Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Trước tình hình một số khu rừng phòng hộ ở xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị chặt phá, mới đây, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị, lực lượng liên ngành huyện Vĩnh Linh đã đi kiểm tra tại khu rừng phòng hộ ở xã Vĩnh Hà bị chặt phá.
Ông Bùi Quang Linh, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh cho biết, thông tin báo chí phản ánh về việc rừng phòng hộ ở đây bị chặt phá là đúng. Tuy nhiên, ông Linh khẳng định lực lượng kiểm lâm huyện đã tham mưu cho chính quyền cơ sở việc quản lý, bảo vệ rừng, trong đó có các hoạt động ngăn chặn phá rừng.
Nhưng tùy vào đối tượng được tham mưu, tuyên truyền mà hiệu quả của công tác này đạt đến đâu... Để xác định chủ sở hữu rừng, đoàn kiểm tra bước đầu nhận định, khu vực rừng bị chặt phá này thuộc các Tiểu khu 585 và 586, thuộc rừng phòng hộ nằm trên địa bàn xã Vĩnh Hà. Nhưng chủ sở hữu rừng này là ai thì hiện vẫn chưa biết được.
Trước thực trạng này, lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường - thành viên đoàn kiểm tra liên ngành cho biết nguyên nhân là do hiện nay rừng, đất rừng trên địa bàn huyện vẫn chưa được bàn giao cụ thể cho các đơn vị quản lý, bảo vệ và chịu trách nhiệm. Chẳng hạn, Làng Thanh niên lập nghiệp Vĩnh Linh, nằm trên địa bàn xã Vĩnh Hà được tỉnh Quảng Trị giao quy hoạch trên giấy tờ là 8.600 ha đất (chủ yếu đất lâm nghiệp) nhưng thực tế hiện nay làng này chỉ có trách nhiệm quản lý và bảo vệ khoảng 300 ha.
Trong khi đó, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà Võ Văn Sanh khẳng định: "Mọi liên quan đến đất đai và các loại rừng, chủ sở hữu rừng đến nay vẫn chỉ trên giấy tờ. Tôi làm Chủ tịch UBND xã mấy năm nay rồi nhưng thực tế có quản lý được đất và rừng trên địa bàn đâu. Tôi đã làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh phụ trách về nông nghiệp từ mấy năm trước và đã có biên bản. Nhưng đến nay, nó vẫn đang nằm trên văn bản".
Mặc dù, việc rừng phòng hộ bị chặt phá tan hoang trên địa bàn huyện Vĩnh Linh diễn ra rất lâu nhưng không hề bị ngăn chặn. Ai chịu trách nhiệm về rừng bị chặt phá, chính quyền, cơ quan chức năng huyện Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Trị cần có giải pháp xử lý.
Được biết, hàng chục ha rừng phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh đã bị chặt trụi để trồng mới rừng sản xuất. Điều lạ là, hoạt động phá rừng diễn ra công khai hàng ngày nhưng chính quyền, ngành chức năng ở địa phương không hề có sự phản ứng.
Thậm chí, khu vực rừng bị chặt trụi nằm cách trạm Kiểm lâm Bến Quan thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh chỉ chừng 10km. Con đường từ ngã tư Khe Cau lên vùng rừng này cũng luôn tấp nập người qua lại.
Trên thực tế, những năm qua, có không ít hộ dân ở Vĩnh Linh đã làm đơn khiếu nại chính quyền huyện việc cá nhân, tổ chức đã phá rừng và trồng rừng bừa bãi. Nhưng sự việc vẫn không được giải quyết một cách dứt điểm. (Thanh Tra 9/12; Đại Đoàn Kết 9/12, tr11) đầu trang(
Hôm 8-12, cụ Rùa Hồ Gươm lại nổi và nằm phơi nắng trên Tháp Rùa thu hút sự quan tâm của người dân thủ đô.
PGS-TS Hà Đình Đức, nhà nghiên cứu lâu năm về cụ Rùa Hồ Gươm, đã thuật lại với phóng viên về khoảnh khắc được tiếp xúc với cụ Rùa sau một số thông tin chưa chính xác về chuyện cụ Rùa nổi lên vài ngày trước.
Theo PGS-TS Hà Đình Đức, khoảng 9 giờ 30 ngày 8-12, ông nhận được thông báo cụ Rùa nổi và bò lên nằm ở bãi cỏ ven Tháp Rùa. Khoảng 30 phút sau PGS-TS Hà Đình Đức có mặt ở Hồ Gươm và đi thuyền ra Tháp Rùa.
“Khi tôi ra tới Tháp Rùa, cụ Rùa vẫn đang nằm nghỉ bên thảm cỏ. Tôi và nhiều người khác tranh thủ xoa lưng cụ Rùa để chụp ảnh, và khoảng 20 phút sau cụ đã lặn xuống hồ” - PGS-TS Hà Đình Đức cho biết.
Trước thông tin vài ngày trước cụ Rùa đã nổi lên với nhiều vết thương và rất mệt mỏi, PGS-TS Hà Đình Đức khẳng định đây là thông tin không chính xác bởi nhật ký của lực lượng bảo vệ Hồ Gươm không ghi nhận điều này. Hơn nữa, khi trực tiếp tiếp xúc với cụ Rùa, chúng tôi thấy cụ vẫn rất khỏe mạnh, không có biểu hiện yếu đi so với thời điểm được chữa bệnh hồi năm 2011.
Theo ghi nhận của lực lượng bảo vệ Hồ Gươm, từ đầu năm 2014 đến nay, cụ Rùa Hồ Gươm đã nổi 43 lần, trong đó riêng tháng 12-2014 cụ đã nổi lên 3 lần. (Sài Gòn Giải Phóng 9/12, tr2) đầu trang(
Ngày 8/12, một số cơ quan truyền thông tại Đắk Lắk nhận được văn bản số 1934/Ủy ban Nhân dân - KL của Ủy ban Nhân dân huyện Krông Năng phúc đáp thông tin phản ánh của các báo về việc lâm tặc ồ ạt vào rừng giáp ranh giữa huyện Krông Năng (Đắk Lắk) và Krông Pa (Gia Lai) để khai thác lâm sản trái phép.
Theo nội dung công văn phúc đáp, sau khi báo chí thông tin về việc lâm tặc “xẻ thịt” rừng giáp ranh giữa huyện Krông Năng (Đắk Lắk) và huyện Krông Pa (Gia Lai), Ủy ban Nhân dân huyện Krông Năng đã chỉ đạo các ngành chức năng khẩn trương kiểm tra, xác minh những khu vực khai thác gỗ trái phép.
Theo kết quả kiểm tra, “tình trạng khai thác rừng trái phép tại tiểu khu 306 do Ủy ban Nhân dân xã Cư Klông quản lý và gỗ khai thác trái phép chất đầy trong nhà dân (ở thôn Cư Klông) là không có". Diện tích rừng bị khai thác trái phép chủ yếu thuộc khu vực giáp ranh huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Vì vậy, các ngành chức năng của huyện đã thông báo đến Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa để có kế hoạch kiểm tra, truy quét.
Ủy ban Nhân dân huyện Krông Năng cũng đã có văn bản đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk làm việc với tỉnh Gia Lai, chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng khu vực giáp ranh.
Cũng theo văn bản này, trong tháng 10/2014, tại tiểu khu 315A và 316, xã Ea Tam, thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng quản lý đã có 46 cây gỗ dổi đường kính từ 25-70cm bị đốn hạ, gây thiệt hại khối lượng gỗ khoảng 52m3. Nguyên nhân do giá hạt dổi tăng cao (khoảng 500.000 đồng/kg) nên nhiều người dân vào rừng đốn hạ cây lấy hạt để bán.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đang điều tra, xử lý. (VietnamPlus 8/12) đầu trang(
8-12, Hạt kiểm lâm liên huyện Tuy Phước (Bình Định) cho biết, Cơ quan này đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 16,5 triệu đồng đối với bà Bùi Thị Liễn (ở thôn Công Chánh, thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước) về hành vi mua và nuôi nhốt động vật hoang dã quý hiếm.
Trước đó, Hạt kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - TP Qui Nhơn và Công an huyện Tuy Phước đã tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại nhà bà Liễn nhiều cá thể động vật hoang dã quí hiếm đang được nuôi nhốt gồm: Cheo cheo, rắn hổ trâu, cầy hương cân (đều thuộc nhóm IIB quý hiếm). Ngoài ra, còn có một số cá thể hoang dã thuộc nhóm thường như rắn sáo; chồn, dúi và nhím.
Toàn bộ số động vật hoang dã trên đã được Hạt kiểm lâm liên huyện Tuy Phước- TP Qui Nhơn tiến hành thả về rừng- bà Nguyên cho biết thêm. (Đại Đoàn Kết 9/12) đầu trang(
Mới đây, tại lô 6, Tiểu khu 1658 thuộc địa phận xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong do Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn (gọi tắt là Công ty lâm nghiệp Quảng Sơn) quản lý có hàng trăm cây thông đang bị rũ lá, héo khô và chết dần một cách bất thường.
Ngay sau khi phản ánh, UBND tỉnh Đác Nông đã quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành tiến hành kiểm ra, xác minh làm rõ thông tin trên. Ngày 8-12, Tổ công tác liên ngành đã có Báo cáo số 1566/BC-SNN về kết quả xác minh.
Theo đó, việc hủy hoại rừng thông dọc hai bên tuyến tỉnh lộ 4 đoạn qua xã Quảng Sơn xảy ra liên tục trong nhiều năm qua, trong đó nhiều nhất là trong năm 2013 và 2014, kể từ khi có thông tin về thành lập huyện mới. Các khu vực rừng thông bị phá, lấn chiếm đất chủ yếu sát với nương rẫy, nhà ở của người dân, sát mặt đường. Các đối tượng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất với mục đích chiếm đất để ở, lấy đất sản xuất và mua bán, sang nhượng trái phép, nhất là những khu vực đất bằng, có vị trí đắc địa, sát mặt đường.
Cách thức và thủ đoạn hủy hoại rừng thông chủ yếu là đẽo vỏ, ken gốc để đổ hóa chất vào khiến cây chết từ từ. Tính đến nay, tổng diện tích rừng thông bị hủy hoại là 8,34 ha với 2.635 cây thông bị chết, trong đó, năm 2013 diện tích rừng thông bị phá là 6,58 ha với 1.989 cây, năm 2014 là 1,7583 ha với 646 cây. Các diện tích rừng thông bị hủy hoại đã được người dân san ủi, lấn chiếm, riêng tại lô 5, khoảnh 7, Tiểu khu 1646, người dân đã dựng bảy căn nhà, trong đó có một nhà xây mái lợp tôn với diện tích 60 m 2 , hai quán mái tranh với diện tích 150 m2 , bốn nhà vách thưng gỗ, mái lợp tôn với diện tích 180m2 ...
Trong hai năm 2013 và 2014, Công ty lâm nghiệp Quảng Sơn phối hợp lực lượng kiểm lâm, công an đã phát hiện, lập biên bản xử lý 21 vụ, diện tích 8,34 ha với 2.635 cây thông bị hủy hoại. Đã chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đác Glong năm vụ với diện tích hơn ba ha và xử lý hành chính 14 vụ với diện tích hơn bốn ha, còn hai vụ đang xử lý...
Tuy nhiên, trong 14 vụ xử lý hành chính, có 12 vụ không có đối tượng và cả năm vụ chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận điều tra...
Trên cơ sở kết quả xác minh trên, Tổ công tác liên ngành giao Công an tỉnh kiểm điểm trách nhiệm của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đác Glong trong việc chậm xử lý năm vụ phá rừng đã được Hạt Kiểm lâm huyện chuyển toàn bộ hồ sơ.
Giao UBND huyện Đác Glong kiểm điểm trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn, địa chính xã vì để người dân san ủi, lấn chiếm xây dựng nhà trái phép trên diện tích phá rừng thông. Giao Sở Nội vụ phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm điểm trách nhiệm đối với Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty lâm nghiệp Quảng Sơn.
Giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh kiểm điểm trách nhiệm đối với lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đác Glong, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã Quảng Sơn, kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn vì để xảy ra việc hủy hoại rừng thông, lấn chiếm và xây dựng nhà trái phép trên diện tích rừng thông. Việc kiểm điểm, xử lý trách nhiệm này phải hoàn thành trong tháng 12-2014. (Nhân Dân 9/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên - Huế phát hiện 561 vụ và xử lý 554 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong đó có 110 vụ mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản.
Lực lượng chức năng tịch thu 457,29 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 3,93 tỷ đồng. Đáng chú ý, nhiều vụ vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép với số lượng lớn gỗ quý hiếm đã bị bắt giữ và xử phạt ở mức cao. (Nhân Dân 9/12) đầu trang(
8-12, ông Đào Xuân Liên- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cho biết, sau khi cơ quan chức năng phát hiện tại lâm phần rừng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Ia Grai có hơn 100 m3 gỗ dầu, sến... đường kính từ 50 cm đến 70 cm bị cưa hạ trái phép.
