Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Từ khi các thương lái miền Bắc vào, cây dổi tại rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng và Vườn quốc gia Chư Yang Sin (Đăk Lăk) bị tàn phá nặng nề để lấy hạt. Mỗi tạ hạt dổi bán tại cửa rừng với giá 50 triệu đồng, còn vận chuyển ra miền Bắc thì lên tới 250 triệu đồng.
Đến các tiểu khu 315A, 316 thuộc xã Ea Tam (huyện Krông Năng) do Ban quản lý Dự án Rừng phòng hộ đầu nguồn (BQLRPH) Krông Năng quản lý, thấy nhiều khu vực không có đường mòn, nhưng cây dổi vẫn bị triệt hạ nằm ngổn ngang trên sườn, dưới vực.
"Người ta không lấy gỗ về nên không cần đường, cây mọc chỗ nào cũng chặt ráo, chỉ lấy hạt thôi mà" - anh Nông Văn Cường ở xã Cư K'lông, người tình nguyện dẫn đường cho PV - nói.
Theo quan sát, gỗ dổi trong rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng không mọc thành bãi, nhưng chỉ cần lấy hạt nên những người phá rừng cơ động trên phạm vi rất lớn, do vậy tác hại còn lớn hơn nạn phá rừng lấy gỗ.
Nạn chặt gỗ dổi lấy hạt tại rừng đặc dụng Vườn quốc gia Chư Yang Sin (huyện Krông Bông) cũng sôi động không kém. Càng đi sâu vào rừng, gỗ dổi cổ thụ bị cưa đổ càng nhiều. Bãi đầu tiên có 3 cây lớn, thân cao hơn 30m bị đốn ngã, cành lá vẫn còn xanh. Chỉ lội được vài kilômét trong rừng đặc dụng, chứng kiến đến 6 bãi gỗ dổi, với hơn 20 cây bị đốn hạ, toàn bộ số gỗ còn vứt tại hiện trường.
Từ Vườn quốc gia Chư Yang Sin về thị trấn Krông K'Mar (trung tâm huyện Krông Bông), gặp thêm nhiều người dân, mới biết chuyện khai thác, mua bán hạt dổi nhộn nhịp suốt từ cuối mùa hè đến nay. Anh Nguyễn Văn Phong cho biết: "Trong tháng 9 tôi có 2 lần vào Chư Yang Sin lấy hạt dổi, trong ấy người ta chặt tùm lum, có chỗ phát quang như phá rừng làm rẫy".
Làm việc với PV, ông Nguyễn Đình Tùng - Giám đốc BQLRPH Krông Năng - xác nhận rừng dổi tại tiểu khu 315A và 316 bị chặt phá để lấy hạt khá nhiều. Cơ quan chức năng thống kê có 46 cây, đường kính mỗi cây từ 25 - 70cm bị chặt hạ, tổng số gỗ thiệt hại khoảng 52,6m3 còn để trong rừng.
"Sau khi chặt cây, người dân chỉ mang vài ký hạt cơ động lẻn ra khỏi rừng, không cần đường mòn nên rất khó bắt quả tang" - ông Tùng nói. Cũng do vậy mà từ đầu mùa dổi đến nay, BQLRPH Krông Năng chỉ bắt được 1 trường hợp vận chuyển 5,5kg hạt dổi bằng xe máy, chuyển cho Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng xử lý hành chính.
Còn theo ông Nguyễn Kỳ - Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Năng, sau khi các lực lượng chức năng tăng cường ngăn chặn, nạn phá rừng phòng hộ đầu nguồn đã giảm. Riêng 46 cây dổi bị chặt tại 2 tiểu khu trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện đang tiến hành điều tra, làm rõ.
Trong khi đó, tại huyện Krông Bông, ông Tống Ngọc Chung - Giám đốc Vườn quốc gia Chư Yang Sin cho rằng, khu vực gỗ dổi bị chặt phá có thể đã giao khoán cho dân xã Hòa Lễ nên vườn không quản lý.
Ngược lại, ông Nguyễn Minh Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Lễ bảo khu vực phóng viên tiếp cận là tiểu khu 1159 và 1174 thuộc Vườn quốc gia Chư Yang Sin, còn rừng dổi do xã quản lý thuộc tiểu khu 1158 thì không bị phá.
"Trước đây vườn có văn bản đề nghị xã phối hợp kiểm tra việc chặt gỗ dổi lấy hạt, nhưng trạm 1 và trạm 2 của vườn báo là không có nên thôi” - ông Sơn nói.
Tuy nhiên, với những gì phóng viên tận mục sở thị, thực trạng đáng lo ngại tại rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, cơ quan chức năng tỉnh Đăk Lăk cần khẩn trương xác định rừng dổi bị chặt phá ở huyện Krông Bông do đơn vị nào quản lý để có biện pháp ngăn chặn.
Hạt dổi là gia vị để chế biến các món nướng, hầm, giã nhỏ trộn muối hoặc làm nước chấm, ngoài ra còn được dùng để ngâm ớt, măng và nhiều loại thực phẩm khác. (Nông Thôn Ngày Nay 10/12, tr6) đầu trang(
Trong phần trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND tỉnh Lâm Đồng lần thứ 12 khóa VIII sáng 9-12, giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường và giám đốc Sở NN&PTNT thừa nhận có chuyện cán bộ nhũng nhiễu trong việc cấp giấy chứng nhận và phá rừng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.
Bí thư Thành ủy TP Bảo Lộc Lê Hoàng Phụng chất vấn: Có hay không cán bộ Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng nhũng nhiễu người dân trong quá trình cấp các loại giấy chứng nhận?
Ông Nguyễn Ngọc Phúc - giám đốc Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng - khẳng định: Có. Ông Phúc cho rằng nhiều cán bộ đã lợi dụng nhiều nghị định, thông tư trong lĩnh vực TN-MT mới ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để làm khó người dân nhằm trục lợi cá nhân.
Hiện chưa phát hiện trường hợp cụ thể nhưng sở sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát phát hiện và có hướng xử lý.
Ông Phúc cho biết sắp tới Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng sẽ có những thay đổi trong việc cấp giấy chứng nhận để tránh cán bộ có điều kiện tiếp xúc nhiều với người dân, doanh nghiệp, từ đó phát sinh nhũng nhiễu.
Hiện Sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng đã ký hợp đồng dài hạn với dịch vụ bưu chính để nếu người dân đồng ý thì nhiều loại giấy tờ sau khi được cấp sẽ chuyển phát tận nhà và bưu chính sẽ được ủy nhiệm để thu các loại lệ phí liên quan.
Trước các chất vấn của đại biểu về tình trạng phá rừng, ông Nguyễn Văn Minh - giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng, khẳng định rất nhiều cây thông tại TP Đà Lạt và vùng lân cận bị làm chết bằng cách đổ thuốc trừ sâu vào trong thân cây.
Ngoài ra nhiều khu rừng còn bị tàn phá dù đã được giao cho hơn 600 doanh nghiệp trồng rừng quản lý.
Ông Minh nói: “Do không bắt quả tang nên sau khi xác định được các đối tượng làm chết cây và mời lên làm việc, các đối tượng đều không thừa nhận hoặc thừa nhận chỉ làm chết vài ba cây. Do đó cơ quan chức năng không đủ cơ sở truy tố”.
Về tình trạng phá rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, ông Minh cho biết trên toàn tỉnh có 615 doanh nghiệp quản lý bảo vệ và khai thác rừng. Một số doanh nghiệp lơi lỏng quản lý khiến lâm tặc có điều kiện phá rừng.
Tỉnh Lâm Đồng đã có quyết định yêu cầu 66 doanh nghiệp sai phạm phải đền bù số lâm sản bị thất thoát, tổng cộng 137 tỉ đồng. Hiện đã có 13 doanh nghiệp đóng phạt, một số khác đang trong quá trình khiếu nại.
Theo thống kê, trong năm 2014 có 33 vụ đổ thuốc độc hạ sát cây rừng. Tuy nhiên chưa truy tố được vụ việc dù đã xác định được đối tượng thực hiện. (Tuổi Trẻ 9/12) đầu trang(
Tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai ngày 8-12 cho biết, đơn vị này đã ra quyết định khởi tố vụ án số 01 về hành vi vi phạm các Quy định khai thác và bảo vệ rừng theo Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Trước đó, cơ quan chức năng phát hiện hơn 100 m3 gỗ bị cưa hạ trái phép tại tiểu khu 365 thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Grai (địa bàn xã Ia Chía, huyện Ia Grai) bị chặt hạ. Tuy nhiên, cơ quan chức năng chưa xác định rõ đối tượng khai thác.
Hiện, toàn bộ hồ sơ vụ án đã được chuyển cho Công an huyện Ia Grai tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Gia Lai 9/12) đầu trang(
9-12 Chi cục kiểm lâm Quảng Bình cho biết, chương trình bẫy ảnh của Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt đã chụp được ảnh loài gà lôi trắng quý hiếm ở khu vực rừng núi thấp Khe Nước Trong tại huyện Lệ Thủy.
Theo Chi cục kiểm lâm Quảng Bình, đây là loài gà lôi có trong danh mục sách đỏ của tổ chức bảo tồn quốc tế IUCN, BirdLife quốc tế, cũng như Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Chuyên gia Lê Trọng Trãi của Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt cho biết, gà lôi trắng có tên khoa học là Lophura nycthemera, dài từ 50-125cm. Chim đực có bộ lông hai màu, trắng ở trên lưng và đen ở phía bụng, trong khi con mái có lông màu nâu; mào cong, chân đỏ, da mặt đỏ.
Loài gà này phân bố ở độ cao từ 500m đến 2.000m trong tầng thảm tươi của các loại rừng. Sinh sản trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5, làm tổ trên mặt đất, mỗi lần đẻ từ 4 đến 10 trứng. (Sài Gòn Giải Phóng 9/12) đầu trang(
Tình trạng khai thác quặng thiếc trái phép ở thượng nguồn sông Trường, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam lại bùng phát mạnh trong thời gian gần đây.
Hàng ngày có trên 10 nhóm thay phiên nhau đãi quặng. Khi bị phát hiện các đối tượng thường lẩn trốn sâu vào trong rừng, khiến việc truy quét rất khó khăn.
Thực trạng này không chỉ tàn phá hàng chục héc ta rừng phòng hộ đầu nguồn thủy điện Sông Tranh, mà còn gây ô nhiễm nghiêm trọng – giết chết môi trường sinh thái của cả hệ thống Sông Trường, khiến 2 khu du lịch Suối Mơ và Thác Năm tầng xóa sổ, đẩy đời sống của hàng ngàn hộ dân sống dọc theo lưu vực con sông này lâm vào cảnh khó khăn. (VTV 10/12) đầu trang(
Trung tá Phạm Quang Phòng, Đồn phó Đồn Biên phòng 719 (Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai) cho biết, cuối tháng 11 vừa qua, trong khi tuần tra biên giới tại xã Ia Chía, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, đã phát hiện 25 cây gỗ mới bị chặt trên địa bàn.
