|
Ngày 08 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Đối với dân tộc Việt Nam, rừng gắn chặt với từng chặng đường lịch sử. Trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, rừng trở thành căn cứ cách mạng, “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Trong thời bình, rừng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, là điểm tham quan du lịch. Rừng là nguồn cung cấp nhiều loại lâm sản cần thiết cho cuộc sống, những sản vật quý hiếm, những dược liệu quý; giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống. Có loại rừng chắn gió, chắn cát ven biển. Có loại rừng ngăn nước lũ trên núi. Rừng giúp con người hạn chế thiên tai. Rừng ngập mặn là bức tường thành ngăn chặn bão gió, sóng thần, lũ lụt.
Rừng đem lại nhiều lợi ích như thế, nên không ít người “ra sức” khai thác vô tội vạ vì cái lợi trước mắt: Săn lùng gỗ quý khắp nơi. Muốn lấy một cây gỗ quý, chẳng ngần ngại phá hại hàng trăm cây cối to nhỏ xung quanh; vì tiền, sẵn sàng bẫy hổ, săn gấu, bò tót, hươu, nai, lợn rừng... ngay cả trong mùa sinh sản; vì tiền, một số người được giao trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng cũng... phá rừng.
Việc đốt rừng làm rẫy cũng đã thu hẹp rất nhiều diện tích rừng. Nguy hại nhất là việc làm đó đã phá hủy vành đai rừng phòng hộ, dẫn đến hiểm họa sạt núi, lở đất và những cơn lũ lớn không thể nào ngăn chặn được. Hậu quả thật ghê gớm!
Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), chỉ trong 10 tháng năm 2014, cả nước đã có trên 21.000 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, trong đó, có đến 2.000 vụ phá rừng trái phép với diện tích trên 600 ha; 10.345 vụ vi phạm lâm luật về khai thác, chế biến vận chuyển và mua bán trái phép gỗ rừng, tịch thu trên 22.600 m3 gỗ; gần 400 vụ vi phạm về quản lý, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ động vật hoang dã với trên 5.000 các thể động vật bị xâm hại…
Thật đáng báo động với trên 21.000 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, nhưng... hiện Tòa án mới chỉ xét xử được 10 vụ. Một con số ít ỏi, hết sức “khiêm tốn”!
Nói như vậy, nhưng cũng không thể không ghi nhận những việc làm đáng biểu dương của ngành Kiểm lâm, của các địa phương trong những năm qua đã và đang cố gắng trong nỗ lực quản lý, bảo vệ rừng, thay thế và trồng mới rừng, tăng diện tích che phủ của rừng.
Để bảo vệ rừng, nhiều tấm gương cán bộ kiểm lâm đã hy sinh anh dũng, nhiều cán bộ liêm khiết không nhận hối lộ, đấu tranh kiên quyết với lâm tặc trong xử lý vi phạm nhằm bảo vệ “rừng vàng”.
Hai năm trước, Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh (Bình Thuận) đã xét xử và tuyên phạt mức án từ 36 tháng đến 45 tháng tù giam dành cho 36 bị cáo liên quan đến vụ hủy hoại rừng tại Tiểu khu 358 thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh. Vụ án phá rừng ở Tánh Linh có thể coi là vụ án lớn nhất từ trước đến nay được đưa ra xét xử, là hồi chuông cảnh báo cho những kẻ rắp tâm phá rừng, là bài học chung để các địa phương quản lý và bảo vệ rừng tốt hơn.
Tuy nhiên, từ số liệu Tổng cục Kiểm lâm vừa công bố, dư luận vẫn chưa thể yên tâm khi tình trạng phá rừng ở nhiều địa phương không giảm. Điều đó cho thấy, bên cạnh những thành tích, những nỗ lực thì thực tế vẫn còn ngổn ngang nhiều việc phải làm.
Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mỗi chúng ta! Trước hết, cần phải tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ý nghĩa và vai trò quan trọng của rừng tới mọi người dân, tới các cơ quan, ban, ngành chức năng, tới mỗi cán bộ làm công tác quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhằm tạo nên những thế hệ người Việt Nam yêu rừng, cả dân tộc yêu rừng; có chế tài xử lý thật nghiêm những kẻ vi phạm, đang tâm phá hoại rừng; vinh danh, khen thưởng xứng đáng đối với những cán bộ, người dân có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ rừng. (Đảng Cộng Sản VN 5/12) đầu trang(
Là thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng Đà Nẵng lại có diện tích rừng giàu tài nguyên, có giá trị vào loại nhất nước với 28.000 ha rừng đặc dụng, trong đó có 15.000 ha rừng nguyên sinh. Song cũng chính vì vị trí không quá xa so với trung tâm đô thị, nên tình trạng rừng bị xâm hại cũng diễn biến rất phức tạp.
Sau vụ phá rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa (vừa được cơ quan chức năng khởi tố vào cuối tháng 11-2014), dư luận đặt ra câu hỏi: Làm thế bảo để bảo vệ được rừng Đà Nẵng khi công tác bảo vệ rừng và chính lực lượng có chức năng giữ rừng vẫn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập?
Một trong những địa phương có diện tích rừng nhiều nhất Đà Nẵng là xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang. Lâu nay, tình trạng phá rừng nơi đây diễn ra dai dẳng, hết sức phức tạp. Sau khi vụ phá rừng Cà Nhông thuộc phạm vi rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa bị phát hiện, lực lượng chức năng kiểm tra, truy quét, các đối tượng phá rừng dạt về phía Sông Bắc.
Theo số liệu từ ngành Kiểm lâm, từ đầu năm 2014 đến nay trên địa bàn xã Hòa Bắc xảy ra 16 vụ phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, lực lượng truy quét đã phá hủy 22 lán trại, tịch thu 28 m3 gỗ các loại, 1 máy cưa, tạm giữ 5 xe ô-tô chở gỗ lậu…
Phức tạp nhất hiện nay là khu vực do Cty CP Vinafor quản lý với diện tích khoảng 500 ha rừng trồng cây nguyên liệu nằm ở thượng nguồn Sông Bắc, phía Tây đèo Mũi Trâu. Theo nhận định của cơ quan Kiểm lâm, nhiều đối tượng khai thác rừng trái phép đang ẩn náu tại đây, tìm cách khai thác gỗ quý, liên kết với người dân địa phương vận chuyển gỗ ra Sông Bắc, kết bè chuyển về đồng bằng. Cuối tháng 11-2014, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang đã mai phục, phát hiện lâm tặc kéo bè gỗ trên sông, bị truy bắt, các đối tượng bỏ chạy, bỏ lại 16 phách gỗ xẻ.
Chỉ sau đó 2 ngày, lực lượng Kiểm lâm và dân quân, CAX Hòa Bắc lại phát hiện nhiều đối tượng đang kéo bè gỗ trên sông Bắc, các đối tượng đã dùng đá ném vào lực lượng truy bắt. Chỉ đến khi lực lượng truy bắt nổ súng cảnh cáo, các đối tượng mới bỏ chạy, nhưng cũng đã kịp thời tẩu tán tang vật. Trước đó vào tháng 6-2014, tại tiểu khu 12, lực lượng chức năng đã phát hiện 99 cây rừng có đường kính từ 30 đến 85 cm bị chặt hạ, thu tại hiện trường hàng chục mét khối gỗ…
Ông Hồ Tăng Phúc, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc cho biết, không chỉ khu vực rừng Sông Bắc, khu vực tiểu khu 10-15, giáp ranh với các xã Hòa Liên và khu vực Bàu Bàng cũng bị xâm hại nghiêm trọng. Khu vực này chỉ còn các loại cây gỗ nhỏ, thế nhưng lâm tặc cũng không chừa.
Có thể nói, rừng ở Hòa Bắc đang bị xâm hại khắp nơi, nhiều đối tượng lâm tặc đang bám sâu vào rừng, săn tìm gỗ tốt để chặt hạ, mới đây nhất vào ngày 28-11-2014, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang khi tuần tra đã phát hiện 3 đối tượng, trú tại TT- Huế đang chặt hạ gỗ rừng. Qua đấu tranh ban đầu, các đối tượng khai, lâu nay vẫn lẩn lút trong rừng, tìm chặt hạ gỗ rừng tại nhiều địa điểm, nhiều khu vực…
Trong cuộc họp bàn các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng Hòa Bắc ngày 18-11-2014, tại UBND xã Hòa Bắc, ông Phạm Phú Hành, Phó Chủ tịch UBND H. Hòa Vang nhận xét: “Các đối tượng phá rừng vô cùng phức tạp, lực lượng bảo vệ rừng đông nhưng chưa đủ mạnh…!”. Người dân ở 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí xã Hòa Bắc vô cùng bức xúc trước tình trạng rừng bị tàn phá, nhiều người dân đã đề nghị cho họ được tự lập các chốt tại các vị trí xung yếu để ngăn chặn, bảo vệ rừng.
Tại buổi trao đổi với PV vào một ngày đầu tháng 12-2014, ông Trần Văn Lương, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng trăn trở: “Kiểm lâm khổ quá nhà báo ơi…”. Nhưng ông khẳng định: “Dù khó khăn mấy cũng phải làm…”. Trao đổi với ông Lương, mới thấy nhiều khó khăn, thách thức đang đặt ra trước lực lượng Kiểm lâm, chính quyền và ngành chức năng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tại một Hội nghị ngành Kiểm lâm vào cuối tháng 11-2014 mới đây đã đánh giá, hiện cả nước có 12.000 cán bộ, Kiểm lâm viên, phải quản lý hơn 60 triệu ha rừng các loại, theo quy định mỗi kiểm lâm viên phụ trách địa bàn phải quản lý 500 ha rừng đặc dụng, đa phần ở những địa bàn hiểm trở, khó khăn, thiếu thốn đủ các mặt, không điện, không nước, không nơi ăn, chốn nghỉ.
Đó là tình hình chung, ở Đà Nẵng cũng không ngoại lệ, một Kiểm lâm phụ trách địa bàn phải mất hàng tháng trời liên tục mới có thể bao quát được 50km2 rừng, nhưng chỉ có thể thực hiện được liên tục vào mùa khô, còn mùa mưa việc địa bàn bị “bỏ trống” là điều không tránh khỏi. Bởi chính vào lúc thời tiết bất lợi, khắc nghiệt, các dịp lễ, tết lại là thời điểm lâm tặc “ra quân” phá rừng.
Hiện rừng Bà Nà- Núi Chúa có 6 trạm kiểm soát, nhưng cũng chỉ chốt chặn ở các vị trí xung yếu, ở các cửa rừng, trong khi lâm tặc có hàng trăm con đường có thể đưa gỗ ra khỏi rừng, bằng nhiều cách vận chuyển từ vác vai, trâu kéo, xe máy, đường sông… Trước tình hình trên, muốn giữ được rừng, trước hết phải nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý, bảo vệ rừng, mà trách nhiệm đầu tiên là lực lượng Kiểm lâm.
Trong vụ phá rừng Cà Nhông, đã có nhiều cán bộ ngành Lâm nghiệp, Kiểm lâm bị xem xét xử lý về việc “thiếu tinh thần trách nhiệm” vì để xảy ra vụ việc. Đó cũng là một bài học cần nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, theo ông Lương, trách nhiệm trước mắt đối với lực lượng Kiểm lâm Đà Nẵng là phải làm sao giữ được rừng Bà Nà- Núi Chúa.
Trước tình hình xâm hại rừng còn phức tạp, nhất là ở khu vực Hòa Bắc, cuối tháng 11-2014 vừa qua Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng đã thành lập tổ công tác gồm 20 thành viên, trực tiếp do một Phó Chi cục trưởng phụ trách, chia làm hai nhóm, tiến sâu vào các khu rừng xung yếu, chốt chặn liên tục từ nay đến tết nguyên đán.
Ngành Kiểm lâm cũng đã đề xuất, báo cáo với UBND TP Đà Nẵng, Sở NN-PTNT, UBND H. Hòa Vang, triển khai gấp rút các kế hoạch truy quét, chốt chặn, điều tra xử lý các điểm nóng về phá rừng; kiểm tra các xưởng cưa, chế biến gỗ tại các địa phương có rừng…
Ông Lương khẳng định: “Vấn đề quan trọng hiện nay là phải quyết tâm kiểm tra, quản lý tận gốc của rừng, có như vậy mới đảm bảo công tác quản lý, bảo vệ rừng đạt hiệu quả trong thời gian tới…”. (Công An TP Đà Nẵng 6/12) đầu trang(
“Vàng đen” - hạt của cây gỗ dổi - không xa lạ với ẩm thực Tây Bắc, đặc sản này được sử dụng làm gia vị cho các món thịt nướng, thịt hầm, giã nhỏ trộn với muối hoặc làm nước chấm... ngon tuyệt.
Khi cây dổi ở núi rừng Tây Bắc đã bị khai thác cạn kiệt, gần đây người ta phát hiện”vàng đen” có mặt ở Tây Nguyên, thế là đến lượt các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc tỉnh Đắc Lắc lâm nguy.
Mất 2 tháng kể từ khi có tin đồn, mất thêm vài tuần “bắt mối” vào những khu rừng ở huyện Krông Bông, rồi lang thang ở thị trấn Krông K’Mar tìm các điểm bán “vàng đen”, phóng viên đã chứng minh tin đồn người dân chặt phá gỗ giổi để lấy hạt về bán là có thật “trăm phần trăm”.
Sau nhiều ngày thuyết phục, PV được ông Hoàng Thanh Cung - người dân tộc Mông ở xã Cư Pui, huyện Krông Bông - dẫn đường lội rừng đến các bãi gỗ giổi bị triệt hạ. Từ thôn 12 (xã Hòa Lễ), vượt những khe suối, bám sườn núi đi khoảng 14km mới đến khu vực có tấm biển sắt ghi dòng chữ “Địa giới Vườn quốc gia Chư Yang Sin” - đã bị ai đó đập bẹp.
Từ đây trở vào, dọc đường nghe rất rõ tiếng cưa máy, tiếng cây đổ ầm ầm. Càng đi sâu vào rừng đặc dụng vườn quốc gia, giổi cổ thụ bị cưa đổ để lấy hạt càng nhiều. Bãi đầu tiên có 3 cây giổi lớn, thân cao hơn 30m bị đốn ngã, cành lá vẫn chưa kịp khô héo, trong đó một cây đường kính gốc khoảng 1m. Cả vạt rừng xung quanh chừng vài trăm mét vuông cũng bị phá tan tành do cây đổ, do người ta phát quang làm đường ra vào.
Theo ông Cung, không biết diện tích bao nhiêu, nhưng từ đây về hướng thị trấn Krông K’Mar, đi bộ hai ngày đường cũng chưa hết khu vực gỗ giổi thường xuyên bị chặt phá trong suốt vụ hạt vừa qua.
Quả đúng như vậy, đi chưa tới 1/4 quãng đường trên, mà PV đã chứng kiến tới 6 bãi gỗ giổi, với hơn 20 cây bị đốn hạ, phần lớn đường kính trên dưới 1m, dài hơn 30m. Nhưng không phải tất cả đều “đáng chết”, bởi người có kinh nghiệm thì chỉ cần nhìn tán cây, quan sát số hạt rụng dưới gốc để quyết định có hạ cây hay không.
Còn dân nghiệp dư chỉ thấy có trái là chặt cây, chặt rồi mới biết trái đã già, hạt đã vỡ hoặc rụng gần hết, chỉ thu được vài lạng, khiến cả cây giổi cổ thụ chết oan. “Không phải bà con mình không xót, nhưng vì tranh nhau nên cứ cố sức mà cưa thôi. Người Mông, người Thái, người Kinh đều thế cả” - ông Cung nói.
Hỏi gỗ giổi cũng rất có giá, sao người chặt không lấy về, ông Cung nói: “Với mục đích chỉ lấy hạt, người ta luồn rừng chứ không mở đường, chặt luôn những cây nằm dưới thung lũng sâu nên không đem gỗ ra được. Mặt khác, mang vài kilogram hạt trên người mới trốn được kiểm lâm, còn vận chuyển gỗ thì dễ bị bắt”.
Sau khi ra khỏi rừng, PV về huyện Krông Bông gặp thêm nhiều người dân khác, ai cũng biết chuyện phá rừng giổi lấy hạt rầm rộ suốt mấy tháng qua. Anh Phong - người chuyên vào Vườn Quốc gia Chư Yang Sin bắt chim thú, tìm lâm sản quý hiếm - nói: “Trong tháng 9 vừa rồi, có hai lần tôi vào đấy chặt giổi lấy hạt về bán, trong đấy người ta chặt hạ giổi tùm lum. Có chỗ hơn chục cây, có bãi gần như bị chặt quang như phát rừng làm rẫy vậy”.