Tỉnh đã chỉ đạo lực lượng công an, kiểm lâm cùng các cơ quan chức năng liên quan điều tra, làm rõ khối lượng gỗ đã bị chặt phá. (Đại Đoàn Kết 9/12, tr3) đầu trang(
Trong những năm qua, tỉnh Gia Lai đã thực hiện nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng; nâng cao độ che phủ rừng lên 53% và giữ ổn định độ che phủ trong những năm tiếp theo, góp phần đảm bảo môi trường sinh thái, giảm nhẹ hậu quả thiên tai, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 900.000 ha rừng và đất rừng, trong đó 58.000 ha rừng đặc dụng, 154.000 ha rừng phòng hộ và hơn 650.000 ha rừng sản xuất. Toàn bộ diện tích rừng và đất rừng đều được giao cho các chủ rừng quản lý; trong đó có hơn 500.000 ha rừng giao cho các Ban quản lý, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp quản lý và bảo vệ; diện tích còn lại được giao cho các xã và lực lượng kiểm lâm quản lý và bảo vệ. Các chủ rừng, nhất là các tổ chức lâm nghiệp đã được tập huấn kiến thức liên quan đến việc quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cũng giảm dần, tình trạng đốt rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng được hạn chế. Số vụ cháy rừng trên địa bàn giảm mạnh. Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh chỉ xảy ra 9 vụ cháy rừng và riêng trong mùa khô 2013 - 2014, không có vụ cháy rừng nào xảy ra.
Tại Gia Lai, tuy diện tích rừng hàng năm giảm, song bù vào đó là việc phát triển mạnh các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê...đã góp phần tăng độ che phủ của rừng. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có hơn 100.000 ha cao su, trong đó có hơn 35.000 ha cao su được trồng từ việc chuyển đổi rừng nghèo và đang phát triển tốt, có một số diện tích đã bắt đầu cho khai thác mủ với năng suất và sản lượng cao.
Toàn tỉnh cũng đã phát triển được khoảng 80.000 ha cà phê, tập trung nhiều nhất ở địa bàn các huyện vùng Tây Trường sơn như Ia Grai, Chưprông, Chư Pảh, mang Yang, Đăk Đoa...Hai loại cây trồng này không những góp phần tăng độ che phủ, chống xói mòn đất mà con mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, hàng năm công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc được các tổ chức lâm nghiệp các hộ dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số tích cực thực hiện. Trong những năm qua, toàn tỉnh đã trồng được hơn 57.000 ha rừng sản xuất tập trung, ngoài ra các đơn vị lâm nghiệp còn hỗ trợ cho người dân sinh sống trong vùng rừng thực hiện việc trồng rừng trên diện tích đất đồi dốc và đạt hiệu quả cao.
Gia Lai cũng đã thực hiện thành công Đề án thí điểm hỗ trợ người dân canh tác nông - lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoàn 2010 - 2012, bước đầu đã giúp người dân ở 15 buôn làng ổn định sản xuất trên diện tích nương rẫy và đất rừng; đồng thời giúp người dân vùng dự án có cơ hội tiếp cận khoa học, kỹ thuật tiên tiến, nâng cao nhận thức về kỹ thuật canh tác cũng như những quy định của pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh cũng xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật trong xã hội như khai thác và vận chuyển gỗ trái phép, hành vi gây ra cháy rừng...Từ năm 2013, thực hiện chủ trương của Chính phủ tạm thời đóng cửa rừng trong cả nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng, tỉnh Gia Lai đã tiến hành sắp xếp lại các cơ sở chế biến lâm sản theo đúng quy hoạch trên cơ sở tiến hành kiểm tra, rà soát lại tất cả các cơ sở đã đăng ký hoạt động trên địa bàn và thu hồi giấy phép đối với những cơ sở chế biến trái phép hoặc có liên quan các loại gỗ từ rừng.
Trước đây, toàn tỉnh có đến hơn 600 cơ sở chế biến lâm sản được thành lập, trong đó có khá nhiều cơ sở được xây dựng không đúng theo quy hoạch và hoạt động không đúng theo chức năng được cấp phép. Hàng năm, các cơ sở này tiêu thụ gỗ các nhóm với một khối lượng lớn, trong khi đó công tác quản lý còn chưa chặt chẻ và đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm nghèo vốn rừng.
Qua kiểm tra, rà soát, nay trên địa bàn giảm xuống còn 256 cơ sở; trong đó có 129 doanh nghiệp, 10 Hợp tác xã và số còn lại là hộ cá thể. Các cơ sở này chủ yếu sử dụng gỗ rừng trồng để sản xuất ra các loại sản phẩm như bàn, ghế, tủ... (Tin Môi Trường 8/12) đầu trang(
Hà Nội vẫn được du khách bốn phương biết đến là một thành phố xanh với nhiều con đường cây cổ thụ “đẹp như mơ” như Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Lò Đúc, đường Đê La Thành…
Bất chấp biến cố lịch sử và sự tàn phá của chiến tranh, những vòm cây, hàng cây Hà Nội làm nên những “con đường màu xanh” đã đem lại sự mát lành bình yên cho bao nhiêu cuộc đời dưới bóng nó.
Những hàng cây cổ thụ này còn là những chứng nhân lịch sử cho một Thủ đô Ngàn năm văn hiến đã từng được UNESCO phong tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”.
Nhưng những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa nhanh, trong khi công tác quy hoạch kiến trúc còn nhiều bất cập, công tác quản lý đô thị thiếu hiệu quả khiến cây xanh của Hà Nội dần “tiều tụy” đi nhiều. Trên nhiều con phố, cây xanh đang bị bỏ rơi và tàn phá đến đau lòng.
Hết dự án hạ tầng đến bê tông hóa vỉa hè làm cây ngày một “dặt dẹo” vì thiếu dinh dưỡng, vì sâu bệnh do không được chăm sóc tốt. Thậm chí có những cây xanh còn bị người dân “bức tử” bằng việc đổ hóa chất vào gốc cây.
Đặc biệt, những ngày này, người dân Hà Nội đang bàng hoàng, xót thương trước việc hàng trăm cây cổ thụ vẫn tỏa bóng mát trên những con đường thân quen mỗi ngày họ đến trường, đi làm bỗng dưng bị cơ quan chức năng thẳng tay cưa đổ, chặt gọn thành từng khúc nằm chỏng chơ bên đường.
Mặc cho các cơ quan chức năng đã có những lời giải thích rằng việc chặt cây là “để phục vụ dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông và dự án hầm chui Thanh Xuân” hay “để phục vụ dự án metro (Nhổn - Ga Hà Nội) đầu tiên của thủ đô” và “số lượng cây chặt hạ đều được thành phố cấp phép đúng quy định”, song nhiều người dân Hà Nội vẫn không khỏi bàng hoàng, thương tiếc những hàng cây cổ thụ đã thành chứng nhân cho bao biến cố, thăng trầm của mảnh đất nơi đây.
Không chỉ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cũng lâm vào cảnh tương tự khi vào cuối tháng 7 và tháng 10 năm 2014, nhiều cây cổ thụ trước Nhà hát thành phố (quận 1) hay hàng trăm cây trên đường Nguyễn Huệ… bị đốn hạ để chuẩn bị cho việc thi công nhà ga ngầm đầu tiên của tuyến metro số 1 và cầu vượt Thủ Thiêm 2...
Mặc cho việc những cây cổ thụ tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bị chặt bỏ với lý do nghe rất “hợp lý” là để phục vụ việc phát triển hạ tầng giao thông hiện đại, phục vụ trực tiếp cho cuộc sống của cư dân đô thị, thì việc làm này vẫn không khỏi khiến nhiều người dân và các du khách nước ngoài yêu mến những thành phố này đau xót, ngỡ ngàng.
Trước những “biến cố” chặt cây cổ thụ liên tiếp ở hai thành phố lớn, diễn đàn happytreeinsaigon.com đã được ra đời từ sự lo ngại về một thành phố thiếu đi bóng cây xanh của nhóm bạn trẻ. Với chủ đề “Hãy giữ màu xanh thành phố”, diễn đàn đã thu hút được hơn 3.000 lượt ký tên ủng hộ và con số này vẫn đang không ngừng tăng lên.
Bên cạnh đó, nhóm bạn trẻ này còn tạo ra trang fanpage trên mạng nhằm kêu gọi cộng đồng cùng ý thức việc bảo vệ cây xanh và môi trường sống, những pano, biểu ngữ cũng được các bạn trẻ căng lên tại những tụ điểm công cộng để mọi người ý thức việc giữ gìn màu xanh chung.
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Tất cho rằng, câu chuyện này một lần nữa đặt ra sự chọn lựa trong áp lực phải cân nhắc các thứ giá trị “không cùng đơn vị quy đổi”. Đứng trước sự đòi hỏi của cuộc sống đô thị phát triển, khi có cơ hội và điều kiện đầu tư, hẳn không ai lại nói không với điều kiện hạ tầng giao thông hiện đại như tàu điện ngầm và phải chấp nhận những “mất mát” như việc phải chặt hạ cây xanh. Nhưng vấn đề là phải chia sẻ “cái lý của sự mất mát” một cách rõ ràng, minh bạch tới mọi công dân, đặc biệt với giới chuyên môn sâu có liên quan tới sự việc.
Cùng ý kiến này, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam Ngô Doãn Đức cho rằng, trước khi tiến hành những đề án xây dựng quan trọng, lãnh đạo các tỉnh, thành phố nên có những cuộc khảo sát rộng rãi để lấy ý kiến người dân, tham khảo phân tích của những chuyên gia, để đưa ra quyết định khoa học, chuẩn xác và nhất là tránh được những luồng dư luận trái chiều.
Lắng nghe ý kiến nhiều chiều của dư luận, UBND TP. Hồ Chí Minh vừa yêu cầu từ năm 2015 tới phải bổ sung nội dung "thẩm định cây xanh bị tác động" trong báo cáo đánh giá dự án, để tránh xâm hại cây xanh khi thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật.
Phó chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Tín vừa giao các sở, ngành liên quan nghiên cứu bổ sung nội dung này, đề xuất UBND thành phố ban hành quy định cụ thể để triển khai thực hiện ngay trong tháng 12 này. Trong khi TP. Hồ Chí Minh bước đầu đã kịp thời đưa ra những quyết sách “hợp lòng dân” thì hiện Hà Nội vẫn chưa có “động tĩnh” gì để giải tỏa mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển.
Thiết nghĩ, đã đến lúc Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về vấn đề bảo tồn cây xanh. Hãy bắt đầu từ việc không nên giao cho ngành giao thông vận tải độc quyền vừa quản lý nhà nước về công viên cây xanh, vừa quản lý về hệ thống hạ tầng giao thông, bởi việc này rất dễ phá bỏ cây xanh trước yêu cầu tiến độ thi công dồn dập các công trình cầu đường. (Thời Báo Ngân Hàng 8/12, tr12) đầu trang(
Để bảo vệ diện tích rừng của địa phương, hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra nhất là trong mùa hanh khô, huyện Đầm Hà đã tích cực triển khai các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa hanh khô 2014 - 2015.
Huyện Đầm Hà hiện có 18.845,04 ha  đất có rừng, độ che phủ rừng đạt tỷ lệ 52,5 %, huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Trong năm vừa qua đã tổ chức 8 lớp tập huấn tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho trên 400 lượt người là các chủ rừng, người uy tín trong cộng đồng dân cư. Tổ chức ký cam kết đến người dân tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, thành lập các tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng tại các thôn bản, với 41 tổ đội và trên 500 người tham gia.
Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về cháy rừng, tổ chức trực 24/24 h, chủ động kiểm tra, theo dõi chặt chẽ các vùng trọng điểm, kiểm soát chặt chẽ việc đốt thực bì, phát hiện xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra.
Cùng với nỗ lực của các cơ quan chức năng, các chủ rừng nâng cao ý thức bằng việc chủ động xây dựng phương án PCCCR, vận động người dân không mang lửa vào rừng, do vậy trong mùa hanh khô 2013 -  2014 một số vụ cháy rừng xảy ra đã được phát hiện sớm và xử lý kịp thời, diện tích rừng của địa phương cơ bản được bảo vệ và phát triển tốt.