Đồn Biên phòng 719 đã lập biên bản và thực hiện các thủ tục bàn giao cho lực lượng kiểm lâm số gỗ trên. Hiện cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ.
Xác định đây là vụ phá rừng có qui mô lớn, phóng viên đã tiếp cận hiện trường để tìm hiểu rõ sự việc. Tuy nhiên, việc tiếp cận hiện trường không đạt kết quả vì các cơ quan chức năng của tỉnh Gia Lai “đá bóng” trách nhiệm.
Theo tìm hiểu của phóng viên, hầu hết số gỗ bị chặt hạ chủ yếu là gỗ sến và gỗ dầu nằm trong khu vực vành đai biên giới thuộc địa bàn quản lý của Đồn biên phòng 719 và cách thành phố Pleiku gần 100 km.
Vụ việc xảy ra rất rõ nhưng lực lượng chức năng của tỉnh đã gây khó khăn cho phóng viên tiếp cận hiện trường, đã đặt ra cho dư luận câu hỏi lớn về sự việc cũng như cách làm việc không rõ ràng của tỉnh Gia Lai. (Tin Tức 10/12) đầu trang(
Ông Hoàng Xuân Tài, Phó trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Tiêm, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) cho biết anh Nguyễn Quốc Tài, cán bộ tổ bảo vệ rừng Rào Cam bị hai đối tượng dùng dao đánh trọng thương phải nhập viện.
Khoảng 21 giờ ngày 8/12, anh Nguyễn Quốc Tài và Trần Truyền Thống đang trực tại trạm bảo vệ rừng Rào Cam thì hai cha con ông Ngô Xuân Trọng và Ngô Xuân Kiên, trú tại thôn Phú Lâm, xã Phú Gia (huyện Hương Khê) xông vào dùng dao tấn công.
Anh Tài bị đối tượng Kiên dùng dao đánh mạnh vào chân và đấm liên tục vào mặt, bụng, phải nhập viện do bị nhiều vết thương trên người.
Vào buổi sáng cùng ngày, anh Tài cùng lực lượng bảo vệ rừng Rào Cam tuần tra tại khu vực Khe Nhớp thuộc tiểu khu 228 phát hiện ông Ngô Xuân Trọng và Ngô Văn Lai (đều trú tại thôn Phú Lâm) đang dùng cưa xăng chặt hạ ba cây gỗ.Các cán bộ bảo vệ rừng đã ngăn chặn, lập biên bản đẩy đuổi các đối tượng ra khỏi rừng.
Trước đó, đối tượng Ngô Văn Kiên cũng dùng xe công nông vận chuyển trái phép gỗ cũng bị lực lượng bảo vệ rừng ngăn chặn, nhưng tên Kiên không chấp hành, đánh xe tẩu thoát.
Hiện các cơ quan chức năng huyện Hương Khê thụ lý hồ sơ xử lý vụ việc. (VietnamPlus 9/12) đầu trang(
Ngày 9.12, ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở NN-PTNT Lâm Đồng cho biết Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã khởi tố hình sự vụ án vi phạm các quy định về khai thác rừng trái phép xảy ra tại vùng giáp ranh giữa 2 huyện Đạ Tẻh và Cát Tiên, đồng thời chuyển toàn bộ sang cơ quan CSĐT công an tỉnh để tiếp tục điều tra xử lý.
Theo ông Minh, chừng một tháng trước cơ quan chức năng nhận được tin báo về vụ phá rừng tại tiểu khu 536 (xã An Nhơn, H.Đạ Tẻh) thuộc lâm phần do Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đạ Tẻh quản lý) và tại tiểu khu 528 (xã Nam Ninh, H.Cát Tiên) - đã giao cho 3 hộ dân ở địa phương này quản lý bảo vệ.
Ngày 17.11, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện 127 gốc cây gỗ các loại bị cưa hạ. Tại hiện trường có 176 lóng gỗ các loại (từ nhóm 2 đến nhóm 8) với tổng khối lượng hơn 302 m3.
Hiện Chi cục kiểm lâm đã lập các thủ tục tạm giữ theo quy định và giao cho Hạt kiểm lâm Cát Tiên, Hạt kiểm lâm Đạ Tẻh, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đạ Tẻh giữ nguyên hiện trạng tại hiện trường trong thời gian chờ các cơ quan chức năng điều ta xử lý. (Thanh Niên 10/12; Sài Gòn Giải Phóng 10/12) đầu trang(
Sau khi Hạt Kiểm lâm cùng cấp khởi tố vụ án, ngày 8-12, Cơ quan CSĐT CAH Hòa Vang khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Thái Văn Hiệp (1963, trú xã Hòa Khương, H. Hòa Vang) về hành vi hủy hoại rừng.
Theo điều tra, sau khi khai thác, bán 4ha rừng keo tại Tiểu khu 61 (xã Hòa Khương) cho ông Trần Văn Tuyến (trú Đại Hiệp, H. Đại Lộc, Quảng Nam), ông Hiệp nhờ ông Tuyến thuê một số lao động để dọn thực bì.
Sau đó, Hiệp thuê tiếp những lao động này chặt hạ cây rừng tự nhiên ở khu rừng đầu nguồn hồ Đồng Nghệ để mở rộng diện tích trồng keo của gia đình... Ngày 23-7, khi ông Huỳnh Khánh Lâm (trú xã Đại Hiệp) thuê xe tải lên khu vực này chở củi khô thì bị lực lượng liên ngành H. Hòa Vang phát hiện.
Qua kiểm tra, diện tích rừng phòng hộ do Nhà nước quản lý đã bị ông Hiệp lấn chiếm trái phép là 26.020m2 và cây rừng các nhóm gỗ khác nhau, ước tính thiệt hại hơn 830 triệu đồng. (Công An TP Đà Nẵng 10/12) đầu trang(
Đa dạng sinh học (ĐDSH) và các hệ sinh thái (HST) tự nhiên là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người. Với những lợi ích to lớn mà ĐDSH mang lại, Hà Nội đã có những quyết sách quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý cũng như đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên về bảo tồn, giúp cho Thủ đô ngày càng văn minh hiện đại.
Trước hết phải kể đến ĐDSH của rừng Hà Nội. Riêng HST rừng kín thường có độ cao trên 600m, với diện tích hơn 1.000ha. Qua khảo sát đã ghi nhận, HST này có 1.050 loài thực vật thuộc 146 họ của 5 ngành thực vật, chủ yếu cây có lá rộng, về động vật có 73 loài thứ, 204 loài chim, bò sát có 63 loài, ếch nhái có 31 loài.
Vói HST rừng kín độ cao dưới 600m, phân bố chủ yếu ở Vườn quốc gia Ba Vì và rải rác ở các khu vực hồ Đồng Mô, Suối Hai, Đầm Long, khu K9; các xã Yên Trung, Yên Bỉnh, Tiến Xuân (Thạch Thất); Đông Xuân, Hòa Thạch (Quốc Oai)... diện tích 13.921,25ha. Hệ thực vật này có 1.051 loài thuộc 162 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch và cũng có 73 loài thú, 204 loài chim, 63 loài bò sát, 31 loài ếch.
Hà Nội có HST rừng hỗn giao tre nứa xen cây gỗ cũng khá phong phú với hơn 207ha, hệ thực vật có 30 loài, 9 loài thú, 184 loài chim, 36 loài bò sát, 25 loài ếch nhái. Đặc biêt, HST rừng trên núi đá vôi rộng hơn 4.272ha, có 491 loài thuộc 91 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch, thi 20 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Còn hệ động vật có 54 loài thú, 140 loài chim, 33 loài bò sát, trong đó nhiều loài có trong Sách đỏ Việt Nam.
Hà Nội còn có gần 3.100ha HST trảng cỏ, phân bố rải rác ở các xã An Phú (Mỹ Đức); Nam Phương Tiến, Tân Tiến (Chương Mỹ); Yên Bình, Yên Trung (Thạch Thất); Hồng Kỳ (Sóc Sơn) và ven sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Cà Lồ... Ngoài hơn 31.380ha HST đất ngập nước, Hà Nội còn có 4 HST nhân tạo, nguồn gen cây trồng quý hiếm, vật nuôi bản địa, chất lượng tốt... cần được ưu tiên đầu tư bảo tồn.
Do tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, tốc độ đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo những áp lực và hệ lụy đối với ĐDSH. Các HST tự nhiên bị thu hẹp, nhiều loài đặc hữu, quý hiếm trong tự nhiên có nguy cơ tuyệt chủng; các nguồn gen cũng đang trên đà thoái hóa và mất dần. Thực hiện Luật ĐDSH hiện hành, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt "Quy  hoạch bảo tồn ĐDSH thành phố Nội đến năm 2030", phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội cả nước và các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô...
Trên cơ sở luận cứ nghiên cứu, thành phố đã đề ra mục tiêu bảo tồn phát triển 3 khu bảo tồn ĐDSH hiện có do Trung ương quản lý trên địa bàn Hà Nội. Cụ thể là: Thành lập mới 7 khu bảo tồn và chuyển đổi rừng đặc dụng Hương Sơn thành khu bảo vệ cảnh quan cấp thành phố; phối hợp bảo tồn và phát triển 6 cơ sở bảo tồn ĐDSH trên địa bàn thành phố do các cơ quan trung ương quản lý; củng cố và phát triển 5 cơ sở bảo tồn ĐDSH thuộc thành phố Hà Nội.
Hà Nội cũng thống nhất quan điểm bảo vệ và phát triển hơn 6.770ha HST rừng ở độ cao dưới 600m; hơn 675ha HST rừng trên núi đá vôi; hơn 15ha HST rừng hỗn giao tre nứa, gỗ; trồng rừng và cây phân tán để đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 7,7%; các HST tự nhiên trảng cỏ, cây bụi và đất ngập nước; giữ nguyên số lượng và tập trung cải tạo cảnh quan, chất lượng nước một số hồ tự nhiên, nhân tạo.
Về lâu dài, sẽ tăng tỷ lệ cây xanh lên từ 10 đến 12m2/người; ưu tiên trồng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế, cảnh quan và cải tạo, nâng cao chất lượng môi trường sống; phấn đấu 100% các loài ngoại lai trên địa bàn thành phố được đưa vào danh mục kiểm soát và được cập nhật định kỳ theo ba nhóm danh mục, có các biện pháp quản lý phù hợp...
Với những lợi ích to lớn mà ĐDSH mang lại, cùng với sự nỗ lực của thành phố, rất cần sự chung tay của cộng đồng, tổ chức quốc tế và Chính phủ và không chỉ quan tâm hỗ trợ về tài chính, khoa học, công nghệ, mà còn tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch thì mới đạt kết quả cao. (Hà Nội Mới 8/12, tr3) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, thời gian qua, nhóm cán bộ kiểm lâm phối hợp với nhân viên quản lý các vườn chim hoang dã đã tiến hành nhiều cách dẫn dụ chim trời về vườn mang lại hiệu quả khả quan.
Tại một số khu rừng nguyên sinh khi phát hiện chim xuất hiện lẻ tẻ với số lượng không nhiều, nhân viên sẽ bắt một số chim, sau đó xén lông cánh để không cho chim bay đi, dần dần những con chim dưới mặt đất lôi kéo nhiều con chim khác tới mỗi lúc càng đông.
Đối với những vườn chim đã hình thành, muốn giữ chim ở lâu cũng như để cho chim về ngày càng đông, như tại vườn chim tại trung tâm thành phố Cà Mau, Ban quản lý đã thành lập “tổ phục vụ” chim, hàng ngày cho chim ăn, chủ yếu là cám cá vụn; đầu tư một số giếng nước để cho chim uống lúc nắng khô. (Sài Gòn Giải Phóng 10/12, tr6) đầu trang(
9/12, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết, phạt 5 triệu đồng Cty TNHH Trường Khánh đang đầu tư dự án du lịch sinh thái sân chim Đầm Dơi (Đầm Dơi) về hành vi phá rừng trái phép.
Trước đó, người dân phát hiện doanh nghiệp này chặt hạ cây rừng trong khu sinh thái được nhà nước giao bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi đa dạng sinh học.
Ngày 5/12/2014, UBND tỉnh Cà Mau đề nghị Sở KH- ĐT kiểm tra tiến độ dự án, nếu không đạt, sẽ thu hồi dự án lại. Sân chim Đầm Dơi rộng 132ha, với 61 loài thực vật, 16 loài thú, 116 loài chim. Trong đó, 15 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Cuối năm 2011, Cty TNHH Trường Khánh lập dự án du lịch sinh thái với mức đầu tư 90 tỷ đồng. Nhưng doanh nghiệp này đào ao nuôi tôm, dựng vài chòi lá, khai thác tiềm năng rừng, thủy sản. (Tiền Phong 10/12) đầu trang(
Nhận được tin báo, ngày 5.12, PV tiếp tục leo núi vào rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc huyện Krông Năng để tìm hiểu nạn triệt hạ gỗ dổi lấy hạt. Ngoài ghi nhận của PV, các cơ quan chức năng của huyện xác nhận có hiện tượng trên, đã thống kê thiệt hại, tổ chức ngăn chặn và tiến hành điều tra.
Khu vực rừng dổi bị tàn phá thuộc các tiểu khu 315A, 316 thuộc xã Ea Tam, do Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ đầu nguồn (BQLRPH) Krông Năng quản lý. Nhưng từ xã Ea Tam không có đường vào, phải đi vòng sang địa phận xã Cư K’lông, từ đó cắt đường rừng đi tiếp 2km mới tiếp cận được. Sau vài giờ leo núi, chứng kiến hàng trăm cây gỗ các loại đã bị đốn hạ, trong đó cây dổi chỉ bị lấy đi phần hạt, còn gỗ bị vứt lại hiện trường.
Ông Đinh Công Hưởng - Bí thư Đảng ủy xã Ea Tam - cho biết: “Từ tin đồn của người dân, tôi đã chỉ đạo công an, Ban Chỉ huy Quân sự xã, kiểm lâm địa bàn tổ chức kiểm tra, đích thân tôi dẫn đoàn này đi vào rừng. Người dân báo có 6 cây dổi bị chặt, nhưng đoàn vào thì thấy đến vài chục cây, toàn những cây to, tôi mang cả hạt về đây”.
Ngay sau khi kiểm tra, Đảng ủy xã Ea Tam đã báo cáo sự việc với lãnh đạo huyện Krông Năng và Hạt Kiểm lâm, đồng thời chỉ đạo UBND xã ban hành ngay một văn bản tuyên truyền, nghiêm cấm người dân khai thác, mua bán hạt dổi. Nhưng cũng theo ông Hưởng, người khai thác, mua bán hạt dổi chủ yếu ở xã Cư K’lông chứ không phải xã Ea Tam, vì từ bên đó vào rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng dễ hơn.
Tại xã Cư K’lông, ông Nông Văn Mạch - Trưởng thôn Tam Hợp - xác nhận: “Nhiều người dân trong thôn vào rừng khai thác, số khác vào cửa rừng đón mua, chở về bán cho thương lái kiếm lời. Anh Nông Văn Đời ở thôn tôi bị lập biên bản khi đang dùng xe máy vận chuyển 5,5kg hạt dổi, Hạt Kiểm lâm huyện vừa xử lý xong”.
Tiếp xúc với PV, anh Đời ngại ngùng nói: “Kiểm lâm cho mình nhận lại xe máy rồi, nhưng tịch thu hết số hạt dổi, còn phạt mình 1 triệu đồng nữa”. Hỏi mua bao nhiêu một ký, mua về bán cho ai, anh Đời xua tay: “Ối, cái đó mình không nói đâu, mình không biết đâu”.
Ông Nguyễn Đình Tùng - Giám đốc BQLRPH Krông Năng - thừa nhận rừng dổi tại tiểu 315A và 316 do đơn vị quản lý đã bị chặt phá để lấy hạt với số lượng 46 cây, đường kính mỗi cây từ
25 - 70cm, tổng số gỗ thiệt hại khoảng 52,6m3. “Gỗ dổi mọc rải rác chứ không tập trung thành bãi, số cây bị chặt nằm rải rác trên diện tích khoảng 2.000ha, chúng tôi đang xin cấp trên cho thu gom nhưng cũng khó, vì không có đường” - ông Tùng nói.
Cũng theo ông Tùng, hạt dổi chỉ là lâm sản phụ, BQLRPH Krông Năng cho phép người dân vào thu hái nếu không xâm hại rừng. Nhưng do cây dổi có đặc điểm thân cao, thẳng đứng, trèo lên rất nguy hiểm nên người dân đã hạ cả cây xuống để lấy hạt, trong đó có những cây to bị chặt chỉ có vài lạng hạt, bán được vài trăm nghìn đồng.
Trả lời câu hỏi vì sao được phát hiện khá sớm, nhưng số cây bị chặt vẫn nhiều, không bắt quả tang được vụ nào, ông Tùng giải thích: “Do sau khi chặt cây, đối tượng giấu hạt vào người rồi ra khỏi rừng, thời gian làm rất ngắn. Đặc biệt là họ không vận chuyển gỗ về, không cần đường nên rất khó phát hiện hoặc bám theo dấu vết để bắt. Chúng tôi chỉ bắt được một trường hợp vận chuyển hạt dổi trên đường là ông Nông Văn Đời, chuyển cho Hạt Kiểm lâm huyện xử lý”.
Ông Nguyễn Kỳ - Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Năng - cho biết, phần lớn những cây gỗ trên bị chặt trong tháng 10.2014. Sau khi phát hiện, huyện đã chỉ đạo BQLRPH Krông Năng và Hạt Kiểm lâm tăng cường ngăn chặn, đến nay tình hình đã ổn. Cơ quan CSĐT Công an huyện đang tiếp tục điều tra, xác định các đối tượng phá rừng để xử lý theo quy định của pháp luật. (Lao Động 9/12) đầu trang(
Theo con số thống kê, năm nay, cả nước có 21.000 vụ phá rừng, 600 ha rừng bị phá, tập trung tại các khu vực rừng phòng hộ.
Tại tỉnh Quảng Nam, tình trạng cấp đất rừng tại khu vực đầu nguồn xã Quế Phong, huyện Quế Sơn cũng còn nhiều điều khuất tất. Không chỉ huỷ hoại môi trường, phá rừng mà còn dẫn đến nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước.
Hồ Hố Giếng là công trình thủy lợi cung cấp nước cho hơn 200 ha đất nông nghiệp của xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Người dân nơi đây rất lo lắng khi hàng chục hécta rừng phòng hộ bị tàn phá. Không những rừng tự nhiên bảo vệ các hồ đập bị tàn phá mà ngay các cánh rừng dự án cũng đã bị đốn hạ.
Ông Trương Văn Tư, Xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Trước đây là thông báo rừng phòng hộ, tức là trồng cây sao đen để giữ đất khỏi bồi lấp lòng hồ, nhưng mà tình trạng mỗi mùa keo 5 năm họ khai thác, từ từ họ chặt phá, thậm chí hiện nay chỉ còn đôi cây thôi".
Dự án trồng rừng phòng hộ JBIC do Ngân hàng quốc tế Nhật Bản cho vay vốn 47 tỷ đồng để trồng hàng ngàn hécta sao đen nhằm bảo vệ các công thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trong đó có huyện Quế Sơn. Vậy mà, một số đối tượng ngang nhiên phá rừng sao đen để trồng cây keo. Tự tiện mở đường để khai thác keo đã đe dọa trực tiếp các hồ đập này.
Ông Nguyễn Quê, Xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Mấy người khai thác cây cũng nhìn thấy, cày, san ủi rồi nó lại mất đi, mất đi rồi nó lại xói mòn. Hiện nay là mùa mưa nên xói mòn, hồ càng ngày thêm càng cạn kiệt".
Nguồn lương thực của hàng ngàn hộ dân phụ thuộc vào hồ Hố Giếng. Vài năm nay, chính quyền tỉnh Quảng Nam đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để duy tu, bảo dưỡng các công trình thủy lợi, nhưng không đoái hoài đến việc bảo vệ rừng đầu nguồn. Được biết, Hạt kiểm lâm cũng đã báo cáo vụ việc lên huyện Quế Sơn, nhưng chỉ nhận được sự im lặng.
Ông Nguyễn Hữu Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Lấn chiếm đất rừng, rồi lấn chiếm rừng, diện tích rừng DA vẫn còn rắc rối. Bây giờ phải giao lại cho chính quyền nhà nước cấp huyện, cấp xã quản lý, bảo vệ trong cái rừng DA này".
Chính quyền xã Quế Phong nhiều lần đề nghị chính quyền huyện tiến hành cắm mốc phân định rừng phòng hộ để quản lý, nhưng không thể thực hiện được. Vì vậy, rừng tiếp tục bị tàn phá.
Ông Võ Đình Trung, Chủ tịch UBND xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Trước tình hình điểm nóng của xã Quế Phong thì trong thời gian qua khi cắm mốc rừng phòng hộ, người ta yêu cầu huyện nên cắm mốc hết các khu vực rừng phòng hộ đối với Quế Phong. Hiện nay, nguồn kinh phí của huyện không có nên chỉ cắm khu vực Quế Trung, đề nghị huyện cũng nên quan tâm cắm mốc hết luôn cả khu vực xã Quế Phong để quản lý chặt chẽ".
Việc cắm mốc bảo vệ rừng mà không đủ tiền để thực hiện thì nói gì đến việc bảo vệ được rừng. Đó là thực trạng chung đang diễn ra ở nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Quảng Nam.
Khi rừng phòng hộ bị tàn phá, hàng chục tỷ đồng của Nhà nước coi như mất trắng; còn với nông dân, nguy cơ mất mùa do thiếu nước là điều chắc chắn. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 9/12) đầu trang(
Vườn Quốc gia Bạch Mã (gọi tắt là vườn) được giao quản lý và bảo vệ 37.847 ha trên địa bàn của hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Bình quân một cán bộ kiểm lâm phụ trách hơn 500 ha rừng. Địa bàn quản lý phân tán và hiểm trở, chia cắt bởi nhiều khe suối và các dông núi nên việc tuần tra kiểm soát gặp nhiều khó khăn.
Trong mấy năm gần đây khi thi hành công vụ Kiểm lâm Vườn luôn bị lâm tặc tấn công, chửi bới, đe dọa, ném đá,... Như trường hợp anh Cái Ánh, kiểm lâm Trạm Hương Lộc đã bị ném đá vào đầu đến 2 lần phải nhập viện khâu vết thương. Trường hợp anh Võ Trọng Hảo trước kia ở trạm Đông Giang bị đối tượng giả say rượu chém vào đầu. Không chỉ có mối lo bị các đối tượng hành hung đến thân thể và tính mạng mà các anh còn bị đương sự hủy hoại tài sản tại nhà, đóng đinh thành bàn chông để dưới khe nước bẫy anh em Kiểm lâm ...
Không chỉ lực lượng kiểm lâm bị tấn công, những người dân tham gia bảo vệ rừng cũng bị uy hiếp. Ngày 15-9-2014, nhóm hộ dân là lực lượng khoán bảo vệ rừng thuộc thôn Bơ zi (Xã Ating huyện Đông Giang) gồm 16 người tổ chức tuần tra rừng tại tiểu khu 56 (thuộc địa bàn quản lý của trạm Núi Mang, hạt kiểm lâm Bạch Mã) đóng trại ngủ qua đêm tại Khe Dâu.
Đến khoảng 19 giờ, một nhóm người bất ngờ ập đến, dùng rựa khống chế, trói 4 người dân lại. Ông Pơ Loong Nai bị chúng trói, treo ngược lên cây, dùng dao, rựa chém vào mặt gây chảy máu. Ông Cơ Lâu Crơi cũng bị trói tương tự, bị đánh bằng gậy vào khắp cơ thể. Mặc dù 6 phụ nữ quỳ lạy van xin nhưng nhóm côn đồ vẫn hành hung các nạn nhân cho đến lúc bất tỉnh, sau đó bỏ đi. Sự việc nghiêm trọng trên đang được Vườn kết hợp với các cơ quan chức năng điều tra, xử lý.
Nhiều vụ việc chống người thi hành công vụ xảy ra, sau mỗi vụ việc Vườn Quốc gia Bạch Mã đều có làm việc với chính quyền địa phương các xã vùng đệm, nhưng hầu như chưa được xử lý rốt ráo.
Ghé trạm kiểm lâm Thượng Nhật, thuộc xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế mới thấy được sự hy sinh và vất vả mà lực lượng kiểm lâm Vườn đã trải qua. Ông Hồ Văn Kiếm, Trạm trưởng trạm Thượng Nhật tâm sự: lực lượng Kiểm lâm gian khổ và nguy hiểm không kém các lực lượng vũ trang. Khi đi tuần tra kiểm soát trong rừng thường xuyên bị thương, bị côn trùng cắn, bị sốt,... nên phải uống thuốc thường xuyên....
Trung bình mỗi tháng, anh em trong đơn vị phải có ít nhất 10 ngày ăn ở trong rừng. Vì nhiệm vụ tuần tra rừng là phải thường xuyên, liên tục làm không kể ngày nghỉ cuối tuần, ngủ đêm trong rừng cũng thường xuyên. Đặc biệt với các điểm nóng về tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Nam Đông, kiểm lâm các trạm, đội còn phải trực chốt 24/24 để ngăn chặn người ra vào rừng. Các trạm đội làm việc trên tinh thần sẵn sàng, khi có tin báo hay nhiệm vụ quan trọng thì bất kể ngày hay đêm đều sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ.
Ngoài nhiệm vụ thường xuyên tuần tra kiểm soát tại rừng, lực lượng kiểm lâm của Vườn còn thực hiện phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa nắng, hay tuyên truyền người dân tham gia bảo vệ rừng, thăm dò, nắm bắt thông tin về các đối tượng chuyên xâm lấn rừng trái phép để đối thoại, khuyên nhủ các đối tượng bỏ nghề rừng chuyển qua các nghề khác...
Những năm gần đây, ngành kiểm lâm đã nhận được sự quan tâm của nhà nước về chế độ phụ cấp ưu đãi nhưng, nhìn chung với mức lương cơ bản và phụ cấp so với khối lượng và tính chất công việc lại chưa tương xứng.
Đặc biệt đối với kiểm lâm của VQG thì lại càng thiệt thòi hơn vì chưa nhận được chế độ phụ cấp công vụ 25% như kiểm lâm của các Chi cục, vì vậy anh em rất mong muốn các ban ngành liên quan cần có sự quan tâm xây dựng chế độ phụ cấp công vụ cho Kiểm lâm Vườn để nâng cao tinh thần và trách nhiệm trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển Vườn Quốc gia. (Báo Thừa Thiên Huế 9/12) đầu trang(
Hoành Bồ là huyện miền núi, có diện tích tự nhiên gần 85.000ha, tài nguyên khoáng sản đa dạng, trong đó có tài nguyên than nằm rải rác ở 8/13 xã, thị trấn trên địa bàn (Sơn Dương, Dân Chủ, Quảng La, Bằng Cả, Tân Dân, Vũ Oai, Hoà Bình và thị trấn Trới).
Hoành Bồ còn giáp ranh với nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh: TP Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, TX Quảng Yên và huyện Sơn Động (Bắc Giang), giao thông bộ và thuỷ rất thuận lợi.
Tại địa phương có 4 đơn vị hoạt động khai thác, chế biến kinh doanh than thuộc TKV, Tổng Công ty Đông Bắc trong đó một số đơn vị có ranh giới mỏ nằm trong khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập (thuộc khu vực hạn chế khai thác khoáng sản)… Vì thế, nếu công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, than và môi trường không được coi trọng thì nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến vi phạm về lĩnh vực này sẽ khó lường.
Xác định rõ đặc thù địa phương, cấp uỷ, chính quyền huyện Hoành Bồ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành chức năng, xã, thị trấn trên địa bàn triển khai, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động vi phạm về tài nguyên khoáng sản (trong đó có than, lâm sản).
UBND huyện chỉ đạo ngành chức năng, nhất là Công an, BCH Quân sự, Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, Đội QLTT số 13, Hạt Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hoành Bồ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thành viên TKV tăng cường kiểm tra các hoạt động liên quan đến tài nguyên khoáng sản trong và ngoài ranh giới mỏ.
Quá trình kiểm tra phát hiện các trường hợp vi phạm, xử lý nghiêm, triệt để. Chính quyền xã, thị trấn hoặc cơ quan, đơn vị nào để xảy ra vi phạm tại địa bàn mình quản lý thì lãnh đạo đơn vị đó sẽ  bị xử lý.
Đi liền với đó, UBND huyện luôn rà soát, bổ sung các nội dung, quy chế phối hợp quản lý hoạt động khai thác than, lâm sản giữa địa phương với các doanh nghiệp ngành Than đứng chân trên địa bàn phù hợp với thực tế từng giai đoạn. UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra liên ngành phối hợp với các đơn vị ngành Than thường xuyên tổ chức TTKS và mở các đợt cao điểm ra quân kiểm tra, xử lý hoạt động tái khai thác, vận chuyển, kinh doanh than, lâm sản trái phép.
Đối với các khu vực ngoài ranh giới mỏ, UBND huyện chỉ đạo các đơn vị, ngành chức năng đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về hoạt động tài nguyên khoáng sản, than, lâm sản… do đơn vị, địa phương quản lý.
Cùng với đó, huyện cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường; vận động nhân dân khu vực có khoáng sản tích cực tham gia bảo vệ, giám sát và tố giác các hành vi khai thác than, lâm sản trái phép; tiêu cực trong quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản. UBND huyện cũng chỉ đạo Công an huyện chủ trì phối hợp với cơ quan chức năng liên quan, kiểm tra các hoạt động khai thác, tiêu thụ than tại các doanh nghiệp; cảng, bến, kho, bãi; bố trí lực lượng, phương tiện TTKS 24 giờ/ngày tại các tuyến QL279, tỉnh lộ 326, đường Trới - Vũ Oai; hệ thống giao thông thuỷ ở địa phương...
Nhờ đó, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các phương tiện vận chuyển than, lâm sản trái phép. Đồng thời giám sát chặt các đối tượng khai thác than trái phép lợi dụng việc các doanh nghiệp than trên địa bàn đăng ký phương tiện vận chuyển than từ địa phương đi Nhà máy Điện Hà Khánh và Kho cảng tại Hạ Long để trà trộn hoạt động. Rà soát, xây dựng, cắm các biển báo cấm đưa các phương tiện, máy xúc, máy gạt, ô tô vào hoạt động trái phép trên các tuyến đường vào rừng phòng hộ hồ Yên Lập…
Phó Trưởng Công an huyện Hoành Bồ, Nguyễn Đức Lương khẳng định: Do thực hiện đồng bộ, quyết liệt, trách nhiệm cao trong chỉ đạo, điều hành; cũng như sự vào cuộc tích cực của cấp uỷ, chính quyền, các ngành, đoàn thể và các đơn vị ngành Than trên địa bàn... tình trạng khai thác, kinh doanh than, lâm sản trái phép ở địa phương cơ bản được kiểm soát.
11 tháng năm 2014 lực lượng chức năng trên địa bàn đã kịp thời, phát hiện, xử lý 13 vụ vận chuyển, tiêu thụ than, lâm sản trái phép. Bắt, giữ 7 phương tiện, vận chuyển 32 tấn than trái phép; thu 102 tấn than xấu vô chủ; 11,1m3 gỗ nhóm V-VIII, 20kg nhựa thông và 23.314m3 gỗ rừng tự nhiên không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm; phá huỷ 6 lán trại; đánh sập 14 lượt cửa lò cũ tái khai thác than trái phép.
Ông Trần Đức Tuân, Phó Chủ tịch Thường trực UBND, Trưởng BCĐ 389 huyện Hoành Bồ nói: Thời gian tới UBND huyện chỉ đạo BCĐ 389 từ huyện đến cơ sở chủ động nắm tình hình; phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thành viên và chính quyền các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác TTKS, nhất là các khu vực trọng điểm, nhạy cảm, nhằm ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm.
Cùng với đó UBND huyện cũng đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo TKV tăng cường quản lý tài nguyên đối với các đơn vị ngành Than; quan tâm hỗ trợ kinh phí cho công tác quản lý tài nguyên than đối với các xã có tài nguyên than trên địa bàn huyện và xử lý nghiêm, kiên quyết những tập thể, cá nhân trong đơn vị khi để xảy ra tình trạng khai thác than trái phép trong ranh giới mỏ. (Báo Quảng Ninh 6/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều cánh rừng được giao cho dân bị chính người dân ồ ạt chặt phá để khai thác gỗ, đồng thời lấy đất trồng… keo!