Còn bà Vàng Thị Đỏ - ở xã Cư Đrăm - cho biết: “Hai tháng vừa rồi có hàng trăm người dân đổ xô vào rừng Chư Yang Sin kiếm hạt giổi, đàn bà như tôi chỉ mót quả dưới gốc giổi, nhóm nào có đàn ông là họ chặt cả cây. Chính mắt tôi thấy nhiều nhóm chặt vài chục cây, thu được cả tạ quả, bán hơn 50 triệu đồng”. Cứ theo lời bà Đỏ, để kiếm được 50 triệu đồng, người ta đã khai tử đến vài chục cây giổi cổ thụ cả trăm năm tuổi.
Tuy nhiên, ông Tống Ngọc Chung - Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin - cho rằng, khu vực gỗ giổi bị chặt phá có thể đã giao khoán cho dân xã Hòa Lễ theo Quyết định 187/QĐ-CP của Chính phủ, nên “vườn không” quản lý.
Ngược lại, ông Nguyễn Minh Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Lễ - cho biết: “Rừng của xã có một số giổi ở tiểu khu 1158, còn chỗ các anh vào là tiểu khu 1159 và 1174 thuộc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin. Trước đây vườn có văn bản đề nghị xã phối hợp kiểm tra việc chặt gỗ giổi lấy hạt, nhưng trạm 1 và trạm 2 của vườn báo là không có, nên thôi”.
Còn ông Đoàn Văn Thành - Trưởng phòng Bảo vệ rừng thuộc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông, một đơn quản lý rừng khác ở huyện Krông Bông - khẳng định: “Khu vực đó chắc chắn không thuộc Cty quản lý, vì gỗ dgiổi trong lâm phần Cty đã bị khai thác sạch sẽ từ lâu rồi”.
Vậy hàng trăm cây giổi cổ thụ bị triệt hạ do đơn vị nào quản lý, các cơ quan chức năng tỉnh Đắc Lắc cần chỉ đạo kiểm tra, làm rõ. Bởi không chỉ Krông Bông, câu chuyện tương tự đã xảy ra tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn huyện Krông Năng và cơ quan chức năng đã thống kê thiệt hại, ráo riết điều tra. (Lao Động 8/12) đầu trang(
Khoảng một tháng nay, nhiều người đổ xô vào tiểu khu 315A và 316 thuộc xã Ea Tam, H.Krông Năng, Đắk Lắk để lấy hạt của cây gỗ dổi về bán.
Giá bán hạt dổi tại H.Krông Năng hiện tại là 50 triệu đồng/tạ, sau khi vận chuyển ra các tỉnh phía bắc, giá lên tới 250 triệu đồng.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Giám đốc Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, cho biết hạt dổi chỉ là lâm sản phụ, có thể cho người dân vào thu hái nếu không xâm hại rừng. Nhưng do cây dổi có đặc điểm là thân cao và thẳng đứng, trèo lên rất nguy hiểm nên người dân đã chặt hạ cây xuống để lấy hạt. "Có 46 cây gỗ dổi đường kính từ 25 - 70 cm đã bị đốn hạ tại hai tiểu khu này, khối lượng gỗ thiệt hại khoảng 52 m3", ông Tùng nói.
Hạt dổi sau khi bóc vỏ cứng có kích thước nhỏ hơn hạt đậu phộng, có vị cay cay và thơm, được dùng làm gia vị chế biến các món nướng, hầm, giã nhỏ trộn muối hoặc làm nước chấm...
Ngày 7.12, ông Nguyễn Kỳ, Phó chủ tịch UBND H.Krông Năng, cho biết việc người dân phá rừng phòng hộ lấy hạt dổi xuất hiện từ tháng 10.2014, huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng ráo riết tuần tra, chốt chặn trên các ngả đường dẫn vào rừng. Riêng vụ chặt phá 46 cây dổi ở tiểu khu 315A và 316, hiện Cơ quan CSĐT Công an H.Krông Năng đang điều tra, xử lý. (Thanh Niên 8/12) đầu trang(
Ông Đào Xuân Liên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, ngày 6.12 cho biết UBND tỉnh này đã chỉ đạo Công an, Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan chức năng của tỉnh phối hợp điều tra làm rõ vụ phá rừng phòng hộ tại địa bàn xã Ia Chía, huyện Ia Grai.
Được biết, đây là diện tích thuộc lâm phần quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai. Trước đó, cơ quan chức năng phát hiện hàng loạt cây gỗ dầu, sến có đường kính từ 50-70 cm bị cưa hạ rải rác trong khoảng diện tích từ 5-7 ha.
Tuy nhiên, lực lượng chức năng không phát hiện, bắt giữ được những người khai thác gỗ trái phép. Kết quả điều tra hiện trường ban đầu cho thấy số gỗ trái phép trên được xác định vừa mới bị cưa hạ với khối lượng hơn 100 m3. (Thanh Niên 7/12; Lao Động 8/12, tr7) đầu trang(
Sáng 7/12, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã thuộc Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An tiến hành bàn giao hai con hổ Đông Dương (một con đực, một con cái, thuộc nhóm động vật quý hiếm 1B) cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng Hà Nội.
Ông Trần Xuân Cường, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Pù Mát cho biết, việc bàn giao được tiến hành từ 5 giờ sáng ngày 7/12, dự kiến chiều cùng ngày hai con hổ này sẽ được chuyển về đến Hà Nội để nuôi nhốt, chăm sóc lâu dài. Việc bàn giao diễn ra thuận lợi, theo đúng quy định của UBND tỉnh Nghệ An và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về bàn giao động vật rừng quý hiếm.
Trước đó, ngày 14/6, Hạt kiểm lâm huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An tiến hành bàn giao cho Vườn Quốc gia Pù Mát hai con hổ trong tình trạng sức khỏe có nhiều nguy kịch, bị tiêm thuốc mê và bị thương rất nặng.
Ngay sau khi nhận bàn giao từ Hạt kiểm lâm, Vườn Quốc gia Pù Mát đã thực hiện các biện pháp kỹ thuật để phục hồi, nuôi dưỡng, chăm sóc và đến nay cả hai con hổ đều khỏe mạnh, thích nghi được với môi trường sống tự nhiên tại địa phương.
Hai con hổ này là tang vật trong một vụ án. Đêm 13/6, trên Quốc lộ 1A đoạn qua huyện Quỳnh Lưu, Hạt kiểm lâm huyện Quỳnh Lưu phối hợp với công an huyện yêu cầu dừng xe để tiến hành kiểm tra một xe tải chạy hướng Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên lái xe đã tăng tốc bỏ chạy. Khi lực lượng chức năng rượt đuổi thì bị một số đối tượng trên xe chống đối, cản đường và vứt hai con hổ xuống đường để trốn thoát. Tại hiện trường, Hạt kiểm lâm và công an huyện phát hiện, thu giữ được hai con hổ trọng lượng 90 kg và 70 kg. (Tin Tức 7/12; Nông Nghiệp Việt Nam 8/12, tr2) đầu trang(
Liên quan đến vụ người dân phản ánh tình trạng rừng phòng hộ xung yếu thuộc BQL rừng phòng hộ Kiến Vàng quản lý ở xã Tân Ân (H.Ngọc Hiển, Cà Mau) bị chặt trắng, ngày 5.12 nguồn tin của PV cho biết Tổ thanh tra của Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau sẽ tiếp tục kiểm tra thực địa, nhằm kiểm đếm số cây rừng bị mất ở nhiều tiểu khu khác nhau thuộc BQL rừng phòng hộ Kiến Vàng vào đầu tuần tới.
Trước đó, trong các đợt kiểm tra thực địa tại Tiểu khu 120, lực lượng chức năng đã phát hiện hàng ngàn cây đước có độ tuổi từ 10 - 20 năm bị đốn hạ (tương đương hàng trăm mét khối gỗ). Nhưng người dân địa phương chưa đồng tình, họ cho rằng ở những tiểu khu khác, cây rừng còn mất nhiều hơn nên tiếp tục yêu cầu làm rõ.
Ông Lê Văn Đen (ngụ ấp Đường Đào, xã Tam Giang, H.Ngọc Hiển, một trong những người đứng đơn tố giác đến cơ quan chức năng) thông tin sau khi gửi đơn tố giác việc cán bộ thuộc BQL rừng phòng hộ Kiến Vàng cấu kết với lâm tặc chặt phá cây rừng đến nhiều cơ quan chức năng của tỉnh, gia đình ông bị một số người chửi mắng, hăm dọa trả thù. Ông Đen đã trình báo vụ việc đến công an địa phương yêu cầu có biện pháp bảo vệ an toàn cho gia đình ông. (Thanh Niên 6/12) đầu trang(
Sáng 6-12, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã có cuộc họp với sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư để nghe báo cáo điều chỉnh thủy điện Sơn Trà 1.
Đây là dự án thủy điện mà cả chính quyền lẫn người dân huyện Sơn Hà phản ứng do lo ngại mất rừng phòng hộ và ngập lụt thị trấn Di Lăng trong tương lai.
Theo chủ đầu tư (Công ty cổ phần 30-4 Quảng Ngãi), dự án hơn 1.900 tỉ đồng này đã được điều chỉnh từ 95,4ha xuống còn 75,4ha ở hai xã Sơn Lập (H.Sơn Tây) và Sơn Kỳ (H.Sơn Hà), đất rừng phòng hộ giảm từ 44,5ha xuống còn 18,2ha nhưng công suất phát điện lại tăng từ 42MW lên 60MW.
Ngoài ra chủ đầu tư cũng đã dịch chuyển đập chính lên phía thượng nguồn khoảng 7km để giảm thiểu tối đa thiệt hại, ảnh hưởng đến đất rừng. Nếu được chấp thuận thì vào giữa tháng 7-2015 công trình sẽ khởi công và hoàn thành cuối năm 2018.
Tại cuộc làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ đã thống nhất việc điều chỉnh dự án, lưu ý chủ đầu tư phải có biện pháp bảo vệ rừng trong quá trình triển khai cũng như có giải pháp hạn chế tình trạng khô kiệt vào mùa khô, bảo đảm môi sinh, môi trường hạ lưu cũng như đề nghị chủ đầu tư lưu ý đến vấn đề xả nước ở hạ nguồn vào mùa khô, đầu tư đường giao thông phục vụ dự án, kết hợp dân sinh. (Tuổi Trẻ 7/12) đầu trang(
Báo Thanh tra có bài “Thanh Hóa: Chủ tịch xã mạo chữ ký chiếm đoạt tiền bảo vệ rừng”, phản ánh việc ông Vi Hồng Thấm, Chủ tịch UBND xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn bắt tay với một số cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lò mạo chữ ký các hộ được giao khoán bảo vệ rừng chiếm đoạt gần 300 triệu đồng để chia nhau, nhưng vẫn chưa bị xử lý kỷ luật.
Ngày 24/11, Bí thư Huyện ủy Quan Sơn Lò Đình Múi có Văn bản số 605/BTT-PV, trong đó có nội dung: Sau khi nhận được Quyết định số 1365/QĐ-UBND của UBND huyện Quan Sơn về giải quyết khiếu nại của công dân bản Hạ, xã Sơn Hà, qua nghiên cứu nhận thấy, ông Vi Hồng Thấm, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND xã Sơn Hà đã vi phạm khuyết điểm đã đến mức phải thi hành kỷ luật.
Căn cứ quyết định trên, Ban Thường vụ Huyện ủy Quan Sơn đã chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy tiến hành làm quy trình xử lý kỷ luật về Đảng đối với ông Thấm. Xét nội dung, tính chất, mức độ và nguyên nhân vi phạm, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Thấm.
Căn cứ Hướng dẫn số 26-HD/BCHTW ngày 18/8/2014 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự cấp ủy tại Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, ông Thấm không cơ cấu vào cấp ủy khóa mới, nhiệm kỳ 2015 - 2020. (Thanh Tra 6/12) đầu trang(
Cuối năm 2013, PV đã có bài viết "Rừng gỗ pơmu Hoàng Liên - Văn Bàn đang bị "xẻ thịt" và tỉnh Lai Châu đã sớm vào cuộc ngăn chặn hiện tượng vận chuyển, thu gom, tiêu thụ gỗ pơmu từ Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn.
Nay tình trạng khai thác gỗ Pơ Mu lại ngang nhiên tái diễn tại khu vực bản Hua Than, xã Mường Than, huyện Than Uyên (Lai Châu) - khu vực giáp ranh hai huyện Văn Bàn (Lào Cai) và huyện Than Uyên.
Trở lại bản Hua Than, xã Mường Than, huyện Than Uyên vào những ngày cuối năm, được nghe nhiều hơn những câu chuyện của người dân xung quanh việc khai thác gỗ lậu trong rừng Quốc gia Hoàng Liên. Theo bà con nơi đây, mỗi ngày có đến hàng chục lượt người “đổ xô” vào rừng để kéo, vác gỗ về dựng nhà và bán cho các đầu nậu tại các xưởng gỗ địa phương.
Là người dân sinh sống ngay cạnh đường giao thông nội bản (tuyến đường huyết mạch nối từ Quốc lộ 32 vào bản Hua Than), chị Tráng Mai D, dân tộc Mông ở bản Hua Than chia sẻ: “Gần một tháng trở lại đây, người dân ở đâu kéo về đây lấy gỗ rất đông. Mỗi ngày có từng đoàn người đưa gỗ từ sâu trong núi về qua bản, rồi các xe máy đợi sẵn chở đi. Cứ nhìn con đường mòn phía sau bản là biết thực trạng này đang diễn ra nhức nhối đến mức nào”.
Sự bức xúc của chị D cũng là lo lắng của trưởng bản Hua Than Sùng A Vàng. Nhà trưởng bản nằm ở cuối con đường “tuồn” gỗ xuống nên những động tĩnh cũng như thời gian hoạt động, vận chuyển gỗ lậu đều được ông nắm rõ trong lòng bàn tay.
Nói đến vấn đề này, ông Sùng A Vàng thở dài: “Nạn khai thác gỗ lậu vẫn chưa dừng lại, thậm chí còn nhiều hơn trước đây. Từ đàn ông, đàn bà đến thanh niên lần lượt kéo nhau lên rừng đốn gỗ. Đàn ông còn mang lương thực, chăn màn ngủ lại rừng tiện cho việc khai thác, còn đàn bà bắt đầu đi từ 5-6 giờ sáng. Họ hẹn nhau tại điểm tập kết, giao gỗ cho nhau sau khoảng 3 tiếng leo núi, sau đó vác gỗ về. Để tránh bị lộ, “lâm tặc” còn chọn thời điểm giữa trưa và chiều muộn để vận chuyển. Phía dưới đường, nhiều xe máy sẵn sàng bốc gỗ chở đi”.
Như để chứng minh cho những gì vừa nói, trưởng bản đồng ý đưa PV đi “mục sở thị” theo những vệt dài do gỗ tạo ra trên đường mòn dựng ngược nối từ phía sau bản. Con đường này “cắm” thẳng vào cánh rừng gỗ quý Hoàng Liên. Ông Vàng cho hay, đường trước đây chỉ là tuyến dân sinh để người dân trong bản lên nương làm thảo quả. Chục năm trở lại đây, tuyến đường trở nên khó đi hơn vì bị "lâm tặc" mở rộng để dễ dàng kéo gỗ.
Theo đường mòn khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt gặp hơn chục người đang vác những tấm gỗ to và khá nặng. Thấy bóng người lạ, đoàn người ngập ngừng dừng lại. Đến đây, một thanh niên tách tốp, đi lên trước như dò xét. “Đi lấy gỗ về làm nhà thôi, không phải khai thác để bán đâu” - người thanh niên này nói với chúng tôi. Rồi như thấy không có vấn đề gì, người thanh niên này ra hiệu cho toán người phía sau tiếp tục hành trình đưa gỗ ra.
Qua quan sát, rất nhiều tấm gỗ có chiều dài trên dưới 2m, rộng từ 40-50cm, một số thanh niên còn vác cả cưa máy, mang tư trang và súng kíp theo. Chúng tôi gặng hỏi tên tuổi và địa chỉ nhưng đều nhận những cái lắc đầu. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đếm được khoảng 20 tấm gỗ vẫn còn thơm mùi nhựa... Trưởng bản Sùng A Vàng băn khoăn, không biết mỗi ngày sẽ có bao nhiêu cây cổ thụ bị lâm tặc đốn hạ.
Thực tế chính những "lâm tặc" này là người dân địa phương trong huyện Than Uyên vào khai thác. Biết rằng việc chặt phá rừng lấy gỗ là vi phạm pháp luật nhưng vì cuộc sống mưu sinh nên họ đành làm liều. Và do vậy, những cây gỗ Pơ Mu của rừng Quốc gia Hoàng Liên vẫn đang từng ngày bị đốn hạ không thương tiếc.
Theo tìm hiểu, thời điểm lâm tặc khai thác gỗ rầm rộ nhất thường vào trước những dịp lễ tết khi nhu cầu chi tiêu cho gia đình tăng lên. Và vào rưng khai thác gỗ trộm mang đi bán trở thành hình thức kiếm lời. Người khỏe có thể vác và kéo 2 tấm gỗ Pơ Mu với mỗi tấm bình quân nặng 28-30kg. Với mỗi lần trót lọt, người dân được các đầu nậu trả với giá từ 500.000 - 800.000 đồng, thậm chí cả triệu đồng, một khoản lợi nhuận cực lớn. Không chỉ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên rừng, việc khai thác gỗ lậu còn làm xáo trộn cuộc sống của bà con ở bản Hua Than khi người dân ở địa bàn khác di chuyển đến gây mất an ninh trật tự. Theo phản ánh của đồng bào nơi đây, kể từ khi việc khai thác gỗ lậu diễn ra thì những nương thảo quả cũng bị bẻ gãy.