Trong thời gian tới huyện Đầm Hà sẽ tăng cường công tác tuyên truyền bảo vệ rừng – PCCCR, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ phát triển rừng, chủ động xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng – PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ, tổ chức lực lượng thường trực PCCCR, hạn chế các vụ cháy rừng có thể xảy ra, bảo vệ phát triển diện tích rừng của địa phương. (Đài PTTH Quảng Ninh 8/12) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ vừa có buổi làm việc với chủ đầu tư Dự án thủy điện Sơn Trà 1 và các sở, ngành, địa phương liên quan để nghe báo cáo điều chỉnh dự án. Nhiều vấn đề đặt ra tại cuộc họp này…
Theo báo cáo của chủ đầu tư, sau khi điều chỉnh, tổng diện tích đất sử dụng của Dự án thủy điện Sơn Trà 1 đã giảm từ 95,4ha xuống còn 75,5ha. Trong đó, đất rừng phòng hộ giảm từ 44,5ha xuống còn trên 18ha. Diện tích chiếm đất của dự án giảm nhưng công suất lắp máy lại tăng từ 42MW lên 60MW. Dự án thực hiện tại xã Sơn Lập (Sơn Tây) và Sơn Kỳ (Sơn Hà).
Theo đó, chủ đầu tư đã dịch chuyển đập chính lên phía thượng nguồn khoảng 7km. Nhờ độ dốc cao hơn nên độ cao của thân đập giảm. Đại diện chủ đầu tư dự án cho biết, việc điều chỉnh dự án nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại, ảnh hưởng đến môi trường, tăng an sinh xã hội cho địa phương và không phải di dân, tái định cư. Nếu được UBND tỉnh chấp thuận, đến giữa tháng 7.2015, dự án sẽ khởi công và hoàn thành vào cuối năm 2018.
Ông Nguyễn Thái - Phó Bí thư Huyện ủy Sơn Hà cho rằng, việc đầu tư xây dựng thủy điện sẽ là một trong những hướng thúc đẩy kinh tế xã hội các huyện miền núi. “Tuy nhiên, điều tôi lo ngại nhất là khi làm thủy điện sẽ có đường công vụ, lâm tặc lợi dụng đường sá thuận lợi lén lút phá rừng” – ông Thái bày tỏ sự lo lắng.
Còn ông Nguyễn Phong- Chủ tịch UBND huyện Sơn Hà yêu cầu chủ đầu tư khi xây dựng thủy điện phải bảo vệ rừng và đầu tư hoàn thiện tuyến đường Sơn Kỳ - Mô Níc để người dân vùng thủy điện đi lại thuận tiện. Ngoài ra, các bãi đất chủ đầu tư thuê làm bãi chứa chất thải trong quá trình thi công, sau khi hoàn thành công trình cần phải trả lại nguyên trạng cho người dân để họ tiếp tục phát triển sản xuất.
Trước lo lắng của lãnh đạo huyện Sơn Hà, đại diện chủ đầu tư cho biết, đối với thủy điện Sơn Trà 1, toàn bộ sẽ được thi công ngầm nên rất ít tác động đến rừng. Còn mỏ vật liệu sẽ tận dụng toàn bộ số vật liệu trong quá trình khoan đường hầm dẫn nước để phục vụ việc xây dựng. “Tôi khẳng định là trong quá trình thi công sẽ hạn chế tối đa việc mở đường công vụ và khu vực quanh lòng hồ sau này sẽ không trở thành nơi cho lâm tặc phá rừng được” - đại diện chủ đầu tư hứa
Dán thủy điện Sơn Trà 1, do Công ty CP 30-4 Quảng Ngãi, làm chủ đầu tư. Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 1.900 tỷ đồng, gồm 2 tổ máy phát điện là Sơn Trà 1A và Sơn Trà 1B, tổng công suất 60 MW/năm, đặt tại xã Sơn Kỳ. Sau khi hoàn thành, mỗi năm dự án sẽ đóng góp vào giá trị sản xuất của địa phương khoảng 220 tỷ đồng, nộp ngân sách và phí môi trường khoảng 62 tỷ đồng.
Về vấn đề thực hiện Dự án thủy điện Sơn Trà 1, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ cơ bản thống nhất phương án điều chỉnh của chủ đầu tư. Trong đó, hoan nghênh việc chủ đầu tư đã giảm diện tích rừng nằm trong quy hoạch của dự án, giảm diện tích đất của dân bị ảnh hưởng và việc tận dụng tối đa lợi thế địa hình, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường của dự án...
“Chủ đầu tư và các địa phương cần có biện pháp bảo vệ rừng phòng hộ trong khu vực, hạn chế khô kiệt vùng hạ du, đảm bảo đời sống người dân vùng hạ lưu. Chủ đầu tư cần thương thảo với dân về phương án bồi thường diện tích đất bị thu hồi. Có thể bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất cho người dân. Nhưng theo khảo sát của địa phương thì người dân cần đất sản xuất hơn là tiền bồi thường. Do đó, cần phải có đất rừng sản xuất để cấp lại cho người dân sau này” – Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ chỉ đạo.
Ngoài ra, đối với diện tích rừng bị mất do ngập dưới lòng hồ, có hai phương án đặt ra, đó là chủ đầu tư phải trồng lại rừng bằng số diện tích đã mất, hoặc chi trả tiền để ngành nông nghiệp trồng lại. Do đó, cần phải lập phương án trồng rừng thay thế. Bên cạnh đó, chủ đầu tư cần phối hợp với chính quyền địa phương đào tạo, sử dụng lao động tại địa phương  trong quá trình triển khai dự án và làm tốt công tác an sinh xã hội như đã hứa.
Đối với việc điều tiết lũ và quy trình vận hành hồ chứa, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu phải đảm bảo an toàn cho vùng hạ du. Đồng thời, để trong quá trình triển khai dự án không gặp những khó khăn, trở ngại hay sai sót, Chủ tịch UBND tỉnh giao các sở, ngành, địa phương hỗ trợ chủ đầu tư. Trong đó, giao Sở NN&PTNT lập kế hoạch trồng rừng thay thế. Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND tỉnh trong việc cấp giấy phép đầu tư cho dự án. (Báo Quảng Ngãi 8/12) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Quân Đội Nhân Dân cho biết: Trên địa bàn xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép đang có những diễn biến phức tạp. (Quân Đội Nhân Dân 7/12, tr8) đầu trang(
Gần đây, ngành chức năng đã phát hiện, xử lý nhiều vụ khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép. Tuy vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản của lực lượng chuyên trách tại một số địa phương vẫn chưa tốt; nhiều nơi có tâm lý buông lỏng và chủ quan.
Trong 11 tháng, Chi cục Kiểm lâm Bình Định đã phát hiện 639 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, như khai thác rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép (tăng 91 vụ so với cùng kỳ năm ngoái), tịch thu gần 300m3 gỗ gồm nhiều chủng loại, nộp cho ngân sách nhà nước hơn 6,6 tỉ đồng.
Đơn cử, ngày 11.10, trên QL19 đoạn qua xã Bình Tường (huyện Tây Sơn), Hạt Kiểm lâm huyện Tây Sơn cùng lực lượng CA tỉnh đã phát hiện ô tô mang BKS 77C - 015.52 do Nguyễn Hữu Đức (trú ở thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh) điều khiển chở 537 hộp gỗ xẻ (tương đương với 4,886m3), chủng loại cà te nhóm IIA.
Qua điều tra, ngành chức năng xác định Đức là chủ sở hữu và đang vận chuyển trái phép khối lượng gỗ trên. Để răn đe đối tượng vi phạm, UBND tỉnh đã có quyết định số 3998/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với Đức; số tiền bị phạt là 480 triệu đồng và tịch thu tang vật.
Trước đó không lâu, Công ty TNHH Long Quân (trụ sở ở thôn Tân An, xã An Hòa, huyện An Lão) cũng có hành vi khai thác, vận chuyển trái phép 55 hộp gỗ xẻ (tương đương với 4,966m3), chủng loại lim xanh và gụ lau nhóm IIA. Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn vi phạm các thủ tục hành chính trong quá trình vận chuyển. UBND tỉnh đã ban hành quyết định xử phạt đối với Công ty TNHH Long Quân với số tiền 420 triệu đồng và tịch thu tang vật.
Theo số liệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm Bình Định, từ đầu năm đến đầu tháng 12.2014, diện tích rừng tại tỉnh ta giảm hơn 460ha, chủ yếu là do nạn chặt phá rừng bừa bãi và cháy rừng. Trong đó, tổng số vụ chặt phá rừng là 82 vụ (nhiều nhất là ở huyện Vĩnh Thạnh, chiếm hơn 90% số vụ), làm thiệt hại hơn 46 ha rừng.
Ông Lê Đình Thanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Định, cho biết: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khai thác rừng, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép gia tăng là do tâm lý hám lợi của người dân. Ngoài ra, lực lượng chuyên trách còn mỏng, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý còn thiếu thốn nên các đối tượng vi phạm thường lợi dụng thời điểm trời tối để qua mắt ngành chức năng.
Đáng chú ý, một số cán bộ chuyên trách tại địa phương có tâm lý buông lỏng hoặc chủ quan sau khi kết thúc cuộc truy quét nên đối tượng vi phạm thường lợi dụng để tiếp tục hành vi trái pháp luật. Trong 11 tháng, Chi cục Kiểm lâm Bình Định đã thi hành kỷ luật đối với 15 công chức, lao động hợp đồng công tác tại các Hạt kiểm lâm do thiếu trách nhiệm trong công việc, để xảy ra nhiều vụ vi phạm nhằm răn đe, chấn chỉnh lại lực lượng. Ngành chức năng chưa phát hiện hiện tượng móc nối, dung túng, bao che cho lâm tặc trong lực lượng kiểm lâm.
Từ tháng 12 (dương lịch) cho đến Tết Nguyên đán, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng chắc chắn sẽ diễn biến phức tạp. Chi cục Kiểm lâm Bình Định sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền; thường xuyên tổ chức các đợt truy quét, tuần tra, kiểm soát. Chính quyền các địa phương cũng cần phối hợp, tăng cường lực lượng để cùng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Bình Định 6/12) đầu trang(
UBND huyện MangYang vừa tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng năm 2014 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 2015.
Năm 2014, nhờ thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, giao khoán quản lý bảo vệ rừng và thường xuyên tuần tra canh gác nên công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện MangYang có những chuyển biến tích cực.
Trong năm, lực lượng kiểm lâm, ban lâm nghiệp các xã, thị trấn và các đơn vị chủ rừng thường xuyên tổ chức kiểm tra, truy quét lâm tặc tại các khu vực trọng điểm về chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, cũng như khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua đó đã phát hiện, lập biên bản xử lý 24 vụ vi phạm Luật Bảo vệ phát triển rừng (giảm 11 vụ so với năm 2013). Các cơ quan chức năng tịch thu hơn 30m3 gỗ từ nhóm 1 đến nhóm 8 với tổng số tiền phạt và bán lâm sản, phương tiện tịch thu sung công quỹ nhà nước hơn 235 triệu đồng. Cùng với đó, công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn cũng được triển khai tích cực và  không xảy ra vụ cháy rừng nào trong năm.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLBVR trên địa bàn huyện vẫn còn những khó khăn, hạn chế; và đó là nhiệm vụ được huyện đề ra nhằm thực hiện có hiệu quả công tác QLBVR của địa phương trong thời gian tới. (Đài PTTH Gia Lai 6/12) đầu trang(
Tình trạng phá rừng làm rẫy khiến hàng loạt diện tích rừng đầu nguồn ở Đại Sơn (Đại Lộc) bị xâm hại nặng nề, song nhiều năm qua, ngành chức năng vẫn chưa có biện pháp quản lý hiệu quả.
Nhiều diện tích rừng trên địa bàn xã Đại Sơn bị tàn phá do tình trạng đốt rừng lấy đất trồng thơm, khai thác củi, than… của người dân Đại Sơn, Đại Hồng và vùng lân cận. Theo người dân địa phương, để vào được những cánh rừng của Đại Sơn, có thể đi bằng 3 cửa truông chính là khe Hoa, khe Trăn và D7.
Từ khi Lâm trường Đại Lộc giải thể, rừng Đại Sơn càng bị xâm hại. Màu xanh của những khu rừng vốn đã nghèo dần biến mất đi, thay vào đó là những rẫy thơm bạt ngàn. Có mặt tại khu vực cửa truông khe Hoa (thôn Tân Đợi, xã Đại Sơn), đập vào mắt là cảnh tượng một khoảnh rừng rộng lớn vẫn còn loang lổ dấu vết khai phá, cây rừng bị đốt cháy nằm ngổn ngang, đất vương màu tro.
Xen vào đó là những vạt keo lá tràm vừa mới được trồng để giữ đất, nguyên do là sau vài năm, đất trồng thơm đã bạc màu, bị rửa trôi không còn khả năng canh tác nên người dân chuyển sang trồng keo để giữ quyền “sở hữu” đất. Những chòi rẫy mọc lác đác trên những cánh rừng.
Ông Nguyễn Hữu Bốn - cán bộ Hội Cựu chiến binh xã Đại Sơn cho biết: “Ngày trước, vùng này từng có những cánh rừng bạt ngàn với nhiều loại cây leo, gỗ nhỏ, từng là môi sinh của nhiều động thực vật thì nay rừng bị hủy hoại khiến chúng tôi cảm thấy đau lòng. Tệ hại hơn là dân chúng tôi phải hứng chịu hậu quả từ lũ lụt, sạt lở. Mùa nắng, nước khe Hoa bị cạn dòng, không có nguồn để sản xuất, gây mất mùa”.
Những cột mốc đỏ, chỉ dấu để phân biệt khu vực cấm, không được đốt phá trước đó đã bị “lâm tặc” ngang nhiên phá bỏ, tự ý biến những diện tích đất rừng của Nhà nước thành sở hữu của mình. “Cái lợi từ việc biến rừng thành rẫy đã khiến nhiều người dù biết sai vẫn làm” - ông Bốn nói.
Theo tìm hiểu, diện tích rừng phòng hộ Đại Sơn ở vùng giáp ranh với Nông Sơn hiện được giao cho 5 nhóm hộ với 47 thành viên thuộc Hội Cựu chiến binh xã Đại Sơn quản lý, bảo vệ theo dịch vụ cung ứng bảo vệ môi trường rừng cho thủy điện Khe Diên (Nông Sơn).
Tổng diện tích rừng thuộc 5 tiểu khu: Hội Khách Đông, Hội Khách Tây, Bãi Quả, Tân Đợi và Đồng Chàm do 5 nhóm hộ trên quản lý, bảo vệ khoảng 205ha trong tổng số 4.646ha rừng tự nhiên của toàn xã. Riêng vùng rừng giáp ranh với xã Đại Hồng và huyện Nam Giang với tổng diện tích khoảng 4.441ha hiện do UBND xã Đại Sơn làm chủ rừng.
Dù thời gian qua, 5 chi hội cựu chiến binh thuộc 5 thôn của xã Đại Sơn đã tăng cường phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa bàn tổ chức các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng, song công tác kiểm soát gặp khó khăn. Nguyên nhân là địa bàn xa xôi, hiểm trở, phải mất 2 tiếng đồng hồ mới tới được nơi sản xuất của người dân; lâm tặc đối phó, qua mắt lực lượng chức năng qua mỗi đợt truy quét…
Ông Hồ Hữu Xiêm - Trưởng thôn Tân Đợi bức xúc: “Để đối phó với “lâm tặc”, Hội Cựu chiến binh xã đã nhiều lần tham mưu cho UBND xã Đại Sơn kêu gọi các đối tượng phá rừng làm rẫy lên làm việc, yêu cầu khôi phục rừng nhưng người dân vẫn chây ì, chưa có giải pháp xử lý rốt ráo”.
Rừng Đại Sơn đang “chảy máu” từng ngày trước làn sóng đốt rừng làm rẫy, song đến nay, các tổ quản lý bảo vệ rừng, chính quyền xã Đại Sơn và lực lượng kiểm lâm vẫn loay hoay. Trước đó, kế sách được Hội Cựu chiến binh xã đưa ra là tổ chức đóng cổng barie nhằm kiểm soát tình trạng xe tải mượn danh nghĩa vào rừng vận chuyển thơm nhưng một phần là vận chuyển than, gỗ củi.
Tuy nhiên việc làm này từng gặp phải sự phản đối kịch liệt từ phía người dân trồng thơm tại Đại Sơn và Đại Hồng. Giải pháp khác cũng từng được các tổ bảo vệ rừng thực thi là cho xe múc đường, gây khó khăn cho xe tải ra vào, nhưng không khả thi vì đường bị múc đi lập tức được đắp trở lại.
Đáng nói, rừng Đại Sơn là “điểm nóng” của tình trạng phá rừng trồng thơm, song số vụ việc được phát hiện, xử lý hiện khá khiêm tốn. Theo số liệu từ Hạt Kiểm lâm huyện Đại Lộc, giai đoạn 2013 - 2014, ngành kiểm lâm huyện đã phát hiện 6 vụ vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó hoàn thiện hồ sơ, chuyển Công an huyện xử lý 2 vụ, 3 vụ đang làm hồ sơ, xem xét khởi tố và 1 vụ đề xuất UBND huyện ra quyết định xử lý hành chính.
Ông Dương Quang Hùng - cán bộ quản lý bảo vệ rừng (Hạt Kiểm lâm huyện Đại Lộc) cho biết, trong số 6 vụ xâm hại tài nguyên rừng nói trên, vụ xâm hại với diện tích nhỏ nhất là gần 3.000m2, lớn nhất là 1ha. “Trên thực tế, việc xử lý cũng gặp rất nhiều khó khăn, bên cạnh số vụ xâm hại rừng có tính chất nhỏ lẻ, chỉ dừng lại ở xử lý hành chính thì những vụ khởi tố cũng cần cân nhắc tới yếu tố hoàn cảnh đời sống của người dân. Cũng vì lẽ đó, việc cưỡng chế, thực thi pháp luật nhiều lúc hết sức gian nan” - ông Hùng chia sẻ.
Trung tá Nguyễn Thế Cả - Đội trưởng Đội Cảnh sát kinh tế - chức vụ, ma túy và môi trường (Công an huyện Đại Lộc) cho biết, từ đầu năm 2014 tới nay, Công an huyện tiếp nhận 3 vụ khởi tố về hủy hoại rừng có tính chất nghiêm trọng, trong đó 2 vụ liên quan tới Đại Sơn.
Vụ thứ nhất xảy ra vào 4.2014, tại khoảnh 2 và 3, tiểu khu 196, thuộc địa phận thôn Tân Đợi. Diện tích rừng bị hủy hoại khoảng 6.538m2, chủ yếu diện tích rừng tự nhiên, rừng nghèo, rừng sản xuất. Tháng 4.2014, một vụ phá rừng lại tiếp diễn ở khoảnh 2 và 3, tiểu khu 195, thôn Tân Đợi. Tổng diện tích rừng tự nhiên bị hủy hoại gần 8.784m2, bao gồm rừng nghèo, kiểu trạng thái 2B (rừng phòng hộ). Trong đó, diện tích rừng phòng hộ bị xâm hại lên đến 6.774m2. Công an huyện đã khởi tố vụ án có dấu hiệu của tội hủy hoại rừng, đang truy xét để khởi tố bị can.
Trung tá Nguyễn Thế Cả nói: “Gần đây số vụ việc phát hiện có tăng lên và diện tích rừng bị xâm hại cũng nghiêm trọng hơn. Hiện chúng tôi điều tra, thu thập thông tin, chứng cứ để khởi tố bị can đối với 2 vụ án nói trên”. (Báo Quảng Nam 6/12) đầu trang(
Đường từ trung tâm Thị trấn Kim Sơn đến xã biên giới Hạnh Dịch, huyện Quế Phong độ 30 km, đã được thảm nhựa đến tận chân các bản gần UBND xã. Người dân Hạnh Dịch đa phần là đồng bào Thái, rất thân thiện.
Nghe bảo, đồng bào Thái nơi đây có nguồn gốc từ tỉnh Thanh Hóa, từ nước bạn Lào và các xã trong huyện Quỳ Châu cũ di cư lên đã hơn 300 năm. Giờ thì cái gốc di cư ấy đã nhạt nhòa lắm rồi. Con em đồng bào Hạnh Dịch giờ xem đây là quê hương cố thổ, và dòng Nậm Việc chảy dọc 11 bản đã trở thành điểm nhấn thủy chung trong trí nhớ những người đi xa.
Sau cái bắt tay thật chặt, ông Nguyễn Hữu Kiệm - Phó Bí thư Đảng ủy xã Hạnh Dịch chia sẻ: “Hôm nay vào thăm rừng Pỏm Om là tốt lắm. Dưới thị trấn tiết trời se lạnh, nhưng lên đến đây chốc nữa sẽ ấm dần thôi. Với cả, Bí thư Chi bộ bản Pỏm Om cũng đang ở trụ sở ủy ban để xin con dấu đóng vào hương ước giữ rừng của bản. Đợi một lát, cùng đồng chí bí thư chi bộ về bản luôn!”.
Nói đoạn, ông Kiệm châm ấm trà mạn, khuyên tôi ấp tay vào cạnh chén cho đỡ lạnh và chia sẻ: Toàn xã rộng hơn 18.000 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm gần 90% do nhiều chủ thể quản lý, bao gồm: 10.533,7 ha quy hoạch cho Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; khoảng 1.400 ha quy hoạch cho Tổng đội TNXP7 - xây dựng kinh tế (nay là Nông trường Cao su Quế Phong) - dự kiến quy hoạch 6.000 ha, nhưng thực tế không còn quỹ đất; Ban Quản lý rừng phòng hộ Quế Phong đang quản lý gần 6.000 ha, còn lại là đất do chính quyền xã Hạnh Dịch quản lý, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 288,11 ha, nhất là diện tích đất trồng lúa nước chỉ có 149,32 ha.
Quỹ đất canh tác hạn hẹp, khiến việc đảm bảo lương thực trong dân gặp nhiều khó khăn. Thế nên, người dân Hạnh Dịch bao năm nay xem cánh rừng là không gian sinh tồn không thể thiếu. Đào măng, lấy củi, hái lá thuốc, bắt con dúi, con mang... cải thiện bữa ăn gia đình đều từ rừng mà ra. “Nâng cao nhận thức bảo vệ rừng là việc làm có tính chiến lược và may thay, dẫu cuộc sống còn khó khăn, nhưng bà con Hạnh Dịch rất có ý thức trong công tác này.” - ông Nguyễn Hữu Kiệm bộc bạch.
Vừa lúc anh Lô Cẩm Xuyên - Bí thư Chi bộ bản Pỏm Om đã xong việc. PV cùng anh Xuyên về bản. Anh Xuyên sinh năm 1973, rổn rảng kể chuyện bản, chuyện rừng với niềm tự hào không giấu diếm. “Rừng Pỏm Om được bà con bảo vệ nghiêm ngặt lắm. Giờ, các khe suối trong rừng như khe Huồi Mốc, khe Mịt... chảy từ trên đỉnh núi cao kia là nguồn nước sinh hoạt của Đồn Biên phòng Hạnh Dịch, UBND xã, các trường mầm non, tiểu học và một số bản trung tâm đấy. Nước quanh năm không khô hạn, vì tán rừng dày nên giữ được nước” - anh Lô Cẩm Xuyên hay chuyện.
Thoáng chốc, cánh rừng Pỏm Om đã hiện ra trước mắt. Xe máy phải gửi lại dưới cột nhà sàn dân bản, PV cùng Bí thư Chi bộ thoăn thoắt cuốc bộ lên đồi cao để đến cửa rừng. Nhìn gần vậy, nhưng thực còn xa, leo bở hơi tai vẫn không theo kịp bước quen của người ở núi. Anh Xuyên chốc chốc quay lại động viên, và luôn miệng kể chuyện như cách để tiếp thêm hứng thú dấn bước cho người đồng hành. Nào là, bản ta có 72 hộ, sống chủ yếu quanh quả đồi này.
Chưa kể đến thời điểm năm 2012, khi UBND huyện Quế Phong có Quyết định giao 426,50 ha đất lâm nghiệp cho cộng đồng bản Pỏm Om quản lý, hàng trăm năm nay, người Pỏm Om truyền miệng nhau về những bí ẩn của rừng thiêng Pỏm Om, đề ra luật tục không được hạ cây, đốn rừng, bởi mọi ngọn núi, hang động, khe suối, gốc cây... đều có thần rừng trấn giữ.
Muốn đi lấy cây măng, hái lá thuốc trong rừng, bà con phải mang theo miếng trầu đặt dưới gốc cây rồi nói to lời cầu xin sản vật rừng già. Bà con không quên luật tục đâu, nhưng những năm đầu thập kỷ 90, cuộc sống khó khăn quá khiến một số người làm liều, dấn quá lên đất rừng làm nương, rẫy.
“Giờ thì tuyệt đối không còn tình trạng đó nữa. Bà con đồng tình lập nên hương ước giữ rừng mới mà tôi vừa lên xã xin đóng dấu vào. Trong đó có quy định, làm nương phải cách 150 - 200m tính từ chân khe suối và cách xa các cửa rừng, tuyệt đối không xâm hại đến cây trong rừng thiêng và ảnh hưởng đến nguồn nước trong lành” - anh Lô Cẩm Xuyên chia sẻ.
Mải chuyện, mệt nhọc nhanh qua hơn, và cửa rừng đã mở ra trong tầm mắt. Anh Xuyên chỉ tay vào nhóm người phía xa xa đang cặm cụi gùi những bế nặng trĩu vào một lán trại rộng: “Đó là người của bản ta cả, đang luân phiên nhau ươm bầu cây xoan rừng, cây mớ, cây dẻ... để trồng dặm vào những khoảng rừng trống. Bầu cây cũng do bà con tự nguyện góp lại, cả vườn ươm này nữa, mỗi nhà góp 5 cây nứa rồi chung sức dựng lên. Bà con họp bàn, phải phấn đấu trồng dặm vào rừng khoảng 21 vạn cây non mới đủ phủ xanh, nên vườn ươm phải làm thật vững để được lâu dài”.