Từ những cánh rừng bị chảy máu này đang để lộ rõ những bất cập quanh việc bảo vệ rừng tự nhiên: Rừng bị mất từ những hành vi của cán bộ địa phương; việc quản lý rừng tự nhiên thiếu trách nhiệm của kiểm lâm; hàng trăm, hàng nghìn hecta rừng (cả nguyên sinh, đặc dụng và rừng phòng hộ) đã bị tàn phá trên khắp cả nước, tuy nhiên, không nhiều trong số các vụ phá rừng được xử lý một cách nghiêm khắc; bên cạnh đó, còn bộc lộ những bất cập từ chính sách cho người dân giữ rừng, khi mà người dân không thể khá nếu chỉ dựa vào rừng! (VTC 14 9/12) đầu trang(
Ngày nào người dân còn phải dựa vào nguồn sản vật trong rừng để sống thì ngày đó họ còn gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, việc cả ngàn hộ dân đang "bám trụ" tại 18.300ha vùng đệm của Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã tạo ra sức ép lớn cho công tác bảo vệ rừng...
Nằm dọc các con đường đất đỏ len lỏi dưới những tán rừng thuộc xã Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước) có khá nhiều căn nhà liêu xiêu của người dân địa phương. Chỉ tay vào nhà gỗ nhỏ bé của gia đình mình đang ở, chị Thị Vơi, người dân tộc S'Tiêng, ở thôn Bù Dốt cho biết, căn nhà của chị đã hư hỏng nhiều chỗ, nhưng chưa có tiền sửa chữa nên vợ chồng cứ để vậy.
"Vợ chồng mình tay trắng cưới nhau rồi ra ở riêng. Mẹ chồng thương hai vợ chồng nên bàn với cả nhà, quyết định cho 3ha vườn điều. Nhưng hiềm một nỗi, diện tích điều này, bên nhà chồng đang cầm cố, nên còn lâu mới lấy ra được. Vì thế, đến giờ, vợ chồng mình vẫn không có đất sản xuất. Để có tiền chi tiêu cho sinh hoạt gia đình và nuôi hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, chồng mình hằng ngày phải vào rừng để khai thác măng tre, tìm mật ong về bán lấy tiền đong gạo. Mình thì đi bắt cá tôm, cua ốc ở các khe suối về để lo bữa ăn hằng ngày. Cực lắm!...".
Theo anh Điểu Ấp, chồng chị Thị Vơi, sống bên cạnh vùng đệm vườn quốc gia, dù không muốn, nhưng nhiều người dân địa phương vẫn phải xem đó là nguồn sống của mình. Mưu sinh bên cạnh "rừng vàng", cứ đến mùa ong mật, nhiều người lại khăn gói rủ nhau vào rừng kiếm mật về bán lấy tiền mua gạo. Hết mùa "hái" lộc rừng, nhiều người lén lút vào vườn quốc gia chặt củi để đổi lấy gạo.
"Cứ 3 bó củi to thì đổi được 2 ký gạo, nhưng để có được lượng củi đó, người ta phải bỏ công từ sáng sớm đến xế chiều. Kiếm củi ngày nào, đổi gạo ăn hết ngày đó. Biết vào vườn quốc gia khai thác củi là sai, nhưng có nhà có đến 5, 6 đứa con, lại không có đất sản xuất, nên vẫn phải dựa vào rừng để kiếm sống" - Anh Điểu Ấp chia sẻ.
Nói về áp lực đối với việc bảo vệ rừng trước nhu cầu mưu sinh của người dân sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập, anh Điểu Tun, một người từng nổi tiếng trong vùng bởi cái nghề "nhất phá sơn lâm" trước đây phân trần, cách đây chưa lâu, anh làm "lâm tặc" là mong muốn làm giàu nhanh chóng.
Về sau, do nhận thức được việc khai thác lâm sản trái phép là phá hoại môi trường sống và là hành vi vi phạm pháp luật, nên anh đã từ bỏ nó để tham gia bảo vệ rừng theo hợp đồng giao khoán của Hạt Kiểm lâm Bù Gia Mập với mức thu nhập trung bình từ 1,5 đến gần 2 triệu đồng/tháng.
Số tiền này tuy không nhiều nhưng ổn định, có thể giúp gia đình anh vơi bớt nỗi lo cơm áo gạo tiền. "Nhưng số hộ dân ở Bù Gia Mập được may mắn như mình rất ít nên người ta vẫn phải đi rừng để kiếm sống. Do chủ trương siết chặt quản lý rừng, lực lượng bảo vệ rừng làm rất gắt gao nên cuộc sống của nhiều gia đình trở nên khó khăn...".
Những năm trước đây, giống như ở nhiều nơi có rừng, tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập thường xảy ra nạn khai thác lâm sản trái phép. Có thời điểm, đội quân tham gia khai thác lâm sản và săn bắt động vật trái phép tại đây có "quân số" rất đông, thậm chí lấn át cả lực lượng Kiểm lâm.
Trước tình hình trên, được sự chỉ đạo và giúp đỡ của các cấp chính quyền, cùng với sự giác ngộ của cộng đồng dân cư vùng đệm, đặc biệt là sự quyết tâm vào cuộc của cán bộ Vườn quốc gia Bù Gia Mập nên công tác quản lý rừng ngày càng có nhiều chuyển biến tốt hơn.
Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, săn bắn thú rừng trái phép đã giảm theo từng năm, năm sau thấp hơn năm trước cả về quy mô và số lượng. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là áp lực bảo vệ rừng không còn tồn tại. Trái lại, do vẫn còn nhiều hộ trong tổng số hơn 5.200 hộ dân thuộc 2 xã Bù Gia Mập và Đắk Ơ (thuộc 2 tỉnh Bình Phước và Đắk Nông) đang sinh sống trong vùng đệm nằm trên khoảng cách 2km đất rừng tính từ vùng lõi của vườn quốc gia không có đất sản xuất, cuộc sống rất khó khăn nên buộc phải dựa vào rừng để sống.
Qua tìm hiểu nguyên nhân, được biết, đa số các hộ dân trên không phải không có đất mà do đất đã bán, hoặc cầm cố cho những người chuyên cho vay lấy lãi để lấy tiền chi tiêu vào nhiều việc khác nhau. Một khảo sát của Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước cho thấy, tại khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia Bù Gia Mập hiện có hơn 230 hộ đang cầm cố khoảng 300ha, trong đó, có 175 hộ vay lãi suất cao (từ 1,5-12%/tháng) với số tiền 4,5 tỉ đồng, thời gian vay từ 1-5 năm. Số đất cầm cố chủ yếu là diện tích trồng điều.
Vấn đề đáng quan ngại là nhiều hộ dân sau khi bán điều non thì quay sang bán đất sản xuất. Khi không còn nguồn thu, họ phải đi làm thuê hoặc xâm canh đất lâm nghiệp để trồng mì hoặc tiếp tục vay nặng lãi để trang trải cuộc sống. Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng diễn ra dai dẳng, phức tạp là hầu hết các hộ đồng bào này có đời sống kinh tế khó khăn, nghèo, một số hộ có thói quen ăn chơi rất "hồn nhiên".
Muốn tậu xe, xây nhà, trả lễ cưới vợ, hễ cần tiền là họ sẵn sàng cầm cố hoặc bán đất sản xuất, nên thường bị các đối tượng có tiền lợi dụng, tìm cách dụ dỗ bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Chẳng hạn, thời gian đầu làm quen, các đối tượng chuyên cho vay nặng lãi cho các hộ này mượn tiền từ ít đến nhiều, cho thiếu nợ hoặc mua hàng trả chậm với cách tính lãi cao, đến lúc đòi nợ không có tiền trả thì xiết đất để trừ nợ...
Thực trạng trên cho thấy, lời giải cho bài toán làm giảm sức ép ở 18.300ha vùng đệm của Vườn quốc gia Bù Gia Mập không ở đâu xa. Điều quan trọng và trước hết là phải triệt tiêu cho được hiện tượng bà con dân tộc thiểu số bị các đối tượng "cò mồi" dụ dỗ để cho vay nặng lãi và tình trạng mua bán đất sản xuất trái pháp luật.
Song song với đó, các ban, ngành chức năng địa phương cần thực hiện tốt công tác giải quyết đất sản xuất, đất ở trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có chính sách hỗ trợ cho các hộ đồng bào dân tộc nghèo về giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo điều kiện để họ phát triển kinh tế.
Cũng cần có cơ chế cho phép các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tận dụng các khoảnh đất trống không có cây rừng và đất ven sông, suối ở trong phần đất giao khoán quản lý bảo vệ rừng để sản xuất, tăng thêm thu nhập, góp phần ổn định đời sống... (Biên Phòng 10/12) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Sơn là nơi lưu giữ nhiều giá trị về đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên quý hiếm. Vì vậy, việc quản lý bảo vệ và phát huy giá trị của tài nguyên thiên nhiên trong VQG được xác định là nhiệm vụ trong tâm và là yếu tố theo chốt có ý nhĩa quan trọng đối với sự phát triển của VQG.
Huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình và Huyện Phù Yên tỉnh Sơn La là 2 địa phương có địa giới hành chính tiếp giáp với VQG Xuân Sơn với chiều dài đường ranh giới khoảng 15 km. Hiện tại khu vực giáp ranh của 2 tỉnh Sơn La, Hòa Bình với VQG Xuân sơn có tổng số 07 bản thuộc 2 xã có người dân sinh sống tại khu vực rừng giáp ranh với hơn 2000 nhân khẩu, cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào canh tác nương rẫy, sản xuất nông nghiệp; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 85% tổng hố hộ trong bản.
Các thôn bản này không thuộc diện hỗ trợ đầu tư theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Đây là áp lực không nhỏ và là thách thức đối với công tác quản lý bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia  Xuân Sơn.
Xác định nhiệm vụ trong tâm và gải pháp đối với công tác quản lý bảo vệ rừng theo hướng bền vững, trong những năm qua, VQG Xuân Sơn luôn tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, trong đó đặc biệt coi trọng công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực rừng giáp ranh.
Quá trình triển khai thực đã nhận được sự ủng hộ, phối kết hợp của các cơ quan, đơn vị có liên quan và sự đồng thuận của người dân trong khu vực giáp ranh, cụ thể: Xây dựng, ký kết và thực hiện quy chế phối kết hợp giữa VQG Xuân Sơn với Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc, Hạt Kiểm lâm huyện Phù Yên trong việc tuần tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vụ vi phạm quy định về bảo vệ rừng tại khu vực giáp ranh.
Mặt khác, công tác phối kết hợp còn được thông qua trao đối thông tin hai chiều, tiếp cận người dân khu giáp ranh để tuyên truyền, vận động và chia sẻ, hướng dẫn khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Từ đó góp phần thay đổi các tập quán xản xuất của người dân theo hướng tích cực giúp nâng cao đời sống giảm sự phụ thuộc của người dân vào rừng.