“Vào mỗi mùa thu hoạch, bà con phải làm lán thu hái và trông để thảo quả không bị mất. Nhiều nương thảo quả còn bị gỗ làm hư hỏng không phát triển được. Mặc dù cơ quan chức năng thường xuyên kiểm soát khu vực bản Hua Than nhưng lực lượng mỏng, trong khi đó, mỗi khi xuất hiện, các đối tượng đều thông tin cho nhau để tránh bị bắt. Đã nhiều lần bà con trong bản phản ánh tình trạng khai thác gỗ trái phép này với chính quyền các cấp nhưng vẫn chưa nhận được câu trả lời. Theo tôi cần lập các trạm chốt ở vị trí đường hẹp để phần nào ngăn chặn được” - ông Trưởng bản Hua Than nói thêm.
Ở bản Hua Than bây giờ, không khó để chứng kiến "lâm tặc" ngang nhiên vác gỗ ra khỏi rừng. Hàng ngày, không biết có bao nhiêu cây cổ thụ trong rừng bị đốn hạ để "lâm tặc" thu lợi bất chính. (Tin Tức 7/12; Công An Nhân Dân 8/12, tr2) đầu trang(
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) vừa phát đi thông điệp khẩn cấp cần chung tay bảo vệ động vật hoang dã. Bởi hiện tại nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã làm thực phẩm, làm thuốc, làm đồ trang trí… ở Việt Nam đang ngày một gia tăng.
Khảo sát mới đây của Viện Xã hội học đối với hơn 1.000 đối tượng trên địa bàn Hà Nội cho thấy: Hành vi tiêu thụ sản phẩm làm từ động vật hoang dã phục vụ cho nhu cầu ăn uống, chữa bệnh, trang trí vẫn còn khá phổ biến. Tỷ lệ người đã từng sử dụng các sản phẩm làm từ động vật hoang dã chế biến thực phẩm chiếm 69%, làm thuốc là 67% và làm đồ trang trí là 12%.
Trong số những người đã từng sử dụng thực phẩm từ động vật hoang dã, có 64% người nói rằng họ sử dụng vì được mời hoặc được biếu tặng, trên 34% người trả lời do đây là loại thực phẩm “mới lạ”… dẫn đến lý do họ muốn sử dụng, chỉ có 8% người tin rằng những thực phẩm từ động vật hoang dã là bổ dưỡng cho sức khỏe. Từ đó có thể thấy, đa số người sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã là theo phong trào vì “mốt thời thượng” thay vì để chữa bệnh hay bồi bổ sức khỏe.
Còn lại với đối tượng dùng sản phẩm làm từ động vật hoang dã làm thuốc thì mục tiêu chữa bệnh lên tới 71%, còn bồi bổ sức khỏe chiếm 27%. Điều này vô hình trung thúc đẩy nhu cầu dùng sản phẩm được làm từ động vật hoang dã gia tăng, khi nó vô tình được tin tưởng sẽ là “thần dược” chữa trị nhiều chứng bệnh nan y.
Cũng theo khảo sát thì đối tượng tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã không chỉ ở nhóm người có thu nhập hay có địa vị cao trong xã hội mà còn xuất hiện ở cả đối tượng kinh doanh, buôn bán nhỏ, thậm chí là hưu trí và người cao tuổi. Trong khi đó sản phẩm làm từ động vật hoang dã lại ngày một đa dạng khi được bào chế ở nhiều dạng, bao gồm thực phẩm, thuốc hay trang sức.
Thêm nữa nguồn cung cấp sản phẩm làm từ động vật hoang dã hiện tại khá phổ biến, thậm chí còn được buôn bán công khai. Chỉ cần qua các trang mạng, khi người tiêu dùng gõ từ khóa “Thực phẩm động vật hoang dã” trên Google là có thể ra vô vàn địa chỉ cung cấp sản phẩm được làm từ “nguyên liệu” này.
Chính vì thế mà con số thống kê từ Cục Kiểm lâm năm 2013 rằng: Có 25 tấn động vật hoang dã đã bị tịch thu trong năm. Con số này tương đương với khoảng 13.400 cá thể động vật. Đến năm 2014, chỉ tính riêng quý I đã có khoảng 5,5 tấn động vật hoang dã bị tịch thu, chủ yếu đều là động vật quý hiếm như: Hổ, tê tê, ngà voi, khỉ, bò xám, tê giác… Điều đáng nói đây mới chỉ là con số dựa trên số lượng động vật hoang dã được phát hiện và tịch thu. Như vậy, con số thực tế về số lượng động vật quý hiếm bị buôn bán sẽ còn cao hơn nhiều.
Với con số khổng lồ như trên đã đẩy nhiều loại động vật hoang dã quý hiếm của Việt Nam đứng trên bờ vực của sự… tuyệt chủng. Nói về thực trạng sử dụng thực phẩm từ động vật hoang dã, TS Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học nói: “Mặc dù các thực phẩm được làm từ động vật hoang dã khá đắt đỏ nhưng chỉ vì tin tưởng vào hiệu quả của chúng mà nhiều người đã bất chấp để có được sản phẩm cho mình”.
Thế nhưng thực chất các sản phẩm được làm từ động vật hoang dã có phải là… “thần dược” hay không thì trước đó đã có rất nhiều bài học nhỡn tiền. Trong khi người dân đổ xô đi mua sừng tê giác, giá cả được đẩy đến mức... “trên trời”, biến Việt Nam trở thành một trong những thị trường tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất thế giới thì khi Bộ Y tế công bố: “Sừng tê giác không phải là một thần dược để chữa các bệnh nan y” đã trở thành “gáo nước lạnh” dội xuống những hiểu biết còn quá mơ hồ ấy.
Thêm nữa, khảo sát từ Viện Xã hội học cũng cho thấy, kiến thức về pháp luật trong bảo vệ động vật hoang dã của người dân Việt Nam còn rất hạn chế. Gần 35% cho rằng pháp luật Việt Nam không quy định xử phạt người tiêu thụ sản phẩm làm từ động vật hoang dã, 62% cho rằng chưa có ai tiêu thụ sản phẩm làm từ động vật hoang dã bị xử phạt và 2/3 số người được hỏi cho rằng mức xử phạt tiêu thụ sản phẩm làm từ động vật hoang dã theo chế tài của pháp luật còn nhẹ và chưa đủ sức răn đe.
Như vậy là đa số người dân cho rằng việc săn bắn, buôn bán động vật hoang dã là phi pháp nhưng việc tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã lại không vi phạm pháp luật. Trong khi đó, hành vi buôn bán động vật trái phép đang được đánh giá là hoạt động tội phạm có tổ chức lớn đứng thứ 4 chỉ sau buôn bán ma túy, vũ khí và buôn bán người. Và những người góp phần tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã cũng là một hành vi vi phạm pháp luật.
Theo ông Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hiệp hội Động vật Việt Nam thì hiện Nhà nước cấm sử dụng, buôn bán động vật hoang dã nhưng lại cho phép nuôi động vật hoang dã. Một khi đã cho phép nuôi thì đương nhiên người dân phải bán ra thị trường để kiếm lợi nhuận. Hiện Việt Nam có trên 400 cơ sở nuôi động vật hoang dã, riêng Hà Nội có ít nhất nửa huyện thị có các cơ sở nuôi.
Điều này đã giúp cho nhiều hộ gia đình cải thiện được kinh tế. Nhưng từ thực tế đó càng thấy để quản lý tình hình buôn bán, vận chuyển và tiêu thụ động vật hoang dã là không hề dễ. Vậy nên cơ quan chức năng cần có những chế tài quản lý thật chặt tới các cơ sở chăn nuôi này để giảm tình trạng buôn bán sản phẩm từ động vật hoang dã ra ngoài thị trường. (Năng Lượng Mới 7/12) đầu trang(
7-12, Phó Giáo sư Tiến sỹ Trần Quang Bính, Trưởng khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết, số lượng bệnh nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn phải nhập bệnh viện điều trị gia tăng khá lớn ở thời điểm Nam Bộ đang ở mùa mưa.
Tại Khoa Bệnh Nhiệt đới - Bệnh viện Chợ Rẫy hiện đang có gần 10 ca nằm viện do rắn lục đuôi đỏ cắn. Số liệu của Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy, tính từ đầu năm 2014 đến nay đã tiếp nhận gần 800 ca bị rắn cắn nhập viện và điều trị. Trong đó có gần 500 ca bị răng lục đuôi đỏ cắn, chủ yếu bệnh nhân đến từ các địa phương như Long An, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh…
Riêng trong tháng 10-2014, bệnh viện đã tiếp nhận và điều trị 90 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn, trong khi các tháng trước chỉ khoảng 50 ca. Theo bác sỹ Trần Quang Bính, đa số các trường hợp nhập viện do rắn lục đuôi đỏ cắn đều được chữa khỏi do đã có huyết thanh điều trị. (Đại Đoàn Kết 8/12, tr14) đầu trang(
Từ ngày 5 - 6.12, đoàn công tác gồm các chuyên gia thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) và Viện Sinh thái - Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm khoa học - công nghệ VN) đã về H.Mộ Đức (Quảng Ngãi).
Đoàn công tác đã thu thập thông tin từ những người bị rắn lục đuôi đỏ tấn công, đồng thời lấy mẫu vật phân tích để xác định nguyên nhân vì sao rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều bất thường ở các khu dân cư trong những tháng vừa qua. Qua đó, các chuyên gia sẽ đề xuất những giải pháp giúp người dân ngăn ngừa rắn lục đuôi đỏ.
Tại địa phương này, hơn 1 tháng qua, người dân đã phát hiện, đập chết hơn 300 con rắn lục đuôi đỏ ở các khu dân cư.
Theo thống kê của Sở Y tế Quảng Ngãi, trong tháng 10 và 11.2014, trên địa bàn tỉnh có 135 người, chủ yếu ở các huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa bị rắn lục đuôi đỏ cắn phải nhập viện điều trị. Tại BVĐK Quảng Ngãi, trong tháng 11, trung bình mỗi ngày tiếp nhận, điều trị từ 1 - 2 trường hợp bị rắn lục đuôi đỏ cắn, thậm chí có ngày đến 4 trường hợp.
Điều may mắn, không có ca nào tử vong. Dù đã chữa trị khỏi, nhưng đến giờ tiếp xúc với PV Thanh Niên, bà Trần Thị Lo (ở xã Đức Thắng, H.Mộ Đức) vẫn còn ám ảnh với rắn lục đuôi đỏ. Bà kể ngày 12.11, trong lúc đang nhổ củ mì thì bất ngờ bị rắn lục đuôi đỏ cắn vào tay phải. Hoảng hốt, bà Lo vội hất con rắn xuống, lập tức nó quay đầu cắn tiếp vào tay trái. Cùng ngày 12.11, ông Lê Văn Nghĩa (ở xã Hành Thịnh, H.Nghĩa Hành) trong lúc lùa đàn bò ra đồng đã vô tình đạp trúng con rắn lục đuôi đỏ nên bị cắn vào chân.
Tương tự, nhiều địa phương tại tỉnh Quảng Nam như: Thăng Bình, Điện Bàn, Tiên Phước, Quế Sơn… người dân cũng liên tục phát hiện hoặc bị rắn lục đuôi đỏ cắn. BS Phạm Ngọc Ẩn, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Quảng Nam, cho biết trong 10 ngày cuối tháng 11, BV đã tiếp nhận 8 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn, trong đó có 3 ca bị nhiễm độc nặng. Nhiều nơi ở Đà Nẵng, người dân phát hiện và đập chết nhiều rắn lục đuôi đỏ. BS Bùi Mạnh Hùng, Trưởng khoa Cấp cứu hồi sức BV T.Ư Huế, cho biết trong 2 tháng qua, đã tiếp nhận 16 ca bị rắn cắn. Các trường hợp đưa đến BV đều được chữa trị ổn định và đã xuất viện.
Tại Phú Yên, đã ghi nhận được gần 100 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Riêng Bệnh viện đa khoa H.Tây Hòa đã tiếp nhận, điều trị hơn 67 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn.
Tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện ở cả khu dân cư, tấn công người dân vào bất cứ lúc nào. Rắn xuất hiện trên các bụi cây quanh nhà, trong vườn khiến người dân lo lắng. Bà Nguyễn Thị Hòa (xóm 2, xã Khánh Sơn, H.Nam Đàn, Nghệ An), nạn nhân vừa bị rắn cắn, kể bà ra vườn làm cỏ thì đụng phải rắn; chưa kịp phản ứng thì đã bị nó quay đầu cắn vào tay.
Đáng sợ hơn, loài rắn này còn bò vào tận nhà dân cắn người. Gia đình anh Hà Văn Nhàn (ngụ xóm 3) có 6 người thì đến 5 người đã bị loài rắn này cắn. Anh Nhàn cho hay chị Hiền (vợ anh Nhàn) là người bị rắn cắn đầu tiên; khi chị ra đóng cửa cổng để đi ngủ thì giẫm phải rắn nên bị cắn. Tiếp đến là hai đứa con của anh khi đang hái rau ngoài vườn cũng bị rắn cắn. Mấy bữa sau, con út của anh là cháu Tiệp (8 tuổi) đang ngồi chơi trong nhà cũng đụng phải rắn và bị cắn.
Ông Hà Thanh Cường, Xóm trưởng xóm 1, xã Khánh Sơn, H.Nam Đàn, nơi xuất hiện nhiều rắn, cho biết: “Ở đây đồi núi nhiều nên thường xuất hiện nhiều loại rắn, nhưng loại rắn lục đuôi đỏ này thì chúng tôi mới chỉ thấy mấy tháng gần đây. Hầu như vườn nhà nào cũng có loại rắn này, nhà nào ít thì 1 - 2 con nhà nào nhiều thì 5 - 6 con. Chúng liên tục xuất hiện quanh nhà và cắn người đã khiến nhiều người cảm thấy rất lo lắng”.
TS Nguyễn Kim Sơn, Phụ trách Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết trong tháng 11, số bệnh nhân đến viện do rắn cắn gần như hằng ngày với 27 trường hợp; có ngày số ca vào viện do rắn cắn chiếm đến 3/10 số vào cấp cứu tại trung tâm. Bệnh nhân do rắn lục cắn cũng ghi nhận 7/27 ca bị rắn cắn vào điều trị. Số bệnh nhân đến điều trị ở Trung tâm chống độc đến từ nhiều địa phương trên toàn quốc như: Hòa Bình, Ninh Bình, Phú Thọ…
Lý giải về hiện tượng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều gần đây, Th.S Nguyễn Thị Hòa, giảng viên Khoa Tự nhiên môi trường - ĐH Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi), cho rằng nguyên nhân do môi trường sống của rắn bị thu hẹp, thức ăn như chuột, rắn mối, ếch, nhái… dần cạn kiệt nên rắn phải di chuyển từ rừng về hang hốc, bụi cây gần khu dân cư.
BS Phan Vũ Nhân, Giám đốc Sở Y tế Phú Yên, cũng nhận định: “Gần đây, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều ở Phú Yên là do môi trường sống thuận lợi. Nhiều người dân săn bắt bìm bịp (loài chim chuyên ăn thịt rắn lục - PV) nên khiến loại này giảm hẳn. Một khi thiên địch của rắn lục giảm thì môi trường sinh sản của chúng càng thuận lợi”.
Có nhiều cách lý giải khác nhau về sự gia tăng của loài rắn này như sự biến đổi về thời tiết, khí hậu, vì rừng bị chặt phá nhiều nhưng đều là những ý kiến chủ quan, chưa một cơ quan nào đưa ra thông tin chính thức. Tuy nhiên, thời điểm các nạn nhân bị rắn cắn thường vào ban đêm, tần suất bị rắn cắn tăng vào những ngày có trời nắng nóng sau đó đổ mưa buổi chiều hoặc vào mùa mưa lũ…
Ông Đoàn Hoài Nam, Cục phó Cục Kiểm lâm (Bộ NN-PTNT), cũng nêu nghi vấn do môi trường. Rắn lục đuôi đỏ bắt đầu giao phối từ tháng 3 - 5 cho đến tháng 8 - 11 thì sinh sản. Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm kéo dài, nguồn thức ăn phong phú bởi nhiều diện tích rừng non khôi phục tạo sinh cảnh tốt là yếu tố kích thích loài động vật này sinh sản nhiều hơn.
Có nhiều năm nghiên cứu rắn lục đuôi đỏ, ông Đỗ Quang Huy, Trưởng bộ môn Quản lý động vật hoang dã (ĐH Lâm nghiệp), nhận định: “Khoảng vài năm nay, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,5 - 1 độ C, thời tiết nóng ẩm kéo dài là môi trường lý tưởng cho rắn lục sinh sản. Trong khi đó, nhóm động vật thiên địch chọn rắn lục đuôi đỏ làm thức ăn như chim bìm bịp, cầy, chim ưng… giảm đi rất nhiều do con người tận diệt, săn bắt”, ông Huy nói.
Theo BS Nguyễn Tấn Đức, Giám đốc Sở Y tế Quảng Ngãi, cách sơ cứu ban đầu đối với người bị rắn lục đuôi đỏ cắn là rửa sạch vết thương và nhanh chóng chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế.
TS Nguyễn Kim Sơn đặc biệt lưu ý khi bị rắn lục cắn, tuyệt đối không trích, rạch tại vết cắn, vì có thể làm tăng chảy máu, mất máu do lúc này dưới tác động của nọc độc, nạn nhân bị rối loạn đông máu dẫn đến dễ chảy máu, khó cầm. Nếu bị rắn lục cắn ở tay, cần tháo ngay vòng nhẫn, các đồ trang sức để tránh cho các mạch máu bị nghẽn dẫn đến hoại tử do tay sưng nề bởi nọc độc.
Về phòng tránh, ông Đỗ Quang Huy, Trưởng bộ môn Quản lý động vật hoang dã (ĐH Lâm nghiệp), cho biết theo kinh nghiệm dân gian người dân trồng cây sả xung quanh nhà, dọc lối đi cũng có tác dụng kiềm chế loài rắn lục đuôi đỏ. Ông Huy khuyến cáo có thể lấy lưu huỳnh nghiền nhỏ thành bột rắc xung quanh để đuổi rắn đi xa.
Cũng theo các chuyên gia, cần tránh ngủ trên nền nhà, tránh các đống gạch vụn, rác rưởi, ụ mối... vì nơi đó rất hấp dẫn rắn. Không cầm rắn chết (ngay cả khi đầu rắn bị chặt rồi vẫn bị cắn) hoặc rắn sống. (Thanh Niên 7/12) đầu trang(
Là một trong những loài thú quý hiếm, nằm trong sách đỏ bảo tồn của thế giới và xuất hiện ở khá nhiều nơi tại Việt Nam. Loài voọc chà vá là một trong những loài động vật hoang dã đang được săn lùng rất gắt gao hiện nay và sự tồn vong của chúng đang đứng trước nguy cơ giảm sút nghiêm trọng, thậm chí là tuyệt chủng.
Mỗi ngày, hàng chục cá thế voọc quý hiếm bị săn bắt, bị giết hại khiến cho mối lo về sự tuyệt chủng của loài linh trưởng độc đáo này đang cấp thiết hơn bao giờ hết. Là một trong những vùng đất tập trung nhiều loài linh trưởng, trong đó, loài linh trưởng voọc chà vá chân đen và voọc chá vá chân đỏ là những loài đặc biệt quý hiếm, và đã được coi là vương quốc riêng của loài này, khu quần thể bán đảo Ninh Vân (huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa) đã được nhiều chuyên gia ghi nhận sự xuất hiện của loài vật này.
Theo đó, tại vùng rừng núi rộng hàng ngàn héc-ta nằm sát mé biển này có thể tồn tại khoảng hơn 200 cá thể, theo những số liệu cách đây chừng 10 năm. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian mười năm qua, không hiểu vì lý do gì mà loài vật hiền lành này bỗng chốc trở thành đối tượng săn bắt gắt gao của những kẻ săn thú rừng. Vì vậy, thực tế ngày nay, số lượng của chúng chỉ còn lại khoảng 50 cá thể hoặc ít hơn nữa, mặc dù các cơ quan chức năng đã lập ra một khu bảo tồn riêng dành cho loài vật độc đáo và rất thông minh này nhưng do địa hình rộng, nhiều cá thể vẫn không thoát khỏi bàn tay tinh quái của thợ săn.
Đánh giá về loài voọc chà vá, một nhà nghiên cứu cho rằng, đây là một trong những loài vật hoang dã đặc trưng nhất của vùng đất khí hậu nhiệt đới gió mùa. Và, cũng như nhiều loài động vật hoang dã khác, voọc chà vá cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong tự nhiên cũng như trong sự đa dạng về các loài của hệ động thực vật ở nước ta. Có thể nói, sự an nguy và tồn vong của những cá thể này ảnh hưởng rất lớn đến hệ động thực vật, môi trường xung quanh cũng như mục đích của việc cây dựng một môi trường sống thân thiện giữa các loài khác nhau trên hành tinh này. Vì vậy, khi quần thể những con voọc chà vá bị mất đi cũng có nghĩa hệ sinh thái môi trường và những loài vật khác cũng bị thay đổi theo.
Có thể nói, việc là nơi tập trung đông đúc những cá thể voọc sinh sống vừa là lợi thế, vừa là khó khăn trong công tác bảo vệ của chính quyền địa phương ở Khánh Hòa bởi ngoài vùng rừng núi nơi đây, chỉ một số ít nơi như Ninh Thuận, Kon Tum, Đắc Lắc… là có những ghi nhận về sự xuất hiện của loài voọc này trong tự nhiên. Chính vì thế, việc bảo vệ loài động vật quý hiếm này đang trở thành nhu cầu bức thiết nếu không, chỉ trong một thời gian ngắn tới, cũng như một số loài động vật quý hiếm khác, những cá thể voọc cuối cùng cũng có thể sẽ bị tiêu diệt, phục vụ cho những mục đích không lành mạnh của con người như làm thịt sấy khô để ngâm rượu, làm những món khoái khẩu khác trên bàn nhậu.
Cụ thể hơn, trong thời gian vài năm qua, tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã xảy ra hàng chục vụ săn bắt voọc chà vá bị phát hiện và xử lý nghiêm. Mặc dù vậy, do lợi ích lớn, số tiền bán một cá thể voọc có thể lên đến hàng trăm triệu đồng khiến nhiều kẻ bất chấp lợi nhuận, bất chấp những quy định của pháp luật vẫn cố tình lén lút săn bắt loài động vật hoang dã cần được bảo vệ này.
Theo một cán kiểm lâm ở Khánh Hòa thì tình trạng săn bắt loài voọc chà vá quý hiếm đã xảy ra khá lâu và vẫn thường xuyên diễn ra mặc dù những khu bảo tồn loài động vật này đã được bảo vệ gắt gao nhưng do địa hình rộng lớn, bản thân những cá thể voọc cũng thường xuyên di chuyển đi tìm thức ăn, đi tìm bạn tình mùa sinh sản nên rất khó để khoanh vùng sống của chúng.
Ngoài ra, những thợ săn ở đây hầu hết là người địa phương, am hiểu địa hình rừng núi, biết được một số tập quán sinh sống, di cư nhất định của voọc và lại có thêm một số phương tiện săn bắt hiện đại như súng, bẫy hay thậm chí là hơi độc, mồi nhử khiến nhiều cá thể voọc bị sa bẫy và vận chuyển đi nơi khác mà các cơ quan chức năng không kiểm soát hết được.
Có thể nói, nhiệm vụ bảo tồn và tiến tới là phát triển hơn nữa số lượng cá thể voọc chà vá cả chân đen và chân đỏ là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở những địa phương có loài vật này sinh sống. Theo những chuyên gia nghiên cứu về động vật hoang dã, loài voọc chà vá xuất hiện ở nước ta được chia ra làm 3 loại, gồm voọc chân đen, voọc chân đỏ và voọc mũi lệch.
Trong đó, hai loài voọc chân đen và chân đỏ là khá quý hiếm bởi đặc điểm của chúng là có bộ lông khá sặc sỡ, lại cực kỳ thông minh, chỉ xuất hiện rất ít ở khu vực Đông Nam Á mà thôi. Thời gian qua, những vụ việc về nạn săn bắt, vận chuyển trái phép những cá thể loài voọc này đã xuất khá nhiều trên giới truyền thông, cả ở nước ngoài khiến nhiều tổ chức về hoạt động bảo vệ động vật hoang dã muốn đầu tư tiền của để bảo vệ loài động vật quý hiếm này nhưng thực tế, chúng vẫn chưa thực sự được bảo vệ một cách an toàn nhất bởi bản chất sống hoang dã tự nhiên của mình.
Ngoài ra, nhiều tổ chức cá nhân ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều hành động thiết thực để bảo vệ loài động vật này như kêu gọi, tổ chức các buổi triển lãm, liên kết các tổ chức, cá nhân để mọi người cùng chung tay vì một thế giới có sự đa dạng của tất cả các loài động thực vật khác nhau. Hơn nữa, ở khu vực thành phố Đà Nẵng hiện nay đang tồn tại một trung tâm nuôi bán tự nhiên và bảo vệ loài voọc này một cách rất có hiệu quả.
Mặc dù thực tế, đây chưa phải là mô hình tốt nhất để bảo vệ những loài động vật hoang dã khi đã tách chúng ra khỏi thế giới tự nhiên nhưng trong tình hình như hiện tại, đó hoàn toàn là một giải pháp khả thi và có tính ưu việt hơn so với biện pháp khác. Có thể, từ chính những khu vực được bảo vệ và chăm sóc này, những cá thể voọc kia có thể phát triển, giao phối và sinh sản với nhau, tự phát triển đàn của chúng ngày một đông đúc hơn. Có lẽ, trong tương lai sắp tới, đây là một trong những biện pháp khả thi nhất, trước khi cho chúng được sống hoàn toàn tự do trong thế giới hoang dã tự nhiên của mình.
Theo nhiều người, ngoài những biện pháp như đã nói ở trên, để bảo vệ được loài động vật này tránh thảm họa diệt vong trong thời gian tới, ngoài việc tuyên truyền những kiến thức nhất định về tác dụng của loài động vật này đối với môi trường sống thì cần phải nâng cao chế tài xử phạt những cá nhân vi phạm, thậm chí là phạt tù những đối tượng cố tình săn bắt, vận chuyển trái phép đã lặp đi lặp lại hành vi vi phạm của mình.
Theo đó, không chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính mà các cơ quan chức năng cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa đối với những kẻ cố tình coi thường pháp luật, tàn phá môi trường thiên nhiên và ngang nhiên săn băt những loài động vật quý hiếm. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của người dân, giải thích để những người sử dụng thịt của loài voọc chà vá này hiểu rằng, bản than loài vật này cũng chỉ là một loài linh trưởng bình thường như nhiều loài linh trưởng khác ở Việt Nam chứ hoàn toàn không có khả năng chữa được bách bệnh, có thể tăng tuổi thọ như nhiều người vẫn nghĩ.
Khi ấy, giá trị kinh tế của những cá thể voọc không cao như hiện nay và những người săn băt voọc vì thế cũng không bất chấp tất cả để tìm và diệt loài động vật có sự tiến hóa rất gần với con người này. (Người Đưa Tin 5/12) đầu trang(
Ngày 7-12, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê, Hà Giang xác nhận, khoảng 60 cây gỗ nhóm V, VI thuộc địa bàn xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê bị lâm tặc cưa đổ, xẻ thành tấm lớn, dài khoảng 10 m, được chuyển ra khỏi rừng.
Trong quá trình lập biên bản, các đối tượng chở gỗ ra điều kiện thả hàng và phương tiện, nếu không sẽ báo cáo các cơ quan chức năng về số cây rừng do đơn vị kiểm lâm này quản lý bị cưa đổ.
Thương lượng không có kết quả, những đối tượng này đã trình báo số lượng gỗ, vị trí rừng bị tàn sát cho cơ quan công an. Hiện chính quyền địa phương đã tổ chức kiểm đếm, giao cơ quan công an điều tra làm rõ. (Nhân Dân 8/12, tr8) đầu trang(
Lực lượng công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông phối hợp với các đơn vị chức năng mới đây đã bắt quả tang 14 đối tượng đang vận chuyển gỗ lậu tại khu vực biên giới.
Tại hiện trường, lực lượng công an thu giữ tang vật gồm 1 xe ô tô tải biển kiểm soát 47C. 032.64, 1 xe cẩu, 1 xe du lịch 7 chỗ ngồi, 3 xe máy, 4 cưa xăng, 104 hộp gỗ, lóng gỗ (từ nhóm III đến nhóm VI, chưa xác định khối lượng).
Lực lượng công an đã tiến hành tạm giữ 14 đối tượng để tiếp tục xác minh làm rõ vụ việc. (Thời Báo Ngân Hàng 5/12, tr14) đầu trang(
Các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế vừa phát hiện thêm ba loài thực vật mới tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Cụ thể, trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm - Khoa học Việt Nam) và Viện Nghiên cứu sinh học - Công nghệ sinh học Hàn Quốc về điều tra, khảo sát nguồn đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà giai đoạn 2011- 2014, các nhà khoa học đã phát hiện thêm ba loài thực vật mới gồm sổ nước, nhược hùng nhẫn và giả mao tử, nâng tổng số loài thực vật được xem là đặc hữu của khu bảo tồn này lên 21 loài.
Công trình nghiên cứu trên đã thu thập tiêu bản và bảo quản tất cả 708 loài thực vật của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà; đồng thời mô tả, giới thiệu toàn bộ nội dung trong cuốn sách “Đa dạng thực vật Khu bảo tồn Hòn Bà, Khánh Hòa, Việt Nam” được thể hiện bằng hai ngôn ngữ Việt, Anh.
Các nhà khoa học còn cung cấp nhiều thông tin có giá trị, làm cơ sở để bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên thực vật trong phạm vi nghiên cứu.
Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà được thành lập năm 2005, cách thành phố Nha Trang khoảng 30 km theo đường chim bay về phía Tây Nam, với tổng diện tích tự nhiên trên 19.000 ha, nằm trên địa bàn bốn huyện: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
Đầu năm 2014, UBND tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà đến năm 2020. Theo đó, tỉnh dành gần 95 tỷ đồng để triển khai hơn 10 nhiệm vụ cụ thể, nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra. (VietnamPlus 5/12; Công An Nhân Dân 7/12, tr2) đầu trang(
5/12, ông Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và Đoàn công tác của tỉnh đã đến kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Theo báo cáo của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, đến nay đơn vị đã xác định được 14 vùng trọng điểm thuộc 6 xã vùng lõi với tổng diện tích 8.437 ha có nguy cơ cháy rừng ở cấp độ cực kỳ nguy hiểm.
Để nắm bắt nhanh và chính xác nhất vị trí các đám cháy rừng (nếu xảy ra) và huy động lực lượng kịp thời ứng phó với các đám cháy rừng, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã bố trí xây dựng 15 chốt phòng, chống cháy rừng trên các khu vực trọng điểm.
Đơn vị cũng tăng cường chỉ đạo các chốt phòng, chống cháy rừng, các trạm kiểm lâm và bộ phận theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, nắm bắt đầy đủ, kịp thời và thông tin hàng giờ rồi báo cáo về Ban Chỉ đạo PCCCR Vườn Quốc gia Hoàng Liên để có hướng xử lý.
Vườn Quốc gia Hoàng Liên hiện đã chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, phương tiện chữa cháy rừng, như ô tô, phương tiện liên lạc, thiết bị quan sát, bản đồ và công tác hậu cần.
Tuy nhiên, công tác phòng, chống cháy rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên đang gặp một số khó khăn như tập quán, trình độ canh tác của bà con thuộc vùng lõi, vùng đệm còn lạc hậu, tình trạng đốt nương vẫn xảy ra và đây là nguyên nhân chính gây cháy rừng.
Ngoài ra, những nguyên nhân khách quan như giao thông khó khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, lớp thảm thực, thực bì khá dày do ảnh hưởng bởi đợt mưa tuyết cuối năm 2013 khiến công tác phòng, chống cháy rừng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc triển khai thi công nhiều dự án thủy điện, công trình xây dựng, cáp treo cũng làm ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và phòng, chống cháy rừng.
Tại buổi làm việc, đại diện Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã nêu một số đề xuất, kiến nghị với UBND tỉnh.
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch tỉnh UBND Lê Ngọc Hưng nhấn mạnh: Hiện đã vào mùa hanh khô, nên công tác phòng, chống cháy rừng tại khu vực Vườn Quốc gia Hoàng Liên quản lý cần phải được coi trọng và tăng cường quyết liệt hơn. Việc cấp thiết hiện nay là các đơn vị có liên quan phải rà soát, bổ sung biển cảnh báo và các phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đặc biệt, phải tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân và khách du lịch trong công tác phòng, chống cháy rừng. Vườn Quốc gia Hoàng Liên xây dựng phương án chi tiết cho những tình huống có thể xảy ra trên thực địa để kịp thời huy động lực lượng và phương tiện tiến hành xử lý, dập tắt đám cháy ngay khi mới phát sinh.
Trước đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ngọc Hưng và Đoàn công tác của tỉnh đã đến kiểm tra công tác phòng, chống cháy rừng tại Trạm Kiểm lâm Séo Mý Tỷ, xã Tả Van, huyện Sa Pa. (Báo Lào Cai 5/12) đầu trang(
Mới đây, Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam phối hợp với Trường Cán bộ quản lý NN&PTNT 2 tổ chức bế giảng lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ kiểm lâm ngạch kiểm lâm viên khóa 19/2014.
Qua 2 tháng học tập, 66 học viên là cán bộ viên chức tại các phòng, đội kiểm lâm, ban quản lý rừng và hạt kiểm lâm thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam và Quảng Ngãi đã được bổ sung kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và kỹ năng nghiệp vụ cần thiết của công chức kiểm lâm ngạch kiểm lâm viên.
Đây là điều kiện bắt buộc đối với công chức kiểm lâm theo Quyết định số 09/2006 của Bộ Nội vụ nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Kết thúc khóa học có 100% học viên của lớp học đủ điều kiện cấp chứng chỉ. (Báo Quảng Nam 5/12) đầu trang(
Trạm Tấu là huyện vùng cao đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, diện tích ruộng nước ít, tập quán canh tác lạc hậu. Vì vậy, tình trạng chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn khá phổ biến ở một số xã.
Hầu như năm nào trên địa bàn huyện cũng xảy ra cháy rừng. Niên vụ khô hanh năm 2013 - 2014, huyện đã xảy ra 3 vụ cháy rừng phòng hộ tại thôn Tà Tầu (xã Túc Đán), thôn Háng Chi Mua, thôn Mù Cao (xã Bản Mù) gây thiệt hại gần 586ha rừng. Bởi vậy, công tác quản lý bảo vệ rừng (BVR) và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô hanh luôn là nhiệm vụ nặng nề đặt ra đối với địa phương.
Ông Nguyễn Văn Liễu - Phó chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban Chỉ đạo BVR, PCCCR huyện cho biết: Huyện có gần 40.000ha rừng, trong đó, 29.000ha rừng tự nhiên và 11.000ha rừng trồng. Do địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi cao và suối sâu, độ dốc lớn, diễn biến thời tiết phức tạp, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 10 - 11 năm trước đến tháng 4 - 5 năm sau, thường kèm theo những đợt gió lào thổi mạnh nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Xác định việc rừng không những điều hòa, ổn định khí hậu, giữ nước, bảo vệ mùa màng mà còn đem lại lợi ích từ kinh tế, góp phần quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, huyện luôn đặt các phương châm “phòng là chính, cứu chữa kịp thời, hiệu quả bảo đảm an toàn” và “4 tại chỗ” lên hàng đầu.
Ngay từ đầu vụ khô hanh năm 2013 - 2014, UBND huyện đã kiện toàn Ban Chỉ đạo BVR, PCCCR huyện, phân công nhiệm vụ cho các thành viên; chỉ đạo Ban Chỉ huy Quân sự huyện, Hạt Kiểm lâm, Công an huyện và các ban, ngành, đoàn thể bám sát cơ sở, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương kiện toàn lại ban chỉ huy BVR, PCCCR tại cơ sở, thành lập các tổ đội BVR, PCCCR; tổ chức triển khai họp thôn, bản, ký cam kết; kiểm tra, thống kê nương rẫy ở các xã; kiểm soát đốt, cưỡng chế đốt các mảnh nương, bãi chăn thả ở các khu vực có nguy cơ cao.
Đến nay, huyện đã thành lập 14 ban chỉ huy BVR, PCCCR với 301 thành viên tham gia, 12 tổ cơ động với 239 người của 12 xã, thị trấn, 69 tổ BVR, PCCCR với 746 người tại các thôn, bản; tổ chức cho gần 4.000 người ký cam kết BVR; xây dựng các bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng tại các khu vực có rừng; phối hợp với Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện tuyên truyền tại tất cả các xã, thị trấn.
Hạt Kiểm lâm huyện, Công an huyện, Ban Chỉ huy Quân sự huyện đã ký quy chế phối hợp trong công tác BVR và PCCCR. Nhờ đó, tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển, chế biến, tàng trữ lâm sản và động vật hoang dã trái phép trên địa bàn cơ bản được kiểm soát.
Mới đây, lực lượng chức năng huyện đã lập biên bản xứ lý hành chính đối tượng Sùng Chù Sử, thôn Tàng Ghênh, xã Bản Mù với số tiền 3 triệu đồng; xử lý hình sự đối tượng Giàng A Tống với mức án 3 năm tù giam về tội vi phạm quy định về PCCCR nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục, răn đe về công tác bảo vệ rừng.
Mùa khô hanh năm nay được dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ cao, dễ xảy ra các vụ cháy rừng. Với sự chỉ đạo quyết liệt, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân, Trạm Tấu sẽ quyết tâm duy trì và giữ vững độ che phủ rừng đạt trên 52%. (Báo Yên Bái 5/12) đầu trang(
5/12, tại xã Bản Liền, Bản Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện Bắc Hà đã tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng cấp xã năm 2014.
Cuộc diễn tập tập trung vào 2 nội dung chính gồm: Điều chỉnh bổ sung, triển khai kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng và hiệp đồng các lực lượng tham gia chữa cháy rừng và khắc phục hậu quả sau cháy rừng.
Theo đó, Ban Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng xã đã tổ chức họp nhận định tình hình, xác định vùng trọng điểm cháy, thông qua kế hoạch điều chỉnh bổ sung, triển khai theo phương châm 4 tại chỗ và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên. Nội dung hiệp đồng được tiến hành theo 3 giai đoạn: Giai đoạn trước khi xảy ra cháy rừng, khi xảy ra cháy rừng và kết thúc chữa cháy rừng, khắc phục hậu quả.
Với sự chuẩn bị chu đáo, cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng xã Bản Liền đã bám sát nội dung diễn tập, đảm bảo các nội dung đã đề ra.
Kết thúc cuộc diễn tập, Ban Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện đánh giá cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã năm 2014 tại xã Bản Liền đạt loại giỏi; đồng thời, đánh giá cao vai trò của các ngành, các thành viên ban chỉ đạo, cấp ủy đảng, chính quyền xã trong việc xây dựng nội dung diễn tập, vận hành cơ chế.
Thông qua cuộc diễn tập đã góp phần nâng cao vai trò chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền xã và phát huy được hiệu quả trong công tác phối hợp giữa các lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra tại địa phương. (Báo Lào Cai 6/12) đầu trang(
Mới đây, tại Hạt Kiểm lâm huyện Lục Ngạn, UBND huyện Lục Ngạn tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2014, triển khai nhiệm vụ công tác phòng chống chữa cháy rừng mùa khô năm 2015.
Ông Lê Bá Thành Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn, trưởng Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng huyện chủ trì hội nghị.
Năm 2014 dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện, sự vào cuộc tích cực của chính quyền các địa phương và các chủ rừng nên tình hình cháy rừng trên địa bàn huyện đã giảm rõ rệt cả về số vụ và mức độ thiệt hại. Hiện nay, toàn huyện có khoảng 37.000 ha rừng, trong đó trên 28.000 ha ở 20 xã có nguy cơ cháy, tập trung chủ yếu ở Kiên Lao, Tân Lập, Phong Vân, Sơn Hải, Đèo Gia...
Trước tình hình trên, Ban chỉ đạo BVR huyện đã chỉ đạo các xã có rừng và 02 chủ rừng lớn trên địa bàn huyện thành lập 27 Ban Chỉ huy BVR- PCCCR cơ sở, 169 tổ xung kích ở thôn, bản, với 1.873 thành viên sẵn sàng tham gia ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra. Công tác tuyên truyền được quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt kết quả tốt.
Kết quả, mùa khô năm 2013 -2014 đã thực hiện 8 hội nghị tuyên truyền về quản lý bảo vệ rừng và cảnh báo cháy rừng với hơn 550 lượt người tham dự; kẻ vẽ 17 bảng tin và 4 biển báo, 160 biển cấm lửa rừng… Bằng các biện pháp tích cực trong công tác PCCCR nên mùa khô năm 2013- 2014 trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 01 vụ cháy làm thiệt hại 0,5 ha rừng sản xuất. Tại hội nghị các đại biểu đã tập trung thảo luận nhằm thực hiện tốt công tác PCCCR năm 2015.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Lê Bá Thành- Phó Chủ tịch UBND huyện đánh giá cao những kết quả mà Ban chỉ đạo BVR- PCCCR huyện và các xã đã đạt được trong năm qua.
Ông yêu cầu trong thời gian tới, lực lượng Kiểm lâm cần tăng cường công tác kiểm tra từng địa phương, chủ rừng; Kiểm lâm viên phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở, chủ rừng thực hiện tốt công tác PCCCR; các cấp cơ sở cần sớm xây dựng kế hoạch, lập phương án PCCCR cụ thể, thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ, lấy sức mạnh của lực lượng cơ sở làm nòng cốt. Tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức trực quan, sinh động, nhất là tại các xã trọng điểm nhằm nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. (Lucngan.gov.vn 5/12) đầu trang(
Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Ba Mùn, Vườn Quốc gia Bái Tử Long (Vân Đồn) đã cứu hộ thành công và thả về tự nhiên hàng trăm cá thể động vật hoang dã, quý hiếm.
Là một trong số những trung tâm cứu hộ động vật hoang dã có tỷ lệ cứu hộ sống cao trong cả nước, toàn bộ động vật hoang dã do trung tâm cứu hộ thả về tự nhiên đều được chăm sóc sức khoẻ tốt, phục hồi bản năng hoang dã, góp phần làm phong phú về số lượng cá thể loài, bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long (VQGBTL) .
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Ba Mùn nằm trên đảo Ba Mùn, cách bờ biển xã Minh Châu khoảng 2km. Đảo Ba Mùn có diện tích hơn 2.000ha, là nơi cư trú của nhiều cá thể động vật quý hiếm như trăn gấm, báo lửa, khỉ vàng, tê tê, tắc kè... Từ năm 2008-2009, bằng nguồn vốn của Trung ương, VQGBTL đã xây dựng Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Ba Mùn trên diện tích 1ha.
Trung tâm là nơi tiếp nhận những động vật hoang dã mà các cơ quan chức năng trong tỉnh thu giữ của lâm tặc, các đối tượng buôn lậu, sau khi chăm sóc chúng khoẻ mạnh sẽ thả chúng về sống tại môi trường tự nhiên.
Lần thứ 3, được cùng các lực lượng chức năng tham gia thả động vật hoang dã về với tự nhiên trên đảo Ba Mùn. Đợt thả động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên lần này bao gồm 12 cá thể rùa Răng, tên khoa học là Hieremys annandalii và 4 cá thể rùa Trung bộ, tên khoa học là Mauremys annamensis do ngành chức năng bắt giữ tại Móng Cái vào tháng 8 năm nay. Sau thời gian 3 tháng chăm sóc, toàn bộ 16 cá thể rùa này đều khoẻ mạnh và được thả về tự nhiên tại suối Vạn Lau, đảo Ba Mùn.
Ông Khúc Thành Liêm, Giám đốc Trung tâm cho biết: Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã cứu hộ thành công nhiều loài động vật quý hiếm như: Vích, rùa, rắn hổ mang chúa, gấu ngựa, chồn, cáo, cầy hương, mèo rừng, khỉ... Hiện tại, Trung tâm đang chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều loài động vật hoang dã như gấu, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài, nhím, rùa 3 gờ…
Sau khi phục hồi sức khoẻ và bản năng hoang dã, chúng sẽ được thả về với tự nhiên. Việc chăm sóc các loài động vật hoang dã khi mới tiếp nhận là một công việc hết sức khó khăn. Hầu hết, động vật hoang dã tiếp nhận từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh về Trung tâm, tình trạng sức khoả rất yếu do bị săn bắt, nhốt vận chuyển dài ngày. Cá biệt có cá thể động vật đã kiệt sức và bị strees rất nặng, khi tiếp nhận về chúng gần như bỏ ăn.
Lúc này, cán bộ nhân viên Trung tâm sẽ phân loại động vật theo tình trạng sức khoẻ và áp dụng các biện pháp cứu chữa phù hợp. Cắt cử ca theo ngày và đêm, áp dụng phác đồ điều trị phù hợp để phục hồi sức khoẻ và bản năng tự nhiên cho từng loài. Mỗi loài khác nhau, trình trạng sức khoẻ khác nhau được áp dụng các biện pháp cứu chữa khác nhau như tiêm kháng sinh, truyền huyết thanh, điều trị về tâm lý. Có hai bệnh thường gặp nhất là bệnh đường ruột và bệnh hoảng sợ. Trung tâm cứu hộ vừa điều trị bệnh, chăm sóc sức khoẻ và “điều trị tâm lý” cho các loài động vật. Đây được ví như một bệnh viện phục hồi chức năng động vật hoang dã...
Hiện nay, Trung tâm có 5 người, nhưng hàng ngày, chỉ riêng chuyện lo thức ăn cho mỗi loài cũng rất vất vả bởi mỗi loài đòi hỏi một thức ăn khác nhau, như loài rùa đầu to, chỉ quen sống khu vực nước suối có rêu, nhiệt độ khoảng 20 độ C, ăn tép còn sống; rùa hộp thì chỉ ăn ốc; rùa ba gờ thì chỉ ăn hoa, quả; diều hoa, mèo rừng, kỳ đà thì ăn thịt, cá… Vì vậy, hàng ngày cán bộ Trung tâm được phân công cụ thể, người buổi tối đi câu cá, vừa là thức ăn cho người, vừa là thức ăn nuôi mèo rừng, diều hoa, kỳ đà.
Mặc dù được đánh giá là Trung tâm có tỷ lệ cứu hộ đạt trên 80%, cao nhất so với các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã trong cả nước nhưng hiện nay, tại Trung tâm vẫn còn rất nhiều con thú được “tạm trú” trong thời gian khá dài, thậm chí “thường trú” vĩnh viễn và được chăm sóc sức khoẻ suốt đời. Mặc dù đã được chữa trị hết bệnh, nhưng sẽ không bao giờ được trả về với tự nhiên bởi thân thể của chúng không còn lành lặn, nếu trở lại cuộc sống hoang dã khắc nghiệt, chúng khó có thể sinh tồn. Đó là trường hợp 3 chú gấu ngựa được nuôi dưỡng suốt 16 năm qua nên đã mất khả năng săn mồi, khi bị đói, rất dễ sa vào bẫy của lâm tặc và rất dễ bị các loài thú khác tấn công.
Chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận và cứu hộ 4 đợt động vật hoang dã từ Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, điều trị bệnh và phục hồi sức khoẻ cho hàng trăm cá thể động vật hoang dã bao gồm: 2 cá thể mèo rừng, 18 cá thể kỳ đà vân, 143 cá thể rùa 3 gờ, 6 cá thể rùa đầu to, 13 cá thể rùa Trung bộ, 13 cá thể rùa răng, 3 cá thể chim diều hoa Miến Điện.
Số động vật trên đã được cứu hộ phục hồi sức khoẻ tốt và đã tổ chức thả 3 đợt động vật hoang dã về với tự nhiên, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Từ những thành công này, Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã sẽ chuẩn bị tốt nhân lực, cơ sở vật chất và cơ số thuốc chữa bệnh để sẵn sàng tiếp nhận cứu hộ các loài động vật hoang dã từ các ngành chức năng trong tỉnh bàn giao, quyết tâm nâng tỷ lệ cứu hộ động vật hoang dã lên trên 90%. (Báo Quảng Ninh 6/12) đầu trang(
Quần thể danh thắng Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới với những giá trị nổi bật về văn hóa và thiên nhiên. Bên cạnh những giá trị đặc biệt ấy thì đa dạng sinh học cũng là một trong những niềm tự hào của Tràng An cần được tăng cường quản lý và bảo tồn trong thời gian tới.
Quần thể danh thắng Tràng An nằm trong diện tích rừng đặc dụng Hoa Lư là nơi có sự đa dạng sinh học cao với 2 dạng hệ sinh thái chính là hệ sinh thái trên núi đá vôi và hệ sinh thái thủy vực. Đa dạng sinh học ở Tràng An thể hiện ở sự đa dạng về thành phần loài, đa dạng về nguồn gen, đặc biệt trong đó có nhiều loài động, thực vật đặc hữu, quý hiếm. Về thực vật, đến nay, đã thống kê được tổng cộng 134 họ với 384 chi và 577 loài khác nhau.
Trong số các loài thống kê được thì có tới 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ và 7 loài lần đầu tiên ghi nhận cho hệ thực vật Việt Nam như: Sữa hoa vàng, Mã đâu linh hải nam hay Tầm cốt phong…ở khu vực Quần thể danh thắng Tràng An còn phát hiện và thống kê được 311 loài thuộc 240 chi, 105 họ thực vật bậc cao có mạch có thể dùng làm thuốc. Một số cây thuốc được coi là quý, thường xuyên có mặt trên thị trường hiện nay như: Bình vôi, Vương tùng, Kim ngân, Hoàng nàn, Mài núi, Huyết giác, Bách bộ…
Bên cạnh hệ thực vật phong phú, các loài động vật ở Tràng An cũng vô cùng phong phú: Động vật thủy sinh trong vùng ngập nước bao gồm 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy, đặc biệt ở Tràng An có loài rùa cổ sọc (Ocacliasinensis) được coi là động vật quý hiếm cần được bảo vệ. Động vật trên cạn chưa có thống kê đầy đủ nhưng hiện nay nhân dân địa phương cũng như khách du lịch vẫn còn gặp những bầy khỉ, sơn dương, cầy đổi màu, tê tê, tắc kè, rái cá, mèo rừng, các loài chim như sáo, vẹt, le le, đặc biệt là rắn có mào trên đầu và phượng hoàng đất- một loài chim quý hiếm sống thành bầy đàn.
Có thể khẳng định, với vị trí địa lý đặc biệt, là nơi giao thoa của nhiều luồng động, thực vật, khu vực Quần thể danh thắng Tràng An là nơi hội tụ của các loài và hệ sinh thái, tạo nên sự đa dạng sinh học cao mang tính đặc thù và tiêu biểu cho hệ sinh thái núi đá vôi của Việt Nam. Chính sự đa dạng sinh học đã tạo nên môi trường cảnh quan tươi đẹp nơi đây, đóng góp quan trọng trong du lịch sinh thái cũng như nghiên cứu khoa học.
Vì vậy, thời gian qua, tỉnh ta trực tiếp là Ban Quản lý danh thắng Tràng An, Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư đã có nhiều biện pháp nhằm ưu tiên bảo tồn các giá trị sinh học nơi đây. Bên cạnh việc đưa ra những kế hoạch cụ thể nhằm hạn chế tối đa các hoạt động có thể gây tác động xấu đến môi trường: loại trừ các tác động xấu của hoạt động du lịch, chặt phá rừng, săn bắn chim hay khai thác thủy sản quá mức…, Ban Quản lý danh thắng Tràng An còn phối hợp với các nhà khoa học tiến hành khảo sát những địa điểm có sự đa dạng sinh học cao, những nơi có hệ sinh thái điển hình để khoanh vùng quản lý, bảo vệ với điều kiện riêng.
Đồng thời phối hợp cùng với các ban, ngành, đơn vị chức năng liên quan của tỉnh triển khai tổ chức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng; xây dựng ý thức của cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ những giá trị của Tràng An. Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành nhằm phát hiện và kịp thời xử lý những hành vi vi phạm, ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học.
Được biết, thời gian tới, Ban Quản lý danh thắng Tràng An còn tính tới việc nhân giống một số loài đặc hữu, quý hiếm để nuôi, trồng bổ sung, hạn chế nguy cơ tuyệt chủng cũng như lựa chọn một số địa điểm thích hợp để xây dựng hệ sinh thái nhân tạo và đưa một số loài động thực vật này vào nuôi trồng, bảo vệ. (Báo Ninh Bình 5/12) đầu trang(
Hơn 1 năm nay, Chi cục Kiểm lâm đã ứng dụng hiệu quả phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Qua đó góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đến từng cơ sở, góp phần giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra.
15 giờ ngày 3-2-2014, trong khi ông Hà Văn Hùng, tổ 6, phường Ỷ La (TP Tuyên Quang) đốt vàng mã đã gây cháy lan sang diện tích 0,51 ha rừng trồng gần nhà. Những dấu hiệu của đám cháy đã nhanh chóng được chụp ảnh vệ tinh. Đồng thời, địa điểm cháy đã được phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng xác định, có thông báo tin nhắn cụ thể đến các đồng chí trong Thường trực Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) từ tỉnh đến cơ sở.
Ngay sau khi nhận được thông báo, Hạt Kiểm lâm thành phố đã nhanh chóng phối hợp với chính quyền cơ sở, chỉ đạo kiểm lâm viên phụ trách địa bàn phối hợp với nhân dân, các tổ đội PCCCR tại tổ dân phố nhanh chóng triển khai các biện pháp chữa cháy.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thành phố Tuyên Quang cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 2 vụ cháy rừng. Ngay sau khi đám cháy xảy ra, lãnh đạo Hạt kiểm lâm thành phố đã nhận được tin nhắn từ phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và có sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời trong công tác chữa cháy. Vì vậy, 2 đám cháy đều nhanh chóng được lực lượng kiểm lâm, tổ đội PCCC địa phương và nhân dân dập tắt trong thời gian nhanh nhất.
Thực hiện Dự án nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng kiểm lâm Tuyên Quang, giai đoạn 2009-2015, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai 2 phần mềm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn, gồm phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và phần mềm phát hiện điểm nghi cháy rừng.
Trong đó, phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng thông báo tin nhắn cụ thể địa điểm cháy đến lãnh đạo Cục Kiểm lâm và Hạt trưởng các Hạt Kiểm lâm trên địa bàn tỉnh. Đối với phần mềm phát hiện điểm nghi cháy rừng sẽ thông qua các nhân tố khí tượng gồm độ ẩm, lượng mưa và nhiệt độ kết hợp trong thời gian dài. Từ đó, phần mềm sẽ nhanh chóng tính ra công thức để phát hiện điểm nghi cháy rừng. Địa điểm nghi cháy cũng được thông báo đến số điện thoại đã được đăng ký của các đồng chí lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các Hạt kiểm lâm trên địa bàn.
Các phần mềm cảnh báo cháy rừng giúp phát hiện sớm địa điểm có nguy cơ cháy rừng, theo đó ban thường trực PCCCR các huyện, thành phố sẽ nhanh chóng nắm bắt và chỉ đạo xác minh điểm có nguy cơ cháy rừng. Nếu điểm có nguy cơ cháy là chính xác, Hạt Kiểm lâm các địa phương sẽ nhanh chóng chỉ đạo triển khai công tác PCCCR kịp thời.
Hiện nay, 2 phần mềm đang được áp dụng hiệu quả đến lãnh đạo 10 Hạt Kiểm lâm trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3 hạt kiểm lâm rừng đặc dụng. Hằng năm, thời gian cảnh báo nguy cơ cháy rừng vào mua khô, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Từ đầu năm đến nay, phần mềm đã giúp cảnh báo, phát hiện sớm 5 vụ cháy rừng trong toàn tỉnh, góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR từ tỉnh đến cơ sở.
Bên cạnh việc ứng dụng hiệu quả các phần mềm cảnh báo cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phân công, đôn đốc kiểm lâm viên bám sát địa bàn, thường trực trong công tác PCCCR. Nhanh chóng phát hiện điểm cháy một cách chính xác để huy động lực lượng chữa cháy kịp thời, nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR. (Báo Tuyên Quang 6/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tin từ Sở NN&PTNT Đà Nẵng cho biết, Sở này vừa tiến hành phân cấp, phân giao quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn theo Quyết định 7262/QĐ-UBND của UBND TP Đà Nẵng về phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cho UBND các quận, huyện, phường, xã có rừng và đất lâm nghiệp cùng các Quyết định của UBND TP về phân giao rừng và đất lâm nghiệp cho các UBND xã, phường, BQL rừng và Hạt Kiểm lâm.
Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Đà Nẵng quy hoạch sử dụng đến năm 2020 theo Quyết định 5924/QĐ-UBND ngày 27/8/2013 của UBND TP Đà Nẵng bao gồm 57.195,5 ha rừng và đất rừng quy hoạch cho lâm nghiệp; 5.734 ha rừng quy hoạch sử dụng khác đã được phân giao đến UBND các xã, phường, BQL rừng và Hạt Kiểm lâm.
Trong đó có 31.114,5 ha rừng và đất rừng đặc dụng được giao cho 1 BQL rừng và 2 Hạt Kiểm lâm trực tiếp quản lý; 9.626,4 ha rừng và đất rừng phòng hộ được giao cho 6 UBND xã trực tiếp quản lý; 16.454,6 ha rừng và đất rừng sản xuất được giao cho 5 UBND phường và 7 UBND xã trực tiếp quản lý.
Ngoài ra, UBND TP Đà Nẵng cũng giao 5.734,0 ha rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho 9 UBND phường và 8 UBND xã để trực tiếp quản lý trong khi Nhà nước chưa giao cho các tổ chức, cá nhân.
Theo Sở NN&PTNT Đà Nẵng, đây là lần thứ 2, kể từ khi chia tách tỉnh năm 1997, UBND TP Đà Nẵng thực hiện việc phân cấp trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cho chính quyền cơ sở; phân giao lâm phận 3 loại rừng đặc dụng - phòng hộ - sản xuất và rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho các địa phương, đơn vị để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Giao Thông 7/12) đầu trang(
Ông Lê Văn Dành, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, cho biết sản phẩm từ gỗ là một trong bốn mặt hàng có tổng giá trị xuất khẩu lớn của Đồng Nai, chỉ sau giày dép, dệt may, xơ sợi dệt.
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tháng 11/2014 ước đạt 103 triệu USD tương đương so với tháng 10/2014, tăng khoảng 17% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng của năm, xuất khẩu các mặt hàng gỗ ước đạt 884 triệu USD, tăng khoảng 9,1% so với cùng kỳ.
Sản phẩm gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gồm sản xuất là đồ gỗ nội thất, ván ép đã có mặt trên 80 thị trường thế giới, trong đó các thị trường chủ lực là Hoa Kỳ đạt kim ngạch xuất khẩu 568 triệu USD, Nhật Bản 103 triệu USD, Hàn Quốc 88 triệu USD, Canada 37 triệu USD, Australia 29 triệu USD, Anh 26 triệu USD...
Lý do khiến đồ gỗ Việt Nam đã và đang ngày càng được ưa chuộng tại các thị trường lớn là do đồ gỗ Việt Nam có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả trong và ngoài nước những năm qua cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước phát triển.
Theo ông Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở gốm mỹ nghệ Thành Nhân ở ấp Tân Bắc, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, từ tháng Tám đến nay, mặt hàng mộc mỹ nghệ của cơ sở này sản xuất không đủ xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số nước khác.
Cơ sở này đã sản xuất hàng trăm mẫu mã đồ gỗ trang trí trong nhà và là cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất huyện Trảng Bom xuất khẩu trên 90% sản phẩm.
Ông Phan Văn Bình, Chủ tịch Hiệp hội chế biến gỗ tỉnh Đồng Nai, cho hay Hiệp hội đã duy trì và thường xuyên phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại giúp các doanh nghiệp khảo sát thị trường, tham gia hội chợ, gặp gỡ tham tán thương mại.
Cùng với việc tổ chức tập huấn về các văn bản liên quan đến xuất nhập khẩu, hướng dẫn xây dựng chứng chỉ rừng cho một số doanh nghiệp xuất khẩu, Hiệp hội cũng điều tra và nắm tình hình việc thu gom nguyên liệu gỗ của Trung Quốc và kiến nghị Nhà nước có hướng giải quyết việc mua phá giá nguyên liệu, xuất khẩu nguyên liệu thô làm đảo lộn hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong Hiệp hội còn đẩy mạnh công tác trồng rừng tại nhiều tỉnh trong nước và tại Lào, Campuchia nhằm tạo nguồn nguyên liệu dồi dào.
Trong thời gian tới, Hiệp hội sẽ tăng cường công tác thông tin hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, xây dựng liên kết chuỗi để tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Cũng theo Sở Công Thương Đồng Nai, dự kiến xuất khẩu gỗ trong 2015 sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt. Hiện nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã nhận được đơn đặt hàng đến quý 2/2015. (VietnamPlus 7/12; Tin Tức 8/12, tr12) đầu trang(
Hơn ba năm qua, hàng chục hộ dân ở các thôn Thuận Tân, Thuận Thành và Thuận Tiến, xã Thuận Hạnh (Đác Song, Đác Nông) phải sống trong môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng do bụi gỗ và nước thải của Nhà máy sản xuất gỗ MDF của Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ - MDF Long Việt (gọi tắt là Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt) gây ra.
Mặc dù, người dân đã nhiều lần phản ánh với lãnh đạo nhà máy và gửi đơn kêu cứu đến nhiều cấp, nhiều nơi nhưng đến nay tình trạng gây ô nhiễm môi trường ở đây vẫn chưa được giải quyết.
Đến khu vực bị ô nhiễm môi trường do Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt gây ra nằm ngay cạnh quốc lộ 14C thuộc xã Thuận Hạnh, được nhiều người dân tìm gặp, phản ánh sự bức xúc của mình.
Ông Bạch Hưng Trung, ở thôn Thuận Thành, xã Thuận Hạnh có nhà ở sát ngay bên cạnh tường rào của nhà máy cho biết: "Kể từ khi Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt được xây dựng và đi vào hoạt động hơn ba năm nay đã xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây hôi thối nồng nặc ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng chục hộ dân sống chung quanh nhà máy. Thậm chí những lúc trời mưa to, nước thải đen ngòm, đặc sệt, hôi thối từ nhà máy tràn qua quốc lộ 14C, chạy vào khu dân cư, chảy xuống ao, hồ, thấm xuống giếng sinh hoạt của người dân.
Cùng với nước thải là bụi gỗ từ nhà máy bay mù mịt vào khu dân cư, mỗi khi nhà máy hoạt động sản xuất. Bụi bám đầy nhà dân từ bàn, ghế, giường, chiếu, bếp, xoong nồi... ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và làm đảo lộn cuộc sống của người dân. Mặc dù chúng tôi đã làm đơn kêu cứu gửi đến nhiều cấp, nhiều nơi nhưng không hiểu vì sao đến nay vẫn chưa có đơn vị nào quan tâm xử lý, còn nhà máy vẫn hoạt động sản xuất bình thường?".
Do ở gần nhà máy, vừa ảnh hưởng bởi nguồn nước bị ô nhiễm, vừa hít phải bụi gỗ của Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt cho nên bà Võ Thị Dung, vợ ông Bạch Hưng Trung bị bệnh viêm phế quản, thường xuyên bị tức ngực, mất ngủ... phải đi TP Hồ Chí Minh chữa trị nhiều lần, nhưng đến nay vẫn chưa khỏi.
Bà Dung than thở: Để giảm bớt sự ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình, trên giường ngủ, tôi phải che chắn tấm bạt cẩn thận và may những tấm vải che chắn quanh giường... thế nhưng bụi gỗ vẫn bám đầy các vật dụng trong nhà, sợ nhất là khi gặp những cơn gió to, bụi gỗ ập vào đầy nhà gây ngột ngạt khó thở, không thể nào ngủ được. Sống kiểu này chắc người dân chúng tôi chết sớm thôi!
Theo phản ánh của hàng chục hộ dân ở thôn Thuận Thành, Thuận Tân, Thuận Tiến, xã Thuận Hạnh thì ở các khu dân cư không có chỗ nào không có bụi, tất cả mọi nơi trong nhà từ nóc nhà đến nền nhà đều bị bụi bám dày hàng chục mi-li-mét, mặt đất mầu đỏ biến thành mầu trắng do bụi của nhà máy thải ra. Các loại cây trồng, nhất là cây cà-phê bị bụi bám vào gây giảm năng suất mạnh, vào vụ thu hoạch thuê người làm, nhưng không ai dám vào vườn cả.
Ở các khu dân cư gần nhà máy, trong không trung lúc nào cũng có bụi bay lơ lửng như một màn sương mù bủa vây người dân ở đây. Cùng với bụi là Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt xả nước thải chưa qua xử lý đặc sệt, đen ngòm bốc mùi hôi thối ra môi trường, nước thải chảy khắp mọi nơi... Lo sợ nguồn nước giếng sinh hoạt bị ô nhiễm cho nên một số hộ dân phải lái xe cày đi xin nước nơi khác về sử dụng.
Ông Nguyễn Tấn Anh, trưởng thôn Thuận Thành cho biết: Trước tình trạng Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong các cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND huyện, tỉnh và trong các cuộc giao ban của xã, thôn đã nhiều lần đề nghị lãnh đạo xã, huyện và tỉnh yêu cầu lãnh đạo Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt có biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo đảm môi trường sống cho người dân nhưng đến nay tình trạng ô nhiễm vẫn chưa được khắc phục, thậm chí còn ô nhiễm nặng hơn.
Quá bức xúc, nhiều lần người dân kéo đến nhà máy để kiến nghị, gây áp lực thì được lãnh đạo nhà máy hứa sẽ khắc phục bụi, xử lý nước thải, giảm tiếng ồn, nhưng đã hơn ba năm qua, tình trạng ô nhiễm do nhà máy này gây ra vẫn không giảm, bụi và nước thải không qua xử lý ngày càng nhiều hơn.
Mặc dù người dân địa phương hết sức bức xúc, nhưng đại diện Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt lại cho rằng, trước đây đoạn đường từ Ngã ba đồn 8, quốc lộ 14C có ống cống dẫn nước mưa, tuy nhiên khi mở rộng đường cống bị bịt lại không thoát nước được dẫn đến tình trạng ô nhiễm. Hiện, nhà máy đang tái sử dụng nước sau khi được lắng đọng tại bể lắng, nước thải sau khi chứa tại hồ sẽ được tận dụng tưới cây xanh bên trong khuôn viên nhà máy cho nên khi trời mưa, nước chảy theo địa hình từ cao xuống khu vực thấp...
Vì vậy, nhà máy sẽ tiếp tục đầu tư hệ thống xử lý nước thải, bùn thải và tuần hoàn tái sử dụng nước. Trong thời gian xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải, nhà máy sẽ đào thêm hồ chứa để lắng trong và tái sử dụng, hố thu gom nước mưa, bể lắng lọc và xử lý bảo đảm đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả nước thải ra môi trường. Việc xử lý này diễn ra trong thời gian ba tháng...
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đác Nông Hoàng Duy Chuyển khẳng định: Nội dung người dân phản ánh Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của hàng chục hộ dân ở xã Thuận Hạnh, huyện Đác Song là có cơ sở.
Bởi ngày 28-10 vừa qua, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đác Nông phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra công tác quản lý, xử lý chất thải của Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt. Qua kiểm tra, đoàn đã phát hiện có năm điểm xả thải từ hàng rào của nhà máy ra phía khu vực quốc lộ 14C, trong đó bốn điểm có nước rỉ mầu đen. Tại thời điểm kiểm tra, nhà máy đang xả nước thải vào hệ thống xử lý nước thải của nhà máy.
Tuy nhiên, hệ thống này chưa được xây dựng hoàn thiện theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, mới chỉ có một hồ chứa nước thải có lót lớp chống thấm HDPE, còn hai hồ chứa không có lót đáy. Các hồ chứa nước thải sản xuất của nhà máy đã đầy và có nguy cơ tràn ra ngoài bất cứ lúc nào khi trời mưa. Tại khu vực bên ngoài tường rào của nhà máy dọc theo quốc lộ 14C có một khối lượng lớn nước mầu đen đọng lại tại mương nước chứa tự nhiên...
Đoàn kiểm tra đề nghị lãnh đạo nhà máy khắc phục ngay tình trạng ô nhiễm như hiện tại, trước mắt yêu cầu tuyệt đối không được xả nước thải ra ngoài quốc lộ 14C, bịt các điểm xả nuớc thải ra môi trường; có biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường ngoài hàng rào nhà máy và có giải pháp bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường chung quanh khu vực nhà máy... tránh làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Người dân cho rằng, thời gian qua lãnh đạo nhà máy đã hứa nhiều lần nhưng vẫn không xử lý hoặc có xử lý thì tình trạng ô nhiễm cũng chỉ giảm trong một thời gian ngắn rồi lại tái diễn. Vì vậy, các ngành chức năng cần tham mưu cho UBND tỉnh Đác Nông xử lý dứt điểm tình trạng nước thải, bụi gỗ và khí thải của Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt gây ô nhiễm môi trường nghiệm trọng, không để người dân bức xúc khiếu kiện đông người, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. (Nhân Dân 8/12, tr4) đầu trang(
Nhiều năm qua người dân xóm Thọ Thắng (xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Lưu) cùng với hai trường tiểu học và mầm non của xã này phải hứng chịu ô nhiễm nghiêm trọng từ cơ sở chế biến gỗ Cừ Thơ “mọc” lên ngay trong khu dân cư...
Theo phản ánh của hàng chục hộ dân sống tại xóm Thọ Thắng, xưởng mộc Cừ Thơ lúc đầu chỉ là một xưởng cưa xẻ gỗ nhỏ, nằm lọt thỏm trong khu dân cư do gia đình ông Cừ tận dụng vườn nhà để mở xưởng. Tuy nhiên, từ khoảng vài năm nay do nguồn hàng lớn dần nên gia đình ông Cừ đã mở rộng xưởng với quy mô lớn hơn. Vì thế đã gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Lần theo phản ánh của người dân, những gì PV chứng kiến về tình trạng ô nhiễm môi trường do xưởng chế biến gỗ này gây ra là hoàn toàn có cơ sở.
Theo quan sát, xưởng cưa này nằm ngay trong khuôn viên nhà ông Cừ với diện tích khoảng trên dưới 1000m2. Khi chúng tôi có mặt tại xưởng gỗ này, hàng chục công nhân đang làm việc cưa xẻ, trong đó nhiều công nhân đang tiến hành khâu phun sơn gây mùi hôi, hắc rất khó chịu. Mùi hôi này bao trùm khu dân cư rộng lớn khi công đoạn phun sơn bắt đầu. Ngay sát đường xóm là 6 chiếc ống xả bụi xả thẳng ra môi trường, gây bụi bặm đối với nhiều hộ dân xung quanh cũng như người tham gia giao thông.
Bà N.T.T, một người dân sống cách xưởng chế biến gỗ này khoảng vài chục mét bức xúc, cho biết: “Năm 2010 xưởng gỗ của ông Cừ bắt đầu hoạt động với quy mô lớn như bây giờ. Từ ngày đó người dân xóm chúng tôi rất cơ khổ bởi tình trạng ô nhiễm khói bụi, mùi hôi thối phát ra từ quá trình phun sơn. Hơn nữa, tiếng ồn phát ra trong quá trình đơn vị này sản xuất cũng ảnh hưởng lớn đến người dân chúng tôi”.
Cũng theo phản ánh, ngoài việc gây bụi bặm, mùi hôi thối và tiếng ồn, Cơ sở sản xuất Cừ Thơ còn tiến hành xả nước thải đen ngòm ra một con mương nhỏ phía sau bãi đất hoang nằm trước mặt trường Tiểu học Quỳnh Thọ và sát đường cái. Nguồn nước thải này cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Được biết, Cơ sở sản xuất gỗ Cừ Thơ còn nằm chung tường với Trường mầm non xã Quỳnh Thọ, vì vậy quá trình hoạt động sản xuất của đơn vị nói trên đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động dạy và học của giáo viên và các cháu học sinh nơi đây, đặc biệt là nguy hại đến sức khỏe của các cháu nhỏ thì không ai có thể lường hết được.
Cô Nguyễn Thị Sửu – Hiệu trưởng Trường mầm non Quỳnh Thọ cho hay, việc dạy và học của nhà trường không thể diễn ra bình thường như trước khi xuất hiện cơ sở Cừ Thơ. Lý do bởi vì mùi hôi trong quá trình phun sơn để hoàn thiện các sản phẩm mộc của đơn vị này. Hơn nữa, bụi bặm trong quá trình sản xuất cũng khiến cho giáo viên và học sinh hết sức cơ khổ. Đó là chưa kể tiếng ồn phát ra trong quá trình sản xuất cũng khiến cho công tác dạy và học gặp không ít khó khăn.
Theo ghi nhận của PV, ngoài việc nằm chung bức tường với Trường mầm non Quỳnh Thọ thì Cơ sở sản xuất mộc Cừ Thơ còn nằm cách trường Tiểu học và Trung học cơ sở Quỳnh Thọ chỉ trên dưới 100m, vì vậy hoạt động dạy và học của hai trường nói trên cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều.
“Tội các cháu học sinh bởi nhà trường nằm gần xưởng gỗ quá. Các cháu nhỏ tuổi nhưng hàng ngày phải hít bụi, phải ngửi khí độc và mùi hôi phát ra từ xưởng mộc cũng như chịu tiếng ồn ào của máy móc “hành hạ”. Phụ huynh cũng như nhà trường đã phản ánh lên chính quyền rất nhiều lần nhưng không làm gì được. Chính quyền xã chỉ xuống nhắc nhở, xong đâu lại vào đó” – Một phụ huynh học sinh Trường mầm non Quỳnh Thọ bức xúc cho biết.
PV Báo Tài nguyên & Môi trường đã liên hệ làm việc với ông Trần Quang Cừ - Chủ cơ sở chế biến gỗ Cừ Thơ nhưng không nhận được phản hồi.
Ông Hoàng Văn Quang – Trưởng Công an xã Quỳnh Thọ, cho biết, việc người dân phản ánh Cơ sở chế biến gỗ Cừ Thơ gây ô nhiễm thì chính quyền xã cũng đã nhận được. Tuy nhiên, xã mới chỉ xuống kiểm tra và nhắc nhở chứ chưa xử phạt lần nào cả. Xã cũng yêu cầu đơn vị Cừ Thơ khắc phục những bất cập về môi trường mà đơn vị này gây ra nhưng thực tế đơn vị mới chắn tôn tại khu giáp ranh với Trường mầm non Quỳnh Thọ còn những việc khác chưa thấy khắc phục.
Trước vấn đề ô nhiễm môi trường mà cơ sở sản xuất gỗ Cừ Thơ gây ra đối với người dân xóm Thọ Thắng cũng như các trường học trên địa bàn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác dạy và học cũng như làm đảo lộn cuộc sống người dân. Đề nghị UBND huyện Quỳnh Lưu vào cuộc để sớm có biện pháp xử lý, di dời đơn vị ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, tránh bức xúc cho ngời dân. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/12) đầu trang(
Thực tế hiện nay ở các công trình thủy điện, đó là các chủ đầu tư chỉ chú trọng đến xây dựng công trình, trong khi lợi ích của nhà nước và người dân chưa được quan tâm đúng mức.
Nhất là việc tái định cư (TÐC), ổn định cuộc sống cho người dân. Mặc dù khi tổng kết 15 năm thực hiện công tác di dân, TÐC các công trình thủy điện, thủy lợi trên toàn quốc, Thủ tướng Chính phủ có kết luận chỉ đạo xây dựng chính sách TÐC riêng cho nhóm đối tượng này, tuy nhiên đến nay hiệu quả vẫn còn thấp.
Nhiều công trình thủy điện xây dựng xong, đưa vào sử dụng rồi nhưng "hậu" của dự án thì còn dang dở: Nhà nước mất rừng, đồng bào mất đất sản xuất, cuộc sống bị đảo lộn...
Ðể giải quyết những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đời sống người dân tại các công trình thủy điện, thủy lợi: Trước hết, đề nghị Viện Chính sách phối hợp Cục Hợp tác và Phát triển nông thôn nghiên cứu, đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Chính phủ ban hành chính sách hậu TÐC các công trình thủy điện.
Hai là, đối với diện tích rừng đã bị mất khi triển khai dự án thủy điện cần nghiên cứu, khảo sát về thực hiện trồng bù diện tích rừng ở các công trình này. Bởi, hiện nay theo báo cáo của các địa phương, kết quả thực hiện thấp do không còn quỹ đất.
Ba là, liên quan đến vấn đề đất đai của các nông, lâm trường mà Quốc hội sẽ tiến hành giám sát tối cao trong năm 2015, đề nghị có chương trình phối hợp giữa các cơ quan, Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội trong một số hoạt động khảo sát, nghiên cứu, tham vấn phục vụ nội dung giám sát, cũng như các nội dung khác có liên quan đến đợt kiểm tra, giám sát quan trọng này, như việc chi trả dịch vụ môi trường rừng; giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số... (Nhân Dân 6/12) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 36/2014/QĐ-UBND, Quy chế quản lý, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ rừng của các nhà máy thuỷ điện sử dụng từ lưu vực của tỉnh Lai Châu.
Quyết định gồm 2 Chương, 10 Điều nêu rõ Quy chế quản lý thực hiện chính sách chi trả dịch vụ rừng của các nhà máy thuỷ điện sử dụng từ lưu vực của tỉnh Lai Châu.
Theo đó, đối tượng áp dụng là người cung cấp dịch vụ môi trường rừng, người sử dụng dịch vụ môi trừng rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, UBND các cấp, Ban Chỉ đạo về kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh, huyện, xã; cơ quan thường trực các ban chỉ đạo.
Phạm vi điều chỉnh là các hoạt động quản lý, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh Lai Châu theo Nghị định số 99/2010/NĐ-Cp ngày 24/9/2010 của Chính phủ. (Báo Lai Châu 5/12) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), những năm qua hoạt động sản xuất lâm nghiệp đang từng bước chuyển dịch từ lâm nghiệp truyền thống chuyển sang lâm nghiệp xã hội. Diện tích, chất lượng của rừng tăng đều qua các năm, đời sống của người làm nghề rừng từng bước được cải thiện.
Toàn tỉnh hiện có 446.926 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng đặc dụng 47.024 ha, chiếm 10,5%; rừng phòng hộ 127.124 ha, chiếm 28,4%; rừng sản xuất 272.778 ha, chiếm 61%.
Để đảm bảo nguyên liệu ổn định lâu dài cung cấp cho các cơ sở chế biến và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư liên doanh, liên kết sản xuất nguyên liệu gỗ, tỉnh đã quy hoạch vùng cung cấp nguyên liệu cho 5 cơ sở chế biến lớn với tổng diện tích 201.420,7 ha, gồm: Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa, diện tích 163.358,8 ha tại địa bàn 105 xã của 5 huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Lâm Bình và thành phố Tuyên Quang; Nhà máy chế biến gỗ của Công ty cổ phần Xi măng Tuyên Quang, diện tích 4.630 ha tại địa bàn huyện Yên Sơn; Nhà máy sản xuất đũa Phúc Lâm, diện tích 2.627,0 ha tại huyện Chiêm Hóa; Nhà máy sản xuất đũa tre, giấy đế và bột giấy Nà Hang, diện tích 22.791 ha tại địa bàn 17 xã, thị trấn của 2 huyện Nà Hang và Lâm Bình; Nhà máy chế biến gỗ của Công ty cổ phần gỗ Đông Dương, diện tích 8.013,9 ha tại địa bàn 4 xã của huyện Hàm Yên.
Giá trị kinh tế từ rừng nhờ thế cũng được tăng lên qua từng năm; thu nhập từ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và trồng rừng đã góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp và tỷ trọng sản xuất lâm nghiệp trong cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh tăng từ 641 tỷ đồng ở năm 2010 lên trên 726 tỷ đồng ở năm 2013, giá trị sản xuất lâm nghiệp (giai đoạn 2010 - 2013) tăng bình quân 1,69%/năm.
Mục tiêu toàn tỉnh là phấn đấu giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân 3,4%/năm, chiếm tỷ trọng 10,5% cơ cấu kinh tế ngành; trữ lượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất lên 25% so với hiện nay, đạt tốc độ tăng bình quân từ 4 - 5 m3/ha/năm.
Trong đó, phấn đấu nguồn giống trong tỉnh cơ bản cung cấp đủ hạt giống, hom giống cho nhu cầu trồng rừng của người dân; có trên 80% diện tích rừng được trồng bằng giống vô tính, giống hạt chất lượng cao, kết hợp với phương thức trồng rừng thâm canh, chuyển hóa từ kinh doanh rừng gỗ nhỏ sang kinh doanh rừng gỗ lớn, đưa năng suất rừng đạt 100 m3/ha.
Giai đoạn 2016 - 2020, toàn tỉnh phấn đấu mỗi năm khai thác và trồng lại trên 9.000 ha rừng trồng; sản lượng gỗ khai thác trên 800.000 m3/năm, trong đó 20% là gỗ chế biến; 80% gỗ nguyên liệu giấy. Giá trị sản xuất tăng thêm từ sản phẩm của chuyển hóa rừng gỗ lớn là trên 203 tỷ đồng... Thực hiện bảo tồn các hệ sinh thái, cảnh quan, tài nguyên đa dạng sinh học; hỗ trợ và tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường; tạo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hệ sinh thái và chuyển nhượng tín chỉ Cacbon.
Hiện Chi cục Lâm nghiệp tiếp tục tập trung rà soát, điều chỉnh cơ cấu 3 loại rừng, điều chỉnh các quy hoạch về lâm nghiệp; phối hợp với các huyện, thành phố đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ, sắp xếp lại bộ máy tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng, áp dụng các giải pháp khoa học, công nghệ và khuyến lâm. (Báo Tuyên Quang 6/12) đầu trang(
Theo Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải), vào hồi 1 giờ 30 phút rạng sáng hôm 5-12, lực lượng chức năng tại trạm kiểm tra tải trọng xe Hải Dương đã tiến hành vây bắt một đoàn xe quá tải gồm tám chiếc cố tình “né” trạm cân trên quốc lộ 5.
Nhận được tin một đoàn xe chở gỗ quá tải từ Cảng Hải Phòng đi vào đường tỉnh 391 để tránh trạm cân Hải Dương trên quốc lộ 5, các lực lượng làm nhiệm vụ tại trạm cân Hải Dương đã huy động lực lượng tổ chức vây bắt. Đến 2 giờ sáng, khi đoàn xe này đi đến khu vực thị trấn Tứ Kỳ, đường tỉnh 391, lực lượng chức năng đã dừng xe kiểm tra, áp tải cả tám chiếc xe về trạm cân để kiểm tra tải trọng. Qua tiến hành cân tải trọng phương tiện, kết quả cho thấy cả đoàn xe này đều chở quá tải cho phép từ 125 đến 430%.
Cụ thể, xe BKS 16N-5481 của Công ty Cổ phần Cửa Biển (địa chỉ 75 Lê Thánh Tông, Ngô Quyền, Hải Phòng) do Đỗ Văn Quang (SN 1988) điều khiển chở gỗ cây (quá tải 430%); xe BKS 16N-0125 do Đào Viết Hà (SN 1985), điều khiển chở gỗ cây (quá tải 202%); xe BKS 15C-048.86 do Nguyễn Hồng Mạnh (SN 1987), điều khiển chở gỗ cây (quá tải 187%); đầu kéo BKS 16M-4427 kéo rơ-moóc BKS 16R-4008 của Công ty Cổ phần Cửa Biển do Nguyễn Bá Chín (SN 1977), điều khiển chở gỗ cây (quá tải 125%); xe BKS 15C-04592 của Công ty Cổ phần Cửa Biển do Nguyễn Văn Thuận (SN 1959), điều khiển chở gỗ hộp (quá tải 222%); xe BKS 16L-7531 của Công ty TNHH Thương mại Liên Thành (địa chỉ 397 Tôn Đức Thắng, An Dương, Hải Phòng) do Vũ Điền Trung (SN 1983, điều khiển chở gỗ cây (quá tải 383%); Xe BKS 16H-2716 của Công ty TNHH Thương mại Liên Thành do Bùi Trung Thủy (SN 1983) điều khiển chở gỗ cây (quá tải 347%).
Ngay sau đó, các lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với hàng vi chở hàng quá tải trọng, tổng tiền phạt 96 triệu đồng, đồng thời buộc tất cả các phương tiện phải hạ phần hàng quá tải theo quy định. (Nhân Dân 5/12; Quân Đội Nhân Dân 6/12, tr8) đầu trang(
Là đối tượng được pháp luật công nhận là chủ rừng, người dân và hộ gia đình có nhu cầu sử dụng và phát triển rừng hiệu quả là chính đáng. Nhưng theo các chuyên gia, để khuyến khích công việc này, còn phụ thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt chính sách.
Sau khi giao rừng, chủ rừâng được công nhận quyền khai thác, tận thu gỗ từ rừng tự nhiên là rừng sản xuất cho mục đích gia dụng. Và để được khai thác hoặc tận thu gỗ từ rừng của mình thì Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định, chủ rừng phải tuân thủ các thủ tục theo quy định của pháp luật như phải có bản thiết kế khai thác. Hồ sơ xin khai thác phải gồm bản đăng ký xin khai thác, bảng dự kiến sản phẩm khai thác và sơ đồ khu khai thác.
Tuy nhiên, để đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về thủ tục xin khai thác như vậy, với người dân, nhất là người dân miền núi và đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số thì rất khó khăn, thậm chí có thể nói là không thể. Thứ nhất là do năng lực và thứ nữa là trình độ thấp; chưa kể, khi khai thác tận dụng gỗ cho mục đích gia dụng thì khối lượng gỗ lấy ra từ rừng không nhiều nên việc thuê đơn vị tư vấn thiết kế khai thác là không khả thi và người dân cũng không có kinh phí để làm việc này.
Ở một khía cạnh khác, thực tế đang diễn ra trong khi thực hiện kế hoạch quản lý sử dụng rừng sản xuất là rừng tự nhiên của các hộ gia đình ở một số xã thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, nắm trong tay nhiều diện tích đất trống hoặc dây leo bụi rậm, cây bụi rậm nằm rải rác trong các diện tích rừng đã được giao, họ có nguyện vọng đầu tư kinh phí và công sức trồng từng kinh tế để kết hợp lấy ngắn nuôi dài và cải tạo rừng nhưng không được phép của kiểm lâm sở tại mặc dù đơn xin phép được UBND xã xác nhận và gửi đi nhiều lần.
Sau khi tham vấn ý kiến của người dân, chính quyền và cơ quan quản lý Nhà nước ở đây, đại diện Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD) cho biết, các cơ quan chức năng lý giải sự việc này là do lo ngại khi hộ gia đình phát thực bì để trồng rừng thì họ sẽ phát thêm các phần rừng khác gây nguy cơ xâm hại đến diện tích rừng tự nhiên đã giao.
Song nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thực trạng trên theo nghiên cứu của Trung tâm CRD là bởi công tác điều tra, đánh giá điều kiện của rừng ban đầu trước khi giao đã không được các cơ quan chức năng tiến hành kỹ lưỡng. Do đó đã không bóc tách được những diện tích đất không có rừng trong tổng thể đất giao cho hộ gia đình để cho phép hộ gia đình được tác động mà đáng ra điều đó thuộc quyền của người sử dụng đất và rừng khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Một phần nữa là do thủ tục phức tạp, không được hướng dẫn cụ thể nên muốn khắc phục những khó khăn này cũng như khuyến khích chủ rừng sử dụng và phát triển rừng hiệu quả, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 cần quy định các thủ tục, cơ chế, hướng dẫn một cách vừa cụ thể vừa rõ ràng để người dân có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện được.
Đối với các diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên mà cộng đồng hoặc hộ gia đình đang quản lý bảo vệ phần lớn đều có nhiều trạng thái rừng khác nhau, cũng có nhiều vùng là đất trống hoặc nhiều dây leo bụi rậm xen kẽ khó cải tạo lại thành rừng.
Nên khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Luật cũng nên xem xét cho phép người dân được thêm quyền chuyển đổi một phần các diện tích này sang trồng rừng kinh tế hoặc sản xuất nông lâm kết hợp để giúp họ cải thiện được sinh kế và tăng thêm nguồn thu để đầu tư cho việc tái tạo rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 6/12, tr7) đầu trang(
Rừng phòng hộ (PH) là rừng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tại, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Khác với rừng sản xuất (SX), rừng đặc dụng (ĐD) và PH thường được quản lý nghiêm ngặt, việc tổ chức khai thác gỗ và lâm sản thường được quy định rất chặt chẽ. Chính vì vậy, nhà nước thường tập trung nguồn lực ngân sách để đầu tư bảo vệ và gây trồng rừng (TR) PH, ĐD còn rừng SX được xã hội hóa, các thành phần kinh tế chủ động đầu tư để sản xuất và kinh doanh.
Việc bảo vệ và phát triển rừng ĐD và PH phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lực ngân sách. Thực tiễn, do nguồn lực hạn chế nên thường ưu tiên tập trung cho rừng ĐD, còn rừng PH thì tùy khả năng nguồn lực và điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị để xem xét đầu tư.
Theo quy chế quản lý rừng PH hiện hành, nếu rừng PH là rừng trồng bằng vốn do chủ rừng tự đầu tư, chủ rừng tự quyết định việc khai thác, song “chỉ được khai thác cây trồng xen, cây phụ trợ; tỉa thưa, tận thu, tận dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Khi rừng đạt tiêu chuẩn về PH và cây trồng chính đạt tiêu chuẩn khai thác thì chặt chọn cây trồng chính, độ tàn che của rừng sau khi khai thác phải lớn hơn 0,6”. Quy định này không tạo được động lực nên không khả thi, vì không ai bỏ tiền ra để chủ yếu lo việc PH, còn các khoản thu được thì không thể bù đắp nguồn lực đầu tư.”
Vậy, có xã hội hóa đầu tư vào rừng PH như ở rừng SX theo ý chí của những nhà quản lý lâm nghiệp vĩ mô được không? Hoàn toàn có thể. Vấn đề là phải tạo được động lực đủ sức thúc đẩy. Để hiện thực hóa, có thể quy định: Đối với đất quy hoạch PH xung yếu, nhà nước cần tập trung nguồn lực đầu tư 100% và không nên có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào.
Việc khai thác, tỉa thưa, tận dụng lâm sản chỉ là thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao chất lượng PH. Cơ cấu cây trồng chính là các loài cây bản địa, có tuổi thọ trên 50 năm, có suất đầu tư cao và thực hiện thâm canh để chóng thành rừng.
Đối với đất quy hoạch PH xung yếu, thay vì Nhà nước dùng nguồn lực để đầu tư vào khâu lâm sinh, cần tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là đường lâm nghiệp vào khu đất PH, còn toàn bộ chi phí đầu tư lâm sinh để tạo rừng PH thì khuyến khích các chủ rừng, người TR tự bỏ vốn. Động lực để thúc đẩy người dân tự bỏ vốn là cho phép người TR được khai thác sản phẩm bảo đảm phải thu được vốn và có lãi, song tính năng PH của rừng vẫn được duy trì tốt.
Để thúc đẩy xã hội hóa nhanh, về phương thức khai thác nên áp dụng chặt dần hằng năm 20% diện tích theo băng hoặc theo đám, diện tích khai thác lớn nhất không quá 5 ha (tương tự quy định khai thác đối với rừng SX có mức độ xung yếu về PH như quy định hiện hành).
Như vậy, một hộ dân được giao 5 ha đất TR PH, nếu trồng keo, mỗi năm khai thác 1 ha và cho thu nhập bình quân thường xuyên khoảng 50 triệu đồng/năm, đủ góp phần thu nhập để nuôi sống một gia đình, và 5 năm sau trở lại khai thác diện tích ban đầu. Bảo đảm trên đất luôn có 80% diện tích rừng trồng, với khoảng 60% diện tích khép tán (chỉ trồng sau 2 năm là khép tán).
Về cơ cấu loài cây, có thể trồng các loài cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh ngắn (5 - 6 năm). Trong trường hợp trồng các loài cây có chu kỳ kinh doanh dài, để khuyến khích, Nhà nước nên hỗ trợ 100% kinh phí mua giống cây trồng chính và khuyến khích hỗ trợ thêm phân bón, trồng những loài cây có thể cho thu hoạch nhựa, hoa, quả, mủ,… như thông nhựa, ươi,… để rừng vẫn duy trì tốt và người dân vẫn có được thu nhập hằng năm, đủ tạo được động lực để chăm sóc và bảo vệ rừng PH.
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp &PTNT đang lấy ý kiến để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng PH mới. Rất mong ý tưởng này được ghi nhận và pháp quy hóa, góp phần tạo động lực để thực hiện được xã hội hóa TR PH. (Báo Thừa Hiên Huế 6/12) đầu trang(
Tính đến nay, huyện Ba Bể đã triển khai đăng ký trồng rừng năm 2015. Theo số liệu báo cáo của các Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng, người dân đã đăng ký trồng rừng đạt trên 1.100/1300ha.
Trong đó, dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Bể người dân đăng ký trồng rừng được trên 900ha/1.000ha, Dự án bảo vệ và phát triển rừng Vườn QG Ba Bể người dân đã đăng ký trồng gần 230ha/300ha.
Hiện nay, các Ban quản lý dự án đã thực hiện ký kết với các vườn ươm vệ tinh trên địa bàn huyện để tiến hành gieo ươm cây giống. Việc triển khai sớm đăng ký trồng rừng năm 2015 sẽ tạo điều kiện cho người dân chủ động gieo ươm cây giống để kịp thời phục vụ công tác trồng rừng năm 2015.
Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Bể đang tiếp tục đôn đốc các xã vận động người dân tham gia đăng ký nhu cầu trồng rừng phấn đấu đạt kế hoạch trồng rừng năm 2015 đề ra là 1.300 ha. (Babe.backan.gov.vn 5/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Thông Nông trồng mới được 104,6 ha rừng theo chỉ tiêu giao năm 2013 và 2014.
Trong đó, trồng 55,4 ha rừng theo chỉ tiêu giao năm 2013, thực hiện tại các xã: Cần Nông 25 ha, Cần Yên 5 ha, Lương Thông 25,4 ha; 49,2 ha theo chỉ tiêu giao năm 2014, triển khai ở 2 xã: Đa Thông, Bình Lãng.
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, trong năm 2014, trên địa bàn huyện xảy ra 1 vụ cháy rừng tại xóm Khuổi Mò, xã Đa Thông, thiệt hại 3,61 ha, trong đó, 3,56 ha rừng tự nhiên, 0,05 ha rừng trồng. Lực lượng kiểm lâm xử lý 9/10 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản, khai thác gỗ trái phép, tịch thu 7,01 m3 gỗ; nộp ngân sách 64,5 triệu đồng. (Báo Cao Bằng 2/12; Dân Tộc & Phát Triển 5/12, tr11) đầu trang(
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, đất rừng chiếm đến trên 80% diện tích tự nhiên, nên việc phát triển kinh tế rừng và chế biến gỗ là rất cần thiết để đảm bảo tiêu thụ gỗ rừng cho những cánh rừng trồng sản xuất của đồng bào trong những năm qua.
Toàn tỉnh hiện có hàng chục xưởng bóc gỗ để bán cho các cơ sở sản xuất gỗ ép ở các tỉnh miền xuôi, tập trung nhiều ở các huyện Chợ Mới, Ba Bể, thị xã Bắc Kạn. Các cơ sở này đều là các hộ sản xuất kinh doanh, tự bỏ vốn hoặc vay vốn từ ngân hàng để mở xưởng bóc gỗ, tạo việc làm cho một số lao động địa phương với thu nhập bình quân 100.000 đồng/ngày cho công nhân bóc gỗ và 80.000 đồng/ngày cho công nhân phơi gỗ. (Tin Tức 5/12, tr9) đầu trang(
Rừng giữ vai trò quan trọng trong việc chống biến đổi khí hậu, cung cấp ôxy cho khí quyển, được ví như là lá phổi xanh của trái đất. Anh Sơn một huyện miền núi phía tây Nghệ An. Những năm trở lại đây, diện tích rừng ngày càng được phủ xanh. Đặc biệt khi có Dự án 147 diện tích rừng đã có chủ bảo vệ.
Được Trưởng Ban Quản lí Rừng phòng hộ Anh Sơn Nguyễn Tất Hòa giới thiệu, PV đến xã Vĩnh Sơn một xã có dự án 147. Với 1.305 ha rừng trong đó rừng phòng hộ 341 ha còn lại là rừng sản xuất. Có 467 hộ của 9/9 thôn được nhận dự án, hộ nhiều nhất là 60 ha như: Nguyễn Sỹ Vinh, Phan Bá Điều, Nguyễn Doãn Hân đều ở thôn 5 từ 34- 38 ha. Từ khi rừng Vĩnh Sơn đã có chủ, được trồng mới bảo vệ không để xảy ra cháy rừng.
Anh Sơn có 13/21 xã nằm trong diện trồng rừng phòng hộ gồm: Bình Sơn, Thành Sơn, Thọ Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Hùng Sơn, Đức Sơn, Vĩnh Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Lạng Sơn và Tào Sơn. Trong 3 năm đã trồng 1554,5 ha dự án 147. Những xã trồng khá như: Đức Sơn 330,5 ha, Cao Sơn 202,7 ha và Vĩnh Sơn 192,7 ha…
Các hộ trong dự án được nhà nước đầu tư giống, phân bón, hướng dẫn kĩ thuật. Dự án trồng cây đến đâu, dân tự bỏ tiền thuê máy mở đường đến đó, ô tô vào tận nơi để vận chuyển hàng. Vườm ươm cây tại ban quản lí rừng phòng hộ đã cung cấp hàng chục vạn cây mỗi năm cho các hộ trong dự án và nhân dân.
Đến Anh Sơn theo dọc quốc lộ 7 hay theo dọc sông Lam ở đâu cũng thấy rừng bạt ngàn, vừa chống sói lở, vừa tạo môi trường sinh thái, làm giàu cho dân. Anh Lê Đình Sinh cán bộ kiểm lâm Vĩnh Sơn cho biết: Địa giới xã đến đâu dân trồng rừng đến đó, hàng trăm hộ dân nhờ trồng rừng mà góp phần xóa đói, giảm nghèo. Dân coi rừng là nhà nên toàn dân chăm sóc bảo vệ rừng. Tổng kết công tác bảo vệ rừng theo dự án 2 năm qua có 40% xã được UBND huyện tặng giấy khen. (Anhson.nghean.gov.vn 5/12) đầu trang(
4/12, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau có chuyến kiểm tra công tác trồng rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ.
Theo kế hoạch năm 2014 công ty phải trồng gần 1.470 ha rừng, gồm trồng mới trên đất trống và trồng rừng sau khai thác. Đến thời điểm này, đã trồng hoàn thành được trên 1.720 ha, vượt 17% so với kế hoạch đề ra. Hiện nay, công ty vẫn tiếp tục cho đến khi kết thúc mùa trồng rừng năm nay. Công ty cũng đã xây dựng xong phương án phòng cháy chữa cháy rừng, tổ chức đắp 25 đập lớn và hàng trăm rãnh thoát nước nhỏ trong hộ dân, đảm bảo khép kín, giữ nước phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng khi mùa khô năm 2014 – 2015 sắp đến.
Qua kiểm tra, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau đề nghị Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ tổ chức tra dặm lại một số cây đã chết trên diện tích rừng đã trồng để đảm bảo đạt tỷ lệ sống theo quy định, đồng thời tổ chức nghiệm thu, đưa vào chăm sóc rừng.
Cần phải điều tiết lượng nước trong lâm phần hợp lý để đảm bảo phục vụ cho sản xuất của người dân, hạ các con đập đã đắp xuống thấp để thuận tiện cho việc đi lại, thường xuyên kiểm tra và gia cố các con đập bị bể và phải đảm bảo duy trì được lượng nước dưới chân rừng, nhằm đảm bảo cho công tác chống cháy rừng trong mùa khô tới đạt kết quả tích cực. (Đài PTTH Cà Mau 5/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||