Nhìn lên ngút ngát rừng Pỏm Om, nghe đâu đến 426,50 ha, tha thiết nghĩ về tình đất, tình người miền biên cương xa thẳm. Đâu đó, người ta cứ chặt, cứ phá, còn ở đây, nhân dân Pỏm Om vẫn cứ cặm cụi trồng, lặng lẽ trồng, như muốn nhân lên những mầm sống tốt đẹp trong cuộc đời này...
Anh Lô Cẩm Xuyên lật giở cuốn hương ước giữ rừng còn ấm hơi mực in, chỉ cho PV phân bố của rừng Pỏm Om, cũng như cách thức khai thác, bảo vệ và trồng mới rất khoa học của bà con. Theo đó, rừng được chia là 4 vùng: Vùng rừng thiêng Pú Kè - Mè Khuống; vùng bảo vệ, sử dụng và khoanh nuôi tái sinh; vùng sản xuất nông - lâm - nghiệp và vùng chăn thả gia súc.
Trong đó, vùng rừng thiêng Pú Kè - Mè Khuống được phân định rõ ràng vùng thờ cúng, vùng nghĩa địa và vùng bảo tồn, phát triển cây thuốc Nam, tuyệt đối không được tự ý xâm phạm bừa bãi. Còn vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, bà con được phép sử dụng cây theo quy định. Những gia đình trẻ tách ra ở riêng, nếu có nhu cầu đốn gỗ làm nhà, phải viết đơn trình lên Ban Quản lý rừng của bản, và chỉ được phép chặt tối đa 12 khối gỗ. Số cây bị đốn xuống làm nhà, thì gia đình đó có trách nhiệm phải trồng cây non thế.
“Ban đầu, một số bà con cũng có ý kiến với quy định chặt chẽ này, nhưng rồi được giải thích, họ hiểu thông suốt và làm theo. Hàng năm, bản đều họp tổng kết công tác giữ rừng, và tuyên dương, khen thưởng những hộ tiêu biểu làm tốt công tác này. Nhân dân phấn khởi lắm, thấy công sức mình bỏ ra có ý nghĩa, được cộng đồng hưởng ứng”. - Bí thư Chi bộ Lô Cẩm Xuyên tâm sự.
Giờ đây, ngút ngát xanh rừng Pỏm Om ôm lấy dải sông Nậm Việc như một bức tranh phong cảnh hữu tình. Dưới chân rừng, bà con sinh sống hiền hòa, bình dị với ruộng đồng, chăn nuôi. Bản Pỏm Om là bản văn hóa đầu tiên của xã Hạnh Dịch, và cũng là bản có thành tích giáo dục rất cao, khi tỷ lệ con em đến trường trong độ tuổi đạt 100%, nhiều em học lên cấp 3 và cao đẳng, đại học. (Báo Nghệ An 7/12) đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh đã có Quyết định Kiện toàn Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2020.
Ông Lê Văn Nưng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban và 03 Phó Trưởng ban gồm ông Đỗ Vũ Hùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; ông Nguyễn Văn Lập, Đại tá, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, bà Nguyễn Thị Mỹ Phụng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT. Ngoài ra còn có 18 ủy viên thuộc các Sở, ngành và huyện có liên quan.
Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, điều hành phối hợp các ngành, các cấp thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn từ nay đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh An Giang.
Lập kế hoạch, dự án bảo vệ và phát triển rừng trung hạn và hàng năm; phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh và của Trung ương.
Chỉ đạo, điều hành việc phối hợp giữa các lực lượng liên ngành ở địa phương trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra liên ngành những khu vực trọng điểm về phá rừng, các khu rừng có nguy cơ cháy cao; đôn đốc và hướng dẫn chính quyền cơ sở, chủ rừng, các tổ chức có liên quan thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Xây dựng phương án huy động nguồn lực hỗ trợ việc bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại những điểm nóng về phá rừng, khai thác, buôn bán lâm sản trái phép, những khu rừng có nguy cơ cháy cao, cháy lớn...v..v... (Angiang.gov.vn 8/12) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Bá Thước xác định việc quản lý chặt chẽ cưa xăng chính là một trong những giải pháp quan trọng ngăn chặn chặt cây, phá rừng trái phép.
“Cái khó ở đây là việc người dân sở hữu cưa xăng hoàn toàn không vi phạm pháp luật nên không thể bắt họ. Đây chỉ là công cụ hỗ trợ lao động. Tuy nhiên, nếu cưa xăng đưa vào sử dụng sai mục đích thì vô cùng nguy hiểm cho an ninh rừng” - ông Trần Văn Dũng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bá Thước chia sẻ.
Theo tìm hiểu, chỉ cần một giờ hoạt động, một cưa xăng có thể khai thác được từ 3 đến 4m3 gỗ rừng. Ngay từ năm 2013, đơn vị đã tham mưu  cho UBND huyện Bá Thước ra văn bản chỉ đạo rà soát, xây dựng quy ước bảo vệ rừng, trong đó có nội dung quản lý cưa xăng.
Đến thời điểm này, các cán bộ kiểm lâm Bá Thước cùng chính quyền các địa phương trong huyện đã tiến hành rà soát 214/225 thôn, bản, quản lý cưa xăng theo quy ước của khu dân cư trên cơ sở được dân bàn, thảo luận. Theo đó, từng thôn, bản sẽ được hỗ trợ đóng tủ, đặt tại gia đình trưởng thôn, bản hoặc nhà văn hóa thôn. Mỗi tủ chia từ 4 đến 16 ngăn nhỏ, mỗi gia đình có cưa xăng được “chia” một ô để cất cưa. Trên tủ có dán nội quy và những trường hợp được sử dụng cưa, có sổ theo dõi việc lấy, cất cưa.
Mỗi lần chủ cưa muốn lấy cưa sử dụng, phải đăng ký thời gian sử dụng, mục đích làm gì, ở đâu? Từ việc quản lý chặt chẽ theo quy ước thôn, bản, người sử dụng ít có cơ hội dùng cưa của mình để đi khai thác gỗ trái phép. Hơn nữa, người miền núi rất trọng chữ “tín”, khi đã gắn quy ước thôn, bản vào thì rất ít khi vi phạm.
Hiện nay, toàn huyện Bá Thước có 313 cưa xăng được các chủ cưa ký cam kết và đồng ý đưa vào quản lý kiểu cộng đồng. Người lấy cưa sử dụng vào việc khai thác gỗ trái phép sẽ bị tịch thu cưa, đồng thời bị xử lý theo quy ước thôn, bản.
Cùng với việc quản lý cưa xăng, việc phát hiện, thu hồi các súng săn trái phép để bảo vệ động vật rừng cũng được Hạt Kiểm lâm Bá Thước phối hợp với công an và lực lượng chức năng các xã, thị trấn làm khá tốt. Theo đó, công tác tuyên truyền để vận động nhân dân tự ý giao nộp được thực hiện liên tục, qua nhiều kênh như truyền thanh xã, công văn đề nghị các xã cùng phối hợp, chính các kiểm lâm viên địa bàn đi tuyên truyền trong từng khu dân cư...
Chỉ tính riêng 11 tháng năm 2014, nhân dân đã tự nguyện giao nộp gần 100 súng săn, đa phần là súng tự chế cho kiểm lâm và lực lượng chức năng. Nhiều khẩu súng khác cũng đã bị thu giữ, đưa tổng số súng săn kiểm lâm huyện thu giữ lên tới 160.
Cùng với công tác quản lý cưa xăng, súng săn, Hạt Kiểm lâm Bá Thước còn cử các kiểm lâm viên phụ trách địa bàn thường xuyên cắm chốt để phối hợp với chính quyền, dân quân tự vệ và công an các xã, tổ chức hơn 100 cuộc tuần rừng với hàng trăm lượt người tham gia, liên tục tiến hành kiểm tra việc đi rừng khai thác lâm sản phụ của bà con.
Công tác phát triển mới diện tích rừng theo kế hoạch chung của tỉnh cũng được Hạt Kiểm lâm Bá Thước triển khai có hiệu quả. Ngay từ đầu năm, đơn vị đã có chương trình phối hợp với các xã, kiểm lâm viên địa bàn cũng được giao nhiệm vụ đi vận động tại các khu dân cư mình phụ trách nhằm đẩy nhanh tiến độ trồng rừng của huyện. Đến hết tháng 10- 2014, 16 xã trên địa bàn huyện đã hoàn thành trồng mới 100 ha, hoàn thành 100% diện tích trồng rừng năm 2014 trước thời gian 2 tháng.
Đến thời điểm này, tình hình an ninh rừng trên địa bàn huyện Bá Thước tiếp tục ổn định, không để xảy ra vụ cháy rừng nào. (Báo Thanh Hóa 8/12) đầu trang(
Trong thời gian qua, các cấp, các ngành, chủ rừng và nhân dân đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng từ tỉnh đến cơ sở được triển khai một cách đồng bộ; các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị chủ rừng đã chủ động thực hiện phương án quản lý, bảo vệ nên các vụ cháy rừng đã được phát hiện sớm, chứa cháy kịp thời, do vậy không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng.
Theo dự báo, mùa khô năm 2014-2015 nhiệt độ không khí trung bình cao, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất lâm nghiệp và đời sống của nhân dân.
Để chủ động phòng, chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường thiên nhiên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Để chủ động phòng, chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vê tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường thiên nhiên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ thị:
1. Giao Ban chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ và phát triển rừng các cấp chủ động quán triệt thực hiện nhiệm vụ và tuyên truyền phổ biến sâu rộng đến nhân dân về diễn biến phức tạp của tình hình thời tiết để chủ động đối phó với tinh thần tích cực, cảnh giác cao, nhất là diễn biến cả tình hình hạn và cháy rừng trong mùa khô 2014-2015. Lập kế hoạch phòng chống cháy rừng cho từng khu vực, từng địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra.
2. Các ngành và các địa phương tổ chức, chỉ đạo thực hiện nghiêm Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
3. Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: Kiện toàn và tăng cường hoạt động Ban chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng và Phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định công tác phòng cháy, chữa cháy là nhiệm vụ trọng tâm của Ban chỉ huy trong suốt mùa khô hanh 2014-2015.
Rà soát, bố trí phương tiện vận chuyển thiết bị chữa cháy và lắp đặt hệ thống biển báo, biển cấm. Chuẩn bị điều kiện vật chất và lực lượng tại chỗ để phát hiện sớm, tổ chức cứu chữa kịp thời; đồng thời có phương án thiết lập mạng thông tin liên lạc phục vụ cháy rừng và dự kiến phương án thông tin nhanh để các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng của tỉnh đến ứng cứu khi xảy ra cháy rừng vượt ngoài khả năng chữa cháy của lực lượng tại chỗ. Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện bố trí lực lượng tuần tra 24/24 giờ trong ngày, trong các tháng mùa khô hanh ở những nơi có nguy cơ cháy cao.
Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/2/2012 của Thủ tướng chính phru về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
4. Uỷ ban nhân dân các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy; chỉ đạo tốt công tác quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho đồng bào để ổn định sản xuất. Trong thời kỳ cao điểm khô hạn cần quy định cụ thể nghiêm việc cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; hướng dẫn kiểm tra chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy ở những vùng theo quy hoạch.
5. Lực lượng liên ngành (Kiểm lâm, Công an, Quân đội) duy trì hoạt động, thực hiện quy chế, phương án phối hợp chặt chẽ; thường xuyên phối hợp với chính quyền cơ sở, hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá đốt rừng, khai thác rừng trái phép.
Xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng và cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng xảy ra. Tăng cường cán bộ xuống các vùng trọng điểm ở các huyện phía Tây của tỉnh, tổ chức tốt việc hướng dẫn nhân dân về các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; đặc biệt trong dịp nghỉ Tết dương lịch, Tết người Mông và Tết Nguyên Đán; đây là thời gian các hoạt động lợi dụng để chặt phá rừng và gây cháy rừng sẽ tăng cao; vì vậy cần tăng cường công tác kiểm tra cơ động và phân ca trực 24/24 giờ, có phương án cụ thể, triển khai đồng bộ các biện pháp để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán, sử dụng lâm sản trái phép, trong đó cần áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý triệt để tại chỗ là chủ yếu (địa bàn xã, thôn, bản nơi để xảy ra phá rừng). Chỉ đạo tổ chức hoạt động điều tra, đấu tranh xử lý cương quyết, kịp thời với các đối tượng chống người thi hành công vụ.
6. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng để nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ rừng trong từng cộng đồng dân cư.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên nắm diễn biến tình hình về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời tham mưu đề xuất các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng; theo dõi, tổ chức dự báo cháy rừng, thông tin kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng để dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên phạm vi toàn tỉnh.
Phối hợp với lực lượng liên ngành (Công an, Quân đội) rà soát quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng có thể xảy ra.
Tổ chức thường trực phòng cháy, chữa cháy rừng, xử lý các thông tin báo cáo kịp thời và đề xuất lên Ban chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng của tỉnh để chỉ huy khi cháy rừng xảy ra. Theo dõi, tổng hợp và báo cáo tình hình về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên phạm vi toàn tỉnh.
7. Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng; chỉ đạo đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền các cấp tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời các tình huống chấy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện để hỗ trợ địa phương trong việc chữa cháy rừng.
8. Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Yên Bái có trách nhiệm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng thời lượng phát sóng, kịp thời đưa thông tin về cảnh báo và dự báo nguy cơ cháy rừng.
9. Các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính bảo đảm kinh phí cho các ngành và các địa phương tổ chức thực hiện Chỉ thị này. (Kiểm Lâm Yên Bái 8/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 24/11/2014, TAND thành phố Biên Hòa đưa ra xét xử sơ thẩm “kì án” 12 cây tràm, thu hút hàng chục nhà báo và hàng trăm người đến theo dõi phiên tòa.
Sau khi “thăng đường”, lấy cớ Trung tâm Lâm nghiệp (TTLN) Biên Hòa, nguyên đơn dân sự và luật sư của họ vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa đến ngày 15/12/2014…
Hàng trăm người đang hồi hộp chờ xem quan điểm của TAND thành phố Biên Hòa ra sao đối với vụ án mà ai cũng cho là kì lạ trừ TTLN Biên Hòa, CQĐT và Viện KSND thành phố Biên Hòa. Kì lạ bởi các bị cáo hoàn toàn vô tội. Khi Tòa tuyên bố hoãn xét xử, hàng trăm người tràn lên, đập bàn, đập ghế, la ó kêu trời vì sự bất công.
Hoãn xử tức là tạm giam 5 bị cáo thêm 21 ngày nữa. Đây là một sự ác ý của phía được coi là “người bị hại”. Ba tuần trước, dư luận đã loan tin khi xét xử sơ thẩm, TTLN Biên Hòa sẽ không đến, buộc Tòa hoãn xử để các bị cáo bị giam thêm. Thì ra mọi chuyện đã được kẻ ác sắp đặt?
Đây là vụ án do Giám đốc TTLN Biên Hòa Trần Đình Xướng dàn dựng, vu cáo họ cưa 24 cây tràm, cung cấp cho CQĐT nhiều tài liệu vô căn cứ để hãm hại nhằm tước đoạt đất của họ. Có 8 người bị khởi tố, 5 người bị bắt giam 2 tháng, luật sư của các “bị cáo” đã ba lần gửi kiến nghị khẳng định họ vô tội, đề nghị trả tự do cho họ nhưng không được CQĐT và Viện KSND thành phố Biên Hòa chấp nhận.
Bà Nguyễn Thị Thu Hường là người chăm sóc mẹ già hơn 80 tuổi. Bà bị bắt, mẹ của bà đau buồn, lo lắng khóc lóc, không ăn không ngủ, sinh bệnh mà qua đời. Bà đã bị tạm giam 5 tháng, gấp 2,5 lần lệnh tạm giam, nhưng xin tại ngoại về chịu tang mẹ mà không được. Sao lại vô nhân đạo đến thế?
Theo Cáo trạng: Năm 1992, Trạm trồng rừng Biên Hòa (nay là TTLN) Biên Hòa kí hợp đồng (HĐ) với ông Ngô Văn Yến trồng và chăm sóc 1ha rừng để ăn chia sản phẩm. Ngày 4/12/2001, ông Yến sang lại HĐ cho ông Phạm Đức Hiền, ngày 14/11/2005 ông Hiền sang lại cho ông Nguyễn Thiện Hùng và bà Vũ Thị Mộng Thu. Bà Thu sang bớt cho 4 người thân là bà Đỗ Thị Le, ông Ngô Quang Tuyên, bà Vũ Thị Mộng Huyền, bà Nguyễn Thị Thu Hường.
Còn ông Nguyễn Thiện Hùng thì sang bớt cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Anh 243m2. Ngày 1/4/2008 TTLN Biên Hòa phát hiện những người này sử dụng đất đã lập biên bản, phối hợp UBND phường Long Bình ra quyết định cưỡng chế. Đến ngày 7/2/2012 TTLN Biên Hòa phát hiện việc ông Phạm Đức Hiền chuyển nhượng đất trái phép nên ngày 11/4/2012 TTLN Biên Hòa ra Thông báo hủy HĐ đối với ông Phạm Đức Hiền.
Vậy là từ 1/4/2008 biết các bị cáo sử dụng đất trái phép mà 4 năm sau TTLN Biên Hòa mới xử lí? Sự thật thì toàn bộ 29,9ha đất rừng trồng đã bị mua bán hết từ lâu. Bí thư Đảng ủy phường Long Bình Tống Thanh Đa cho biết: Hơn 2.000 căn hộ và nhiều doanh nghiệp đang tồn tại ở đây cũng đều mua đi bán lại đất như 6 hộ này, tất cả đều xây dựng không phép.
Cáo trạng cho rằng, tháng 6/2001, rừng được khai thác trắng, TTLN Biên Hòa đã kí HĐ với ông Đào Sơn Hải trồng cây tràm trên 29,9ha bao gồm cả đất ông Yến để nói 12 cây tràm bị cưa là của TTLN Biên Hòa? Nhưng làm gì có chuyện ấy, 29,9ha này đã được HĐ với hàng chục hộ dân, đất đã có chủ, TTLN Biên Hòa không có quyền kí HĐ với người khác trồng rừng trên đó.
Tại CQĐT, lời khai ngày 3/3/2014 của Giám đốc TTLN Biên Hòa Trần Đình Xướng và lời khai ngày 15/5/2014 của ông Phạm Đức Hiền cho thấy: “Khi ông Yến sang nhượng cho ông Hiền thì đất đã được ông Yến phủ kín bằng cây tràm”. Luật sư của các bị cáo cho rằng HĐ giữa TTLN Biên Hòa với ông Đào Sơn Hải trồng cây trên diện tích này là tài liệu giả?
Tính đến nay, đất các bị cáo nhận chuyển nhượng được tròn 9 năm, không tranh chấp, không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, khi nhận đất, cây còn rất nhỏ, chính họ đã chăm sóc, bảo vệ số cây này. Như vậy, cây trên đất này là tài sản của họ. TTLN Biên Hòa vu cáo họ cưa 24 cây gây thiệt hại 21,053 triệu đồng? CQĐT khởi tố, bắt giam các bị cáo. Phóng viên đã cùng đại diện khu phố đến hiện trường vạch cỏ tìm thì chỉ có 12 gốc cây tràm mới chặt.
Kết luận Điều tra phải hạ từ 24 cây xuống còn 12 cây nhưng khi chưa phục hồi điều tra, TTLN Biên Hòa đã bán đi, thu được 10,694 triệu đồng. Cáo trạng truy tố họ hủy hoại tài sản người khác là không đúng, tài sản đó là của họ, đồng thời TTLN Biên Hòa đã bán số cây này thu được tiền, sao lại nói là hủy hoại? Cây tràm dùng làm bao bì hoặc làm nguyên liệu giấy, chỉ đốt đi mới gọi là hủy hoại, còn hạ xuống là để sử dụng, không phải hủy hoại?
Báo Người cao tuổi đã có ngót chục bài về vụ án này và luôn khẳng định các “bị cáo” vô tội. Trong bài “Vụ án 12 cây tràm, Cơ quan Điều tra một ăn 10 thua…” đăng trên Báo Người cao tuổi số 166 (1483) ngày 16/10/2014 đã cảnh báo rằng “Viện KSND thành phố Biên Hòa nên cân nhắc kĩ, sớm thoát khỏi con thuyền mục nát để tránh một vụ đắm thuyền đã được báo trước”, nhưng VKS vẫn truy tố các bị cáo hủy hoại tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự?
Trong bài bào chữa tại phiên sơ thẩm, luật sư cho rằng các bị cáo không có tội, CQĐT và VKS vi phạm tố tụng nghiêm trọng và đã sử dụng 10 tài liệu giả để buộc tội họ. Dư luận đang chờ đợi quan điểm của Tòa án trong phiên sơ thẩm ngày 15/12/2014 tới. (Người Cao Tuổi 9/12) đầu trang(
Tại phiên họp thường kỳ tháng 11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu một thực tế là cả nước có hơn 16, 5 triệu ha rừng và đất rừng, trong khi đó còn đến 300.000 hộ dân thiếu đất ở, đất sản xuất.
Thực tế đó cho thấy có một nghịch lý là trong khi người dân thiếu đất sản xuất thì phần lớn diện tích đất rừng lại do các nông lâm trường quản lý nhưng hiệu quả sử dụng không cao. Tình trạng này đã tác động không nhỏ đến việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp đất rừng diễn ra ngày càng phức tạp gần đây.
Nêu ra con số 300.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đất ở và đất sản xuất trong khi cả nước có tới 16,5 triệu ha rừng và đất rừng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng thời cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Đề án cải cách mạnh mẽ ngành lâm nghiệp theo hướng gắn với chương trình giảm nghèo quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc thiểu số gắn với rừng, tăng thu nhập từ rừng và sống được với nghề rừng.
Theo cách tính của người đứng đầu chính phủ thì với hàng trăm Ban quản lý rừng, mỗi Ban từ 15 - 20 người, không thể quản lý tốt 15.000 ha rừng! Cần phải cải cách mạnh mẽ theo hướng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giao cho dân quản lý, cả buôn, cả làng quản lý. Chỉ cần mỗi hộ dân được giao bảo vệ 30 ha, với chi phí 200.000 đồng/1 ha thì mỗi năm, một hộ cũng có thêm 6 triệu đồng. Nếu tổ chức quản lý tốt, có chính sách giúp đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi thì sẽ giữ được rừng mà cũng sẽ xóa được nghèo cho dân.
Không chỉ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, việc quản lý, sử dụng đất rừng sản xuất cũng tồn tại nhiều bất hợp lý. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị về sắp xếp các Nông lâm trường quốc doanh, dù đã chuyển 1,3 triệu ha rừng phòng hộ cho các Ban quản lý rừng và gần 600.000 ha cho các địa phương để cấp đất sản xuất cho dân, nhưng diện tích đất rừng do các đơn vị này quản lý vẫn còn gần 2.065.000ha.
Tuy nhiên, khảo sát tại 56 Nông lâm trường quốc doanh ở 15 tỉnh, thành phố do Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương thực hiện cho thấy: vì năng lực quản trị yếu kém, một nửa trong tổng số gần 150 nông lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ, phải sống nhờ vào việc giao khoán bảo vệ rừng hoặc cho doanh nghiệp thuê đất trồng rừng.
Trong khi người dân địa phương thiếu đất sản xuất thì mỗi nông lâm trường lại nắm trong tay hàng ngàn hecta rừng và đất rừng, thậm chí có lâm trường ở Quảng Bình quản lý gần 91.500 ha rừng, chiếm 91% diện tích rừng của một huyện, nhưng làm ăn kém hiệu quả, bỏ đất hoang hóa.
Người dân thiếu đất sản xuất không thể giảm được nghèo. Việc khắc phục tình trạng bất hợp lý trong quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp giữa các nông lâm trường với người dân miền núi phải được thực hiện bằng những giải pháp căn cơ. Cùng với khẩn trương rà soát nhu cầu sử dụng đất thực sự của các nông lâm trường, là thay đổi phương thức quản lý, hoạt động ở các nông lâm trường cho phù hợp với mô hình doanh nghiệp.
Thay vì được nhà nước giao đất không thu tiền như trước đây, các lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp phải thuê đất để sản xuất. Chỉ khi phải trả tiền thuê đất, họ mới tính toán lại nhân lực, vốn liếng để biết thực sự mình cần bao nhiêu diện tích, số diện tích nào để lại cho dân. Bỏ tiền ra thuê đất, các lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp cũng sẽ biết quý tài nguyên mà có kế hoạch tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, không còn bỏ hoang hơn 8.000 ha như hiện nay. Người dân khi được giao đất cũng sẽ biết chắt chiu, sử dụng đất một cách hiệu quả nhất.
Đây là lý do để tiến tới chấm dứt nghịch lý “Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” trong quản lý, sử dụng đất rừng hiện nay. Chủ trương chuyển đổi lâm trường quốc doanh thành công ty lâm nghiệp, thay đổi tư duy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động, hài hòa mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người dân miền núi là chủ trương nhất quán cần được thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả.
Bởi không chỉ ổn định an ninh chính trị địa phương mà đây còn là cách để giảm nghèo bền vững cho người dân nông thôn, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa. (RadioVN 8/12) đầu trang(
Vụ khiếu kiện đất rừng của 43 hộ dân ở hai thôn Kim Thành và Trung Mỹ, xã Hành Dũng (Nghĩa Hành) đang được các cấp chính quyền tập trung xử lý.
Thường trực Tỉnh ủy đã có buổi tiếp xúc, đối thoại với gần 100 hộ dân ngay tại địa phương. Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã tổ chức cuộc họp để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật và theo hướng đảm bảo lợi ích hài hòa cho các bên.
Sự việc ở Hành Dũng không có gì to tát, nếu được xử lý rốt ráo ngay từ đầu. Lẽ ra, khi xảy ra tranh chấp đất, các bên liên quan phải cùng nhau ngồi lại giải quyết, tránh để sự việc tích tụ lâu ngày, âm ỉ  hơn cả chục năm để rồi bùng phát thành “điểm nóng”. Xảy ra sự việc ở Hành Dũng là điều đáng tiếc.  Song qua câu chuyện của Hành Dũng, hẳn nhiều địa phương có đất rừng sẽ rút ra được bài học.
Thực tế, nhiều năm trước đây, để có đất sản xuất nhiều hộ dân đã tự phát khai hoang vỡ hóa đất rừng, không xin phép chính quyền. Ngoài ra, còn có nhiều  trường hợp người dân được giao đất, giao rừng hẳn hoi nhưng do điều kiện, khả năng canh tác, cũng như hiệu quả sản xuất không như mong đợi nên họ bỏ đất hoang, hoặc chuyển nhượng cho người khác.
Chuyện đất rừng chỉ “nóng” lên khi những năm gần đây, thị trường xuất khẩu dăm gỗ, nguyên liệu giấy… trở nên sôi động, đất rừng trở nên có giá. Khi nhu cầu sử dụng đất của người dân tăng nhanh việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các hộ dân với nhau, giữa cá nhân với tổ chức có xu hướng gia tăng. Chỉ trong hơn 2 năm qua, tính riêng trên địa bàn huyện miền núi Ba Tơ đã xảy ra 229 vụ, huyện Trà Bồng 212 vụ tranh chấp đất rừng…Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và ảnh hưởng đến khối đoàn kết cộng đồng mà còn dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, kích động…
Bên cạnh những mặt tích cực thì công tác quản lý nhà nước về đất rừng, giao đất, giao rừng ở các địa phương thực hiện chưa chặt chẽ, có nơi còn lơ là, chủ quan, có nơi còn buông lỏng. Đấy là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tích tụ đất rừng của nhiều cá nhân, trong đó có cả một số cán bộ, đã gây ra sự phản cảm trong dư luận, sự bức xúc của người dân, nhất là đối với những hộ dân thiếu đất sản xuất.
Xử lý tranh chấp đất rừng tích tụ nhiều năm hẳn là chuyện không dễ. Thế nên cần phải có sự vào cuộc đầy trách nhiệm của các cấp chính quyền, các sở, ngành liên quan. Theo quy định của pháp luật, đất của  người dân tự phát khai hoang, vỡ hóa không có giá trị về mặt pháp lý.
Nhưng trong quá trình xử lý, cần những tính toán thấu đáo đến những trường hợp tham gia khai hoang, vỡ hóa đất rừng để xử lý thấu tình, đạt lý. Cũng cần tập trung xác định rõ đối tượng, trình tự cấp đất trong thời gian vừa qua, đồng thời rà soát lại số diện tích đất rừng cấp không đúng đối tượng, thiếu công bằng, để phân phối lại thật hợp lý cho những hộ dân có nhu cầu sản xuất đất rừng.
Song song với việc xử lý các tranh chấp, các cấp, ngành cần nâng cao trách nhiệm, triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp hữu hiệu về quản lý đất đai và bảo vệ phát triển rừng. Rà soát, đánh giá sát đúng tình hình quản lý, sử dụng đất và quản lý, bảo vệ, phát triển rừng sản xuất đã giao cho các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đất rừng phải sớm có chủ.
Do vậy cần phải sớm hoàn thành việc giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Việc giao đất phải dựa trên năng lực tổ chức sản xuất của từng tổ chức, từng cá nhân. Song  không để tình trạng người dân không có hoặc thiếu đất sản xuất, tránh trường hợp “kẻ ăn không hết, người lần không ra”.
Trong xã hội thượng tôn pháp luật, người dân phải được thông tin, được hiểu việc quản lý, khai thác đất rừng phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai. Do vậy, khi cấp đất rừng cho tổ chức, cá nhân để trồng rừng nguyên liệu, chính quyền địa phương phải thông tin đầy đủ đến người dân.
Ngược lại, với người dân khi phát sinh tranh chấp cũng phải thực hiện các thủ tục pháp lý theo đúng quy trình, đúng luật  định, tránh trường hợp như xảy ra  ở Hành Dũng. (Báo Quảng Ngãi 8/12) đầu trang(
Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Gia Lai vừa ra Quyết định số 222-QĐ/UBKTTU thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Trần Đình Thanh - Đảng viên Chi bộ 3, Đảng bộ phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa, nguyên Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Ayun Pa.
Theo Quyết định, trong thời gian làm Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Ayun Pa, năm 2004, ông Thanh đã ký các hợp đồng giao trái phép 717,9 ha đất rừng cho các hộ nhận khoán theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo cán bộ thực hiện khi không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Việc làm này đã vi phạm các quy định về quản lý rừng bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng tuyên phạt 5 năm tù giam. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/12) đầu trang(
Dự án (D.A) thủy điện Sông Nam - Sông Bắc (SN-SB) tại xã Hòa Bắc, Hòa Vang, TP Đà Nẵng chậm triển khai gần 6 năm qua đã bị HĐND TP Đà Nẵng có Nghị quyết thu hồi, chấm dứt. Tuy nhiên, hiện người dân ở vùng D.A chưa được giao lại đất để sản xuất, nên đời sống gặp nhiều khó khăn.
Ông Hồ Tăng Phúc, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc cho biết, để triển khai D.A đã phải thu hồi 900 ha đất sản xuất, đất lâm nghiệp của nhân dân 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí. 2 thôn này có hơn 230 hộ dân, trong đó có 206 hộ là đồng bào dân tộc Cơ Tu nhưng chỉ có vỏn vẹn 1,5ha ruộng lúa nước, còn lại nguồn lương thực, thực phẩm phụ thuộc vào nương rẫy hoặc vào rừng tìm kiếm lâm sản để bán kiếm tiền trang trải. Hiện, 2 thôn còn 62 hộ nghèo…
Vào những dịp giáp hạt hay cuối năm, người dân phải trông chờ vào nguồn trợ cấp từ Nhà nước. Chính quyền địa phương và các ngành chức năng của huyện đã triển khai một số mô hình phát triển kinh tế cho bà con nhưng không đạt hiệu quả. Công tác xóa đói, giảm nghèo còn mang tính tự phát… Chính vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải làm sao sớm giao đất, giao rừng lại cho người dân để có hướng phát triển sản xuất và thu nhập về đời sống cho nhân dân sở tại.
Ngày 22/10/2014, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng có Công văn số 2947/VP-QLĐTh gửi Cty Sông Côn (chủ đầu tư) về việc liên quan đến việc giao đất cho đồng bào dân tộc huyện Hòa Vang, với nội dung: Trong thời gian chờ đợi hoàn tất các thủ tục thu hồi D.A và thu hồi quyết định thu hồi đất, đồng thời tạo điều kiện cho người dân có đất sản xuất, đề nghị Cty Sông Côn cho phép các hộ dân đồng bào dân tộc tạm sử dụng đất để trồng cây ngắn ngày (thời hạn 6 tháng)…
Sau đó 1 ngày, UBND TP tiếp tục có văn bản, trong đó có nội dung: Đối với phần diện tích đất rừng thuộc D.A thủy điện SN-SB (khoảng 113 ha, thuộc tiểu khu 24) thống nhất cho người dân tạm thời sử dụng đất trồng cây hàng năm tại khu vực D.A; lập dự trù, kinh phí thực hiện phương án giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc, báo cáo đề xuất UBND TP thông qua Sở Tài chính. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương hoàn thành thủ tục thu hồi D.A thủy điện SN-SB theo quy định…
Một số người dân bị thu hồi đất trước đây ở 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí cho biết: UBND TP đề nghị Cty Sông Côn cho bà con được trồng cây ngắn ngày trên diện tích đất giao cho Cty, nhưng cũng không biết trồng cây gì cho có hiệu quả, vì đất đai bỏ hoang hóa lâu ngày nên cây cối mọc rậm rạp. Chỉ riêng việc phát dọn cây cỏ cũng phải mất vài ba tháng, mà đợi đến mùa nắng năm sau mới thực hiện được. Về ranh giới đất đai, nay không phân định rõ đâu là phần đất hộ này hay hộ kia như trước đây đã thể hiện…
Ông Bùi Văn Thanh (thôn Giàn Bí) cho biết, trước đây gia đình có 5ha đất thu hồi giao cho D.A thủy điện, cả thôn có hơn 10 hộ dân cũng bị thu hồi hơn 70ha đất, nên không có đất sản xuất 6 năm nay. Chủ trương của UBND TP hết sức kịp thời và đúng đắn, nhưng cần có chính sách hỗ trợ để người dân khai hoang vỡ hóa đất đai.
Đề nghị UBND TP cần chỉ đạo sớm hoàn tất việc thu hồi dứt điểm diện tích đất và rừng của D.A thủy điện SN-SB, để giao ổn định và lâu dài cho người dân phát triển sản xuất, chủ động nguồn lương thực trong đời sống như tinh thần các văn bản nêu trên. (Thanh Tra 9/12) đầu trang(
Gần 2 tháng tiếp nhận công tác quản lý từ Tỉnh đội, huyện Dương Minh Châu đã phát hiện hàng chục hộ dân tự ý lấn đất rừng trồng khoai mì ở khu vực đảo Nhím trong hồ Dầu Tiếng.
Theo ghi nhận, trên đảo hiện có hơn 80 hộ gia đình cất nhà ở để canh tác cây khoai mì và chăn nuôi gia súc gia cầm. Các hộ này bất chấp quy định để cất nhà, chòi ở đây trong nhiều năm qua; trong đó có 3 hộ chưa lần nào nhận tiền hỗ trợ, đền bù để thực hiện việc di dời, giao đất cho đơn vị trồng rừng, 9 hộ chưa nhận lần cuối cùng. Tổng diện tích chiếm đóng của 12 hộ này là 25 ha, và hiện vẫn trồng cây ăn trái, cây khoai mì.
Ngoài ra, khu vực này còn có 83 hộ dân tự ý cất nhà, chòi trên đảo, trong đó có 24 hộ lấn chiếm đất rừng cất nhà ở trên đảo từ năm 2012 đến nay.
Ông Hồ Quốc Thạch, công an viên xã Suối Đá được giao nhiệm vụ Phó Ban bảo vệ rừng tại đảo Nhím cho biết, chỉ trong vòng gần 2 tháng qua, lực lượng chức năng đã phát hiện 7 vụ trộm cắp, đốn hạ cây rừng. Tổ bảo vệ không bắt được kẻ trộm, nhưng đã thu hồi hơn 13m3 cây tràm, xà cừ, bạch đàn, đã giao cho xã xử lý. Điển hình, vào chiều 28.11, lợi dụng mực nước hồ lên cao, kẻ trộm đã đốn hạ, lấy cắp 3 cây xà cừ hơn 20 năm tuổi có đường kính gốc 98cm.
Trong khi đó, tổ bảo vệ được xã Suối Đá bố trí chỉ có 3 người, nhưng không có phương tiện, dụng cụ, ghe xuồng nên việc tuần tra, kiểm tra rất khó khăn. Việc ngăn cản người dân xâm lấn đất rừng để trồng khoai mì đang diễn biến phức tạp, chính quyền địa phương cần có biện pháp cụ thể, hiệu quả để giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng chiếm đất rừng, ăn trộm cây rừng đang diễn ra trên đảo Nhím. (Báo Tây Ninh 7/12) đầu trang(
Ông Phan Văn Khoa, Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, năm 2014 các địa phương, đơn vị trong tỉnh đã trồng mới 8.079ha rừng, đạt 153% kế hoạch, tăng 84,5% so với năm 2013.
Đặc biệt, các doanh nghiệp, địa phương tích cực chỉ đạo trồng rừng vụ xuân trên diện tích rừng trồng bị gãy đổ được 2.799ha nên diện tích rừng trồng từng bước được khôi phục.
Công tác giao đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng ở các địa phương, đơn vị được đẩy mạnh, đến nay đã bàn giao trên 10.000ha rừng về cho địa phương quản lý để giao cho dân sản xuất.
Các đơn vị, hộ gia đình đã nhận khoán bảo vệ rừng 111.698ha, tăng 3,9% so với năm 2013; khoanh nuôi 2.200ha, đạt 100% kế hoạch; chăm sóc rừng trồng 16.494ha, đạt 98,6% kế hoạch. (Báo Quảng Bình 7/12) đầu trang(
Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền xã Cán Khê (Như Thanh) đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Theo chân cán bộ xã đến thăm mô hình kinh tế đồi rừng của gia đình anh Cầm Tổng Đồng, ở thôn 7, được biết: Trước đây, kinh tế gia đình rất khó khăn, thuộc hộ nghèo của xã. Năm 2007, gia đình anh đã mạnh dạn nhận 2 ha đồi rừng, trong đó đầu tư trồng 1,5 ha cây keo, diện tích còn lại trồng cây nghệ, chanh, đồng thời chăn nuôi thêm lợn, gà, mỗi năm trừ chi phí gia đình anh thu lãi gần 100 triệu đồng.
Còn gia đình anh Lưu Văn Hải, ở thôn 2, trước đây cũng là hộ nghèo, nhưng được tuyên truyền, vận động, gia đình anh đã nhận 10 ha đất đồi rừng để cải tạo, sản xuất, vươn lên thoát nghèo. Hiện nay, với 1 ha trồng keo, 8 ha trồng luồng... bình quân mỗi năm, sau khi trừ chi phí gia đình anh thu từ 150 đến 200 triệu đồng, tạo việc làm cho 5 lao động địa phương với mức thu nhập từ 2,5 đến 3 triệu đồng/người/tháng.
Ông Nguyễn Văn Tính, Phó Chủ tịch UBND xã Cán Khê, cho biết: Năm 1999, thực hiện Nghị định 02 của Chính phủ về việc giao đất, giao rừng cho nhân dân, xã Cán Khê đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân liên kết trồng rừng với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc,  giao đất đồi rừng cho các hộ dân quản lý, sử dụng.
Xã còn phối hợp với các phòng, ban của huyện, ngân hàng giúp người dân tìm nguồn cung ứng giống, áp dụng khoa học - kỹ thuật trong ươm trồng, chăm sóc  đồng thời tạo điều kiện cho các hộ dân vay vốn đầu tư vào phát triển sản xuất... Nhờ chỉ đạo tập trung, những năm gần đây phong trào phát triển kinh tế đồi rừng đã được các chủ rừng trong xã ủng hộ và làm theo. Từ năm 2011 đến nay, toàn xã đã tham gia trồng gần 200 ha rừng sản xuất, phòng hộ từ chương trình bảo vệ và phát triển rừng của huyện; cùng với đó là hàng trăm ha rừng trồng do người dân tự đầu tư.
Đến nay, xã Cán Khê đã có 1.200 ha rừng các loại, trong đó có nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như keo,  luồng,  cao su... cho doanh thu  bình quân mỗi năm đạt gần 20 tỷ đồng, ngoài ra còn tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Cùng với phát triển kinh tế đồi rừng, xã Cán Khê còn đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa các loại cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.
Hiện nay, toàn xã trồng được 150 ha mía, năng suất bình quân đạt gần 50 tấn/ha. Ngoài ra, xã duy trì 258 ha cây vải thiều,  bưởi,  chanh... Kinh tế phát triển đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người của toàn xã đạt 11 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn 37%. Hiện, hệ thống trường học, trạm y tế, đường giao thông được xây dựng kiên cố, khang trang, sạch đẹp; hệ thống kênh mương nội đồng từng bước được đầu tư, tạo thuận lợi cho nhân dân phát triển sản xuất.
Đảng bộ xã Cán Khê xác định lâm nghiệp là lĩnh vực mũi nhọn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã. Do đó, sẽ tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đầu tư phát triển kinh tế đồi rừng, trang trại, góp phần nâng cao đời sống, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp. (Báo Thanh Hóa 7/12) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đang quản lý gần 3.300ha rừng. So với các đơn vị doanh nghiệp lâm nghiệp trên toàn tỉnh, diện tích này không lớn nhưng có gần 1.000ha là khe suối xen lẫn đồi, vườn, nhà dân và rừng khoanh nuôi bảo vệ…
Điều này đã gây khó khăn trong công tác bảo vệ, quản lý và phát triển rừng của Công ty. Bên cạnh đó, Công ty đã phải chịu thiệt hại rất lớn do hậu quả siêu bão Haiyan gây ra. Trên 1.000ha rừng chiếm gần 1/3 tổng diện tích rừng của Công ty bị đổ gãy gần như hoàn toàn. Hậu quả này không chỉ làm thiệt hại về kinh tế với giá trị ước tính trên 15 tỷ đồng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
Cụ thể, Công ty sẽ khó có thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ gỗ cho ngành Than (theo chương trình vay vốn ngành Than phát triển rừng từ những năm trước đây) với sản lượng mỗi năm trên 1.300m3 (bắt đầu từ năm 2014). Bên cạnh đó diện tích rừng bị đổ gãy cần phải bố trí nguồn vốn lớn để trồng rừng phục hồi nếu không khẩn trương trồng rừng có thể xảy ra tình trạng bị lấn chiếm đất rừng.
Đứng trước những khó khăn trên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đã triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh sáng tạo, năng động. Ông Nguyễn Văn Nhã, Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Công ty có 60 cán bộ, công nhân viên hầu hết đều là những người đã gắn bó với Công ty, với nghiệp trồng rừng từ những ngày đầu thành lập. Đội ngũ cán bộ trẻ thì đều được đào tạo cơ bản nên rất tâm huyết, yêu nghề, yêu rừng.
Bởi vậy nên khi đơn vị gặp khó khăn họ càng quyết tâm chung tay vượt khó, đưa ra và triển khai các giải pháp trồng, chăm sóc, khai thác rừng chặt chẽ, khoa học, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngay sau bão Haiyan, Công ty cũng mạnh dạn liên kết lắp đặt 2 xưởng băm dăm gỗ với công suất gần 30.000m3/tháng, vừa góp phần giải quyết số gỗ của Công ty bị gãy đổ sau bão vừa phục vụ nhân dân, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ trong vùng.
Đồng thời Công ty triển khai trồng ba kích, thanh long xen lẫn rừng. Đến thời điểm hiện nay đơn vị đã trồng được gần 20ha ba kích và thanh long và hai đối tượng cây trồng này cũng sẽ nhân rộng trong thời gian tới. Ba kích rất hợp đất Ba Chẽ. Mặc dù chi phí trồng, chăm sóc tương đối cao song bù lại nếu tính giá trị như hiện nay thì lại mang lại doanh thu lớn. Chính bởi vậy nên Công ty đang coi đây là một giải pháp tăng giá trị của đất rừng một cách bền vững và lâu dài.
Hiện nay, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ còn huy động nhiều nguồn lực trồng mới được 500ha rừng; tận dụng nguồn gỗ đã đến tuổi khai thác để giải quyết dứt điểm nghĩa vụ trả nợ cho ngành Than với khối lượng trên 1.300m3/năm. Bên cạnh đó, Công ty cũng đề xuất ngành Than cho giãn nợ trả gỗ thêm 3 năm để giảm áp lực cho đơn vị; đề xuất UBND huyện Ba Chẽ cho thầu quản lý, khai thác và bảo vệ diện tích thông còn lại trên địa bàn huyện để nâng cao giá trị rừng.
Chính nhờ những giải pháp trên nên hiện nay Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ vẫn duy trì hoạt động sản xuất ổn định, hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế đặt ra và có đóng góp cho Nhà nước cũng như cộng đồng xã hội. Năm 2014 này, thu nhập bình quân người lao động của đơn vị đạt 5,5 triệu đồng/người/tháng, đơn vị không nợ nghĩa vụ nhà nước, không có nợ xấu, tham gia ủng hộ các hoạt động xã hội nhân đạo và các hộ trồng rừng trên địa bàn huyện Ba Chẽ trên 400 triệu đồng.
Theo tính toán, cùng với việc triển khai đồng loạt, nhất quán các giải pháp trên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ chắc chắn sẽ sớm vượt khó để tiếp tục phát triển. (Báo Quảng Ninh 6/12) đầu trang(
Nhờ tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nên từ đầu năm 2014 đến nay, diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Mường Lát đã hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra.
Toàn huyện đã trồng được 3.090 cây phân tán; 4.063,6 ha rừng tập trung, đạt 100,85% kế hoạch đề ra;  4.054,55 ha rừng sản xuất, đạt 101% kế hoạch;  9 ha rừng phòng hộ... Huyện cũng đã  tổ chức các hội nghị tập huấn về trồng rừng, lồng ghép để tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng cho hàng trăm lượt người dân ở các xã có rừng.
Công tác bảo vệ rừng cũng được tăng cường, không để xảy ra điểm nóng về chặt, phá, khai thác rừng trái phép; phần lớn các vụ vi phạm đều được phát hiện sớm, xử lý kịp thời. Các mô hình trồng rừng để phát triển kinh tế cũng được quan tâm. Điển hình là mô hình thâm canh cây gỗ lớn, như:  Xoan, lát tại xã Mường Lý với quy mô 8 ha, có 16 hộ gia đình tham gia. Qua kiểm tra sơ bộ cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt từ 85 đến 90%...
Ngoài ra, huyện Mường Lát còn chú trọng đến khâu sản xuất, chế biến lâm sản tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn. (Báo Thanh Hóa 8/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh cho biết, trong năm 2014, công tác trồng mới rừng tập trung đạt 13.285ha (vượt 15,9% kế hoạch và tăng 4,8% so cùng kỳ); trồng trên 344.000 cây phân tán các loại...
Bên cạnh đó, công tác sản xuất cây giống và kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng bảo đảm chất lượng tốt, đã gieo tạo được 29 triệu cây giống (chủ yếu là keo) và một số loại cây khác; công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng được tăng cường, trong 40.038ha rừng trồng được chăm sóc có 2.550ha rừng phòng hộ và 37.488ha rừng sản xuất... (Nông Nghiệp Việt Nam 8/12, tr14) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Mỹ Latinh là một trong những khu vực bị tổn thương nhiều nhất bởi tình trạng biến đổi khí hậu, diện tích rừng ở khu vực này đã giảm mạnh do việc khai thác gỗ, trồng cây nông nghiệp và khai mỏ.
Trong khuôn khổ hội nghị lần thứ 20 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP-20) diễn ra ở thủ đô Lima của Peru, 7 nước Mỹ Latinh cam kết sẽ tái trồng gần 20 triệu hécta rừng từ nay đến năm 2020 nhằm góp phần làm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do nạn phá rừng và thay đổi mục đích sử dụng đất gây ra.
Thỏa thuận có tên gọi "Sáng kiến 20x20" (Initiative 20x20), đạt được trong cuộc họp có sự tham dự của bộ trưởng nông nghiệp và môi trường đến từ 7 nước Mỹ Latinh gồm Chile, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Guatemala, Mexico và Peru.
Trong số này, Mexico đưa ra cam kết lớn nhất với việc sẽ tái trồng 8,5 triệu hécta rừng, tiếp đến là nước chủ nhà Peru với 3,2 triệu hécta rừng, Guatemala 1,2 triệu hécta và Colombia 1 triệu hécta.
Ba quốc gia còn lại là Ecuador, Chile và Costa Rica lần lượt cam kết trồng 500.000 hécta, 109.000 hécta và 50.000 hécta.
Để giúp các nước trên hoàn thành cam kết tái phủ xanh rừng, các quỹ đầu tư môi trường tư nhân như Althelia Climate Fund, Moringa Fund... đã cam kết hỗ trợ "Sáng kiến 20x20" 365 triệu USD.
Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Nông nghiệp Peru Juan Manuel Benites Ramos cho biết diện tích rừng của Peru đang biến mất với tốc độ nhanh chóng do tình trạng khai thác mỏ bất hợp pháp, chăn thả quá mức, chặt phá rừng để trồng cây coca và săn bắn.
Cũng trong khuôn khổ cuộc họp, các nước Mỹ Latinh thông qua kế hoạch bảo tồn khu vực Patagonia trải dài từ phía Nam Argentina đến Chile nhằm khôi phục 4,1 triệu hécta rừng.
Mỹ Latinh là một trong những khu vực bị tổn thương nhiều nhất bởi tình trạng biến đổi khí hậu. Trong năm ngoái, diện tích rừng ở khu vực này đã bị giảm mạnh do tình trạng khai thác gỗ, trồng cây nông nghiệp và khai mỏ.
Hội nghị COP-20 diễn ra từ ngày 1 đến 12-12 tại Peru với sự tham dự của các quan chức đến từ 196 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC).
Đây là hội nghị cuối cùng trước thời hạn chót cho việc đạt được một hiệp định mới về khí hậu tại vòng thảo luận năm sau ở Paris (Pháp), thay thế cho Nghị định thư Kyoto sẽ hết hạn vào năm 2020.
Hiệp định mới sẽ phải là một văn kiện tổng quan, tham vọng và mang tính ràng buộc pháp lý nhằm đưa cả Mỹ và Trung Quốc - Hai ống khói của thế giới - Tham gia để có thể hoàn thành mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân gây ra hiện tượng trái đất nóng lên hiện nay. (Tuổi Trẻ 9/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng