 113%.
Diện tích rừng trồng đã phát huy tác dụng trong việc chống xói mòn, cải thiện môi trường sinh thái…bảo tồn được nhiều giống cây quý đặc trưng của tỉnh như dẻ Núi Dinh, cẩm lai Bà Rịa, dầu Long Sơn, sến….(Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 9/7) đầu trang(
Ở huyện Tân Thành hiện nay chủ yếu là rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh phục hồi và ngập mặn, được phân bố ở các xã Châu Pha, Tóc Tiên, Tân Hòa, Tân Hải, Phước Hòa, Tân Phước, Mỹ Xuân và thị trấn Phú Mỹ với chức năng bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, lũ quét...
Người dân xã Tân Hòa cho biết, sau giải phóng nhiều người dân ở các địa phương lân cận đến chặt phá vô tội vạ để làm đùng nuôi tôm cá, dựng nhà tạm ở và khai thác lâm sản trái phép.
Bên cạnh đó, do việc quản lý lỏng lẻo nên gần như toàn bộ các loại cây đặc hữu phần lớn là cây đước (gỗ chắc, bền, giá trị kinh tế cao) có chức năng phòng hộ đã bị triệt hạ. Các đối tượng thường lén lút vào rừng đốn cây bán cho người cần gỗ làm nhà, dựng lều quán hoặc đốt gỗ đước để lấy than.
Có mặt tại khu vực rừng ngập mặn thuộc hai xã Tân Hòa, Phước Hòa, chúng tôi thấy nhiều cây đước bị lâm tặc đốn ngã nằm ngổn ngang trên mặt nước. Trên một số lồng bè nuôi thủy sản, gỗ đước chất thành đống, chiếc xà lan chở máy xúc đang tàn phá đám đước lớn để múc đất đắp bờ bao đùng nuôi trồng thủy sản. Cả cánh rừng đước bạt ngàn bị chặt phá vô tội vạ, giờ chỉ còn lác đác vài đám nhỏ thuộc dạng tái sinh.
Còn ở khu vực rừng phòng hộ thuộc thôn Phước Thành, xã Tân Hòa, rất nhiều người dân sinh sống và chùa chiền, am thất cũng được xây dựng tại đây. Ông N.H.T, người địa phương, phản ánh: “Năm nào cũng xảy ra cháy rừng, do nhiều đối tượng vào hái le măng, bắt ong gây ra. Ở khu vực này hàng chục năm nay, tôi chưa bao giờ thấy cán bộ xuống tuyên truyền về phòng chống cháy rừng. Nhiều vụ, người dân phải tự dập lửa để cứu mình”.
Từ năm 2010 đến nay địa bàn huyện xảy ra 10 vụ cháy rừng phòng hộ, thiệt hại gần 17 héc-ta. Nguyên nhân do việc kiểm tra, giám sát người ra vào nơi này còn hạn chế, nhiều đối tượng lén lút sử dụng lửa để bắt ong gây cháy rừng. Năm 2013, Hạt kiểm lâm đã xử lý 3 vụ dùng cơ giới phá rừng ngập mặn làm đùng, 5 vụ khai thác rừng và 2 vụ vận chuyển lâm sản trái phép... Tuy nhiên còn nhiều vụ sử dụng phương pháp thủ công chưa bị phát hiện!
Ông Nguyễn Văn Thềm, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tân Thành - cho biết: “Hiện nay rừng trên địa bàn huyện do Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý. Toàn bộ diện tích đã được BQLRPH giao khoán hết cho các cá nhân, tổ chức.
Rừng ở huyện Tân Thành rộng, địa hình phức tạp, nhiều ngõ ngách nên việc quản lý gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó, vấn đề kiểm tra rừng ngập mặn phụ thuộc nhiều vào con nước, trong khi lực lượng tại chỗ mỏng, phương tiện cũ kỹ. Vào mùa nước lũ có nguy cơ vỡ đùng, các đối tượng tự động đào đất đắp lại, làm ảnh hưởng đến cây rừng”.
Hiện tình trạng chặt phá, cháy rừng phòng hộ ở huyện Tân Thành diễn ra khá phức tạp nhưng chưa bị xử lý dứt điểm. Nếu lơ là, không quản lý chặt chẽ thì trong tương lai không xa, những cánh rừng trên địa bàn huyện sẽ có nguy cơ bị xóa sổ. (Công An TP HCM 8/7, tr10) đầu trang(
Gần đây, các tuyến đường của thủ đô như: Giải Phóng, Ngọc Hồi, Lê Duẩn, Nguyễn Xiển... có rất nhiều người ngồi bán chim trời ở lề đường.
Theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP ban hành ngày 2.11.2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản quy định rõ người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi nhốt; giết động vật rừng trái pháp luật... có thể bị phạt với mức cao nhất lên đến 500 triệu đồng.
Tuy nhiên, những con chim trời này vẫn được người dân ngang nhiên mang ra mời chào người đi đường. Những loài được bán ở đây là, cò, cuốc, sáo, cu rừng với giá 80.000 - 100.000đồng/con.
Thực trạng này làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đe dọa nguy cơ tuyệt chủng một số loài chim trời quý hiếm. Đề nghị các cơ quan chức năng có những biện pháp xử lý, đặc biệt tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để hạn chế tình trạng này. (Lao Động 8/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiện các đập thủy lợi Đồng Cam, Tam Giang... đang kiệt nước khiến “vựa lúa miền Trung” tại Phú Yên phải đối mặt với tình trạng khô hạn nặng nhất từ trước đến nay. Nắng nóng gay gắt và kéo dài ở đây cũng đã gây thiệt hại hàng ngàn hecta diện tích cây trồng lâm nghiệp và hoa màu.
Hiện khắp các cánh đồng khô nứt nẻ, nhiều nông dân phải đội nắng gay gắt “vắt” từng giọt nước ao hồ để cứu “vựa lúa miền Trung” đang khô héo. Ở cánh đồng Cái Nhợ (phường Phú Đông, TP.Tuy Hòa), cây lúa cháy đỏ, tong teo.
Nông dân Nguyễn Hậu bức xúc nói: “5 sào ruộng lúa chịu hạn đã gần 25 ngày, không bón phân được, ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Do vậy phải kịp thời bơm nước mới mong “cứu” được lúa bị khô cháy”.
Ông Trần Tiến Anh - Giám đốc Công ty TNHH MTV Thủy nông Đồng Cam (Cty Đồng Cam), cho biết: Đập Đồng Cam trên lưu vực sông Ba luôn tưới ổn định cho gần 30.000 lúa/năm (mỗi năm 2 vụ). Nhưng chưa bao giờ mực nước tại đập đầu mối công trình này xuống thấp dưới tràn 0,7 mét như năm nay, dẫn đến không đủ nước đưa vào hai kênh chính. Trong khi đó, nhiều đoạn sông Kỳ Lộ cũng khô trơ đáy và các đập Hà Yến, Đồng Khô, Tam Giang (huyện Tuy An)… đều âm dưới tràn 0,5m.
Thực trạng này khiến hơn 4.000 ha trong số 17.000ha lúa hè thu bị khô hạn nặng, có nguy cơ mất trắng. Theo ông Nguyễn Văn Tri - Phó phụ trách Phòng NNPTNT huyện Đồng Xuân, hiện có hơn 185ha ruộng lúa thiếu nước, và 232ha bỏ hoang do hoàn toàn không có nguồn nước tưới, thiệt hại trên 3,2 tỉ đồng.
Không chỉ cây lúa, hiện có hàng ngàn diện tích cây trồng lâm nghiệp, chủ yếu là cây keo lai từ 3 đến 5 năm tuổi bị khô cành, trụi lá, thiệt hại hàng chục tỉ đồng. Nhiều cánh rừng keo lai do các đơn vị nước ngoài như Đức, Nhật Bản hỗ trợ vốn cho dân trồng cũng bị hạn thiệt hại nặng. Hơn 200ha rừng keo của công ty Bình Nam, 100ha của Công ty TNHH Trồng rừng Trường Thành OJI coi như mất trắng.
Ông Nguyễn Văn Tri - Phó phụ trách Phòng NNPTNT huyện, cho hay, ngoài cây lâm nghiệp, nhiều diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày hư hại, hiện đã có hơn 2000 ha mía xuống giống gặp hạn nên không hoặc nảy mầm kém; 2000ha sắn không phát triển, phải phá bỏ, ước tổng thiệt hại hơn 9,7 tỉ đồng.
Hiện tỉnh Phú Yên chỉ bơm nước cầm chừng cứu cây lúa, chứ hoàn toàn không có phương án nào để chống hạn cho cây lâm nghiệp và hoa màu khác đang dần chết khô. Nếu những ngày tới trời không mưa thì khả năng thiệt hại cây trồng sẽ khủng khiếp hơn nhiều. “Hiện UBND tỉnh Phú Yên đang đề nghị Trung ương hỗ trợ 11 tỉ đồng để khẩn cấp giúp dân chống hạn” - ông Lê Chí Trọng, Phó Giám đốc Sở NNPTNT Phú Yên, nói. (Lao Động 8/7) đầu trang(
84.554 hộ dân tham gia bảo vệ trên 180 nghìn ha rừng thuộc lưu vực các nhà máy thủy điện đã góp phần điều tiết, cung cấp nước sản xuất điện với sản lượng mỗi năm hàng tỷ KWh, đem lại nguồn lợi lớn cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, các công ty sản xuất điện lại nợ của người dân gần 34 tỷ đồng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), ảnh hưởng đến quyền lợi hàng chục nghìn hộ dân cung cấp dịch vụ làm giàu cho doanh nghiệp.
Thôn Thống Nhất và Nà Sài xã Đông Hà, huyện Quản Bạ có trên 1.700 ha rừng thuộc lưu vực vùng lòng hồ Nhà máy Thủy điện Thái An. Toàn bộ diện tích rừng được người dân chăm sóc, bảo vệ nghiêm ngặt. Cộng đồng dân cư nơi đây nhận thức rõ ý nghĩa của việc bảo vệ, phát triển rừng, họ đã xây dựng quy ước, hương ước cùng nhau thực hiện, đồng thời thành lập các tổ, đội luân phiên bảo vệ rừng.
Đến thôn Nà Sài vào đúng thời gian cao điểm nắng nóng vừa qua, nhưng khi tách khỏi con đường nhựa, men theo lối mòn dẫn lên những khu rừng xanh ngắt, chúng tôi cảm nhận được bầu không khí trong lành, mát mẻ, cái oi bức không còn hiện hữu.
Ông Dương Đức Thắng, Trưởng thôn Nà Sài - người được gần 150 hộ dân trong thôn tín nhiệm, cử làm đại diện nhận khoán, khoanh nuôi bảo vệ rừng đưa chúng tôi đi thực tế và cho biết: Người dân Nà Sài không ai tự ý vào rừng chặt gỗ, màu xanh của cây cối ngày càng lan rộng trên những quả đồi.
Rừng Nà Sài được đánh giá chất lượng tốt nhất huyện Quản Bạ, ngay cả những ngày cao điểm mùa khô, nguồn nước từ rừng dẫn về khu dân cư vẫn rồi rào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Bà con thôn Nà Sài biết Nhà nước có chính sách chi trả tiền DVMTR ngay từ khi mới được ban hành, tâm lý chung rất phấn khởi.
Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, đã nhiều đợt tập huấn được tiến hành, nhưng người dân chưa biết “mặt mũi” tiền DVMTR như thế nào! Không có tiền, người dân vẫn bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, nhưng đã có quy định của Nhà nước, các doanh nghiệp cần thực hiện đúng nghĩa vụ, chi trả tiền cho người cung cấp dịch vụ giúp sinh lời thông qua hoạt động sản xuất điện.
Trưởng thôn Dương Đức Thắng cho biết thêm: Hàng nghìn ha rừng thôn Nà Sài và Thống Nhất đã góp một phần quan trọng trong quá trình cung cấp, điều tiết nước cho vùng lòng hồ Thủy điện Thái An. Từ khi nhà máy đi vào hoạt động, vùng lòng hồ luôn ăm ắp nước, góp phần sinh lời cho chủ đầu tư, nhưng người dân chưa nhận được thiện tình của doanh nghiệp. Ngay cả tiền DVMTR thu được thông qua hoạt động bán điện, họ cũng cố tình chậm trả nên ảnh hưởng đến quyền lợi người dân.
Người dân thôn Thống Nhất, Nà Sài chỉ là phần nhỏ trong số hơn 9 nghìn hộ dân huyện Quản Bạ, Yên Minh đang tham gia bảo vệ trên 25,3 nghìn ha rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Thái An vẫn chưa nhận được tiền chi trả DVMTR. Số tiền DVMTR chi trả trong 2 năm 2012-2013 của Công ty Cổ phần Thủy điện Thái An lên tới gần 15 tỷ đồng, nhưng doanh nghiệp mới trả được 1 tỷ đồng, còn nợ gần 14 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Quang Đạo, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thủy điện Thái An trần tình: Nhà máy Thủy điện Thái An công suất lắp máy 82MW đã đi vào hoạt động từ nhiều năm trước, sản lượng điện mỗi năm đạt hàng trăm triệu KWh. Tuy nhiên, do suất đầu tư lớn, lãi vay ngân hàng cao, có năm phải trả trên 200 tỷ đồng tiền lãi nên doanh nghiệp chưa có lãi, các cổ đông chưa được chia lợi tức.
Ông Đạo khẳng định: Việc chi trả DVMTR là nghĩa vụ, trách nhiệm doanh nghiệp phải thực hiện. Tuy nhiên, thời gian qua tình hình tài chính quá khó khăn nên số tiền DVMTR doanh nghiệp nợ đọng lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi của người cung cấp dịch vụ. Năm nay, giá mua bán điện có khả quan hơn, bên cạnh đó doanh nghiệp đang chuẩn bị phát hành trái phiếu, tăng vốn điều lệ, khi nguồn tài chính cải thiện, tiền DVMTR sẽ được cắt dần vào quý tới.
Một đại gia khác trong lĩnh vực thủy điện cũng đang ôm khoản nợ tiền DVMTR lên tới trên chục tỷ đồng đó là Công ty Cổ phần Bitexco Nho Quế. Phục vụ cho hoạt động của đại gia này, có trên 11,5 nghìn hộ dân của huyện Mèo Vạc, Đồng Văn tham gia bảo vệ hơn 16 nghìn ha rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Nho Quế III. Thủy điện Nho Quế III được xây dựng tại xã Khau Vai (Mèo Vạc), công suất lắp máy 110 MW, cung cấp sản lượng điện hàng năm đạt 500 triệu KWh, chính thức hòa điện lên lưới Quốc gia từ năm 2012.
Số tiền bán điện mỗi năm đem lại cho doanh nghiệp nhiều tỷ đồng, nhưng mới chỉ có số ít hộ dân được nhận tiền DVMTR khi Công ty nộp gần 2 tỷ trong tổng số hơn 6,1 tỷ đồng của năm 2012. Số tiền nợ đọng trên 12,7 tỷ đồng luôn được doanh nghiệp viện dẫn lý do gặp nhiều khó khăn nên không biết bao giờ mới chi trả.
Cùng hoạt động trong lĩnh vực thủy điện với hai đại gia trên, Công ty Cổ phần Phát triển năng lượng Á Châu hiện sở hữu 3 nhà máy thủy điện gồm suối Sửu I, suối Sửu II (Phương Tiến - Vị Xuyên) và Hạ Thành (Phương Độ - thành phố Hà Giang) với công suất rất nhỏ, nhưng doanh nghiệp lại thực hiện rất tốt nghĩa vụ chi trả DVMTR.
Ông Vũ Thanh Liên, Giám đốc Chi nhánh công ty khẳng định, không có rừng, sẽ không có nguồn nước cho các thủy điện. Nhận thức rõ điều đó, Công ty luôn cam kết, thực hiện chi trả đúng, đủ tiền DVMTR nhằm tạo thêm lực để người dân chăm sóc, bảo vệ rừng.
Vì sao một số doanh nghiệp cố tình nộp chậm tiền DVMTR, lý do họ viện dẫn do gặp khó khăn, thực chất là hành động chây ỳ, thoái thác trách nhiệm. Bởi lẽ, nguồn kinh phí chi trả DVMTR của các nhà máy thủy điện được Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương) đưa vào giá mua, bán điện áp dụng với những nhà máy công suất dưới 30MW.
Những nhà máy công suất trên 30MW, tiền DVMTR được đưa vào hợp đồng mua bán điện giữa chủ đầu tư với Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngay khi phát điện, hòa vào lưới Quốc gia. Như vậy, tiền chi trả DVMTR là yếu tố được cấu thành trong giá bán sản phẩm, không liên quan đến lợi nhuận nên các doanh nghiệp sản xuất điện phải có trách nhiệm chi trả cho chủ rừng.
Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR nhằm tạo thu nhập cho người làm nghề rừng và các chủ rừng, xã hội hóa nghề rừng để khuyến khích, thúc đẩy việc bảo vệ, phát triển rừng bền vững.
Theo Nghị định, các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền cho chủ các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng. Sau 3 năm triển khai, nhìn chung các công ty sản xuất điện đều đồng tình, cam kết thực hiện đúng quy định. Nhưng, vẫn còn một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình, chưa nộp tiền sử dụng DVMTR theo hợp đồng ủy thác về Quỹ Bảo vệ phát triển rừng để chi trả người dân cung cấp dịch vụ.
Rất mong các doanh nghiệp sản xuất thủy điện nhớ và suy ngẫm lời ông Vũ Thanh Liên, Giám đốc Chi nhánh Công ty Cổ phần Phát triển năng lượng Á Châu: Không có rừng, sẽ không có nguồn nước cho các thủy điện. (Báo Hà Giang 9/7) đầu trang(
Với một địa phương có nhiều rừng và đất lâm nghiệp như Lâm Đồng, để phát triển KT-XH bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái, công tác bảo vệ và phát triển rừng luôn có vai trò cực kỳ quan trọng.
Theo lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT), công tác lâm sinh bao gồm trồng mới và chăm sóc rừng trồng thường được các địa phương và các chủ rừng trong tỉnh triển khai vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa hàng năm để cây mới trồng có đủ sức vượt qua sự khắc nghiệt của mùa khô năm sau. Tuy nhiên, để làm được việc này, mọi công tác chuẩn bị cho thực hiện kế hoạch lâm sinh phải được thực hiện ngay từ đầu năm trước - khi vẫn là mùa khô.
Năm nay, UBND tỉnh chỉ đạo ngành NN-PTNT tỉnh và các huyện, thành trong toàn tỉnh là phấn đấu trồng mới 5.575ha rừng tập trung (gồm các kế hoạch: Ngân sách tỉnh và ngân sách Trung ương hỗ trợ 470ha, Dự án FLITCH hỗ trợ trồng 1.250ha, trồng rừng kinh tế trên diện tích rừng nghèo tại Đạ Tẻh 1.055ha, trồng cao su và rừng kinh tế của các doanh nghiệp ngoài nhà nước 2.000ha, trồng rừng thay thế đối với các doanh nghiệp thủy điện…) và trồng cây trồng rừng phân tán nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thống kê của Chi cục Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm (Sở NN-PTNT) tới cuối tháng 6 vừa qua các ngành chức năng của tỉnh đã và đang thực hiện công tác thẩm định các kế hoạch và diện tích trồng rừng của các kế hoạch này.
Chỉ tiêu trồng rừng cũng đã được UBND tỉnh phân bố cho từng huyện, thành phố, trong đó riêng huyện nghèo Đam Rông được giao trồng mới 100ha thuộc Đề án 30a, 200ha rừng tập trung và 400ha nông - lâm kết hợp thuộc Dự án FLITCH; huyện Đạ Tẻh cũng đã bàn giao xong thực địa sẽ trồng 1.055ha rừng kinh tế trên diện tích rừng nghèo kiệt của hộ dân. Hiện tại, trên địa bàn toàn tỉnh đang có 339 doanh nghiệp/396 dự án được UBND tỉnh cho thuê rừng và đất rừng với diện tích 60.669ha để thực hiện sản xuất - kinh doanh, trong đó có trồng rừng kinh tế.
Qua tìm hiểu, hầu hết các chủ rừng và các địa phương được giao kế hoạch trồng rừng tập trung, trồng rừng nông - lâm kết hợp hoặc trồng cao su đều đang từng bước hoàn chỉnh hồ sơ để xin thẩm định và chuẩn bị lao động, hiện trường, cây giống…  để tiến hành xuống giống theo thời vụ. Trồng cây và trồng rừng phân tán theo kế hoạch năm, cũng đã có 10 huyện và thành phố thực hiện với 3.310 cây các loại, 2 huyện còn lại là Cát Tiên và Đạ Huoai chưa triển khai do thời tiết còn quá nắng nóng.
Những vấn đề cần lưu tâm của mùa trồng rừng năm nay nói riêng và thực hiện quy hoạch - kế hoạch  lâm nghiệp nói chung của tỉnh là cùng với rà soát và điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở NN-PTNT tỉnh cùng các địa phương tiến hành rà soát lại quy hoạch phát triển cây cao su.
Theo đó, đã có 7 địa phương là Cát Tiên, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Di Linh, Đơn Dương và Đam Rông  tiến hành kiểm tra, rà soát đánh giá các số liệu liên quan tới rừng, đánh giá tình hình thực hiện của các dự án trồng cao su trên địa bàn (kết quả cho thấy tổng diện tích cao su rà soát điều chỉnh theo quy hoạch lại cao su trên địa bàn tỉnh là 26.804ha, gồm 6.544ha tiểu điền và 20.260ha đại điền).
Chủ trương của UBND tỉnh là năm nay chỉ phát triển trồng mới cây cao su tại các huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh và Đạ Huoai; những dự án của các doanh nghiệp trồng cao su ở các huyện, thành khác trong tỉnh “nếu đầu tư chậm tiến độ theo giấy chứng nhận đầu tư đã được cấp, hoặc thời hạn đã được cấp có thẩm quyền cho gia hạn thì không đặt vấn đề cho gia hạn và sẽ thu hồi, không đưa vào diện tích rà soát và điều chỉnh quy hoạch”.
Để bảo đảm “trồng cây nào sống cây nấy” và “trồng rừng thành rừng trồng”, Sở NN-PTNT và các sở, ngành liên quan của tỉnh sẽ tăng cường các hoạt động quản lý cây giống, thực hiện Đề án Giống cây lâm nghiệp và những đơn vị, cá nhân trồng rừng theo kế hoạch chỉ được trồng những cây giống đảm bảo chất lượng.
Bất cập của mùa trồng rừng năm nay, theo Chi cục Lâm nghiệp, là có nhiều khó khăn về kinh phí nên các chủ rừng đang lúng túng và bị động trong việc triển khai thực hiện kế hoạch đã được UBND tỉnh giao. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới việc có gần 568ha đất rừng sau giải tỏa dự kiến trồng lại rừng đã không thể triển khai. (Báo Lâm Đồng 9/7) đầu trang(
Ngày 7/7, Sở Giao thông Vận tải Kon Tum cho biết các lực lượng chức năng trong tỉnh đã tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp xe ô tô chở quá tải trọng.
Qua kiểm tra gần 5.000 lượt phương tiện vận tải lưu thông trên địa bàn, đã phát hiện 150 trường hợp xe ô tô chở quá tải trọng cho phép, tước giấy phép lái xe 41 trường hợp, xử phạt gần 50 triệu đồng.
Ngoài việc đặt trạm cân tải trọng cố định trên tuyến quốc lộ 14 tại đèo Sao Mai và 1 trạm cân lưu động trên một số tuyến đường chính khác, đã tổ chức các đợt đi kiểm tra lưu động tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y và các bãi gỗ trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý buộc trên 1.000 xe chở gỗ quá tải tự hạ tải trước khi được tiếp tục lưu thông. (Thanh Tra 8/7, tr2) đầu trang(
Nhiều cánh rừng ngập mặn bị tàn phá để lấy đất làm nhà, xây dựng khu đô thị, đào đắp nuôi trồng thủy sản… khiến nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trở thành vùng nước trắng mênh mông, đất ven biển xơ cứng, thoái hóa…
Để khắc phục tình trạng này, các cấp chính quyền ở địa phương đã tăng cường giáo dục cộng đồng bảo vệ rừng ngập mặn, đồng thời khẩn trương trồng mới 2.300ha rừng ngập mặn nhằm phục hồi phần rừng đã bị tàn phá.
Quảng Ninh có bờ biển dài 250km nên diện tích rừng ngập mặn khá lớn, tập trung chủ yếu ở các bãi triều, xen kẽ với đá nổi ven biển. Trong những năm qua, rừng ngập mặn ở Quảng Ninh đã có sự suy giảm mạnh cả về diện tích và chất lượng. Diện tích rừng ngập mặn giảm từ 40.000ha năm 1983 xuống còn 22.020ha năm 2002.
Nguyên nhân của sự suy giảm là do nhu cầu phát triển đô thị đã quai đê lấn biển hình thành các vùng kinh tế mới thiếu căn cứ khoa học, làm ngăn chặn lưu thông nguồn nước mặn dẫn tới cây chết, mất rừng.
Mặt khác các địa phương giao đất giao rừng cho các dự án khoanh vùng, đào đắp đầm một cách ồ ạt để nuôi trồng thủy sản, biến những cánh rừng sú vẹt, rừng đâng, rừng bần trở thành những vùng nước trắng mênh mông. Người dân Móng Cái đã phá 500ha rừng ngập mặn để đào đắp đầm nuôi cua; chặt phá nhiều cánh rừng sú vẹt để lấy thân cây sú vẹt có hà bám đem về làm thức ăn cho cua.
Hiện tượng này cũng xảy ra ở Bắc Cửa Lục, Việt Hưng, Yên Cư (thành phố Hạ Long), ở các vùng cửa Sông Khoai, Hà An, Liên Vị, Hoàng Tân (thị xã Quảng Yên), Phương Đông (thành phố Uông Bí) và ở các huyện Hải Hà, Đầm Hà, Vân Đồn, Cẩm Phả, Tiên Yên… gây thiệt hại hàng nghìn hécta rừng sú, rừng đâng.
Huyện Tiên Yên có 15.300ha đất rừng ngập mặn nằm trải dài trên 50km bờ biển của 5 xã vùng thấp từ Đông Hải đến Đồng Rui đã bị khai thác vào việc đắp đào nuôi trồng thủy sản.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, nhu cầu xuất khẩu thủy sản ngày càng lớn, nhiều gia đình xã Đồng Rui đã góp vốn khoanh rừng ngập mặn, đào đắp 402ha đầm nuôi tôm, cua... 1.200h/4.000ha rừng ngập mặn của xã đã bị xóa sạch, các loài hải sản phù du, động vật đáy suy giảm hoặc không còn, các loài hải sản cua bể, cá song là nguồn lợi khai thác tự nhiên gần như tuyệt chủng.
Những năm đầu phá rừng ngập mặn nuôi cua, tôm thu nhập khá, nhiều gia đình nuôi tôm lãi hàng trăm triệu - tỷ đồng/năm, nhưng do đầm có đê bao quanh, thông thủy kém, trái với quy luật của dòng triều lên xuống, mưa nhiều bị ngọt hóa, cây nước mặn chết hàng loạt, thân cây thối rữa, môi trường ô nhiễm nặng, tôm, cua nuôi và các bãi phù du khác khó sống, năng suất, sản lượng giảm, nhiều gia đình làm ăn thua lỗ, phá sản, không có khả năng thanh toán nợ ngân hàng, đó là cái giá phải trả cho những việc làm thiếu tính toán làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và chất lượng của quỹ rừng ngập mặn.
Trước thực trạng trên, Quảng Ninh đã tập trung mọi nguồn lực để cứu rừng. Quy hoạch quản lý và chia 22.020ha rừng ngập mặn còn lại làm 3 loại: rừng đặc dụng 57ha, rừng phòng hộ 15.376ha, rừng kinh tế 6.587ha; đồng thời thành lập Ban quản lý rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển.
Thông qua Hội Chữ thập đỏ, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, tỉnh đã giao cho Ban quản lý rừng 8.237ha, các doanh nghiệp 732ha, hộ gia đình 110ha, và địa phương quản lý 12.941ha.
Từ nhiều năm nay, Hội Chữ thập đỏ Quảng Ninh hoạt động tích cực với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, sự phối hợp với các đoàn thể xã xây dựng được dự án bảo vệ rừng ngập mặn, phát triển rừng; được tổ chức Quốc tế, Hội Chữ thập đỏ Trung ương trợ cấp kinh phí tạo công ăn việc làm cho hội viên.
Giai đoạn 1997 - 2008 Hội Chữ thập đỏ đã tổ chức trồng rừng trong dự án PAM 5325 hơn 1.700ha ở tại 8 huyện, thị xã, thành phố; làm rừng chắn sóng bảo vệ đê ô các vùng trọng điểm; triển khai thực hiện các dự án trồng hơn 600ha rừng ngập mặn bằng nguồn vốn của Tổ chức hoạt động phục hồi và phát triển rừng ngập mặn của Nhật Bản tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.
Từ năm 2008 đến nay, bình quân mỗi năm Quảng Ninh trồng khoảng 100ha rừng ngập mặn. Như vậy, đến nay, Quảng Ninh đã trồng được hơn 2.300ha rừng ngập mặn, tuy còn ít so với diện tích rừng ngập mặn đã bị tàn phá trong thời gian qua nhưng đây là kết quả đáng mừng.
Những cánh rừng ngập mặn tái sinh đã bắt đầu phát huy hiệu quả trong bảo vệ đê biển mùa mưa bão. Từ đó, nâng cao nhận thức của nhân dân vùng ven biển về lợi ích trồng rừng ngập mặn.
Hiện, Quảng Ninh đã xây dựng các dự án nhân đạo ứng phó với thiên tai để kêu gọi đầu tư, hỗ trợ các đối tượng nghèo tham gia trồng cây, chăm sóc và bảo vệ rừng ngập mặn.
Mặc dù không thuộc vùng trũng và thấp hơn mặt nước biển nhưng phường Hà An, thị xã Quảng Yên có gần 400ha rừng ngập mặn, đứng đầu thị xã về diện tích rừng ngập mặn. Hà An phối hợp với Hội Chữ thập đỏ và Tổ chức Phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản vận động nhân dân trồng mới được 13,3ha rừng ngập mặn.
Phó chủ tịch UBND phường Hà An Nguyễn Minh Giang cho biết, người dân Hà An có ý thức cao trong công tác bảo vệ rừng ngập mặn là do họ đã thấm thía bài học về việc chặt phá rừng ngập mặn xảy ra cách đây hơn 10 năm của nhiều hộ nuôi tôm đã gây hậu quả xấu về môi trường. Những hành động phá hoại rừng bị người dân lên án ngăn chặn.
Với hơn 250km đường bờ biển và địa hình đất rừng phức tạp, việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ở Quảng Ninh vẫn còn nhiều khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa của chính quyền và nhân dân.
Do đó, việc khảo sát, lập quy hoạch trồng cây phù hợp, góp phần bảo vệ đê ven biển. Đồng thời, tạo việc làm cho nhân dân ven biển, cải thiện môi trường sinh thái biển. (Đại Biểu Nhân Dân 9/7, tr7) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng, năm 2014 huyện Chiêm Hoá triển khai trồng mới 3000ha rừng. Tính đến thời điểm này, toàn huyện trồng mới được hơn 2.400ha, đạt trên 80% kế hoạch.
Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Chiêm Hoá có trên 4.600 ha đất rừng,  năm 2014, Công ty được giao trồng 500ha,  công ty đã thực hiện gieo ươm hơn 1.000 cây giống để phục vụ trồng rừng. Các giống cây được Công ty đưa vào trồng là cây keo lai tượng, keo lai hom.
Hiện nay Công ty tập trung chăm sóc cây giống chất lượng cao để phục vụ công tác trồng rừng, đảm bảo cho cây trồng có tỷ lệ sống cao nhất. Nhờ làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và trồng mới nên Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Chiêm Hoá đã góp phần đẩy nhanh tiến độ phủ nhanh đất trống đồi trọc và nâng cao độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Chiêm Hoá.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế của trồng rừng, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Chiêm Hoá rất chú trọng tới việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất thâm canh, chủ động đảm bảo nguồn giống chất lượng cao phục vụ nhu cầu trồng rừng của đơn vị và bà con nhân dân trong huyện.
Tính đến hết tháng 6, Công ty đã thực hiện trồng rừng đạt trên 90% diện tích. Trong 3.000ha rừng trồng, năm 2014, huyện Chiêm Hóa tập trung trồng rừng phòng hộ và đặc dụng 50ha, rừng cây phân tán 100ha và rừng sản xuất 2.850ha.
Ban quản lý và phát triển rừng cùng các cơ quan ban ngành liên quan bám sát địa bàn phụ trách, phối hợp với Ban phát triển rừng của các xã tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác trồng rừng năm 2014.
Hướng dẫn nhân dân cách trồng, kỹ thuật chăm sóc đảm bảo trồng đúng thời vụ với từng loại cây trồng. Trong đó, các xã như Vinh Quang, Tân An, Hà Lang, Trung Hòa, Hùng Mỹ.. đã hoàn thành 100% kế hoạch, các xã: Yên Lập, Bình Nhân, Ngọc Hội, Nhân Lý và Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Chiêm Hoá đã hoàn thành từ 75% đến 90% kế hoạch.
Hiện nay, UBND huyện Chiêm Hoá đang tiếp tục chỉ đạo các xã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, bảo vệ chăm sóc tốt diện tích rừng đã trồng, chuẩn bị sẵn sàng những điều kiện trồng rừng như cây giống, cuốc hố, phân bón, đảm bảo tiến độ theo đúng thời vụ tốt nhất. (Báo Chiêm Hóa 7/7)  đầu trang(
Đêm 7.7, một vụ cháy lớn xảy ra tại một xưởng chế biến gỗ đóng trên địa bàn xã Thiệu Dương, TP.Thanh Hóa. Cả 3 kho chứa nguyên liệu của xưởng chế biến gỗ này đã bị thiêu rụi hoàn toàn.
Sau khi phát hiện cháy kho hàng, ông Trường đã gọi điện báo lên Phòng Cảnh sát PCCC đến giúp dập lửa, lúc này ngọn lửa bốc lớn và lan rất nhanh. Ngay sau khi nhận được tin báo, 4 xe cứu hỏa cùng hàng chục chiến sĩ cảnh sát PCCC đã được điều động đến hiện trường để dập đám cháy.
Tuy nhiên, việc dập tắt đám cháy đã gặp phải nhiều khó khăn khi nguồn nước dập lửa nằm cách xa hiện trường vụ cháy và không ổn định. Bên cạnh đó, các kho hàng bị cháy rất lớn và có nhiều đống mùn cưa cùng các bao tải bên trong đầy các sản phẩm gỗ chưa được chế biến.
Mặc dù hàng chục chiến sĩ Cảnh sát PCCC đã phải thức trắng đêm để dập lửa, nhưng do bên trong kho có nhiều hàng, nên đến 8h sáng nay, lửa vẫn còn cháy âm ỉ dưới các đống sản phẩm nguyên liệu.
Tại hiện trường, cả 3 kho chứa nguyên liệu của xưởng chế biến gỗ này đều bị thiêu rụi hoàn toàn. Hiện, nguyên nhân vụ cháy đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Dân Việt 9/7) đầu trang(
Theo báo cáo của Văn phòng Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, tính đến hết quý I năm nay, công tác bảo vệ, chăm sóc, phát triển rừng đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Số vụ vi phạm về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản giảm từ 40% đến 80% so với cùng kỳ năm 2013. Nhờ chủ động trong việc giao kế hoạch, các địa phương chuẩn bị được hơn 200 triệu cây giống, tăng 65%; trồng chín triệu cây phân tán, tăng 69%; có 12 tỉnh trọng điểm triển khai trồng hơn 11 nghìn ha rừng phòng hộ, rừng sản xuất, tăng 71% so với cùng kỳ năm 2013.
Công tác khai thác, chế biến và xuất khẩu lâm sản cũng đạt cao với gần hai triệu m3 gỗ rừng trồng, tăng 31%; trong đó xuất khẩu lâm sản tăng 11%. Việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt hơn 200 tỷ đồng; giải ngân hơn một nghìn tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng từ năm 2011 đến nay cho chủ rừng. Tính đến nay, toàn quốc đã trồng mới được hơn 17 nghìn ha rừng ngập mặn, góp phần đáng kể trong việc phòng hộ, bảo vệ vùng bờ biển trước biến đổi khí hậu và thiên tai.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện được đến nay vẫn còn rất thấp so với mục tiêu đề ra; nhiều nội dung cần tiếp tục đầu tư thực hiện, nhất là công tác trồng rừng và bảo vệ rừng ven biển. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch sử dụng đất còn bất cập, thiếu sự phối hợp thống nhất giữa các ngành liên quan.
Quy hoạch rừng ở địa phương thiếu ổn định và thường bị điều chỉnh do nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế, công nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch. Việc giao, khoán rừng, đất lâm nghiệp cho cộng đồng và các hộ gia đình để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ở các địa phương còn hạn chế.
Hiện nay, trồng rừng ven biển mới chỉ đạt khoảng 18% so với mục tiêu đề ra. Chỉ tiêu đạt thấp là do nguồn vốn đầu tư trồng và bảo vệ rừng ven biển được bố trí từ ngân sách nhà nước theo kế hoạch hằng năm chưa đáp ứng yêu cầu; chưa huy động hoặc lồng ghép được các nguồn vốn khác để đầu tư trồng rừng ven biển.
Bên cạnh đó, mặc dù điều kiện trồng rừng ven biển rất khó khăn nhưng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho trồng rừng phòng hộ còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế đặc thù của rừng ven biển; công tác quản lý, chỉ đạo các dự án trồng rừng ven biển hiện do nhiều bộ, ngành hoặc địa phương trực tiếp quản lý, chưa có đầu mối để quản lý, tổng hợp và chỉ đạo thống nhất.
Vì vậy, mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Ðề án "Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014-2020" trình Chính phủ.
Nhưng để thực hiện hiệu quả, các bộ, ngành hữu quan và các địa phương cần chỉ đạo tốt việc bảo vệ và phát triển rừng ven biển trên phạm vi cả nước, trong đó có các dự án trồng rừng ven biển; hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể rừng phòng hộ ven biển toàn quốc đến năm 2020; ban hành một số cơ chế, chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển. Bên cạnh đó, cần ưu tiên bố trí đủ nguồn vốn cho trồng rừng ven biển; nghiên cứu, đề xuất về nguồn vốn hỗ trợ.
Ðối với các địa phương, trong năm 2014 và 2015 tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng, phê duyệt mới các dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ven biển tại địa phương (bao gồm tất cả các nguồn vốn). Ưu tiên trồng các vành đai rừng phòng hộ xung yếu trước đê biển; kết hợp chặt chẽ giữa việc trồng mới, phục hồi rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có. (Nhân Dân 9/7, tr1) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND, quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND TP do Luật Đất đai 2013 và các nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn TP.
Theo đó, đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10ha đất trồng lúa trở lên hoặc từ dưới 20ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên phải trình Chính phủ.
UBND thành phố trình HĐND thành phố phê duyệt đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10ha đất trồng lúa hoặc dưới 10ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Việc lập danh mục các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ thực hiện đồng thời với việc lập danh mục các dự án phải thu hồi đất trình HĐND thành phố xem xét, phê duyệt.
UBND thành phố báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10ha đất trồng lúa trở lên hoặc từ dưới 20ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên.
Bên cạnh đó, quyết định số 21 cũng quy định với các dự án kinh doanh nhà ở, bất động sản gắn liền với đất không sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước, chủ đầu tư phải có vốn thuộc sở hữu của mình để thực hiện dự án không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20ha; không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20ha trở lên.
Riêng các dự án đầu tư đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì không phải thực hiện thủ tục thẩm định tại thành phố. (Chính Phủ 8/7) đầu trang(
Biết trước việc Dự án Trung tâm huấn luyện V15 - Bộ Công an (gọi tắt là DA) sẽ triển khai tại xã Vân Hòa (Ba Vì), một số “cò” đã gom đất rừng giá rẻ để khi giải phóng mặt bằng sẽ được bồi thường tiền tỷ. Không những thế, dù không đủ giấy tờ theo quy định nhưng một số hộ vẫn được chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang đất thổ cư...
Thực hiện Chương trình “Phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, năm 1991, người dân thôn Bơn, thôn Nghe Trong, thôn Rùa… (xã Vân Hòa) được chính quyền giao đất với thời hạn 30 năm.
Đến năm 2008, một số người biết thông tin DA đã về mua gom đất của dân với giá rẻ. Cụ thể, năm 2008, ông Nguyễn Hữu Đạt (trú thôn Việt Hòa, xã Vân Hòa) mua của ông Lê Văn Thiệp và bà Đinh Thị Khoai (ở thôn Nghe Trong) hơn 4,1ha với giá 90 triệu đồng/ha. Việc mua bán giữa các bên chỉ có giấy viết tay...
Ngày 18.11.2008, DA được Bộ Công an phê duyệt với tổng diện tích gần 20ha. Ngày 15.11.2011, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội phối hợp UBND huyện Ba Vì và Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức hội nghị công bố và bàn giao quy hoạch chi tiết xây dựng Trung tâm Huấn luyện V15 - Bộ Công an tại thôn Nghe Trong, xã Vân Hòa, huyện Ba Vì.
Điều đáng nói là việc mua bán đất giữa ông Nguyễn Hữu Đạt với bà Đinh Thị Khoai, ông Lê Văn Thiệp (năm 2008) đúng diện tích DA lấy vào. Các giấy tờ mua bán chuyển nhượng chỉ viết tay loằng ngoằng, nhiều chỗ gạch xóa, nhưng sau đó vẫn được cơ quan chức năng huyện Ba Vì chứng nhận sang tên chuyển nhượng vào ngày 9.9.2010 và UBND huyện cấp sổ đỏ cho đất lâm nghiệp cùng ngày.
Không chỉ phần đất ông Đạt mua được cấp sổ đỏ, mà bà Nguyễn Thị Hạnh, bà Phùng Thị Yến, ông Phùng Văn Hải và bà Đặng Thị Hằng (cùng trú tại thôn Thanh Vị, xã Thanh Mỹ, thị xã Sơn Tây) mua đất lâm nghiệp tại đây cũng được UBND huyện Ba Vì cấp sổ đỏ ngày 9.9.2010…
Theo bảng tổng hợp phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng do UBND huyện Ba Vì (lập ngày 31.12.2013), tổng kinh phí đền bù, hỗ trợ được phê duyệt hơn 43 tỷ đồng, với giá đất có sổ đỏ là 350.000 đồng/m2 (350 triệu đồng/ha), trong đó ông Đạt và một số người khác được đền bù trên dưới 31 tỷ đồng.
Sau khi bán đất, thấy phương án đền bù lên tới tiền tỷ, diện tích đất (đã bán) lại nằm trọn trong phạm vi DA, nhiều người dân nghi ngờ DA đã bị lộ quy hoạch!
Ngay khi Bộ Công an đã phê duyệt, tại khu vực DA có tới 7 phương án đền bù đất thổ cư. Theo tìm hiểu của phóng viên, 7 phương án nói trên là đất rừng được mua lại của một số hộ dân thôn Bơn năm 2002-2003, sau đó được cấp sổ đỏ đất thổ cư năm 2004, do ông Hà Xuân Hưng - Phó Chủ tịch UBND huyện ký; tổng diện tích là 35.683m2, đứng tên các ông bà Nguyễn Hữu Đạt, Nguyễn Hữu Quyết, Nguyễn Phúc Hải, Cấn Thị Hằng, Phùng Thị Tuấn Anh, Phùng Văn Quân, Nguyễn Thị Lan.
Tuy nhiên khi đề nghị cho xem hồ sơ cấp sổ đỏ đất thổ cư của 7 trường hợp trên, ông Nguyễn Mạnh Sơn - Trưởng phòng TNMT huyện Ba Vì khẳng định không có hồ sơ. “Trước đây khu vực này là miền núi dân tộc, nên… khi cấp làm gì có hồ sơ” – ông Sơn nói…
Ông Lê Văn Minh – Chủ tịch UBND huyện Ba Vì cho biết: Tôi cũng mới nghe thông tin thôi. Về nguồn gốc, hồ sơ đất đai, theo phân cấp do chủ tịch xã chịu trách nhiệm, còn trên này (UBND huyện) chỉ quản lý về mặt hồ sơ, quy hoạch và thẩm quyền cấp sổ đỏ thôi…
Tiếp tục “truy nguyên” nguồn gốc hồ sơ 7 sổ đỏ nói trên, ông Hoàng Văn Lộc - Chủ tịch UBND xã Vân Hòa nói rằng: Tôi mới làm chủ tịch được 3 năm nên việc cấp sổ đỏ trước đây tôi không rõ. Còn ông Nguyễn Văn Luyện - cán bộ địa chính xã thẳng thắn: Tôi cũng mới lên thay anh Bùi Bình (cán bộ địa chính cũ) được mấy tháng nên không biết gì. Ông Luyện nói rằng “hồ sơ bàn giao lại không có nhiều (ngoài mấy tờ bản đồ 299), sổ địa chính cũng chẳng thấy ghi nội dung gì cả”. Vẫn theo ông Luyện, bản đồ 299 của xã Vân Hòa không có giá trị pháp lý vì… không có dấu của cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Nếu đúng vậy, không biết UBND huyện Ba Vì dựa vào đâu để xác nhận quyền sử dụng đất, cấp sổ đỏ đất thổ cư cho người dân? Câu hỏi này chỉ người trong cuộc mới nắm rõ. (Dân Việt 9/7) đầu trang(
Theo Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh, nửa đầu năm 2014, Ấn Độ và Mexico nổi lên là hai thị trường có kim ngạch nhập khẩu gỗ Việt Nam tăng vọt. Cụ thế, Ấn Độ đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch trên 144%, Mexico gần 127%.
Ấn Độ và Mexico hiện là thị trường xếp thứ 14 và thứ 35 về tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam. Các thị trường khác cũng có kim ngạch tăng mạnh là Phần Lan (tăng 81,64%), Cam-puchia (tăng 22,65%) và Trung Quốc (tăng 16,43%).
Ngoài ra, thị trường Malaysia cũng đang có xu hướng tăng nhập khẩu gỗ từ Việt Nam. (Thời Báo Ngân Hàng 7/7, tr8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Lính cứu hỏa tại Butts Canyon Road, bên ngoài Middletown, California. Nhân viên cứu hỏa vật lộn với trận hỏa hoạn tại một vùng gập ghềnh thuộc Bắc California.
Hôm Thứ Hai, họ lại phải đương đầu thêm một ngày với nhiệt độ lên đến ba con số, cùng gió giật, trong khi các giới chức cảnh cáo rằng lửa lại có thể gây đe dọa cho nhà cửa.
Tình trạng khô hạn khiến cản trở cho việc chống lửa rừng ở những tiểu bang Idaho, New Mexico, Utah và Washington.
Tại California, lính cứu hỏa chế ngự được ngọn lửa Monticello xuống 35% ở vùng sườn núi, gần hồ Berryessa ở Yolo County.
Hơn 1,600 lính cứu hỏa vật lộn với ngọn lửa. Một người trong số họ bị thương nhẹ, khi chiếc xe ủi đất đang lái bị lật. Một lính cứu hỏa khác bị ong đốt, và một người thứ ba bị đuối sức do không chịu nổi sức nóng.
Lửa thiêu hủy chừng 10 dặm vuông kể từ ngày khởi đầu hôm Thứ Sáu. Nay đang được nuôi dưỡng thêm nhờ gió giật, các bụi cây rậm và khô, chưa từng bị cháy trong hai thập niên, và nhờ thêm điều kiện hết sức khô do hậu quả của hạn hán.
Lực lượng cứu hỏa từng chiến đấu với một trận lửa khác ở Tây Bắc Lake Berryessa, được điều động đi tấn công ngọn lửa Monticello Fire, sau khi ngọn lửa trước họ đã khống chế được 90%.
Lửa ngốn hết gần 7 dặm vuông và thiêu hủy hai căn nhà, bốn lính cứu hỏa bị thương nhẹ.
Lake Berryessa, cách San Francisco chừng 75 dặm về hướng Ðông Bắc, là một địa điểm giải trí thu hút nhiều người đi bơi thuyền và cắm trại trong dịp cuối tuần ngày Lễ Ðộc Lập. (Đất Việt 8/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng