|
Ngày 11 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Cây sâm Ngọc Linh được kỳ vọng sẽ trở thành cây xóa nghèo bền vững cho người dân, nhất là người dân tộc thiểu số ở vùng cao huyện Nam Trà My.
Đề án về cơ chế khuyến khích bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh đã được UBND tỉnh đưa ra HĐND xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh Quảng Nam khóa VIII diễn ra ngày 10/7.
Theo UBND tỉnh Quảng Nam, sâm Ngọc Linh là loại sâm quý, có giá trị dược liệu và kinh tế cao. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển giống sâm ở Quảng Nam bộc lộ nhiều hạn chế: cơ quan chức năng chưa thực sự vào cuộc, nhất là phối hợp với UBND huyện Nam Trà My trong việc điều tra, khảo sát, quy hoạch khu vực sâm Ngọc Linh; công tác bảo vệ, phát triển sâm chưa được chú trọng…
Theo thông kế của UBND tỉnh Quảng Nam, từ năm 2002 đến năm 2013, tổng diện tích quản lý, trồng sâm là hơn 7ha với trên 160.000 cây. Trong đó, số lượng sâm có thể cho hạt ươm giống khoảng 63.000 cây. UBND tỉnh đã phối hợp với Viện Dược liệu (Bộ Y tế) trồng vườn cây giống 2 ha với 60.000 cây theo đề tài trồng sâm dưới giàn mái che, ươm giống trong khay, đồng thời đã cử cán bộ kỹ thuật tham gia hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân trong vùng tổ chức gieo ươm, nuôi trồng, chăm sóc, phát triển cây sâm Ngọc Linh…
Số lượng sâm được khai thác từ năm 2001 đến nay là trên 100.000 cây. Một số sản phẩm đặc hữu từ sâm Ngọc Linh đã ra đời nhưng còn khá khiêm tốn như: rượu ngâm từ lá (rượu Diệp Linh Sâm) hoặc củ (rượu Sâm Ngọc Linh), viên ngậm Sâm Ngọc Linh, trà túi lọc Sâm Ngọc Linh, nước bổ dưỡng Sâm Ngọc Linh.
Tại các xã Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang (huyện Nam Trà My), hiện có khoảng 653.500 cây được trồng. Mô hình trồng sâm trong nhân dân đã giúp cho các hộ có cuộc sống khá ổn định, giải quyết một phần thu nhạp và tạo công ăn việc làm cho người dân tại địa phương. Nhiều hộ gia đình không những thoát nghèo mà đã vươn lên làm giàu từ sâm Ngọc Linh…
Để bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh, sắp tới UBND tỉnh Quảng Nam sẽ xây dựng vườn bảo tồn nguồn gen kết hợp sản xuất giống của Trạm dược liệu Trà Linh để cung ứng nguồn giống cho phát triển gây nuôi bền vững. Theo đó, đến năm 2015, sẽ có hơn 87.000 cây có khả năng cho hạt và đến năm 2020 sẽ là 280.000 cây. Trong 7 năm tới, Trạm dược liệu Trà Linh sẽ sản xuất 9 triệu cây giống…
Theo đề án được UBND tỉnh Quảng Nam trình lên HĐND, các hộ gia đình đăng ký trồng sâm theo nhóm hộ được Nhà nước hỗ trợ mua cây giống tại Trạm dược liệu Trà Linh với mức bằng 80% giá thành (tương đương tiền hỗ trợ là 20.000 đồng/cây), mỗi hộ không quá 500 cây/năm. Các đối tượng được hỗ trợ giống sẽ được hướng dẫn kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý nhà nước về giống của cơ quan có thẩm quyền để tự tổ chức sản xuất giống phục vụ cho đầu tư phát triển vùng sâm nguyên liệu.
Ngoài ra, ngân sách tỉnh hỗ trợ phần chênh lệch lãi suất giữa mức lãi suất vay hộ nghèo, hộ cận nghèo của các ngân hàng theo thực tế phát sinh trong thời gian không quá 7 năm và mức vay được hỗ trợ không quá 30 triệu đồng/hộ….
UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, với đề án này, hi vọng việc bảo tồn và phát triến sâm Ngọc Linh sẽ đạt hiệu quả cao. Cây sâm sẽ trở thành cây xóa đói giảm nghèo bền vững cho người dân, nhất là người dân tộc thiểu số ở vùng cao. (Phụ Nữ TP HCM 10/7; Công An Nhân Dân 11/7, tr4) đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh Gia Lai đã có Công văn số 2189/UBND-NL chỉ đạo Sở NN&PTNT, cùng các sở, ngành chức năng của tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20-2-2014 của Thủ tướng và các văn bản chỉ đạo liên quan của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm.
Tích cực phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức và thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về quản lý, khai thác, gây nuôi, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã nói chung, đặc biệt không săn bắt, buôn bán, tiêu thụ, sử dụng các loài động vật rừng trái phép.
Tổ chức kiểm tra ngăn chặn và xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Nhà nước. Chú ý tập trung vào các khu vực trọng điểm như xung quanh cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, các nhà hàng ăn uống, các điểm bày bán thịt thú rừng trên địa bàn TP.Pleiku, thị xã An Khê…
Qua đó, tiếp tục rà soát, lập danh sách những đối tượng đầu nậu, bảo kê, kinh doanh mua bán, tàng trữ động vật rừng để chủ động đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời. (Tỉnh Ủy Gia Lai 9/7) ) đầu trang(
8/7, ông Nguyễn Quân Chính, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án BCC tỉnh đã có chuyến kiểm tra tình hình triển khai dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mê Công mở rộng – giai đoạn 2” (gọi tắt là Dự án BCC) tỉnh Quảng Trị tại huyện Hướng Hóa và Đakrông.
Cùng tham dự còn có các thành viên trong Ban chỉ đạo Dự án BCC tỉnh. Dự án BCC tỉnh Quảng Trị được triển khai từ năm 2012 ở 12 xã của 2 huyện Đakrông và Hướng Hóa.
Mục tiêu của dự án là thiết lập hệ thống hành lang đa dạng sinh học nhằm phục hồi và duy trì tính liên kết của hệ sinh thái trong khu vực (liên kết khu vực 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia); bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương nhằm tăng trưởng kinh tế khu vực; xây dựng được kế hoạch quản lý và thực thi khung chính sách của Trung ương và địa phương nhằm đạt được tác động lâu dài của dịch vụ hệ sinh thái bền vững, kỳ vọng sẽ thiết lập được các hành lang đa dạng sinh học với các kế hoạch quản lý và đưa vào hoạt động hoàn toàn trong năm 2018.
Dự án bao gồm 4 hợp phần: Tăng cường năng lực thể chế và cộng đồng trong quản lý hành lang đa dạng sinh học; Cải tạo, bảo vệ và quản lý bền vững hành lang đa dạng sinh học; Cải thiện sinh kế và hỗ trợ cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ; Hỗ trợ quản lý dự án. Tổng kinh phí thực hiện trong năm 2012 được ADB chấp thuận và UBND tỉnh phê duyệt là 366.720 USD. Trong đó phần vốn đối ứng của địa phương là 1,5 tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm 2014: Ban QLDA tỉnh đã lập quy hoạch hành lang cấp tỉnh, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã gắn với hành lang; cập nhật hồ sơ đầu tư cho 12 xã (CIP); đào tạo, nâng cao năng lực cho các thành viên của Dự án.
Thực hiện nhiệm vụ chuyển tiếp từ năm 2013, Ban QLDA tỉnh và Ban/ĐVTH dự án các huyện tổ chức kiểm tra nghiệm thu 48 ha rừng trong đó trồng phục hồi rừng 20 ha tại xã Húc, Hướng Lập; 20 ha làm giàu rừng tại xã Tà Long, 8 ha trồng lâm sản ngoài gỗ tại xã Hướng Hiệp.
Kiểm tra các mô hình khuyến nông và tiến hành bàn giao 9 mô hình gia trại. Tiến hành kiểm tra nghiệm thu 40 ha rừng sinh kế tại các xã Húc, Hướng Lập, Hướng Hiệp và Tà Long. Về vườn ươm cộng đồng, dự kiến năm 2014, vườn ươm tại Hướng Hóa sẽ cung cấp đủ giống cây trồng bời lời đỏ cho kế hoạch trồng rừng của dự án.
Tại buổi kiểm tra, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quân Chính yêu cầu: Căn cứ vào quy hoạch xây dựng Nông thôn mới các xã phải xác định được việc quy hoạch sử dụng đất theo nội dung của dự án. Công tác trồng rừng và các hoạt động lâm sinh phải được thực hiện trên đất của người dân có chủ sở hữu rõ ràng.
Các địa phương phải có kế hoạch rà soát đất đai, nhằm tiến hành cấp đất cho các hộ thực hiện công tác trồng rừng, trong đó ưu tiên hộ nghèo, khó khăn. Việc bảo vệ rừng giao cho hộ, nhóm hộ gia đình, khu dân cư.
Về cơ sở hạ tầng, tỉnh sẽ phấn đấu hoàn thành vào năm 2015, trong đó ưu tiên về hạ tầng giao thông nông thôn... Tất cả nhằm mục tiêu đạt kế hoạch của trung ương giao theo nội dung đã đề ra của dự án. (Quangtri.gov.vn 9/7) đầu trang(
Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) ngày 8-7 đã công bố Chính sách về Đa dạng Sinh học lần đầu tiên, trong đó đề ra tầm nhìn về bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu vì sự phát triển lâu dài và bền vững.
Trong khuôn khổ chính sách mới này, USAID xác định Việt Nam là quốc gia ưu tiên trong các chương trình hỗ trợ về đa dạng sinh học.
Trong 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến nhiều tiến bộ về phát triển con người và thịnh vượng kinh tế hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử nhân loại, nhưng đồng thời, con người cũng làm thay đổi môi trường với tốc độ báo động và đôi khi gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái giúp duy trì sự sống của chúng ta.
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh học và là một trung tâm lớn về các hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước nhiều loài động vật sống, bộ phận của động vật và các loại cây thuốc.
Ông Joakim Parker, Giám đốc USAID Việt Nam cho biết: “Trong nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học có ý nghĩa quan trọng trên toàn cầu theo định hướng mới này, USAID công nhận vai trò thiết yếu của các hệ sinh thái lành mạnh trong việc thúc đẩy xã hội bền vững. Chúng tôi cũng cam kết sẽ tập trung hơn nữa vào việc lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học vào các chương trình phát triển khác của USAID tại Việt Nam, thí dụ như tăng trưởng kinh tế và y tế”.
Tại Việt Nam, Mỹ đang hợp tác chặt chẽ với các đối tác chính phủ, quốc tế và các tổ chức xã hội dân sự để ngăn chặn mua bán động vật hoang dã, trong đó có thông qua Chương trình Ứng phó khu vực với nạn buôn lậu động thực vật hoang dã gặp nguy hiểm tại châu Á của USAID (ARREST).
Chương trình này có mục tiêu giảm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động thực vật hoang dã và tăng cường hoạt động thực thi pháp luật, đẩy mạnh hợp tác trong khu vực và củng cố các mạng lưới chống buôn lậu.
USAID dự kiến sẽ tăng hỗ trợ về chống buôn lậu động thực vật hoang dã tại Việt Nam trong khuôn khổ chính sách mới công bố này. (Nhân Dân 10/7; Tiền Phong 11/7, tr12) đầu trang(
Phát hoang trồng mới lại những cây rừng tốt cả về độ che phủ lẫn giá trị kinh tế, thế nhưng Vi Văn Hùng lại lãnh 4 năm 6 tháng tù về tội "hủy hoại rừng".
Người dân xã Yên Hoa, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã lặng người khi biết tin tại phiên tòa sơ thẩm, TAND huyện Na Hang tuyên phạt Vi Văn Hùng, thôn Bản Chợ, xã Yên Hoa, mức án 4 năm 6 tháng tù về tội "hủy hoại rừng".
Trong khi chính những cây rừng do Hùng trồng mới trên diện tích đó, được đánh giá ngày càng "tốt tươi" cả về độ che phủ cũng như giá trị kinh tế so với các loại cây tạp, cỏ dại trước đó...
Theo cáo trạng số 24/QĐ-KSĐT, ngày 22/10/2013, của Viện KSND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị can Vi Văn Hùng về tội "hủy hoại rừng", theo quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 189 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp "hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn".
Thế nhưng, tại bản án số 08/2014/HSST ngày 20/3/2014 của TAND huyện Na Hang, lại ghi rõ rằng: "Tại biên bản định giá ngày 17/7/2013, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Na Hang đã kết luận: Tổng giá trị lâm sản bị thiệt hại là 21.885.638 đồng (không có vật chứng, tang chứng để định giá)".
Tuy nhiên, các tang chứng, vật chứng khác, phía cơ quan điều tra đã không thu thập đầy đủ để chứng minh tại phiên tòa. Duy chỉ có các bút lục, cùng với những lời khai chưa đủ sức thuyết phục.
Cũng theo tài liệu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Na Hang, ngày 18/7/2013 đã tính toán, mức giá đối với những cây sơn, cây xoan của vợ chồng Hùng mới trồng, đã có giá tiền là 48.943.777 đồng (định giá có cơ sở, vì các loại cây trồng đang còn sống). Như vậy, chiểu theo tài liệu của cơ quan điều tra, thì nó đã gấp hơn 2 lần so với số thiệt hại do Hùng gây ra ở cùng tại diện tích đất rừng trồng này.
Hùng đã lý giải rằng, trên diện tích đó chỉ có những bụi cỏ, cây tạp và rất ít cây thân gỗ. Cơ quan điều tra vào cuộc, cũng không thu thập được số cây đã bị chặt hạ, lại định giá thành tiền là chưa đủ cơ sở định tội.
Đặc biệt là các vật chứng phá rừng nhằm chứng minh sự việc cũng không có, nên nhiều người dự phiên tòa đã cho rằng, bản án sơ thẩm số 08/2014/HSST, của TAND huyện Na Hang tuyên phạt Hùng 4 năm 6 tháng tù là không có cơ sở.
Hùng tiếp tục có đơn khiếu nại, ngày 10/6, TAND tỉnh Tuyên Quang đã xét xử phúc thẩm đối với Vi Văn Hùng. Suốt phiên xử, Hùng đã nói thật những gì đã diễn ra. Khi đến phần nghị án, tòa tuyên "hoãn phiên tòa" để làm rõ một số tình tiết.
Với hàng loạt mâu thuẫn trong hồ sơ vụ việc, luật sư Nguyên Văn Thăng, trợ giúp viên, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Tuyên Quang (người được chỉ định để bào chữa cho Hùng), đã cho rằng, trong quá trình điều tra có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án ở các tình tiết như: Rừng bị cáo trồng, bên điều tra quy tội là phát dọn rừng, nhưng không có biên bản hiện trường lúc phát dọn.
Khi lập biên bản xác định cây bị chặt, chỉ có mỗi phần gốc cây đã mục nát, thì biết ai là thủ phạm chặt hạ... Với hàng loạt những tình tiết chưa được làm rõ, mà quy kết Vi Văn Hùng phạm tội phá rừng với mức án như vậy là chưa thỏa đáng.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch UBND xã Yên Hoa, nơi Vi Văn Hùng cư trú, cũng bày tỏ lo ngại: "Tôi không hiểu về nghiệp vụ điều tra, cũng không nắm rõ vụ việc này. Thế nhưng, công việc phát dọn thực bì để trồng rừng của anh Vi Văn Hùng đã diễn ra khá lâu, mới thấy các cơ quan chức năng tiến hành xác minh, rồi thống kê thiệt hại.
Cách làm này thiếu cơ sở ở chỗ: Các loại cây, hay cỏ dại, dây leo nếu có thì anh Hùng cũng phải đốt hết mới trồng rừng mới được. Tôi có nghe người dân ở khu Bản Chợ, xã Yên Hoa nói rằng, cây sơn của vợ chồng anh Hùng trồng ở đó đã lớn, phủ kín hết đất rồi, thậm chí còn tốt và có giá trị kinh tế cao hơn rừng tự nhiên gần đó. Như vậy, cơ quan chức năng sẽ thống kê và tính toán thiệt hại như thế nào?
Tôi nghĩ rằng, khu vực đó thuộc đất rừng sản xuất, nếu người dân trồng được rừng tốt hơn bằng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững, mà bị phạm tội thì thật là khó hiểu".
Còn tại Biên bản xác minh ngày 12/7/2013, ông Vi Văn Lượng, Chủ tịch UBND xã Khâu Tinh (nơi có diện tích đất do vợ chồng Hùng đã cải tạo để trồng cây sơn) cũng khẳng định: "Rừng sản xuất ở khu vực Phiêng Nảy - Pù Tung từ năm 2010 đến nay, chưa giao cho hộ gia đình nào trồng rừng phủ xanh, vẫn là dạng đất trống đồi trọc".
Với biên bản này, phải chăng Vi Văn Hùng đã có công trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc bằng loài cây sơn ta mang lại quả kinh tế?
Còn bác Vương Văn Đệ, 86 tuổi, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1954, từng làm Bí thư Đảng ủy xã Yên Hoa nhiều năm (1988 mới nghỉ hưu), cũng khẳng định: "Nơi vợ chồng thằng Hùng phát dọn để trồng cây sơn làm gì có rừng, chỉ có mấy bụi cỏ và dây leo thôi.
Từ mấy chục năm nay, khu vực đó chỉ là bãi chăn thả trâu, bò của các hộ dân thôn Tân Thành, Nà Khuyến, Bản Chợ (xã Yên Hoa). Thi thoảng có cây to bằng cổ tay, thì người dân lại chặt làm củi, chứ làm gì có rừng, nay vợ chồng Hùng trồng cây sơn, cây xoan thì mới thành rừng xanh tốt như thế". (Nông Nghiệp VN 11/7, tr20) đầu trang(
Hệ sinh thái biển và ven bờ ở Việt Nam cung cấp nhiều lợi ích kinh tế (thực phẩm, thu nhập, việc làm) và nhiều giá trị cộng đồng (tham quan, giải trí, văn hóa) cho đời sống con người.
Tuy vậy, việc diện tích các khu sinh thái tự nhiên bị thu hẹp, sản lượng giảm và khả năng phục hồi kém đang ảnh hưởng xấu đến đời sống con người, đặc biệt là những người nghèo.
Việt Nam có hệ thống các hệ sinh thái biển đa dạng, bao gồm 155.000 ha rừng ngập mặn, khoảng 1.300 km2 rạn san hô, gần 500 km2 đầm phá và khoảng 16.000 ha cỏ biển, nhiều khu vực bãi triều và cửa sông. Các hệ sinh thái này đã cung cấp nhiều dịch vụ quan trọng cho người dân, với khoảng 20 triệu người gián tiếp chịu tác động của các dịch vụ này, 8 triệu người nghèo trực tiếp sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái.
Theo đánh giá của Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng: Tổng giá trị các sản phẩm dịch vụ của hệ sinh thái rạn san hô của nước ta ước tính vào khoảng 100 triệu USD, trong đó 1 km2 rạn san hô có thể cung cấp lượng hải sản đánh bắt lên tới 10.000 USD.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, 1 km2 rừng ngập mặn có thể cung cấp lượng đánh bắt 450 kg hải sản. Mỗi năm, hệ sinh thái cỏ biển cung cấp lượng thủy sản và các dịch vụ có giá trị trên 20 triệu USD. Còn giá trị mà đầm phá mang lại ước tính lên đến trên 2.000 USD/ha.
Về các giá trị điều tiết, có thể thấy rõ chức năng bảo vệ đường bờ biển của các rạn san hô tại một số điểm ở miền Trung như Bãi Tiên và Hòn Khói của tỉnh Khánh Hòa. Rừng ngập mặn có thể làm giảm xói mòn bờ biển và bảo vệ đường bờ khỏi bão và triều cường. Mỗi m2 cỏ biển có thể tạo ra 10 lít ôxy hòa tan, góp phần cân bằng O2 và CO2 trong nước, làm giảm hiệu ứng nhà kính khí hấp thụ CO2 vào nước.
Mỗi acre (tương đương 0,44ha) cỏ biển có thể tạo ra 10 tấn lá mỗi năm. Lượng sinh khối này tạo ra nguồn thức ăn, sinh cảnh và nơi sinh sản đẻ của nhiều loài động vật không xương sống, có xương sống cả ở giai đoạn con non và trưởng thành. Các loài cỏ biển cũng đóng góp vào mạng lưới thức ăn, hoặc trực tiếp thông qua các động vật ăn cỏ biển, hay gián tiếp sau khi các loài thực vật cỏ biển chết đi và trở thành thức ăn mùn bã.
Qua nghiên cứu, khảo sát của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, các hệ sinh thái biển của Việt Nam đang bị suy thoái cả về số lượng và chất lượng trong những thập niên vừa qua. Chỉ 1% trong số 1.300 km2 rạn san hô dọc bờ biển hiện trong điều kiện tốt. Độ che phủ của san hô đã giảm 30% tại một số nơi trong giai đoạn 1993 - 2004.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng đang bị suy thoái mạnh mẽ từ đầu thế kỷ 20. Lượng đánh bắt hải sản trên 1 ha tại đầm phá giảm xuống hơn một nửa trong thập niên trước. Thảm cỏ biển tại tỉnh Khánh Hòa bị thu hẹp đáng kể với tốc độ 80 ha mỗi năm.
Nguyên nhân suy thoái các hệ sinh thái biển trước hết là do nhu cầu sử dụng dịch vụ hệ sinh thái ngày một tăng, chủ yếu do áp lực dân số. Đơn cử như tổng diện tích nuôi tôm năm 2000 mới có 250.000 ha, nhưng đến năm 2003 đã lên đến 530.000 ha. Hiện Việt Nam nằm trong những quốc gia có diện tích nuôi tôm lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển như khai thác quá mức vùng ven bờ, đánh bắt theo lối hủy diệt, nuôi trồng thủy sản thiếu bền vững, các hoạt động công nghiệp và sử dụng đất tràn lan, cộng với biến đổi khí hậu.
Để khắc phục tình trạng này, nhiều chuyên gia cho rằng, nguồn lợi ven bờ đang bị suy giảm. Do vậy, các địa phương cần tìm, lựa chọn ra một phương thức làm ăn khác cho ngư dân thay vì chỉ khai thác hải sản như hiện nay. Đó có thể là lĩnh vực du lịch hoặc các dịch vụ khác thay thế, nhằm giúp cho thế hệ tương lai của ngư dân thay đổi cách thức kiếm sống.
Một số ý kiến khác cho rằng, chính sách về quản lý tổng hợp vùng bờ nên được thúc đẩy ở cả mức độ xây dựng chính sách và thực hiện. Doanh nghiệp nào sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái, phải bù đắp lại các lợi ích cho những người sống phụ thuộc vào nguồn lợi này. Mặt khác, Chính phủ nên khuyến khích sự phát triển của các ngành ở vùng biển và ven biển. (Tin Tức 11/7) đầu trang(
Công tác đền bù, giải tỏa và hỗ trợ tái định cự thủy điện, quản lý bảo vệ rừng, xây dựng nông thôn mới, phát triển giao thông, là những vấn để nổi cộm về kinh tế-xã hội của Tây Nguyên được tập trung xử lý trong thời gian qua.
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, với những vấn đề tồn đọng liên quan đến thủy điện, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các tỉnh đã cố gắng tập trung giải quyết, như: Hỗ trợ 158 tỷ đồng cho tái định cư, sản xuất, y tế, giáo dục tại thủy điện Thượng Kon Tum; hỗ trợ 181 tỷ đồng thực hiện tái định cư và ổn định đời sống người dân tại thủy điện Đắk Đrinh; tại thủy điện An Khê-Ka Nak đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ 126 hộ dân bị ảnh hưởng với diện tích 167 ha đất.
Tại một số dự án thủy điện khác như Đồng Nai 3, Sêrêpôk 4A… công tác đền bù, hỗ trợ sản xuất, đời sống của nhân dân được Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và các tỉnh chỉ đạo quyết liệt và đến thời điểm này giảm được một phần bức xúc, kiến nghị kéo dài.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được các tỉnh chú trọng thực hiện và thu được nhiều kết quả, góp phần làm chuyển biến đời sống kinh tế-xã hội vùng nông thôn. Đến nay, toàn vùng có 593/597 xã đã lập và phê duyệt đề án nông thôn mới. Trong đó, 15 xã đạt 19 tiêu chí, 22 xã đạt từ 14-18 tiêu chí, 119 xã đạt 9-13 tiêu chí; xây dựng được trên 1.000 mô hình sản xuất có hiệu quả.
Ngoài ra, các chính sách dân tộc và công tác đảm bảo an sinh xã hội được các cấp ngành chủ động thực hiện. Trọng tâm là hỗ trợ trực tiếp và tạo điều kiện cho 31.000 hộ nghèo được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất. Nhiều tỉnh tích cực đầu tư, phát triển buôn, làng vùng dân tộc thiểu số, nhất là tỉnh Đắk Nông. Công tác giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân được quan tâm. Các nguồn lực y tế được quan tâm đầu tư, gắn với nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân.
Tuy đạt nhiều kết quả tích cực nhưng khu vực Tây Nguyên vẫn còn nhiều vấn đề đáng lưu ý, như: Tình hình giao thông ở hầu hết các tỉnh chậm cải thiện, tình trạng phá rừng, vi phạm lâm luật, chống người thi hành công vụ còn diễn biến phức tạp, có lúc nghiêm trọng; việc xử lý tồn động tại một số dự án thủy điện còn nhiều vướng mắc, nhất là việc ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa, công tác đền bù, tái định cư…
Bên cạnh đó, hiện toàn vùng còn 31.800 hộ dân thiếu đất sản xuất, nhiều người dân thiếu việc làm, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng làm rẫy, chiếm đất phân lô tại các vườn cao su xảy ra gần đây ở một số địa phương, gây phức tạp về an ninh nông thôn.
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết 6 tháng cuối năm 2014, tập trung chỉ đạo triển khai có kết quả quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù và ưu đãi phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2020; Hoàn chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển thủy lợi vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện các dự án hạ tầng giao thông như Quốc lộ 14, đường Trường Sơn Đông, chuẩn bị điều kiện khởi công Dự án nâng cấp đường cất cánh, đường lăn, sân đỗ Cảng hàng không Pleiku…
Tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho con em đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường phát triển hệ thống y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân vùng sâu, vùng khó khăn; đôn đốc thực hiện đề án giảm nghèo bền vững 2013-2017, gắn với phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. (Chính Phủ 11/7) đầu trang(
10.7, ông Trần Đình Dũng, Trưởng Công an xã Mỹ Lộc, huyện Can Lộc, cho biết tính đến 17 giờ cùng ngày, vụ cháy rừng nghiêm trọng trên địa bàn xã này đã cơ bản được dập tắt.
Ông Dũng thông tin thêm, khoảng 13 giờ cùng ngày, đám cháy bắt đầu bùng phát tại một điểm ở rừng thông Trại Tiểu (thuộc Khu du lịch sinh thái Tiểu Đồng, xã Mỹ Lộc), rồi lan ra khu vực xung quanh.
Nhận được tin báo, chính quyền xã Mỹ Lộc và huyện Can Lộc đã điều động hơn 200 người từ các lực lượng kiểm lâm, công an, biên phòng phối hợp cùng người dân địa phương đến hiện trường dập lửa. Sau 4 tiếng nỗ lực, đến 17 giờ cùng ngày, vụ cháy rừng cơ bản được dập tắt. Hiện cơ quan chức năng vẫn chưa thể thống kê được cụ thể diện tích rừng bị cháy.
Ông Lê Công Quyền, Trưởng Công an xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc cũng cho biết, khoảng 15 giờ ngày 10.7, một vụ cháy rừng nghiêm trọng đã xảy ra tại khu vực rừng Đồng Tráng (thuộc xóm Kim Thành, xã Đồng Lộc, ngay sát Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc). Khoảng 300 người đã được huy động để dập tắt đám cháy sau 3 tiếng đồng hồ.
Theo thống kê sơ bộ của UBND xã Đồng Lộc, vụ cháy rừng trên đã làm 3 ha rừng trồng gồm các loại cây như thông, tràm, bạch đàn… bị cháy. Trong quá trình dập lửa cứu rừng, anh Nguyễn Hữu Cường (40 tuổi, trú xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc) đã bị bỏng ở 2 bàn chân, phải nhập viện chữa trị. (Thanh Niên 11/7) đầu trang(
10/7, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh ông Phan Văn Công cho biết, vừa báo cáo lên Cục Kiểm lâm Việt Nam đề nghị giám định mẫu phẩm con bò lạ, nghi là bò tót thường xuyên xuất hiện vào ban đêm cắn phá nương rẫy của người dân thôn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân.
Chi cục Kiểm lâm Phú Yên đề nghị Cục Kiểm lâm Việt Nam và Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) hỗ trợ, tiếp nhận, giám định các mẫu phẩm thu thập được từ con bò để có kết luận chính xác.
Trước đó, Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, khảo sát nhiều hướng, lùng sâu vào khu rừng, phát hiện nơi ẩn náu của con bò tại tiểu khu V2.5 thuộc khu rừng keo Đá Hang. Vị trí này cách khu dân cư thôn Đồng Hội gần 1,5 km và cách nương rẫy của người dân khoảng 1 km.
Tại hiện trường, đoàn khảo sát phát hiện bãi nằm, nhiều vết chân, phân, nước tiểu và nhiều sợi lông bò dài dính trên thân cây keo bị gãy ngang thân có chiều cao hơn 1 mét.
Ông Nguyễn Văn Dư- Chi cục phó Chi cục kiểm lâm Phú Yên cho biết: "Chúng tôi đã chia làm nhiều hướng khảo sát với bán kính khoảng 1 km. Tại vị trí vĩ độ 551681; kinh độ 1479733 phát hiện hai đống phân khô và nhiều dấu chân của động vật hai móng có bề rộng từ 16 đến 17 cm.
Chúng tôi đi sâu vào rừng trồng, tại điểm có tọa độ vĩ độ 551771; kinh độ 1479839, có nhiều dấu chân, thực bì xung quanh bị giẫm sạch với bán kính khoảng 2 mét, nghi là nơi nằm nghỉ của bò..."
Theo người dân, con bò nghi là bò tót thường xuyên xuất hiện có khu rẫy của dân có diện tích hơn 10 hecta, trong đó nhiều ruộng bắp, sắn, mía đã bị bò cắn phá. Người dân phải dựng chòi cao quan sát vào ban đêm, tránh bò tấn công, đồng thời dùng lưỡi cuốc làm kẻng để xua đuổi bò.
Anh Trần Đình Cường, người dân ở thôn Đồng Hội nói: "Tôi chỉ gọi là bò rừng chứ không biết là bò bót hay bò gì. Từ năm 2012 nó đã xuống rẫy của chúng tôi.
Mới đây, gia đình tôi và anh Trần Văn Bình có làm 2 đám bắp thì bò rừng nó cũng xuống ăn. Chúng tôi cũng có báo với thôn, thôn báo với xã, xã báo với huyện, kiểm lâm về việc bò rừng phá hoại hoa màu. Hạt kiểm lâm có lên đây nhưng cũng chưa xác định bò rừng, bò hoang hay bò tót.
Để bảo vệ, chúng tôi phải làm chòi canh để đêm nào bò xuất hiện gõ kiểng, lấy ná dây thun bắn để đuổi bò nó đi thôi."
Ông Lê Quốc Hải- Trưởng thôn Đồng Hội cho biết: "Khi dân báo thì tôi cũng báo cho Ủy ban Nhân dân xã để xem xét và tôi cũng thường xuyên tuyên truyền cho nhân dân biết đây là động vật quý hiếm, không nên săn bắn vì tôi nghi đây là bò tót. Nay nhờ cấp trên, các cơ quan chuyên môn sớm kiểm tra, giải quyết để bảo vệ hoa màu của nhân dân và bảo vệ tài sản quý giá của Nhà nước." (VietnamPlus 10/7) đầu trang(
Đốt thực bì và vàng mã, thắp hương viếng mộ dưới thời tiết nắng nóng, có lúc lên tới 38-39 độ C, cùng với khô hạn kéo dài là nguyên nhân chính dẫn đến những vụ cháy rừng trong thời gian gần đây.
Vào đầu mùa nắng nóng trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 4,928ha rừng trồng. Trong đó, vụ cháy vào lúc 12h, ngày 3/6/2014 tại tiểu khu 106, phường Hương Vân, thị xã Hương Trà gây thiệt hại lớn nhất với 2,09ha rừng keo 2 năm tuổi của hộ ông Lê Xưng (tổ 2, phường Hương Vân, thiệt hại 1,5ha) và hộ ông Trần Công Dũ (tổ 9, phường Hương Vân, thiệt hại 0,59ha). Mặc dù lực lượng chữa cháy được huy động khá đông nhưng phải mất gần 5 giờ đồng hồ, đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn.
Ông Đặng Văn Kiệm, Phó Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, từ đầu năm 2014 đến nay có hàng chục vụ cháy xảy ra, nhưng nhờ phát hiện và huy động lực lượng chữa cháy kịp thời nên không gây thiệt hại đến rừng. Có 7 vụ cháy rừng gây thiệt hại. So với cùng kỳ năm 2013, số vụ cháy rừng tăng 3 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 3,16ha.
Các vụ cháy rừng đều được xác định là do người dân đốt thực bì, vàng mã, thắp hương viếng mộ bất cẩn, gặp trời nắng nóng và gió mạnh nên cháy lan ra các rừng lân cận. Ngoài ra, một số vụ cháy do đạn còn sót lại sau chiến tranh phát nổ, người dân đốt tổ ong gây cháy lan...
Hầu hết các vụ cháy phát hiện sớm ngăn chặn được từ vòng ngoài nên đã không cháy lan vào rừng trồng. Điển hình là vụ cháy rừng tại phía nam sườn núi Ngự Bình, thuộc địa phận phường An Cựu, TP Huế vào 13h ngày 13/5/2014 do người dân đốt vàng mã nhân ngày lễ Phật đản. Sau khi nhận được tin báo, 70 người, gồm: Lực lượng kiểm lâm, Công ty Lâm nghiệp Tiền Phong, phường An Cựu và người dân đã nhanh chóng triển khai lực lượng, dập tắt ngọn lửa sau 2 giờ cháy, thiệt hại không đáng kể.
Cháy rừng do nguyên nhân chủ quan và khách quan. Với những nguyên nhân chủ quan (do người dân gây cháy), người vi phạm sẽ bị xử phạt theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ (trước đây là Nghị định số 99/2009/NĐ-CP); thậm chí còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Năm 2012 đã xảy ra 2 vụ cháy rừng nghiêm trọng do người dân đốt thực bì gây cháy lan trên diện rộng.
Trong đó, vụ cháy rừng vào ngày 18/8/2012 do ông Hoàng Minh Thảo (Phú Thượng, Phú Vang) đốt thực bì gây cháy 1,28ha tại xã Hương An (Hương Trà) bị UBND tỉnh xử phạt 40 triệu đồng. Vụ cháy rừng vào ngày 5/8/2012 tại xã Lộc Hòa (Phú Lộc) làm thiệt hại 34,5ha rừng trồng của nhiều hộ dân. Nguyên nhân dẫn đến cháy, bước đầu cơ quan điều tra xác định là do một số người dân trú xã Lộc Hòa, Phú Lộc đốt thực bì.
Hiện nay, vụ án đang được tiếp tục điều tra mở rộng để đưa ra xét xử trong thời gian tới. Riêng trong năm 2014. Lực lượng kiểm lâm phát hiện 3 vụ việc người dân vi phạm về phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại các xã Phong Thu, Phong Sơn (Phong Điền), Hương Nguyên (A Lưới) và đã tham mưu UBND cấp xã xử lý 3 vụ vi phạm nói trên, xử phạt 7 triệu đồng.
Một hậu quả nữa khi cháy rừng là lực lượng tham gia chữa cháy phải đánh đổi cả tính mạng. Năm 2013, thiếu tá Nguyễn Tuấn Ngãi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dự bị động viên thuộc Ban Chỉ huy quân sự huyện Nam Đông đã hy sinh khi tham gia chữa cháy rừng.
Mới đây, trong lúc chữa cháy rừng tại núi Ngự Bình vào chiều ngày 13/5, 2 người dân địa phương là ông Bùi Ngọc (phường An Tây) và ông Nguyễn Quang Trung (phường An Đông) đã bị ngạt khói ngất xỉu.
Ông Đặng Văn Kiệm, Phó Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, ngay từ đầu năm, chi cục đã xây dựng và tổ chức thực hiện phương án PCCCR, xác định 8 vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy, thời gian từ đầu tháng 4 và cao điểm vào tháng 7 và 8.
Các đơn vị đã tổ chức tuyên truyền, họp dân tại 295 cụm dân cư với 10.641 người tham gia; ký kết BVR-PCCCR với 3.339 hộ và 7 đơn vị hoạt động trên địa bàn. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm đã tu sửa 23 bảng quy ước, 6 bảng cấp dự báo cháy rừng, 11 chòi canh rừng và 38,5 km đường băng cản lửa của các đơn vị chủ rừng. Ngoài ra, ban chỉ đạo các cấp đã tổ chức kiểm tra 109 đợt về thực hiện phương án PCCCR...
Bên cạnh sự vào cuộc tích cực của cơ quan chức năng, cấp ủy, chính quyền địa phương thì mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, đặc biệt cần thực hiện theo đúng quy trình trong việc xử lý thực bì, đốt nương, đốt vàng mã, thắp hương viếng mộ, tránh để xảy ra cháy rừng. (Báo Thừa Thiên Huế 10/7) đầu trang(
Do chịu ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía Tây, kết hợp với hiệu ứng phơn Tây Nam, nên ngày 9-10/7 ở Nghệ An xảy ra nắng nóng với nền nhiệt độ cao nhất trong ngày phổ biến: 35 ÷ 370C, có nơi trên 370C.
Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An yêu cầu các Chính quyền các địa phương, các đơn vị chủ rừng, các Hạt Kiểm lâm thực hiện nghiêm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng:
1- Thực hiện chế độ trực 24/24 giờ hàng ngày để phát hiện sớm, phản ứng nhanh các tình huống cháy rừng xảy ra.
2- Phân công cán bộ đến các khu rừng trọng điểm dễ cháy, nơi tập trung đông người đi lại, thực hiện tuần tra, canh phòng lửa rừng, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng, việc sử dụng lửa, chất nổ, chất dễ cháy trong rừng và ven rừng.
3- Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện kỹ thuật, hậu cần ứng trực sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi có cháy rừng xảy ra.
4- Khi phát hiện cháy rừng xẩy ra thì chủ rừng, Chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm phải nhanh chóng huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật, hậu cần cơ động nhanh đến hiện trường tổ chức chữa cháy, không để xảy ra cháy lớn. (Nghệ An 24h 9/7) đầu trang(
Tình trạng buôn bán động vật hoang dã, động vật quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng diễn ra nhiều nơi.
Tại TP HCM, dễ dàng bắt gặp nhiều loài chim, thú được bày bán công khai trên các tuyến đường như Hồng Bàng (quận 5), Lê Hồng Phong (quận 10), Trường Chinh (quận Tân Bình)...
Khá nhiều loài chim, thú quý trở thành món mồi ngon cho dân nhậu. (Người Lao Động 9/7) đầu trang(
Những ngày này, người dân khắp nơi đổ về các cánh rừng thuộc tỉnh Khánh Hòa để khai thác quả ươi. Được mùa, được giá, nhiều người ngang nhiên chặt hạ cây ươi để tận thu quả ươi, làm xơ xác những cánh rừng.
Tại phía tây huyện miền núi Khánh Vĩnh, rừng ươi đang mùa rộ quả. Ươi được mùa lại bán được giá nên từ đầu tháng 6 đến nay, từng tốp người cả dân địa phương và những nơi khác đều đổ xô lên rừng khai thác ươi. Những năm trước, mọi người chỉ nhặt những quả ươi đã rụng. Nhưng năm nay, nhiều người đi thành từng nhóm từ 3 - 7 người mang theo cưa máy vào rừng đốn hạ cây ươi.
Ông Nguyễn Tuấn Sơn, người dân ở tỉnh Phú Yên lên khai thác ươi tại huyện Khánh Vĩnh cho biết đi hái ươi có ngày kiếm được hàng triệu đồng. “Hái được quả ươi phải vất vả lắm, lên cao mới có. Cây ươi vừa cao, vừa to, hạ cây xuống hái rất nhanh. Thu hoạch ươi đem bán cũng được giá, khoảng 200.000-300.000 đồng/kg. 3 người hái một ngày cũng được 15-20kg. Tuy nhiên, khi đã hạ cây xuống rồi thì phải 10 năm sau cây nó mới lên lại”, ông Sơn cho biết.
Tại 2 huyện Khánh Sơn và huyện Vạn Ninh, người khai thác ươi vào rừng dựng lán trại, sau đó đánh dấu, phân chia từng cây ươi để chờ ngày hái quả. Hàng ngày, mỗi nhóm này chặt hạ từ 2 đến 4 cây ươi, mỗi cây chỉ thu được vài chục kg quả già, còn quả xanh, non bỏ lại.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo Kiểm lâm các địa phương phối hợp với các chủ rừng vận động người dân tận thu ươi bằng cách nhặt quả rụng, đồng thời tăng cường kiểm soát các cơ sở thu mua ươi. Tuy nhiên, do địa hình rừng núi phức tạp nên việc bảo vệ gặp nhiều khó khăn.
Ông Nguyễn Khương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh lo ngại với cách khai thác tận diệt như hiện nay, chẳng bao lâu nữa nguồn lợi từ rừng ươi sẽ không còn.
Với cách khai thác tận diệt hiện nay, đến một ngày nào đó sẽ không còn cây ươi nữa. Chúng tôi đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường vận động, tuyên truyền bà con nhân dân thu lượm chứ không nên chặt phá. Nếu giữ lại cây ươi là giữ lại nguồn gien giống quý, giữ lại sản phẩm cho bà con để có thể thu lượm hàng năm”. (VOV 10/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 85/2014/TT-BTC hướng dẫn quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy định chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước nơi thuận tiện cho giao dịch của chủ đầu tư và thuận tiện cho việc kiểm soát thanh toán của Kho bạc Nhà nước.
Đồng thời, chủ đầu tư cũng được tạm ứng vốn với tổng mức vốn tạm ứng của các hợp đồng thực hiện trong năm tối đa là 30% kế hoạch vốn giao hàng năm cho dự án.
Trường hợp dự án được bố trí kế hoạch vốn mà mức vốn tạm ứng không đủ theo hợp đồng, sau khi đã thanh toán khối hoàn thành và thu hồi toàn bộ hoặc một phần số vốn đã tạm ứng lần trước, chủ đầu tư có thể đề nghị Kho bạc Nhà nước tạm ứng tiếp cho dự án, trong đó, tổng số dư vốn tạm ứng chưa thu hồi tối đa là 30% kế hoạch vốn giao hàng năm cho dự án.
Vốn tạm ứng được thanh toán qua từng lần thanh toán khối lượng hoàn thành của hợp đồng, bắt đầu thanh toán từ lần thanh toán đầu tiên và thu hồi hết khi thanh toán khối lượng hoàn thành đạt 80% giá trị hợp đồng; mức thanh toán từng lần do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu và quy định cụ thể trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, chủ đầu tư còn có trách nhiệm cùng với các tổ chức, nhà thầu, cá nhân, cộng đồng dân cư và hộ gia đình có tham gia thực hiện dự án đầu tư phát triển rừng tính toán mức tạm ứng hợp lý để đề nghị ứng vốn, nhưng không vượt quá mức 30% nêu trên; đồng thời phải quản lý chặt chẽ, sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả và có trách nhiệm đảm bảo hoàn trả đủ khối lượng số vốn đã tạm ứng và thu hồi toàn bộ vốn ứng khi khối lượng hoàn thành đạt đến 80% giá trị hợp đồng.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08. (Sở Tài Chính Bắc Giang 10/7) đầu trang(
9/7/2014, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1005 /KH-UBND, Tổ chức Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh Lai Châu.
Nội dung: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong thời gian tới. Đề xuất ban hành Quy định về cơ chế thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Thảo luận của các Đại biểu dự Hội nghị. Công tác thi đua khen thưởng.
Thời gian tổ chức: Khai mạc vào hồi 07h30', ngày 28 tháng 7 năm 2014. Địa điểm: Phòng họp A3 – Trung tâm Hội nghị - Văn hóa tỉnh.
Thành phần tham dự: Đại diện Lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp; Đại diện Lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam. Các thành viên Ban Chỉ đạo về kế hoạch Bảo vệ & phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 – 2020; Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Ban Kiểm soát Quỹ; Văn phòng UBND tỉnh: Lãnh đạo, Chuyên viên theo dõi Nông – Lâm nghiệp; - Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT; các đơn vị trực thuộc Sở (Phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm); Chủ tịch UBND huyện, thành phố; Ban Chỉ đạo Bảo vệ và PTR cấp huyện: Trưởng Ban; Phòng Nông nghiệp & PTNT (Phòng Kinh tế), Hạt Kiểm lâm; Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện (lãnh đạo Ban và kế toán); Các tổ chức, cá nhân được khen thưởng tại Hội nghị. (Văn Phòng UBND Tỉnh Lai Châu 11/7) đầu trang(
10/7, UBND tỉnh đã tổ chức cuộc họp thẩm định đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Nguyễn Đình Quang, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp; dự họp có lãnh đạo các sở, ngành liên quan; lãnh đạo UBND các huyện, thành phố.
Về thực hiện đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng một số nhiệm vụ theo định hướng và giải pháp như: thực hiện xây dựng mới, rà soát và điều chỉnh 7 quy hoạch về nông, lâm, thủy sản; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi bằng các giống có giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng cao; áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP; xây dựng các mô hình chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn để nhân ra diện rộng; chuyển đổi hình thức sản xuất từ manh mún, nhỏ lẻ sang quy mô lớn; đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa nông, lâm nghiệp, thủy sản; tái cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý; cải cách thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả các cơ chế, chính sách trong nông nghiệp, nông thôn; đầu tư cho thủy lợi và hạ tầng nông thôn; huy động mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới.
Theo đề án, đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản đạt từ 3,5-4%/ năm; quỹ đất chuyên trồng lúa nước đạt trên 25 nghìn ha, đảm bảo lương thực bình quân đầu người trên 400 kg/ người/ năm; tốc độ tăng trưởng sản phẩm chăn nuôi hàng hóa tập trung trang trại và gia trại đạt bình quân 6,08%/năm; trên 82% kênh mương được kiên cố hóa, tỷ lệ tưới chắc đạt trên 88%; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt trên 95%...
Về kết quả chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, trong năm 2013 đã thu trên 16,7 tỷ đồng, chi trên 3 tỷ đồng; dự kiến năm 2014 thu 5,2 tỷ đồng. Qua 2 năm thực hiện thu, chi dịch vụ môi trường rừng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như: toàn bộ diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng chưa được giao rừng, cho thuê rừng theo quy định; diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường có diện tích nhỏ lẻ, manh mún; đơn giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng thấp... ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án điều tra, xác định phạm vi, ranh giới, diện tích, đặc điểm các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường.
Kết luận cuộc họp, ông Nguyễn Đình Quang yêu cầu Sở NN&PTNT chủ trì phối hợp các huyện, thành phố và các ngành, căn cứ đề án mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dựa trên tình hình thực tiễn của địa phương hoàn thiện dự thảo, trình UBND tỉnh ban hành.
Trong đó chú trọng vào 3 nhiệm vụ: Quy hoạch, cơ chế chính sách, sắp xếp doanh nghiệp; tập trung xác định rõ mục tiêu tái cơ cấu, xây dựng định hướng phát triển, sắp xếp bố trí lại theo hướng hiệu quả hơn; xây dựng kế hoạch thực hiện sau khi hoàn thành đề án.
Đối với kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng, các địa phương nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, xác định đối tượng là chủ các khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường; quản lý chặt chẽ việc chi từ nguồn này để đúng mục đích; bổ sung, điều chỉnh kế hoạch 2013 và lập kế hoạch về nguồn chi 2014; trong quá trình thực hiện cần kiểm tra, tránh thất thoát. (Tuyenquang.gov.vn 10/7) đầu trang(
Xuất khẩu gỗ Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) đang đứng trước thách thức to lớn để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật liên quan tới nguồn gốc gỗ hợp pháp theo Chương trình Thực thi lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản và quá trình tham gia Hiệp định đối tác tự nguyện (FLEGT - VPA) mà Việt Nam đang đàm phán với EU.
Ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam phát triển nhanh chóng trong 10 năm qua, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2007 - 2013 gần 16%. Xuất khẩu gỗ là một trong 5 ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam trong năm 2013 với 5,6 tỷ USD, chiếm khoảng 80% tổng giá trị sản xuất của cả ngành.
Ngành chế biến gỗ cũng đem lại thu nhập cho gần 300.000 lao động tại 3.500 doanh nghiệp và hàng ngàn hộ gia đình tại các làng nghề, khu vực trồng rừng… Phát triển bền vững và ổn định ngành chế biến gỗ có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế và xã hội của nhiều khu vực.
Hiện nay, 4 thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của nước ta là Mỹ, Trung Quốc, Nhật và EU. Việt Nam chiếm khoảng gần 4% thương mại đồ nội thất trên thế giới, đứng thứ 6 thế giới và thứ 2 ở Châu Á. Trong đó, riêng thị trường EU chiếm tới 30% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ta đang gặp phải nhiều rào cản khi muốn phát triển tại thị trường này. Kể từ ngày 3/3/2013, quy chế gỗ của EU có hiệu lực nhằm đối phó với vấn đề khai thác và thương mại bất hợp pháp gỗ và sản phẩm gỗ. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu đồ gỗ sang EU nếu đảm bảo rằng gỗ nguyên liệu đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp và bền vững theo quy định của FLEGT - VPA. Vì vậy, đáp ứng các đòi hỏi của FLEGT-VPA được coi là yêu cầu sống còn đối với ngành gỗ Việt Nam ở thị trường EU.
Bà Nguyễn Tường Vân - Phó Chánh văn phòng, Ban chỉ đạo FLEGT và Lacey, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: "Quá trình đàm phán FLEGT - VPA đang ở giai đoạn cuối, hai bên đã tiến hành 20 cuộc họp trực tuyến, 7 phiên họp cấp chuyên viên và 3 phiên đàm phán cấp cao. Dự kiến việc ký kết sẽ thực hiện vào khoảng tháng 10/2014".
Như vậy, thời điểm ký kết dự kiến đang đến gần. Tuy nhiên, theo rà soát sơ bộ cho thấy không nhiều doanh nghiệp và cơ sở chế biến xuất khẩu gỗ có hiểu biết về FLEGT - VPA, còn số có đủ năng lực để đáp ứng các yêu cầu này càng ít hơn nữa. Hiện trạng này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai xuất khẩu đồ gỗ sang EU của Việt Nam.
Theo kết quả một cuộc khảo sát vào tháng 4/2014 do Trung tâm Giáo dục và Phát triển (CED) thực hiện, chỉ có 57% doanh nghiệp biết về FLEGT - VPA, 75% doanh nghiệp chưa biết các nội dung chủ yếu của FLEGT - VPA. Điều đáng nói là 73% các doanh nghiệp này đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội, ngoại thất sang EU và chiếm 51% thị phần xuất khẩu.
Một vấn đề khác khiến quá trình đàm phán FLEGT - VPA gặp nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách Việt Nam là Quy chế gỗ của EU yêu cầu nhà nhập khẩu gỗ vào EU phải có trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ và phải truy xuất nguồn gốc gỗ trong chuỗi cung ứng. Nhưng đến nay, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều gặp khó khăn khi bị yêu cầu đưa ra các giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi thu mua gỗ trong dân.
Một phần nguyên nhân là do nhận thức và thói quen lưu trữ hồ sơ của người dân còn hạn chế và một phần do sự thiếu thống nhất về các yêu cầu giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ. Chẳng hạn như, hiện nước ta có 2 triệu m3 gỗ cao su rất được ưa chuộng sử dụng để sản xuất đồ gỗ nội ngoại thất, nhưng đây lại là loại cây đa mục đích. Doanh nghiệp kinh doanh gỗ cao su không được cấp giấy tờ gì, như vậy sẽ là khó khăn nếu muốn xuất khẩu mặt hàng này sang EU. Một số vấn đề liên quan đến gỗ nhập khẩu từ các nước lân cận và gỗ lậu cũng gây khó khăn khi đàm phán về FLEGT-VPA.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc trung tâm WTO, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, việc chúng ta phải làm ngay hiện nay là đẩy mạnh cung cấp thông tin và tuyên truyền về FLEGT - VPA cho các doanh nghiệp ngành gỗ. Các hiệp hội gỗ cũng nên chủ động đóng góp ý kiến tham mưu cho Tổng cục Lâm nghiệp trong quá trình đàm phán đi đến ký kết FLEGT-VPA. (Tài Chính Điện Tử/efinance 9/7) đầu trang(
Trong ngày làm việc thứ 3 kỳ họp thứ 8 HĐND tỉnh Khánh Hòa khóa V, một số đại biểu HĐND tỉnh đã chất vấn lãnh đạo các sở, ban, ngành về nhiều vấn đề dư luận quan tâm. Phóng viên Báo Khánh Hòa đã ghi lại những nội dung trả lời chất vấn.
Đại biểu Nguyễn Thị Kiều: Chủ trương bóc tách đất rừng do các lâm trường quản lý để giao cho dân đã đáp ứng được một phần nhu cầu sử dụng, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của một bộ phận nhân dân miền núi. Tuy nhiên, việc giao đất bóc tách này vẫn còn một số vấn đề bất cập, cụ thể là diện tích bóc tách giao đất có tính chất “da beo”, khiến việc đi lại sản xuất và thu hoạch gặp nhiều khó khăn, chính quyền xã muốn đầu tư đường giao thông vào nơi sản xuất cũng khó thực hiện vì đất nằm rải rác, không liền thửa. Với trách nhiệm người đứng đầu ngành tham mưu cho UBND tỉnh quản lý nhà nước về nông - lâm nghiệp, xin Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho cử tri biết có giải pháp gì giúp chính quyền các xã và người dân xử lý đất sản xuất “da beo” để có khu vực đất sản xuất tập trung liền thửa, tạo thuận lợi trong sản xuất và thu hoạch?
Ông Lê Tấn Bản - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Việc bóc tách đất rừng của các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nghèo xuất phát từ nhu cầu về đất sản xuất của người dân tại địa phương.
Trước khi thực hiện việc bóc tách, các địa phương đã thống nhất với chủ rừng nhà nước về diện tích, địa điểm thực hiện việc bóc tách. Sau đó, các địa phương mới đề nghị UBND tỉnh (thông qua Sở Tài nguyên và Môi trường) thu hồi đất của các chủ rừng nhà nước giao lại cho địa phương để giao cho hộ đồng bào DTTS nghèo.
Nguyên tắc chung: Đất bóc tách nhằm hình thành khu sản xuất tập trung nên phải bố trí gần nơi ở của người dân, thuận tiện cho việc áp dụng các mô hình sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân. Do tập quán canh tác của đồng bào DTTS là du canh, một số lô đất nằm trong diện tích quản lý của các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng nhưng đã được đồng bào sử dụng lâu nay, khi bóc tách giao lại cho dân thì diện tích đất bóc tách có tính chất “da beo” là điều không thể tránh khỏi.
Để giải quyết vấn đề trên, địa phương cần có kế hoạch điều tra, khảo sát cụ thể về nhu cầu đất sản xuất của hộ đồng bào DTTS nghèo, đồng thời lựa chọn những khu vực có diện tích liên vùng, đủ lớn, gần nơi ở của người dân, phù hợp quy hoạch sử dụng đất của địa phương và chủ rừng nhà nước, xin chủ trương của UBND tỉnh để lập phương án bóc tách đất. Những lô đất nhỏ lẻ, manh mún nằm rải rác trong lâm phận của chủ rừng nhà nước thì giao lại cho chủ rừng quản lý, sử dụng.
Việc bóc tách đất rừng của các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng giao lại cho địa phương để giao cho đồng bào DTTS nghèo mất nhiều thời gian và kinh phí. Để việc bóc tách đất đạt được hiệu quả, cần có sự điều tra, khảo sát kỹ lưỡng của địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Diện tích, địa điểm bóc tách đất cần có sự đồng thuận từ thôn, xã và ý kiến thống nhất của chủ rừng nhà nước, cơ quan Tài nguyên và Môi trường nhằm tránh trường hợp đất sau khi bóc tách giao cho dân không sử dụng được hoặc sử dụng kém hiệu quả, gây lãng phí.
Đại biểu Nguyễn Thị Kiều: Theo phản ánh của cấp ủy, chính quyền xã Liên Sang (huyện Khánh Vĩnh), trước đây nhiều năm, đất sản xuất dưới 15o dốc được quy hoạch trồng rừng, nay trở thành đất rừng sản xuất liền kề với khu dân cư, trong khi đất bóc tách giao cho dân cách xa nơi ở 4 - 5km là chưa hợp lý. Người dân có nguyện vọng được giao đất sản xuất dưới 15o dốc liền kề khu dân cư để phát triển vườn rừng. Với trách nhiệm là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ông có ý kiến gì về vấn đề này?
Ông Lê Tấn Bản cho biết: Nguyện vọng của người dân xã Liên Sang muốn được giao đất sản xuất dưới 15o dốc liền kề khu dân cư để phát triển vườn rừng là hoàn toàn chính đáng.
Tuy nhiên, trong các đợt bóc tách đất tại huyện Khánh Vĩnh, xã Liên Sang không có hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất sản xuất (theo Quyết định số 2138 ngày 29-8-2013 của UBND tỉnh, trong đó diện tích đất tại các xã: Cầu Bà 205,07ha), Giang Ly 94,4ha, Khánh Phú 102,47ha, Khánh Thành 176,44ha, Khánh Thượng 488ha).
Diện tích rừng trồng tại xã Liên Sang chủ yếu là rừng trồng gỗ lớn với các loại cây như: Dầu, sao đen..., có chu kỳ sinh trưởng và kinh doanh dài, hiện đang sinh trưởng phát triển tốt. Để tiếp tục sử dụng có hiệu quả diện tích rừng trồng sản xuất hiện có, đồng thời giúp người dân có thêm thu nhập, các hộ dân có thể hợp đồng nhận khoán với chủ rừng nhà nước để quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp xã Liên Sang muốn bóc tách đất rừng đang có rừng trồng sản xuất giao cho dân để phát triển vườn rừng, UBND huyện Khánh Vĩnh phải xin chủ trương của UBND tỉnh. Sau khi UBND tỉnh chấp thuận, UBND huyện Khánh Vĩnh lập phương án bóc tách đất, phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện trình tự thủ tục về thu hồi đất, thu hồi rừng, giao đất, giao rừng theo quy định.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, theo quy định tại Quyết định 146 ngày 15-6-2005 của Thủ tướng Chính phủ “Về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào DTTS nghèo”, hộ gia đình được giao đất có nghĩa vụ sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng khi được giao hoặc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; không được chuyển đổi, chuyển nhượng vườn cây, rừng trồng do Nhà nước giao trong thời hạn 10 năm kể từ ngày được giao đất. (Báo Khánh Hòa 10/7) đầu trang(
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam khuyến nghị Nhà nước cần sớm ban hành chính sách xúc tiến xây dựng các trung tâm giao dịch gỗ tại 3 miền Bắc, Trung, Nam để hạn chế tối đa các thương lái Trung Quốc gây rối loạn thị trường gỗ Việt Nam.
Với ngành gỗ Việt Nam thì Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn. Vào năm ngoái, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm của Việt Nam sang Trung Quốc vượt 1 tỷ USD, trong tổng kim ngạch nhóm hàng này khoảng 5,56 tỷ USD, theo Tổng cục Hải quan. Tuy nhiên, ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietfores) có lưu ý rằng, sản phẩm gỗ của Việt Nam bán sang Trung Quốc thường có giá trị gia tăng thấp vì chủ yếu các thương nhân Trung Quốc mua sản phẩm ở dạng sơ chế...
Nhưng, cảnh báo quan trọng hơn từ chuyên gia này là hoạt động xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm với Trung Quốc có thể kìm hãm quản lý rừng bền vững của Việt Nam. Cũng theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2013, Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam trên 200 triệu USD nhóm hàng gỗ và sản phẩm trên tổng nhập khẩu của nước ta đạt gần 1,65 tỷ USD. Xuất khẩu nguyên liệu gỗ ít nhưng nhập khẩu nhiều các loại sản phẩm thô gây sức ép lớn đến nguyên liệu đầu vào của ngành.
Hơn thế, các thương nhân Trung Quốc thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh trong thu mua gỗ nguyên liệu từ rừng trồng với các DN Việt Nam sản xuất các loại ván nhân tạo, giấy… khi thu mua trực tiếp từ người trồng. Lợi dụng tình hình thiếu vốn và thiếu thông tin thị trường của các hộ trồng rừng ở nông thôn và miền núi, thương nhân Trung Quốc nâng thu mua cao tạo sức ép cho các hộ chặt hạ cây rừng non, đường kính nhỏ. Điều đó đã dẫn tới tình trạng diện tích rừng trồng của các hộ gia đình không bền vững và không thể nuôi dưỡng thành rừng trồng gỗ lớn được.
Ông Quyền phân tích: Việc bán rừng non cho các thương lái Trung Quốc đã đưa lại những thiệt hại cho cả Nhà nước, DN và người dân. Bán 1m3 gỗ đường kính nhỏ từ rừng trồng non chỉ thu được từ 800.000 - 1.000.000 đồng, với năng suất chỉ đạt 60 – 70m3/ha. Nếu được nuôi dưỡng thêm 2-3 năm nữa, những cánh rừng non đó sẽ có cây gỗ đường kính từ 18 – 25 cm, bán được giá từ 2,5 - 3 triệu đồng/m3 với năng suất đạt từ 100 - 120m3/ha. Chuyên gia này cũng khuyến cáo, Việt Nam rất cần có chiến lược và tự chủ đối với tình trạng thu mua vơ vét tài nguyên rừng như trên.
Theo thống kê, từ 1996 đến tháng 3/2014, tổng số DN FDI của Trung Quốc đầu tư vào ngành gỗ được cấp giấy chứng nhận và đang sản xuất tại Việt Nam là 51 DN. Trong đó, 23 DN chuyên kinh doanh nguyên liệu thô, 6 DN kinh doanh các loại nguyên vật liệu phụ trợ và 22 DN kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu. Tổng vốn đầu tư của 51 DN FDI từ Trung Quốc chỉ đạt 85,28 triệu USD, chiếm 0,31% trên tổng số vốn đầu tư của các DN FDI lâm nghiệp (2.730 tỷ USD).
Các DN FDI của Trung Quốc ngành gỗ hầu hết áp dụng công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ. 22 DN kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu là sử dụng thiết bị lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm, không có dây chuyền công nghệ hoàn chỉnh nào để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu hoàn chỉnh. Điều này cho thấy, các DN FDI của Trung Quốc chủ yếu kinh doanh nguyên liệu gỗ và các loại vật liệu phụ trợ.
Đặc biệt, một DN FDI này còn chuyển tải các loại chi tiết sản phẩm gỗ sơ chế từ Trung Quốc sang Việt Nam để lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm, đóng nhãn xuất xứ từ Việt Nam nhằm trốn thuế và tránh bị kiện bán phá giá sang Mỹ và EU… Các chuyên gia đánh giá, tác động của FDI Trung Quốc đối với DN gỗ Việt Nam là rất hạn chế.
Từ thực trạng đó, phía Vietfores khuyến nghị, Việt Nam cần xây dựng được chiến lược và hệ thống giải pháp thương mại với Trung Quốc đảm bảo nâng cao hiệu quả xuất khẩu của các mặt hàng lâm sản Việt Nam. Trong đó, bên cạnh đề nghị có chính sách khuyến khích phát triển nâng cao sức cạnh tranh, Hiệp hội cho rằng cần nghiên cứu xây dựng thị trường gỗ nội địa, bổ sung hoàn thiện chính sách thu hút FDI nhằm khắc phục những tồn tại yếu kém hiện nay.
Ngoài ra, Nhà nước cần sớm ban hành chính sách xúc tiến xây dựng các trung tâm giao dịch gỗ tại 3 miền Bắc, Trung, Nam để hạn chế tối đa các thương lái Trung Quốc gây rối loạn thị trường gỗ Việt Nam. (Thời Báo Ngân Hàng 11/7, tr6; Pháp Luật VN 11/7, tr15) đầu trang(
10/7, ông Nguyễn Thành Phấn – chánh án TAND H.Khánh Sơn cho biết, ông Nguyễn Thành Trung, nguyên trưởng công an H.Khánh Sơn là người duy nhất trong số 5 bị cáo vừa bị xét xử trong vụ ăn chặn kỳ nam gửi đơn kháng cáo.
Ông Trung kêu oan và kháng cáo toàn bộ bản án ngày 20/6 của TAND H.Khánh Sơn phạt ông 10 năm tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. (Tuổi Trẻ 11/7, tr5) đầu trang(
Hàng nghìn ha rừng bị ảnh hưởng do hạn hán khiến người dân ngậm ngùi, xót xa khi diện tích rừng trồng mới bị héo và chết khô, những thiệt hại này đang tác động trực tiếp đến cuộc sống của các hộ dân. Mong muốn nhận được hỗ trợ của Nhà nước là nguyện vọng của nhiều hộ trồng rừng.
Ðã qua nhiều ngày, chị Lâm Thị Liễu, thôn Tiến Lập, xã Trì Quang (Bảo Thắng) mất ăn, mất ngủ vì 4.000 cây mỡ và 4.000 cây quế trồng cuối năm 2013 vừa bị chết héo vì nắng hạn. Chị Liễu dẫn chúng tôi đến đồi cây, nhổ vài bầu quế héo quắt ngậm ngùi: “Không chỉ đồi cây này, đồi cây bên kia cũng chết héo”.
Đồi cây nhà chị Liễu chủ yếu là quế và mỡ. Giống cây mỡ được nhà nước hỗ trợ còn quế thì gia đình phải bỏ tiền ra mua với giá 600 đồng/cây. Chị Liễu chia sẻ: “Gia đình tôi mong nhà nước hỗ trợ để bớt phần vất vả, bao nhiêu công sức giờ thành trắng tay”. Gia đình chị Liễu có thâm niên 20 năm trồng rừng, gần đây kinh tế khá lên cũng nhờ rừng, nhưng năm nay thời tiết khắc nghiệt quá, gia đình chị bị thiệt hại lớn diện tích rừng mới trồng.
Không chỉ các hộ dân, một số doanh nghiệp phát triển rừng trên địa bàn huyện Bảo Thắng cũng lao đao vì đợt nắng nóng vừa qua. Công ty Cổ phần Lâm nghiệp Bảo Thắng có gần 15 ha rừng bị thiệt hại trên 50%, 22 ha rừng bị chết, Công ty TNHH Toàn Thắng (thành phố Lào Cai) có 8,5 ha rừng bị thiệt hại 80%.
Theo kế hoạch, năm 2014, huyện Bảo Thắng trồng mới 720 ha rừng, nhưng đến thời điểm này mới chỉ trồng được 90 ha do thời tiết quá khắc nghiệt. Riêng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đảm nhận trồng 570 ha, trong đó có 292 ha rừng trồng trong vụ xuân đến nay vẫn chưa hoàn thành, nắng nóng đã gây thiệt hại 530 ha/1.400 ha rừng trồng trong năm 2013 của đơn vị.
Ông Nguyễn Quang Úy, Trưởng phòng Kinh tế huyện Bảo Thắng cho biết: Huyện đang đề nghị tỉnh có hỗ trợ đối với những cá nhân, tổ chức có diện tích rừng bị thiệt hại do đợt nắng hạn vừa qua. Trong khi đó, huyện Bảo Thắng đang chỉ đạo người dân tranh thủ thời tiết thuận lợi trồng dặm trên diện tích rừng bị ảnh hưởng một phần.
Tại huyện Văn Bàn, do gió Phơn Tây Nam (dân gian gọi là gió Lào) hoạt động mạnh, nên đợt nắng nóng vừa qua khiến 98 ha rừng mới trồng vụ xuân 2014 bị thiệt hại (tỷ lệ 100% diện tích). Khắc phục tình trạng này, Ban Quản lý rừng phòng hộ của huyện đã chủ động nguồn giống để đảm bảo kế hoạch trồng rừng vụ hè thu và cung ứng giống cho bà con trồng lại diện tích rừng bị thiệt hại.
Ông Đặng Đình Trường, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Văn Bàn cho biết: Trước mắt, Ban quản lý đang tích cực tuyên truyền, vận động người dân tự mua giống về trồng dặm trên diện tích rừng bị ảnh hưởng.
Những năm gần đây, kinh tế rừng có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp của tỉnh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Nhận thức được lợi ích từ rừng đem lại, nhiều hộ dân đã tích cực đầu tư trồng rừng, chất lượng rừng ngày càng được nâng cao, giá trị kinh tế từ rừng liên tục tăng. Tuy vậy, năm 2014, thời tiết khắc nghiệt đã ảnh hưởng xấu đến phần lớn diện tích rừng trồng trong năm 2013 của tỉnh.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đợt nắng nóng đỉnh điểm vừa qua đã ảnh hưởng tới 1.646 ha rừng trồng của năm 2013 và 2014. Trong đó có hơn 1.200 ha rừng trồng năm 2013 bị ảnh hưởng (768 ha rừng bị chết từ 30% - 70%).
Riêng diện tích rừng trồng mới năm 2014 bị thiệt hại 421 ha, trong đó tỷ lệ cây chết từ 30% - 70% là 87 ha. Thậm chí, một lượng đáng kể cây giống trong vườn ươm mặc dù được che chắn, tưới nước cũng bị thiệt hại. Theo thống kê, có tới 1,33 triệu cây giống gồm keo, mỡ, quế của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên và Văn Bàn bị chết khô do nắng nóng, thiệt hại ước tính 3,8 tỷ đồng.
Ông Tô Mạnh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Đơn vị đang đề xuất với UBND tỉnh phương án hỗ trợ 50% kinh phí cây giống trên diện tích rừng đã trồng và 20% kinh phí đối với cây giống tại các vườn ươm. Phương án là sử dụng nguồn kinh phí của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và nguồn vốn dành cho chống hạn để khôi phục sản xuất. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đề nghị các huyện, thành phố khẩn trương xây dựng phương án, hoàn thiện hồ sơ để tổ chức khắc phục.
Chưa nhận được sự hỗ trợ của nhà nước về kinh phí, nhưng các chủ rừng hiện đang chuẩn bị tốt nguồn giống để khắc phục hậu quả thiên tai. Tuy nhiên, người dân và các chủ rừng đang từng ngày mong nhận được hỗ trợ để khôi phục lại sản xuất lâm nghiệp. (Báo Lào Cai 11/7) đầu trang(
Mặc dù thời vụ trồng rừng của toàn tỉnh đề ra sẽ kết thúc vào 30 tháng 6, nhưng do nhiều nguyên nhân nên tiến độ trồng rừng của huyện Bạch Thông phải kéo dài đến trung tuần tháng 7.
Năm nay huyện Bạch Thông trồng 1.333ha rừng gồm rừng sản xuất, rừng phân tán và phòng hộ
Theo báo cáo của cơ quan chuyên môn, thời điểm này về cơ bản nhân dân đã trồng xong rừng, tiến độ đạt trên 90% diện tích. Huyện vẫn tiếp tục chỉ đạo nhân dân khẩn trương trồng hết nhữ. (Báo Bắc Kạn 11/7) đầu trang(
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm, hiện toàn tỉnh đã giao, cho thuê gần 145 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp (đạt 99% tổng diện tích).
Trong đó, đã có 52.507 hộ gia đình, cộng đồng dân cư được nhận khoán quản lý, sử dụng hơn 97,4 nghìn ha; 4 ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được giao hơn 30,5 nghìn ha; 8 doanh nghiệp được thuê gần 17 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp.
Đạt được kết quả này là nhờ thực hiện thành công Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2009 - 2013 được UBND tỉnh phê duyệt.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm tích cực phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức rà soát, ưu tiên giao đất, giao rừng cho những hộ gia đình cá nhân đang nhận khoán bảo vệ rừng, hộ gia đình còn thiếu đất sản xuất... tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. (Báo Bắc Giang 10/7) đầu trang(
Những cây thông nước (còn gọi là thủy tùng) trồng trên đất vườn cà phê ở xã Hòa Thắng, TP.Buôn Ma Thuột phát triển xanh tốt hơn hình dung của nhiều người. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, sáng tạo của TS Trần Vinh, Phó viện trưởng Viện KHKT nông lâm nghiệp Tây Nguyên.
Thông nước được xem như hóa thạch sống của ngành hạt trần, xuất hiện cách đây khoảng 10 triệu năm. Trên thế giới chỉ có ở VN và Trung Quốc còn thông nước nhưng số lượng ngày càng giảm.
Ở VN, thông nước tập trung ở hai quần thể xã Ea Ral, H.Ea Hleo và xã Ea Hồ, H.Krông Năng với khoảng 200 cây nhưng trong tình trạng thoái hóa, nhiều cây chết dần, không còn khả năng sinh sản tự nhiên.
Do gỗ thông nước cực kỳ quý hiếm, có mùi thơm, vân gỗ màu sắc đẹp, loài cây này cũng đối mặt với nguy cơ săn lùng, tuyệt diệt. Nhiều năm trước, một số cơ quan nghiên cứu đã thực nghiệm nhân giống thông nước bằng giâm hom, nuôi cấy mô nhưng hầu như không đạt kết quả do toàn bộ cây bị chết khi đưa ra trồng ngoài thực địa.
Cùng nghiên cứu loài cây này, TS Trần Vinh đã tìm hướng đi khác bằng cách ghép cành thông nước với các giống cây cùng họ và có bước tiến đột phá. Đầu tiên, ông thử ghép thông nước trên gốc cây sa mu, nhưng cây ghép có tỷ lệ sống thấp (chỉ 13%) sau 5 tháng do cành và gốc ghép không thực sự tương hợp. Năm 2010, ông Vinh chuyển sang ghép với cây bụt mọc (Taxodium distichum) và nhận thấy kết quả khả quan hơn với tỷ lệ sống bình quân là 66%, sinh trưởng tốt, giữ nguyên những đặc điểm sinh học như cây thông nước ở các quần thể tự nhiên.
Tại vườn ươm nhà ông Vinh, nhiều cây ghép trồng trong chậu qua một năm đã cao gần 1,5 m, đường kính gốc từ 3 - 4 cm, các cành cũng ra hoa kết trái. Điều đặc biệt là khi đưa ra trồng trên đất cà phê thì thông nước phát triển tốt, thậm chí có cây bị gãy ngang thân vẫn đâm chồi mạnh mẽ.
Ông Vinh khẳng định: “Qua thử nghiệm, thông nước hoàn toàn có thể nhân giống được bằng phương pháp ghép với gốc bụt mọc. Vốn là loài cây sinh trưởng vùng đầm lầy, đất ngập nước, nhưng giờ đây thông nước sống được trên đất cạn, tạo ra cơ hội bảo tồn, phát triển loài đặc hữu này”. Từ nghiên cứu của TS Trần Vinh, nhiều cây giống thông nước ghép đã được đưa trở lại “quê hương” Ea Ral, Ea Hồ trong một dự án phục hồi sinh cảnh thông nước.
Tuy vậy, do những khu vực này thường xuyên ngập úng nên thông nước sinh trưởng kém. Ngược lại, thông nước ghép trồng trên đất cạn có tưới, hoặc địa bàn ẩm thấp ven ao hồ, sông suối thì lại sống khỏe, lớn nhanh.
Theo ông Vinh, điều này còn mở ra triển vọng phát triển thông nước đại trà, biến loài cây quý hiếm thành cây rừng trồng, có thể lấy gỗ phục vụ mục đích thương mại với giá trị cao. Đến nay, ông Vinh đã tặng và bán hàng ngàn cây giống thông nước ghép để trồng ở các tỉnh Tây nguyên và Tây Nam bộ. (Thanh Niên 11/7, tr6) đầu trang(
Đây là chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết về “Quy hoạch bảo tồn Đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030” được HĐND thông qua sáng 11/7, với 100% đại biểu có mặt tán thành.
Thảo luận tại hội trường trước khi thông qua, đa số đại biểu bày đồng tình với Tờ trình do UBND TP đưa ra, tuy nhiên các đại biểu cũng đề nghị UBND TP đối với các cơ sở bảo tồn thuộc Trung ương nếu không có quyền quyết định thì nên để là phối hợp bảo tồn; đưa vào bảo tồn vì bãi giữa sông Hồng đã được đưa vào dự thảo Nghị quyết…
Giải trình đề nghị của các đại biểu, Phó Chủ tịch UBND TP Vũ Hồng Khanh cho biết, các cơ sở bảo tồn Trung ương đã nằm trong quy hoạch do Thủ tướng phê duyệt. Vì các cơ sở này nằm trên địa bàn TP nên TP Hà Nội có trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, do đó đưa vào dự thảo Nghị quyết là hợp lý, trong quá trình làm quy hoạch UBND TP đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương liên quan. Đối với bãi giữa sông Hồng, hiện các nhà khoa học nghiên cứu do đó chưa đưa vào dự thảo Nghị quyết…
Theo Phó Chủ tịch HĐND TP Hà Nội Lê Văn Hoạt, đối với các cơ sở bảo tồn Trung ương đóng trên địa bàn thành phố có nêu trong dự thảo Nghị quyết thì cần bổ sung thêm là thành phố phối hợp để cùng bảo tồn.
Nghị Quyết về “Quy hoạch bảo tồn Đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030” thể hiện rõ nhằm đảm bảo các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù của Hà Nội, các loài và các nguồn gen quý hiếm, tài nguyên rừng được bảo tồn, phát triển, sử dụng hợp lý góp phần phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội theo hướng bền vững.
Cụ thể: Phục hồi, bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học về giống, loài, nguồn gen, sinh vật và hệ sinh thái của TP Hà Nội. Giảm thiểu, chấm dứt các hoạt động khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên, và các đe dọa, tác động tiêu cực khác đến đa dạng sinh học.
Đề xuất hoàn thiện hệ thống tổ chức, cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học TP Hà Nội, phù hợp với kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học. Xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển các cơ sở bảo tồn nhằm nâng cao tính đa dạng sinh học của TP Hà Nội.
Các chỉ tiêu cụ thể của Nghị quyết: Đến năm 2020 củng cố và phát triển các khu bảo tồn hiện có (Vườn Quốc gia Ba Vì, khu K9); thành lập 3 khu bảo tồn mới: Khu bảo tồn loài vật - sinh cảnh Hồ Hoàn Kiếm, diện tích tự nhiên: 11,5ha thuộc địa bàn phường Hàng Trống và Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm; khu Bảo vệ cảnh quan Vật Lại, diện tích tự nhiên 10ha nằm trên địa bàn thôn Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì; khu bảo vệ cảnh quan Hồ Tây, diện tích tự nhiên 524ha, nằm trên địa phận các phường: Quảng An, Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Xuân La, Nhật Tân, quận Tây Hồ và chuyển đổi rừng đặc dụng Hương Sơn thành khu bảo vệ cảnh quan; củng cố, phát triển và cấp giấy chứng nhận cơ sở Bảo tồn Đa dạng sinh học cho 5 cơ sở: Vườn Bách thảo Hà Nội; Vườn thú Hà Nội; Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn; hệ thống bảo tồn nguồn gen vật nuôi; hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật quốc gia;Bảo vệ và phát triển có hiệu quả các diện tích rừng tự nhiên; trồng rừng và cây phân tán để đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 7,5%; bảo vệ và phát triển hệ sinh thái đất ngập nước; giữ nguyên số lượng và tập trung cải tạo cảnh quan, chất lượng nước một số hồ tự nhiên và nhân tạo trong thành phố; ưu tiên bảo vệ và phát triển các nguồn gen quý hiếm, các loài cây trồng vật nuôi đặc sản của TP Hà Nội như: Cam Canh, bưởi Diễn, đào Nhật Tân, húng Láng, rau muống Linh Chiểu, gà Mía, cá rô đầm sét...; bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học hệ sinh thái đô thị đặc thù TP Hà Nội. Tăng tỷ lệ cây xanh lên 10-12m2/người.
Ưu tiên trồng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế, cảnh quan và cải tạo nâng cao chất lượng môi trường sống; Lập danh mục các loài sinh vật ngoại lai, xác định được các loài sinh vật ngoại lai xâm hại và tình hình phân bố trên địa bàn TP Hà Nội. Xác định mức độ ảnh hưởng của một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại đến đa dạng sinh học, vật nuôi, cây trồng và nguồn lợi thủy sản.
Đến năm 2030, thành lập mới 4 khu bảo tồn: Khu Bảo vệ cảnh quan Chùa Thầy, khu bảo vệ cảnh quan Quan Sơn, khu bảo vệ cảnh quan Đồng Mô - Ngải Sơn, khu bảo vệ cảnh quan hồ Suối Hai; củng cố, phát triển và cấp giấy chứng nhận cho 06 cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; tiếp tục cải tạo cảnh quan, chất lượng nước một số hồ tự nhiên và nhân tạo trong thành phố; tăng tỷ lệ che phủ rừng đạt 7,7%.
100% các loài ngoại lai trên địa bàn Hà Nội được đưa vào danh mục kiếm soát và được cập nhập định kỳ theo 3 nhóm danh mục: Danh mục trắng (được phép nuôi, trồng); xám (được phép nuôi, trồng có điều kiện); đen (cấm nuôi, trồng) và có các biện pháp quản lý phù hợp. Củng cố và phát triển các khu vực bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ các nguồn gen quý hiếm, các loài cây trồng vật nuôi đặc sản thông qua các dự án, các mô hình xã hội hóa bảo tồn đa dạng sinh học của cộng đồng.
Theo Nghị quyết, khái toán kinh phí đầu tư, tổng nhu cầu vốn cho việc triển khai thực hiện Quy hoạch bảo tồn Đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030 dự kiến khoảng 73,5 tỷ đồng. Nguồn kinh phí theo các kỳ quy hoạch: Giai đoạn 2015-2020: 33,5 tỷ VNĐ; giai đoạn 2021-2025: 21 tỷ VNĐ; Giai đoạn 2026-2030: 19 tỷ VNĐ. Nguồn vốn đầu tư sẽ do ngân sách Nhà nước; xã hội hóa (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); tài trợ nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác. (Kinh Tế Nông Thôn 11/7; Hà Nội Mới 11/7) đầu trang(
Ông Phạm Như Sô, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết, 6 tháng đầu năm địa phương này xuất khẩu dăm gỗ khoảng 100.000 tấn chỉ đạt 29% kế hoạch năm. Nguyên nhân sự sụt giảm này là giá dăm gỗ quá thấp và thị trường tiêu thụ hạn chế khiến nhiều nhà máy chế biến lâm sản hoạt động cầm chừng.
Ông Sô tính toán, trung bình mỗi ngày 24 nhà máy sản xuất dăm gỗ trong tỉnh thu mua nguyên liệu của nông dân với tổng số tiền khoảng 12 tỷ đồng. Nếu các nhà máy này ngừng thu mua do phía Trung Quốc ép giá hoặc dừng nhập khẩu mặt hàng này thì người dân sẽ đối mặt với nhiều khó khăn.
"Chúng ta cần tính toán phương án tiêu thụ, mở hướng xuất khẩu bền vững các mặt hàng nông, lâm, thủy sản cho bà con nông dân tránh tình trạng quá lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc thời gian tới", ông Sô đề xuất.
Ông Đào Tấn Huê, Đội trưởng Dịch vụ cảng PTSC tại Khu kinh tế Dung Quất tính toán, nếu mỗi tấn dăm gỗ xuất khẩu đầu năm 2013 có giá 138 USD thì hiện nay giá cao nhất cũng chỉ dừng lại 128 USD, có lúc rớt xuống chỉ còn 122 USD mỗi tấn.
"Do bị phía Trung Quốc ép giá, sức mua lại chậm nên sáu tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu gỗ dăm của địa phương giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái", ông Huê cho hay.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu ở Quảng Ngãi mọc lên tràn lan đã dẫn tới tranh giành nguyên liệu, thậm chí mua cả cây non nên chất lượng gỗ dăm xuất khẩu không đảm bảo, các đối tác bắt đầu quay lưng, ép giá. Hệ lụy từ việc phát triển nhà máy chế biến dăm gỗ ồ ạt, thiếu quy hoạch bài bản đã đẩy doanh nghiệp lâm vào bế tắc.
Trước bài toán bị ép giá, Quảng Ngãi đang tạo điều kiện cho liên danh hai nhà đầu tư Sojitz (Nhật Bản) và JK (Ấn Độ) đầu tư nhà máy bột giấy với công suất chế biến 200.000 tấn mỗi năm. Dự án có vốn đầu tư hơn 180 triệu USD, xây dựng tại Khu kinh tế Dung Quất chế biến sâu nguyên liệu dăm gỗ. (VnExpress 11/7) đầu trang(
"Doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng quy mô lớn, gia công đồ gỗ theo đơn hàng của các thương hiệu đồ gỗ nước ngoài và phải hoàn toàn “gửi gắm” số phận doanh nghiệp mình cho nước ngoài. Rủi ro của cung cách làm ăn này hoàn toàn không nhỏ".
Đây là ý kiến của ông Ngô Sỹ Hoài - Phó tổng thư ký Hiệp hội gỗ và Lâm sản – Phó chủ tịch Câu lạc bộ Lâm nghiệp Việt Nam trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài gòn Online bên lề hội thảo về Làng nghề chế biến gỗ tại Nam Định ngày 9-7.
Ông Ngô Sỹ Hoài cho biết: Đúng là mấy năm gần đây, xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường Trung Quốc tăng nhiều. Năm 2012 xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 740 triệu đô la Mỹ, năm 2013 xấp xỉ 1 tỉ đô la Mỹ.
Hiện nay, Trung Quốc đã là một trong bốn thị trường chính của sản phẩm gỗ Việt Nam, sau Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Năm 2013, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 14% kim ngạch xuất của của toàn ngành gỗ.
Tuy nhiên, Trung Quốc chủ yếu nhập khẩu sản phẩm thô, bao gồm dăm gỗ, gỗ bóc và các lọai bán thành phẩm từ gỗ quý, hiếm. Chúng ta xuất khẩu dăm gỗ bằng một nền lâm nghiệp theo kiểu “trồng trọt”, kinh doanh cây ngắn ngày, chặt cây trồng 4-5 năm tuổi, băm dăm rồi bán cho Trung Quốc làm nguyên liệu giấy.
Đây cũng là một kiểu “bán lúa non”, xuất khấu nguyên liệu, trong khi các doanh nghiệp của chúng ta lại phải phụ thuộc vào nguồn cung gỗ có đường kính lớn hơn từ nước ngoài, để làm hàng xuất khẩu. Còn các loại sản phẩm từ gỗ quý, chủ yếu chúng ta nhập khẩu rồi tái xuất cho các thương nhân Trung Quốc. Loại sản phẩm này không phải là vô tận.
Như vậy, căng thẳng ở biển Đông vừa đặt ra thách thức, lại vừa tạo cơ hội để chúng ta gia tăng xuất khẩu sang các thị trường khác, trồng rừng với định hướng dài ngày hơn, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu.
Trong thế giới hội nhập ngày nay, sản xuất hàng hóa để bán cho người khác và mua cái người khác làm ra về dùng cũng là câu chuyện bình thường, ai cũng muốn và cũng phải tận dụng lợi thế so sánh của mình. Vì vậy, chúng ta không nên nhìn nhận vấn đề này quá nghiêm trọng, quá bi kịch...
Trong những năm gần đây, nhu cầu của thị trường đồ gỗ nội địa cũng tăng mạnh, ước tính bình tổng giá trị tiều dùng gỗ và sản phẩm gỗ hàng năm khoảng 2,25 tỉ đô la Mỹ, trung bình khoảng 31,7 đô la Mỹ/người. Trên thị trường nội địa, nhu cầu gỗ cho các công trình xây dựng chiếm khoảng 40%, tiêu dùng nông thôn chiếm 30% và tiêu dùng thành thị chiếm 30%.
Có một thực tế là số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô vừa và lớn đầu tư khai thác thị trường nội địa chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ cũng như các hộ chế biến ở các làng nghề. Có vẻ như doanh nghiệp gỗ của chúng ta đang “thua trên sân nhà”.
Gần đây, nhiều doanh nghiệp cũng đã chú trọng “tái chiếm sân nhà”. Hàng năm ta cũng tổ chức VIFA Home (Hội chợ đồ gỗ đội địa) để đồ gỗ Việt có thể “hướng nội”, nhưng không mấy thành công. Đồ gỗ nhập khẩu với giá rẻ, kiểu dáng hiện đại hơn và phù hợp với thị hiếu của nhiều gia đình trẻ, vẫn đang là lựa chọn của nhiều người Việt.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, hạn chế nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ, đặc biệt là gỗ được khai thác hợp pháp, không phải là vấn đề đáng lo lắng đối với ngành công nghiệp gỗ Việt Nam. Mặc dù đa số các nước bán gỗ cho doanh nghiệp Việt Nam đều hướng tới việc cấm xuất khẩu gỗ tròn, phát triển chế biến để tạo việc làm và giá trị gia tăng cho nước họ, nhưng nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ hiện nay vẫn rất dồi dào.
Chúng ta cũng đang đa dạng hoá nguồn nhập khẩu gỗ. Ngoài nguồn nguyên liệu gỗ truyền thống, nhập khẩu từ các nước bạn Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Indnonesia…, chúng ta cũng đang nhập khẩu nhiều gỗ từ các nước Châu Phi, Bắc Mỹ, Châu Âu.
Đặc biệt, trong vòng 10 năm gần đây, Việt Nam cũng đang trở thành khách hàng tiêu thụ khối lượng lớn các loài gỗ cứng của Mỹ, như tần bì, sồi, anh đào, thích, óc chó... Tôi muốn nhấn mạnh rằng nguồn cung ứng gỗ từ Mỹ vô cùng dồi dào, chất lượng đảm bảo, giá vừa phải, được khai thác chủ yếu từ rừng trồng, hầu như không có rủi ro gỗ bất hợp pháp.
Điều đáng quan ngại nhất là ngành công nghiệp gỗ của chúng ta phát triển theo chiều rộng, cạnh tranh chủ yếu bằng nhân công giá rẻ, mỗi doanh nghiệp sử dụng bình quân 500 – 1.000 lao động, tổng giá trị xuất khẩu thì lớn, nhưng giá trị thặng dư mà người Việt mình được hưởng lại nhỏ. Đã có tình trạng các doanh nghiệp gỗ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… thiếu nhân công, lao động từ miền Trung về Tết rồi “lặn” luôn, vì lương tháng 3 – 5 triệu đồng không sống nổi.
Rõ ràng là sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu đồ gỗ không chỉ phụ thuộc vào nguồn cung ứng nguyên liệu, mà còn cả nguồn cung cấp lao động. Nhiều doanh nghiệp cũng đã chủ trương hiện đại hóa công nghệ, thiết bị, giảm nhân công, chuyển hướng sản xuất đồ nội thất, giá trị gia tăng lớn hơn. Nhưng đây không phải là câu chuyện có thể làm xong trong ngày mai.
Vấn đề cũng đáng phải suy nghĩ nữa là chúng ta chưa có các thương hiệu đồ gỗ của người Việt ở nước ngoài. Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ hiện nay phải chấp nhận “bỏ trứng vào một giỏ”, đầu tư nhà xưởng quy mô lớn, gia công đồ gỗ theo đơn hàng của các thương hiệu đồ gỗ nước ngoài và phải hoàn toàn “gửi gắm” số phận doanh nghiệp mình cho nước ngoài. Rủi ro của cung cách làm ăn này hoàn toàn không nhỏ.
Còn vấn đề sản xuất và buôn bán đồ gỗ có trách nhiệm, tuân thủ các Quy định về gỗ của EU, Đạo luật Lacey của Mỹ, Đạo luật cấm khai thác gỗ bất hợp pháp của Australia, FLEGT, VPA mà chúng ta sẽ ký kết với EU... tôi nghĩ các doanh nghiệp của chúng ta sẽ làm được, cho dù có thể phải vượt qua nhiều rào cản đầy thách thức thời gian sắp tới. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 10/7) đầu trang(
Theo Bộ Công thương, EU là một trong bốn thị trường XK gỗ chính của Việt Nam, chiếm tới 30% tổng giá trị XK đồ gỗ Việt Nam, các thị trường còn lại bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản.
Việt Nam cũng là quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới, và đứng thứ 2 trong khu vực về XK đồ nội thất, chiếm khoảng gần 4% thị phần trên thế giới. Tuy nhiên, ở thị trường nội địa, các DN gần như đang bỏ ngỏ cho các DN Đài Loan hay Trung Quốc chiếm lĩnh.
Do được xác định là một trong những ngành XK mũi nhọn, kim ngạch XK đồ gỗ năm 2013 đạt 5,6 tỷ USD tăng 19,2% so với năm 2012. Bốn tháng đầu năm nay, kim ngạch XK mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 2 tỷ USD, tăng 24,45% so với cùng kỳ năm trước. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu đạt 10 tỷ USD kim ngạch XK gỗ và sản phẩm vào năm 2020 sẽ vượt qua.
Thêm một tín hiệu tốt nữa, đó là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các DNXK đồ gỗ của Việt Nam, tới các quốc gia trong TPP như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia... nhờ thuế sẽ được cắt giảm.
Đồ gỗ Việt Nam sẽ có lợi thế so với đối thủ cạnh tranh lớn nhất là Trung Quốc, vì Trung Quốc chưa được tham gia TPP. Việc thực thi cam kết TPP cùng cải cách mạnh mẽ sẽ tạo dựng môi trường đầu tư minh bạch và cạnh tranh, qua đó sẽ thu hút được nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.
Điều này cũng dự báo, cơ hội lớn cho Việt Nam để mở rộng thị trường và thị phần gỗ, sản phẩm gỗ trên thế giới. Ngành gỗ của Việt Nam hiện đang tạo công ăn việc làm và đem lại thu nhập cho gần 300.000 lao động và hàng ngàn hộ gia đình tại các làng nghề, khu vực trồng rừng…
Do vậy, việc phát triển bền vững và ổn định ngành chế biến gỗ, có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế và xã hội. (Nông Nghiệp VN 11/7, tr7) đầu trang(
8.7 , ông Bùi Quốc Toàn - Trưởng phòng Quản lý công chức - viên chức, Sở Nội vụ Thanh Hóa, ngày cho hay, sở vừa chốt hồ sơ dự tuyển công chức của tỉnh. Số hồ sơ dự thi lên đến 2.308 người, trong khi chỉ tiêu tuyển dụng chỉ 261 người. Như vậy, tỷ lệ “chọi” là 1/8,4 - căng hơn cả thi đại học.
Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa là đơn vị có chỉ tiêu tuyển dụng nhiều nhất năm nay với 48 chỉ tiêu kiểm lâm viên và 10 chỉ tiêu kế toán. Số hồ sơ dự tuyển là 215 người, tỉ lệ "chọi" ngạch kiểm lâm viên là 4,5, còn kế toán là 12.
Xác định việc ôn thi là “nhiệm vụ chính trị”, ông Lê Thế Long - Chi cục trưởng - đã ban hành hẳn một văn bản “về việc ôn luyện thi tuyển công chức”.
Theo đó, “các đơn vị bố trí cho lao động hợp đồng nghỉ hẳn công tác ít nhất 10 ngày để ôn luyện” - công văn ghi rõ. “Chúng tôi cũng xác định, muốn trở thành công chức, không còn con đường nào khác là phải ôn thi thực sự” - ông Long nói.
Theo ông Long, đơn vị rất muốn giữ được những nhân viên đang làm hợp đồng, vì họ đều là những người có trình độ chuẩn và đã thành thạo công việc. “Giờ người mới vào, phải đào tạo lại thì cũng mệt lắm, nhưng quy định chung là thế, đến cháu tôi cũng phải bò ra mà học”. (Lao Động 10/7, tr3) đầu trang(
Trong khi các DN chế biến, XK gỗ đang thắng lợi giòn giã trên thị trường quốc tế thì lại bỏ quên mất thị trường trong nước đầy tiềm năng. Việc chưa tạo dựng được thương hiệu sản phẩm, hạn chế trong khâu phân phối, liên kết tiêu thụ đang là rào cản lớn để DN gỗ tiếp cận với thị trường này.
Tại Hội nghị "Xúc tiến tiếp thị sản phẩm gỗ nội địa hướng tới các làng nghề gỗ" diễn ra ngày 9/7, ông Võ Thành Đô, Phó Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT), cho biết trong những năm qua, thị trường đồ gỗ nội địa của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ.
Bình quân tiêu dùng đồ gỗ nội địa trong 5 năm gần đây khoảng 2,25 tỷ USD, tương đương khoảng 31,7 USD/người. Bên cạnh đó, còn rất nhiều tiềm năng thị trường nội địa khác chưa khai thác. Đối tượng tiêu dùng chủ yếu gỗ nội địa gồm công trình xây dựng chiếm 40%, tiêu dùng nông thôn chiếm 30% và tiêu dùng thành thị chiếm 30%.
Cả nước hiện có khoảng hơn 4.000 làng nghề, trong đó có khoảng 300 làng nghề chế biến gỗ. Hiện dân số nước ta khoảng 90 triệu dân, chính là thị trường tiêu dùng lớn cho các sản phẩm gỗ.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ Tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho biết những năm gần đây, nhu cầu về tiêu dùng đồ gỗ tại thị trường nội địa đã tăng lên mạnh mẽ, trong đó nhu cầu mua sắm đồ gỗ trong hộ gia đình là tương đối lớn. Bình quân mỗi hộ gia đình cần mua sắm đồ gỗ với khoảng 6 triệu đồng. Nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu hướng tăng nhanh.
Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng phòng chế biến Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối, nhóm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ và đồ gỗ dùng trong xây dựng đang là những nhóm sản phẩm có sức tiêu thụ mạnh trên thị trường này.Tuy nhiên, số lượng các đơn vị chế biến gỗ có quy mô vừa và lớn thực hiện đầu tư khai thác thị trường nội địa chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, tại thị trường này hầu như chỉ có các DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ, cũng như các hộ chế biến thuộc các làng nghề. Tại các cơ sở nhỏ lẻ thiết bị sử dụng thường cũ nát, mức độ cơ giới hóa thấp, lao động không được đào tạo cơ bản.
Theo ông Quyền, rất nhiều sản phẩm của các cơ sở sản xuất nhỏ không có sự kiểm soát về chất lượng. Đánh giá chung của người tiêu dùng là chất lượng sản phẩm thấp. Một khảo sát mới đây cho thấy, có tới 50% người tiêu dùng cho rằng đồ gỗ ngoại nhập sẽ được họ ưu tiên lựa chọn. Các làng nghề sẽ có khả năng mất dần thị phần nếu như họ không có sự cải tiến về chất lượng đối với các sản phẩm tiêu dùng trong nước.
Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng phòng Chế biến Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối, cho rằng khó khăn lớn nhất của phần lớn các DN khi hướng vào thị trường nội địa là chưa tạo được thương hiệu sản phẩm để người tiêu dùng biết tới, chưa tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp thị hiếu thị trường.Thị trường đồ gỗ nội địa hiện thiếu kênh phân phối, mới chỉ có một số ít hệ thống phân phối nội địa quy mô nhỏ, điều này khiến cho sản phẩm của đồ gỗ Việt Nam, nhất là đồ gỗ của các làng nghề, khó tiếp cận với thị trường.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Trịnh Quốc Đạt, chia sẻ rằng trong khi khâu sản xuất tại một số làng nghề bước đầu đã hình thành được sự liên kết, chuyên môn hóa thì ngược lại, việc tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ phần lớn là độc lập, khép kín, kiểu buôn bán nhỏ, tự sản tự tiêu.
Các DN làng nghề cạnh tranh không lành mạnh, ít thấy có sự liên kết giữa các DN, các hộ sản xuất, các làng nghề gỗ trong việc tiêu thụ sản phẩm. Công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm, áp dụng công nghệ điện tử thương mại trong các làng nghề gỗ còn rất yếu kém, ngoài một số DN làng nghề gỗ có thương hiệu quan tâm sử dụng công cụ điện tử thương mại, hầu hết các hộ sản xuất trong các làng nghề gỗ không tiếp thị trên mạng.
Theo ông Đạt, để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm thì các DN, cơ sở sản xuất cần sớm khắc phục tư duy cá thể làm ăn manh mún, nhỏ lẻ, chụp giật để hợp tác, gắn bó, chia sẻ, đảm bảo chữ tín trong kinh doanh. Theo đó, cần liên kết chặt chẽ giữa các làng nghề gỗ, các DN sản xuất cùng loại sản phẩm, chia sẻ thông tin thị trường, chọn một làng nghề gỗ hay một DN làng nghề gỗ đủ năng lực làm đầu đàn tổ chức, hợp tác sản xuất tạo những lô hàng lớn đảm bảo chất lượng, tìm kiếm thị trường phù hợp.
Ông Dũng cho biết thị trường tiêu thụ các sản phẩm gỗ chế biến, trong đó có sản phẩm của các làng nghề chế biến gỗ thời gian qua đã phát triển tương đối mạnh. Chính phủ cũng đã có nhiều chính sách nhằm phát triển mạnh mẽ và ổn định hơn nữa đối với các thị trường truyền thống, đồng thời xúc tiến mở rộng các thị trường tiềm năng.Tuy nhiên, thị trường nội địa đối với các sản phẩm gỗ chế biến mà chủ yếu là sản phẩm gỗ chế biến của các làng nghề vẫn còn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh hiện có.
Trong quá trình tái cơ cấu ngành NN&PTNT theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Bộ NN&PTNT cũng đã định hướng và xây dựng các giải pháp để phát triển thị trường nội địa đối với đồ gỗ chế biến nhằm mục tiêu đạt mức 4,0 tỷ USD vào năm 2020.
Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi các làng nghề chế biến gỗ nói riêng và các DN ngành chế biến gỗ nói chung phải đẩy mạnh việc đổi mới nguyên liệu phục vụ sản xuất, đổi mới mẫu mã, thiết kế để sản phẩm làm ra ngày càng phù hợp hơn với thị hiếu người tiêu dùng; cải tiến hình thức phương pháp xúc tiến thương mại, cung cấp ngày càng nhiều thông tin về sản phẩm đến người sử dụng; đồng thời cùng chung tay, góp sức xây dựng được hệ thống phân phối sản phẩm đủ mạnh trên phạm vi cả nước. (Thời Báo Kinh Doanh 10/7, tr4) đầu trang(
Sáng 10/7, 142 nhân viên L’Oreal Việt Nam đã đến Cần Giờ thực hiện Ngày cộng đồng của L’Oreal (L’Oreal Citizen Day).
Đây là hoạt động hàng năm của công ty, được bắt đầu từ sinh nhật lần thứ 100 của L’Oreal vào năm 2009. Hoạt động này trong 5 năm qua đều tập trung vào một mục tiêu khôi phục rừng ngập mặn Cần Giờ giúp giảm thiểu tốc độ biển xói mòn đất liền, duy trì hệ sinh thái rừng nước mặn, cải thiện bầu khí quyển của Thành phố Hồ Chí Minh.
Với khẩu hiệu “tất cả chúng ta đều có trách nhiệm với cộng đồng”, L’Oreal Việt Nam trong 5 năm qua đã góp phần trồng hơn 5.000 cây đước, tạo nên những mảng xanh đầy ý nghĩa trong khu rừng ngập mặn Cần Giờ. Năm nay, Tập đoàn L’Oreal đã tổ chức kỷ niệm 5 năm "Ngày cộng đồng" với sự tham gia của hơn 21.000 nhân viên tại 61 quốc gia, mỗi quốc gia đều tạo ra một dự án đầy ý nghĩa và đầy tính nhân văn để thực hiện sứ mệnh “Mang cái đẹp đến cho mọi người”.
Bà Nguyễn Ngọc Tuyết Trinh- Giám đốc Truyền thông & Đối ngoại L’Oreal Việt Nam- chia sẻ, L’Oreal là doanh nghiệp luôn thể hiện trách nhiệm cao với cộng đồng. Tại Việt Nam, chúng tôi rất tự hào đã góp một phần công sức để phục hồi khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ trong 5 năm qua. Sự cam kết và kết quả thực hiện các dự án cộng đồng của L’Oreal Việt Nam đã thể hiện sâu sắc điều mà chúng tôi luôn tin tưởng “Cái đẹp thật sự cần thiết cho cuộc sống”, và nhiệm vụ của L’Oreal là mang cái đẹp đến cho tất cả.
Được biết, L’Oréal là tập đoàn mỹ phẩm lớn nhất thế giới với 25 thương hiệu quốc tế và hoạt động duy nhất trong lĩnh vực làm đẹp. (Công Thương 10/7) đầu trang(
Từ 2008 đến nay, tại địa bàn các tỉnh trên toàn quốc đã xuất hiện một nhóm đối tượng tự giới thiệu có khả năng xin được nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của tổ chức phi chính phủ nước ngoài cho dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Bọn chúng đã thu gom hàng trăm nghìn quyển sổ đỏ và quyền lâm bạ đất trồng rừng của người dân, sau đó dùng các thủ đoạn để chiếm đoạt tiền của họ.
Vào năm 2009, Báo CAND cũng đã từng có loạt bài điều tra về vấn nạn thu gom sổ đỏ của người dân nói trên. Sau khi báo đăng tải loạt bài đó, Công an các tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hà Tĩnh… đã tiến hành xác minh, chặn được cơn lốc thu gom sổ đỏ của nhiều đối tượng trên địa bàn mình quản lý, trả lại cho người dân hàng nghìn quyển sổ đỏ. Tuy nhiên, việc xử lý hình sự đối với các đối tượng thu gom chưa thực hiện được, do chưa chứng minh được mục đích chiếm đoạt tiền của các đối tượng.
Chính vì thế, tiếp tục lợi dụng tâm lý hám lợi của một số cá nhân, doanh nghiệp, từ đó cho đến thời điểm này, vẫn có một số nhóm đối tượng ngoài xã hội tự giới thiệu có thể xin được nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của tổ chức phi Chính phủ nước ngoài cho dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc. Mức hỗ trợ cho mỗi hécta (ha) rừng là 25 đến 30 triệu đồng.
Những người môi giới được hưởng từ 200 đến 500 ngàn đồng/ha. Hồ sơ, thủ tục xin vốn đơn giản, không phải thông qua các cơ quan chức năng nào xét duyệt cả. Thời hạn giải ngân thì nhanh, chỉ từ 3 đến 6 tháng là có tiền về...
Điều kiện để hoàn thiện thủ tục tham gia dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc trên, đó là những người dân phải có sổ đỏ, sổ lâm bạ để chứng minh diện tích rừng. Các đối tượng thu sổ đỏ của người dân để mọi người đều tin rằng, việc triển khai dự án là có thật. Và trò lừa, quay tiền các bị hại của các đối tượng cũng bắt đầu từ những quyển sổ đỏ thu được này.
Trước hết, các đối tượng yêu cầu những người không có sổ đỏ thì phải đưa tiền cho các đối tượng để mua sổ đỏ hộ. Và chúng lại dùng chính những quyển sổ đỏ thu được để quay vòng, bán cho những người không có sổ đỏ nhưng muốn mua các diện tích rừng theo sổ đỏ để được tham gia giải ngân trong dự án.
Theo một bị hại có đơn trình báo tại Cơ quan CSĐT- Bộ Công an, vì không còn sổ đỏ chứng minh diện tích trồng rừng nên theo yêu cầu của các đối tượng, họ phải bỏ tiền ra mua một diện tích rừng lớn thì mới được giải ngân nhiều tiền.
Để lừa những người này, các đối tượng đã chủ động đưa họ đi mua sổ đỏ đất rừng ở nhiều tỉnh, thành phố…. Ở những nơi này, bọn chúng đã bố trí người, giả vờ là người bán sổ đỏ để đưa sổ đỏ, nhận tiền của người bị hại. Theo cái “bẫy” của bọn chúng, nhóm bị hại này đã phải chi vài tỷ đồng để mua một đống sổ đỏ đất rừng để sau đó lại… nộp cho chúng chờ giải ngân.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người bị hại nào quá mệt mỏi, không thể chờ được đến thời điểm giải ngân như lời các đối tượng hứa hẹn, muốn lấy lại sổ đỏ của chính mình thì cũng phải nộp cho bọn chúng số tiền khoảng 30 triệu đồng (trên 100ha rừng) gọi là chi phí đi rút hồ sơ. Bằng các thủ đoạn trên, trong những năm qua, các nhóm đối tượng đã thu gom được hàng trăm nghìn quyển sổ đỏ, sổ lâm bạ đất trồng rừng và chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng của các nạn nhân.
Trước tình hình trên, thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Cục Cảnh sát hình sự đã lập kế hoạch xác minh. Kết quả xác minh, cùng với kết quả làm việc trực tiếp với các cơ quan chức năng của Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính; Bộ Kế hoạch - Đầu tư, cơ quan CSĐT- Bộ Công an đã khẳng định, từ năm 2008 đến nay, không có bất kỳ dự án nào có nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài cho dự án phát triển rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Cũng qua việc thu thập tài liệu, chứng cứ, ngày 18-6, cơ quan CSĐT- Bộ Công an (C45) đã bắt khẩn cấp đối tượng Nguyễn Phước, 47 tuổi, HKTT tại 122 Lý Thái Tổ, phường Yên Đổ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, Giám đốc Công ty TNHH Phước Thịnh khi đối tượng đang lẩn trốn tại tỉnh Quảng Nam.
Tài liệu điều tra ban đầu cho biết, Phước chính là mắt xích quan trọng trong đường dây chiếm đoạt tài sản thông qua việc thu gom sổ đỏ đất trồng rừng. Phước đã tung tin về dự án không có thật nói trên, sau đó cùng đồng bọn tiến hành thu gom sổ đỏ của người dân ở 22 tỉnh, thành phố trên toàn quốc.
Bằng thủ đoạn này, Phước đã thu gom được một số lượng sổ đỏ rất lớn, kèm theo đó là một số tiền không hề nhỏ thu của những người không có sổ đỏ, phải bỏ tiền ra mua. Lượng sổ đỏ thu được, Phước và đồng bọn chứa trong 25 thùng tôn với diện tích đất rừng tương đương 3 triệu ha, từng đem gửi vào ngân hàng (chỉ trong 6 thùng đã có 22.928 quyển sổ đỏ, sổ lâm bạ).
Tuy nhiên, sau khi Phước bị bắt, những đối tượng bên ngoài vẫn tung tin giả để lừa gạt người dân. Chúng vẫn nói rằng, Phước chỉ bị đưa lên làm việc, chuẩn bị được thả ra rồi. Dự án là có thật và đang tiếp tục được triển khai với kết quả rất khả quan. Nếu ai đến cơ quan CSĐT tố cáo thì sẽ không được nhận tiền giải ngân cũng như sổ đỏ của mình.
Ngày 9/7, trao đổi với PV, lãnh đạo Phòng 7, Cục C45, đơn vị thụ lý vụ án khẳng định, sau khi củng cố chứng cứ, ngày 26/6, cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam trong thời hạn 4 tháng đối với Nguyễn Phước. Sau đó, Viện KSND tối cao đã phê chuẩn các quyết định và lệnh tạm giam nói trên. Chính vì thế, việc tung tin đối tượng Phước được thả ra chỉ là trò bịp của các đối tượng còn bên ngoài mà thôi.
Cơ quan điều tra yêu cầu, những người dân không nên tin và chạy theo trò bịp bợm của đối tượng Phước và đồng bọn về dự án trồng rừng không hề có thật này. (Công An Nhân Dân 10/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một người đàn ông 40 tuổi sống tại Ấn Độ nổi tiếng với biệt danh “người rắn” vì tình yêu đặc biệt của mình dành cho loài rắn và khả năng chơi đùa với rắn khiến nhiều người phải “rợn tóc gáy”.
Vava Suresh, 40 tuổi sống tại bang Kerala (Ấn Độ) là một nhà bảo tồn động vật hoang dã và có một niềm say mê đặc biệt với loài rắn, đặc biệt là loài rắn chết người hổ mang chúa. Suresh cho biết sứ mệnh của cuộc đời mình là “yêu và bảo vệ” các loài động vật hoang dã, ngay cả với những loài động vật chết người. Tính đến thời điểm hiện tại, Suresh đã giải cứu hơn 30.000 con rắn khác nhau.
Sự dũng cảm, tài năng và khả năng chế ngự rắn của Suresh đã giúp anh được biết đến tại Ấn Độ với biệt danh “người rắn”. Người dân tại bang Kerala thường xuyên nhờ đến sự trợ giúp của Suresh mỗi khi họ phát hiện ra rắn ở xung quanh nhà mình hoặc một con rắn “đi lạc” vào trong nhà của họ.
Suresh sinh ra trong một gia đình nghèo ở thành phố Thiruvananthapuram (bang Kerala) có một nhận thức hoàn toàn khác về loài rắn so với những người khác. Thay vì sợ hãi loài rắn như nhiều người khác, Suresh lại dành tình yêu và tôn thờ cho loài động vật này. Theo Suresh, rắn là một loài động vật nhẹ nhàng và đáng yêu, cần phải có sự tử tế và bảo vệ từ con người.
“Rắn là một phần cuộc sống của tôi ngay từ khi còn nhỏ”, Suresh chia sẻ. “Tôi thực sự không biết vì sao mình cảm thấy yêu mến chúng. Khi còn nhỏ, tôi đã nhìn thấy con người giết hại dã man những con rắn, điều này đã khiến tôi có một sự cảm thông cho loài sinh vật này. Bên cạnh đó, sự tôn thờ loài rắn tại nhiều đền thờ khiến tôi thấy rằng rắn là một loài cần được bảo vệ”.
Suresh lần đầu giải cứu một chú rắn khỏi bị giết hại khi mới 12 tuổi. Đó là một con rắn hổ mang con. Suresh sau đó đã giấu con rắn nhỏ này trong nhà mình và cẩn thận nghiên cứu hành vi của nó. Dần dần, Suresh tìm hiểu được cách thức làm thế nào để xử lý và bắt một con rắn mà không làm rắn bị thường hoặc bị rắn cắn.
Tính đến nay, Suresh đã từng giải cứu 12 con rắn hổ mang chúa, khoảng 7.000 rắn hổ mang Ấn Độ, từ 1.600 đến 1.700 rắn lục và 150 con rắn cạp nong. Đặc biệt Suresh không sử dụng bất kỳ dụng cụ hỗ trợ nào cho công việc nguy hiểm của mình mà anh chỉ sử dụng chính đôi tay trần của mình để bắt rắn.
Không chỉ những người dân thường nhờ đến sự trợ giúp của Suresh khi phát hiện thấy rắn trong nhà, mà ngay cả cảnh sát, lực lượng cứu hỏa cũng nhờ đến sự trợ giúp của Suresh khi cần bắt rắn.
Những con rắn được Suresh bắt được từ những khu vực đô thị sau đó được thả vào tự nhiên. Ngoài ra, Suresh còn tìm cách giữ trứng của rắn và chăm sóc cho đến khi chúng nở. Suresh hiện đang tích cực để nêu cao nhận thức của con người về loài rắn và kêu gọi bảo vệ loài động vật này.
Dĩ nhiên, Suresh đã từng không ít lần gặp phải tai nạn khi thực hiện công việc nguy hiểm của mình. Một ngón tay của Suresh đã bị cắt bỏ sau khi bị một con rắn hổ mang cắn. Trước đó trong năm 2012, Suresh đã phải cấy ghép da lòng bàn tay phải sau khi bị một con rắn hổ mang khác cắn. Đến nay, Suresh đã bị các loài rắn độc cắn hơn 266 lần và anh tin rằng cơ thể mình đã phát triển đủ kháng thể để chống lại nọc rắn.
Nhận biết được tài năng vượt trội của Suresh, Cục Lâm nghiệp của bang Kerala đề nghị Suresh một công việc của chính phủ vào năm 2012, làm việc tại một công viên rắn sắp được mở cửa. Tuy nhiên, Suresh đã từ chối công việc này vì anh muốn làm những công việc giúp ích cho xã hội và thể hiện tình yêu với loài rắn theo cách mà mình muốn. (Dân Trí 10/7) đầu trang(
Theo Japan Today, người dân ở gần sông Kamo, Kyoto, Nhật Bản vừa phát hiện ra một con vật có hình thù kỳ dị.
Con vật này thuộc họ kỳ nhông có chiều dài khoảng 1,5m và chuyên sinh sống vào ban đêm. Loài kỳ nhông này được xếp vào dạng rất quý hiếm.
Con kỳ nhông này màu nâu, có cái đầu giống củ hành, đôi mắt tròn và sáng. Nhiều người dân địa phương cảm thấy khá ghê sợ khi nhìn thấy con kỳ nhông và đã xuất hiện lời đồn đoán rằng không hiểu con vật này có bị nhiễm xạ hay không.
Hiện các nhà khoa học Nhật Bản đang theo dõi sát sao vụ việc trên. (VietnamPlus 10/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||