Hơn nữa, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cán bộ VQG Xuân Sơn đã vận dụng và thực hiện có hiệu quả giữa nhiệm vụ được giao gắn với phong trào thi đua “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” qua chuyên đề “Dân vận khéo”.
Kết quả đạt được trong năm 2013-2014, đã tổ chức được 10 đợt tuần tra chung trên địa bàn; tổ chức được 04 lớp tuyên truyền cho người dân vùng giáp ranh về luật bảo vệ và phát triển rừng, giúp người dân hiểu rõ về vai trò, ý nghĩa mục đích sử dụng của 3 loại rừng đối với đời sống, xã hội và môi trường, nắm rõ được ranh giới của rừng đặc dụng; Xây dựng bảng thông tin đường dây nóng để tiếp nhận và kịp thời xử lý thông tin, khuyến khích cộng đồng tham gia đấu tranh và tố giác các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ rừng trên địa bàn.
Ngoài ra, cón hướng dẫn người dân Bản Dinh, Suối Gà của huyện Phù Yên – Sơn La về kỹ thuật trồng một số cây lâm nghiệp, dân thay đổi những thói quen, tập quán không tốt gây ảnh hưởng đến rừng, đất rừng.
Triển khai công tác giao khoán bảo vệ rừng cho các cộng đồng thuộc các xã trong VQG Xuân Sơn gắn với việc triển khai thực hiện chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng. Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng đối với 29 cộng đồng, hàng năm thực hiện đánh giá cam kết bảo vệ rừng của từng công đồng làm cơ sở để đầu tư nguồn vốn hỗ trợ phát triển kinh tế cho cộng đồng thuộc 29 thôn bản vùng đệm của VQG. Từ đó đã tạo được sự gắn kết giữa quyền lợi và trách nhiệm của công động đối với việc tham gia quản lý bảo vệ rừng.
Thông qua các giải pháp được triển khai và thực hiện một cách đồng bộ, linh hoạt đã tạo được những kết quả tích cực đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Xuân Sơn, đặc biệt đối với bảo vệ rừng tại khu vực giáp ranh, nâng cao được nhận thức của người dân, cộng đồng và nâng cao được vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương các xã, huyện giáp ranh trong công tác phối hợp tuần tra, tuyên truyền và xử lý các vụ  vi phạm.
Tuy đời sống của cộng đồng người dân tại vùng giáp ranh với VQG Xuân Sơn thộc 2 tỉnh Sơn La và Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn, không được hưởng lợi từ chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng nhưng cộng đồng vẫn tích cực tham gia, ủng hộ trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Điều đó khẳng định sự phối kết hợp chặt chẽ giữa VQG Xuân Sơn với các đơn vị liên quan tại khu vực giáp ranh đã mang lại hiệu quả tích cực góp phần bảo tồn giá trị tài nguyên thiên nhiên và nguồn sinh thủy phục vụ phát triển kinh tế xã hội cho vùng. (Sở NN&PTNT Phú Thọ 8/12) đầu trang(
Năm 2014, các lực lượng chức năng huyện Hoành Bồ đã bắt giữ và xử lý 27 vụ vi phạm hành chính về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tịch thu trên 77,327m3 gỗ tròn thông thường; 1,336m3 gỗ tròn thuộc các loại nguy cấp, quý hiếm và nhiều lâm sản và phương tiện phục vụ khai thác khác.
Ngoài ra, các đơn vị cũng tăng cường kiểm soát, bảo tồn các loại động vật hoang dã. Tiêu biểu là việc cấm săn bắt, bẫy các loài chim hoang dã trên địa bàn. Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của tỉnh và Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, huyện Hoành Bồ đã bảo vệ, chăm sóc, tu bổ tốt trên 227ha rừng tự nhiên; bảo vệ trên 4.000ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. (Báo Quảng Ninh 9/12) đầu trang(
Mới đây, Ban Chỉ đạo Diễn tập Phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng  huyện Mộc Châu đã tổ chức Diễn tập phòng cháy,  chữa cháy rừng - bảo vệ rừng tại xã Chiềng Khừa.
Tham dự diễn tập có ông Trương Hoa Bắc - Phó chủ tịch UBND huyện; thành viên BCĐ diễn tập của huyện, Hạt Kiểm Lâm Mộc Châu; Ban CHQS huyện, Công an huyện, cùng trên 300 quần chúng nhân dân tham gia diễn tập.
Mộc Châu là huyện vùng cao có địa hình đồi dốc, núi cao bị chia cắt với những khe sâu có độ dốc lớn, điều kiện thời tiết khắc nghiệt chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm, mùa khô thường bắt đầu và kéo dài từ tháng 10 năm trước cho đến tháng 4 năm sau. Vào các tháng mùa khô có rét đậm, rét hại kéo dài, lá cây rụng, thảm thực bì dầy, lại chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam khô nóng, đặc biệt sau Tết Nguyên Đán  nhân dân thường tổ chức đốt nương, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cháy rừng.
Cuộc diễn tập được triển khai làm 2 phần là: Phần cơ chế và phần thực binh. Phần cơ chế gồm 2 nội dung là Hội nghị Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng điều chỉnh, bổ sung triển khai kế hoạch PCCCR - BVR và hội nghị giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng, khắc phục hậu quả cháy rừng cho các ban, ngành của xã.
Phần thực binh triển khai theo tình huống giả định: Khi nhận được tin của chủ rừng, nhân dân địa phương báo cháy rừng, Chủ tịch UBND xã Chiềng Khừa đã huy động lực lượng tại chỗ chữa cháy rừng khẩn cấp. Xã  huy động các lực lượng trong xã bằng các phương pháp thủ công để khống chế các điểm cháy rừng. Nhưng do gió thổi mạnh, đám cháy đã vượt tầm kiểm soát của lực lượng chữa cháy bằng phương pháp thủ công.
Để kịp thời ứng phó xã xin hỗ trợ của huyện, trên cơ sở đó huyện đã nhanh chóng điều động lực lượng hỗ trợ và các phương tiện cơ giới hiện đại phối hợp với lực lượng tại chỗ dập tắt các đám cháy… Bên cạnh công tác chữa cháy rừng, công tác hậu cần phục vụ cho các lực lượng tham gia chữa cháy và công tác cứu hộ, cứu nạn, công tác phòng chống tội phạm lợi dụng cháy rừng, cháy nhà để trộm cắp tài sản của nhân dân cũng được triển khai đồng bộ.
Rút kinh nghiệm từ thực tế và những hạn chế trong công tác chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng những năm trước, cuộc diễn tập Phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng xã Chiềng Khừa năm 2014 đã được Ban Chỉ đạo đưa ra nhiều nội dung và tình huống sát với thực tế.
Cuộc diễn tập lần này nhằm nâng cao khả năng chỉ đạo, chỉ huy của Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng các cấp, kiểm tra phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, khả năng phối hợp và huy động lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ, đồng thời cũng là dịp để nâng cao ý thức, trách nhiệm về phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng của mỗi người dân.
Nhờ chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đợt diễn tập Phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng xã Chiềng Khừa đã diễn ra theo đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và tài sản. Các tình huống cháy rừng giả định trong diễn tập sát với thực tế của địa phương…, Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng - bảo vệ rừng huyện Mộc Châu đánh giá xếp loại giỏi. (Mocchau.sonla.gov.vn 9/12) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND huyện An Lão, từ đầu năm đến nay Đoàn Kiểm tra liên ngành của huyện bao gồm lực lượng Kiểm lâm, Công An, Huyện đội, Kiểm lâm địa bàn đã chủ động phối hợp với chính quyền các xã An Dũng, An Trung, An Hưng, An Quang, An Vinh, An Nghĩa, An Hòa, An Tân, thị trấn An Lão và các chủ rừng tổ chức 115 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu rừng trọng điểm và cửa rừng đầu nguồn, phát hiện bắt giữ gần 12m3 gỗ xẻ từ nhóm IIA đến nhóm VI, 13kg lan rừng, 225kg trái ươi, 07 máy cưa xăng, 05 xe mô tô và hủy tại rừng hơn 16m3 gỗ khác do địa hình cách trở không vận chuyển ra khỏi rừng được.
Đoàn Kiểm tra cũng đã tiến hành đập phá 25 lò nung than hầm và tháo dỡ 15 láng trại cất dựng trái phép trong rừng, đồng thời trục xuất ra khỏi cửa rừng 45 đối tượng lạ mặt nghi vấn có hành vi xâm hại đến rừng.
Cũng trong thời gian trên, Đoàn Kiểm tra liên ngành huyện An Lão còn phối hợp với lực lượng chức năng của huyện Hoài Ân tổ chức 04 đợt truy quét tại các vùng rừng giáp ranh tại tiểu khu 58 xã An Nghĩa (An Lão) và tiểu khu 65 xã ĐắkMang (Hoài Ân) phát hiện và tiêu hủy tại rừng gần 0,9m3 gỗ xẻ các loại. (Anlao.binhdinh.gov.vn 9/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Lắk, đến nay tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng cư dân trên địa bàn tỉnh là 36.005,4 ha.
Trong đó diện tích có rừng 26.983,8ha, diện tích không có rừng 8.328,1ha cho 5.026 hộ, bao gồm 2.184 hộ thuộc đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và 2.482 hộ là thành phần dân tộc khác; diện tích rừng đã giao bị phá, lấn chiếm là 10.610,2ha, trong đó diện tích rừng bị phá, lấn chiếm đã giao theo Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là 2.086,4ha và diện tích rừng bị phá, lấn chiếm đã giao theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 8.523,8ha. (Lao Động Xã Hội 9/12, tr4) đầu trang(
Xã Xuân Phong (Cao Phong) có 98% dân số là đồng bào Mường, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Ngay từ tháng 4/2009, nhận thức được vai trò của trồng rừng, chính quyền và nhân dân xã Xuân Phong đã triển khai dự án trồng rừng theo cơ chế sạch, với sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA).
Chu kỳ dự án 15 năm nhưng bước đầu đã cho thấy hiệu quả tốt. Trồng rừng sạch theo dự án JICA Nhật Bản ở xã Xuân Phong là mô hình đầu tiên của Bộ NN&PTNT triển khai tại các xã miền núi phía Bắc với 3 mục tiêu: Phục hồi đất bị suy thoái; giảm lượng khí CO2; tăng thu nhập cho các hộ nhờ sản xuất gỗ và bán tín chỉ CO2.
Ông Bùi Hồng Toán, Chủ tịch UBND xã Xuân Phong cho biết: Sau khi được khảo sát qua Trạm KN – KL, dự án trồng rừng theo cơ chế sạch được UBND xã bắt đầu triển khai từ tháng 4/2009 với diện tích gần 120 ha và trồng rừng theo chu kỳ 15 năm. Toàn xã có 310 hộ đăng ký tham gia dự án, tập trung ở 3 xóm là xóm Rú 4, xóm Nhõi 1và xóm Nhõi 2. Địa điểm được lựa chọn để trồng rừng là những vùng đất đồi trọc không thể sản xuất, nơi rừng đã bị chặt phá để canh tác. Hai loại cây cho hiệu quả cao trong việc cải thiện môi trường do hấp thụ được nhiều khí CO2 và sản xuất ra nhiều khí Oxi là keo tai tượng và keo lá tràm đã được bà con trồng trong dự án.
Đến xóm Rú 4, anh Bùi Ngọc Thơ, trường xóm nhiệt tình dẫn đi thăm quan mô hình 19 ha khu rừng keo của xóm. Những hàng keo cao tầm 8-10 m cứng cỏi, xanh mát, khỏe khoắn, làm dịu không khí khiến cho ai nấy đi qua đều cảm thấy dễ chịu. Xa xa bên xóm Nhoi, rừng keo cũng vươn lên khoe sắc xanh biếc của núi rừng đại ngàn. Cả rừng keo như những chàng “thanh niên trẻ” đang căng tràn nhựa sống, tiếp thêm luồng khí mới cho bà con nơi đây. Được biết, anh Bùi Ngọc Thơ cũng là một trong những tấm gương đi đầu trong phong trào trồng rừng ở nơi đây.
Với sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), nhận thức được vai trò to lớn của rừng sạch, 5 năm qua, hàng trăm người dân xã Xuân Phong đã tin tưởng, chủ động góp đất để thực hiện dự án đặc biệt, đổi lại, họ được tài trợ giống, phân bón, được tập huấn cách chăm sóc, được trả công trồng, chăm sóc và được hưởng 100% giá trị tài sản trên diện tích rừng mình trồng và được bán “tín chỉ vacbon”.
Ông Bùi Minh Phúc, xóm Rú 4 nhận trồng 0,5 ha rừng phấn khởi cho biết: Trước đây, gia đình chỉ trồng cây lấy củi, bán được ít tiền. Nay nhờ có dự án trồng rừng sạch lại được cấp tín chỉ CO2 nên nhà nào cũng mong đợi kết quả cao khi thu hoạch.
Mô hình trồng rừng sạch được tiến hành theo từng phân tầng, được đo đếm tại thực địa 5 năm 1 lần trước khi kiểm chứng. Các chuyên gia lâm nghiệp trong tổ chức JICA ít nhất mỗi năm về xã 1 lần để đánh giá chất lượng rừng trồng, phát dọn thực địa, đầu tư giống cây và tiến hành giám sát lượng CO2 tại các bể sinh khối trên và dưới mặt đất, hướng dẫn lấy khí CO2.
Sau 10-15 năm, dự án rừng sạch sẽ được khai thác theo kiểu “chồng vốn”, có nghĩa là ban đầu sẽ khai thác khoảng 1/3 diện tích rừng, sau đó, 1/3 diện tích rừng bị khai thác này lại được trồng lại và khai thác tiếp. Sau 5 năm triển khai, dự án này đã, đang và sẽ mang lại sự nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng ngày càng cao, góp phần đầu tư cho phát triển ngành Lâm nghiệp tỉnh; phục hồi rừng và quản lý, phát triển rừng bền vững, ổn định và nâng cao đời sống kinh tế cho đồng bào vùng nông thôn, miền núi.
Không giấu nổi niềm vui, ông Bùi Hồng Toán phấn khởi, hứa hẹn:“Đây sẽ là mô hình trồng rừng hiệu quả, mang lại thu nhập cao cho người sử dụng đất mà không cạnh tranh không gian, cây rừng phát triển tốt, đảm bảo chức năng phòng hộ của rừng. Chính quyền và bà con xã Xuân Phong quyết tâm bám đất, bám rừng, để có thêm nhiều mô hình trồng rừng bền vững, mang lại no ấm cho người dân và môi trường sống ngày càng được cải thiện”. (Báo Hòa Bình 9/12) đầu trang(
Nhằm chủ động nguồn giống phục vụ công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo các đơn vị tích cực xây dựng các nguồn giống.
Đến nay, các đơn vị  đã xây dựng được 22 nguồn giống cây lâm nghiệp, trong đó: 7 lâm phần tuyển chọn sến mật, vẹt, trang, đước, thông Cariber... với diện tích 463,7 ha; 9 rừng giống chuyển hóa thông nhựa, lát hoa, lim xanh, mỡ, trám trắng, keo tai tượng, diện tích 87,27 ha; 1 rừng giống keo tai tượng, diện tích 10 ha; 2 vườn cung cấp hom phi lao dòng TT2.6, TT2.7, diện tích 0,9 ha... Hàng năm, thu hái hơn 4.000 kg hạt giống đưa vào sản xuất gieo ươm.
Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy mạnh xây dựng hệ thống sản xuất, kinh doanh giống lâm nghiệp trên địa bàn theo hướng kết hợp hài hòa giữa vườn ươm tập trung quy mô lớn với vườn ươm vừa và nhỏ trên địa bàn các huyện và đã xây dựng được 38 vườn ươm, quy mô 23,8 ha, đang triển khai xây dựng 1 Trung tâm Nuôi cấy mô tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ lâm nghiệp Thanh Hóa. Công suất của các vườn ươm đạt trên 35 triệu cây giống lâm nghiệp các loại/năm, cơ bản đáp ứng nhu cầu trồng rừng trong tỉnh. (Báo Thanh Hóa 9/12) đầu trang(
Từ năm 2008 đến nay, toàn xã Phước Mỹ (TP Quy Nhơn) đã trồng trên 1.253 ha rừng theo Dự án (DA) WB3. UBND thành phố đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 316 hộ trồng rừng WB3, với diện tích hơn 720 ha;  có 324 hộ được vay hơn 10,8 tỉ đồng để chăm sóc rừng trồng...
Trong năm 2013 và 2014, những hộ trồng rừng WB3 năm 2008 và 2009 đã bắt đầu khai thác gỗ nguyên liệu, sản lượng đạt bình quân 120 tấn/ha, cao hơn rừng trồng ngoài DA 50 tấn/ha. Với giá bán ổn định trong 2 năm nay từ 1,13 - 1,16 triệu đồng/tấn gỗ nguyên liệu, doanh thu đạt khoảng 150 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí, còn lãi 60 - 70 triệu đồng/ha.
Ông Cao Minh Thi, Chủ tịch UBND xã Phước Mỹ, đánh giá: “Tham gia DA WB3, người trồng rừng ở Phước Mỹ được nhiều cái lợi: Được tiếp cận nhiều thông tin KHKT về trồng rừng; được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; được vay vốn để đầu tư chăm sóc rừng, phát triển kinh tế bền vững... Vài năm nay,  nguồn thu từ rừng WB3 trên địa bàn xã khoảng 10 tỉ đồng/năm. DA WB3 ở Phước Mỹ đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân nơi đây”.
Ông Trần Văn Hòa, ở xóm 5, thôn Thanh Long, xã Phước Mỹ, trồng được 20 ha rừng WB3 (năm 2008 trồng được 18 ha, năm 2011 trồng 2 ha). Đến nay ông đã khai thác được 9 ha rừng trồng năm 2008, tổng doanh thu hơn 1,3 tỉ đồng. Với khoản thu nhập này, ông Hòa đã có thể trả vốn vay ngân hàng, còn lợi nhuận ông đầu tư trồng lại diện tích rừng vừa khai thác và chăm sóc diện tích rừng còn lại.
Ông Hòa bộc bạch: “Trước đây, trồng rừng truyền thống có đạt lắm cũng chỉ 70 - 80 tấn gỗ nguyên liệu/ha, do trồng dày, hiệu quả không có mà đất ngày càng xấu đi. Trồng rừng theo DA WB3, nếu làm đúng quy trình kỹ thuật thì sản lượng tăng gấp rưỡi, hiệu quả kinh tế cũng tăng theo”.
Năm 2014 cũng là năm cuối thực hiện DA WB3, Ban quản lý DA WB3 TP  Quy Nhơn và xã Phước Mỹ đã chủ động triển khai cho bà con địa phương đăng ký trồng rừng.
Ông Cao Minh Thi cho biết: “DA trồng rừng WB3 sẽ kết thúc vào quý I.2015, hiện xã đang tích cực triển khai trồng rừng năm cuối cùng, với 46 hộ đăng ký trồng khoảng 149 ha. Xã tập trung triển khai các thủ tục để vừa kết thúc DA theo kế hoạch, đảm bảo 100% diện tích được cấp sổ đỏ để tạo điều kiện cho người dân được vay vốn đầu tư phát triển sản xuất”. (Báo Bình Định 9/12) đầu trang(
Tỉnh ủy ban hành Chương trình 40 nhằm triển khai Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp.
Chương trình được kỳ vọng giúp các công ty lâm nghiệp tìm hướng đi thích hợp tùy vào tình hình thực tế của từng đơn vị.
Từ đơn vị sự nghiệp là các lâm trường quốc doanh, sau khi chuyển đổi sang công ty lâm nghiệp, và hiện nay là công ty TNHH MTV lâm nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, hạch toán độc lập, nhưng trên thực tế, 15 DN hiện nay chỉ là thay đổi tên gọi, còn  hoạt  động không có gì mới, một số cơ chế chính sách quản lý bảo vệ rừng chưa sát với thực tế, nhất là về tài chính, dẫn đến hoạt động của các công ty lâm nghiệp vẫn gần như “dẫm chân tại chỗ”.
Việc chuyển đổi chưa tạo động lực kích thích phát triển, doanh nghiệp chưa được tự chủ trong hoạt động, quy mô, hiệu quả sản xuất hạn chế; vì vậy, rừng do các đơn vị này quản lý vì vậy vẫn tiếp tục bị phá, đất đai bị lấn chiếm, xâm canh ngày càng nhiều, tình trạng tranh chấp diễn ra ngày một phức tạp, kéo dài.
Mặt khác, dù được thành lập với mục tiêu chủ yếu là quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng sản xuất, nhưng các công ty lâm nghiệp không được tự chủ khai thác gỗ theo phương án kinh doanh; diện tích rừng chưa được xác định giá trị để giao vốn cho doanh nghiệp, việc vay vốn ngân hàng thương mại để trồng rừng sản xuất gặp quá nhiều trở ngại (lãi suất cao, thời hạn vay ngắn trong khi chu kỳ sản xuất dài…).
Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm, vì vậy hầu hết các DN đều lâm vào hoàn cảnh hết sức khó khăn vì có đất, có lao động nhưng không phát triển được sản xuất, hoặc sử dụng đất đai kém hiệu quả và không đúng quy định. Qua việc rà soát diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2013 cho thấy, tổng diện tích rừng bị mất gần 28.000 ha, cụ thể: trước năm 2008 là 15.642 ha, từ năm 2008 đến năm 2013 là trên 12.340 ha, trong đó diện tích rừng thuộc quản lý của các công ty lâm nghiệp chiếm khoảng 70%.
Để “xốc” lại hoạt động của các công ty lâm nghiệp vốn gần như đang “rơi tự do”, làm ăn thua lỗ, bết bát  như hiện nay, cần sự đổi mới toàn diện về cơ chế quản lý, sử dụng đất cũng như bảo vệ, phát triển rừng của các đơn vị này. Ngày 8-8, Tỉnh ủy có Chương trình số 40 về việc triển khai Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp chỉ rõ, đổi mới nội dung, hình thức quản lý đất rừng theo hướng: Nhà nước giao đất không thu tiền đối với đất rừng phòng hộ, đất có rừng tự nhiên là rừng sản xuất, đất để thực hiện nhiệm vụ công ích; Nhà nước cho thuê đất đối với diện tích nông, lâm nghiệp giao cho các công ty lâm nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy, chính DN phải tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xác định được diện tích, loại đất sử dụng cho từng mục đích sản xuất kinh doanh của đơn vị. Bên cạnh đó, tập trung rà soát, thống kê diện tích đất sử dụng không đúng mục đích, đất bị lấn chiếm, tranh chấp để có biện pháp xử lý dứt điểm. Đối với diện tích đất chuyển giao về địa phương quản lý, chính quyền địa phương sở tại cần tổ chức rà soát lại các đối tượng sử dụng đất để có phương án giải quyết cho các hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục giao đất hoặc thuê đất theo quy định.
Về đổi mới cơ chế quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện giao rừng tự nhiên gắn với giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật bảo vệ phát triển rừng. Thực hiện định giá rừng sản xuất là rừng trồng làm cơ sở để giao vốn, thực hiện cổ phần hóa, liên doanh liên kết, thế chấp vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
Thực hiện xây dựng phương án quản lý bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên có trữ lượng giàu và trung bình; thực hiện nhiệm vụ công ích theo phương thức đặt hàng giao kế hoạch hằng năm đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa có phương án quản lý rừng bền vững, rừng tự nhiên nghèo có khả năng phục hồi trong thời gian chăm sóc chưa khai thác.
Hoàn thiện hình thức giao khoán rừng, đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng quản lý chăm sóc, bảo vệ, lập dự án cải tạo để trồng rừng mới trồng cây công nghiệp hiệu quả hơn đối với rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt không có khả năng phục hồi.
Ông Hà Văn Liên, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông cho biết, Công ty được giao quản lý, bảo vệ 28.428,23 ha rừng, trong đó, 8.985 ha rừng phòng hộ, 19,442,78 ha rừng sản xuất. Hiện tại, đơn vị cũng như các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn đang còn loay hoay tự tìm lối đi cho DN mình.
Hoạt động sản xuất của DN chủ yếu dựa vào 2.000 ha rừng trồng. Năm 2009, đơn vị là một trong 9 DN của cả nước được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2009-2044 với mục tiêu duy trì việc quản lý và kinh doanh rừng tự nhiên bền vững. Tuy nhiên, sau khi Nhà nước đóng cửa rừng, đơn vị cũng không được phép khai thác trong khi trữ lượng gỗ vẫn đủ điều kiện khai thác theo quy định. Điều này vừa lãng phí nguồn tài nguyên, vừa là thiệt thòi cho DN.
Mới đây, đơn vị đã tiến hành rà soát, đánh giá trữ lượng gỗ của 280 ha rừng sản xuất  tại 21 khoảnh thuộc 8 tiểu khu nằm trên địa bàn các xã: Cư Pui, Cư Đrăm và Yang Mao, trữ lượng rừng đều đạt từ 270 m3/ha trở lên với sản lượng gỗ có thể khai thác 14.000 m3. Đơn vị đã có văn bản đề xuất cho phép được khai thác trong năm 2014-2015.
Sở NN-PTNT cũng đã có công văn trình UBND tỉnh xem xét chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên cho đơn vị, đồng thời báo cáo Bộ NN-PTNT bố trí kế hoạch khai thác gỗ rừng tự nhiên năm 2014, 2015 cho đơn vị theo phương án quản lý rừng bền vững đã được phê duyệt. Việc tháo gỡ những nút thắt về quản lý, sử dụng rừng thì sẽ giúp DN khắc phục những khó khăn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.
Theo định hướng của Chương trình 40, tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ sắp xếp theo 2 hình thức: Các công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất đã được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và có khả năng được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững thì thực hiện sản xuất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; các công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững, thực hiện nhiệm vụ công ích, được huy động các nguồn lực tài chính theo pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng; được tận dụng sản phẩm từ rừng theo quy chế quản lý rừng; các công ty quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, có diện tích  trên 5.000 ha liền vùng thì chuyển thành ban quản lý rừng, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu.
Trên cơ sở đó, Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp vừa xây dựng phương án sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp, trong đó sẽ cổ phần hóa Công ty TNHH Lâm nghiệp Phước An, do không còn rừng tự nhiên; giữ nguyên công ty lâm nghiệp 100 % vốn Nhà nước đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông và M’Drak; chuyển sang Ban quản lý rừng đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lak, do đang quản lý diện tích rừng phòng hộ lớn; các công ty còn lại thì xem xét có thể thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên để gắn kết giữa phát triển vùng nguyên liệu với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản tại địa phương.
Tuy nhiên, ngoài sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của Nhà nước, bản thân DN cần tự xác định, xây dựng hướng đi phù hợp. (Báo Đắc Lắc 9/12) đầu trang(
Sơn Động là huyện miềm núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang là một trong 62 huyện nghèo của cả nước có tổng diện tích 84.987 ha, trong đó có 66.900 ha đất lâm nghiệp, chiếm 78% diện tích đất tự nhiên, là huyện vùng cao giàu tiềm năng và thế mạnh về rừng.
Qua rà soát, phân 3 loại rừng, bao gồm 9.353 ha rừng đặc dụng, 7.710 ha rừng phòng hộ, 41.878 ha rừng sản xuất, trong đó, diện tích rừng sản xuất chiếm tỷ lệ 62,5%. Sau nhiều năm thực hiện chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp, tăng cường trồng rừng sản xuất, xã hội hóa nghề rừng, Sơn Động đã nâng độ che phủ rừng từ 62% năm 2009 lên 76,7% năm 2014, trở thành một trong những huyện dẫn đầu về độ che phủ rừng.
Xác định lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, góp phần khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái, trong những năm qua, huyện Sơn Động đã thực hiện nhiều giải pháp tích cực, hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư, giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp theo quy hoạch, làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Nhiều năm liên tục, huyện luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng đã đề ra, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân. Từ năm 2010 đến năm 2013, toàn huyện đã thực hiện trồng mới gần 15.000 ha rừng, trong đó có 77% diện tích do người dân tự bỏ vốn trồng rừng. Chỉ tính riêng năm 2014, diện tích rừng trồng mới của huyện là 3.875 ha, tổng giá trị đầu tư gần 38 tỷ đồng, thì có tới 92% được huy động từ sức dân. Kết quả đó cho thấy, huyện đã huy động được nguồn lực to lớn của nhân dân để phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, thời gian tới, Sơn Động tập trung phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, tăng cường trồng rừng sản xuất, triển khai các dự án đầu tư hỗ trợ trồng cây lâm sản ngoài gỗ như ba kích, măng mai, lim xanh, giổi xanh và cây dược liệu quý dưới các tán rừng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; gắn trồng rừng với chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ rừng; huy động các nguồn lực xã hội từ các thành phần kinh tế khác nhau để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng sản xuất; đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu thâm canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo cung cấp nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn huyện; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, kết hợp với trồng rừng, đảm bảo khả năng bảo vệ môi trường sinh thái, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, lũ lụt.
Toàn huyện phấn đấu thu hút khoảng trên 20.000 lao động tham gia vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp ở địa phương, nâng độ che phủ rừng đạt trên 80%, đưa kinh tế lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện theo hướng đa mục tiêu, hiệu quả và bền vững. (Sondong.bacgiang.gov.vn 9/12) đầu trang(
Cty TNHH Nước giải khát Suntory PepsiCo Việt Nam đang phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường khởi động chiến dịch “Think&Drink 2014” với chủ đề “Uống chai sành, trồng cây xanh, vì một Việt Nam xanh hơn” nhằm khuyến khích các bạn trẻ và người tiêu dùng sử dụng chai thủy tinh để bảo vệ và góp xanh môi trường.
Đến với chương trình, các bạn trẻ sẽ được tham gia chuỗi hoạt động “Trồng cây ảo - tạo rừng thật” trên fanpage của các nhãn hàng Pepsi, 7Up, Mirinda, Sting; game tương tác tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM từ ngày 26-31.12.2014; game trồng cây online “Khu vườn trên mây” trên Zing.vn.
Ngoài ra, các bạn trẻ còn được tham gia hoạt động trồng cây thật và gắn tên mình tại “khu rừng Pepsi” ở khắp ba miền Bắc - Trung - Nam. (Lao Động 10/12) đầu trang(
Mới đây, tại khách sạn Thiên Ấn Riverside, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi tổ chức tọa đàm nhân kỷ niệm 55 năm ngày tuyền thống ngành Lâm nghiệp Việt Nam.
​Khi tái lập tỉnh 1989 tỉnh Quảng Ngãi chỉ có 119.065 ha rừng trong đó 94.600 ha rừng tự nhiên và 24.005 ha rừng trồng, độ che phủ của rừng chỉ đạt 19%. Để phát triển rừng Quảng Ngãi đã quan tâm cho phát triển Lâm nghiệp, nhiều chương trình dự án sử dụng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, đã triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao.
Tính đến năm 2013 diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh đã lên đến 275.930 ha tăng 156.325 ha so với năm 1989, độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 48,25% tăng 29,25% so với ngày tái lập tỉnh. Nhiều loại cây bản được đưa vào trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng phát huy chức năng rừng phòng hộ.
Đối với rừng sản xuất, nhờ áp dụng công nghệ sử dụng giống giâm hom, cấy mô, năng xuất tăng trung bình đạt từ 80-120m3/ha, góp phần tăng thu nhập của người dân và tăng chức năng rừng phòng hộ.
Phát biểu tại buổi tọa đàm lãnh đạo ngành Nông nghiệp và PTNT qua các thời kỳ đã bày tỏ vui mừng trước những thành tích ngành Lâm nghiệp của tỉnh đã đạt được trong những năm qua. Nhiều lãnh đạo đã bày tỏ lo lắng trước tình trạng nhiều loại gỗ quý và rừng tự nhiên bị mất, rừng phòng hộ sử dụng sai mục đích, làm cho diện tích rừng giảm đi đáng kể, gây ảnh hưởng đến môi trường.
Buổi tọa đàm cũng đóng góp ý kiến cho đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo hướng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo tính bền vững bảo vệ tốt môi trường sinh thái. Phấn đấu đến năm 2015 độ che phủ của rừng tỉnh Quảng Ngãi đạt 50%. (Quangngai.gov.vn 7/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng